Nhận định:   về tài liệu Nghiên cứu bút tích Di chúc Bác Hồ dưới góc độ ngôn ngữ học do THÀNH Đ̉AN thành phố HỒ CHÍ MINH thực hiện.

Tức chúng nghiên cứu mấy cái di chúc khật khùng như thế nầy   7 trang viết tay của di chúc Hồ Chí Minh

Tài liệu nầy dơ dáy hơn giấy đi cầu tiêu đă xài rồi !

Bọn "THÀNH Đ̉AN thành phố HỒ CHÍ MINH" chỉ thấy cây (từng chữ và cách viết chữ) nhưng không thấy rừng (h́nh dáng ghê tởm của mấy trang giấy dơ dáy).

Hồ Chí Minh viết di chúc cho hậu thế (để đảng đ̣an thi hành, đó là mục đích của di chúc của HCM) mà làm như mửa ra cho cán ngố ăn. Mà khốn nạn thay cán ngố (đảng đ̣an) ăn thật ! Hồ Chí Minh đúng là "vua đểu", đểu vô cùng. Hồ Chí Minh đểu với kẻ thù đă đành, nhưng đây là bằng cớ chỉ rơ HCM đểu với tay chân bộ hạ của y.

Nguyên do ṭan thể cán ngố ngu xuẩn ghê rợn v́ Hồ Chí Minh với chính sách ngu dân:

Tận diệt "Trí Phú Địa Hào": đó là 4 đối tượng mà Việt Minh phải diệt sạch, th́ chữ TRÍ đứng đầu, tức phải diệt thành phần trí thức có kiến thức và thông minh, trước tiên (trước Hào, tức thành phần mà chúng gọi là "Cường hào ác bá").

Cho nên bọn tay sai của Hồ Chí Minh như Duẫn Chinh Đồng đều là bọn thổ phỉ (xuất thân từ những thành phần chuyên chính vô sản: tức ăn mày, du côn, cờ gian bạc lận và trộm cướp).

Cái đểu tận cùng của Hồ Chí Minh là nhét vào mồm bọn tay sai (cán ngố chuyên chính vô sản) những giấy đi cầu đă xài rồi như cái di chúc viết tay. Nhưng v́ bọn cán ngố tay sai là những người được tuyển lựa từ những thành phần chuyên chính vô sản tức ăn mày, du côn, cờ gian bạc lận và trộm cướp, cho nên bọn nầy luôn luôn ca tụng những cái giấy đi cầu đă xài rồi đó !

Đây là bằng cớ không thể chối căi của cái thâm mưu độc hại mà Hồ Chí Minh tạo ra để chứng tỏ cho mọi người biết là phải thật sự ngu dốt mới là cán bộ trung kiên của chế độ với mọi sự ưu đăi như hiện nay (tùy nghi dùng công an, du côn hay xă hội đen để cướp nhà cướp đất và đàn áp dân chúng). Những hành vi ngạ quỉ của cán ngố là vô cùng thô bĩ, mà một người có chút suy nghĩ, có chút lương tri không bao giờ làm. Thành quả 100 năm trồng người của HCM là vô cùng ghê rợn.

Trân trọng,

 

Bùi Như Hùng

2008

  

 

 

1 7 trang viết tay của di chúc Hồ Chí Minh
2 bằng cớ trang WEB

 

         

 

 

Di Chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh

THứ sáu, 14-03-2008

Nghiên cứu bút tích Di chúc Bác Hồ dưới góc độ ngôn ngữ học

PGS.TS Trần Trọng Đăng Đàn

Nghiên cứu song song Di chúc và bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có rất nhiều thu hoạch bổ ích về mặt nhận thức, tư tưởng cũng như về mặt văn hóa, khoa học.  Trong phạm vi bài này tôi chỉ xin đề cập đến một thu hoạch mà lâu nay h́nh như chưa được nghiên cứu đúng mức. Đó là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng và vận dụng bảng chữ cái Việt Nam khi viết Di chúc. 

Trong Hồ Chí Minh toàn tập (1), tập 12, bút tích 4 bản thảo Di chúc được in trong 10 trang phụ bản; tiếp theo là bản in nguyên văn 4 bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm 10 trang (từ trang 497 đến trang 506); tiếp theo nữa là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969, gồm 4 trang (từ trang 509 đến 512).

Nghiên cứu so sánh giữa bút tích các bản thảo Di chúc do chính Hồ Chủ tịch viết tay hoặc đánh máy với các bản in nguyên văn Di chúc, cũng như nghiên cứu các bản bút tích đó trong sự so sánh với Di chúc công bố năm 1969, ta thấy có những chữ cái sau đây khác nhau:

1 - Trường hợp chữ cái z:

— d à z  (zân, zo, zịp, zạ, zục, zựng, zùng, zưỡng, zự, zũng, zần, ză...)

—    gi à z (zai, zữ, zàu, záo, zà, zúp, zan, zơi, zao, zành, zặc, zới, zữa, zờ, zản...)

2 - Trường hợp chữ cái f :

— ph à f (fúc, fũ, fục, fong, f̣ng, fóng, fải, fê, fát, fáp, fí, fổ, fấn, fần, fúng, fó, fụ, fương, fủ, fát, fe, fô...)

3 - Trường hợp dùng ng thay cho ngh:

— ngh à ng (ngĩa, ngĩ, ngiệp, ngiêm, ngị, ngề...) 

 4 -  Trường hợp không viết thêm dấu sắc ( / ) khi chữ đă trọn nghĩa:

Trên bút tích các bản thảo của Di chúc do chính Hồ Chủ tịch đánh máy hoặc viết tay có ít nhất là 54 chữ sau đây không viết thêm dấu sắc khi chữ đă trọn nghĩa: ap, boc, bưc, băc (2 lần), biêt (2 lần), cach (14 lần), cac (26 lần), câp, cat, chuc (2 lần), chăc (3 lần), chưc, đưc, đăc, đôt (2 lần), fuc (2 lần), fat (2 lần), fap (3 lần), gop (3 lần), hêt (4 lần), it, khăp (2 lần), khac (4 lần), kêt (8 lần), khich, lơp (2 lần), mac (4 lần), măt, mat (4 lần), nươc (17 lần), nhăc, nhât (14 lần), oc, quôc (5 lần), quyêt, rât (8 lần), ret, suôt (4 lần), sưc (7 lần), sot, tăt, tôt (7 lần), tiêt, thât (2 lần), trươc (4 lần), thich, tiêp, tac (2 lần), trach, thâp, viêt, vêt, xuât, zup...

Như vậy, trong bút tích các bản thảo Di chúc tổng số dấu sắc (ù) được giảm bớt ít nhất là 168 lần.

Nghiên cứu việc không viết thêm dấu sắc (ù) khi chữ đă trọn nghĩa qua các bút tích Di chúc, nhất là ở bản bút tích do Hồ Chủ tịch tự đánh máy, ta có thể bắt gặp một số chữ như: hết, kết, nhất, tốt... vẫn có đánh dấu sắc  ( ù)  nhưng trong các bút tích Di chúc viết tay th́ hầu như dấu sắc ( ù) đối với các chữ nói trên đều bị gạt bỏ cả. Có thể xem việc các dấu ( ù) rơi vào những chữ vừa nói ở trên chỉ là do sơ ư lúc đánh máy mà thôi.

Những sự thay thế, giản lược của Hồ Chủ tịch trong việc sử dụng, vận dụng bảng chữ cái, cho đến khi viết Di chúc, là kết quả của cả một quá tŕnh thể nghiệm lâu dài và mang tính khoa học cao. Nói “thể nghiệm khoa học” bởi v́ việc làm đó được gạn lọc và khi thấy có vấn đề ǵ mới th́ thêm vào hoặc gạt bỏ ngay khi tác giả thấy có chỗ nào đó không hợp lư. Điều này sẽ càng được sáng tỏ khi nghiên cứu bút tích của Hồ Chủ tịch ở một phạm vi rộng hơn.

Trong Hồ Chí Minh toàn tập có tất cả 63 phụ bản, trong số đó có 10 phụ bản là bút tích của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh do chính tác giả viết hoặc tự đánh máy bằng chữ quốc ngữ. 9 trong số 10 bút tích đó có thể sử dụng để khảo sát cho vấn đề này. Đó là các bút tích trên các phụ bản:

Số TT

Tên bút tích

Năm viẾT

In trƯỚC trang

SỐ tẬp

1

Bà trưng trắc

1926

225

2

2

B́a tác phẩm “Đường Kách Mệnh” xuất bản lần đầu tiên vào năm                    

1927

259

2

3

Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc, tháng 1 năm 1947

1947

43

5

4

Thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh gửi đoàn cán bộ đi  công tác ngoại giao , tháng 2-1948

1948

385

5

5

Thư gửi các đồng chí Liên khu Bốn, tháng 9-1949

1949

683

5

6

Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lớp chính đảng liên khu Năm, năm 1953

1953

201

7

7

Cảm tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi trong Sổ vàng 1955 lưu niệm tại điện Cremli, ngày 13-7-1955

1955

23

8

8

Thư gửi cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa, ngày 17 tháng 12 -1959

1959

577

9

9

- Di chúc nhân dịp mừng tuổi 75 viết ngày 15-5-1965 

- Di chúc viết lúc vừa tṛn 78 tuổi               

- Di chúc viết tháng 5- 1968

- Di chúc viết ngày 10-5-1969

1965 

1968 

 1968

1969

495 

495 

495 

495

12 

12 

12 

12


Nghiên cứu việc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sử dụng và vận dụng bảng chữ cái Việt Nam hồi những năm 1926 - 1927 lúc viết bài Bà Trưng Trắc hay Đường cách mệnh ta thấy: nhiều lần tác giả thay “ph” thành “f” (phải --> fải, phong --> fong, pháp --> fáp, phần--> fần, phố --> fố ); thay “d” thành “z” (dân --> zân, dựng --> zựng); hoặc “gi” thành “z” (gieo --> zeo, giờ --> zờ)... và trong bút tích các bản Di chúc viết vào những năm 1965 - 1969 cách thay thế đó vẫn được giữ nguyên.  Trong khi đó, ở các bút tích viết năm 1926, 1927, nhiều lần chữ “đ” được viết thành chữ “d” (đường --> dường, động --> dộng, đầu --> dầu, đồng --> dồng, đánh --> dánh, điều --> diều, được --> dược, đến --> dến, đảm --> dảm, đủ --> dủ, đàn --> dàn); nhiều lần chữ “c” được viết thành chữ “k” (cách --> kách, có ® kó, cai --> kai, cảnh --> kảnh, cứu --> kứu, cùng --> kùng, cửu --> kửu, cả --> kả, cờ --> kờ, cẩm --> kẩm, can --> kan, cũng --> kũng); nhiều chữ chưa đánh thêm dấu sắc (ù)  cũng đă trọn nghĩa, nhưng tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh  vẫn đánh thêm dấu sắc ( ù) : trắc, nước, fúc, sách, fáp, ít, mất, biết, kết; nhưng trong các bút tích của Di chúc viết vào những năm 1965 - 1969 th́ các trường hợp như thế hoàn toàn không c̣n được áp dụng nữa.

Xem xét một số bút tích của Hồ Chủ tịch viết vào thời gian từ 1946 - 1959, chẳng hạn như : Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc, ta thấy: Trong bản bút tích này chữ “đ” không thay bằng chữ “d” nữa (đánh úp, Đầu tiên, đứng lên, chiến đấu, mưa đạn, đua nhau, đem, đồng bào, đang); chữ “c” cũng không thay bằng chữ “k” nữa (cùng, các, cách, của, cái, càng, cứ, con). Thế nhưng, ở đây nhiều chữ chưa đánh dấu sắc (ù) cũng đă trọn nghĩa th́ Hồ Chủ tịch vẫn c̣n cứ đánh dấu sắc (ù) : tức, các, biết, giáp, nước. Cách thay thế “ph” bằng “f” th́ trong bản bút tích này vẫn được giữ nguyên (pháp --> fáp, phong --> fong); việc thay chữ “z” cho chữ “d”, hoặc cho chữ “gi” cũng được giữ nguyên (zân, zan, ziêt, zặc, záp, zũng, zữ).

Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc do Hồ Chủ tịch viết tay vào những năm 1947; sang năm 1948, trong Bức thư gửi đoàn cán bộ đi công tác ngoại giao, có lẽ là do Chủ tịch tự đánh máy nên một số chữ Người đă áp dụng lúc viết Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc không được giữ lại như hồi năm 1947 nữa. Một số chữ “đ” vẫn được viết thành chữ “d” : đồng --> dồng, đường --> dường, đá --> dá, đem --> dem, đấu --> dấu, đỡ --> dỡ, đầy --> dầy, đủ --> dủ, đáng --> dáng; tuy nhiên trong chính văn bản này lại vẫn có những chữ như đứng th́ vẫn giữ nguyên chữ đê (đ). C̣n trường hợp thay chữ “c” bằng chữ “k” th́ ở đây hoàn toàn không thấy nữa. Việc thay “ph” thành “f”, thay “z” cho các chữ “d”, “gi” th́ có thể nói ở đây được khẳng định triệt để.  Việc không đánh thêm dấu sắc ( ù) đối với các chữ đă trọn nghĩa th́ thời gian này (1947) chỉ mới bắt đầu được thực hiện và có lẽ v́ thế nên chưa thật triệt để: Các chữ chúc, bất th́ vẫn giữ dấu sắc (ù), trong khi đó các chữ nước, zúp, các th́ dấu sắc (ù) đă bị bỏ.

Trong Thư gửi các đồng chí liên khu Bốn, tháng 9 năm 1949 do Hồ Chủ tịch tự đánh máy th́ trong đó t́nh h́nh sử dụng, vận dụng bảng chữ cái vẫn giống như trong bút tích Bức thư gửi đoàn cán bộ đi công tác ngoại giao, viết năm 1948. Thế nhưng đến năm 1953, trong bút tích Thư gửi lớp chính đảng liên khu Năm th́ việc không đánh thêm dấu sắc ( ù) cho các chữ mà không cần dấu sắc ( ù) cũng đă trọn nghĩa cũng như việc bỏ cách thay “đ” bằng “d” đă được thực hiện triệt để.

Cho đến năm 1955, khi Hồ Chủ tịch viết Cảm tưởng trong Sổ vàng lưu niệm tại điện Cremli th́ những cách vận dụng bảng chữ cái Việt Nam đă trùng khớp hoàn toàn với cách vận dụng trong các bút tích của Di chúc 1965 - 1969. Điều đó có thể thấy rơ hơn trong bút tích Bức thư của Hồ Chủ tịch gửi cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa ngày 17-12-1959.

Như vậy, kết quả những thể nghiệm của Hồ Chủ tịch trong cách sử dụng, vận dụng bảng chữ cái Việt Nam, cho đến cuối thập kỷ 50, có thể xem như là hoàn thành, tức là hoàn thành vào khoảng 10 năm trước khi Chủ tịch viết Di chúc.

Việc thay thế “d”, “gi” bằng “z”; “ph”  bằng “f”; “ngh” bằng “ng” cũng như không đánh thêm dấu sắc ( ù) khi chữ đă trọn nghĩa, trước hết là tiết kiệm được công viết v́ số chữ được giảm bớt mà nghĩa th́ không đổi; lại giảm bớt được động tác nhấc bút lúc viết; thứ hai là tiết kiệm th́ giờ lúc dạy đánh vần và học đánh vần.  Ví dụ như chữ các: Thay v́ phải phát âm: cờ-a-ca-a-cờ-ác là các-sắc-các th́ chỉ cần phát âm: cờ-a-ca-a-cờ-ác là các, là đủ. Hoặc thay v́ phải phát âm a-cờ-ác-cờ-ác là các-sắc-các th́ chỉ cần phát âm: a-cờ-ác-cờ-ác-các là đủ. Hoặc ví dụ như chữ rất: Thay v́ phải phát âm rờ-ớ-rớ-ớ-tờ-ất, là rất-sắc-rất th́ chỉ cần phát âm rờ-ớ-rớ, ớ-tờ-ất, là rất là đủ; hoặc thay v́ phải phát âm: ớ-tờ-ất-rờ-ất- là rất-sắc- rất th́ chỉ cần phát âm: ớ-tờ-ất-rờ-ất-rất, là đủ, v.v...

Thể nghiệm để đúc kết khoa học, góp sức làm cho ngôn ngữ dân tộc được phong phú hơn, dân dễ học, dễ nhớ mà ít tốn th́ giờ, tiết kiệm công sức, đó là một điểm sáng thuộc loại sáng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh.  Từ điểm sáng này chúng ta có thể xem danh nhân Hồ Chí Minh không chỉ là về mặt văn hóa mà c̣n về mặt khoa học nữa. 

 

 

 

 TÀI LIỆU

1

 

  7 trang viết tay của di chúc Hồ Chí Minh

2     Đọc Lại Di Chúc Hồ chí Minh!
3     Việt Cộng nghiên cứu Di chúc HCM
4

 

  Nhật Xét về các Di Chúc Hổ Chí Minh

 

 

Lần gặp Bác Hồ tôi bị mất trinh

 

 

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2011

 

 

 

 

 

 

 

 

   
 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage