|
35
Năm Nh́n Lại: Cuộc Thất Trận
Và Phản Bội Đồng
Minh
Chúng ta đă thắng trong chiến tranh, nhưng đă thua trong ḥa
b́nh (We won the war in Vietnam, but we lost the peace)".
Tác
Giả : Luật sư Nguyễn Hữu Thống
10
năm sau khi Saigon thất thủ, trong cuốn "No More Vietnams"
xuất bản năm 1985, Tổng Thống Richard Nixon tự phán: "Trong
cuộc chiến đấu này Hoa Kỳ đă thất bại và phản bội đồng minh
(failure and betrayal).
Chúng
ta đă thắng trong chiến tranh, nhưng đă thua trong ḥa b́nh
(We won the war in Vietnam, but we lost the peace)".
Đây
là lời nói khôn ngoan nhưng không phản ảnh sự thật.
Đúng lư Nixon phải nói: Chúng ta thắng về quân sự, nhưng lại
tháo chạy và đầu hàng lịch sự. Chúng ta thua về chính trị,
và đă gieo tai họa vô lường cho các quốc gia đồng minh Đông
Dương Việt-Miên-Lào, cũng như một số các quốc gia Á Phi và
Nam Mỹ như A-Phú-Hăn, Iran, Angola, Mozambique, Ethiopia,
South Yemen, Nicaragua v...v....
Do
đó Hiệp Định Ḥa B́nh Paris 1973 chỉ đem lại ḥa b́nh của
những nấm mồ (peace of the grave).
Ngày nay mọi người thấy rơ: Kiến trúc sư của thảm cảnh này
không phải là ai khác mà là Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh
của Nixon.
Do
những quyền lợi riêng tư cũng như do những cuộc mật đàm, mật
ước và hiểu ngầm với Lê Đức Thọ, Kissinger đă đẩy tới việc
kư kết Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973 với bất cứ giá nào.
Đối với ông, Chiến Trường Đông Nam Á đă thu dọn xong với sự
tiếp tay của Bắc Kinh. Từ đây đối tượng của ông là Chiến
Trường Trung Đông đang cần tiếp viện quân sự và kinh tế. Sau
1975, giới am hiểu cho biết ngân khoản viện trợ hàng năm cho
Do Thái (với 4 triệu dân) khoảng 2 tỉ Mỹ kim ngang với số
ngân khoản viện trợ cho Việt Nam trước 1973.
Cho
tới tháng 1-1973, khi bối thự hiệp ước, bằng xuyên tạc, đe
dọa và hạ nhục Việt Nam Cộng Ḥa, Kissinger đă thúc đẩy
Nixon buộc Miền Nam phải kư Hiệp Định Paris. Cho Hoa Kỳ có
lư do rút quân để đ̣i phóng thích tù binh sau khi đầu hàng
trong danh dự. C̣n việc quân đội Bắc Việt có triệt thoái
khỏi Miền Nam hay không chỉ là vấn đề phụ thuộc. Về việc này,
một mặt Kissinger tin vào những mật ước và cam kết ngầm của
Thọ.
Mặt
khác c̣n có lời cam kết của Nixon theo đó Hoa Kỳ sẽ trả đũa
mănh liệt, nếu Bắc Việt vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định, và
sẽ sử dụng hỏa lực mạnh nhất như trong chiến dịch Mùa Hè
Đỏ Lửa 1972 tại Miền Nam, và những vụ oanh tạc Bắc Việt
bằng B52 trong cuộc Tập Kích Chiến Lược 12 ngày đêm tại Hà
Nội, Hải Pḥng và vùng phụ cận Mùa Giáng Sinh 1972.
Sự
việc đă không diễn ra như vậy. Ba tháng sau Hiệp Định Paris
vụ Watergate bùng nổ. Sau đó Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Luật
ngày 30-6-1973 cấm các lực lượng quân sự Hoa Kỳ không được
yểm trợ những cuộc chiến đấu vơ trang tại Việt-Miên-Lào. Và
tháng 10-1973 Luật về Quyền Lực Chiến Tranh (War Powers Act)
đă trói tay vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và buộc Tổng
Thống phải tham vấn Quốc Hội trước khi sử dụng quân đội vào
những vụ tranh chấp vơ trang.
Điều kiện hạn chế này chưa bao giờ lập pháp đặt ra trong
thời chiến. Do đó, v́ không có toàn quyền hành động và không
có ngân khoản, vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội không thể phản công
kịp thời các bộ đội Bắc Việt xâm nhập quy mô vào Miền Nam,
và cũng không thể trả đũa bằng cách tái oanh tạc Bắc Việt
như trong mùa Giáng Sinh 1972.
Như vậy, 10 tháng sau Hiệp Định Paris, từ tháng 11-1973
quân xâm lăng Bắc Việt được tự do xâm nhập Miền Nam với sự
trợ giúp vơ khí đầy đủ của phe Quốc Tế Cộng Sản Trung Sô
(1.7 tỷ Mỹ kim năm 1974, gấp đôi thời tiền Hiệp Định
Paris.)
Và
từ sau vụ tiến chiếm Phước Long tháng 1-1975, Liên Sô đă 4
lần viện trợ cho Bắc Việt). Và những lời cam kết của Chu Ân
Lai và Brezhnev hứa hẹn sẽ kiềm chế Hà Nội, chỉ là câu đăi
bôi, hay đúng hơn một chiến thuật để dối gạt Hoa Kỳ.
Thêm một sự kiện đáng lưu ư: Một năm sau Hiệp Định Paris,
vào ngày 11-1-1974, khi Kissinger vừa rời Bắc Kinh, đột
nhiên một lần nữa, Trung Quốc công bố chủ quyền tại các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và một tuần sau, ngày 19-1-1974,
họ đem quân xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Lưỡi Liềm
phía tây nam.
Về
mặt Quốc Tế Công Pháp, Hiệp Định Geneva 1954 đă xác nhận
chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa tại các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo Điều 4 Hiệp Định, giới tuyến giữa hai miền Nam Bắc kéo
dài từ thềm lục địa "ra ngoài hải phận theo một đường
thẳng góc với đường ven biển. Quân đội Bắc Việt phải rút
khỏi tất cả các hải đảo thuộc phía Nam giới tuyến" (Vỹ Tuyến
17). Quần đảo Hoàng Sa tọa lạc tại các Vỹ Tuyến 17-15 Bắc
(Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi), và quần đảo
Trường Sa ở phía Nam tọa lạc tại các Vỹ Tuyến 12-7 Bắc (từ
Cam Ranh xuống Cà Mâu). Do đó cả hai quần đảo này đă được
Hiệp Ước Quốc Tế nh́n nhận thuộc hải phận của Việt Nam Cộng
Ḥa mà các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Bắc Việt và
Trung Quốc có nghĩa vụ phải tôn trọng.
Chiếu Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ là quốc gia chủ xướng,
đă triệu tập Hội Nghị, đă kư Hiệp Định, và đă cùng 10 quốc
gia khác, kể cả Trung Quốc, đứng ra bảo lănh sự thi hành
nghiêm chỉnh hiệp định này. Như vậy Hoa Kỳ có nghĩa vụ
tiên khởi phải bảo vệ quyền dân tộc tự quyết của nhân dân
Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền lănh thổ của Việt Nam chống
mọi xâm lăng vơ trang bất cứ từ đâu tới.
Vậy
mà, ngày 19-1-1974, dầu có mặt tại vùng Biển Hoàng Sa, Đệ
Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đă án binh bất động, không yểm trợ,
không can thiệp, không điều giải, và cũng không làm hành vi
nhân đạo nào để cứu vớt các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam mắc
nạn trên Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, do Trung Tá Ngụy Văn Thà chỉ
huy, đă bị bắn ch́m.
Có
lẽ Hải Quân Hoa Kỳ nghĩ rằng họ không có trách nhiệm phải
cứu vớt những người sắp chết đuối, kể cả v́ lư do nhân đạo.
V́ măi tới tháng 11-1974 Liên Hiệp Quốc mới ban hành Công
Ước về việc Cứu Vớt các Nạn Nhân bị Đắm Tàu Trên Mặt Biển.
Hơn nữa, từ tháng 6-1973, Quốc Hội Hoa Kỳ đă ban hành đạo
luật cấm quân lực Hoa Kỳ không được tham gia hay yểm trợ bất
cứ cuộc chiến đấu quân sự nào trên bộ, trên không và trên
biển tại bán đảo Đông Dương. Trong thời gian này, từ tháng
4-1973, báo chí phản chiến và phe đối lập đa số tại Quốc Hội
đă triệt để khai thác vụ nghe lén Watergate, dẫn đến việc
Nixon từ chức vào tháng 8-1974.
Năm
1974, theo 3 ngả tiến quân, từ vùng Phi Quân Sự phía Bắc,
Ai Lao và Cao Miên phía Tây, Bắc Việt kéo đại quân xâm nhập
Miền Nam. Và tháng 1-1975 đă tiến chiếm nguyên một tỉnh của
Việt Nam Cộng Ḥa là Phước Long.
Cuộc tiến chiếm này nhằm trắc nghiệm phản ứng của Hoa Kỳ.
Lúc này, từ Tổng Thống chỉ định Gerald Ford, chẳng ai c̣n
nhớ những lời cam kết long trọng của Tổng Thống dân cử Nixon
trong hơn 30 văn thư gửi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong
những văn thư này, vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ hứa sẽ
tái oanh tạc Bắc Việt, đồng thời phản công tức thời các lực
lượng vơ trang Bắc Việt xâm nhập Miền Nam, bằng những vơ khí
mạnh nhất như Không Đoàn B52.
Sau
vụ Phước Long, trong một phiên họp của Bộ Chính Trị Đảng
Cộng Sản, Lê Duẩn đă giơ hai tay reo lên: "Nó bỏ rồi!"
Và
3 tháng sau, các chiến xa Liên Xô vượt qua hàng rào Dinh Độc
Lập báo hiệu sự cáo chung của Việt Nam Cộng Ḥa. Lúc này,
bất chấp Hiệp Định Paris, Bắc Việt đă kéo thêm 25 sư đoàn
chính quy vào chiến trường Miền Nam để yểm trợ số hơn 100
ngàn quân đă xâm nhập từ Chiến Dịch Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. T
ừ
đó Hiệp Định Ḥa B́nh Paris chỉ c̣n là tờ giấy lộn. Và những
điều khoản cam kết hành sử quyền dân tộc tự quyết bằng đường
lối ḥa b́nh chỉ là những bánh vẽ do phe chủ chiến Lê Đức
Thọ ban phát cho kẻ chủ bại Kissinger.
Chẳng hạn như Điều 15 Hiệp Định Ḥa B́nh Paris: "Việc thống
nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp
ḥa b́nh trên cơ sở thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc
và Miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không
bên nào thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do hai
Miền Nam, Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận (theo nguyên tắc nhất
trí)!"
MỘT
THỜI GIAN ĐỦ DÀI ĐỂ CÓ MỘT KHOẢNG CÁCH HỢP LƯ
Cuộc "Đại Thắng Mùa Xuân 1975" khó có thể có nếu Hoa Kỳ
không nhất định bỏ Miền Nam Việt Nam.
Trong cuộc mật đàm giữa Thủ Tướng Chu Ân Lai và Henry
Kissinger ở Đại Sảnh Nhân Dân Bắc Kinh nhân dịp Tổng Thống
Richard Nixon công du Trung Quốc và gặp Mao Trạch Đông ngày
21-2-1972, Kissinger nói thẳng với Chu Ân Lai: "Chúng tôi
không quan tâm đến việc hủy diệt (Cộng Sản Việt Nam), và
ngay cả việc đánh bại nó".
Mỹ
đă thỏa thuận với Trung Quốc để Cộng Sản Việt Nam chiếm Miền
Nam sau khi Mỹ rút quân một thời gian. Kissinger xác nhận
với Chu Ân Lai rằng Mỹ có thể chấp nhận Cộng Sản Miền Bắc
chiếm Miền Nam bằng vũ lực, nếu việc này xẩy ra sau khi Mỹ
rút quân khỏi đây một thời gian đủ dài để có một khoảng
cách hợp lư (decent interval): "Nếu Bắc Việt nghiêm túc đàm
phán với Miền Nam, và nếu sau một thời gian đủ dài sau khi
chúng tôi đă hoàn toàn không c̣n dính líu ǵ (với Miền Nam)
nữa, theo suy đoán riêng, tôi tin rằng khó có thể chúng tôi
quay trở lại và khó có khả năng việc ấy sẽ xẩy ra".
Kissinger nói rơ hơn: "Nếu chúng tôi có thể chung sống với
Chính Phủ Cộng Sản tại Trung Quốc, th́ chúng tôi cũng có khả
năng chấp nhận một chính quyền Cộng Sản ở Đông Dương".
Kissinger trắng trợn nói thẳng: "Hà Nội đă làm ǵ đến nỗi
chúng tôi không thể, trong ṿng 10 năm, thiết lập bang giao
mới" (The White House, Memorandum of Conversation- Top
secret / sensitive-Exclusive eyes only, p.p. 27-29: Cao Thế
Dung: Đảng Cộng Sản Việt Nam 2007).
7
tháng trước, trong hai ngày 9 và 10 tháng 7-1971, trong cuộc
tiếp kiến Chu Ân Lai, Kissinger tiết lộ:
"Hoa Kỳ sẽ triệt thoái toàn thể quân lực ra khỏi Việt Nam
và sẽ không bao giờ trở lại nếu có những điều khoản về
ngừng bắn và trao trả tù binh trong Hiệp Định Paris. Lập
trường của Hoa Kỳ là không nhất thiết duy tŕ một chính phủ
đặc biệt nào (như Việt Nam Cộng Ḥa) tại Miền Nam Việt Nam.
Nếu có một giải pháp chính trị hợp lư phản ánh những tương
quan lực lượng chính trị tại Miền Nam th́ chúng tôi sẽ tôn
trọng giải pháp đó. Nhưng chúng tôi cũng cần có một thời
gian hợp lư cho giải pháp này (decent interval solution).
Hôm qua Thủ Tướng có đề cập đến việc Bắc Việt sẵn sàng hy
sinh hàng triệu người cho công cuộc này. Tôi xin thưa với
Thủ Tướng rằng Bắc Việt không cần phải hy sinh thêm 1 triệu
người nữa đâu..." (Jeffrey Kimball: The Vietnam War Files,
2004).
MẬT
ĐÀM VÀ MẬT ƯỚC
Để
chấm dứt chiến tranh và tái lập ḥa b́nh tại Việt Nam, ngày
27-1-1973, các bên tham gia Hội Nghị Paris đă kư một thỏa
ước mệnh danh là "Hiệp Định Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập
Ḥa B́nh ở Việt Nam". Để bảo đảm sự thi hành nghiêm chỉnh
Hiệp Định này, ngoài 4 bên kết ước là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng
Ḥa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Cộng Ḥa Miền Nam Việt
Nam, c̣n có sự tham dự và bảo lănh của tứ cường Anh, Nga,
Pháp, Hoa và của 4 nước trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và
Giám Sát là Ba Lan, Canada, Hung-Gia-Lợi và Nam Dương.
Trong bản Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam ngày
2-3-1973, ngoài các đại diện của 12 "nước" nói trên, c̣n
có sự hiện diện và chứng minh của ông Tổng Thư Kư Liên
Hiệp Quốc.
Đọc kỹ Hiệp Định Paris 1973, chúng ta sẽ t́m thấy những
nguyên nhân sâu xa và tiềm ẩn đưa tới việc Bắc Việt thôn
tính Miền Nam 2 năm sau khi Hiệp Định Paris vừa ráo mực. Đây
hiển nhiên là một vi phạm cực kỳ thô bạo. Luật pháp văn minh
của loài người đă bị thay thế bằng luật rừng xanh.
Nghịch lư cơ sở thứ nhất là việc Hoa Kỳ chấp nhận cho phái
đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tham dự hội nghị và kư tên
trong Hiệp Định bằng vai phải vế với Việt Nam Cộng Ḥa và
Hoa Kỳ, dưới danh nghĩa đại diện "Chính Phủ" Cách Mạng Lâm
Thời của "Nước" Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam.
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là một tổ chức ngoại vi của
Đảng Cộng Sản, cũng như các Mặt Trận Việt Minh, Mặt Trận
Liên Việt, Mặt Trận Tổ Quốc, Đảng Dân Chủ, Đảng Xă Hội
v...v... đă được Đảng Cộng Sản Đông Dương khai sanh v́ lư do
thời cuộc từ thập niên 1940.
Từ
sau 1975, khi Đảng Cộng Sản công khai xuất hiện để lănh đạo
Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các tổ chức ngoại
vi nói trên như Đảng Dân Chủ của Dương Đức Hiền, Vũ Đ́nh
Ḥe, Hoàng Minh Giám, Nghiêm Xuân Yêm, và Đảng Xă Hội của
Nguyễn Xiển đă bị giải thể sau khi hoàn thành sứ mạng bày
cảnh đa đảng cho Bắc Việt.
Trước đó cùng chung số phận, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
của Nguyễn Hữu Thọ và Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ của Trịnh
Đ́nh Thảo cũng đă bị giải thể từ tháng 11-1975 sau khi hoàn
thành sứ mạng gây ảo tượng Chiến Tranh Miền Nam là một cuộc
nội chiến do chính người Miền Nam phát động, chứ không phải
do Bắc Việt đẩy tới. Ngay cả quân lực Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam cũng đă được sát nhập và "thống nhất" với quân lực
Bắc Việt từ sau 30-4-1975.
Cho
đến tháng 1-1973 khi kư Hiệp Định Paris, Hà Nội vẫn ngoan
cố phủ nhận sự tham gia của các binh sĩ Bắc Việt tại chiến
trường Miền Nam. Cho đây chỉ là cuộc nội chiến nên không có
vấn đề quân đội Bắc Việt phải triệt thoái khỏi Miền Nam.
(North Vietnam refused to withdraw their forces from South
Vietnam. They asserted that the conflict was a civil war and
refused to acknowledge explicitly that they had any troops
in the South. Hanoi therefore rejected our repeated demands
for their withdrawal on the grounds that they were not
involved in the war: Richard Nixon, sách đă dẫn).
Ngày nay sự thật lịch sử đă chứng minh ngược lại. Từ sau
1975, cũng như các cây kiểng Đảng Dân Chủ và Đảng Xă Hội
tại Miền Bắc, hai cái bóng ma Mặt Trận Giải Phóng và Liên
Minh Dân Tộc Dân Chủ tại Miền Nam cũng đă bị khai tử và an
táng trong Băi Tha Ma của Lịch Sử với bao oan nghiệt gây ra
do những kẻ rước voi về giầy mồ các bậc Tổ Phụ trong Nghĩa
Trang Dân Tộc.
Trở
lại Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai (1955-1975), tới tháng
12-1972, do cuộc Tập Kích Chiến Lược Mùa Giáng Sinh, Hoa Kỳ
đă thắng trong chiến tranh. Nhưng, chỉ một tháng sau, từ
tháng 1-1973 với Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ đă thua trong ḥa
b́nh. Do những điều kiện khắc nghiệt của t́nh thế, như áp
lực của phe phản chiến, của dân chúng chán ghét chiến tranh,
của các cơ quan truyền thông bị dân cố t́nh sao chép những
điều dối trá, bóp méo sự thật do phe Quốc Tế Cộng Sản cung
cấp, và của đảng đối lập đa số tại Quốc Hội Hoa
Kỳ.
Theo sách lược cố hữu của Cộng Sản, kư hiệp ước không phải
để thi hành hiệp ước mà chỉ nhằm đạt được những mục tiêu
chính trị giai đoạn.
Thủ
thuật này đă được áp dụng hữu hiệu trong Chiến Tranh Đông
Dương Thứ Nhất (1946-1954) và Chiến Tranh Đông Dương Thứ
Hai (1955-1975):
1)
Năm 1946, Cộng Sản kư Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny, nhờ Pháp
tống xuất quân đội Trung Hoa để thừa cơ thanh toán các đảng
phái quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc như Quốc Dân Đảng, Đồng
Minh Hội, Đại Việt, Duy Dân v...v.... Sau đó lại phát động
Chiến Tranh Chống Pháp tháng 12 năm đó.
2)
Năm 1954, Cộng Sản kư Hiệp Định Đ́nh Chiến Geneva để tống
xuất quân đội Pháp và nắm chính quyền tại Miền Bắc. Sau đó
lại tái phát động Chiến Tranh Thôn Tính Miền Nam.
3)
Năm 1973, Cộng Sản kư Hiệp Định Ḥa B́nh Paris để tống xuất
quân đội Hoa Kỳ. Để sau một khoảng "thời gian hợp lư", lại
tái phát động chiến tranh để thôn tính Miền Nam, bất chấp
lời cam kết chỉ "thực hiện thống nhất Việt Nam bằng phương
pháp ḥa b́nh, trên cơ sở thương nghị và thỏa thuận, không
cưỡng ép, không thôn tính, thời gian thống nhất sẽ do hai
Miền đồng thỏa thuận".
Khi
xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, Cộng Sản đă hạ nhục hai quốc
gia Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa và 8 quốc gia khác đă cùng
kư Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam ngày 2-3-1973
để bảo đảm sự thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Định. Ông Tổng Thư
Kư Liên Hiệp Quốc hiện diện và chứng minh bản Định Ước cũng
mất mặt. V́ Liên Hiệp Quốc đă bị Cộng Sản dùng làm bung sung
trong sách lược ru ngủ dư luận quốc tế để tạo thời cơ xâm
chiếm Miền Nam Việt Nam bằng vơ lực. Nếu Hoa Kỳ có trách
nhiệm pháp lư và đạo lư th́ Liên Hiệp Quốc cũng có trách
nhiệm tinh thần, v́ đă không góp phần vào việc duy tŕ ḥa
b́nh tại Việt Nam và Đông Nam Á.
Và
bẽ bàng hơn cả là Ban Tổ Chức Giải Ḥa B́nh Nobel đă trao
giải này cho Lê Đức Thọ là kẻ lưu manh phát động chiến
tranh xâm lược và Kissinger là kẻ trí trá đem lại ḥa b́nh
của những nấm mồ. Hơn 3 triệu người đă bị sát hại sau 1975
tại Việt Nam và Cam Bốt, và hàng chục triệu người khác đă
bị ḱm kẹp trong guồng máy độc tài phi nhân, trái với quyền
dân tộc tự quyết được quy định trong Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc, Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các Công Ước
Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành.
ĐỀ
NGHỊ 10 ĐIỂM CỦA BẮC VIỆT
Ngày 8-5-1969 Tổng Thống Nixon đưa ra Bản Đề Nghị 8 Điểm của
Hoa Kỳ nhằm giải quyết Chiến Tranh Việt Nam bằng thương
nghị. Ngày hôm sau, 9-5-1969, để giành chính nghĩa, Bắc Việt
cũng đưa ra bản đề nghị trong cái gọi là "Kế Hoạch Ḥa B́nh
10 Điểm". 4 năm sau, ngày 27- 1-1973 khi Hội Nghị Paris kết
thúc, toàn bộ kế hoạch của Bắc Việt đă được Hoa Kỳ chấp
nhận.
-
Điểm 1:
Tôn trọng những quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, như
độc lập, thống nhất, chủ quyền và sự toàn vẹn lănh thổ của
nước Việt Nam, như Hiệp Định Geneva năm 1954 đă công nhận.
-
Điểm 2:
Hoa Kỳ phải [đơn phương] rút ra khỏi Miền Nam Việt Nam tất
cả quân đội, vũ khí và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và
của các quốc gia đồng minh mà không đ̣i điều kiện nào; Hoa
Kỳ phải hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở Miền Nam Việt
Nam.
-
Điểm 3:
Quyền chiến đấu để bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam là
quyền tự vệ thiêng liêng và bất khả chuyển nhượng của mọi
dân tộc.
-
Điểm 4: Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ tự giải quyết lấy
những vấn đề nội bộ của họ, không có sự can thiệp của
ngoại bang. Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ tự lựa chọn chế
độ chính trị cho Miền Nam Việt Nam qua những cuộc tổng tuyển
cử tự do và dân chủ; Quốc Hội Lập Hiến sẽ được thành lập
để soạn thảo Hiến Pháp, Chính Phủ Liên Hiệp Miền Nam Việt
Nam sẽ được thành lập trong tinh thần ḥa giải ḥa hợp và
đại đoàn kết quốc gia.
-
Điểm 5:
Trong thời gian chuyển tiếp, từ khi tái lập ḥa b́nh đến
khi tổ chức tổng tuyển cử, các bên ở Miền Nam không được
áp đặt chế độ chính trị của ḿnh cho nhân dân Miền Nam.
Các
lực lượng chính trị đại diện các tầng lớp xă hội và các
khuynh hướng chính trị ở Miền Nam Việt Nam chủ trương ḥa
b́nh, độc lập và trung lập, kể cả những người đang sống ở
ngoại quốc v́ lư do chính trị, cũng được quyền tham dự vào
việc thương nghị để thành lập Chính Phủ Liên Hiệp Lâm Thời.
Chính phủ này phải được đặt trên cơ sở b́nh đẳng, dân chủ
và tương kính , nhằm xây dựng một Miền Nam Việt Nam ḥa
b́nh, độc lập, dân chủ và trung lập. Chính Phủ Liên Hiệp
Lâm Thời có những trách nhiệm sau đây:
-
Thi hành những điều khoản đă được thỏa thuận về việc rút
quân của Hoa Kỳ và của các quốc gia đồng minh ra khỏi Miền
Nam Việt Nam.
-
Thực hiện ḥa giải ḥa hợp dân tộc và đại đoàn kết quốc gia
giữa các tầng lớp xă hội, các lực lượng chính trị và các
sắc tộc.
-
Tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ trong toàn lănh
thổ Miền Nam Việt Nam để thực thi quyền tự quyết của nhân
dân Miền Nam Việt Nam chiếu theo điểm 4 nói trên.
-
Thực thi những quyền tự do dân chủ thiết yếu như tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự
do lập hội và lập đảng chính trị, tự do biểu t́nh
v...v....
-
Phóng thích tất cả những người đang bị giam cầm v́ lư do
chính trị, cấm mọi hành động khủng bố, trả thù và kỳ thị
đối với những người đă cộng tác với các bên, hiện sống ở
trong nước hay ở ngoài nước chiếu theo Hiệp Định Geneva
1954.
-
Hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát triển kinh
tế, b́nh thường hóa đời sống của nhân dân và cải thiện đời
sống của giới lao động.
-
Điểm 6:
Miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện chính sách đối ngoại ḥa
b́nh và trung lập (miền Bắc không bị rang buộc bởi điều
kiện này):
-
Giao hảo với Vương Quốc Cam Bốt trên căn bản tôn trọng độc
lập, chủ quyền, trung lập và sự toàn vẹn lănh thổ và biên
giới của quốc gia này; giao hảo với Vương Quốc Lào trên căn
bản tôn trọng Nghị Định Thư năm 1962 [bảo đảm nền trung
lập của Ai Lao].
-
Thiết lập quan hệ ngoại giao, kinh tế và văn hóa với tất
cả các quốc gia trên thế giới kể cả Hoa Kỳ, không phân
biệt về chính trị và xă hội, theo 5 Nguyên Tắc Sống Chung
Ḥa B́nh [của phe Phi Liên Kết Á Phi từ Hội Nghị Bandung
1955]; cùng tôn trọng nền độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn
lănh thổ, không gây hấn, không can thiệp vào việc nội bộ,
b́nh đẳng và lưỡng lợi, sống chung ḥa b́nh, nhận viện trợ
kinh tế và kỹ thuật của các quốc gia mà không lệ thuộc vào
bất cứ điều kiện chính trị nào.
-
Điểm 7:
Nền thống nhất của Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước
bằng phương pháp ḥa b́nh trên cơ sở thương thảo và thỏa
hiệp giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam không có sự can
thiệp của nước ngoài.
Trong khi chờ đợi thống nhất Việt Nam trong ḥa b́nh:
-
Hai miền sẽ tái lập quan hệ ngoại giao trong mọi lănh vực
trên căn bản tương kính.
-
Giới Tuyến Quân Sự Tạm Thời giữa hai miền tại Vĩ Tuyến 17
quy định trong Hiệp Định Geneva 1954, chỉ là tạm thời, và
không phải là một ranh giới về chính trị hay lănh
thổ.
-
Hai miền sẽ kư thỏa ước về quy chế Vùng Phi Quân Sự, và
cách thức di chuyển qua Giới Tuyến Quân Sự Tạm Thời.
-
Điểm 8:
Trong khi chờ đợi sự thống nhất Việt Nam bằng phương pháp
ḥa b́nh, theo quy định của Hiệp Định Geneva 1954, hai Miền
Nam Bắc không tham gia bất cứ liên minh quân sự với bất cứ
quốc gia nào, không cho phép nước ngoài duy tŕ căn cứ quân
sư, hay trú đóng quân đội và nhân viên quân sự trên đất
ḿnh.
-
Điểm 9:
Để giải quyết vấn đề hậu chiến:
-
Các bên sẽ thương thuyết về việc trao trả tù binh của các
bên bị bắt giữ trong thời chiến.
-
Chính Phủ Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những
tổn thất và tàn phá gây ra cho nhân dân Việt Nam ở cả hai
miền.
-
Điểm 10:
Các bên sẽ đi đến thỏa ước về việc giám sát quốc tế trong
việc triệt thoái quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và
vật dụng chiến tranh của Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh
ra khỏi Miền Nam Việt Nam (không nói ǵ đến Bắc Việt).
Đề
Nghị 10 Điểm của Bắc Việt hồi tháng 5-1969 tập trung vào 4
chủ đề:
-
Chủ Đề I:
Các Điểm 1, 3 và 7 coi Việt Nam vẫn là một nước duy nhất
và thống nhất với lănh thổ toàn vẹn. Chủ đề này nhằm xé
bỏ Hiệp Định Geneva tháng 7-1954 đă phân chia Việt Nam thành
hai quốc gia, Việt Nam Cộng Ḥa và Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa. (Cũng như hai nước Nam Hàn và Bắc Hàn đă được thành
lập do Hiệp Định Bàn Môn Điếm tháng 7-1953 tại Triều Tiên).
-
Chủ Đề II:
Các Điểm 2, 8 và 10 nói về sự ngừng bắn tại chỗ và sự
triệt thoái [đơn phương] của quân đội Hoa Kỳ và các đồng
minh như Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Thái Lan, Phi Luật Tân và
Đại Hàn.
-
Chủ Đề III:
Điểm 9 nói về sự trao trả tù binh dẫn đến việc Hoa Kỳ là
kẻ gây chiến phải chịu trách nhiệm bồi thường chiến tranh và
tái thiết hai miền Việt Nam.
-
Chủ Đề IV:
Các Điểm 4, 5 và 6 nói về những vấn đề và giải pháp chính
trị tại Miền Nam như tổ chức Tổng Tuyển Cử, soạn thảo Hiến
Pháp mới và thành lập Chính Phủ Liên Hiệp 3 Thành Phần theo
chính sách trung lập như Cao Miên và Ai Lao trong Khối Phi
Liên Kết Á-Phi. Chủ đề này nhằm xóa bỏ Hiến Pháp Việt Nam
Cộng Ḥa 1967, giải tán Chính Phủ và giải thể chế độ Việt
Nam Cộng Ḥa.
4
Chủ Đề nói trên do Bắc Việt đưa ra từ tháng 5-1969 đă được
chấp nhận toàn bộ trong 8 Chương của Hiệp Định Paris tháng
1-1973.
-
Chủ Đề I: Về Tâm Lư Chiến: Lănh thổ Việt Nam Thống Nhất
(Các Điểm 1, 3 và 7)
Chủ
đề này đ̣i xác nhận Việt Nam là một quốc gia thống nhất,
lănh thổ toàn vẹn bất khả phân (Điểm 1)
Giới Tuyến Quân Sự tại Vĩ Tuyến 17 quy định trong Hiệp Định
Geneva 1954 không có giá trị là một ranh giới chính trị hay
biên thùy lănh thổ (Điểm 7)
Như
vậy bất cứ người dân Việt Nam nào cũng có quyền đi lại
trong lănh thổ thống nhất của Việt Nam (từ Nam Quan đến Cà
Mau) để chiến đấu bảo vệ tổ quốc chống ngoại xâm dưới bất cứ
h́nh thức nào (Điểm 3)
Đây
thực ra chỉ là một sách lược của Bắc Việt nhằm xóa bỏ Hiệp
Định Geneva 1954.
V́,
như đă tŕnh bày:
"Giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Nam Bắc kéo dài
ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven
biển. Lực lượng Liên Hiệp Pháp phải rút khỏi tất cả các hải
đảo ven bờ biển thuộc phía Bắc giới tuyến (Vỹ Tuyến 17).
Và quân đội Bắc Việt phải rút khỏi tất cả các hải đảo thuộc
phía Nam". (Điều 4 Hiệp Định Geneva 1954).
Lẽ
tất nhiên, nếu có giới tuyến cho miền lănh hải th́ cũng phải
có giới tuyến cho vùng lănh thổ (Vỹ Tuyền 17). Giới tuyến
này có hiệu lực trong 21 năm tại Việt Nam (1954-1975). Nó
vẫn c̣n có hiệu lực trên 55 năm tại Triều Tiên (từ 1953 cho
đến nay).
Về
mặt tâm lư chiến, Hồ Chí Minh hằng tuyên bố: "Quyền chiến
đấu để bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam là quyền tự vệ
chính đáng và thiêng liêng". V́ vậy Bắc Việt không bao giờ
chấp nhận rút quân khỏi Miền Nam và đă kết án Hoa Kỳ là kẻ
gây chiến phải chịu trách nhiệm bồi thường chiến tranh và
tái thiết hậu chiến. Điều này đă được mặc nhiên chấp thuận
trong Chương VIII Hiệp Định Paris theo đó "Hoa Kỳ sẽ đóng
góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết Bắc
Việt và Đông Dương sau chiến tranh" (Điều 21)
Chủ
Đề I đă được Hiệp Định Paris chấp nhận trong Điều 1 Chương I
và Điều 15 Chương V (mỗi chương chỉ có một điều).
Điều 1: "Hoa Kỳ và các nước khác phải tôn trọng độc lập,
chủ quyền,sự thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của nước Việt
Nam như Hiệp Định Geneva 1954 về Việt Nam đă công
nhận".
Điều 15: (a)"Trong khi chờ đợi thống nhất: Giới Tuyến Quân
Sự giữa hai miền tại Vĩ Tuyến 17 không phải là một ranh
giới về chính trị hoặc về lănh thổ như quy định trong đoạn
6 của Tuyên Ngôn Sau Cùng của Hội Nghị Geneva năm 1954".
Chủ
Đề I của Đề Nghị Bắc Việt nhằm xóa bỏ tư cách pháp nhân
của Việt Nam Cộng Ḥa, xóa bỏ Hiệp Định Geneva, xóa bỏ Giới
Tuyến Quân Sự là Vỹ Tuyến 17 cũng như vùng Phi Quân Sự 10
cây số. Đó là nghịch lư cơ sở thứ hai.
Đề
nghị này có tác dụng không ngăn cản những cuộc di chuyển của
các cán binh Bắc Việt xâm nhập Miền Nam, nói là để chiến
đấu bảo vệ tổ quốc, chống Hoa Kỳ là kẻ xâm lược hay kẻ can
thiệp.
Về
mặt pháp lư, sau khi Hiệp Định Geneva được kư ngày
20-7-1954, qua hôm sau, 21-7-1954, Hội Nghị công bố bản
Tuyên Ngôn Sau Cùng, khuyến cáo hai bên tổ chức tổng tuyển
cử để thống nhất Việt Nam vào tháng 7-1956. Tuy nhiên tuyên
ngôn không phải là hiệp ước nên không có giá trị pháp lư.
Hơn nữa Tuyên Ngôn Sau Cùng ngày 21-7-1954 không mang chữ kư
của bất cứ phái đoàn nào, kể cả Bắc Việt và Quốc Gia Việt
Nam, nên không có giá trị pháp lư và không có hiệu lực ràng
buộc Việt Nam Cộng Ḥa.
Theo Công Pháp Quốc Tế, từ 1954 Việt Nam không c̣n là một
quốc gia thống nhất v́ lănh thổ đă bị phân qua tại Vĩ Tuyến
17. Từ đó tại Việt Nam có hai quốc gia, hai chính phủ, hai
quân đội và hai miền lănh thổ. Cũng như tại Triều Tiên sau
Hiệp Định Bàn Môn Điếm từ 55 năm nay. Như vậy, năm 1973 nói
đến một nước Việt Nam thống nhất chỉ là tuyên truyền vọng
tưởng chứ không phải là hiện thực.
Chính Hiệp Định Geneva 1954 cũng xác nhận điều đó:
1)
Điều 14
đề cập đến giải pháp chính trị cho Việt Nam có ghi: "Trong
khi chờ đợi Tổng Tuyển Cử để thống nhất nước Việt Nam, bên
nào có quân đội tập hợp ở vùng nào th́ sẽ phụ trách quản
trị hành chánh ở vùng đó". V́ chưa có tổng tuyển cử nên
chưa có thống nhất.
2)
Điều 24:
"Các lực lượng vũ trang của mỗi bên sẽ phải tôn trọng
vùng phi quân sự và lănh thổ đặt dưới quyền kiểm soát của
bên kia". V́ có hai quốc gia nên có hai lănh thổ. Và giới
tuyến quân sự (Vỹ Tuyến 17) là biên giới của hai nước Việt
Nam Cộng Ḥa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chiếu Hiệp Định
Geneva 1954.
3)
Điều 6:
"Bất cứ người nào, quân nhân hay thường dân, đều không được
vượt qua giới tuyến quân sự tạm thời nếu không có giấy
phép của Ban Liên Hợp".
4)
Điều 7:
"Bất cứ người nào, quân nhân hay thường dân, đều không được
vào khu phi quân sự nếu không có giấy phép của Ban Liên
Hợp."
Như vậy ngày nào Hiệp Định Geneva c̣n có hiệu lực th́ Việt
Nam không phải là một quốc gia thống nhất như bản Đề Nghị
của Bắc Việt đă khẳng định trong Chủ Đề I.
Mặc
dầu vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tuyên bố rằng quyền
chiến đấu chống xâm lăng để bảo vệ tổ quốc của nhân dân
Việt Nam là quyền tự vệ thiêng liêng. Đó chỉ là một quan
điểm chủ quan. Vả lại sự thật lịch sử cho biết, tại Miền
Nam Việt Nam, không phải Hoa Kỳ, Bắc Việt mới chính là kẻ
xâm lăng.
Do
chính sách giảo hoạt của người Cộng Sản và sự ngây thơ của
chính giới Hoa Kỳ và dă tâm của Kissinger muốn bỏ rơi Việt
Nam, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Hiệp Định Paris
1973 đă chấp nhận Chủ Đề I của Bắc Việt và chấp nhận quan
điểm của Bắc Việt theo đó Việt Nam là một quốc gia đă thống
nhất. Trên mặt trận tâm lư, Hoa Kỳ đă thua Bắc Việt. Tâm
lư ảnh hưởng đến pháp lư và thực tế.
-
Chủ Đề II: Về mặt Quân Sự: Ngừng Bắn, Rút Quân, Căn Cứ
Quân Sự, Liên Minh Quân Sự .
(Các Điểm 2, 8 và 10 của Đề Nghị Bắc Việt)
Các
Điểm 2 và 8 trong Đề Nghị Bắc Việt đ̣i Hoa Kỳ phải [đơn
phương] rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam kể cả các quân đội
của các quốc gia đồng minh như Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Thái
Lan, Phi Luật Tân và Đại Hàn.
Đồng thời, hai Miền Nam Bắc phải hủy bỏ các căn cứ quân sự
và không tham gia vào các liên minh quân sự với bất cứ quốc
gia nào.
Điểm 10
nói về việc thành lập cơ quan kiểm soát quốc tế để giám sát
sự triệt thoái của các quân lực Hoa Kỳ và đồng minh ra khỏi
Miền Nam Việt Nam.
Những Đề Nghị này đă được chấp thuận trong Hiệp Định Paris
1973 nơi Chương II nói về sự ngừng bắn tại chỗ hay ngừng bắn
da beo 24 giờ sau ngày kư Hiệp Định.
Điều 2: "Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp Miền
Nam Việt Nam kể từ 24 giờ ngày 27-1-1973".
Điều 3 nói về nguyên tắc Ngừng Bắn Tại Chỗ hay Ngừng Bắn Da
Beo: "Bắt đầu từ khi ngừng bắn:
a.Các lực lượng của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đồng
minh của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Ḥa sẽ ở nguyên vị trí
của ḿnh trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân.
b.Các lực lượng vũ trang của hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ ở
nguyên vị trí của ḿnh." (không phải rút quân).
Điều 5: "Sự rút quân của Hoa Kỳ và của các quốc gia đồng
minh phải được hoàn thành trong thời hạn 60 ngày kể từ khi
kư Hiệp Định".
Điều 6 nói về sự hủy bỏ các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại
Miền Nam Việt Nam.
Và Chương VI Hiệp Định Paris quy định việc thành lập Ban
Liên Hợp Quân Sự:
(Điều 16), Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát
(Điều 18), đặc biệt là Hội Nghị Quốc Tế (của 12 nước) về
Việt Nam: gồm có bốn bên kết ước, tứ cường Anh, Pháp, Nga,
Hoa và bốn quốc gia giám sát là Ba Lan, Canada, Hung Gia
Lợi và Nam Dương. Ngoài ra c̣n có sự hiện diện và chứng
minh của ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc.
(Điều 19). Ngày 2-3-1973, 12 "nước" đă kư bản Định Ước của
Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam để bảo đảm sự thi hành nghiêm
chỉnh Hiệp Định Ḥa B́nh Paris 1973.
Khách quan mà xét đây chỉ là những tổ chức hay cơ quan
kiểm soát và giám sát trang trí, hữu danh vô thực. Đó là
liều thuốc an thần trấn an dư luận cho Hoa Kỳ triệt thoái
quân đội khỏi Miền Nam. Lư do dễ hiểu là các cơ quan kiểm
soát này chỉ có thể lập phúc tŕnh và quyết định theo nguyên
tắc nhất trí. V́ cần có nhất trí nên thành bất động. Trong
các Ban Liên Hợp Quân Sự cũng như trong Ủy Ban Kiểm Soát và
Giám Sát không bao giờ đạt được nhất trí. V́ có hai thành
phần thường xuyên đối kháng nhau.
Ủy
Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát gồm đại diện hai nước Cộng
Sản Ba Lan và Hung Gia Lợi, một nước trung lập (Nam Dương)
và một nước thuộc phe dân chủ (Canada). Không bao giờ Ủy
Ban có sự nhất trí, ngoại trừ bản phúc tŕnh duy nhất mang
bốn chữ kư xác nhận Sa Huỳnh thuộc vùng kiểm soát của Việt
Nam Cộng Ḥa hồi tháng 1-1973. Sau vụ này đại diện Ba Lan bị
cách chức. Hơn nữa ngày 7-4-1973 quân đội Bắc Việt đă bắn hạ
hai trực thăng của Ủy Ban tại Ban Mê Thuột đưa đến sự từ
chức của phái bộ Canada.
Từ
đó Bắc Việt được tự do hoành hành. Họ đă vi phạm Hiệp Định
Paris hơn 2 ngàn lần năm 1973 so với khoảng 1 ngàn vụ vi
phạm năm 1972. Đó là sách lược Vừa Đánh Vừa Đàm áp dụng từ
Chiến Tranh Triều Tiên đầu thập niên 1950. Tại Việt Nam
chính sách này được mệnh danh là "Giành Dân Lấn Đất". Ngay
cả những vụ vi phạm thô bạo nhất của Bắc Việt như những vụ
tiến chiếm Phước Long tháng 1-1975, Ban Mê Thuột tháng
3-1975 và Đà Nẵng tháng 4-1975 cũng không thấy Ủy Ban Kiểm
Soát và Giám Sát lập phúc tŕnh!
Đặc
biệt là theo Đề Nghị Bắc Việt và Điều 3 Hiệp Định Paris, sự
ngừng bắn tại chỗ hay ngừng bắn da beo cho phép các lực
lượng đối nghịch (kể cả Bắc Việt) được giữ nguyên vị trí của
ḿnh. Và như vậy đă mặc nhiên cho phép quân Bắc Việt được
tiếp tục đồn trú trên lănh thổ Miền Nam. Đó là nghịch lư cơ
sở thứ ba.
Về
khoản rút quân, Hiệp Định Paris chỉ nói về sự triệt thoái
đơn phương của các quân lực Hoa Kỳ và đồng minh. Trong khi
đó không có điều khoản nào buộc quân đội và cán bộ Bắc Việt
xâm nhập Miền Nam phải triệt thoái ra khỏi Vỹ Tuyến 17 như
Hiệp Định Geneva 1954 đă quy định. (Trong thời gian ḥa đàm
1954, Bắc Việt đă bác bỏ đề nghị ngừng bắn tại chỗ hay ngừng
bắn da beo tại hai miền Nam Bắc).
Theo Hiệp Định Geneva 1954, hai bên phải tập kết và rút quân
ra khỏi giới tuyến quân sự tạm thời (Vỹ Tuyến 17). Quân đội
Bắc Việt phải rút về phía Bắc giới tuyến, và quân đội Quốc
Gia Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp phải rút về phía
Nam giới tuyến. Sự rút quân song phương đă được tiến hành
theo tŕnh tự như sau:
1.Về phía Bắc Việt: Khu Đồng Tháp Mười trong thời hạn 100
ngày, khu Mũi Cà Mâu 200 ngày và đợt chót ở Trung Phần 300
ngày.
2.Về phía Quốc Gia Việt Nam và Liên Hiệp Pháp: 80 ngày tại
Hà Nội, 100 ngày tại Hải Dương và 300 ngày tại Hải Pḥng.
Trong thời gian tập kết 300 ngày, gần 1 triệu đồng bào Miền
Bắc đă bỏ phiếu bằng chân khi rời bỏ Miền Bắc vào Nam t́m
Tự Do.
Chủ Đề III: Về Mặt Nhân Đạo và Tái Thiết: Phóng Thích Tù
Binh Và Bồi Thường Chiến Tranh
(Điểm 9 Đề Nghị Bắc Việt)
Chương III (Điều 8) và Chương VIII (Điều 21) Hiệp Định Paris
đề cập đến việc trao trả tù binh, bồi thường chiến tranh và
tái thiết Đông Dương. Đây chỉ là sự sao chép đề nghị và
quan điểm của Bắc Việt theo đó Hoa Kỳ là kẻ gây chiến nên
phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những tổn thất và tàn phá
gây ra cho nhân dân Việt Nam.
Và
Điểm 9 Đề Nghị Bắc Việt ngụ ư nói, nếu muốn đ̣i thả tù
binh, phải bồi thường chiến tranh và tái thiết hậu chiến.
Hoa Kỳ đă ưng chịu tuân hành khi kư Hiệp Định.
Chủ Đề IV: Về mặt Chính Trị: Những Vấn Đề và Giải Pháp
(Các Điểm 4, 5, 6 của Đề Nghị Bắc Việt)
Chủ
Đề này đề cập đến những giải pháp chính trị sẽ được áp
dụng tại Miền Nam Việt Nam khi Hiệp Định Paris được kư kết
và thi hành.
Điểm 4 Bản Đề Nghị Bắc Việt đ̣i quyền dân tộc tự quyết cho
nhân dân Miền Nam (nhân dân Miền Bắc không được hưởng quyền
này), được lựa chọn chế độ chính trị thông qua Tổng Tuyển Cử
để soạn thảo Hiến Pháp Mới, tiến tới việc thành lập một
Chính Phủ Liên Hiệp theo Chế Độ Trung Lập chiếu 5 Nguyên
Tắc Sống Chung Ḥa B́nh của Hội Nghị Bandung 1955 và của phe
Phi Liên Kết Á Phi.
Như
vậy Quốc Gia Việt Nam Cộng Ḥa sẽ bị giải thể, Hiến Pháp
Việt Nam Cộng Ḥa sẽ bị hủy bỏ để thành lập Chính Phủ Liên
Hiệp 3 thành phần ngang nhau: Cộng Sản, Trung Lập thiên cộng
và Cộng Ḥa. Từ nay trong tương quan lực lượng, phe Cộng
Ḥa chỉ c̣n 1/3 tại Miền Nam và 1/6 tại Việt Nam. Vả lại sự
phân quyền này không căn cứ vào những tương quan chính trị
và xă hội.
Trên thực tế Cộng Sản chỉ kiểm soát được chừng 10% dân
chúng. Phe trung lập thiên cộng chỉ là "mấy anh phiêu lưu
chính trị và tập sự chính trị vô tích sự hay phê b́nh vung
vít" (Đại Sứ Jean Marie Merillon. Đến đầu năm 1975 Chính
Phủ Việt Nam Cộng Ḥa vẫn kiểm soát trên 85% dân chúng Miền
Nam Việt Nam.
Do
đó sự thành lập Chính Phủ Liên Hiệp 3 thành phần ngang nhau
là bất công. Đây chỉ là một kế hoạch thôn tính Miền Nam
bằng đường lối ḥa b́nh.
Dầu
sao, đối với Bắc Việt, đó vẫn là hạ sách.
Mục
tiêu chủ yếu của họ là, với hơn 100 ngàn quân đồn trú sẵn
tại Miền Nam cộng với số quân xâm nhập năm 1975 chừng 250
ngàn, khi điều kiện cho phép, họ sẽ xâm chiếm Miền Nam bằng
vơ lực.
Cơ hội ngàn năm một thuở của Bắc Việt là sự vướng mắc của
Tổng Thống Nixon trong vụ Watergate (từ tháng 4-1973 đến
tháng 8-1974). Thêm vào đó là chủ trương của Hoa Kỳ muốn
triệt thoái toàn bộ quân lực ra khỏi Việt Nam để đ̣i phóng
thích tù binh sau khi ngừng bắn. Kể từ tháng 6-1973 Quốc Hội
không c̣n cấp ngân khoản cho quân lực Hoa Kỳ chiến đấu tại
Đông Dương. Và Luật về Quyền Lực Chiến Tranh tháng 10-1973
đă trói tay hành động của Hành Pháp vốn là cơ quan hành
động.
V́
không c̣n lo sợ bị oanh tạc, hàng chục sư đoàn chính quy Bắc
Việt, với sự yểm trợ tối đa của Liên Xô và Trung Quốc, đă
công khai di chuyển từ các căn cứ tại Ai Lao, Cao Miên và
Bắc Việt vào chiến trường Miền Nam từ tháng 11-1973, nhất
là từ tháng 8-1974 khi Nixon từ chức.
Như đă tŕnh bày, 3 nghịch lư cơ sở là:
1)Theo Hiệp Định Geneva 1954, trên lănh thổ Việt Nam chỉ
có hai quốc gia là Việt Nam Cộng Ḥa tại Miền Nam và Việt
Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tại Miền Bắc. V́ lănh thổ quốc gia đă
bị chia cắt nên không c̣n thống nhất (Quốc Gia Việt Nam
không kư Hiệp Định Geneva 1954 nên không chịu trách nhiệm về
sự phân qua lănh thổ).
2)Về mặt quân sự chỉ thấy ghi sự triệt thoái đơn phương
của Hoa Kỳ và Đồng Minh và không lư vấn ǵ đến sự hiện
diện của hàng trăm ngàn binh sĩ Bắc Việt xâm nhập Miền Nam
từ 1972.
3)Hơn nữa, về mặt chính trị và pháp lư, trong lănh thổ
Việt Nam chỉ có hai nước và không thể có một nước thứ ba
mệnh danh là Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN).
Kế
hoạch "3 Nước Việt" đă được Trung Quốc và Bắc Việt đề ra để
giăng bẫy Hoa Kỳ. Chu Ân Lai đă du mị Kissinger bằng cách
hứa hẹn dùng Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam làm quốc gia trung
lập trái độn giữa Bắc và Nam Việt. Bắc Kinh c̣n tiết lộ họ
đă kư với Giải Phóng Miền Nam một Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương
theo đó "mọi vi phạm chủ quyền của Cộng Ḥa Miền Nam Việt
Nam sẽ được coi như vi phạm chủ quyền của Trung Quốc".
Và
sau vụ thành lập "Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời" (CPCMLT)
c̣n có vụ đổi tên từ Xa Lộ Đông Trường Sơn (hay Đường Ṃn
Hồ Chí Minh) thành Quốc Lộ 1 Kép; Quốc Lộ 19 Pleiku-Qui Nhơn
thành Quốc Lộ 2; và Quốc Lộ 21 Ban Mê Thuột-Nha Trang thành
Quốc Lộ 3 trong một quốc gia mới được Trung Quốc khai sinh
và nuôi dưỡng. CHMNVN sẽ đặt thủ đô tại Tây Nguyên. Và đến
ngày tŕnh diện, các phái đoàn của 80 nước, dẫn đầu là Trung
Quốc, sẽ đổ bộ từ Đông Hà xuống Tây Nguyên bằng Xa Lộ Đông
Trường Sơn hay Quốc Lộ 1 Kép để thừa nhận CPCMLT.
Về
mặt quốc tế công pháp, trong một quốc gia không thể có hai
nước. Điều này đi trái với Hiệp Định Geneva 1954 quy định
thành lập hai quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa (Miền Nam) và Việt
Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc) (cũng như hai quốc gia Nam
Hàn và Bắc Hàn theo Hiệp Định Bàn Môn Điếm 1953).
Do
đó ngày nào Hiệp Định Geneva c̣n có hiệu lực (như Hiệp Định
Bàn Môn Điếm) th́ không thể có hai nước Việt tại Miền Nam,
với hai chính phủ, hai quân đội, hai vùng lănh thổ, hai
loại cư dân, kể cả hai loại công an cảnh sát (như Điều 6
Nghị Định Thư Về Ngừng Bắn trong Hiệp Định Paris 1973 đă ám
chỉ).
Từ
1969, do áp lực của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Ḥa đă phải nh́n
nhận "thực thể Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam" như kẻ đối thoại
chính thức. Dầu rằng trước đó, cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi
Nghĩa Tết Mậu Thân 1968 đă hoàn toàn thất bại về chính trị
cũng như về quân sự.
Cộng Sản dối gạt các cán binh rằng vào Nam chỉ để tiếp thu
và sẽ có tổng khởi nghĩa của nhân dân Miền Nam. Thật ra
cuộc đồng khởi chính trị không được ai hưởng ứng. Theo báo
cáo của thủ trưởng Tỉnh Định Tường (một thanh niên chưa tới
20 tuổi) th́ ngày Tổng Khởi Nghĩa sẽ có 50 tổ đồng khởi.
Vậy mà tới ngày đó, chỉ có một tổ của thủ trưởng mà thôi,
"không thấy 49 tổ kia đâu hết!".
Nhận định về sai biệt này, về mặt chính trị Hồ Chí Minh đúc
kết: "Cuộc Tổng Khởi Nghĩa thất bại v́ báo cáo chủ quan".
(Tỷ lệ phóng đại là 98%).
Về
mặt quân sự, cũng theo Hồ Chí Minh: "Cuộc Tổng Công Kích
thất bại v́ hạ tầng cơ sở du kích tan ră" do Chiến Dịch Lùng
và Diệt Địch phát động từ 1965. Nhiều đơn vị Bắc Việt vào
Nam đă bị tiêu diệt, có những đơn vị đi 2000 người mà sau
một đêm chỉ c̣n có 30. (Tỷ lệ tổn thất cũng là 98%):
Mậu
Thân, hai ngàn người xuống đồng bằng,
Chỉ một đêm, c̣n sống có ba mươi.
(Chế Lan Viên)
Như
vậy khi Hội Nghị Paris khởi diễn tháng 5-1968, theo cán cân
chính trị và quân sự, đáng lư Việt Nam Cộng Ḥa phải ngồi
vào ghế thượng phong ngang hàng với Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa. Chứ không thể chấp nhận cho cái bóng ma Mặt Trận Giải
Phóng được sắm vai "nước thứ tư" tại Hội Nghị.
Do những nhượng bộ quá đáng của Hoa Kỳ, trên thực tế Việt
Nam Cộng Ḥa chỉ c̣n đại diện cho 1/3 nhân dân Việt Nam,
trong thế giả tạo chia 3 Nước Việt do Trung Quốc đề ra để du
mị Hoa Kỳ. Thời gian này báo chí Hoa Kỳ phản chiến cố t́nh
phân biệt giả tạo giữa Việt Cộng (Miền Nam) với Cộng Sản Bắc
Việt.
Từ
1949 khi Quốc Gia Việt Nam được thành lập do Hiệp Định
Elysée, chỉ có một chính phủ hợp pháp do Quốc Trưởng Bảo Đại
ủy nhiệm. Và từ 1956 dưới chính thể Cộng Ḥa, Miền Nam Việt
Nam vẫn chỉ có một chính phủ dân cử được hầu hết các quốc
gia trên thế giới thừa nhận và thiết lập quan hệ ngoại
giao.
Cuối tháng 12-1960, để giàn dựng cuộc "nội chiến", Đảng Cộng
Sản đă thành lập một tổ chức ngoại vi mệnh danh là Mặt Trận
Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Và tới tháng 6-1969, tại Hội Nghị Paris, họ c̣n khai sanh
cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời của Nước Cộng Ḥa
Miền Nam Việt Nam. Như vậy, về pháp lư và chính trị, Việt
Nam Cộng Ḥa bị thu hẹp c̣n 1/4 lực lượng tại Việt Nam,
ngang với CHMNVN.
Trở
lại cuộc ḥa đàm, Chủ Đề IV của Bắc Việt về những vấn đề
chính trị tại Miền Nam đă được chấp nhận toàn bộ bởi Điều
9, Điều 12 và Điều 11 Hiệp Định Paris 1973:
-
Điều 9:
"Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định về tương lai
chính trị cho Miền Nam thông qua tổng tuyển cử tự do dưới
sự giám sát của các cơ quan quốc tế".
-
Điều 12:"Ngay
sau khi ngưng bắn, hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ thành lập
Hội Đồng Quốc Gia Ḥa Giải và Ḥa Hợp Dân Tộc 3 thành phần
ngang nhau. Trong ṿng 3 tháng hai bên sẽ kư một hiệp định
về các vấn đề nội bộ của Miền Nam Việt Nam. Hội Đồng Quốc
Gia Ḥa Giải và Ḥa Hợp Dân Tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự
do có giám sát quốc tế".
-
Điều 11:"Ngay
sau khi ngừng chiến, hai bên Miền Nam sẽ đảm bảo những
quyền tự do dân chủ của nhân dân, như tự do cá nhân, tự
do ngôn luận, tự do lập hội, tự do hoạt động chính trị
[lập đảng], tự do tín ngưỡng, tự do di chuyển, tự do cư
ngụ, tôn trọng quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh".
Và
như vậy Đảng Cộng Sản sẽ được công khai hoạt động trái với
Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa 1967 đặt cộng sản ra ngoài ṿng
pháp luật.
Với
sự xóa bỏ Hiệp Định Geneva 1954, sự thừa nhận nhà nước và
chính phủ Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam, với điều khoản mặc
nhiên cho phép quân Bắc Việt đồn trú tại Miền Nam, với sự
rút quân đơn phương của Hoa Kỳ và đồng minh, với sự cắt viện
trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Ḥa sau Hiệp Định Paris, đặc
biệt là với việc Hoa Kỳ bội ước không tôn trọng lời cam kết
của Tổng Thống Nixon trong 30 văn thư gửi Tổng Thống Thiệu
hứa sẽ trả đũa quyết liệt bằng những vơ khí mạnh nhất (như
không đoàn B52) trong trường hợp Bắc Việt tấn công vơ trang
quy mô vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định, Nixon thú nhận rằng:
"Hoa Kỳ đă phản bội Đồng Minh và đă thất bại trong việc thực
thi những điều cam kết bảo vệ Độc Lập và Tự Do của Việt Nam
Cộng Ḥa.
Đây
là sự phản bội và thất bại không tiền khoáng hậu trong lịch
sử Hoa Kỳ". (An unprecedented example of American betrayal
and failure: Nixon, No More Vietnams).
Trong cuốn sách này, Nixon viết: "Mặc dầu chúng tôi không
chấp nhận tính chính thống của quân đội Bắc Việt đồn trú tại
Miền Nam, nhưng cho đến tháng 10-1972, chúng tôi vẫn không
thể làm lay chuyển lập trường bất di bất dịch của Bắc Việt.
Họ nhất quyết không chịu rút quân khỏi Miền Nam và chủ
trương rằng Chiến Tranh Việt Nam chỉ là một cuộc nội chiến
của hai phe Miền Nam. Họ khẳng định không có cán binh Bắc
Việt nào xâm nhập Miền Nam. Và nhất quyết bác bỏ yêu cầu của
chúng tôi đ̣i Bắc Việt phải rút quân, lư sự rằng họ không
tham gia vào cuộc nội chiến tại Miền Nam".
Chúng ta chỉ hỏi ông Nixon: Nếu không tham chiến, sao phải
nghị ḥa?
Với
sự du mỵ bằng những "cam kết ngầm" của Bắc Việt, Kissinger
đă thúc đẩy Hoa Kỳ nhắm mắt chấp nhận các điều kiện của Bắc
Việt. Và cả Chương II Hiệp Định Paris đă không viết một câu
nào về việc quân đội Bắc Việt phải triệt thoái khỏi Miền
Nam như trong Hiệp Định Đ́nh Chiến Geneva 1954. Sau khi Hiệp
Định Ḥa B́nh Paris 1973 được công bố, một nhân viên phái
đoàn Bắc Việt trắng trợn tuyên bố với báo chí: "Khác với
thời Hiệp Định Đ́nh Chiến Geneva 1954, lần này, theo Hiệp
Định Ḥa B́nh Paris 1973, chúng tôi không phải rút quân khỏi
Miền Nam".
Mặt
khác, trong Đề Nghị 8 Điểm của Nixon ngày 8-5-1969 (một ngày
trước Kế Hoạch 10 Điểm của Bắc Việt), như đă được công bố
trên các đài truyền h́nh quốc gia, lập trường không thay đổi
của Hoa Kỳ là đ̣i có sự triệt thoái song phương của cả
quân lực Hoa Kỳ và quân lực Bắc Việt (a mutual withdrawal of
American and North Vietnamese forces).
Sau
đó, ngày 16-7-1969, Nixon c̣n nhờ Sainteny chuyển văn thư
cho Hồ Chí Minh yêu cầu Bắc Việt chấp nhận giải pháp triệt
thoái song phương để cuộc ḥa đàm được tiếp diễn trở lại.
Trong văn thư phúc đáp nhận được ngày 25-8-1969 (8 ngày
trước khi từ giă cơi trần), họ Hồ lạnh lùng bác bỏ đề nghị
của Nixon và nhắc lại điều kiện buộc Hoa Kỳ phải đơn phương
rút quân khỏi Miền Nam và lật đổ Chính Phủ Nguyễn Văn
Thiệu.
Từ
đó Bắc Việt không c̣n đếm xỉa đến Hiệp Định Geneva 1954, chủ
trương rằng hai miền Nam, Bắc vẫn thuộc về một nước Việt Nam
thống nhất. Và nghĩa vụ thiêng liêng của bất cứ con dân nào
trên đất Việt là phải đấu tranh để đánh đuổi kẻ ngoại xâm
ra khỏi lănh thổ Việt Nam. (Chúng ta cần nhắc lại rằng: Tại
Miền Nam, không phải Hoa Kỳ, Bắc Việt mới chính là kẻ xâm
lăng).
Như đă tŕnh bày, sau vụ Mậu Thân, từ tháng 5-1968, trong
cuộc ḥa đàm tay đôi tại Paris chỉ có hai đại diện Hoa Kỳ
và Bắc Việt tham dự là Harriman và Xuân Thủy. Sự việc này
cho phép Bắc Việt tuyên truyền rằng Việt Nam Cộng Ḥa chỉ là
chư hầu của Đế Quốc Mỹ.
Sự
thật chiến trường đă chứng minh ngược lại. Kể từ tháng
4-1972, khi Bắc Việt huy động hơn 200 ngàn quân trong Chiến
Dịch Tổng Tấn Công Xuân Hè hay Mùa Hè Đỏ Lửa (Easter
Offensive), tới tháng 10-1972 khi Chiến Dịch tàn lụi, quân
lực Việt Nam Cộng Ḥa đă đẩy lui 14 sư đoàn chính quy Bắc
Việt, dầu rằng lúc này quân lực Hoa Kỳ không c̣n tham chiến
trên bộ nữa. Và số thương vong của Bắc Việt đă vượt quá 100
ngàn.
(In
the Spring Offensive of 1972 South Vietnam's army had held
off the North Vietnamese onslaught without the assistance of
any American ground combat troops: Nixon, sách đă dẫn). Từ
tháng 2-1968 (Tết Mậu Thân) đến tháng 10-1972 (sau Mùa Hè Đỏ
Lửa), "Bắc Việt đă thực sự thua trận, nhưng họ làm ra vẻ như
thắng trận, trong khi Việt Nam Cộng Ḥa đă thực sự thắng
trận". (North Vietnam, which had in effect lost the war, was
acting as if had won, while South Vietnam had effectively
won the war: Nixon, sách đă dẫn).
Đến
Mùa Giáng Sinh 1972, sau cuộc Tập Kích Chiến Lược 12 ngày
đêm của Không Lực Hoa Kỳ tại Hà Nội, Hải Pḥng và vùng phụ
cận (từ 18-12 đến 30-12, trừ Ngày Giáng Sinh), Bắc Việt đă
hoàn toàn kiệt quệ. Tại Hà Nội và các thị trấn phụ cận như
Hải Pḥng, tin trong nước cho biết, nhà nào cũng may cờ
trắng đầu hàng để sẵn sàng nghênh đón các chiến sĩ Miền Nam
ra giải phóng Miền Bắc. Lúc này Lê Duẩn và Bộ Chính Trị Cộng
Sản đă có kế hoạch rút ra khu. Theo các giới am hiểu, nếu
Hoa Kỳ tiếp tục dội bom thêm một vài tuần nữa, th́ Bắc Việt
sẽ phải nhượng bộ.
Trong điều kiện đó, Hiệp Định Ḥa B́nh chắc chắn sẽ ghi
khoản quân đội Bắc Việt phải triệt thoái khỏi Miền Nam.
(Cũng như quân Bắc Hàn phải rút về Miền Bắc sau Hiệp Định
Bàn Môn Điếm tháng 7-1953). Thế nhưng trong cuộc tiếp kiến
Chu Ân Lai hồi tháng 2-1972, Kissinger bộc lộ rằng Hoa Kỳ
không chủ trương đánh bại Bắc Việt. Chỉ muốn 3 điều là
ngưng chiến, rút quân và trao đổi tù binh.
V́
vậy, mặc dầu Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa đă đánh bại Bắc
Việt từ tháng 4-1972 (Mùa Hè Đỏ Lửa) đến mùa Giáng Sinh
tháng 12-1972 (Tập Kích Chiến Lược), chỉ 4 tuần sau, đang
trên đà chiến thắng, không hiểu tại sao Kissinger lại lật
ngược thế cờ để cúi đầu bối thự (kư tắt) Hiệp Định Paris
ngày 27-1-1973 và chấp nhận toàn bộ Kế Hoạch 10 Điểm của
Bắc Việt. Đây đúng là một sự đầu hàng ô nhục về chính trị
và ngoại giao, nhất là khi Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa đang
nắm thế thượng phong.
Chuyển thắng thành bại là biệt tài của Kissinger. Chính
Nixon cũng phải ngậm ngùi than: "Chúng ta đă thắng trong
chiến tranh nhưng lại thua trong ḥa b́nh" (Nixon, sách đă
dẫn).
Thật ra, trước khi thua trong ḥa b́nh, Mỹ đă thua trong
ḥa đàm.
Ngày nay mọi người ư thức rằng, trong cuộc tiếp kiến Chu Ân
Lai tại Bắc Kinh tháng 2-1972, Kissinger thổ lộ rằng Hoa Kỳ
không quan tâm đến việc đánh Bắc Việt. Ông c̣n dă tâm chấp
nhận cho Cộng Sản thôn tính Miền Nam Việt Nam và Miên Lào
bằng vơ lực sau một thời gian "hợp lư" kể từ khi quân đội
Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam.
Ông
chỉ muốn kư một Hiệp Ước Ḥa B́nh tại Việt Nam để rút quân
và xin lại tù binh. C̣n số phận của hàng chục triệu người
Đông Dương đồng minh của Hoa Kỳ, ông không lư vấn đến! Sau
khi kư tắt Hiệp Định Paris tháng 1-1973, trả lời câu hỏi của
Ehrlichman,Phụ Tá Nội Vụ của Nixon, Kissinger ước tính chỉ
trong ṿng 18 tháng Miền Nam Việt Nam sẽ bị Miền Bắc thôn
tính. (John Ehrlichman: Witness to Power, the Nixon years).
Chắc ông chưa măn nguyện v́ măi 27 tháng sau Saigon mới thất
thủ.
Tháng 4-1975 sau khi mất Đà Nẵng, Tướng Weyand Tham Mưu
Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ lập phúc tŕnh đề nghị Tổng Thống
Ford yêu cầu Quốc Hội viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam Cộng
Ḥa 700 triệu Mỹ kim để kịp thời trả đũa quân Bắc Việt xâm
lăng vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định Paris. Với số ngân
khoản này Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa có thể phản công và
oanh tạc từng sư đoàn chính quy Bắc Việt xâm nhập Miền Nam
bất hợp pháp từ các trận chiến Phước Long tháng 1, Ban Mê
Thuột tháng 3, và Đà Nẵng tháng 4-1975.
Trước kia, cho đến Chiến Dịch Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 4-1972,
quân đội Bắc Việt không dám tập trung đến cấp trung đoàn v́
sợ làm mồi cho các phi đội B52. Ngay cả sau khi chiếm quận
Kiến Đức tháng 11-1973, 3 sư đoàn Bắc Việt tại miền 3 Biên
Giới là các Công Trường 5-7-9 đă được lệnh rút về Miên Lào
không được tiến chiếm tỉnh Quảng Đức. Lúc này Hoa Kỳ muốn
nhường Quảng Đức cho Giải Phóng Miền Nam lập thủ đô trong
:Kế Hoạch 3 Nước Việt", dùng Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam làm
quốc gia trái độn trung lập giữa Bắc Việt và Nam Việt.
Tuy
nhiên Cộng Sản đă không tiến chiếm Quảng Đức. V́ hai lư do:
1.Hà Nội không cho phép Mặt Trận Giải Phóng lập thủ đô
"quá sâu trong ḷng địch", "thủ đô" Đông Hà tại Vĩ Tuyến 17
dễ kiểm soát hơn.
2.Rút kinh nghiệm Triều Tiên, Hà Nội sợ mắc mưu Hoa Kỳ như
trong những phi vụ phản kích các sư đoàn Bắc Hàn và Trung
Quốc xâm nhập Nam Hàn.
Với
sự ban hành Luật về Quyền Lực Chiến Tranh của Quốc Hội Hoa
Kỳ tháng 10-1973, Bắc Việt yên trí rằng từ đó Hoa Kỳ sẽ
không trả đũa như trong Chiến Dịch Mùa Hè Đỏ Lửa từ tháng
4-1972 tại Miền Nam, hay trong cuộc Tập Kích Chiến Lược
tháng 12-1972 tại Miền Bắc.
Đặc biệt sau khi Nixon từ chức vào tháng 8-1974, từ cuối năm
1974 quân đội Bắc Việt đă ngang nhiên tập trung đến cấp sư
đoàn. Do sự khinh thị này, Việt Nam Cộng Ḥa và Hoa Kỳ rất
có thể lấy lại thế quân b́nh sau những trận oanh tạc quy mô
tại Quân Khu I và Tây Nguyên.
Tuy
nhiên Kissinger đă can gián Tổng Thống Ford rằng chiến dịch
tập kích sẽ gặp phản kháng của quần chúng xuống đường, và sẽ
gây hậu quả bất lợi cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1976. Rút
cuộc đơn xin viện trợ khẩn cấp 700 triệu của Tướng Weyand đă
bị xếp bỏ. Lúc này Kissinger c̣n trắng trợn nguyền rủa đồng
minh: "Sao bọn họ không chết sớm đi cho rồi!. Tệ hại nhất là
bọn họ cứ sống dai dẳng măi!". (The Palace File: Nguyen Tien
Hung and Jerrold Schecter trích dẫn Ron Nessen: It Sure
Looks Different from the Inside).
Đây
rơ rệt là sự vụng tính và bất công của Hoa Kỳ. Trước đó,
ngày 6-10-1973, Hoa Kỳ đă tích cực yểm trợ Do Thái trong
Trận Chiến Yom Kipur. Theo Nixon, Do Thái có liên hệ mật
thiết với Hoa Kỳ dầu chỉ có 4 triệu dân Do Thái trong số 100
triệu dân tại Trung Đông. Do Thái cũng không có dầu khí mà
cũng không có liên hệ đồng minh với Hoa Kỳ.
Tuy nhiên về mặt tinh thần, và để bảo vệ chế độ dân chủ tại
quốc gia này, Hoa Kỳ vẫn coi hành động yểm trợ Do Thái có
quan hệ "sống c̣n tới quyền lợi quốc gia". (vital to our
national interests). Do đó bất cứ vị Tổng Thống Hoa Kỳ nào
cũng sẵn sàng yểm trợ Do Thái khi nước này bị tấn công.
Trong Trận Chiến 3 tuần Yom Kipur giữa Do Thái và Ai Cập
tháng 10-1973, Hoa Kỳ đă viện trợ quân sự cho Do Thái 2,2
tỷ Mỹ kim.
Lúc
này, Liên Xô đề nghị Hoa Kỳ ngừng bắn dưới sự giám sát của
Liên Hiệp Quốc và đe dọa sẽ can thiệp nếu Do Thái tấn công
Syria. Kissinger lập tức phản bác và cảnh cáo rằng Hoa Kỳ sẽ
nhập cuộc nếu Liên Xô can thiệp.
Sau khi thất trận Tổng Thống Ai Cập than phiền rằng: "Chúng
tôi không thể cùng một lúc chống lại cả Do Thái lẫn Hoa Kỳ".
Sau Chiến Dịch Yom Kipur, báo chí Hoa Kỳ tuyên dương
Kissinger là "người hùng có phép lạ" (superman/
miracleman).
Về
mặt chiến lược, chính nghĩa, đạo lư và liên minh, Việt Nam
Cộng Ḥa có quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ tại Đông Nam Á hơn
là giữa Do Thái với Hoa Kỳ tại Trung Đông.
Vậy mà Chính Phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ đă nhẫn tâm bỏ rơi Việt
Nam Cộng Ḥa sau 10 năm liên minh kết nghĩa, với trên 20
triệu con người đă đứng ra bảo vệ Tự Do cho miền thế giới
này.
Từ 1965, Hoa Kỳ đổ xô nhân lực, vật lực vào chiến trường
Miền Nam, và gia tăng cường độ chiến tranh với trên nửa
triệu binh sĩ chiến đấu bên cạnh quân lực Việt Nam Cộng Ḥa
và đồng minh.
Bất
cứ nhà quan sát vô tư nào cũng ngạc nhiên khi thấy chỉ v́
700 triệu mà Hoa Kỳ tiếc rẻ khiến cho Việt Nam, Cao Miên, Ai
Lao cũng như bao nhiêu nước Á Phi và Nam Mỹ đă rơi vào ṿng
lệ thuộc của Quốc Tế Cộng Sản.
Trong khi đó, về niên khóa 1974, Liên Xô đă tăng gấp đôi số
viện trợ quân sự cho Bắc Việt, với 1 tỉ 700 triệu Mỹ kim để
phát động Chiến Dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong khi từ sau
Hiệp Định Paris, số quân viện cho Việt Nam Cộng Ḥa bị Hoa
Kỳ cắt giảm c̣n 1/4.
Thời Hiệp Định Paris 1973 số quân viện cho Miền Nam là 2,2
tỷ Mỹ kim. Qua năm 1974 bị cắt hơn nửa (54%), c̣n 1.01 tỷ.
Tới năm 1975 lại bị cắt phân nửa, chỉ c̣n 500 triệu (cộng
với 200 triệu tính vào các sở phí chuyên chở và các khoản
linh tinh khác).
Trong bản điều trần tháng 9-1974 trước Quốc Hội về dự án
ngân sách 1975, cũng như trong bản tường tŕnh gởi Bộ Tổng
Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa,
Tướng John Murray, Tùy Viên Quốc Pḥng Hoa Kỳ tại Saigon
(DAO), đă đưa ra một công thức hay phương tŕnh về sự liên
hệ giữa số quân viện và chủ quyền lănh thổ. Theo công thức
này "nếu Hoa Kỳ cắt quân viện chừng nào th́ Việt Nam Cộng
Ḥa mất lănh thổ chừng ấy". (You can roughly equate cuts in
support to loss of real estate: Nixon, sách đă dẫn).
Theo công thức và phương tŕnh này có 5 mức quân viện liên
hệ đến 5 tuyến pḥng thủ lănh thổ:
1)Nếu quân viện c̣n ở mức 1.4 tỷ Mỹ kim th́ Việt Nam Cộng
Ḥa (VNCH) c̣n giữ được những vùng đông dân cư trên toàn
lănh thổ.
2)Nếu quân viện chỉ c̣n 1.1 tỷ Mỹ kim th́ VNCH không thể
giữ được Vùng I Chiến Thuật.
3)Nếu quân viện giảm xuống c̣n 900 triệu th́ không thể giữ
được Vùng I và Vùng II.
4)Nếu quân viện chỉ c̣n 750 triệu th́ chỉ có thể giữ được
một số ít vùng, và Bắc Việt sẽ không chịu thương thuyết
nghiêm chỉnh.
5)Mà nếu quân viện chỉ c̣n 600 triệu th́ VNCH chỉ có thể
giữ được Saigon, phụ cận và vùng châu thổ sông Cửu Long.
Như đă tŕnh bày, Quốc Hội đă cắt viện trợ cho Việt Nam
từ trên 2 tỷ năm 1973 xuống c̣n 500 triệu năm 1975.
"Các dân biểu và nghị sĩ phản chiến đă xóa tên Việt Nam
Cộng Ḥa trong danh sách các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ.
Kể từ sau Hiệp Định Ḥa B́nh Paris 1973, chúng ta đă thắng
trong chiến tranh. Quân lực VNCH đă thành công trong việc
chặn đứng những vụ vi phạm ngừng bắn của Bắc Việt trong
suốt 2 năm.
Lư
do thất bại là v́ Quốc Hội Hoa Kỳ đă khước từ không chịu
cấp quân viện cho Saigon ngang với số quân viện Liên Xô cấp
cho Hà Nội. Tất cả các vị tướng lănh chỉ huy cao cấp Hoa
Ky tại Việt Nam và Hoa Thịnh Đốn đều xác nhận việc quân lực
VNCH đă chứng tỏ rằng, nếu được trang bị đầy đủ, họ có thể
đẩy lui những sư đoàn thiện chiến nhất từ Bắc Việt xâm nhập
vào Miền Nam..." (Nixon, sách đă dẫn)
Về
mặt ngoại giao, sau cuộc Tâp Kích Chiến Lược Mùa Giáng Sinh
1972, Kissinger lạc quan báo cáo rằng, sau những cuộc mật
đàm với Lê Đức Thọ ngày 8-1-1973, Bắc Việt sẽ chấp nhận nội
trong 48 giờ tất cả các điểm cơ sở trong Đề Nghị 8 Điểm của
Nixon (trong đó có khoản rút quân song phương).
Đây
chỉ là báo cáo xuyên tạc. V́ trong Hiệp Định Paris kư 19
ngày sau (27-1-1973), không có điều khoản nào nói về việc
Bắc Việt phải triệt thoái quân đội ra khỏi Miền Nam.
Sau
này Kissinger thú thật rằng chỉ có những "cam kết ngầm".
Trong những cuộc mật đàm, Bắc Việt hứa hẹn sẽ không mang
quân vào Miền Nam và chấp thuận ghi khoản này nơi Điều 7
Hiệp Định Paris: "Từ ngày ngừng bắn cho đến khi thành lập
chính phủ sau tổng tuyển cử, hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ
không được nhận đưa vào Miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn
quân sự và nhân viên quân sự, cũng như các vơ khí đạn dược
và dụng cụ chiến tranh..."
Đây
là liều thuốc an thần cho lương tâm thanh thản để Hoa Kỳ rút
khỏi vũng lầy mà họ đă lao vào từ 10 năm trước, nói là để
ngăn chặn Thuyết Domino và xây dựng Việt Nam Cộng Ḥa thành
một tiền đồn chống cộng tại Đông Nam Á.
Như
Nixon đă nói, Bắc Việt không bao giờ giữ lời cam kết. (Hanoi
broke agreements as soon as it signed them: Nixon, sách đă
dẫn). Ngay cả trong Tuyên Cáo về nền Trung Lập của Ai Lao
tháng 7-1962, 14 quốc gia cam kết tôn trọng chủ quyền và
nền trung lập của Ai Lao và hứa sẽ rút hết các lực lượng vơ
trang ra khỏi Vương Quốc Lào để đem lại ḥa b́nh cho Đông
Dương. Tất cả các quốc gia kết ước đều giữ lời, ngoại trừ
Bắc Việt. (All countries complied, except North Vietnam:
Nixon, sách đă dẫn).
Tại
Việt Nam, ngay cả Tổng Thống Nixon và người kế quyền của
ông là Tổng Thống Ford cũng không giữ lời cam kết.
Ngày 14-11-1972 Tổng Thống Nixon viết cho Tổng Thống Thiệu:
"Điều quan trọng hơn cả bản văn Hiệp Định là vấn đề chúng
ta sẽ phản ứng thế nào trong trường hợp kẻ thù tái xâm lược.
Tôi xin cam kết rằng, nếu Bắc Việt không tuân theo những
điều khoản của Hiệp Định, tôi cương quyết sẽ trả đũa tức
th́ và mănh liệt".
Mười ngày trước khi kư Hiệp Định, ngày 17-1-1973, Nixon c̣n
khẳng định: "Tự Do và Độc Lập của Việt Nam Cộng Ḥa là một
mục tiêu tối hậu của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ...
Tôi
xin nhấn mạnh 3 điều cam kết sau đây:
1.
Hoa Kỳ chỉ thừa nhận Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa là chính
phủ hợp pháp duy nhất tại Việt Nam;
2.
Hoa Kỳ không chấp nhận cho Bắc Việt được đồn trú quân trên
lănh thổ Miền Nam Việt Nam;
3.
Hoa Kỳ sẽ trả đũa mănh liệt khi Bắc Việt vi phạm Hiệp
Định".
Đó
cũng là điều cam kết của Tổng Thống Ford. Sau khi Nixon từ
chức, ngày 10-8-1974, với tư cách là người kế quyền, Tổng
Thống Ford đă gởi văn thư cho Tổng Thống Thiệu xác định
rằng: "Những cam kết mà dân tộc Hoa Kỳ đă hứa hẹn với VNCH
trong thời gian vừa qua vẫn giữ nguyên giá trị. Và tôi sẽ
triệt để tôn trọng những cam kết này trong suốt thời gian
nhiệm chức của tôi."(Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L.
Schecter sđd)
Về
vấn đề rút quân của Bắc Việt, Kissinger c̣n dối gạt Nixon
rằng không cần có những điều khoản minh thị quy định trong
Hiệp Định. V́ trong những cuộc mật đàm Bắc Việt đă mặc
nhiên chấp thuận đề nghị này của Nixon hồi tháng 5-1969. Họ
hứa sẽ lặng lẽ rút quân khỏi Miền Nam. (Our tactic was to
write a formulation that tacitly required the enemy to
withdraw. We will press for the de facto unilateral
withdrawal of some North Vietnamese divisions in the
northern part of South Vietnam. Nixon, sách đă dẫn).
Đây
là một luận điệu ngây ngô và giảo hoạt
Là
một chiến lược gia và nhà ngoại giao sành sỏi, Kissinger
thừa biết rằng, đối với người Cộng Sản, ngay cả sự cam kết
công khai trong những hiệp ước quốc tế cũng chỉ là dối trá.
V́ kết ước không phải để giữ lời, mà chỉ nhằm thực hiện
những mục tiêu chính trị giai đoạn theo phương châm "cứu
cánh biện minh cho phương tiện", bất chấp lời hứa và bất
chấp danh dự quốc gia.
Ngoài ra Kissinger c̣n giải thích rằng, với Điều 7 Hiệp
Định Paris, quân đội Bắc Việt đồn trú tại Miền Nam rồi đây
sẽ tan ră v́ không được tăng cường. Đó là điều phi lư.
V́ sao quân đội Bắc Việt, đánh giặc theo kiểu nhà nghèo,
lại tan ră, trong khi quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, đánh giặc
theo lối Mỹ, lại không tan ră?
Cũng nên ghi nhận rằng Điều 7 chỉ cấm hai bên không được đưa
quân vào Miền Nam trong một thời gian nhất định "từ khi
thực hiện ngừng bắn cho đến khi có Chính Phủ Liên Hiệp"
thành lập sau tổng tuyển cử do Hội Đồng Ḥa Giải và Ḥa Hợp
Dân Tộc 3 Thành Phần tổ chức. Điều này phải được hiểu là
sau khi có Chính Phủ Liên Hiệp, không có điều khoản nào cấm
Bắc Việt không được đem quân vào Miền Nam. Lẽ tất nhiên Hoa
Kỳ, như chim phải tên sợ làn cây cong, sẽ chẳng bao giờ dám
nghĩ đến, hay dám mạo hiểm mang quân vào Việt Nam một lần
nữa.
Theo các nhà luật học và chính trị học, mọi sự kết ước
giữa các quốc gia, cũng như giữa các cá nhân, phải có tính
công khai và minh thị. Do đó không bao giờ có những cam kết
ngầm hay được hiểu ngầm trong các hiệp ước quốc tế. Quy luật
này chứng tỏ sự điêu trác của Kissinger. Chẳng lẽ ông lại
ngây ngô không biết điều đó? Xá chi "những mật ước ngầm"và
"những cam kết miệng" trong những cuộc mật đàm tay đôi, hay
những buổi đi đêm ám muội giữa Kissinger và Thọ!. Cặp bài
trùng này đă lừa gạt dư luận quốc tế để giành giật Giải Ḥa
B́nh Nobel 1974, một nền ḥa b́nh của những nấm mồ.
Từ
tháng 10-1974, Bắc Việt đem đại quân tấn công và đă chiếm
Phước Long tháng 1-1975 trước sự im lặng khó hiểu của Hoa
Kỳ. Tháng 3, chiếm Ban Mê Thuột, tháng 4, chiếm Đà Nẵng,
Xuân Lộc và Saigon. Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn án binh bất
động. Và đă tàn nhẫn cúp hết quân viện cho Việt Nam Cộng
Ḥa, kể cả thỉnh cầu khiêm tốn của Tướng Weyand xin viện trợ
khẩn cấp 700 triệu để phản kích Chiến Dịch Hồ Chí Minh.
V́
nếu trong dịp này Hoa Kỳ trả đũa và Việt Nam Cộng Ḥa phản
kích th́ phe đồng minh có cơ hội tiêu diệt từng sư đoàn Bắc
Việt xâm nhập Miền Nam bất hợp pháp theo ngả vùng Phi Quân
Sự phía Bắc, và từ Miên Lào phía Tây trên đường ṃn Hồ Chí
Minh. Lúc này Bắc Việt đă đem thêm 25 sư đoàn chính quy vào
chiến trường Miền Nam để tiếp sức cho hơn 100 ngàn quân có
mặt tại chỗ.
Nói
tóm lại, nếu Mùa Giáng Sinh 1972 Hoa Kỳ đă chiến thắng về
quân sự, th́ chỉ một tháng sau, tháng 1-1973, Hoa Kỳ đă
thất bại về chính trị. Chỉ v́ muốn kư Hiệp Định Paris cho
bằng được để có lư do rút lui trong danh dự và đầu hàng
lịch sự.
Hành vi này đă gieo tai họa vô lường cho các dân tộc
Việt-Miên-Lào bị du vào thế chẳng đặng đừng phải liên minh
với Hoa Kỳ, một quốc gia được tiếng là hào hiệp đă đổ bao
xương máu để giành lại Tự Do cho Âu Châu, Á Châu và Phi
Châu đầu thập niên 1940, và cho Đại Hàn đầu thập niên
1950.
Chúng ta hăy nghe tiếng kêu thống thiết của Thủ Tướng Cao
Miên Sirik Matak trong văn thư gửi Đại Sứ Hoa Kỳ John Dean
trước ngày Nam Vang thất thủ:
"Thưa ông Đại Sứ và cũng là người bạn của tôi,
Xin chân thành cảm ơn văn thư của Ông đề nghị cho tôi quy
chế tỵ nạn tại Hoa Kỳ và cho tôi phương tiện di chuyển
đến miền đất tự do. Nhưng than ôi, tôi không thể bỏ quê
hương ra đi nhục nhă như vậy!. Riêng đối với Ông và quốc
gia hùng cường của Ông, không một phút nào tôi có thể tin
rằng Hoa Kỳ lại có ư nghĩ bỏ rơi một dân tộc đă quyết
định chọn Tự Do. Các Ông đă từ chối không bảo vệ chúng tôi
nữa, chúng tôi chẳng c̣n biết nói ǵ hơn.
Nay
Ông ra đi và tôi xin chúc Ông và quê hương Ông t́m thấy
hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng xin Ông ghi nhận rằng,
nếu tôi có chết trên quê hương yêu dấu của tôi, th́ đó
cũng chỉ là một bất hạnh. Dầu sao mỗi người trong chúng ta,
ai đă sinh ra rồi cũng có ngày phải chết. Có điều là tôi
đă sai lầm khi tin tưởng nơi Ông và Quốc Gia của Ông".
Sisowath Sirik Matak (Nixon: sách đă dẫn).
Sirik Matak là một trong những người đầu
tiên bị Khmer Đỏ hành quyết.
Trong thập niên 1960, Ai Lao và Cao Miên là những quốc gia
trung lập nên không phải là đồng minh của Hoa Kỳ. Trong khi
đó, từ cuối thập niên 1940, 5 vị Tổng Thống Hoa Kỳ Truman,
Eisenhower, Kennedy, Johnson và Nixon đă long trọng cam kết
sẽ bảo vệ quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam và xây dựng
Việt Nam thành một tiền đồn của Thế Giới Tự Do để ngăn chặn
Quốc Tế Cộng Sản xâm nhập Đông Nam Á. Như vậy về các mặt
ngoại giao, chính nghĩa và tinh thần, Việt Nam có tương quan
liên kết mật thiết với Hoa Kỳ từ 3 thập niên.
Số
Phận của Ông Thiệu
Năm
1973, dưới áp lực của Kissinger và Nixon, ông Thiệu đă phải
kư Hiệp Định Paris để chấp nhận những tai ương gây ra bởi
bản văn Hiệp Định, cũng như bởi sự trí trá của phe Cộng Sản
và sự bội ước của Hoa Kỳ.
Chúng ta hăy nêu giả thuyết:
Trong trường hợp ông Thiệu sẵn sàng nhận cái chết như ông
Sirik Matak, liệu ông có thể làm được những ǵ?
Với
tư cách nguyên thủ của một Quốc Gia có Hiến Pháp và Quốc
Hội, ông Thiệu có thể ra chỉ thị cho chính phủ của ông
không kư hiệp định trong trường hợp Hoa Kỳ cho quân Bắc Việt
tiếp tục đồn trú tại Miền Nam trái với lời cam kết minh
thị của Nixon từ năm 1969. Về mặt hiến chế, hiệp ước do
Hành Pháp kư chỉ có hiệu lực nếu được Lập Pháp phê chuẩn.
Mà Quốc Hội Việt Nam Cộng Ḥa đầu thập niên 1970 vẫn tôn
trọng Hiến Pháp 1967 với chủ trương đặt Cộng Sản ra ngoài
ṿng pháp luật.
Trong trường hợp Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Ḥa công bố
lập trường không chấp nhận và không phê chuẩn bất cứ hiệp
định nào với Bắc Việt nếu có một trong ba sự việc sau đây:
1.
Có sự tham gia của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ
chức ngoại vi của Đảng Cộng Sản, đại diện bởi cái gọi là
Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Chính phủ này được Bắc Việt
khai sanh hồi tháng 6-1969 v́ nhu cầu chính trị giai đoạn.
Nó bị khai tử tháng 11-1975 cùng với "Nước" Cộng Ḥa Miền
Nam Việt Nam. Cũng trong thời gian này Mặt Trận Dân Tộc Giải
Phóng Miền Nam đă bị khai tử và sát nhập vào một tổ chức
ngoại vi khác của Đảng Cộng Sản là Mặt Trận Tổ Quốc.
2.
Trong Hiệp Định không có điều khoản ghi việc quân đội Bắc
Việt phải triệt thoái khỏi Miền Nam Việt Nam đồng thời với
quân lực Hoa Kỳ và đồng minh.
3.
Hoa Kỳ sẽ vĩnh viễn giải kết tại Việt Nam và không c̣n
chịu trách nhiệm thi hành Hiệp Định.
Nếu
có một trong ba trường hợp này Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa
sẽ khước từ không kư Hiệp Định. Lư do là v́ không có sự
chấp nhận và phê chuẩn của Quốc Hội, đặc biệt là Thượng
Nghị Viện.
Phản Ứng của Hoa Kỳ
Trong trường hợp này phản ứng của Hoa Kỳ sẽ ra sao?
Theo giới am hiểu, nhiều phần người Mỹ sẽ không hạ sát ông
Thiệu năm 1973 như họ đă hạ sát ông Diệm năm 1963. Trong
một thập niên, Hoa Kỳ không dám sát hại hai vị nguyên thủ
của một quốc gia đồng minh đă đồng tâm hiệp lực với Hoa Kỳ
đứng ra làm tiền đồn chống Cộng để bảo vệ Tự Do cho các
quốc gia Đông Nam Á dưới sự lănh đạo của Hoa Kỳ qua Khối
Liên Minh Pḥng Thủ Đông Nam Á.
Về
mặt kỹ thuật pháp lư, nếu không có sự tham dự của Việt Nam
Cộng Ḥa th́ Hội Nghị Paris sẽ không có đối tượng. V́ Việt
Nam Cộng Ḥa là quốc gia chủ thể, lănh thổ Miền Nam Việt
Nam là băi chiến trường, và có 8 quốc gia đă tham gia Chiến
Tranh Việt Nam trong 8 năm, thời gian dài nhất trong lịch
sử chiến tranh Hoa Kỳ.
Trong trường hợp Hoa Kỳ và Bắc Việt vẫn nhất định kư Hiệp
Định Chấm Dứt Chiến Tranh tại Việt Nam, th́ trong 8 Chương
của Hiệp Định, chỉ có 3 Chương có thể được giữ lại là Chương
II (về Ngừng Bắn và Rút Quân), Chương III (về Phóng Thích
Tù Binh), và Chương VIII (về Trao Trả Tù Binh dưới danh
nghĩa bồi thường chiến tranh và tái thiết hậu chiến).
5
Chương khác sẽ không có đối tượng. Như Chương I (về tương
quan giữa hai miền Nam Bắc), Chương IV (về giải pháp chính
trị cho Miền Nam Việt Nam), Chương V (về vấn đề thống nhất
hai miền Nam Bắc), Chương VI (về các cơ quan kiểm soát và
giám sát quốc tế), và Chương VII (về chính sách đối ngoại
của Miền Nam Việt Nam với Miên Lào).
Chỉ
với 3 Chương nói trên, một hiệp định chấm dứt chiến tranh
giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt sẽ không thể đề cập đến những vấn
đề quân sự và chính trị tại Miền Nam Việt Nam. Như vậy Hội
Nghị Paris sẽ tan vỡ. Và sẽ không có một Hiệp Định Chấm Dứt
Chiến Tranh và Tái Lập Ḥa B́nh tại Việt Nam được kư tại
Paris năm 1973.
Tổng kết lại, trong trường hợp Việt Nam Cộng Ḥa không kư
Hiệp Định Paris 1973 th́ việc ǵ sẽ xẩy ra, và Hoa Kỳ sẽ
phản ứng ra sao?
1.
Rất có thể, do áp lực quốc nội, cũng như v́ quyền lợi riêng
tư, Hoa Kỳ sẽ kư hiệp ước tay đôi về ngừng bắn, rút quân và
trao đổi tù binh với Bắc Việt. Và để trả đũa Hoa Kỳ sẽ cắt
hết viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Ḥa, để tạo cơ hội
cho Cộng Sản thôn tính Miền Nam bằng vơ lực. Trước dư luận
quốc tế và quốc nội, cũng như về mặt ngoại giao, chính nghĩa
và lương tâm, liệu Hoa Kỳ có dám nhẫn tâm làm điều đó
không?
Câu trả lời hợp lư là "không".
V́
hành động như vậy là phản bội đồng minh và đầu hàng nhục
nhă. Chẳng khác nào nếu đầu thập niên 1940, Roosevelt kư với
Đức Quốc Xă hiệp ước bất tương xâm để trao Tây Âu cho
Hitler; hay cuối thập niên 1940, Truman ngưng chiến dịch
tiếp vận hàng không cho Tây Bá Linh để trao thị trấn này cho
Honecker; hay đầu thập niên 1950, Eisenhower kư hiệp ước với
Bắc Hàn để rút quân và trao Nam Hàn cho Kim Nhật Thành.
Những vụ phản bội và đầu hàng nhục nhă này nếu có, chẳng
những tác hại đến Anh Quốc, Tây Đức và Đại Hàn, mà c̣n gây
thảm họa cho toàn cơi Âu Châu, từ Tây Âu sang Đông Âu, cũng
như cho toàn cơi Á Châu, từ Đông Bắc Á qua Đông Nam Á. Do
hậu quả dây chuyền của Thuyết Domino.
2.
Dầu sao, nhiều phần là, muốn rút quân và giữ thể diện, Hoa
Kỳ vẫn cần phải có sự tham dự của Việt Nam Cộng Ḥa trong
Hội Nghị. Muốn thế Hoa Kỳ sẽ t́m cách lật đổ ông Thiệu theo
kế hoạch "thay đổi nhân sự" từng được áp dụng tại Việt Nam
năm 1963.
Trong trường hợp này, cũng như 10 năm trước, rất có thể ông
Dương Văn Minh sẽ lại được chiếu cố. Và ông này sẽ tuân lệnh
Hoa Kỳ (và Bắc Việt) để thành lập một Chính Phủ Liên Hiệp 3
Thành Phần do Cộng Sản khống chế.
Kết quả là phe Cộng Ḥa chỉ c̣n 1/3 chủ quyền, 1/3 chính
quyền, 1/3 lănh thổ và 1/3 lực lượng tại Miền Nam. Nghĩa là
trong toàn cơi Việt Nam, phe Cộng Sản chiếm tuyệt đại đa số
5/6. Trong điều kiện đó Bắc Việt sẽ dễ dàng thôn tính Miền
Nam bằng phương pháp ḥa b́nh, không phải dùng đến bạo động
vơ trang.
Trong trường hợp này, đối với Hoa Kỳ, hành động bán trắng
Miền Nam cũng là phản bội đồng minh và đầu hàng nhục nhă.
Việc này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Hoa Kỳ và
tương lai của đảng cầm quyền, đặc biệt trong cuộc tuyển cử
từng phần năm 1974 và cuộc tổng tuyển cử bầu tổng thống năm
1976.
Và,
một lần nữa, vấn đề đặt ra là, về mặt ngoại giao, liên minh,
chính nghĩa và đạo lư, liệu Hoa Kỳ có dám nhẫn tâm làm điều
đó không?
Câu trả lời hợp lư cũng vẫn là "không".
Rút
kinh nghiệm vụ "thay đổi nhân sự" năm 1963 tại Việt Nam, Hoa
Kỳ sẽ rất ngần ngại khi phải can thiệp lộ liễu vào nội bộ
của một quốc gia đồng minh trong Thế Giới Dân Chủ.
Trước kia, trong cuộc tiếp kiến Chu Ân Lai tại Bắc Kinh ngày
9-7-1971, chính Kissinger cũng phải minh định: "Lập trường
của Hoa Kỳ là không nhất thiết duy tŕ một chính phủ đặc
biệt nào tại Miền Nam Việt Nam (như Chính Phủ Việt Nam Công
Ḥa). Tuy nhiên, Hoa Kỳ không thể tham dự vào việc lật đổ
những người trước đây đă là đồng minh của Hoa Kỳ, bất kể
nguồn gốc đồng minh đó là ǵ" : (Jeffrey Kimball, sách đă
dẫn).
Trong thư ngày 31-8-1972 chính Nixon cũng xác nhận điều này
với ông Thiệu : "Tôi xin một lần nữa đoan chắc với Ngài về
lập trường căn bản của Hoa Kỳ: Nhân dân Hoa Kỳ ư thức rằng
chúng tôi không thể mang lại ḥa b́nh và danh dự cho quốc
gia, nếu phải bỏ rơi một đồng minh dũng cảm (như VNCH). Điều
này tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm."
Tuy
nhiên 5 tuần sau, ngày 6-10-1972, Nixon lại nhắc khéo về vụ
"thay đổi nhân sự năm 1963" khi đề cập đến vụ Tổng Thống
Johnson muốn lật đổ ông Thiệu năm 1968 (hồi đó Chính Phủ
Saigon không chịu tham dự Hội Nghị Paris). Nixon viết: "Xin
Ngài hăy dùng mọi phương cách để tránh tái diễn biến cố 1963
mà chính tôi đă ghê tởm và đă lên án từ năm 1968".
Dầu
sao chính Kissinger cũng không dám chủ trương sát hại ông
Thiệu. Ngay từ 1968 ông ta đă cảnh giác: "Nếu ông Thiệu chịu
số phận của ông Diệm, th́ tất cả các dân tộc trên thế giới
sẽ ư thức rằng: Làm kẻ thù của Mỹ có thể gặp nguy hiểm,
nhưng làm bạn với Hoa Kỳ nhiều phần sẽ mất mạng." (Nguyễn
Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, sách đă dẫn)
Kinh nghiệm Sirik Matack đă chứng minh điều đó.
Và
việc này đi trái Chính Nghĩa, Đạo Lư, Lương Tâm, Quyền Lợi
Quốc Gia và Truyền Thống Dân Chủ của Hoa Kỳ từ khi lập
quốc năm 1776.
Có
điều là, trong lịch sử nhân loại cổ kim, chưa từng thấy một
đế quốc nào dám ra tay hạ sát hai vị nguyên thủ của một
quốc gia đồng minh trong ṿng một thập kỷ.
Và
cũng chưa từng thấy một viên tướng lănh nào, trong ṿng 10
năm, lại có cơ hội và ác tâm sát hại hai vị tổng thống kiêm
tổng tư lệnh quân đội mà ông ta có nghĩa vụ phải phục vụ
và bảo vệ.
Dầu
sao sự nhẫn tâm và phản trắc của ông tướng này, nếu có,
cũng chỉ là hậu quả của sự nhẫn tâm và phản trắc của ông
Cố Vấn Kissinger. Ngay từ tháng 7-1971, 18 tháng trước khi
kư Hiệp Định Paris, ông Cố Vấn đă tiết lộ cho phe Cộng Sản
biết chủ trương của Hoa Kỳ là sẽ rút quân toàn diện và vĩnh
viễn ra khỏi Việt Nam mà không đặt điều kiện nào nếu được
trao trả tù binh. Đó là hành vi nối giáo cho giặc, bật đèn
xanh cho Cộng Sản xâm chiếm Miền Nam bằng bạo lực. Và, sau
khi kư tắt Hiệp Định Paris tháng 1-1973, Kissinger cũng ước
tính (và mong mỏi) rằng Việt Nam Cộng Ḥa sẽ cáo chung sau
18 tháng.
10
năm sau khi Saigon thất thủ, bằng phản tỉnh và tự phán, năm
1985, Nixon đă lên án việc Hoa Kỳ bội ước Việt Nam Cộng
Ḥa năm 1975 là một "sự phản bội và thất bại không tiền
khoáng hậu trong Lịch Sử Hoa Kỳ !".
Thật vậy, khi Hoa Kỳ nhẫn tâm rũ áo ra đi để mặc cho phe
Quốc Tế Cộng Sản thôn tính Miền Nam bằng vơ lực, th́ bao
nhiêu công lao, danh dự và uy tín quốc gia, xây dựng từ
Thế Chiến I đến Thế Chiến II và Chiến Tranh Triều Tiên, sẽ
phút chốc tiêu tan, đem lại sự bất b́nh và chê bai của nhân
loại văn minh. Hậu quả dễ thấy nhất là sự bành trướng thế
lực vượt bực của phe Quốc Tế Cộng Sản tại Á Châu, Phi Châu
và Châu Mỹ La Tinh.
Thêm vào đó các đồng minh cũ của Hoa Kỳ cũng sẽ rất ngần
ngại khi phải liên minh với Hoa Thịnh Đốn. Và Khối các Quốc
Gia Phi Liên Kết sẽ phát triển mạnh mẽ khắp nơi trên thế
giới.
Ngoài ra, sự hoài nghi của các dân tộc trên thế giới về
Quyết Tâm và Lư Tưởng Tự Do của Hoa Kỳ sẽ có tác dụng xấu
trong cuộc đấu tranh giải thể Cộng Sản tại Đông Âu và Liên
Xô.
Do
đó, cho đến nay không ai dám quyết đoán về việc Hoa Kỳ có
theo chủ nghĩa thực dụng để nhẫn tâm làm việc đó không?.
Có điều là, nếu
quân dân một ḷng, và nếu vị nguyên thủ quốc gia có tinh
thần vô úy, "coi tấm thân nhẹ tựa hồng mao", không chịu lùi
bước trước cái chết, th́ uy tín của Việt Nam Cộng Ḥa sẽ
được bảo toàn, danh dự của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa sẽ
được ǵn giữ. Và vị nguyên thủ quốc gia sẽ có cơ hội đi vào
lịch sử như Nguyễn Thái Học và Hoàng Diệu trong hai thế kỷ
vừa qua.
Mà, nếu biết vận
dụng thời thế, biết đâu Việt Nam Cộng Ḥa lại chẳng có cơ
may bảo vệ chủ quyền lănh thổ từng phần hay toàn vẹn?
(Viết năm 2008
đă hiệu đính)
Tác
Giả : Luật sư Nguyễn Hữu Thống
|