đón chào Vietnam Exodus

 

Phỏng vấn: Tiết Lộ Mới Về Báo Cáo Của Ủy Ban Đặc Nhiệm MIA
đăng  trên vietnam exodus  vào Tuesday, 14, February 2006


_CONTRIBUTEDBY vietnamexodus

 

Những Tiết Lộ Về Bản Báo Cáo Của Ủy Ban Đặc Nhiệm Điều Tra Người Mỹ Mất Tích Tại Đông Dương.

Sedgewick Tourison

 

LTS: Ông Sedgewick Tourison, cựu nhân viên t́nh báo quốc pḥng (DIA), sau đó được điều phối qua làm việc trong Uỷ Ban Đặc Nhiệm Điều Tra Người Mỹ Mất Tích Tại Đông Dương của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ dưới thời ông Bush bố. Nhờ đó, ông đă tận mắt chứng kiến những cuộc  điều trần trước quốc hội của các nhân vật cao cấp trong chính quyền Mỹ có dính dáng đến cuộc chiến Đông Dương vừa qua, cũng như được dịp đọc được những tài liệu tối mật của Sở T́nh Báo Quốc Pḥng liên quan đến cuộc chiến ở Việt Nam. Sau hơn 13 tháng làm việc, ngày 12 tháng 01 năm 1993, Uỷ Ban đă đệ tŕnh lên quốc hội bản báo cáo dày hơn 500 trang kết luận cuộc điều tra của Uỷ Ban.

 Mục tiêu của ông Bush bố lúc bấy giờ khi yêu cầu thượng viện Hoa Kỳ lập ra Uỷ Ban Đặc Nhiệm Điều Tra Người Mỹ mất Tích tại Đông Dương là muốn đóng lại trang sử của những người Mỹ mất tích trong cuộc chiến VN nhằm dọn đường băi bỏ cấm vận và b́nh thường hoá quan hệ ngoại giao với cộng sản Việt Nam dựa theo bản lộ đồ do chính ông đưa ra. Phía cộng sản Việt Nam đă chấp hành đúng với bản lộ đồ đó, phần c̣n lại phía Hoa Kỳ phải chuẫn bị dư luận quần chúng, nhất là giới cựu chiến binh Hoa Kỳ cho sự kiện b́nh thường hoá quan hệ ngoại giao. Muốn giăm thiểu tối đa sự chống đối từ phía quần chúng th́ chính quyền Mỹ cần phải giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích tại Đông Dương. Đó là lư do tại sao có sự thành lập của Uỷ Ban Đặc Nhiệm...

 

Mặc dù sự kiện này đă xăy ra cách đây hơn một thập niên, nhưng giá trị lịch sử của nó rất quan trọng và để quư bạn đọc nắm rơ hơn những diễn tiến bên trong cũng như kết luận của Uỷ Ban như thế nào, cùng với  ảnh hưởng của nó đến tiến tŕnh bang giao giữa Hoa Kỳ - Hà Nội ra sao, anh Nguyễn Phương Minh đă trực tiếp nói chuyện với ông Sedgewick Toursiron.  Tưởng cũng nên biết thêm là ông Tourison nói và viết rất thạo tiếng Việt, và buổi nói chuyện dưới đây hoàn toàn bằng tiếng Việt.

 

Nguyễn Phương Minh: Ông có thể vắn tắt cho chúng tôi biết Uỷ Ban Điều Tra Tù Binh Mỹ Mất Tích được thành lập vào lúc nào, và những thành phần làm việc trong Uỷ Ban gồm có những ai ?

Sedgewick Tourison: Nói chung th́ Uỷ Ban Thượng Nghị Viện Đặc Trách về việc t́m hiểu người Hoa Kỳ mất tích tại Đông Dương đă ra đời từ tháng 08 năm 1991. Người vận động ra Uỷ Ban này là thượng nghị sĩ Bob Smith, đảng Cộng Hoà của tiểu bang New Hamsphire. Ông Smith có kêu gọi Rule Committe - Uỷ Ban của Thượng Nghị Viện đặc trách vấn đề lập ra những Uỷ Ban như là Uỷ Ban điều tra. Thành ra, tháng 08, 1991 Uỷ Ban Thượng Nghị Viện quyết định cho phép được xây dựng một Uỷ Ban đặc biệt có nhiệm vụ t́m hiểu về người Hoa Kỳ vẫn c̣n ghi nhận là mất tích tại Đông Dương. Thông thường những Uỷ Ban khác của Thượng nghi. Viện cũng như Hạ nghi. Viện nó chia nhân viên tuỳ theo đảng nào là chính trong thượng nghị viện và hạ nghị viện. Theo lẽ thường th́ mỗi Uỷ Ban có 12 ông, và 2 người không có quyền bỏ phiếu - hai người này chính là hai người đứng đầu trong Uỷ Ban và là đại diện của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà trong quốc hội. Nhưng trong các Uỷ Ban đặc biệt, nhất là Uỷ Ban đặc trách về tù binh mất tích tại Đông Nam Á th́ họ không chia 7 và 5, mà họ chia 6, 6. Như vậy, quyết định phải là quyết định chung, không có một quyết định riêng của đảng Dân Chủ, hoặc là quyết định riêng của đảng Cộng Hoà. V́ thông thường khi các Uỷ Ban đặc biệt này ra các báo cáo cho thượng nghị viện, hoặc hạ nghị viện th́ nó có hai ư kiến: ư kiến của đảng chính và ư kiến của đảng phụ. Nhưng mà Uỷ Ban đặc biệt mà tôi phục vụ lúc đó, th́ ông chủ tịch lúc đầu có nói rằng ông sẽ tham gia vào làm việc với điều kiện là phải chia 6, 6. Nghĩa là 6 người bên đảng Dân Chủ và 6 người bên đảng Cộng Hoà.

Trong Uỷ Ban đặc trách về tù binh Mỹ, mặc dù nó chia 6 với 6, nhưng v́ lúc đó Đảng Dân Chủ nắm đa số trong thượng nghị viện, thành ra chủ tịch được trao cho người của đảng Dân Chủ, Cộng Hoà th́ làm phó chủ tịch. Nói về thành phần tham dự trong Uỷ Ban th́ có ông John Kerry, một cựu chiến binh hải quân đă từng tham chiến tại Việt Nam. Ông phục vụ tại vùng bốn chiến thuật, và bị thương hai lần. Sau khi từ Việt Nam trở về, ông phản đối chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam, và tham gia vào với các thành phần cựu chiến binh phản chiến. Ông khá nổi tiếng v́ ông xuống toà bạch ốc, lấy tất cả huy chương của ông và ném qua bức tường. Đấy là một h́nh thức mà ông Kerry phản đối việc Hoa Kỳ tham gia vào chiến tranh Việt Nam. Sau này ông đi làm những công tác chính trị ở bên tiểu bang Massachusetts. Về phía phó chủ tịch th́ có ông thượng nghị sĩ Bob Smith. Trước kia ông ở bên hạ nghị viện. Tôi có quen biết với ông ta trong lúc tôi c̣n làm việc cho sở t́nh báo quốc pḥng, v́ lúc đó ông hay trách bộ quốc pḥng là ông có bằng cớ cho biết người Hoa Kỳ vẫn c̣n bị nhốt làm tù binh tại Đông Dương. Ông hoạt động khá mạnh từ năm 1981. Những nghị sĩ khác thạm dự lúc đó đa số là cựu chiến binh chẳng hạn như ông nghị sĩ Bob Kerrey. Ông nghị sĩ Kerrey có anh dũng bội tinh của Hoa Kỳ, tức là Medal Of Honor là huy chương cao nhất trong quân đội. Ông bị cụt mất một chân tại Việt Nam. Trong các nghị sĩ của Uỷ Ban chỉ có một bà là bà nghị sĩ Nancy Kassebaum. Bà Kassebaum bên đảng Cộng Hoà. Bà là một người rất tốt, rất thông minh. Mặc dù không phải là một cựu chiến binh, nhưng căn cứ vào những câu hỏi bà nêu lên trong những buổi họp tại Washington đă chứng tỏ rằng bà hiểu rất nhiều về tù binh Mỹ mất tích tại Đông Nam Á. Có một số người khác chẳng hạn như ông nghị sĩ Robb của tiểu bang Virginia; ông là con rễ của cựu tổng thống Johnson. Một người khác được coi như là rất bảo thủ lúc đó trong đảng Cộng Hoà là ông Jessy Helms của tiểu bang North Carolina. Ngoài ra c̣n có Thượng nghị sĩ Grassley của tiểu bang Iowa; ông Tom Mc Cain thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng Hoà của tiểu bang Arizona. Ông Mc Cain là con trai của Tổng Tư Lệnh Thái B́nh Dương trong thời chiến tranh Việt Nam. Admiral Mc Cain nắm quyền tư lệnh Thái B́nh Dương trong lúc con trai ông là sĩ quan không quân bị bắn rơi tại Hà Nội và nhốt ở Hoa? Ḷ, bị tra tấn cũng khá nhiều. Trong 12 nhân viên của Uỷ Ban, chỉ có 2 người không phải là cựu chiến binh từ cuộc chiến Đông Dương, hay Đệ Nhị Thế Chiến.


N.P.M: Ḿnh hơi nhảy vọt ở đây một tí đi Wick. Theo ông th́ cái kết luận của Uỷ Ban đưa ra là ǵ?

W.T.: Nói chung, từ khi Uỷ Ban ra đời, nó phải đóng góp ư kiến vào ba vấn đề chính: thứ nhất, có người Mỹ bị bỏ lại tại Việt Nam sau ngày 1 tháng 04 1973 hay không? (thời điểm trao trả tù binh giữa hai bên); thứ hai, chính phủ thật sự có biết người Mỹ bị giữ lại hay không? và có hành động dấu diếm sự sống c̣n của họ hay không? thứ ba, hiện giờ có người Mỹ bị nhốt tại Đông Dương không?

Trong cuộc họp vào hai ngày 24, và 25 tháng 06, 1992, biết bao nhiêu nhân vật kể cả cựu tổng tham mưu trưởng quân lực Hoa Kỳ, như Admiral Moore và một số người khác th́ không có cái chuyện người ta biết có tù binh hăy c̣n sinh sống sau ngày 1 tháng 04, 1973; cũng không có cái chuyện che đậy, hoặc dấu diếm sự sống c̣n của tù binh Mỹ tại Đông Dương.

Từ cuối năm 1991 đến năm 1992, có một số người đến tŕnh bày trước quốc hội, và đă được điều tra viên phỏng vấn, họ đóng góp ư kiến rằng hăy c̣n người Mỹ bị nhốt tại Việt Nam, hoặc tại Lào, hoặc tại Cam Pu Chia. Nhưng vấn đề chứng cớ cụ thể th́ coi như không có bằng chứng nào chắc chắn, chỉ có những nguồn tin hoặc báo cáo từ các viên chức của Hà Nội, hay từ một số người Việt tỵ nạn. C̣n có một số nguồn tin khác từ phiá các viên chức Hoa Kỳ, họ góp ư kiến rằng họ thấy tài liệu, các báo cáo, hoặc họ nghe trộm những bức điện của quân đội nhân dân chứng tỏ rằng Hà Nội vẫn c̣n giữ tù binh và hiện c̣n sống ở Việt Nam, hay ở Lào, hoặc họ đă bị chuyển về Nga Sô trước hoặc sau hiệp định Ba Lê. Như vậy từ khi Uỷ Ban bắt đầu làm việc, tức là tháng 10 1991, cho đến khi báo cáo hoàn tất của Uỷ Ban được đệ tŕnh lên thượng nghị viện vào ngày 12 tháng 01, 1993. Tôi có xem qua bản sơ thảo vào ngày mùng 5 tháng 01, 1993, sau đó có sửa chữa thêm một hai lần thôi, nhưng mà những sửa chữa này nói chung chỉ là thêm vào cái này, bớt đi cái kia. Có một vài nhà báo Hoa Kỳ phê b́nh công tác của Uỷ Ban, chẳng hạn như là phía đảng cộng hoà, lúc đó họ muốn ủng hộ ông Kissinger, nên có một vài người làm việc trong Uỷ Ban đă cung cấp cho ông ta các chương nói về hiệp định Ba Lê, mà trong đó đă chửi ông Kissinger rất nhiều. Sau khi đọc xong, ông Kissinger có nhờ luật sư đến nói chuyện với 5 thượng nghị sĩ trong Uỷ Ban, và cho rằng những ǵ viết về ổng không tốt, và ông yêu cầu xét lại. Một vài điểm khác đă được bỏ đi rất nhiều trong lúc làm bản báo cáo cuối cùng, chẳng hạn như trong đó có nói tới một số công tác t́nh báo Hà Nội tung ra những tin tức giả về vấn đề thẻ bài, hài cốt..v.v..

N.P.M: Ông có biết tại sao họ bớt không?


W.T: Họ bớt v́ lư do thế này: đây là quá tŕnh đem ra bản báo cáo cuối cùng, nên cần phải có đủ 12 chữ kư của 12 thượng nghị sĩ trong Uỷ Ban, nhưng mà họ phải tất cả hoàn toàn đồng ư th́ mới chịu kư. Mặc dù báo cáo cuối cùng của Uỷ Ban có một vài thay đổi liên quan đến Kissinger, nhưng sự thay đổi này là chỉ bớt đi những cái kém cơi của Kissinger trên mặt h́nh thức hơn là nội dung. Bớt đi một phần về công tác t́nh báo nước ngoài của Tổng Cục An Ninh Hà Nội, mất một phần về những báo cáo giả mạo của bà Lê Thị Anh, công tác của Hội Đồng Thân Nhân Hoa Kỳ của bà quản đốc Griffin. Trong bản thảo trước khi cho ra bản báo cáo cuối cùng, chúng tôi có phê b́nh rất nặng Hội Đồng Thân Nhân Hoa Kỳ mất tích tại Đông Nam Á, nhất là vai tṛ của bà quản đốc đă ủng hộ, xây dựng những hệ thống vận động lấy tiền, gửi từ New York về Bangkok để nuôi kháng chiến quân của Lào lúc đó. Chúng tôi cho rằng việc đó không tốt, v́ một người như bà đă xử dụng vị trí của bà để gửi tiền về nuôi kháng chiến quân. Chúng tôi không xác định tất cả là bao nhiên tiền, nhưng ít nhất là trên $200 ngàn Mỹ Kim đă gởi về Thái Lan trong khoảng thời gian từ năm 1982. Mặc dù trong bản báo cáo cuối cùng phần đó bị bỏ đi, nhưng những tài liệu gốc th́ chúng tôi đă gửi đi cho National Archive để tất cả mọi người được xem. Như vậy những phần bị mất đi là những phần liên quan đến chính trị mà thôi.

Theo tôi biết th́ cảm nghĩ cuối cùng của các thượng nghị sĩ trong Uỷ Ban là không có chứng cớ chắc chắn hiện c̣n có người Hoa Kỳ sinh sống tại Đông Dương. Đưa đến một kết luận như vậy rất có ư nghĩa, nhất là đối với ông phó chủ tịch, v́ chính ông phó đă hoạt động 8 năm trời ṛng ră  kêu người Hoa Kỳ vẫn c̣n bị nhốt tại Việt Nam. Ông nói rằng ngay phía dưới cái ḥm ướp xác của HCM ở Hà Nội có hầm nhốt tù binh Mỹ. Ổng cũng nói là ở Hạ Lào, khu Đầm Nứa vẫn c̣n tù binh bị nhốt. Nhưng mà chẳng thấy có ai.

N.P.M: Trong ba vấn đề lúc năy mà ông nhắc tới th́ kết luận của Uỷ Ban là không có tù binh Mỹ sống sót sau năm 73 nữa!

W.T.: Không! Nói tới thời điểm khi nộp bản báo cáo vào ngày 12 tháng 01, 1993 th́ không có chứng cớ chắc chắn có người Hoa Kỳ bị nhốt tại Đông Dương. Nhưng nói tới năm 1973 th́ là chuyện khác, có rất nhiều vấn đề.


N.P.M: Vậy Uỷ Ban có đưa ra kết luận nào để trả lời vấn đề thứ nhất mà lúc năy ông đă nêu ra không?

W.T.: Về vấn đề thứ nhất, Uỷ Ban đă đưa ra một kết luận không nói dứt khoát là có hay không. Nhưng mà nếu có th́ không ai c̣n sinh sống. Câu hỏi thứ nhất đưa đến một kết luận rất khó mà trả lời, v́ sau khi kư kết hiệp định đ́nh chiến tại Ba Lê ngày 27 tháng 01 1973 th́ phía Hà Nội đă trả về tất cả 5 trăm sáu mươi mấy quân nhân Hoa Kỳ, công thêm một số người Mỹ dân sự. Riêng về phía Hoa Kỳ th́ đến ngày 28 tháng 03, 1973, ông tướng Trần Văn Trà gặp đại diện của Hoa Kỳ tại Saigon cho biết rằng có một đại uư hăy c̣n bị nhốt trong địa phận tỉnh Vĩnh B́nh, đă không có tên trong danh sách của những người không được trao trả. Vị đại uư đó tên là Captain Robert White. Ông White được trao trả từ tỉnh Vĩnh B́nh vào ngày mùng 01 tháng 04, 1973. Theo đại diện của chính phu? Lâm Thời, và của Hà Nội th́ họ không c̣n giữ một người Hoa Kỳ nào nữa tại Việt Nam. Cũng theo họ th́ không có người Hoa Kỳ bị nhốt tại Kam Pu Chia. Riêng về phiá Lào th́ là chuyện giữa ông Kissinger và đại diện phiá Hà Nội, Hà Nội nói rằng đồng ư giúp đỡ giải quyết vấn đề bên Lào. Nhưng thật ra mà nói th́ 80% những người bị mất tích tại Lào đều nằm trong địa phận tác chiến và hậu cần của bộ đội Hà Nội. Đến thời điểm chúng tôi nộp bản báo cáo th́ họ đă không giải quyết một cái ǵ hết.

Nói chung mặc dù Hà Nội nói rằng là không có một người Mỹ bị nhốt kể sau ngày 1 tháng 04 1973, nhưng chúng tôi biết ít nhất là có hai người. Vậy họ là hàng binh hay là tù binh? Cái đó cho đến nay hăy c̣n trong ṿng bàn căi.

N.P.M: Hai người đó có sống sót trở về Mỹ được không?

W.T.: Một người được về. Đó là ông binh nhất Robert Gardwood của Thuỷ Quân Lục Chiến. Theo tư liệu của Thuỷ Quân Lục Chiến ghi nhận th́ ông là tù binh. Nhưng thái độ của ông là thái độ hàng binh. Ông bị nhốt ở quân khu 5 cho đến cuối năm 1969, ông được cán bộ trại tù quân khu 5 dẫn ra Bắc. Đến muà Xuân 1979, ông xin được về Hoa Kỳ. Theo tài liệu của tôi t́m thấy trong hồ sơ ở bên Thuỷ Quân Lục Chiến th́ Thuỷ Quân Lục Chiến có ghi nhận có hai người cùng về, h́nh như là hàng binh, và một người đă chết rồi. Sau khi về đến Mỹ, ông Gardwood phải ra trước toà án quân sự của Thuỷ Quân Lục Chiến, và ông bị can tội hợp tác với địch quân trong thời chiến tranh , và ông bị đuổi ra khỏi binh chủng, nhưng không bị ở tù. Trong thời gian ở Việt Nam, ông có tên là Nguyễn Việt Nam, hay Nguyễn Văn Nam và là cán bộ trại 776 ngoài Yên Báy, nơi nhốt những sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà. Nhiệm vụ của ông là cán bộ đặc trách chiếu phim hoặc sửa chửa đường giây điện thoại, và cùng với một người Thái Lan lo lái xe tiếp vận từ liên trại 1, đoàn 776 từ Yên Báy chạy xuống Gia Lâm và Hà Nội để lấy hàng đem về cho liên trại 1. Thành ra có thể có một số người cho rằng ông ta là cán bộ trại, có tiền phụ cấp.

N.P.M: Vậy vấn đề thứ nhất c̣n tranh tối, tranh sáng. Vấn đề thứ nh́ và thứ ba th́ coi như đă giải quyết xong.

W.T.: Đúng rồi. Vấn đề thứ nhất có rất nhiều vấn đề. Chúng tôi t́m thấy rất nhiều tài liệu trong kho hồ sơ mật của sơ? T́nh Báo Quốc Pḥng chứng tỏ rằng sau khi vi. Đại Uư Lục Quân cuối cùng được trao trả th́ bô. Quốc Pḥng quyết định coi như không c̣n lo cho những người chưa được giải quyết. Chẳng hạn như máy bay trinh sát, những h́nh ảnh do vệ tinh chụp được, những vụ nghe trộm đường giây liên lạc, cũng như những công tác đặc t́nh th́ đến năm 1975 coi như xong hết. Không c̣n lo một cái ǵ nữa về Đông Dương, nhất là về tù binh. Như vậy nếu mạng lưới t́nh báo của Bộ Quốc Pḥng bị dẹp hết th́ coi như tin nó không c̣n vô nữa. Người sưu tầm nếu không có tin tức th́ họ sẽ nói là chúng tôi không có tin. Khi mà khả năng sưu tập tin tức không c̣n th́ lẽ dĩ nhiên những người nghiên cứu tham khảo về tin tức sẽ không có tin để nghiên cứu nữa. Đại sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan năm 1975 quyết định không tổ chức những mạng lưới đặc t́nh từ căn cứ Thái Lan. Năm 75, các mạng lưới đặc t́nh của Lục Quân, Không Quân, Hải Quân phải ngừng hoàn toàn 100%. Từ năm 1973 trở đi th́ mạng lưới t́nh báo Hoa Kỳ ở miền Nam, ở Lào, ở Kam Pu Chia, ở Thái Lan, đều tập trung ủng hộ cho các nhu cầu đ̣i hỏi tác chiến tại Đông Dương. Tuỳ theo t́nh h́nh ở mỗi nơi mà nhu cầu đặc t́nh tăng hay giăm. Chẳng hạn như ở Lào, đ́nh chiến vào ngày 21 tháng 02 1973, sau đó công tác đặc t́nh không được làm trong hậu phương của Pathet Lào. Ở Kam Pu Chia th́ rất lộn xộn, nhưng từ tháng 08, 1973, Hoa Kỳ ngưng oanh tạc ở Kam Pu Chia.

Sau ngày 1 tháng 04, 1973 có tất cả 82 người mà chúng tôi ghi nhận bị bắt tù binh. Sau khi chúng tôi khai thác các tù binh được trao trả th́ chúng tôi biết đại đa số đă chết trong tù. Về phía Hà Nội cũng như về phiá chính phu? Lâm Thời, họ có cung cấp cho chúng tôi một số danh sách của những người chết trong tù, nhưng khi chúng tôi đ̣i hỏi chứng cớ cụ thể về cái chết của những người này th́ họ không cung cấp cái ǵ hết. Cho đến thời điểm 1993 khi bản báo cáo được nộp lên th́  có tất cả 55 quân nhân chết trong tù mà chúng tôi chưa có thi hài của họ. Đầu tháng 04 năm 1973, cựu tổng thống Nixon cho biết rằng tất cả những tù binh Hoa Kỳ đă được trao trả rồi, chuyện đó không đúng, hoàn toàn là sai. Lúc đó chúng tôi có danh sách của 130 người đă bị bắt tù binh, h́nh như đại đa số đă chết ở tù, nhưng tôi nghi là không có chắc chắn, nhất là đối với thành phần dân sự.

N.P.M: Nói về vấn đề không trao trả hài cốt, qua những chuyến viếng thăm Việt Nam trước thời kỳ bang giao của các phái đoàn Hoa Kỳ, thái độ của Hà Nội lúc đó như thế nào? Cái tôi vẫn không hiểu là Hà Nội xử dụng những thi hài đó để mặc cả cái ǵ chứ?

W.T
.: Nói chung, thái đô. Hà Nội có thay đổi hơn trước. Họ thay đổi dần dần bắt đầu từ năm 1987 lúc ông tổng tham mưu trưởng John Vessey qua Hà Nội. Lúc đó Hà Nội đă gặp nhiều khó khăn v́ việntrợ của Nga Xô đă bắt đầu giảm bớt. Nói trắng ra là thay đổi từ năm 1985 theo một số tin tức riêng mà tôi biết, v́ từ năm 85 viện trợ của Nga cắt giảm 10% hàng năm đối với mỗi xứ trong vùng Đông Dương.

 Năm 1986, ông cựu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố là Hà Nội muốn giải quyết vấn đề tù binh Mỹ mất tích tại Đông Dương trong ṿng 2 năm. Tuyên bố xong rồi th́ chẳng có làm ǵ hết. Mồm nói thôi, thái độ có thay đổi, nhưng chỉ thay đổi sau khi Liên Xô giăm bớt viện trợ.

N.P.M: Theo ông vừa mới tŕnh bày ở trên th́ c̣n ở thời điểm khi bản báo cáo của Uỷ Ban Đặc Nhiệm hoàn tất th́ hăy c̣n 100 hài cốt chưa trả?

W.T.: 55 người ghi nhận là tù binh, đại đa số ghi nhận là mất ở trong miền Nam. Và nhất là đối với thành phần dân sự th́ hài cốt chưa được trao trả.
Theo báo cáo của Bộ Quốc Pḥng lúc đó là Bộ có chứng cớ cụ thể Hà Nội có chương tŕnh thu lượm hài cốt v́ chúng tôi đă đem những hài cốt về Hạ Uy Di cho cơ quan thí nghiệm xem xét. Sau khi giảo nghiệm họ có chứng cớ cụ thể là trên 150 bộ hài cốt được bảo quản rơ ràng. Tức là đă đào lên lâu rồi và cất ở trong kho. Cái đó là chứng cớ cụ thể mà. Theo những điều tra viên của Bộ Quốc Pḥng qua Việt Nam thời ấy về cho biết th́ đại đa số hài cốt ở ngoài miền Bắc trong thời chiến tranh do người dân t́m được đem đi chôn. Khoảng năm 1973, có những thành phần của cơ quan t́nh báo phối hợp với cán bộ địa phương để đào t́m những hài cốt rồi đem đi đâu không biết. Lúc đó có rất nhiều sĩ quan t́nh báo nghĩ rằng phía Hà Nội vẫn c̣n giam giữ một số hài cốt mà không chịu trao trả.

N.P.M: Lúc đó họ có đưa ra một giả thuyết nào để giải nghĩa tại sao Hà Nội lại làm thế hay không?

W.T: Ông cựu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch có nói rằng Trung Ương gặp rất nhiều khó khăn v́ dân chúng miền Nam không theo lệnh của Hà Nội, v́ dân chúng muốn buôn bán hài cốt của Mỹ để họ có ưu tiên được sang đây. Ở trong Nam, rất nhiều dân địa phương đi t́m hài cốt, đào lên rồi bán lẫn nhau. Do đó chính phủ trung ương Hà Nội đang gặp rất nhiều khó khăn trong lúc chỉ thị địa phương đi gom lại thi hài của những người c̣n ghi nhận là mất tích. Do đó Hà Nội không thể đáp ứng được nguyện vọng của Washington. Ông Thạch tuyên bố như vậy là hoàn toàn sai. Câu tuyên bố này là câu tuyên bố chứa đựng nhiều chính trị, v́ Hà Nội nó muốn làm chậm đi thôi. Nó muốn đổ lổi cho vụ buôn bán hài cốt lên đầu của dân chúng miền Nam chứ nó không có muốn làm như vậy. Thực chất không phải như vậy đâu. Chúng tôi có chứng cớ cụ thể đại đa số hài cốt của Hoa Kỳ mất tích tại Đông Dương. Nếu xác chết đó c̣n nguyên vẹn th́ bộ đội đă chôn tại chổ, và vào khoảng thời gian năm 1973, hay là năm 1975, hay là đầu năm 1980 th́ đại diện của Bộ Quốc Pḥng hay của Bộ Nội Vụ đào lên rồi gửi đi cấp trên, chứ không phải dân chúng miền Nam người ta đào lên để buôn bán đâu. Chúng tôi có chứng cớ cụ thể Cục Quân Đội Nhân Dân muốn bán hài cốt. Vậy để làm cái ǵ? Là để kiếm tiền! Vấn đề buôn bán hài cốt, thẻ bài và công tác t́nh báo của Hà Nội bắt đầu thực hiện từ cuối năm 1978. Gửi những tin tức về tù binh c̣n sống sót tại Việt Nam, những thẻ bài ra ngoài là âm mưu của bọn t́nh báo Hà Nội. Bọn họ chuyển những tin tức này qua trung gian của một số tổ chức kháng chiến. Tổ chức của Hoàng Cơ Minh đă gửi những tin tức giả mạo. Tổ chức của Lê Quốc Tuư có gửi những tin tức giả mạo về người Hoa Kỳ c̣n sinh sống tại Việt Nam. Chủ chốt về những tin tức giả mạo là từ gia đ́nh Nosavan bên Thái Lan, nằm trong kế hoạch của cục t́nh báo Lào. Khi tin qua tới bên này, sẽ có người qua đó t́m và họ sẽ giăng bẩy để bắt những người này tại chổ. Chúng tôi có chứng cớ này rơ ràng, nhưng mà trong nội dung của bản báo cáo cuối cùng của Uỷ Ban Điều Tra Đặc Nhiệm của Thượng Nghị Viện th́ không có nói nhiều về vấn đề này. Nhưng tất cả những chứng cớ cụ thể đă được gởi đi National Archive để người ta có thể tham khảo. Chẳng hạn như những bức h́nh photo ra đời tại Mỹ này vào mùa Xuân 1991, toàn là giả mạo. H́nh của 3 người tù binh Mỹ chụp tại Kam Pu Chia năm 1990, thật ra là một h́nh chụp trong tạp chí Nga Xô được xuất bản tại Kam Pu Chia.


N.P.M: Lúc năy ông có nhắc tới Kissinger. Trên tờ báo LA Times, Kissinger có nói rằng ông đă làm tất cả những ǵ có thể làm được trong thời gian đó rồi. Wick nghĩ thế nào về câu phát biểu này?


W.T.: Tôi có mặt trong buổi họp của Uỷ Ban khi ông Kissinger ra trước Uỷ Ban để điều trần. Ông Kissinger bảo rằng nói chuyện với phía đại diện Hà Nội khó quá, trả giá với bọn Hà Nội này khó quá. Ổng nói mệt quá, chưa bao giờ từng gặp người nào mà khó như cái bọn Hà Nội này. Ông cho rằng cái vụ oanh tạc Hà Nội 12 ngày đă là một vụ quyết liệt để bắt Hà Nội ra thực hiện hiệp định Ba Lê. Cái đó có thể đúng một phần, thế nhưng theo cảm nghĩ của đại đa số những người nghiên cứu sâu vào những tài liệu được Toà Bạch Ốc cung cấp cho chúng tôi về những cuộc hội đàm mật của ông Kissinger, th́ ông Kissinger cũng như là một số cán bộ ngoại giao khác tập trung nhiều về h́nh thức hơn là về nội dung. Chẳng hạn như là về vấn đề tù binh th́ theo các tài liệu tối mật của Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ vào khoảng từ thời gian từ năm 1969 đến năm 1972 th́ cảm tưởng chung của Bộ Tư Lệnh Thái B́nh Dương, bô. Tư Lệnh Mac Vie trong miền Nam là Hà Nội nó muốn làm sao phải đẩy quân đội Mỹ rút ra khỏi vùng Đông Dương cho đến khi người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam rồi nó mới chịu thả tù binh Hoa Kỳ. Họ chỉ muốn như vậy thôi. Chúng tôi có nhận được báo cáo của ông phó ngoại giao của Kissinger là ông đại sứ Sullivan. Ông đă làm báo cáo cho Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ vào mùa hè 1972, và theo kết luận của ông ta th́ Hà Nội sẽ không giải quyết vấn đề tù binh cho đến khi nào quân Hoa Kỳ ra khỏi Đông Dương, và cũng theo ông Sullivan th́ sau khi quân Mỹ rút th́ Hà Nội sẽ tổng tấn công để chiếm trọn miền Nam. Th́ đúng như vậy thôi. Tất cả những khó khăn c̣n kéo dài cho tới ngày chúng tôi làm việc cho Uỷ Ban Đặc Nhiệm, không phải tại v́ h́nh thức của hiệp định Ba Lê mà là v́ nội dung. Tính trước như thế mà không chịu giải quyết ngay nên đă để nó kéo dài cho tới ngày hôm nay.

N.P.M: Như vậy hiệp định Ba Lê không hoàn chỉnh?

W.T: Nội dung của nó th́ không. Theo cảm nghĩ của tôi th́ ông Kissinger chỉ lo về h́nh thức chứ không phải lo về nội dung. Chúng tôi có rất nhiều kinh nghiệm từ trận chiến ở Cao Ly, kinh nghiệm học được từ người Pháp, và chúng tôi biết sẽ gặp nhiều khó khăn dựa vào những kinh nghiệm đó, vậy mà ông Kissinger không có một biện pháp nào để giải quyết vấn đề này. Con số Zero hoàn toàn. Ông Kissinger cho rằng tất cả những khó khăn đều do Hà Nội gây ra và ông hoàn toàn đổ lổi cho họ là không thực hiện đúng nội dung hiệp định Ba Lê. Tôi đồng ư với ông Kissinger là Hà Nội cũng có vai tṛ quyết định, v́ nếu họ giải quyết hoàn toàn th́ coi như chuyện này đă xong xuôi rồi. Nhưng cái dở của Kissinger là không t́m được biện pháp để giải quyết nó sớm hơn.


N.P.M: Trong báo cáo cuối cùng của Uỷ Ban có chỉ trích gay gắt hai người là bà Lê Thị Anh và Việt Định Phương, Wick có thể nói thêm về trường hợp này không?


W.T: Vào cuối tháng 12 1992, Uỷ Ban chúng tôi có hỏi Sở T́nh Báo Quốc Pḥng là những báo cáo của một số người về tù binh Mỹ mất tích và thẻ bài có thể tin được hay không, nhất là báo cáo của hai người là Lê Thị Anh và Việt Định Phương. Theo Bộ Quốc Pḥng báo cáo lại cho Uỷ Ban chúng tôi th́ họ t́m thấy được trên 50 bản báo cáo của bà Lê Thị Anh, c̣n một ít th́ của Việt Định Phương. Những báo cáo trong những năm gần năm 1992 th́ không có một báo cáo nào thật. Bà Lê Thị Anh bị hội đồng gia đ́nh người Mỹ mất tích tại Đông Nam Á phê b́nh vào mùa hè năm 1984 là một trong những người cung cấp tin tức giả mạo nhiều hơn tất cả những người khác. Đó là kết luận của Hội Đồng Gia Đ́nh Người Mỹ Mất Tích căn cứ vào tin tức của Bộ Quốc Pḥng. Đa số 50 báo cáo bên bộ quốc pḥng cung cấp cho chúng tôi đều là những báo cáo về sau này. Theo các biên tập viên của tờ The Soldier of Fortune th́ năm 1981 họ có gặp bà Lê Thị Anh bên Thái Lan, và bà Anh có cung cấp cho họ một số tin tức bên Lào, nhưng hoàn toàn là giả mạo. Cho đến năm 1991, bà Anh vẫn c̣n cho rằng có một nhóm người Mỹ trốn đơn vị hiện đang sống ở miền Trung, và bà có nhờ bao nhiêu người đi t́m số người này, nhưng tất cả điều này là tầm bậy. Tất cả những tài liệu mà bà Lê Thị Anh và Việt Định Phương gởi cho chúng tôi, chúng tôi đă chuyển hết qua National Archive rồi. Ai muốn xem th́ tới đó mà xem.

N.P.M: Khuynh hướng về phía chính quyền Mỹ lúc đó là muốn bang giao với Việt Nam, nhưng có phải v́ thái độ cù cưa của Hà Nội mà tiến tŕnh này chậm lại không?

W.T: Không! Đây là trách nhiệm của đôi bên. Ở phía Mỹ, lúc đó là do toà Bạch Ốc, nhất là Uỷ Ban An Ninh Quốc Gia ủng hộ kháng chiến quân, cùng thời gian xử dụng một số tổ chức Gia Đ́nh Tù Binh để vận động tiền, hay là nhờ tổ chức của họ gởi tiền về Thái Lan để nuôi kháng chiến quân Lào. Đó là một sai lầm về chiến lược thời đó. Nếu cá nhân tôi là một sĩ quan t́nh báo của Hà Nội th́ làm sao tôi có thể tin vào động cơ thúc đẩy Mỹ t́m tù binh là hoàn toàn nằm trong vấn đề nhân đạo, trong khi đó lại đi làm công tác chính trị là ủng hộ kháng chiến. Cái đó là một sai lầm của chính ông cụ trung tá... cùng với bà quản đốc Griffins. Trước đó hai người này đă nhờ những người bảo thủ giúp đỡ chuyển tiền qua mạng lưới của họ, rồi qua Thái Lan để giúp cho kháng chiến quân Lào. Chúng tôi có những sai lầm về chiến lược, và sai lầm này kéo dài đến giữa thập niên 80, và từ lúc đó trở đi th́ bỏ. Tuy nhiên, vấn đề chính ở đây vẫn là việc Hà Nội đă không thực hiện đúng những ǵ họ kư.

Theo những lời điều trần của các sĩ quan cấp tướng trước Uỷ Ban th́ các thành phần cán bộ trung cấp Hà Nội không tuân hành mệnh lệnh của cấp trên để phối hợp toàn diện với nhau. Chẳng hạn như mấy ông cấp tá sửa soạn về hưu không c̣n có tiền nữa... Tất cả chỉ toàn là tiền đấy!

N.P.M: Điều này có giải nghĩa được là Hà Nội không kiểm soát được các cấp ở giữa không?

W.T.: Riêng về phía Việt Nam th́ cấp trung ương rất vui vẽ và phấn khởi nói rằng chúng tôi luôn luôn muốn phối hợp, các anh cứ qua đây, muốn đi đâu th́ đâu. Nhưng thực sự th́ trong lúc thực hiện, chúng tôi gặp các thành phần trung cấp bảo rằng "dạ thưa chúng tôi không có lệnh nè, không có chữ kư nè, không biết ở đâu nè..."


N.P.M: Thái độ này có phải là thái độ riêng của trung cấp không thôi hay đây là sự phối hợp của trên và dưới để tạo thái độ đó?

W.T.: Tôi được xem tất cả các bản báo cáo của các toán đi nghiên cứu những chổ rớt máy bay, nói chung khi họ đi gặp dân chúng ở địa phương như ở Sơn La, Lai Châu, Hà Nam Ninh, Yên Báy, Điện Biên, th́ sự phối hợp rất tốt và rất chặc chẽ mặc dù dân chúng địa phương biết rất rơ các toán này chính là toán t́nh báo quốc pḥng của Mỹ mà. Ở cấp trung ương, bọn chính trị cũng có một thái độ rất muốn hợp tác, nhưng mà các sĩ quan cấp tá, nhất là cái bọn t́nh báo là khó khăn nhất. Cái khó khăn chính mà cả bô. Nội Vụ và Quân đội chưa thể mở hết hồ sơ về MIA cho người ta xem là v́ cơ quan t́nh báo Hà Nội họ tưởng rằng họ hăy c̣n giữ những tin tức này và cho ra từ từ càng chậm càng tốt. Nói như vậy chứ bọn trung ương cũng phải có trách nhiệm một phần đấy chứ.

N.P.M: Họ làm như thế có lợi ǵ chứ?

W.T: Tiền!

N.P.M: Nói trắng ra là họ muốn Hoa Kỳ trả tiền cho những tin tức đó?

W.T.: Không phải trả trực tiếp, mà là trả một cách gián tiếp. Chẳng hạn như đi sang Việt Nam, một phái đoàn đi xuống địa phương th́ bên Hà Nội nó tính bao nhiêu là tiền, như là mua nước ngọt cho họ, mua chè cho họ, mua bánh cho họ. Nội tiền ăn bánh của họ trong một ngày thôi nó bằng tiền lương tháng của một cô giáo Hà Nội đấy. Đó chỉ là bánh ngọt ăn một ngày thôi đấy! Chỉ cần bên tổng cục an ninh và bộ nghiên cứu nó mở hồ sơ ra xem, chúng tôi sẽ biết chắc chắn có ai bị nhốt sau tháng 04 1973 hay không, và chỉ cần 30 ngày là xong xuôi thôi. Tại sao cho đến lúc Uỷ Ban Đặc Nhiệm hoàn tất bản báo cáo chúng tôi vẫn chưa được xem bất cứ nội dung của một hồ sơ nào của tù binh cả.

Nếu như mọi chuyện giải quyết trong ṿng 30 ngày th́ chuyện ǵ sẽ xăy ra? Có một ông sĩ quan t́nh báo bạn của tôi từ thời c̣n làm việc ở địa đạo Củ Chỉ, ông ta báo cáo với Uỷ Ban thế này: Hà Nội muốn kéo dài thời gian để họ có thể được tiền nhiều hơn. V́ nếu việc này xong trong ṿng 30 ngày và các toán không trở lại th́ tiền đâu? Tôi nghĩ là anh bạn tôi nói thật.


N.P.M: Hiểu rồi. Cũng đă quá khuya rồi, cám ơn Wick rất nhiều đă dành th́ giờ cho buổi nói chuyện ngày hôm nay. Hy vọng sẽ có những dịp khác để bàn luận nhiều hơn.

W.T
: Ồ không có chi.