Phỏng
vấn: Tiết Lộ Mới Về Báo Cáo Của
Ủy Ban Đặc Nhiệm MIA
đăng trên vietnam exodus vào Tuesday, 14, February 2006
_CONTRIBUTEDBY vietnamexodus
Những
Tiết Lộ Về Bản Báo Cáo Của Ủy Ban
Đặc Nhiệm Điều Tra Người Mỹ
Mất Tích Tại Đông Dương.
Sedgewick
Tourison
LTS:
Ông Sedgewick Tourison, cựu nhân viên t́nh báo quốc pḥng
(DIA), sau đó được điều phối qua làm việc
trong Uỷ Ban Đặc Nhiệm Điều Tra Người
Mỹ Mất Tích Tại Đông Dương của Thượng
Nghị Viện Hoa Kỳ dưới thời ông Bush bố.
Nhờ đó, ông đă tận mắt chứng kiến những
cuộc điều trần trước quốc hội
của các nhân vật cao cấp trong chính quyền Mỹ có
dính dáng đến cuộc chiến Đông Dương vừa
qua, cũng như được dịp đọc
được những tài liệu tối mật của Sở
T́nh Báo Quốc Pḥng liên quan đến cuộc chiến
ở Việt Nam. Sau hơn 13 tháng làm việc, ngày 12
tháng 01 năm 1993, Uỷ Ban đă đệ tŕnh lên quốc
hội bản báo cáo dày hơn 500 trang kết luận cuộc
điều tra của Uỷ Ban.
Mục
tiêu của ông Bush bố lúc bấy giờ khi yêu cầu
thượng viện Hoa Kỳ lập ra Uỷ Ban Đặc
Nhiệm Điều Tra Người Mỹ mất Tích tại
Đông Dương là muốn đóng lại trang sử của
những người Mỹ mất tích trong cuộc chiến
VN nhằm dọn đường băi bỏ cấm vận
và b́nh thường hoá quan hệ ngoại giao với cộng
sản Việt Nam dựa theo bản lộ đồ do chính
ông đưa ra. Phía cộng sản Việt Nam đă chấp
hành đúng với bản lộ đồ đó, phần
c̣n lại phía Hoa Kỳ phải chuẫn bị dư luận
quần chúng, nhất là giới cựu chiến binh Hoa Kỳ
cho sự kiện b́nh thường hoá quan hệ ngoại
giao. Muốn giăm thiểu tối đa sự chống đối
từ phía quần chúng th́ chính quyền Mỹ cần phải
giải quyết vấn đề người Mỹ mất
tích tại Đông Dương. Đó là lư do tại sao có
sự thành lập của Uỷ Ban Đặc Nhiệm...
Mặc
dù sự kiện này đă xăy ra cách đây hơn một
thập niên, nhưng giá trị lịch sử của nó rất
quan trọng và để quư bạn đọc nắm rơ hơn
những diễn tiến bên trong cũng như kết luận
của Uỷ Ban như thế nào, cùng với ảnh
hưởng của nó đến tiến tŕnh bang giao giữa
Hoa Kỳ - Hà Nội ra sao, anh Nguyễn Phương Minh
đă trực tiếp nói chuyện với ông Sedgewick
Toursiron. Tưởng cũng nên biết thêm là ông
Tourison nói và viết rất thạo tiếng Việt, và buổi
nói chuyện dưới đây hoàn toàn bằng tiếng
Việt.
Nguyễn
Phương Minh:
Ông có thể vắn tắt cho chúng tôi biết Uỷ Ban
Điều Tra Tù Binh Mỹ Mất Tích được thành
lập vào lúc nào, và những thành phần làm việc
trong Uỷ Ban gồm có những ai
?
Sedgewick
Tourison: Nói
chung th́ Uỷ Ban Thượng Nghị Viện Đặc
Trách về việc t́m hiểu người Hoa Kỳ mất
tích tại Đông Dương đă ra đời từ
tháng 08 năm 1991. Người vận động ra Uỷ
Ban này là thượng nghị sĩ Bob Smith, đảng Cộng
Hoà của tiểu bang New Hamsphire. Ông Smith có kêu gọi Rule
Committe - Uỷ Ban của Thượng Nghị Viện đặc
trách vấn đề lập ra những Uỷ Ban như là
Uỷ Ban điều tra. Thành ra, tháng 08, 1991 Uỷ Ban Thượng
Nghị Viện quyết định cho phép được
xây dựng một Uỷ Ban đặc biệt có nhiệm
vụ t́m hiểu về người Hoa Kỳ vẫn c̣n
ghi nhận là mất tích tại Đông Dương. Thông
thường những Uỷ Ban khác của Thượng
nghi. Viện cũng như Hạ nghi. Viện nó chia nhân viên
tuỳ theo đảng nào là chính trong thượng nghị
viện và hạ nghị viện. Theo lẽ thường
th́ mỗi Uỷ Ban có 12 ông, và 2 người không có quyền
bỏ phiếu - hai người này chính là hai người
đứng đầu trong Uỷ Ban và là đại diện
của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà trong quốc
hội. Nhưng trong các Uỷ Ban đặc biệt, nhất
là Uỷ Ban đặc trách về tù binh mất tích tại
Đông Nam Á th́ họ không chia 7 và 5, mà họ chia 6, 6. Như
vậy, quyết định phải là quyết định
chung, không có một quyết định riêng của đảng
Dân Chủ, hoặc là quyết định riêng của
đảng Cộng Hoà. V́ thông thường khi các Uỷ
Ban đặc biệt này ra các báo cáo cho thượng nghị
viện, hoặc hạ nghị viện th́ nó có hai ư kiến:
ư kiến của đảng chính và ư kiến của
đảng phụ. Nhưng mà Uỷ Ban đặc biệt
mà tôi phục vụ lúc đó, th́ ông chủ tịch lúc
đầu có nói rằng ông sẽ tham gia vào làm việc với
điều kiện là phải chia 6, 6. Nghĩa là 6 người
bên đảng Dân Chủ và 6 người bên đảng
Cộng Hoà.
Trong
Uỷ Ban đặc trách về tù binh Mỹ, mặc dù nó
chia 6 với 6, nhưng v́ lúc đó Đảng Dân Chủ
nắm đa số trong thượng nghị viện, thành
ra chủ tịch được trao cho người của
đảng Dân Chủ, Cộng Hoà th́ làm phó chủ tịch.
Nói về thành phần tham dự trong Uỷ Ban th́ có ông
John Kerry, một cựu chiến binh hải quân đă từng
tham chiến tại Việt Nam. Ông phục vụ tại vùng
bốn chiến thuật, và bị thương hai lần.
Sau khi từ Việt Nam trở về, ông phản đối
chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam, và tham gia vào
với các thành phần cựu chiến binh phản chiến.
Ông khá nổi tiếng v́ ông xuống toà bạch ốc, lấy
tất cả huy chương của ông và ném qua bức tường.
Đấy là một h́nh thức mà ông Kerry phản đối
việc Hoa Kỳ tham gia vào chiến tranh Việt Nam. Sau này
ông đi làm những công tác chính trị ở bên tiểu
bang Massachusetts. Về phía phó chủ tịch th́ có ông thượng
nghị sĩ Bob Smith. Trước kia ông ở bên hạ
nghị viện. Tôi có quen biết với ông ta trong lúc tôi
c̣n làm việc cho sở t́nh báo quốc pḥng, v́ lúc đó
ông hay trách bộ quốc pḥng là ông có bằng cớ cho
biết người Hoa Kỳ vẫn c̣n bị nhốt làm
tù binh tại Đông Dương. Ông hoạt động
khá mạnh từ năm 1981. Những nghị sĩ khác thạm
dự lúc đó đa số là cựu chiến binh chẳng
hạn như ông nghị sĩ Bob Kerrey. Ông nghị sĩ
Kerrey có anh dũng bội tinh của Hoa Kỳ, tức là
Medal Of Honor là huy chương cao nhất trong quân đội.
Ông bị cụt mất một chân tại Việt Nam.
Trong các nghị sĩ của Uỷ Ban chỉ có một bà
là bà nghị sĩ Nancy Kassebaum. Bà Kassebaum bên đảng Cộng
Hoà. Bà là một người rất tốt, rất thông
minh. Mặc dù không phải là một cựu chiến binh,
nhưng căn cứ vào những câu hỏi bà nêu lên trong
những buổi họp tại Washington đă chứng tỏ
rằng bà hiểu rất nhiều về tù binh Mỹ mất
tích tại Đông Nam Á. Có một số người khác
chẳng hạn như ông nghị sĩ Robb của tiểu
bang Virginia; ông là con rễ của cựu tổng thống
Johnson. Một người khác được coi như là
rất bảo thủ lúc đó trong đảng Cộng Hoà
là ông Jessy Helms của tiểu bang North Carolina. Ngoài ra c̣n có
Thượng nghị sĩ Grassley của tiểu bang Iowa; ông
Tom Mc Cain thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng
Hoà của tiểu bang Arizona. Ông Mc Cain là con trai của Tổng
Tư Lệnh Thái B́nh Dương trong thời chiến
tranh Việt Nam. Admiral Mc Cain nắm quyền tư lệnh
Thái B́nh Dương trong lúc con trai ông là sĩ quan không quân
bị bắn rơi tại Hà Nội và nhốt ở Hoa?
Ḷ, bị tra tấn cũng khá nhiều. Trong 12 nhân viên của
Uỷ Ban, chỉ có 2 người không phải là cựu
chiến binh từ cuộc chiến Đông Dương, hay
Đệ Nhị Thế Chiến.
N.P.M:
Ḿnh hơi nhảy vọt ở đây một tí đi Wick.
Theo ông th́ cái kết luận của Uỷ Ban đưa ra
là ǵ?
W.T.:
Nói chung, từ khi Uỷ Ban ra đời, nó phải
đóng góp ư kiến vào ba vấn đề chính: thứ
nhất, có người Mỹ bị bỏ lại tại
Việt Nam sau ngày 1 tháng 04 1973 hay không? (thời điểm
trao trả tù binh giữa hai bên); thứ hai, chính phủ thật
sự có biết người Mỹ bị giữ lại
hay không? và có hành động dấu diếm sự sống
c̣n của họ hay không? thứ ba, hiện giờ có người
Mỹ bị nhốt tại Đông Dương không?
Trong
cuộc họp vào hai ngày 24, và 25 tháng 06, 1992, biết bao
nhiêu nhân vật kể cả cựu tổng tham mưu trưởng
quân lực Hoa Kỳ, như Admiral Moore và một số người
khác th́ không có cái chuyện người ta biết có tù
binh hăy c̣n sinh sống sau ngày 1 tháng 04, 1973; cũng không có
cái chuyện che đậy, hoặc dấu diếm sự sống
c̣n của tù binh Mỹ tại Đông Dương.
Từ cuối năm 1991 đến năm 1992, có một
số người đến tŕnh bày trước quốc
hội, và đă được điều tra viên phỏng
vấn, họ đóng góp ư kiến rằng hăy c̣n người
Mỹ bị nhốt tại Việt Nam, hoặc tại Lào,
hoặc tại Cam Pu Chia.
Nhưng vấn đề chứng cớ cụ thể th́
coi như không có bằng chứng nào chắc chắn, chỉ
có những nguồn tin hoặc báo cáo từ các viên chức
của Hà Nội, hay từ một số người Việt
tỵ nạn. C̣n có một số nguồn tin khác từ
phiá các viên chức Hoa Kỳ, họ góp ư kiến rằng
họ thấy tài liệu, các báo cáo, hoặc họ nghe trộm
những bức điện của quân đội nhân dân
chứng tỏ rằng Hà Nội vẫn c̣n giữ tù binh
và hiện c̣n sống ở Việt Nam, hay ở Lào, hoặc
họ đă bị chuyển về Nga Sô trước hoặc
sau hiệp định Ba Lê. Như vậy từ khi Uỷ
Ban bắt đầu làm việc, tức là tháng 10 1991, cho
đến khi báo cáo hoàn tất của Uỷ Ban được
đệ tŕnh lên thượng nghị viện vào ngày 12
tháng 01, 1993. Tôi có xem qua bản sơ thảo vào ngày mùng
5 tháng 01, 1993, sau đó có sửa chữa thêm một hai lần
thôi, nhưng mà những sửa chữa này nói chung chỉ
là thêm vào cái này, bớt đi cái kia. Có một vài nhà báo
Hoa Kỳ phê b́nh công tác của Uỷ Ban, chẳng hạn
như là phía đảng cộng hoà, lúc đó họ muốn
ủng hộ ông Kissinger, nên có một vài người làm
việc trong Uỷ Ban đă cung cấp cho ông ta các chương
nói về hiệp định Ba Lê, mà trong đó đă chửi
ông Kissinger rất nhiều. Sau khi đọc xong, ông
Kissinger có nhờ luật sư đến nói chuyện với
5 thượng nghị sĩ trong Uỷ Ban, và cho rằng những
ǵ viết về ổng không tốt, và ông yêu cầu xét
lại. Một vài điểm khác đă được bỏ
đi rất nhiều trong lúc làm bản báo cáo cuối cùng,
chẳng hạn như trong đó có nói tới một số
công tác t́nh báo Hà Nội tung ra những tin tức giả
về vấn đề thẻ bài, hài cốt..v.v..
N.P.M:
Ông có biết tại sao họ bớt không?
W.T: Họ bớt v́ lư do thế này: đây là quá
tŕnh đem ra bản báo cáo cuối cùng, nên cần phải
có đủ 12 chữ kư của 12 thượng nghị sĩ
trong Uỷ Ban, nhưng mà họ phải tất cả hoàn
toàn đồng ư th́ mới chịu kư. Mặc dù báo cáo
cuối cùng của Uỷ Ban có một vài thay đổi
liên quan đến Kissinger, nhưng sự thay đổi này
là chỉ bớt đi những cái kém cơi của Kissinger
trên mặt h́nh thức hơn là nội dung. Bớt đi
một phần về công tác t́nh báo nước ngoài của
Tổng Cục An Ninh Hà Nội, mất một phần về
những báo cáo giả mạo của bà Lê Thị Anh, công
tác của Hội Đồng Thân Nhân Hoa Kỳ của bà
quản đốc Griffin. Trong bản thảo trước
khi cho ra bản báo cáo cuối cùng, chúng tôi có phê b́nh rất
nặng Hội Đồng Thân Nhân Hoa Kỳ mất tích tại
Đông Nam Á, nhất là vai tṛ của bà quản đốc
đă ủng hộ, xây dựng những hệ thống vận
động lấy tiền, gửi từ New York về
Bangkok để nuôi kháng chiến quân của Lào lúc đó.
Chúng tôi cho rằng việc đó không tốt, v́ một
người như bà đă xử dụng vị trí của
bà để gửi tiền về nuôi kháng chiến quân.
Chúng tôi không xác định tất cả là bao nhiên tiền,
nhưng ít nhất là trên $200 ngàn Mỹ Kim đă gởi về
Thái Lan trong khoảng thời gian từ năm 1982. Mặc dù
trong bản báo cáo cuối cùng phần đó bị bỏ
đi, nhưng những tài liệu gốc th́ chúng tôi
đă gửi đi cho National Archive để tất cả
mọi người được xem. Như vậy những
phần bị mất đi là những phần liên quan
đến chính trị mà thôi.
Theo
tôi biết th́ cảm nghĩ cuối cùng của các thượng
nghị sĩ trong Uỷ Ban là không có chứng cớ chắc
chắn hiện c̣n có người Hoa Kỳ sinh sống tại
Đông Dương. Đưa đến một kết luận
như vậy rất có ư nghĩa, nhất là đối với
ông phó chủ tịch, v́ chính ông phó đă hoạt động
8 năm trời ṛng ră kêu người Hoa Kỳ vẫn
c̣n bị nhốt tại Việt Nam. Ông nói rằng ngay phía
dưới cái ḥm ướp xác của HCM ở Hà Nội
có hầm nhốt tù binh Mỹ. Ổng cũng nói là ở
Hạ Lào, khu Đầm Nứa vẫn c̣n tù binh bị nhốt.
Nhưng mà chẳng thấy có ai.
N.P.M: Trong ba vấn đề lúc năy mà ông nhắc tới
th́ kết luận của Uỷ Ban là không có tù binh Mỹ
sống sót sau năm 73 nữa!
W.T.:
Không! Nói tới thời điểm khi nộp bản báo
cáo vào ngày 12 tháng 01, 1993 th́ không có chứng cớ chắc
chắn có người Hoa Kỳ bị nhốt tại
Đông Dương. Nhưng nói tới năm 1973 th́ là
chuyện khác, có rất nhiều vấn đề.
N.P.M:
Vậy Uỷ Ban có đưa ra kết luận nào để
trả lời vấn đề thứ nhất mà lúc năy
ông đă nêu ra không?
W.T.:
Về vấn đề thứ nhất, Uỷ Ban đă
đưa ra một kết luận không nói dứt khoát là
có hay không. Nhưng mà nếu có th́ không ai c̣n sinh sống.
Câu hỏi thứ nhất đưa đến một kết
luận rất khó mà trả lời, v́ sau khi kư kết hiệp
định đ́nh chiến tại Ba Lê ngày 27 tháng 01 1973
th́ phía Hà Nội đă trả về tất cả 5 trăm
sáu mươi mấy quân nhân Hoa Kỳ, công thêm một số
người Mỹ dân sự. Riêng về phía Hoa Kỳ th́
đến ngày 28 tháng 03, 1973, ông tướng Trần Văn
Trà gặp đại diện của Hoa Kỳ tại Saigon
cho biết rằng có một đại uư hăy c̣n bị nhốt
trong địa phận tỉnh Vĩnh B́nh, đă không có
tên trong danh sách của những người không được
trao trả. Vị đại uư đó tên là Captain Robert
White. Ông White được trao trả từ tỉnh Vĩnh
B́nh vào ngày mùng 01 tháng 04, 1973. Theo đại diện của
chính phu? Lâm Thời, và của Hà Nội th́ họ không c̣n
giữ một người Hoa Kỳ nào nữa tại Việt
Nam. Cũng theo họ th́ không có người Hoa Kỳ bị
nhốt tại Kam Pu Chia. Riêng về phiá Lào th́ là chuyện
giữa ông Kissinger và đại diện phiá Hà Nội, Hà
Nội nói rằng đồng ư giúp đỡ giải quyết
vấn đề bên Lào. Nhưng thật ra mà nói th́ 80% những
người bị mất tích tại Lào đều nằm
trong địa phận tác chiến và hậu cần của
bộ đội Hà Nội. Đến thời điểm
chúng tôi nộp bản báo cáo th́ họ đă không giải
quyết một cái ǵ hết.
Nói chung mặc dù Hà Nội nói rằng là không có một
người Mỹ bị nhốt kể sau ngày 1 tháng 04
1973, nhưng chúng tôi biết ít nhất là có hai người.
Vậy họ là hàng binh hay là tù binh? Cái đó cho đến
nay hăy c̣n trong ṿng bàn căi.
N.P.M:
Hai người đó có sống sót trở về Mỹ
được không?
W.T.:
Một người được về. Đó là ông
binh nhất Robert Gardwood của Thuỷ Quân Lục Chiến.
Theo tư liệu của Thuỷ Quân Lục Chiến ghi nhận
th́ ông là tù binh. Nhưng thái độ của ông là thái
độ hàng binh. Ông bị nhốt ở quân khu 5 cho
đến cuối năm 1969, ông được cán bộ
trại tù quân khu 5 dẫn ra Bắc. Đến muà Xuân
1979, ông xin được về Hoa Kỳ. Theo tài liệu
của tôi t́m thấy trong hồ sơ ở bên Thuỷ Quân
Lục Chiến th́ Thuỷ Quân Lục Chiến có ghi nhận
có hai người cùng về, h́nh như là hàng binh, và một
người đă chết rồi. Sau khi về đến
Mỹ, ông Gardwood phải ra trước toà án quân sự của
Thuỷ Quân Lục Chiến, và ông bị can tội hợp
tác với địch quân trong thời chiến tranh , và ông
bị đuổi ra khỏi binh chủng, nhưng không bị
ở tù. Trong thời gian ở Việt Nam, ông có tên là
Nguyễn Việt Nam, hay Nguyễn Văn Nam và là cán bộ
trại 776 ngoài Yên Báy, nơi nhốt những sĩ quan Việt
Nam Cộng Hoà. Nhiệm vụ của ông là cán bộ
đặc trách chiếu phim hoặc sửa chửa
đường giây điện thoại, và cùng với một
người Thái Lan lo lái xe tiếp vận từ liên trại
1, đoàn 776 từ Yên Báy chạy xuống Gia Lâm và Hà Nội
để lấy hàng đem về cho liên trại 1. Thành
ra có thể có một số người cho rằng ông ta
là cán bộ trại, có tiền phụ cấp.
N.P.M:
Vậy vấn đề thứ nhất c̣n tranh tối,
tranh sáng. Vấn đề thứ nh́ và thứ ba th́ coi như
đă giải quyết xong.
W.T.:
Đúng rồi. Vấn đề thứ nhất có rất
nhiều vấn đề. Chúng tôi t́m thấy rất nhiều
tài liệu trong kho hồ sơ mật của sơ? T́nh Báo
Quốc Pḥng chứng tỏ rằng sau khi vi. Đại Uư
Lục Quân cuối cùng được trao trả th́ bô.
Quốc Pḥng quyết định coi như không c̣n lo cho những
người chưa được giải quyết. Chẳng
hạn như máy bay trinh sát, những h́nh ảnh do vệ
tinh chụp được, những vụ nghe trộm
đường giây liên lạc, cũng như những công
tác đặc t́nh th́ đến năm 1975 coi như xong hết.
Không c̣n lo một cái ǵ nữa về Đông Dương,
nhất là về tù binh. Như vậy nếu mạng lưới
t́nh báo của Bộ Quốc Pḥng bị dẹp hết th́
coi như tin nó không c̣n vô nữa. Người sưu tầm
nếu không có tin tức th́ họ sẽ nói là chúng tôi
không có tin. Khi mà khả năng sưu tập tin tức không
c̣n th́ lẽ dĩ nhiên những người nghiên cứu
tham khảo về tin tức sẽ không có tin để
nghiên cứu nữa. Đại sứ Hoa Kỳ tại Thái
Lan năm 1975 quyết định không tổ chức những
mạng lưới đặc t́nh từ căn cứ Thái
Lan. Năm 75, các mạng lưới đặc t́nh của
Lục Quân, Không Quân, Hải Quân phải ngừng hoàn toàn
100%. Từ năm 1973 trở đi th́ mạng lưới t́nh
báo Hoa Kỳ ở miền Nam, ở Lào, ở Kam Pu Chia,
ở Thái Lan, đều tập trung ủng hộ cho các
nhu cầu đ̣i hỏi tác chiến tại Đông Dương.
Tuỳ theo t́nh h́nh ở mỗi nơi mà nhu cầu đặc
t́nh tăng hay giăm. Chẳng hạn như ở Lào, đ́nh
chiến vào ngày 21 tháng 02 1973, sau đó công tác đặc
t́nh không được làm trong hậu phương của
Pathet Lào. Ở Kam Pu Chia th́ rất lộn xộn, nhưng
từ tháng 08, 1973, Hoa Kỳ ngưng oanh tạc ở Kam Pu
Chia.
Sau
ngày 1 tháng 04, 1973 có tất cả 82 người mà chúng tôi
ghi nhận bị bắt tù binh. Sau khi chúng tôi khai thác các
tù binh được trao trả th́ chúng tôi biết đại
đa số đă chết trong tù. Về phía Hà Nội cũng
như về phiá chính phu? Lâm Thời, họ có cung cấp
cho chúng tôi một số danh sách của những người
chết trong tù, nhưng khi chúng tôi đ̣i hỏi chứng
cớ cụ thể về cái chết của những người
này th́ họ không cung cấp cái ǵ hết. Cho đến
thời điểm 1993 khi bản báo cáo được nộp
lên th́ có tất cả 55 quân nhân chết trong tù mà
chúng tôi chưa có thi hài của họ. Đầu tháng 04
năm 1973, cựu tổng thống Nixon cho biết rằng
tất cả những tù binh Hoa Kỳ đă được
trao trả rồi, chuyện đó không đúng, hoàn toàn là
sai. Lúc đó chúng tôi có danh sách của 130 người
đă bị bắt tù binh, h́nh như đại đa số
đă chết ở tù, nhưng tôi nghi là không có chắc
chắn, nhất là đối với thành phần dân sự.
N.P.M:
Nói về vấn đề không trao trả hài cốt, qua
những chuyến viếng thăm Việt Nam trước
thời kỳ bang giao của các phái đoàn Hoa Kỳ, thái
độ của Hà Nội lúc đó như thế nào? Cái
tôi vẫn không hiểu là Hà Nội xử dụng những
thi hài đó để mặc cả cái ǵ chứ?
W.T.:
Nói chung, thái đô. Hà Nội có thay đổi hơn trước.
Họ thay đổi dần dần bắt đầu từ
năm 1987 lúc ông tổng tham mưu trưởng John Vessey
qua Hà Nội. Lúc đó Hà Nội đă gặp nhiều khó
khăn v́ việntrợ của Nga Xô đă bắt đầu
giảm bớt. Nói trắng ra là thay đổi từ năm
1985 theo một số tin tức riêng mà tôi biết, v́ từ
năm 85 viện trợ của Nga cắt giảm 10% hàng năm
đối với mỗi xứ trong vùng Đông Dương.
Năm
1986, ông cựu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ
Thạch tuyên bố là Hà Nội muốn giải quyết
vấn đề tù binh Mỹ mất tích tại Đông Dương
trong ṿng 2 năm. Tuyên bố xong rồi th́ chẳng có làm
ǵ hết. Mồm nói thôi, thái độ có thay đổi,
nhưng chỉ thay đổi sau khi Liên Xô giăm bớt viện
trợ.
N.P.M:
Theo ông vừa mới tŕnh bày ở trên th́ c̣n ở thời
điểm khi bản báo cáo của Uỷ Ban Đặc
Nhiệm hoàn tất th́ hăy c̣n 100 hài cốt chưa trả?
W.T.:
55 người ghi nhận là tù binh, đại đa số
ghi nhận là mất ở trong miền Nam. Và nhất là
đối với thành phần dân sự th́ hài cốt chưa
được trao trả.
Theo báo cáo của Bộ Quốc Pḥng lúc đó là Bộ
có chứng cớ cụ thể Hà Nội có chương
tŕnh thu lượm hài cốt v́ chúng tôi đă đem những
hài cốt về Hạ Uy Di cho cơ quan thí nghiệm xem xét.
Sau khi giảo nghiệm họ có chứng cớ cụ thể
là trên 150 bộ hài cốt được bảo quản
rơ ràng. Tức là đă đào lên lâu rồi và cất
ở trong kho. Cái đó là chứng cớ cụ thể mà.
Theo những điều tra viên của Bộ Quốc Pḥng
qua Việt Nam thời ấy về cho biết th́ đại
đa số hài cốt ở ngoài miền Bắc trong thời
chiến tranh do người dân t́m được đem
đi chôn. Khoảng năm 1973, có những thành phần của
cơ quan t́nh báo phối hợp với cán bộ địa
phương để đào t́m những hài cốt rồi
đem đi đâu không biết. Lúc đó có rất nhiều
sĩ quan t́nh báo nghĩ rằng phía Hà Nội vẫn c̣n
giam giữ một số hài cốt mà không chịu trao trả.
N.P.M:
Lúc đó họ có đưa ra một giả thuyết nào
để giải nghĩa tại sao Hà Nội lại làm
thế hay không?
W.T:
Ông cựu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ
Thạch có nói rằng Trung Ương gặp rất nhiều
khó khăn v́ dân chúng miền Nam không theo lệnh của Hà
Nội, v́ dân chúng muốn buôn bán hài cốt của Mỹ
để họ có ưu tiên được sang đây.
Ở trong Nam, rất nhiều dân địa phương
đi t́m hài cốt, đào lên rồi bán lẫn nhau. Do
đó chính phủ trung ương Hà Nội đang gặp
rất nhiều khó khăn trong lúc chỉ thị địa
phương đi gom lại thi hài của những người
c̣n ghi nhận là mất tích. Do đó Hà Nội không thể
đáp ứng được nguyện vọng của
Washington. Ông Thạch tuyên bố như vậy là hoàn toàn
sai. Câu tuyên bố này là câu tuyên bố chứa đựng
nhiều chính trị, v́ Hà Nội nó muốn làm chậm
đi thôi. Nó muốn đổ lổi cho vụ buôn bán hài
cốt lên đầu của dân chúng miền Nam chứ nó
không có muốn làm như vậy. Thực chất không phải
như vậy đâu. Chúng tôi có chứng cớ cụ thể
đại đa số hài cốt của Hoa Kỳ mất
tích tại Đông Dương. Nếu xác chết đó c̣n
nguyên vẹn th́ bộ đội đă chôn tại chổ,
và vào khoảng thời gian năm 1973, hay là năm 1975, hay
là đầu năm 1980 th́ đại diện của Bộ
Quốc Pḥng hay của Bộ Nội Vụ đào lên rồi
gửi đi cấp trên, chứ không phải dân chúng miền
Nam người ta đào lên để buôn bán đâu. Chúng
tôi có chứng cớ cụ thể Cục Quân Đội
Nhân Dân muốn bán hài cốt. Vậy để làm cái ǵ?
Là để kiếm tiền! Vấn đề buôn bán hài
cốt, thẻ bài và công tác t́nh báo của Hà Nội bắt
đầu thực hiện từ cuối năm 1978. Gửi
những tin tức về tù binh c̣n sống sót tại Việt
Nam, những thẻ bài ra ngoài là âm mưu của bọn t́nh
báo Hà Nội. Bọn họ chuyển những tin tức này
qua trung gian của một số tổ chức kháng chiến.
Tổ chức của Hoàng Cơ Minh đă gửi những
tin tức giả mạo. Tổ chức của Lê Quốc
Tuư có gửi những tin tức giả mạo về người
Hoa Kỳ c̣n sinh sống tại Việt Nam. Chủ chốt
về những tin tức giả mạo là từ gia đ́nh
Nosavan bên Thái Lan, nằm trong kế hoạch của cục
t́nh báo Lào. Khi tin qua tới bên này, sẽ có người
qua đó t́m và họ sẽ giăng bẩy để bắt
những người này tại chổ. Chúng tôi có chứng
cớ này rơ ràng, nhưng mà trong nội dung của bản
báo cáo cuối cùng của Uỷ Ban Điều Tra Đặc
Nhiệm của Thượng Nghị Viện th́ không có nói
nhiều về vấn đề này. Nhưng tất cả
những chứng cớ cụ thể đă được
gởi đi National Archive để người ta có thể
tham khảo. Chẳng hạn như những bức h́nh
photo ra đời tại Mỹ này vào mùa Xuân 1991, toàn là
giả mạo. H́nh của 3 người tù binh Mỹ chụp
tại Kam Pu Chia năm 1990, thật ra là một h́nh chụp
trong tạp chí Nga Xô được xuất bản tại
Kam Pu Chia.
N.P.M:
Lúc năy ông có nhắc tới Kissinger. Trên tờ báo LA Times,
Kissinger có nói rằng ông đă làm tất cả những
ǵ có thể làm được trong thời gian đó rồi.
Wick nghĩ thế nào về câu phát biểu này?
W.T.:
Tôi có mặt trong buổi họp của Uỷ Ban khi ông
Kissinger ra trước Uỷ Ban để điều trần.
Ông Kissinger bảo rằng nói chuyện với phía đại
diện Hà Nội khó quá, trả giá với bọn Hà Nội
này khó quá. Ổng nói mệt quá, chưa bao giờ từng
gặp người nào mà khó như cái bọn Hà Nội này.
Ông cho rằng cái vụ oanh tạc Hà Nội 12 ngày đă
là một vụ quyết liệt để bắt Hà Nội
ra thực hiện hiệp định Ba Lê. Cái đó có thể
đúng một phần, thế nhưng theo cảm nghĩ của
đại đa số những người nghiên cứu sâu
vào những tài liệu được Toà Bạch Ốc
cung cấp cho chúng tôi về những cuộc hội đàm
mật của ông Kissinger, th́ ông Kissinger cũng như là một
số cán bộ ngoại giao khác tập trung nhiều về
h́nh thức hơn là về nội dung. Chẳng hạn như
là về vấn đề tù binh th́ theo các tài liệu tối
mật của Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ vào khoảng
từ thời gian từ năm 1969 đến năm 1972 th́
cảm tưởng chung của Bộ Tư Lệnh Thái B́nh
Dương, bô. Tư Lệnh Mac Vie trong miền Nam là Hà Nội
nó muốn làm sao phải đẩy quân đội Mỹ
rút ra khỏi vùng Đông Dương cho đến khi người
lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam rồi nó
mới chịu thả tù binh Hoa Kỳ. Họ chỉ muốn
như vậy thôi. Chúng tôi có nhận được báo cáo
của ông phó ngoại giao của Kissinger là ông đại
sứ Sullivan. Ông đă làm báo cáo cho Bộ Tổng Tham Mưu
Hoa Kỳ vào mùa hè 1972, và theo kết luận của ông ta
th́ Hà Nội sẽ không giải quyết vấn đề
tù binh cho đến khi nào quân Hoa Kỳ ra khỏi Đông
Dương, và cũng theo ông Sullivan th́ sau khi quân Mỹ rút
th́ Hà Nội sẽ tổng tấn công để chiếm
trọn miền Nam. Th́ đúng như vậy thôi. Tất cả
những khó khăn c̣n kéo dài cho tới ngày chúng tôi làm
việc cho Uỷ Ban Đặc Nhiệm, không phải tại
v́ h́nh thức của hiệp định Ba Lê mà là v́ nội
dung. Tính trước như thế mà không chịu giải
quyết ngay nên đă để nó kéo dài cho tới ngày hôm
nay.
N.P.M: Như vậy hiệp định Ba Lê không hoàn
chỉnh?
W.T:
Nội dung của nó th́ không. Theo cảm nghĩ của tôi
th́ ông Kissinger chỉ lo về h́nh thức chứ không phải
lo về nội dung. Chúng tôi có rất nhiều kinh nghiệm
từ trận chiến ở Cao Ly, kinh nghiệm học
được từ người Pháp, và chúng tôi biết
sẽ gặp nhiều khó khăn dựa vào những kinh
nghiệm đó, vậy mà ông Kissinger không có một biện
pháp nào để giải quyết vấn đề này.
Con số Zero hoàn toàn. Ông Kissinger cho rằng tất cả
những khó khăn đều do Hà Nội gây ra và ông hoàn
toàn đổ lổi cho họ là không thực hiện
đúng nội dung hiệp định Ba Lê. Tôi đồng
ư với ông Kissinger là Hà Nội cũng có vai tṛ quyết
định, v́ nếu họ giải quyết hoàn toàn th́
coi như chuyện này đă xong xuôi rồi. Nhưng cái dở
của Kissinger là không t́m được biện pháp để
giải quyết nó sớm hơn.
N.P.M:
Trong báo cáo cuối cùng của Uỷ Ban có chỉ trích gay
gắt hai người là bà Lê Thị Anh và Việt Định
Phương, Wick có thể nói thêm về trường hợp
này không?
W.T:
Vào cuối tháng 12 1992, Uỷ Ban chúng tôi có hỏi Sở
T́nh Báo Quốc Pḥng là những báo cáo của một số
người về tù binh Mỹ mất tích và thẻ bài có
thể tin được hay không, nhất là báo cáo của
hai người là Lê Thị Anh và Việt Định Phương.
Theo Bộ Quốc Pḥng báo cáo lại cho Uỷ Ban chúng tôi
th́ họ t́m thấy được trên 50 bản báo cáo
của bà Lê Thị Anh, c̣n một ít th́ của Việt
Định Phương. Những báo cáo trong những năm
gần năm 1992 th́ không có một báo cáo nào thật. Bà
Lê Thị Anh bị hội đồng gia đ́nh người
Mỹ mất tích tại Đông Nam Á phê b́nh vào mùa hè năm
1984 là một trong những người cung cấp tin tức
giả mạo nhiều hơn tất cả những người
khác. Đó là kết luận của Hội Đồng Gia
Đ́nh Người Mỹ Mất Tích căn cứ vào tin
tức của Bộ Quốc Pḥng. Đa số 50 báo cáo bên
bộ quốc pḥng cung cấp cho chúng tôi đều là những
báo cáo về sau này. Theo các biên tập viên của tờ
The Soldier of Fortune th́ năm 1981 họ có gặp bà Lê Thị
Anh bên Thái Lan, và bà Anh có cung cấp cho họ một số
tin tức bên Lào, nhưng hoàn toàn là giả mạo. Cho
đến năm 1991, bà Anh vẫn c̣n cho rằng có một
nhóm người Mỹ trốn đơn vị hiện
đang sống ở miền Trung, và bà có nhờ bao nhiêu
người đi t́m số người này, nhưng tất
cả điều này là tầm bậy. Tất cả những
tài liệu mà bà Lê Thị Anh và Việt Định Phương
gởi cho chúng tôi, chúng tôi đă chuyển hết qua
National Archive rồi. Ai muốn xem th́ tới đó mà xem.
N.P.M:
Khuynh hướng về phía chính quyền Mỹ lúc đó
là muốn bang giao với Việt Nam, nhưng có phải v́
thái độ cù cưa của Hà Nội mà tiến tŕnh này
chậm lại không?
W.T: Không! Đây là trách nhiệm của đôi bên.
Ở phía Mỹ, lúc đó là do toà Bạch Ốc, nhất
là Uỷ Ban An Ninh Quốc Gia ủng hộ kháng chiến quân,
cùng thời gian xử dụng một số tổ chức
Gia Đ́nh Tù Binh để vận động tiền, hay
là nhờ tổ chức của họ gởi tiền về
Thái Lan để nuôi kháng chiến quân Lào. Đó là một
sai lầm về chiến lược thời đó. Nếu
cá nhân tôi là một sĩ quan t́nh báo của Hà Nội th́
làm sao tôi có thể tin vào động cơ thúc đẩy
Mỹ t́m tù binh là hoàn toàn nằm trong vấn đề
nhân đạo, trong khi đó lại đi làm công tác chính
trị là ủng hộ kháng chiến. Cái đó là một
sai lầm của chính ông cụ trung tá... cùng với bà quản
đốc Griffins. Trước đó hai người này
đă nhờ những người bảo thủ giúp đỡ
chuyển tiền qua mạng lưới của họ, rồi
qua Thái Lan để giúp cho kháng chiến quân Lào. Chúng tôi
có những sai lầm về chiến lược, và sai lầm
này kéo dài đến giữa thập niên 80, và từ lúc
đó trở đi th́ bỏ. Tuy nhiên, vấn đề chính
ở đây vẫn là việc Hà Nội đă không thực
hiện đúng những ǵ họ kư.
Theo
những lời điều trần của các sĩ quan cấp
tướng trước Uỷ Ban th́ các thành phần cán
bộ trung cấp Hà Nội không tuân hành mệnh lệnh
của cấp trên để phối hợp toàn diện với
nhau. Chẳng hạn như mấy ông cấp tá sửa soạn
về hưu không c̣n có tiền nữa... Tất cả chỉ
toàn là tiền đấy!
N.P.M:
Điều này có giải nghĩa được là Hà Nội
không kiểm soát được các cấp ở giữa
không?
W.T.: Riêng về phía Việt Nam th́ cấp trung
ương rất vui vẽ và phấn khởi nói rằng
chúng tôi luôn luôn muốn phối hợp, các anh cứ qua
đây, muốn đi đâu th́ đâu. Nhưng thực sự
th́ trong lúc thực hiện, chúng tôi gặp các thành phần
trung cấp bảo rằng "dạ thưa chúng tôi không
có lệnh nè, không có chữ kư nè, không biết ở
đâu nè..."
N.P.M:
Thái độ này có phải là thái độ riêng của
trung cấp không thôi hay đây là sự phối hợp của
trên và dưới để tạo thái độ đó?
W.T.:
Tôi được xem tất cả các bản báo cáo của
các toán đi nghiên cứu những chổ rớt máy bay, nói
chung khi họ đi gặp dân chúng ở địa phương
như ở Sơn La, Lai Châu, Hà Nam Ninh, Yên Báy, Điện
Biên, th́ sự phối hợp rất tốt và rất chặc
chẽ mặc dù dân chúng địa phương biết rất
rơ các toán này chính là toán t́nh báo quốc pḥng của Mỹ
mà. Ở cấp trung ương, bọn chính trị cũng
có một thái độ rất muốn hợp tác, nhưng
mà các sĩ quan cấp tá, nhất là cái bọn t́nh báo là
khó khăn nhất. Cái khó khăn chính mà cả bô. Nội
Vụ và Quân đội chưa thể mở hết hồ
sơ về MIA cho người ta xem là v́ cơ quan t́nh báo
Hà Nội họ tưởng rằng họ hăy c̣n giữ
những tin tức này và cho ra từ từ càng chậm càng
tốt. Nói như vậy chứ bọn trung ương cũng
phải có trách nhiệm một phần đấy chứ.
N.P.M: Họ làm như thế có lợi ǵ chứ?
W.T:
Tiền!
N.P.M:
Nói trắng ra là họ muốn Hoa Kỳ trả tiền
cho những tin tức đó?
W.T.:
Không phải trả trực tiếp, mà là trả một
cách gián tiếp. Chẳng hạn như đi sang Việt
Nam, một phái đoàn đi xuống địa phương
th́ bên Hà Nội nó tính bao nhiêu là tiền, như là mua nước
ngọt cho họ, mua chè cho họ, mua bánh cho họ. Nội
tiền ăn bánh của họ trong một ngày thôi nó bằng
tiền lương tháng của một cô giáo Hà Nội
đấy. Đó chỉ là bánh ngọt ăn một ngày
thôi đấy! Chỉ cần bên tổng cục an ninh và
bộ nghiên cứu nó mở hồ sơ ra xem, chúng tôi sẽ
biết chắc chắn có ai bị nhốt sau tháng 04 1973
hay không, và chỉ cần 30 ngày là xong xuôi thôi. Tại sao
cho đến lúc Uỷ Ban Đặc Nhiệm hoàn tất
bản báo cáo chúng tôi vẫn chưa được xem bất
cứ nội dung của một hồ sơ nào của tù
binh cả.
Nếu
như mọi chuyện giải quyết trong ṿng 30 ngày th́
chuyện ǵ sẽ xăy ra? Có một ông sĩ quan t́nh báo bạn
của tôi từ thời c̣n làm việc ở địa
đạo Củ Chỉ, ông ta báo cáo với Uỷ Ban thế
này: Hà Nội muốn kéo dài thời gian để họ
có thể được tiền nhiều hơn. V́ nếu
việc này xong trong ṿng 30 ngày và các toán không trở lại
th́ tiền đâu? Tôi nghĩ là anh bạn tôi nói thật.
N.P.M:
Hiểu rồi. Cũng đă quá khuya rồi, cám ơn Wick
rất nhiều đă dành th́ giờ cho buổi nói chuyện
ngày hôm nay. Hy vọng sẽ có những dịp khác để
bàn luận nhiều hơn.
W.T:
Ồ không có chi.