|
Đọc Lại Di Chúc Hồ chí Minh! |
|
Nguyễn Thái
Hoàng |
Năm 1981, trên tờ “Con ong tỵ nạn” (Pháp) đă đăng toàn bộ nội dung bản di
chúc dưới dạng chữ viết
tay của Hồ Chủ Tịch. Ngay sau đó tờ “Thức Tỉnh” ở San diego (Mỹ) đăng lại nội dung này.
Điều quan trọng nhất,
nó là bản di chúc viết tay chứ không phải
đánh máy.
Nhân viên kiểm tu
thuộc hai quốc gia trên khẳng định:
“Không kẻ nào đủ
tài để làm giả di chúc Hồ Chí Minh… Cho dù có là chuyên gia viết chữ giả cũng
chỉ qua mặt người thường, không qua mặt được những cán bộ chuyên nghiệp chúng
tôi”.
Hơn nữa qua
việc “ngửi hơi văn”, xác định lại tính chất sự việc viết lại trong di chúc (ngày
14 tháng 8 năm 1969) mọi người đều thấy có rất nhiều yếu tố để khẳng định…
Mở đầu bản di
chúc viết:
“Thời xưa ở bên Trung Quốc người ta
thường nói, Con chim trước khi chết th́ tiếng kêu thương, c̣n người trước khi
chết th́ lời nói phải: Tôi tự xét ḿnh chẳng c̣n sống bao lâu nữa, nên cố gắng
viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấỵ
Sau đó là sự
xuất hiện của hai nhân vật “chóp bu” của Đảng Cộng Sản Việt Nam - hai học tṛ
xuất sắc nhất của “Bác” lúc bấy giờ, song lại vượt mặt, quay lại dồn ép, cấm vận
ḥng vô hiệu hoá bác, nên ông viết:
Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần
Quốc Hoàn tới gặp tôi, ép buộc tôi phải viết bản di chúc theo ư muốn của họ… Tôi
đă viết mà trong bụng vẫn tấm tức vô cùng.
Theo Bùi Tín…
kể từ tháng 5 năm 1965, khi bước vào tuổi 75, biết ḿnh chuẩn bị “nói tiếng đất,
quên tiếng trời”, ông bắt đầu viết di chúc để lại cho hậu thế muôn đời. Sau đó
cứ vào tháng 5 hàng năm, tháng có ngày sinh nhật của người, cả nước nhiệt liệt
chúc mừng, ông lại lôi ra cặm cụi viết lại, sửa thêm. V́ vậy tính đến 5-1969, là
năm cuối cùng ông nấn ná ở lại cơi đời (khi thuốc độc của Đảng mượn tay bác sĩ
Tôn Thất Tùng tiêm bắt đầu phát huy tác dụng) ông có tới 4 bản di chúc (quả là
kỳ tài, độc đáo, gi gỉ ǵ gi cái ǵ cũng lắm. Từ ngày sinh, ngày mất, tên tuổi,
vợ con, di chúc v. v... bao giờ cũng gấp 4, 5 lần người thường). Cũng trong cuốn
“Hoa xuyên tuyết” (trang 118) Bùi Tín viết: “Ông Vũ Kỳ kể lại: Vào buổi tối ngày
2-9-1969, sau khi ông Hồ Chí Minh qua đời, ông Phạm Văn Đồng đến nơi đặt thi hài
bác. Với tư cách của một thư kư riêng đầy trung thành, mẫn cán, ông Vũ Kỳ vội
đưa ra một phong b́ lớn đựng cả bốn bản di chúc. Sợ rầy rà, ông Đồng vội xua tay
ngăn lại, bảo: - Không, tôi không nhận. Đây là chuyện hệ trọng. Để sáng mai có
đầy đủ Bộ Chính trị, đồng chí hăy tŕnh ra”. Sáng 3-9-1969, trước mắt đông đủ Bộ
Chính trị, ông Vũ Kỳ làm đúng như lời ông Đồng dặn. Ông Lê Duẩn cầm rồi gọi ông
Hoàng Tùng, (Tổng biên tập báo Nhân Dân) vào pḥng bên cạnh. Sau khi xem xét qua
loa nội dung bốn bản, ông Duẩn quyết định chỉ đưa ra một bản, tự tay cắt bỏ, sửa
chữa vài chỗ rồi giao cho ông Hoàng Tùng công bố cho mọi người biết.. ”.
