TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ

 

 

 

TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ

 

Câu Chuyện Thời Sự của Little Saigon Radio ngày 31/10/07

            Ngày Thứ Năm 1/11/07 kỷ niệm một biến chuyển quan trọng thay đổi hẳn lịch sử  của Nước Việt Nam thời cận đại. Nó in đậm cuộc thảm sát một vị Tổng Thống của một quốc gia và là tiêu biểu cho cả một dân tộc. Nó cũng khởi đầu cho một thời kỳ rối loạn và tạo điều kiện thuận lợi cho mưu đồ chiếm đoạt Miền Nam tự do của Cộng Sản Hà Nội.

            Nhắc lại cuộc chính biến ngày 1/11/ 63 để chúng ta cùng nhau học hỏi được những bài học đắt giá và thực tiễn cho chính chúng ta và nhất là cho các thế hệ con em tiếp nối. Chúng ta cũng muốn chôn sâu vào dĩ văng những chia rẽ, mâu thuẫn, những thành kiến thiên kiến và có thể cả những oán hận do biến cố 1/11/1963 gây nên để nh́n vào hiện tại mà cùng nhau hợp nhất, cùng nhau làm việc, cùng nhau hành động cho Quê Hương Việt Nam được tự do dân chủ, phú cường, nhất là độc lập không bị các thế lực ngoại bang chi phối.

            Từ hai năm nay, nhiều hội đoàn, tổ chức trong Cộng đồng ở Boston Massachusetts, ở Houston, Texas, ở Nam California đă cùng tham gia tổ chức lễ tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Đó là do sự thật lịch sử ngày càng sáng tỏ minh chứng cho lư do xác thực của cuộc đảo chánh ngày 1/11/63. Cũng có thể v́ ḷng ngưỡng mộ đức độ của Cố Tổng Thống, có thể v́ cả hai yếu tố vừa nêu. Dầu vậy, đó chỉ là chính kiến riêng của một số người, của một số tập thể. Có những người không đồng ư. Chúng ta tôn trọng ư kiến của mọi người, mọi tập thể. Nhưng - theo chỗ chúng tôi được biết - tất cả những đoàn thể đồng tổ chức, không hề có ư thần thánh hóa một lănh tụ, cũng không hề gợi lại những phân hóa, và chỉ mong muốn trả lại sự thật cho lịch sử, trả lại ngôi vị xứng đáng cho một vị Nguyên Thủ quốc gia đầu tiên của nền Cộng Ḥa.

            Qua những tài liệu đă được giải mật, chúng ta đều rơ kế hoạch tổ chức cuộc đảo chánh ngày 1/11/63 đều do một số nhân vật trong Bạch Cung ở Hoa Thịnh Đốn và việc thực hiện kế  hoạch đó tại Saigon là do cơ quan T́nh báo Trung ương Hoa Kỳ. V́ sự thay đổi chính sách, Hoa Kỳ, một siêu cường thế giới và một quốc gia tài trợ cho chúng ta, đă chủ động cuộc chính biến. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, những người thi hành cuộc đảo chánh và cả dân tộc chúng ta đều là nạn nhân của số phận một nước nhược tiểu.

Nước Việt của chúng ta ở vào một vị trí chiến lược tại Đông Nam Á. Các cường quốc đều muốn có ảnh hưởng để có thể chi phối chúng ta theo ư đồ của họ. Chúng ta vô h́nh chung đă trở thành những con tốt trên bàn cờ chính trị quốc tế.

Chúng ta cũng không thể trách cứ Hoa Kỳ. V́ quyền lợi quốc gia, v́ chiến lược lâu dài ở Đông Nam Á, Hoa Kỳ đă bỏ rơi chúng ta để rồi Đất Nước và Dân Tộc chúng ta sa vào vũng lầy của Xă Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản.

            Trong tác phẩm “Chiến Thắng Bỏ Lỡ- Chiến tranh Việt Nam 1954-1965”, một đoạn nói về cuộc đảo chánh ngày 1/11/63, tác giả Mark Moyar đă viết như sau: “Tuy rằng Tổng Thống Việt Nam bị lật và bị giết bởi một số người Việt nào đó, nhưng trách nhiệm chính đổ lên đầu ông Lodge, và Tổng Thống của chúng ta là người đă bổ nhiệm Lodge. Trách nhiệm cũng thuộc về một số cá nhân từng cung cấp tin tức và cố vấn về t́nh h́nh chính trị. Tôi muốn nói mấy viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao ở Saigon và ở Hoa Thịnh Đốn.”. Ông William Colby, Cựu Giám đốc cơ quan T́nh báo Trung ương của Hoa Kỳ đă từng nói về ngày 1/11/1963: “Đây là cuộc đảo chánh của các tướng Việt, đúng, nhưng tôi nghĩ rằng căn bản của cuộc đảo chánh đă được định đoạt tại Ṭa Bạch Cung của chúng ta."

            Chính Tổng Thống Lyndon Johnson cũng đă hối hận bày tỏ việc hạ sát Ông Ngô Đ́nh Diệm là một nỗi nhục cho Hoa Kỳ.

            Từ ngày 1/11/63, Đất Nước thân yêu của chúng ta hoàn toàn bị xáo trộn về mọi phương diện, đảo chánh liên miên, Cộng sản lợi dụng t́nh thế rối loạn ào ạt tiến vào chiếm dần các thôn xă, sau đó tấn công ác liệt đưa đến ngày 30/4/75, mặc dầu Quân lực của chúng ta đă chiến đấu kiên cường, nhưng không c̣n tiếp vận để chống giữ.

            Ngày 1/11/63 là ngày thất bại của Hoa Kỳ và của quân dân Miền Nam và là ngày reo mừng của Cộng sản Hà Nội.

            Những trang sử đen tối đă lật qua. Chúng ta nhớ lại cuộc chính biến ngày 1/11/63 cũng như tưởng niệm Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm để rút tỉa những khuyết điểm những sai lầm của Cố Tổng Thống v́ con người là bất toàn, đồng thời học hỏi sách lược chống Cộng cũng như những ưu điểm của Tổng Thống nhất là tinh thần đạo hạnh và ư chí cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, để từ đó chúng ta cùng nhau viết lên những trang sử mới, những gịng tranh đấu kiên tŕ cho một Tổ Quốc Việt Nam thực sự độc lập tự do và tự túc, tự cường.

                                                                                  Vũ Quang Ninh

 

Viễn kiến, quyền lực và tính chủ động:

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đ́nh Diệm, 1945-1954

Edward Miller - Hoài Phi, Vy Huyền dịch

Tóm lược: Bài viết này phản bác lại những diễn giải hiện có về Ngô Đ́nh Diệm bằng cách xem xét những hoạt động của ông trong ṿng một thập kỷ trước khi ông trở thành lănh đạo của miền Nam Việt Nam vào năm 1954. Ngô Đ́nh Diệm đă chủ động t́m cách nắm quyền trong những năm đó, và ông thành công chủ yếu nhờ nỗ lực của chính ḿnh và của những đồng minh người Việt của ông. Cùng thời gian đó, ông và em trai là Ngô Đ́nh Nhu cũng phác thảo ra viễn kiến đặc biệt về quá tŕnh hiện đại hoá, so rơ cho chúng ta thấy chiến lược xây dựng quốc gia ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954.

Tác giả: Edward Miller là giáo sư khoa Lịch sử, trường đại học Dartmouth.  

*  Ngô Đ́nh Diệm là ai? Trong nhiều thập niên sau vụ ám sát ông vào năm 1963, các sử gia và nhiều cây bút đă đưa ra những diễn giải rất khác nhau về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Mặc dù việc Ngô Đ́nh Diệm là một nhân vật quan trọng trong lịch sử các cuộc chiến Đông Dương là điều không ai phản bác – suy cho cùng, cuộc xung đột sau này trở thành “cuộc chiến tranh Mỹ” ở Việt Nam được bắt đầu bằng một cuộc nổi dậy chống lại chính thể miền Nam của Ngô Đ́nh Diệm – nhưng người ta không nhất trí được rằng v́ sao và làm thế nào mà Ngô Đ́nh Diệm bước vào một vai tṛ chủ chốt như vậy. Trong thời gian Ngô Đ́nh Diệm nắm quyền (1954-1963), nhiều người ở Việt Nam và những nơi khác trên thế giới đă mô tả ông là con rối của Mỹ, người đă được Hoa Thịnh Đốn dựng nên và hậu thuẫn để phục vụ các mục đích của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. Ngược lại, những bài viết kể từ thập kỷ 1960 trở đi lại nhấn mạnh vào sự thiếu thiện ư rơ rệt của Ngô Đ́nh Diệm trong việc chấp nhận để Hoa Kỳ cố vấn, và thực tế là liên minh giữa ông và Mỹ cuối cùng đă sụp đổ. Nhiều học giả do vậy đă bác bỏ quan niệm cho rằng Ngô Đ́nh Diệm chỉ là một sản phẩm của chính sách ngoại giao Mỹ, và đă mô tả Ngô Đ́nh Diệm như một sản phẩm của “những truyền thống” tiền hiện đại, chẳng hạn như Thiên chuá giáo và Nho giáo. Nhưng giữa các học giả này không có sự đồng thuận về ư nghĩa và hậu quả của các phẩm chất “truyền thống” ở Ngô Đ́nh Diệm. Trong một vài nghiên cứu sử học gần đây, Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu xuất hiện như một vị thánh – anh hùng dân tộc, người đă bị những đồng minh thất thường phá đám; trong một vài nghiên cứu khác, ông lại bị mô tả như một kẻ chuyên quyền cứng nhắc, người đă thất bại v́ cố bám lấy những quan niệm lănh đạo lỗi thời. [1]

Những diễn giả dường như khác hẳn nhau này về Ngô Đ́nh Diệm – hoặc là bù nh́n của Mỹ, hoặc một người yêu nước đạo đức, hoặc một kẻ chuyên quyền phản động - thật ra khá giống nhau. Qua việc mô tả Diệm đơn giản và bằng phẳng, họ đều không công nhận những khía cạnh riêng biệt cũng như ngẫu nhiên trong tư tưởng cũng như hành động của ông. Dù người ta cho rằng Ngô Đ́nh Diệm chỉ là người thừa hành các mưu đồ của Hoa Kỳ hay biểu thị những đặc tính văn hoá hay xă hội “truyền thống”, th́ kết quả vẫn thế: trong cả hai trường hợp, khả năng ông tự làm chủ suy nghĩ và hành động của ḿnh đều không được thừa nhận. Tóm lại, những diễn giải đang tồn tại về Ngô Đ́nh Diệm đă tước đi của ông vai tṛ tác nhân lịch sử. Kết quả là, như một sử gia chỉ ra gần đây, các nghiên cứu sử học đă hạ vai tṛ của ông xuống thành “phiến diện”. [2]

Bài viết này nhằm khôi phục phần nào vai tṛ tác nhân của Ngô Đ́nh Diệm qua việc xem xét phần sự nghiệp ít được nghiên cứu đến của ông: thập niên trước năm 1954 khi ông được cử làm Thủ tướng của phần đất mà ngay sau đó sẽ trở thành miền Nam Việt Nam. Nghiên cứu của tôi phản bác lại những quan điểm hiện có về Ngô Đ́nh Diệm về hai mặt. Trước hết, bài viết bác bỏ những khẳng định rằng Ngô Đ́nh Diệm đă trải qua thời gian cuộc chiến Việt Minh – Pháp 1945-1954 trong t́nh trạng tự cô lập về chính trị, và lặng lẽ chờ thời cơ. [3] Trong thực tế, Ngô Đ́nh Diệm không hề lánh xa những cuộc xung đột đă xé nát Đông Dương, và ông có liên hệ với hầu hết tất cả các nhân vật chủ chốt trong nền chính trị Đông Dương khi đó. Do đó, thay v́ mô tả ông như một nhân vật thụ động hoàn toàn hoặc phần lớn dựa vào sự ủng hộ của nhóm này hay nhóm khác, bài viết chỉ ra rằng Ngô Đ́nh Diệm đóng một vai tṛ quan trọng và chủ động trong việc tạo dựng quyền lực cho ḿnh.

Thứ hai, bài phân tích của tôi phản bác lại quan niệm cho rằng có thể coi tư tưởng và hành động của Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1945-1954 là bằng chứng cho cách nghĩ “truyền thống”. Như nhà học giả hậu thuộc địa Ronald Inden đă chỉ ra, những viện dẫn “truyền thống” thường bộc lộ xu hướng bản chất luận vốn ngấm sâu trong nền học thuật phương Tây khi nghiên cứu về Châu Á và người Châu Á. [4] Những ví dụ mà Inden phê phán được rút ra từ ngành Ấn độ học, nhưng lư luận của ông có thể áp dụng vào những nghiên cứu viết về Việt Nam nói chung và về Ngô Đ́nh Diệm nói riêng. Cũng như các học giả Ấn Độ học có xu hướng quy vai tṛ chủ động của người Ấn sang cho người Châu Âu hoặc cho những phẩm chất được coi là bản chất của đời sống Ấn Độ chẳng hạn như vấn đề đẳng cấp (caste) hay vương quyền thiêng liêng, các học giả về Chiến tranh Việt Nam cũng thường quy vai tṛ chủ động của Ngô Đ́nh Diệm cho người Mỹ, hoặc cho những “bản chất” như Nho giáo hoặc Thiên chúa giáo. Bằng cách quy lời nói và hành động của Ngô Đ́nh Diệm cho những ảnh hưởng c̣n rơi rớt lại của cách nghĩ tiền hiện đại, nhiều tác giả đă bỏ qua nỗ lực thay đổi những quan niệm cũ thành những h́nh thức mới của Ngô Đ́nh Diệm, cũng như việc ông quyết tâm đẩy mạnh một viễn kiến riêng biệt về việc làm thế nào để Việt Nam có thể trở thành một quốc gia hiện đại. [5] Đương nhiên là viễn kiến về công cuộc hiện đại hoá Việt Nam của Ngô Đ́nh Diệm chỉ nảy sinh dần dần, và vào năm 1954 th́ nó vẫn chưa được hoàn thiện. Hơn nữa, đó là một viễn kiến hết sức riêng biệt, và nỗ lực của ông trong việc thuyết phục người dân miền Nam về tác dụng và ưu điểm của viễn kiến ấy đă thất bại thảm hại về mặt lâu dài, nhưng thất bại không nhất thiết là tầm thường hay không hợp lư. Để có thể có được cách hiểu lịch sử hơn và ít biếm hoạ hơn về vai tṛ của Ngô Đ́nh Diệm trong lịch sử các cuộc chiến Đông Dương, chúng ta cần hiểu được bản chất ngẫu nhiên và đương thời trong quan niệm của ông, và phải xem xét bối cảnh lịch sử - Đông Dương thời cuối thuộc địa – đă khiến ông có những tư tưởng đó.

Ngô Đ́nh Diệm và cuộc truy t́m một “Lực lượng thứ Ba”, 1945-1950

Với nhiều người Việt quốc gia, khởi đầu của cuộc chiến tranh toàn diện giữa Pháp và Việt Minh vào tháng 12 năm 1946 đặt ra một lựa chọn quả quyết và khó khăn. Ư tưởng ủng hộ chế độ thực dân khiến các nhà hoạt động chống thực dân, chủ trương giành độc lập cho Việt Nam, cảm thấy ghê tởm; mặt khác, nhiều người quốc gia cũng chùn ngại trước ư tưởng ủng hộ Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh do những người cộng sản chi phối. Một số người từ chối hợp tác với Việt Minh v́ lư tưởng; những người khác e ngại cộng sản v́ họ đă có kinh nghiệm trong quá khứ. [6] Phải đối mặt với những lựa chọn chẳng hay ho ǵ như vậy, những người quốc gia này thường từ chối không chọn bên nào, và quyết định chờ sự xuất hiện của một “Lực lượng thứ Ba” - một đảng phái hay liên minh độc lập vừa chống thực dân vừa chống cộng. Từ giữa thập niên 1940, có rất nhiều nỗ lực thành lập Lực lượng thứ Ba ở Đông Dương, nhưng tất cả đều thất bại v́ những rạn nứt tư tưởng và chính trị đă chia rẽ vô số các đảng phái, giáo phái, và bè nhóm không cộng sản của Việt Nam. Kết quả là, nhiều nhà quốc gia đă đặt ḿnh vào thế trung lập không mấy dễ chịu trong cuộc xung đột. Người Pháp chê nhóm lẽ-ra-hẳn-là Lực lượng thứ Ba này là những người “thiếu lập trường” (fence-sitter), c̣n Việt Minh th́ chế nhạo họ v́ đă “trùm chăn”.

Là một nhà quốc gia và một lănh đạo Công giáo nổi tiếng, Ngô Đ́nh Diệm là một trong những người lỗi lạc nhất thuộc nhóm thiếu lập trường. Nhưng đây là cách hiểu dễ gây sai lầm, v́ nó ngụ ư rằng Ngô Đ́nh Diệm ngại phải mạo hiểm chính trị. Ngô Đ́nh Diệm sinh năm 1901 trong một gia đ́nh Công giáo hết sức thành đạt. Cha ông, Ngô Đ́nh Khả là Thượng thư triều đ́nh; anh cả Ngô Đ́nh Khôi là tổng đốc một tỉnh thời thuộc địa và một anh trai khác, Ngô Đ́nh Thục, trở thành một trong những vị tổng giám mục Công giáo đầu tiên của Việt Nam. Ngô Đ́nh Diệm tiếp nối truyền thống gia đ́nh, trở thành một viên quan trong triều, và lên tới chức tổng đốc khi c̣n đang trong những năm cuối tuổi hai mươi. Ông thành công không những nhờ tài cai trị hành chính mà c̣n nhờ sự đỡ đầu của Nguyễn Hữu Bài, một người Công giáo và lănh đạo Hội đồng Thượng thư ở Huế. Mặc dù có một quá tŕnh hợp tác lâu dài với chính phủ thuộc địa, vào thập niên 1920, Nguyễn Hữu Bài trở nên bất măn với việc Pháp ngày càng xâm phạm các đặc quyền của Triều đ́nh Huế, v́ vậy ông ta đă tranh thủ Ngô Đ́nh Diệm và các anh của Ngô Đ́nh Diệm trong nỗ lực gây áp lực với Pháp để cải cách nhằm khôi phục lại chủ quyền của Việt Nam. Vào năm 1933, người Pháp cố gắng xoa dịu Nguyễn Hữu Bài bằng cách nâng Ngô Đ́nh Diệm lên chức vụ Thượng thư Bộ Lại; nhưng nước cờ này đă bị đập lại khi Nguyễn Hữu Bài cố vấn Ngô Đ́nh Diệm từ chức để phản đối việc Pháp không chịu khoan nhượng trong vấn đề cải cách. Việc từ chức của Ngô Đ́nh Diệm đă tạo cho ông danh tiếng là một nhà quốc gia không thoả hiệp, mặc dù nó cũng khẳng định địa vị của ông như một lănh đạo Công giáo nhiều tham vọng và quá khích. [7]

Dù có những nhận định ngược lại về Ngô Đ́nh Diệm, sau năm 1933 ông không rơi vào cảnh bị quên lăng về mặt chính trị, mà vẫn rất tích cực tham gia vào t́nh h́nh chính trị triều đ́nh ở Huế suốt thập niên 1930, dù ông không c̣n giữ chức vụ nữa và đang bị cảnh sát theo dơi. [8] Sau năm 1940, ông tăng cường hoạt động nhằm khai thác các cơ hội chính trị mới nảy sinh do việc Nhật chiếm Đông Dương. Việc chiếm đóng của Nhật từ 1940-1945 rất kỳ lạ, v́ Nhật cho phép một chính phủ thuộc địa Đông Dương thân Vichy được tiếp tục tồn tại để đổi lại những đặc quyền đồn trú và được cung cấp lương thực. Một chính sách như vậy trái ngược hoàn toàn với thực hành của Nhật ở những nơi khác vùng Đông Nam Á trong Thế chiến thứ Hai, và nó không phù hợp với các quan chức Nhật, những người tự coi ḿnh là “lư tưởng” trong vấn đề giải phóng các nước đồng chủng Á Châu khỏi ách thuộc địa Châu Âu. Sự bất măn của những người Nhật “có lư tưởng này” mở đường cho Ngô Đ́nh Diệm, và vào năm 1942, ông đă bị cuốn vào nhiều nhóm mưu đồ chống Pháp. Vào năm 1943, Ngô Đ́nh Diệm cử người liên lạc với hoàng tử Cường Để, một nhà hoạt động chống thực dân lâu năm và tuyên bố ḿnh là kế thừa hợp pháp của triều Nguyễn; Cường Để sống lưu vong ở Nhật đă hơn hai thập niên, và có liên hệ với các sĩ quan và các nhà ngoại giao “có lư tưởng” ở cả Tokyo và Đông Dương. Cũng trong khoảng thời gian đó, Ngô Đ́nh Diệm lập ra một đảng chính trị bí mật được biết đến với tên Đại Việt Phục hưng Hội. Hội này dường như chủ yếu hoạt động ở vùng quê hương của Ngô Đ́nh Diệm thuộc miền Trung Việt Nam, và đảng viên hầu hết - thậm chí có thể toàn bộ - đều là dân Công giáo. Vào mùa hè năm 1944, sở mật thám Pháp biết được sự tồn tại của đảng Ngô Đ́nh Diệm thành lập và bắt đầu bắt bớ đảng viên. Ngô Đ́nh Diệm thoát khỏi bị bắt nhờ sự giúp đỡ của Tổng Lănh sự Nhật ở Huế, người đă giúp ông ra khỏi thành phố bằng cách cải trang ông thành một sĩ quan trong quân lính hoàng gia. Ông được bay vào Sài G̣n và ở đó vài tháng dưới sự bảo vệ của quân đội Nhật. [9]

Trong một khoảng thời gian ngắn đầu năm 1945, có vẻ như mưu kế dùng người Nhật của Ngô Đ́nh Diệm sẽ thành công. Vào cuối năm 1944, giới tướng lănh Nhật quyết định rằng đă đến lúc phải hạ bệ chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương. Khi họ đang chuẩn bị một vụ lật đổ, các sĩ quan “có lư tưởng” người Nhật đề nghị đưa Cường Để lên ngôi và đặt Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng của chính phủ mới. Không may cho Cường Để, nhà chỉ huy tối cao Nhật tại Đông Dương không đồng ư với lập luận của phe “có lư tưởng”, và ông ta đă phá huỷ kế hoạch trao trả “độc lập” cho người Việt. Kết quả là, khi vụ lật đổ xảy ra vào ngày 9 tháng Ba năm 1945, vị hoàng tử già vẫn ở lại Nhật và Hoàng đế Bảo Đại đương vị vẫn được tiếp tục giữ vương miện. Bảo Đại có thể biết rằng trước đó Ngô Đ́nh Diệm đă liên minh với Cường Để; nhưng ông vẫn coi Ngô Đ́nh Diệm là ứng cử viên số một để lănh đạo chính phủ Việt Nam mới thay thế cho chế độ thực dân, và v́ vậy ông đă triệu Ngô Đ́nh Diệm từ Sài G̣n về Huế. Ngô Đ́nh Diệm phạm phải một tính toán sai lầm trầm trọng là đă từ chối đề nghị của Hoàng đế. Gần như ngay lập tức sau đó, ông hối hận về quyết định này và cố gắng đảo ngược t́nh thế, nhưng quá muộn: Bảo Đại đă mời học giả và nhà phê b́nh văn hoá Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng thế chỗ Ngô Đ́nh Diệm. Ngô Đ́nh Diệm đă để lỡ một cơ hội vàng ngọc, mặc dù không phải v́ không cố gắng hay không quan tâm. [10]

Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc lên nắm quyền bất ngờ của Hồ Chí Minh và Việt Minh không làm giảm quyết tâm theo đuổi tham vọng chính trị của Ngô Đ́nh Diệm. Thay v́ rút ra khỏi cuộc xung đột trong lúc Việt Minh và Pháp đánh nhau (giành quyền) quyết định tương lai của Đông Dương, Ngô Đ́nh Diệm cân nhắc xem làm thế nào có thể lợi dụng t́nh h́nh đương thời để xây dựng một phong trào mới mà cuối cùng có thể áp đảo cả hai đối thủ mạnh này. Ông hiểu việc xây dựng một Lực lượng thứ Ba có thể đứng vững được th́ cần phải có thời gian, và lúc này, ông không thể trực tiếp thách thức Pháp hay Việt Minh. V́ vậy, ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong cuộc xung đột, cùng khi đó, ông cũng cố gắng xây dựng và duy tŕ quan hệ với cả hai phía. Bằng cách này, Ngô Đ́nh Diệm hy vọng có thể có thêm thời gian và mở rộng nhóm ủng hộ ḿnh và gây thiệt hại cho cả hai đối thủ.

Nỗ lực áp dụng vị trí phi lập trường của Ngô Đ́nh Diệm nhằm đạt được lợi thế chính trị tối đa được thể hiện rơ trong quan hệ của ông với Việt Minh vào cuối thập niên 1940. Bất chấp việc sau này ông nói ngược lại, những tiếp xúc của Ngô Đ́nh Diệm với Hồ Chí Minh và các lănh đạo Việt Minh khác được mô tả là ve văn nhiều hơn từ chối rất nhiều. Không lâu sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Đ́nh Diệm bị du kích Việt Minh bắt giữ ở miền Trung Việt Nam. Sau khi bị giam một thời gian tại một vùng núi hẻo lánh, người ta đưa ông ra Hà Nội vào đầu năm 1946 để gặp Hồ Chí Minh, người đề nghị với ông một chức vụ trong chính phủ đoàn kết Việt Minh. [11] Trong những năm sau này, Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố là ḿnh đă bác bỏ đề nghị này ngay tức th́; ông cũng kể là đă thuyết phục Hồ Chí Minh thả ḿnh chỉ đơn giản bằng cách nh́n thẳng vào mặt vị thủ lĩnh Việt Minh và hỏi một cách hùng biện: ‘Tôi có phải là người sợ áp bức hay sợ chết không?” [12]

Không có lư do ǵ để nghi ngờ việc Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố ông dùng những lời lẽ sắc bén và chua chát trong cuộc gặp đó, v́ ông biết rằng quân Việt Minh bắt và xử tử người anh cả Ngô Đ́nh Khôi của ḿnh mấy tháng trước đó. Mặt khác, khi câu chuyện được Ngô Đ́nh Diệm kể lại về cuộc gặp này vào sau năm 1954 lược bỏ sự thực rằng ông đă sẵn ḷng tham gia một chính phủ Việt Minh nếu như Hồ Chí Minh chỉ cần đồng ư với yêu cầu để ông nắm giữ một số mặt trong chính sách. [13] Tương tự, ông cũng không bao giờ công khai thừa nhận việc ông vẫn giữ liên lạc với các lănh đạo Việt Minh trong ít nhất hai năm sau khi được Hồ Chí Minh thả. Báo cáo của t́nh báo Pháp thời kỳ này cho thấy rằng Ngô Đ́nh Diệm duy tŕ các mối liên lạc này với hy vọng cuối cùng có thể thuyết phục một số lănh đạo Việt Minh bỏ Hồ Chí Minh và quay sang với ông. Theo tin tức của chỉ điểm Pháp, những cuộc trao đổi này khơi dậy những quan tâm đáng kể trong hành ngũ lănh đạo Việt Minh ở Nam Bộ trong năm 1947-1948. Nhiều quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đ́nh Diệm và cũng ngưỡng mộ anh của Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Thục, và thậm chí người ta c̣n rỉ tai nhau là Ngô Đ́nh Diệm đă lôi kéo được tướng Nguyễn B́nh, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam Bộ, đào ngũ. [14]

Cùng thời gian Ngô Đ́nh Diệm đang có quan hệ tay đôi với Việt Minh, ông cũng t́m cách liên minh với các lănh đạo và các nhóm phái chống cộng. Nỗ lực của Ngô Đ́nh Diệm về hướng này dường như được khơi nguồn cảm hứng từ ví dụ về một liên minh Lực lượng thứ Ba tồn tại ngắn ngủi, được biết đến với tên Mặt trận Thống nhứt Quốc gia. Mặt trận này được h́nh thành đầu năm 1947 tại một hội nghị của các đảng chính trị và nhóm phái chống cộng tổ chức tại Nam Kinh, Trung Quốc. Sau một đợt hoạt động dấy lên vào mùa xuân và mùa hè năm 1947, mặt trận này bất ngờ sụp đổ do việc một trong những lănh đạo chủ chốt bị Việt Minh ám sát và do những tranh đấu nội bộ giữa các thành viên. [15] Dường như Ngô Đ́nh Diệm không tham gia vào việc thành lập mặt trận, nhưng khi mặt trận này tự tan vỡ, ông nhanh chóng chuyển theo sự nghiệp của Lực lượng thứ Ba. Vào giữa năm 1947, ông liên minh với Nguyễn Tôn Hoàn, một lănh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập Đại Việt Quốc dân Đảng (thường được biết đến với tên Đại Việt). Suốt mùa thu năm ấy, Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn sát cánh bên nhau để thuyết phục những người chống cộng tham gia một tổ chức quốc gia mới với tên gọi Việt Nam Quốc gia Liên hiệp. Mặc dù sau này trở thành kẻ thù như nước với lửa, Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn gắn bó với nhau vào năm 1947 v́ họ có chung tham vọng xây dựng một phong trào Lực lượng thứ Ba tồn tại được. Những liên hệ của Nguyễn Tôn Hoàn trong đảng Đại Việt và của Ngô Đ́nh Diệm với những ủng hộ viên Công giáo trở thành một phối hợp mạnh mẽ, và trong một khoảng thời gian ngắn, dường như Liên hiệp sẽ thành công ở nơi mà Mặt trận Thống nhứt Quốc gia thất bại. [16]

Theo Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn, mục đích của Liên hiệp là vận động ủng hộ cho một phong trào chính trị mới dưới sự bảo trợ của Bảo Đại. Sau một thời gian ngắn giữ chức là người đứng đầu Đế chế Việt Nam do Nhật bảo hộ vào năm 1945, vị hoàng đế này đă buộc phải thoái vị trong Cách mạng tháng Tám. Ông làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng vài tháng sau đó chọn sống lưu vong ở ngoại quốc. Năm 1947, Bảo Đại sống ở Hồng Kông và bắt đầu xem xét các đề nghị của Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Tôn Hoàn và những người Việt Nam khác v́ họ hi vọng là ông có thể chỉ huy một liên minh gồm những nhóm và bè phái không cộng sản vốn bị chia rẽ của Việt Nam. Nhưng cùng lúc đó, cựu hoàng cũng gặp gỡ các viên chức người Pháp. Họ tâng bốc ông làm “trung gian” giữa chủ nghĩa thực dân của Pháp và chủ nghĩa quốc gia của Việt Nam. Vào cuối năm 1947, sự xu nịnh này h́nh như đạt được ảnh hưởng cần thiết: vào tháng Mười Hai, Bảo Đại trở lại Đông Dương trong một thời gian ngắn và đồng ư trên nguyên tắc cho việc thành lập một chính phủ Việt Nam mới trong Liên hiệp Pháp. Sau đó Bảo Đại lại quay về Hồng Kông để cân nhắc nước cờ tới và để nghe lời khuyên của nhiều nhà lănh đạo người Việt khác nhau. [17]

Ngô Đ́nh Diệm là một trong số những người đă sang Hồng Kông để cố vấn cho cựu hoàng. Bảo Đại chưa quên việc Ngô Đ́nh Diệm từ chối phục vụ dưới quyền ông trước đây; nhưng ông vẫn chăm chú lắng nghe Ngô Đ́nh Diệm giục ông đ̣i hỏi Paris nhượng bộ thêm. Ngô Đ́nh Diệm đặc biệt cao giọng cảnh cáo rằng các nhà quốc gia Việt Nam sẽ không chấp nhận với người Pháp điều ǵ ít hơn t́nh trạng mà Anh gần đây thừa nhận Ấn Độ và Pakistan. Bảo Đại có vẻ tiếp thu những lập luận này; nhưng Ngô Đ́nh Diệm sợ cựu hoàng vẫn bị ảnh hưởng các đề nghị của Pháp. [18] Vào tháng Hai năm 1948, Ngô Đ́nh Diệm và các lănh đạo khác thuộc phe quốc gia gặp tại Sài G̣n để thảo ra một khung đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập của Việt Nam. Sau đó Ngô Đ́nh Diệm quay trở lại Hồng Kông vào tháng Ba để cố gắng thuyết phục Bảo Đại ủng hộ kế hoạch này; ông cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi chủ quyền của Việt Nam. Điều quan trọng là kế hoạch Ngô Đ́nh Diệm cổ vũ trong những cuộc gặp gỡ này phản ánh nhận thức về nền cộng hoà trong ông: kế hoạch nhằm xây dựng một hội đồng Việt Nam mới, trong đó uỷ nhiệm Bảo Đại làm đại diện trong các cuộc thương lượng với Pháp, và kế hoạch cũng quy định là cựu hoàng có nghĩa vụ phải hội ư với hội đồng trước khi thực hiện bất cứ thoả thuận nào về vấn đề độc lập. [19]

Không may cho Ngô Đ́nh Diệm là tất cả các nỗ lực của ông đều vô ích. Tại một “Đại hội mini” ở Hồng Kông vào cuối tháng Ba năm 1948, Bảo Đại thông báo cho Ngô Đ́nh Diệm và các lănh đạo người Việt khác là ông ta có ư định tiếp tục xây dựng chính phủ mới theo các điều khoản do Paris đưa ra. Vào tháng Sáu, cựu hoàng kư một thoả thuận thứ hai với các viên chức thuộc địa ngụ ư trao độc lập cho Việt Nam như một “nhà nước liên hiệp” trong Liên hiệp Pháp. Sau một số đàm phán nữa, các chi tiết về quan hệ Việt – Pháp rốt cuộc được ghi trong Hiệp ước Elysée ngày mùng 8 tháng Ba năm 1949. Hiệp ước này thiết lập một nền tự trị hành chính có giới hạn cho Việt Nam, nhưng cho Pháp toàn quyền về chính sách ngoại giao, kinh tế và quân sự. Chẳng bao lâu sau khi kư Hiệp ước, Bảo Đại trở lại Đông Dương và tuyên bố là quốc trưởng của một Quốc gia Việt Nam mới, độc lập trên danh nghĩa.

Việc thực thi “giải pháp Bảo Đại” vào 1948-1949 khiến Ngô Đ́nh Diệm cực kỳ thất vọng. Nhiều nhà lănh đạo quốc gia chống cộng – bao gồm cả Nguyễn Tôn Hoàn và đảng Đại Việt - chấp nhận hậu thuẫn cho Bảo Đại và Quốc gia Việt Nam với hy vọng rằng nhà nước mới này sẽ là một phương tiện đưa dần Việt Nam tới độc lập. Nhưng Ngô Đ́nh Diệm th́ phẫn nộ trước cái mà ông coi là sự đầu hàng của cựu hoàng trước những đ̣i hỏi của người Pháp, và ông quyết định đă đến lúc ḿnh cần phải lên tiếng phản đối trước công chúng. Vào ngày 16 tháng 6 năm 1949, Ngô Đ́nh Diệm cho đăng một tuyên bố trong đó ông hoàn toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée bằng cách nhắc lại đ̣i hỏi của ḿnh cho quyền tự trị lănh thổ cho Việt Nam. Đồng thời, ông cũng gửi thông báo rằng ông không có ư định hợp tác với Việt Minh. Ngược hẳn lại với việc trước đây ông sẵn sang cân nhắc một thoả thuận với Hồ Chí Minh, giờ th́ Ngô Đ́nh Diệm kêu gọi một phong trào chống thực dân mới, dưới sự lănh đạo của “những thành viên đă có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc” và đặc biệt là “những người kháng chiến” - một dấu hiệu rơ rệt cho thấy ông có ư định thách thức Việt Minh bằng cách lôi kéo một số ủng hộ viên, những người muốn bỏ Việt Minh để sang hàng ngũ của ông. [20]

Tuyên bố của Ngô Đ́nh Diệm vào tháng 6 năm 1949 báo hiệu một thay đổi lớn trong chiến lược. Việc Ngô Đ́nh Diệm công khai cắt đứt với cả Bảo Đại lẫn Việt Minh không đơn thuần chỉ loại bỏ họ khỏi danh sách những đồng minh có thể trong tương lai. Ông cũng cho thấy ông có một viễn kiến khác cho việc thay đổi cuộc sống và xă hội Việt Nam. Bất chấp việc các nhận định (về ông) sau này khẳng định điều ngược lại, viễn kiến này không phải là một kế hoạch phản động nhằm khôi phục lại các thể chế và giá trị truyền thống. Thực vậy, Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố rơ ràng rằng ông coi viễn kiến của ḿnh ít nhất cũng có tính cách mạng ngang với những đề nghị từ các đối thủ của ông:

“Thứ đến, nên biết rằng cuộc tranh-đấu hiện tại không phải chỉ là một cuộc chiến-đấu cho độc-lập Tổ-quốc về phương-diện chính-trị mà thôi, mà c̣n là một cách-mạng xă-hội để đem lại độc-lập cho nông dân và thợ thuyền Việt-Nam. Để cho tất cả mọi người trong nước Việt-Nam mới có đủ phương-tiện để sống xứng đáng với phẩm-cách con người, con người tự-do thực sự, tôi chủ trương những sự cải-cách xă-hội hết sức tân-tiến và mạnh bạo, miễn là phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn trọng và được tự-do nẩy-nở.” [21]

Khi đó, những chi tiết cuộc “cách mạng xă hội” của Ngô Đ́nh Diệm – bao gồm cả những điều liên quan đến vấn đề quyết định là thể hiện qua chính sách và thực hành - vẫn chưa rơ ràng. Ngô Đ́nh Diệm cũng không đưa ra giải thích nào về nguồn gốc viễn kiến của ông, hay cho biết điều ǵ đă gợi cảm hứng cho viễn kiến ấy. Nhưng dù sao ông cũng đă tiến hành một bước quan trọng trong việc làm sáng tỏ một chương tŕnh đặc biệt về hành động chính trị và chuyển đổi xă hội. Viễn kiến về tương lai Việt Nam này, mặc dù c̣n chưa chắc chắn và mơ hồ vào năm 1949, sẽ trở nên chắc chắn và rơ ràng hơn trong những năm sau đó, và trong nhiều khía cạnh, nó cho chúng ta biết được tất cả những quyết định và chính sách quan trọng của Ngô Đ́nh Diệm cho đến cuối đời ông. [22]

Ngô Đ́nh Diệm hy vọng rằng việc đăng tuyên bố ngày 16 tháng 6 của ông sẽ giúp thu hút dư luận công chúng có lợi cho ông. Nhưng về mặt đó, nước cờ này đă thất bại. Tuyên bố của ông được nhiều người đọc và được chú ư trên khắp Việt Nam, nhưng nó không mang đến một sự mến mộ mới của quần chúng dành cho Ngô Đ́nh Diệm, cũng không gây tác hại ǵ cho “giải pháp Bảo Đại.” Trên thực tế, hiệu quả tức th́ lớn nhất của nó là chấm dứt sự kiên nhẫn của cả Pháp lẫn Việt Minh trong việc t́m cách lôi kéo ông. Kết quả là chẳng bao lâu sau, ông buộc phải cân nhắc những chiến lược khác, và đi t́m những đồng minh khác.

(C̣n tiếp 2 ḱ)

Bản tiếng Việt: © 2007 talawas
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

 


[1]Cả những người hâm mộ và những người chỉ trích Ngô Đ́nh Diệm đều mô tả ông như một người theo các quan niệm và thực hành “truyền thống”. Trong thập niên 1960, tác giả từ cả hai phe đều coi việc Ngô Đ́nh Diệm tôn sùng Nho giáo là bằng chứng của một lối suy nghĩ tiền hiện đại; ví dụ, hăy thử so sánh cuốn sách chỉ trích Ngô Đ́nh Diệm gay gắt của nhà báo Denis Warner, The last Confucian (New York: Macmillan, 1963), với cuốn tiểu sử nhằm thánh hoá Ngô Đ́nh Diệm của Anthony Bouscaren, The last of the mandarins: Diem of Vietnam (Pittsburgh: Duquesne University Press, 1965). Theo một số tác giả, thói quen Nho giáo “truyền thống” của Ngô Đ́nh Diệm được căn cước Công giáo của ông củng cố thêm, khiến ông thiên về các h́nh thức chính quyền cổ điển; xem Bernard Fall, The two Viet-Nams: A political and military analysis, 2nd rev.edn (New York: Praeger, 1967), trang 236. Phân tích của các học giả kể từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc vào năm 1975 về Ngô Đ́nh Diệm và các quan niệm của ông có tinh tế hơn, nhưng kết luận của họ về bản chất “truyền thống” trong niềm tin Nho giáo và Công giáo của ông cũng giống hệt những ǵ đă được viết trước đó. Để biết thêm về những phê b́nh Ngô Đ́nh Diệm theo lối này, xem Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1993), trang 235; William Turley, The Second Indochina War: A short political and military history, 1954-1975 (Boulder, CO: Westview, 1986), trang 13; George Kahin, Intervention: How America became involved in Vietnam (Garden City, NY: Anchor, 1987), trang 93; và Stanley Karnow, Vietnam: A history, 2nd rev.edn (New York: Penguin, 1997), trang 229. Muốn biết thêm ví dụ về các nghiên cứu sau năm 1975 miêu tả sự tận tụy với “truyền thống” của Ngô Đ́nh Diệm theo một cách thông cảm hơn, xem Ellen J. Hammer, A death in November: America in Vietnam, 1963 (New York: Dutton, 1987), trang 52; và Pham Van Luu, “The Buddhist crises in Vietnam, 1963-1966” (Luận án tiến sĩ, Đại học Monash, 1991), các trang 102-103.
[2]Philip E. Catton, Diem’s final failure: Prelude to America’s war in Vietnam (Lawrence, KS: University of Kansas Press, 2002), trang 2.
[3]Để biết thêm về những ư kiến cho rằng Ngô Đ́nh Diệm bị cô lập chính trị trong thập niên 1940 và 1950, xem John Mecklin, Mission in torment: An intimate account of the U.S. role in Vietnam (Garden City, NY: Doubleday, 1965), trang 31; Robert Shaplen, The lost revolution (New York: Harper and Row, 1965), trang 111; và Frances Fitzgerald, Fire in the lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam (Boston: Little, Brown, 1972), trang 82; George Herrings, America’s longest war: The United States and Vietnam, 1950 – 1975, 4th edn (Boston: McGraw-Hill, 2002), trang 59; và Ross Marlay and Clark Neher, Patriots and tyrants: Ten Asian leaders (Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 1999), trang 119.
[4]Ronald Inden, Imagining India (Oxford: Blackwell, 1990), đặc biệt từ trang 1 – 48.
[5]Hăy xem tuyên bố của tác giả một cuốn giáo tŕnh bán rất chạy về Chiến tranh Việt Nam: “Không nhận thức nổi mức độ tàn phá các giá trị và thể chế chính trị truyền thống mà Pháp và Việt Minh đă gây ra, [Ngô Đ́nh Diệm] quay về với một vương triều Việt Nam đă không c̣n tồn tại. Ông ta không hề có kế hoạch xây dựng một quốc gia hiện đại hay huy động dân chúng của ḿnh.” (Herring, America’s longest war, trang 59).
[6]Vào mùa xuân năm 1946, một liên minh tiện thời và ngắn hạn giữa Việt Minh và các đảng phái không cộng sản ở miền bắc Việt Nam sụp đổ, gây ra một làn sóng xung đột và một chiến dịch tiêu diệt tàn bạo của Việt Minh. Xem François Guillemot, “Au Coeur de la fracture viêtnamienne: L’élimination de l’opposition nationaliste et anticolonialiste dans le Nord du Viêt-nam (1945-1946)” trong Le Viêt Nam depuis 1945: États, marges et constructions du passé, ed. Christopher E. Goscha and Benoît de Tréglodé (Paris: Les Indes Savantes, sắp ra).
[7]Để biết thêm về việc Bài vận động cho việc bổ nhiệm cũng như từ chức của Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1933, xem Bruce Lockhart, The end of the Vietnamese monarchy (New Haven: Yale Council on SEA Studies, 1993), pp. 60-86.
[8]Như trên, trang 87-92.
[9]Để biết thêm về các mưu đồ Nhật Bản liên quan đến các nhà quốc gia người Việt trong thời 1940-1945, xem Ralph Smith, “The Japanese period in Indochina and the coup of 9 March 1945”, Journal of Southeast Asian Studies [JSEAS], 9, 2 (1978): 268-301; Kiyoko Kurusu Nitz, “Independence without nationalist? The Japanese and Vietnamese nationalism during the Japanese period, 1940-45”, JSEAS, 15, 1 (1984): 108-133; và Tran My-Van, “Japan and Vietnam’s Caodaists: A wartime relationship (1939-1945)”, JSEAS, 27, 1 (1996): 179-193. Việc Ngô Đ́nh Diệm quan hệ với Nhật Bản trong thời 1943-1944 được Vũ Ngự Chiêu bàn đến trong “The other side of the 1945 Vietnamese Revolution”, Journal of Asian Studies, 45, 2 (1986): 299, 306. Về việc Ngô Đ́nh Diệm cử người đến gặp Cường Để, xem Cường Để, Cuộc đời cách mạng (Sài G̣n: Nhà in Tôn Thất Lê, 1957), trang 137-138. Để biết về việc thành lập cũng như bị đàn áp của Đại Việt Phục hưng Hội, xem François Guillemot, “Révolution nationale et lutte pour l’indépendance au Viêt-Nam: L’échec de la Troisieme Voie ‘Đại Việt’, 1938-1955” (Luận án tiến sĩ, École Pratiques des Hautes Études, 2003), trang 206-207. Việc Ngô Đ́nh Diệm trốn khỏi Huế vào mùa hè năm 1944 trong Nitz, “Independence without nationalist?” trang 117.
[10]Để biết thêm về kế hoạch và hậu quả cuộc lật đổ của người Nhật vào tháng Ba năm 1945, xem Masaya Shiraishi, “The background to the formation of the Tran Trong Kim Cabinet in April 1945: Japanese plans for governing Vietnam”, trong Indochina in the 1940s and 1950s, ed.Takashi Shiraishi and Motoo Futura (Ithaca, NY: Cornell Southeast Asia Program, 1992): trang 113-141. Shiraishi chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng Ngô Đ́nh Diệm nhận được bức điện thứ hai trong hai bức điện mà Bảo Đại gửi đi ngay sau khi vụ lật đổ xảy ra, và cũng chứng minh rằng Ngô Đ́nh Diệm tự ư từ chối đề nghị của Hoàng đế. Nhưng chúng ta không biết rơ lư do tại sao ông quyết định như vậy. Shiraishi trích dẫn các nguồn tư liệu Nhật gợi ư rằng Ngô Đ́nh Diệm được các đồng minh lư tưởng hoá cố vấn nên từ chối vị trí thủ tướng trên cơ sở là kế hoạch giành độc lập ban đầu đă bị thay thế. Nhưng Stein Tønnesson dùng tư liệu của Pháp để biện luận rằng việc Ngô Đ́nh Diệm từ chối là một thủ đoạn nhằm tăng cường lực đ̣n bẩy, và ông ta chứng minh rằng Ngô Đ́nh Diệm đă tức giận khi nhận ra rằng Bảo Đại không đưa ra lời mời lần nữa. Stein Tønnesson, The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a world at war (Oslo: International Peace Research Institute, 1991), trang 285.
[11]Chúng ta không biết rơ ngày tháng và hoàn cảnh cụ thể xung quanh việc Ngô Đ́nh Diệm bị bắt giữ vào năm 1945. Theo t́nh báo Pháp, Ngô Đ́nh Diệm bị bắt ở Phan Thiết trong khi đang trên đường ra Hà Nội với tư cách là một thành viên của một phái đoàn được uỷ nhiệm đại diện cho một liên minh của các nhóm quốc gia miền Nam Việt Nam. Xem “M. Ngo Dinh Diem, nouveau President du Conseil Vietnamien,” June 1954, Archives de la Ministère des Affaires Étrangères, Paris [MAE], Série Asie-Oceanie, 1944-1955, Sous-série Indochine, dossier 157.
[12]Karnow, Vietnam, trang 232-233; cũng xem Marguerite Higgins, Our Vietnam nightmare (New York: Harper and Row, 1965), trang 157-158; và Shaplen, Lost revolution, trang 110. Một trong những trợ tá của Hồ Chí Minh sau này nói rằng lănh đạo Việt Minh sợ rằng việc tiếp tục giam giữ Ngô Đ́nh Diệm sẽ làm các nhà quốc gia quê Ngô Đ́nh Diệm ở miền Trung Việt Nam xa lánh họ; George Boudarel and Nguyen Van Ky, Hanoi: City of the rising dragon, do Claire Duiker dịch (Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 2002), trang 90 – 91. Luận điểm cho rằng Ngô Đ́nh Diệm được thả là nhờ Linh mục Công giáo Lê Hữu Từ có trong Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm, 1945-1954: Những năm tranh đấu hào hùng (Houston: Xuân Thu, 1984), trang 117.
[13]Ngô Đ́nh Diệm trước đó đă từng công nhận rằng ḿnh hẳn đă tham gia chính phủ của Hồ Chí Minh để đổi lấy việc được nắm quyền trong chính sách an ninh của Việt Minh; xem Ellen J. Hammer, The struggle for Indochina, 1940-1955 (Stanford: Stanford University Press, 1966), trang 149-150; và Memorandum of Conversation, Edmund S. Gullion, 8 May 1953, Foreign Relations of the United States [FRUS] 1952-1954, vol. 13 (Washington: Government Printing Office, 1982), trang 553-554.
[14]Nguồn tư liệu Pháp được mô tả trong Trần Thị Liên, “Les catholiques et la République Démocratique du Viêt-Nam (1945-1954): Une approche biographique” trong Goscha and de Tréglodé ed., Le Viêt Nam depuis 1945.
[15]Để biết thêm về việc thành lập Mặt trận, xem Guillemot, “Révolution nationale” trang 474-478; để biết về sự sụp đổ của nó, xem Jamieson, Understanding Vietnam, trang 210-213.
[16]Guillemot, “Révolution nationale” trang 488-491.
[17]Lockhart, End of the Vietnamese monarchy, trang 165-171; Hammer, Struggle for Indochina, trang 208-216.
[18]Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952 (Paris: Seuil, 1952), trang 420. Bảo Đại kể lại về cuộc gặp này trong Bảo Đại, Le dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980), trang 190. Để biết thêm về quan điểm của Ngô Đ́nh Diệm với các đề nghị của Pháp, cũng như việc Ngô Đ́nh Diệm lo lắng về thái độ của Bảo Đại vào thời điểm của cuộc gặp, xem Telegram, Hopper to Sec.State, 20 Dec, 1947, FRUS, 1947, vol 6 (Washington: GPO, 1972), trang 152-155.
[19]Devillers, Histoire du Viêt-Nam, trang 425-429.
[20]Ngô Đ́nh Diệm, “Lời tuyên bố của chí-sĩ Ngô-Đ́nh-Diệm ngày 16 tháng 6 năm 1949”, in lại trong Con đường chính nghĩa: Độc lập dân chủ: Hiệu triệu và diễn văn quan trọng của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, tập 1 (Sài G̣n: Sở Báo chí Thông tin, Phủ Tổng thống, 1956) trang 221-222.
[21]Như trên.
[22]Điều quan trọng là bản tuyên bố ngày 16 tháng 6 năm 1949 dường như là tư liệu duy nhất do Ngô Đ́nh Diệm viết trong khoảng thời gian trước năm 1954 và được chính quyền miền Nam Việt Nam xuất bản lại sau khi ông đă lên cầm quyền.

 

Nguồn: Journal of Southeast Asian Studies, 35 (3), October 2004


 

 

 

Kỳ 2

 

Bước lưu vong của Ngô Đ́nh Diệm ở Mỹ, 1950-1953

Vào đầu năm 1950, không gian cho cuộc vận động chính trị của Ngô Đ́nh Diệm giảm xuống trầm trọng do sự phát triển của t́nh h́nh ở cả Đông Dương và nước ngoài. Vào tháng 2 năm đó, Việt Minh đă đạt được một đột phá về ngoại giao khi cả Trung Quốc và Liên Xô đều chính thức thừa nhận và ủng hộ Hồ Chí Minh và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong khi đó, việc phê chuẩn Hiệp ước Elysée sau một thời gian tŕ hoăn dài dẫn đến việc Mỹ và Anh chính thức hậu thuẫn cho Quốc gia Việt Nam và Bảo Đại. Những thay đổi trên trường quốc tế này báo trước các lập trường chính trị ở Đông Dương trở nên cứng rắn hơn. Với việc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giờ đây nghiêng về khối cộng sản, Hồ Chí Minh và các đồng sự không c̣n muốn nhượng bộ để đạt được sự hợp tác với các phe nhóm quốc gia không cộng sản như trước nữa. Cùng lúc đó, Bảo Đại và người Pháp cũng chuyển hướng sự chú ư sang Washington và những hứa hẹn viện trợ quân sự, với hy vọng sẽ giành được thế trên trong trận chiến. Kết quả của những phát triển mới này là giảm thiểu lực đ̣n bẩy mà Ngô Đ́nh Diệm đă từng có trước đây với vai tṛ trung lập về danh nghĩa trong cuộc xung đột. Sự giảm thiểu lực đ̣n bẩy này trở nên rơ rệt khủng khiếp vào đầu năm 1950 khi Ngô Đ́nh Diệm được tin là Việt Minh đă ra lệnh ám sát ông. [1] Với Ngô Đ́nh Diệm, đă đến lúc phải cân nhắc những chiến lược khác và t́m kiếm sự ủng hộ của những nơi khác. Tháng 8 năm 1950, Ngô Đ́nh Diệm rời Đông Dương trong một chuyến đi dự định chỉ một vài tháng; nhưng ông đă ở nước ngoài tới gần bốn năm.

Hẳn Ngô Đ́nh Diệm rời Việt Nam mà không hề có một kế hoạch lớn hay chiến lược nào; dường như ông đang ḍ t́m một số cách khác nhau nhằm thu được sự hỗ trợ của nhiều phe nhóm và chính phủ nước ngoài. Đi cùng Giám mục Ngô Đ́nh Thục, người luôn nhiệt t́nh ủng hộ các mục tiêu chính trị của em trai ḿnh, Ngô Đ́nh Diệm sang Nhật trước tiên. Với sự giúp đỡ của một trong những ủng hộ viên “lư tưởng hoá” của ông thời Nhật chiếm đóng, lần đầu tiên ông đă gặp trực tiếp đồng minh trước đây của ḿnh là hoàng tử Cường Để, khi đó sống ở Tokyo. Sau này Ngô Đ́nh Diệm nhớ lại đó là một cuộc gặp gỡ dễ chịu, và có lẽ họ đă hồi tưởng khá nhiều về các sự kiện năm 1945, nhưng họ cũng bàn đến một sự hợp tác mới. [2] Trước khi rời Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục tỏ ra quan tâm đến một âm mưu trong đó Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại sẽ được thay thế bằng con trai ông là Bảo Long, đang ở độ thiếu niên, và bằng cách đó mở đường cho Cường Để trở về Đông Dương làm nhiếp chính cho vị thái tử trẻ. [3] Cường Để có thể đă quan tâm đến kế hoạch đó. Thực vậy, một vài tuần lễ trước khi gặp Ngô Đ́nh Diệm, vị hoàng tử này đă thử đáp tàu thuỷ sang Đông Dương, nhưng bị nhà cầm quyền Pháp từ chối không cho vào. Đó cũng là cố gắng hồi hương cuối cùng của Cường Để; ông mất tại Tokyo vào ngày 6 tháng 4 năm 1951, sau 36 năm sống lưu vong. Nhiều năm sau, khi Ngô Đ́nh Diệm đă trở thành lănh đạo của miền Nam Việt Nam, ông sắp xếp đưa di hài của vị hoàng tử này về chôn tại quê ở Huế. [4]

Bây giờ xem xét lại, sự kiện quan trọng nhất trong thời gian Ngô Đ́nh Diệm ở Nhật không phải là cuộc gặp gỡ với Cường Để, mà là việc quen được một nhà khoa học chính trị người Mỹ là Wesley Fishel. Tuy mới chỉ 31 tuổi, Fishel đă có tiếng là một chuyên gia về chính trị Đông Á. Giống như nhiều nhà khoa học chính trị thế hệ ông, Fishel tiếp cận ngành ḿnh bằng quan điểm nh́n từ trên xuống (top-down); cách tiếp cận này được thể hiện qua việc ông quan tâm đến giới tinh hoa chính trị Châu Á, đối tượng của phần lớn các nghiên cứu của ông. Fishel muốn nghiên cứu giới tinh hoa, nhưng ông ta cũng muốn làm cố vấn và gây ảnh hưởng tới họ. Như một đồng nghiệp của ông hồi tưởng lại, ngay từ khi mới bước vào nghề này, Fishel đă có thói quen gây dựng quan hệ cá nhân với các lănh đạo Châu Á, những người, theo Fishel, có nhiều khả năng nắm quyền trong tương lai. [5] Fishel thấy Ngô Đ́nh Diệm là một “nhân vật hết sức sắc sảo; Rơ ràng học giả người Mỹ này cũng gây ấn tượng nơi Ngô Đ́nh Diệm, và cả hai đồng ư trao đổi thư tín. [6] Sau này, Fishel trở thành một trong những ủng hộ viên Mỹ nhiệt t́nh nhất của Ngô Đ́nh Diệm, và Ngô Đ́nh Diệm đă tận dụng tốt những quan hệ của Fishel trong giới học thuật và với chính phủ Mỹ trong và sau thời gian sống lưu vong.

Ngay cả trước khi gặp Fishel, Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục đă quyết định rằng điểm dừng kế tiếp trong chuyến đi của họ sẽ là Hoa Kỳ. Cũng như Ngô Đ́nh Diệm cố gắng khai thác cảm t́nh của những người Nhật “lư tưởng hoá” để giành sự ủng hộ của Tokyo vào đầu thập niên 1940, giờ đây ông hy vọng chuyển những t́nh cảm chống thực dân của người Mỹ sang thế có lợi cho ông. Vào đầu tháng 9 năm 1950, hai anh em Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục vượt Thái B́nh Dương sang Mỹ và đến Washington, nơi họ được tiếp đón ở Bộ Ngoại giao. Những quan chức gặp Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục quan tâm đến đề nghị sử dụng các chiến binh Công giáo làm ṇng cốt cho một Quân đội Quốc gia Việt Nam mới. Nhưng Ngô Đ́nh Diệm và khả năng ông trở thành một lănh đạo không gây được mấy ấn tượng với người Mỹ; một quan chức tuyên bố sau cuộc gặp là Ngô Đ́nh Diệm “quan tâm ngang bằng nếu không nói là hơn… đến việc thực hiện các tham vọng cá nhân, thay v́ giải quyết những vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối mặt ngày hôm nay.” [7]

Thất bại trong việc t́m kiếm sự ủng hộ của Mỹ, Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Thục tiếp tục sang Châu Âu vào tháng 10 năm 1950. Sau này Ngô Đ́nh Diệm kể lại là ông đă gặp Giáo hoàng ở Vatican; ông cũng sang Paris một thời gian ngắn, gặp gỡ các quan chức Việt và Pháp ở đó và gửi một thông điệp tới Bảo Đại. Thông điệp này mang lời đề nghị làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam của Ngô Đ́nh Diệm, với điều kiện là ông có đủ thẩm quyền để cai trị các cơ quan hành chính vùng miền trong Việt Nam. Đề nghị này có vẻ là bước lui của Ngô Đ́nh Diệm, v́ trong đó không ghi yêu cầu trước đây của ông đ̣i quyền tự trị lănh thổ th́ ông mới đồng ư phục vụ trong chính phủ của Quốc gia Việt Nam. Nhưng Bảo Đại không ấn tượng với khả năng mềm dẻo mới có này của Ngô Đ́nh Diệm, và chỉ trả lời chung chung. [8]

Vào tháng 12 năm 1950, các cơ may của Ngô Đ́nh Diệm xuống tới mức thấp nhất. Việc sang Nhật, Mỹ và châu Âu đều không mang lại cú tăng lực chính trị tức th́ mà ông cần để hô hào ủng hộ cho một “Lực lượng thứ Ba”; nhưng nếu trở về Việt Nam, ông phải đối mặt với thế bị cô lập về chính trị và có thể bị ám sát. V́ vậy ông quyết định đổi hướng, cả về chiến lược và địa lư. Sau khi chia tay với Ngô Đ́nh Thục v́ đă đến lúc ông này phải quay lại Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm lại vượt Đại Tây Dương sang Mỹ; trong hai năm rưỡi sau đó, ông lặng lẽ t́m kiếm sự ủng hộ trong những cảm t́nh viên người Mỹ và đợi ngọn gió chính trị Đông Dương đổi sang chiều có lợi cho ông. [9] Cũng như chuyến thăm lần đầu, không phải tất cả những người Mỹ gặp Ngô Đ́nh Diệm trong thời gian ông sống lưu vong này đều có ấn tượng về ông. Các quan chức trong chính quyền Truman nói chung là thờ ơ, một phần v́ họ có xu hướng tin rằng “giải pháp Bảo Đại” là khả năng tốt nhất trong hoàn cảnh hiện tại; theo quan điểm của họ, thái độ chống Pháp của Ngô Đ́nh Diệm thật ngây thơ và thậm chí c̣n nguy hiểm. Mặc dù Ngô Đ́nh Diệm có một số cuộc gặp gỡ với Bộ Ngoại giao Mỹ trong năm 1950 và 1951, các quan chức trong bộ hầu như không để ư ǵ đến các đề nghị của ông. Họ quan tâm nhiều hơn đến việc thuyết phục ông giảm bớt quan điểm phê phán với các chính sách của Pháp. [10]

May mắn cho Ngô Đ́nh Diệm là có một số người Mỹ khác có thiện cảm hơn với thái độ chống Pháp và niềm tin vào Lực lượng thứ Ba của ông, và Ngô Đ́nh Diệm đặc biệt thành công trong việc t́m ra những người này. Danh sách những người Mỹ nổi tiếng đă gặp và thừa nhận sự ngưỡng mộ họ dành cho Ngô Đ́nh Diệm vào đầu thập niên 1950 gồm có một Hồng y Công giáo La Mă, một Thẩm phán trong Toà án Tối cao Mỹ, và ít nhất là 6, 7 thành viên của Quốc hội, vô số các nhà báo, một số học giả quan trọng, và thậm chí cả William J. Donovan, người sáng lập đồng thời là tiền giám đốc Cơ quan T́nh báo Chiến lược OSS. [11] Rất khó để phân loại nhóm người Mỹ hâm mộ Ngô Đ́nh Diệm này. Mặc dù nhiều người trong số họ theo Công giáo, một số lớn khác lại không phải; Chẳng hạn, Wesley Fishel là người Do Thái. Tương tự, sức thu hút của Ngô Đ́nh Diệm không chỉ giới hạn trong giới bảo thủ hay cấp tiến. Ngoài việc lôi cuốn được sự chú ư của những nhân vật bảo thủ nổi tiếng như Donovan, Ngô Đ́nh Diệm cũng gây ấn tượng được với giới cấp tiến chẳng hạn như Nghị sĩ Mike Mansfield và nhà báo Gouverneur Paulding. Thực vậy, bảng danh sách của những ủng hộ viên người Mỹ mà Ngô Đ́nh Diệm tập hợp trong những năm đầu thập niên 1950 thật đáng kể v́ nó bao gồm cả phe cấp tiến lẫn phe bảo thủ, cũng như những phẩm chất phổ quát và không phân biệt đảng phái của nó.

Điều ǵ giải thích cho khả năng thu hút sự ủng hộ từ một nhóm người Mỹ danh tiếng khác nhau như vậy của Ngô Đ́nh Diệm? Theo hầu hết tất cả những bài viết về Ngô Đ́nh Diệm, một phần sức hút của ông với người Mỹ là chủ nghĩa chống cộng kiên định. Thời gian ngắn ông ở Mỹ trùng hợp với cao điểm của chủ nghĩa McCarthy, một giai đoạn mà uỷ nhiệm thư chống cộng là bắt buộc với bất kỳ nhà lănh đạo nước ngoài nào muốn giành được sự ủng hộ của Mỹ cho sự nghiệp của ḿnh. Nhưng nếu việc chống cộng cần thiết để cuộc vận động của Ngô Đ́nh Diệm thu hút được sự ủng hộ của Mỹ vào đầu thập niên 1950, nó không đủ để bảo đảm cho cuộc vận động ấy thành công. Nếu chỉ chống cộng thôi th́ Ngô Đ́nh Diệm gần như không khác ǵ người Pháp và Bảo Đại, những đồng minh chính thức của Mỹ.

Thay v́ chống cộng, một số tác giả đă chỉ ra rằng căn cước Công giáo của Ngô Đ́nh Diệm là nhân tố quyết định giúp ông thu hút những ủng hộ viên người Mỹ. Đương nhiên là Ngô Đ́nh Diệm dựa khá nhiều vào các mối quan hệ với Vatican của Ngô Đ́nh Thục và các giám mục người Việt khác trong thời gian sống lưu vong; ông đă sử dụng những mối quan hệ này để giới thiệu ông với các nhân vật Mỹ nổi tiếng, và để ông trú ngụ tại các trường ḍng Công giáo. Hơn nữa, ông không chống lại việc sử dụng danh tiếng lănh đạo giới Công giáo người Việt của ḿnh để giành sự ủng hộ của các đồng đạo người Mỹ. [12] Nhưng quan niệm cho rằng Công giáo là yếu tố chủ chốt giải thích cho khả năng giành được sự ủng hộ từ người Mỹ của Ngô Đ́nh Diệm giỏi lắm cũng chỉ là phóng đại. [13] Mặc dù Ngô Đ́nh Diệm bàn về các vấn đề tôn giáo trong thư tín và các cuộc trao đổi riêng tư, dường như ông không định thiết lập một quan hệ hợp tác Mỹ-Việt với tư cách một liên minh Cơ Đốc giáo trong tương lai. Ngược lại, trong các cuộc trao đổi giữa ông và những người Mỹ không theo Công giáo, và đặc biệt trong những lời ông nhận xét trước công chúng trong thời gian lưu vong, Ngô Đ́nh Diệm luôn tránh những tuyên bố và ngôn ngữ tôn giáo và ưu tiên những lư luận thế tục về một cam kết với hai mục tiêu chống cộng và chống thực dân. [14]

Thay v́ nhấn mạnh vào tôn giáo, Ngô Đ́nh Diệm quan tâm nhiều hơn đến việc thu hút những người Mỹ tin vào phát triển, hiện đại hoá và khả năng biến đổi (một xă hội) của nền công nghệ Mỹ. Đặc biệt, ông t́m cách khai thác những quan tâm chính thức mới (của Mỹ) trong việc “hỗ trợ kỹ thuật” cho nước ngoài. Vào năm 1949, Tổng thống Harry Truman tuyên bố chương tŕnh “Point Four” (Điểm Bốn), tăng cường đáng kể mức độ hỗ trợ phi quân sự mà Mỹ dành cho nước ngoài. Mặc dù Point Four là kế tục trực tiếp của Kế hoạch Marshal 1947 nhằm giúp tái thiết Tây Âu, nó có quy mô toàn cầu và bao gồm nhiều loại viện trợ rộng lớn hơn. Ngoài các chương tŕnh tài trợ và trợ cấp ra, “hỗ trợ kỹ thuật” c̣n bao gồm cả việc cung cấp thiết bị, đào tạo và kiến thức chuyên môn. Như nhiều học giả đă chỉ ra, chương tŕnh Point Four báo hiệu ḷng tự tin mới của nước Mỹ về khả năng viện trợ và chuyên môn của Mỹ để định hướng cho những thay đổi kinh tế, chính trị và xă hội khắp thế giới. Là một chiến trường then chốt của Chiến tranh Lạnh, đối với nhiều quan chức Mỹ, Việt Nam rất cần sự giúp đỡ mà chương tŕnh Point Four được thiết kế để cung cấp. Vào thời điểm Ngô Đ́nh Diệm đến Mỹ vào năm 1950, một chương tŕnh trợ giúp kỹ thuật nhỏ của Mỹ đă được thực hiện ở Đông Dương, và sự trợ giúp kỹ thuật của Mỹ dành cho các Quốc gia Liên hiệp (Đông Dương) đều đặn tăng lên. [15]

Trong khi nỗ lực định hướng h́nh thức và nội dung sự hỗ trợ kỹ thuật của Mỹ cho Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm nhận được sự giúp đỡ quư giá từ người bạn của ḿnh là Wesley Fishel. Fishel ở một cương vị rất thích hợp để giúp đỡ Ngô Đ́nh Diệm trong vấn đề này, v́ vào năm 1951, ông ta vào giảng dạy tại Michigan State College (không bao lâu sau đó, trường này đổi tên thành Michigan State University). Trong những năm 1950, dưới sự lănh đạo đầy nhiệt tâm của Chủ tịch John Hannah, trường Michigan State quản lư những dự án giúp đỡ kỹ thuật do chính phủ tài trợ ở những nước như Brazil, Columbia và Nhật. [16] Không bao lâu sau khi vào trường, Fishel sắp xếp cho Ngô Đ́nh Diệm làm việc ở đó như một cố vấn; việc này giúp Ngô Đ́nh Diệm và Fishel có dịp hợp tác soạn thảo một dự án trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam. Lá thư năm 1952 mà Fishel đề đạt dự kiến lên trước US Mutual Security Agency (Cơ quan An ninh Hỗ tương Hoa Kỳ) mang ảnh hưởng của Fishel rất rơ, v́ nó đưa ra h́nh dung một dự án tương tự như những dự án khác của Michigan State. Nhưng lá thư này cũng có những ư tưởng rơ ràng xuất phát từ Ngô Đ́nh Diệm, chẳng hạn như điều kiện đ̣i chương tŕnh này đặt căn cứ ở thành phố Huế quê ông. Phạm vi của dự án đề xuất - lớn hơn tất cả các chương tŕnh hiện có ở Michigan States lúc đó – có vẻ cũng chủ yếu là do Ngô Đ́nh Diệm hoạch định. Ông tuyên bố rằng Việt Nam cần sự giúp đỡ trong nhiều lĩnh vực khác hẳn nhau như “khoa học cảnh sát”, “vấn đề ngoại thương” và thậm chí “nghiên cứu về việc chọn theo các thể chế dân chủ”. [17] Giờ đây nh́n lại, đề xuất này chứng minh khả năng tiên đoán phi thường của Ngô Đ́nh Diệm trong việc t́m cách định hướng h́nh thức và nội dung của cái sau này trở thành nguồn viện trợ khổng lồ Mỹ đổ vào giúp chính phủ của ông. [18]

Khả năng giành được sự hậu thuẫn của những ủng hộ viên có thế lực người Mỹ được thể hiện rơ trong một bữa tiệc trưa tổ chức nhằm vinh danh ông ở Washington vào ngày 8 tháng 5 năm 1953. Bữa tiệc này do Thẩm phán Toà án Tối cao William O. Douglas chủ tŕ; Douglas sang thăm Đông Dương một năm trước đó và tin rằng nơi này cần có một Lực lượng thứ Ba. Douglas tổ chức bữa tiệc trưa này để giới thiệu Ngô Đ́nh Diệm với những người Mỹ khác có cùng suy nghĩ như ông; khách mời gồm có các nghị sĩ Mike Mansfield và John F. Kennedy; số mệnh đă định sẵn là hai người này sẽ đóng vai tṛ then chốt trong quan hệ của Ngô Đ́nh Diệm với Mỹ. [19] Ngô Đ́nh Diệm gây được ấn tượng với hai Nghị sĩ này và những khách mời khác; ông mạnh mẽ lên án Bảo Đại và viễn cảnh độc lập cho Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, và đăi thính giả câu chuyện ông gặp Hồ Chí Minh vào năm 1946. Sau này nhớ lại, Mansfield nói rằng ông ta rời bữa tiệc “với cảm giác rằng nếu có người nào có thể nắm được miền Nam Việt Nam, phải là ai đó giống như Ngô Đ́nh Diệm.” [20]

Như nhiều sử gia đă chỉ rơ, khả năng quan hệ của Ngô Đ́nh Diệm với những người Mỹ như Fishel, Mansfield và Kennedy cuối cùng đă có kết quả. Đặc biệt là sau năm 1954, các quan hệ cá nhân ông thiết lập được trong thời gian sống lưu vong đă giúp giành được và củng cố sự ủng hộ chính thức của Washington dành cho ông và chính phủ của ông. Nhưng vào tháng 5 năm 1953, ông chưa ở vào vị thế có thể gặt hái những lợi tức chính trị này, và những người bạn Mỹ của ông cho đến khi đó mới chỉ ủng hộ ông bằng những lời động viên và ủng hộ tinh thần. V́ vậy, ông chuẩn bị t́m kiếm những phương tiện khác để đạt được mục tiêu. Tại bữa tiệc trưa ở Washington, Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố ḿnh sắp sang Pháp, và ông hy vọng cuối cùng sẽ quay lại Việt Nam. [21] Dĩ nhiên là cả ông và tất cả những người khác có mặt trong buổi trưa hôm đó có thể đoán trước được những sự kiện sẽ diễn ra trong 12 tháng tiếp sau đó và đỉnh điểm là, gần như đúng vào cùng ngày đó một năm sau, quân đội Pháp đă đầu hàng Việt Minh ở Điện Biên Phủ. Dù sao đi nữa, ngay cả khi Ngô Đ́nh Diệm không lường trước được những sự kiện đó, th́ ông cũng ở một vị thế thuận tiện để có thể khai thác chúng. Vào mùa xuân năm 1953, ông đă đặt kế hoạch cho cuộc trở về chính trị của ḿnh; sức đẩy quan trọng không phải từ những người hâm mộ mới ở Mỹ, mà từ những ủng hộ viên trung thành của ông ở Việt Nam.

 


Người giữ anh/em [22] : Sự nổi lên của Ngô Đ́nh Nhu, 1950-1953

Đă từ lâu, người ta cho rằng, trong thời gian sống lưu vong, Ngô Đ́nh Diệm không nắm được các sự kiện và tư tưởng tại Việt Nam; việc ông sống tại các chủng viện và các ḍng tu Công giáo ở Hoa Kỳ và châu Âu được coi là dấu hiệu chứng tỏ ông muốn rút lui khỏi các vấn đề của thế giới nói chung, và vấn đề chính trị nói riêng. Ngay cả trước khi Ngô Đ́nh Diệm kết thúc thời gian sống lưu vong, một số quan chức Hoa Kỳ đă chế giễu rằng ông như người “Yogi bí ẩn”, người vừa “thoát ra khỏi nhà ḍng bước vào một thế giới lạnh lùng” và v́ vậy, không sẵn sàng cho những nhiệm vụ chính trị dễ gây nản ḷng đang chờ đợi ông phía trước. [23] Những người đă viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông cũng thường đồng ư rằng ông bị cô lập trong thời gian sống lưu vong, và v́ vậy họ thường tả ông đang bơi một cách vô vọng giữa biển cả của những mưu đồ sau khi ông trở về Sài G̣n vào đầu mùa hè năm 1954.

Một h́nh ảnh như vậy về Ngô Đ́nh Diệm mở ra ít nhất hai điểm đáng tranh luận. Trước tiên, những diễn giải này đă không chú ư tới khả năng rằng, thời gian sống trong tu viện của ông có thể không bị cô lập như những ǵ mọi người thấy vào thời điểm đó, mà mang tính chiến lược nhiều hơn. Chúng ta biết rất ít về những hoạt động của Ngô Đ́nh Diệm trong thời gian 1951-1954 khi ông sống tại các chủng viện và tu viện ở Hoa Kỳ và Bỉ, và giả thuyết rằng ông bị cô lập với thế giới bên ngoài trong thời gian ông sống ở những tu viện này là một giả thuyết không có bằng chứng. Trên thực tế, có nhiều khả năng các học viện này đă cung cấp cho ông những phương tiện khá an toàn để liên lạc với những đồng minh của ḿnh ở Đông Dương, bởi v́ chúng cho phép ông sử dụng mạng lưới quốc tế của Công giáo, những người có thể mang tin nhắn một cách an toàn mà không bị cảnh sát Pháp ngăn chặn. Ví dụ, ông Ngô Đ́nh Diệm gặp nhà hoạt động Công giáo người Việt Trần Chánh Thành trong thời gian ông lưu lại một chủng viện ở Bỉ vào đầu năm 1954. V́ ông Thành là một phụ tá thân tín của Ngô Đ́nh Nhu ít nhất là từ năm 1952, và v́ ông Thành rốt cuộc trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất trong chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, có vẻ hợp lư để kết luận rằng ông là người đưa tin tức cho Ngô Đ́nh Diệm khi ông qua lại giữa châu Âu và Đông Dương trong suốt thời gian quan trọng này. [24]

Thứ hai, những lập luận Ngô Đ́nh Diệm bị cô lập cũng bị phá vỡ bởi có những bằng chứng cho thấy rằng ông đă kết hợp những hoạt động trong thời gian lưu vong của ḿnh với những nỗ lực của những người ủng hộ ông ở Đông Dương, những người đang chuẩn bị cho cuộc trở về của ông. Trong những giải thích hiện có về đường đến quyền lực của Ngô Đ́nh Diệm, một trong những thiếu sót rơ ràng nhất liên quan tới những trợ giúp quan trọng của anh em ông. Bên cạnh những trợ giúp như đă nói ở trên của người anh lớn, Giám mục Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Diệm cũng nhận được giúp đỡ của ba người em là Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện. Tuy Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện đều đóng vai tṛ quan trọng trong những thành công sau này của Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu là người có những đóng góp quan trọng nhất.

Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện là hai người em út trong những anh em họ Ngô, và là hai người hoàn toàn khác biệt nhau. Ngô Đ́nh Cẩn là người sống xa lánh, hay gắt gỏng và là người ít học nhất trong các anh em; ông chưa một lần đi nước ngoài, và gần như cả đời ḿnh, ông chỉ sống ở Huế. Trái lại, Ngô Đ́nh Luyện là một kỹ sư phong nhă, theo chủ nghĩa thế giới, đă từng du học ở châu Âu và nói được vài thứ tiếng. Không ngạc nhiên mấy, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện giúp đỡ Ngô Đ́nh Diệm theo những cách khác nhau. Đầu những năm 1950, Ngô Đ́nh Cẩn bắt đầu xây dựng một hệ thống bí mật những người ủng hộ ở miền Trung Việt Nam; ông sử dụng tổ chức này để xây dựng và củng cố sự ủng hộ cho Ngô Đ́nh Diệm ở phần này của đất nước, và đồng thời cũng mở rộng những ảnh hưởng cá nhân của ông ở đây. Trong khi đó, Ngô Đ́nh Luyện làm đại diện cho Ngô Đ́nh Diệm ở châu Âu. Sau khi Ngô Đ́nh Diệm rời Hoa Kỳ đến Pháp tháng 5, 1953, Ngô Đ́nh Luyện trở thành cố vấn chính và là đại diện riêng của Ngô Đ́nh Diệm trong những cuộc thương lượng với Bảo Đại và những nhà lănh đạo Việt Nam khác. [25]

Gia đ́nh họ Ngô không thiếu những cá nhân có cá tính lạ thường và khó hiểu; tuy nhiên, so với mọi người, ông Ngô Đ́nh Nhu được coi là người bất thường và bí ẩn nhất. Là người thứ tư trong sáu anh em, người ta nói ông cẩn trọng, sâu sắc và kín đáo. Ông không quê mùa như Ngô Đ́nh Cẩn hay tao nhă như Ngô Đ́nh Luyện, ông cũng có vẻ không quan tâm đến việc triều chính, điều mà Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục và Ngô Đ́nh Diệm đă quá bận tâm. Quả vậy, là một người đàn ông trẻ, ông Ngô Đ́nh Nhu có vẻ ham sách vở hơn làm chính trị. Những năm 1930 ở Paris, trước tiên, ông dành nhiều thời gian học về văn chương rồi sau đó học về chữ cổ và ngành quản thư tại École des Charte nổi tiếng. Cuối những năm 1930, ông trở về Việt Nam và làm việc trong ngành lưu trữ; đến 1945 ông giữ chức vụ trụ cột tại nơi sau này là Thư viện Quốc gia ở Hà Nội. [26] Sau Cách mạng tháng Tám, ông Ngô Đ́nh Nhu tham gia nhiều hơn vào chính trị, đặc biệt trong những cố gắng của các anh em ông để vận động sự ủng hộ của những người Việt Nam Công giáo. Tuy vậy, cho đến khi Ngô Đ́nh Diệm rời Việt Nam, ông vẫn tương đối mờ nhạt. Với người vợ trẻ của ông, Trần Lệ Xuân – sau này được thế giới biết đến là “Madame Nhu” nhiều tiếng tăm và tai tiếng – trong năm 1950, Ngô Đ́nh Nhu vẫn sống khá ẩn dật ở thành phố Đà Lạt, nơi ông theo đuổi thú vui trồng hoa lan. [27]

Giống như những anh em của ḿnh, ông Ngô Đ́nh Nhu là người sùng kính đạo Công giáo và trung thành với Nho giáo. Tuy nhiên, giống như việc học vấn và sự nghiệp ban đầu của ông khác với những anh em khác trong gia đ́nh họ Ngô, sự phát triển về tư tưởng và chính trị của ông cũng theo một lối khác hẳn. Ở Pháp, Ngô Đ́nh Nhu chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi triết gia Công giáo Emmanuel Mounier. Trong những cuốn sách và các trang viết trên tạp chí Esprit của ḿnh, Mounier phản ứng lại thời Đại khủng hoảng [28] và những đau khổ mà nó gây bằng cách phát triển một lư thuyết phê b́nh chủ nghĩa tư bản tự do; ông đặc biệt chế nhạo thiên kiến tự do với chủ nghĩa cá nhân, tranh luận rằng điều đó chắc chắn dẫn đến sự cô lập, bất hoà và bóc lột. Nhưng, là một người Công giáo bảo thủ, Mounier không đồng t́nh với chủ nghĩa Marx v́ tư tưởng duy vật của nó huỷ hoại những ǵ mà ông gọi là những chiều kích “tâm hồn” trong bản tính con người. Thay v́ [chọn theo] chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản, Mounier hướng đến một trật tự xă hội hậu tư bản, ở đó, cả những nhu cầu về vật chất của cá nhân và sự thịnh vượng chung đều được hưởng lợi – nhưng một trong hai điều này không trở thành trọng tâm độc nhất trong chính sách của xă hội. Thay vào đó, Mounier đề nghị đặt trọng tâm vào việc phát triển một con người toàn diện (la personne), mà ông định nghĩa là gồm cả những nhu cầu về tinh thần và vật chất. Nhấn mạnh của Mounier vào “con người” như lối thoát cho “cá nhân” là đề tài chủ yếu trong những bài viết của ông, và v́ vậy ông đặt cho tư tưởng của ḿnh là “chủ nghĩa nhân vị”. [29]

Khi Ngô Đ́nh Nhu Nhu từ Pháp về lại Đông Dương, ông trở thành một người say mê chủ nghĩa nhân vị, tin tưởng rằng tín lư của Mounier có thể được áp dụng ở Việt Nam. [30] Đặc biệt sau năm 1945, chủ nghĩa Nhân vị có khả năng là “con đường thứ ba” cho việc phát triển xă hội là điều hết sức thu hút Ngô Đ́nh Nhu. Với Ngô Đ́nh Nhu, việc Mounier bác bỏ cả chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng sản trở nên thích hợp với vấn đề chính trị của Lực lượng thứ Ba mà Ngô Đ́nh Diệm đang đề xướng. Ngô Đ́nh Nhu cảm thấy ông anh lớn của ḿnh đang lĩnh hội tư tưởng của ông qua việc những nhận xét và bài viết của Ngô Đ́nh Diệm trong giai đoạn này nhắc đến những thuật ngữ của chủ nghĩa Nhân vị.

Sau năm 1950, Ngô Đ́nh Nhu trở thành một trong những nhân vật đi đầu trong việc vận động những người Việt không theo cộng sản ủng hộ cho Ngô Đ́nh Diệm. Đồng thời, ông cũng hăng hái trong việc đề xướng chủ nghĩa Nhân vị làm đường hướng cho việc phát triển chính trị và xă hội của Việt Nam. Tháng 4 năm 1952, Ngô Đ́nh Nhu phác thảo quan điểm về chủ nghĩa Nhân vị trong bài nói chuyện tại trường Vơ Bị Đà Lạt vừa thành lập. Ông thừa nhận rằng khái niệm nhân vị ban đầu là một tư tưởng Công giáo, nhưng nhấn mạnh rằng nó mang tính thích hợp và hữu dụng phổ quát, đặc biệt là cho một đất nước bị chiến tranh tàn phá như Việt Nam. Phát biểu với đa số những người không theo Công giáo tại buổi nói chuyện này, ông tuyên bố rằng “… ưu-tư của người Công-giáo cũng chỉ như một tiếng dội đáp lại những nỗi ưu-tư ở tâm-hồn bất-măn của các ông vậy.” Ngô Đ́nh Nhu lập luận rằng, tất cả người Việt Nam thuộc mọi phe phái chính trị và tôn giáo, đều phải cùng nhau có “một sự nhất trí bất thần và mănh liệt” để bảo vệ nhân vị chống lại các thế lực đang đe doạ tiêu diệt nó. Những thế lực này bao gồm chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng sản, cả hai tư tưởng đều đem lại “sự giải phóng giả trá” và chiến tranh liên miên. [31]

Những thính giả hôm đó không biết điều này: bài diễn văn của ông Ngô Đ́nh Nhu báo hiệu cho những việc sắp xảy đến. Ngoài việc dài ḍng, rắc rối và trừu tượng – những phẩm chất ở ông mà, trong thập niên tiếp theo đó, nhiều người Việt Nam đă được làm quen và cảm thấy khó chịu – bài diễn văn này chuyên chở những đề tài then chốt, mô tả đặc điểm của những diễn văn và tuyên bố của cả ông và Ngô Đ́nh Diệm sau này về ích lợi và giá trị của chủ nghĩa nhân vị. Những đề tài này không chỉ nói đến những nguy hiểm của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng sản, mà c̣n nói đến sự quan trọng của lợi ích “phần hồn” thay v́ chỉ đơn thuần là lợi ích vật chất. Bên cạnh đó, bài diễn văn cũng làm nổi bật niềm tin chắc chắn của Nhu rằng Việt Nam cần một cuộc cách mạng toàn diện:

“Đó là những điều đại cương, rất vắn tắt của một cuộc cách mạng chính-trị kinh-tế, nhắm đích đặt con người vào trung tâm của triển vọng thế giới. Tôi nói: cách-mạng, bởi v́ chúng ta sẽ làm một việc vô cùng phí công nếu chúng ta gắng gỏi tô chữa những đường nứt nẻ ở một cái nhà đă lung lay, lúc cần phải thay đổi cả cơ cấu nội bộ của toàn thể cái nhà ấy.” [32]

Như Ngô Đ́nh Diệm, từ đầu những năm 1950, Ngô Đ́nh Nhu hiểu rất rơ rằng việc tạo ra một Lực lượng thứ Ba ở Việt Nam phụ thuộc vào nhiều điều hơn là chỉ hứa suông trở về với những truyền thống, giá trị và thực hành cổ xưa. Để có thể thành công, một phong trào như vậy phải đề xướng chuyển đổi và cách mạng – mặc dù không theo đường hướng cộng sản. Ngô Đ́nh Nhu tin rằng chủ nghĩa nhân vị có thể tạo nên nền tảng cho một tư tưởng phổ quát mới, thu hút mọi người Việt Nam, không Công giáo cũng như Công giáo.

 

---------- Message transféré ----------
From: "Nieu Tran" <dtnieus@houston.rr.com>
To: "TVBKBC4027" <tvbkbc4027@yahoogroups.com>, <diendantintuc@yahoogroups.com>, "BIENTHUYQUAN" <btq2@yahoogroups.com>, "LienKhoa VB Dalat"

 <lienkhoavobidalat@yahoogroups.com>, "HUYET HOA" <huyethoa@yahoogroups.com>, <tinhvienxu@yahoogroups.com>
Date: Mon, 5 Nov 2007 22:22:49 -0600
Subject: [HUYET-HOA] Tran Quoc Khang: SAI LAM NGHIEM TRONG....

Người Mỹ đi rao giảng Nhân Quyền...!!!???

hăy nh́n Người Mỹ hành xử Nhân Quyền đối với Dân Tộc Việt kể từ 1963...

===========oo0oo===========

 


Sai Lầm Nghiêm Trọng
Chưa Từng Thấy Trong Lịch Sử


(Bài Thứ 1)

Trần Quốc Kháng

 

"Chính sách của Mỹ tại VN, đă mắc phải nhiều sai lầm nghiêm trọng từ năm 1960 đến năm 1968. Chúng ta đă không nhận ra, chiến tranh VN là chiến tranh xâm lăng từ miền Bắc [do Nga Tàu điều khiển] chứ không phải là cuộc "cách mạng" do dân chúng miền Nam nổi dậy. Chúng ta đă không tiên liệu được những hậu quả tai hại xẩy ra, sau khi RA LỊNH đảo chánh vị tổng thống ĐÁNG KÍNH và CÓ NHIỀU KHẢ NĂNG Ngô Đ́nh Diệm".
(Tổng Thống R. Nixon, "Real Peace")
*
Tính đến đầu tháng 11.1998 th́ 35 năm trời đă trôi qua -- kể từ ngày Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vị quốc vong thân. Nhân ngày giỗ Người qua cố, chúng tôi cảm thấy bùi ngùi khi nhớ lại đoạn văn nêu trên của Tổng Thống Richard Nixon trong cuốn "Real Peace". Càng ngày sự thật càng sáng tỏ, trong lịch sử hiện kim, TT Ngô Đ́nh Diệm là người có công rất lớn đối với đất nước VN và là "đồng minh thân thiết" của Hoa Kỳ, nhưng lại bị chính Hoa Kỳ chủ mưu lật đổ. Đây là lỗi lầm nghiêm trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại VN.
Hệ quả là sau biến cố 1963, uy tín của Hoa Kỳ bị tổn thương trầm trọng. Ngay cả chế độ phi nhân Việt Cộng hiện nay, mặc dù gian xảo khôn lường, đă van xin được bang giao với Hoa Kỳ, nhưng vẫn sợ "run như cầy sấy". Hai bên không tin tưởng nhau th́ làm sao mà hợp tác kinh doanh, hay hợp tác quân sự? Chứng cớ là thượng tuần tháng 11.98 vừa rồi, tờ "Nhân Dân" của VC hoảng hốt kêu gọi "các đồng chí công an, cán bộ và bộ đội" cần đề cao cảnh giác hoạt động của CIA -- đang gia tăng nỗ lực t́nh báo -- mưu toan thực hiện "diễn tiến hoà b́nh"!
Nh́n lại chính sách của Hoa Kỳ tại VN th́ quả thật, "vàng thau lẫn lộn". Trong đó, việc chủ mưu lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm để "MỸ HOÁ Chiến Tranh" là điều sai lầm trầm trọng nhất.


Vàng Thau Lẫn Lộn
 

Tại VN, từ 1954 đến 1962, uy tín của Hoa Kỳ sáng chói. Điểm son hàng đầu là việc Hoa Kỳ, tích cực ủng hộ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Nhờ có Hoa Kỳ góp phần, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă đem lại thanh b́nh, tự do và cuộc sống ấm no cho dân chúng miền Nam qua các chương tŕnh kiến thiết và phát triển kinh tế.
Sau đó, Hoa Kỳ đă đem quân trực tiếp tham chiến, ngăn chặn đoàn quân "Mông Cổ Mác-Lênin" [Nga Tàu là hai kẻ đầu xỏ, Việt Cộng là tay sai đắc lực] xâm lăng VNCH. Mặc dù phía Cộng Sản đả kích dữ dội, nhưng trên nguyên tắc, ai cũng thấy đây là hành động "nghĩa hiệp" của Hoa Kỳ.
Trong lănh vực nhân đạo, có 2 lần Hoa Kỳ đă cứu giúp dân chúng VN tỵ nạn Cộng Sản. Lần thứ nhất là năm 1954, có khoảng 1 triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Lần thứ 2, sau khi miền Nam thất thủ năm 1975, tổng cộng có khoảng 1.5 triệu người đă được định cư ở Hoa Kỳ.
Đó là những vết son sáng chói, ngàn đời sẽ lưu trong sử sách. Tuy nhiên, ḷng người tin tưởng bao nhiêu th́ thất vọng chừng ấy:
* Năm 1963, chính quyền Kennedy đă chủ mưu, mua chuộc nhóm "Tướng Tá Phản Loạn", sử dụng bạo lực, lật đổ chính phủ TT Ngô Đ́nh Diệm để "MỸ HÓA Chiến Tranh".
* Năm 1972, chính quyền Nixon làm ngược lại, "VN Hoá Chiến Tranh" để dọn đường cho quân đi Hoa Kỳ rút lui khỏi chiến trường.
* Năm 1973, Hoa Kỳ ép buộc VNCH kư kết "Hiệp Định Ba-Lê" để "tẩu vi thượng sách".
* Năm 1975, Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ và bỏ rơi VNCH trong khi đoàn quân "Mông Cổ Mác-Lênin", bất chấp "Hiệp Định Ba-Lê", công khai xâm chiếm miền Nam.
* Năm 1992, chính quyền Clinton thiết lập bang giao với chế độ gian manh Việt Cộng.
Qua những sự kiện lịch sử kể trên, uy tín của Hoa Kỳ bị tổn thương. Trên trang 2 của cuốn hồi kư "No More VietNams", Tổng Thống Nixon đă xác nhận:
"...Tháng 4.1975, bộ đội Bắc Việt lái chiến xa của Liên Sô trên đường phố Sài G̣n. Đó là dấu hiệu báo trước cho thể chế độc tài, phi nhân và cảnh lầm than của dân chúng Đông Dương. Đó c̣n là biểu tượng của sự bất lực -- thiếu ư chí quyết liệt của Hoa Kỳ. Đó là chiến thắng của đế quốc Liên Xô bạo tàn, muốn xâm lăng và đô hộ các nước khác. Thảm cảnh đàn ông, đàn bà và trẻ con -- trước kia từng tin tưởng vào chúng ta -- nay tuyệt vọng, tay sách nách mang, chạy tán loạn trước sức xâm lăng của Cộng Sản. Đó lại c̣n là biểu tượng của sự thất bại và bi phản của người Mỹ -- chưa hề xẩy ra trong lịch sử".
*


Sai Lầm Nghiêm Trọng Chưa Từng Thấy Trong Lịch Sử
 

Năm 1963, chính quyền Kennedy đă sai lầm trầm trọng khi chủ mưu lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm -- chính phủ Dân Chủ Tự Do, hoàn toàn hợp hiến, hợp pháp, mà Hoa Kỳ đang chính thức bang giao.
Đúng như sử gia Hoàng Ngọc Thành đă viết: "Tài liệu MẬT, lâu ngày sẽ hết MẬT". V́ vậy, sau hàng chục năm trôi qua, hầu hết những bí mật về biến cố 1963, đă được tiết lộ hay bị phát giác. Dẫn thượng trong công tŕnh soi sáng sự thật qua tài liệu mật là cuốn "Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm". Tác phẩm này do ông Hoàng Ngọc Thành biên soạn.
Nhiều cuốn khác, như hai cuốn hồi kư "Real Peace" và "No More Vietnams" của TT Richard Nixon; cuốn "The Year Of The Hare" của giáo sư Fransis Winters; cuốn "VN Chính Sử" của LS Nguyễn Văn Chức... và cuốn "Bên Gịng Lịch Sử VN" của Linh Mục Cao Văn Luận, đă đóng góp không nhỏ, giúp độc giả t́m hiểu sự thật trong lịch sử. Có 3 sự thật lịch sử quan trọng trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà:
Sự thật thứ nhất: Chính quyền Kennedy đă chủ mưu, mua chuc phe nhóm "Tướng Tá Phản Loạn", sử dụng bạo lực, thực hiện cuc đảo chánh ngày 1.11.1963, lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.
Sự thật thứ 2: Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là người Quốc Gia Chân Chính, có ḷng ái quốc, có khả năng lănh đạo, có đức độ và có công rất lớn đối với đất nước. Mặc dù trong thời gian cầm quyền, TT Ngô Đ́nh Diệm có nhiều khuyết điểm, nhưng xét cho cùng, Ông vẫn là người DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ VN -- từ thời Pháp thuộc đến nay -- đă đem ánh sáng Dân Chủ Tự Do và đời sống tươi thắm cho dân chúng trong 9 năm cầm quyền.
Sự thật thứ 3: "Pháp Nạn 1963" chỉ là thảm kịch do bọn "Vẹm Sư" Thích Trí Quang đạo diễn. Trong giai đoạn đầu, Hoa Kỳ đă chụp lấy cơ hội, hỗ trợ bọn "Vẹm Sư" Thích Trí Quang, xách động dân chúng biểu t́nh để nguỵ tao "chính nghĩa". Sang giai đoạn 2 -- sau khi TT Diêm bị lật đổ -- màn kịch "Pháp Nạn" bị dẹp tan. "Vẹm Sư" Thích Trí Quang đă bị tướng Nguyễn Ngọc Loan bắt giam. Nếu hắn không khóc lóc thảm thiết và quỳ lậy tướng Loan -- trên chuyến phi cơ dẫn độ về Sài G̣n -- th́ chuyện ǵ xẩy ra? Tướng Loan đă tính áp dụng chiến thuật "đi với Bụt mặc áo Cà Sa, đi với MA mặc áo giấy", quẳng gă "Vẹm Sư" này xuống biển -- v́ đương sự can trọng tôi, làm tay sai cho Cộng Sản, gây rối loạn ở miền Nam. Trong thời gian này, các Phật Tử Chân Chính đều cảm thấy bất măn khi chứng kiến nhóm "Vẹm Sư" bầy "Bàn Thờ Phật" trên đường, bên cạnh cống rănh -- vừa cản trở giao thông, vừa phỉ báng Phật Giáo.
Trở lại Sự Thật Thứ Nhất nêu trên th́ trong cuốn "Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm", từ trang 209 đến trang 369, sử gia Hoàng Ngọc Thành đă nêu lên đầy đủ chứng cớ, cho thấy chính quyền Kennedy đă 2 lần, thực hiện âm mưu lật đổ TT Ngô Đ́nh Diệm.
Lần thứ nhất được thực hiện vào hạ tuần tháng 8.1963, nhưng thất bại. Lần thứ 2 th́ thành công vào ngày 1.11.1963. Sau khi dẫn chứng về vụ điệp viên CIA Lucien Connein trao 3 triệu đồng cho nhóm tướng tá "Phản Loạn", trên trang 517 ông Thành kết luận:
"Điều chắc chắn là chính quyền Kennedy đă chi tiêu rất nhiều tiền vào vụ đảo chánh hơn là số tiền 3 triệu đồng VN, tức chỉ 4 ngàn Mỹ Kim".
Sang trang 520, độc giả t́m thấy bằng cớ xác thực hơn. Đó là công điện của đại sứ Cabot Lodge, gởi về Hoa Kỳ cho cố vấn an ninh Bundy ngày 30.10.1963 -- nguyên văn bằng tiếng Mỹ như sau:
"As to request from the Generals, they may well have need of funds at last moment with which to buy off potential opposition. To the extent that these funds can be passed discreetly, I beleive we should furnish them, provided we are convinced that the proposed coup is sufficiently well organized to have a good chance of success".
Lược dịch: "Theo lời yêu cầu của các tướng lănh th́ vào phút cuối, họ rất cần tiền để mua chuộc những người có khả năng chống đối. Lúc số tiền được bí mật chuyển giao th́ tôi tin tưởng là chúng ta nên cung cấp cho họ khi nhận thấy kế hoạch đảo chánh được tổ chức chu đáo, có cơ hội thành công".
Trong cuốn "The Year Of The Hare" th́ trên trang số 3, tiến sĩ Fransis Winters cũng đă xác nhận, TT Kennedy đă chủ mưu lật đổ TT Ngô Đ́nh Diệm:
"Quyết định của TT Kennedy, xách động đảo chánh vào ngày 29.8.1963 và trực tiếp điều khiển trong 2 tháng để lật đổ TT Ngô Đ́nh Diệm -- mặc dù TT Kennedy đă biết rơ, chẳng ai có khả năng lănh đạo hơn ông Diệm để hay thế -- điều này đă làm những người b́nh luận thời cuộc khó hiểu vô vùng".
Trong cuốn "No More Vietnams", trên trang 44, TT Nixon đă viết:
"Chúng ta đă phạm lầm lỗi thứ 3 tại VN trong năm 1963. Chính quyền Kennedy đă làm cho người ta oán giận TT Diệm, qua việc xách động và yểm trợ cuc đảo chánh lật đổ chính phủ của Ông ta. Kết quả đáng khinh bỉ là việc sát hại ông Diệm để khởi đầu cho giai đoạn khủng khoảng chính trị, bắt buc chúng ta phải gởi quân đi vào VN tham chiến".
Thật ra, c̣n rất nhiều bằng cớ. Nhưng thiết tưởng, chừng đó dẫn chứng cũng đủ để chứng tỏ: Chính quyền Kennedy đă chủ mưu lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.
Hệ quả -- của chính sách sai lầm -- trước tiên là uy tín của Hoa Kỳ bị tổn thương và miền Nam VN bị rối loạn. Đây c̣n là cơ hội "ngàn năm một thuở" cho Cộng Sản lan tràn. Không những dân chúng VN sa vào bể khổ, mà chính Hoa Kỳ cũng gánh chịu rất nhiều thiệt hại v́ sự sai lầm trầm trọng này:
Hơn 58 ngàn quân nhân Mỹ tử trận. Hàng chục ngàn quân nhân khác bị tàn phế, hoặc mất tích. Từ 1963 đến 1973, mỗi năm Hoa Kỳ đă tốn hàng tỷ Đô-La cho cuc chiến dài nhất lịch sử. Các hăng kỹ nghệ quốc pḥng Mỹ kiếm được bao nhiêu tỷ Đô-La? Chính quyền Hoa Kỳ đạt được mục tiêu chiến lược nào mà dân chúng Hoa Kỳ phải gánh chịu nỗi bất hạnh trầm trọng như thế?
Tiếp theo, đến tháng 4.1975, đoàn quân "Mông Cổ Mác-Lênin" đă xé bỏ Hiệp Định Ba-Lê, công khai xâm chiếm miền Nam. Hoa Kỳ bất chấp các văn kiện kư kết, cúp viện trợ và bỏ rơi VNCH. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Hoa Kỳ đă lui quân trước họng súng xâm lăng của Quốc Tế Cộng Sản -- nếu không muốn nói là Hoa Kỳ thất trận ở VN.


Người Có Công Lớn Nhất Trong Lịch Sử Hiện Kim
 

Nhiều người chê trách chế độ Ngô Đ́nh Diệm là "quan liêu, độc tài... và gia đ́nh trị". Bọn gian manh c̣n buộc tội Ông là "đàn áp Phật Giáo, là Việt gian, là tay sai cho Mỹ". Nhưng sự thật, từ thời Pháp Thuôc đến nay, Ông vẫn là người duy nhất trong lịch sử hiện kim đă đem ánh sáng Dân Chủ Tự Do và đời sống tươi thắm cho dân chúng trong 9 năm cầm quyền -- mặc dù Ông không tránh khỏi những sơ xuất trong thời gian ây. Nếu quư vị nào biết người khác trong lịch sử hiện kim, đă tạo dựng sự nghiệp "ích quốc lợi dân" hơn ông Diệm, xin nên lên với bằng cớ xác thực trước công luận. Chúng tôi xin tri ân và đính chính, nếu nhận thấy ḿnh lầm lẫn.
Ngược ḍng lịch sử th́ thấy ngay sự thật: Năm 1932, sau khi du học ở Pháp, Hoàng Tử Vĩnh Thuỵ về nước, lên ngôi Hoàng Đế, niên hiệu là Bảo Đại. Năm 1933, nội các mới của Nhà Vua được thành lập ngày 2 tháng 5: "Tuần Vũ" Ngô Đ́nh Diệm, "ông quan" 32 tuổi, nổi tiếng là "thanh liêm chính trực", được Nhà Vua bổ nhiệm làm "Thượng Thư Bộ Lại" -- tương đương với chức vụ Thủ Tướng. Trong khi tại chức, ông Diệm đ̣i hỏi Pháp phải thi hành Hoà Uớc 1884, trả lại chủ quyền Trung Kỳ và Bắc Kỳ cho VN. Đồng thời, ông Diệm đề nghị vua Bảo Đại cải cách hệ thống hành chánh để VN có ngân sách riêng, có quân đi riêng. Sau 2 tháng, việc giành lại chủ quyền cho 2 miền Bắc và Trung không thành, ông Diệm từ chức. Có nghĩa là Ông đă từ bỏ quyền hành bao la, từ bỏ bổng lc cao sang, xuống làm người dân Việt b́nh thường. Điều này chứng tỏ, ông Diệm xem địa vị, danh vọng và tiền tài như cỏ rác. Đối với Ông, "ích quốc lợi dân" mới là điều quư trọng. Điểm son sáng chói này, làm nhiều người kính phục, mở đầu cho sự nghiệp chính trị lẫy lừng của Ông sau này.
Chuyện "ông quan Thượng Thư" từ bỏ quyền cao chức trọng làm nhiều người liên tưởng đến chuyện trái ngược mà Hồ Chí Minh đă làm: Sau khi đi làm bồi tàu cho Tây, Hồ viết thư gởi Chính Phủ Pháp năm 1911, van xin được theo học trường Thuôc Địa -- với mong ước, được làm tay sai cho thực dân, cai trị dân chúng VN. V́ bản chất TÔI TỚ bẩm sinh không được thoả măn, Hồ xoay sang làm tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế và được dưỡng dục (nuôi nấng và dậy bảo) ở bên Nga Sô. Nhờ vậy, họ Hồ, xuất thân là gă bồi tàu cho Tây, trở thành bạo chúa, chiếm được miền Bắc năm 1954.
Trong khi ấy, theo lời mời của vua Bảo Đại, ngày 7.7.1954, ông Diệm về nước chấp chánh với chức vụ Thủ Tướng chính phủ. Ông phải đương dầu với tŕnh trạng vô cùng hỗn loạn tại miền Nam: Pháp và tay sai phá hoại. Phiến loạn B́nh Xuyên và các lực lượng giáo phái lộng hành. Chúng cấu kết với nhau, cố ư gây rối loạn để ông Diệm phải "cuốn gói" đi khỏi miền Nam .
Nhưng không! Mặc dù "tứ bề thọ địch", chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đă làm nhiều người ngỡ ngàng trước những thành công lẫy lừng trong mấy năm liên tiếp:
- Dẹp tan tệ trạng "nhị thập xứ quân" vô cùng rối loạn ở miền Nam, để thống nhất chủ quyền quốc gia.
- Cứu giúp và định cư cho một triệu đồng bào miền Bắc, di cư vào Nam tỵ nạn Việt Cộng.
- Giành lại TOÀN VẸN chủ quyền quốc gia khi tuyên bố, rút ra khỏi "Liên Hiệp Pháp". Nền Cộng Ḥa -- thể chế Dân Chủ Tự Do đầu tiên trong lịch sử VN -- đă đến với dân tộc chúng ta ngày 26-10-1955. Từ đó, Quốc Gia VN trở thành VN Cộng Ḥa.
- Cải tổ toàn diện Quân Đi Quốc Gia để trở thành Quân Đi VNCH.
- Cải tổ chương tŕnh giáo dục, từ tiểu học đến đại học.
- Nhiều trường học được xây cất. Điểm h́nh là trường trung Học Chu Văn An, trường trung học Nguyễn Trăi, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Trường Vơ Bị Quốc Gia VN, Viện Đại Học Huế... và Viện Đại Học Cần Thơ.
- Đem lại đời sống tươi thắm cho dân chúng miền Nam qua các chương tŕnh kiến thiết quốc gia và phát triển kinh tế.
Khắp nơi trên thế giới, tất cả các chính khách đều nh́n nhận, TT Ngô Đ́nh Diệm là chính trị gia xuất sắc nhất trong vùng Đông Nam Á. V́ hiểu rơ khả năng lănh đạo và đức độ của TT Ngô Đ́nh Diệm, phía Bạn cũng như phía Thù; phía Tư Bản Tây Phương cũng như phía Cộng Sản, đều tỏ ḷng kính nể.
Trước nhất là phía Cộng Sản. Sau khi TT Diệm bị lật đổ, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch mặt trận côn đồ -- mệnh danh là "Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam" -- đă hả hê tuyên bố:
"Hoa Kỳ đă làm một chuyện mà chúng tôi không thể nào làm nổi trong sốt 9 năm vừa qua. Chúng tôi không ngờ là vớ được món quà từ trên thiên đàng rơi xuống".
Năm 1995, khi phái đoàn Mc Namara đến Hà Nôi, Vơ Nguyên Giáp đă phải nh́n nhận ông Diệm là người đức độ và có tầm nh́n xa hiểu rộng:
"Ông Diệm là người Quốc Gia chân chính, không bao giờ cho phép Hoa Kỳ chiếm quyền điều khiển chiến tranh VN -- v́ việc này dẫn đến thất bại thảm khốc cho chính quyền Sài G̣n, Hoa Kỳ và các nước đồng minh".
Về phía Hoa Kỳ, như đă trích dẫn ở phần trên, TT Nixon đă nêu lên nhận xét:
"Chúng ta đă không tiên liệu được những hậu quả tai hại xẩy ra, sau khi RA LỊNH đảo chánh vị tổng thống ĐÁNG KÍNH và CÓ NHIỀU KHẢ NĂNG Ngô Đ́nh Diệm".
Ngay cả TT Kenndy, cũng phải công nhận hai ông Diệm Nhu là hai người đă hết ḷng với đất nước. Chứng cớ là tối hôm 2.11.1963, tại nhà nghỉ mát ở Rattlesnake Mountain, khi bà Mary Gimbel buộc tội hai ông Diệm Nhu là "bạo chúa" th́ TT Kennedy bảo rằng:
"Không phải thế đâu, hai Ông ấy gặp hoàn cảnh khó khăn. Họ đă làm những điều tốt đẹp nhất cho xứ sở của họ".
Về phía vua Bảo Đại, khi mới bị truất phế, có tin cho rằng Ông bực bội, đả kích TT Diệm gay gắt. Nhưng sau khi b́nh tâm, hiểu rơ vấn đề, vị Cựu Hoàng này đă nh́n nhận ông Diệm là người yêu nước, bị sát hại v́ không muốn miền Nam lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Trên trang 60 của cuốn "Những Ngày Cuối Cùng Của TT Diệm" nghi lại lời tuyên bố của vua Bảo Đại khi báo chí phỏng vấn:
"Ông Diệm là người tôi tín nhiệm. Lúc đó thế lực của Pháp đă thất bại. Phía Cộng Sản đă được Liên Xô tích cực ủng hộ về mọi mặt, nên tôi khuyên ông Diệm t́m sự ủng hộ của Mỹ để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản. Việc ông ta lật đổ tôi là do sức ép của chính trị. Ông Diệm là người yêu nước, lúc trao quyền, tôi có yêu cầu ông ấy cam kết hai điều trước bàn thờ Thiên Chúa, v́ ông ấy rất mộ Đạo, là phải giữ vững miền Nam và nếu không làm được sứ mạng ấy th́ phải trao lại quyền cho tôi. Nhưng rồi, ông ta chết khi thi hành nhiệm vụ. Dù sao, ông ta cũng cố sức giữ những lời cam kết ấy mà không được".
Nh́n lại sai lầm của Hoa Kỳ trong chiến tranh VN th́ quả nhiên, lời tuyên bố của TT Diệm rất đúng:
"Nước Mỹ giàu mạnh và có nhiều điểm tốt. Nhưng sức mạnh đó KHÔNG CÓ NGHĨA là CÓ QUYỀN ra chỉ thị cho VN. Việt Nam hiện đang chống lại một cuộc chiến mà Hoa Kỳ chưa bao giờ có kinh nghiệm. Vậy th́ đừng có ư kiến".
Trong cuốn "Bên Ḍng Lịch Sử VN", Linh Mục Cao Văn Luận đă nghi lời tâm sự của TT Diệm khi hai người gặp nhau tại dinh Gia Long năm 1963:
"Tôi muốn vơ trang đầy đủ cho Bảo An, Dân Vệ, Thanh Niên Chiến Đấu, Mỹ không chịu. Tôi muốn tăng cường quân đi, Mỹ từ chối không cung cấp vũ khí và phương tiện. Mỹ chỉ muốn đưa quân sang VN mà thôi".
Về phía Hoa Kỳ th́ vào ngày 22.11.98, lần đầu tiên thư viện John F Kennedy đă cho phổ biến những cuốn băng ghi âm về cuộc nói chuyện của TT Kennedy -- có liên hệ đến biến cố 1.11.1963. Tài liệu cho thấy, sau khi TT Diệm và ông Nhu bị nhóm "Tướng Tá Phản Loạn" sát hại dă man th́ vào ngày 4.11.63, ông Kennedy đă tỏ ra hối hận và nh́n nhận rằng:
"Chính Phủ Hoa Kỳ chịu tránh nhiệm nặng nề về cuc đảo chánh này v́ đă khởi đầu bằng một công điện gởi đi vào đầu tháng 8.1963, "Đề Nghị" một cuc đảo chánh".
Khoảng 3 tuần lễ trước khi bị ám sát, Tổng Thống Kennedy nói tiếp trong cuối băng:
"Theo sự nhận xét của tôi th́ công điện trên đă không được soạn thảo kỹ càng và đáng lẽ cũng không nên gởi đi vào ngày cuối tuần. Tôi cũng không nên chấp thuận điều này trước khi lắng nghe lư lẽ của phía phản đối cuc đảo chánh".
Hối ấy, phía phản đối đảo chánh, dẫn đầu là phó TT Johnson; tham mưu trưởng Liên Quân là tướng Maxwell Taylor; bộ trưởng Tư Pháp R. Kenndy... và bộ trưởng Quốc Pḥng Mc Namara. C̣n phía khởi xuớng đảo chánh gồm có thứ trưởng đặc trách Chính Trị Averell Hariman... và đại sứ Cabot Lodge.
Chúng tôi thiết tưởng, chừng ấy chứng cớ cũng đủ làm tê liệt những luận điệu xảo trá -- trong mưu đồ xuyên tạc lịch sử của CSVN và tay sai -- nhằm bôi bác những người Quốc Gia Chân Chính mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là mục tiêu chính yếu: Người có công rất lớn đối với đất nước VN. V́ chủ quyền Quốc Gia mà Ông bị sát hại năm 1963.
Khẳng định rằng, ngày 1.11.1963 là ngày Phản Loạn. Đây cũng là ngày đầu, bước chân vào thời kỳ "núi xương sông máu" trong cuc chiến do Cộng Sản chủ xướng.

San Jose 26-10.1998
Trần Quốc Kháng
(Xin xem tiếp Bài Thứ 2)

Sai Lầm Nghiêm Trọng
Chưa

 Trần Quốc Kháng

T

Trần Quốc Kháng

 

 

 

 

 Lời bàn:   Không phải   Sai Lầm Nghiêm Trọng Chưa Từng Thấy Trong Lịch Sử

mà do đấu trí của mưu sĩ Trung Cộng với chiến lược gia Hoa Kỳ.

Do các gián điệp nằm vùng, cùng lúc Trung Cộng mớm cho các b́nh luận gia: "phải đem quân đội hùng mạnh Hoa Kỳ vào Việt Nam (như tại chiến tranh Triều Tiên đầu thập niên 50) th́ mới thắng Cộng Sản".

Thế là Hoa Kỳ trúng kế: CIA chủ mưu giết TT Diệm và TT Kennedy là 2 vị lănh đạo không bao giờ muốn quân đội Mỹ tham chiến tại VN.

Sự thay đổi duy nhất sau cái chết của nhị vị Tôrng Thống là sự tham chiến ồ ạt của Mỹ tại Đông Dương.

Đố là thật thể không thể chối căi vào đâu được.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

  

 
NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2011

 

 

 

 

 

 

 

 

   
 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage