|
THỦ TƯỚNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
GIÀNH LẠI CHỦ
QUYỀN TỪ THỰC DÂN PHÁP:
THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN
Ông Ngô Đ́nh Diệm được Bảo
Đại mời làm thủ tướng với toàn quyền dân sự và quân sự ngày 16/6/1954.
Ba ngày sau, ông nhận lời. Độ 5 ngày nữa, tức là ngày 24/6/54, ông đáp
phi cơ hăng Air France rời Ba Lê và hai ngày sau đến Saigon. Cùng đi
với ông, có người em trai là Ngô Đ́nh Luyện, ông Trần Chánh Thành, ông
Nguyễn văn Thoại, một giáo sư đại học tại Pháp, h́nh như là em chồng bà
Nguyễn văn Lễ tức bà Cả Lễ, em ruột ông Diệm. T́nh cờ cô Thân thị Hoàng,
một cô em ruột của một trong hai người soạn tài liệu này, cũng đáp
chuyến máy bay này về Saigon sau khi học xong thống kê tại Paris. Do có
bà con với ông Trần Chánh Thành về phía bên ngoại, cô Hồng được giới
thiệu với ông Diệm và phái đoàn. Oâng Diệm và các ông Luyện, Thành,
Thoại đều vui vẻ hân hoan ra mặt. Ngày 26/6/54, phi cơ đáp xuống phi
trường Tân Sơn Nhất. Ngoài số người đón tiếp tại phi trường, nhiều nhóm
dân chúng chờ đợi hai bên các con đường mà đoàn xe chở thủ tướng Ngô
Đ́nh Diệm đi qua, như nhân chứng đại tá Edward Lansdale thuật lại, chứ
không phải họ tránh né như ông Joseph Buttinger đă viết. Nhưng đoàn xe
chở thủ tướng Diệm chạy nhanh làm dân chúng không thấy rơ mặt thủ tướng,
theo nhận xét của đại tá Lansdale. Ngày hôm sau, đại tá Lansdale đến
dinh Gia Long gặp thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm. Cuộc tiếp xúc đầu tiên này
mở đầu sư cộng tác chặt chẽ giữa ông Diệm và chính quyền Mỹ lúc bấy giờ,
trong những tháng đầu sau Hiệp Định Geneva tháng 7/1954.
Trong giai đoạn này, nếu thủ
tướng Ngô Đ́nh Diệm tiêu biểu cho phe quốc gia VN cần sự ủng hộ của Hoa
Kỳ để giành lại chủ quyền từ tay thực dân Pháp, th́ Hoa Kỳ cũng cần ông
Ngô Đ́nh Diệm để thiết lập một chính quyền vững mạnh tại miền Nam, để
làm tiền đồn chống cộng sản tại Đông Nam Á, có lợi cho nền an ninh chiến
lược của Hoa Kỳ.
Chương này tŕnh bày thực
trạng của quốc gia VN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại, những thử thách mà
thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm phải đối phó, từ tướng Nguyễn văn Hinh đến B́nh
Xuyên và các giáo phái trong năm 1954, trong khi lấy lại dần chủ quyền
trong các lănh vực sinh hoạt của xứ sở từ tay thực dân Pháp.
Về Saigon vài hôm, thủ tướng
Ngô Đ́nh Diệm thấy rằng đạo chỉ dụ ban cho ông toàn quyền dân sự và quân
sự không có gía trị ǵ cả. Oâng chỉ có quyền với 12 người cảnh sát thay
phiên nhau canh gác dinh Gia Long. V́ sao vậy ? Quốc trưởng Bảo Đại và
các nội các trước đă làm ǵ ? Lâu nay quốc trưởng Bảo Đại có guồng máy
dân sự và quân sự cai trị quốc gia VN không ?
Trước hết, xin nói về quốc
trưởng Bảo Đại. Cuộc sống quốc trưởng của ông Bảo Đại khác xa thời ông
ở Côn Minh hay Hương Cảng. Pháp trả lương cho ông mỗi tháng 350,000 mỹ
kim tức mỗi năm trên 4 triệu mỹ kim. Oâng có 4 phi cơ và gởi những món
tiền khổng lồ tại các ngân hàng Pháp và Thụy Sĩ. Oâng làm chủ nhiều bất
động sản tại Pháp và xứ Ma rốc ở Bắc Phi Châu. Bảo Đại cũng nhận tiền
do ṣng bạc Đại Thế Giới cung cấp. Ṣøng bạc này được cao ủy Pháp, linh
mục đô đốc Thierry d’Argenlieu cho phép mở trong năm 1946, mặc dầu bác
sĩ Nguyễn văn Thinh cầm đầu chính phủ bù nh́n Nam Kỳ tự trị phản đối.
Một số người Hoa ở Chợ Lớn đấu thầu được hai năm đầu. Nhưng sau đấy,
người Hoa từ Aùo Môn sang tranh thầu được, v́ họ chịu trả 400,000 đồng
một ngày thay v́ 200,000 đồng. Những người này, một mặt trả thuế cho
phe kháng chiến để khỏi bị phá hoại, mặt khác mở rộng và canh tân ṣng
bạc với các hồ lỳ trẻ ăn mặc sang trọng, ca sĩ Việt Hoa, vũ nữ, gái điếm
hạng sang và nhân viên bảo vệ. Đến năm 1950, Bảo Đại can thiệp vào vụ
đấu thầu. Ông Nguyễn văn Viễn tức Bảy Viễn cầm đầu phe B́nh Xuyên lâu
nay được người Pháp trả lương và ngự trị vùng Chợ Lớn, trúng thầu với sự
hỗ trợ của quốc trưởng Bảo Đại. Bảy Viễn chịu trả mỗi ngày 100,000 đồng
cho Bảo Đại, số tiền như vậy cho bà Từ Cung, mẹ của Bảo Đại, 10,000 đồng
cho ông Nguyễn Đệ, bí thư của Bảo Đại và 10,000 đồng cho một nhân vật
không nếu tên (trong tài liệu của Cao Uûy Pháp).
Tại vùng Saigon-Chợ Lớn, Bảy
Viễn không những chỉ làm chủ các ṣng bạc Đại Thế Giới và Kim Chung mà
có thể nói là y nắm giữ độc quyền về cờ bạc, y thâu thuế các ṣng bạc
nhỏ khác, y cũng làm chủ hay thâu thuế các nhà điếm như nhà thổ B́nh
Khang ở Vườn Lài, y độc quyền mua bán thuốc phiện đưa từ Lào về, ăn chia
với một số người Pháp gốc đảo Corse. Bảy Viễn cũng kiểm soát đuờng bộ
Saigon – Vũng Tàu, đường thủy Saigon – Rừng Sát, thâu thuế việc mua bán
củi và than, ḅ và heo và cả ḷ heo Chánh Hưng nữa. Phe B́nh Xuyên mở
rộng sự kiểm soát tại vùng Cần Giờ, Cần Giuôc, Cần Đước (G̣ Công) và các
toán công an B́nh Xuyên c̣n đứng thâu thuế tại các bên xe ở Vũng Tàu và
Đà Lạt nữa. Bảo Đại c̣n cử một người tay chân của Bảy Viễn là ông Lai
văn Sang làm tổng giám đốc công an và cảnh sát quốc gia nữa. Tháng
4/1952, Bảo Đại cho Bảy Viễn quân hàm thiếu tướng và qua năm sau Pháp
thưởng cho người này là thiếu tướng Nguyễn văn Viễn huy chương Bắc Đẩu
Bội Tinh nữa. Về phần Bảo Đại với vô số tiền, ông chỉ chuyên ăn chơi
hưởng lạc. Ông ở Pháp thời gian lâu hơn là ở trong nước. Trước hiệp
định Geneva năm 1954, khi nào về nước, ông ít khi ở Hanoi hay Saigon lâu,
v́ nơi nào Cao Uûy Pháp cũng dành phủ toàn quyền cũ, tượng trưng cho uy
quyền tối cao trong nước. Tại Saigon, Bảo Đại chỉ được ở và làm việc
tại dinh Gia Long, c̣n Cao Uûy Pháp làm chủ dinh Norodom, tức phủ toàn
quyền cũ, mà sau này ông Diệm đổi tên là dinh Độc Lậïp. Oâng Bảo Đại
lên Đàlạt hay đi Ban Mê Thuột, suốt này đi săn bắn, chơi các môn thể
thao, c̣n đêm th́ đánh bạc và chơi gái. Linh mục Cao văn Luận có lần
đến tiếp xúc với Bảo ĐaÏi vào năm 1948 tại biệt điện cựu hoàng ở Đàlạt
và ông thuật lại rằng: “Bảo Đại là con người chán chường và thấm mệt….
Câu chuyện kéo dài được vài phút th́ Bảo Đại có vẻ mệt nhọc lắm, nằm
chuỗi dài ra trên chiếc ghế bành”.
Tại Pháp, Bảo Đại say mê cờ
bạc, đánh thua những món tiền rất lờn tại các ṣng bạc ở Monte Calo,
tiểu xứ Monaco chẳng hạn, và tiền của, bất động sản cũng mất dần vào các
ṣng bạc. Của phi nghĩa đâu có bền. Các báo chí Âu Mỹ đều gọi Bảo Đại
và cựu Hoàng Farouk của Ai Cập, cũng ăn chơi như vậy, là “những ông vua
của các hộp đêm”.
Bảo Đại kư kết một số thỏa
ước và hiệp ước với Pháp như đă tŕnh bày, tại Vịnh Hạ Long, hiệp định
Elysée năm 1949, và các thỏa ước tại Pau năm 1950. Chính phủ Pháp có
tuyên bố nhiều lần trao trả “nền độc lập” cho VN, nhưng người Pháp vẫn
nắm giữ mọi quyền hành về quân sự, kinh tế, ngoại giao, tài chánh, hối
đoái, quan thuế. Đây chỉ là tṛ hề chính trị. Một chính khách thuộc
đảng xă hộp Pháp, ông Francois Metterand, sau này là tổng thống Pháp, đă
từng nhận xét rằng từ 1949 đến 1954 Pháp đă trao trả “nền độc lập toàn
vẹn” cho VN 18 lần, và có phải đến lúc này cần trao trả một lần mà thôi,
nhưng là thật sự.
Chính quyền Bảo Đại trở nên
một sự che đậy cho Pháp tiếp tục thống trị VN. Chính Bảo Đại cũng thừa
nhận rằng giải pháp Bảo Đại không giải quyết được ǵ cả, không phục vụ
quyền lợi của dân tộc VN, nhưng là một giải pháp của người Pháp phục vụ
quyền lợi của nước Pháp. Các vùng do quân đội Pháp kiểm soát như thành
phố Saigon chẳng hạn, đầu rẫy tham nhũng, cờ bạc, đĩ điếm, thuốc phiện
và ma túy. Các nhân vật Pháp và Việt, các thương gia, những kẻ buôn
lậu, tư sản mại bản làm giàu nhờ chuyển ngân, buôn bán đồng quan Pháp và
đồng bạc Đông Dương, vàng lá, hối mại quyền thế, đấu thầu cung cấp cho
quân đội Pháp, mậu dịch và bồi thường chiến tranh…. Thí dụ, giá một gờ
ram vàng nguyên chất tại Paris chỉ 586 quan nhưng tại Saigon là 1,300
quan, chỉ cần t́m cách chuyển vàng từ Paris về Saigon cũng kiếm được một
số tiền lớn. Một hội đồng điều tra của Quốc Hội Pháp cho rằng các tệ
doan trên là do chính quyền Pháp gây ra, và dân Việt xem Bảo Đại và các
tổng trưởng trong chính quyền của ông là công chức làm việc cho nước
Pháp.
Trong t́nh trạng như thế,
thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm thực tế vô quyền. Người thật sự có quyền là
tướng Pháp Paul Ely, cao ủy Pháp kiểm tổng tư lệnh quân đội Pháp, đóng
tại dinh Norodom của toàn quyền Pháp ngày trước tại Saigon. Tướng Ely
cầm đầu luôn cả guồng máy dân sự. Quân đội Pháp đóng giữ các vị trí
chiến lược vớ́ sự yểm trợ của các lực lượng bổ sung, như các đơn vị Binh
Xuyên dưới quyền ông Bảy Viễn, lực lượng Cao Đài vùng Tây Ninh, các nhóm
Ḥa Hảo tại tỉnh Cần Thơ và Châu Đốc, và số lính đánh thuế dưới quyền sĩ
quan tay lai Leroy ở Bến Tre nữa. Người Pháp trả lương, huấn luyện,
trang bị vũ khí và đạn dược cho những số lính này và các chỉ huy họ
thống trị các địa phương nơi họ đóng giữ. Người Pháp tổ chức các tiểu
đoàn binh sĩ VN thành quân đội “Quốc Gia Việt Nam”. Họ tuyển mộ, huấn
luyện, trang bị, trả lương và thăng thưởng các binh sĩ và sĩ quan Việt.
Họ đào tạo rất ít sĩ quan Việt và rất ít người có cấp bực trên thiếu tá
như đă từng nói trước đây. Dụng ư của Pháp là cần người Việt đi lính
làm bia đỡ đạn và công cụ cho họ, dưới quyền chỉ huy của sĩ quan Pháp.
Chỉ có bộ tư lệnh Pháp có quyền điều động “quân đội quốc gia VN” và chỉ
huy tác chiến. Pháp cử ông Nguyễn văn Hinh, con ông Nguyễn văn Tâm,
“Hùm Xám Cai Lậy” và cựu thủ tướng, làm tướng tham mưu trưởng “Quân đội
Quốc Gia”. Oâng Hinh được huấn luyện tại Pháp, có vợ đầm và Pháp tịch,
và là sĩ quan hiện dịch của không quân Pháp. Nhiều nha, sở, pḥng của
bộ tham mưu quân đội quốc gia cũng do sĩ quan Pháp phụ trách.
Về an ninh, sở tổng nha công
an cảnh sát ở dưới quyền ông Lai văn Sang, một tay chân đắc lực của Bảy
Viễn như đă tŕnh bày trước đây, người ta đồn răng Bảo Đại đă bán chức
vụ này cho B́nh Xuyên.
Về guống máy hành chánh,
không có ǵ đáng kể gọi là tự chủ hay độc lập được. Nhiều chức vụ quan
trọng trong các bộ do người Pháp hay người Việt dân Tây, lâu nay có
thành tích phục vụ Pháp nắm giữ. Cho đến năm 1954, khi ông Diệm về làm
thủ tướng, ngôn ngữ dùng trong các chính phủ Nguyễn văn Xuăn và Trần văn
Hữu là tiếng Pháp. Các tỉnh trưởng, tỉnh phó và quận trưởng là các cựu
công chức thời Pháp thuộc, hay những kẻ xu thời theo Pháp từ 1945-46.
Người Pháp vẫn điề hành tài
chánh, tư pháp và ngoại thương. Ngân hàng Đông Dương của Pháp phát hành
bạc giấy cho cả VN, Lào và Miên và phụ trách việc hối đoái nữa. Một số
ṭa án hỗn hợp Pháp – Việt được thiết lập để xét xử các vụ án liên quan
đến người Pháp với một số thẩm phán Pháp hay Việt có Pháp tịch. Các
viên chức Pháp cũng điều hành ngành quan thuế và hải cảng Saigon nữa.
Ngoài ra từ 1950, số viện trợ Mỹ cho VN cũng phải chuyển qua trung gian
Pháp.
Chính quyền cũng không cai
trị được phần lớn lănh thổ nữa. Công an B́nh Xuyên lộng hành tại vùng
Chợ Lớn, và Saigon, vùng Tây Ninh dưới quyền phe Cao Đài, c̣n các nhóm
Ḥa Hảo kiểm soát một số tỉnh miền Tây. Những nơi khác lâu nay do chính
quyền Hồ chí Minh cai trị như Cà Mâu và các tỉnh Phú Yên, B́nh Định,
Quảng Ngăi và một phần tỉnh Quảng Nam tại miền Trung, đang được tiếp thu
dần với sự rút lui của các đơn vị kháng chiến về Bắc. Nhưng đảng CS để
lại nhiều cán bộ “nằm vùng” hay “đổi vùng” sau các buổi học tập, và chỉ
thị phải hoạt động tranh đấu ra làm sao trong giai đọan sắp đến. Trong
một số đôi thị, nhất là Saigon, một số người, đảng viên CS hay thân cộng
hay nhẹ dạ nghe lời tuyên truyền ngon ngọt đă tổ chức các loại mặt trận,
hội, nhóm, nói là để bảo vệ ḥa b́nh, dân chủ và thi hành hiệp định
Geneva kiểu như luật sư Nguyễn hữu Thọ, một trí thức miền Nam theo CS và
vận động dân chúng biểu t́nh nữa.
Trong khi ấy chiến tranh đă
phá hủy, làm hư hại nhiều đường sá, cầu cống, hệ thống sông đào, kênh,
đường xe lửa, hệ thống viễn thông, bưu điện. Tại nhiều vùng, đồng ruộng
bị bỏ hoang, vô số nông dân phải rời thôn xóm về cư trú tại các thị trấn
và bị thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Cùng lúc ấy, đồng bào miền Bắc
bắt đầu di tản vào miền Nam.
Trong t́nh thế như vậy, làm
sao có thể đối phó được hiểm họa CS, với chính quyền Hồ chí Minh có quân
đội đă từng đánh thắng quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ, và đảng CS với
cán bộ đă được rèn luyện trong chiến đấu ? Bất cứ lănh tụ nào thật sự
yêu nước đều phải lập ra một chính quyền có` khả năng cai trị toàn miền
Nam, từ Nam vĩ tuyến 17 đến tận mũi Cà Mâu, có quyền chỉ huy quân đội,
công an, cảnh sát, và có đầy đủ chủ quyền trong mọi lănh vực chính trị,
kinh tế, tài chánh, ngoại tương, quan thuế …vv.. và không c̣n bị chi
phối bởi tàn tích thực dân nào cả. Miền Nam cần một chính quyền thực sự
có nền độc lập quốc gia, mới có thể lôi cuốn được sự ủng hộ của dân
chúng để chống CS.
Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm biết
qúa rơ điều này, và cố gắng làm hết ḿnh để đạt mục đích ấy. Các anh em
ông, nhất là hai ông Ngô Đ́nh Luyện và Ngô Đ́nh Nhu và các cộng tác viên
như các ông Trần chánh Thành, Trần trung Dung, Nguyễn văn Châu và nhiều
vị khác nữa vận động các giới, các tôn giáo, các nhân sĩ cùng các giai
tầng trong nước, để ủng hộ thủ tướng Diệm. Hoa Kỳ cũng cho rằng miền
Nam phải thực sự độc lập, Pháp phải từ bỏ các đặc quyền thực dân, chính
thể miền Nam mới được dân chúng ủng hộ trong sự nghiệp bảo vệ tự do
chống CS. Trong giai đoạn này họ tích cực ủng hộ ông Diệm.
Ngoài sự ủng hộ của nhiều
tầng lớp dân chúng và Hoa Kỳ, thủ tướng Diệm cũng gặp may là các thuộc
địa Pháp tại Bắc Phi nổi dậy và nước Pháp phải lo đối phó, như cần rút
quân về để đánh dẹp kháng chiến Angêri. Oâng căn cứ vào các thỏa ước đă
kư kết, thừa nhận và hoàn thành nền độc lập của VN, để đ̣i Pháp trao trả
các quyền tự chủ và tài sản của một quốc gia độc lập mà Pháp c̣n sử dụng
hay nắm giữ. Hai tháng sau ngày chính thức nắm quyền, chính quyền của
thủ tướng Diệm được Pháp chịu giao trả dinh Norodom, từng tượng trưng
cho chính quyền Pháp tại VN và Đông Dương lâu nay, cũng như phủ toàn
quyền tại Hanoi. Thủ tướng Diệm tiếp nhận và ông đổi tên là dinh Độc
Lập. Bốn ngày sau, tức 11/9/54, Pháp đồng ư hủy bỏ các ṭa án hỗn hợp
Pháp – Việt và cũng chấp nhận trên nguyên tắc chuyển sự điều hành tư
pháp, cảnh sát, an ninh công cộng và hàng không dân sự cho chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm. Giới thực dân Pháp phải chuyển lại quyền hành mà lâu nay họ
nắm giữ, nhưng họ đâu có vui ḷng. Đây có lẽ là một trong những nguyên
ngân chính đưa đến vụ thử thách đầu tiên mà thủ tướng Diệm phải đối phó:
vụ tướng Nguyễn văn Hinh, tham mưu tưởng quân đội quốc gia c̣n phụ thuộc
quân đội Pháp, bất tuân lệnh và chống lại thủ tướng.
Bất cứ nguyên thủ quốc gia
nào, ông Diệm cũng vậy, phải nắm toàn quyền chỉ huy và kiểm soát quân
đội. Nếu không có quyền chỉ huy quân đội và hệ thống an ninh, thủ tướng
chỉ làm bù nh́n và chính quyền không thể nào tồn tại được. Ban đầu, ông
Diệm và các anh em ông cố t́m cách kêu gọi và lôi cuốn tướng Hinh ủng hộ
chính phủ. Nhưng ông Nguyễn văn Hinh là hạng người bảo hoàng hơn nhà
vua, hướng về nước Pháp hơn người Pháp chính cống, lâu nay chỉ biết phục
vụ nước Pháp. Nay một vị qun cũ từ miền Trung được làm thủ tướng như
cha y, Nguyễn văn Tâm trước kia, mà lại đ̣i nước Pháp trả lại quyền hành
? Mặt khác có thể Hinh cũng muốn cha ông ta Nguyễn văn Tâm làm thủ
tướng trở lại, hoặc đă bị thực dân Pháp xúi dục hay mua chuộc, nên ông
lên tiếng chỉ trích thủ tướng Diệm và đ̣i có một chính quyền mạnh và
được dân chúng ủng hộ. Tướng Hinh công khai cho biết đang chuẩn bị đảo
chánh, và nói chỉ cần ông cầm ống điện thoại lên là lật đổ được thủ
tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Ngày 11/9/1954, thủ tướng
chánh phủ cho tướng Hinh nghỉ phép 6 tuần và rời khỏi xứ trong ṿng 24
giờ. Tướng Hinh chống lại lệnh này bằng cách lái xe mô tô đi chơi trên
các đường phố Saigon. Phe đảng Nguyễn văn Hinh điều hành đài phát thanh
quân đội lên tiếng đả kích kịch liệt thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm hàng ngày
cho đến khi đại tá Lansdale thuyết phục và cả mua chuộc được trung uư
Nguyễn văn Minh phụ trách đài phát thanh này, th́ sự đả kích mới giảm
bớt rồi chấm dứt.
Các lănh tụ B́nh Xuyên và
các giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo, cũng ra mặt ủng hộ tướng Hinh, và chỉ
trích chính phủ. Ngày 16/9/54, họ đưa ra một bản tuyên ngôn với lời lẽ
rất đạo đức, đ̣i chấm dứt t́nh trạng thối nát và giải thoát xứ sở ra
khỏi sự thống trị của ngoại bang. Họ cũng phái Bảy Viễn mang bản tuyên
ngôn này sang Pháp tŕnh cho Bảo Đại nữa. Ba ngày sau tức 19/1954,
tướùng Hinh cũng đưa ra lời tuyên bố với báo chí là chống đối thủ tướng
Diệm, và bản sao điện tín tướng Hinh đánh qua Pháp thỉnh cầu quốc trưởng
Bảo Đai can thiệp. Cũng trong ngày này, thủ tướng Diệm ra thông cáo
buộc tội tướng Hinh là bất tuân lệnh chính phủ, là phiến loạn. Tướng
Hinh liền dùng một số quân nhân tin cẩn bảo vệ ngôi nhà ông ở. Vài ngày
sau, Hinh lại cho chiến xa đậu bao quanh dinh Độc lâïp. Ba sĩ quan thân
tín của Hinh cũng đến bộ quốc pḥng đ̣a bắt tổng trưởng Lê Ngọc Chấn
nữa, như đại tá Lansdale đă chứng kiến, khi ông đến bộ quốc pḥng hôm
ây.
Vào ngày 20/9/54, 9 trong số
15 tổng trưởng trong chính phủ Ngô Đ́nh Diệm từ chức. Những vị này nghĩ
rằng chính phủ Ngô Đ́nh Diệm khó ḷng tồn tại v́ tướng Hinh tuyên bố
rằng chính phủ này và quân đội không thể song song tồn tại được. Trong
số 9 vị này có kỹ sư Phan khắc Sửu, ông Hồ thông Minh và bác sĩ Pham hữu
Chương. Bác sĩ Chương bỏ trốn đi Pháp và bị kết tội là tham nhũng và
thâm lạm công qủy. Thủ tướng Diệm lập chính phủ mới với một số người
thân tín. Oâng vận động các giáo phái, kêu gọi ḷng yêu nước của họ và
cũng t́m cách mua chuộc họ khi nào có thể. Vào lúc này, ông Diệm đă
được Hoa Kỳ cấp cho một số tiền dùng làm mật phí. Người Mỹ nói chung,
kính trọng ông Diệm về vấn đề tiền bạc, v́ ông Diệm coi thường của cải
vật chất, và có thể nói không giữ riêng cho ḿnh tài sản ǵ đáng kể.
Trong khi ấy, tướng Hinh chờ
lệnh quốc trưởng Bảo Đại để đảo chánh thủ tướng Diệm. Hinh tiếp tục cho
xe tăng và binh sĩ bao vây dinh Độc Lập với lư do là để ngăn ngừa CS
khai thác vụ khủng hoảng. Không những phe Hinh mà c̣n nhiều người cũng
cho rằng chính phủ Ngô Đ́nh Diệm chắc sẽ bị lật đổ. Nhưng ông Diệm kiên
tŕ và vững tâm đối phó. Bảy Viễn ở Pháp về, sau khi được Bảo Đại tiếp
kiến ở Cannes và bắt đầu điều đ́nh với các giáo phái Cao ĐaØi và Ḥa Hảo
để lập chính phú do y làm thủ tướng. Đại diện của tướng Hinh và các
giáo phái mưu đồ với nhau và thỏa thuận tấn công lật đổ chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm vào ngày 26/9/1954. Nhưng th́nh ĺnh, các giáo phái tin cho
Bảy Viễn biết rằng họ không đồng ư chấp nhận y cầm đầu một chính phủ
mới, và họ cũng chống lại việc tướng Hinh và Bảy Viễn yêu cầu Bảo ĐaÏi
về nước. Ngày 21/9/54, phe ủng hộ ông Diệm, do bà Ngô Đ́nh Nhu cầm đầu
th́ phải, tổ chức một cuộc biểu t́nh và tuần hành lớn để ủng hộ thủ
tướng Diệm và đả đảo Pháp. Đoàn biểu t́nh bị công an xung phong B́nh
Xuyên chận ngay tại bùng binh chợ Bến Thành, bắn chết 6 người và làm bị
thương hàng chục người. Cảnh hỗn loạn xảy ra nhiều nơi trên các đường
phố lớn ở Saigon.
Theo linh mục Cao văn Luận,
sau vụ này, ông Diệm chán nản, mất tin tưởng, nét mặt buồn thảm, thiểu
năo, ông cho biết người Pháp không thành thực, họ vẫn dựa vào bọn B́nh
Xuyên và hai cha con ông Nguyễn văn Tâm/Nguyễn văn Hinh và phá ông, gây
ra những khó khăn, ông không làm được ǵ, mọi mấu chốt quyền hành đều
nằm trong tay bọn này hết. Nhiều người gần ông Diệm khuyên ông ra đi,
nhưng ông ở lại và t́m cách đối phó. Việc công an B́nh Xuyên bắn vào
đoàn biểu t́nh cho thấy cần phải có lực lượng quân sự. Lúc bấy giờ, các
giai tầng trong xă hội và dân chúng nói chung, có thiện cảm với ông
Diệm, ḷng họ hướng về ông. Ngay cả những người không ưa thích ông, vẫn
chấp nhận và ủng hộ ông, v́ ông tượng trưng cho tinh thần yêu nước và tự
chủ, trong khi Bảy Viễn và hai cha con Nguyễn văn Tâm/Nguyễn văn Hinh là
những kẻ làm tay sai cho Pháp !
Để đối phó, thủ tướng Diệm
cho chuyển một số tiểu đoàn từ Bắc và Trung vào Nam, ông cho thay thế
một số chỉ huy trưởng, không qua hệ thống Pháp và tướng Hinh, và chỉ thị
mật cho một số tỉnh trưởng và quận trưởng tổ chức những cuộc biểu t́nh
quy mô ủng hộ ông, chống thực dân Pháp và Bảo Đại. Tại các thành phố
như Nha Trang, Huế và Saigon, nhiều cuộc biểu t́nh được tổ chức rầm rộ
và liên tiếp, cho thấy phong trào dân chúng ủng hộ thủ tướng Diệm qúa
mạnh và công an B́nh Xuyên không c̣n dám đàn áp nữa.
Dĩ nhiên ông Diệm cũng bắt
đầu tổ chức một hệ thống công an – cảnh sát riêng, khác với công an B́nh
Xuyên dưới quyền Lai văn Sang. Oâng cũng có t́m sự cộng tác của một số
người trước kia phục vụ trong hàng ngũ chống Pháp. Một số sĩ quan trong
quân đội quốc gia cũng ra mặt ủng hộ ông và chống tướng Hinh, như thiếu
tá Thái Quang Hoàng tại Phan Rang.
Trong khi ấy đại tá Lansdale
và phái đoàn quôn sự Mỹ dưới quyền ông cũng hoạt động rất tích cực.
MoÄt toán do thiếu tá Lucien Conein cầm đầu sẽ gặp lại nữa vào năm 1963
phụ trách công tác phá hoại và tâm lư chiến tại Hanoi, Hải Pḥng và miền
Bắc trước khi quân đội Pháp rút đi theo hiệp định Geneva. Họ huấn luyện
các điệp viên nằm vùng và chôn dấu vũ khí, họ tuyên truyền và vận động
đồng bào BaÉc di cư vào Nam. Mặt khác, đại tá Lansdale lo ủng hộ thủ
tướng Diệm với các công tác công khai, như giúp thành lập một tiểu đoàn
pḥng vệ phủ thủ tướng với các sĩ quan Phi Luật Tân, và nhất là những vụ
vận động, lôi cuốn và mua chuộc bí mật. Trong khi ấy, những người đại
diện ông Diệm tiếp xúc với các lănh tụ chỉ huy các lực lượng quân sự của
các giáo phái, kêu gọi ḷng ái quốc của họ và cũng điều đ́nh hay mua
chuộc, đại tá Lansdale cũng liên lạc không sót một ai, từ Tŕnh minh
Thế, Trần văn Soái tức Năm Lửa, Lâm thành Nguyên, Nguyễn giác Ngộ,
Nguyễn thành Phương, Ba Cụt ..vv..
Việc người Mỹ ủng hộ thủ
tướng Diệm chống lại phe thân Pháp gây ra sự bất măn, rồi sự va chạm
giữa các giới thực dân Pháp và người Mỹ. Tuy đă bị đại bại tại Điện
Biên Phủ và thừa nhận nền độc lập của quốc gia VN, nhiều người Pháp như
các nhà kinh doanh, một số người Việt có Pháp tịch và lâu nay phục vụ
Pháp, các chủ đồn điền cao su, trà, cà phê, các công chức Pháp tại các
công sở, nhiều sĩ quan Pháp vẫn c̣n muốn duy tŕ sự thống trị của Pháp
tại miền Nam để khai thác đến tận cùng, bằng cách lật đổ chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm và thay thế bằng một chính quyền tay sai như kiểu nội các
Nguyễn văn Xuân, trần văn Hữu, Nguyễn văn Tâm và Bửu Lộc. Số người Pháp
thực dân, v́ quyền lợi của họ, ra sức ủng hộ phe chống đối ông Diệm,
điển h́nh là tướng Hinh, phe B́nh Xuyên với Bảy Viễn.
Nhưng chính phủ và người Mỹ
vận động có kết qủa hơn. Ngày 24/9/54, một số nhân vật Cao ĐaØi và 4
lănh Ḥa Hảo tham gia chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Trong khí ấy, mối bang
giao Mỹ – Pháp đem lại những biến chuyển có lợi cho việc ông Diệm đ̣i
Pháp trả lại các quyền tự chủ cho VN. Tháng 9/1954, Pháp đồng ư tham
gia tổ chức Liên Pḥng Đông Nam Á do Hoa Kỳ thành lập, để ngăn chận sự
bành trướng của phe CS tại ĐNA. Việc Hoa Kỳ lâu nay viện trợ cho quân
đội viễn chinh Pháp tại Việt, Miên, Lào, và nay Pháp phải đối phó với
các thuộc địa Bắc Phi đ̣i độc lập hay đang nổi dậy, làm cho người Mỹ có
thể dùng áp llực đ̣i Pháp loại bỏ dần các chính sách hay biện pháp thực
dân c̣n lại tại VN, ví dụ như việc Pháp c̣n chỉ huy quân đội quốc gia
VN, c̣n đài thọ cho B́nh Xuyên và các lực lượng giáo phái bổ sung cho
quân đội Pháp, và ngay cả việc dùng ông Bảo Đại làm quốc trưởng nữa.
Các đại diện của Pháp và Hoa Kỳ họp tại thủ độ Hoa Thịnh Đốn từ ngày 27
đến 29/9/54 và thỏa thuận với nhau nhiều vấn đề quan trọng: Pháp đồng ư
để VN có quyền phát hành tiền tệ bắt đầu ngày 1/1/1955, nghĩa là chấm
dứt các hoạt động của ngân hàng Đông Dương, và từ nay VN nhận trực tiếp
viện trợ Mỹ không qua trung gian Pháp nữa. Ngoài ra, Pháp cũng chịu hủy
bỏ các thỏa ước kư kết tại Pau, Pháp quốc, giữa Bảo Đại và Pháp, cho
người Pháp quyền kiểm soát kinh tế, ngoại thương và tài chánh của VN,
chuyển quyền chỉ huy quân đội quốc gia cho chính phủ VN, để người Mỹ
huấn luyện quân đội Việt, và rút đoàn quân viễn chinh về nước khi nào
chính phủ VN yêu cầu.
Những thỏa thuận trên vẫn
được giữ kín cho đến khi thủ tướng Pháp Menès France đến viếng Hoa Thịnh
Đốn (HTĐ) ngày 20/11/54. Vài tuần lễ sau khi thủ tướng Mendès France về
nước, Hạ Viện Pháp thảo luận về những nhượng bộ của Pháp tại HTĐ và và
nội các Mendès France bị chỉ trích là đă bán đứng các quyền lợi của Pháp
tại VN bằng cách chấp nhận một “giải pháp Mỹ” vễ VN. Tổng trưởng các xứ
lliên kết Guy de la Chambre đứng lên bênh vực các thỏa thuận ở HTĐ.
Oângnói rằng hai nươci Pháp và Hoa Kỳ hiệp sức với nhau tại
Việt-Miên-Lào và chính phủ VN cam kết không đụng chạm đến các quyền lợi
kinh tế, thương mại của Pháp tại VN. Điều này cũng đúng thôi. Hoa Kỳ
can thiệp vào VN v́ nền an ninh chiến lược của Hoa Kỳ, chứ không phải
đến tranh giành các quyền lợi kinh tế của Pháp lâu nay có sẵn tại VN.
Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cũng kư hai thỏa ước về kinh tế với Pháp ngày
30/12/54 và 30/3/55 bảo đảm các quyền lợi kinh tế của Pháp tại VN, nhất
là các đồn điền cao su. Mục đích của thủ tướng Diệm là giải quyết các
vấn đề chính trị trước đă. Về chính trị, Pháp phải từ bỏ mọi tàn tích
thực dân. VN phải ḥan toàn tự chủ và độc lập mới có thể giành được sự
ủng hộ và tham gia của dân chúng chống mối đe dọa của CS từ miền Bắc.
Về quân sự, Nam VN cần viện trợ quân sự của Hoa Kỳ khi nào bị miền Bắc
tấn công với sự trợ giúp của Liên Xô, Trung Cộng và các xứ CS khác, v́
nước Pháp không c̣n có khả năng làm được việc này nữa.
Các điều thỏa thuận tại HTĐ
làm cho Pháp không c̣n có thể đài thọ các lực lượng thân Pháp như từ lâu
nay. Pháp sẽ chấm dứt trả lương ch họ. Bắt đầu từ 1955, thủ tướng Diệm
nhận viện trợ Mỹ trực tiếp và ông có ngân sách điều hành xứ sở như đài
thọ quân đội quốc gia. Như thế, các đơn vị của quân đội quốc gia cũng
như các lực lượng quân sự khác phải được đặt dưới quyền chỉ huy của thủ
tướng, nếu muốn được đài thọ.
Trong khi ấy, vụ khủng hoảng
giữa thủ tướng và tướng Hinh vẫn tiếp diễn. Tướng Hinh và phe thực dân
Pháp do phó cao ủy Jean Daridan cầm đầu, t́m mọi cách chỉ trích, đả phá
chính phủ và cá nhân thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm trên các báo chí tại Pháp,
tại Saigon, trên đài phát thanh, trong dư luận. Họ không dám đảo chánh
ngay lúc ban đầu, khi thủ tướng Diệm chưa có lực lượng quân sự để bảo vệ
chính phủ, v́ sợ Hoa Kỳ cúp ngay viện trợ nếu lật đổ chính phủ bằng bạo
lực. C̣n thủ tướng Diệm vẫn chưa đủ sức trục xuất tướng Hinh ra khỏi
xứ. Tướng hInh cứ dọa đảo chánh hếtngày này đến ngày khác. Có lần đại
tá Lansdale phải xắp xếp mời các sĩ quan thân tín của tướng của tướng
Hinh đáp phi cơ sang Manila, Phi Luật Tân, quan sát và du hí để ngăn
ngừa tướng Hinh đảo chánh nếu muốn. Có hôm, sau ngày tướng Hinh dọa đảo
chánh, đại tá Lansdale đến dinh thấy chẳng có ai canh pḥng cả, c̣n thủ
tướng Diệm vẫn thản nhiên làm việc trên lầu. Sau đấy đại tá Lansdale
nhờ tổng thống Magsaysay phái đại tá Arellano, chỉ huy trưởng tiểu đoàn
pḥng vệ phủ tổng thống Phi, sang giúp việc lập tiểu đoàn pḥng vệ cho
phủ thủ tướng và huấn luyện quân nhân của tiểu đoàn này như đă nói trước
đây.
Ngày 1/10/54, Bảo Đại khuyến
cáo thủ tướng Diệm chấp nhận các ông Nguyễn văn Hinh, Bảy Viễn và Nguyễn
văn Xuân vào chính phủ. Oâng Diệm từ chối. Tướng Hinh nhiều lần yêu
cầu quốc trưởng Bảo Đại ủng hộ ông, chống lại thủ tướng Diệm, nhưng Bảo
Đại không dám, hay cả không muốn, v́ thấy Pháp suy yếu rồi,nay cần Hoa
Kỳ giúp. Hơn nữa, tuớng Ely su khi đi họp ở HTĐ về, cũng cho Bảo Đại
biết rằng Pháp đă theo chính sách của Mỹ ủng hộ ông Diệm, và Bảo ĐaÏi
không nên làm ǵ gây ra sự bất b́nh với người Mỹ.
Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ
hết long ủng hộ thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm. Người Mỹ cho biết họ sẽ can
thiệp nếu ông Diệm bị lật đổ. Ngày 15/10/54, trong một báo cáo gởi cho
ủy ban ngoại giao thượng viện Mỹ, thượng nghị sĩ Mike Mansfield đả kích
những âm mưu lật đổ thủ tướng Diệm tại Saigon và nói rằng nếu ông Diệm
bị đảo chánh, Hoa Kỳ nên xét tức khắc việc ngưng tất cả các viện trợ cho
VN và các lực lượng liên hiệp Pháp tại Đông Dương, ngoại trừ viện trợ
nhân đạo. Chín ngày sau, tức ngày 24/10/54, TT Mỹ Dwight Eisenhower gởi
một thông điệp đến thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm xác nhận lại sự ủng hộ của
Hoa Kỳ, các lời hứa viện trợ và tin cho ông Diệm biết rằng từ đầu năm
1955, Hoa Kỳ sẽ viện trợ trực tiếp cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, không
qua trung gian của Pháp nữa. Trong văn thư này, tổng thống Mỹ cũng hy
vọng ông Diệm sẽ thực hiện những cải cách cần thiết.
Đầu tháng 11/1954, TT
Eisenhower cử một chiến hữu là tướng Lawton Collins làm đại diện tổng
thống và đặc sứ thay thế đại sứ Donald Heth. Tướng Collins đến Saigon
ngày 8/11/54 và tuyên bố rằng ông đến VN đêû mang viện trợ Mỹ có thể có
được cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và chỉ chính phủ Diệm mà thôi. Ngày
hôm sau, ông đáp phi cơ lên Đàlạt gặp tướng Ely, cao ủy và tổng tư lệnh
quân đội Pháp. Hai ông đồng ư chấm dứt vụ tướng Hinh. Ngày 18/11/54,
Bảo Đại triệu tập tướng Hinh sang Pháp tham khảo ư kiến. Dĩ nhiên tướng
Hinh đâu có muốn đi. Nhưng Pháp đă thỏa thuận với Mỹ rồi, tướng Hinh
không thể cưỡng lại được. Sáu ngày sau, tướng Hinh đáp phi cơ đi Pháp
và đến cuối tháng 11/1954, Bảo Đại ra chỉ dụ giải chức tướng Hinh. Thủ
tướng Diệm cử tuớng Lê văn Tỵ, một quân nhân ủng hộ ông, làm tham mưu
trưởng ngày 10/12/54, nhưng c̣n phải chấp nhận một người thân Pháp là
Nguyễn văn Vỹ làm tổng thanh tra.
Như thế, với sự ủng hộ của
Hoa Kỳ, thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm đă vượt qua thử thách đầu tiên trong khi
giành lại dần chủ quyền từ tay Pháp thực dân, ông cũng loại trừ được một
người Việt dân Pháp (Nguyễn văn Tâm/Nguyễn văn Hinh), mà lâu nay cả gia
đ́nh làm tay sai đắc lực cho Pháp, ra khỏi chức vụ tham mưu trưởng quân
đội, và lôi cuốn được một số sĩ quan lâu nay phục vụ trong hàng ngũ Pháp
về với chính nghĩa dân tộc, dù đa số có lẽ c̣n ở trạng thái lưng chừng
hay chờ đợi.
Ngày 3/12/54, thủ tướng kư
sắc lệnh lập Ngân Hàng Quốc Gia VN một cách gấp rút để có thể hoạt động
từ 1/1/55, khi Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho VN. Trong hai ngày 29 và
30/12/54, ông cũng cho kư kết các thỏa ước về kinh tế vàø thương mại với
Pháp, hủy bỏ các sự phụ thuộc vào Pháp trong hai lănh vực này, dù thỏa
ước ngày 30/12/54 có bảo đảm các quyền lợi kinh tế của Pháp, thí dụ các
đồn điền cao sư như đă nói đến trước đây. Oâng Diệm cũng cho lập ngay
Viện Hối Đoái để phụ trách các giao dịch về ngoại tệ của Ngân Hàng Đông
Dương mà Pháp đồng ư đóng cửa ngày 29/12/54.
Những thành tích trên làm
tăng uy tín, sự kính trọng và ḷng tin tưởng của dân chúng vào thủ tướng
Diệm rất nhiều. Ông đă tỏ ra là một người yêu nước quyết tâm giành lại
chủ quyền dân tộc, và tận diệt các tàn tích thực dân Pháp c̣n sót lại
tại miền Nam. Nhưng sự thử thách từ 7/7/54 chỉ là những trở ngại đầu
tiên. Pháp tuy đă nhượng bộ Hoa Kỳ, vẫn t́m cách đánh đổ thủ tướng Diệm.
Tháng 12/1954, khi họp với ngoại trưởng Foster Dulles và ngoại trưởng
Anh Anthony Eden, thủ tướng Pháp Mendes France c̣n đề nghị rằng Hoa Kỳ
có thể thay thế thủ tướng Diệm bằng hai cách: hoặc Bảo Đại cử Trần văn
Hữu hay Nguyễn văn Tâm hay bác siơ Phan huy Quát làm phó vương, toàn
quyền giải quyết sự xung đột tại Saigon, hoặc Bảo Đại về nước lập chính
phủ với Trần văn Hữu làm thủ tướng, Nguyễn văn Tâm phụ trách nội vụ và
bác sĩ Phan huy Quát quốc pḥng. Chính phủ Pháp Menes France muốn tái
diễn lại tṛ thống trị VN, nhưng bị bác bỏ.
Năm kế tiếp đem lại những
khó khăn mà đa số quan sát viên cho rằng thủ tướng Diệm khó ḷng vượt
qua nổi, nhưng làm nổi bật ḷng yêu nước nồng nan, đức tính can đảm và
gan dạ và sự tin tưởng vào khả năng của ông…
Xin xem tiếp
Giai đoạn cực kỳ gây cấn…
|