Thế là bốn bản
di chúc ấy ông viết cho Đảng, c̣n tờ di chúc thứ năm này ông viết riêng cho
ḿnh, cũng là cho toàn thể đồng bào trong cả nước, cho những ai quan tâm tới ông
trên thế giới và tất nhiên cho chính những đứa con đẻ, con rơi, cả người Việt
lẫn Trung Quốc, Thái Lan, Nga, Pháp của ông:
Nay tôi viết thêm tờ di chúc này, xin
coi là chính thức. Ngoài ra tôi không công nhận bất cứ bản di chúc nào khác. Tôi
ước mong một ngày nào đó, bản di chúc tôi viết đây sẽ được mọi người biết tới,
th́ ở thế giới bên kia tôi mới được thỏa ḷng.
Sau phần mào
đầu là nội dung, cũng là sự thú tội, trối trăn của ông, trước khi trở thành
người thiên cổ:
Tôi vốn con nhà nghèo nhưng từ bé đă
nuôi mộng đảo lộn sơn hà và đem lại vẻ vang cho ṇi giống, nên tôi bôn ba hải
ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn, gian khổ, vào tù ra khám, chỉ
mong có ngày tổ quốc ta độc lập, giàu mạnh, dân ta hạnh phúc, tự do
Lư do để ông
nuôi mộng “đảo lộn sơn hà” là:
Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam
ta, thấy có ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đă không quản
ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi
giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho dân tộc về cả văn minh và đời sống.
Ở đây ông hé mở
giúp chúng ta một điều bí mật của cuộc đời ḿnh mà suốt thời kỳ Đảng trị
(1930-2005) từ đứa bé lên 5 đến cụ già gần đất xa trời không ai được biết, v́
Đảng hoàn toàn bưng bít sự thực.
Là người Việt
Nam ai cũng biết Trần Thủ Độ là người vô cùng xảo hoạt, đầy uy lực, quyền bính,
nên đă thao túng được toàn bộ triều đ́nh nhà Lư. Biết Lư Huệ Tông (con trưởng
của vua Cao Tông) thể tạng nhỏ lại mang trọng bệnh, lên ngôi được 3 năm vẫn chưa
có con trai (1221- 1224) liền vận động hoàng hậu là Trần thị Dung và cận thần ép
Lư Huệ Tông phải ra chùa Chân Giáo chữa bệnh, để nhường ngôi cho con gái là Lư
Chiêu Hoàng, rồi dựng ra một đám cưới giữa Chiêu Hoàng (7 tuổi) và Trần Cảnh (8
tuổi) là cháu ruột ḿnh để Lư Chiêu Hoàng trao mọi quyền lực vào tay chồng. Ngay
sau đó ông ra chùa Chân Giáo buộc Huệ Tông (lúc bấy giờ là Huệ Quang đại tự)
phải tự vẫn chết khi mới tṛn 33 tuổi (*):
Nhà Lư đổ, chấm
dứt một thời trị v́ hơn 200 năm, trải qua tám đời (Lư bát đế), Trần Thủ Độ lấy
mẹ đẻ của Lư Chiêu Hoàng là Trần Thị Dung. Cuộc hôn nhân tưởng sẽ hoá giải được
xích mích giữa hai ḍng họ, triều vua, ai ngờ, với chiêu thức “nhổ cỏ nhổ tận
gốc”, nên khi biết các tôn thất nhà Lư hàng năm vẫn tụ tập hội họp tại ngôi nhà
lớn ở hoa thôn Thái B́nh để giỗ tổ, Trần Thủ Độ đă bí mật cho đặt cả hệ thống
dây chằng, xích sắt… cột trụ để giật sập nhà, giết chết cả 300 quan tài tướng
giỏi của triều cũ để họ hết bề làm phản. Hiện mộ chôn tập thể vẫn c̣n ở thôn
Thái B́nh, xă Mai Lâm, huyện Đông Anh (gần khu vực cầu Đuống, Hà Nội).
