Các Hiến Pháp Tây Âu là
những Hiến Pháp nhân bản, thừa hưởng gia
tài tinh thần nhân bản từ Tuyên Ngôn Độc
Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền
và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789.
Và đây là những hạt ngọc của hai văn bản
vừa kể:
– ” Tất cả mọi người
đều được dựng nên b́nh đẳng như nhau.
Tất cả đều được Đấng Tạo Hoá ban
cho một số quyền bất khả nhượng.
Trong các quyền nầy, quyền được
bảo toàn mạng sống, quyền tự do t́m kiếm
hạnh phúc là những quyền thượng
đẳng?”(Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa
Kỳ1776).
– ” Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố
rằng: các quyền của con người do Thiên
Phú, bất khả nhượng và cao qúy?” ( Tiền
Đề Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công
Dân Cách Mạng Pháp 1789).
Tinh thần nhân bản đó, từ trên 200 năm
nay là nền tảng trên đó các quốc gia Tây
Âu được xây dựng và phát triển đến phú
cường thịnh vượng. Tinh thần nhân bản
chúng ta có thể t́m thấy đó đây trong
suốt các văn bản Hiến Pháp của họ.
Một số Hiến Pháp nêu lên tính cách nhân
bản của Hiến Pháp ở ngay phần Tiền Đề,
như Hiến Pháp 1958 hiện hành của Pháp
Quốc chẳng hạn để nói lên tính cách quan
trọng và long trọng của nền tảng Quốc
Gia ḿnh:
– ” Dân tộc Pháp long trọng tuyên bố
trung thành với các quyền con người và
các nguyên tắc tối thượng Quốc Gia, được
Tuyên Ngôn 1789 định nghĩa và được Hiến
Pháp 1946 xác nhận ở Tiền Đề” ( Tiền Đề
Hiến Pháp 1958 hiện hành Pháp Quốc).
Cùng với xác tín rằng nhân bản là nền
tảng căn bản trên đó Quốc Gia được thiết
lập, nhưng thay v́ đặt tầm quan trọng
vào tính cách long trọng hay kém long
trọng, một số Quốc Gia như Ư và Đức đặt
nặng hiệu lưc của lời tuyên bố hơn.
Do đó thay v́ tuyên bố tính cách nhân
bản của thể chế Quốc Gia ở Tiền Đề như
các văn bản vừa kể, các nhà soạn thảo
Hiến Pháp Ư Quốc ( 1947) và Cộng Hoà
Liên Bang Đức ( 1949)
– đặt tinh thần nhân bản vào chính
thân bài của Hiến Pháp,
– bằng cách tuyên bố thành những điều
khoản luật có tính cách bắt buộc.
Qua những khái niệm về đặc tính của các
Hiến Pháp Tây Âu vừa tŕnh bày, chúng ta
thử xem người Tây Âu quan niệm như thế
nào về con người trong Hiến Pháp của họ.
1)
Địa vị con người trong Hiến Pháp-
Như chúng ta vừa nói, các Hiến Pháp Ư (
1947) và Cộng Hoà Liên Bang Đức (1949)
tuyên bố địa vị và các quyền liên hệ của
con người ngay trong thân bài của Hiến
Pháp và tuyên bố thành những điều khoản
luật có hiệu lực bắt buộc hay các điều
khoản cuả Hiến Pháp là những đạo luật
thực định ( lois positives), chớ không
tuyên bố ở phần Tiền Đề như là một quan
niệm khái quát và long trọng.
– ” Các quyền căn bản được kể sau đây
có hiệu lực đối với quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp như là như?ng quyền có
gía trị bắt buộc trực tiếp” ( Điều 1,
đoạn 3 Hiến Pháp 1947 CHLBĐ).
Hay
– ” Các bổn phận của Quốc Gia (đối
với các quyền đă được liệt kê) trong các
điều khoản nầy sẽ được các cơ quan và tổ
chức sẽ được thiết lập chu toàn hoặc bổ
khuyết”(Điều 38, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
Nói cách khác, nếu người dân không được
hưởng các quyền và tự do của ḿnh do
Hiến Pháp tuyên bố, tổ chức Quốc Gia với
các cơ chế lập pháp, hành pháp và tư
pháp cũng như các cơ quan được thiết lập
để thừa hành sẽ là những chủ thể chịu
trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và
sẽ bị quy trách với những hậu quả luật
định.
Đó là đặc tính tối quan trọng, mà Hiến
Pháp phải có, đặc tính bảo chứng:
- ” Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng (
garantismo). Ở Âu Châu người dân đ̣i
buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết
lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là
một văn bản luật pháp nền tảng hay một
loạt các nguyên tắc cơ bản, thể hiện một
thể chế Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách
hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo
đảm cho một Chính Quyền có giới hạn” (
Givanni Sartori, Elementi di Teoria
Politica, II ed., Bologna, Il Mulino,
1995, 18).
- Hiến Pháp Ư tuyên bố địa vị và các
quyền liên hệ của con người từ điều
2-54, trong khi đó th́ Hiến Pháp Cộng
Hoà Liên Bang Đức tuyên bố từ điều 1-19,
trước khi định nghĩa về thể chế và các
phương thức tổ chức Quốc Gia từ điều 20
trở đi ( Hiến Pháp 1949 CHLBD), và từ
điều 55 trở đi ( Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Điều đó cho thấy rằng hai dân tộc Ư và
Đức đă dành cho con người địa vị tối
thượng và trung tâm điểm của tổ chức
quyền lực Quốc Gia.
Con người có trước Quốc Gia. Quốc Gia
được tổ chức để phục vụ con người, chớ
không ngược lại.
Đó là điều Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang
Đức tuyên bố ở điều 1:
– ” Nhân phẩm con người bất khả xâm
phạm . Bổn phận của mọi quyền lục Quốc
Gia là kính trọng và bảo đảm nhân phẩm
đó” ( Điều 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Và cũng trong tinh thần đó, đây là điều
2 của Hiến Pháp Ư Quốc:
– ” Nền Cộng Hoà nhận biết (
riconosce ) và bảo đảm các quyền bất khả
xâm phạm của con người, con người như cá
nhân hay như thành phần xa? hội, nơi con
người phát triển nhân cách của ḿnh và
đ̣i buộc chu toàn các bổn phận liên đới
không thể thiếu trong lănh vực chính
trị, knh tế và xă hội “( Điều 2, Hiến
Pháp 1947 Ư Quốc).
Nếu để ư, chúng ta thấy rằng câu tuyên
bố của Hiến Pháp CHLBĐ có tính cách phổ
quát và đều khắp. Người Đức không tuyên
bố rằng
– ” Trên lănh thổ Đức hoặc đối với
người dân Đức, nhân phẩm con người bất
khả xâm phạm”,
mà chỉ bằng một mệnh đề ngắn gọn, có sức
mạnh nói lên ḷng xác tín của dân tộc họ
và có hiệu lực như một mệnh lệnh:
– ” Nhân phẩm con người bất khả xâm
phạm” !
Mệnh lệnh đó có hiệu lực đối với bất cứ
ai, ở bất cứ nơi nào và có giá trị ở bất
cứ thời đại nào.
Ai không tôn trọng hiệu lực của mệnh
lệnh trên là người làm tổn thương đến
niềm tin của dân tộc Đức, trong cuộc
sống chung ḥa b́nh và thân hữu với họ
và chắc chắn người Đức sẽ không làm ngơ
trước sự chà đạp lên niềm tin của họ như
vậy.
Đó là điều mà người Đức thêm vào ở phần
kế đến của cùng một điều khoản:
– ” Như vậy dân tộc Đức nh́n nhận các
quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng
của con người như là nền tảng của mọi
cộng đồng nhân loại, của ḥa b́nh và
công chính trên thế giới” ( Điều 1, đoạn
2 Hiến Pháp 1947 CHLBĐ).
- Cũng trong câu tuyên bố ngắn gọn biểu
tượng cho xác tín, niềm tin và mệnh lệnh
phổ quát trên của điều 1, chúng ta thấy
rằng các vị soạn thảo Hiến Pháp
Herrenchiemsee ( địa danh nơi Hiến Pháp
1947 CHLBĐ được soạn thảo) đă dùng từ
ngữ rất chính xác, như là đặc tính của
người Đức.
Các vị đă không dùng từ ngữ ” người công
dân” hoặc ” người công dân Đức”, mà là ”
con người ” trong câu ” Nhân phẩm con
người bất khả xâm phạm”.
Điều đó có nghĩa là đối với người Đức,
bất cứ ai là người đều phải được mọi
người tôn trọng, không phân biệt màu da,
sắc tộc, phái tính, địa vị, tài năng,
thế lực?
Đó là điều Hiến Pháp 1949 sẽ tuyên bố kế
tiếp ở điều 3:
– ” Mọi người đều b́nh đẳng trước
pháp luật.
Người nam và người nư? đều ngang
hàng nhau đối với các quyền của ḿnh.
Không ai có thể bị thiệt tḥi hay
được ưu đải do phái tính, sinh trưởng,
gịng giống, ngôn ngữ, quốc gia hay
nguồn gốc, tín ngưỡng, ḷng tin tôn giáo
hay chính kiến” ( Điều 3, đoạn 1,2,3
Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
- Cách dùng từ ngữ ” con người” thay v́
” người công dân”,
* ngoài ra đặc tính phổ quát của mệnh
lệnh như vừa đề cập,
* từ ngữ ” con người ” c̣n nói lên
địa vị tối thượng và trung tâm điểm của
con người trong tổ chức quốc gia. Con
người có trước và tự lập đối với tổ chức
Quốc Gia. Quốc Gia được tổ chức để phục
vụ con người như là cùng đích mà ḿnh
được tổ chức.
Con người hiện hữu trước tổ chức Quốc
Gia. Do đó khi Quốc Gia được tổ chức,
Quốc Gia phải biết nhận ra con người,
quyền thượng đẳng của con người trên sự
hiện hữu của ḿnh và phục vụ con người
như là mục đích chính yếu và là trung
tâm điểm của mọi tổ chức quyền lực mà
Quốc Gia có được.
Đó là điều mà Hiến Pháp 1947 Ư Quốc long
trọng tuyên bố ở điều 2:
– ” Cộng ḥa dân chủ Ư nh́n nhận và
bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của
con người, con người như cá nhân hay như
thành phần cộng đồng xa? hội, nơi con
người phát huy nhân cách của ḿnh…” (
Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Và v́
con người có trước tổ chức Quốc Gia, nên
các quyền tối thượng bất khả xâm phạm
của con người
– không do tổ chức Quốc Gia định
đoạt,
– mà do Thiên Phú, liên hệ mật thiết
với bản tính nhân loại của ḿnh.
Đó là điều mà di sản của Tuyên Ngôn Độâc
Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền
và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789
đa? để lại:
– ” Tất cả mọi người đều được dựng
nên b́nh đẳng như nhau.
Tất cả đều được Đấng Tạo Hoá ban cho
một số quyền bất khả nhượng”.
– ” Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố
rằng các quyền của con người do Thiên
Phú, bất khả nhượng và cao qúy” .
Con người có trước tổ chức Quốc Gia. Tổ
chức Quốc Gia phải “nhận biết và bảo vệ”
địa vị tối thượng đó như là cùng đích
của ḿnh.
Đó là tư tưởng mà Linh Mục Luigi Sturzo,
vị sáng lập đảng Đại Chúng Ư ( Partito
Popolare Italiano), tiền thân của đảng
Dân Chủ Thiên Chúa Giáo ( Democrazia
Cristiana) xác nhận:
– ” Đối với chúng tôi, bài thuyết
tŕnh trong Đại Hội Toàn Quốc đảng Đại
Chúng tai Torino ngày 12.04.1923, Quốc
Gia là một tổ chức xă hội được tổ chức
theo đường lối chính trị để đạt được
như?ng mục đích đặc biệt.
Quốc Gia không bóp nghẻn, không tiêu
hủy, không tác tạo ra các quyền của con
người, của gia đ́nh, của xa? ấp, của
đoàn thể, của tôn giáo. Quốc Gia chỉ
nhận biết và bảo vệ, phối hợp các quyền
đó trong giới hạn hoạt động của ḿnh?
- ” Đối với chúng tôi, Quốc Gia không
phải là tự do. Quốc Gia cững không ở
trên tự do. Quốc Gia chỉ nhận biết và
phối hợp, định chế các giới hạn để người
dân xử dụng tự do không làm bằng hoại
thành giấy phép?
– ” Quốc Gia là một tập thể lịch sử
phức tạp, có nhiệm vụ hoạt động trong
liên đới, phát huy các năng động của
ḿnh trong cơ chế, trong đó một Quốc Gia
văn minh được tổ chức” (Luigi Sturzo, Il
Partito Popolare, vol II: Popolarismo e
Fascismo ( 1924), Zanichelli, Bologna,
1956, p.107).
- Nếu với từ ngữ ” con người” chúng ta
có các đặc tính phổ quát và tối thượng
như vừa kể, th́ với từ ngữ ” người công
dân”, chúng ta có được ư nghĩa hạn hẹp
hơn.
Trong chính trị học, khi đề cập đến
người công dân là chúng ta nói đến người
dân liên hệ đến một tổ chức Quốc Gia cá
biệt, có thể chế, luật lệ và tổ chức đặc
thù.
Khi nói đến người công dân Ư chẳng hạn,
là chúng ta đề cập đến người dân vừa kể
liên quan đến tổ chức Quốc Gia Ư. Quyền
và nhiệm vụ của người công dân Ư tuỳ
theo thể chế và luật pháp Ư quy định.
Trước hết, nếu Hiến Pháp 1947 Ư đề cập
đến địa vị, quyền và tự do của con người
từ điều 2-34 và Hiến Pháp 1949 CHLBĐ từ
điều 1-19, trước khi đưa ra định nghĩa
thể chế chính trị và các phương thức tổ
chức quyền lực Quốc Gia, để nói lên địa
vị tối thượng và chính yếu của con người
trong tổ chức Quốc Gia,
th́ Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô
Viết chỉ đề cập đến ” người công dân”
khởi đầu từ điều 33 trở đi, sau khi đă
đề cập đến
– thể chế chính trị ( 1-9),
– hệ thống kinh tế ( 10- 18),
– phát triển xă hội và văn hóa (
19-27),
– chính sách ngoại giao ( 28-30)
– và chính sách bảo vệ quốc gia xă
hội chủ nghĩa( 31-32).
Điều đó cho thấy người dân được ư thức
hệ Cộng Sản ban cho một chổ đứng nào
trong quan niệm tổ chức Quốc Gia của họ.
Và nếu các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu đề
cập đến ” con người”, th́ Hiến Pháp của
các quốc gia Cộng Sản, đặc biệt là Hiến
Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết chỉ
đề cập đến “người công dân”, khi bàn về
các quyền và bổn phận của người dân:
– ” Nhân dân Sô Viết được hướng dẩn
bằng các tư tưởng cộng sản chủ nghĩa
khoa học và trung thành với các truyền
thống cách mạng, định chắc nền tảng của
chế độ xă hội và chính trị của Cộng Hoà
Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền
, tự do và bổn phận bắt buộc đối với
người công dân, các nguyên tắc tổ chức
và mục đích cho Quốc Gia Xa? Hội Chủ
Nghĩa của toàn dân” ( Tiền Đề, đoạn XIV
Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô
Viết).
Và như chúng ta vừa nói, khi đề cập đến
” người công dân”, là chúng ta đề cập
đến người dân có liên hệ với tổ chức
Quốc Gia. Quyền và bổn phận của người
công dân tuỳ thuộc vào sự quyết định của
thể chế Quốc Gia. Đó là điều mà Hiến
Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết
tuyên bố:
– ” Nhân dân Sô Viết, thiết định các
quyền, tự do và bổn phận bắt buộc đối
với người công dân?”.
Điều đó có nghĩa là con người sống trong
chế độ Cộng Sản chỉ là người công dân
liên hệ với tổ chức Quốc Gia.
– Các quyền và tự do của họ phải do
thể chế Quốc Gia Cộng Sản “thiết định”
cho mới có, khác với ” con người” trong
Hiến Pháp Tây Âu là những chủ thể được
Thiên Phú cho các quyền và tự do liên hệ
mật thiết với bản tính nhân loại của
ḿnh, mà bất cứ ai, ở bất cứ thời đại và
không gian nào cu?ng phải tôn trọng.
– Và v́ thể chế Cộng Sản có quyền ”
thiết định” các quyền và tự do của người
công dân họ,
* nên ai sống ngoài tổ chức của Cộng
Sản, những ai không chấp nhận thể chế và
cơ chế Cộng Sản, là những người dân
không được thể chế luật pháp ” thiết
định”.
Điều đó có nghĩa là những ai chống đối
lại thể chế Cộng Sản sẽ là những người
không c̣n có được một quyền và tự do
nào: Cộng Sản có thể tự do tiêu diệt họ.
Nói cách khác v́ giới hành quyền Cộng
Sản có thể thiết định các quyền và tự do
của người công dân, nên họ có thể “thiết
định” nhiều ít tùy hỷ và họ cu?ng có thể
” không thiết định”: họ có thể truất mọi
quyền làm người của con người sống
dưới chế độ Xa? Hội Chủ Nghĩa.
Hay nói như Linh Mục Tiến sĩ Hortz
S.J.:
– ” Trong thể chế Cộng Sản không có
con người ” ( Hortz S.J., La Nuova
Costituzione Sovietica, in Civiltà
Cattolica, 1978, p.40).
Tŕnh độ hiểu biết và cuộc sống văn minh
của người Cộng Sản chưa bao giờ đạt đến
mức sống nhân bản của Tây Âu để cho phép
họ biết được thế nào là địa vị cao cả
của con người.
2) Nh́n nhận và thực thi
Qua
những ǵ vừa tŕnh bày, chúng ta thấy
rằng Hiến Pháp nhân bản các Quốc Gia Tây
Âu đặt con người ở địa vị tối thượng và
trung tâm điểm các tổ chức quyền lực
Quốc Gia.
Nhưng điều quan trọng
– không phải tuyên bố nhiều hay ít,
– tuyên bố long trọng hay không,
– tuyên bố trước hay sau trong thân
bài của Hiến Pháp,
– mà là tiên liệu những điều khoản
luật có hiệu lực để thực thi và bảo vệ
các quyền và tự do ḿnh tuyên bố:
* ” Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ
các quyền bất khả xâm phạm của con người,
con người như cá nhân hay là thành phần
xă hội, nơi mỗi cá nhân triển nở con
người của ḿnh” ( Điều 2, Hiến Pháp 1947
Ư Quốc).
Bởi lẽ nếu Hiến Pháp chỉ tuyên bố các
quyền và tự do của con người ( hay đúng
hơn của người công dân, như trong các
Hiến Pháp Cộng Sản),nhưng lởi tuyên bố
trên chĩ mới là h́nh thức thuyết lư của
dân chủ và nhân quyền ( démocratie
formelle), nếu Hiến Pháp không dự trù
những điều khoản luật để thực thi và bảo
vệ các quyền và tự do mà ḿnh tuyên bố.
Khác với các Hiến Pháp Cộng Sản, Hiến
Pháp nhân bản Tây Âu tiên liệu các điều
khoản để thực thi và bảo vệ mổi khi
tuyên bố quyền và tự do của con người.
Đó là tinh thần dân chủ và nhân bản thực
hữu ( démocratie substantielle).
Ngay ở điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp
1949 CHLBĐ, Hiến Pháp đă tuyên bố một
điều luật khái quát bắt buộc, biến tất
cả những điều khoản Hiến Pháp kế tiếp về
con người thành những điều luật có hiệu
lực và xác định chủ thể rỏ rệt được
quy trách:
– ” Những quyền căn bản sẽ được kể
sau đây có hiệu lực đối với lập pháp,
hành pháp và tư pháp như là những quyền
có giá trị bắt buộc trực tiếp”. ( Điều
1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Tĩ mĩ hơn, sau khi tuyên bố quyền b́nh
đẳng của người dân:
– ” Mọi công dân đều có địa vị xă hội
ngang hàng nhau và b́nh đẳng như nhau
trước pháp luật, không phân biệt phái
giống, chủng tộc, ngôn ngư?, tôn giáo,
chính kiến, địa vị cá nhân và xă hội” (
Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Quốc Gia Ư tiên liệu những điều kiện để
thực thi:
– ” Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp
bỏ đi như?ng chướng ngại vật về phương
diện kinh tế và xă hội, là như?ng chướng
ngại vật trong khi giới hạn thực sự tự
do và b́nh đẳng của người dân, cản trở
họ có thể phát triển hoàn hảo con người
của ḿnh và tham gia một cách thiết thực
vào tổ chức chính trị, kinh tế và xă hội
của xứ sở” ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp
1947 Ư Quốc).
Cũng vậy để thực thi quyền b́nh đẳng,
một trong những h́nh thức b́nh đẳng tối
thiểu đó là b́nh đẳng để khởi hành, b́nh
đẳng để bắt đầu khởi công cuộc sống.
Muốn được b́nh đẳng để mọi người có thể
khởi đầu cuộc sống như nhau, mọi người
dân phải được đặt trong cùng một số điều
kiện như nhau để có kiến thức như nhau.
Nói cách khác , mọi người phải được có
cùng điều kiện để được học vấn như nhau,
để khởi công cuộc sống trong những điều
kiện như nhau. Đó là điều mà Hiến Pháp
1958 Pháp Quốc long trọng tuyên bố ngay
ở phần Tiền Đề:
– “ Tổ chức giáo dục công cộng, miển
phí và phi tôn giáo ở mọi đẳng cấp, là
bổn phận của Quốc Gia” ( Tiền Đề, Hiến
Pháp 1958 Pháp Quốc).
Tuyên bố một cách tĩ mĩ hơn, Hiến Pháp Ư
đề cập:
– ” Học đường được mở rộng cửa cho
tất cả mọi người.
Nền học vấn ở cấp bực thấp, được
giảng dạy ít nhứt là tám năm ( đổi thành
12 năm với tu chính án năm 1990) có tính
cách bắt buộc và miển phí.
Đối với những ai có khả năng và đáng
được trợ giúp, da?u cho thiếu phương
tiện, cu?ng có quyền được học hành đến
tŕnh độ giáo dục cao nhất.
Cộng Ḥa Ư biến quyền được học vấn nầy
thành thực hữu bằng cách trợ cấp cho gia
đ́nh và mọi h́nh thức tiền liệu khác,
qua việc trợ cấp theo thể thức thi
tuyển” ( Điều 34, đoạn 1-4 Hiến Pháp
1947 Ư Quốc).
Dĩ nhiên ” tính cách bắt buộc và miễn
phí ” đó, không phải chỉ bắt buộc và
miễn phí về phía các học sinh phải chu
toàn bổn phận bổn phận của ḿnh ” phải
đi học “, mà c̣n ” bắt buộc và miễn phí
” đối với cơ chế Quốc Gia, phải làm sao
tạo điều kiện thích hợp, để giúp cho gia
đ́nh và các học sinh thiếu phương tiện
có thể chu toàn bổn phận phải đi học của
ḿnh, kể cả trợ cấp xă hội cho gia đ́nh
các cô chú phải đi học.
C̣n nữa, tinh thần dân chủ và nhân bản
thực hữu của Hiến Pháp cững được thể
hiện qua các quyền về an ninh xă hội:
– ” Mọi công dân không có khả năng
làm việc và thiếu phương tiện để sống có
quyền được trợ cấp và bảo trợ xă hôi.
Người làm việc có quyền được tiên liệu
và bảo đảm bằng các phương tiện thích
hợp đáp ứng lại như?ng nhu cầu cần
thiết để sống trong trường hợp tai nạn,
đau ốm, tàn tật và già nua, bị thất
nghiệp ngoài ư muốn.
Những người không có khả năng và những
người yếu kém có quyền được giáo dục và
huấn nghệ.
