Chiến lược mặt biển của Trung Quốc và vấn đề Biển Đông
Nguyễn Duy Chính
“… Trung Quốc không phải chỉ t́m kiếm vai tṛ siêu cường kinh tế mà c̣n t́m lại vị trí "thiên triều" của họ trong lịch sử, trong đó các nước chung quanh là thuộc quốc, phải thần phục và triều cống, công nhận tư thế lănh đạo của họ về mọi mặt…”
Lời nói đầu:
Trong vài thập niên gần đây, biển đông (tức biển Nam Trung Hoa hay biển Đông Nam
Á tùy theo từng tác giả) đă trở nên một vấn đề quan trọng trong chính sách của
các quốc gia Đông Á. Tranh chấp quyền sở hữu và khai thác khu vực này đă là một
quan tâm hàng đầu của nhiều chính quyền. Nghiên cứu về vai tṛ kinh tế, quá
tŕnh lịch sử của nó đă được nhiều học giả tŕnh bày cặn kẽ, cụ thể là hai cuốn
"Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa"
của nhóm nghiên cứu sử địa miền Nam Việt Nam trước năm 1975 (được nhà xuất bản
Văn Nghệ-Khai Trí tái bản tại hải ngoại năm 1992) và
Địa Lư Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa
của Vũ Hữu San (do Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn toàn Lănh Thổ Việt Nam ấn hành năm
1995). Nhiều học giả nước ngoài cũng có những công tŕnh hoặc nghiên cứu riêng
về vùng biển, hoặc đặt chung trong nghiên cứu khu vực, chẳng hạn như Steven J.
Hood (Dragons Entangled, Indochina and the China-Vietnam War. M.E. Sharpe
Inc. 1992), Peter Kien-hong Yu (A Study of The Pratas, Macclesfield Bank,
Paracels, and Spratlys in the South China Sea, Taipei 1988) Phù Tuấn (Nam
Hải Tứ Sa quần đảo. Thế Kỷ thư cục Đài Bắc 1981) ... Ngoài ra c̣n vô số
những bài viết trên báo chí, tập san Việt, Mỹ, Pháp, Hoa ... về biển đông. Có
những tài liệu hết sức xác đáng nhưng cũng có nhiều tài liệu không chân thực,
điển h́nh là những tài liệu do Hoa lục hay Hongkong phổ biến.. Tuy nhiên, khi
nghiên cứu về vấn đề biển đông, chúng ta không thể bỏ qua những lập luận từ
nhiều góc cạnh khác, nhất là đó là những lập luận mà nhà nước Trung Hoa sử dụng
trên bàn cờ chính trị quốc tế.
Những vấn đề liên quan trực tiếp đến biển đông đă được nhiều người đề cập đến.
V́ thế chúng tôi chỉ viết rất sơ lược và dành những chi tiết cụ thể đó cho những
công tŕnh nghiên cứu sâu rộng hơn, qui mô hơn. Trong phạm vi bài này, chúng tôi
chỉ tŕnh bày khu vực biển đông để gợi ư cho độc giả về tầm quan trọng của nó
đối với toàn vùng Đông Nam Á, nhất là đối với trật tự mới của vùng Thái B́nh
Dương trong thế kỷ sắp tới. Vai tṛ chiến lược và an ninh ngày càng đậm nét hơn
vai tṛ kinh tế nhất là đối với Việt Nam chúng ta.
I. Dẫn nhập
Ai cũng biết việc Hoa Kỳ b́nh thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam cũng
như việc Việt Nam được thu nhận vào Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN)
không chỉ đơn thuần v́ lư do kinh tế. Tái lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là
một dấu hiệu chứng tỏ Hoa Kỳ muốn thiết lập một thế quân b́nh mới tại Á Châu.
Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất mà chính quyền Mỹ công khai đưa ra
là việc ngăn ngừa chính sách bành trướng của Trung Quốc. Chính sách tàm thực (tằm
ăn dâu) của Trung Quốc trong vài thập niên qua đánh dấu một sự chuyển ḿnh lớn
trong chiến lược đối ngoại của họ. Nếu Trung Quốc làm chủ biển đông không phải
chỉ Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng mà Philippines, Indonesia, Malaysia,
Thailand cũng sẽ bị khống chế. Đài Loan sẽ bị cô lập và chịu áp lực trầm trọng.
Công cuộc vận động để tiến tới một tư thế độc lập của nhân dân Đài Loan sẽ trở
nên gay go hơn. Thêm vào đó, Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ cũng sẽ bị án ngữ và chia
cắt, mất hết ảnh hưởng đối với vùng Đông Nam Á, gây nguy hại cho các kế hoạch
mậu dịch và chiến lược ổn định toàn cầu. Chính v́ thế, một giải pháp phối hợp
nhiều quốc gia để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc không những bảo vệ
được mặt biển phía đông của Việt Nam mà c̣n tạo được sự ổn định trường kỳ cho
toàn thể khu vực tây ngạn Thái B́nh Dương.
Nhiều phân tích gia đă cho rằng nếu thế kỷ thứ 19 là thế kỷ của các dân tộc vùng
Đại Tây Dương th́ khi sang thế kỷ thứ 21, vùng châu Á Thái B́nh Dương sẽ trở
thành khu vực kinh tế quan trọng hàng đầu của thế giới. Một Đại Trung Hoa bao
gồm Hoa Lục, Đài Loan, Singapore và các cộng đồng Hoa kiều rải rác khắp thế giới
sẽ trở thành một lực lượng kinh tế và chính trị vô cùng mạnh mẽ. Cho nên, đối
chiếu với viễn tượng của vài chục năm sắp tới, những phân tích gia chiến lược
đều nh́n nhận rằng Trung Quốc không phải chỉ t́m kiếm vai tṛ siêu cường kinh tế
mà c̣n t́m lại vị trí "thiên triều" của họ trong lịch sử, trong đó các nước
chung quanh là thuộc quốc, phải thần phục và triều cống, công nhận tư thế lănh
đạo của họ về mọi mặt.
II. Chiến lược mặt biển của Trung Hoa
Trong thời thượng và trung cổ, Trung Quốc không có một khái niệm rơ rệt về biển
cả và chỉ nuôi tham vọng bành trướng trên đất liền. Thời Xuân Thu, Chiến Quốc,
người Trung Quốc tưởng rằng nước Tàu là trung tâm thế giới, các nước chung quanh
đều man di, mọi rơ Chính v́ thế mà họ tự gọi ḿnh là Trung Quốc tức nước ở trung
tâm. Hai chữ "thiên hạ" (dưới ṿm trời) là nói về những dân tộc sống trong vùng
lục địa Trung Hoa và những tiểu quốc chung quanh thần phục nước Tàu. Ở phía đông
là biển cả vô tận, chỉ được mô tả trong những truyện thần kỳ, nơi những người
phi thường mạo hiểm đi t́m thuốc trường sinh. Việc t́m hiểu những vùng đất bên
kia bờ đại dương không mấy ai nghĩ đến. Thảng hoặc có người để tâm nghiên cứu
th́ phần lớn chỉ là sưu tầm những dật sự hoang đường trong tưởng tượng hơn là
mắt thấy tai nghe. Cho nên, những sự kiện đó không đáng tin mà chỉ là một loại
tiểu thuyết, dẫu có dựa trên một số yếu tố lịch sử nhưng vẫn chỉ là sản phẩm
được h́nh thành với mục đích giải trí mà thôi.
Trong thời phong kiến, Khổng học được coi là sở học chính thống, tinh thần
thương mại bị coi là thấp kém, giới thương nhân đứng sau cùng trong tứ dân sĩ
nông công thương. Đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, thương mại với bên ngoài hầu như
không có, cũng chẳng ai nghĩ đến việc t́m hiểu các nước ở xa xôi. Tuy từ đời
Đường, người Tàu đă biết rằng phía bên kia dăy Hi Mă Lạp Sơn có các đế quốc Ba
Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập, Ấn Độ ... nhưng thời đó Trung Hoa vẫn là khu vực văn minh
nhất và các nơi phải đến học hỏi họ chứ họ không phải cất công đi t́m hiểu người
khác. Hồi thế kỷ thứ bảy, Tràng An (kinh đô nhà Đường) là khu vực thị tứ lớn
nhất thế giới lúc bấy giờ diện tích hơn ba mươi dặm vuông, hơn hai triệu cư dân,
và hàng trăm đền đài tráng lệ. Ở kinh đô, người ta có thể t́m thấy nhiều loại
sản phẩm khắp nơi mang đến trong đó có cả đặc sản của Phi Châu, Ấn Độ, Java ...
Những phú gia có thể mua cả mỹ nữ Tây Dương tóc vàng mắt xanh làm t́ thiếp.[1]
Tơ lụa và đồ gốm là những sản phẩm quí giá các thương gia nước ngoài đến Trung
Hoa mua về. Thời ấy, người Ả Rập và người Ba Tư có những đoàn thương thuyền hùng
hậu nhất, qua lại khu vực biển cả từ Ấn Độ Dương sang Thái B́nh Dương. Tuy nhiên,
đối với các vua chúa nước Tàu, đó chẳng qua chỉ là những h́nh thức triều cống,
tỏ lộ sự thần phục và hàng hoá mua về sẽ giúp vào việc "khai hoá" các dân tộc
man di. Buôn bán chủ yếu vẫn theo đường bộ ở phía Tây, các đoàn lạc đà đi theo
con đường mà người ta gọi là Con Đường Lụa (Silk Road). C̣n đường biển buôn bán
các đồ gia vị (Spice Route) không qua đến Tàu mà chỉ đến trung và bắc Việt Nam
rồi mới theo đường bộ mà sang Nam Trung Hoa.[2]
Về chiến lược, biển cả được coi như là một chiến lũy thiên nhiên bảo vệ nước Tàu.
Thành thử, họ chỉ chú trọng vào việc củng cố một lực lượng bộ và kỵ binh bảo vệ
trung nguyên khỏi sự xâm lăng của những bộ lạc du mục. Hầu như đời vua nào cũng
phải tiêu pha vào việc xây đắp trường thành, củng cố đồn bót dọc theo biên thùy
phía bắc và phía tây. Trong văn chương đời Đường, đời Tống chúng ta thấy nhắc
nhiều đến biên ải, quan tái, phong hỏa (đốt lửa để truyền tin báo động), sa
trường (chiến trận trên sa mạc) ... chứ không ai nói đến biển cả. Không khí
chiến tranh mà văn nhân, thi sĩ cảm nhận được là gió thổi căm căm, cát bay đá
chạy, quân reo ngựa hí chứ không phải sóng vỗ bập bềnh. Nếu có nhắc đến thuyền
bè th́ là thuyền chạy trên sông và người Trung Hoa chỉ h́nh dung những trận thủy
chiến khốc liệt mà bối cảnh là sông Xích Bích, sông Tiền Đường ...
Đến thời nhà Tống, triều đ́nh Trung Hoa bắt đầu quan tâm đến pḥng ngự mặt biển,
không phải chống xâm lăng mà là đối phó với các toán giặc biển thường ăn cướp
các thương thuyền và dân cư duyên hải. Lực lượng tuần pḥng đó phối hợp cả quan
quân triều đ́nh lẫn thương nhân. Lực lượng hải quân đầu tiên được thành lập từ
năm 1132 nhưng chỉ dùng để tuần pḥng bờ biển mà thôi. Một trăm năm sau, Tống
triều đă có một lực lượng tuần pḥng lên đến 20 đoàn thuyền và một lực lượng hơn
năm vạn lính. Thế nhưng đó chỉ là h́nh thức v́ đến chín phần mười binh sĩ trên
thuyền không chiến đấu được. Năm 1239, khi một viên quan đi xem xét căn cứ hải
quân Trấn giang phía đông Nam Kinh trên bờ sông Dương Tử, thấy rằng trong 5000
binh sĩ trú đóng, chỉ có 500 người đủ sức đi thuyền, c̣n lại là thành phần bất
khiển dụng.[3] Chúng ta có thể hiểu được tại sao mỗi khi Nam chinh, quân Tàu
luôn luôn bị đại bại trên mặt biển và đường sông ở nước ta. Trung Hoa từ thời
trung cổ trở về trước không quan tâm đến biển cả, coi như cương vực định sẵn
trên đất là của thiên tử mà dưới bể là của Long Vương. Xâm phạm đến biển cả là
gây chuyện với thượng giới. Trái lại, Việt Nam ta lại coi biển cả là một nửa máu
huyết của ḿnh (truyền thuyết tiên rồng), tổ quốc bao gồm đất và nước. Văn minh
nông nghiệp gắn liền với đất đai và biển cả là đặc tính của Nam phương, trong
khi đó miền Bắc vốn là dân du mục giỏi chinh phục trên lưng ngựa. Thời trung cổ,
chỉ có người phương Nam mới giỏi về đường thủy (người phương Bắc thiện đi ngựa,
người phương Nam giỏi đi thuyền là câu nói của người Trung Hoa). Chính v́ thế,
trong những cổ vật đào được ở Việt Nam thường có trang trí h́nh thuyền trong khi
tại Trung Hoa thường có những cỗ xe ngựa.
Tuy có ưu thế về hải quân, nhà Tống vẫn không chống nổi quân Nguyên từ phương
bắc tràn xuống và đến năm 1279 th́ nước Tàu hoàn toàn dưới quyền cai trị của
người Mông Cổ. Trong các đẳng cấp mới của triều đ́nh Nguyên, người Tàu ở phương
Nam (Nam Nhân) đứng cuối cùng. Trong cùng thứ bậc đó th́ sĩ phu Trung Hoa (thứ
9) tuy trên được ăn mày (thứ 10) nhưng đứng sau gái đĩ (thứ 8). Nhà Nguyên chỉ
trọng dụng các dân tộc ngoài quan ải, miền Trung Á. Người Trung Hoa phía bắc
Hoàng Hà mới được gọi là Hán Nhân (han ren) và được đứng hàng thứ ba.
Trong khi đánh nhau với nhà Tống, quân Mông Cổ đă xây dựng được một lực lượng
hải quân hùng hậu và sau đó dùng các đoàn chiến thuyền này đi chinh phục vùng
Đông Nam Á và Nhật Bản. Tuy nhiên đoàn quân bách thắng của họ bị đánh bại ba lần
tại Việt Nam (1258-88), hai lần bị băo lớn đánh đắm ngoài khơi Nhật Bản (1281)
khi họ rút quân ra khỏi đảo Kyushu và một lần tại Indonesia (1293) khi tiến đánh
Java.
Đến thế kỷ thứ 16, dưới triều Minh, nước Tàu bị nạn cướp biển quấy phá. Những
hải tặc đó thường là người Nhật nên được đặt tên là oải khấu (wokou, giặc
lùn). Hải tặc không phải chỉ hoạt động dọc theo bờ biển Trung Hoa mà kéo dài từ
Triều Tiên xuống đến tận Mă Lai. Và tuy gọi là giặc lùn, thành phần hải tặc bao
gồm đủ mọi giống dân ở đông và đông nam Á Châu. Trong những đám giặc lớn có cả
những người bất măn với triều đ́nh, bỏ đi ăn cướp. Thành thử, cả một vùng duyên
hải rộng lớn coi như không thuộc quyền kiểm soát của quan quân. Các toán giặc đó
cũng hoành hành dọc theo duyên hải nước ta và được gọi là giặc tàu ô v́ thuyền
của chúng sơn đen. Nhiều vơ tướng đă nổi danh v́ công trạng dẹp bọn giặc này
chẳng hạn như Hoàng Đ́nh Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh đời Lê, Bùi Viện đời Nguyễn. Vua
Quang Trung thu phục chúng để sai sang quấy phá miền nam nước Tàu.[4] Bùi Viện
cũng chiêu mộ họ dùng vào việc cải tiến hải quân của nước ta.[5] Gernet Jacques
đă nhận định như sau:
Vào thế kỷ thứ 16, hải tặc bành trướng đến một mức độ chưa từng có và nguyên
nhân có thể t́m ra được là nó có liên quan trực tiếp đến việc phát triển thương
mại trên mặt biển ở Đông Á, từ Nhật Bản kéo đến Indonesia. Các vua nhà Minh đối
phó bằng chính sách ngăn cấm nhưng thiếu liên tục và chặt chẽ chỉ v́ quan điểm
chiến lược và kinh tế mỗi lúc một khác.
Từ thời vua Thế Tông nhà Minh, cướp bể càng hoành hành, lấy các đảo ngoài khơi
làm căn cứ, đói th́ vào cướp bóc, bảy tỉnh duyên hải không nơi nào yên.[6] Đến
khi Hồ Tôn Hiến, Tổng Đốc Chiết Giang ra lệnh cấm dân chúng liên lạc, tiếp ứng
cho họ, nạn giặc bể mới suy dần.[7] Thời đó, người Trung Hoa không những không
muốn giao thiệp với bên ngoài mà họ c̣n cấm không cho học ngoại ngữ cũng như dạy
tiếng Tàu cho người nước ngoài. Trong khi người Âu Châu phát triển hàng hải và
t́m đường chinh phục thuộc địa th́ Trung Hoa lại tài giảm hải quân nhất là từ
khi đào xong Vận Hà (Grand Canal) năm 1411 và không c̣n cần đến việc chuyên chở
hàng hoá bằng đường biển.
Trong thời nhà Minh, có hai sự kiện quan trọng mà chúng ta cần ghi nhận. Đó là 7
chuyến viễn hành của Trịnh Hoà và việc chiếm đóng Đài Loan của Trịnh Thành Công.
Hai biến cố đó đánh dấu những bước ngoặt trong đường lối đối phó với mặt biển
của triều đ́nh Trung Hoa đồng thời cũng khẳng định là trước thế kỷ thứ 17, người
Tàu không quan tâm tới các hải đảo ngoài khơi như họ viện dẫn sau này khi lấn
chiếm biển đông.
A. Trịnh Hoà và bảy lần viễn du
Trịnh Hoà vốn tên là Ma He, là con một người Hồi tên là Mohammed Hajji đă theo
đoàn quân viễn chinh Mông Cổ xuống sống ở miền Nam nước Tàu (thế kỷ thứ 13). Khi
con thứ của vua Hồng Vơ (tức Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương) là Chu Lệ được giao
cho việc đem quân b́nh Vân Nam có bắt được một số lớn binh sĩ Mông Cổ và các dân
tộc thiểu số người Mèo, người Dao. Đàn ông bị giết hết, đàn bà đem về làm t́
thiếp c̣n trẻ em và thanh thiếu niên bị thiến để làm hoạn quan hầu hạ trong
cung. Một trong những đứa trẻ đó sau được ban Hán tính là Trịnh, Hán danh là
Hoà. Khi Chu Lệ cướp được ngôi vua (tức vua Thành Tổ, niên hiệu Vĩnh Lạc chính
là người sai Trương Phụ sang chiếm nước ta), Trịnh Hoà được sai đi sứ hải ngoại
để tuyên dương oai đức nhà Minh.[8]
Trịnh Hoà đóng một đoàn chiến thuyền lớn để đi xa. Chiếc thuyền lớn nhất được đặt
tên là "bảo thuyền", dài 130 thước (tây), cột buồm cao 54 thước. Các thuyền khác
trung b́nh dài 110 thước, cột buồm khoảng 45 thước. Trong chuyến hải hành đầu
tiên của Trịnh Hoà, cả thảy gồm 63 chiếc thuyền và 2,780 người.[9]
Có nhiều lư do đưa ra để giải thích về những chuyến đi này. Những sử gia Trung
Hoa gần đây coi là những cuộc hải tŕnh nhằm chứng tỏ cho những dân tộc khác
thấy được sự cường thịnh và huy hoàng của triều đại nhà Minh. Với quan điểm dùng
lịch sử để giải thích một số tiền đề, Trung Hoa lục địa (Trung Cộng) đă hoàn
thành nhiều công tŕnh nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của viên thái giám
gốc Hồi. Gần đây, một viện nghiên cứu có tên là Viện Nghiên Cứu Trịnh Hoà được
thành lập tại Nam Kinh. Những tài liệu họ đưa ra luôn luôn chủ quan, được vận
dụng để chứng minh rằng Trung Hoa đă thám hiểm và chinh phục được nhiều vùng đất
xa xôi từ thời Trung Cổ.[10] Tuy nhiên, theo những tài liệu, kể cả những văn
kiện viết từ thời đó, Trịnh Hoà tuy có đến được nhiều nơi như Mă Lai, Indonesia
và có lần sang tận Tích Lan, Ấn Độ, Phi Châu nhưng lại không viết ǵ về các đảo
ngoài khơi Việt Nam.[11] Có lẽ trong thời kỳ đó, không ai quan tâm đến một vùng
biển đầy sóng gió, hiểm nguy để thám hiểm một khu vực toàn đảo san hô ở giữa đại
dương như thế. Trịnh Hoà có đi dọc theo bờ biển Việt Nam, Chiêm Thành, Chân Lạp
để trao đổi trầm hương, ngà voi, sừng tê, gỗ mun đem về Tàu, và tặng lại cho thổ
dân đồ sứ và tơ lụa.[12] Nếu gặp kháng cự, Trịnh Hoà đem quân bắt vua các tiểu
quốc đem về như trường hợp Palembang và Tích Lan. Mỗi khi đổ bộ, Trịnh Hoà xác
định ông ta là sứ giả của Hoàng đế Trung Hoa, chúa tể một quốc gia trung tâm mọi
nền văn minh và Trung Hoa không tới để chiếm thuộc địa hay ép buộc phải mở cửa
giao thương mà chỉ yêu cầu triều cống tỏ ư thần phục.[13]
Một lư do thứ hai có thể đáng tin hơn là vua Thành Tổ sai Trịnh Hoà đi lùng t́m
vua Huệ Đế (tức cháu gọi ông bằng chú, người lên kế vị Chu Nguyên Chương và đă
bị ông cướp ngôi) nghe đồn là đă giả dạng làm sư trốn ra nước ngoài.[14] John
King Fairbank, học giả lừng danh về Trung Hoa đă nêu ra ba đặc điểm về các cuộc
viễn du của Trịnh Hoà:
Thứ nhất, đây không phải là những cuộc thám hiểm những vùng đất mới mà chỉ là
những chuyến viễn hành chính thức do nhà vua sai đi. Trịnh Hoà đi theo những
thủy lộ mà thương nhân Ả Rập và Trung Hoa đă đi qua.
Thứ hai, những chuyến đi đó có tính chất ngoại giao chứ không nhằm mục tiêu
thương mại, lại càng không phải đi chinh phục thuộc địa. Họ trao đổi hàng hoá và
mang về các đặc sản (trong đó có cả con hươu cao cổ mà họ tưởng rằng một loại kỳ
lân) của những vùng xa xôi.
Thứ ba, sau khi các chuyến du hành chấm dứt vào năm 1433 th́ không bao giờ tiếp
tục những chuyến đi khác nữa. Ngay cả các tài liệu ghi chép về những chuyến đi
này cũng bị viên Binh Bộ Thị Lang hủy đi (vào khoảng 1479) và nhà Minh cấm ngặt
người Tàu buôn bán với bên ngoài.[15]
B. Trịnh Thành Công và đảo Đài Loan
Trước thế kỷ thứ 17, Đài Loan chưa được công nhận như một phần đất của Trung
Hoa. Cho đến cuối đời Minh, Đài Loan vẫn là một vùng đất không mấy ai biết đến.
Băo tố, sóng cả, muỗi ṃng ngăn cách thổ dân với đại lục. Cư dân trên đảo lại dữ
dằn nên không mấy khi tàu bè dám ghé vào. Chỉ một số ít lái buôn dạn dĩ mới dám
dong thuyền sang trao đổi sừng hươu, da thú đem về bán lấy lời. Ngoài thổ dân
chỉ có hải khấu mới dám ở. Trước đó người Bồ Đào Nha đă ghé qua và đặt cho ḥn
đảo cái tên Formosa có nghĩa là đẹp đẽ nhưng cũng không dám ở mà chỉ trú ngụ tại
Macao, lấy nơi đây làm cơ sở chính ở Đông Á.[16] Cũng nên nói thêm, theo nghiên
cứu của nhóm học giả bản địa Đài Loan th́ thổ dân tại đây vốn thuộc giống Mă Lai
đă sống trên ḥn đảo này từ nhiều ngàn năm trước. Những di chỉ đào được trên đảo
Đài Loan gần với những di chỉ t́m thấy trong vùng Đông Nam Á châu và Việt Nam,
là những cư dân giỏi đường thủy chiếm cứ vùng biển Nam Á từ xưa.
Đến năm 1624 th́ người Hoà Lan đem quân chiếm ḥn đảo và cai trị trong 37 năm.
Người Tây Ban Nha chiếm mỏm cực bắc năm 1626 nhưng bị người Hoà Lan đánh bại năm
1642. Năm 1661, một người Tàu lai Nhật là Trịnh Thành Công đánh đuổi được người
Hoà Lan. Cha của Trịnh Thành Công là Trịnh Chi Long lưu lạc sang Nhật, lập gia
đ́nh với một người đàn bà Nhật ở bên đó. Chi Long làm nghề cướp biển nhưng sau
được Minh triều thu phục, phong cho một chức quan. Khi về cộng tác với triều
đ́nh, họ Trịnh được chỉ huy một đội hải thuyền, nhưng y vẫn tiếp tục đi ăn cướp
nhưng không c̣n sợ quan quân truy lùng như trước nữa.
Khi quân Thanh tràn vào chiếm trung nguyên, một số tôn thất nhà Minh c̣n tiếp
tục chiến đấu ở miền Nam. Trịnh Thành Công v́ pḥ Minh nên được ban cho họ Chu
(tức họ nhà vua) nên người ta thường biết ông ta qua cái tên Quốc Tính Gia (mà
người Âu Châu phiên âm thành Koxinga, là cái tên thường thấy trong sách vở). Hạm
đội của Trịnh Thành Công tiếp tục đánh nhau với quân Thanh dọc theo bờ biển. Năm
1659, họ Trịnh làm một cuộc phiêu lưu đem quân đánh Nam Kinh nhưng bị đại bại.
Khi bị vây rất gắt ở Hạ Môn, Trịnh Thành Công đánh phải liều đem tàn quân phá
ṿng vây chạy ra biển đánh đuổi người Hoà Lan chiếm lấy đảo Đài Loan.[17] Để
ngăn ngừa Trịnh Thành Công quấy phá duyên hải, năm 1661, phụ chính đại thần
triều vua Thuận Trị nhà Thanh là Oboi (chữ Hán gọi là Ngao Bái) hạ lệnh cho dân
cư phải di dân vào nội địa, cách bờ biển 30 dặm để không cho tiếp ứng được với
giặc ngoài biển. Khi vua Khang Hi lên ngôi (1662), nhà Thanh hai lần đem quân
đánh Đài Loan (1664 và 1665) nhưng không thành công. Về sau, Thanh triều cử Thi
Lang (Shi Lang), một bộ tướng của Trịnh Chi Long trước đây về hàng, thống lănh
300 chiến thuyền b́nh định Đài Loan. Thi Lang đem quân từ Phúc Kiến tiến ra đánh
bại quân họ Trịnh (lúc này Trịnh Thành Công đă chết từ năm 1662, con thứ là
Trịnh Khắc Sảng kế nghiệp) ở quần đảo Bành Hồ (Pescadores) hồi đầu tháng 7, 1683
và đến cuối năm th́ chiếm được toàn thể đảo Đài Loan.
Vua Khang Hi khoan hồng không giết binh sĩ của họ Trịnh nhưng di chuyển hết lên
mạn bắc để trấn giữ quân Nga đang lăm le tràn xuống. Triều đ́nh đề nghị phá hủy
đảo Đài Loan rồi rút về nhưng Thi Lang khẩn thiết xin cho quân trấn đóng để làm
tiền đồn chống giữ người Hoà Lan khỏi đến xâm lăng. Vua Khang Hi đồng ư và kể từ
năm 1683, Đài Loan mới chính thức thuộc về Thanh triều, là một thuộc địa của
tỉnh Phúc Kiến.[18]
Tuy nhiên, Thanh triều cũng vẫn giữ nguyên quan niệm từ trước tới nay của Trung
Quốc hạn chế việc giao thương, ngại là nếu mở cửa sẽ đem tới rối loạn, tiết lộ
tin tức bí mật quốc gia và tiêu hao vàng bạc, gia tăng trộm cướp, tội ác.[19]
Tuy lệnh phải cư ngụ cách bờ biển 30 dặm đă băi bỏ nhưng nhà Thanh vẫn hết sức
nghiêm cấm việc giao thiệp với nước ngoài, di cư hay liên lạc với Đài Loan. Ḥn
đảo luôn luôn bị nh́n với cặp mắt nghi kỵ, khinh miệt. Thành phần cư dân cũng
không được coi ngang hàng với dân chúng trong nội địa. Chính v́ thế, nhà Thanh
rất dễ dàng nhường lại Đài Loan để đổi lấy một vài điều kiện trong khi giao
thiệp với liệt cường sau này.
Cũng nên nói thêm là họ Trịnh là một trường hợp hết sức bất thường. Trịnh Chi
Long khi c̣n trẻ đă lưu lạc nhiều nơi, theo các giáo sĩ Tây Dương sang cả Manila
(Philippines) và là một trong số ít người Trung Hoa thời ấy theo đạo Cơ Đốc.
Trịnh Thành Công mang hai gịng máu Nhật Hoa, là đệ tử một lănh chúa Tây Ban
Nha, đă từng tham dự nhiều cuộc viễn du nên kiến thức hơn hẳn những người b́nh
thường. Ông ta phù Minh chẳng qua chỉ v́ muốn dùng chiêu bài đuổi người Măn
Thanh để có thể tự ḿnh lên ngôi hoàng đế. Chính ảnh hưởng của người Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha và Hoà Lan đă khiến cho họ Trịnh có chí hướng xây dựng một giang
sơn riêng ngoài mặt biển. Trường hợp Trịnh Thành Công cũng không khác ǵ Triệu
Đà sang chiếm nước ta lập nên nước Nam Việt (gồm Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa)
nhưng không thể v́ thế mà đi tới kết luận là ḥn đảo Đài Loan thuộc về Trung Hoa
từ cuối đời Minh.
Chi tiết đó quan trọng v́ nếu tính ra th́ người Trung Hoa chỉ thực sự làm chủ
ḥn đảo từ năm 1945 tới nay (đứng trên phương diện chủ quyền v́ người Măn Thanh
là một bộ tộc quan ngoại, không phải là một triều đại chính thống của người
Hán). Đặt vấn đề Đài Loan, người ta sẽ không thể quên quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu)
cũng ở trong t́nh trạng tương tự, chỉ mới thuộc về Nhật Bản gần đây, nhưng Trung
Hoa úy kị nên không dám nói tới chủ quyền của họ tại khu vực này.[20] René
Grousset đă b́nh luận như sau:
Nỗ lực của ông ta (Trịnh Thành Công) đă khiến cho các sử gia phải hết sức chú ư,
v́ ông là người đầu tiên thực hiện một công tác mà trước đây chưa hề xảy ra ở
nước Tàu. Đó là đi t́m kiếm thuộc địa theo đường biển. Phải công nhận rằng cuộc
phiêu lưu của Trịnh Thành Công đă mở đầu cho một kỷ nguyên đại di cư của người
Trung Hoa, mà ngày nay ta thấy con cháu họ ở khắp nơi nơi vùng biển phía nam, từ
Cholon đến Singapore, từ Batavia đến Manila và Hawaii. Các cuộc di cư ấy có ư
nghĩa hết sức quan trọng mà hậu quả tới nay cũng chưa đo lường hết được.
Một số đông tàn quân nhà Minh và người Trung Hoa tị nạn cũng chạy sang Việt Nam,
đáng kể nhất là nhóm của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đóng góp nhiều vào
việc khai phá miền nam nước ta.[21] Cộng đồng người Hoa trở thành những thế lực
đáng kể tại các nước Đông Nam Á bắt đầu từ thời đó.
C. Vấn đề độc lập của Đài Loan
Năm 1884, sau khi chiếm được bán đảo Đông Dương, người Pháp đem quân chiếm miền
cực bắc Đài Loan và quần đảo Bành Hồ nhưng trả lại khi hai bên kư hoà ước Thiên
Tân (1885) để đổi lấy một số quyền lợi tại Việt Nam. Sau khi thua Nhật Bản năm
1895, nhà Thanh phải kư hiệp ước Mă Quan (Shimonoseki) nhường hẳn cho Nhật quần
đảo Bành Hồ và đảo Đài Loan. Măi đến sau thế chiến thứ hai, Nhật bị đồng minh
đánh bại mới trao trả Đài Loan và quần đảo Bành Hồ lại cho chính quyền Trung Hoa
dân quốc. Việc trao trả này không phải dựa trên một cơ sở pháp lư nào cả (v́ nhà
Thanh đă nhường đứt cho Nhật) mà chính là v́ Hoa Kỳ muốn có một đồng minh mạnh ở
Á Châu (tức chính quyền Quốc Dân Đảng mà họ đă giúp đỡ trong suốt thời kỳ thế
chiến thứ hai). Họ cũng không muốn Nhật làm chủ ḥn đảo và trở thành một cường
quốc quân sự gây bất lợi cho chính sách của Mỹ tại vùng Á Châu Thái B́nh Dương
[22].
Thành thử việc giao ḥn đảo lại cho chính quyền dân quốc chỉ nhằm mục tiêu chặt
nanh chặt vuốt của Nhật, không khác ǵ việc đồng ư để cho Liên Xô chiếm đóng đảo
Sakhaline và quần đảo Kurile miền cực bắc của quần đảo Phù Tang.[23] Tuy nhiên
chính quyền Quốc Dân Đảng chỉ giữ được đại lục có 4 năm. Cuối năm 1949, cộng sản
chiếm được Hoa lục, chính quyền dân quốc thiên di sang Đài Loan và kể từ mồng 7
tháng 12 năm 1949, Đài Bắc được coi là thủ phủ lâm thời của chính phủ Trung Hoa
Dân Quốc. Lúc đầu, chính sách của Mỹ không mấy quan tâm tới ḥn đảo Đài Loan,
nhưng khi thấy Trung Cộng ngả hẳn về phe Liên Xô đối đầu với khối tư bản và
chứng tỏ sự quyết liệt của họ trong trận chiến tranh Hàn quốc, Hoa Kỳ phải đổi
hẳn chiến lược. Từ việc thành lập khối Liên Pḥng Đông Nam Á (SEATO) tới việc
yểm trợ cho những chính quyền chống cộng ở Nam Hàn, Phi Luật Tân, Đài Loan, Nam
Việt Nam, Hoa Kỳ đă tạo một vành đai khít khao ngăn chặn sự bành trướng của
Trung Cộng. Dưới nhăn quan chính trị của Tây Phương, người ta chỉ quan tâm tới
việc nh́n nhận chính quyền Hoa lục hay chính quyền Dân Quốc mà quên hẳn ư nguyện
của người dân trên đảo Đài Loan.
Từ khi chính quyền Quốc Dân Đảng nới lỏng quyền tự do chính trị băi bỏ thiết
quân luật và cho phép hoạt động đối lập, nhân dân Đài Loan đă nỗ lực tranh đấu
đ̣i được trở thành một quốc gia độc lập. Họ viện dẫn lư do là ḥn đảo không phải
là sở hữu của Trung Quốc mà chỉ bị chiếm đóng ngoài ư muốn của dân bản xứ trong
suốt mọi thời kỳ, kể từ thời họ Trịnh đời Minh mạt, tới đời Thanh, đời Nhật
thuộc, và hiện nay bị Quốc Dân Đảng cưỡng chiếm suốt 45 năm qua. Mặc dù người
Hán nay chiếm đa số nhưng gốc gác của họ di cư tới Đài Loan đều là những người
tha hương v́ không chịu thần phục triều đ́nh nên bỏ xứ mà đi. Ngay từ nguyên
thủy họ đă khước từ sự chính thống của chính quyền Hoa lục. Chính v́ thế, vị trí
của họ giống như những người dân đă di cư sang các quốc gia khác, không c̣n là
thần dân của nước Trung Hoa nữa. Và họ thấy gần gũi với quê hương mới hơn với tổ
quốc mà họ đă ruồng rẫy.
Ngay hiện nay, người dân Đài Loan vẫn thấy thân thiện với người Nhật hơn là với
người Tàu từ đại lục dù đó là chính quyền Quốc Dân Đảng hay chính quyền cộng
sản. Người Đài Loan không thấy rằng họ bị Nhật áp bức mà chỉ thấy bị người Hán
áp bức. Họ vẫn ngấm ngầm tri ân người Nhật đă tới khai hoá ḥn đảo và căm thù sự
cai trị tàn ác của chính quyền Quốc Dân Đảng sau năm 1945.[24] Rơ ràng chính
quyền Quốc Dân Đảng đối xử với người dân Đài Loan như một xứ thuộc địa, một phần
đất của Nhật mà họ chiếm được chứ không phải với người đồng chủng. Albert
Ravenholt đă mô tả như sau:
Quốc Dân Đảng hành động một cách quyết liệt và tàn nhẫn để tiêu diệt mọi hoạt
động của cộng sản, bắt bớ và tra khảo hàng ngàn nghi can. Họ bắt và xử tử một số
cộng sản thật mà cũng là để trấn áp người dân trên đảo, hành hạ và bắt giam
nhiều người vô tội nữa. Đến nay vẫn c̣n hàng ngàn người ngồi tù, có người giam
đă hơn một năm rưỡi mà chưa được xử.
Đối với đa số dân trên đảo Formosa, cảnh tượng ghê sợ nhất là luật pháp không
bảo vệ cho dân thường. Người ta có thể bị bắt ban đêm bởi tiểu tổ đặc vụ, đưa ra
toà án quân sự và kết án mà không thể kháng tố được. Một khi vào tù th́ sống
chết là do ban quản đốc trại giam. Có thể một người bị bắt giam v́ muốn nổi loạn
nhưng lắm người bị tù chỉ v́ có kẻ muốn cướp đoạt tài sản nên bị vu cáo là cộng
sản.[25]
Một điểm quan trọng khác mà ít ai để ư là để đề kháng lại sức ép từ cả hai phía
Trung Cộng lẫn Quốc Dân Đảng, nhân dân Đài Loan trong mấy chục năm qua đă tạo
nên một bản sắc riêng, và họ mong muốn được đứng riêng một vị trí trong cộng
đồng thế giới. Mặc dù bị Trung Cộng đe dọa dùng vơ lực, khuynh hướng ly khai đó
ngày càng mạnh và trở thành một vấn đề quan trọng mà những chiến lược gia, kinh
tế gia thế giới không thể không lưu tâm. Người ta tin rằng chính Tổng Thống Lư
Đăng Huy cũng ngấm ngầm tán trợ quan điểm này.[26] Khuynh hướng đ̣i độc lập và
có một ghế tại LHQ hiện đang được vận động ráo riết. Đảng Dân Chủ Tiến Bộ (Dân
Tiến) do Hứa Tín Lương lănh đạo - đảng đối lập chủ trương Đài Loan tách rời khỏi
Trung Quốc - càng ngày càng tăng thế lực và ảnh hưởng đối với dân chúng. Rất có
thể trong một tương lai không xa họ sẽ thay thế Quốc Dân Đảng trong vai tṛ lănh
đạo.
(c̣n tiếp)
Nguyễn Duy Chính
TÀI LIỆU phổ biến do
|
To: |
VN-Politics@yahoogroups.com |
|
From: |
|
|
Date: |
Sun, 11 May 2008 21:31:19 -0700 (PDT) |
|
Subject: |
[VN - Politics] NGUYEN DUY CHINH : Chien Luoc Mat Bien Cua Trung Cong 1 |