Viễn kiến, quyền
lực và tính chủ động:
Con đường lên nắm quyền của Ngô Đ́nh Diệm,
1945-1954
Edward Miller -
Hoài Phi, Vy Huyền dịch
Tóm lược:
Bài viết này phản bác lại
những diễn giải hiện có về Ngô Đ́nh Diệm bằng cách xem
xét những hoạt động của ông trong ṿng một thập kỷ trước
khi ông trở thành lănh đạo của miền
Nam Việt Nam vào năm 1954. Ngô Đ́nh Diệm
đă chủ động t́m cách nắm quyền trong những năm đó, và
ông thành công chủ yếu nhờ nỗ lực của chính ḿnh và của
những đồng minh người Việt của ông. Cùng thời gian đó,
ông và em trai là Ngô Đ́nh Nhu cũng phác thảo ra viễn
kiến đặc biệt về quá tŕnh hiện đại hoá, so rơ cho chúng
ta thấy chiến lược xây dựng quốc gia ở miền Nam Việt Nam
sau năm 1954.
Tác giả:
Edward Miller là giáo sư khoa Lịch sử, trường đại học
Dartmouth.
*
Ngô Đ́nh Diệm là ai? Trong nhiều thập niên sau vụ ám sát ông
vào năm 1963, các sử gia và nhiều cây bút đă đưa ra những
diễn giải rất khác nhau về cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Mặc dù việc Ngô Đ́nh Diệm là một nhân vật quan trọng trong
lịch sử các cuộc chiến Đông Dương là điều không ai phản bác
– suy cho cùng, cuộc xung đột sau này trở thành “cuộc chiến
tranh Mỹ” ở Việt Nam được bắt đầu bằng một cuộc nổi dậy
chống lại chính thể miền Nam của Ngô Đ́nh Diệm – nhưng người
ta không nhất trí được rằng v́ sao và làm thế nào mà Ngô
Đ́nh Diệm bước vào một vai tṛ chủ chốt như vậy. Trong thời
gian Ngô Đ́nh Diệm nắm quyền (1954-1963), nhiều người ở Việt
Nam và những nơi khác trên thế giới đă mô tả ông là con rối
của Mỹ, người đă được Hoa Thịnh Đốn dựng nên và hậu thuẫn để
phục vụ các mục đích của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. Ngược
lại, những bài viết kể từ thập kỷ 1960 trở đi lại nhấn mạnh
vào sự thiếu thiện ư rơ rệt của Ngô Đ́nh Diệm trong việc
chấp nhận để Hoa Kỳ cố vấn, và thực tế là liên minh giữa ông
và Mỹ cuối cùng đă sụp đổ. Nhiều học giả do vậy đă bác bỏ
quan niệm cho rằng Ngô Đ́nh Diệm chỉ là một sản phẩm của
chính sách ngoại giao Mỹ, và đă mô tả Ngô Đ́nh Diệm như một
sản phẩm của “những truyền thống” tiền hiện đại, chẳng hạn
như Thiên chuá giáo và Nho giáo. Nhưng giữa các học giả này
không có sự đồng thuận về ư nghĩa và hậu quả của các phẩm
chất “truyền thống” ở Ngô Đ́nh Diệm. Trong một vài nghiên
cứu sử học gần đây, Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu xuất hiện như một
vị thánh – anh hùng dân tộc, người đă bị những đồng minh
thất thường phá đám; trong một vài nghiên cứu khác, ông lại
bị mô tả như một kẻ chuyên quyền cứng nhắc, người đă thất
bại v́ cố bám lấy những quan niệm lănh đạo lỗi thời.
[1]
Những diễn giả dường như khác hẳn nhau này về Ngô Đ́nh Diệm
– hoặc là bù nh́n của Mỹ, hoặc một người yêu nước đạo đức,
hoặc một kẻ chuyên quyền phản động - thật ra khá giống nhau.
Qua việc mô tả Diệm đơn giản và bằng phẳng, họ đều không
công nhận những khía cạnh riêng biệt cũng như ngẫu nhiên
trong tư tưởng cũng như hành động của ông. Dù người ta cho
rằng Ngô Đ́nh Diệm chỉ là người thừa hành các mưu đồ của Hoa
Kỳ hay biểu thị những đặc tính văn hoá hay xă hội “truyền
thống”, th́ kết quả vẫn thế: trong cả hai trường hợp, khả
năng ông tự làm chủ suy nghĩ và hành động của ḿnh đều không
được thừa nhận. Tóm lại, những diễn giải đang tồn tại về Ngô
Đ́nh Diệm đă tước đi của ông vai tṛ tác nhân lịch sử. Kết
quả là, như một sử gia chỉ ra gần đây, các nghiên cứu sử học
đă hạ vai tṛ của ông xuống thành “phiến diện”.
[2]
Bài viết này nhằm khôi phục phần nào vai tṛ tác nhân của
Ngô Đ́nh Diệm qua việc xem xét phần sự nghiệp ít được nghiên
cứu đến của ông: thập niên trước năm 1954 khi ông được cử
làm Thủ tướng của phần đất mà ngay sau đó sẽ trở thành miền
Nam Việt Nam. Nghiên cứu của tôi phản bác lại những quan
điểm hiện có về Ngô Đ́nh Diệm về hai mặt. Trước hết, bài
viết bác bỏ những khẳng định rằng Ngô Đ́nh Diệm đă trải qua
thời gian cuộc chiến Việt Minh – Pháp 1945-1954 trong t́nh
trạng tự cô lập về chính trị, và lặng lẽ chờ thời cơ.
[3] Trong thực tế, Ngô Đ́nh Diệm không hề
lánh xa những cuộc xung đột đă xé nát Đông Dương, và ông có
liên hệ với hầu hết tất cả các nhân vật chủ chốt trong nền
chính trị Đông Dương khi đó. Do đó, thay v́ mô tả ông như
một nhân vật thụ động hoàn toàn hoặc phần lớn dựa vào sự ủng
hộ của nhóm này hay nhóm khác, bài viết chỉ ra rằng Ngô Đ́nh
Diệm đóng một vai tṛ quan trọng và chủ động trong việc tạo
dựng quyền lực cho ḿnh.
Thứ hai, bài phân tích của tôi phản bác lại quan niệm cho
rằng có thể coi tư tưởng và hành động của Ngô Đ́nh Diệm vào
năm 1945-1954 là bằng chứng cho cách nghĩ “truyền thống”.
Như nhà học giả hậu thuộc địa Ronald Inden đă chỉ ra, những
viện dẫn “truyền thống” thường bộc lộ xu hướng bản chất luận
vốn ngấm sâu trong nền học thuật phương Tây khi nghiên cứu
về Châu Á và người Châu Á.
[4] Những ví dụ mà Inden phê phán được rút ra
từ ngành Ấn độ học, nhưng lư luận của ông có thể áp dụng vào
những nghiên cứu viết về Việt Nam nói chung và về Ngô Đ́nh
Diệm nói riêng. Cũng như các học giả Ấn Độ học có xu hướng
quy vai tṛ chủ động của người Ấn sang cho người Châu Âu
hoặc cho những phẩm chất được coi là bản chất của đời sống
Ấn Độ chẳng hạn như vấn đề đẳng cấp (caste) hay vương quyền
thiêng liêng, các học giả về Chiến tranh Việt Nam cũng
thường quy vai tṛ chủ động của Ngô Đ́nh Diệm cho người Mỹ,
hoặc cho những “bản chất” như Nho giáo hoặc Thiên chúa giáo.
Bằng cách quy lời nói và hành động của Ngô Đ́nh Diệm cho
những ảnh hưởng c̣n rơi rớt lại của cách nghĩ tiền hiện đại,
nhiều tác giả đă bỏ qua nỗ lực thay đổi những quan niệm cũ
thành những h́nh thức mới của Ngô Đ́nh Diệm, cũng như việc
ông quyết tâm đẩy mạnh một viễn kiến riêng biệt về việc làm
thế nào để Việt Nam có thể trở thành một quốc gia hiện đại.
[5] Đương nhiên là viễn kiến về công cuộc
hiện đại hoá Việt Nam của Ngô Đ́nh Diệm chỉ nảy sinh dần dần,
và vào năm 1954 th́ nó vẫn chưa được hoàn thiện. Hơn nữa, đó
là một viễn kiến hết sức riêng biệt, và nỗ lực của ông trong
việc thuyết phục người dân miền Nam về tác dụng và ưu điểm
của viễn kiến ấy đă thất bại thảm hại về mặt lâu dài, nhưng
thất bại không nhất thiết là tầm thường hay không hợp lư. Để
có thể có được cách hiểu lịch sử hơn và ít biếm hoạ hơn về
vai tṛ của Ngô Đ́nh Diệm trong lịch sử các cuộc chiến Đông
Dương, chúng ta cần hiểu được bản chất ngẫu nhiên và đương
thời trong quan niệm của ông, và phải xem xét bối cảnh lịch
sử - Đông Dương thời cuối thuộc địa – đă khiến ông có những
tư tưởng đó.
Ngô Đ́nh Diệm và cuộc truy t́m một “Lực lượng thứ Ba”,
1945-1950
Với nhiều người Việt quốc gia, khởi đầu của cuộc chiến tranh
toàn diện giữa Pháp và Việt Minh vào tháng 12 năm 1946 đặt
ra một lựa chọn quả quyết và khó khăn. Ư tưởng ủng hộ chế độ
thực dân khiến các nhà hoạt động chống thực dân, chủ trương
giành độc lập cho Việt Nam, cảm thấy ghê tởm; mặt khác,
nhiều người quốc gia cũng chùn ngại trước ư tưởng ủng hộ Hồ
Chí Minh và mặt trận Việt Minh do những người cộng sản chi
phối. Một số người từ chối hợp tác với Việt Minh v́ lư tưởng;
những người khác e ngại cộng sản v́ họ đă có kinh nghiệm
trong quá khứ.
[6] Phải đối mặt với những lựa chọn chẳng hay
ho ǵ như vậy, những người quốc gia này thường từ chối không
chọn bên nào, và quyết định chờ sự xuất hiện của một “Lực
lượng thứ Ba” - một đảng phái hay liên minh độc lập vừa
chống thực dân vừa chống cộng. Từ giữa thập niên 1940, có
rất nhiều nỗ lực thành lập Lực lượng thứ Ba ở Đông Dương,
nhưng tất cả đều thất bại v́ những rạn nứt tư tưởng và chính
trị đă chia rẽ vô số các đảng phái, giáo phái, và bè nhóm
không cộng sản của Việt Nam. Kết quả là, nhiều nhà quốc gia
đă đặt ḿnh vào thế trung lập không mấy dễ chịu trong cuộc
xung đột. Người Pháp chê nhóm lẽ-ra-hẳn-là Lực lượng thứ Ba
này là những người “thiếu lập trường” (fence-sitter), c̣n
Việt Minh th́ chế nhạo họ v́ đă “trùm chăn”.
Là một nhà quốc gia và một lănh đạo Công giáo nổi tiếng, Ngô
Đ́nh Diệm là một trong những người lỗi lạc nhất thuộc nhóm
thiếu lập trường. Nhưng đây là cách hiểu dễ gây sai
lầm, v́ nó ngụ ư rằng Ngô Đ́nh Diệm ngại phải mạo hiểm chính
trị. Ngô Đ́nh Diệm sinh năm 1901 trong một gia đ́nh Công
giáo hết sức thành đạt. Cha ông, Ngô Đ́nh Khả là Thượng thư
triều đ́nh; anh cả Ngô Đ́nh Khôi là tổng đốc một tỉnh thời
thuộc địa và một anh trai khác, Ngô Đ́nh Thục, trở thành một
trong những vị tổng giám mục Công giáo đầu tiên của Việt
Nam. Ngô Đ́nh Diệm tiếp nối truyền thống gia đ́nh, trở thành
một viên quan trong triều, và lên tới chức tổng đốc khi c̣n
đang trong những năm cuối tuổi hai mươi. Ông thành công
không những nhờ tài cai trị hành chính mà c̣n nhờ sự đỡ đầu
của Nguyễn Hữu Bài, một người Công giáo và lănh đạo Hội đồng
Thượng thư ở Huế. Mặc dù có một quá tŕnh hợp tác lâu dài
với chính phủ thuộc địa, vào thập niên 1920, Nguyễn Hữu Bài
trở nên bất măn với việc Pháp ngày càng xâm phạm các đặc
quyền của Triều đ́nh Huế, v́ vậy ông ta đă tranh thủ Ngô
Đ́nh Diệm và các anh của Ngô Đ́nh Diệm trong nỗ lực gây áp
lực với Pháp để cải cách nhằm khôi phục lại chủ quyền của
Việt Nam. Vào năm 1933, người Pháp cố gắng xoa dịu Nguyễn
Hữu Bài bằng cách nâng Ngô Đ́nh Diệm lên chức vụ Thượng thư
Bộ Lại; nhưng nước cờ này đă bị đập lại khi Nguyễn Hữu Bài
cố vấn Ngô Đ́nh Diệm từ chức để phản đối việc Pháp không
chịu khoan nhượng trong vấn đề cải cách. Việc từ chức của
Ngô Đ́nh Diệm đă tạo cho ông danh tiếng là một nhà quốc gia
không thoả hiệp, mặc dù nó cũng khẳng định địa vị của ông
như một lănh đạo Công giáo nhiều tham vọng và quá khích.
[7]
Dù có những nhận định ngược lại về Ngô Đ́nh Diệm, sau năm
1933 ông không rơi vào cảnh bị quên lăng về mặt chính trị,
mà vẫn rất tích cực tham gia vào t́nh h́nh chính trị triều
đ́nh ở Huế suốt thập niên 1930, dù ông không c̣n giữ chức vụ
nữa và đang bị cảnh sát theo dơi.
[8] Sau năm 1940, ông tăng cường hoạt động
nhằm khai thác các cơ hội chính trị mới nảy sinh do việc
Nhật chiếm Đông Dương. Việc chiếm đóng của Nhật từ 1940-1945
rất kỳ lạ, v́ Nhật cho phép một chính phủ thuộc địa Đông
Dương thân Vichy được tiếp tục tồn tại để đổi lại những đặc
quyền đồn trú và được cung cấp lương thực. Một chính sách
như vậy trái ngược hoàn toàn với thực hành của Nhật ở những
nơi khác vùng Đông Nam Á trong Thế chiến thứ Hai, và nó
không phù hợp với các quan chức Nhật, những người tự coi
ḿnh là “lư tưởng” trong vấn đề giải phóng các nước đồng
chủng Á Châu khỏi ách thuộc địa Châu Âu. Sự bất măn của
những người Nhật “có lư tưởng này” mở đường cho Ngô Đ́nh
Diệm, và vào năm 1942, ông đă bị cuốn vào nhiều nhóm mưu đồ
chống Pháp. Vào năm 1943, Ngô Đ́nh Diệm cử người liên lạc
với hoàng tử Cường Để, một nhà hoạt động chống thực dân lâu
năm và tuyên bố ḿnh là kế thừa hợp pháp của triều Nguyễn;
Cường Để sống lưu vong ở Nhật đă hơn hai thập niên, và có
liên hệ với các sĩ quan và các nhà ngoại giao “có lư tưởng”
ở cả Tokyo và Đông Dương. Cũng trong khoảng thời gian đó,
Ngô Đ́nh Diệm lập ra một đảng chính trị bí mật được biết đến
với tên Đại Việt Phục hưng Hội. Hội này dường như chủ yếu
hoạt động ở vùng quê hương của Ngô Đ́nh Diệm thuộc miền
Trung Việt Nam, và đảng viên hầu hết - thậm chí có thể toàn
bộ - đều là dân Công giáo. Vào mùa hè năm 1944, sở mật thám
Pháp biết được sự tồn tại của đảng Ngô Đ́nh Diệm thành lập
và bắt đầu bắt bớ đảng viên. Ngô Đ́nh Diệm thoát khỏi bị bắt
nhờ sự giúp đỡ của Tổng Lănh sự Nhật ở Huế, người đă giúp
ông ra khỏi thành phố bằng cách cải trang ông thành một sĩ
quan trong quân lính hoàng gia. Ông được bay vào Sài G̣n và
ở đó vài tháng dưới sự bảo vệ của quân đội Nhật.
[9]
Trong một khoảng thời gian ngắn đầu năm 1945, có vẻ như mưu
kế dùng người Nhật của Ngô Đ́nh Diệm sẽ thành công. Vào cuối
năm 1944, giới tướng lănh Nhật quyết định rằng đă đến lúc
phải hạ bệ chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương. Khi họ đang
chuẩn bị một vụ lật đổ, các sĩ quan “có lư tưởng” người Nhật
đề nghị đưa Cường Để lên ngôi và đặt Ngô Đ́nh Diệm làm thủ
tướng của chính phủ mới. Không may cho Cường Để, nhà chỉ huy
tối cao Nhật tại Đông Dương không đồng ư với lập luận của
phe “có lư tưởng”, và ông ta đă phá huỷ kế hoạch trao trả
“độc lập” cho người Việt. Kết quả là, khi vụ lật đổ xảy ra
vào ngày 9 tháng Ba năm 1945, vị hoàng tử già vẫn ở lại Nhật
và Hoàng đế Bảo Đại đương vị vẫn được tiếp tục giữ vương
miện. Bảo Đại có thể biết rằng trước đó Ngô Đ́nh Diệm đă
liên minh với Cường Để; nhưng ông vẫn coi Ngô Đ́nh Diệm là
ứng cử viên số một để lănh đạo chính phủ Việt Nam mới thay
thế cho chế độ thực dân, và v́ vậy ông đă triệu Ngô Đ́nh
Diệm từ Sài G̣n về Huế. Ngô Đ́nh Diệm phạm phải một tính
toán sai lầm trầm trọng là đă từ chối đề nghị của Hoàng đế.
Gần như ngay lập tức sau đó, ông hối hận về quyết định này
và cố gắng đảo ngược t́nh thế, nhưng quá muộn: Bảo Đại đă
mời học giả và nhà phê b́nh văn hoá Trần Trọng Kim lên làm
thủ tướng thế chỗ Ngô Đ́nh Diệm. Ngô Đ́nh Diệm đă để lỡ một
cơ hội vàng ngọc, mặc dù không phải v́ không cố gắng hay
không quan tâm.
[10]
Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc lên nắm quyền bất ngờ
của Hồ Chí Minh và Việt Minh không làm giảm quyết tâm theo
đuổi tham vọng chính trị của Ngô Đ́nh Diệm. Thay v́ rút ra
khỏi cuộc xung đột trong lúc Việt Minh và Pháp đánh nhau (giành
quyền) quyết định tương lai của Đông Dương, Ngô Đ́nh Diệm
cân nhắc xem làm thế nào có thể lợi dụng t́nh h́nh đương
thời để xây dựng một phong trào mới mà cuối cùng có thể áp
đảo cả hai đối thủ mạnh này. Ông hiểu việc xây dựng một Lực
lượng thứ Ba có thể đứng vững được th́ cần phải có thời gian,
và lúc này, ông không thể trực tiếp thách thức Pháp hay Việt
Minh. V́ vậy, ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong
cuộc xung đột, cùng khi đó, ông cũng cố gắng xây dựng và duy
tŕ quan hệ với cả hai phía. Bằng cách này, Ngô Đ́nh Diệm hy
vọng có thể có thêm thời gian và mở rộng nhóm ủng hộ ḿnh và
gây thiệt hại cho cả hai đối thủ.
Nỗ lực áp dụng vị trí phi lập trường của Ngô Đ́nh Diệm nhằm
đạt được lợi thế chính trị tối đa được thể hiện rơ trong
quan hệ của ông với Việt Minh vào cuối thập niên 1940. Bất
chấp việc sau này ông nói ngược lại, những tiếp xúc của Ngô
Đ́nh Diệm với Hồ Chí Minh và các lănh đạo Việt Minh khác
được mô tả là ve văn nhiều hơn từ chối rất nhiều. Không lâu
sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Đ́nh Diệm bị du kích Việt Minh
bắt giữ ở miền Trung Việt Nam. Sau khi bị giam một thời gian
tại một vùng núi hẻo lánh, người ta đưa ông ra Hà Nội vào
đầu năm 1946 để gặp Hồ Chí Minh, người đề nghị với ông một
chức vụ trong chính phủ đoàn kết Việt Minh.
[11] Trong những năm sau này, Ngô Đ́nh Diệm
tuyên bố là ḿnh đă bác bỏ đề nghị này ngay tức th́; ông
cũng kể là đă thuyết phục Hồ Chí Minh thả ḿnh chỉ đơn giản
bằng cách nh́n thẳng vào mặt vị thủ lĩnh Việt Minh và hỏi
một cách hùng biện: ‘Tôi có phải là người sợ áp bức hay sợ
chết không?”
[12]
Không có lư do ǵ để nghi ngờ việc Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố
ông dùng những lời lẽ sắc bén và chua chát trong cuộc gặp
đó, v́ ông biết rằng quân Việt Minh bắt và xử tử người anh
cả Ngô Đ́nh Khôi của ḿnh mấy tháng trước đó. Mặt khác, khi
câu chuyện được Ngô Đ́nh Diệm kể lại về cuộc gặp này vào sau
năm 1954 lược bỏ sự thực rằng ông đă sẵn ḷng tham gia một
chính phủ Việt Minh nếu như Hồ Chí Minh chỉ cần đồng ư với
yêu cầu để ông nắm giữ một số mặt trong chính sách.
[13] Tương tự, ông cũng không bao giờ công
khai thừa nhận việc ông vẫn giữ liên lạc với các lănh đạo
Việt Minh trong ít nhất hai năm sau khi được Hồ Chí Minh
thả. Báo cáo của t́nh báo Pháp thời kỳ này cho thấy rằng Ngô
Đ́nh Diệm duy tŕ các mối liên lạc này với hy vọng cuối cùng
có thể thuyết phục một số lănh đạo Việt Minh bỏ Hồ Chí Minh
và quay sang với ông. Theo tin tức của chỉ điểm Pháp, những
cuộc trao đổi này khơi dậy những quan tâm đáng kể trong hành
ngũ lănh đạo Việt Minh ở Nam Bộ trong năm 1947-1948. Nhiều
quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đ́nh Diệm và cũng ngưỡng
mộ anh của Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Thục, và thậm chí người
ta c̣n rỉ tai nhau là Ngô Đ́nh Diệm đă lôi kéo được tướng
Nguyễn B́nh, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam
Bộ, đào ngũ.
[14]
Cùng thời gian Ngô Đ́nh Diệm đang có quan hệ tay đôi với
Việt Minh, ông cũng t́m cách liên minh với các lănh đạo và
các nhóm phái chống cộng. Nỗ lực của Ngô Đ́nh Diệm về hướng
này dường như được khơi nguồn cảm hứng từ ví dụ về một liên
minh Lực lượng thứ Ba tồn tại ngắn ngủi, được biết đến với
tên Mặt trận Thống nhứt Quốc gia. Mặt trận này được h́nh
thành đầu năm 1947 tại một hội nghị của các đảng chính trị
và nhóm phái chống cộng tổ chức tại Nam Kinh, Trung Quốc.
Sau một đợt hoạt động dấy lên vào mùa xuân và mùa hè năm
1947, mặt trận này bất ngờ sụp đổ do việc một trong những
lănh đạo chủ chốt bị Việt Minh ám sát và do những tranh đấu
nội bộ giữa các thành viên.
[15] Dường như Ngô Đ́nh Diệm không tham gia
vào việc thành lập mặt trận, nhưng khi mặt trận này tự tan
vỡ, ông nhanh chóng chuyển theo sự nghiệp của Lực lượng thứ
Ba. Vào giữa năm 1947, ông liên minh với Nguyễn Tôn Hoàn,
một lănh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập
Đại Việt Quốc dân Đảng (thường được biết đến với tên Đại
Việt). Suốt mùa thu năm ấy, Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn
sát cánh bên nhau để thuyết phục những người chống cộng tham
gia một tổ chức quốc gia mới với tên gọi Việt Nam Quốc gia
Liên hiệp. Mặc dù sau này trở thành kẻ thù như nước với lửa,
Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn gắn bó với nhau vào năm
1947 v́ họ có chung tham vọng xây dựng một phong trào Lực
lượng thứ Ba tồn tại được. Những liên hệ của Nguyễn Tôn Hoàn
trong đảng Đại Việt và của Ngô Đ́nh Diệm với những ủng hộ
viên Công giáo trở thành một phối hợp mạnh mẽ, và trong một
khoảng thời gian ngắn, dường như Liên hiệp sẽ thành công ở
nơi mà Mặt trận Thống nhứt Quốc gia thất bại.
[16]
Theo Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn, mục đích của Liên
hiệp là vận động ủng hộ cho một phong trào chính trị mới
dưới sự bảo trợ của Bảo Đại. Sau một thời gian ngắn giữ chức
là người đứng đầu Đế chế Việt Nam do Nhật bảo hộ vào năm
1945, vị hoàng đế này đă buộc phải thoái vị trong Cách mạng
tháng Tám. Ông làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà của Hồ Chí Minh trong một thời gian ngắn ngủi,
nhưng vài tháng sau đó chọn sống lưu vong ở ngoại quốc. Năm
1947, Bảo Đại sống ở Hồng Kông và bắt đầu xem xét các đề
nghị của Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Tôn Hoàn và những người Việt
Nam khác v́ họ hi vọng là ông có thể chỉ huy một liên minh
gồm những nhóm và bè phái không cộng sản vốn bị chia rẽ của
Việt Nam. Nhưng cùng lúc đó, cựu hoàng cũng gặp gỡ các viên
chức người Pháp. Họ tâng bốc ông làm “trung gian” giữa chủ
nghĩa thực dân của Pháp và chủ nghĩa quốc gia của Việt Nam.
Vào cuối năm 1947, sự xu nịnh này h́nh như đạt được ảnh
hưởng cần thiết: vào tháng Mười Hai, Bảo Đại trở lại Đông
Dương trong một thời gian ngắn và đồng ư trên nguyên tắc cho
việc thành lập một chính phủ Việt Nam mới trong Liên hiệp
Pháp. Sau đó Bảo Đại lại quay về Hồng Kông để cân nhắc nước
cờ tới và để nghe lời khuyên của nhiều nhà lănh đạo người
Việt khác nhau.
[17]
Ngô Đ́nh Diệm là một trong số những người đă sang Hồng Kông
để cố vấn cho cựu hoàng. Bảo Đại chưa quên việc Ngô Đ́nh
Diệm từ chối phục vụ dưới quyền ông trước đây; nhưng ông vẫn
chăm chú lắng nghe Ngô Đ́nh Diệm giục ông đ̣i hỏi Paris
nhượng bộ thêm. Ngô Đ́nh Diệm đặc biệt cao giọng cảnh cáo
rằng các nhà quốc gia Việt Nam sẽ không chấp nhận với người
Pháp điều ǵ ít hơn t́nh trạng mà Anh gần đây thừa nhận Ấn
Độ và Pakistan. Bảo Đại có vẻ tiếp thu những lập luận này;
nhưng Ngô Đ́nh Diệm sợ cựu hoàng vẫn bị ảnh hưởng các đề
nghị của Pháp.
[18] Vào tháng Hai năm 1948, Ngô Đ́nh Diệm và
các lănh đạo khác thuộc phe quốc gia gặp tại Sài G̣n để thảo
ra một khung đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập của Việt
Nam. Sau đó Ngô Đ́nh Diệm quay trở lại Hồng Kông vào tháng
Ba để cố gắng thuyết phục Bảo Đại ủng hộ kế hoạch này; ông
cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi
chủ quyền của Việt Nam. Điều quan trọng là kế hoạch Ngô Đ́nh
Diệm cổ vũ trong những cuộc gặp gỡ này phản ánh nhận thức về
nền cộng hoà trong ông: kế hoạch nhằm xây dựng một hội đồng
Việt Nam mới, trong đó uỷ nhiệm Bảo Đại làm đại diện trong
các cuộc thương lượng với Pháp, và kế hoạch cũng quy định là
cựu hoàng có nghĩa vụ phải hội ư với hội đồng trước khi thực
hiện bất cứ thoả thuận nào về vấn đề độc lập.
[19]
Không may cho Ngô Đ́nh Diệm là tất cả các nỗ lực của ông đều
vô ích. Tại một “Đại hội mini” ở Hồng Kông vào cuối tháng Ba
năm 1948, Bảo Đại thông báo cho Ngô Đ́nh Diệm và các lănh
đạo người Việt khác là ông ta có ư định tiếp tục xây dựng
chính phủ mới theo các điều khoản do Paris đưa ra. Vào tháng
Sáu, cựu hoàng kư một thoả thuận thứ hai với các viên chức
thuộc địa ngụ ư trao độc lập cho Việt Nam như một “nhà nước
liên hiệp” trong Liên hiệp Pháp. Sau một số đàm phán nữa,
các chi tiết về quan hệ Việt – Pháp rốt cuộc được ghi trong
Hiệp ước Elysée ngày mùng 8 tháng Ba năm 1949. Hiệp ước này
thiết lập một nền tự trị hành chính có giới hạn cho Việt
Nam, nhưng cho Pháp toàn quyền về chính sách ngoại giao,
kinh tế và quân sự. Chẳng bao lâu sau khi kư Hiệp ước, Bảo
Đại trở lại Đông Dương và tuyên bố là quốc trưởng của một
Quốc gia Việt Nam mới, độc lập trên danh nghĩa.
Việc thực thi “giải pháp Bảo Đại” vào 1948-1949 khiến Ngô
Đ́nh Diệm cực kỳ thất vọng. Nhiều nhà lănh đạo quốc gia
chống cộng – bao gồm cả Nguyễn Tôn Hoàn và đảng Đại Việt -
chấp nhận hậu thuẫn cho Bảo Đại và Quốc gia Việt Nam với hy
vọng rằng nhà nước mới này sẽ là một phương tiện đưa dần
Việt Nam tới độc lập. Nhưng Ngô Đ́nh Diệm th́ phẫn nộ trước
cái mà ông coi là sự đầu hàng của cựu hoàng trước những đ̣i
hỏi của người Pháp, và ông quyết định đă đến lúc ḿnh cần
phải lên tiếng phản đối trước công chúng. Vào ngày 16 tháng
6 năm 1949, Ngô Đ́nh Diệm cho đăng một tuyên bố trong đó ông
hoàn toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée bằng cách nhắc lại đ̣i
hỏi của ḿnh cho quyền tự trị lănh thổ cho Việt Nam. Đồng
thời, ông cũng gửi thông báo rằng ông không có ư định hợp
tác với Việt Minh. Ngược hẳn lại với việc trước đây ông sẵn
sang cân nhắc một thoả thuận với Hồ Chí Minh, giờ th́ Ngô
Đ́nh Diệm kêu gọi một phong trào chống thực dân mới, dưới sự
lănh đạo của “những thành viên đă có những cống hiến xứng
đáng cho Tổ quốc” và đặc biệt là “những người kháng chiến” -
một dấu hiệu rơ rệt cho thấy ông có ư định thách thức Việt
Minh bằng cách lôi kéo một số ủng hộ viên, những người muốn
bỏ Việt Minh để sang hàng ngũ của ông.
[20]
Tuyên bố của Ngô Đ́nh Diệm vào tháng 6 năm 1949 báo hiệu một
thay đổi lớn trong chiến lược. Việc Ngô Đ́nh Diệm công khai
cắt đứt với cả Bảo Đại lẫn Việt Minh không đơn thuần chỉ
loại bỏ họ khỏi danh sách những đồng minh có thể trong tương
lai. Ông cũng cho thấy ông có một viễn kiến khác cho việc
thay đổi cuộc sống và xă hội Việt Nam. Bất chấp việc các
nhận định (về ông) sau này khẳng định điều ngược lại, viễn
kiến này không phải là một kế hoạch phản động nhằm khôi phục
lại các thể chế và giá trị truyền thống. Thực vậy, Ngô Đ́nh
Diệm tuyên bố rơ ràng rằng ông coi viễn kiến của ḿnh ít
nhất cũng có tính cách mạng ngang với những đề nghị từ các
đối thủ của ông:
“Thứ đến, nên biết rằng cuộc tranh-đấu hiện tại không phải
chỉ là một cuộc chiến-đấu cho độc-lập Tổ-quốc về phương-diện
chính-trị mà thôi, mà c̣n là một cách-mạng xă-hội để đem lại
độc-lập cho nông dân và thợ thuyền Việt-Nam. Để cho tất cả
mọi người trong nước Việt-Nam mới có đủ phương-tiện để sống
xứng đáng với phẩm-cách con người, con người tự-do thực sự,
tôi chủ trương những sự cải-cách xă-hội hết sức tân-tiến và
mạnh bạo, miễn là phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn
trọng và được tự-do nẩy-nở.”
[21]
Khi đó, những chi tiết cuộc “cách mạng xă hội” của Ngô Đ́nh
Diệm – bao gồm cả những điều liên quan đến vấn đề quyết định
là thể hiện qua chính sách và thực hành - vẫn chưa rơ ràng.
Ngô Đ́nh Diệm cũng không đưa ra giải thích nào về nguồn gốc
viễn kiến của ông, hay cho biết điều ǵ đă gợi cảm hứng cho
viễn kiến ấy. Nhưng dù sao ông cũng đă tiến hành một bước
quan trọng trong việc làm sáng tỏ một chương tŕnh đặc biệt
về hành động chính trị và chuyển đổi xă hội. Viễn kiến về
tương lai Việt Nam này, mặc dù c̣n chưa chắc chắn và mơ hồ
vào năm 1949, sẽ trở nên chắc chắn và rơ ràng hơn trong
những năm sau đó, và trong nhiều khía cạnh, nó cho chúng ta
biết được tất cả những quyết định và chính sách quan trọng
của Ngô Đ́nh Diệm cho đến cuối đời ông.
[22]
Ngô Đ́nh Diệm hy vọng rằng việc đăng tuyên bố ngày 16 tháng
6 của ông sẽ giúp thu hút dư luận công chúng có lợi cho ông.
Nhưng về mặt đó, nước cờ này đă thất bại. Tuyên bố của ông
được nhiều người đọc và được chú ư trên khắp Việt Nam, nhưng
nó không mang đến một sự mến mộ mới của quần chúng dành cho
Ngô Đ́nh Diệm, cũng không gây tác hại ǵ cho “giải pháp Bảo
Đại.” Trên thực tế, hiệu quả tức th́ lớn nhất của nó là chấm
dứt sự kiên nhẫn của cả Pháp lẫn Việt Minh trong việc t́m
cách lôi kéo ông. Kết quả là chẳng bao lâu sau, ông buộc
phải cân nhắc những chiến lược khác, và đi t́m những đồng
minh khác.
(C̣n tiếp 2 ḱ)
Bản tiếng Việt: © 2007 talawas
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
[1]Cả
những người hâm mộ và những người chỉ trích Ngô Đ́nh Diệm
đều mô tả ông như một người theo các quan niệm và thực hành
“truyền thống”. Trong thập niên 1960, tác giả từ cả hai phe
đều coi việc Ngô Đ́nh Diệm tôn sùng Nho giáo là bằng chứng
của một lối suy nghĩ tiền hiện đại; ví dụ, hăy thử so sánh
cuốn sách chỉ trích Ngô Đ́nh Diệm gay gắt của nhà báo Denis
Warner, The last Confucian (New York: Macmillan,
1963), với cuốn tiểu sử nhằm thánh hoá Ngô Đ́nh Diệm của
Anthony Bouscaren, The last of the mandarins: Diem of
Vietnam (Pittsburgh: Duquesne University Press, 1965).
Theo một số tác giả, thói quen Nho giáo “truyền thống” của
Ngô Đ́nh Diệm được căn cước Công giáo của ông củng cố thêm,
khiến ông thiên về các h́nh thức chính quyền cổ điển; xem
Bernard Fall, The two Viet-Nams: A political and
military analysis, 2nd rev.edn (New York: Praeger,
1967), trang 236. Phân tích của các học giả kể từ khi cuộc
chiến Việt Nam kết thúc vào năm 1975 về Ngô Đ́nh Diệm và các
quan niệm của ông có tinh tế hơn, nhưng kết luận của họ về
bản chất “truyền thống” trong niềm tin Nho giáo và Công giáo
của ông cũng giống hệt những ǵ đă được viết trước đó. Để
biết thêm về những phê b́nh Ngô Đ́nh Diệm theo lối này, xem
Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley:
University of California Press, 1993), trang 235; William
Turley, The Second Indochina War: A short political and
military history, 1954-1975 (Boulder, CO: Westview,
1986), trang 13; George Kahin, Intervention: How America
became involved in Vietnam (Garden City, NY: Anchor,
1987), trang 93; và Stanley Karnow, Vietnam: A history,
2nd rev.edn (New York: Penguin, 1997), trang 229. Muốn biết
thêm ví dụ về các nghiên cứu sau năm 1975 miêu tả sự tận tụy
với “truyền thống” của Ngô Đ́nh Diệm theo một cách thông cảm
hơn, xem Ellen J. Hammer, A death in November: America
in Vietnam, 1963 (New York: Dutton, 1987), trang 52; và
Pham Van Luu, “The Buddhist crises in Vietnam, 1963-1966”
(Luận án tiến sĩ, Đại học Monash, 1991), các trang 102-103.
[2]Philip E. Catton, Diem’s final
failure: Prelude to America’s war in Vietnam (Lawrence,
KS: University of Kansas Press, 2002), trang 2.
[3]Để biết thêm về những ư kiến cho rằng Ngô
Đ́nh Diệm bị cô lập chính trị trong thập niên 1940 và 1950,
xem John Mecklin, Mission in torment: An intimate
account of the U.S. role in Vietnam (Garden City, NY:
Doubleday, 1965), trang 31; Robert Shaplen, The lost
revolution (New York: Harper and Row, 1965), trang 111;
và Frances Fitzgerald, Fire in the lake: The Vietnamese
and the Americans in Vietnam (Boston: Little, Brown,
1972), trang 82; George Herrings, America’s longest war:
The United States and Vietnam, 1950 – 1975, 4th edn
(Boston: McGraw-Hill, 2002), trang 59; và Ross Marlay and
Clark Neher, Patriots and tyrants: Ten Asian leaders
(Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 1999), trang 119.
[4]Ronald Inden, Imagining India (Oxford:
Blackwell, 1990), đặc biệt từ trang 1 – 48.
[5]Hăy xem tuyên bố của tác giả một cuốn giáo
tŕnh bán rất chạy về Chiến tranh Việt Nam: “Không nhận thức
nổi mức độ tàn phá các giá trị và thể chế chính trị truyền
thống mà Pháp và Việt Minh đă gây ra, [Ngô Đ́nh Diệm] quay
về với một vương triều Việt Nam đă không c̣n tồn tại. Ông ta
không hề có kế hoạch xây dựng một quốc gia hiện đại hay huy
động dân chúng của ḿnh.” (Herring, America’s longest
war, trang 59).
[6]Vào mùa xuân năm 1946, một liên minh tiện
thời và ngắn hạn giữa Việt Minh và các đảng phái không cộng
sản ở miền bắc Việt Nam sụp đổ, gây ra một làn sóng xung đột
và một chiến dịch tiêu diệt tàn bạo của Việt Minh. Xem
François Guillemot, “Au Coeur de la fracture viêtnamienne:
L’élimination de l’opposition nationaliste et
anticolonialiste dans le Nord du Viêt-nam (1945-1946)” trong
Le Viêt Nam depuis 1945: États, marges et constructions
du passé, ed. Christopher E. Goscha and Benoît de
Tréglodé (Paris: Les Indes Savantes, sắp ra).
[7]Để biết thêm về việc Bài vận động cho việc
bổ nhiệm cũng như từ chức của Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1933,
xem Bruce Lockhart, The end of the Vietnamese monarchy
(New Haven: Yale Council on SEA Studies, 1993), pp. 60-86.
[8]Như trên, trang 87-92.
[9]Để biết thêm về các mưu đồ Nhật Bản liên
quan đến các nhà quốc gia người Việt trong thời 1940-1945,
xem Ralph Smith, “The Japanese period in Indochina and the
coup of 9 March 1945”, Journal of Southeast Asian
Studies [JSEAS], 9, 2 (1978): 268-301; Kiyoko Kurusu
Nitz, “Independence without nationalist? The Japanese and
Vietnamese nationalism during the Japanese period, 1940-45”,
JSEAS, 15, 1 (1984): 108-133; và Tran My-Van,
“Japan and Vietnam’s Caodaists: A wartime relationship
(1939-1945)”, JSEAS, 27, 1 (1996): 179-193. Việc Ngô Đ́nh
Diệm quan hệ với Nhật Bản trong thời 1943-1944 được Vũ Ngự
Chiêu bàn đến trong “The other side of the 1945 Vietnamese
Revolution”, Journal of Asian Studies, 45, 2
(1986): 299, 306. Về việc Ngô Đ́nh Diệm cử người đến gặp
Cường Để, xem Cường Để, Cuộc đời cách mạng (Sài
G̣n: Nhà in Tôn Thất Lê, 1957), trang 137-138. Để biết về
việc thành lập cũng như bị đàn áp của Đại Việt Phục hưng
Hội, xem François Guillemot, “Révolution nationale et lutte
pour l’indépendance au Viêt-Nam: L’échec de la Troisieme
Voie ‘Đại Việt’, 1938-1955” (Luận án tiến sĩ, École
Pratiques des Hautes Études, 2003), trang 206-207. Việc Ngô
Đ́nh Diệm trốn khỏi Huế vào mùa hè năm 1944 trong Nitz,
“Independence without nationalist?” trang 117.
[10]Để biết thêm về kế hoạch và hậu quả cuộc
lật đổ của người Nhật vào tháng Ba năm 1945, xem Masaya
Shiraishi, “The background to the formation of the Tran
Trong Kim Cabinet in April 1945: Japanese plans for
governing Vietnam”, trong Indochina in the 1940s and
1950s, ed.Takashi Shiraishi and Motoo Futura (Ithaca,
NY: Cornell Southeast Asia Program, 1992): trang 113-141.
Shiraishi chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng Ngô Đ́nh
Diệm nhận được bức điện thứ hai trong hai bức điện mà Bảo
Đại gửi đi ngay sau khi vụ lật đổ xảy ra, và cũng chứng minh
rằng Ngô Đ́nh Diệm tự ư từ chối đề nghị của Hoàng đế. Nhưng
chúng ta không biết rơ lư do tại sao ông quyết định như vậy.
Shiraishi trích dẫn các nguồn tư liệu Nhật gợi ư rằng Ngô
Đ́nh Diệm được các đồng minh lư tưởng hoá cố vấn nên từ chối
vị trí thủ tướng trên cơ sở là kế hoạch giành độc lập ban
đầu đă bị thay thế. Nhưng Stein Tønnesson dùng tư liệu của
Pháp để biện luận rằng việc Ngô Đ́nh Diệm từ chối là một thủ
đoạn nhằm tăng cường lực đ̣n bẩy, và ông ta chứng minh rằng
Ngô Đ́nh Diệm đă tức giận khi nhận ra rằng Bảo Đại không đưa
ra lời mời lần nữa. Stein Tønnesson, The Vietnamese
Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in
a world at war (Oslo: International Peace Research
Institute, 1991), trang 285.
[11]Chúng ta không biết rơ ngày tháng và hoàn
cảnh cụ thể xung quanh việc Ngô Đ́nh Diệm bị bắt giữ vào năm
1945. Theo t́nh báo Pháp, Ngô Đ́nh Diệm bị bắt ở Phan Thiết
trong khi đang trên đường ra Hà Nội với tư cách là một thành
viên của một phái đoàn được uỷ nhiệm đại diện cho một liên
minh của các nhóm quốc gia miền Nam Việt Nam. Xem “M. Ngo
Dinh Diem, nouveau President du Conseil Vietnamien,” June
1954, Archives de la Ministère des Affaires Étrangères,
Paris [MAE], Série Asie-Oceanie, 1944-1955, Sous-série
Indochine, dossier 157.
[12]Karnow, Vietnam, trang 232-233;
cũng xem Marguerite Higgins, Our Vietnam nightmare
(New York: Harper and Row, 1965), trang 157-158; và Shaplen,
Lost revolution, trang 110. Một trong những trợ tá
của Hồ Chí Minh sau này nói rằng lănh đạo Việt Minh sợ rằng
việc tiếp tục giam giữ Ngô Đ́nh Diệm sẽ làm các nhà quốc gia
quê Ngô Đ́nh Diệm ở miền Trung Việt Nam xa lánh họ; George
Boudarel and Nguyen Van Ky, Hanoi: City of the rising
dragon, do Claire Duiker dịch (Lanham, MD: Rowman and
Littlefield, 2002), trang 90 – 91. Luận điểm cho rằng Ngô
Đ́nh Diệm được thả là nhờ Linh mục Công giáo Lê Hữu Từ có
trong Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và
Phát Diệm, 1945-1954: Những năm tranh đấu hào hùng
(Houston: Xuân Thu, 1984), trang 117.
[13]Ngô Đ́nh Diệm trước đó đă từng công nhận
rằng ḿnh hẳn đă tham gia chính phủ của Hồ Chí Minh để đổi
lấy việc được nắm quyền trong chính sách an ninh của Việt
Minh; xem Ellen J. Hammer, The struggle for Indochina,
1940-1955 (Stanford: Stanford University Press, 1966),
trang 149-150; và Memorandum of Conversation, Edmund S.
Gullion, 8 May 1953, Foreign Relations of the United
States [FRUS] 1952-1954, vol. 13 (Washington:
Government Printing Office, 1982), trang 553-554.
[14]Nguồn tư liệu Pháp được mô tả trong Trần
Thị Liên, “Les catholiques et la République Démocratique du
Viêt-Nam (1945-1954): Une approche biographique” trong
Goscha and de Tréglodé ed., Le Viêt Nam depuis 1945.
[15]Để biết thêm về việc thành lập Mặt trận,
xem Guillemot, “Révolution nationale” trang 474-478; để biết
về sự sụp đổ của nó, xem Jamieson, Understanding Vietnam,
trang 210-213.
[16]Guillemot, “Révolution nationale” trang
488-491.
[17]Lockhart, End of the Vietnamese
monarchy, trang 165-171; Hammer, Struggle for
Indochina, trang 208-216.
[18]Philippe Devillers, Histoire du
Viêt-Nam de 1940 à 1952 (Paris: Seuil, 1952), trang
420. Bảo Đại kể lại về cuộc gặp này trong Bảo Đại, Le
dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980), trang 190. Để biết
thêm về quan điểm của Ngô Đ́nh Diệm với các đề nghị của
Pháp, cũng như việc Ngô Đ́nh Diệm lo lắng về thái độ của Bảo
Đại vào thời điểm của cuộc gặp, xem Telegram, Hopper to
Sec.State, 20 Dec, 1947, FRUS, 1947, vol 6 (Washington: GPO,
1972), trang 152-155.
[19]Devillers, Histoire du Viêt-Nam,
trang 425-429.
[20]Ngô Đ́nh Diệm, “Lời tuyên bố của chí-sĩ
Ngô-Đ́nh-Diệm ngày 16 tháng 6 năm 1949”, in lại trong
Con đường chính nghĩa: Độc lập dân chủ: Hiệu triệu và diễn
văn quan trọng của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, tập 1 (Sài
G̣n: Sở Báo chí Thông tin, Phủ Tổng thống, 1956) trang
221-222.
[21]Như trên.
[22]Điều quan trọng là bản tuyên bố ngày 16
tháng 6 năm 1949 dường như là tư liệu duy nhất do Ngô Đ́nh
Diệm viết trong khoảng thời gian trước năm 1954 và được
chính quyền miền Nam Việt Nam xuất bản lại sau khi ông đă
lên cầm quyền.
Nguồn:
Journal of Southeast Asian Studies,
35 (3), October 2004
Kỳ 2
Bước lưu vong của Ngô Đ́nh Diệm ở Mỹ,
1950-1953
Vào đầu năm 1950, không gian cho cuộc vận động chính trị của
Ngô Đ́nh Diệm giảm xuống trầm trọng do sự phát triển của
t́nh h́nh ở cả Đông Dương và nước ngoài. Vào tháng 2 năm đó,
Việt Minh đă đạt được một đột phá về ngoại giao khi cả Trung
Quốc và Liên Xô đều chính thức thừa nhận và ủng hộ Hồ Chí
Minh và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong khi đó, việc
phê chuẩn Hiệp ước Elysée sau một thời gian tŕ hoăn dài dẫn
đến việc Mỹ và Anh chính thức hậu thuẫn cho Quốc gia Việt
Nam và Bảo Đại. Những thay đổi trên trường quốc tế này báo
trước các lập trường chính trị ở Đông Dương trở nên cứng rắn
hơn. Với việc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giờ đây nghiêng
về khối cộng sản, Hồ Chí Minh và các đồng sự không c̣n muốn
nhượng bộ để đạt được sự hợp tác với các phe nhóm quốc gia
không cộng sản như trước nữa. Cùng lúc đó, Bảo Đại và người
Pháp cũng chuyển hướng sự chú ư sang Washington và những hứa
hẹn viện trợ quân sự, với hy vọng sẽ giành được thế trên
trong trận chiến. Kết quả của những phát triển mới này là
giảm thiểu lực đ̣n bẩy mà Ngô Đ́nh Diệm đă từng có trước đây
với vai tṛ trung lập về danh nghĩa trong cuộc xung đột. Sự
giảm thiểu lực đ̣n bẩy này trở nên rơ rệt khủng khiếp vào
đầu năm 1950 khi Ngô Đ́nh Diệm được tin là Việt Minh đă ra
lệnh ám sát ông.
[1] Với Ngô Đ́nh Diệm, đă đến lúc phải cân
nhắc những chiến lược khác và t́m kiếm sự ủng hộ của những
nơi khác. Tháng 8 năm 1950, Ngô Đ́nh Diệm rời Đông Dương
trong một chuyến đi dự định chỉ một vài tháng; nhưng ông đă
ở nước ngoài tới gần bốn năm.
Hẳn Ngô Đ́nh Diệm rời Việt Nam mà không hề có một kế hoạch
lớn hay chiến lược nào; dường như ông đang ḍ t́m một số
cách khác nhau nhằm thu được sự hỗ trợ của nhiều phe nhóm và
chính phủ nước ngoài. Đi cùng Giám mục Ngô Đ́nh Thục, người
luôn nhiệt t́nh ủng hộ các mục tiêu chính trị của em trai
ḿnh, Ngô Đ́nh Diệm sang Nhật trước tiên. Với sự giúp đỡ của
một trong những ủng hộ viên “lư tưởng hoá” của ông thời Nhật
chiếm đóng, lần đầu tiên ông đă gặp trực tiếp đồng minh
trước đây của ḿnh là hoàng tử Cường Để, khi đó sống ở
Tokyo. Sau này Ngô Đ́nh Diệm nhớ lại đó là một cuộc gặp gỡ
dễ chịu, và có lẽ họ đă hồi tưởng khá nhiều về các sự kiện
năm 1945, nhưng họ cũng bàn đến một sự hợp tác mới.
[2] Trước khi rời Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm và
Ngô Đ́nh Thục tỏ ra quan tâm đến một âm mưu trong đó Quốc
trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại sẽ được thay thế bằng con
trai ông là Bảo Long, đang ở độ thiếu niên, và bằng cách đó
mở đường cho Cường Để trở về Đông Dương làm nhiếp chính cho
vị thái tử trẻ.
[3] Cường Để có thể đă quan tâm đến kế hoạch
đó. Thực vậy, một vài tuần lễ trước khi gặp Ngô Đ́nh Diệm,
vị hoàng tử này đă thử đáp tàu thuỷ sang Đông Dương, nhưng
bị nhà cầm quyền Pháp từ chối không cho vào. Đó cũng là cố
gắng hồi hương cuối cùng của Cường Để; ông mất tại Tokyo vào
ngày 6 tháng 4 năm 1951, sau 36 năm sống lưu vong. Nhiều năm
sau, khi Ngô Đ́nh Diệm đă trở thành lănh đạo của miền Nam
Việt Nam, ông sắp xếp đưa di hài của vị hoàng tử này về chôn
tại quê ở Huế.
[4]
Bây giờ xem xét lại, sự kiện quan trọng nhất trong thời gian
Ngô Đ́nh Diệm ở Nhật không phải là cuộc gặp gỡ với Cường Để,
mà là việc quen được một nhà khoa học chính trị người Mỹ là
Wesley Fishel. Tuy mới chỉ 31 tuổi, Fishel đă có tiếng là
một chuyên gia về chính trị Đông Á. Giống như nhiều nhà khoa
học chính trị thế hệ ông, Fishel tiếp cận ngành ḿnh bằng
quan điểm nh́n từ trên xuống (top-down); cách tiếp cận này
được thể hiện qua việc ông quan tâm đến giới tinh hoa chính
trị Châu Á, đối tượng của phần lớn các nghiên cứu của ông.
Fishel muốn nghiên cứu giới tinh hoa, nhưng ông ta cũng muốn
làm cố vấn và gây ảnh hưởng tới họ. Như một đồng nghiệp của
ông hồi tưởng lại, ngay từ khi mới bước vào nghề này, Fishel
đă có thói quen gây dựng quan hệ cá nhân với các lănh đạo
Châu Á, những người, theo Fishel, có nhiều khả năng nắm
quyền trong tương lai.
[5] Fishel thấy Ngô Đ́nh Diệm là một “nhân
vật hết sức sắc sảo; Rơ ràng học giả người Mỹ này cũng gây
ấn tượng nơi Ngô Đ́nh Diệm, và cả hai đồng ư trao đổi thư
tín.
[6] Sau này, Fishel trở thành một trong những
ủng hộ viên Mỹ nhiệt t́nh nhất của Ngô Đ́nh Diệm, và Ngô
Đ́nh Diệm đă tận dụng tốt những quan hệ của Fishel trong
giới học thuật và với chính phủ Mỹ trong và sau thời gian
sống lưu vong.
Ngay cả trước khi gặp Fishel, Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục
đă quyết định rằng điểm dừng kế tiếp trong chuyến đi của họ
sẽ là Hoa Kỳ. Cũng như Ngô Đ́nh Diệm cố gắng khai thác cảm
t́nh của những người Nhật “lư tưởng hoá” để giành sự ủng hộ
của Tokyo vào đầu thập niên 1940, giờ đây ông hy vọng chuyển
những t́nh cảm chống thực dân của người Mỹ sang thế có lợi
cho ông. Vào đầu tháng 9 năm 1950, hai anh em Ngô Đ́nh Diệm
và Ngô Đ́nh Thục vượt Thái B́nh Dương sang Mỹ và đến
Washington, nơi họ được tiếp đón ở Bộ Ngoại giao. Những quan
chức gặp Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục quan tâm đến đề nghị
sử dụng các chiến binh Công giáo làm ṇng cốt cho một Quân
đội Quốc gia Việt Nam mới. Nhưng Ngô Đ́nh Diệm và khả năng
ông trở thành một lănh đạo không gây được mấy ấn tượng với
người Mỹ; một quan chức tuyên bố sau cuộc gặp là Ngô Đ́nh
Diệm “quan tâm ngang bằng nếu không nói là hơn… đến việc
thực hiện các tham vọng cá nhân, thay v́ giải quyết những
vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối mặt ngày hôm
nay.”
[7]
Thất bại trong việc t́m kiếm sự ủng hộ của Mỹ, Ngô Đ́nh Diệm
và Ngô Đ́nh Thục tiếp tục sang Châu Âu vào tháng 10 năm
1950. Sau này Ngô Đ́nh Diệm kể lại là ông đă gặp Giáo hoàng
ở Vatican; ông cũng sang Paris một thời gian ngắn, gặp gỡ
các quan chức Việt và Pháp ở đó và gửi một thông điệp tới
Bảo Đại. Thông điệp này mang lời đề nghị làm thủ tướng Quốc
gia Việt Nam của Ngô Đ́nh Diệm, với điều kiện là ông có đủ
thẩm quyền để cai trị các cơ quan hành chính vùng miền trong
Việt Nam. Đề nghị này có vẻ là bước lui của Ngô Đ́nh Diệm,
v́ trong đó không ghi yêu cầu trước đây của ông đ̣i quyền tự
trị lănh thổ th́ ông mới đồng ư phục vụ trong chính phủ của
Quốc gia Việt Nam. Nhưng Bảo Đại không ấn tượng với khả năng
mềm dẻo mới có này của Ngô Đ́nh Diệm, và chỉ trả lời chung
chung.
[8]
Vào tháng 12 năm 1950, các cơ may của Ngô Đ́nh Diệm xuống
tới mức thấp nhất. Việc sang Nhật, Mỹ và châu Âu đều không
mang lại cú tăng lực chính trị tức th́ mà ông cần để hô hào
ủng hộ cho một “Lực lượng thứ Ba”; nhưng nếu trở về Việt
Nam, ông phải đối mặt với thế bị cô lập về chính trị và có
thể bị ám sát. V́ vậy ông quyết định đổi hướng, cả về chiến
lược và địa lư. Sau khi chia tay với Ngô Đ́nh Thục v́ đă đến
lúc ông này phải quay lại Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm lại vượt
Đại Tây Dương sang Mỹ; trong hai năm rưỡi sau đó, ông lặng
lẽ t́m kiếm sự ủng hộ trong những cảm t́nh viên người Mỹ và
đợi ngọn gió chính trị Đông Dương đổi sang chiều có lợi cho
ông.
[9] Cũng như chuyến thăm lần đầu, không phải
tất cả những người Mỹ gặp Ngô Đ́nh Diệm trong thời gian ông
sống lưu vong này đều có ấn tượng về ông. Các quan chức
trong chính quyền Truman nói chung là thờ ơ, một phần v́ họ
có xu hướng tin rằng “giải pháp Bảo Đại” là khả năng tốt
nhất trong hoàn cảnh hiện tại; theo quan điểm của họ, thái
độ chống Pháp của Ngô Đ́nh Diệm thật ngây thơ và thậm chí
c̣n nguy hiểm. Mặc dù Ngô Đ́nh Diệm có một số cuộc gặp gỡ
với Bộ Ngoại giao Mỹ trong năm 1950 và 1951, các quan chức
trong bộ hầu như không để ư ǵ đến các đề nghị của ông. Họ
quan tâm nhiều hơn đến việc thuyết phục ông giảm bớt quan
điểm phê phán với các chính sách của Pháp.
[10]
May mắn cho Ngô Đ́nh Diệm là có một số người Mỹ khác có
thiện cảm hơn với thái độ chống Pháp và niềm tin vào Lực
lượng thứ Ba của ông, và Ngô Đ́nh Diệm đặc biệt thành công
trong việc t́m ra những người này. Danh sách những người Mỹ
nổi tiếng đă gặp và thừa nhận sự ngưỡng mộ họ dành cho Ngô
Đ́nh Diệm vào đầu thập niên 1950 gồm có một Hồng y Công giáo
La Mă, một Thẩm phán trong Toà án Tối cao Mỹ, và ít nhất là
6, 7 thành viên của Quốc hội, vô số các nhà báo, một số học
giả quan trọng, và thậm chí cả William J. Donovan, người
sáng lập đồng thời là tiền giám đốc Cơ quan T́nh báo Chiến
lược OSS.
[11] Rất khó để phân loại nhóm người Mỹ hâm
mộ Ngô Đ́nh Diệm này. Mặc dù nhiều người trong số họ theo
Công giáo, một số lớn khác lại không phải; Chẳng hạn, Wesley
Fishel là người Do Thái. Tương tự, sức thu hút của Ngô Đ́nh
Diệm không chỉ giới hạn trong giới bảo thủ hay cấp tiến.
Ngoài việc lôi cuốn được sự chú ư của những nhân vật bảo thủ
nổi tiếng như Donovan, Ngô Đ́nh Diệm cũng gây ấn tượng được
với giới cấp tiến chẳng hạn như Nghị sĩ Mike Mansfield và
nhà báo Gouverneur Paulding. Thực vậy, bảng danh sách của
những ủng hộ viên người Mỹ mà Ngô Đ́nh Diệm tập hợp trong
những năm đầu thập niên 1950 thật đáng kể v́ nó bao gồm cả
phe cấp tiến lẫn phe bảo thủ, cũng như những phẩm chất phổ
quát và không phân biệt đảng phái của nó.
Điều ǵ giải thích cho khả năng thu hút sự ủng hộ từ một
nhóm người Mỹ danh tiếng khác nhau như vậy của Ngô Đ́nh
Diệm? Theo hầu hết tất cả những bài viết về Ngô Đ́nh Diệm,
một phần sức hút của ông với người Mỹ là chủ nghĩa chống
cộng kiên định. Thời gian ngắn ông ở Mỹ trùng hợp với cao
điểm của chủ nghĩa McCarthy, một giai đoạn mà uỷ nhiệm thư
chống cộng là bắt buộc với bất kỳ nhà lănh đạo nước ngoài
nào muốn giành được sự ủng hộ của Mỹ cho sự nghiệp của ḿnh.
Nhưng nếu việc chống cộng cần thiết để cuộc vận động của Ngô
Đ́nh Diệm thu hút được sự ủng hộ của Mỹ vào đầu thập niên
1950, nó không đủ để bảo đảm cho cuộc vận động ấy thành
công. Nếu chỉ chống cộng thôi th́ Ngô Đ́nh Diệm gần như
không khác ǵ người Pháp và Bảo Đại, những đồng minh chính
thức của Mỹ.
Thay v́ chống cộng, một số tác giả đă chỉ ra rằng căn cước
Công giáo của Ngô Đ́nh Diệm là nhân tố quyết định giúp ông
thu hút những ủng hộ viên người Mỹ. Đương nhiên là Ngô Đ́nh
Diệm dựa khá nhiều vào các mối quan hệ với Vatican của Ngô
Đ́nh Thục và các giám mục người Việt khác trong thời gian
sống lưu vong; ông đă sử dụng những mối quan hệ này để giới
thiệu ông với các nhân vật Mỹ nổi tiếng, và để ông trú ngụ
tại các trường ḍng Công giáo. Hơn nữa, ông không chống lại
việc sử dụng danh tiếng lănh đạo giới Công giáo người Việt
của ḿnh để giành sự ủng hộ của các đồng đạo người Mỹ.
[12] Nhưng quan niệm cho rằng Công giáo là
yếu tố chủ chốt giải thích cho khả năng giành được sự ủng hộ
từ người Mỹ của Ngô Đ́nh Diệm giỏi lắm cũng chỉ là phóng
đại.
[13] Mặc dù Ngô Đ́nh Diệm bàn về các vấn đề
tôn giáo trong thư tín và các cuộc trao đổi riêng tư, dường
như ông không định thiết lập một quan hệ hợp tác Mỹ-Việt với
tư cách một liên minh Cơ Đốc giáo trong tương lai. Ngược
lại, trong các cuộc trao đổi giữa ông và những người Mỹ
không theo Công giáo, và đặc biệt trong những lời ông nhận
xét trước công chúng trong thời gian lưu vong, Ngô Đ́nh Diệm
luôn tránh những tuyên bố và ngôn ngữ tôn giáo và ưu tiên
những lư luận thế tục về một cam kết với hai mục tiêu chống
cộng và chống thực dân.
[14]
Thay v́ nhấn mạnh vào tôn giáo, Ngô Đ́nh Diệm quan tâm nhiều
hơn đến việc thu hút những người Mỹ tin vào phát triển, hiện
đại hoá và khả năng biến đổi (một xă hội) của nền công nghệ
Mỹ. Đặc biệt, ông t́m cách khai thác những quan tâm chính
thức mới (của Mỹ) trong việc “hỗ trợ kỹ thuật” cho nước
ngoài. Vào năm 1949, Tổng thống Harry Truman
tuyên bố chương tŕnh “Point Four” (Điểm Bốn), tăng
cường đáng kể mức độ hỗ trợ phi quân sự mà Mỹ dành cho nước
ngoài. Mặc dù Point Four là kế tục trực tiếp của Kế hoạch
Marshal 1947 nhằm giúp tái thiết Tây Âu, nó có quy mô toàn
cầu và bao gồm nhiều loại viện trợ rộng lớn hơn. Ngoài các
chương tŕnh tài trợ và trợ cấp ra, “hỗ trợ kỹ thuật” c̣n
bao gồm cả việc cung cấp thiết bị, đào tạo và kiến thức
chuyên môn. Như nhiều học giả đă chỉ ra, chương tŕnh Point
Four báo hiệu ḷng tự tin mới của nước Mỹ về khả năng viện
trợ và chuyên môn của Mỹ để định hướng cho những thay đổi
kinh tế, chính trị và xă hội khắp thế giới. Là một chiến
trường then chốt của Chiến tranh Lạnh, đối với nhiều quan
chức Mỹ, Việt Nam rất cần sự giúp đỡ mà chương tŕnh Point
Four được thiết kế để cung cấp. Vào thời điểm Ngô Đ́nh Diệm
đến Mỹ vào năm 1950, một chương tŕnh trợ giúp kỹ thuật nhỏ
của Mỹ đă được thực hiện ở Đông Dương, và sự trợ giúp kỹ
thuật của Mỹ dành cho các Quốc gia Liên hiệp (Đông Dương)
đều đặn tăng lên.
[15]
Trong khi nỗ lực định hướng h́nh thức và nội dung sự hỗ trợ
kỹ thuật của Mỹ cho Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm nhận được sự
giúp đỡ quư giá từ người bạn của ḿnh là Wesley Fishel.
Fishel ở một cương vị rất thích hợp để giúp đỡ Ngô Đ́nh Diệm
trong vấn đề này, v́ vào năm 1951, ông ta vào giảng dạy tại
Michigan State College (không bao lâu sau đó, trường này đổi
tên thành Michigan State University). Trong những năm 1950,
dưới sự lănh đạo đầy nhiệt tâm của Chủ tịch John Hannah,
trường Michigan State quản lư những dự án giúp đỡ kỹ thuật
do chính phủ tài trợ ở những nước như Brazil, Columbia và
Nhật.
[16] Không bao lâu sau khi vào trường, Fishel
sắp xếp cho Ngô Đ́nh Diệm làm việc ở đó như một cố vấn; việc
này giúp Ngô Đ́nh Diệm và Fishel có dịp hợp tác soạn thảo
một dự án trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam. Lá thư năm 1952 mà
Fishel đề đạt dự kiến lên trước US Mutual Security Agency
(Cơ quan An ninh Hỗ tương Hoa Kỳ) mang ảnh hưởng của Fishel
rất rơ, v́ nó đưa ra h́nh dung một dự án tương tự như những
dự án khác của Michigan State. Nhưng lá thư này cũng có
những ư tưởng rơ ràng xuất phát từ Ngô Đ́nh Diệm, chẳng hạn
như điều kiện đ̣i chương tŕnh này đặt căn cứ ở thành phố
Huế quê ông. Phạm vi của dự án đề xuất - lớn hơn tất cả các
chương tŕnh hiện có ở Michigan States lúc đó – có vẻ cũng
chủ yếu là do Ngô Đ́nh Diệm hoạch định. Ông tuyên bố rằng
Việt Nam cần sự giúp đỡ trong nhiều lĩnh vực khác hẳn nhau
như “khoa học cảnh sát”, “vấn đề ngoại thương” và thậm chí
“nghiên cứu về việc chọn theo các thể chế dân chủ”.
[17] Giờ đây nh́n lại, đề xuất này chứng minh
khả năng tiên đoán phi thường của Ngô Đ́nh Diệm trong việc
t́m cách định hướng h́nh thức và nội dung của cái sau này
trở thành nguồn viện trợ khổng lồ Mỹ đổ vào giúp chính phủ
của ông.
[18]
Khả năng giành được sự hậu thuẫn của những ủng hộ viên có
thế lực người Mỹ được thể hiện rơ trong một bữa tiệc trưa tổ
chức nhằm vinh danh ông ở Washington vào ngày 8 tháng 5 năm
1953. Bữa tiệc này do Thẩm phán Toà án Tối cao William O.
Douglas chủ tŕ; Douglas sang thăm Đông Dương một năm trước
đó và tin rằng nơi này cần có một Lực lượng thứ Ba. Douglas
tổ chức bữa tiệc trưa này để giới thiệu Ngô Đ́nh Diệm với
những người Mỹ khác có cùng suy nghĩ như ông; khách mời gồm
có các nghị sĩ Mike Mansfield và John F. Kennedy; số mệnh đă
định sẵn là hai người này sẽ đóng vai tṛ then chốt trong
quan hệ của Ngô Đ́nh Diệm với Mỹ.
[19] Ngô Đ́nh Diệm gây được ấn tượng với hai
Nghị sĩ này và những khách mời khác; ông mạnh mẽ lên án Bảo
Đại và viễn cảnh độc lập cho Việt Nam trong Liên hiệp Pháp,
và đăi thính giả câu chuyện ông gặp Hồ Chí Minh vào năm
1946. Sau này nhớ lại, Mansfield nói rằng ông ta rời bữa
tiệc “với cảm giác rằng nếu có người nào có thể nắm được
miền Nam Việt Nam, phải là ai đó giống như Ngô Đ́nh Diệm.”
[20]
Như nhiều sử gia đă chỉ rơ, khả năng quan hệ của Ngô Đ́nh
Diệm với những người Mỹ như Fishel, Mansfield và Kennedy
cuối cùng đă có kết quả. Đặc biệt là sau năm 1954, các quan
hệ cá nhân ông thiết lập được trong thời gian sống lưu vong
đă giúp giành được và củng cố sự ủng hộ chính thức của
Washington dành cho ông và chính phủ của ông. Nhưng vào
tháng 5 năm 1953, ông chưa ở vào vị thế có thể gặt hái những
lợi tức chính trị này, và những người bạn Mỹ của ông cho đến
khi đó mới chỉ ủng hộ ông bằng những lời động viên và ủng hộ
tinh thần. V́ vậy, ông chuẩn bị t́m kiếm những phương tiện
khác để đạt được mục tiêu. Tại bữa tiệc trưa ở Washington,
Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố ḿnh sắp sang Pháp, và ông hy vọng
cuối cùng sẽ quay lại Việt Nam.
[21] Dĩ nhiên là cả ông và tất cả những người
khác có mặt trong buổi trưa hôm đó có thể đoán trước được
những sự kiện sẽ diễn ra trong 12 tháng tiếp sau đó và đỉnh
điểm là, gần như đúng vào cùng ngày đó một năm sau, quân đội
Pháp đă đầu hàng Việt Minh ở Điện Biên Phủ. Dù sao đi nữa,
ngay cả khi Ngô Đ́nh Diệm không lường trước được những sự
kiện đó, th́ ông cũng ở một vị thế thuận tiện để có thể khai
thác chúng. Vào mùa xuân năm 1953, ông đă đặt kế hoạch cho
cuộc trở về chính trị của ḿnh; sức đẩy quan trọng không
phải từ những người hâm mộ mới ở Mỹ, mà từ những ủng hộ viên
trung thành của ông ở Việt Nam.
Người giữ anh/em
[22] : Sự nổi lên của Ngô Đ́nh Nhu, 1950-1953
Đă từ lâu, người ta cho rằng, trong thời gian sống lưu vong,
Ngô Đ́nh Diệm không nắm được các sự kiện và tư tưởng tại
Việt Nam; việc ông sống tại các chủng viện và các ḍng tu
Công giáo ở Hoa Kỳ và châu Âu được coi là dấu hiệu chứng tỏ
ông muốn rút lui khỏi các vấn đề của thế giới nói chung, và
vấn đề chính trị nói riêng. Ngay cả trước khi Ngô Đ́nh Diệm
kết thúc thời gian sống lưu vong, một số quan chức Hoa Kỳ đă
chế giễu rằng ông như người “Yogi bí ẩn”, người vừa “thoát
ra khỏi nhà ḍng bước vào một thế giới lạnh lùng” và v́ vậy,
không sẵn sàng cho những nhiệm vụ chính trị dễ gây nản ḷng
đang chờ đợi ông phía trước.
[23] Những người đă viết về cuộc đời và sự
nghiệp của ông cũng thường đồng ư rằng ông bị cô lập trong
thời gian sống lưu vong, và v́ vậy họ thường tả ông đang bơi
một cách vô vọng giữa biển cả của những mưu đồ sau khi ông
trở về Sài G̣n vào đầu mùa hè năm 1954.
Một h́nh ảnh như vậy về Ngô Đ́nh Diệm mở ra ít nhất hai điểm
đáng tranh luận. Trước tiên, những diễn giải này đă không
chú ư tới khả năng rằng, thời gian sống trong tu viện của
ông có thể không bị cô lập như những ǵ mọi người thấy vào
thời điểm đó, mà mang tính chiến lược nhiều hơn. Chúng ta
biết rất ít về những hoạt động của Ngô Đ́nh Diệm trong thời
gian 1951-1954 khi ông sống tại các chủng viện và tu viện ở
Hoa Kỳ và Bỉ, và giả thuyết rằng ông bị cô lập với thế giới
bên ngoài trong thời gian ông sống ở những tu viện này là
một giả thuyết không có bằng chứng. Trên thực tế, có nhiều
khả năng các học viện này đă cung cấp cho ông những phương
tiện khá an toàn để liên lạc với những đồng minh của ḿnh ở
Đông Dương, bởi v́ chúng cho phép ông sử dụng mạng lưới quốc
tế của Công giáo, những người có thể mang tin nhắn một cách
an toàn mà không bị cảnh sát Pháp ngăn chặn. Ví dụ, ông Ngô
Đ́nh Diệm gặp nhà hoạt động Công giáo người Việt Trần Chánh
Thành trong thời gian ông lưu lại một chủng viện ở Bỉ vào
đầu năm 1954. V́ ông Thành là một phụ tá thân tín của Ngô
Đ́nh Nhu ít nhất là từ năm 1952, và v́ ông Thành rốt cuộc
trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất trong
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, có vẻ hợp lư để kết luận rằng ông
là người đưa tin tức cho Ngô Đ́nh Diệm khi ông qua lại giữa
châu Âu và Đông Dương trong suốt thời gian quan trọng này.
[24]
Thứ hai, những lập luận Ngô Đ́nh Diệm bị cô lập cũng bị phá
vỡ bởi có những bằng chứng cho thấy rằng ông đă kết hợp
những hoạt động trong thời gian lưu vong của ḿnh với những
nỗ lực của những người ủng hộ ông ở Đông Dương, những người
đang chuẩn bị cho cuộc trở về của ông. Trong những giải
thích hiện có về đường đến quyền lực của Ngô Đ́nh Diệm, một
trong những thiếu sót rơ ràng nhất liên quan tới những trợ
giúp quan trọng của anh em ông. Bên cạnh những trợ giúp như
đă nói ở trên của người anh lớn, Giám mục Ngô Đ́nh Thục, Ngô
Đ́nh Diệm cũng nhận được giúp đỡ của ba người em là Ngô Đ́nh
Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện. Tuy Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô
Đ́nh Luyện đều đóng vai tṛ quan trọng trong những thành
công sau này của Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu là người có
những đóng góp quan trọng nhất.
Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện là hai người em út trong
những anh em họ Ngô, và là hai người hoàn toàn khác biệt
nhau. Ngô Đ́nh Cẩn là người sống xa lánh, hay gắt gỏng và là
người ít học nhất trong các anh em; ông chưa một lần đi nước
ngoài, và gần như cả đời ḿnh, ông chỉ sống ở Huế. Trái lại,
Ngô Đ́nh Luyện là một kỹ sư phong nhă, theo chủ nghĩa thế
giới, đă từng du học ở châu Âu và nói được vài thứ tiếng.
Không ngạc nhiên mấy, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện giúp đỡ
Ngô Đ́nh Diệm theo những cách khác nhau. Đầu những năm 1950,
Ngô Đ́nh Cẩn bắt đầu xây dựng một hệ thống bí mật những
người ủng hộ ở miền Trung Việt Nam; ông sử dụng tổ chức này
để xây dựng và củng cố sự ủng hộ cho Ngô Đ́nh Diệm ở phần
này của đất nước, và đồng thời cũng mở rộng những ảnh hưởng
cá nhân của ông ở đây. Trong khi đó, Ngô Đ́nh Luyện làm đại
diện cho Ngô Đ́nh Diệm ở châu Âu. Sau khi Ngô Đ́nh Diệm rời
Hoa Kỳ đến Pháp tháng 5, 1953, Ngô Đ́nh Luyện trở thành cố
vấn chính và là đại diện riêng của Ngô Đ́nh Diệm trong những
cuộc thương lượng với Bảo Đại và những nhà lănh đạo Việt Nam
khác.
[25]
Gia đ́nh họ Ngô không thiếu những cá nhân có cá tính lạ
thường và khó hiểu; tuy nhiên, so với mọi người, ông Ngô
Đ́nh Nhu được coi là người bất thường và bí ẩn nhất. Là
người thứ tư trong sáu anh em, người ta nói ông cẩn trọng,
sâu sắc và kín đáo. Ông không quê mùa như Ngô Đ́nh Cẩn hay
tao nhă như Ngô Đ́nh Luyện, ông cũng có vẻ không quan tâm
đến việc triều chính, điều mà Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục
và Ngô Đ́nh Diệm đă quá bận tâm. Quả vậy, là một người đàn
ông trẻ, ông Ngô Đ́nh Nhu có vẻ ham sách vở hơn làm chính
trị. Những năm 1930 ở Paris, trước tiên, ông dành nhiều thời
gian học về văn chương rồi sau đó học về chữ cổ và ngành
quản thư tại École des Charte nổi tiếng. Cuối những năm
1930, ông trở về Việt Nam và làm việc trong ngành lưu trữ;
đến 1945 ông giữ chức vụ trụ cột tại nơi sau này là Thư viện
Quốc gia ở Hà Nội.
[26] Sau Cách mạng tháng Tám, ông Ngô Đ́nh
Nhu tham gia nhiều hơn vào chính trị, đặc biệt trong những
cố gắng của các anh em ông để vận động sự ủng hộ của những
người Việt Nam Công giáo. Tuy vậy, cho đến khi Ngô Đ́nh Diệm
rời Việt Nam, ông vẫn tương đối mờ nhạt. Với người vợ trẻ
của ông, Trần Lệ Xuân – sau này được thế giới biết đến là
“Madame Nhu” nhiều tiếng tăm và tai tiếng – trong năm 1950,
Ngô Đ́nh Nhu vẫn sống khá ẩn dật ở thành phố Đà Lạt, nơi ông
theo đuổi thú vui trồng hoa lan.
[27]
Giống như những anh em của ḿnh, ông Ngô Đ́nh Nhu là người
sùng kính đạo Công giáo và trung thành với Nho giáo. Tuy
nhiên, giống như việc học vấn và sự nghiệp ban đầu của ông
khác với những anh em khác trong gia đ́nh họ Ngô, sự phát
triển về tư tưởng và chính trị của ông cũng theo một lối
khác hẳn. Ở Pháp, Ngô Đ́nh Nhu chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi
triết gia Công giáo Emmanuel Mounier. Trong những cuốn sách
và các trang viết trên tạp chí Esprit của ḿnh,
Mounier phản ứng lại thời Đại khủng hoảng
[28] và những đau khổ mà nó gây bằng cách
phát triển một lư thuyết phê b́nh chủ nghĩa tư bản tự do;
ông đặc biệt chế nhạo thiên kiến tự do với chủ nghĩa cá nhân,
tranh luận rằng điều đó chắc chắn dẫn đến sự cô lập, bất hoà
và bóc lột. Nhưng, là một người Công giáo bảo thủ, Mounier
không đồng t́nh với chủ nghĩa Marx v́ tư tưởng duy vật của
nó huỷ hoại những ǵ mà ông gọi là những chiều kích “tâm hồn”
trong bản tính con người. Thay v́ [chọn theo] chủ nghĩa tư
bản hay chủ nghĩa cộng sản, Mounier hướng đến một trật tự xă
hội hậu tư bản, ở đó, cả những nhu cầu về vật chất của cá
nhân và sự thịnh vượng chung đều được hưởng lợi – nhưng một
trong hai điều này không trở thành trọng tâm độc nhất trong
chính sách của xă hội. Thay vào đó, Mounier đề nghị đặt
trọng tâm vào việc phát triển một con người toàn diện (la
personne), mà ông định nghĩa là gồm cả những nhu
cầu về tinh thần và vật chất. Nhấn mạnh của Mounier vào “con
người” như lối thoát cho “cá nhân” là đề tài chủ yếu trong
những bài viết của ông, và v́ vậy ông đặt cho tư tưởng của
ḿnh là “chủ nghĩa nhân vị”.
[29]
Khi Ngô Đ́nh Nhu Nhu từ Pháp về lại Đông Dương, ông trở
thành một người say mê chủ nghĩa nhân vị, tin tưởng rằng tín
lư của Mounier có thể được áp dụng ở Việt Nam.
[30] Đặc biệt sau năm 1945, chủ nghĩa Nhân vị
có khả năng là “con đường thứ ba” cho việc phát triển xă hội
là điều hết sức thu hút Ngô Đ́nh Nhu. Với Ngô Đ́nh Nhu, việc
Mounier bác bỏ cả chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng sản trở
nên thích hợp với vấn đề chính trị của Lực lượng thứ Ba mà
Ngô Đ́nh Diệm đang đề xướng. Ngô Đ́nh Nhu cảm thấy ông anh
lớn của ḿnh đang lĩnh hội tư tưởng của ông qua việc những
nhận xét và bài viết của Ngô Đ́nh Diệm trong giai đoạn này
nhắc đến những thuật ngữ của chủ nghĩa Nhân vị.
Sau năm 1950, Ngô Đ́nh Nhu trở thành một trong những nhân
vật đi đầu trong việc vận động những người Việt không theo
cộng sản ủng hộ cho Ngô Đ́nh Diệm. Đồng thời, ông cũng hăng
hái trong việc đề xướng chủ nghĩa Nhân vị làm đường hướng
cho việc phát triển chính trị và xă hội của Việt Nam. Tháng
4 năm 1952, Ngô Đ́nh Nhu phác thảo quan điểm về chủ nghĩa
Nhân vị trong bài nói chuyện tại trường Vơ Bị Đà Lạt vừa
thành lập. Ông thừa nhận rằng khái niệm nhân vị ban
đầu là một tư tưởng Công giáo, nhưng nhấn mạnh rằng nó mang
tính thích hợp và hữu dụng phổ quát, đặc biệt là cho một đất
nước bị chiến tranh tàn phá như Việt Nam. Phát biểu với đa
số những người không theo Công giáo tại buổi nói chuyện này,
ông tuyên bố rằng “… ưu-tư của người Công-giáo cũng chỉ như
một tiếng dội đáp lại những nỗi ưu-tư ở tâm-hồn bất-măn của
các ông vậy.” Ngô Đ́nh Nhu lập luận rằng, tất cả người Việt
Nam thuộc mọi phe phái chính trị và tôn giáo, đều phải cùng
nhau có “một sự nhất trí bất thần và mănh liệt” để bảo
vệ nhân vị chống lại các thế lực đang đe doạ tiêu diệt
nó. Những thế lực này bao gồm chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa
cộng sản, cả hai tư tưởng đều đem lại “sự giải phóng giả trá”
và chiến tranh liên miên.
[31]
Những thính giả hôm đó không biết điều này: bài diễn văn của
ông Ngô Đ́nh Nhu báo hiệu cho những việc sắp xảy đến. Ngoài
việc dài ḍng, rắc rối và trừu tượng – những phẩm chất ở ông
mà, trong thập niên tiếp theo đó, nhiều người Việt Nam đă
được làm quen và cảm thấy khó chịu – bài diễn văn này chuyên
chở những đề tài then chốt, mô tả đặc điểm của những diễn
văn và tuyên bố của cả ông và Ngô Đ́nh Diệm sau này về ích
lợi và giá trị của chủ nghĩa nhân vị. Những đề tài này không
chỉ nói đến những nguy hiểm của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa
cộng sản, mà c̣n nói đến sự quan trọng của lợi ích “phần hồn”
thay v́ chỉ đơn thuần là lợi ích vật chất. Bên cạnh đó, bài
diễn văn cũng làm nổi bật niềm tin chắc chắn của Nhu rằng
Việt Nam cần một cuộc cách mạng toàn diện:
“Đó là những điều đại cương, rất vắn tắt của một cuộc cách
mạng chính-trị kinh-tế, nhắm đích đặt con người vào trung
tâm của triển vọng thế giới. Tôi nói: cách-mạng, bởi v́
chúng ta sẽ làm một việc vô cùng phí công nếu chúng ta gắng
gỏi tô chữa những đường nứt nẻ ở một cái nhà đă lung lay,
lúc cần phải thay đổi cả cơ cấu nội bộ của toàn thể cái nhà
ấy.”
[32]
Như Ngô Đ́nh Diệm, từ đầu những năm 1950, Ngô Đ́nh Nhu hiểu
rất rơ rằng việc tạo ra một Lực lượng thứ Ba ở Việt Nam phụ
thuộc vào nhiều điều hơn là chỉ hứa suông trở về với những
truyền thống, giá trị và thực hành cổ xưa. Để có thể thành
công, một phong trào như vậy phải đề xướng chuyển đổi và
cách mạng – mặc dù không theo đường hướng cộng sản. Ngô Đ́nh
Nhu tin rằng chủ nghĩa nhân vị có thể tạo nên nền tảng cho
một tư tưởng phổ quát mới, thu hút mọi người Việt Nam, không
Công giáo cũng như Công giáo.
|