Các quyền vừa được liệt kê trong điều
khoản nầy sẽ được giao cho các cơ quan
và tổ chức được thiết lập để thực thi
hoặc được Quốc Gia bổ khuyết” ( Điều 38,
đoạn 1-4 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
3) Tự do tiêu cực và tự
do tích cực
Đọc bất cứ Hiến Pháp Tây Phương nào,
chúng ta cũng thấy quyền và tự do con
người hay người dân được tuyên bố dưới
h́nh thức tiêu cực:
– ” Tự do cá nhân là quyền bất khả
xâm phạm?” ( Điều 13, Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
– ” Gia cư bất khả xâm phạm?” ( Điều
14, id.)
– ” Tự do và bí mật thư tín cũng như
tất cả các h́nh thức truyền thông khác
là những quyền bất khả xâm phạm?” ( Điều
15, id.). Tuyên bố các quyền và tự do
dưới h́nh thức tiêu cực có nghĩa là
người dân được tự do khỏi ( liberté de…)
sự can thiệp không chính đáng của Quốc
Gia đối với các quyền được Hiến Pháp
công bố.
Tuyên bố dưới h́nh thức tiêu cực các
quyền và tự do của người dân hàm chứa
“bổn phận phía bên kia, phía bên chính
quyền có bổn phận tôn trọng.”
” Tự do cá nhân là quyền bất khả xâm
phạm” đồng nghĩa với việc ” chính quyền
không được” xâm phạm tự do cá nhân.
Đó là tinh thần ” Quốc Gia Pháp Định” (
État de droit) phát xuất từ Cách Mạng
Pháp Quốc 1789 hay hơn nữa, trong tinh
thần common Laws của người Anh.
Nhưng Hiến Pháp nhân bản Tây Âu không
phải chỉ có vậy. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập
Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và
Quyền Công Dân của Cách Mạïng Pháp 1789
đa? qua trên 200 năm nay.Từ đó đến nay,
tinh thần dân chủ và nhân bản của người
Tây âu đă tiến xa hơn nhiều đối với
những ǵ người ta quan niệm Hiến Pháp
chỉ như là văn bản bảo chứng:
– ” Trước hết Hiến Pháp là một văn
bản bảo chứng ( garantisme). Ở Tây Âu
người dân đ̣i buộc phải có Hiến Pháp,
nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp
đối với họ là một văn bản luật pháp nền
tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ
bản, thể hiện một thể chế tổ chức Quốc
Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xử
quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một
chính quyền có giới hạn”.( Giovanni
Sartori, Elementi di teoria politica,
cit.).
Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng để
bảo vệ người dân, ” giới hạn mọi cách
hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo
đảm một chính quyền có giới hạn” như Gs
Giovanni Sartori vừa định nghĩa. Nhưng
Hiến Pháp nhân bản Tây Âu không phải chỉ
có vậy. Hiến Pháp Tây Âu c̣n nêu lên
những ǵ tích cực hơn là những câu tuyên
bố ” chính quyền không được”.
Điều 49 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc, sau khi
tuyên bố dưới h́nh thức tiêu cực quyền
tự do gia nhập hội của người dân:
– ” Mọi công dân đều có quyền tự do
gia nhập vào chính đảng?” , liền thêm
vào ” để cộng tác với phương thức dân
chủ thiết định đường lối chính trị quốc
gia” ( Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Cũng vậy ở điều 3, sau khi xác quyết
rằng ” mọi công dân đều có địa vị xă hội
b́nh đẳng như nhau và đều b́nh đẳng
truớc pháp luật”, cũng như cấm mọi kỳ
thị bất cứ từ đâu đến và v́ lư do ǵ,
Hiến Pháp đứng ra đảm nhận tạo điều kiện
thuận lợi để người dân có tự do và b́nh
đẳng ” phát triển hoàn hảo con người của
ḿnh và tham dự thiết thực vào đời sống
chung của đất nước”:
– ” Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp
bỏ đi như?ng chướng ngại vật về phương
diện kinh tế và xă hội, là như?ng chướng
ngại vật trong khi giới hạn trên thực tế
tự do và b́nh đẳng của người dân, không
cho họ có thể phát huy toàn vẹn con
người của ḿnh và tham dự thiết thực vào
tổ chức chính trị, kinh tế và xă hội của
xứ sở” ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
Cũng vậy ở điều 35 của cùng một Hiến
Pháp, không như?ng Quốc Gia tuyên bố mọi
công dân đều có quyền làm việc, mà c̣n
quy trách cho ḿnh đứng ra tạo điều kiện
thích hợp để người dân có thể thực thi
quyền của ḿnh:
– ” Nền Cộng Ḥa bảo vệ việc làm
dưới tất cả mọi h́nh thức và áp dụng.
Nên Cộng Hoà chăm lo và thăng tiến
chương tŕnh huấn nghệ cho như?ng ai làm
việc.
Phát triển và dành mọi de? da?i cho
các hiệp ước cu?ng như các tổ chức quốc
tế nhằm hợp thức hoá và điều hợp mọi
quyền làm việc?” ( Điều 35, Hiến Pháp
1947 Ư Quốc).
Qua những ǵ vừa tŕnh bày, chúng ta
thấy rằng Hiến Pháp nhân bản Tây Âu
không những chỉ giới hạn ở các tư tưởng
sơ khởi về ” Quốc Gia Pháp Trị” của thời
Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên
Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách
Mạng Pháp 1789 với các điều khoản tuyên
bố về nhân quyền dưới h́nh thức tiêu
cực, hay ” tự do khỏi” ( liberté de…).
Hiến Pháp của các Quốc Gia Tây Âu là
Hiến Pháp nhân bản tích cực. Quyền lực
Quốc Gia không những chỉ bị Hiến Pháp
giới hạn bằng những lời tuyên bố tiêu
cực, cấ đoán ” tự do khỏi”, Hiến Pháp
c̣n quy trách cho Quốc Gia có nhiệm vụ
tạo ra các điều kiện thuận lợi giúp
người dân tích cực xử dụng quyền và tự
do của ḿnh để ( liberté à…) hoạt động,
– phát triển toàn vẹn con người của
ḿnh
– và góp phần phát triển xứ sở, tạo
tiến bộ và thịnh vượng cho đồng bào
ḿnh:
* “Mỗi công dân có quyền gia nhập
chính đảng để cộng tác với phương thức
dân chủ, góp phần thiết định đường lối
chính trị Quốc Gia”.
– ” Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ
đi những chướng ngại vật về phương diện
kinh tế và xă hội, là những chưóng ngại
, trong khi thật sự giới hạn tự do và
b́nh đẳng của người dân, khôn cho phép
mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con ngựi
của ḿnh và tham gia thiết thực vào tổ
chức chính trị, kinh tế và xă hội của xứ
sở”.
– ” Cộng Hoà Ư bảo vệ việc làm, chăm
lo và thăng tiến chương tŕnh huấn nghệ,
phát triển và dành mọi dễ dăi cho các
hiệp ước cũng như tổ chức quốc tế nhằm
hợp thức hóa và điều hợp mọi quyền làm
việc”.
4 ) Bảo vệ nhân quyền
Hiến
Pháp nhân bản Tây Âu xác nhận con người
ở địa vị trung tâm điểm và tối thượng
của mọi tổ chức quyền lực Quốc Gia.
Hiến Pháp nhân bản Tây Âu đă
– tiên liệu những điều khoản luật có
hiệu lực bắt buộc phải thực thi, mỗi khi
tuyên bố quyền và tự do của người dân.
– Hiến Pháp nhân bản Tây Âu là Hiến
Pháp nhân bản tích cực, quy trách cho
Quốc Gia có bổn phận phải đứng ra tạo
điều kiện thuận lợi để người dân dùng
quyền và tự do ḿnh một cách tích cực (
liberté à…) để triển nở hoàn hảo con
người của ḿnh và góp phần xây dựng một
Quốc Gia thịnh vượng, tiến bộ cho đồng
bào ḿnh.
Nhưng với những kinh nghiệm quá đau
thương trong quá khứ về việc con người
bị coi như súc vật của thời Benito
Mussolini và Rudolf Hitler, bóng ma chập
chờn của những con người hành xử uy
quyền Quốc Gia một cách bạo trợn lúc nào
cũng có thể tái xuất hiện, các vị soạn
thảo Hiến Pháp Tây Âuu không thể ngủ
yên, nếu không t́m được phương cách
– “…nhằm giới hạn mọi cách hành xử
quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một
chính quyền có giới hạn” ( Giovanni
Sartori, op.cit., id.).
Đó là điều chúng ta cần bước theo tâm tư
của các vị, trong viển ảnh tạo ra một
Hiến Pháp nhân bản thoả đáng cho đất
nước chúng ta trong tương lai:
a) Hiến
Pháp cứng rắn.
Đọc các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu,
đặc tính đầu tiên ai trong chúng ta cũng
thấy được, đó là tính cách cứng rắn (
rigide) của Hiến Pháp. Điều đó có nghĩa
là muốn tu chính một hay nhiều điều
khoản của Hiến Pháp, chúng ta cần hội đủ
những điều kiện gia trọng mà Hiến Pháp
đă tiên liệu.
Sở dĩ Hiến Pháp đặt ra các điều kiện gia
trọng là để cho ai muốn sửa đổi, cắt bỏ
hơặc thêm thắt vào Hiến Pháp sẽ gặp phải
những điều kiện khó khăn.
Điều đó khiến cho Hiến Pháp khó sửa đổi
và như vậy Hiến Pháp được bền vững, để
bảo đảm hữu hiệu những ǵ Hiến Pháp xác
tín như là lư tưởng và không muốn bị cắt
xén, sửa đổi, thêm bớt.
Điều kiện gia trọng vừa kể để có thể sửa
đổi Hiến Pháp được Hiến Pháp 1949 CHLBĐ
tuyên bố:
– ” Một đạo luật như vừa kể ( đạo
luật về tu chính Hiến Pháp) phải được sự
đồng thuận của 2/3 thành viên Hạ Viện và
2/3 thành viên Thượng Viện” ( Điều 79,
đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Con số tỷ lệ vừa nói, chúng tôi nghĩ
rằng không phải là con số dễ thực hiện.
Chúng ta thử so sánh với điều kiện chỉ
cần đa số tuyệt đối ( 50%+ 1 phiếu) là
Hạ Viện có đủ túc số chọn vị Thủ Tướng (
Kanzler) mới, để thành lập Tân Nội Các
và điều khiển Hành Pháp, không cần có sự
đồng thuận của Thượng Viện:
– ” Được tuyển chọn ( Thủ Tướng) ai
có khả năng quy tựu về phía ḿnh số
phiếu của đa số thành viên Hạ Viện” (
Điều 63, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Và trong trường hợp bất khả kháng, ngay
cả ai chỉ thu thập được đa số tương đối
của Hạ Viện, trong ṿng 7 ngày sau cu?ng
có thể được Tổng Thống Liên Bang bổ
nhiện Thủ Tướng:
– ” Nếu người được tuyên chọn không
đạt được đa số vừa kể ( đa số tuyệt
đối), trong ṿng 7 ngày kế tiếp, Tổng
thống Liên Bang có thể bổ nhiệm ông hoặc
giải tán Hạ Viện” ( Điều 63, đoạn 2,
id.).
b) Các điều
khoản bất di dịch.
Ngoài ra tính cách cứng rắn vừa kể của
Hiến Pháp, các vị soạn thảo cũng tiên
liệu tính cách bất di dịch của một số
điều khoản mà các vị cho là cột trụ của
cả toà nhà Quốc Gia.
Xóa bỏ đi những nguyên tắc căn bản cột
trụ đó, ṭa nhà Quốc Gia của Cộng Hoà
Liên Bang Đức sẽ không c̣n nữa, như Hiến
Pháp đă từng tuyên bố:
– “Nhân phẩm con người bất khả xâm
phạm.
Như vậy dân tộc Đức nh́n nhận các quyền
bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của
con người, như là nền tảng của mọi cộng
đồng nhân loại, của ḥa b́nh và công
chính trên thế giới” ( Điều 1, đoạn 1 và
2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Tính cách bất di dịch , không ai có thể
sửa đổi, với bất cứ điều kiện nào, được
Hiến Pháp tuyên bố:
– ” Không thể chấp nhận bất cứ một sự
thay đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, có
liên quan đến sự tương quan giư?a Cộng
Hoà Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang (
Laender), nhứt là liên quan đến việc
tham gia của các Tiểu Bang vào quyền lập
pháp hoặc liên hệ đến các nguyên tắc đa?
được tuyên bố nơi các điều khoản 1 và
20″ ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949
CHLBĐ).
Và như chúng ta đều biết điều 1 của Hiến
Pháp đề cập đến địa vị và các quyền bất
khả xâm phạm của con người, chúng ta đă
có dịp đọc qua ở trên, và điều 20 là
điều định nghĩa về thể chế chính trị của
Quốc Gia Đức:
– ” Cộng Hoà Liên Bang Đức là một
Quốc Gia Liên Bang Dân Chủ và Xa? Hội”(
Điều 20, id.).
Qua những điều vừa kể, chúng ta thấy
rằng hai nguyên tắc căn bản về địa vị
tối thượng, bất khả xâm phạm của con
người và thể chế liên bang, dân chủ và
xă hội của Quốc Gia Đức là những nguyên
tắc bất di dịch của toà nhà Quốc Gia
Đức.
Nêu lên điều khoản bất di dịch vừa kể là
xác định nền tảng bảo chứng để thực thi
và bảo vệ địa vị tối thượng bất khả xâm
phạm của con người trong tổ chức Quốc
Gia Đức.
c) Dành
quyền hạn chế cho luật pháp và tăng
cường đối với luật pháp.
Một phương thức khác để bảo đảm cho nhân
quyền được tôn trọng, đó là h́nh thức
dành quyền quyết định cho luật pháp (
riserva di legge). Hay nói rơ hơn, chỉ
có Quốc Hội mới có quyền soạn thảo và
chuẩn y luật pháp, có hiệu lực luật
định.
V́ Hiến Pháp là văn bản luật pháp tiên
khởi trên đó Quốc Gia được xây dựng, nên
Hiến Pháp không thể nào dự đoán được tất
cả mọi điều khoản luật pháp cần thiết để
điều hành cuộc sống Quốc Gia. Do đó
ngoài việc nêu lên nhưưng nguyên tắc nền
tảng và phương thức để xây dựng thể chế
và cơ chế Quốc Gia, Hiến Pháp giao lại
cho luật pháp sau nầy xác định những
điều khoản liên hệ trực tiếp đến cuộc
sống thiết thực.
Đó là điều mà chúng ta thường đọc thấy
qua các thành ngữ ” do luật lệ ấn định”,
” theo luật lệ hiện hành”…:
– ” Tự do cá nhân bất khả xâm phạm.
Không thể chấp nhận bất cứ việc bắt
giư?, khám xét, lục soát nào đối với cá
nhân, cũng như mọi giảm thiểu tự do cá
nhân nào, nếu không do án trác có lư
chứng của tư pháp và chỉ theo các trường
hợp và thể thức đă được luật pháp tiên
liệu trước” ( Điều 13, đoạn 1 Hiến Pháp
1947 Ư Quốc).
– ” Mọi người Đức đều có quyền hội
họp tự do và không vơ trang, không cần
báo trước hay phải xin phép.
Các cuộc hội họp ở những nơi công cộng,
quyền tự do hội họp có thể bị luật pháp
giới hạn hoặc phải tuân theo luật lệ
hiện hành” ( Điều 8, đoạn 1-2 Hiến Pháp
1949 CHLBĐ).
Nói th́ nói vậy chớ không phải vậy. Mặc
dầu các vị soạn thảo Hiến Pháp ủy thác
cho ” do luật lệ ấn định”, ” theo luật
lệ hiện hành”, nhưng các vị soạn thảo
Hiến Pháp Tây Âu cũng chưa ngủ yên, nhớ
đến bóng ma độc tài của Benito Mussolini
và Rudolf Hitler.
Do đó
các vị c̣n dùng đến kỷ thuật luật pháp
thứ hai, đó là cách dành quyền hạn chế
tăng cường đối với luật pháp( riserva
rinforzata di legge).
Đành rằng đối với cuộc sống thiết thực
thường nhật mọi việc đều ” do luật lệ ấn
định”, ” theo luật lệ hiện hành”. Nhưng
pháp luật không thể ” ấn định” và ” hiện
hành” thế nào tùy hỷ. Mussolini và
Hitler cũng đả tùy hỷ ” ấn định và hiện
hành” quá nhiều, với hàng triệu người bị
thảm sát trong các ḷ sát sinh hoặc dưới
các trong các mồ chôn tập thể.
Bởi đó qúy vị phải đứng ra tự ḿnh ” ấn
định” và ” hiện hành” thế nào pháp luật
trong tương lai phải ” ấn định”: đó là
phương pháp ” dành quyền hạn chế tăng
cường đối với luật pháp ( riserva
rinforzata di legge ) .Hiến Pháp đặt
những lằn mức nhằm bảo vệ con người mà
cả Quốc Hội khi soạn thảo và chuẩn y
luật pháp không thể vượt qua:
” ( Luật pháp) phải có giá trị phổ quát,
chớ không riêng cho từng trường hợp cá
biệt.
…phải đề cập rỏ ràng đến quyền căn
bản và trích dẫn điều khoản của Hiến
Pháp liên hệ.
Không thể có trường hợp giới hạn nào,
trong đó một quyền căn bản bị vi phạm
đến nội dung thiết yếu của ḿnh…” ( Điều
19, đoạn 1-2-3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
– ” Mọi bạo lực trên thân xác và hăm
doạ trên tinh thần của người bị giảm
thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt” ( Điều
13, đoạn 2, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
– ” H́nh phạt không thể nào gồm những
phương thức đối xử vô nhân đạo và phải
có mục đích nhằm cải hoá phạm nhân ” (
Điều 27 đoạn 3, id.)
– ” Không ai có thể bị thuyên chuyển
ra khỏi thẩm quyền của vị quan toà đă
được luật pháp thiết định trước ” ( Điều
25, đoạn 1, id.)…
d) Các
phương thức phải tuân hành
Áp
dụng vào thực tế, khi người dân có thể
bị giới hạn quyền tự do của ḿnh, đây là
thể thức phải tuân hành:
- ” Tự do cá nhân chỉ có thể bị giới hạn
do một điều luật phổ quát quy định và
luôn tuân theo thể thức được ghi trong
điều luật đó. Người bị bắt giữ không thể
bị ngược đải về tinh thần cu?ng như thể
xác.
Tính cách có được chấp nhận và thời
gian kéo dài của việc truất hữu quyền tự
do chỉ có vị thẩm phán có quyền định
đoạt. Trong trường hợp quyền tự do bị
truất hữu không do tư pháp ra lệnh, cần
phải cấp bách yêu cầu quyết định của tư
pháp. Cảnh sát tự ḿnh không có quyền
cầm giữ ai qúa ngày hôm sau khi bị
bắt.Các chi tiếc se? được luật pháp quy
định.
Bất cứ ai bị cầm giữ, v́ nghi ngờ phạm
pháp, có cùng lắm là ngày hôm sau khi bị
bắt, phải được da?n đến trước thẩm phán.
Vị thẩm phán phải báo cho đương sự biết
lư do bị buộc tội, nghe bị cáo tŕnh bày
các lư do của ḿnh. Thẩm phán sau khi
nghe tường tŕnh phải ra trác án tống
giam hoặc trả tự do tức khắc” ( Điều
104, đoạn 1-2-3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Và trong trường hợp ngựi dân cần được
xét xử:
– ” Không thể chấp nhận các ṭa án
đặc biệt. Không ai có thể bị thuyên
chuyển ra khỏi thẩm quyền xét xử của vị
thẩm phán được luật pháp tiên liệu.
Ṭa án dành riêng cho các vấn đề đặc
biệt chỉ có thể được thiết lập do luật
lệ định sẳn”.(Điều 101, đoạn 1-2 , id.).
Và đối với các vị thẩm phán có nhiệm vụ
xét xử:
– ” Các thẩm phán được độc lập và
chỉ phải tuân theo luật lệ.
Các thẩm phán đă nhập ngạch vĩnh
viễn và các thẩm phán chuyên nghiệp, chỉ
bị giải nhiệm trước định kỳ, hoặc bị cấm
hành nghề vĩnh viễn hay tạm thời, thuyên
chuyển đi nơi khác hoặc cho về hưu trái
với ư muốn của họ, do tư pháp quyết định
và v́ những lư do được luật pháp định
trước” ( Điều 97, đoạn 1-2 , id.).
Về phía người dân:
– ” Ai bị cơ quan công quyền vi phạm
đến các quyền của ḿnh, có thể đệ đơn
thưa cơ quan đó lên cơ quan tư pháp. Bởi
lẽ không cần phải có một cơ quan nào
khác. Đó là thẩm quyền của cơ quan tư
pháp thường nhiệm” ( Điều 19,đoạn 3,
id).
Ngoài ra cơ quan tư pháp, người dân cũng
có thể tường tŕnh các oan ức của ḿnh
đến Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Quyền(
Wehrbeauftragte) của Hạ Viện, để xin Hạ
Viện can thiệp:
– ” Mỗi người có quyền viết thỉnh
nguyện thư hay thư tố giác, đơn phương
hay chung với người khác, đến giới có
thẩm quyền hay đến các vị đại diện dân
cử” ( Điều 12, id.)
– ” Để bảo vệ các quyền căn bản và để
có được một cơ quan trợ giúp Hạ Viện
trong việc kiểm soát, một Ủy Ban Bảo Vệ
Nhân Quyền( Wehrbeauftragte) được Hạ
Viện thiết lập. Mọi chi tiếc được tiến
hành theo luật định”.( Điều 45b, id).
e) Bảo vệ con người ngay cả trong các tổ
chức xă hội trung gian
Đối
với các lực lượng chính trị.
Hiến Pháp quyết định bảo vệ địa vị con
nguời với các quyền bất khả xâm phạm của
ḿnh và thể chế Quốc Gia, phương tiện và
môi trường vững chắc trong đó con người
đưọc bảo vệ có đước cuộc sống xứng đáng
với nhân phẩm của ḿnh.
Bởi đó Hiến Pháp không ngần ngại đặt ra
ngoài ṿng pháp luật bất cứ lực lượng
chính trị nào, giới đương quyền, lực
lượng đối lập cũng như nhưng lực lượng
thù nghịch ( từ phía Đông Đức), có mưu
đồ tiêu diệt thể chế chính trị hiện hư?u
của Cộng Hoà Liên Bang Đức:
– ” Các chính đảng hoặc do chủ đích
hoặc do hành vi của các đảng viên thuộc
hạ nhằm tấn công tiêu diệt thể chế dân
chủ tự do, hoặc đe dọa sự tồn vong của
Cộng Hoà Liên Bang Đức, là như?ng chính
đảng bất hợp hiến. Vấn đề bất hợp hiến
sẽ được Viện Bảo Hiến quyết định” ( Điều
21, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Phương thức vừa được điều 21 tuyên bố,
được các nhà hiến pháp học (
constitutionalistes) gọi là ” dân chủ tự
bảo vệ” ( Streibare Demokratie).
Điều đó cho thấy dân chủ là lối sống
thuận ḥa, ḥa b́nh giữa người và người.
Nhưng dân chủ không có nghĩa nhu nhược,
không xương sống, nhứt là khi cần để bảo
vệ con người và lẽ phải. Thể chế dân chủ
biết cứng rắn để tự vệ và đặt ra ngoài
ṿng pháp luật như?ng ư đồ bất chính.
f) Bảo vệ con người bằng
thành phần đối lập
Và sau cùng tinh thần dân chủ và nhân
bản cao độ của Hiến Pháp cũng được thể
hiện qua phương thức Hiến Pháp dành cho
thành phần đối lập có thực quyền kiểm
soát, cắt tỉa, ngăn chận những hành động
lạm quyền của giới đương quyền, bằng
việc kiểm soát tính cách hợp hiến hay vi
hiến các hoạt động của giới đương quyền.
Ở một Quốc Gia Liên Bang như Cộng Hoà
Liên Bang Đức, thành phần đa số đang
chiếm lập pháp và hành pháp ở cấp độ
Liên Bang ( Bund). Nhưng thành phần
thiểu đối lập có thể đang điều hành một
hay nhiều Chính Phủ các Tiểu Bang (
Laender).
Cũng vậy, đa số đương quyền có thể đang
chiếm đa số tuyệt đối trong Hạ Viện
(Bundestag) , nhưng việc thành phần đối
lập chiếm được 1/3 số ghế ở Hạ Viện là
điều có thể xảy ra dễ dàng.
Hiểu được như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng
ở điều khoản dưới đây Hiến Pháp dành cho
thành phần thiểu số đối lập có thực
quyền kiểm soát, cắt tỉa, chận đứng và
phản kháng đường lối hành xử của giới
đương quyền để bảo vệ dân chủ và nhân
bản, cũng như lợi ích chung của Quốc
Gia:
– ” Viện Bảo Hiến sẽ quyết định,
trong trường hợp bất đồng ư kiến hay
nghi vấn về vấn đề hợp hiến hay không
giữa luật pháp Liên Bang hoặc luật pháp
Tiểu Bang đối với Hiến Pháp nầy…, nếu
được Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của
một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ Hạ Viện
Liên Bang yêu cầu” ( Điều 93, Hiến Pháp
1949 CHLBĐ).
Câu nói ” Chính Quyền của một Tiểu Bang
( trên 16 Tiểu Bang ở Đức) hay 1/3 nghị
sĩ Hạ Viện” cho thấy Hiến Pháp ủy thác
cho thành phần Thiểu Số Đối Lập quyền
khả thi thực hữu. Bởi lẽ thành phần
Thiểu Số Đối Lập có thể đang chiếm được
một vài Chính Quyền nào đó của 16 Tiểu
Bang Đức Quốc, cũng như không dễ ǵ
thành phần đa số trong hạ Viện Liên Bang
là đa số trên 2/3, bởi đó con số 1/3 hạ
nghị sị đối lập là con số không phải khó
khăn ǵ để kiếm được.
Và một khi vấn đề được đệ tŕnh Viện Bảo
Hiến, thành phần đa số đương quyền không
c̣n có cơ hội xử dụng thái độ ” cả vú
lấp miệng em”, dựa vào thế lực đa số đàn
áp thiểu số. Bởi lẽ Viện Bảo Hiến được
Hiến Pháp tiên liệu là một Viện hành xử
quyền phán quyết của ḿnh một cách hết
sức vô tư có thể. Thành Viên của Viện
Bảo Hiến gồm các vị thẩm phán:
– 1/2 do Thượng Viện( Bundesrat) cắt
đặt,
– 1/ 2 do Hạ Viện ( Bundestag).
Và như chúng ta biết Hạ Viện có thể gồm
thành phần đa số của giới đương quyền,
nhưng Thượng Viện là Viện Quốc Hội gồm
các Thượng Nghị Sĩ là thành viên của
chính quyền các Tiều Bang, có thể thuộc
các chính đảng có chính kiến đối lập:
” …Các thành viên của Viện Bảo Hiến được
tuyển chọn phân nửa do Hạ Viện và phân
nửa do Thượng Viện. Các thành viên của
Viên Bảo Hiến không thể là thành viên
của Hạ Viện, của Thượng Viện, của Chính
Quyền Liên Bang cu?ng như của các cơ
quan tương tợ của Tiểu Bang” ( Điều 94,
Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
g) Bảo vệ bằng phương
thức tản quyền
Phương
thức tản quyền cổ điển ai trong chúng ta
cũng biết, phân chia quyền lực Quốc Gia
– theo hàng ngang thành cơ quan lập
pháp, hành pháp và tư pháp để các quyền
lực ” kiểm soát và cân bằng” nhau (
checks and balances), bảo vệ con người
và các quyền bất khả xâm phạm của ḿnh.
– Ngoài ra phương thức quen thuộc vừa
kể các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu c̣n
dùng phương thức tản quyền theo hàng
dọc, từ trung ương đến địa phương để
thực hiện cùng một mục đích trên: Hiến
Pháp dành cho các cấu trúc ngoại vi, các
công đồng địa phương, vùng, tỉnh, quận,
các tổ chức kinh tế, lao động, giáo dục
và tôn giáo nhiều quyền hạn rộng rải
trong cuộc sống Quốc Gia.
Để tiện việc xưng hô, chúng tôi xin tạm
gọi các tổ chức và cơ chế ngoại vi đó (
sánh với tổ chức quyền lực trung ương)
là các Cộng Đồng Địa Phương.
Trong tâm thức các nhà soạn thảo Hiến
Pháp 1947 Ư Quốc, các Cộng Đồng Địa
Phương
– không phải chỉ là tiếng nói của dân
chúng tại địa phương, nói lên như?ng nhu
cầu và ước vọng của họ liên quan đến các
vấn đề địa phương,
– mà cũng có thể là tiếng nói của dân
chúng địa phương liên quan đến nhu cầu
và ước vọng cho cả đất nước ( E. Spagna
Musso, Titolarità diffusa, aperta ed
integrativa, in L’iniziativa nella
formazione delle leggi italiane, Napoli,
1958,24).
Giao nhiều quyền rộng răi cho các Cộng
Đồng Địa Phương, Hiến Pháp 1947 Ư không
những cho chúng ta thấy tính cách đa
nguyên của nền dân chủ Quốc Gia họ,
– không những Dân Chủ có nghĩa là chủ
quyền thuộc về dân,
– mà là chủ quyền Quốc Gia tản mác
trong dân chúng, từ trung ương đến địa
phương.
Mỗi địa phương, mỗi tổ chức có những sắc
thái, suy tư , quan niệm cá biệt, có thể
– ” khác biệt trong hợp tác, hướng về
một mục đích, phong phú đa dạng trong
hợp nhất” ( V. Crisafulli, La Sovranità
popolare nella Costituzione Italiana, in
Studi in memoria di Orlando, 1957,
vol.I, 418).
Trái lại độc tài đảng trị là đồng nhất
đơn điệu, cùn uẩn và bịt mắt để chỉ nh́n
thấy một chiều.
Sau khi tŕnh bày như?ng tư tưởng vừa kể
về giá trị cộng tác của Cộng Đồng Địa
Phương vào cuộc sống Quốc Gia, chúng ta
có thể liệt kể ngắn gọn các vai tṛ mà
Hiến Pháp 1947 Ư dành cho Cộng Đồng Địa
Phương và hẹn gặp lại qúy độc giả trong
một bài nghiêng cứu xâu xa hơn ở lần
khác:
* quyền đề xướng đự án luật Quốc Gia:
– ” ( Cộng Hoà Dân Chủ Ư) trong các
ngành phục vụ Quốc Gia, thực thi cách
thức tản quyền ( decentramento) quản trị
rộng ra?i hết sức có thể, thực thi
nguyên tắc và cách thức lập pháp của
ḿnh phù hợp với nhu cầu tự lập và phân
phối quyền lực” ( Điều 5, Hiến Pháp 1947
Ư Quốc).
– ” Quyền đề xướng luật pháp thuộc về
Chính Quyền, mo?i thành viên của Lưỡng
Viện Quốc Hội , các cơ quan và tổ chức
được Hiến Pháp giao phó.
Dân chúng hành xử quyền đề xướng luật
pháp, qua sự yêu cầu của ít nhứt là
50.000 cử tri, bằng một dự thảo luật
viết thành điều khoản” ( Điều 71, id.).
- ” Hội đồng Quốc Gia về Kinh Tế và Lao
Động có quyền đề xướng luật pháp và có
thể góp phần vào việc thành lập luật
pháp về kinh tế và xa? hội theo các
nguyên tắc và trong giới mức pháp định”
( Điều 99, id.).
-” Hội Đồng Địa Phương ( Vùng) hành xử
quyền lập pháp và thiết định quy chế
được giao cho địa phương và các vai tṛ
khác do Hiến Pháp và luật pháp quy trách
cho.
Hội Đồng Địa Phương có thể tŕnh bày
các dự thảo luật dến Lưỡng Viện Quốc
Hội” (Điều 121, đoạn2, id.).
* quyền đề xướng trưng cầu dân ư
bải bỏ luật Quốc Gia.
– ” Trưng cầu dân ư để bải bỏ toàn
diện hay một phần điều khoản luật pháp
hoặc sắc lệnh có hiệu lực pháp định se?
được đề xướng, khi có 50.000 cư? tri
hoặc 5 Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng) yêu
cầu ” ( Điều 75, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
* Quyền Cộng Đồng Địa Phương tham dự
bầu cử Tổng Thống.
– “Tổng Thống Cộng Hoà được Quốc Hội
Lươ?ng Viện bầu ra trong phiên hợp chung
của các thành viên.
Mo?i Cộng Đồng Địa Phương có 3
đại diện được Hội Đồng Vùng tuyển chọn
tham dự bỏ phiếu, thế nào cho các thành
phần thiểu số cu?ng được đại diện” (
Điều 83, đoạn 1 và 2, id.).
Ai trong chúng ta cũng biết rằng Tổng
Thống trong Đại Nghị Chế chỉ là vị
nguyên thủ Quốc Gia.
– Ông không có quyền tham dự vào
quyền lực của hành pháp,
– càng không có quyền ” chuẩn y hay
bác bỏ” của lập pháp.
Tuy
nhiên vai tṛ đứng trên mọi phe phái để
phối hợp, điều ḥa và cảnh cáo là những
quyền lực tối quan trọng cho đời sống
Quốc Gia. Do đó quyền Các Cộng Đồng Địa
Phương ở Ư được tham gia vào việc tuyển
chọn Tổng Thống là quyền tối quan trọng
liên quan đến việc lựa chọn chính hướng
và hoạt động Quốc Gia.
C̣n nữa, nếu chúng ta để ư, chúng ta sẽ
thấy rằng các thành viên của Viện Bảo
Hiến gồm
– 1/ 3 do Tổng Thống chỉ định,
– 1/3 do Quốc Hội Lươ?ng Viện
– và 1/3 do Tối Cao Pháp Viện:
* ” Viện Bảo Hiến gồm có 15 thành
viên, 1/3 do Tổng Thống chỉ định, 1/3 do
Lươ?ng Viện Quốc Hội và 1/3 do Tối Cao
Pháp Viện và các thẩm phán hành chánh” (
Điều 135, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Như vậy quyền được tham dự chọn Tổng
Thống của Cộng Đồng Địa Phương là qưyền
kiểm soát hợp hiến hay bất hợp hiến các
hoạt động và luật lệ Quốc Gia, qua các
thành viên Viện Bảo Hiến được Tổng Thống
của ḿnh chọn chỉ định.
Đó là một nút chặn khác chống lại những
ai có khuynh hướng độc tài, hành xử
quyền lực Quốc Gia tự tung tự tác tùy hỷ,
bè phái, đảng trị, bất chấp luật Hiến
Pháp.
Nói cách khác, kiểm soát tính cách hợp
hiến hay bất hợp hiến chính hướng,
chương tŕnh và hành động của giới đương
quyền là một bảo chứng thêm nữa cho việc
bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của
con người, mà Hiến Pháp tuyên bố ở phần
đầu của thân bài như là những điều khoản
luật bắt buộc.
* quyền thay đổi các điều khoản và bổ
túc Hiến Pháp.
Bất cứ một Hiến Pháp nào cũng là một
văn bản được soạn thảo trong một hoàn
cảnh lịch sử , môi trường sống và những
điều kiện cá biệt.
Thời gian trôi qua, những yếu tố trên
thay đổi. Uớc vọng và nhu cầu của dân
chúng có thể thay đổi để đáp ứng với
t́nh thế. T́nh thế và hoàn cảnh xa? hội
mới hay ” Hiến Pháp Thực Tế” (
Costituzione Materiale) đă đổi khác so
với những ǵ được nêu ra trên ” Hiến
Pháp Văn Bản” ( Costituzione Scritta),
nói theo ngôn ngư? của các nhà Hiến Pháp
Học (Costituzionalista).
Do đó Hiến Pháp đă được viết ra cần được
thay đổi hay bổ túc để đáp ứng lại nhu
cầu và ước vọng của người dân.
Tiên đoán trước nhu cầu cần thiết vừa kể,
các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ư Quốc,
ngoài ra việc giao phó cho những ai có
trách nhiệm phải lo liệu, các vị c̣n
giao trọng trách trên cho cả Cộng Đồng
Địa Phương, để cho nhu cầu và ước vọng
của mọi thành phần dân chúng ở mọi phần
đất trên lănh thổ Quốc Gia đều có tiếng
nói của ḿnh, góp phần định hướng và
la?nh đạo Quốc Gia:
– ” Các luật pháp về sửa đổi Hiến
Pháp và các luật hiến pháp khác được mỗi
Viện Quốc Hội áp dụng, đều phải được
Quốc Hội bỏ phiếu tán đồng qua hai cuộc
bỏ phiếu trong thời gian không duới ba
tháng. Các luật vừa kể phải được tán
đồng của mỗi Viện Quốc Hội với đa số
tuyệt đối ( 50%+1 phiếu) ở lần bỏ phiếu
thứ hai.
Các luật trên có thể dược đưa ra trưng
cầu dân ư, nếu trong ṿng 3 tháng sau
ngày công bố có 1/5 số Nghị Sĩ của một
Viện Quốc Hội, 50.000 cử tri hoặc 5 Cộng
Đồng Địa Phương (Vùng) yêu cầu. Điều
luật bị đưa ra trưng cầu dân ư se? không
được công bố, nếu không được đa số chấp
thuận…” ( Điều 138, đoạn 1 và 2 Hiến
Pháp 1947 Ư Quốc).
* Quyền của Chủ Tịch Cộng Đồng Địa
Phương ( Vùng) tham dự các phiên họp Hội
Đồng Nội Các.
Vị Chủ Tịch Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng)
đại diện cho dân chúng trong phần đất
của ḿnh, được Hiến Pháp trao cho quyền
tham dự các phiên họp Hội Đồng Nội Các
Chính Phủ để nói lên tiếng nói của dân
chúng trong la?nh thổ ḿnh cho lợi ích
Quốc Gia.
Vị Chủ Tịch của mỗi Vùng có vai tṛ đại
diện đối ngoại cho Cộng Đồng Điạ Phương,
là người đại diện không phe phái, có
nhiệm vụ ” nói lên một cách trung thực
các nhu cầu liên hệ đến quyền tự lập của
Cộng Đồng Địa Phương vùng ḿnh, như là
chủ thể sở hữu chủ quyền lực” (
T.Martines, Lineamenti di Diritto
Regionale, Milano, 1977, 99).
Và Nội Quy của vùng Sicilia c̣n đi xa
hơn:
– ” Vị Chủ Tich Vùng, vói tư cách như
là Bộ Trưởng tham dự cuộc họp các Bộ
Trưởng, với quyền bỏ phiếu quyết định
những vấn đề liên quan đến đời sống của
Vùng” ( E Spagna, Il Presidente della
Regione, Napoli, 1966, 18).
* Quyền người dân có quyền phán đoán
giới đương quyền
– duyệt xét hồ sơ, sổ sách để biết
được cách hành xử hiệu lực, hiệu năng
hay không của giới quản trị ( điều 7,
Luật 241/90 Ư Quốc).
Qua những ǵ chúng ta tŕnh bày, các
Hiến Pháp nhân bản Tây Âu
– dành cho con người địa vị tối
thượng trong tổ chức Quốc Gia,
– tiên liệu các lời tuyên bố của Hiến
Pháp thành luật lệ thực định,
– tiên liệu các điều khoản để thực
hành các quyền căn bản, bất khả nhượng
mà ḿnh tuyên bố
– và tiên liệu nhiều phương thức để
bảo vệ con người tránh lạm quyền.
– ” Nhân phẩm con người bất khả xâm
phạm” ( Điều 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Những điều khoản của các Hiến Pháp nhân
bản Tây Âu vừa trích dẫn, phải chăng là
những bài học quư giá cho phép chúng ta
mơ ước một đất nước nhân bản trong tương
lai cho dân tộc Việt Nam?
GS. Nguyễn Học Tập