|
Từ môi hở răng lạnh đến kẻ thù truyền kiếp'
Đinh
Minh Đạo
“Ai ơi chớ vội làm giầu,
Thằng Tây nó tếch, thằng Tầu nó sang”
Câu ca dao đă in dấu trong trí nhớ của tôi từ khi tôi mới biết đọc biết
viết.
Phải chăng, đây như lời di chúc của các thế hệ cha ông để lại, dặn ḍ
chúng ta, rằng đất nước Việt Nam luôn bị nḥm ngó bởi người hàng xóm
phương Bắc.
Lời dặn ḍ của cha ông chúng ta đă bị lăng quên trong một giai đoạn dài
của lịch sử. Cuộc chiến tranh giành độc lập, rồi cuộc chiến tranh ư thức
hệ đă phân chia đất nước, chia rẽ dân tộc khiến chúng ta coi nhẹ một
hiểm họa gần kề, luôn ŕnh rập đất nước ta. Hiểm họa đó là ư đồ bành
trướng không ngừng của các thế hệ lănh đạo Trung Quốc.
Chúng ta không phải là những tín đồ của chủ nghĩa dân tộc cực đoan,
chúng ta không “cầy xới” quá khứ để gây sâu thêm hận thù giữa hai dân
tộc Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng đường lối ngoại giao của những người
lănh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đă và đang tiến hành đối với
Trung Quốc làm những người Việt Nam yêu nước công phẫn và lo ngại thật
sự.
Môi hở răng
lạnh
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp giành đôc lập, Việt Nam phải tranh thủ
sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc là điều cần thiết. Việc các nước
láng giềng phải nhờ cậy nhau khi bị ngoại xâm cũng là việc b́nh thường.
Nhưng những người lănh đạo ĐCSVN đă bỏ qua những nguyên tắc ngoại giao
của một quốc gia độc lập, có chủ quyền.
“Mối t́nh hữu nghị Việt Hoa,
Vừa là đồng chí, vừa là anh em”
Từ năm 1950, những người “đồng chí”, những người “anh em” Trung Quốc
đă hiện diện trong các phái đoàn cố vấn chính trị, quân sự. Họ xâm nhập
vào mọi lĩnh vực đời sống chính trị, quân sự, ngoại giao... của Việt
Nam. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các cố vấn Trung Quốc, các chiến dịch
như chỉnh huấn trong quân đội, chỉnh phong trong cán bộ, văn nghệ sỹ,
giảm tô, cải cách ruộng đất ở nông thôn đă được tiến hành. Hậu quả là
nhiều cán bộ quân đội ưu tú bị loại bỏ, nhiều văn nghệ sỹ tài năng bị
triệt hại. Ở nông thôn, cả một tầng lớp nông dân biết tổ chức làm ăn
trên đồng ruộng, bị quy một cách oan uổng là phú nông, địa chủ. Họ bị
đấu tố, tù đầy, bức hại, bị tịch thu tài sản, ruộng đất, làm cho nền
nông nghiệp của miền Bắc suy giảm nghiêm trọng.
Về lănh thổ, những người “anh em” Trung Quốc đă dời các cột mốc, sửa
đường biên giới đă được kư kết giữa Pháp và nhà Thanh năm 1887. Từ
năm1949 đến 1979, Trung Quốc đă lấn chiếm tại 90 điểm trên đường biên
giới giữa hai nước với nhiều thủ đoạn tinh vi khác nhau. Từ xâm canh,
xâm cư đến xâm lấn đất đai, sửa các đường biên giới và in các bản đồ mới,
v.v...
Điều hết sức lạ lùng là trước những hành động vi phạm chủ quyền và toàn
vẹn lănh thổ Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc, những người lănh đạo
ĐCSVN không hề phản đối, không hề thông báo cho người dân biết. Chỉ đến
khi mối quan hệ “như môi với răng” đổ vỡ th́ cay đắng thay, chúng ta mới
được biết đến nó qua các tài liệu do chính nhà nước cộng sản Việt Nam
công bố.
Kẻ thù
truyền kiếp
Tháng 02/1979, Hà Nội trong tiết xuân, trời mưa phùn và se lạnh. Người
dân Hà Nội vừa đón một cái tết với các nhu yếu phẩm từ gạo, thịt, đường
đến bột ngọt, nước mắm, chất đốt... đều được phân phối theo tem phiếu,
ít ỏi và hiếm hoi. Bù lại những thiếu thốn về vật chất, Hà Nội được mùa
hoa. Các vườn hoa của làng hoa Ngọc Hà như những tấm thảm đầy màu sắc
của hoa cánh bướm, hoa cúc, hoa lay dơn, hoa hồng, hoa huệ, hoa thược
dược, v.v... Trong các gia đ́nh, người Hà Nội c̣n đang tận hưởng không
khí tết và cảm nhận mùa xuân qua những cành đào Nhật Tân dáng thanh tao
với những cánh hoa to, sắc hồng nở đều, báo hiệu một mùa xuân mới đă về.
23h ngày 17/02, kết thúc bản tin cuối cùng trong ngày, đài truyền h́nh
Việt Nam đưa tin: quân đội Trung Quốc đă đồng loạt tấn công vào 6 tỉnh
biên giới của Việt Nam. Người dân Hà Nội và miền Bắc hoàn toàn bất ngờ
và kinh ngạc. Đă từ nhiều năm nay trong đầu óc họ h́nh như đă được thấm
nhuần sâu đậm qua tuyên truyền của nhà nước: “Việt Nam Trung Hoa núi
liền núi, sông liền sông, chung một Biển Đông, mối t́nh hữu nghị thắm
như vừng đông”. Họ không sao lư giải được tại sao người anh em Trung
Quốc lại tấn công chúng ta.
Chúng tôi hàng ngày vẫn đi xe đạp đến cơ quan, ngồi đó nhưng chẳng ai
nghĩ đến công việc. Ngoài thông báo tóm tắt đă phát trên truyền h́nh,
nhà nước không hề thông báo sự thật những diễn biến của cuộc chiến.
Nhưng những tin tức “ngoài luồng” làm ai nấy đều lo lắng. Quân Trung
Quốc đă tiến tới thị xă Lạng Sơn, đi đến đâu chúng bắn giết cả đàn bà
trẻ con, hủy diệt làng bản, phá hủy các công tŕnh dân sự như đường xá,
cầu cống, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, trường học, v.v...
Chúng tôi ngồi phỏng tính từng ngày xem với chiến thuật “biển người” th́
bao lâu nữa quân Trung Quốc sẽ đặt chân đến Hà Nội. Tin tức từ những
người dân từ các tỉnh biên giới chạy về: quân đội Việt Nam bị quân Trung
Quốc áp đảo về số lượng đă tháo lui ở nhiều tuyến trên mặt trận. Không
khí chuẩn bị chiến tranh bao trùm khắp Hà Nội. Cán bộ các cơ quan, nhân
dân các khu phố thay nhau đi đào pḥng tuyến Sông Cầu Bắc Ninh để bảo vệ
tuyến ngoài của Hà Nội.
Điều làm chúng tôi ngạc nhiên hơn, trên các phương tiện truyền thông,
trong các cuộc họp phổ biến nội bộ, các cơ quan tuyên huấn của đảng và
chính quyền đă quay ngoắt 180 độ, tuyên bố: “Trung Quốc là kẻ thù
truyền kiếp của Việt Nam!”.
Kẻ thù truyền kiếp? Đă mấy chục năm nay, ngay cả trước khi xẩy ra cuộc
chiến không lâu, những người lănh đạo ĐCSVN luôn dành cho mối quan hệ
láng giềng với người anh em phương Bắc những lời lẽ tốt đẹp nhất: “khăng
khít như môi với răng; môi hở răng lạnh”, “núi liền núi, sông liền sông”,
“vừa là đồng chí, vừa là anh em”... Bây giờ đột nhiên trở thành kẻ thù
truyền kiếp.
|
 |
|
Xác bộ đội Việt Nam và những người "anh em" Trung
Quốc
|
Sau gần
một tháng “dậy cho Việt Nam một bài học”, ngày 15/03/1979, quân Trung
Quốc rút vế nước, để lại những thị trấn, bản làng hoang tàn, tang tóc.
Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung là một bài học mà cả “người dậy”
lẫn “người học” đều muốn cho vào quên lăng. Báo chí thế giới đă
gọi một cách mỉa mai và sát thực, đó là cưộc chiến tranh của những người
“đồng chí thù địch, anh em thù địch”.
Theo thống kê chưa đầy đủ, tại những vùng quân Trung Quốc tràn qua thuộc
6 tỉnh biên giới: 4 thị xă, 320/320 xă, 735/904 trường học, 428/430 bệnh
viện và bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp hầm
mỏ, 80.000 ha hoa màu bị phá hủy hoàn toàn. 1,7 triệu người dân bị mất
nhà cửa và các phương tiện mưu sinh, 60.000 người chết và bị thương.
Nh́n những thống kê về tội ác do quân đội Trung Quốc gây ra cho nhân dân
ta chỉ với thời gian chưa đầy một tháng, chúng ta kinh ngạc và căm phẫn.
Tôi cứ ước mong một ngày nào đó, Việt Nam sẽ có một chính phủ “của dân,
do dân, v́ dân”. Chính phủ này sẽ đ̣i hỏi những người lănh đạo Trung
Quốc phải xin lỗi nhân dân ta và đền bù các thiệt hại do quân đội Trung
Quốc gây ra, cũng như Trung Quốc đă đ̣i hỏi chính phủ Nhật Bản phải xin
lỗi nhân dân Trung Quốc về những tội ác mà quân đội Nhật Bản đă gây ra
cho nhân dân Trung Quốc trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung cẩn phải được tổng kết đầy đủ và
công khai về những thiệt hại về người và của, những nguyên nhân của cuộc
chiến, rút ra bài học lịch sử cho mối quan hệ ngoại giao đối với Trung
Quốc.
Chúng ta sẽ xây dựng một tượng đài để vinh danh và tưởng nhớ các chiến
sỹ và đồng bào đă hi sinh trong cuộc chiến bảo vệ lănh thổ và biên giới
của Tổ quốc Việt Nam?
|
 |
|
Những tên tù binh xâm lược phương Bắc và nữ
dân quân Việt Nam
(Chiến tranh Việt – Trung 1979) |
Khuất tất, nhu nhược
Chúng ta hăy nghe ông Lê Công Phụng, tân đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ,
nguyên thứ trưởng bộ ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán về biên giới và
biển với Trung Quốc trả lời trong cuộc họp báo tại Washington ngày
23/01/2008: “Tất cả những người trong đoàn đàm phán đều nhớ lời của
vua Lê Thánh Tông đă được lịch sử ghi lại là không ai được quyền nhượng
một tấc đất, một cộng cỏ cho ngoại bang... Cuộc đàm phán đă đưa đến kết
quả là hai bên phải thương nhượng nhau khoảng 230 km2 và cuối cùng Việt
Nam được 113 km2, Trung Quốc được117 km2”.
113/117, ông như một học sinh giải bài toán chỉ đưa ra đáp số mà không
có diễn giải, chứng minh. Gíá như ông treo một bản đồ đường biên giới
Việt-Trung đă được kư kết tháng 12/1999 bên cạnh bản đồ đường biên giới
Việt -Trung theo hiệp định năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh, rồi minh họa,
chỉ dẫn và so sánh. Lúc đó lời cam kết của ông mới có sức thuyết phục.
Lúc đó mới chứng tỏ ông là người nói có sách, mách có chứng.
Cho đến nay, từ người dân cho đến các đại biểu quốc hội (cơ quan quyền
lực cao nhất của nhà nước) chưa ai được đọc các dữ liệu cùng bản đồ kèm
theo của hiệp định biên giới năm 1999 và hiệp định vịnh Bắc Bộ năm 2000.
Vậy câu hỏi được đặt ra: V́ sao chính phủ Việt Nam không công khai công
bố hai hiêp định đă nói ở trên cùng các bàn đồ kèm theo? Phải chăng có
những điều ǵ đó khuất tất trong quá tŕnh đàm phán và kư kết?
Cũng thật may mắn, các dữ liệu cùng các bản đồ kèm theo của hiệp định
năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh được lưu giữ đầy đủ trong các thư viện
của Pháp tại Paris. Những trí thức Việt Nam ở hải ngoại thiết tha với
đất nước, đă bỏ công sức t́m ṭi, tra cứu, đưa ra những số liệu cụ thể
cùng bản đồ đường biên giới kèm theo hiệp định này.
Chúng ta không có bản đồ đường biên giới của hiệp định Việt-Trung năm
1999 để so sánh. Nhưng có hai địa danh có thể kiểm chứng được, đó là khu
vực Ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn và thác Bản Giốc thuộc huyện Trùng
Khánh tỉnh Cao Bằng.
Tại Ải Nam Quan, cột mốc theo hiệp định năm 1887 cách cổng Ải Nam Quan
100m về phía nam (phía Việt Nam), nay đă bị dời sâu về phía Việt Nam từ
300 đến 400m .Tài liệu do chính phủ Việt Nam xuất bản năm 1979 cũng thừa
nhận Trung Quốc đă dời sâu cột mốc này về phía Việt Nam hơn 100m.
Cột mốc số 53 tại khu vực thác Bản Giốc trước đây được ghi rơ là cách
thác Bản Giốc 2km .
Như vậy từ trước đến nay thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về Viêt Nam. Hiện
nay chính ông Lê Công Phụng thừa nhận đường biên giới mới đă cắt ngang
thác Bản Giốc.
Vậy chúng ta có thể tin được Việt Nam chỉ thương nhượng cho Trung Quốc
4km2 trên cả chiều dài 700km đường biên giới?
Liệu chúng ta có thể tin được những người lănh đạo ĐCSVN đă không nhượng
cho Trung Quốc dù chỉ là “một tấc đất, một cộng cỏ”?
|
 |
|
Thông báo của phía Trung Quốc cho Việt Nam được
thu xác bộ đội trong cuộc đụng độ 1984 tại khu vực núi Lăo Sơn,
nay đă thuộc về Trung Quốc
Nguồn: vi.Wikipedia. org (Chiến tranh Việt – Trung 1979)
|
Trung Quốc đă công khai lộ liễu trong chủ trương bành trướng lănh hải.
Tháng 11/2007 Quốc vụ viện Trung Quốc ra quyết định thành lập huyện Tam
Sa, trong đó bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Họ
không chỉ nh́n Biển Đông với vị trí quan trọng về địa lư cùng những đảo
san hô và khu vực đánh cá có sản lượng cao, họ nh́n Biển Đông với trữ
lượng dầu hỏa khổng lồ ở dưới đáy biển, trong tương lai không xa nó sẽ
cung cấp cho một nước Trung Quốc đói năng lượng trầm trọng, đồng thời
cũng là vị trí có tầm quan trọng trong việc kiểm soát đường biển trên
Thái B́nh Dương.
Trước hành động xâm lược lănh thổ Việt Nam của Trung Quốc, học sinh,
sinh viên, văn nghệ sỹ... tại Hà Nội và Sài G̣n đă xuống đường biểu t́nh
phản đối và thể hiện quyết tâm bảo vệ lănh thổ của tổ quốc. Không ai có
thể phủ nhận được đây là biểu hiện cao cả của ḷng yêu nước, là sự phẫn
uất và trăn trở tự nhiên của mỗi con dân nước Việt khi nh́n thấy lănh
thổ, cơ đồ dân tộc của cha ông để lại từ mấy ngàn năm dựng nước và giữ
nước đang bị ngoại bang xâm chiếm.
Thế nhưng, phản ứng của của chính quyền thật khó hiểu. Các lực lượng an
ninh đă ngăn chặn, giải tán các cuộc biểu t́nh, bắt giam và truy bức
những người tham gia, gán cho họ những tội danh như: tụ tập trái phép,
thực hiện âm mưu, xúi dục của các tổ chức phản động người Việt ở nước
ngoài, v.v...
Bộ ngoại giao đă phản ứng chậm chạp và yếu ớt. Người phát ngôn bộ ngoại
giao chỉ lặp đi lặp lại: “Việt Nam có đủ chứng cứ lịch sử để chứng minh
rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam...”.
Viết đến đây, tôi nhớ lại những h́nh ảnh trên vô tuyến truyền h́nh Việt
Nam trong những năm từ 1978 đến 1989. Trong các cuộc họp báo hoặc các
cuộc găp gỡ các quan chức ngoại giao nước ngoài, khi được hỏi: “Tại sao
quân đội Việt Nam lại chiếm đóng trái phép nước láng giềng Campuchia?”.
Từ người phát ngôn đến các thứ trưởng, bộ trưởng ngoại giao... đều trả
lời giống nhau. Họ như những người máy được cài đặt cùng một chương
tŕnh, với câu trả lời đă soạn sẵn: “Việt Nam không chiếm đóng Campuchia,
quân đội Việt Nam đóng ở đó là do yêu cầu của nhân dân Campuchia”.
Lúc bấy giờ, các quốc gia dân chủ và giầu có phương tây không c̣n phương
sách nào khác là cấm vận kinh tế, tẩy chay về ngoại giao. Việt Nam trở
thành một quốc gia bị cô lập với thế giới, kinh tế suy sụp. Một đất nước
với sáu bẩy chục triệu dân, đói khổ và thiếu thốn mọi thứ. Cho đến khi
sức dân gần như cạn kiệt, cùng với sức ép mạnh mẽ của thế giới, những
người lănh đạo ĐCSVN không c̣n con đường nào khác là rút quân đội chiếm
đóng Campuchia về nước.
Giờ đây để ngụy biện cho sự nhu nhược của ḿnh, các quan chức nhà nước
giải thích rằng: “Mít tinh, biểu t́nh chẳng giải quyết được ǵ, ngoại
giao là việc của nhà nước”.
Sông núi, đất nước ,biển và hải đảo là tài sản thiêng liêng nhất của cả
dân tộc, mọi công dân có quyền biểu t́nh, mít tinh để biểu lộ quyết tâm
chống xâm lươc và bảo vệ tải sản thiêng liêng đó. Ngày nay cả thế giới
sử dụng mít tinh, biểu t́nh ôn hoà để thay thế cho đấu tranh bằng bạo
lực. Đối với dân tộc Việt Nam chúng ta, nó c̣n có tác dụng khơi dậy ḷng
yêu nước trong lớp trẻ, để họ sẵn sàng bảo vệ đất nước khi có kẻ thù xâm
lược. Nhân dân Việt Nam đă hơn một lần tin tưởng vào tài năng ngoại giao
của Đảng, chính họ là nạn nhân của sự cả tin và phó thác số phận của
ḿnh cho đảng.
Kết luận
Hơn 900 năm trước đây, bên bờ sông Như Nguyệt, giữa đêm khuya vang lên
giọng sang sảng của Lư Thường Kiệt khẳng định chủ quyền bờ cơi Nam Việt
và cảnh báo giặc Tống xâm lược:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tạm dịch:
Núi sông Nam có vua Nam Việt
Trên sổ trời riêng biệt phân minh
Sao ngươi xâm phạm, nghịch binh
Chờ coi ngươi sẽ tan thành hư không
Lời thơ của Lư Thường Kiệt đă vang vọng khắp non sông, khích lệ quân dân
ta đánh tan quân Tống xâm lược, giữ nguyên bờ cơi Nam Việt.
Trong lịch sử chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, dân tộc ta c̣n biết bao
anh hùng như Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Nguyên Trăi, Trần Hưng Đạo, Quang
Trung ..., với ḷng yêu nước nồng nàn và trí thông minh tuyệt vời, không
sợ người hàng xóm phương Bắc đất rộng người đông, đă huy động được sức
mạnh dân tộc, đánh bại các đạo quân xâm lược của họ.
Ngày nay, nguy cơ xâm lược từ phương Bắc vẫn c̣n đó. C̣n nguy hiểm hơn
khi Trung Quốc hiện vẫn là một quốc gia độc tài toàn trị, quyền bính nằm
trong tay một vài kẻ đứng đầu đảng cộng sản, với tư tưởng bành trướng và
tham vọng trở thành siêu cường của thế giới, Trường Sa và Hoàng Sa chắc
chưa phải là đích cuối cùng của họ.
Với một đường lối ngoại giao nhu nhược;
Với một nền kinh tế là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới;
Với một quân đội lo “làm ăn kinh tế” giỏi hơn “làm quân sự”;
Chúng ta sẽ làm ǵ, nếu một mai ở người hàng xóm phương Bắc xuất hiện
một “Đặng Tiểu B́nh bis”, với một lư do nào đó, muốn “dậy cho Việt Nam
bài học thứ hai”, không phải bằng chiến thuật “biển người” năm xưa, mà
bằng những vũ khí hiện đại, một quân đội tinh nhuệ của một siêu cường?
Câu trả lời đang bỏ ngỏ dành cho những người lănh đạo ĐCSVN.
Và tất nhiên, là tiếng chuông báo động cho tất cả những người Việt yêu
nước, thương ṇi và những ai chỉ v́ miếng ăn đút miệng hay sợ hăi mà thờ
ơ và vô trách nhiệm trước sự đe doạ đối với Tổ quốc thân yêu của chúng
ta.
Warszawa, Ba Lan, 04/2008
Tài
liệu tham khảo:
- Vấn đế biên giới Việt Nam và Trung Quốc, Nhà xuất bản Sự Thật,
Hà Nội 03/1979
-Trương Nhân Tuấn: Biên giới Việt – Trung 1885 – 2000, lịch sử h́nh
thành và nhưng tranh chấp, Nhà xuất bản Dũng Châu, Paris 2005.
- Các bản tin của đài Châu Á Tự Do (RFA), tháng 01/2008.
|