Dưới đây là môt tài liệu có một ít giá trị về lập luận - tỉ như về ngày sinh -

tuy nhiên những nhận xét đầy thiên kiến và ác ư do mánh lới tuyên truyền cho phe nhóm đă làm mất đi tính chất sử liệu v́ phê b́nh thiếu khách quan.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2011

buinhuhung@hotmail.com

  

Mỗi một người chúng ta góp lại mà làm nên Lịch Sử

 
 

 

 

Phụ nữ Today

Tư liệu mới: V́ sao Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu phải chết?

(Phunutoday)- Ngày 01/11/1963, tại miền Nam Việt Nam xảy ra một biến cố lịch sử khiến cả thế giới chú ư, đó là Ngô Đ́nh Diệm - Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà – bị một nhóm tướng lĩnh thuộc quyền đảo chính bằng quân sự. Sau đó, ông ta cùng người em trai Ngô Đ́nh Nhu bị sát hại bí ẩn.

Sau biến cố ấy, nhiều sử gia trong nước lẫn nước ngoài đă tốn rất nhiều công sức để đi t́m những bí mật ẩn đàng sau cái chết của anh em nhà Ngô Đ́nh. Và người ta dần phát hiện ra rằng, Mỹ chính là đạo diễn của tṛ chơi. Tuy nhiên người ta vẫn thắc mắc v́ sao Diệm phải chết?

Thân thế một diễn viên chính trị 

Mô tả ảnh.
Ngô Đ́nh Diệm
Cho đến tận bây giờ, khi chính quyền “gia đ́nh trị” của Ngô Đ́nh Diệm đă theo ông ta xuống huyệt mộ gần nửa thế kỷ, một số người vẫn c̣n tranh căi về tiểu sử thật của ông ta. Có dư luận mơ hồ cho rằng, Diệm là kết quả của một cuộc t́nh vụn trộm ngoại hôn của cha ông với một người phụ nữ nào đó, v́ vậy mới có chuyện lộn xộn ngày tháng năm sinh.

Ngoài cái tên Ngô Đ́nh Diệm và tên thánh Jean Baptiste ra, ông ta c̣n có một cái tên bí mật nữa, đó là Nguyễn Bá Chinh. Theo tài liệu văn khố Pháp th́ ông ta sinh ngày 27/07/1897 tại Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng B́nh. Nhưng sau khi mang chức Thủ tướng của chính quyền Bảo Đại, ông ta công bố ngày sinh của ḿnh là 03/01/1901, tại Phước Quả, Thừa Thiên.

Hoá ra năm 1917, khi làm việc tại Tân Thư Viện Huế và tập ấm chức Cửu Phẩm, ông mới… 16 tuổi (nếu căn cứ theo năm sinh 1901). Việc này, ông Ngô Đ́nh Luyện – Em trai ông – kể với báo giới tại Paris ngày 02/11/1985 rằng, Diệm khai tăng 4 tuổi để có thể vào trường Hậu Bổ. Tuy nhiên, ngày và tháng sinh thật của ông, không nghe ai giải thích v́ sao chênh lệch.

Lời xác nhận của ông Luyện có vẻ đúng, v́ nếu ông Diệm sinh ngày 17/7/1897 th́ Ngô Đ́nh Thục, anh kế Ngô Đ́nh Diệm (sinh ngày 06/10/1897) nhỏ hơn Diệm 3 tháng tuổi (?!) Tuy nhiên, chưa có lời giải thích nào về sự chênh lệch ngày, tháng sinh của Diệm. Diệm sinh này 03 tháng 01 hay ngày 27 tháng 07? 

 Ngô Đ́nh Diệm có 6 anh em trai và 3 chị em gái. Thứ tự những anh chị em của Diệm từ trên xuống dưới:
- Anh cả là Ngô Đ́nh Khôi, sinh 1885.
- Chị cả Ngô Đ́nh Thị Giao, tục gọi là bà Thừa Tùng.
- Anh thứ là Ngô Đ́nh Thục, sinh 1897.
- Ngô Đ́nh Diệm, sinh năm 1901.
- Em gái Ngô Đ́nh Thị Hiệp, tục gọi bà Cả Ấm là mẹ của Hồng y Nguyễn Văn Thuận (nguyên Bộ Trưởng Bộ Công lư và Ḥa b́nh ở Vatican).
- Em gái Ngô Đ́nh Thị Hoàng, tục gọi bà Cả Lễ.
- Em trai Ngô Đ́nh Nhu, sinh năm 1910.
- Em trai Ngô Đ́nh Cẩn sinh năm, 1912. 
- Em út thực sự là Ngô Đ́nh Luyện sinh năm 1914.

Mô tả ảnh.
Ngô Đ́nh Nhu
Điều buồn cười nhất dưới “triều Ngô” là các quan chức thấy Ngô Đ́nh Cẩn giữ nhà thờ, chăm sóc mẹ nên cứ xúm nhau gọi là “cậu Út Cẩn” mà quên bẵng người em út thật sự của anh em Ngô Đ́nh chính là Ngô Đ́nh Luyện. Sự nhầm lẫn theo thói quen xu nịnh này dẫn đến việc một số “sử gia hồi kư ba xu” cũng cứ gọi Ngô Đ́nh Cẩn là “Út Cẩn”.

Trước khi nhắc đến “chí sỹ chống Pháp Ngô Đ́nh Diệm” cũng cần nhắc đến tông tích phục vụ Pháp của Ngô Đ́nh Khả, thân sinh ông Diệm.

Ông Ngô Đ́nh Khả có tên thánh là Micae, sinh năm 1857, nguyên quán ở làng Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng B́nh. Để thoát kiếp nghèo đói ở làng quê mộc mạc, ông Khả bị cha mẹ gởi thân xác cho giáo hội công giáo và trở thành chủng sinh tân ṭng được đào tạo ở chủng viện Penang ở Malaixia từ năm 13 tuổi.

Sau 8 năm tu luyện không đạt kết quả, ông Khả hoàn tục để kết hôn với một bà tên Madelena Chĩu vào năm 1878. Bà này không có con và qua đời, ông dấn thêm bước nữa với bà Anna Phạm Thị Thân, quê ở Phú Cam, Hương Thủy. Chín anh chị em Diệm là con của bà này.

Tuy không được làm cha cố, ông Ngô Đ́nh Khả vẫn được giữ lại chủng viện Penang làm thông dịch viên và sau đó được đưa về quê hương cấy vào viện Cơ Mật triều đ́nh Huế.

Nhờ được đào tạo ở Penang, ông Khả được chính phủ thực dân Pháp xem là hạt giống cai trị ở xứ thuộc địa Đông Dương. Ông nhanh chóng được cất nhắc lên làm đề đốc kinh thành rồi lên đến chức thượng thư Bộ Công. Là một vị quan mang quốc tịch Vatican, ông đă chứng tỏ là một đại công thần của chính quyền Pháp qua việc đàn áp đẫm máu nghĩa quân Cần Vương của Phan Đ́nh Phùng ở căn cứ Vụ Quang.

Trong chiến dịch ấy, ông là phó tướng cho Nguyễn Thân. Theo nhiều nguồn sử, sau khi kết thúc chiến dịch đàn áp nghĩa quân Cần Vương, ông Khả đă lấy điểm với Pháp bằng cách ra lệnh cho binh sỹ đào mộ cụ Phan Đ́nh Phùng, lấy hài cốt thiêu đốt rồi cho vào đại bác bắn văi lên mặt sông Lam.

Cặp bài trùng của Ngô Đ́nh Khả là Nguyễn Hữu Bài (Sinh năm 1863) - cha đỡ đầu của Ngô Đ́nh Diệm. Ông Bài vốn là thuộc hạ của ông Khả, sau này ngồi thông gia với ông Khả qua 2 đứa con trưởng nữ Nguyễn Thị Giang và trưởng nam Ngô Đ́nh Khôi.

Ông Bài sinh tại Vĩnh Linh, Quảng Trị cũng là một quan thượng thư của triều đ́nh Huế từ năm 1907 cho đến 1933. Mồ côi cha từ nhỏ, ông Bài cũng có con đường hoạn lộ công hầu giống như ông Khả: Được mẹ gởi vào chủng viện An Ninh rồi sau đó được sang chủng viện Penang để đổi đời. Khi thất bại đường tu, Bài được gởi về nước cấy vào bộ máy chính quyền phong kiến làm thông ngôn tại Nha Thương Bạc, dần dà được cất nhắc lên làm bố chánh tỉnh Thanh Hoá.

Năm 1887, ông Bài cùng với ông Khả tích cực đàn áp phong trào Cần Vương nên được Pháp cất nhắc leo dần lên chức thượng tá Cơ mật, tham tri Bộ H́nh rồi thượng thư Bộ H́nh.

Cặp bài trùng Khả, Bài được dân gian nhắc đến qua câu: “Đày vua có Khả, Đào mả có Bài” ám chỉ việc Ngô Đ́nh Khả kư cho Pháp mang vua Thành Thái, vua Duy Tân đi đày và Nguyễn Hữu Bài hỗ trợ quân Pháp đào mồ cuốc mả vua Tự Đức. Một số người cho rằng, Khả - Bài đă phản đối Pháp thực thi hai chuyện đó mà quên rằng, sau sự việc đó, hai ông vẫn đường hoàng tại vị chức quan. Nếu hai ông thật sự căi lệnh “mẹ Pháp” trong việc thất đức ấy th́ tin chắc rằng, hai ông cùng con cái cũng được đi theo Thành Thái và Duy Tân lập nghiệp trên đảo Réunion. Cũng cần nhấn mạnh rằng, năm 1896 ông Ngô Đ́nh Khả được phong phẩm hàm Thái Thường Tự khanh (chánh tam phẩm), chức Thương biện thuộc Viện Cơ mật. Thời đó, Viện Cơ mật của nhà Nguyễn đă bị các cơ quan t́nh báo Pháp khống chế.

Với sự nuôi dạy của 2 người cha cúc cung tận tuỵ với “mẹ Pháp” như thế, nếu nói Ngô Đ́nh Diệm có truyền thống căm thù Pháp th́ hơi lạ.

Nhờ có 2 người cha đại công thần với chính quyền Pháp, Ngô Đ́nh Diệm được tập ấm, được vào học trường đạo Pellerin ở Huế, được tuyển thẳng khỏi thi vào trường Hậu Bổ. Sau đó được bổ nhiệm làm tri huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị vào năm 1922, tức 21 tuổi (theo giấy tờ văn thư). Mấy năm sau được thăng lên chức tuần vũ tỉnh B́nh Thuận. Con đường hoạn lộ của Diệm vinh thăng nhanh đến chóng mặt. Con ông cháu cha có khác.

Thời gian đảm nhiệm chức tuần vũ B́nh Thuận, với quyền lực trong tay, Diệm đă tỏ ra “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Ông ta đàn áp man rợ những nhà cách mạng kháng Pháp. Ông quan Diệm đă “sáng tạo” được nhiều ngón đ̣n tra khảo rất dă man, kinh dị dành cho những người yêu nước kháng Pháp. Ngón tra khảo ưa thích nhất của ông ta là lột trần truồng nạn nhân rồi cột ngồi trên cái ghế gỗ có khoét lỗ. Dưới lỗ là một ngọn đèn sáp cháy leo loét, hong ngay dưới hậu môn nạn nhân. Với cách tra khảo như thế, cho dù nạn nhân có nhận tội, khai báo th́ lục phủ ngũ tạng cũng bị nướng chín, hoại tử dần và chết ṃn.

Nhờ tàn ác với những chí sỹ kháng Pháp nên năm 1933, ông được cất nhắc lên chức Thượng thư Bộ lại. Khi đă lên chức thượng thư Bộ Lại, ông Diệm bị ảnh hưởng bởi sự tranh giành quyền lực trong Chính quyền Pháp dẫn đến lao đao, lận đận.

Thời đó, chính quyền Pháp lẫn Việt thuộc địa đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của công giáo La Mă. Hầu hết những vị quan lại của Việt Nam đều có tên thánh trước tên khai sinh như Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương (Đỗ Hữu Vị), Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Hữu Độ, Trần Lục, Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Tường Tộ, Ngô Đ́nh Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Bá Ṭng, Hồ Ngọc Cẩn … Không thể biện minh khác được, chính sách nhân sự của chính quyền Pháp ở Đông Dương thời đó luôn chịu ảnh hưởng bởi 3 luồng thế lực chi phối: Thực dân, Công giáo và Tam Điểm (Free Mason).

Diệm được thời là nhờ giai đoạn chính quyền Pháp nghiên theo ảnh hưởng của Công giáo. 

Đến năm 1933, phe Tam Điểm tại chính giới Pháp thắng thế, Diệm lại tranh chấp chức tổng lư đại thần với một thượng thư đồng triều là Phạm Quỳnh. Cái ô của Phạm Quỳnh là Toàn quyền Pasquier (phe Tam Điểm) và cái ô của Diệm là Khâm sứ Thibaudeau (phe Công giáo).

Thua đau cú tranh chấp và sợ bị Phạm Quỳnh trù dập, Diệm đành nộp đơn xin từ quan. Toàn quyền Pháp Pasquier không chấp đơn từ quan của Diệm mà băi chức, tước phẩm hàm, trục xuất khỏi kinh thành Huế, buộc hồi hương về Quảng B́nh cư trú.

Diệm trở thành vị quan yếm thế lũi thũi nơi quê nhà cho đến khi Pasquier chết trong một tai nạn máy bay ở Paris vào ngày 15/01/1934. Pasquier chết, Pháp đưa René Robin làm tân toàn quyền ở Việt Nam. Diệm được xoá án cấm túc và về Huế an phận với nghề dạy học ở trường Tư thục Providence của ông anh Ngô Đ́nh Thục.

Rỏ ràng, Ngô Đ́nh Diệm căm thù Pháp không v́ yêu dân thương nước mà chỉ là tư thù cá nhân. Ông từ quan và bị cách chức chỉ v́ tranh giành quyền lực, địa vị phục vụ cho mẫu quốc Pháp. Bị cách chức, Diệm trở thành kẻ thất chí.

(Kỳ II: Lá thư xin tha chết)

  • Hồ Khả Trân

 

Tư liệu mới: V́ sao Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu phải chết? (Kỳ 2)

(Phunutoday)-Đang trong cơn thất chí, Diệm được những trí thức yêu nước quáng gà t́m đến và khoác cho ông ta cái áo chí sỹ yêu nước, chống Pháp. Ngay như Đỗ Mậu, một đồng chí cách mạng của ông ta trong giai đoạn này cũng thừa nhận trong hồi kư rằng, ông ta chẳng hoạt động ǵ ngoài chuyện b́nh luận “mâm trà chính sự” với những chí sỹ t́m đến. Nói chính xác là, ông ta chỉ chửi mắng Pháp bằng nước bọt cho thoả hờn giận.

 

c

Ngô Đ́nh Diệm (phải), Ngô Đ́nh Nhu

Năm 1931, Phát xít Nhật bắt đầu đưa thế lực chính trị lẫn quân sự vào lục địa Á Châu. Đến tháng 7 năm 1937, sau khi hoàn tất các chiến dịch t́nh báo và tuyên truyền thuyết Đại Đông Á, các đạo quân của Nhật tấn công và chiếm đóng một số vùng ven biển Trung Hoa. Năm 1940 Nhật tiến quân trú đóng ở Đông Dương. Phát xít Đức quốc xă và Ư là đồng minh của Nhật (phe trục) cũng đang làm chủ t́nh h́nh Tây và Nam Châu Âu.

 

Trước sự hùng hổ của Nhật, các thế lực Công giáo tại Châu Á ngấm ngầm bắt tay với Nhật nuôi dưỡng ư đồ đưa Cường Để đang sống lưu vong ở Nhật về Việt Nam làm vua thay thế Bảo Đại. Cường Để được các thế lực Công giáo chọn chỉ v́ Cường Để là một tín đồ Công giáo. 

Nhiều trí thức chống Pháp bằng tư tưởng, gặp cánh phao Cường Để vội bám rịt lấy. Và trong số tất cả những người ủng hộ Cường Để tại Việt Nam chỉ có Ngô Đ́nh Diệm là người đă từng có địa vị xă hội cao nhất. Ông ta trở thành lănh tụ đương nhiên của phong trào ủng hộ Cường Để mà trụ sở chính đặt tại tư gia gia tộc Ngô Đ́nh. Thay v́ phải bôn ba như một nhà cách mạng thực thụ, ông Diệm chẳng làm ǵ ngoài việc an nhàn cư trú tại gia để cổ xuư phong trào hay nói cách khác, ông ta chỉ làm vai tṛ xúi giục. Chỉ có những đồng chí của ông mới thật sự hoạt động nằm gai nếm mật. Trong những cuộc “mâm trà chính sự” Nhu cũng ngứa miệng hùa theo. 

 Tuy Diệm cổ xuư bằng mồm nhưng Pháp không thể im lặng. Đầu năm 1944, Thượng thư Phạm Quỳnh cùng với mật thám Pháp tổ chức săn bắt hai anh em Diệm, Nhu. Nhờ sự trợ giúp của điệp viên Nhật cài vào hàng ngũ mật thám Pháp, Diệm biết tin trước đă nhanh chân trốn thoát. Riêng Khôi và Nhu bị bắt.

Tránh sự truy lùng của Pháp, Diệm phải ẩn ḿnh tá túc trong nhà ḍng Chúa Cứu Thế ở Huế (Gần sát nhà Ngô Đ́nh Khôi) giả làm ông già nấu cháo heo. Đến Ngày 12/7/1944, Diệm phải nhờ Trung úy Kuga Michio - Hiến binh Nhật đưa vào Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng, ông ta đáp phi cơ vào Sài G̣n tiếp tục trốn ở nhà thờ Ḍng Chúa Cứu Thế ở Kỳ Đồng, Sài G̣n. Sau này, vào năm 1960 khi đă là Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà, trong một lần viếng thăm nhà thờ Ḍng Chúa Cứu Thế ở Đà Lạt, Diệm đă tặng 1 tháng lương tổng thống để tạ ơn cưu mang thuở trước.

Ông anh Ngô Đ́nh Thục đang là giám mục Vĩnh Long nghe tin em bị nạn đă viết một lá thư van xin Toàn quyền Jean Decoux.

Lá thư được viết bằng Pháp ngữ:

“Ṭa Truyền Giáo Vĩnh Long ngày 21 tháng 8 năm 1944
Vĩnh Long (Nam Kỳ)
Thưa Đô đốc
Một linh mục từ bổn Ṭa được phái đi Sài G̣n để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. V́ đă lâu không nhận được tin tức ǵ từ Huế, tôi không biết là điều tôi được báo cáo có đúng sự thực hay không.

Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc là Đô đốc đă cảm thấy - nếu sự truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô đốc nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.
Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp th́ - với tư cách của một giám mục, của một người An Nam, và với tư cách là con của một gia đ́nh mà phụ thân đă phục vụ nước Pháp ngay từ khi mới tới An Nam, và đă nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền của Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đ́nh Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy ḷng, không chấp nhận (hoạt động của các em tôi).
Thưa Đô đốc, tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân của tôi: bởi v́ nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến quyền lợi của tôn giáo, tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Ṭa Giám Mục này ngay.

Lời tuyên bố của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô đốc thấy rằng ḷng tin tưởng tŕu mến của Đô đốc đă không đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.

Thưa Đô đốc, tôi chưa bao giờ tiếc là đă xa Huế như thế này. Giá có mặt ở đấy, th́ tôi đă có thể khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy ra, tôi đă có thể chống lại các chủ đích của em tôi, nếu quả thật các em tôi có nghĩ đến những dự định có thể gây hại cho quyền lợi của nước Pháp.

Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại - rằng các em tôi đă phản lại truyền thống của gia đ́nh chúng tôi đến như thế, một gia đ́nh đă tự ḿnh gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.

Ngay chính các em tôi đă từng liên tục đưa mạng sống ra v́ nước Pháp trong cuộc nổi loạn của Cộng sản. Diệm, người em kế tôi, suưt đă phải ngă gục dưới những phát súng của một Hoa kiều Chợ Lớn được phái đến Phan Rang với mục đích hại Diệm, Phan Rang là nơi mà Diệm đă mănh liệt chống giữ lối xâm nhập vào An Nam của các cán bộ Cộng sản từ Nam Kỳ phái đến.

Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn này được chứng tỏ là điều đă gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là tôi đă làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót thương của Đô đốc hầu xét với hảo ư trường hợp các em tôi. Đô đốc không phải là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều này khi xét thấy rằng Thân phụ tôi là Ngô Đ́nh Khả đă từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá tŕnh lâu dài của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của ḿnh cho nước Pháp.

Thưa Đố đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ này, tôi xin Đô đốc vui ḷng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi.

Kư tên Ngô Đ́nh Thục”.

Lá thư kể công của Ngô Đ́nh Thục chưa đủ để Pháp tha tội phản nghịch của Diệm, Nhu. Thời điểm đó t́nh h́nh Pháp đang rối loạn, phe “Pháp tự do” của Charles de Gaulle đang tiến vào Paris.  Decoux đành phải đồng ư với đề nghị của Arnoux là tránh khiêu khích Nhật. Nhờ vậy, Diệm và Nhu thoát sự truy nă gắt gao. Dù không c̣n bị truy nă nữa nhưng Diệm vẫn không dám chường mặt ra. Đến cuối năm 1944, thấy Diệm vẫn chưa hết lo sợ bị Pháp bắt, Trung úy Kuga Michio giới thiệu cho Diệm vào ẩn nấp trong bệnh viện Chợ Quán – Nơi này đang được trưng dụng làm cơ sở quân sự của Nhật. 

 May mắn cho Diệm, ngày 9/3/1945 Nhật đảo chánh Pháp.

Tuy nhiên sau đảo chánh, Nhật thoả thuận với Pháp giữ Bảo Đại để lập Chính phủ. Cường Để trở nên lá bài thừa. Thế là Bảo Đại tiếp tục được làm vua một nước “độc lập trong Khối thịnh vượng chung Đông Á”.

Cuối năm 1944, khi chuẩn bị kế hoạch Meigo (9/03/1945 - 10/3/1945) để lật đổ chế độ thân Vichy Decoux, Nhật đă dự trù thủ tướng chính quyền thân Nhật là Diệm. Nhưng, Tư lệnh Quân đoàn 38, lực lượng chiếm đóng pḥng thủ Đông Dương đang lay hoay đối phó với t́nh huống quân Đồng Minh sắp đổ bộ nên bỏ ngoài mọi toan tính về Chính trị. Ông Phạm Khắc Hoè - Đổng lư văn pḥng Bảo Đại - đă thừa lệnh Bảo Đại soạn một bức thư nhờ đại sứ Nhật là Yokoyama gởi cho Diệm. Diệm trốn quá kỹ, không ai t́m ra. Tướng Tsuchihachi Yuitsu biết Diệm đang ẩn trú trong Chợ Quán cùng với đơn vị thuộc quyền của ông nhưng mối lo quân Đồng minh quan trọng hơn. Bảo Đại đành chọn đại Trần Trọng Kim - Một chí sỹ khác danh giá hơn.

Ngày 15/08/1945 Nhật đầu hàng quân Đồng minh. Bảo Đại thoái vị trao ấn tín cho Chính quyền Việt Minh. Diệm vỡ mộng. Ông xoay lưng với Nhật – Kẻ bại trận và quay ngoắt trở lại cầu cạnh Pháp. Qua ông anh Giám mục Ngô Đ́nh Thục, Diệm bắt đầu tổ chức một nhóm thân Pháp để kiếm “ghế”.

Sau khi trao ấn tín cho Chính quyền Việt Minh, mặc cho đất nước rối ren, máu lửa, Bảo Đại thụ hưởng cảnh ăn chơi cùng một ả cave tại một khách sạn ở Hongkong. Lúc này sợ mất hẳn miếng mồi Đông Dương về tay Việt Minh, Pháp manh nha tái lập một Chính quyền sân khấu phường tuồng chịu sự quản lư của Pháp. Pháp cần một ai đó làm quốc trưởng thuê. Không ai có thể thủ vai chính trong vở tuồng này hiệu quả bằng vị vua cần tiền ăn chơi chứ không cần trị v́ thiên hạ. Đó là vị vua thoái vị Bảo Đại. Trước những món tiền đáp ứng cho việc ăn chơi trác táng, ông ta nhanh chóng quên câu nói bất hủ của ḿnh “thà làm dân một nước độc lập c̣n hơn làm vua một nước nô lệ”.

Song song với việc lập Bảo Đại đóng vai chính, Pháp c̣n phải chọn một số nhân vật thủ vai phụ. Đánh hơi được điều này, ngày 21/12/1947, sau khi thông cáo chung Hạ Long giữa Bảo Đại và Bollaert được ghi nhận, Diệm cùng nhóm Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Lư bay qua Hong Kong t́m gặp Bảo Đại. Tuy nhiên, Bảo Đại lộ vẻ không tin tưởng Diệm nữa và đuổi Diệm về Sài G̣n nghe ngóng t́nh h́nh. Thay v́ về trở lại Sài G̣n ngay, Diệm bắt hơi Mỹ đang ngấp nghé Đông Dương nên ngày 24/12/1947, trong khi Bảo Đại sang Geneva, Diệm lén lút gặp George D. Hopper là tổng lănh sự Mỹ tại Hong Kong. Hopper chẳng biết Diệm là ai nên tiếp đón hờ hững.

Tuy nhiên, nhờ tiếp xúc với Hopper, Diệm xác nhận được nguồn tin đáng giá: Mỹ sẽ giúp Pháp giữ quyền thống trị Việt Nam. Hồ hỡi, từ Hong Kong Diệm trở về Việt Nam cùng với người em là Ngô Đ́nh Nhu bắt đầu xây dựng những nhóm ủng hộ Mỹ. Tại miền Bắc, ông ta tập họp những đồng chí cũ như Trần Trung Dung, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Đ́nh Thuần. Tại miền Trung có Trần Văn Lư. Tại miền Nam, ông ta tập họp Nguyễn Phước Hậu, Bertin, Nguyễn Bửu, Trần Tử Hoàng…

Trong khi đó, Pháp cũng chẳng ưu ái một người “sớm đầu tối đánh” như Diệm nên đă chọn Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Một lần nữa, ông Diệm bị “chê”.

Cơ hội lớn cho anh em nhà Ngô Đ́nh là ngày 25/5/1948, Hồng y Francis Spellman (Mỹ) viếng thăm Sài G̣n bất ngờ. Nghe tin, giám mục Ngô Đ́nh Thục nài nỉ xin Tổng giám mục Sài G̣n lúc đó là Cassaigne cho tham dự buổi tiếp đón Spellman. Trong buổi tiếp đón này, Ngô Đ́nh Thục hết lời quảng cáo tài năng của ông em Diệm. Cái mác “thượng thư” của Diệm được dịch sang tiếng Anh là “thủ tướng” đă khiến quan tâm. Spellman hứa sẽ quảng cáo Diệm cho giới chính khách Mỹ. Buổi tiếp đón này trở thanh sự khởi đầu của mối quan hệ giữa anh em Diệm với Chính quyền Mỹ và cũng là mối hoạ cho dân tộc Việt suốt hàng chục năm trời sau đó.

Hồng y Spellman nhá đèn xanh, khích lệ. Tháng 6/1948, Ngô Đ́nh Thục tiến hành bảo trợ cho Trần Văn Lư thành lập Đảng Xă Hội Công Giáo ở miền Trung vào với điều kiện để Diệm làm đầu đảng. Diệm ngang xương trở thành lănh tụ tối cao của đảng này. Tại Đà Lạt, Thục bảo trợ kinh phí cho Ngô Đ́nh Nhu cùng nhóm Linh mục Parrell tụ họp nhân sự đầu tiên cho chủ thuyết “Nhân vị”. 

Giữa lúc này những vùng giải phóng của cộng sản Trung Quốc lan nhanh khiến các đồng minh của Pháp, Hoa Kỳ hoảng sợ. Hoa Kỳ nhanh chóng viện trợ kinh phí và khí tài quân sự cho Pháp nhằm “be bờ” làn sóng Cộng sản tại tiền đồn Việt Nam.

Tháng 4/1949, Bảo Đại về Đà Lạt. Bị Bảo Đại lẫn Pháp bỏ rơi, Diệm về Huế sống ở nhà Ngô Đ́nh Cẩn trùm chăn chờ Mỹ mặc cho nhiều chí sỹ, thân hữu, đồng chí kêu gọi ra ủng hộ Bảo Đại. Diệm chờ thời đúng kiểu làm chính trị “xôi thịt”.

(C̣n tiếp)

  • Hồ Khả Trân

 

 
 

Kính tặng các chiến sĩ QLVNCH trên bốn vùng chiến thuật.

"Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đă không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa."

"Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam v́ chúng tôi đă bỏ rơi các bạn."

On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.

General William C. Westmoreland

Cộng tác với Hoa Kỳ

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2012

 

IDENTIFICATION of CRIMINALS
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2012

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

    

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage