TỔNG LUẬN

HIẾN PHÁP

ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A VIỆT NAM

1956

 

với TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

sự BẢO VỆ QUYỀN CÔNG DÂN

và LĂNH THỔ trong HIỆN T̀NH ĐẤT NƯỚC

 XÂY DỰNG trên NỀN TẢNG VĂN HÓA LẠC VIỆT

VÔ CÙNG TUYỆT VỜI

  Bùi Như Hùng

  26 - 10 - 2010 

  Montreal-Quebec-Canada

 

 

 

 

 

 

  HIẾN PHÁP ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A VIỆT NAM 

VIỆT NAM CỘNG H̉A

Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa

Chiếu kết quả cuộc Trưng Cầu Dân Ư ngày 23 tháng 10 năm 1955 ;

Chiếu Hiến Ước tạm thời số 1 ngày 26 tháng 10 năm 1955 ;

Chiếu dụ số 8 ngày 23 tháng Giêng năm 1956 thiết lập Quộc Hội Lập Hiến,

TUYÊN BỐ :

Nay ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20 tháng 10 năm 1956.

Sàig̣n, ngày 26-10-1956

Kư Tên. NGÔ Đ̀NH DIỆM

- chữ màu nâu là nguyên văn của Hiến Pháp

- chữ màu xanh và nghiêng là lời Thẩm Định của Bùi Như Hùng

       
  MỤC LỤC của phần THẨM ĐỊNH    
A

 NHẬP ĐỀ

PHẦN I :  PHÂN TÍCH  HIẾN PHÁP
Ă  Ư NGHĨA
 MINH ĐỊNH LẬP TRƯỜNG VÊ ĐẤT NƯỚC
B MINH ĐỊNH VÊ CHỦ QUYỀN NGƯỜI CÔNG DÂN
C MINH ĐỊNH VÊ TÍNH CÁCH TỔNG THỐNG CHẾ
D TINH THẦN QUỐC GIA DÂN TỘC
  D1 Căn Bản
  D2 Bổn Phận Công Dân
Đ TỔNG THỐNG CHẾ
  Đ1 Căn Bản Tổng Thống Chế
  Đ2 Đặc Quyền của Tổng Thống
E QUỐC HỘI
  E1 Căn bản
  E2 Đặc Quyền Quốc Hội
  E3 Tinh Thần
Ê TƯ PHÁP
  Ê1 Căn Bản
  Ê2 Đặc quyền Tư Pháp
G ĐẶC BIỆT PHÁP VIỆN
  G1 Căn Bản
  G2 Đặc Quyền Tối Thượng
H TRỌNG TÂM KINH TẾ
  H1 Căn Bản: Thành phần hội đồng bao quát
  H2 Tinh Thần
I CHÍNH NGHĨA
K SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

PHẦN II :  THẨM ĐỊNH  HIẾN PHÁP

L ĐẶT TRỌNG TÂM VÀO QUỐC HỘI
M TÍNH CHẤT TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC
  M1 Căn Bản
  M2 Công Bằng và Tự do tín ngưỡng
N VĂN MINH NHÂN BẢN
O KẾT LUẬN
     
 

Xin bấm vào đây >>>

NGUYÊN VĂN của HIẾN PHÁP

A.] NHẬP ĐỀ :

 

Toàn bộ Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa 1956 được phân tích từng điều, từng đoạn, có khi từng chữ, rồi tổng hợp ư hướng của Hiến Pháp trong một tinh thần trong sáng và xây dựng để độc giả có căn bản suy tư về một bản văn bất hủ được khai sinh ra trong một bối cảnh vô cùng đặc biệt và trong một thời kỳ lịch sử trọng đại của quốc gia Việt Nam.

 

Chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một Hiến Pháp nào trên thế giới đạt được 2 khía cạnh: Tiên tiến và Bảo vệ Truyền thống Dân tộc trong mục đích phát triển toàn diện con người như Hiến Pháp VNCH 1956.

Dư luận chung của nhiều người nghiên cứu về thể chế Việt Nam Cộng Ḥa đều cho rằng ông Ngô Đ́nh Nhu là kiến trúc sư của Hiến Pháp VNCH 1956.

Cũng đúng thôi, v́ nếu xét cho đến rốt ráo của cơ chế căn bản của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam th́ ông Ngô Đ́nh Nhu, trong tác phong, hành động và tư tưởng qua các tác phẩm siêu việt của ông [CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM] th́ Hiến Pháp VNCH 1956 là sự gởi gắm cho hậu thế một văn bản bất hủ của một bậc tài danh đă từng tốt nghiệp École Nationale des Chartes tại Paris và ông đă từng trông coi thư viện tại VN.

Từng hàng, từng chữ của HpVNCH1956 nói lên niềm tự hào dân tộc và niềm tin mănh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước. Đây là bằng cớ hùng hồn của ḷng ái quốc của quí vị lănh đạo thời Đệ Nhất VNCH.

Có nhiều b́nh luận gia danh tiếng chỉ trích nặng nề HpVNCH1956 v́ tuy họ có kiến thức sâu rộng nhưng lại bị các tài liệu xảo trá và ngụy tạo dùng để xuyên tạc bôi nhọ "nhà Ngô" [tỉ như HQ401 Chứng cớ Tội Ác Phao vu của CIA, Băng Đảng của Ngô Đ́nh Nhu ...] mà họ đă có những lời phê b́nh thiên lệch, hoàn toàn sai quấy và lố bịch.

Tất cả những lời phê b́nh của tất cả những nhà báo, luật gia, chính trị gia Việt Nam sau ngày 1 tháng 11 - 1963 đều bị ảnh hưởng của những tài liệu giả mạo của CIA vô luân, đă trơ trẽn vu cáo chính thể NĐD cho nên những tài liệu phê b́nh đó dù ít dù nhiều cũng đăng tải định kiến thiên lệch cho nên không có giá trị ǵ nhiều.

Trong những thập niên 50, rồi 60 đến 70, người ta tin ở tài liệu của CIA như con chiên tin vào Thánh Kinh, chính phủ Hoa Kỳ dựa vào các tài liệu của CIA và dùng làm  kim chỉ nam cho các quyết định của họ (cho măi đến sau nầy, CIA mới ḷi chành cái bộ mặt tận cùng đê tiện và gian trá,  th́ nước VN đă lănh đủ mọi hậu quả rùng rợn).

Những phê b́nh gia đó dù tài giỏi (như GS Thạc Sĩ Nguyễn Văn Bông, về Luật Pháp th́ không ai giỏi hơn GS Bông) cũng không có đủ khả năng về Hiến Pháp bằng một người đă tốt nghiệp École Nationale des Chartes: chính ở cái điểm nầy mà tôi đă suy nghĩ và viết ra sự nhận định của ḿnh về Hiến Pháp VNCH 1956, nền tảng của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa.

 

PHẦN  I

PHÂN TÍCH HIẾN PHÁP

 

Ă.] Ư NGHIĂ :

Chưa có một bản văn nào minh định rơ ràng tinh thần dân tộc Việt Nam bất khuất như LỜI MỞ ĐẦU của Hiến Pháp với hoài vọng bao la trong một tương lai huy hoàng của đất nước:

Sự tươi đẹp nhất của LỜI MỞ ĐẦU là đă nêu ra 2 yếu tố

- lịch sử đấu tranh oai hùng của tổ tiên

- ư chí quật cường của toàn dân

do đó mà tác giả của LỜI MỞ ĐẦU phát biểu sự  Tin tưởng vào tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam với ư chí và niềm tin mănh liệt vào quốc gia dân tộc (chứ không muốn ăn bám vào đế quốc dù đỏ dù xanh).

Cái hoài vọng và chủ trương của nhà lănh đạo ái quốc của đệ Nhất VNCH là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.

Thật là tươi đẹp ! với chú tâm  xây dựng một nền văn minh và nhân bản

và Mục đích chính và cũng là mục đích tối hậu là bảo vệ phát triển con người toàn diện chứ không phải để phục vụ cho một chủ nghĩa, hay cho nhiệm vụ thế giới đại đồng hoặc tôn thờ một đấng thần linh của bất cứ một tín ngưỡng nào cả.

