BÙI NHƯ HÙNG PHẢN BIỆN

 

 TÀI LIỆU    CIA   VU CÁO     NGÔ TRIỀU và

BĂNG ĐẢNG ĂN CƯỚP NGÔ Đ̀NH NHU

 

      Diem's Dynasty and the Nhu Bandits 

       
  Xin cảnh báo cùng toàn thể đồng bào:

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng khi đọc một tài liệu của CIA th́ chúng ta phải đề cao cảnh giác vô cùng. C̣n cán ngố Việt Cộng th́ hoan hỉ ca tụng.

CIA chuyên môn bịa đặt để vu cáo (họ có một bộ phận chuyên trách gọi là opinion maker), mục đích của sự bịa đặt để vu cáo đó là xúi chính phủ Hoa Kỳ phải dứt khoát giết chết mục tiêu mà cấp chỉ huy của CIA đă chủ mưu thanh toán để lấy tiền bỏ túi riêng, để hủy đi một chướng ngại vật, hay người cản trở kế hoạch của họ (của họ tức của CIA chớ không phải của Hoa Kỳ)

Kế hoạch của CIA luôn luôn là sắt máu, tức luôn luôn dă man và ngu ngốc, cho nên những người đối đầu với CIA nhất định là những người ái quốc cần kiệm liêm chính và thông minh [(nhưng họ không ngờ đến các thủ đoạn đê hèn của CIA, chuyên đâm sau lưng và vu khống, tôi đă phải mất trên 20 năm mới thu thập đầy đủ tài liệu về sự khát máu và ngu dốt của CIA)].

Do bản chất thích hợp nhau, chỉ có du đăng và VC là đồng minh của CIA. Cổ nhân có câu "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" là vậy.

Nước và lửa đối chọi, tất cả những người chính trực liêm khiết và nhân đạo luôn luôn là nạn nhân của CIA.

Đúng vậy, do tài liệu gian trá nầy mà chúng ta biết được chính thể Ngô Đ́nh Diệm vô cùng thanh liêm và trong sạch, cho nên CIA phải bịa ra tài liệu băng đảng Ngô Đ́nh Nhu buôn thuốc phiện để giết họ.

Chúng c̣n phao vu ông Nhu xem Hitler như là thần tượng, để chúng xúi Hoa Kỳ thù ghét ông.

 

V́ là tài liệu của CIA đa số đều ghi là TỐI MẬT (TOP SECRET) cho nên chỉ có chính phủ Hoa Kỳ (Tổng Thống Hoa Kỳ và một vài bộ trưởng) được đọc mà thôi. Những phúc tŕnh của CIA được chính phủ Mỹ xem như kim chỉ nam để hoạch định chính sách đối ngoại của họ, nhất là đối với các "đồng minh" đang nhận viện trợ Mỹ. Cho măi đến các thập niên 90, và nhất là vào đầu những năm 2000, do các tài liệu và những cuộc biểu t́nh của chúng tôi trước quốc hội Canada th́ bộ mặt gian trá của CIA mới bị vạch trần. Cho nên ngày nay cơ quan CIA đă hiện nguyên h́nh là con dă thú tận cùng đanh ác, khát máu, du côn chuyên vu khống để xúi chính quyền Mỹ giết tất cả những người thanh liêm chính trực.

C̣n phía Việt Nam, trong những năm 60, 70 những người như các tướng Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Trần Thiện Khiêm v.v., hay cấp đại tá như Nguyễn Văn Thiệu sau lên tướng, th́ chỉ nghe và tin theo "người Mỹ" như con chiên tin theo lời Chúa !

Kính thưa Quí vị,

Tôi sẽ phân tích sự giả trá của tài liệu Ngô Đ́nh Nhu buôn thuốc phiện nầy mà không một tên du côn cùng đồng lơa của CIA hay của Cờ Máu có thể phản biện được.

Những đoạn chính yếu sẽ được trưng dẫn ra để chứng minh rành mạch cái dă tâm gian trá phao vu một cách ngu ngốc, nhưng tác hại vô cùng.

Bùi Như Hùng  2010 - 11 - 01

 

 

 

 

 

BÙI NHƯ HÙNG PHẢN BIỆN

 

  TÀI LIỆU  CIA  VU CÁO    NGÔ TRIỀU và

 BĂNG ĐẢNG ĂN CƯỚP  NGÔ Đ̀NH NHU

Tài liệu nguyên gốc của nó là   Diem's Dynasty and the Nhu Bandits 

Bùi Như Hùng

2010-12-01

   
 
      MỤC LỤC  
    Lời Tựa  
  1.  Bằng cớ: CIA là cơ quan lưu manh chuyên lường gạt để giết người  
     1.1  CIA dùng con bé 15 tuổi để lường gạt  
     1.2  CIA dùng vi trùng than để để giết người  với mục đích lường gạt cổ súy chiến tranh  
  2.  Xă hội Do Thái băng hoại  
    2.1  Quan Chức, Giáo Sĩ buôn bán nội tạng, rửa tiền và tham nhũng  
    2.2  Chính phủ tham ô, Chủ Tịch nước hiếp dâm  
    2.3  Trẻ em bị lạm dụng t́nh dục  
    2.4  Do Thái là tổ sư Lường Gạt, ăn cướp tiền của dân  
    2.5  Quan chức Do Thái Tiêu biểu Tham Ăn    
  3. Ngô  Đ́nh Nhu nhận Thuốc phiện từ Vạn Tượng Vientiane  
  4. Ngô  Đ́nh Nhu nhận Thuốc phiện từ  máy bay thả dù  
    4.1  Cách thức buôn bán thuốc phiện theo tài liệu của CIA  
    4.2  Nghiên cứu độ cao thả dù  
    4.3  Nghiên cứu cách giao hàng  
  5. Ngô  Đ́nh Nhu có đoàn tàu bay riêng chuyên chở thuốc phiện  
    5.1  Chứng tích vu cáo của CIA  
    5.2  Phản biện  
  6.

Ngô  Đ́nh Nhu nhận tiền của CIA

 
  7. Mục đích v́ tiền của ḍng họ Ngô Đ́nh  
    7.1  Bác Mục Đích v́ TIỀN  
    7.2  Gia cảnh của Ông Bà Nhu, trùm buôn thuốc phiện  
  Kết Luận:  CIA và Do Thái là Băng đảng tận cùng dă man  

 

LỜI TỰA

Mục đích CIA vu cáo vụ buôn thuốc phiện là để giết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Nhu.

Tuần tự theo sự giải mật (có chủ đích) các tài liệu của CIA, th́ người ta nhận thức ra được rằng một số tên Do Thái dựa trên các tài liệu (giả tạo) đó mà chứng minh sự thanh toán chính quyền Miền Nam là đúng vào năm 1963.

Riêng sự giải mật về tài liệu giả tạo buôn thuốc phiện năm 1972 là cốt để cổ súy chính quyền Hoa Kỳ bỏ Miền Nam, mà Do Thái nhân cơ hội đó đă giết các tướng lănh VNCH II (Nguyễn Cao Kỳ, N Quang Trưởng, Phan Đ́nh Niệm v.v., rồi mí  đâm chết Miền Nam năm 1975 được.

 

Trong tài liệu gian trá The Politics of Heroin in Southeast Asia tuần tự theo sự tŕnh bày lớp lang của tập đoàn Do Thái mà người đọc thấy chúng thêu dệt ra một xă hội Việt Nam Cộng Ḥa chuyên đi buôn thuốc phiện, gia đ́nh trị, tham nhũng và đầy tội ác.

Tuy nhiên khi xét kỹ các sự tŕnh bày đó th́ người đọc nhận thấy rằng CIA không hề đưa một chứng cứ nào cả ngoài những lời vu cáo vu vơ nhưng rất ấn tượng giật gân của họ. Để thêm phần xác tín, họ vẽ ra cả một sơ đồ của tổ chức buôn lậu thuốc phiện (thực ra chúng dựa theo sơ đồ tổ chức của đảng Cần Lao Nhân Vị, rồi thêm vào một vài chi tiết bậy bạ).

Họ vu cáo cho ông Ngô Đ́nh Nhu (VNCH I), một số tướng lănh (VNCH II) buôn thuốc phiện khơi khơi, họ vu cáo trơ trẽn v́ họ là CIA đanh ác và nhất là họ là bọn Do Thái du côn dă man khát máu và họ biết rằng các tài liệu ngụy tạo đó sẽ gây tác dụng lên sự phán đóan của  các yếu nhân Mỹ.

 

CIA cho rằng những hồ sơ do họ tạo ra luôn luôn được liệt kê là Tối Mật (Top Secret) cho nên v́ ít người được đọc, không ai phối kiểm được, th́ họ tha hồ bịa đặt ra đủ thứ hiện tượng và sự kiện giả tưởng và ngụy tạo với mục đích xúi chính phủ Hoa Kỳ thanh toán những người mà họ cho là nguy hại đến quyền lợi và chủ trương của họ (họ đây là lũ du côn khát máu đầu năo của CIA). Do sự quyết định chính sách quốc gia thể theo các báo cáo và tài liệu gian trá của CIA, mà chính phủ Hoa Kỳ đă ứng xử như một tên du đăng khát máu ngu ngốc tận cùng đê tiện từ 50 năm nay.

Vào năm 1963, Bà Ngô Đ́nh Nhu đă từng tuyên bố rằng:" Khi đă có Hoa Kỳ là đồng minh th́ người ta không cần có kẻ thù nữa" [thật là chí lư, cho đến nay, 2011, Hoa Kỳ đă và đang triệt hạ hầu hết các đồng minh của ḿnh trong khối Á-Rập]

Một hồ sơ ngụy tạo như Băng đảng Ngô Đ́nh Nhu Ăn Cướp (Nhu Bandits) là đủ để Hoa Kỳ quyết định dứt khoát tiêu diệt chế độ TT Diệm. Trong ư niệm của chính phủ Hoa Kỳ là khi họ lật đổ TT Diệm là họ lật đổ một chính phủ buôn thuốc phiện (thật ra chính Tổng Thống Kennedy cũng không biết ḿnh bị chính CIA lừa gạt, TT Kennedy lại thường  hay đọc báo chí để thẩm định t́nh h́nh, cho nên bọn Do Thái như Neil Sheehan tha hồ giả tạo tin tức để lừa TT Kennedy)

 

JFK and the Diem Coup

Chủ mưu của CIA là như vậy, bây giờ chúng tôi xin tŕnh bày cặn kẽ tội ác của CIA đă NGỤY TẠO TÀI LIỆU NGÔ TRIỀU và BĂNG ĐẢNG ĂN CƯỚP  NGÔ Đ̀NH NHU

 

1. Bằng cớ: CIA là cơ quan lưu manh

 

chuyên đi lường gạt để giết người

đưa nước Mỹ vào con đường của TỘI ÁC

 

1.1. CIA dùng con bé 15 tuổi để lường gạt lương tâm của dân tộc Hoa Kỳ và thế giới  

Năm 1991, Saddam Hussein tấn công và xâm chiếm xứ Kuwait, v́ Saddam Hussein viện cớ rằng xứ Kuwait xưa kia là một tỉnh của Iraq. Đây là một sai lầm lớn, hay có thể do nội gián xúi dại, cho nên sự xâm chiếm nầy tạo cái cớ cho nhiều nước trong Liên Hiệp Quốc cử binh chinh phạt.

Muốn dân Hoa Kỳ tham gia chiến tranh th́ Do Thái phải lường gạt lương tâm của dân tộc Hoa Kỳ.

CIA và Do Thái cho tŕnh diện trước Ủy Ban Nhân Quyền Thượng Viện Hoa Kỳ một cô gái tên là Nayirah người Kuwait. Cô tự giới thiệu là người làm việc thiện nguyện tại bệnh viện Kuwait trong lúc Saddam Hussein xua quân xâm chiếm Kuwait, trong nước mắt đầy xúc động, cô ta kể rằng quân đội Iraq vào nhà thương Kuwait cướp lấy 100 cái lồng kiến (incubators) đang dùng để nuôi trẻ sơ sinh bịnh hoạn hay bị sinh thiếu tháng. Cô nói rằng họ vứt các em bé bịnh hoạn đó xuống nền gạch lạnh cóng, để cướp lấy các lồng kiến đem về Iraq !

Mọi người nghe cô nói đều sửng sờ, và Tổng Thống George Bush (cha) liền đăng đàn ra lệnh xuất quân quyết chiến. Hầu hết dân chúng Hoa Kỳ đều đứng sau lưng ông, họ yễm trợ "cuộc thánh chiến v́ nhân đạo" nầy.

Tuy nhiên đây là vụ lường gạt rất lớn: "cái cô gái Nayirah làm việc thiện nguyện tại nhà thương Kuwait" nói trên chỉ là một cô bé 15 tuổi, con ruột của Đại Sứ Kuwait tại New York, cô ta không hề có mặt tại Kuwait, trong mấy năm qua cô luôn luôn sống tại New York. 

Tổng thống Bush (cha) bị lừa

Toàn một lũ du côn nói láo: CIA bandits đúng 100 % đây rồi 6:07 Added to queue THE FAKED 15-YO KUWAITI GIRL TESTIMONY BEFORE C...by guyjohn59

Hành động lường gạt lương tâm của dân tộc Hoa Kỳ là một việc làm bỉ ổi! chỉ có Do Thái và CIA du côn mới thi hành những thủ đoạn như vậy.

Do đó mà chúng ta phải cẩn trọng với mọi hành vi của CIA Do Thái.

1.2.  CIA dùng vi trùng than để giết người  với mục đích  lường gạt cổ súy chiến tranh

Tại Hoa Kỳ, năm 2003 bất th́nh ĺnh có nhiều người lăn đùng ra chết khi họ vừa mở ra một cái b́ thơ có chứa bột trắng (đó là vi trùng than) mà chỉ mới thấy thôi th́ đă phải chết rồi, không chạy chữa được.

Chúng tung nguồn tin là Saddam Hussein có xưởng sản xuất hàng loạt loại vi trùng nầy. Ngày 5 tháng 2 năm 2003 CIA và Do Thái áp bức Ngoại trưởng Colin Powell ra trước

Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc thuyết tŕnh về sự tai hại của vi trùng than và ông đưa ra cho mọi người xem không ảnh chụp cơ xưởng di động của Iraq bào chế vi trùng than mà CIA chụp được.

Tổng Thống George W. Bush đăng đàn hô hào  preventive war (chiến tranh ngự pḥng) .Thế là liên quân Liên Hiệp Quốc tấn công Iraq. Chiến tranh tàn khốc, làm cho đất nước Iraq tan hoang, không c̣n điện nước, không c̣n nhà thương trường học, không c̣n thuốc men, không c̣n an minh, không c̣n công ăn việc làm.

Nhưng rồi sau 3 năm xâm chiếm Iraq, quân đội Liên Hiệp Quốc cùng vô số nhân viên điều tra không t́m thấy có dấu vết bào chế vi trùng bệnh than như tài liệu của CIA, không ai t́m thấy một con vi trùng nào. Mà trái lại do phân chất DNA, người ta biết được nguồn gốc vi trùng than đă giết người Mỹ từ các pḥng thí nghiệm của CIA và của đại học Harvard do Do Thái cầm đầu.

 Anthrax  

 

[Making the Case for War: Colin Powell at the United Nations

DOI: 10.1353/rap.2007.0043

The most fully articulated case for war in Iraq was presented in Secretary of State Colin Powell's February 5, 2003, speech to the United Nations Security Council. After establishing the context for the speech, this essay examines the strength of that case, focusing especially on structure, reasoning, and evidence. The structure was appropriate to the purpose, if somewhat unusual. Although the speech relied on argument from ignorance, this inference was reasonable in context. The fatal flaw in the speech was the unreliability of key evidence. More critical questioning of evidence at the time could have brought this problem to light and perhaps have avoided some of the consequences that followed.

 

2.  Xă hội Do Thái băng hoại

 

2.1. Quan Chức, Giáo Sĩ liên quan đến vụ buôn bán nội tạng, rửa tiền và tham nhũng.

Do Thái ở Hoa Kỳ đâu có túng thiếu mà phải hành nghề bất lương ? nhưng họ hành nghề bất lương v́ bản chất họ bất lương dă man khát máu. Có vô số tội ác của Do Thái hết sức trầm trọng, chính những bọn tội phạm nầy đă đến Việt Nam với tư cách nhân viên Hoa Kỳ, chủ nhân ông đầy quyền thế, chúng nó tha hồ chà đạp đất nước chúng ta một cách vô cùng dă man. Chúng tha hồ đàn áp dân tộc ta với những hành vi ghê rợn như rải thuốc độc vào nhà dân (bỏ thuốc sát trùng vào lu nước uống, vào cả nồi cơm đang nấu), hiếp dâm con gái đến chết, chúng giết bất kỳ ai cản trở chúng thi hành tội ác.

Không có ǵ gian ác mà Do Thái không làm, chúng hỗn xược đă vu cáo một người thánh thiện như ông Nhu là cầm đầu băng đảng buôn thuốc phiện, hay ông đă nhận tiền của CIA.

Trên thực tế, bọn du côn  đê tiện là Do Thái

Quan Chức, Giáo Sĩ liên quan đến vụ buôn bán nội tạng, rửa tiền và tham nhũng.

 

2.2.  Chính phủ Do Thái tham ô, Tổng Thống Do Thái hiếp dâm

Từ người Do Thái chóp bu, tức Tổng Thống, cho đến dân dă, Do Thái là một dân tộc của tội ác

Chính Tổng Thống Moshe Katsav phải từ chức để khỏi phải bị truy tố về tội hiếp dâm (nhưng sau nầy Kartsav vẫn bị truy tố và bị kết án tù)

Israel president risks rape charge

Thế mà cái lũ du côn nầy đă đén Việt Nam để vu cáo Tổng Thống Diệm và ông Nhu đủ điều do chúng bịa ra (rồi một phần lớn người Việt đồng lơa và gia nô đĩ điếm gnđđ@cia.us phụ họa rêu rao ra)

Vấn nạn tham nhũng ở Israel vô cùng khủng khiếp, chính Thủ Tướng Ariel Sharon cũng đă nhận hối lộ 3 triệu đô la. Nhưng chúng ta không quan tâm và không ai chỉ trích soi mói họ, trái lại chúng phịa ra sự tham nhũng trong chính quyền TT Diệm để giết VNCH cho bằng được (Đó là bản chất Do Thái khát máu).

Israel faces corruption 'epidemic'

Ariel Sharon accusé de corruption

Chính cái lũ dân Do Thái đê tiện tham nhũng vô luân, chính chúng nhảy đến Việt Nam để vu cáo chúng ta về những tội ác đó mà chúng ta không hề phạm phải.

 

2.3. Trẻ em bị lạm dụng t́nh dục

25 % trẻ em bị lạm dụng t́nh dục vô cùng đáng ngại, trong một xă hội vô cùng băng hoại (tỷ lệ 25% là vô cùng trầm trọng, đó là xă hội Do Thái vô luân điếm đàng)

 resources_for_jewish_survivors

 

2.4. Do Thái là tổ sư Lường Gạt, ăn cướp tiền của dân  

Tiêu biểu nhất của dân tộc Do Thái là tên Do Thái  Bernard Madoff, nó đă lường gạt 50 tỉ đô la, nó ăn bẩn, làm tiêu tan sự nghiệp tương lai của hàng ngàn người Mỹ, trong lúc lính Mỹ bị bắt đi đánh mọi kẻ thù của Do Thái tại Trung Đông v́ Do Thái xúi dục mấy Tổng thống Hoa Kỳ giết dân Á-Rp.

 

Bernard Madoff a plaidé coupable devant un tribunal fédéral de New York

 

2.5. Quan chức Do Thái Tiêu biểu Tham Ăn  

Quan chức tại Ngũ Giác Đài, rồi làm Giám Đốc Ngân hàng Thế Giới, rốt cuộc cái bản mặt Do Thái du côn của nó đă ḷi chành ra giữa ban ngày.

mages correspondant à wolfowitz

 - Signaler des images

Do Thái ăn tham đủ thứ trong lúc chúng đưa lính Mỹ vào chỗ chết tại các chiến trường khốc liệt để bảo vệ an ninh cho nước Do Thái Israel !

Những tên Do Thái du côn như tên Wolfowitz nầy đă từng đến Miền Nam để tàn hại dân tộc tôi

 Danh Sách Do Thái chủ mưu giết VNCH

Thật là thảm thương cho Việt Nam Cộng Ḥa !

 

3. N.Đ.Nhu nhận Thuốc phiện từ  Vạn Tượng

CIA chỉ biết vu cáo mà không hề biết logic !

Tên Do Thái Ted Shackley cũng như tên Khun Sa chuyển thuốc phiện từ Tam Giác Vàng qua ngả Chiêng Mai (Thái Lan) chứ không phải từ Vạn Tượng đến Miền Nam được.

Lư do: v́ tại Lào (Vạn Tượng) có sự hiện diện của Pathet Lao, tay sai của Bắc Việt. Nếu có sự làm ăn bất chính nào của ông Nhu tại Lào th́ Bắc Việt đă ré lên rồi. Bắc Việt có t́nh báo cùng khắp nước Lào, nhất là tại Vạn Tượng.

(Sau nầy Việt gian Cộng sản mới tha hồ chuyển thuốc phiện từ Hà Nội đi Tel Aviv.)

Mấy tên Do Thái của CIA vu cáo ông Nhu nhận thuốc phiện từ Lào, là họ không biết ǵ về bối cảnh tại Lào. Người nào tin chúng nó rồi lặp lại th́ cũng ngu ngốc không kém.

 

4. N.Đ.Nhu nhận Thuốc phiện từ  máy bay thả dù

Ngón nghề của CIA là vu cáo (do Thánh Kinh của chúng dạy cho chúng), mà buôn ma túy là sở trường trên 40 năm qua của Do Thái 1920-1960) cho đến khi chúng đặt điều vu cáo ông Nhu buôn thuốc phiện.

In the 1920s, heroin smuggling and prostitution were introduced and run primarily by Jewish gangsters.

Do đó tập đoàn Do Thái đanh ác trong năm 1962 liền khai triển một ngón đ̣n chí tử sát thủ (do Thánh Kinh dạy cho chúng) đầy ấn tượng: 

Bọn CIA tạo ra một tài liệu vu khống vô cùng kinh khiếp: là ông Nhu nhận thuốc phiện từ các máy bay Beechcraft 2 động cơ thả dù bí mật xuống Việt Nam mỗi ngày.

Do bản chất tận cùng đê tiện, lợi dụng tính chất tối mật của cơ quan CIA, Top Secret, không ai phối kiểm được, bọn Do Thái ác ôn tha hồ ngụy tạo bằng cớ giả, tội ác giả tạo để xúi chính phủ Hoa Kỳ lật đổ chính quyền VNCH, để chúng có cơ hội giết TT Diệm và ông Nhu. Đó là manh mối của những cái chết oan ức của các nhân vật uy tín Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa năm 1963.  

Chứng cớ Tội ác của Hoa Kỳ

 

4.1. Cách thức buôn bán thuốc phiện theo tài liệu CIA 

Chúng vu cáo rằng ông Ngô Đ́nh Nhu nhận thuốc phiện từ những chuyến thả dù mỗi ngày:

Sau khi Nhu đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng thuốc phiện, phi đội gồm những máy bay Beechcraft hai động cơ của Francisci bắt đầu thường xuyên (daily) thực hiện những vụ thả dù bí mật trong lănh thổ Nam Việt Nam [(27) McCoy,]

 THUỐC PHIỆN

 

Có 2 khía cạnh cần phải suy luận: cách thức buôn bán thuốc phiện mà dùng phương tiện thả dù có phù hợp không ?

 

Đây là loại máy bay 2 động cơ Beechcraft

 

Loại Beechcraft 18 hai động cơ năm 1962

Beech18

có khả năng chở 1.000 Kg đến 1500 Kg

 

 

4.2. Nghiên cứu độ cao thả dù

Chúng tạo ra một sự buôn bán vô cùng quy mô đầy ấn tượng ghê gớm vô cùng là những cuộc thả dù đó xảy ra hằng ngày (in a daily basis), tức là số lượng vận chuyển phải lớn lao và quan trọng vô cùng. Chúng nói rơ một ngh́n tấn mỗi năm  (1000 tấn/năm), tức phải cần độ 3 chuyến bay Beechcraft 18 mỗi ngày. Mỗi chiếc máy bay thả 5 cái dù, mỗi cái dù cho 200 Kg

Chúng c̣n thêm rằng thực hiện những vụ thả dù bí mật trong lănh thổ Nam Việt Nam 

Bây giờ chúng ta nghiên cứu khía cạnh bí mật của những vụ thả dù thuốc phiện hàng ngày như chúng nói.

CIA phải nói bí mật v́ dân chúng Miền Nam không hề có thấy cái vụ "thả dù" nầy [(v́ không hề có)]

Muốn thả dù 100 hay 200 kg th́ phải thả ở độ cao 150 mét tối thiểu. Muốn cho người dân khỏi thấy những vụ thả dù bí mật nầy th́ phải đuổi hết dân ra xa 5 Km (5000 mét đường bán kính) vậy diện tích khu đất an toàn là pi 3.14 nhơn cho b́nh phương của bán kính 5000 m tức

3,14 x 5000 x 5000 = 78500.000 mét vuông, tức 7 ngh́n 850 mẫu đất

tức là một diện tích không thể có tại Miền Nam !

C̣n

người Mỹ nghe nói thả dù bí mật như vậy th́ họ có thể cho là thật v́ ở Mỹ họ có nông trại cả mấy chục ngàn mẫu, họ có sa mạc mênh mông để có thể "bí mật thả dù" ! cho nên khi họ bị một thằng Do Thái nói láo về VN th́ họ cũng tưởng là thật. [họ đây là người Mỹ, là TT Kennedy trong trường hợp nầy]

 

4.3. Nghiên cứu cách giao hàng

Thuốc phiện là loại hàng quí hiếm, có trị giá rất cao, cho nên việc buôn bán phải là "lănh hóa giao ngân", khi nhận hàng th́ phải trả tiền ngay. Như vậy th́ không thể nào nhận được tiền, nếu hàng hóa thả bằng dù th́ không thể nào nhận tiền ngay !

Nếu giao hàng bằng thả dù th́ làm sao có biên nhận hàng receipt (thường bằng mật mă). Nếu phi công ăn gian, chỉ ném một cái thùng rỗng xuống, th́ ai chịu trác nhiệm ? Nếu bảo phi công thả dù 200 Kg, mà nếu nó tham, nó chỉ thả 150 Kg th́ ai ở đó để kiểm chứng ?

Như vậy rơ ràng là lũ Do Thái ngu, chuyên nói bậy bạ cà chớn.

Như vậy bọn Do Thái đă cố t́nh tạo ra một hoạt cảnh lố bịch ấn tượng để làm cho chính phủ Hoa Kỳ (ngu hơn nó một chút) phải tin theo và ra lệnh đảo chánh để chúng có cơ hội giết TT Diệm !  

 TÓM LẠI

 Đây là bằng cớ của sự gian trá:

 

Không ai đem giao thuốc phiện bằng thả dù !

Chi tiết nầy ngu hết chỗ nói.

(cái ngu hết chỗ nói  là biểu hiện của dân Do Thái)

Muốn nhận hàng bằng thả dù th́ phải có khu đất rất rộng hơn 7 ngàn mẫu (vậy những khu đất đó ở đâu ?)

Đôi khi v́ gió xoay chiều, kiện hàng có thể rơi rớt trật mục tiêu !

Thả dù dễ bị phác giác. Dân địa phương dễ nhận ra: nghe tiếng máy bay và thấy dù rớt xuống.

Dân Việt Nam chưa một người nào thấy hay biết đến việc  thả dù thuốc phiện bao giờ, do đó

Chúng ta nhận chân ra được và xác quyết:

Tài liệu nầy của CIA hoàn toàn giả tạo,

Tôi phát hiện ra chi tiết nầy để đánh đổ hoàn toàn sự khả tín của sự biên soạn của Alfred W. McCoy (rồi sau đó là Bradley S. O'Leary & Edward Lee) dựa trên các tài liệu bịa đặt và ngụy tạo của CIA.

CIA ngu dốt muốn làm ra vẻ quan trọng bằng cách nói tàm xàm việc thả dù thuốc phiện để tạo ấn tượng ghê gớm làm cho người đọc bị lôi cuốn vào cái bẫy họ phịa ra. Rồi thằng ngu Alfred W. McCoy đồng lơa cho in ấn ra để mạ lỵ chính phủ ta.

Buôn thuốc phiện rất đặc biệt, thuốc phiện có giá rất cao, nhất định phải "lănh hóa giao ngân" tức là "tiền trao cháo múc", c̣n thả dù thuốc phiện th́ làm ǵ nhận được tiền ngay, hoặc làm ǵ có kư nhận bằng mật mă  đem về cho chủ ?

 [mấy người ngồi tại Nhà Trắng ở  Washington D.C. làm ǵ biết được chi tiết then chốt nầy, cho nên CIA tha hồ phịa, tha hồ bịa đặt một cách ngu ngốc, v́ tài liệu của CIA là top secret ]

Chi tiết thả dù là do bọn ngu ngốc bịa đặt rồi tung ra với chủ mưu ám mụi để làm cho người đọc ngu dốt bị lôi cuốn vào sự ghê gớm sensational của vụ buôn bán giả tưởng của chúng ("bằng cách thả dù thuốc phiện mỗi ngày"), trên đời nầy chỉ có sự ngu ngốc của cán ngố là cùng tŕnh độ với Do Thái CIA (Cán ngố khi mới vào xâm chiếm Miền Nam thường khoe rằng: Ngoài Bắc cái ǵ cũng dư thừa: cà-rem ăn không hết phải đem phơi khô, tủ lạnh chạy đầy đường, điện xài không hết phải đem xuống sông mà đổ, máy bay Nga Sô bay vào núp trong đám mây rồi tắt máy chờ máy bay Mỹ đến là nhào ra bắn hạ).

Tất cả những người ở Washington DC tin theo các tài liệu quá lố bịch ngu ngốc như vầy của CIA đều là những thằng đần.

Những thằng đần đó là :

- các Tổng Thống Hoa Kỳ

- các Tổng Bộ Trưởng Hoa Kỳ

- các Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ

- các Dân Biểu  Hoa Kỳ

- các kế hoạch gia Hoa Kỳ

- các Tướng Lănh Hoa Kỳ

- các cơ quan an ninh, t́nh báo  Hoa Kỳ

- các giáo sư đại học Hoa Kỳ

- các kư giả Hoa Kỳ

- các tên viết sách như Alfred McCoy

- mấy tên Việt Nam dịch, nêu cao tài liệu ngu nầy

chúng nó đều ngu như nhau

Toàn là một lũ đần đă dựa theo các tài liệu giả trá nầy để lấy những quyết định sắt máu để giết Miền Nam để giết những người trong sạch và tài đức của Miền Nam, mà CIA đă vu cáo họ buôn thuốc phiện, bạch phiến. Cho nên anh em TT Diệm đă chết v́ tài liệu giả trá nầy.

Ngô Đ́nh Nhu buôn Thốc Phiện

 

5. Ngô Đ́nh Nhu có đoàn tàu bay riêng chuyên chở thuốc phiện

Khi nói rằng ông Nhu nhận thuốc phiện từ những chuyến thả dù, CIA cảm thấy chưa đủ ghê rợn, bọn phịa lại thêm một hệ thống vận chuyển mới: phi đội vận chuyển thuốc phiện từ Lào đến Tân Sơn Nhất dưới sự bảo trợ của Ngô Đ́nh Nhu (quyền lực tối thượng bao che) để vận chuyển thuốc phiện xuất cảng đi nhiều nơi trên thế giới, mà nhân viên hải quan không dám đụng tới ! Ghê chưa.

5.1. Bằng cớ vu cáo của CIA

Nguyên văn

Thậm chí Nhu c̣n tăng năng suất đều đặn trong hai năm 1961 và 1962 bằng cách huy động Đội Vận tải số 1 của riêng ông (chuyên hoạt động t́nh báo trên không, thỉnh thoảng bay phối hợp với CIA) vào việc đó (28).

Nói như vậy để cầu chứng là nhân viên CIA biết rất rơ v́ đôi khi (thỉnh thoảng bay phối hợp) bay chung trong hệ thống vận chuyển đó. Như vậy th́ sự việc CIA báo cáo (láo) không thể sai trật. Tất cả những tên Do Thái phịa ra để giết người là chúng bôi vôi trét cứt lên mặt Tổng Thống Do Thái, lên mặt Thủ Tướng Do Thái, lên mặt nhân dân Do Thái.

(cho đến nay chưa có một người Do Thái nào phản biện lời cáo gian của Do Thái).

5.2. Phản Biện 

Sự vu cáo của CIA rất lố bịch v́ nếu ông Nhu đoàn tàu bay riêng

th́

a-) đă có nhiều người biết

Thực tế không có 1 ai thấy 1 chiếc máy bay nào, tất nhiên CIA nói láo.

b-) nếu buôn thuốc phiện th́ ông Nhu đă giàu sụ, con cái có xe Mercedes bóng loáng, nhà cửa khang trang.

thế mà ông Nhu không có ngôi nhà nào lộng lẫy cả, Con cái không có xe

Trái lại:

Trong 30 năm nay  tôi cố t́m một cái h́nh màu của gia đ́nh TT Diệm

c-) nếu ông Nhu có đoàn tàu bay đó th́ ngày 1 tháng 11 - 1963 th́ ông Nhu và TT Diệm đă bay ra khỏi Việt Nam rồi !

Nhất là sau đảo chánh th́ bọn tướng lănh phản thùng phải thấy có cái đoàn máy bay nầy chớ ! có ai thấy chiếc nào đâu !

V́ CIA phịa ra để xúi Hoa Kỳ giết TT Diệm, mà khi sợ điều tra ra manh mối th́ chúng sẽ nguy, cho nên chúng chủ mưu giết luôn TT Kennedy.

 Hoa Kỳ dễ sợ

 

6. Ngô Đ́nh Nhu nhận tiền của CIA

Chúng phịa ra thêm rằng ông Nhu nhận tiền của CIA

Who is Who on the Payroll of CIA

  Ai nhận tiền của CIA

Tài liệu nầy do một tên Do Thái là Bobby Ghost khai  gian ra.

Như trên đă nói nếu CIA đă "biết ông Nhu buôn thuốc phiện" th́ ông ta phải giàu sụ, làm ǵ chẳng được. Như vậy th́ tại sao ông ta lại có tên trong danh sách phát tiền của CIA ?

Chung qui ra

Chúng ăn gian nói dối quen rồi cho nên chúng không c̣n biết đă nói những ǵ. Hể điều ǵ dơ dáy là chúng nói ông Nhu có nhúng tay vào.

Cái vô liêm sĩ của Do Thái đă khiến các dân tộc khác giết chúng như giết côn trùng từ 2000 năm nay !

Mà nếu nói ông Nhu có tên trong danh sách phát tiền của CIA th́ ông Nhu không hề buôn thuốc phiện.

Trên thật tế ông Nhu không nhận tiền của CIA, và cũng không buôn thuốc phiện.

 

7. Mục Đích v́ Tiền của ḍng họ Ngô Đ́nh

7.1. Bác Mục Đích V́ TIỀN:

Chúng phịa rằng cần tiền cho nên ông Nhu phải buôn thuốc phiện. Nêu ra nguyên do v́ cần tiền rất dễ được nhiều người chấp nhận nhất là mấy thằng vô lương Hoa Kỳ. Nhưng nếu v́ tiền th́ TT Diệm đă cho Mỹ mướn Cam Ranh rồi. Chính cái đạo đức uyên nguyên của TT Diệm mà người Mỹ không hề đụng đến Cam Ranh được. Giết TT Diệm th́ Hoa Kỳ sẽ có cơ may chiếm đoạt Cam Ranh, họ đă làm và họ đă thành công.

7.2. Gia cảnh của Ông Bà Nhu

Để nh́n rơ vấn đề, chúng ta phải khách quan

Trong 30 năm nay  tôi cố t́m một cái h́nh màu của gia đ́nh TT Diệm

Gia đ́nh ông Nhu không có se sua, không có tiền mặt.

Về nhà ở th́ thể theo cuộc phỏng vấn ông Cao Xuân Vĩ, ông Minh Vơ ghi lại như sau:

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không? 

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn t́m cách phỏng vấn bà Ngô Đ́nh Nhu mà không sao được. Chẳng rơ tại sao ông ta biết nhà tôi, t́m đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đă từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hăy c̣n quyến luyến ngôi nhà hai pḥng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đă lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phân nửa.

Ông Cao Xuân Vĩ nói vê Việc ông Nhu gặp Phạm Hùng tại rừng Tánh Linh

 

Thế th́ làm ǵ có việc Ngô Đ́nh Nhu là trùm buôn thuốc phiện.

Cho nên ngay sau 1 tháng 11 năm 1963, bà Nhu đă không có tiền để trả khách sạn đă ở khi qua Mỹ "giải độc" trong tháng 10 - 1963.

Để có chút tiền c̣m, bà Nhu đă đ̣i hỏi những kư giả phóng vấn phải trả tiền. Cử chỉ nầy không thể có nơi một gia đ́nh chuyên buôn thuốc phiện.

V́ gia cảnh túng quẩn như vậy th́ gia đ́nh bà Nhu không thể là gia đ́nh buôn thuốc phiện.

 

KẾT LUẬN: CIA và Do Thái là Băng đảng tận cùng dă man

Do cái tính du côn di truyền đă trên 3 ngàn năm, từ thời tổ tông ở cái xưa Ca-na-an, mà bọn Do Thái đă chủ mưu vu khống ông Ngô Đ́nh Nhu buôn thuốc phiện để xúi cho chính phủ Kennedy t́m cách đảo chánh Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa, nhân cơ hội đó CIA mới giết được Tổng Thống Diệm và bào đệ của ông.

Chúng tôi đă chứng minh ngay cả bọn giáo sĩ của Do Thái Giáo, có của dư ăn dư để tại New Jersey, mà v́ do bản tính gian tham ác ôn mà họ đă nhúng tay vào tội ác máu.

Do đó mà chúng ta xác quyết là những tên Do Thái trong cơ quan CIA đă lợi dụng tính cách Top Secret  của các tài liệu mật của CIA mà họ đă không ngần ngại tạo ra hồ sơ "Nhu buôn thuốc phiện". Chúng ta biết được gian kế của CIA là do Alfred W. McCoy viết sách mạ lỵ "nhà Ngô" dựa trên các tài liệu tối mật đó do CIA gian trá thiết lập ra trong các năm đầu thập niên 60 để chủ mưu giết chính thể Ngô Đ́nh Diệm một cách ám muội.

CIA c̣n gian trá làm những phúc tŕnh ngụy tạo khác về chính quyền Ngô Đ́nh Diệm khiến TT Kenedy có cái nh́n sai lầm về Đệ Nhất VNCH. [("Many feel that he is unable to rally the people in the fight against the Communists because of his reliance on one-man rule, his toleration of corruption even to his immediate entourage, and his refusal to relax a rigid system of controls."  (33)]

Rồi bọn b́nh luận gia Việt Nam thuộc thành phần gia nô phản tặc của CIA gnpt@cia.us dựa vào đó như là một bằng chứng để mạ lỵ và phê b́nh Đệ I VNCH.

Toàn bộ những người Do Thái trong CIA đă ám toán VNCH với những thủ đoạn hạ cấp, họ dă lợi dụng tính cách bảo mật tuyệt đối TOP SECRET dành cho các tài liệu của cơ quan gián điệp CIA để tha hồ ngụy tạo ra những "chứng cứ" vô cùng gian trá (những tài liệu đó có rất ít người được đọc, cho nên không bị phản biện lúc đó, mặc dù đó là những tài liệu bịa đặt vô cùng ấu trĩ, nhưng tác hại của nó th́ không thể nào lường được).

Chúng tôi đă chứng minh sự thả dù bí mật thuốc phiện là không thể thực hiện được, v́ làm như vậy th́ người dân Việt Nam đă thấy và đă biết. Nhưng tài liệu nầy lừa gạt được Tổng Thống John F. Kennedy.

Cho nên sự sơ hở của lũ Do Thái gian trong cơ quan côn đồ CIA đă giúp chúng ta giải tỏa vấn đề "ông Nhu buôn thuốc phiện" một cách dễ dàng.

Hoa Kỳ, sau cái chết của Tổng Thống Diệm, đă hiện nguyên h́nh là con quái thú ác ôn bội tín ngu ngốc nhất trong lịch sử loài người.

Sai Lầm Nghiêm Trọng Chưa Từng Thấy Trong Lịch Sử

Tài liệu The Politics of Heroin in Southeast Asia Diem's Dynasty and the Nhu Banditsbằng cớ của sự đanh ác của Do Thái rơ ràng như ban ngày, chúng bịa đặt ra trong mục đích cố hữu là xúi Hoa Kỳ t́m giết những người tài danh và đức độ trên thế giới.

Tôi xác quyết trước lịch sử:

cái tài liệu vu cáo TOP SECRET The Politics of Heroin in Southeast Asia Diem's Dynasty and the Nhu Bandits nầy là ḥan ṭan giả tạo v́ Alfred McCoy cố t́nh chỉ dựa vào lời khai gian trá của Lucien Conein và Mai Hữu Xuân, hai tên nầy là hai nhân viên của CIA, chúng là hung thủ chủ chốt trong vụ mưu sát TT Diệm và ông Nhu. Ngoài hai tên gián điệp của CIA nầy ra, McCoy không có chứng cớ nào khác.

Với cái tài liệu vu cáo TOP SECRET The Politics of Heroin in Southeast Asia Diem's Dynasty and the Nhu Bandits nầy TT Diệm và ông Nhu không thể nào thoát chết ("thả dù hàng ngày", "có phi đoàn chở thuốc phiện từ Lào") v́ những tên đại ma đầu buôn thuốc phiện như vậy tất phải giàu lắm, cho nên cuộc tra tấn để khảo của do bọn Mai Hữu Xuân thực hiện ở Tổng nha Cảnh sát, đă để lại nhiều vết bầm trên cơ thể của hai nạn nhân. - Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.           [Trên chiếc xe M113]

Tài liệu do lời khai của nhân viên của  CIA, do McCoy viết thành sách, sau nầy lại có sự xác nhân của viên Tổng Thanh Tra General Inspector của CIA lại dựa theo sách của McCoy để xác quyết Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Ḥa đều buôn thuốc phiện!  Danh dự của dân Miền Nam không c̣n nữa do chúng liên thủ phao vu chúng ta

 

Kính thưa Quí vị,

Dân Do Thái đă tàn mạt cả mấy ngàn năm, nhưng chứng nào tật nấy, luôn luôn có những tên tận cùng đê tiện vô liêm sĩ tạo ra bằng cớ giả để chủ mưu giết người.

Hoa Kỳ đă cứu vớt dân Do Thái khỏi nạn diệt chủng 1945, đă cưu man họ và dành mọi ưu đăi cho họ, thế mà họ c̣n ḅn rút tài sản [(Madoff)], c̣n buôn cơ phận nạn nhân như ở New Jersey [(nội tạng)], như xúi dân Hoa Kỳ hy sinh xương máu và tài sản ngút ngàn tại Trung Đông [American People  Have To Die] th́ cái ǵ họ không thể làm, vụ ngụy tạo tài liệu ông Nhu buôn thuốc phiện là một trong những chứng tích hùng ḥn nhất mà chúng ta có được về sự đanh ác của Do Thái.

Để nguyền rủa chúng, thế gian không đủ chữ.

Kính thưa Quí vị,

trong mấy mươi năm tôi không t́m ra lư do Hoa Kỳ cứ đ̣i TT Diệm cải tổ chính phủ và loại ông Nhu ra khỏi chính trường (Nhu must go). Th́ bây giờ chúng ta mới có đáp số ró ràng trước mắt:

đó là do cái tài liệu Nhu bandits vu khống nầy.

Nhờ nghiên cứu những bằng cớ mà Do Thái ngụy tạo ra để ám hại cá nhân tôi tại ṭa án h́nh sự Montreal mà tôi t́m hiểu và minh chứng những ngón đ̣n cực kỳ đanh ác của Do Thái bày ra để ám toán Đệ Nhất VNCH như tôi tŕnh bày trên đây. Mà cũng nhờ nghiên cứu phương cách chúng ám toán "nhà Ngô" mà tôi đă thoát hiểm

Phần phản biện tài liệu The Politics of Heroin in Southeast Asia Diem's Dynasty and the Nhu Bandits của chúng tôi chấm dứt sự mạ lỵ của lũ cuồng khấu CIA và Do Thái đối với Đệ Nhất VNCH.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmail.com

  

 

     Tại sao nhất định ông Ngô Đ́nh Nhu phải chết, xin mời  đọc tài liệu bổ túc

Nghi Án Nguyễn Tường Tam                                                                                                  

     Đă đưa lên liên mạng ṭan cầu ngày 01-01-2012

 

 

 

 

 

 Nhận định:  Hoa Kỳ là một lũ đanh ác và gian manh vô cùng tận,

 

Chúng hè nhau lường gạt cả thế giới.

Ai c̣n tin bọn du côn Hoa Kỳ là ngu

 

Do bản chất du côn, CIA chuyên dùng tài liệu giả mạo để vu cáo với mục đích xúi chính phủ Mỹ giết người

 

Khi chúng gọi là Nhu bandits, là lúc CIA biến

 

Ṭa Nhà Trắng thành chuồng HEO

 

Quốc hội thành chuồng B̉

     

 

 

Quyền hành ǵ mà Hoa Kỳ cho một lũ du côn người Mỹ đến xứ tôi để mạ lỵ và vô cớ giết người ?

Ngày nào mà Hoa Kỳ không xin lỗi về vụ vu cáo ông Ngô Đ́nh Nhu buôn thuốc phiện,

Ngày nào mà Hoa Kỳ chưa trả lại danh dự cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu th́ tôi vẫn gọi 2 cái cơ sở của tội ác nầy là Chuồng HeoChuồng Ḅ v́ họ cấp ngân sách cho CIA để đi giết người.

CIA không hề biết liêm sĩ là ǵ

CIA Ác Ôn

 

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmail.com

  

Cái sai lầm lớn nhất của CIA là đụng đến Việt Nam, mà CIA lại không biết rằng ở Việt Nam có một người tên là Bùi Như Hùng.

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2010

 

 

 

 

TÀI LIỆU NẦY là CHỨNG TÍCH TỘI ÁC của DO THÁI

 

 

Diem's Dynasty and the Nhu Bandits

 - [ Traduire cette page ]
The Politics of Heroin in Southeast Asia. Diem's Dynasty and the Nhu Bandits ... opium traffic, The beginnings of armed insurgency in the countryside and ...
www.drugtext.org/library/.../McCoy/.../35.htm - En cache - Pages similaires

The Politics of Heroin in Southeast Asia

Diem's Dynasty and the Nhu Bandits
 

Shortly after the Binh Xuyen gangsters were driven out of Saigon in May 1955, President Diem, a rigidly pious Catholic, kicked off a determined antiopium campaign by burning opium-smoking paraphernalia in a dramatic public ceremony. Opium dens were shut down, addicts found it difficult to buy opium, and Saigon was no longer even a minor transit point in international narcotics traffic. (15) However, only three years later the government suddenly abandoned its moralistic crusade and took steps to revive the illicit opium traffic, The beginnings of armed insurgency in the countryside and political dissent in the cities had shown Ngo Dinh Nhu, President Diem's brother and head of the secret police, that he needed more money to expand the scope of his intelligence work and political repression. Although the CIA and the foreign aid division of the State Department had provided generous funding for those activities over the previous three years, personnel problems and internal difficulties forced the U.S. Embassy to deny his request for increased aid. (16)

But Nhu was determined to go ahead, and decided to revive the opium traffic to provide the necessary funding. Although most of Saigon's opium dens had been shut for three years, the city's thousands of Chinese and Vietnamese addicts were only too willing to resume or expand their habits. Nhu used his contacts with powerful Cholon Chinese syndicate leaders to reopen the dens and set up a distribution network for smuggled opium. (17) Within a matter of months hundreds of opium dens had been reopened, and five years later one Time-Life correspondent estimated that there were twenty-five hundred dens operating openly in Saigon's sister city Cholon. (18)

To keep these outlets supplied, Nhu established two pipelines from the Laotian poppy fields to South Vietnam. The major pipeline was a small charter airline, Air Laos Commerciale, managed by Indochina's most flamboyant Corsican gangster, Bonaventure "Rock" Francisci. Although there were at least four small Corsican airlines smuggling between Laos and South Vietnam, only Francisci's dealt directly with Nhu. According to Lt. Col. Lucien Conein, a former high-ranking CIA officer in Saigon, their relationship began in 1958 when Francisci made a deal with Ngo Dinh Nhu to smuggle Laotian opium into South Vietnam. After Nhu guaranteed his opium shipment safe conduct, Francisci's fleet of twin-engine Beechcrafts began making clandestine airdrops inside South Vietnam on a daily basis. (19)

Nhu supplemented these shipments by dispatching intelligence agents to Laos with orders to send back raw opium on the Vietnamese air force transports that shuttled back and forth carrying agents and supplies. (20)

While Nhu seems to have dealt with the Corsicans personally, the intelligence missions to Laos were managed by the head of his secret police apparatus, Dr. Tran Kim Tuyen. Although most accounts have portrayed Nhu as the Diem regime's Machiavelli, many insiders feel that it was the diminutive ex-seminary student, Dr. Tuyen, who had the real lust and capacity for intrigue. As head of the secret police, euphemistically titled Office of Social and Political Study, Dr. Tuyen commanded a vast intelligence network that included the CIA-financed special forces, the Military Security Service, and most importantly, the clandestine Can Lao party. (21) Through the Can Lao party, Tuyen recruited spies and political cadres in every branch of the military and civil bureaucracy. Promotions were strictly controlled by the central government, and those who cooperated with Dr. Tuyen were rewarded with rapid advancement. (22) With profits from the opium trade and other officially sanctioned corruption, the Office of Social and Political Study was able to hire thousands of cyclo-drivers, dance hall girls ("taxi dancers"), and street vendors as part-time spies for an intelligence network that soon covered every block of Saigon-Cholon. Instead of maintaining surveillance on a suspect by having him followed, Tuyen simply passed the word to his "door-to-door" intelligence net and got back precise, detailed reports on the subject's movements, meetings, and conversations. Some observers think that Tuyen may have had as many as a hundred thousand full- and part-time agents operating in South Vietnam. (23) Through this remarkable system Tuyen kept detailed dossiers on every important figure in the country, including particularly complete files on Diem, Madame Nhu, and Nhu himself which he sent out of the country as a form of personal "life insurance. (24)

Since Tuyen was responsible for much of the Diem regime's foreign intelligence work, he was able to disguise his narcotics dealings in Laos under the cover of ordinary intelligence work. Vietnamese undercover operations in Laos were primarily directed at North Vietnam and were related to a CIA program started in 1954. Under the direction of Col. Edward Lansdale and his team of CIA men, two small groups of North Vietnamese had been recruited as agents, smuggled out of Haiphong, trained in Saigon, and then sent back to North Vietnam in 1954-1955. During this same period Civil Air Transport (now Air America) smuggled over eight tons of arms and equipment into Haiphong in the regular refugee shipments authorized by the Geneva Accords for the eventual use of these teams. (25)

As the refugee exchanges came to an end in May 1955 and the North Vietnamese tightened up their coastal defenses, CIA and Vietnamese intelligence turned to Laos as an alternate infiltration route and listening post. According to Bernard Yoh, then an intelligence adviser to President Diem, Tuyen sent ten to twelve agents into Laos in 1958 after they had completed an extensive training course under the supervision of Col. Le Quang Tung's Special Forces. When Yoh sent one of his own intelligence teams into Laos to work with Tuyen's agents during the Laotian crisis of 1961, he was amazed at their incompetence. Yoh could not understand why agents without radio training or knowledge of even the most basic undercover procedures would have been kept in the field for so long, until he discovered that their major responsibility was smuggling gold and opium into South Vietnam. (26) After purchasing opium and gold, Tuyen's agents had it delivered to airports in southern Laos near Savannakhet or Pakse. There it was picked up and flown to Saigon by Vietnamese air force transports which were then under the command of Nguyen Cao Ky, whose official assignment was shuttling Tuyen's espionage agents back and forth from Laos. (27) Dr. Tuyen also used diplomatic personnel to smuggle Laotian opium into South Vietnam. In 1958 the director of Vietnam's psychological warfare department transferred one of his undercover agents to the Foreign Ministry and sent him to Pakse, Laos, as a consular official to direct clandestine operations against North Vietnam. Within three months Tuyen, using a little psychological warfare himself, had recruited the agent for his smuggling apparatus and had him sending regular opium shipments to Saigon in his diplomatic pouch. (28)

Despite the considerable efforts Dr. Tuyen had devoted to organizing these "intelligence activities" they remained a rather meager supplement to the Corsican opium shipments until May 1961 when newly elected President John F. Kennedy authorized the implementation of an interdepartmental task force report which suggested:

In North Vietnam, using the foundation established by intelligence operations, form networks of resistance, covert bases and teams for sabotage and light harassment. A capability should be created by MAAG in the South Vietnamese Army to conduct Ranger raids and similar military actions in North Vietnam as might prove necessary or appropriate. Such actions should try to avoid the outbreak of extensive resistance or insurrection which could not be supported to the extent necessary to stave off repression.

Conduct overflights for dropping of leaflets to harass the Communists and to maintain the morale of North Vietnamese population . . . . (29)

The CIA was assigned to carry out this mission and incorporated a fictitious parent company in Washington, D.C., Aviation Investors, to provide a cover for its operational company, Vietnam Air Transport. The agency dubbed the project "Operation Haylift." Vietnam Air Transport, or VIAT, hired Col. Nguyen Cao Ky and selected members of his First Transport Group to fly CIA commandos into North Vietnam via Laos or the Gulf of Tonkin. (30)

However, Colonel Ky was dismissed from Operation Haylift less than two years after it began, One of VIAT's technical employees, Mr. S. M. Mustard, reported to a U.S. Senate subcommittee in 1968 that "Col. Ky took advantage of this situation to fly opium from Laos to Saigon. (31) Since some of the commandos hired by the CIA were Dr. Tuyen's intelligence agents, it was certainly credible that Ky was involved with the opium and gold traffic. Mustard implied that the CIA had fired Ky for his direct involvement in this traffic; Col. Do Khac Mai, then deputy commander of the air force, says that Ky was fired for another reason. Some time after one of its two-engine C-47s crashed off the North Vietnamese coast, VIAT brought in four-engine C-54 aircraft from Taiwan. Since Colonel Ky had only been trained in two-engine aircraft he had to make a number of training flights to upgrade his skills; on one of these occasions he took some Cholon dance hall girls for a spin over the city. This romantic hayride was in violation of Operation Haylift's strict security, and the CIA speedily replaced Ky and his transport pilots with Nationalist Chinese ground crews and pilots. (32) This change probably reduced the effectiveness of Dr. Tuyen's Laotian "intelligence activities," and forced Nhu to rely more heavily on the Corsican charter airlines for regular opium shipments.

Even though the opium traffic and other forms of corruption generated enormous amounts of money for Nhu's police state, nothing could keep the regime in power once the Americans had turned against it. For several years they had been frustrated with Diem's failure to fight corruption, In March 1961 a national intelligence estimate done for President Kennedy complained of President Diem:

"Many feel that he is unable to rally the people in the fight against the Communists because of his reliance on one-man rule, his toleration of corruption even to his immediate entourage, and his refusal to relax a rigid system of controls." (33)

The outgoing ambassador, Elbridge Durbrow, had made many of the same complaints, and in a cable to the secretary of state, he urged tha Dr. Tuyen and Nhu be sent out of the country and their secret police be disbanded. He also suggested that Diem make a public announcement of disbandment of Can Lao party or at least its surfacing, with names and positions of all members made known publicly. Purpose of this step would be to eliminate atmosphere of fear and suspicion and reduce public belief in favoritism and corruption, all of which the party's semi-covert status has given rise to. (34)

In essence, Nhu had reverted to the Binh Xuyen's formula for combating urban guerrilla warfare by using systematic corruption to finance intelligence and counterinsurgency operations. However, the Americans could not understand what Nhu was trying to do and kept urging him to initiate "reforms." When Nhu flatly refused, the Americans tried to persuade President Diem to send his brother out of the country. And when Diem agreed, but then backed away from his promise, the U.S. Embassy decided to overthrow Diem.

On November 1, 1963, with the full support of the U.S. Embassy, a group of Vietnamese generals launched a coup, and within a matter of hours captured the capital and executed Diem and Nhu. But the coup not only toppled the Diem regime, it destroyed Nhu's police state apparatus and its supporting system of corruption, which, if it had failed to stop the National Liberation Front (NLF) in the countryside, at least guaranteed a high degree of "security" in Saigon and the surrounding area.

Shortly after the coup the chairman of the NLF, Nguyen Huu Tho, told an Australian journalist that the dismantling of the police state had been "gifts from heaven" for the revolutionary movement:

"... the police apparatus set up over the years with great care by Diem is utterly shattered, especially at the base. The principal chiefs of security and the secret police on which mainly depended the protection of the regime and the repression of the revolutionary Communist Viet Cong movement, have been eliminated, purged." (35)

Within three months after the anti-Diem coup, General Nguyen Khanh emerged as Saigon's new "strong man" and dominated South Vietnam's political life from January 1964 until he, too, fell from grace, and went into exile twelve months later. Although a skillful coup plotter, General Khanh was incapable of using power once he got into office. Under his leadership, Saigon politics became an endless quadrille of coups, countercoups, and demicoups, Khanh failed to build up any sort of intelligence structure to replace Nhu's secret police, and during this critical period none of Saigon's rival factions managed to centralize the opium traffic or other forms of corruption. The political chaos was so severe that serious pacification work ground to a halt in the countryside, and Saigon became an open city. (36) By mid 1964 NLF-controlled territory encircled the city, and NLF cadres entered Saigon almost at will.

To combat growing security problems in the capital district, American pacification experts dreamed up the Hop Tac ("cooperation") program. As originally conceived, South Vietnamese troops would sweep the areas surrounding Saigon and build a "giant oil spot" of pacified territory that would spread outward from the capital region to cover the Mekong Delta and eventually all of South Vietnam. The program was launched with a good deal of fanfare on September 12, 1964, as South Vietnamese infantry plunged into some NLF controlled pineapple fields southwest of Saigon. Everything ran like clockwork for two days until infantry units suddenly broke off contact with the NLF and charged into Saigon to take part in one of the many unsuccessful coups that took place with distressing frequency during General Khanh's twelve-month interregnum. (37)

Although presidential adviser McGeorge Bundy claimed that Hop Tac "has certainly prevented any strangling siege of Saigon, (38) the program was an unqualified failure. On Christmas Eve, 1964, the NLF blew up the U.S. officers' club in Saigon, killing two Americans and wounding fifty-eight more. (39) On March 29, 1965, NLF sappers blew up the U.S. Embassy. (40) In late 1965, one U S. correspondent, Robert Shaplen of The New Yorker, reported that Saigon's security was rapidly deteriorating:

These grave economic and social conditions [the influx of refugees, etc.] have furnished the Vietcong with an opportunity to cause trouble, and squads of Communist propagandists, saboteurs, and terrorists are infiltrating the city in growing numbers; it is even said that the equivalent of a Vietcong battalion of Saigon youth has been taken out, trained, and then sent back here to lie low, with hidden arms, awaiting orders. . . . The National Liberation Front radio is still calling for acts of terror ("One American killed for every city block"), citing the continued use by the Americans of tear gas and cropdestroying chemical sprays, together with the bombing of civilians, as justification for reprisals . . . . (41)

Soon after Henry Cabot Lodge took office as ambassador to South Vietnam for the second time in August 1965, an Embassy briefer told him that the Hop Tac program was a total failure. Massive sweeps around the capital's perimeter did little to improve Saigon's internal security because

The threat-which is substantial-comes from the enemy within, and the solution does not lie within the responsibility of the Bop Tac Council: it is a problem for the Saigon police and intelligence communities. (42)

In other words, modern counterinsurgency planning with its computers and game theories had failed to do the job, and it was time to go back to the tried-and-true methods of Ngo Dinh Nhu and the Binh Xuyen bandits. When the French government faced Viet Minh terrorist assaults and bombings in 1947, they allied themselves with the bullnecked Bay Vien, giving this notorious river pirate a free hand to organize the city's corruption on an unprecedented scale. Confronted with similar problems in 1965-1966 and realizing the nature of their mistake with Diem and Nhu, Ambassador Lodge and the U.S. mission decided to give their full support to Premier Nguyen Cao Ky and his power broker, Gen. Nguyen Ngoc Loan. The fuzzy-cheeked Ky had a dubious reputation in some circles, and President Diem referred to him as "that cowboy," a term Vietnamese then reserved -,for only the most flamboyant of Cholon gangsters. (43)

  

 

 

 

1972 CIA Inspector General Report Confirms Heroin Complicity

Excerpt of comments by:

Alfred W. McCoy, professor of Southeast Asian history at the University of Wisconsin; author of "The Politics of Heroin: CIA Complicity in the Global Drug Trade" (Lawrence Hill, 1991) and "The Politics of Heroin in Southeast Asia" (1971).

At "Drugs, Impunity and the CIA" A seminar sponsored by the Center for International Policy's Intelligence Reform Project Dirksen Senate Office Building, November 26, 1996

Heroin Production

The CIA's policy of tolerance towards its Laotian allies did not change even when they began producing heroin to supply U.S. combat forces fighting in South Vietnam.

In 1968-69, CIA assets opened a cluster of heroin laboratories in the Golden Triangle, the tri-border area where Burma, Thailand, and Laos converge. When Hmong officers loaded opium on the CIA's Air America and the Lao Army's commander opened a heroin laboratory to supply U.S. troops in Vietnam, the Agency was silent. In a secret internal report compiled in 1972, the CIA's inspector-general said the following to explain their inaction:

The past involvement of many of these officers in drugs is well known, yet their goodwill. . . considerably facilitates the military activities of Agency-supported irregulars.

All this heroin was smuggled into South Vietnam where, by 1971, according to a White House survey, 34 percent of U.S. troops were addicted.

Instead of trying to restrain drug trafficking by its Laotian assets, the Agency engaged in concealment and cover-up. Professor McCoy recalled that when he went to Laos to investigate in 1971, the Lao army commander graciously opened his opium accounts but the U.S. mission stonewalled. In a Hmong village, where he was investigating opium shipments on Air America, CIA mercenaries ambushed his research team. A CIA operative threatened to murder his Lao interpreter unless he quit.

When his book was in press, the CIA's Deputy Director for Plans pressured his publisher to suppress it and the CIA's general counsel demanded deletions of all references to Agency complicity. After the book was published unaltered, CIA agents in Laos pressed his sources to recant and convinced investigators from the House Foreign Affairs Committee that his allegations were baseless.

Simultaneously, the CIA's inspector-general conducted a secret internal investigation that confirmed his allegations. "The war has clearly been our overriding priority in Southeast Asia and all other issues have taken second place," the inspector-general said in defense of their inaction on drugs. "It would be foolish to deny this, and we see no reason to do so."

 

SMACK TO CRACK AND THE OUTLAW GOVERNMENT

By 1971 the greatest threat to the 400,000 member U.S. military force that had invaded Vietnam was not Communist firepower or lack of air support, it was heroin. Ninty to ninty nine percent pure, No. 4 heroin was being sold at roadside stands by Vietnamese children, in army camps, and at sidewalk cigarette stands throughout downtown Saigon. The heroin epidemic was considered so pervasive that one U.S. authority told a Newsweek reporter that "Heroin is wrecking the U.S. Army and creating a whole new class of American addicts.

As the heroin epidemic surged through the force structure the army's Criminal Investigation Division (CID) uncovered incriminating evidence that South Vietnam Major General Ngo Dzu, commander of II Corps, was " one of the chief traffickers" in the country. The CID investigation also revealed that the Chief of the Laotian general staff, General Ouane Rathikone, was "deeply involved." The conclusion's of the army investigation were sent, through channels, to the U.S. Embassy in Saigon which ignored the findings and assembled a spirited defense of General Ngo Dzu. "There is no information available to me that in any shape, manner or fashion would substantiate the charges" declared the U.S. advisor to General Dzu.

That high officials in the South Vietnamese, Laotian, and Thai governments were controlling the heroin industry should have been as shocking as the information conveyed to the police chief in the classic movie ""Casablanca"" when told of gambling at Rick's American Cafe.

The Central Intelligence Agency had been in Indochina since at least l949 and formed allegiances with groups who had been trafficking in opium for centuries. The CIA facilitated the transport logistics of the opium trade among it's allies as part of it's mission, first to initiate a covert invasion of the People's Republic of China using KMT irregulars, then in it's effort's in support of the U.S. invasion of South Vietnam. Shocking to some, unbelievable to others, and consistently denied by the U.S. government, the U.S. Government and CIA at best ignored, or as the record will show actively participated in the facilitation of the illegal drug industry, that was "wrecking the U.S. Army".

Operation PAPER, a covert CIA/KMT invasion of China supported by Civil Air Transport (CAT) a CIA proprietary airline was resoundingly crushed by Chinese soldiers in l951. Two more invasions of China were attempted as the CIA inaccurately predicted, as they would in Cuba in l961, that large number's of Chinese would spontaneously rise and join the fight. Each abortive invasion met the same fate at the first. 66 After these defeats the war lords of the KMT consolidated control of the Thai Burma border areas, expanded their tradition of opium production and shipped much of it's contraband to Bangkok not only on mules but also on CAT C-47's.

After delivering arms from Bangkok many KMT reloaded the transports with opium for the return trip. This aspect of the KMT's existence was hardly covert as the New York Times reported detailed accounts of the KMT's drug trafficking as early as l952. 67 26. As the Chinese Peoples Liberation Army were repeatedly crushing the CIA/KMT incursions the French were struggling to hold their colonial possessions in Southeast Asia. The war against the Vietnamese had become increasingly unpopular in France and the French intelligence and paramilitary operatives in Vietnam turned increasingly to the opium business for financial resources.

Dubbed OPERATION X, this covert initiative came to control most of the opium trade and incorporated Corsican gangsters for the purposes of export. 69 Service de Documentation Extrieure et du Contre Espionage (SDECE) was the French equivalent of the CIA and it's program of using illegal drugs to finance an unwanted war was top secret, known only by a few high ranking French officials. The SDECE used it's planes to transport drugs from the highlands into the urban markets and mobilized drug gangs to fight the liberation forces.

After the French defeat in l954 the U.S. began it's direct involvement to protect the Vietnamese from what President Eisenhower described as the "red ruler's godless goons". South Vietnam President Diem decided to fight the "godless goons" by resurrecting the French drug distribution network. As opium could not be grown in Vietnam it had to be imported from Laos by air and the CIA's CAT (now called Air America) and Vietnamese First Air Transport Group, under the command of Col. Nguyen Ky (later Premiere) became the mules.

By l960, CIA asset and head of the South Vietnamese secret police, Ngo Dinh Nhu, working with Cholon Chinese syndicates had increased the number of opium dens to 2,500 and incorporated Corsican mobsters as part of the transport logistics. The secret police had a well developed drug infrastructure with Col. Ky's air force providing most of the transit bypassing customs and using air force bases as distribution hubs. By l968-69 the Golden Triangle was producing over 1,000 tons of raw opium, much of which was now being refined into heroin for shipment to Europe, the U.S., and South Vietnam.

The CIA reported in l971 that much of the Golden Triangle increases in production "appears to be due to the sudden increase in demand by a large and relatively affluent market in South Vietnam". This, of course, was a reference to the 500,000 U.S. troops now stationed in Vietnam who could buy high grade no. 4 heroin everywhere, from road side stands to 14 year old street dealers. In l971 New York Congressman Seymore Halpern reported that up to sixty thousand U.S. troops in South Vietnam were either addicted or users of heroin. Other estimates placed the number as high as 15 percent prompting Newsweek to report in part ""heroin addiction among U.S. troops is reaching epidemic proportions and, in the view of many American officers, now poses a greater threat to the young soldiers in Vietnam than Communist firepower does".

The Air America fleet, another CIA proprietary which included Iran Contra Air Force officer Richad Secord as its logistics person, became a factor in solidifying the power of Hmong leader Vang Pao, who was given the authority to approve rice delivery's and opium pickups to remote villages. These villages had been separated by rugged mountain terrain and the introduction of air communications not only unified these tribes but provided them with advanced capabilities of marketing their opium. "By flying bundles of raw opium from remote villages to refineries, the CIA allowed the Hmong to continue their cash crop income, thus reducing the Agency's direct costs in maintaining tribal households."

Much of the opium transhipped by Air America was converted into no. 4 heroin for the GI market in South Vietnam. In l958, after a neutralist government was elected in Laos, prohibited by John Foster Dulles in the Grand Arena, the CIA financed a right wing political coalition. Within three months, the neutralist government was replaced by the right wing which included Cabinet Minister Phoumi a CIA asset. Phoumi had controlled the Laotian opium traffic working in collusion with Corsican and Chinese smugglers and went on to open opium dens in Vientiene, the capital city.

In l962 Phoumi moved to consolidate his control over the opium trade by establishing links with Burmese traffickers. He appointed Laotian Army General, Ouane Rattiake, Chairman of the Laotian Opium Administration and within several months Ouane brought the first major opium caravans across the Mekong River. General Ouane went on to become one of the largest drug traffickers in the Golden Triangle using Laotian C-47s and helicopters to open new trading relations with KMT and Shan brokers. One of the largest shipments he is known to have organized was a winding mile long 16 ton load carried over the jagged mountain terrain on a 300 pack horse caravan, guarded by five hundred Laotian soldiers.

This caravan provoked a battle that came to be known in the media as the l967 Opium War. The confrontation, between KMT drug units and the Shan warlords who were delivering the drugs, was a fight to control the traffic in this region. General Ouane entered the fight with Laotian jets and a paratroop battalion decisively defeating the opposing forces and retrieved the 16 tons of opium, The drug war between the KMT's 1,400 troops and Ouanes 1,800 paratroopers was reported in the U.S. media, however, it's deeper implications and the connections with heroin sales to U.S. GI's were overlooked. General Ouane consolidated this victory by displacing the KMT forces from the Burmese border and using the Laotian army to tax opium shipments.

Ouane operated five heroin refinery's producing no.4 and his operation became the lead processor for Burmese opium. This massive heroin operation was widely know to be operating including a Time magazine article that reported "the kingpin of the Laotian opium trade is General Ouane... He is reputed to own one of Laos's two major opium refineries, and five smaller refineries scattered along the Mekong". Ouane, the Laotian Chief of Staff, whose army was largely funded by the U.S., held a press conference with U.S. reporters in l971 where he was quoted as saying "the opium traffic was a good thing, since it provided the Meo (Hmong) tribesmen with a livelihood and kept them out of the hand of the Communist Pathet Lao." Ouanes candor was apparently too much for the CIA as he was reportedly forced to resign his army position several weeks later, but not from his drug operations.

 

BEFORE CRACK THERE WAS "SMACK"
HEROIN AND BLACK GHETTO'S

Ouane, in the finest traditions of free market enterprenuership, responded to the GI demand for No.4 by marketing his own brand name "Double U-O Globe" heroin and increasing production to 10 kilos per day. Double U_O Globe was following U.S. troops home as 8 kilos were seized in New Jersey and 16 kilos in New York in November l971. These large seizures, the GI problem and increasing media attention led to President Nixon's "war on drugs". Announced in June of 1971 Time magazine reported that the problem had become exacerbated since it (heroin addiction) had been traditionally "confined to black urban ghettos" and now it appeared the "disease has come to invade the heartland of white, middle class America."

Fearing that heroin was moving beyond the politically and racialy segregated ghettos, Nixon declared a "national emergency" and using rhetoric future politicians would borrow and build upon pronounced that "America's Public Enemy No. l is drug abuse". Part of Nixon's "War on Drugs" included cooperation between U.S. drug enforcement personnel and police of other nations. In 1971, the U.S. Bureau of Narcotics (DEA) sent a team of agents to Laos to investigate the problem. Upon their arrival they were prevented from conducting investigations by the U.S. Embassy, the CIA, and the Laotian government.

The U.S. Embassy, apparently unaware of "America's Pubic Enemy No. 1", defended this action by claiming that U.S. narcotics agents would be violating Laotian sovereignty as Laos had no legal prohibitions against drugs. The State Department, which was then demonstrating it's respect for the principle of sovereignty in neighboring Vietnam, was concerned that any pressure on the drug traffickers might damage the war effort.

The CIA and U.S. government role in the Southeast Asian drug trade was considered logical and pragmatic in a region where opium had been a primary cash commodity for centuryies. Opium was and is a mammoth agro-business in this area just as coca in the Andean nations of South America. Covert aggression required alliances with "powerful warlords who necessarily deal in drugs" in the U.S. war against Communist's who did not, as the experience in post revolutionary China demonstrated. The CIA in l972 denied any involvement in the drug trade while expressing "some concern that local officials with whom we are in contact... have been or may be still involved in the drug business". The CIA went to explain that alliances with Laotian military officers whose drug connections were well known while their "goodwill facilitates Agency military irregulars".

The report concluded with the observation that the war had been the "overiding priority" and all other issue "have taken second place. It would be foolish to deny this, and we see no reason to do so".

<BACK><OUTLINE><HOME>

 

  

 

 

 

 

 

NGUYÊN NHÂN của SỰ TIẾT LỘ TÀI LIỆU MẬT trong HIỆN VỤ:

 

Sau khi đến Canada, trong mấy mươi năm tôi luôn luôn thắc mắc là tại sao chính quyền Hoa Kỳ, nhất là TT Kennedy, lại chủ mưu đảo chánh và giết TT Diệm. 

Nhiều tài liệu của Hoa Kỳ tiết lộ là họ nằng nặc đ̣i ông Nhu phải ra đi.

C̣n tại sao ông Nhu phải ra đi, th́ họ không nêu lư do.

Chúng đă lủng đọan dư luận Hoa Kỳ và thành công đảo chánh năm 1963.

Ngoài ra để giết Miền Nam th́ CIA liền đưa tài liệu giả tạo cho Alfred McCoy, để tên nầy viết ra thành sách họ tiếp tục mạ lỵ bằng cái tài liệu giả. Hơn nữa báo Mỹ lại c̣n đăng Tướng Nguyễn Cao Kỳ xem Hitler là thần tượng.

 

KẾ SÁCH:

Mục đích của kế sách của chúng là biến các nhân vật then chốt Miền Nam thành những thành phần bất hảo. Buôn thuốc phiện, khiến dư luận khinh bỉ.

CIA c̣n phịa ông Ngô Đ́nh Nhu xem Hitler là thần tượng, để giết Đệ I VNCH

Thêm một bằng cớ của bọn ngu chuyên đi vu cáo

CIA c̣n ngụy tạo tài liệu Tướng Nguyễn Cao Kỳ xem Hitler là thần tượng, để giết Đệ II VNCH,

c̣n như xem Hitler là thần tượng th́ chỉ có thành phần Do Thái sắt máu mới có tư tưởng dă man đó.

Độc giả (gồm các nhân vật của chính trường Mỹ) của những tài liệu vu cáo phải đi đến kết luận là phải diệt đi cái thể chế của tội ác đó.

 

Để đối phó lại

CIA cho nhân viên tiết lộ tài liệu TỐI MẬT "Ngô Đ́nh Nhu buôn thuốc phiện" và các đường dây buôn lậu thuốc phiện từ Miền Nam để cho McCoy viết và in thành sách đế phổ biến (CIA cũng giả đ̣ xin ṭa án Hoa Kỳ cấm chỉ McCoy không được in ấn tài liệu tối mật nầy, nhưng chính CIA cũng biết rơ ṭa án sẽ bác bỏ lời yêu cầu của CIA).

 

 

Đến khi tôi kiện chính phủ Hoa Kỳ tại ṭa thượng thẩm Montreal, th́ CIA tiêu ḷn bí mật đưa cho quan ṭa biết về vụ "băng đảng ông Nhu buôn thuốc phiện" (trong sách McCoy) cho nên ṭa thượng thẩm Montreal xử tôi thua, rồi ṭa án tối cao supreme court Canada xử y án.

 

Do đó mà chúng ta mới biết được cái tài liệu then chốt nầy. 

 

Đây là tài liệu then chốt giải tỏa nghi vấn to lớn của lịch sử cận đại về nguyên nhân Hoa Kỳ chủ mưu đảo chánh năm 1963. Các nạn nhân đă bị cơ quan dă thú khát máu CIA chủ mưu ngụy tạo bằng cớ giả để giết những người tốt đă chống lại sự tham tàn của Do Thái ngu ngốc.

 

Cái ngu của CIA không biết tôi kiện TT Hoa Kỳ để mà thua (nhưng tôi được cái khác, và CIA đă trúng kế).

 

Trân trọng,

 

Bùi Như Hùng

2010

 

 

 

   
   
   
   

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage