40 năm ngày đảo chính chế độ Ngô Đ́nh Diệm
1-11-1963
|
|
SAU ĐÂY LÀ TÀI LIỆU TỪ PHÍA BÊN KIA:
40 năm ngày đảo chính chế độ Ngô Đ́nh Diệm
1-11-1963
Bùi Tín, Oct 28, 2003
I. Ngô Đ́nh Diệm với tư cách nhân vật lịch sử
Ngô Đ́nh Diệm được dư luận thế giới cho rằng là người của Mỹ, do chính giới Mỹ
chọn và bồi dưỡng từ lâu.
Cùng với thời gian và sự t́m hiểu những tư liệu lịch sử, tôi thấy rằng cần phải
trả lại lẽ công bằng cho nhân vật lịch sử này: ngay từ khi c̣n trẻ Ngô Đ́nh Diệm
đă tỏ ra có tư chất thông minh xuất sắc ; ông vào học trường hậu bổ rất sớm, làm
tri huyện Hải Lăng khi 28 tuổi, làm tuần phủ Phan Thiết (đứng đầu tỉnh) khi mới
30 tuổi, làm thượng thư bộ Lại (trên thực tế là đứng đầu nội các Nam triều) khi
mới 32 tuổi (1933), trong khi trước đó các vị thượng thư như Nguyễn Hữu Bài, Tôn
Thất Hân đều trên 60, 70 tuổi cả. Cũng theo ông Nhạ thuật lại theo lời kể của ông Diệm th́ khi người Nhật làm đảo chính (9-3-1945) gạt bỏ người Pháp, họ đă t́m ông, nhưng ông lánh mặt v́ cho rằng thế của Nhật không vững và họ không thật ḷng trao độc lập cho Việt Nam. Ông Nhạ c̣n cho tôi biết người Mỹ cũng từng ngỏ ư yêu cầu tổng thống Diệm nhượng cho Hoa Kỳ quyền sử dụng Cảng quân sự Cam Ranh trong 10 hay 20 năm ǵ đó, nhưng ông Diệm đă từ chối ngay. Ông nói với ông Nhạ : "Không thể được, lỡ ra sau này có quan hệ Nam - Bắc th́ ta ăn nói với đồng bào miền Bắc ra sao về chuyện này !". Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân vật chính trị đặc sắc, có ḷng yêu nước sâu sắc, có tính cách cương trực thanh liêm, nếp sống đạm bạc giản dị. Giờ đây chúng ta đă có những bằng chứng về lập trường của ông Ngô Đ́nh Diệm : chống thực dân Pháp, giành lại quyền nội trị đầy đủ, không muốn Hoa kỳ can thiệp sâu, chống lại việc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và nước ngoài vào. Ông đă phải trả giá bằng cả sinh mạng ḿnh cho lập trường dân tộc ấy. Ngành tuyên truyền của Hà Nội thường hay so sánh ông Ngô Đ́nh Diệm với ông Hồ Chí Minh theo kiểu yêu nên tốt, ghét nên xấu. Sự thêu dệt cuộc đời Hồ Chí Minh như một nhà hiền triết đạm bạc, đạo đức mẫu mực, khắc khổ tu luyện, tận diệt mọi lạc thú cá nhân trên đời v́ lợi ích của dân tộc đến mức gần đây họ khuyến dụ giới Phật giáo quốc doanh phong ông là Bồ Tát Hồ Chí Minh. Trái ngược với h́nh ảnh Hồ Chí Minh một ḷng v́ dân v́ nước, hy sinh cuộc sống cá nhân để sống cô độc suốt đời, bây giờ người ta đă biết (qua những chứng cứ lịch sử) rằng ông từng cưới vợ ở Hongkong, một thời gian sống chung với Nguyễn Thị Minh Khai, có nhiều người t́nh ở những nơi ông sống qua, có cả con riêng ; thậm chí vợ chính thức cũ Tăng Tuyết Minh cố công đi t́m kiếm người chồng đă trở thành chủ tịch một nước, nhưng ông bỏ mặc… Trong sự so sánh ấy, ông Hồ Chí Minh tỏ ra không bằng ông Ngô Đ́nh Diệm. Về tinh thần dân tộc, ông Ngô Đ́nh Diệm cũng tỏ ra hơn hẳn ông Hồ Chí Minh. Ông Diệm không bao giờ ôm vội một học thuyết xa lạ vào ḷng để khóc và hét toáng lên: "Chân lư đây rồi!", hoặc dạy bảo các đồng chí của ḿnh rằng : "Bác bảo đảm hai vị lănh tụ Staline và Mao Trạch Đông không bao giờ phạm sai lầm !", hay là viết cả một cuốn sách dày kư tên Trần Lực để bảo mọi người phải học kinh nghiệm những "bước nhảy vọt" chết người của Mao Trạch Đông! Từ khi nhận chức thủ tướng, rồi tổng thống, từ tháng 6-1954 đến cuối năm 1960, trong hơn 5 năm, ông Diệm đă đạt khá nhiều thành tích nổi bật : -đón tiếp và ổn định cuộc sống cho khoảng một triệu đồng bào di cư từ Bắc vào ; -thực hiện gọn cuộc trưng cầu dân ư nhằm phế truất quốc trưởng Bảo Đại, mở ra nền Đệ nhất Cộng Ḥa ; dẹp bỏ Ngân Hàng Đông Dương, lập Ngân Hàng Quốc Gia và đồng tiền quốc gia ; -dẹp các giáo phái có vũ trang được một số thực dân người Pháp tiếp sức ;
-đóng cửa ṣng bạc Tân Thế Giới của cánh B́nh Xuyên ;
Có thể nói sau hơn 5 năm ổn định, có một số thành tích nổi sau khi kết thúc thời
kỳ Bảo Đại - thuộc Pháp, từ năm 1960, chế độ Ngô Đ́nh Diệm bước vào thời kỳ
khủng hoảng. Lẽ ra phải tỉnh táo đối phó, sửa chữa sai lầm, bổ khuyết những
thiếu sót th́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm lại trở nên kiêu ngạo, tự phụ và chủ
quan, độc đoán hơn.
Trong thời kỳ khủng hoảng nói trên, Ngô Đ́nh Diệm vẫn một mực giữ niềm tin ở sứ
mệnh thiêng liêng trong vai tṛ lănh tụ trời sai xuống để cứu dân, ông sống
trong hoang tưởng ḿnh là một vĩ nhân châu Á, tự cho Việt Nam dưới quyền ông
đang làm mẫu mực về chiến đấu chống cộng sản vô thần và xây dựng xă hội mới ở
châu Á… Ông phạm thêm sai lầm liên tiếp : bỏ ngoài tai những khuyên can và yêu
cầu từ bỏ vai tṛ cố vấn của Ngô Đ́nh Nhu, nhất là từ bỏ sự can thiệp nhố nhăng
của cô em dâu Lệ Xuân, tự cô lập ḿnh, gây thù oán với giới Phật giáo chiếm đa
số dân cư, c̣n nể nang ông anh Ngô Đ́nh Thục khi ông này được đưa về làm giám
mục địa phận Huế, và tổ chức quá lố lễ "Ngân khánh 25 năm phong giám mục" của
ông Thục như một quốc lễ, c̣n ra lệnh cấm cắm cờ Phật giáo, làm nổ ra cuộc chống
đối quy mô rộng và cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức, làm chấn động dư luận
trong, ngoài nước.
+Kịch bản của cuộc chiến tranh đă được viết. Cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đ́nh Diệm diễn ra trong t́nh h́nh chính trị và quân sự chung như vậy.
Ngay sau khi cuộc đảo chính xảy ra dẫn đến cái chết của Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu, Hà Nội triệu tập ngay cuộc Hội nghị trung ương đảng lần thứ 9 (khóa III); cuộc họp kéo dài đến hai tuần lễ, từ 7 đến 20 tháng 12, chia làm hai phần : "cách mạng miền Nam" và "nhiệm vụ quốc tế của đảng". Nghị quyết này rất quan trọng, thường được gọi tắt là "Nghị quyết 9". Nghị quyết nhấn mạnh : cuộc khủng hoảng trầm trọng của Mỹ và chế độ Sài G̣n qua cuộc đảo chính "thay ngựa giữa ḍng" chắc chắn sẽ c̣n trầm trọng hơn nữa ; ấp chiến lược đă và đang bị phá trên quy mô lớn ; đấu tranh chính trị ở nông thôn và thành thị đều mở rộng, sôi nổi ; cần tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng, chi viện mạnh mẽ miền Nam, giành cho được thắng lợi có ư nghĩa quyết định trong mấy năm tới. Quân ủy trung ương cũng họp ngay mấy ngày sau đó để quyết định những công việc cụ thể cấp bách : chọn một số trung đoàn chuẩn bị gấp lên đường vào Quân khu V và Tây Nguyên ; mở rộng gấp đường vận chuyển chiến lược 559; đưa gấp vào chiến trường những vũ khí chống thiết vận xa M113 và trực thăng, đặc biệt là B40 và các loại súng máy… Về mặt tổ chức, tướng Chu Huy Mân chính ủy Quân khu 4 (gồm các tỉnh từ Thanh Hóa vào đến giới tuyến) nhận nhiệm vụ tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 5 (gồm các tỉnh nam Trung bộ và Tây Nguyên ; sau này, đến 1969 sẽ tách ra Tây Nguyên dưới sự chỉ huy của tướng Hoàng Minh Thảo) ; quan trọng hơn cả là việc cử đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, đang được biệt phái đặc trách về củng cố phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, trở ngay lại quân đội để vào Nam nhận nhiệm vụ : đại diện bộ chính trị, lănh đạo và chỉ huy cuộc cách mạng và chiến đấu toàn miền Nam. Ông Thanh liền lựa chọn một số cán bộ cấp cao như tướng Lê Trọng Tấn, tướng Trần Độ làm phụ tá về quân sự và chính trị, và cử ngay một đoàn cán bộ đi nghiên cứu toàn diện t́nh h́nh trong Nam, gồm cán bộ các tổng cục của bộ Quốc pḥng-Tổng tư lệnh, lên đường ngay cuối tháng 12-1963. Đoàn có 24 cán bộ chính trị, tham mưu, kỹ thuật, hậu cần, quân khí, vận tải, tổ chức, tuyên huấn, dân vận… Tôi được chỉ định tham gia đoàn, được phân công phổ biến kỹ nội dung của Nghị quyết 9, nghiên cứu về tinh thần chiến đấu, các tài liệu giáo dục, tinh thần nhân dân, phong trào đấu tranh chính trị, việc phá ấp chiến lược, tác dụng của báo chí, đài phát thanh cũng như việc tuyển mộ quân nhân tại chỗ cho quân giải phóng… Để bảo mật, đoàn không được mang tài liệu loại tối mật, phải ghi bằng kư hiệu riêng, nhiều đoạn quan trọng phải viết tắt, theo lối mật mă, chỉ để riêng ḿnh đọc và hiểu, phải học gần như thuộc ḷng, nhập tâm nhiều nội dung…
Về phần "nghĩa vụ quốc tế của đảng", Nghị quyết 9 chỉ rơ đặc điểm của t́nh h́nh
thế giới, tính chất thời đại, chiến lược và sách lược…, Đảng Cộng Sản Việt Nam
luôn bảo vệ sự trong sáng (!) của chủ nghĩa Mác-Lênin, chống chủ nghĩa xét lại,
chủ nghĩa giáo điều, tăng cường đoàn kết, chống chia rẽ trong phong trào cộng
sản quốc tế…
Thêm nữa, năm 1962, sau khi tổng thống Kennedy tuyên bố cam kết bảo vệ Việt Nam
bằng mọi giá, cho phép phi công quân sự Mỹ tham gia chiến trận ở Việt Nam, cho
quân chiến đấu Mỹ được nổ súng trước khi giáp trận ở Việt Nam, Hà Nội đă kư với
Bắc Kinh một hiệp định bí mật giữa hai bộ tổng tham mưu quân sự : nếu Mỹ dùng
không quân, hay dùng hải quân, hay là dùng đến bộ binh xâm phạm vùng trời, vùng
biển hay lănh thổ miền Bắc xă hội chủ nghĩa th́ lập tức Trung Quốc sẽ tham chiến
với mức độ tương ứng. Trong năm 1963, nguyên soái Diệp Kiếm Anh, tổng tham mưu
trưởng La Thụy Khanh cùng đoàn cán bộ các quân chủng lục, không, hải quân sang
Hà Nội, vào Quân khu 4 là quân khu giáp giới tuyến để nghiên cứu địa h́nh, xác
định các phương án chiến đấu và phối hợp…
Tôi biết rơ t́nh h́nh này là do tự ḿnh xuống vùng Tam quan và huyện Đức phổ,
xuống tận các xă, vào tận huyện lỵ vào ban đêm, vào cả hai ấp chiến lược (vượt
qua ba sông, ba núi là những tường, rào, ụ, hào rănh, cầu quanh ấp), họp anh chị
em ngay trong ấp để nắm t́nh h́nh, nhiều bảo an dân vệ do chính quyền miền Nam
lập ra ban đêm lại là du kích…
Tháng 4, đoàn chúng tôi ra Hà Nội và báo cáo với Bộ Quốc pḥng và Quân ủy trung
ương. Đích thân đại tướng Nguyễn Chí Thanh nghe báo cáo và sau đó lên đường.
Ngay sau đó ba trung đoàn bộ binh hoàn chỉnh thuộc các Sư đoàn 305, 324, 325,
hai tiểu đoàn công binh, năm tiểu đoàn đặc công được đưa vào miền Nam… Chủ
trương tận dụng thời cơ mới, tăng mạnh chi viện cho miền Nam được thực hiện khẩn
trương và mang lại hiệu quả tích cực, trong khi cuộc khủng hoảng chính trị sau
1-11-1963 ở Sài G̣n ngày càng nặng nề với các ông tướng thay thế nhau tranh
quyền, từ tướng Minh đến tướng Khánh, rồi các tướng Thiệu, Kỳ… -Hậu quả của sự sa sút ấy là quân chiến đấu Mỹ phải vào tham chiến. Từ vài ngàn, lên vài chục ngàn, rồi vài trăm ngàn, lên đến nửa triệu, cùng với việc ném bom miền Bắc. Việc sử dụng quân lính và bom không được cân nhắc, tính toán kỹ từ đầu nên hiệu quả thấp, c̣n gây nên tâm lư ỷ lại rất tai hại cho các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Nếu biết sử dụng quân Mỹ đúng nơi, đúng chỗ, đúng cách th́ t́nh h́nh sẽ khác (như tập trung ở sát giới tuyến và dọc đường 9 trên đất Lào để chặn xâm nhập ; như chiếm một khu vực nhỏ ở vùng cán xoong miền Bắc, sát giới tuyến ; như chiếm bằng bộ binh một đoạn nhỏ đường 559…; tốn rất ít quân Mỹ mà hiệu quả cao) (về sau, khi ném bom bằng b52 đường 559 cũng chỉ có 0,18% số bom trúng vào mặt đường và gây tổn thất không đáng kể, theo báo cáo của tướng Đồng Sỹ Nguyên cho đại tướng Giáp); -Bộ quốc pḥng và bộ tổng tham mưu Hà Nội rất e ngại đến lo sợ Mỹ cho bộ binh chiếm một đoạn dù nhỏ của đường 559, sẽ làm đảo lộn cuộc vận chuyển, trở ngại lớn cho toàn chiến trường, v́ tổ chức con đường phức tạp, các đơn vị vận tải, kho, quân y, thanh niên xung phong, công binh… không quen chiến đấu; -Hồi 1964, Hà Nội rất lo Mỹ biết sự tráo trở của Bắckinh rồi đưa bộ binh đánh vào vùng cán xoong sát giới tuyến, do đó đề ra chủ định "buộc Mỹ xuống thang trên cả hai miền, không để chiến tranh trên bộ lan ra miền Bắc", v́ nếu điều ấy xảy ra, chiến lược quân sự của Hà Nội trên hai miền đều phải thay đổi rất bất lợi; -Mỹ thường đánh giá sai, dự đoán quá cao phản ứng của Bắc Kinh ; tuy có cam kết bảo vệ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa thật, nhưng Bắc Kinh đă nuốt lời hứa tham chiến từ đầu năm 1964 (người không đụng đến ta, ta không đụng đến người) ; Mỹ không hiểu thâm ư của Bắc Kinh là luôn kiềm chế, không muốn người “anh em thù địch” Việt Nam sớm thống nhất. -Mỹ không hiểu thái độ "trung lập" của Cambốt, và đặc biệt của Lào. Sihanouk và Phouma đều ngiêng về phía Hà Nội. Hiệp định Genève năm 1962 về nền trung lập của Lào không hề ngăn Bắc Việt Nam để nhiều quân ở Lào và dùng Lào để thâm nhập. Mỹ làm rất ít để tác động đến Vientiane và Pnom Penh trong khi Hà Nội tranh thủ cao và tận dụng rất khôn khéo "nền trung lập" ngả + nghiêng ấy. Nếu phía Washington sớm nh́n thật rơ được những điều trên để có chủ trương thích hợp th́ t́nh h́nh đă có thể đổi khác và sự kết thúc chiến tranh cũng không phải như chúng ta đă thấy. Tôi đă có dịp nói rơ hơn các vấn đề này trong cuốn "From Enemy to Friend". Bùi Tín(Paris, tháng 10-2003)
|