Thật là một tội
ác tày trời mà sử sách Việt Nam muôn đời ghi khắc.
Chưa đủ, sau 7
năm đặt cháu lên ngai vàng thấy Trần Cảnh vẫn không có con nối dơi, Trần Thủ Độ
liền cưỡng ép Trần Cảnh phải lấy chị ruột của vợ ḿnh là Thuận Thiên, khi đó
Thuận Thiên (vợ của Trần Liễu - anh trai Cảnh) đă có mang 4 tháng. C̣n Chiêu
Hoàng, nếu muốn ở lại trong cung th́ phải lấy Trần Liễu… . Không chịu nổi việc
đảo lộn luân thường đạo lư: Em rể lấy chị dâu, anh chồng lấy em vợ như vậy nên
sau khi ngửa cổ than: “Trời ơi, đến bậc dân thường c̣n hiểu điều phải quấy,
huống chi bậc đế vương. Sao có chuyện thương luân bại lư như vậy”. Lư Chiêu
Hoàng bỏ ra chùa Trấn Quốc…
Bản thân Hồ Chí
Minh quyết định học theo tấm gương đại gian đại ác này, hy vọng “đem lại vinh quang cho dân tộc về cả văn minh và đời
sống”. V́ thế suốt thời trai trẻ để đạt được ư đồ
“đảo lộn Sơn Hà” ông đă không bỏ qua bất cứ một thủ đoạn độc ác nào. Từ việc
mượn danh Nguyễn Ái Quốc của nhóm ngũ Long để tạo lập uy tín cho ḿnh đến việc
mật báo với chính quyền thuộc địa bán đứng cụ Phan Bội Châu (6-1925) để lấy
150.000 quan và toàn bộ tổ chức Tâm tâm xă cũng như uy tín tên tuổi của cụ, rồi
mượn tay Pháp tiêu diệt thẳng tay cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân
Đảng để họ không xâm phạm ngôi bá chủ của ḿnh. C̣n chiếm tên Hồ Chí Minh của
ông Hồ Học Lăm (một nhà ái quốc lừng danh lưu vong sang Tàu) cùng toàn bộ tổ
chức “Thanh niên Cách Mạng đồng chí hội” của ông để phô trương thanh thế, khi bị
con gái ông Lăm phát hiện đă bí mật cho người thủ tiêu trên đường bà này về thăm
quê ở Thanh Hoá.
Cũng v́ học
gương thoán ngôi, đoạt quyền của Trần Thủ Độ, ông c̣n thẳng tay đàn áp tất cả
các đảng phái không đi theo con đường vô sản, tuyệt diệt dân tộc của ông. Trang
sử vàng Việt Nam hiện nay vẫn c̣n lưu giữ những bí mật lớn. Tại sao Lê Hồng
Phong, Trần Phú, Nguyễn thị Minh Khai, Hà Huy Tập… lại bị Pháp bắt và phải nhận
bản án tử h́nh? Tại sao cụ Huỳnh Thúc Kháng - chủ tịch lâm thời của nước Việt
Nam dân chủ cộng Hoà, Lâm Đức Thụ - người đă cùng bày mưu tính kế với ông trong
việc bán đứng Phan Bội Châu, cũng là người đưa ông về ăn ở hàng năm trời tại nhà
rồi giới thiệu Tăng Tuyết Minh - là bạn thân của Lư Huệ Quần (vợ Lâm) thành vợ
ông (10-1926), lại bị thủ tiêu ngay sau thời điểm cách mạng tháng tám thành
công? ? ? Chừng nào những câu hỏi loại này chưa được giải đáp th́ h́nh búa liềm
của Đảng trên nền cờ đỏ măi măi chỉ là h́nh dấu hỏi trong con mắt các nhà sử
học, giới nghiên cứu, tri thức… mà thôi.
Phần sau ông tự
luận tội ḿnh trên trang giấy trắng:
Không lường sức ḿnh, không đo tài
ḿnh, tôi đă hành động như ông Trần Thủ Độ nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta
mới điêu linh, mà đầu ḿnh th́ nặng nề không biết bao nhiêu tội ác, không thể
nào tha thứ được.
Tiếp đó ông tự
chứng minh sự lầm lẫn do “không lường sức, không đo tài” của ḿnh:
Cái nhầm
tai hại nhất của tôi là đi theo Cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này
chẳng qua chỉ là giả bộ, để đánh lừa giai cấp nghèo mà cướp lấy chính quyền cho
nước Nga khi đó.
Lời trần t́nh
này chứng tỏ rằng ông đă vô cùng sai lầm khi đưa đất nước theo con đường mà
Lênin - người thầy vĩ đại của nhân dân Liên Xô - đă chọn - thực chất là làm tay
sai cho họ. Tiếp theo ông viết:
Tôi cũng ngay t́nh mà dùng những người
hợp tác với tôi. Tôi cứ tưởng những người đó quư yêu tôi, đâu ngờ họ đều là mật
thám của Nga sô, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi
đi theo con đường Nga đă vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào làm điều
ǵ độc ác th́ tôi phải chịu hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định
mà không hề cho tôi hay biết ǵ, như vụ cải cách điền địa ở Bắc Bộ chẳng hạn,
bây giờ nhân dân có quyền nguyền rủa, oán trách tôi không biết để đâu cho hết.
Thật đau xót
cho lịch sử Việt Nam v́ đă có một con người “vĩ đại” như thế cầm đầu, đưa cả dân
tộc vào biển thù hận, chết chóc, tang thương. Một sai lầm của lănh đạo, cả dân
tộc phải trả giá bằng trăm năm, huống hồ ông trực tiếp đưa đất nước hết từ sai
lầm này đến sai lầm khác, nào cải cách ruộng đất, nào cải tạo công thương
nghiệp, nào tư hữu hoá toàn Quốc, nào thành lập hợp tác xă nông nghiệp v. v...
và v. v... làm ǵ đất nước chẳng tan
nát, nhân dân chẳng điêu linh
như lời ông thú nhận… Chưa kể, ông c̣n mắc tội hiếu chiến, hiếu sát, d́m cả dân
tộc vào trong biển máu, từ phong trào xô viết Nghệ tĩnh 1930-1931, đến chiến
dịch Mậu Thân 1968… máu chảy một giây, di hoạ đủ một đời. Máu của người dân Việt
Nam chảy thành sông thành suối, ṛng ră suốt nửa thế kỷ, từ khi “đời ta có
Đảng”, đến khi Miền Nam bị “phỏng giái”, th́ di hoạ biết bao nhiêu mà kể xiết?
Chính v́ thế nên ông mới viết:
Dù sao tôi vẫn là người có tội, tôi
không dám chối căi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án
tôi quá nặng nề.
Kể hết tội của
ḿnh với dân nước rồi, ông bắt đầu “tố khổ”:
Đầu năm 1963, hồi đó tôi c̣n chưa bị
bọn quanh tôi bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Kiểm Soát
Quốc Tế Đ́nh Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô
đ́nh Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân t́nh yêu cầu cụ Ngô
cùng tôi thảo luận trong t́nh anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền,
trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng
người.
Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết
trong Nam, c̣n ở ngoài Bắc th́ tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền
quyết định điều ǵ nữa cả.
Điều này đúng
như thực tế đă diễn ra trong bối cảnh Việt Nam lúc ấy, ông đă bị vô hiệu hoá,
nói chính xác hơn trở thành con rối trong tay hai kẻ tội đồ của dân tộc là Lê
Duẩn, Lê Đức Thọ. Di thư của ông nói rơ lư do v́ sao ông chưa đi gặp Các Mác Lê
Nin:
Đáng lư ra tôi có thể bị giết ngay từ
hồi đó rồi, nhưng tên tuổi c̣n được thế giới biết đến, nên họ c̣n phải lợi dụng
mà để tôi sống thêm. Tôi đă già rồi, râu tóc đă bạc mà c̣n phải sống trong cảnh
tù giam lỏng, cứ nghĩ đến điều này làm tôi ứa nước mắt. Họ đă không giết tôi
nhưng sai ông Bác sĩ Tôn thất Tùng cho tôi uống thuốc độc để tôi không thể đi
đâu được nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc.
Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết dần, chết ṃn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày
tắt thở. Thật cũng tiếc, khi về già, biết ḿnh sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không
được nữa.
Càng cay nghiệt
lắm, càng oan trái nhiều. Đoạn đầu cách mạng ông đă “cách” không biết bao nhiêu
“mạng” của đồng chí ḿnh, hoặc mượn tay Pháp, hoặc phái tay chân… để thực hiện ư
đồ của ḿnh ḥng độc chiếm ngôi vị bá chủ, nên chặng cuối cách mạng, tự ông phải
nếm mùi oan trái. V́ gieo gió ông đành phải gặt băo, dù có muốn tránh băo cũng
không được.. Cơn băo của ḷng hận thù, đau xót của bao nhiêu người đồng chí
hướng với ông - đă mượn tay hai kẻ độc đoán chuyên quyền - học tṛ xuất sắc số 1
- là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ để trút xuống đầu ông, “cách” dần cái “mạng” già của
ông.
Phần cuối di
thư ông viết:
Trước khi viết phần cuối của tờ di
chúc này, tôi xin thú nhận, tôi là một người không phải thần thánh ǵ nên khi
tôi c̣n sống cũng đủ “bảy t́nh” như kinh nhà Phật đă đề cập. Tôi không có vợ,
nhưng cũng có được đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi, khi đọc tờ di
chúc này sẽ tha thứ cho tôi đă không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử t́nh
thâm, tôi luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.
Theo ông Nguyễn
Thế Kỷ: Người được “Bác Hồ” ủy quyền giao cho giữ tờ di chúc đặc biệt này là Vũ
Kỳ, thư kư riêng của bác. Năm 1980 ông Kỷ được người nhà bảo lănh sang Pháp.
Thời kỳ đó sang các nước tư bản c̣n là điều hiếm, v́ thế ông đă được Vũ Kỳ bí
mật gặp gỡ và trao vào tay tờ di chúc này, với lời dặn vô cùng quan trọng: Phải
t́m bằng được đứa con gái ông Hồ tại Pháp, khi đó cũng sấp sỉ ở độ tuổi trên
dưới 65 để trao tận tay lá thư này. Nhờ thế đến năm 1981, Kiều bào Việt Nam mới
biết đến di chúc thật của Hồ Chí Minh, hoàn toàn khác với các di chúc đă được
công bố trong nước.
Tiếp đó ông
viết:
Ai cũng tưởng tôi là con người vô
thần, nhưng riêng Đức cha Lê Hữu Từ th́ biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hoá. V́ tin
có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng sản khác trên thế
giới sớm thoát ách Cộng sản.
Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc
này có ngày được phổ biến khắp nơi…
Điều ông mong
ước tṛn một giáp sau đă thành hiện thực. Tất nhiên nó được phổ biến ở những nơi
mà ách cộng sản đă bị tiêu diệt, riêng Việt Nam, người dân đă thuộc làu những
bản di chúc khác của ông, c̣n bản quan trọng này th́ chưa hề tồn tại trong ư
nghĩ họ. Chính v́ thế mọi cuộc tranh luận trở nên vô cùng vô bổ và tội nghiệp -
không tránh khỏi cảnh va chạm xích mích, chụp mũ lên đầu nhau v́ cuộc đời thực
của ông ở quốc nội chưa hề được hé mở. Người ta chỉ biết đến một Hồ chí minh có
công giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp mà không biết đến một
Hồ - chính mi - một kẻ đưa đất nước vào con đường làm tay sai cho Nga Sô và
Trung cộng, cho chủ nghĩa Mác Lê Nin chuyên quyền bạo ngược và nhà nước xă hội
chủ nghĩa bưng bít, lọc lừa…
Trước khi khép lại bản di chúc ông tiếp tục bày tỏ
ḷng hối hận của ḿnh:
Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều, mượn tạm
hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ ḷng hối hận trước cao xanh:
Rằng con biết tội đă nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa ŕu cũng cam
Hà Nội
14-8-1969
Tên kư:
Hồ chí Minh
Tất nhiên tội
của ông c̣n nhiều hơn hẳn những ǵ ông tự nhận. T́nh cảnh ông giống như con chim
sắp chết, mới chỉ thốt ra tiếng kêu thương, mà chưa thốt ra đầy đủ những lời nói
thật. Bằng chứng là ông không đề cập ǵ đến chuyện bà Nguyễn thị Xuân và cậu
Nguyễn Tất Trung. Chẳng lẽ khi đă tự cho ḿnh thoát ách Cộng sản để viết di chúc
này, ông vẫn sợ uy quyền của bộ chính trị, chờ xin ư kiến chỉ đạo của họ mới dám
công khai chuyện tày đ́nh này sao? Hay sợ nói ra th́ sấm sét búa ŕu cũng không buông tha, bắt
ông phải lửng lơ măi măi trên trần thế? 36 năm rồi vẫn không được về với cát bụi,
được siêu thoát như người b́nh thường để gặp được cha, mẹ họ hàng? Hay chí ít
cũng là hai bậc tiền bối cách mạng, chuyên bói ra hư vô và quét nhà ra xác chết!
Kể từ khi ngôi nhà xă hội chủ nghĩa được xây trên dải đất đau thương h́nh chữ S
này, có không biết bao nhiêu là xác chết? Chắc chắn nó phải chiếm tới 1/8 đến
1/10 dân số hiện nay…
Bản di chúc này
cũng là bản tổng kết một phần cuộc đời lầm lạc vĩ đại của ông. Không làm được
như Trần Thủ Độ: Gây nên cơ nghiệp hiển hách
của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho dân tộc về cả văn minh và
đời sống, ông mới chỉ làm được như Trần… Thủ đoạn, đảo lộn sơn hà,
đưa dân nước vào ách cộng sản, để rồi cuối đời khi nhận ra đất nước tan nát, nhân dân điêu linh th́
tất cả đă muộn… Ách cộng sản độc tài, chuyên chế măi c̣n đè nặng trên cổ người
dân Việt Nam yếu ớt u mê, cho dù gần 200 nước khác trên thế giới đă thoát ra
được như lời mong ước của ông:
V́ tin có
ông trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng sản khác trên thế
giới sớm thoát ách Cộng sản
**.
Không hiểu v́
trời không có mắt nên 81 triệu người dân Việt Nam c̣n phải sống măi trong cảnh
đêm trường nô lệ, “đêm giữa ban ngày” dưới ách thống trị của Đảng cộng sản? Hay
v́ Dân tộc Việt Nam đă sai lầm khi đẻ ra một vĩ nhân cho nên phải chịu hậu quả
nhỡn tiền của việc đẻ ra vĩ nhân đó?
Long Thành
10-2005
N. T. H
 |