Càng đọc càng suy nghĩ càng thấy tính chất siêu việt của nhà Lập Hiến: đây là một Tuyên Ngôn trước Quốc Dân vừa thoát ách thống trị của thực dân ác ôn và nhất là vừa thoát khỏi áp lực rùng rợn chặt đầu mổ bụng của Cờ Máu Việt Minh.

 

LỜI MỞ ĐẦU

Tin tưởng vào tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ư chí quật cường của toàn dân đảm bảo;

Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy ;

Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia ;

Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến :

Ư thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;

Nguyện vọng ấy là :

Củng cố Độc lập chống mọi h́nh thức xâm lăng thống trị :

Bảo vệ tự do cho mỗi ngườicho dân tộc ;

Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xă hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị ;

Ư thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lư trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng ;

Ư thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để ḥa thành sứ mạng trước đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.

Sau khi thảo luận, chấp thuận bản Hiến pháp sau đây :

Chủ đích dân tộc độc lập, cương quyết chống xâm lăng là định kiến của các nhà lập hiến lúc bấy giờ, mà suy tư của họ đă được diễn đạt thật hào hùng và quyết liệt trong niềm tự hào nơi chính dân tộc Việt Nam.

(về 3 chữ đấng Tạo Hóa xin xem mục Tính chất Hữu thần của Tín ngưỡng Dân tộc ở phần M .] dưới đây).

 

Â.] MINH ĐỊNH LẬP TRƯỜNG về ĐẤT NƯỚC:

Sự minh định vô cùng rơ ràng Việt Nam Độc lập, Thống nhất, lănh thổ bất khả phân

và cũng minh định  từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan ;

 

THIÊN THỨ NHẤT

Điều khoản Căn bản

Điều 1. – Việt Nam là một nước Cộng ḥa, Độc lập, Thống nhất, lănh thổ bất khả phân.

 

B.] MINH ĐỊNH về CHỦ QUYỀN của CÔNG DÂN:

Sự minh định như sau

Điều 2. – Chủ quyền thuộc về toàn dân.

Quyền hạng và ư nghĩa của Hành pháp và lập pháp rất rơ:

Điều 3. – Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.

Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rơ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều ḥa.

 

C.] MINH ĐỊNH TÍNH CÁCH TỔNG THỐNG CHẾ:

Tổng thống lănh đạo Quốc dân.

Sự nêu rơ Tổng thống lănh đạo Quốc dân là minh định Tổng Thống Chế. Sự lănh đạo nầy là tượng trưng Quốc Gia Dân Tộc mà không thêm một quyền hạn đặc biệt ǵ. Quyền hạn của Tổng tống được minh định bởi các điều khoản sau đó từ điều 30 đến điều 46).

Một vài nhà phê b́nh nông cạn vội cho rằng Tổng thống lănh đạo Quốc dân là như phía Cờ Máu Hiến pháp 1992 của Hà Nội xác định “Đảng Cộng sản Việt Nam,... là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hội”.   

"Đảng Cộng sản" là danh từ riêng, cho nên khi qui định Đảng Cộng sản Việt Nam,... là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hội là áp bức nhân dân phải tuân thủ mọi quyết định của Đảng Cộng Sản.

HpVNCH1956 không hề đưa ra tên tuổi của một cá nhân hay đ̣an thể nào để lănh đạo quốc dân th́ là rất hợp pháp ở nơi tính chất uyên nguyên của nó. [phê b́nh cho rằng chính ông Nhu cố t́nh thiên vị giành quyền lănh đạo cho TT Diệm là sai, sự lănh đạo nầy có hiệu lực với tất cả các vị Tổng Thống tương lai]

Nếu HpVNCH1956 ghi rằng TT Ngô Đ́nh Diệm hay Đảng Cần Lao lănh đạo Quốc dân th́ khi đó mới chỉ trích được, và Việt gian mới có cơ sở để xác minh sự so sánh với Hiến pháp Hà Nội.

Tỉ dụ như Điều Lệ của một hội đoàn ghi là "ông Chủ Tịch đại diện Hội đoàn trong mọi trường hợp" th́ có ǵ là độc tài đâu? có ǵ là lạm quyền ? có ǵ là thiên vị.

Do sự suy tư nông cạn và thiên lệch mà một vài tên cán bộ tuyên truyền đen đă vu cáo HpVNCH1956 là chủ trương độc tài (qui hết quyền hạn về cho Tổng Thống).

 

D.] TINH THẦN QUỐC GIA DÂN TỘC:

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa

Điều 4. – Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng ḥa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.

Điều 5. – Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra b́nh đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.

Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.

Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.

Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.

Ưu tư sâu xa của nhà Lập hiến ở vấn đề nhân cách, đó là đối đầu hẳn với chủ nghĩa vô luân của Cờ Máu

Điều 6. – Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều ḥa và đầy đủ nhân cách của mọi người.

Điều 7. – Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi h́nh thức đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiếp pháp.

Hơn thế nữa nhà Lập hiến đă minh định lập trường của Nước Việt Nam đối với Quốc tế, dưới 2 khía cạnh: chủ quyền quốc giab́nh đẳng giữa các dân dộc. 

Điều 8. – Nước Việt Nam Cộng Ḥa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự b́nh đẳng giữa các dân tộc.

Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và ḥa b́nh quốc tế cùng duy tŕ và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và b́nh đẳng.

 

D1.] Căn Bản

Từ điều 9 đến điều 28 là gồm 20 điều minh định quyền Công Dân vô cùng súc tích: từ quyền tư hữu, tín ngưỡng cho đến mọi thứ tự do trong đời sống riêng tư và trong xă hội.

THIÊN THỨ HAI:

Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân

Điều 9. – Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do, và an toàn.

Điều 10. – Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.

Trừ trường hợp phạm phá quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo h́nh thức luật định. Theo thể thức luật định của các bị can về tội đại h́nh hoặc tiểu h́nh có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho ḿnh.

Điều 11. – Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những h́nh phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.

Điều 12. – Đời tư, gia đ́nh, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.

Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lịnh của Ṭa án hoặc khi cần bảo vệ an ninh công cộng hay duy tŕ trật tự chung.

Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những sự đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.

Điều 13. – Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư ngụ trên lănh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm v́ duyên cớ vệ sinh hay an ninh công cộng.

Mọi ngươi dân có quyền tự do xuất ngoại, trừ trường hợp luật pháp hạn chế v́ lư do an ninh quốc pḥng, kinh tế, tài chánh, hay lợi ích công cộng.

Điều 14. – Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.

Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đ́nh một đời sống hợp với nhân phẩm.

Điều 15. – Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng, và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.

Điều 16. – Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến đạo lư công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc để lật đổ chính thể Cộng ḥa.

Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về TỰ DO TÍN NGƯỠNG, khác hẳn với Cờ Máu.

Điều 17. – Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lư và thuần phong mỹ tục.

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă đặt Giáo hội Công giáo ở vào tư thế của một kẻ tội phạm v́ Thánh Kinh không có  luân lư và vi phạm trầm trọng   thuần phong mỹ tục.

Điều 18. – Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của ḿnh.

Điều 19. – Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản b́nh đẳng.

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về QUYỀN TƯ HỮU, ĐỜI SỐNG XỨNG ĐÁNG và THỊNH VƯỢNG XĂ HỘI.

Cờ Máu sau sau 55 năm (1945-2001) thảm sát ít nhất 3 triệu dân (chặt đầu, mổ bụng, chôn sống, đâm chém, bỏ đói cho chết . . .) dưới chiêu bài chuyên chính vô sản, th́ quay ra công nhận quyền tư hữu trong chủ trương "kinh tế thị trường". Cái ngu dại vô cùng tận của Cờ Máu là đây: tàn hại dân tộc.    

Điều 20. – Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xă hội.

Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tư sản v́ công ích.

Đây là then chốt của văn bản ấn định rơ ràng quyền tư hữu chống lại Cộng sản Cờ Máu dưới chiêu bài vô sản chuyên chế.

Điều 21. – Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.

Điều 22. – Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích độc chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.

Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.

Quốc gia không thừa nhận chế độc độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định v́ nhu cầu quốc pḥng, an ninh hay v́ sự lợi ích công cộng.

Điều 23. – Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đ́nh công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.

Công chức không có quyền đ́nh công.

Quyền đ́nh công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc pḥng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.

Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về AN SINH và TƯƠNG TRỢ:

Điều 24. – Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế, Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về sự QUAN TRỌNG của GIA Đ̀NH:

Điều 25. – Quốc gia công nhận gia đ́nh là nền tảng của xă hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đ́nh, sự thực hiện sứ mạng gia đ́nh, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi. (c̣n các lănh tụ Cờ Máu th́ CHỦ TRƯƠNG PHÁ THAI ĂN BÀO THAI)

Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đ́nh.

Điều 26. – Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miến phí.

Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.

Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.

Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.

Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia công nhận.

Điều 27. – Mọi người dân đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.

Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.

Điều 28. – Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.

Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định để tôn trọng quyền của những người khác cũng là thỏa măn những đồi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lư, trật tự công cộng, quốc pḥng.

Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng ḥa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống nhứt Quốc gia sẽ bị truất quyền.

 

D2.] Bổn Phận Công Dân

Điều 29 HpVNCH1956 là điều duy nhất ấn định Bổn Phận người dân:

Điều 29. – Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.

Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng ḥa, nền tự do, dân chủ.

Ai ai cũng phải làm tṛn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.

Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng theo khả năng đóng góp của ḿnh.

Thêm vào đó Điều 40 của Hp VNCH 1956 là sự tôn trọng tuyệt đối ư kiến của người dân:

Điều 40. - Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư. Kết quả cuộc trưng cầu dân ư phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng

 

Đ.]  TỔNG THỐNG CHẾ :

Mặc dù Hiến pháp VNCH 1956 qui định VNCH theo Tổng Tống Chế nhưng quyền hạn và nhiệm vụ được ấn định một cách thông thường, không có ǵ ưu đăi hay áp chế dưới bất cứ h́nh thức nào.

THIÊN THỨ BA:

Tổng Thống

Đ1.] Căn Bản

Trong mục liên quan đến Tổng thống có cả thảy 18 điểu (từ điều 30 đến điều 47) mà 5 diều đầu tiên nói đến cách bầu và thời hạn nhận trách nhiệm

Điều 30. - Tổng Thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tổng tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng Thống.

Phó Tổng Thống được bầu một lần chung với Tổng Thống chung một danh sách.

Điều 31. - Có quyền tranh cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:

1. Sinh trên lănh thổ Việt Nam và có Quốc Tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đă hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến Pháp.
2. Cư ngụ trên lănh thổ quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất là 15 năm.
3. Đủ 40 tuổi.
4. Hưởng các quyền công dân.
Chức vụ Tổng Thống và Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lănh vực tư dù có thù lao hay không.

Điều 32. – Nhiệm kỳ Tổng Thống và Phó Tổng Thống là 5 năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần nữa.

Điều 33. - Nhiệm kỳ Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức, và nhiệm kỳ tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy.

Nhiệm vụ Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những truờng hợp sau đây:

1) Mệnh chung
2) V́ bệnh tật trầm trọng kéo dài, không c̣n năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tṛn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân Biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
3) Từ chức và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc Hội.
4) Bị truất quyền do quyết định của Đặc Biệt Pháp Viện chiếu điều 81.

Điều 34. – Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống sẽ được cử hành vào ngày Chúa Nhật ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.

Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống cho đến hết nhiệm kỳ.

Trong trường hợp dự liệu ở đoạn trên nếu không có Phó Tổng Thống, hoặc nếu Phó Tổng Thống v́ một lư do ǵ, không thể đảm đương nhiệm vụ. Chủ Tịch Quốc Hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống để xử lư thường vụ và tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội quyền nhiếp Chủ Tịch Quốc Hội.

Những điều quan trọng đều phải được Quốc Hội thông qua, tất nhiên Tổng thống không thể chuyên quyền được:

Điều 35. - Tổng Thống kư kết và sau khi được Quốc Hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.

Tổng Thống bổ nhiệm các Sứ Thần, tiếp nhận uỷ nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.

Điều 36. – Với sự thoả thuận của một nửa tổng số Dân Biểu Quốc Hội, Tổng Thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hoà ước.

Điều 40. – Với sự thoả thuận của Quốc Hội, Tổng Thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư. Kết quả cuộc trưng cầu dân ư phải được Tổng Thống và Quốc Hội tôn trọng.

Một số sinh hoạt thông thường trong nhiệm vụ "Trưởng cơ quan, Trưởng nhiệm sở" tương tự như quyền hạn của nguyên thủ quốc gia tại các nước tiên tiến và tự do, như thế th́ có ǵ là độc tài ?

Điều 37. - Tổng Thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến Pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.

Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối cao của các lực lượng quân sự. Tổng Thống ban các loại huy chương. Tổng Thống sử dụng quyền ân xá, giảm xá, ân giảm, hoán cải h́nh phạt và huyền án.

Điều 38. – Trong truờng hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến Pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi măn nhiệm kỳ.

Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong t́nh trạng khẩn cấp báo động hoặc giới nghiêm, Tổng Thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu ấy.

Tuy nhiên cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những t́nh trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.

Điều 39. - Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội bằng thông điệp.

Tổng Thống có thể dự các phiên họp  Quốc Hội và tuyên bố trước Quốc Hội.

Mỗi năm vào đầu khoá họp thường lệ thứ nh́ và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống báo cho Quốc Hội biết t́nh h́nh Quốc Gia và chính sách đối nội, đối ngoại của Chính Phủ.

Tôn trọng tuyệt đối ư kiến của người dân:

Điều 40. - Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư. Kết quả cuộc trưng cầu dân ư phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.

 

Đ2.] Đặc Quyền của Tổng Thống:

Trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, do t́nh trạng khẩn cấp [đặc biệt của VN lúc bấy giờ] Tổng Thống mới phải kư sắc lệnh cấp thời để ứng phó với t́nh h́nh, nhưng sau đó phải được Quốc Hội duyệt xét, đó là các Điều 41, 42 và 43. Điều 44 dự liệu là trong lúc khẩn trương tại một vài vùng, th́ quyết định của Tổng Thống cần phải có và chỉ có tính cách tạm thời. 

Điều 41. – Giữa hai khoá họp Quốc Hội, Tổng Thống v́ lư do khẩn cấp có thể kư sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn Pḥng Quốc Hội ngay sau khi ấy.

Trong khóa họp thường lệ tiếp cận nếu Quốc Hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.

Điều 42.-  Trong trường hợp khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc Hội có thể biểu quyết một đạo luật uỷ cho Tổng Thống trong một thời gian, với những hạn định rơ, quyền kư sắc luật để thực hiện chính sách mà Quốc Hội ấn định trong đạo luật uỷ quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn Pḥng Quốc Hội ngay sau khi kư. Ba mươi ngày sau khi măn thời hạn đă ấn định trong đạo luật uỷ quyền, nếu Quốc Hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.

Đặc quyền về Ngân sách: Đây là vấn đề cần phải suy luận: Ngân sách là huyết mạch của guồng máy Quốc Gia, nhà Lập hiến nhận thấy phải đối phó với sự tŕ trệ trong vấn đề biểu quyết ngân sách ở Quốc Hội. Tại sao vậy ?

Nguyên do v́ công nhân viênanh em quân nhân xứ ta rất nghèo, trông đến cuối tháng (ăn lương tháng) để được lănh lương nuôi sống gia đ́nh, không ai có thể đợi một hai tháng [có sống ở đất nước ta và phải có ưu tư đến an sinh dân tộc th́ mới nhận thức được sự lo âu cao quí của nhà Lập hiến], do đó mối lo hàng đầu của nhà Lập hiến là phải quyết liệt với kỳ hạn chung quyết ngân sách (dứt khoát trước 31 tháng 12), nếu không th́ Tổng Thống có quyền ban hành ngân sách cho tài khóa sau. Đây không phải là độc tài chi cả mà là bổn phận của chính phủ phải bảo đảm đời sống công nhân viên và binh sĩ. Đây là biện pháp cấp thiết cho một xứ nghèo nàn đang bị chiến tranh như Việt Nam mà nhà lănh đạo đă vô cùng quan tâm (và tận tâm) trong sự thi hành trách nhiệm mà quốc dân giao phó.

Điều 43.-  Trong trường hợp ngân sách không được Quốc Hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở điều 60, Tổng Thống có thể kư sắc luật ngân sách cho tài khoản sau.

Mỗi tam cá nguyệt, Tổng Thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc Hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.

Trong đạo luật ngân sách, Quốc Hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.

Quyền hạng của Tổng Tổng cũng chỉ giới hạn tại một vài khu vực mất an ninh. Điều 44 là trong lúc khẩn trương tại một vài vùng, quyết định của Tổng Thống chỉ có tính cách tạm thời (một vài ngày, một vài tháng). Sự chậm trể trong việc chuẩn y ngân sách có thể gây ra nhiều hậu quả không lường được, do đó Quốc hội phải dự liệu bù vào khoản hao hụt (có quyền, tất phải có trách nhiệm).  

Điều 44.- Tổng Thống có thể kư sắc lệnh tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng, các sắc lệnh này có thể tạm đ́nh chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.

3 điều khoản sau đây không có ǵ đặc biệt.

Điều 45.- Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ như sau:

Tôi long trọng tuyên thệ:
 - Tận lực cố gắng làm tṛn nhiệm vụ Tổng Thống.
 - Tôn trọng giữ ǵn và bảo vệ Hiến Pháp.
 - Trung thành phụng sự Tổ Quốc và hết ḷng phục vụ ích lợi công cộng.

Điều 46.- Tổng Thống có Phó Tổng Thống và các Bộ Trưởng và Thứ Trưởng phụ tá. Các Bộ Trưởng do Tổng Thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng Thống.

Điều 47.- Các Bộ Trưởng và Thứ Trưởng có thể hội kiến với Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch Quốc Hội và các Chủ Tịch Uỷ Ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.

 

E.] QUỐC HỘI: LẬP PHÁP

Quốc hội là cơ chế căn bản của Tự do Dân chủ.

Trong phần nầy HpVNCH1956 chỉ thành lập một viện là viện Dân biểu. Không có Thượng viện. Có lẽ là để bớt sự rườm rà (gây trễ năi, và cũng bớt kinh phí cho ngân sách quốc gia).

E1.] Căn Bản :

Có 22 điều liên quan đến Quốc Hội (từ điều 48 đến đến 69) tương đối thông thường, không có ǵ đặc biệt

THIÊN THỨ TƯ: 

Quốc Hội

CHƯƠNG MỘT:  DÂN BIỂU

Điều 48.- Đạo luật tuyển cử ấn định số dân biểu Quốc Hội và số đơn vị bầu cử.

Điều 49.- Dân biểu được bầu cử theo lối phổ thông, trực tiếp và kín theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.

Điều 50.- Có quyền ứng cử Dân Biểu những người:

1. Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đă nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đă phục hồi Việt tịch ít nhất ba năm, trừ những người đă phục hồi Việt tịch trước ngày ban hành Hiến Pháp.
2. Hưởng các quyền công dân.
3. Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu.
4. Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.

Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt, những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ Quốc hoặc những người phục hồi Việt tịch có thể được Tổng Thống kư sắc lệnh giảm thời hạn năm năm hoặc ba năm ghi trên.

Điều 51.- Nhiệm kỳ Dân Biểu là 3 năm. Các Dân Biểu có thể được tái cử.

Cuộc bầu cử Quốc Hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.

Điều 52.- Khi một Dân Biểu từ chức, mệnh chung hoặc chấm dứt nhiệm vụ v́ bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.

Sẽ không bầu Dân Biểu thay thế nếu sự khống khuyết xảy ra không đầy 6 tháng trước khi măn pháp nhiệm.

Điều 53.- Nhiệm vụ Dân Biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay một nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.

Nhiệm vụ Dân Biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ Trưởng và Thứ Trưởng.

Tuy nhiên, Dân Biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá 12 tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân Biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc Hội hoặc tại Uỷ Ban của Quốc Hội.

Dân Biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.

Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân Biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc kư hợp đồng với các cơ quan chính quyền.

Điều 54.- Không thể truy tố, tầm nă, bắt giam hay kết án một Dân Biểu v́ những lời nói hoặc v́ những sự biểu quyết tại Quốc Hội hoặc tại Uỷ Ban của Quốc Hội.

Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc Gia, hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nă, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu trong suốt thời gian các khoá họp Quốc Hội kể cả thời gian đi họp và về họp.

 

E2.] Đặc Quyền Quốc Hội:

CHƯƠNG HAI: QUYỀN HÀNH CỦA QUỐC HỘI

Điều 55.- Quốc Hội biểu quyết các đạo luật. Quốc Hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định Quốc Tế.

CHƯƠNG BA: THỦ TỤC LẬP PHÁP

Điều 56.- Dân Biểu có thể đưa ra Quốc Hội xét các dự án luật. Tổng Thống có thể đưa ra Quốc Hội xét các dự thảo luật.

Cần phải nêu rơ: các dự luật (dự án luật và dự thảo luật) sau khi được Quốc hội biểu quyết chấp thuận th́ trở thành luật

Điều 57.- Các dự án và dự thảo luật được Quốc Hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng Thống trong thời hạn 7 ngày tṛn.

Tổng Thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn 30 ngày tṛn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn c̣n 7 ngày tṛn.

Điều 58.- Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lư do để yêu cầu Quốc Hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đă được chấp thuận.

Khi phúc nghị, nếu Quốc Hội không đồng ư sửa đổi theo thông điệp Tổng Thống th́ Quốc Hội sẽ chung quyết bằng cuộc minh danh đầu phiếu với đa số 3/4  tổng số Dân Biểu Quốc Hội.

Điều 59.- Trong thời hạn ấn định ở điều 57, nếu Tổng Thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc Hội đă thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.

Điều 60.- Dự thảo ngân sách phải gửi tới Văn Pḥng Quốc Hội trước ngày 30 tháng 9. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày 31 tháng 12.

Điều 61.- Dân Biểu có quyền đề khởi những khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.

CHƯƠNG TƯ : ĐIỀU HÀNH QUỐC HỘI

Điều 62.- Quốc Hội nhóm họp những khoá thường lệ hoặc bất thường

Điều 63.- Hàng năm có hai khoá họp thường lệ; mỗi khoá đương nhiên bắt đầu ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 4 dương lịch và một khoá đương nhiên bắt đầu ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 10 dương lịch. Mỗi khoá họp thường lệ không lâu quá 3 tháng.

Điều 64.- Quốc Hội phải được triệu tập nhóm họp các khoá bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc quá nửa Tổng Số Dân Biểu Quốc Hội.
Trong trường hợp Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị tŕnh khoá họp bất thường do Tổng Thống ấn định.

Trong trường hợp Dân Biểu yêu cầu triệu tập, nghị tŕnh khoá họp bất thường do Văn Pḥng Quốc Hội ấn định.

Thời gian mỗi khoá họp bất thường của Quốc Hội không được quá 30 ngày.

Điều 65.- Quốc Hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên Quốc Hội sẽ họp kín, nếu quá nửa số Dân Biểu hiện diện hoặc Tổng Thống yêu cầu.

Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất tŕnh tại Quốc Hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc Hội họp kín.

Điều 66.- Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân Biểu, Quốc Hội sẽ chỉ định một Ủy Ban kiểm soát để phụ trách việc phúc tŕnh về vấn đề này.

Quốc Hội có trọn quyền định đoạt.

Điều 67.- Quốc Hội sẽ bầu Chủ Tịch, 2 Phó Chủ Tịch, 1 Tổng Thơ Kư, 3 Phó Tổng Thơ Kư và một số nhân viên cần thiết.

Quốc Hội chỉ định các Uỷ Ban.


Điều 68.- Quốc Hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:

 - Tổ chức nội bộ Quốc Hội và Văn Pḥng.
 - Thủ tục Quốc Hội và quyền hạn Văn Pḥng.
 - Kỷ luật trong Quốc Hội và các sự chế tài về kỷ luật.
 - Thành phần và quyền hạn các Uỷ Ban.

Điều 69 nầy là để nói về giá trị của một dự luật, chứ không phải luật, nghĩa là nếu 1 dự luật không hội đủ 1/3 dân biểu th́ coi như bị hủy mà không được đưa ra Quốc hội thảo luận. Điều luật nầy tránh cho Quốc hội phải thảo luận nhiều dự luật vu vơ.

Điều 69.- Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc Hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ túc số 1/3 tổng số Dân Biểu.

E3.] Tinh Thần :

Xét về khía cạnh Tinh Thần của bản văn nầy th́ cũng không khác mấy những bản văn của nhiều nước có nền Cộng Ḥa trong thể chế tự do dân chủ.

Dự Luật DL gồm Dự Án Luật DAL (là do Quốc Hội) và Dự Thảo Luật DTL (là do Hành pháp chuyển đến Quốc Hội) phải được 1 phần 3 (1/3) dân biểu chấp thuận mới được cứu xét, nếu nhiều hơn 1/3 th́ càng quí [cần nói rơ là DL chưa phải là luật, và DL không có một hiệu lực nào cả, chữ có giá trị của Điều 69 có nghĩa là giá trị của một DL]. C̣n những DAL và DTL không hội đủ 1/3 dân biểu chấp thuận th́ không được cứu xét để có thể trở thành luật. Điều lệ này rất cần thiết để loại bớt những  bản văn DL vu vơ.  Sau đó dĩ nhiên DL phải được Quốc hội cứu xét biểu quyết (ở hội nghị khoáng đại với đa số Dân Biểu) chấp thuận th́ mới trở thành luật.

 

Ê.] TƯ PHÁP :

Các điền khoản không có ǵ dị biệt so với đa số các bản hiến pháp của nhiều quốc gia.

THIÊN THỨ NĂM:

Thẩm Phán

Ê1.] Căn Bản :

Trong mọi quốc gia, thẩm phán luôn luôn trực thuộc Bộ Tư pháp. 

Điều 70.- Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở điều 4, tư pháp được ấn định theo nguyên tắc b́nh đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm Phán Xử Án.

Điều 71.- Thẩm Phán Xử Án quyết định theo lương tâm ḿnh, tôn trọng luật pháp và quyền lợi quốc gia.

Điều 72.- Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp, Thẩm Phán Công Tố trông coi và theo dơi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lư và trật tự công cộng.

Ê2.] Đặc Quyền :

Thẩm phán có đặc quyền lập Thượng Hội Đồng, đó là đặc quyền của một cơ chế dân chủ. Dĩ nhiên Thượng Hội Đồng là cơ chế tư pháp độc lập, trong sự phân quyền Hành pháp, Tư pháp và Lập pháp.

Điều 73.- Sẽ thiết lập một Thượng Hội Đồng Thẩm Phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế thẩm phán xử án. Tổ chức điều hành và quyền hạn của Thượng Hội Đồng sẽ do luật định.

 

G.] ĐẶC BIỆT PHÁP VIỆN

Sự thiết lập Đặc biêt Pháp viện rất là đặc sắc và tiên tiến của một chế độ dân chủ hạng nhất.

THIÊN THỨ VI:

Đặc biệt Pháp viện 

 

G1.] Căn Bản :

Đây là cơ chế có quyền lực tối thượng trên cả Tổng Thống. Như vậy sự bảo đảm cho dân chủ không ǵ quí hơn và hữu hiệu hơn.

Điều 74.- Đặc Biệt Pháp Viện là một Toà Án Đặc Biệt có thẩm quyền xét xử Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Chánh Án và Chủ Tịch Viện Bảo Hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.

Tất cả thành phần của Đặc Biệt Pháp Viện và ủy ban điều tra không có người nào do chính phủ hay do Tổng Thống tham gia, tức là Tổng Thống không có quyền ǵ cả, tất cả quyền hạn là của Quốc Hội:

Điều 75.- Đặc Biệt Pháp Viện gồm có:

 - Chánh Án Toà Phá Án . . . Chánh Án.
 - Mười lăm dân biểu, do Quốc Hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ . . . Hội Thẩm.
Khi Chánh Án Toà Án là bị can, Chủ Tịch Viện Bảo Hiến sẽ ngồi ghế Chánh Án.

Điều 76.- Ban điều tra của Đặc Biệt Pháp Viện gồm 5 Dân Biểu do Quốc Hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.

Những người phê b́nh của phe Cờ Máu hay của CIA giả đ̣ đui mù không nh́n thấy các chi tiết cao đẹp của Hiến Pháp nước ta.

 

G2.]   Đặc Quyền Tối Thượng:

Các điều khoản sau đây cũng được áp dụng để bảo đảm không có sự lạm dụng đặc quyền tối thượng nầy.

Điều 77.- Sự khởi tố theo các điều kiện sau:

a) Phải có một bản đề nghị viện dẫn lư do được ba phần năm (3/5) tổng số Dân Biểu Quốc Hội kư tên, nạp tại Văn Pḥng Quốc Hội mười lăm (15) ngày trước khi thảo luận.
b) Đề khi đó phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu Quốc Hội chấp thuận.
c) Các Dân Biểu trong Đặc Biệt Pháp Viện và trong Ban Điều Tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.

Điều 78.- Nhiệm vụ của đương sự bị đ́nh chỉ từ khi Quốc Hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết. Trong thời gian này, sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở điều 34, đoạn 2 và đoạn 3.

Điều 79.- Ban Điều Tra có quyền đ̣i hỏi nhân chứng và đ̣i các cơ quan liên hệ xuất tŕnh các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều Tra sẽ làm tờ tŕnh trong thời hạn hai tháng trừ khi được Đặc Biệt Pháp Viện triển hạn một tháng nữa.

Điều 80.- Đặc Biệt Pháp Viện họp để nghe Ban Điều Tra và đương sự tŕnh bày và phán quyết theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số nhân viên.

Điều 81.- Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc Biệt Pháp Viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.

 

H.] TRỌNG TÂM KINH TẾ :

Hiến pháp c̣n dự liệu một cơ chế đặc biệt cho Kinh tế Quốc gia, đó là Hội đồng Kinh tế Quốc gia.

Nhà Lập hiến đă chứng minh khả năng về việc trị quốc, mà ở đây người ta đă t́m thấy sự ưu tư sâu xa về kinh tế, huyết mạch của chế độ thiết tha đến sự thịnh vượng  của dân chúng.

 

THIÊN THỨ VII:

Hội đồng Kinh tế Quốc gia

 

H1.] Căn Bản : Thành phần hội đồng bao quát

Cái tiên tiến của Hiến pháp nầy là khuyến khích và đặt căn bản cho sự tham gia của các nghiệp đoàn, của các nhà kinh tế học, của các ngành hoạt động kinh tế, kể cả các hoạt động xă hội có liên quan đến kinh tế. 

Điều 82.- Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia có nhiệm vụ tŕnh bày sáng kiến và phát biểu ư kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.

Hội Viên Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia được lựa chọn trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xă hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.

Chức vụ Hội Viên Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân Biểu Quốc Hội.

H2.] Tinh Thần :

Đây là bằng cớ của của sự ưu việt của nhà Lập hiến trong ưu tư quốc thái dân an, bởi v́ từ cả trăm năm rồi đâu có ai lo cho con dân đâu. Chính sự thành lập Hội đồng Kinh tế Quốc gia mà thể theo các cuộc hội thảo th́ chính phủ mới có đủ yếu tố để dự chi ngân sách đáp ứng cho sự phát triển kinh tế và bảo đản an minh quốc gia.

Do khái niệm về sự quan trọng của Kinh Tế QG, cho nên Hội Đồng KTQG được đặt dưới sự chủ tọa của Phó Tổng Thống.

Điều 83.- Phó Tổng Thống là Chủ Tịch Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia.

Điều 84.- Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia.

 

 

I.] CHÍNH NGHĨA :

Đây là mối ưu tư của sự tồn vong của thể chế dân chủ.

 

THIÊN THỨ VIII :

Viện Bảo hiến

Cơ chế nầy có nhiệm vụ duyệt xét tối hậu cả về luật và cách hành xử của hành pháp.

Mọi công dân đều có quyền khiếu nại về tánh cách hợp hiến của luật và hành chánh.

Điều 85.-  Viện Bảo Hiến phán quyết về tính cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật và quy tắc hành chánh.

Điều 86. -  Viện Bảo Hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc Hội gồm có:
 - Một Chủ Tịch do Tổng Thống cử với thoả hiệp của Quốc Hội.
 - Bốn thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng Thống cử.
 - Bốn Dân Biểu do Quốc Hội cử.

Điều 87.-  Viện Bảo Hiến thụ lư các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật và quy tắc hành chánh do các toà án nạp tŕnh.

Phán quyết của Viện Bảo Hiến có hiệu lực đ́nh chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công Báo. 

Điều 88.-  Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo Hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.

 

 

K.] SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP :

Không có ǵ đáng bàn

THIÊN THỨ IX:

 Sửa đổi Hiến pháp

Điều 89.- Không thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ các điều 1, 2, 3, 4 và điều này của Hiến Pháp

Điều 90.- Tổng Thống hoặc hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu có thể đề nghị sửa đổi Hiến Pháp.

Đề nghị  sửa đổi Hiến Pháp có viện dẫn lư do phải đủ chữ kư và nạp tại Văn Pḥng Quốc Hội.

Điều 91.- Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến Pháp, Văn Pḥng Quốc Hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc Hội để cử một Uỷ Ban gồm ít nhất mười lăm (15) người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ư kiến của Viện Bảo Hiến và của Tổng Thống.

Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày (60), Uỷ Ban sẽ thuyết tŕnh trước Quốc Hội trong phiên họp đặc biệt.

Điều 92.- Đề nghị sửa đổi Hiến Pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.

Điều 93.- Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các điều 57, 58, 59.

Nếu có phúc nghị, Quốc Hội chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.

Điều 94.- Hiến Pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu Tháng mười năm một ngh́n chín trăm năm mươi sáu (26/10/1956).

Điều 95.- Quốc Hội dân cử ngày mồng bốn Tháng ba năm một ngh́n chín trăm năm mươi sáu (14/3/1956) sẽ là Quốc Hội Lập Pháp đầu tiên theo Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà.

Nhiệm kỳ Quốc Hội Lập Pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến Pháp và chấm dứt ngày ba mươi Tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi mốt (30/9/1961)

 

Đây chỉ là sự chuyển tiếp, không có ǵ đặc biết.

Điều 96.- Đương kim Tổng Thống được nhân dân uỷ nhiệm thiết lập nền dân chủ do cuộc trưng cầu dân ư ngày hai mươi ba Tháng mười năm một ngàn chín trăm năm mươi lăm (23/10/1955), sẽ là Tổng Thống đầu tiên theo Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà.

Nhiệm kỳ Tổng Thống bắt đầu từ ngày ban hành Hiến Pháp và chấm dứt ngày ba mươi Tháng tư năm một ngàn chín trăm sáu mươi mốt(30/4/1961)

Điều 97.- Trong khóa họp thứ nhất của Quốc Hội Lập Pháp đầu tiên đương kim Tổng Thống sẽ chỉ định Phó Tổng Thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhất định nếu được Quốc Hội chấp thuận.

Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng Thống mới cũng theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng Thống đầu tiên.

Điều 98.- Trong nhiệm kỳ lập pháp đầu tiên, Tổng Thống có thể tạm đ́nh chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đ́nh công để thoả măn những đ̣i hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc pḥng. 

 

PHẦN  II

THẨM ĐỊNH HIẾN PHÁP

 

L.] HIẾN PHÁP đặt TRỌNG TÂM vào QUỐC HỘI:

Chứng cứ về sự dân chủ pháp trị tuyệt đối: 

Có 22 điều liên quan đến Quốc Hội (từ điều 48 đến đến 69)

Thực ra Quốc Hội có liên quan trong toàn thể Hiến Pháp, nhất là trong những vấn đề cực kỳ quan trọng.

 

Quốc Hội là nền tảng dân chủ, do đó Hiến Pháp VNCH 1956 dành rất nhiều quyền hạn cho Quốc Hội:

a) Quyền Lợi trọng đại của Quốc gia, hoạt động của Tổng Thống phải được Quốc Hội thỏa thuận

1) Thay thế Tổng Thống

Điều 34

Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.

Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.

Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, v́ một lư do ǵ, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lư thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.

2) Chấp thuận và phê chuẩn các điều ước và hiệp định do Tổng Thống kư (Nếu QH không chấp thuận th́ các văn bản mà TT kư kết đều vô giá trị)

Điều 35

Tổng thống kư kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.

3) Chấp thuận đặc biệt

Điều 36

Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn ḥa ước.

4) Tổng Thống có nhiệm vụ thông báo cho Quốc Hội

Điều 39

Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.

Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.

Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nh́ và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết t́nh h́nh Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.

5) Trưng cầu dân ư

Điều 40

Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ư. Kết quả cuộc trưng cầu dân ư phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.

6) Bảo đảm đặc quyền của Dân biểu:

 Điều 54

Không thể truy tố, tầm nă, bắt giam hay kết án một Dân biểu v́ những lời nói hoặc v́ những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.

Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nă, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.

7) Quyền hạn đă qui định như trên

Điều 55

Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.

8) Tổng Thống không có quyền không công bố luật đă được QH thông qua

Điều 59

Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đă thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.

9) Quốc hội có thẩm quyền tuyệt đối cứu xét ngân sách và chuẩn chi.

Điều 60

Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn pḥng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.

 Điều 61

Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.

10) Quốc Hội có quyền xét xử Tổng Thống và các nhân vật quan trọng

Điều 74

Đặc biệt Pháp viện là một ṭa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Ṭa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.

Điều 75

Đặc biệt Pháp viện gồm có:

Chánh án Ṭa Phá án, Chánh án;

Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, Hội thẩm.

Khi Chánh án Ṭa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.

11) Quyền điều tra

Điều 76

Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.

12) Quyền quyết định truất phế

Điều 77

Sự khởi tố theo các điều kiện sau:

a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lư do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội kư tên, nạp tại Văn pḥng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;

b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.

c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.

13) Quốc Hội có quyền tham gia vào Viện Bảo Hiến ngang quyền với Tổng Thống

Điều 86

Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:

Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.

4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;

4 Dân biểu do Quốc hội cử.

14) Quốc Hội có quyền trong việc thay đổi Hiến Pháp

 Điều 90

Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.

Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lư do phải đủ chữ kư và nạp tại Văn pḥng Quốc hội.

  Điều 91

Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn pḥng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ư kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.

Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết tŕnh trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.

  Điều 92

Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.

 

15) Quốc Hội có quyền phúc nghị

Điều 93

Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.

Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.

Như vậy quyền hạn của Quốc Hội là tuyệt đối trong mọi lănh vực. Tinh thần tiến bộ đă thể hiện qua các dự liệu Bảo hiến và Đặc biệt Pháp viện.

Cho nên việc phê b́nh Hiến Pháp VNCH 1956 là độc tài hay thiếu dân chủ là sai lầm và dĩ nhiên có ác ư.

   Đặc biệt nhất là

                               Tổng Thống không có quyền giải tán Quốc Hội

                                                               như tại các nước dân chủ Tây Phương.

 

 

M.] TÍNH CHẤT TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC

M1.] Căn Bản :

Trong một đoạn LỜI MỞ ĐẦU  then chốt nầy của Hiến Pháp:

Ư thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để ḥa thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.

một vài tên b́nh luận gia nông nạn cho rằng 3 chữ đấng Tạo hóa là do Thiên Chúa Giáo mà có v́ Thiên Chúa Giáo c̣n gọi đấng Tạo hóa  là Chúa Trời, là Chúa Cha v.v. Từ cái quan niệm ấu trĩ nầy mà mấy b́nh luận gia đầu đường xó chợ ré lên Hiến Pháp tư vị Công Giáo !

[(Thạc sĩ Vũ Văn Mẫu ghi rơ:  Sự Thiên vị Thiên Chúa giáo về Phương diện Pháp lư

Tuy nhiên trong phần “Mở đầu” của Hiến pháp, đă có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên Chúa giáo khá rơ rệt như sau:
     “Ư thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn con người toàn diện....”
     Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956 đă đề cập đến “sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa” [chứ không phải trước dân tộc], tức là trước Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các tôn giáo khác.
     Đoạn văn này đă đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo.  Vô t́nh hay cố ư, đoạn văn này đă tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đăi đặc biệt tại Việt Nam v́ Hiến pháp 1956 nói rơ là nhằm mục dích hoàn thành sứ mạng trước Chúa tức là Đấng Tạo hóa  đă tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo như  Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đă chép.
     Sự thiên vị này cũng không có ǵ lạ v́ chính em Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Nhu, giữ chức “cố vấn chính trị”  bên cạnh tổng thống cũng như là một dân biểu đắc cử   tại quận Vạn Ninh, Ninh Ḥa (tỉnh Khánh Ḥa) với tư cách ứng cử viên  của đảng Cần Lao. Sự Thiên vị Thiên Chúa giáo về Phương diện Pháp lư )]

Ông Vũ Văn Mẫu là Thạc sĩ Luật khoa, nhưng do hiểu biết về văn hóa dân tộc quá thô sơ, cho nên ông mới có suy tư nông cạn như vậy.

Thực ra Đấng Tạo Hóa là của Việt Nam thuần túy. Chính cái quan niệm tôn kính Đấng Tạo Hóa mà người Việt Nam luôn luôn ư thức rằng sự tạo dưng nên vũ trụ là nhất nhất do Đấng Tạo Hóa. Hay, dỡ, tốt, xấu, may, rủi ... đều do Đấng Tạo Hóa mà ra! Tôi lấy bằng cớ từ văn học sử nước nhà.

Bằng cớ bài thơ bất hủ sau đây:

Thăng Long Thành Hoài Cổ

"Tạo Hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo

Đền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước c̣n cau mặt với tang thương

Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

[Tiểu sử: Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, huyện Hoàn long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Bà là vợ ông Lưu Nghi, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Tŕ, tỉnh Hà Đông. Lưu Nghi đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mệnh thứ 2), làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái B́nh), v́ vậy người ta thường gọi bà là "bà huyện Thanh Quan". , Trích từ vntq vnthuquanDetect]

Và c̣n như trong bài :

Khóc ông Phủ Vĩnh Tường

"Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi

Cái nợ ba sinh đă trả rồi.

Cán cân Tạo Hóa rơi đâu mất

Miệng túi Càn Khôn khép lại rồi"

Hồ Xuân Hương (1772–1822)

Th́ rơ ràng Tạo Hóa là văn hóa dân tộc, là tín ngưỡng dân tộc, Bà Huyện Thanh Quan, Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương có ai là người Thiên Chúa Giáo đâu !

Nói rằng dùng 3 chữ Đấng Tạo Hóa là thiên vị Thiên Chúa Giáo th́ không có ǵ nông cạn hơn, không phải có cái miệng th́ muốn nói ǵ th́ nói. [bọn Lê-vi phịa ra Nhân vật sáng lập ra trời đất cây cối và loài người là Chúa Trời Giê-hô-va luôn luôn ủng hộ dân tộc Do Thái, cho nên Lê-vi bảo dân Do Thái phải cúng kiến thật nhiều vào đền thờ Chúa Trời Giê-hô-va! Các Lễ Vật và Sự Chia Chát Chiến Lợi Phẩm, Lê-vi c̣n nói thêm rằng Chúa Trời Giê-hô-va chỉ chấp thuận cho ḍng họ Lê-vi được hưởng những đồ cúng kiến vào đền thờ Chúa Trời mà thôi Lường Gạt là chủ trương căn bản], giáo hội Công Giáo La Mă Vatican đần độn lại phong cho cái quái thai Chúa Trời Giê-hô-va lên làm Chúa Cha ! Già đầu mà c̣n dại, bọn chúng có đứa bảy tám chục tuổi chứ đâu phải trẻ sơ sinh. [(Do Thái giáo phần 2: Giê-su)]

Chính Thánh Kinh của Công giáo Vatican đă ăn cắp danh xưng Đấng Tạo Hóa của Việt Nam để dịch danh từ God The Creator, Le Dieu Créatuer, chứ không phải ông Ngô Đ́nh Nhu lấy chữ Đấng Tạo Hóa của Thánh Kinh.

Tôi xác quyết: chính trong bản dịch Kinh Thánh Công giáo các thừa sai đă ăn cắp danh xưng Tạo Hóa  của dân tộc ta đă có từ 4 ngàn năm về trước.

Khía cạnh duy linh của Hiến Pháp:

Ngay trong LỜI MỞ ĐẦU của Hiến Pháp, chúng ta thấy sự xác nhận tính cách hữu thần duy linh của dân tộc:

Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy ;

chữ  duy linh nói lên tính cách hữu thần, khác với chế độ đặt trên quan niệm vô thần, chữ  duy linh là niềm tin của tất cả các tôn giáo,

chứ không phải của riêng Thiên Chúa (độc tôn, độc đoán và độc hại).

Đây là điểm son của nhà Lập Hiến: sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam qua 4 ngàn năm văn hiến của VĂN MINH LẠC VIỆT. Rồi nhà Lập hiến lại nêu rơ sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy 

đó là lời khuyến dụ mà các nhà Lập hiến đă thông tri đến Quốc dân  toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy.

 

M2.] Công Bằng và Tự do tín ngưỡng:

Trong Hp VNCH 1956, không có một câu nào thiên vị bất cứ một tôn giáo nào. Ngược lại Hp VNCH 1956 ghi rơ rất minh bạch như sau:

Điều 17. – Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lư và thuần phong mỹ tục.

Hiến pháp rơ ràng như vậy mà sau nầy có nhiều người cố t́nh chỉ trích VNCH I.

H́nh như không phao vu cho Đệ Nhất VNCH th́ các địch thủ càng ngày càng cay cú bởi cái tác phong của các nhà Lập hiến 1956 ! 

Nhà Lập Hiến minh định 2 khía cạnh then chốt luân lư thuần phong mỹ tục, đặt dân tộc lên hàng đầu, đây  nguy cơ cho đạo Công giáo. Đọc đoạn văn nầy chúng ta có liên tưởng đến sự xung đột nhất thiết phải có giữa "kiến trúc sư Lập hiến" với các người Công giáo bảo thủ.

Văn bản ghi rơ quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo khác với Thiên Chúa giáo luôn luôn muốn độc tôn

Điều 17. – Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lư và thuần phong mỹ tục.

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đă đặt Giáo hội Công giáo ở vào tư thế của một kẻ tội phạm v́ Thánh Kinh không có  luân lư và vi phạm trầm trọng   thuần phong mỹ tục.

LOẠN LUÂN là CHÍNH SÁCH

Chủ mưu giết người trong Thánh Kinh

Nhà kiến trúc sư Hiến Pháp đă cố t́nh bảo vệ người dân chống lại ác quyền của Giáo hội Công giáo Vatican một cách tích cực, v́ đây là Hiến Pháp tức là nền tảng của chế độ, là văn bản có quyền lực tối thượng tuyệt đối, nền tảng nầy không chấp nhận những ǵ sai trái với luân lư và vi phạm thuần phong mỹ tục. Thuần phong mỹ tục của dân Việt là thờ cúng tổ tiên (trong lúc giáo hội Vatican th́ cho là nhân dân Việt Nam thờ Ma Quỉ). Tôi có nghe nói rằng cho măi đến năm 1960, Vatican mới cho giáo dân ăn "đồ cúng" (thật ra là năm 1961).

 

N.]   VĂN MINH NHÂN BẢN : 

Chính trong một đoạn mở đầu then chốt nầy của Hiến Pháp

Ư thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để ḥa thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.

chúng ta thấy rơ nét đặc thù của văn minh dân tộc VN là rộng mở tiếp nhận và đăi lọc ra được cái hay và cái đẹp trong  trào lưu tư tưởng tiến bộ  [chứ không có cổ hủ] v́ đân tộc ta có sứ mạng trước đấng Tạo hóa [mà tiền nhân ở Á Châu thường nói là Hóa Công] và trước nhân loại  với mục đích xây dựng một nền văn minh và nhân bản chứ không phải phục vụ cho một đấng thần linh hay một chủ nghĩa mà chỉ để  bảo vệ (sự) phát triển con người (một cách) toàn diện.

Điều quan trọng nhất ở đây là dân tộc tự cường  không có cái tinh thần nô lệ qú xuống cầu nguyện "ơn trên " bao giờ cả.

Ông Cao Thế Dung tóm lược tinh thần uyên nguyên của Hp VNCH 1956 một cách vô cùng chính xác:

HIẾN PHÁP NHÂN VỊ

Ngày 26-10-1956: Công bố Hiến Pháp VNCH. Dân chúng được đốt pháo ăn mừng 3 ngày 26, 27 và 28. Miễn thuế chợ ngày 26.

Hiến pháp Đệ I VNCH không giống Hiến pháp Hoa Kỳ hay HP Pháp quốc, Quốc Hội một Viện và Viện Bảo Hiến. Theo chế độ Tổng thống chế. Tổng thống là Tổng Tư lệnh Quân đội.

27-10 - TT Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố trước Quốc dân: “Hiến pháp Đệ I VNCH gọi là hiến pháp NHÂN VỊ”, gồm 98 điều, 10 chương. Mở đầu Hiến pháp là một áng văn giá trị, nêu lên 4 điểm:

“Văn minh Việt Nam căn cứ trên nền tảng Duy Linh - Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người (chủ nghĩa Nhân Vị) – Nguyện vọng củng cố độc lập, bảo vệ tự do, xây dựng dân chủ - Tiếp nhận mọi trào lưu tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa và trước Nhân Loại”. Đoạn kết: “Ư thức rằng dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa và trước Nhân Loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản bảo vệ và phát triển con người toàn diện”, trên nền tảng dân quyền và hệ tư tưởng nhân bản của Jean Jacques Rousseau (1), ông tổ của Cách mạng Dân quyền mà Tôn Dật Tiên cũng như Ngô Đ́nh Nhu ảnh hưởng sâu đậm. TT Diệm sùng mộ Lư Thoa, là tên người Việt và Tầu gọi J.J. Rousseau. Hơn một lần báo Nam Phong hoằng dương tư tưởng dân quyền và công lư xă hội của Lư Thoa (2). Chủ nghĩa Nhân Vị mà ông Nhu đề xướng KHÔNG PHẢI LÀ THUYẾT NHÂN VỊ CÔNG GIÁO LA MĂ, là Nhân Vị Mounier, triết gia Công giáo hạng xoàng mà ông Nhu coi thường.

 26-10-1956 Hiến Pháp VNCH Từ ChủNghĩa NhânVị Đến QuốcGia, DuyDân, DânTộc SinhTồn

 

 O.]  KẾT LUẬN :

Toàn thể Hiến Pháp đă nói lên niềm suy tư sâu xa của nhà Lập hiến.

HIẾN PHÁP VNCH 1956 THÍCH ỨNG với HIỆN T̀NH ĐẤT NƯỚC:

1955, Miền Nam vừa thoát ách nô lệ của thực dân Pháp, đất nước trong cảnh phân hóa và nghèo đói. Tuy nhiên khi đọc LỜI MỞ ĐẦU là người ta nhận thức ngay được cái ư chí cao cả của những nhà Lập Hiến với ư chí kiên định và sự tin tưởng nơi một tương lai tươi sáng của dân tộc.

Hiến Pháp bày tỏ một niềm tin sâu xa nơi tinh thần dân tộc, và đặt hoài vọng lớn lao nơi quần chúng với truyền thống bất khuất và thành tích lịch sử oai hùng..

Văn bản đă nêu rơ  sự  lo xa  cho thế hệ mai sau, bằng cách bảo vệ quyền Công dân, với ưu tư đặc biệt về lương hướng cho người ít lợi tức với sự đặt trọng tâm vào chu toàn ngân sách trước 31-12 mỗi năm, nếu không có biểu quyết ngân sách th́ chính Tổng Thống phải có đặc quyền về xuất ngân chu toàn lương bỗng công nhân và binh sĩ.

Ngoài ra ư hướng cao đẹp của nhà Lập hiến là tạo cơ hội cho việc phát triển mọi ngành, mọi công dân bằng cách bảo vệ gia đ́nh vững mạnh an sinh, nhất là kiện toàn một nền kinh tế do sự tham gia sâu rộng của tất cả những thành phần liện hệ trong Hội đồng Kinh tế Quốc gia.

HIẾN PHÁP VNCH 1956 là MỘT VĂN BẢN  HOÀN TOÀN DÂN CHỦ:

Nổi bật hơn cả là Hiến Pháp đă đặt trọng tâm vào Quốc Hội, đó là cơ cấu đại diện nhân dân từng thôn xóm tỉnh thành, c̣n Tổng Thống cũng do phổ thông đầu phiếu là biểu hiện của cả nước và cũng là uy quyền quốc gia dân tộc.

Do đó mối ưu tư của nhà Lập hiến cũng được thể hiện qua sự lập thành một Đặc Biệt Pháp Viện có quyền uy tối thượng, xét xử cả Tổng Thống và các nhân vật đầu năo của chế độ, mà quyền quyết định của Đặc Biệt Pháp Viện hoàn toàn đặt vào Quốc Hội, tức là đại diện của toàn dân.

HIẾN PHÁP VNCH 1956 KHÔNG THIÊN VỊ:

Chúng ta không nên xem nặng những lời xuyên tạc của địch thủ của chế độ, chính những lời xuyên tạc, chính cái thiếu lương thiện của họ đă làm cho Hiến Pháp VNCH 1956 càng cao đẹp và lẫy lừng.    

Nhất là Hiến Pháp không hề thiên vị Thiên Chúa Gíáo. Chỉ tiếc rằng một vài nhà b́nh luận đă không thấu triệt về triết lư thâm sâu Á Đông về Đấng Tạo Hóa, mà họ đă gán cho 3 chữ Đấng Tạo Hóa là của Thiên Chúa Giáo. Rồi từ đó các b́nh luận gia lại bày tỏ sự thiên vị Thiên Chúa Giáo của Hiến Pháp VNCH 1956 ! Nhất là các b́nh luận gia bị ảnh hưởng bởi hồ sơ HQ401 Chứng cớ Tội Ác Phao vu của CIA  và nhất là hồ sơ  Băng Đảng của Ngô Đ́nh Nhu  khiến cho các vị lănh tụ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa phải chết trong tận cùng ô nhục, chết trong tiếng reo ḥ hân hoan của dân chúng vào ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Rồi theo năm tháng, những diễn biến bất hạnh cho Miền Nam cũng như sự giải mật  của các tài liệu mà CIA đă vu cáo cho "nhà Ngô" và sự chứng minh rành mạch trên các trang liên mạng www.buinhuhung.com th́ người đọc nhận chân ra được sự siêu việt của Đệ Nhất VNCH mà đời sống tuyệt vời lúc đó: xe đạp bỏ quên ngoài đường phố không ai lượm, ở thôn quê từ Quảng Trị đến Cà Mau lúa gặt để đầy trên bờ ruộng qua đêm chưa kịp mang về mà không bị mất cắp,

Thưa Quí vị, cái thuở vàng son ấy nay c̣n đâu ! và đất nước cũng măi măi sẽ không bao giờ t́m lại được.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

26 - 10 - 2010 

hiệu đính ngày 1-1-2011

Montreal-Quebec-Canada

buinhuhung@hotmail.com

 

 Tài liệu phổ biến lên liên mạng toàn cầu ngày 1 tháng 1 năm 2011 lúc 0 giờ - giờ Saigon

 

Mỗi một người chúng ta góp lại mà làm nên Lịch Sử

 

Sự  nghiên cứu  văn bản  Hiến Pháp Đệ Nhất VNCH

cho người ta thấy sự đanh ác và ngu dốt của Hoa Kỳ

Chứng cớ Tội ác của Hoa Kỳ

Cộng tác với Hoa Kỳ

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2012

 

 

 

 

 

 

 

 

   
 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage