|
Di Chúc Chủ tịch
Hồ Chí Minh
THứ sáu, 14-03-2008
Nghiên cứu bút tích Di chúc Bác Hồ dưới góc độ ngôn ngữ học
PGS.TS Trần Trọng Đăng Đàn
Nghiên cứu song song Di chúc và bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, chúng ta có rất nhiều thu hoạch bổ ích về mặt nhận thức, tư
tưởng cũng như về mặt văn hóa, khoa học. Trong phạm vi bài này tôi
chỉ xin đề cập đến một thu hoạch mà lâu nay h́nh như chưa được
nghiên cứu đúng mức. Đó là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng và vận
dụng bảng chữ cái Việt Nam khi viết Di chúc.
Trong
Hồ Chí Minh toàn tập (1), tập 12, bút tích 4 bản thảo Di chúc được
in trong 10 trang phụ bản; tiếp theo là bản in nguyên văn 4 bản thảo
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm 10 trang (từ trang 497 đến
trang 506); tiếp theo nữa là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công
bố năm 1969, gồm 4 trang (từ trang 509 đến 512).
Nghiên cứu so sánh giữa bút tích các bản thảo Di chúc do chính Hồ
Chủ tịch viết tay hoặc đánh máy với các bản in nguyên văn Di chúc,
cũng như nghiên cứu các bản bút tích đó trong sự so sánh với Di chúc
công bố năm 1969, ta thấy có những chữ cái sau đây khác nhau:
1
- Trường hợp chữ cái z:
— d à
z (zân, zo, zịp, zạ, zục, zựng, zùng, zưỡng, zự, zũng, zần, ză...)
—
gi à z (zai, zữ, zàu, záo, zà, zúp, zan, zơi, zao, zành, zặc, zới,
zữa, zờ, zản...)
2
- Trường hợp chữ cái f :
— ph
à f (fúc, fũ, fục, fong, f̣ng, fóng, fải, fê, fát, fáp, fí, fổ, fấn,
fần, fúng, fó, fụ, fương, fủ, fát, fe, fô...)
3
- Trường hợp dùng ng thay cho ngh:
— ngh
à ng (ngĩa, ngĩ, ngiệp, ngiêm, ngị, ngề...)
4
- Trường hợp không viết thêm dấu sắc ( / ) khi chữ đă trọn nghĩa:
Trên
bút tích các bản thảo của Di chúc do chính Hồ Chủ tịch đánh máy hoặc
viết tay có ít nhất là 54 chữ sau đây không viết thêm dấu sắc khi
chữ đă trọn nghĩa: ap, boc, bưc, băc (2 lần), biêt (2 lần), cach (14
lần), cac (26 lần), câp, cat, chuc (2 lần), chăc (3 lần), chưc, đưc,
đăc, đôt (2 lần), fuc (2 lần), fat (2 lần), fap (3 lần), gop (3 lần),
hêt (4 lần), it, khăp (2 lần), khac (4 lần), kêt (8 lần), khich, lơp
(2 lần), mac (4 lần), măt, mat (4 lần), nươc (17 lần), nhăc, nhât
(14 lần), oc, quôc (5 lần), quyêt, rât (8 lần), ret, suôt (4 lần),
sưc (7 lần), sot, tăt, tôt (7 lần), tiêt, thât (2 lần), trươc (4 lần),
thich, tiêp, tac (2 lần), trach, thâp, viêt, vêt, xuât, zup...
Như
vậy, trong bút tích các bản thảo Di chúc tổng số dấu sắc (ù) được
giảm bớt ít nhất là 168 lần.
Nghiên cứu việc không viết thêm dấu sắc (ù) khi chữ đă trọn nghĩa
qua các bút tích Di chúc, nhất là ở bản bút tích do Hồ Chủ tịch tự
đánh máy, ta có thể bắt gặp một số chữ như: hết, kết, nhất, tốt...
vẫn có đánh dấu sắc ( ù) nhưng trong các bút tích Di chúc viết tay
th́ hầu như dấu sắc ( ù) đối với các chữ nói trên đều bị gạt bỏ cả.
Có thể xem việc các dấu ( ù) rơi vào những chữ vừa nói ở trên chỉ là
do sơ ư lúc đánh máy mà thôi.
Những
sự thay thế, giản lược của Hồ Chủ tịch trong việc sử dụng, vận dụng
bảng chữ cái, cho đến khi viết Di chúc, là kết quả của cả một quá
tŕnh thể nghiệm lâu dài và mang tính khoa học cao. Nói “thể nghiệm
khoa học” bởi v́ việc làm đó được gạn lọc và khi thấy có vấn đề ǵ
mới th́ thêm vào hoặc gạt bỏ ngay khi tác giả thấy có chỗ nào đó
không hợp lư. Điều này sẽ càng được sáng tỏ khi nghiên cứu bút tích
của Hồ Chủ tịch ở một phạm vi rộng hơn.
Trong
Hồ Chí Minh toàn tập có tất cả 63 phụ bản, trong số đó có 10 phụ bản
là bút tích của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh do chính tác giả viết
hoặc tự đánh máy bằng chữ quốc ngữ. 9 trong số 10 bút tích đó có thể
sử dụng để khảo sát cho vấn đề này. Đó là các bút tích trên các phụ
bản:
|
Số TT |
Tên bút tích |
Năm viẾT |
In trƯỚC trang |
SỐ tẬp |
|
1 |
Bà trưng trắc |
1926 |
225 |
2 |
|
2 |
B́a tác phẩm “Đường Kách Mệnh” xuất bản lần đầu tiên vào năm
|
1927 |
259 |
2 |
|
3 |
Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc, tháng 1 năm
1947 |
1947 |
43 |
5 |
|
4 |
Thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh gửi đoàn cán bộ đi công tác
ngoại giao , tháng 2-1948 |
1948 |
385 |
5 |
|
5 |
Thư gửi các đồng chí Liên khu Bốn, tháng 9-1949 |
1949 |
683 |
5 |
|
6 |
Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lớp chính đảng liên khu Năm,
năm 1953 |
1953 |
201 |
7 |
|
7 |
Cảm tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi trong Sổ vàng 1955
lưu niệm tại điện Cremli, ngày 13-7-1955 |
1955 |
23 |
8 |
|
8 |
Thư gửi cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa, ngày 17 tháng 12
-1959 |
1959 |
577 |
9 |
|
9 |
- Di chúc nhân dịp mừng tuổi 75 viết ngày 15-5-1965
- Di chúc viết lúc vừa tṛn 78 tuổi
- Di chúc viết tháng 5- 1968
- Di chúc viết ngày 10-5-1969 |
1965
1968
1968
1969 |
495
495
495
495 |
12
12
12
12 |
Nghiên cứu việc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sử dụng và vận dụng
bảng chữ cái Việt Nam hồi những năm 1926 - 1927 lúc viết bài Bà
Trưng Trắc hay Đường cách mệnh ta thấy: nhiều lần tác giả thay “ph”
thành “f” (phải --> fải, phong --> fong, pháp --> fáp, phần--> fần,
phố --> fố ); thay “d” thành “z” (dân --> zân, dựng --> zựng); hoặc
“gi” thành “z” (gieo --> zeo, giờ --> zờ)... và trong bút tích các
bản Di chúc viết vào những năm 1965 - 1969 cách thay thế đó vẫn được
giữ nguyên. Trong khi đó, ở các bút tích viết năm 1926, 1927, nhiều
lần chữ “đ” được viết thành chữ “d” (đường --> dường, động --> dộng,
đầu --> dầu, đồng --> dồng, đánh --> dánh, điều --> diều, được -->
dược, đến --> dến, đảm --> dảm, đủ --> dủ, đàn --> dàn); nhiều lần
chữ “c” được viết thành chữ “k” (cách --> kách, có ® kó, cai --> kai,
cảnh --> kảnh, cứu --> kứu, cùng --> kùng, cửu --> kửu, cả --> kả,
cờ --> kờ, cẩm --> kẩm, can --> kan, cũng --> kũng); nhiều chữ chưa
đánh thêm dấu sắc (ù) cũng đă trọn nghĩa, nhưng tác giả Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh vẫn đánh thêm dấu sắc ( ù) : trắc, nước, fúc,
sách, fáp, ít, mất, biết, kết; nhưng trong các bút tích của Di chúc
viết vào những năm 1965 - 1969 th́ các trường hợp như thế hoàn toàn
không c̣n được áp dụng nữa.
Xem
xét một số bút tích của Hồ Chủ tịch viết vào thời gian từ 1946 -
1959, chẳng hạn như : Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn
quốc, ta thấy: Trong bản bút tích này chữ “đ” không thay bằng chữ
“d” nữa (đánh úp, Đầu tiên, đứng lên, chiến đấu, mưa đạn, đua nhau,
đem, đồng bào, đang); chữ “c” cũng không thay bằng chữ “k” nữa (cùng,
các, cách, của, cái, càng, cứ, con). Thế nhưng, ở đây nhiều chữ chưa
đánh dấu sắc (ù) cũng đă trọn nghĩa th́ Hồ Chủ tịch vẫn c̣n cứ đánh
dấu sắc (ù) : tức, các, biết, giáp, nước. Cách thay thế “ph” bằng
“f” th́ trong bản bút tích này vẫn được giữ nguyên (pháp --> fáp,
phong --> fong); việc thay chữ “z” cho chữ “d”, hoặc cho chữ “gi”
cũng được giữ nguyên (zân, zan, ziêt, zặc, záp, zũng, zữ).
Thư
gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc do Hồ Chủ tịch viết tay
vào những năm 1947; sang năm 1948, trong Bức thư gửi đoàn cán bộ đi
công tác ngoại giao, có lẽ là do Chủ tịch tự đánh máy nên một số chữ
Người đă áp dụng lúc viết Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn
quốc không được giữ lại như hồi năm 1947 nữa. Một số chữ “đ” vẫn
được viết thành chữ “d” : đồng --> dồng, đường --> dường, đá --> dá,
đem --> dem, đấu --> dấu, đỡ --> dỡ, đầy --> dầy, đủ --> dủ, đáng
--> dáng; tuy nhiên trong chính văn bản này lại vẫn có những chữ như
đứng th́ vẫn giữ nguyên chữ đê (đ). C̣n trường hợp thay chữ “c” bằng
chữ “k” th́ ở đây hoàn toàn không thấy nữa. Việc thay “ph” thành
“f”, thay “z” cho các chữ “d”, “gi” th́ có thể nói ở đây được khẳng
định triệt để. Việc không đánh thêm dấu sắc ( ù) đối với các chữ đă
trọn nghĩa th́ thời gian này (1947) chỉ mới bắt đầu được thực hiện
và có lẽ v́ thế nên chưa thật triệt để: Các chữ chúc, bất th́ vẫn
giữ dấu sắc (ù), trong khi đó các chữ nước, zúp, các th́ dấu sắc (ù)
đă bị bỏ.
Trong
Thư gửi các đồng chí liên khu Bốn, tháng 9 năm 1949 do Hồ Chủ tịch
tự đánh máy th́ trong đó t́nh h́nh sử dụng, vận dụng bảng chữ cái
vẫn giống như trong bút tích Bức thư gửi đoàn cán bộ đi công tác
ngoại giao, viết năm 1948. Thế nhưng đến năm 1953, trong bút tích
Thư gửi lớp chính đảng liên khu Năm th́ việc không đánh thêm dấu sắc
( ù) cho các chữ mà không cần dấu sắc ( ù) cũng đă trọn nghĩa cũng
như việc bỏ cách thay “đ” bằng “d” đă được thực hiện triệt để.
Cho
đến năm 1955, khi Hồ Chủ tịch viết Cảm tưởng trong Sổ vàng lưu niệm
tại điện Cremli th́ những cách vận dụng bảng chữ cái Việt Nam đă
trùng khớp hoàn toàn với cách vận dụng trong các bút tích của Di
chúc 1965 - 1969. Điều đó có thể thấy rơ hơn trong bút tích Bức thư
của Hồ Chủ tịch gửi cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa ngày
17-12-1959.
Như
vậy, kết quả những thể nghiệm của Hồ Chủ tịch trong cách sử dụng,
vận dụng bảng chữ cái Việt Nam, cho đến cuối thập kỷ 50, có thể xem
như là hoàn thành, tức là hoàn thành vào khoảng 10 năm trước khi Chủ
tịch viết Di chúc.
Việc
thay thế “d”, “gi” bằng “z”; “ph” bằng “f”; “ngh” bằng “ng” cũng
như không đánh thêm dấu sắc ( ù) khi chữ đă trọn nghĩa, trước hết là
tiết kiệm được công viết v́ số chữ được giảm bớt mà nghĩa th́ không
đổi; lại giảm bớt được động tác nhấc bút lúc viết; thứ hai là tiết
kiệm th́ giờ lúc dạy đánh vần và học đánh vần. Ví dụ như chữ các:
Thay v́ phải phát âm: cờ-a-ca-a-cờ-ác là các-sắc-các th́ chỉ cần
phát âm: cờ-a-ca-a-cờ-ác là các, là đủ. Hoặc thay v́ phải phát âm a-cờ-ác-cờ-ác
là các-sắc-các th́ chỉ cần phát âm: a-cờ-ác-cờ-ác-các là đủ. Hoặc ví
dụ như chữ rất: Thay v́ phải phát âm rờ-ớ-rớ-ớ-tờ-ất, là rất-sắc-rất
th́ chỉ cần phát âm rờ-ớ-rớ, ớ-tờ-ất, là rất là đủ; hoặc thay v́
phải phát âm: ớ-tờ-ất-rờ-ất- là rất-sắc- rất th́ chỉ cần phát âm: ớ-tờ-ất-rờ-ất-rất,
là đủ, v.v...
Thể
nghiệm để đúc kết khoa học, góp sức làm cho ngôn ngữ dân tộc được
phong phú hơn, dân dễ học, dễ nhớ mà ít tốn th́ giờ, tiết kiệm công
sức, đó là một điểm sáng thuộc loại sáng nhất trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Từ điểm sáng này chúng ta có thể xem danh nhân Hồ Chí Minh
không chỉ là về mặt văn hóa mà c̣n về mặt khoa học nữa. |