|
|
||||
|
|
||||
|
|
||||
![]() |
![]() |
|||
|
HENRY KISSINGER Nhà ái quốc của Do thái Kẻ tử thù của Việt nam Cộng hòa Tên
phản tặc của Hoa kỳ
Tên gia nô của cộng sản
gian ác.
Henry Kissinger, người Mỹ gốc Do thái, tiến sĩ luật khoa, giáo
sư lỗi lạc của viện đại học danh tiếng Harvard. Trong thời
kỳ tổng thống Nixon còn tại chức, ông Kissinger là cố vấn an
ninh cho tổng thống, ông đã đi dàn xếp bí mật các cuộc gặp
gỡ thượng đỉnh lần đầu tiên Nixon với Mao và Nixon với
Brezhnev, ông cũng là người đại diện của Hoa kỳ trong hòa đàm
Ba-lê 1969-1973 họp kín riêng với Lê đức Thọ hay họp công khai
chính thức.
Tháng tư đen 1975, các thành
phố Miền Nam lần lượt thất thủ, hàng triệu người Việt nam
dẫm lên nhau chạy loạn, nhà cửa điêu tàn, thây nằm chật đất,
máu chảy thành suối, quân dân Miền Nam cầm cự trong tuyệt vọng
thì ông tiến sĩ Henry Kissinger sốt ruột than thở:
"
sao họ không chết lẹ đi cho rồi!..."
(1) Ông
Kissinger rất ngưỡng mộ cộng sản Bắc Việt, ông cho rằng đường
lối cai trị bằng công an sắt máu của Bắt Việt rất phù hợp
cho Dân tộc Việt nam! (theo lời ông Warren Nutter, nhân viên Ngũ giác
đài, kể cho ông Nguyễn tiến Hưng nghe, như ghi ở trang 222, "
Hồ sơ mật dinh Độc lập"). Ông
Kissinger có đủ mọi dữ kiện về các cuộc đàn áp đẫm máu
của Bắc Việt, ông lại rất am tường giá trị nền dân chủ
của Hoa kỳ, cho nên ông Nutter rất nghi ngờ sự trung thành của
Henry Kissinger với Hoa kỳ.
Vì vậy trong những ngày hấp
hối của VNCH, chúng ta mới thấy rõ tại sao Kissinger thốt ra câu: "
sao họ không chết lẹ đi cho rồi!..." (1) Uất hận trước những hành động của Kissinger, khi tổng thống Ford có thể đắc cử nhiệm kỳ 1976-1980, tôi đã gởi nhiều văn thư tố giác âm mưu của tập đoàn Ford-Kissinger đã bán Miền Nam cho cộng sản. Ford thất cử là một sự may mắn cho Hoa kỳ, và từ đó không ai dám dùng đến ông tiến sĩ gian manh nữa. Kể từ tháng
8 năm 1969 cho đến ngày 25-01-72 Henry Kissinger họp kín 12 lần với
Lê đức Thọ.
Ông Kissinger lợi dụng cơ hội
thông đồng với giặc, ông chà đạp lên các quyết định của chính
phủ Hoa kỳ và Việt nam Cộng hòa:VNCH không hề được thông báo
trước những quyết định của Kissinger trong các cuộc họp với
cộng sản.
Toàn thể phái đoàn VNCH tại Hòa
đàm Balê đã phải vô cùng vất vả mới chống lại được
những nhượng bộ của Henry Kissinger cho Bắc Việt, tỷ như
Kissinger đề nghị một cuộc bầu cử tổng thống ở Miền Nam
với sự tham gia của Mặt trận Giải phóng Miền Nam, với điều
kiện ông Thiệu phải từ chức một tháng trước khi bầu lại chính
phủ tại Miền Nam, hội đồng 3 thành phần có quyền như một chính
phủ trong thời gian bầu cử nầy. Khi
đi Mạc tư khoa (Moscova) chuẩn bị cuộc họp Nixon-Brezhnev, ông
Nixon có dặn Kissinger rằng phải đòi Nga sô điều kiện tiên
quyết là hòa giải Việt nam trước tất cả mọi vấn đề khác,
nhưng Kissinger không hề làm áp lực với Nga.
Trái lại Kissinger lợi dụng
mọi cơ hội để bảo vệ Bắc Việt, như y khuyên ông Nixon đừng
gài mìn hải cảng Hải phòng sợ làm trở ngại cho cuộc họp thượng
đỉnh với Brezhnev (thực ra Kissinger sợ tiềm năng chiến đấu
của Bắc Việt suy giảm, không giết VNCH mau lẹ được). Vì vậy
trong những ngày hấp hối của VNCH, Kissinger mới thốt ra: "
sao họ không chết lẹ đi cho rồi!..."
(1) Nhằm giúp Bắc Việt thôn tính Miền Nam , bắt đầu Kissinger thông đồng với Cộng sản những điều kiện vô cùng bất lợi cho VNCH, rồi tên Kissinger làm áp lực với ông Thiệu, buộc ông Thiệu phải chấp nhận những điều kiện nầy. Ngày 8 tháng 5 - 1969, quan điểm chính của Hoa kỳ là đòi triệt thoái quân lực song phương (Hoa kỳ và Bắc Việt rút ra khỏi Miền Nam), nhưng đến ngày 31 tháng 5 - 1971, Kissinger tự ý bỏ việc đòi hỏi Bắc Việt rút quân ra khỏi Miền Nam, mà chỉ có Mỹ rút đi thôi. Ngày
24 tháng 10 - 1972 Kissinger hẹn gặp Phạm văn Đồng tại Hà nội để
ký Hiệp định sơ bộ về đình chiến, với những bất lợi vô cùng
cho VNCH, tỷ như cho Bắc Việt chuyển quân và vỏ khí qua vùng phi
quân sự Bến hải, tại Miền Nam quân đội Bắc Việt ở nguyên
tại chỗ v.v... những điều kiện nầy do chính Cộng sản soạn
thảo và đã phổ biến sâu rộng cho các cán bộ học tập, một
bản của tài liệu mật nầy đã bị cơ quan tình báo VNCH bắt
được của địch lúc 5 giờ chiều ngày 17 tháng 10 - 1972 tại chính
ủy tỉnh Quảng tín. Tài liệu nầy mang tựa đề là: "chỉ
dẫn tổng quát về ngưng chiến". Tài liệu nầy còn hoạch định
tỉ mỉ 3 giai đoạn đấu tranh đem thắng lợi cho Cộng sản dựa
trên các điều khoản y hệt của Hiệp định sơ bộ mà Henry
Kissinger sắp ký kết với Phạm văn Đồng.
Để thực hiện gian kế đó,
ngày 18 tháng 10 - 1972 Kissinger đến Saigon hối thúc ông Thiệu phê
chuẩn bản dự thảo Hiệp định sơ bộ nầy với tất cả những
sự đe dọa ghê rợn như sẽ cúp hẳn viện trợ, hay ám sát ông
ta nếu ông ta không chịu phê chuẩn. Ông Thiệu khôn khéo hứa nghiên
cứu bản dự thảo nầy, và tránh né không gặp Kissinger sau đó.
Kissinger còn trổ tài là một tên
ma cô ma cạo, để mua chuộc Hoàng đức Nhã khuyên ông Thiệu ký vào
Hiệp định sơ bộ, Kissinger dụ khị nếu Nhã giúp được y sẽ
đưa Nhã đi chơi bời ở Hollywood với loại "poule de luxe"
ghi địa chỉ trong cuốn sổ tay màu đen của y. Thật dơ dáy bẩn
thỉu cho tên "giáo sư lỗi lạc đại học Harvard", tư cách
truyền thống Do thái côn đồ đã bộc lộ trong việc sĩ nhục dùng
phương tiện lưu manh đỉ điếm chỉ cốt đạt được thỏa
hiệp giúp Việt cộng chiếm mau chóng Miền Nam.
Đến ngày 22 tháng 10 - 1972 ông
Thiệu từ chối, không ký vào bản dự thảo. Kissinger hằn học,
cụp đuôi, bỏ về. Rồi khi đến Bangkok y còn xin tổng thống
Nixon cho y cứ đi Hà nội (cốt để giải tỏa với họ Phạm mưu
gian đôi bên chưa dàn xếp được), nhưng ông Nixon bảo y về Mỹ.
Bị ký hụt Hiệp định sơ bộ, Phạm văn Đồng cay cú, tưởng
bị Kissinger lừa, liền cho phổ biến toàn thể bản hiệp định
hụt nầy trên đài phát thanh Hà nội ngày 23 tháng 10 -1972. Như
vậy rõ ràng bọn cộng sản trong cơn bực tức đã công khai tố cáo
âm mưu của thằng giặc Do thái đã đồng lỏa thỏa thuận với
chúng. Âm mưu của gian tặc tạm thời chưa thực hành ngay được.
Cũng vì vậy trong những ngày hấp hối của VNCH, Kissinger mới
thốt ra tự đáy lòng
"
sao họ không chết lẹ đi cho rồi!..."
(1) Nhằm
giao Miền Nam cho cộng sản để đổi lấy Ai-cập, tên Kissinger còn
âm mưu đoạt 6 chiếc tàu chở đạn dượt cho VNCH ngày 27 tháng 1
- 1973 buộc họ phải chở số đạn nầy đến Do thái.
Viện trợ bị tước đoạt, đồng
minh rút đi hết, quân dân Việt nam Cộng hòa tự lực ra sức bảo
vệ tổ quốc và anh dũng loại trừ ảnh hưởng của Việt cộng
từng thôn ấp từ Bến hải đến Cà mau; cán binh cộng sản hoàn
toàn mất tinh thần như ở cuộc họp Chủ lực Trung ương tháng 4
-1973 tại Hà nội có mặt Phạm Hùng, Mười Cúc (Nguyễn văn Linh),
Mười Khang (đại tướng Hoàng văn Thái), Hai hậu (trung tướng
Trần nam Trung), Sáu Dân (Võ văn Kiệt), Năm Công (Võ chí Công), tướng
Chu huy Mân, tướng Hoàng minh Thảo ... trong cuộc họp nầy theo
hồi ký "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm" trung tướng
Trần văn Trà, tư lệnh Mặt trận Giải phóng Miền Nam, đã ghi rõ: "Tôi
còn nhớ nhiều câu hỏi của nhiều đồng chí cán bộ ở các
chiến trường nêu lên: "Vừa qua là quá trình là Mỹ thua nhưng
cũng là quá trình ngụy quyền tồn tại và mạnh lên, cả về chính
quyền, về quân đội và về kinh tế ..." (trang 51 quyển
5). Cho
nên cách duy nhất để yểm trợ Bắc Việt chém giết được
Miền Nam là vào tháng 6 - 1973, Kissinger lại làm áp lực để VNCH
chấp nhận nốt khoản Bắc Việt được tự do chuyển quân qua vùng
phi quân sự, nằm trong thông cáo chung Mỹ - Bắc Việt.
Theo mưu lược bí mật của
những phái đoàn quân sự Do thái đã điều nghiên nhiều lần
tại chỗ từ 1960 đến 1971 thì Ban mê thuột là nhược điểm
của ta, cho nên Kissinger bày kế riêng cho Lê đức Thọ thi hành.
Trong quyển "Đại thắng mùa xuân" đại tướng Bắc
Việt tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh 1975 đánh chiếm Miền Nam là
Văn tiến Dũng ghi lại cuộc họp vào tháng 1-1975 tại Hà nội : " Cuộc họp vừa bắt đầu thì đồng chí Lê đức Thọ bất ngờ mở cửa vào và ngồi họp với chúng tôi. Sau chúng tôi hiểu rằng Bộ Chính trị chưa thật yên tâm vì thấy ý định đánh Ban mê thuột chưa thể hiện rõ ràng trong kế hoạch tác chiến, cho nên cử đồng chí Lê đức Thọ đến tham gia ý kiến với chúng tôi là nhất quyết phải đánh Ban mê thuột". Cũng
trong cuộc họp nầy, tướng Trần văn Trà ghi chỉ thị của Lê đức
Thọ:
"quyết
tâm của Bộ Chính trị là đánh Ban mê thuột. Chỉ chấp hành
lịnh không thảo luận gì cả". Cả
hai cuốn sách của 2 tướng Dũng và Trà đều bị Bộ Chính trị
ra lệnh tịch thu ngay khi mới vừa phát hành. Phải triệt hạ tổng thống Nixon mới giết Miền Nam được, gian tặc Do thái gài ông vào vụ tai tiếng Watergate do chúng tạo ra để hại ông. Và ông Nixon phải từ chức. Ông
Gerald Ford lên làm tổng thống. Con thỏ đế nầy lúc nào cũng bị
Kissinger hăm dọa; khi Ford muốn oanh tạc bằng B52 theo lời yêu
cầu của VNCH để trả đủa sự vi phạm hiệp định Ba lê, nhưng
khi Ford nghe Kissinger nói sẽ có biểu tình phản đối của dân chúng
Mỹ nếu dùng B52, Ford vội bịt mắt, rút cổ, để mặc VNCH cho
cộng sản giết. Nhằm chạy tội, Kissinger còn bày cho Ford đọc
diễn văntrút trách nhiệm thua trận cho quốc hội Hoa kỳ vì quốc
hội không chịu chuẩn chi viện trợ thêm cho VNCH. Trên thực tế
mụ Do thái Bella Azburg, trưởng phái đoàn quốc hội Hoa kỳ qua
Việt nam khảo sát tình hình tại chỗ đã đòi thả hết tù Việt
cộng ra, cả phái đoàn quốc hội nầy chỉ làm theo sự điều
khiển của gian tặc vụ lợi, đi soi mói VNCH cốt vạch lá tìm sâu,
nêu lên tất cả mọi lỗi lầm, tệ hại, thối nát để chấm
dứt viện trợ. Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng tháng tư 75, chúng
ta phải hiểu đó là bọn chúng dự mưu thẳng tay giết chúng ta.
Kết quả chúng ta không được 1 đồng xu viện trợ, Hoa kỳ không
yểm trợ bằng B52, không có thêm vũ khí mà quân đội ta cầm cự
vô cùng dũng mãnh; trong lúc cộng sản Nga Tàu viện trợ cho Việt
cộng 4 tỷ mỹ kim mỗi năm.
Cho nên trong những ngày dài
hấp hối của VNCH, tên tởm Kissinger mới thốt ra:
"
sao họ không chết lẹ đi cho rồi!..." (1) Khi
tìm cách giết VNCH, tên lưu manh đã đâm dao sau lưng các chiến sĩ
Hoa kỳ đã tận tụy hy sinh trong cuộc chiến chống cường tặc
cộng sản. Kissinger còn lường gạt quốc hội Hoa kỳ khi y khai
với quốc hội rằng không hề có cam kết nào của tổng thống
Nixon với VNCH. Nhưng những văn kiện rõ ràng do tổng thống Nixon ký,
và chỉ được tiết lộ sau khi VNCH mất mới chứng minh được
sự gian trá và lật lọng của tên tổ sư lưu manh Henry Kissinger. Đầu
năm 1975 vua Fayal Á rập đồng ý cho VNCH vay 3 tỷ mỹ kim, ông
liền bị Do thái cho một tên điên hạ sát. Với
những sự lường gạt, hành vi bất chánh, mưu đồ tàn độc đâm
dao sau lưng quân đội và nhân dân Hoa kỳ, lừa bịp và bóc lột
nhiều dân tộc khác trên thế giới, Henry Kissinger và bè lũ đã
chứng tỏ dân tộc Do thái là kẻ thù của NHÂN LOẠI, đó là
tội phạm nặng nhất của chúng.
Tên tổng chỉ huy trưởng của
chiến dịch Hồ chí Minh đánh chiếm Miền Nam năm 1975 là Lê đức
Thọ, tại cục R y cho lệnh đánh chiếm Phước Long trước tiên để
dò phản ứng của Hoa kỳ. Và dĩ nhiên Hoa kỳ làm ngơ. Sự thông
gian của y với ngoại trưởng Kissinger thật quá rõ ràng.
Ông Von Marbod, đại diện bộ
quốc phòng Hoa kỳ tới Saigon ngày 23 tháng 4 - 1975, khi ông đi xem
mặt trận Xuân lộc đã kể lại: "Khi trông thấy có binh sĩ VNCH đã bị mất một chân mà vẫn còn anh dũng chỉa súng về phía vị trí địch để bắn trả, tôi bùi ngùi vô hạn và xấu hổ cho nước tôi! ...". Khi
toàn quân toàn dân ta liều mình diệt địch, cầm cự bảo vệ
từng tấc đất cho chính nghĩa tự do, thì tên đầu sỏ gian manh
phản tặc lại lo sợ chúng ta sẽ thắng cộng sản, và rồi ra
cộng sản sẽ hết tin nó, nên mới thốt ra:
"
sao họ không chết lẹ đi cho rồi!Điều tệ nhất là họ cứ
sống dai dẳng hoài..." (1) Đó
là lời than của tên Do thái đốn mạt, côn đồ phản tặc có tên
là Henry Kissinger, trưởng phái đoàn Hoa kỳ tại Hòa đàm Ba lê
1973!
Hành động của Henry Kissinger là
hành động tiêu biểu của dân tộc Do thái khát máu, độc hại
vong ân bội nghĩa: nhằm gây chia rẽ giữa Hoa kỳ và các dân tộc
khác để trục lợi, cơ quan mật vụ Mossad Do thái nằm vùng trong
các tổ chức khủng bố và ám toán không biết bao nhiêu nhân viên
và binh sĩ Hoa kỳ rồi đổ tội lên đầu những tổ chức đó,
trong lúc nhờ Hoa kỳ mà bọn Do thái có được một quốc gia sau hơn
hai ngàn sáu trăm năm (2600) lưu lạc đọa đày vì bản tính gian ác
của chúng. Được
biết nhiều thành viên ủy ban Nobel uất ức xin từ chức vì sự
cấp giải Nobel Hòa bình cho hai tên đồ tể Lê đức Thọ và
Kissinger, năm 1986 tôi xin thủ tướng Thụy điển là ông O'Palme thu
hồi giải thưởng Nobel nầy. Chưa hành động kịp, ông O'Palme
liền bị Do thái ám sát chết ngay. Dù
chúng có ém nhẹm tới đâu, tội trạng của dân tộc ác quỉ đó
trước sau gì cũng sẽ được phơi bày trước công luận thế
giới. Hành
động của chúng ta là tất yếu, tất thắng. Trân
trọng kính chúc quí vị và các bạn trở về đất nước thân yêu
trong
VINH
QUANG KHẢI HOÀN CA.
Nay kính BÙI NHƯ HÙNG
(nguyên
bản viết năm 1990, ấn bản lần thứ 7 tại Montréal, ngày 1 - 1 -
1995) ______________________________________________________________________ (1)
Ron Nessen, tùy viên báo chí của tổng thống Ford, viết ở trang 98
trong tài liệu " It Sure Looks From The Inside ".
|
|
The Curious
Case of Henry Kissinger
|
The secret agent named BOR of the Russian KGB had infiltrated the US government in the highest position, He was formally identified As
Henry KISSINGER was recruited by the KGB since 1950, under the command of the Russian general Zelanznikoff. Kissinger's Codename was BOR. He supplied the Soviet government top secret documents concerning all activities, programmes and decisions of the US government. BOR's treason was disastrous. He, the chief of the National Security Council and the State Secretary of Foreign Affairs, introduced more Soviet spies into key positions in the US government. These spies include Edward Kelly, William 0 Hall, Jesse MacKnight, James Sutterlin, Leonard Unger, Sonnefield, Boris Klosson, and the list goes on. They destroyed every government investigation commission. BOR transmitted the top secret documents to Moscow through communist intermediates: Wilfred Burchett, Vitaly Yuvgenyevich, etc... BOR stopped the publication of an important article of Newsweek, dated 8-25, 1975 concerning activities of the KGB in the United States. ( Henry Kissinger was Secretary of States. ) BOR delivered South Viet-nam to the communists in 1975, camouflaged his traitorous acts by blaming a defeat of America, thus stabbing in the back American and Vietnamese soldiers and peoples. BOR collaborated with his accomplice, Boris Klosson, in the American delegation of the SALT 1 Treaty in Moscow, and to repatriate in Dallas the killer Lee Harvey Oswald, who was instructed by the KGB under two years of intensive training, who later was used as a scapegoat in the assassination of the president John F. Kennedy. To protect Kissinger's anonymity, the organization of assassins developed a complex plot with the complicity of the directorships of the FBI, the CIA, the Naval Medical Center of Virginia and other professional killers.
The United States has greeted numerous vipers of this nature (sanguinary and poison users) in their country. The criminals can be found in media services (television, news-paper, investigation services...) in analysing laboratories, in the CIA, in the FBI, in poison factories in Washington DC, and many other forms. The target of these poisonings is to kill the nationalists (enemies of traitors inside the CIA), and also to destroy the health (then enterprises, then incomes) of US and Canadian citizens and immigrant communities, so as to hinder them to sponsor their family to get North America. And traitorous officials inside US and Canadian immigration ministries hurry and favour the dossiers of the guilty community and they delay every one of others communities.
|
|
eBay:
Henry Kissinger: Soviet Agent by Frank A. Capell (item ... |
|
Find
in a Library: Henry Kissinger, Soviet agent | English Book ... |
|
Kissinger's
Public Confession as an Agent of British Influence |
Kissinger: Fox to Guard Chicken Coop (Dec 5, 2002)
|
It's urgent to destroy these CIA's poison factories. The assassins hire out accomplices who are in the postal service, telecommunication (receptionists, operators), public services, security services, the police, customs and other government officials. These accomplices work at the cost of both the Canadian and American governments. Actually, the US government spends 3 billions per year of its income tax to pay its own assassins and traitors. Today North America is an ulcer, caused by the traitorous HIV of Acquired Immunity Deficient Syndrome, in its final stages. ”Kissinger and his accomplices have debased Israel. In this nation however, it must be noted that there are also other peaceful persons and non criminals as well.” N. H. Bui |
|
|
|
|
![]() |
|
| 1975 | |
|
|
|
Giao kèo MÁU 1973 - 1975 |
|
Địch truy sát trên Quốc lộ 1 |
Địch truy sát trên Quốc lộ 7 |
![]() |
![]() |
|
|
|
|
|
có biết bao nhiêu người không đến được bến bờ |
|
Xin nhớ lại cuộc đào thoát cay đắng khỏi bàn tay Quỉ Đỏ cho nên xin đừng tiếp tục "giúp chúng nó đểu cáng và lừa bịp." Xin hãy xem bài Những dòng nước mắt màu đen của Dân Tộc |
|
|
|
|
![]() |
![]() |
| Xin nhớ lại những lao tù khổ ải cùng khắp quê hương dưới bàn tay say máu hận thù của VC, mà chắc chắn rằng những thế hệ con em Việt Nam bất khuất sẽ bị VC đày ải vào đây. | |
| LẤY CHÍ NHÂN THAY CƯỜNG BẠO |
| ĐEM ĐẠI NGHĨA THẮNG HUNG TÀN |
| Phần 1 2 3 4 5 6 7 8 |
| LỜI NÓI ĐẦU | |||||
| 1. | ÂM MƯU XÂM NHẬP VNCH | 4. | |||
| 1.1. | NHỮNG ÂM MƯU ĐẢO CHÁNH | 5. | ÂM
MƯU MẠ LỴ |
||
| 1.2. | ÂM MƯU GIẾT TỔNG THỔNG DIỆM | 6. | CUỘC
CHIẾN VIỆT NAM VẪN CHƯA CHẤM DỨT |
||
| 1.3. | TRẬN ẤP BẮC | 6.1. | QUỐC
NỘI VẪN QUẬT CƯỜNG |
||
| 1.4. | KHỦNG
HOẢNG PHẬT GIÁO 63
|
6.2. | 1982
CIA ÐÁNH BẠI PHỤC QUỐC HẢI NGOẠ |
||
| 1.5. | TUYÊN
TRUYỀN ĐEN |
6.3. | CIA
TÀN HẠI NGƯỜI QUỐC
GIA HẢI NGOẠI |
||
| 2. | 7. | ÐÁNH
DT GIAN TÀ LÀ NHIỆM VỤ THIÊNG LIÊNG |
|||
| 2.1. | PHÁ QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC | ||||
| 2.2. | TIÊU DIỆT TIỀM NĂNG TỰ VỆ | ||||
| 2.3. | TIÊU DIỆT CÁC TỔ CHỨC DÂN SỰ | ||||
| 2.4. | CÔ
LẬP CHÍNH QUYỀN |
||||
| 3. | |||||
| 3.1. | MỤC ĐÍCH | Buộc tội Chính phủ Hoa kỳ | |||
| 3.2. | QUÂN MỸ ĐÁNH KHÔNG ĐƯỢC THẮNG | ||||
| 3.3. | TỔ CHỨC PHẢN CHIẾN | ||||
| 3.4. | THÔNG ĐỒNG VỚI GIẶC CỘNG | PHỤ BẢN | |||
| 3.4.1.Chứa chấp và trực tiếp giúp đỡ giặc Cộng khủng bố | |||||
| 3.4.2.Bán vũ khí cho Việt cộng | 1 | Bà
thủ tướng đóng phim sex |
|||
| 3.4.3.Mặt trận thông tin | 2 | Monica
Lewinsky |
|||
| 3.5. | TẾT MẬU THÂN | 3 | Giết
14 cô gái trường Polytechnique |
||
| 3.6. | HIỆP ĐỊNH PARIS 1973 | 4 | Mafia
Do thái giết tổng thống Kennedy |
||
| 3.7. | THÔNG CÁO CHUNG MỸ BẮC VIỆT | 5 | Tổng thống Bush (cha) bị lừa | ||
| 3.8. | TRIỆT HẠ TỔNG THỐNG NIXON | 6 | Henry
Kissinger |
||
| 3.9. | TRIỆT HẠ TỪNG NGƯỜI QUỐC GIA | 7 | So sánh TT N.Đ. Diệm với ĐT D.V. Minh | ||
| 3.10. | XỬ DỤNG VIỆT GIAN VÀ TÀU PHÙ | 8 | So
sánh TT N.Đ. Diệm với CT H.C. Minh |
||
| 3.11. | CHỐNG ĐỐI BÙNG LÊN | 9 | Do
thái giáo phần
1
phần 2 |
||
| 3.12. | VÂY CHẶT ĐỂ ĐÁNH GỤC VNCH | 10 | CIA
giết 189 người Mỹ tại Lockerbie |
||
| 3.13. | ĐÁNH CAO NGUYÊN | 11 | World Trade Center | ||
| 3.14. | LỪA GẠT QUỐC HỘI HOA KỲ | 12 | Nguyễn Chí Thiện thật và giả | ||
| 3.15. | KHÔNG TIẾP TẾ QUÂN ĐỘI VNCH | ||||
| 3.16. | LÒNG ĐƯỜNG XA LỘ BIÊN HÒA | ||||
| 3.17. | CẮT VIỆN TRỢ | Cước chú: Mọi sự trích dịch in một phần hay toàn thể bản ĐẠI CÁO TRẠNG nầy đều tự do, miễn là trung thực và có ghi rõ xuất xứ. | |||
| 3.18. | TRIỆT
TIÊU MỌI CỨU TINH |
||||
| Trở lại trang đầu ĐẠI CÁO TRẠNG |
| Trở lại trang nhà BÙI NHƯ HÙNG Homepage |
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Nhà xuất bản |
|
|
PRESTIGE EDITION |
|
|
ISBN 2-9805220-5-8 |
|
|
3rd edition 2001 |
|
|
Sách và cước phí 10 mỹ kim |
|
|
BUI NHU HUNG |
|
|
5161 Walkley - suite 22 Montreal - QC - Canada H4V 2M4 |
|
| phone: 514 996 4376 nhuhungbui@yahoo.ca |