HIẾN
PHÁP
ĐỆ NHẤT
CỘNG H̉A VIỆT NAM
VIỆT
NAM CỘNG H̉A
Tổng
Thống Việt Nam Cộng Ḥa
Chiếu kết quả cuộc Trưng
Cầu Dân Ư ngày 23 tháng
10 năm 1955 ;
Chiếu Hiến Ước tạm thời
số 1 ngày 26 tháng 10
năm 1955 ;
Chiếu dụ số 8 ngày 23
tháng Giêng năm 1956
thiết lập Quộc Hội Lập
Hiến,
TUYÊN BỐ :
Nay ban hành
Hiến Pháp Việt Nam
Cộng Ḥa, do Quốc Hội
Lập Hiến biểu quyết
ngày 20 tháng 10
năm 1956.
Sàig̣n, ngày
26-10-1956
Kư Tên. NGÔ Đ̀NH
DIỆM |
- chữ màu nâu là nguyên văn của
Hiến Pháp
- chữ màu xanh và nghiêng là lời
Thẩm Định của Bùi Như Hùng
| |
MỤC LỤC
của phần THẨM ĐỊNH |
|
|
|
A |
NHẬP
ĐỀ |
|
PHẦN I : PHÂN TÍCH
HIẾN PHÁP |
|
Ă |
Ư
NGHĨA |
|
 |
MINH ĐỊNH LẬP TRƯỜNG VÊ
ĐẤT NƯỚC |
|
B |
MINH ĐỊNH VÊ CHỦ QUYỀN
NGƯỜI CÔNG DÂN |
|
C |
MINH ĐỊNH VÊ TÍNH CÁCH
TỔNG THỐNG CHẾ |
|
D |
TINH THẦN QUỐC GIA DÂN
TỘC |
| |
D1 |
Căn Bản |
| |
D2 |
Bổn Phận Công Dân |
|
Đ |
TỔNG THỐNG CHẾ |
| |
Đ1 |
Căn Bản Tổng Thống Chế |
| |
Đ2 |
Đặc Quyền của Tổng Thống |
|
E |
QUỐC HỘI |
| |
E1 |
Căn bản |
| |
E2 |
Đặc Quyền Quốc Hội |
| |
E3 |
Tinh Thần |
|
Ê |
TƯ PHÁP |
| |
Ê1 |
Căn Bản |
| |
Ê2 |
Đặc quyền Tư Pháp |
|
G |
ĐẶC BIỆT PHÁP VIỆN |
| |
G1 |
Căn Bản |
| |
G2 |
Đặc Quyền Tối Thượng |
|
H |
TRỌNG TÂM KINH TẾ |
| |
H1 |
Căn Bản:
Thành phần hội đồng bao
quát |
| |
H2 |
Tinh Thần |
|
I |
CHÍNH NGHĨA |
|
K |
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP |
|
PHẦN II : THẨM
ĐỊNH HIẾN PHÁP |
|
L |
ĐẶT TRỌNG TÂM VÀO QUỐC
HỘI |
|
M |
TÍNH CHẤT TÍN NGƯỠNG DÂN
TỘC |
|
|
M1 |
Căn Bản |
|
|
M2 |
Công Bằng và Tự do tín
ngưỡng |
|
N |
VĂN MINH NHÂN BẢN |
|
O |
KẾT LUẬN |
| |
|
|
A.] NHẬP ĐỀ :
| |
Toàn bộ Hiến Pháp Việt Nam Cộng
Ḥa 1956 được phân tích từng
điều, từng đoạn, có khi từng chữ,
rồi tổng hợp ư hướng của Hiến
Pháp trong một tinh thần trong
sáng và xây dựng để độc giả có
căn bản suy tư về một bản văn
bất hủ được khai sinh ra trong
một bối cảnh vô cùng đặc biệt và
trong một thời kỳ lịch sử trọng
đại của quốc gia Việt Nam.
|
|
Chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một Hiến Pháp nào trên
thế giới đạt được 2 khía cạnh:
Tiên tiến và Bảo vệ Truyền thống
Dân tộc trong mục đích
phát triển toàn diện con người như Hiến Pháp VNCH
1956.
Dư luận chung của nhiều người
nghiên cứu về thể chế Việt Nam
Cộng Ḥa đều cho rằng ông
Ngô Đ́nh Nhu là kiến trúc sư của
Hiến Pháp VNCH 1956.
Cũng đúng thôi, v́ nếu xét cho
đến rốt ráo của cơ chế căn bản
của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt
Nam th́ ông Ngô Đ́nh Nhu, trong
tác phong, hành động và tư tưởng
qua các tác phẩm siêu việt của
ông [CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM]
th́ Hiến Pháp VNCH 1956 là sự
gởi gắm cho hậu thế một văn bản
bất hủ của một bậc tài danh đă
từng tốt nghiệp École Nationale
des Chartes tại Paris và ông đă
từng trông coi thư viện tại VN.
Từng hàng, từng chữ của
HpVNCH1956 nói lên niềm tự hào
dân tộc và niềm tin mănh liệt
vào tương lai tươi sáng của đất
nước. Đây là bằng cớ hùng hồn
của
ḷng ái quốc của quí vị lănh
đạo thời Đệ Nhất VNCH.
Có nhiều b́nh luận gia danh
tiếng chỉ trích nặng nề
HpVNCH1956 v́ tuy họ có kiến
thức sâu rộng nhưng lại bị các
tài liệu xảo trá và ngụy
tạo dùng để xuyên tạc
bôi nhọ "nhà Ngô" [tỉ như
HQ401 Chứng cớ Tội Ác Phao vu của CIA,
Băng Đảng
của Ngô Đ́nh Nhu
...] mà họ đă có những lời phê
b́nh thiên lệch, hoàn toàn
sai quấy và lố bịch.
Tất cả những lời phê b́nh của
tất cả những nhà báo, luật gia,
chính trị gia Việt Nam sau ngày
1 tháng 11 - 1963 đều bị ảnh
hưởng của những tài liệu giả mạo
của CIA vô luân, đă trơ trẽn vu
cáo chính thể NĐD cho nên những
tài liệu phê b́nh đó dù ít dù
nhiều cũng đăng tải định kiến
thiên lệch cho nên không có giá
trị ǵ nhiều.
Trong những thập niên 50, rồi 60
đến 70, người ta tin ở tài liệu
của CIA như con chiên tin vào
Thánh Kinh, chính phủ Hoa Kỳ dựa
vào các tài liệu của CIA và
dùng làm kim chỉ nam cho các
quyết định của họ (cho măi đến
sau nầy, CIA mới ḷi chành cái
bộ mặt tận cùng đê tiện và gian
trá, th́ nước VN đă lănh
đủ mọi hậu quả rùng rợn).
Những phê b́nh
gia đó dù tài giỏi (như GS Thạc
Sĩ Nguyễn Văn Bông,
về Luật Pháp th́ không ai giỏi
hơn GS Bông) cũng không
có đủ khả năng về Hiến Pháp bằng
một người đă tốt nghiệp École
Nationale des Chartes: chính ở
cái điểm nầy mà tôi đă suy nghĩ
và viết ra sự nhận định
của ḿnh về
Hiến Pháp VNCH 1956,
nền tảng của Đệ Nhất Việt
Nam Cộng Ḥa.
PHẦN I
PHÂN TÍCH HIẾN PHÁP
Ă.]
Ư NGHIĂ :
Chưa có một bản văn nào
minh
định rơ ràng tinh thần dân tộc
Việt Nam bất khuất như
LỜI MỞ
ĐẦU
của Hiến Pháp với
hoài vọng
bao la trong một tương lai huy
hoàng của đất nước:
Sự tươi đẹp nhất của
LỜI MỞ
ĐẦU
là đă nêu ra 2 yếu tố
-
lịch sử đấu tranh oai hùng của
tổ tiên
và
-
ư chí quật cường của toàn dân
do đó mà tác giả của
LỜI MỞ
ĐẦU
phát biểu sự
Tin
tưởng vào tương lai huy hoàng
bất diệt của Quốc gia và Dân tộc
Việt Nam
với ư chí và niềm tin mănh liệt
vào quốc gia dân tộc (chứ không
muốn ăn bám vào đế quốc dù đỏ dù
xanh).
Cái hoài vọng và chủ
trương của nhà lănh đạo ái quốc của đệ Nhất VNCH là
xây dựng một nền văn minh và
nhân bản bảo vệ phát triển con
người toàn diện.
Thật là tươi đẹp
! với chú tâm
xây dựng một nền văn minh và
nhân bản
và Mục đích chính và cũng
là mục đích tối hậu là
bảo vệ phát triển con
người toàn diện
chứ không phải để phục vụ
cho một chủ nghĩa, hay cho nhiệm vụ thế giới đại đồng hoặc tôn thờ một đấng thần
linh của bất cứ một tín ngưỡng nào cả.
Càng đọc càng suy nghĩ càng thấy
tính chất siêu việt của nhà Lập Hiến: đây là một Tuyên Ngôn trước Quốc Dân vừa
thoát ách thống trị của thực dân ác ôn và nhất là
vừa thoát khỏi áp lực rùng rợn chặt đầu mổ bụng của Cờ Máu
Việt Minh.
LỜI MỞ
ĐẦU
Tin
tưởng vào tương lai huy hoàng
bất diệt của Quốc gia và Dân tộc
Việt Nam mà lịch sử tranh đấu
oai hùng của tổ tiên và ư chí
quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin
tưởng ở sự trường tồn của nền
văn minh Việt Nam, căn cứ trên
nền tảng duy linh mà toàn dân
đều có nhiệm vụ phát huy ;
Tin
tưởng ở giá trị siêu việt của
con người mà sự phát triển tự
do, điều ḥa và đầy đủ trong
cương vị cá nhân cũng như
trong
đời sống tập thể phải là
mục
đích của mọi hoạt động Quốc gia
;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập
hiến :
Ư
thức rằng Hiến pháp phải thực
hiện nguyện vọng của nhân dân,
từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là :
Củng cố Độc lập chống mọi h́nh
thức xâm lăng thống trị :
Bảo
vệ tự do cho mỗi người và
cho
dân tộc ;
Xây
dựng dân chủ về chính trị, kinh
tế, xă hội, văn hóa cho toàn dân
trong sự tôn trọng nhân vị ;
Ư
thức rằng quyền hưởng tự do chỉ
được bảo toàn khi năng lực phục
tùng lư trí và đạo đức, khi nền
an ninh tập thể được bảo vệ và
những quyền chính đáng của con
người được tôn trọng ;
Ư
thức rằng nước ta ở trên con
đường giao thông và di dân quốc
tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp
nhận các trào lưu tư tưởng tiến
bộ để ḥa thành sứ mạng trước
đấng Tạo Hóa và trước nhân loại
là xây dựng một nền văn minh và
nhân bản bảo vệ phát triển con
người toàn diện.
Sau
khi thảo luận, chấp thuận bản
Hiến pháp sau đây :
Chủ đích dân tộc độc lập, cương
quyết chống xâm lăng là định
kiến của các nhà lập hiến lúc
bấy giờ, mà suy tư của họ đă
được diễn đạt thật hào hùng và
quyết liệt trong niềm tự hào
nơi chính
dân tộc Việt Nam.
(về 3 chữ
đấng Tạo Hóa
xin xem mục
Tính chất Hữu thần của Tín
ngưỡng Dân tộc
ở
phần
M .]
dưới đây).
Â.] MINH ĐỊNH LẬP TRƯỜNG về ĐẤT NƯỚC:
Sự minh định vô cùng rơ ràng
Việt Nam Độc lập, Thống nhất,
lănh thổ bất khả phân
và cũng minh định
từ
Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan ;
THIÊN
THỨ NHẤT
Điều khoản Căn bản
Điều 1. –
Việt Nam là một nước Cộng ḥa,
Độc lập, Thống nhất, lănh thổ
bất khả phân.
B.]
MINH ĐỊNH về
CHỦ QUYỀN của CÔNG DÂN:
Sự minh định như sau
Điều 2. –
Chủ quyền thuộc về toàn dân.
Quyền hạng và ư nghĩa của Hành
pháp và lập pháp rất rơ:
Điều 3. –
Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp
cho Tổng thống dân cử, và nhiệm
vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do
dân cử.
Sự
phân nhiệm giữa hành pháp và lập
pháp phải rơ rệt. Hoạt động của
các cơ quan hành pháp và lập
pháp phải được điều ḥa.
C.]
MINH ĐỊNH TÍNH CÁCH TỔNG THỐNG
CHẾ:
Tổng thống lănh đạo Quốc dân.
Sự nêu rơ
Tổng thống lănh đạo Quốc dân
là minh định Tổng Thống Chế. Sự
lănh đạo nầy là tượng trưng Quốc
Gia Dân Tộc mà không thêm một
quyền hạn đặc biệt ǵ. Quyền hạn
của Tổng tống được minh định bởi
các điều khoản sau
đó từ điều 30 đến điều 46).
Một vài nhà phê b́nh nông cạn
vội cho rằng
Tổng thống lănh đạo Quốc dân
là như phía Cờ Máu
Hiến pháp
1992 của Hà Nội xác định “Đảng
Cộng sản Việt Nam,...
là lực lượng lănh đạo Nhà nước
và xă hội”.
"Đảng
Cộng sản"
là danh từ riêng, cho nên khi
qui định “Đảng
Cộng sản Việt Nam,...
là lực lượng lănh đạo Nhà nước
và xă hội
là áp bức nhân dân phải tuân thủ
mọi quyết định của
Đảng Cộng Sản.
HpVNCH1956 không hề đưa ra tên
tuổi của một cá nhân hay đ̣an
thể nào để lănh đạo quốc
dân th́ là rất hợp pháp ở
nơi tính chất uyên nguyên của nó.
[phê b́nh cho rằng chính ông Nhu
cố t́nh thiên vị giành quyền
lănh đạo cho TT Diệm là sai, sự
lănh đạo nầy có hiệu lực với tất
cả các vị Tổng Thống tương lai]
Nếu HpVNCH1956 ghi rằng TT Ngô
Đ́nh Diệm hay Đảng Cần Lao lănh
đạo Quốc dân th́ khi đó mới
chỉ trích được, và Việt gian mới có
cơ sở để xác minh
sự so sánh với Hiến pháp Hà Nội.
Tỉ dụ như Điều Lệ của một hội
đoàn ghi là "ông Chủ Tịch đại
diện Hội đoàn trong mọi trường
hợp" th́ có ǵ là độc tài đâu?
có ǵ là lạm quyền ?
có ǵ là thiên vị.
Do sự suy tư nông cạn và thiên
lệch mà một vài tên cán bộ tuyên
truyền đen đă vu cáo HpVNCH1956 là chủ trương độc tài (qui
hết quyền hạn
về cho Tổng Thống).
D.] TINH THẦN QUỐC GIA DÂN TỘC:
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên
sự suy tư lo lắng sâu xa
Điều 4. –
Hành pháp, lập pháp, tư pháp có
nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ,
chính thể cộng ḥa, và trật tự
công cộng. Tư pháp phải có một
quy chế bảo đảm tính cách độc
lập.
Điều 5. –
Mọi người dân không phân biệt
nam nữ sinh ra b́nh đẳng về phẩm
cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và
phải đối xử với nhau theo tinh
thần tương thân tương trợ.
Quốc gia công nhận và bảo đảm
những quyền căn bản của con
người trong cương vị cá nhân,
hay trong cương vị tập thể.
Quốc gia cố gắng tạo cho mọi
người những cơ hội đồng đều và
những điều kiện cần thiết để thụ
hưởng quyền lợi và thực hành
nhiệm vụ.
Quốc gia tán trợ sự khuếch
trương kinh tế, phát huy văn hóa,
khai triển khoa học và kỹ thuật.
Ưu tư sâu xa của nhà
Lập hiến ở
vấn đề nhân cách, đó là đối đầu
hẳn với chủ nghĩa vô luân của Cờ
Máu
Điều 6. –
Người dân có những nhiệm vụ đối
với tổ quốc, với đồng bào, mục
đích là để thực hiện sự phát
triển điều ḥa và đầy đủ nhân
cách của mọi người.
Điều 7. –
Những hành vi có mục đích phổ
biến hoặc thực hiện một cách
trực tiếp hay gián tiếp chủ
nghĩa cộng sản dưới mọi h́nh
thức đều trái với các nguyên tắc
ghi trong Hiếp pháp.
Hơn thế nữa nhà
Lập hiến đă minh
định lập trường của
Nước Việt
Nam đối với Quốc tế,
dưới 2 khía cạnh: chủ quyền
quốc gia và b́nh đẳng
giữa các dân dộc.
Điều 8. –
Nước Việt Nam Cộng Ḥa chấp nhận
những nguyên tắc quốc tế pháp
không trái với sự thực hiện chủ
quyền Quốc gia và sự b́nh đẳng
giữa các dân tộc.
Quốc gia cố gắng góp phần xây
dựng và bảo vệ nền an ninh và
ḥa b́nh quốc tế cùng duy tŕ và
phát triển sự liên lạc thân hữu
giữa các dân tộc trên căn bản tự
do và b́nh đẳng.
D1.]
Căn Bản
Từ điều 9 đến điều 28 là gồm 20
điều minh định quyền Công Dân vô
cùng súc tích: từ quyền tư hữu,
tín ngưỡng cho đến mọi thứ tự do
trong đời sống riêng tư và trong
xă hội.
THIÊN THỨ HAI:
Quyền lợi và
nhiệm vụ người Dân
Điều 9. –
Mọi người dân đều có quyền sinh
sống tự do, và an toàn.
Điều 10. –
Không ai có thể bị bắt bớ, giam
giữ tù đày, một cách trái phép.
Trừ
trường hợp phạm phá quả tang,
chỉ có thể bắt giam khi có câu
phiếu của cơ quan có thẩm quyền,
trong trường hợp và theo h́nh
thức luật định. Theo thể thức
luật định của các bị can về tội
đại h́nh hoặc tiểu h́nh có quyền
lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định
người biện minh cho ḿnh.
Điều 11. –
Không ai có thể bị tra tấn hoặc
chịu những h́nh phạt hay những
cách đối xử tàn bạo, bất nhân,
hoặc làm mất phẩm cách.
Điều 12. –
Đời tư, gia đ́nh, nhà cửa, phẩm
giá, và thanh danh của mọi người
dân phải được tôn trọng.
Tánh cách riêng tư của thư tín
không thể bị xâm phạm, trừ khi
có lịnh của Ṭa án hoặc khi cần
bảo vệ an ninh công cộng hay duy
tŕ trật tự chung.
Ai
cũng có quyền được luật pháp bảo
vệ chống lại những sự đe dọa
hoặc xâm phạm trái phép.
Điều 13. –
Mọi người dân có quyền tự do đi
lại và cư ngụ trên lănh thổ Quốc
gia, ngoại trừ trường hợp luật
pháp ngăn cấm v́ duyên cớ vệ
sinh hay an ninh công cộng.
Mọi
ngươi dân có quyền tự do xuất
ngoại, trừ trường hợp luật pháp
hạn chế v́ lư do an ninh quốc
pḥng, kinh tế, tài chánh, hay
lợi ích công cộng.
Điều 14. –
Mọi người dân đều có quyền và có
bổn phận làm việc. Việc làm như
nhau, tiền công bằng nhau.
Người làm việc có quyền hưởng
thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm
cho bản thân và cho gia đ́nh một
đời sống hợp với nhân phẩm.
Điều 15. –
Mọi người dân đều có quyền tự do
tư tưởng, và trong khuôn khổ
luật định, có quyền tự do hội
họp và lập hội.
Điều 16. –
Mọi người dân có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này không được
dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm
phạm đến đạo lư công cộng, hô
hào nổi loạn, hoặc để lật đổ
chính thể Cộng ḥa.
Mọi
người dân đều được hưởng quyền
tự do báo chí để tạo thành một
dư luận xác thực và xây dựng mà
Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ
chống lại mọi hành vi xuyên tạc
sự thực.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên
sự suy tư lo lắng sâu xa về
TỰ
DO TÍN NGƯỠNG,
khác hẳn với Cờ Máu.
Điều 17. –
Mọi người dân đều có quyền tự do
tín ngưỡng, tự do hành giáo, và
tự do truyền giáo, miễn là sử
dụng quyền ấy không trái với
luân lư và thuần phong mỹ tục.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă
đặt Giáo hội Công giáo ở vào tư
thế của một kẻ tội phạm v́ Thánh
Kinh không có
luân lư
và vi phạm trầm trọng
thuần phong mỹ tục.
Điều 18. –
Theo thể thức và điều kiện luật
định, mọi người dân đều có quyền
bầu cử, ứng cử, tham gia điều
khiển việc công hoặc trực tiếp,
hoặc do những đại diện của ḿnh.
Điều 19. –
Mọi người dân đều có quyền tham
gia công vụ tùy theo năng lực
trên căn bản b́nh đẳng.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên
sự suy tư lo lắng sâu xa về
QUYỀN TƯ HỮU, ĐỜI SỐNG XỨNG ĐÁNG
và THỊNH VƯỢNG XĂ HỘI.
Cờ Máu sau sau 55 năm
(1945-2001) thảm sát ít
nhất 3
triệu dân (chặt đầu, mổ
bụng, chôn sống, đâm chém, bỏ
đói cho chết . . .) dưới chiêu bài chuyên
chính vô sản, th́ quay ra công
nhận quyền tư hữu trong chủ
trương "kinh tế thị trường". Cái ngu dại vô
cùng tận của Cờ Máu là đây:
tàn hại dân tộc.
Điều 20. –
Quốc gia công nhận và bảo đảm
quyền tư hữu. Luật pháp ấn định
thể thức thủ đắc và hưởng thụ để
ai ai cũng có thể trở thành sở
hữu chủ và để bảo đảm cho con
người đời sống xứng đáng và tự
do, đồng thời xây dựng nền thịnh
vượng xă hội.
Trong những trường hợp luật định
và với điều kiện có bồi thường,
Quốc gia có thể trưng thu tư sản
v́ công ích.
Đây là then chốt của văn bản
ấn định rơ ràng quyền tư hữu
chống lại Cộng sản Cờ Máu dưới
chiêu bài vô sản chuyên chế.
Điều 21. –
Quốc gia tán trợ việc nhân dân
sử dụng của để dành để thủ đắc
nhà ở, ruộng cày, và cổ phần
trong các xí nghiệp.
Điều 22. –
Mọi người dân đều có quyền tổ
chức những hợp tác kinh tế, miễn
là không có mục đích độc chiếm
trái phép để đầu cơ và thao túng
kinh tế.
Quốc gia khuyến khích và tán trợ
sự hợp tác có tính cách tương
trợ và không có mục đích đầu cơ.
Quốc gia không thừa nhận chế độc
độc quyền kinh doanh hoặc độc
chiếm, ngoại trừ những trường
hợp luật định v́ nhu cầu quốc
pḥng, an ninh hay v́ sự lợi ích
công cộng.
Điều 23. –
Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền
đ́nh công được công nhận và sử
dụng theo thể thức và điều kiện
luật định.
Công chức không có quyền đ́nh
công.
Quyền đ́nh công không được thừa
nhận đối với nhân viên và công
nhân trong các ngành hoạt động
liên quan đến quốc pḥng, an
ninh công cộng, hoặc các nhu cầu
cần thiết của đời sống tập thể.
Một
đạo luật sẽ ấn định những ngành
hoạt động kể trên và đảm bảo cho
nhân viên và công nhân các ngành
này một quy chế đặc biệt, mục
đích là để bảo vệ các nhân viên
và công nhân trong các ngành ấy.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên
sự suy tư lo lắng sâu xa về
AN
SINH và TƯƠNG TRỢ:
Điều 24. –
Trong giới hạn của khả năng và
sự phát triển kinh tế, Quốc gia
sẽ ấn định những biện pháp cứu
trợ hữu hiệu trong các trường
hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh
tật, thiên tai hoặc những cảnh
hoạn nạn khác.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên
sự suy tư lo lắng sâu xa về
sự
QUAN TRỌNG của GIA Đ̀NH:
Điều 25. –
Quốc gia công nhận gia đ́nh là
nền tảng của xă hội. Quốc gia
khuyến khích, nâng đỡ sự thành
lập gia đ́nh, sự thực hiện sứ
mạng gia đ́nh, nhất là trong sự
thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục
hài nhi.
(c̣n các lănh tụ Cờ Máu th́
CHỦ TRƯƠNG PHÁ THAI và
ĂN BÀO THAI)
Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt
của gia đ́nh.
Điều 26. –
Quốc gia cố gắng cho mọi người
dân một nền giáo dục cơ bản có
tính cách bắt buộc và miến phí.
Mọi
người dân có quyền theo đuổi học
vấn.
Những người có khả năng mà không
có phương tiện riêng sẽ được
nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
Quốc gia thừa nhận phụ huynh có
quyền chọn trường cho con em,
các đoàn thể và tư nhân có quyền
mở trường theo điều kiện luật
định.
Quốc gia có thể công nhận các
trường tư thục đại học và cao
đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều
kiện luật định. Văn bằng do
những trường ấy cấp phát có thể
được Quốc gia công nhận.
Điều 27. –
Mọi người dân đều có quyền tham
gia hoạt động văn hóa và khoa
học, cùng hưởng thụ nghệ thuật
và lợi ích của những tiến bộ kỹ
thuật.
Tác
giả được pháp luật bảo vệ những
quyền lợi tinh thần và vật chất
liên quan tới mọi phát minh khoa
học, sáng tác văn chương hoặc
nghệ thuật.
Điều 28. –
Quyền của mỗi người dân được sử
dụng theo những thể thức và điều
kiện luật định.
Quyền của mỗi người dân chỉ chịu
những sự hạn chế do luật định để
tôn trọng quyền của những người
khác cũng là thỏa măn những đồi
hỏi đích đáng của sự an toàn
chung, nền đạo lư, trật tự công
cộng, quốc pḥng.
Ai
lạm dụng các quyền được công
nhận trong Hiến pháp để phá hoại
chánh thể Cộng ḥa, chế độ Dân
chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống
nhứt Quốc gia sẽ bị truất quyền.
D2.]
Bổn Phận Công
Dân
Điều 29 HpVNCH1956 là điều duy
nhất ấn định Bổn Phận người dân:
Điều 29. –
Mọi người dân đều có nhiệm vụ
tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và
Luật pháp.
Mọi
người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc, chính thể Cộng ḥa, nền
tự do, dân chủ.
Ai
ai cũng phải làm tṛn nhiệm vụ
quân dịch theo thể thức và trong
giới hạn luật định.
Mọi
người dân đều có nhiệm vụ góp
phần vào sự chi tiêu công cộng
theo khả năng đóng góp của ḿnh.
|
Thêm vào đó Điều
40 của Hp VNCH
1956 là sự tôn trọng
tuyệt đối ư kiến của
người dân:
Điều 40.
-
Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ư
phải
được Tổng thống và Quốc hội tôn
trọng |
Đ.] TỔNG THỐNG CHẾ :
Mặc dù Hiến pháp VNCH 1956 qui
định VNCH theo Tổng Tống Chế
nhưng quyền hạn và nhiệm vụ được
ấn định một cách thông thường,
không có ǵ ưu đăi hay áp chế
dưới bất cứ h́nh thức nào.
THIÊN THỨ BA:
Tổng Thống
Đ1.]
Căn Bản
Trong mục liên quan đến Tổng
thống có cả thảy 18 điểu (từ
điều 30 đến điều 47) mà 5 diều đầu tiên nói đến cách bầu và
thời hạn nhận trách nhiệm
Điều 30. -
Tổng Thống được bầu theo lối đầu
phiếu phổ thông trực tiếp và kín,
trong một cuộc tổng tuyển cử mà
cử tri toàn quốc được tham gia.
Một đạo luật sẽ quy định thể
thức bầu cử Tổng Thống.
Phó
Tổng Thống được bầu một lần
chung với Tổng Thống chung một
danh sách.
Điều 31. -
Có quyền tranh cử Tổng Thống và
Phó Tổng Thống những công dân
hội đủ các điều kiện sau đây:
1.
Sinh trên lănh thổ Việt Nam và
có Quốc Tịch Việt Nam liên tục
từ khi mới sinh, hoặc đă hồi
phục Việt tịch trước ngày ban
hành Hiến Pháp.
2. Cư ngụ trên lănh thổ quốc gia
một cách liên tục hay không
trong một thời gian ít nhất là
15 năm.
3. Đủ 40 tuổi.
4. Hưởng các quyền công dân.
Chức vụ Tổng Thống và Phó Tổng
Thống không thể kiêm nhiệm với
bất cứ một hoạt động nào trong
lănh vực tư dù có thù lao hay
không.
Điều 32. –
Nhiệm kỳ Tổng Thống và Phó Tổng
Thống là 5 năm. Tổng Thống và
Phó Tổng Thống có thể được tái
cử hai lần nữa.
Điều 33. -
Nhiệm kỳ Tổng Thống và Phó Tổng
Thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa
cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể
từ ngày tựu chức, và nhiệm kỳ
tân Tổng Thống và tân Phó Tổng
Thống bắt đầu từ lúc ấy.
Nhiệm vụ Tổng Thống và Phó Tổng
Thống có thể chấm dứt trước kỳ
hạn trong những truờng hợp sau
đây:
1)
Mệnh chung
2) V́ bệnh tật trầm trọng kéo
dài, không c̣n năng lực để chấp
chưởng quyền hành và làm tṛn
nhiệm vụ. Sự mất năng lực này
phải được Quốc Hội xác nhận với
đa số 4/5 tổng số Dân Biểu sau
các cuộc giám định và phản giám
định y khoa.
3) Từ chức và sự từ chức này
phải được thông đạt cho Quốc Hội.
4) Bị truất quyền do quyết định
của Đặc Biệt Pháp Viện chiếu
điều 81.
Điều 34. –
Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và
tân Phó Tổng Thống sẽ được cử
hành vào ngày Chúa Nhật ba tuần
lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng
Thống tại chức chấm dứt.
Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng
Thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó
Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ
Tổng Thống cho đến hết nhiệm kỳ.
Trong trường hợp dự liệu ở đoạn
trên nếu không có Phó Tổng Thống,
hoặc nếu Phó Tổng Thống v́ một
lư do ǵ, không thể đảm đương
nhiệm vụ. Chủ Tịch Quốc Hội tạm
thời đảm nhiệm chức vụ Tổng
Thống để xử lư thường vụ và tổ
chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống
và tân Phó Tổng Thống trong thời
hạn tối đa hai tháng. Trong
trường hợp này, Đệ Nhất Phó Chủ
Tịch Quốc Hội quyền nhiếp Chủ
Tịch Quốc Hội.
Những điều quan trọng đều phải
được Quốc Hội thông qua,
tất nhiên Tổng thống không thể
chuyên quyền được:
Điều 35. -
Tổng Thống kư kết và sau khi
được Quốc Hội chấp thuận, phê
chuẩn các điều ước và hiệp định
quốc tế.
Tổng Thống bổ nhiệm các Sứ Thần,
tiếp nhận uỷ nhiệm thư của các
đại diện ngoại giao, thay mặt
Quốc gia trong việc giao thiệp
với ngoại quốc.
Điều 36. –
Với sự thoả thuận của một nửa
tổng số Dân Biểu Quốc Hội, Tổng
Thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn
hoà ước.
và
Điều 40. –
Với sự thoả thuận của Quốc Hội,
Tổng Thống có thể tổ chức trưng
cầu dân ư. Kết quả cuộc trưng
cầu dân ư phải được Tổng Thống
và Quốc Hội tôn trọng.
Một số sinh hoạt thông thường
trong nhiệm vụ "Trưởng cơ quan,
Trưởng nhiệm sở"
tương tự như quyền hạn của
nguyên thủ quốc gia tại các nước
tiên tiến và tự do, như thế th́ có ǵ là
độc tài ?
Điều 37. -
Tổng Thống bổ nhiệm và cách chức
tất cả các công chức dân sự và
quân sự theo thủ tục luật định,
ngoại trừ những trường hợp mà
Hiến Pháp ấn định một thủ tục
đặc biệt.
Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối
cao của các lực lượng quân sự.
Tổng Thống ban các loại huy
chương. Tổng Thống sử dụng quyền
ân xá, giảm xá, ân giảm, hoán
cải h́nh phạt và huyền án.
Điều 38. –
Trong truờng hợp chiến tranh
hoặc nội loạn, những chức vụ dân
cử định trong Hiến Pháp sẽ đương
nhiên được gia hạn khi măn nhiệm
kỳ.
Trong trường hợp một đơn vị bầu
cử bị đặt trong t́nh trạng khẩn
cấp báo động hoặc giới nghiêm,
Tổng Thống có thể gia hạn nhiệm
kỳ dân biểu ấy.
Tuy
nhiên cuộc bầu cử toàn bộ hay
cục bộ phải được tổ chức chậm
nhất là sáu tháng sau khi những
t́nh trạng đặc biệt kể ở hai
đoạn trên chấm dứt.
Điều 39. -
Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội
bằng thông điệp.
Tổng Thống có thể dự các phiên
họp Quốc Hội và tuyên bố trước
Quốc Hội.
Mỗi
năm vào đầu khoá họp thường lệ
thứ nh́ và mỗi khi thấy cần,
Tổng Thống báo cho Quốc Hội biết
t́nh h́nh Quốc Gia và chính sách
đối nội, đối ngoại của Chính Phủ.
Tôn trọng tuyệt đối ư kiến của
người dân:
Điều 40. -
Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ư phải được Tổng thống và Quốc hội tôn
trọng.
Đ2.]
Đặc Quyền của
Tổng Thống:
Trong bối cảnh thù trong giặc
ngoài, do t́nh trạng khẩn cấp [đặc
biệt của VN lúc bấy giờ] Tổng
Thống mới phải kư sắc lệnh cấp
thời để ứng phó với t́nh h́nh,
nhưng sau đó phải được Quốc Hội
duyệt xét, đó là các Điều 41, 42
và 43. Điều 44 dự
liệu là trong lúc khẩn
trương tại một vài vùng,
th́ quyết
định của Tổng Thống
cần phải có và chỉ có tính
cách tạm thời.
Điều 41. –
Giữa hai khoá họp Quốc Hội, Tổng
Thống v́ lư do khẩn cấp có thể
kư sắc luật. Các sắc luật này
phải được chuyển đến Văn Pḥng
Quốc Hội ngay sau khi ấy.
Trong khóa họp thường lệ tiếp
cận nếu Quốc Hội không bác bỏ,
các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn
như những đạo luật.
Điều 42.-
Trong trường hợp khẩn cấp, chiến
tranh, nội loạn, khủng hoảng
kinh tế hoặc tài chính, Quốc Hội
có thể biểu quyết một đạo luật
uỷ cho Tổng Thống trong một thời
gian, với những hạn định rơ,
quyền kư sắc luật để thực hiện
chính sách mà Quốc Hội ấn định
trong đạo luật uỷ quyền. Các sắc
luật phải được chuyển đến Văn
Pḥng Quốc Hội ngay sau khi kư.
Ba mươi ngày sau khi măn thời
hạn đă ấn định trong đạo luật uỷ
quyền, nếu Quốc Hội không bác bỏ,
các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn
như những đạo luật.
Đặc quyền về Ngân sách: Đây là
vấn đề cần phải suy luận: Ngân
sách là huyết mạch của guồng máy
Quốc Gia, nhà Lập hiến nhận thấy
phải đối phó với sự tŕ trệ
trong vấn đề biểu quyết ngân
sách ở Quốc Hội. Tại sao vậy ?
Nguyên do v́ công nhân viên
và anh em quân nhân xứ ta
rất nghèo, trông đến cuối tháng
(ăn lương tháng) để được lănh
lương nuôi sống gia đ́nh, không
ai có thể đợi một hai tháng
[có sống ở đất nước ta và phải
có ưu tư đến an sinh dân tộc th́
mới nhận thức được sự lo âu cao
quí của nhà Lập hiến], do
đó mối lo hàng đầu của nhà
Lập hiến là phải quyết liệt với kỳ
hạn chung quyết ngân sách (dứt
khoát trước 31 tháng 12), nếu
không th́ Tổng Thống có quyền
ban hành ngân sách cho tài khóa
sau. Đây không phải là độc tài
chi cả mà là bổn phận của chính
phủ phải bảo đảm đời sống công
nhân viên và binh sĩ. Đây
là biện pháp cấp thiết cho một
xứ nghèo nàn đang bị chiến tranh như Việt
Nam mà nhà lănh đạo đă vô cùng
quan tâm (và tận tâm) trong sự thi hành trách
nhiệm mà quốc dân giao phó.
Điều 43.-
Trong trường hợp ngân sách không
được Quốc Hội chung quyết trong
thời hạn ấn định ở điều 60, Tổng
Thống có thể kư sắc luật ngân
sách cho tài khoản sau.
Mỗi
tam cá nguyệt, Tổng Thống có thể
thi hành một phần tư của ngân
sách cho đến khi Quốc Hội chung
quyết xong đạo luật ngân sách.
Trong đạo luật ngân sách, Quốc
Hội phải giải quyết các hậu quả
gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa
đổi những điều khoản của sắc
luật ngân sách.
Quyền hạng của Tổng Tổng cũng
chỉ giới hạn tại một vài khu vực
mất an ninh. Điều 44 là trong
lúc khẩn trương tại một vài vùng,
quyết định của Tổng Thống chỉ có
tính cách tạm thời (một vài ngày,
một vài tháng). Sự chậm
trể trong việc chuẩn y ngân sách
có thể gây ra nhiều hậu quả
không lường được, do đó Quốc hội
phải dự liệu bù vào khoản hao
hụt (có quyền, tất phải có
trách nhiệm).
Điều 44.-
Tổng Thống có thể kư sắc lệnh
tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp,
báo động hoặc giới nghiêm trong
một hay nhiều vùng, các sắc lệnh
này có thể tạm đ́nh chỉ sự áp
dụng một hoặc nhiều đạo luật tại
những vùng đó.
3 điều khoản sau đây không có ǵ
đặc biệt.
Điều 45.-
Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên
thệ như sau:
Tôi
long trọng tuyên thệ:
- Tận lực cố gắng làm tṛn
nhiệm vụ Tổng Thống.
- Tôn trọng giữ ǵn và bảo vệ
Hiến Pháp.
- Trung thành phụng sự Tổ Quốc
và hết ḷng phục vụ ích lợi công
cộng.
Điều 46.-
Tổng Thống có Phó Tổng Thống và
các Bộ Trưởng và Thứ Trưởng phụ
tá. Các Bộ Trưởng do Tổng Thống
bổ nhiệm và chịu trách nhiệm
trước Tổng Thống.
Điều 47.-
Các Bộ Trưởng và Thứ Trưởng có
thể hội kiến với Chủ Tịch, Phó
Chủ Tịch Quốc Hội và các Chủ
Tịch Uỷ Ban để giải thích về các
vấn đề liên hệ với lập pháp.
E.]
QUỐC HỘI: LẬP
PHÁP
Quốc hội là cơ chế căn bản của
Tự do Dân chủ.
Trong phần nầy HpVNCH1956 chỉ
thành lập một viện là viện Dân
biểu. Không có Thượng viện. Có
lẽ là để bớt sự rườm rà
(gây trễ năi, và cũng bớt
kinh phí cho ngân sách quốc gia).
E1.]
Căn Bản :
Có 22 điều liên quan đến Quốc
Hội (từ điều 48 đến đến 69)
tương đối thông thường, không có
ǵ đặc biệt
THIÊN THỨ TƯ:
Quốc Hội
CHƯƠNG MỘT: DÂN
BIỂU
Điều 48.-
Đạo luật tuyển cử ấn định số dân
biểu Quốc Hội và số đơn vị bầu
cử.
Điều 49.-
Dân biểu được bầu cử theo lối
phổ thông, trực tiếp và kín theo
những thể thức và điều kiện do
đạo luật tuyển cử quy định.
Điều 50.-
Có quyền ứng cử Dân Biểu những
người:
1.
Có quốc tịch Việt Nam liên tục
từ khi mới sinh, hoặc đă nhập
Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc
đă phục hồi Việt tịch ít nhất ba
năm, trừ những người đă phục hồi
Việt tịch trước ngày ban hành
Hiến Pháp.
2. Hưởng các quyền công dân.
3. Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu.
4. Hội đủ các điều kiện khác dự
liệu trong đạo luật tuyển cử.
Tuy
nhiên trong trường hợp đặc biệt,
những người nhập Việt tịch có
công trạng với Tổ Quốc hoặc
những người phục hồi Việt tịch
có thể được Tổng Thống kư sắc
lệnh giảm thời hạn năm năm hoặc
ba năm ghi trên.
Điều 51.-
Nhiệm kỳ Dân Biểu là 3 năm. Các
Dân Biểu có thể được tái cử.
Cuộc bầu cử Quốc Hội mới sẽ cử
hành một tháng trước khi pháp
nhiệm chấm dứt.
Điều 52.-
Khi một Dân Biểu từ chức, mệnh
chung hoặc chấm dứt nhiệm vụ v́
bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc
bầu cử dân biểu thay thế sẽ được
cử hành trong hạn ba tháng.
Sẽ
không bầu Dân Biểu thay thế nếu
sự khống khuyết xảy ra không đầy
6 tháng trước khi măn pháp nhiệm.
Điều 53.-
Nhiệm vụ Dân Biểu không thể kiêm
nhiệm với một công vụ được trả
lương hay một nhiệm vụ dân cử
khác. Công chức đắc cử phải nghỉ
giả hạn, quân nhân đắc cử phải
giải ngũ.
Nhiệm vụ Dân Biểu không thể kiêm
nhiệm với những chức vụ Bộ
Trưởng và Thứ Trưởng.
Tuy
nhiên, Dân Biểu có thể đảm nhận
những công vụ đặc biệt liên tục
không quá 12 tháng và thời gian
đảm nhận công vụ tổng cộng không
quá nửa thời kỳ pháp nhiệm.
Trong thời gian đảm nhận công vụ,
Dân Biểu không có quyền thảo
luận và biểu quyết tại Quốc Hội
hoặc tại Uỷ Ban của Quốc Hội.
Dân
Biểu có thể phụ trách giảng huấn
tại các trường cấp bậc đại học
và kỹ thuật cao đẳng.
Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân
Biểu không thể tham dự những
cuộc đấu thầu hoặc kư hợp đồng
với các cơ quan chính quyền.
Điều 54.-
Không thể truy tố, tầm nă, bắt
giam hay kết án một Dân Biểu v́
những lời nói hoặc v́ những sự
biểu quyết tại Quốc Hội hoặc tại
Uỷ Ban của Quốc Hội.
Ngoại trừ trường hợp phản quốc,
xâm phạm an ninh Quốc Gia, hoặc
đương trường phạm pháp, không
thể truy tố, tầm nă, bắt giam
hay xét xử một Dân Biểu trong
suốt thời gian các khoá họp Quốc
Hội kể cả thời gian đi họp và về
họp.
E2.]
Đặc Quyền Quốc
Hội:
CHƯƠNG HAI: QUYỀN HÀNH CỦA QUỐC
HỘI
Điều 55.-
Quốc Hội biểu quyết các đạo luật.
Quốc Hội chấp thuận các điều ước
và các hiệp định Quốc Tế.
CHƯƠNG BA: THỦ TỤC LẬP PHÁP
Điều 56.-
Dân Biểu có thể đưa ra Quốc Hội
xét các dự án luật. Tổng Thống
có thể đưa ra Quốc Hội xét các
dự thảo luật.
Cần phải nêu rơ: các dự luật (dự
án luật và dự thảo luật) sau khi
được Quốc hội biểu quyết chấp
thuận th́ trở thành luật
Điều 57.-
Các dự án và dự thảo luật được
Quốc Hội chấp thuận sẽ chuyển
đến Tổng Thống trong thời hạn 7
ngày tṛn.
Tổng Thống phải ban hành các đạo
luật trong thời hạn 30 ngày tṛn
kể từ ngày tiếp nhận. Trong
trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội
tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ
rút ngắn c̣n 7 ngày tṛn.
Điều 58.-
Trong thời hạn ban hành, Tổng
Thống có thể gởi thông điệp viện
dẫn lư do để yêu cầu Quốc Hội
phúc nghị một hay nhiều điều
khoản đă được chấp thuận.
Khi
phúc nghị, nếu Quốc Hội không
đồng ư sửa đổi theo thông điệp
Tổng Thống th́ Quốc Hội sẽ chung
quyết bằng cuộc minh danh đầu
phiếu với đa số 3/4 tổng số Dân
Biểu Quốc Hội.
Điều 59.-
Trong thời hạn ấn định ở điều
57, nếu Tổng Thống không ban
hành hoặc không chuyển hoàn bản
văn mà Quốc Hội đă thông qua,
bản văn ấy sẽ đương nhiên thành
luật.
Điều 60.-
Dự thảo ngân sách phải gửi tới
Văn Pḥng Quốc Hội trước ngày 30
tháng 9. Ngân sách phải được
chung quyết trước ngày 31 tháng
12.
Điều 61.-
Dân Biểu có quyền đề khởi những
khoản chi mới nhưng đồng thời
phải đề nghị các khoản thu tương
đương.
CHƯƠNG TƯ : ĐIỀU HÀNH QUỐC HỘI
Điều 62.-
Quốc Hội nhóm họp những khoá
thường lệ hoặc bất thường
Điều 63.-
Hàng năm có hai khoá họp thường
lệ; mỗi khoá đương nhiên bắt đầu
ngày Thứ Hai đầu tiên trong
tháng 4 dương lịch và một khoá
đương nhiên bắt đầu ngày Thứ Hai
đầu tiên trong tháng 10 dương
lịch. Mỗi khoá họp thường lệ
không lâu quá 3 tháng.
Điều 64.-
Quốc Hội phải được triệu tập
nhóm họp các khoá bất thường nếu
có sự yêu cầu của Tổng Thống
hoặc quá nửa Tổng Số Dân Biểu
Quốc Hội.
Trong trường hợp Tổng Thống yêu
cầu triệu tập, nghị tŕnh khoá
họp bất thường do Tổng Thống ấn
định.
Trong trường hợp Dân Biểu yêu
cầu triệu tập, nghị tŕnh khoá
họp bất thường do Văn Pḥng Quốc
Hội ấn định.
Thời gian mỗi khoá họp bất
thường của Quốc Hội không được
quá 30 ngày.
Điều 65.-
Quốc Hội nhóm họp công khai. Tuy
nhiên Quốc Hội sẽ họp kín, nếu
quá nửa số Dân Biểu hiện diện
hoặc Tổng Thống yêu cầu.
Các
bản tường thuật y nguyên cuộc
thảo luận và các tài liệu xuất
tŕnh tại Quốc Hội sẽ được đăng
trong Công báo, ngoại trừ trường
hợp Quốc Hội họp kín.
Điều 66.-
Để kiểm soát tánh cách hợp thức
cuộc bầu cử các Dân Biểu, Quốc
Hội sẽ chỉ định một Ủy Ban kiểm
soát để phụ trách việc phúc
tŕnh về vấn đề này.
Quốc Hội có trọn quyền định đoạt.
Điều 67.-
Quốc Hội sẽ bầu Chủ Tịch, 2 Phó
Chủ Tịch, 1 Tổng Thơ Kư, 3 Phó
Tổng Thơ Kư và một số nhân viên
cần thiết.
Quốc Hội chỉ định các Uỷ Ban.
Điều 68.- Quốc
Hội ấn định nội quy, nhất là các
vấn đề sau:
-
Tổ chức nội bộ Quốc Hội và Văn
Pḥng.
- Thủ tục Quốc Hội và quyền hạn
Văn Pḥng.
- Kỷ luật trong Quốc Hội và các
sự chế tài về kỷ luật.
- Thành phần và quyền hạn các
Uỷ Ban.
Điều 69 nầy là để nói về giá
trị của một dự luật, chứ
không phải luật, nghĩa là nếu 1
dự luật không hội đủ 1/3 dân
biểu th́ coi như bị hủy mà không
được đưa ra Quốc hội thảo luận.
Điều luật nầy tránh cho Quốc hội
phải thảo luận nhiều dự luật vu
vơ.
Điều 69.-
Một dự án hoặc dự thảo luật được
Quốc Hội chấp thuận chỉ có giá
trị nếu hội đủ túc số 1/3 tổng
số Dân Biểu.
E3.]
Tinh Thần :
Xét về khía cạnh Tinh Thần của
bản văn nầy th́ cũng không khác
mấy những bản văn của nhiều nước
có nền Cộng Ḥa
trong thể chế tự do dân chủ.
Dự Luật DL gồm Dự Án Luật
DAL (là do Quốc Hội)
và Dự Thảo Luật
DTL (là do Hành pháp
chuyển đến Quốc Hội) phải được 1
phần 3 (1/3) dân biểu chấp thuận
mới được cứu xét,
nếu nhiều hơn 1/3 th́ càng quí [cần
nói rơ là DL chưa phải là luật,
và DL không có một hiệu lực nào
cả, chữ
có giá
trị
của
Điều
69
có nghĩa là giá trị của một DL]. C̣n những
DAL và DTL không hội đủ 1/3 dân
biểu chấp thuận th́ không được
cứu xét để có thể trở
thành luật. Điều lệ này rất cần
thiết để loại bớt những
bản văn DL vu vơ. Sau
đó dĩ nhiên DL phải được Quốc
hội cứu xét biểu quyết (ở
hội nghị khoáng đại với đa số
Dân Biểu) chấp thuận th́
mới trở thành luật.
Ê.] TƯ PHÁP :
Các điền khoản không có ǵ dị
biệt so với đa số các bản hiến pháp
của nhiều quốc gia.
THIÊN THỨ NĂM:
Thẩm Phán
Ê1.]
Căn Bản :
Trong mọi quốc gia, thẩm phán
luôn luôn trực thuộc Bộ Tư pháp.
Điều 70.-
Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở
điều 4, tư pháp được ấn định
theo nguyên tắc b́nh đẳng của
mọi người trước pháp luật và
nguyên tắc độc lập của Thẩm Phán
Xử Án.
Điều 71.-
Thẩm Phán Xử Án quyết định theo
lương tâm ḿnh, tôn trọng luật
pháp và quyền lợi quốc gia.
Điều 72.-
Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp,
Thẩm Phán Công Tố trông coi và
theo dơi sự áp dụng luật pháp,
sự tôn trọng đạo lư và trật tự
công cộng.
Ê2.]
Đặc Quyền :
Thẩm phán có đặc quyền lập
Thượng Hội Đồng, đó là đặc quyền
của một cơ chế dân chủ. Dĩ nhiên
Thượng Hội Đồng là cơ chế tư
pháp độc lập, trong sự phân
quyền Hành pháp, Tư pháp và Lập
pháp.
Điều 73.-
Sẽ thiết lập một Thượng Hội Đồng
Thẩm Phán có nhiệm vụ góp phần
trông coi sự áp dụng quy chế
thẩm phán xử án. Tổ chức điều
hành và quyền hạn của Thượng Hội
Đồng sẽ do luật định.
G.] ĐẶC
BIỆT PHÁP VIỆN
Sự thiết lập Đặc biêt Pháp viện
rất là đặc sắc và tiên tiến của
một chế độ dân chủ hạng nhất.
THIÊN THỨ VI:
Đặc
biệt Pháp viện
G1.]
Căn Bản :
Đây là cơ chế có quyền lực tối
thượng trên cả Tổng Thống. Như
vậy sự bảo đảm cho dân chủ không
ǵ quí hơn và hữu hiệu hơn.
Điều 74.-
Đặc Biệt Pháp Viện là một Toà Án
Đặc Biệt có thẩm quyền xét xử
Tổng Thống, Phó Tổng Thống,
Chánh Án và Chủ Tịch Viện Bảo
Hiến, trong trường hợp can tội
phản quốc và các trọng tội.
Tất cả thành phần của Đặc Biệt
Pháp Viện và ủy ban điều tra
không có người nào do chính phủ
hay do Tổng Thống
tham gia, tức là Tổng Thống
không có quyền ǵ cả, tất cả
quyền hạn là của Quốc Hội:
Điều 75.-
Đặc Biệt Pháp Viện gồm có:
-
Chánh Án Toà Phá Án . . . Chánh
Án.
- Mười lăm dân biểu, do Quốc
Hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ . . .
Hội Thẩm.
Khi Chánh Án Toà Án là bị can,
Chủ Tịch Viện Bảo Hiến sẽ ngồi
ghế Chánh Án.
Điều 76.-
Ban điều tra của Đặc Biệt Pháp
Viện gồm 5 Dân Biểu do Quốc Hội
bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
Những người phê b́nh của phe Cờ
Máu hay của CIA giả đ̣ đui mù
không nh́n thấy các chi tiết cao
đẹp của Hiến Pháp nước ta.
G2.]
Đặc Quyền Tối Thượng:
Các điều khoản sau đây cũng được
áp dụng để bảo đảm không có sự
lạm dụng đặc quyền tối thượng
nầy.
Điều 77.-
Sự khởi tố theo các điều kiện
sau:
a) Phải
có một bản đề nghị viện dẫn lư
do được ba phần năm (3/5) tổng
số Dân Biểu Quốc Hội kư tên, nạp
tại Văn Pḥng Quốc Hội mười lăm
(15) ngày trước khi thảo luận.
b) Đề khi đó phải được hai phần
ba (2/3) tổng số Dân Biểu Quốc
Hội chấp thuận.
c) Các Dân Biểu trong Đặc Biệt
Pháp Viện và trong Ban Điều Tra
không được quyền đề nghị khởi tố
và biểu quyết về đề nghị này.
Điều 78.-
Nhiệm vụ của đương sự bị đ́nh
chỉ từ khi Quốc Hội biểu quyết
truy tố đến khi Đặc Biệt Pháp
Viện phán quyết. Trong thời gian
này, sự quyền nhiếp sẽ theo thể
thức định ở điều 34, đoạn 2 và
đoạn 3.
Điều 79.-
Ban Điều Tra có quyền đ̣i hỏi
nhân chứng và đ̣i các cơ quan
liên hệ xuất tŕnh các hồ sơ và
tài liệu mật. Ban Điều Tra sẽ
làm tờ tŕnh trong thời hạn hai
tháng trừ khi được Đặc Biệt Pháp
Viện triển hạn một tháng nữa.
Điều 80.-
Đặc Biệt Pháp Viện họp để nghe
Ban Điều Tra và đương sự tŕnh
bày và phán quyết theo đa số ba
phần tư (3/4) tổng số nhân viên.
Điều 81.-
Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc
Biệt Pháp Viện sẽ tuyên bố truất
quyền. Phán quyết này có hiệu
lực ngay.
H.] TRỌNG TÂM KINH TẾ :
Hiến pháp c̣n dự liệu một cơ
chế đặc biệt cho Kinh tế
Quốc gia, đó là Hội đồng
Kinh tế Quốc gia.
Nhà Lập hiến đă chứng minh khả
năng về việc trị quốc, mà ở đây
người ta đă t́m thấy sự ưu tư
sâu xa về kinh tế, huyết mạch
của chế độ thiết tha đến sự
thịnh vượng của dân chúng.
THIÊN THỨ VII:
Hội đồng Kinh tế Quốc gia
H1.] Căn
Bản : Thành phần hội đồng bao
quát
Cái tiên tiến của Hiến pháp nầy
là khuyến khích và đặt căn bản
cho sự tham gia của các nghiệp
đoàn, của các nhà kinh tế học,
của các ngành hoạt động kinh tế,
kể cả các hoạt động xă hội có
liên quan đến kinh tế.
Điều 82.-
Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia có
nhiệm vụ tŕnh bày sáng kiến và
phát biểu ư kiến về các dự thảo,
dự án kinh tế.
Hội
Viên Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia
được lựa chọn trong các nghiệp
đoàn và các ngành hoạt động kinh
tế, các tổ chức hoạt động xă hội
liên hệ với kinh tế và các nhà
kinh tế học.
Chức vụ Hội Viên Hội Đồng Kinh
Tế Quốc Gia không thể kiêm nhiệm
với nhiệm vụ Dân Biểu Quốc Hội.
H2.] Tinh
Thần :
Đây là bằng cớ của của sự ưu
việt của nhà Lập hiến trong ưu
tư quốc thái dân an, bởi v́ từ
cả trăm năm rồi đâu có ai lo cho
con dân đâu. Chính sự thành lập
Hội đồng Kinh tế Quốc gia mà thể
theo các cuộc hội thảo th́ chính
phủ mới có đủ yếu tố để dự chi
ngân sách đáp ứng cho sự phát
triển kinh tế và bảo đản an minh
quốc gia.
Do khái niệm về sự quan trọng
của Kinh Tế QG, cho nên Hội Đồng
KTQG được đặt dưới sự chủ tọa
của Phó Tổng Thống.
Điều 83.-
Phó Tổng Thống là Chủ Tịch Hội
Đồng Kinh Tế Quốc Gia.
Điều 84.-
Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ
chức và điều hành của Hội Đồng
Kinh Tế Quốc Gia.
I.] CHÍNH NGHĨA :
Đây là mối ưu tư của sự tồn vong
của thể chế dân chủ.
THIÊN THỨ VIII :
Viện Bảo hiến
Cơ chế nầy có nhiệm vụ duyệt xét
tối hậu cả về luật và cách hành
xử của hành pháp.
Mọi công dân đều có quyền khiếu
nại về tánh cách hợp hiến của
luật và hành chánh.
Điều 85.-
Viện Bảo Hiến phán quyết về tính
cách hợp hiến của các đạo luật,
sắc luật và quy tắc hành chánh.
Điều 86. -
Viện Bảo Hiến, về mỗi nhiệm kỳ
Quốc Hội gồm có:
- Một Chủ Tịch do Tổng Thống cử
với thoả hiệp của Quốc Hội.
- Bốn thẩm phán cao cấp hay
luật gia do Tổng Thống cử.
- Bốn Dân Biểu do Quốc Hội cử.
Điều 87.-
Viện Bảo Hiến thụ lư các đơn xin
phán quyết về tánh cách hợp hiến
của các đạo luật, sắc luật và
quy tắc hành chánh do các toà án
nạp tŕnh.
Phán quyết của Viện Bảo Hiến có
hiệu lực đ́nh chỉ sự thi hành
các điều khoản bất hợp hiến kể
từ ngày phán quyết ấy được đăng
trong Công Báo.
Điều 88.-
Một đạo luật sẽ quy định cách tổ
chức và điều hành của Viện Bảo
Hiến cùng thủ tục áp dụng trước
cơ quan ấy.
K.] SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP :
Không có ǵ đáng bàn
THIÊN THỨ IX:
Sửa đổi Hiến pháp
Điều 89.-
Không thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ
các điều 1, 2, 3, 4 và điều này
của Hiến Pháp
Điều 90.-
Tổng Thống hoặc hai phần ba
(2/3) tổng số Dân Biểu có thể đề
nghị sửa đổi Hiến Pháp.
Đề
nghị sửa đổi Hiến Pháp có viện
dẫn lư do phải đủ chữ kư và nạp
tại Văn Pḥng Quốc Hội.
Điều 91.-
Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ
sửa đổi Hiến Pháp, Văn Pḥng
Quốc Hội sẽ triệu tập một phiên
họp đặc biệt của Quốc Hội để cử
một Uỷ Ban gồm ít nhất mười lăm
(15) người có nhiệm vụ nghiên
cứu đề nghị này, tham khảo ư
kiến của Viện Bảo Hiến và của
Tổng Thống.
Trong thời hạn tối đa sáu mươi
ngày (60), Uỷ Ban sẽ thuyết
tŕnh trước Quốc Hội trong phiên
họp đặc biệt.
Điều
92.-
Đề nghị sửa đổi Hiến Pháp chỉ
được chấp thuận nếu ba phần tư
(3/4) tổng số Dân Biểu tán thành
trong một cuộc minh danh và đích
thân đầu phiếu.
Điều
93.-
Đề nghị được chấp thuận sẽ ban
hành theo thủ tục ghi ở các điều
57, 58, 59.
Nếu
có phúc nghị, Quốc Hội chung
quyết bằng một cuộc minh danh và
đích thân đầu phiếu.
Điều
94.-
Hiến Pháp sẽ ban hành ngày hai
mươi sáu Tháng mười năm một
ngh́n chín trăm năm mươi sáu
(26/10/1956).
Điều
95.-
Quốc Hội dân cử ngày mồng bốn
Tháng ba năm một ngh́n chín trăm
năm mươi sáu (14/3/1956) sẽ là
Quốc Hội Lập Pháp đầu tiên theo
Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà.
Nhiệm
kỳ Quốc Hội Lập Pháp bắt đầu từ
ngày ban hành Hiến Pháp và chấm
dứt ngày ba mươi Tháng chín năm
một ngàn chín trăm sáu mươi mốt
(30/9/1961)
Đây chỉ là sự chuyển tiếp, không
có ǵ đặc biết.
Điều
96.-
Đương kim Tổng Thống được nhân
dân uỷ nhiệm thiết lập nền dân
chủ do cuộc trưng cầu dân ư ngày
hai mươi ba Tháng mười năm một
ngàn chín trăm năm mươi lăm
(23/10/1955), sẽ là Tổng Thống
đầu tiên theo Hiến Pháp Việt Nam
Cộng Hoà.
Nhiệm
kỳ Tổng Thống bắt đầu từ ngày
ban hành Hiến Pháp và chấm dứt
ngày ba mươi Tháng tư năm một
ngàn chín trăm sáu mươi
mốt(30/4/1961)
Điều
97.-
Trong khóa họp thứ nhất của Quốc
Hội Lập Pháp đầu tiên đương kim
Tổng Thống sẽ chỉ định Phó Tổng
Thống đầu tiên. Sự chỉ định này
sẽ thành nhất định nếu được Quốc
Hội chấp thuận.
Nếu
có sự thay thế, sự chỉ định Phó
Tổng Thống mới cũng theo thủ tục
đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng
Thống đầu tiên.
Điều
98.-
Trong nhiệm kỳ lập pháp đầu tiên,
Tổng Thống có thể tạm đ́nh chỉ
sự sử dụng những quyền tự do đi
lại và cư ngụ, tự do ngôn luận
và báo chí, tự do hội họp và lập
hội, tự do nghiệp đoàn và đ́nh
công để thoả măn những đ̣i hỏi
đích đáng của an toàn chung,
trật tự công cộng và quốc pḥng.
PHẦN II
THẨM ĐỊNH HIẾN PHÁP
L.]
HIẾN PHÁP đặt TRỌNG TÂM vào QUỐC
HỘI:
Chứng cứ về sự dân chủ pháp trị
tuyệt đối:
Có 22 điều liên quan đến Quốc
Hội (từ điều 48 đến đến 69)
Thực ra Quốc Hội có liên quan
trong toàn thể Hiến Pháp, nhất
là trong những vấn đề cực kỳ
quan trọng.
Quốc Hội là nền tảng
dân chủ, do đó Hiến Pháp VNCH
1956 dành rất nhiều quyền hạn
cho Quốc Hội:
a) Quyền Lợi trọng đại của Quốc
gia, hoạt động của Tổng Thống
phải được Quốc Hội thỏa thuận
1) Thay thế Tổng Thống
Điều 34
-
Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ
nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
-
Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống
sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
-
Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc
nếu Phó Tổng thống, v́ một lư do ǵ, không thể đảm đương nhiệm vụ,
Chủ tịch
Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lư thường vụ và tổ chức
một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai
tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ
Chủ tịch Quốc hội.
2) Chấp thuận và phê chuẩn các
điều ước và hiệp định do Tổng
Thống kư (Nếu QH không chấp
thuận th́ các văn bản mà TT kư
kết đều vô giá trị)
Điều 35
-
Tổng thống kư kết, và sau khi được
Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều
ước và hiệp định quốc tế.
3) Chấp thuận đặc biệt
Điều 36
-
Với sự thỏa
thuận của một nửa tổng số
Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên
chiến hoặc phê chuẩn ḥa ước.
4) Tổng Thống có nhiệm vụ thông
báo cho Quốc Hội
Điều 39
-
Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
-
Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc
hội.
-
Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nh́ và mỗi khi thấy cần,
Tổng thống
thông báo cho Quốc hội biết t́nh h́nh Quốc gia và chánh sách đối nội, đối
ngoại của Chính phủ.
5) Trưng cầu dân ư
Điều 40
-
Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ư phải được Tổng thống và Quốc hội tôn
trọng.
6) Bảo đảm đặc quyền của Dân
biểu:
Điều 54
-
Không thể truy tố, tầm nă, bắt giam hay kết án một Dân biểu v́ những lời
nói hoặc v́ những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc
hội.
-
Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương
trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nă, bắt giam hay xét xử một Dân biểu
trong suốt các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp
về.
7) Quyền hạn đă qui định như
trên
Điều 55
-
Quốc hội biểu quyết
các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các
điều ước và các hiệp định quốc tế.
8) Tổng Thống không có quyền
không công bố luật đă được QH
thông qua
Điều 59
-
Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không
chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đă thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành
luật.
9) Quốc hội có thẩm quyền tuyệt
đối cứu xét ngân sách và chuẩn
chi.
Điều 60
-
Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn pḥng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng
Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng
Chạp.
Điều 61
-
Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị
các khoản thu tương đương.
10) Quốc Hội có quyền xét xử
Tổng Thống và các nhân vật quan
trọng
Điều 74
-
Đặc biệt Pháp viện là một ṭa án đặc biệt
có thẩm quyền xét xử Tổng thống,
Phó Tổng thống, Chánh án Ṭa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường
hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
Điều 75
-
Đặc biệt Pháp viện gồm có:
-
Chánh án Ṭa Phá án, Chánh án;
-
Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, Hội thẩm.
-
Khi Chánh án Ṭa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế
Chánh án.
11) Quyền điều tra
Điều 76
-
Ban Điều tra
của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra
mỗi nhiệm kỳ.
12) Quyền quyết định truất phế
Điều 77
-
Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
-
a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lư do, được
ba phần năm tổng số Dân
biểu Quốc hội kư tên, nạp tại Văn pḥng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo
luận;
-
b/ Đề nghị đó phải được
hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp
thuận.
-
c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được
quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
13) Quốc Hội có quyền tham gia
vào Viện Bảo Hiến ngang quyền
với Tổng Thống
Điều 86
-
Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
-
Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với
thỏa hiệp của Quốc hội.
-
4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
-
4 Dân biểu do Quốc hội cử.
14) Quốc Hội có quyền trong việc
thay đổi Hiến Pháp
Điều 90
-
Tổng thống hay
hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến
pháp.
-
Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lư do phải đủ chữ kư và nạp tại Văn
pḥng Quốc hội.
Điều 91
-
Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn pḥng Quốc hội sẽ
triệu tập một phiên họp đặc biệt của
Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt
mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ư kiến của Viện
Bảo hiến và của Tổng thống.
-
Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết tŕnh trước Quốc hội
trong phiên họp đặc biệt.
Điều 92
-
Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ
được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân
biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
15) Quốc Hội có quyền phúc nghị
Điều 93
-
Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58,
59.
-
Nếu có phúc nghị,
Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích
thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
Như vậy quyền hạn của Quốc Hội
là tuyệt đối trong mọi lănh vực.
Tinh thần tiến bộ đă thể hiện
qua các dự liệu Bảo hiến và Đặc
biệt Pháp viện.
Cho nên việc phê b́nh Hiến Pháp
VNCH 1956 là độc tài hay thiếu
dân chủ là sai lầm và dĩ nhiên
có ác ư.
Đặc biệt nhất là
Tổng
Thống không có quyền giải tán
Quốc Hội
như tại các nước dân chủ Tây
Phương.
M.]
TÍNH CHẤT TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC
M1.] Căn
Bản :
Trong một đoạn
LỜI MỞ
ĐẦU
then chốt nầy của Hiến Pháp:
Ư
thức rằng nước ta ở trên con
đường giao thông và di dân quốc
tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp
nhận các trào lưu tư tưởng tiến
bộ để ḥa thành sứ mạng trước
đấng Tạo hóa và trước nhân
loại là xây dựng một nền văn
minh và nhân bản bảo vệ phát
triển con người toàn diện.
một vài tên b́nh luận gia nông
nạn cho rằng 3 chữ
đấng Tạo
hóa
là do Thiên Chúa Giáo mà có v́
Thiên Chúa Giáo c̣n gọi
đấng Tạo
hóa
là Chúa Trời, là Chúa Cha v.v. Từ
cái quan niệm ấu trĩ nầy mà mấy b́nh luận gia
đầu đường xó chợ ré
lên Hiến Pháp tư vị Công Giáo !
[(Thạc sĩ Vũ Văn Mẫu ghi rơ:
Sự
Thiên vị Thiên Chúa giáo về
Phương diện Pháp lư
Tuy nhiên
trong phần
“Mở đầu” của Hiến pháp,
đă có một đoạn phản chiếu
của một sự thiên vị Thiên
Chúa giáo khá rơ rệt như sau:
“Ư thức
rằng nước ta ở trên con
đường giao thông và di dân
quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng
tiếp nhận các trào lưu tư
tưởng tiến bộ để
hoàn thành sứ mệnh trước
Đấng Tạo Hóa
và trước nhân loại là xây
dựng một nền văn minh nhân
bản và phát triễn con người
toàn diện....”
Trong
đoạn văn trích dẫn này, phần
mở đầu của Hiến pháp 1956 đă
đề cập đến “sứ
mạng trước Đấng Tạo Hóa”
[chứ không phải trước dân
tộc], tức là trước Đức Chúa
trời trong Thiên Chúa giáo,
mà không đề cập tới các tôn
giáo khác.
Đoạn văn
này đă đượm sắc thái thiên
vị Thiên Chúa giáo. Vô t́nh
hay cố ư, đoạn văn này đă
tạo cho Thiên Chúa giáo một
địa vị ưu đăi đặc biệt tại
Việt Nam v́ Hiến pháp 1956
nói rơ là nhằm mục dích hoàn
thành sứ mạng trước Chúa tức
là Đấng Tạo hóa đă tạo dựng
ra trời đất và vạn vật
theo như
Thánh kinh của Thiên Chúa
giáo đă chép.
Sự thiên
vị này cũng không có ǵ lạ
v́ chính em Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Nhu,
giữ chức “cố vấn chính trị”
bên cạnh tổng thống cũng như
là một dân biểu đắc cử tại
quận Vạn Ninh, Ninh Ḥa (tỉnh
Khánh Ḥa) với tư cách ứng
cử viên của đảng Cần Lao.
Sự Thiên vị Thiên Chúa giáo
về Phương diện Pháp lư
)]
Ông Vũ Văn Mẫu là Thạc sĩ Luật
khoa, nhưng do hiểu biết về văn
hóa dân tộc quá thô sơ, cho nên
ông mới có suy tư nông cạn như
vậy.
Thực ra Đấng Tạo Hóa là của Việt
Nam thuần túy. Chính cái quan
niệm tôn kính Đấng Tạo Hóa mà
người Việt Nam luôn luôn ư thức
rằng
sự tạo dưng nên vũ trụ là
nhất nhất do Đấng
Tạo Hóa. Hay, dỡ, tốt, xấu, may,
rủi ... đều do Đấng Tạo Hóa mà
ra! Tôi lấy bằng cớ từ văn học
sử nước nhà.
Bằng cớ bài thơ bất hủ sau đây:
Thăng Long Thành Hoài Cổ
"Tạo
Hóa
gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh
sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Đền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước c̣n cau mặt với tang thương
Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn
trường
[Tiểu sử: Bà Huyện Thanh Quan
tên thật là Nguyễn Thị Hinh,
người làng Nghi Tàm, huyện Hoàn
long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà
Nội).
Bà là vợ ông Lưu Nghi, người
làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Tŕ,
tỉnh Hà Đông. Lưu Nghi đỗ cử
nhân năm
1821 (Minh Mệnh thứ 2),
làm tri huyện Thanh Quan (nay là
huyện Thái Ninh, tỉnh Thái B́nh),
v́ vậy người ta thường gọi bà là
"bà huyện Thanh Quan". , Trích
từ
vntq
vnthuquanDetect]
Và c̣n như trong bài :
Khóc ông Phủ Vĩnh Tường
"Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ ba sinh đă trả rồi.
Cán cân
Tạo Hóa
rơi đâu mất
Miệng túi Càn Khôn khép lại rồi"
Hồ Xuân Hương (1772–1822)
Th́ rơ ràng
Tạo Hóa
là văn hóa dân tộc,
là tín ngưỡng dân tộc, Bà Huyện
Thanh Quan, Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương
có ai là người Thiên Chúa Giáo đâu !
Nói rằng dùng 3 chữ Đấng Tạo Hóa là
thiên vị Thiên Chúa Giáo th́
không có ǵ nông cạn hơn, không phải
có cái miệng th́ muốn nói ǵ th́
nói. [bọn Lê-vi phịa ra
Nhân vật sáng lập ra trời đất
cây cối và loài người là Chúa Trời Giê-hô-va luôn
luôn ủng hộ dân tộc Do Thái, cho
nên Lê-vi bảo dân Do Thái phải
cúng kiến thật nhiều vào đền thờ
Chúa Trời Giê-hô-va!
Các Lễ Vật và Sự Chia Chát Chiến Lợi Phẩm, Lê-vi c̣n
nói thêm rằng Chúa Trời Giê-hô-va chỉ
chấp thuận cho ḍng họ Lê-vi
được hưởng những đồ cúng kiến
vào đền thờ Chúa Trời mà thôi
Lường Gạt là chủ trương căn bản],
giáo hội Công Giáo La Mă
Vatican
đần độn lại phong cho cái quái thai
Chúa Trời Giê-hô-va lên làm Chúa
Cha ! Già đầu mà c̣n dại, bọn
chúng có đứa bảy tám chục tuổi
chứ đâu phải trẻ sơ sinh.
[(Do Thái giáo phần 2: Giê-su)]
Chính Thánh Kinh của Công giáo
Vatican đă ăn cắp danh xưng Đấng
Tạo Hóa của Việt Nam để dịch
danh từ God The Creator, Le Dieu
Créatuer, chứ không phải ông Ngô
Đ́nh Nhu lấy chữ Đấng Tạo Hóa
của Thánh Kinh.
Tôi xác quyết: chính trong bản dịch
Kinh Thánh Công giáo các thừa
sai đă ăn cắp danh xưng
Tạo Hóa
của
dân tộc ta đă có từ 4 ngàn năm
về trước.
Khía cạnh duy linh của Hiến Pháp:
Ngay trong
LỜI MỞ
ĐẦU
của Hiến Pháp,
chúng ta thấy sự xác nhận tính
cách hữu thần duy linh
của dân tộc:
Tin
tưởng ở sự trường tồn của nền
văn minh Việt Nam, căn cứ trên
nền tảng duy linh mà toàn dân
đều có nhiệm vụ phát huy ;
chữ
duy linh
nói lên tính cách hữu thần, khác
với chế độ đặt trên
quan niệm vô thần, chữ
duy linh
là niềm tin của tất cả các tôn
giáo,
chứ không phải của riêng
Thiên Chúa (độc tôn, độc đoán và
độc hại).
Đây là điểm son của nhà Lập Hiến: sự trường tồn của nền
văn minh Việt Nam
qua 4 ngàn năm văn hiến của VĂN
MINH LẠC VIỆT. Rồi nhà Lập hiến
lại nêu rơ
sự trường tồn của nền
văn minh Việt Nam, căn cứ trên
nền tảng duy linh mà
toàn dân
đều có nhiệm vụ phát huy
đó là lời khuyến dụ mà các nhà
Lập hiến đă thông tri đến Quốc
dân
toàn dân
đều có nhiệm vụ phát huy.
M2.]
Công Bằng và Tự do tín ngưỡng:
Trong Hp VNCH 1956, không có một
câu nào thiên vị bất cứ một tôn
giáo nào. Ngược lại Hp VNCH 1956
ghi rơ rất minh bạch như sau:
Điều 17. –
Mọi người dân đều có quyền tự do
tín ngưỡng, tự do hành giáo, và
tự do truyền giáo, miễn là sử
dụng quyền ấy không trái với
luân lư và thuần phong mỹ tục.
Hiến pháp rơ ràng như vậy mà sau
nầy có nhiều người cố t́nh chỉ
trích VNCH I.
H́nh như không phao vu cho Đệ
Nhất VNCH th́ các địch thủ
càng ngày càng cay cú bởi cái
tác phong của các nhà Lập hiến
1956 !
Nhà Lập Hiến minh định 2 khía
cạnh then chốt
luân lư và thuần phong mỹ tục,
đặt dân tộc lên hàng đầu, đây
nguy cơ cho đạo Công giáo. Đọc
đoạn văn nầy chúng ta có liên
tưởng đến sự xung đột nhất thiết
phải có giữa "kiến trúc sư Lập
hiến" với các người Công giáo
bảo thủ.
Văn bản ghi rơ
quyền tự do
tín ngưỡng, tự do hành giáo
khác với Thiên Chúa giáo luôn
luôn muốn độc tôn
Điều 17. –
Mọi người dân đều có quyền tự do
tín ngưỡng, tự do hành giáo, và
tự do truyền giáo, miễn là sử
dụng quyền ấy không trái với
luân lư và thuần phong mỹ tục.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă
đặt Giáo hội Công giáo ở vào tư
thế của một kẻ tội phạm v́ Thánh
Kinh không có
luân lư
và vi phạm trầm trọng
thuần phong mỹ tục.
LOẠN LUÂN
là CHÍNH SÁCH
Chủ mưu giết người trong Thánh
Kinh
Nhà kiến trúc sư Hiến Pháp đă
cố t́nh bảo vệ người dân chống
lại ác quyền của Giáo hội Công
giáo Vatican một cách tích cực,
v́ đây là Hiến Pháp tức là nền
tảng của chế độ, là văn bản có
quyền lực tối thượng tuyệt đối,
nền tảng nầy không chấp nhận
những ǵ sai
trái với
luân lư và
vi phạm thuần phong mỹ tục.
Thuần phong mỹ tục của dân Việt
là thờ cúng tổ tiên (trong lúc
giáo hội Vatican th́ cho là nhân
dân Việt Nam thờ Ma Quỉ). Tôi có
nghe nói rằng cho măi đến năm
1960, Vatican mới cho giáo dân
ăn "đồ cúng"
(thật ra là năm 1961).
N.]
VĂN MINH NHÂN BẢN :
Chính trong một đoạn mở đầu then chốt
nầy của Hiến Pháp
Ư
thức rằng nước ta ở trên con
đường giao thông và di dân quốc
tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp
nhận các trào lưu tư tưởng tiến
bộ để ḥa thành sứ mạng trước
đấng Tạo hóa và trước nhân
loại là xây dựng một
nền văn
minh và nhân bản bảo vệ phát
triển con người toàn diện.
chúng ta thấy rơ nét đặc thù của
văn minh dân tộc VN là
rộng mở tiếp nhận và đăi lọc ra
được cái hay và cái đẹp trong
trào lưu tư tưởng tiến
bộ
[chứ không có cổ hủ] v́
đân tộc ta có
sứ mạng trước
đấng Tạo hóa
[mà tiền nhân ở Á Châu thường
nói là Hóa Công]
và trước nhân
loại
với mục đích
xây dựng một
nền văn
minh và nhân bản
chứ không phải phục vụ cho một
đấng thần linh hay một chủ nghĩa
mà chỉ để
bảo vệ
(sự) phát
triển con người
(một cách) toàn diện.
Điều quan trọng nhất ở đây là
dân tộc tự cường không
có cái tinh thần nô lệ qú xuống
cầu nguyện "ơn trên " bao giờ cả.
Ông Cao Thế Dung tóm lược
tinh thần uyên nguyên của Hp
VNCH 1956 một cách vô cùng chính xác:
HIẾN PHÁP
NHÂN VỊ
Ngày 26-10-1956: Công bố Hiến
Pháp VNCH. Dân chúng được đốt
pháo ăn mừng 3 ngày 26, 27 và
28. Miễn thuế chợ ngày 26.
Hiến pháp Đệ I VNCH không giống
Hiến pháp Hoa Kỳ hay HP Pháp
quốc, Quốc Hội một Viện và Viện
Bảo Hiến. Theo chế độ Tổng thống
chế. Tổng thống là Tổng Tư lệnh
Quân đội.
27-10 - TT Ngô Đ́nh Diệm tuyên
bố trước Quốc dân: “Hiến pháp Đệ
I VNCH gọi là hiến pháp NHÂN VỊ”,
gồm 98 điều, 10 chương. Mở đầu
Hiến pháp là một áng văn giá trị,
nêu lên 4 điểm:
“Văn minh Việt Nam căn cứ trên
nền tảng Duy Linh - Tin tưởng ở
giá trị siêu việt của con người
(chủ nghĩa Nhân Vị) – Nguyện
vọng củng cố độc lập, bảo vệ tự
do, xây dựng dân chủ - Tiếp nhận
mọi trào lưu tiến bộ để hoàn
thành sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa
và trước Nhân Loại”. Đoạn kết:
“Ư thức rằng dân tộc ta sẵn sàng
tiếp nhận các trào lưu tư tưởng
tiến bộ để hoàn thành sứ mạng
trước Đấng Tạo Hóa và trước Nhân
Loại là xây dựng một nền văn
minh nhân bản bảo vệ và phát
triển con người toàn diện”, trên
nền tảng dân quyền và hệ tư
tưởng nhân bản của Jean Jacques
Rousseau (1), ông tổ của Cách
mạng Dân quyền mà Tôn Dật Tiên
cũng như Ngô Đ́nh Nhu ảnh hưởng
sâu đậm. TT Diệm sùng mộ Lư Thoa,
là tên người Việt và Tầu gọi J.J.
Rousseau. Hơn một lần báo Nam
Phong hoằng dương tư tưởng dân
quyền và công lư xă hội của Lư
Thoa (2). Chủ nghĩa Nhân Vị mà
ông Nhu đề xướng KHÔNG PHẢI LÀ
THUYẾT NHÂN VỊ CÔNG GIÁO LA MĂ,
là Nhân Vị Mounier, triết gia
Công giáo hạng xoàng mà ông Nhu
coi thường.
26-10-1956 Hiến Pháp VNCH Từ ChủNghĩa NhânVị Đến QuốcGia, DuyDân,
DânTộc SinhTồn
O.]
KẾT LUẬN :
Toàn thể Hiến Pháp
đă nói lên
niềm suy tư sâu xa của nhà Lập
hiến.
HIẾN PHÁP VNCH 1956 THÍCH ỨNG
với HIỆN T̀NH ĐẤT NƯỚC:
1955, Miền Nam vừa thoát ách nô
lệ của thực dân Pháp, đất nước
trong cảnh phân hóa và nghèo đói.
Tuy nhiên khi đọc
LỜI MỞ
ĐẦU
là người ta nhận thức ngay được
cái ư chí cao cả của những nhà
Lập Hiến với ư chí kiên định và
sự tin tưởng nơi một tương lai
tươi sáng của dân tộc.
Hiến Pháp bày tỏ một niềm tin
sâu xa nơi tinh thần dân tộc, và
đặt hoài vọng lớn lao nơi quần
chúng với truyền thống bất khuất
và thành tích lịch sử oai hùng..
Văn bản đă nêu rơ sự
lo xa cho thế hệ mai sau,
bằng cách bảo vệ
quyền Công dân, với ưu tư đặc
biệt về lương hướng cho người ít
lợi tức với sự đặt trọng tâm vào
chu toàn ngân sách trước 31-12
mỗi năm, nếu không có biểu quyết
ngân sách th́ chính Tổng Thống
phải có đặc quyền về xuất ngân
chu toàn lương bỗng công nhân và
binh sĩ.
Ngoài ra ư hướng cao đẹp của nhà
Lập hiến là tạo cơ hội cho việc
phát triển mọi ngành, mọi công
dân bằng cách bảo vệ gia đ́nh
vững mạnh an sinh, nhất là kiện
toàn một nền kinh tế do sự tham
gia sâu rộng của tất cả những
thành phần liện hệ trong Hội
đồng Kinh tế Quốc gia.
HIẾN PHÁP VNCH 1956 là MỘT VĂN
BẢN HOÀN TOÀN DÂN CHỦ:
Nổi bật hơn cả là Hiến Pháp đă
đặt trọng tâm vào Quốc Hội, đó
là cơ cấu đại diện nhân dân từng
thôn xóm tỉnh thành, c̣n Tổng
Thống cũng do phổ thông đầu
phiếu là biểu hiện của cả nước
và cũng là uy quyền quốc gia dân
tộc.
Do đó mối ưu tư của nhà Lập hiến
cũng được thể hiện qua sự lập
thành một Đặc Biệt Pháp Viện có
quyền uy tối thượng, xét xử cả
Tổng Thống và các nhân vật đầu
năo của chế độ, mà quyền quyết
định của Đặc Biệt Pháp Viện hoàn
toàn đặt vào Quốc Hội, tức là
đại diện của toàn dân.
HIẾN PHÁP VNCH 1956
KHÔNG THIÊN VỊ:
Chúng ta không nên xem nặng
những lời xuyên tạc của địch thủ
của chế độ, chính những lời
xuyên tạc, chính cái thiếu lương
thiện của họ đă làm cho Hiến
Pháp VNCH 1956 càng cao đẹp và
lẫy lừng.
V́
Nhất là Hiến Pháp không hề thiên vị Thiên Chúa Gíáo.
Chỉ tiếc rằng một vài nhà b́nh
luận đă không thấu triệt về
triết lư thâm sâu Á Đông về Đấng
Tạo Hóa, mà họ đă gán cho 3 chữ
Đấng Tạo Hóa là của Thiên Chúa
Giáo. Rồi từ đó các b́nh luận
gia lại bày tỏ sự thiên vị Thiên
Chúa Giáo của Hiến Pháp VNCH
1956 ! Nhất là các b́nh luận gia
bị ảnh hưởng bởi hồ sơ
HQ401 Chứng cớ Tội Ác Phao vu của CIA
và nhất là hồ sơ
Băng Đảng
của Ngô Đ́nh Nhu
khiến cho các vị lănh tụ của Đệ
Nhất Việt Nam Cộng Ḥa phải chết
trong tận cùng ô nhục, chết
trong tiếng reo ḥ hân hoan của
dân chúng vào ngày 2 tháng 11
năm 1963.
Rồi theo năm tháng, những diễn
biến bất hạnh cho Miền Nam cũng
như sự giải mật của các
tài liệu mà CIA đă vu cáo cho "nhà
Ngô" và sự chứng minh rành mạch
trên các trang liên mạng
www.buinhuhung.com th́ người
đọc nhận chân ra được sự siêu
việt của Đệ Nhất VNCH mà đời
sống tuyệt vời lúc đó: xe đạp bỏ
quên ngoài đường phố không ai
lượm, ở thôn quê từ Quảng Trị
đến Cà Mau lúa gặt để đầy trên
bờ ruộng qua đêm chưa kịp mang
về mà không bị mất cắp,
Thưa Quí vị, cái thuở vàng son
ấy nay c̣n đâu ! và đất nước
cũng măi măi sẽ không bao giờ
t́m lại được.
Trân trọng,
Bùi Như Hùng
26 - 10 - 2010
hiệu đính ngày 1-1-2011
Montreal-Quebec-Canada
buinhuhung@hotmail.com |