|
Khi nào Trung Quốc
tấn công Việt Nam?
Trần Nam
Trở về từ Trung Quốc, sau khi tham dự Thế Vận Hội Bắc Kinh
2008, Tổng thống Hoa Kỳ George Bush đă phản đối mạnh mẽ
trước hành vi tấn công Georgia của Nga. Ông nói “Hoa Kỳ phản
đối hành động Nga xâm lăng Georgia, một quốc gia có chủ
quyền, dân chủ và là chính phủ hợp pháp do dân bầu”.
Sự kiện Nga tấn công nước láng giềng Georgia trong bối cảnh
hai nước tranh dành quyền lợi khí đốt và vị trí chiến lược
quân sự. Điều này cũng phản ảnh tương lai của quan hệ Trung
Quốc và Việt Nam. Không riêng ǵ thế giới chú tâm đến biến
cố Nga – Georgia , mà cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều rút ra
những bài học cho chính họ. Quan trọng nhất là phản ứng của
Hoa Kỳ trước sự kiện Nga đă mở một cuộc tấn công đẫm máu,
bất chấp dư luận thế giới, bỏ qua ảnh hưởng và vai tṛ của
Hoa Kỳ đối với đồng minh Georgia.
Nga tấn công Georgia không là điều bất ngờ v́ cả hai nước
đều có những bất hoà từ lâu, có những chỉ dấu cho thấy phải
giải quyết bằng chiến tranh. Chính v́ vậy mà Georgia đă t́m
mọi cách bám sát Hoa Kỳ để có chổ dựa về kinh tế và quân sự.
Phản ứng của Hoa Kỳ yếu ớt thấy rơ, nói cách khác vị trí của
Hoa Kỳ về mặt quân sự và sự ràng buộc của cơ chế dân chủ đă
không cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thể làm được điều ǵ
khác. Tất cả, phụ thuộc vào chính bản thân quốc gia đang
trong ṿng tranh chấp. Chính phủ và nhân dân của họ phải có
kế sách bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ trước viễn ảnh bị xâm
lăng, bị đe doạ mất chủ quyền v́ quốc pḥng yếu kém, không
có khả năng tự bảo vệ quốc gia của họ.
Năm 1979 khi Đặng Tiểu B́nh cho quân đội tràn qua các tỉnh
biên giới phiá Bắc để dạy cho Việt Nam một bài học, lănh đạo
đảng CSVN choáng váng v́ không đo lường được Bắc Kinh lại
quyết định cạn tàu ráo máng như vậy. Thủ tướng Phạm Văn Đồng
và Đại tướng Bộ trưởng Quốc pḥng Văn Tiến Dũng, lúc đó đang
c̣n ở Nam Vang đă vội vă bay về Hà Nội. Việt Nam hoàn toàn
bất ngờ.
Hiện nay, bài học lần thứ hai đă được Bắc Kinh cảnh báo
trước, lănh đạo Đảng CSVN phải ư thức được khả năng tấn công
lần thứ hai từ Trung Quốc có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tờ
báo Văn Hối ở Hồng Kông, một tờ báo được coi như cơ quan
ngôn luận bán chính thức của đảng CSTQ hôm 31 tháng 7 vừa
qua đă răn đe “Trung Quốc cần giảng cho Việt Nam một bài học
về thế nào là đồng thuận”, sau khi Việt Nam đă kư hợp đồng
với hăng dầu Exxon Mobil của Mỹ, tờ báo viết “Việt Nam muốn
thực hiện ước mơ khai thác dầu ở Nam Hải với sự giúp đỡ của
công ty Mỹ”. Trung Quốc cũng gián tiếp viết qua tờ Văn Hối
rằng “nếu có gây chiến với Trung Quốc th́ Việt Nam cũng hoàn
toàn không có lợi thế”, một cách ám chỉ khả năng quân sự quá
kém cỏi của Việt Nam đối với Trung Quốc. Qua nhiều ngơ từ
giới chức ngoại giao, Bắc Kinh đă đe dọa trả nếu hăng dầu Mỹ
Exxon Mobil cứ tiến hành kư kết với Việt Nam, khai thác dầu
dọc theo phía Trung Nam biển Nam Hải.
Không phải ngẫu nhiên mà qua cuộc viếng thăm Toà Bạch Ốc của
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên Việt- Mỹ đă ra thông cáo
chung, trong đó Mỹ “khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Hoa
Kỳ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn
lănh thổ của Việt Nam”.
|
 |
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng
Thống George Bush tại Nhà Trắng, 24 tháng 6,
2008 - Nguồn: White House |
Sau sự kiện Exxon, phát ngôn nhân Toà Bạch Ốc lên tiếng kêu
gọi Trung Quốc và Việt Nam nên giải quyết ôn hoà, tôn trọng
các nguyên tắc về lănh hải. Ngược lại, Việt Nam cũng bày tỏ
thái độ cứng rắn. Ông Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao
Việt Nam tuyên bố “Việt Nam kư kết với đối tác nước ngoài
nằm trong phạm vi chủ quyền của Việt Nam". Khác lần đụng độ
năm ngoái khi kư kết với hăng dầu BP của Anh Quốc, khai thác
khí đốt các địa điểm nằm quanh quần đảo Hoàng Sa. Trước áp
lực của Trung Quốc, hợp đồng gần 2 tỷ dollars phải hủy bỏ.
Việt Nam đă không dám tuyên bố bất cứ điều ǵ về biến cố
này.
Theo tiết lộ của giới chức ngoại giao cao cấp Hoa kỳ, kể từ
năm 2003, phiá Việt Nam đă bắn tiếng với Mỹ là họ lo sợ ảnh
hưởng bành trướng của Trung Quốc. Trong khi Mỹ đang bận rộn
với chiến tranh Iraq và Afghanistan th́ Trung Quốc đă từng
bước gia tăng ảnh hưởng chính trị, kinh tế và quân sự. Vũ
Khoan, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam, trong chuyến viếng
thăm Washington hồi tháng 12 năm 2003, đă thay mặt Bộ Chính
trị đảng CSVN chuyển thông điệp đến Hoa Kỳ qua cuộc họp với
Bộ trưởng Quốc Pḥng Mỹ Colin Powell và Cố vấn Hội đồng An
ninh Quốc gia, bà Condoleezza Rice. Sau cuộc trao đổi đó,
chính quyền Bush đă đưa vấn đề ảnh hưởng và quan hệ với
Trung Quốc lên hàng đầu trong sách lược ngoại giao của Mỹ ở
Châu Á.
Tháng 7 năm 2005 khi Thủ tướng Phan Văn Khải đến Hoa Thịnh
Đốn, ông Khải đă thay mặt Chính trị bộ CSVN đồng ư kư kết
bản thoả ước về giáo dục và huấn luyện quân sự
(International Military Education and Training – IMET). Đây
là một bước nhảy vọt quan hệ đến lănh vực tế nhị nhất, đó là
mặt quân sự. Bên cạnh thoả ước này, Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn
cũng đă đồng ư gia tăng trao đổi các lănh vực t́nh báo và
những vấn đề khác về an ninh. Bản thông cáo thể hiện sự quan
tâm của hai nước như “Tổng thống Hoa Kỳ và Thủ tướng Việt
Nam chia sẻ tầm nh́n về hoà b́nh, thịnh vượng và an ninh
trong vùng Đông Nam Á và Thái B́nh Dương và hai nước đồng ư
cộng tác đơn và đa phương để đạt được những mục tiêu này”.
Ngôn ngữ ngoại giao đề cập đến vùng Thái B́nh Dương và Đông
Nam Á được giới quan sát hiểu là ám chỉ đến quan tâm của Mỹ
và Việt Nam đối với vai tṛ của Trung Quốc.
Đầu tháng 4 năm 2007, Hoa Kỳ điều chỉnh lại các qui định về
vũ khí nhằm cho phép Việt Nam được nhận một số vũ khí mang
tính tự vệ. Trong khi đó, quỹ chi tiêu cho thoả ước (IMET) -
huấn luyện quân sự và giáo dục cho Việt Nam 2008, đệ
tŕnh lên quốc hội Hoa Kỳ đă lên đến con số 200 triệu mỹ
kim, tăng gấp đôi từ năm 2007. Thoả ước IMET kư năm 2005 là
một tiến bộ mang tính quyết định, làm đ̣n bẫy cho quan hệ
Mỹ- Việt đi đến chổ phối hợp tích cực về lănh vực quân sự.
Để đạt được việc kư kết, Hoa Kỳ và Việt Nam phải làm việc
gần hai năm trời, trước đó thoả ước đă bị chận lại bởi chính
những lảnh đạo đảng CSVN thân Trung Quốc nằm trong Bộ Quốc
Pḥng[1].
Sau chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 6
năm 2008, hàng loạt các tướng lănh có khuynh hướng thân
Trung Quốc đă bị cho về hưu. Trước sức ép, thái độ ngang
ngược và hiếu chiến của Trung Quốc, lănh đạo đảng CS Việt
Nam đứng ở ngă ba đường. Đi với Trung Quốc th́ bị mất chủ
quyền, quyền lợi kinh tế bị tước đoạt, lănh đạo bị mang
tiếng nhu nhược, bán nước. Áp lực nội bộ và sự phẫn nộ từ
nhân dân có khả năng đẩy đảng CSVN ra khỏi vai tṛ lịch sử.
Ḷng yêu nước của dân tộc Việt Nam chính là yếu tố mạnh mẽ
nhất, đem lại cho Đảng Cộng sản những chiến thắng qua hai
cuộc chiến chống Pháp và Mỹ. Cũng chính ḷng yêu nước này sẽ
là ngọn cờ chống lại đảng, khi đảng CSVN bị nhân dân coi là
thành phần bán nước, phản bội lại quyền lợi dân tộc. Ngược
lại, đến gần với Hoa Kỳ, trở thành một bộ phận trong chiến
lược be bờ của Mỹ th́ Hà Nội ngần ngại. Bên cạnh yếu tố có
thể làm cho Trung Quốc nổi giận, Hà Nội sợ mất quyền độc tôn
lănh đạo v́ ảnh hưởng của “diễn biến hoà b́nh”.
Trung quốc lo sợ Mỹ t́m cách ngăn chận sự trổi dậy của họ về
quyền lực ở Đông Nam Á, và đánh giá quan hệ của Mỹ với Nhật,
Ấn và Việt Nam như là những bước đi chiến lược nhằm làm yếu
và giảm ảnh hưởng của Trung Quốc. Ngược lại, Mỹ quan tâm đến
sự kiện Trung Quốc đang t́m cách đối đầu và thử thách vai
tṛ quân sự của Mỹ để ảnh hưởng đến sự ổn định và cân bằng
quyền lực tại Đông Nam Á.
Khi Đặng Tiểu B́nh dạy cho Việt Nam bài học thứ nhất, bản
Hiệp Ước về Yểm trợ Quân sự Song phương giữa Liên Xô và Việt
Nam do Tổng bí thư Đảng CSVN Lê Duẩn kư năm 1978 vẫn c̣n
chưa ráo mực. Liên Xô đă không làm ǵ được để cứu văn Việt
Nam. Lúc đó, quân đội Trung Quốc vẫn c̣n lạc hậu, chiến lược
quân sự dạy Việt Nam bài học chỉ tóm gọn ba bước:
1) Bất ngờ đưa bộ binh mở mặt trận tấn công các tỉnh giáp
biên giới Trung Việt
2) Nhanh chóng tiêu diệt quân đội Việt Nam và làm chủ các
tỉnh giáp biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn v.v….
3)Tàn phá và hủy diệt toàn diện các Tỉnh nằm trong sự kiểm
soát của Trung Quốc trước khi rút lui khỏi Việt Nam.
Bài học lần thứ hai sẽ không đơn giản như vậy. Trung quốc
sau gần 30 năm hiện đại hoá, sức mạnh quân đội và chiến lược
quân sự đă hoàn toàn thay đổi. Những chiến lược cổ điển “lấy
thịt đè người” hay “tiền pháo hậu xung” trong cuộc chiến
biên giới Lạng Sơn năm 1979 đă lỗi thời. Với những tiến bộ
vượt bực về khoa học và tiềm lực quân sự hiện đại, câu hỏi
đặt ra đối với những lănh đạo quân đội là liệu Việt Nam có
khả năng và kế hoạch để đối phó hiệu quả trước các hiểm hoạ
sắp tới.
- Trung quốc có thể vô hiệu hoá hệ thống cung cấp điện khí
toàn thành phố Hà Nội, làm tê liệt khả năng pḥng vệ, truyền
tin và chỉ đạo trước khi tấn công? Giống như Mỹ đă tiến hành
kế hoạch đó vài tiếng đồng hồ trước khi xâm chiếm Iraq.
- Việt Nam phải đối phó thế nào trước viễn ảnh quân đội
Trung Quốc sẽ làm tê liệt mạng tin học, sử dụng hacker hay
vũ khí hiện đại Electro Magnetic Pulse (EMP) phá hỏng, làm
tê liệt thông tin đất liền và trên không, đánh xập toàn bộ
hệ thống tin học cả nước trước khi tấn công[2] – giống như
Liên Xô đă làm trước khi xâm chiếm Georgia.
- Trước t́nh trạng yếu kém về pḥng thủ, liệu quân đội Việt
Nam có khả năng tự vệ trước cơn băo lửa của hỏa lực không
chiến và hoả tiễn đối không từ tàu ngầm, biến thủ đô Hà Nội
trở về thời kỳ đồ đá.
- Liệu Việt Nam có thể bảo vệ quân đội và nhân dân trước
thảm cảnh chiến tranh vi trùng mà quân đội Trung Quốc đă âm
thầm nghiên cứu, thử nghiệm và sẳn sàng tấn công toàn diện,
không sợ bị dư luận thế giới lên án.
- Làm thế nào để Việt Nam vô hiệu hoá đạo quân thứ Năm của
Trung Quốc? Những Trung kiều có thể phản bội Việt Nam theo
Tổ quốc Đại Hán của họ, trước và khi chiến tranh xảy ra.
- Làm thế nào Việt Nam đủ sức chống đỡ hoả tiễn hiện đại
JL-2, bắn ra trong phạm vi 12.800km từ các tàu ngầm nguyên
tử nằm trên căn cứ hải quân ngầm gần đảo Hainan, một căn cứ
tối tân Trung Quốc bí mật xây dựng gần đây. Căn cứ này có
khả năng che dấu các tàu ngầm nguyên tử, sử dụng kỹ thuật
cao tránh được phát hiện của radar trên không và biển, vừa
có thể tấn công các quốc gia lân cận, nhằm kiểm soát eo biển
chiến lược Malacca Strait và toàn vùng biển Đông[3].
- Làm thế nào Việt Nam có thể nhanh chóng tân trang quân đội
để tự vệ, đối trọng lại hiểm họa Trung Quốc với chi tiêu
quốc pḥng khổng lồ 197 tỷ dollars trong năm 2007, nhằm phục
vụ cho ư đồ bá quyền của họ?
Trong khi hai nước xung đột âm ỉ và căng thẳng v́ quyền lợi
kinh tế và quân sự. Viễn ảnh một cuộc chiến tranh nóng giữa
Trung quốc và Việt nam rất khó tránh khỏi. Nếu có xảy ra,
khác với trường hợp của Georgia, các nhà lảnh đạo đảng CSVN
phải hiểu rằng lúc đó, vị Tổng Thống tương lai của Hoa Kỳ
hoặc Cộng Đồng các quốc gia Âu Châu không thể lên tiếng ủng
hộ và xác nhận “Việt Nam là một chính quyền dân chủ, hợp
pháp và do chính nhân dân Việt Nam bầu ra”.
Việt Nam là một nhà nước độc tài, chính quyền không do nhân
dân bầu, mà do đảng Cộng sản tiếm quyền lănh đạo. Một nhà
nước chuyên chính chỉ mạnh đối với việc đàn áp nhân dân,
nhưng không đủ sức để tự vệ khi đất nước có biến loạn, bị
ngoại xâm. Lịch sử dân tộc cho thấy mỗi lần Trung Quốc
xâm chiếm Việt Nam, họ thường nhân cơ hội vua tôi nước Việt
bị chia rẽ, tranh dành quyền lực, bị suy yếu, hoặc làm mất
ḷng dân. T́nh h́nh Việt Nam hiện nay đất nước đang suy đồi,
quân đội không đủ sức bảo vệ lănh thổ, lănh đạo Việt Nam
không do nhân dân bầu ra mà chỉ gồm những kẻ độc tài. Cả
nước oán hận v́ bị cai trị dưới bạo lực, chuyên chế. Trong
bối cảnh bất hoà, khi đất nước bị xâm lăng, Việt Nam không
khả năng tự bảo vệ chủ quyền đất nước, không thể huy động
sức người sức của để “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”. Sự
yếu hèn, bạc nhược, mất đoàn kết và không tin tưởng vào vai
tṛ lănh đạo của đảng CSVN; những yếu tố đó có tác động
quyết định thắng bại trong nhiều cuộc chiến tranh, kể cả
chiến tranh bảo vệ Tố Quốc chống ngoại xâm.
Có quá nhiều câu hỏi đặt ra trên bàn cờ chiến tranh Trung -
Việt mà những lănh đạo đảng trong quân đội CSVN với năo
trạng nông dân từ thời chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” đă
không đủ trí tuệ để được giáo dục và hiểu biết, kịp chuẩn bị
tinh thần đối phó trước viễn ảnh mất nước. Nếu có tầm nh́n,
lẽ ra từ hàng chục năm nay, Việt Nam thay v́ dùng tiền của,
tài nguyên quốc gia, để tân trang quân đội th́ lại phung phí
cho các dự án kinh tế hoang đường. Cần vận dụng sức người
sức của, chuẩn bị cho tinh thần “Đoàn kết dân tộc bảo vệ Tổ
Quốc” th́ họ lại t́m mọi cách trấn áp nhân dân. Đảng CSVN đă
chi tiêu những ngân khoản khổng lồ cho bộ máy an ninh, ngày
đêm bao vây, đàn áp các lực lượng dân chủ chỉ nhằm bảo
vệ chế độ độc tài, thay v́ dồn tiền của, nhân lực, tâm trí
cho các phương án bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ chủ quyền đất nước.
Nếu chỉ để dạy dỗ đảng CSVN một bài học, với lợi thế về
không và hải lực, thế trận Trung - Việt xảy ra trên
không và hải chiến đủ sức tàn phá Hà Nội thành b́nh địa.
Trường hợp cần lập ra chính quyền bù nh́n, trước quốc pḥng
lạc hậu, quân đội yếu kém, lo làm kinh tế hơn là chuẩn bị
chiến tranh, Việt Nam bại trận trong cuộc tổng tấn công của
Trung Quốc là điều khó tránh khỏi. Trong bối cảnh đó, một số
lănh đạo CSVN sẽ phản bội Tổ quốc trở thành tay sai Trung
Quốc, một số ôm tài sản chạy trốn, kẻ ra nước ngoài, người
tỵ nạn chính trị tại các toà đại sứ Tây Phương.
Tổ quốc Việt Nam là nạn nhân trực tiếp của một chính quyền
độc tài, vô cảm, đă đặt quyền lợi Đảng lên trên quyền lợi
Dân tộc. Nhân dân Việt Nam, v́ khiếp sợ trước bạo lực, v́
thờ ơ trước vận mệnh đất nước, lại phải trả giá cho ḍng
sinh mệnh của dân tộc. Nước mất nhà tan, một cuộc di tản lần
thứ ba lại có thể xảy ra.
[1] US Congressional research service, by
Foreign Affairs on Vietnam and US relations – 2007
[2] US House Armed Services Committee report "The
consequence of EMP is that you destroy the communications
network,…. We are, as the Chinese also know, heavily
dependent on sophisticated communications, satellite
communications, in the conduct of our forces.China does have
the capability to strike USA with powerful EMP
(Electo-Magnetic Pulse) weapons and an army of
government-financed computer hackers home and abroad that
can knock US back into stone ages.”
[3] Shishir Gupta - New Delhi
Online - May 04, 2008 |