NHẬN ĐỊNH :    Ai giết anh em Ngô Đ́nh Diệm?

Là một tài liệu do một người của phe Việt Cộng viết ra, nhưng khá đầy đủ về chi tiết và tương đối khách quan.

Không hằn học hận thù. 

Tác giả mù tịt về vai tṛ của CIA trong hiện vụ.

Bùi Như Hùng

tháng 10 năm 2010

buinhuhung@hotmail.com

  

 

 

 

 

 

Bạch Văn Cơ Bạch Văn Cơ is offline
Thành viên xuất sắc
 
Gia nhập: Dec 2006
Đến từ: Nation & Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18 lần trong 9 bài viết

Thumbs up Ai giết anh em Ngô Đ́nh Diệm?


Đây là loạt bài được đăng tải trên quansuvn.net ḿnh xin post lại để các bạn cùng tham khảo .

Tác giả: Quốc Đại
Nhà xuất bản: Thanh Niên
Năm xuất bản: 2003
Số hóa bởi: dongadoan, ptlinh


Chương I : Định mệnh đă an bài

 


Ngô Đ́nh Diệm


Sáng sớm ngày 2 - 11 - 1 963, sau một đêm dài không ngủ, trong lúc tiếng súng vẫn c̣n nổ lẻ tẻ đâu đây với nhiều đám khói tại trung tâm Sài G̣n, từ các máy thu thanh phát ra lời loan báo của phe đảo chính, đă hạ được dinh Gia Long thủ phủ cuối cùng của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, nhưng anh em ông Diệm đă trốn thoát. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đài phát thanh Sài G̣n loan một tin vắn tắt: "Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đă tự tử"? Dư luận bàn tán xôn xao, phần đông nghi ngờ: Không tin anh em ông Diệm đă chết và nhất là không tin anh em ông Diệm tự sát. V́ ai cũng biết: Tổng thống Diệm là một trong những người ngoan đạo, mà Thiên Chúa cấm tự sát. Trong khi ấy phe đảo chính không cho biết thêm tin tức nào về cái chết của Diệm, Nhu. Và báo chí không dám nói rằng anh em ông Diệm bị giết. Ngày 6-11- 1963, nhật báo New York Time in h́nh xác Tổng thống Diệm bị c̣ng tay với lời chú thích "suicide with no hand" (tự sát không có tay) Có ư mỉa mai lời thông báo của phe đảo chính rằng anh em ông Diệm đă tự sát. Về sau, người ta đă có thể công khai nói rằng anh em cố Tổng thống bị giết. Nhưng ai giết? Và ai ra lệnh giết? Đó là một nghi vấn cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn phơi bày ra trước ánh sáng. Người viết không dám làm công việc của một sử gia, mà chỉ muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc soi sáng cho một giai đoạn gay go của lịch sử, một giai đoạn đầy những biến chuyển và bí mật.

GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG

Trước khi nhận định toàn bộ về con người Ngô Đ́nh Diệm và chế độ của ông ta chúng tôi xin ghi lại những giây phút cuối cùng của cuộc đời một Tổng thống "Việt Nam Cộng hoà". Nhân dịp tiếp các phái đoàn quân chính trong ngày 26-10-1963, Tổng thống Diệm, bằng một giọng ai oán, thoáng buồn ông nói: " Chế độ này tuy c̣n nhiều khuyết điểm, cũng c̣n hơn nhiều chế độ khác... Người ta chê là độc tài nhưng chỉ ngại c̣n những thứ độc tài khủng khiếp hơn. Tôi tiến th́ theo tôi, tôi lui th́ bắn tôi, tôi chết th́ trả thù cho tôi". Trong thời gian này tinh thần của Tổng thống Diệm đang trải qua cơn dao động cực độ. Những nhân vật gần ông đều nhận thấy ông trở nên nóng nảy bất thường, hay thở dài, nét mặt đăm chiêu thoáng buồn. Có lẽ Tổng thống Diệm đă linh cảm được tai hoạ sắp đến với ông ta, gia đ́nh và chế độ. Ông Ngô Đ́nh Nhu lại càng biểu hiện một cách mau chóng. Ông Nhu già hẳn đi, nét mặt chảy dài. Bức h́nh của ông Nhu đăng trên tuần báo Express số 909 - (15-12-1968) chính là mấy bức h́nh chụp vào những ngày cuồi cùng trong đời ông. Khuôn mặt ông Nhu càng in một vẻ căm giận cùng với vẻ đẹp của đường nét điêu khắc.Tuy nhiên ông Nhu vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh và sẵn sàng đối phó... Sáng sớm ngày 30-10-1963 ông Diệm lững thững đi xuống vườn hoa trước cửa dinh Gia Long, ngắm mấy chậu non bộ nhỏ mới đắp xong và đặt dưới gốc cây. Ông bận bộ đồ xám nhạt, đội mũ len chống chiếc ba toong như khi đi thăm địa điểm dinh điền. Ông ngắm vài phút ngó lên bức ảnh lớn của ông treo cao đằng sau bàn giấy của ông Đổng Lư Bộ phủ Tổng thống rồi mỉm cười lên lầu.

TIẾP KHÁCH LẦN CUỐI


Ngày 31-10, hầm trú ẩn xây trong dinh Gia Long đă hoàn tất, để có thể chịu đựng được loại bom 500 kilôgam. Cũng vào ngày đó, ông Ngô Đ́nh Nhu tiếp kiến các đại diện Uỷ ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo. Cùng ngày phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo miền Nam đáp máy bay ra Huế để tiếp tục cuộc điều tra. Đại sứ Cabot Lodge đă nhận được đầy đủ tin tức về kết quả và thái độ của Phái đoàn này tại Sài G̣n và thấy rằng sẽ bất lợi cho những toan tính âm mưu của ông. Vụ đàn áp Phật giáo phải được duy tŕ để lấy cớ lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm như ông Lodge mong muốn. Sáng 1 nhằm vào ngày lễ các Thánh, côngsở đều được nghỉ, Tổng thống Diệm đă tiếp người bạn "đồng minh" Hoa Kỳ cuối cùng trong đời ông. Đó là Đô đốc Harry D.Felt, Tổng Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái B́nh dương. Đô đốc Harry D.Felt chắc hẳn biết rơ những ǵ xảy tới, trong mấy giờ nữa sẽ kết thúc chế độ của Tổng thống Diệm mà ông ta theo lễ nghi vẫn xưng tụng như một nhà lănh đạo anh minh của miền Nam. Hồi 13 giờ 30 súng bắt đầu nổ từ nhiều nơi trong đô thành... Ai gây nên tiếng súng đó? Bắt đầu từ một thế lực nào? Tướng lănh? Quần chúng? Mỹ? Thực ra, những âm mưu lật đổ Tổng thống Diệm đă sắp đặt từ tháng 5-1963, rồi được âm thầm tiến hành... Buổi tối ngày 28-10, do sự sắp xếp từ trước Trung tướng Trần Văn Đôn đă tiếp xúc bí mật với giới chức Mỹ tại nhà một nha sĩ (1). Tướng Đôn luôn luôn nhắc nhở người Mỹ giữ bí mật hoàn toàn và không thảo luận vấn đề này với bất cứ một ai, ông ta đă cố gắng thuyết phục Đại sứ Cabot Lodge chấp nhận chương tŕnh hành động của nhóm ông và làm như thế nào để Hoa Kỳ đồng ư cho bật đèn xanh càng sớm càng tốt.

 


N.Đ. Diệm tiếp Đô đốc Harry D.Felt


Lúc đầu nhóm đảo chính dự định khai hoả vào ngày 31-10 (theo sự tiết lộ của Đại tá Lu Conein). Trước nữa, nhóm đảo chính cùng với sự đạo diễn của mấy chuyên gia CIA đă dự định đảo chính nhân ngày kỷ niệm 26-10. Nhưng đêm 25-10 ông Nhu đă nhận được báo cáo đầy đủ: Nhóm đảo chính với các tướng Đôn, Minh ra tay hành động trong cuộc duyệt binh tại đường Thống-nhất vào sáng 25-10. Dịp này sẽ bắt sống Tổng thống Diệm và ông Nhu sau đó sẽ thanh toán dinh GiaLong và thành Cộng hoà. Vào phút chót, ông Sinh Trưởng pḥng CIA toà Đại sứ Mỹ (người thay thế Đại tá Rieharson) đă thông báo kịp thờicho Lu Conein biết là chưa thể bật đèn xanh bởi có kẻ trong toà Đại sứ Mỹ tiết lộ cho ông Nhu. Hiển nhiên là Cabot Lodge đă đóng vai tṛ một nhà "lănh đạo" đứng bật đèn cho cuộc đảo chính 1-11-1963. Cabot Lodge được coi như tiếng nói có thẩm quyền của phe "Tự do" Harriman. Những nguyên nhân nào khiến cho Mỹ phải gấp rút t́m mọi cách lật đổ chế độ Tổng thống Diêm? Hẳn nhiên, về phía Mỹ không phải là nguyên nhân Phật giáo. Đơn giản v́ quyền lợi nước Mỹ trước hết . Cái gai chính yếu của Đại sứ Cabot Lodge cũng như Smith Conein và nhóm đảo chính là tướng Tôn Thất Đính. Làm sao nhổ được cái gai này ? Tuy nhiên, cho đến ngày 28-11 tướng Đôn có thể đă tạm yên tâm về mặt tướng Đính. Điều mà phe đảo chính lo ngại nhất là lực lượng đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung. Lực lượng này vẫn được coi như thành phần ṇng cốt của chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ngày 29-12, tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và từng là Tổng trấn Sài G̣n-Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng đặc biệt di chuyển ra khỏi Sài G̣n. Đó cũng là một phần kế hoạch nhằm vô hiệu hoá những lực lượng trung thành với chế độ. Hơn nữa, tướng Đính đang được ḷng tin cậy của ông Nhu. Theo dư luận đồn đại sau ngày đảo chính, ngày 1-11-1963 th́ chính ông Nhu đă giao phó cho tướng Đính thực hiện một cuộc đảo chính giả với danh hiệu Bravo I và II nhằm phá vỡ kế hoạch đảo chính thực của nhóm tướng lĩnh đang liên kết với Cabot Lodge. Nếu thực sự cuộc đảo chính sẽ xảy ra, ông Nhu chấp nhận một cách không nghi ngờ việc tướng Đính "móc nối" với nhóm Đôn, Minh. Chính ông Nhu đă từng nói với tướng Huỳnh văn Cao: "Khánh với Đính là chỗ người trong nhà cả. Không lo”. Ông Nhu tuy cao tay lắm nhưng đâu có thể học được chữ ngờ qua trường hợp của tướng Đính!

Tương kế tựu kế, tướng Đính nắm cơ hội này để quật ngược lại thế cờ cuối cùng của ôngNhu... Không có sự tham gia của tướng Đính, cuộc đảo chính 1-11-1963 không thể thành công. Cái lối của ông Nhu là cái lối của một nhà chiến thuật và chiến lược, nh́n và tiên liệu quá xa phạm vi hạn hẹp của chiến thuật, giai đoạn. Hơn nữa, v́ ḷng tin cậy, ông Nhu đă chọn nhầm một người mà chính trước đây ông Nhu cho là "khó xài" Nhưng vẫn sử dụng v́ cho rằng ḿnh cao tay ấn. Mặt khác, trước đó Đại tá Đỗ Mậu quyền Giám đốc Nha An ninh quân đội, một môn đệ tin cậy của Ngô Đ́nh Diệm đă phúc tŕnh cho hai ông Nhu, Diệm biết VC (2) đang tập trung tại vùng ven đô và âm mưu đánh phá Sài G̣n. Dĩ nhiên đây chỉ là bản phúc tŕnh giả với mục đích làm lạc hướng theo dơi của chính quyền và đồng thời có cớ để phân tán một số đơn vị trung thành của Diệm ra khỏi Sài G̣n. Như vậy phe đảo chính sẽ giảm thiểu được sức chống đối của phe Chính phủ(3). Hồi 12 giờ 30 ngày 1-11, tướng Trần Văn Đôn cùng một số tướng tá ṇng cốt triệu tập Hội nghị trong Bộ Tổng Tham mưu với sự tham gia của hầu hết các tướng lănh và một số Tư lệnh quân binh chủng. Tướng Tôn Thất Đính không có mặt trong Hội nghị này, lúc đó ông ta đang phải túc trực tại tổng hành dinh Quân đoàn III. Người th́ cho rằng đến giờ phút quyết liệt, phe đảo chính vẫn chưa tin hẳn tưởng Đính. Và có lẽ đó cũng là lư do tướng Đính không có mặt trong Hội nghị quan trọng đó.

----------------------------------------------------------------------------------------------------
(l) Theo bản báo cáo mật của Cảnh sát đặc biệt thuộc thẩm quyền của ông Dương Văn Hiếu - Phó Tổng Giám đốc cảnh sát quốc gia.
(2) Thời đó chính quyền Sài G̣n gọi những chiến .sĩ cách mạng là Việt Cộng viết tắt là VC
(3) Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam


THIỆN CHÍ NHÀ GIÀU


Theo tiết lộ của Georges Chaffard qua bài báo tựa đề La paix manquée en 1963 (1), để lôi kéo tướng Đính vào phe đảo chính, Mỹ đă trao cho tướng Đính một số tiền ứng trước là 1 triệu Dollars do kết quả sự thương lượng giữa tướng Đôn và Đại sứ Cabot Lodge ngày 24-10. Số tiền ứng trước này được coi là thiện chí cụ thể của Mỹ giúp phe đảo chính có chút phương tiện để thực hiện kế hoạch(1a). Tưởng cũng nên nhắc lại, khoảng cuối tháng 10, dư luận trong chính giới và ngoại giao đoàn đă đồn đại về những hoạt động của nhóm mật vụ Pháp thuộc Sở "Hành Động" (Action) do tướng De Gaulle gởi qua Sài G̣n v́ nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho hai anh em ông Diệm.
Sáng 1-2, Đại sứ Cabot Lodge hướng dẫn Đô đốc Felt đến dinh Gia Long thăm xă giao Tổng thống Diệm. Nhân dịp này Tổng thống Diệm đă Cabot Lodge biết. là đang có dư luận về một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống. Ông Diệm nói như thế là có ư bảo cho ông Cabot Lodge biết, ông ta luôn luôn theo dơi đường đi nước bước của Mỹ trong âm mưu lật đổ chế độ hiện hữu. Đại sứ Cabot Lodge vẫn một nụ cười vồn vă hứa chắc với ông Diệm, nếu có sự chẳng hay xảy ra như dư luận đồn đại, người Mỹ sẽ đảm bảo cho cá nhân Tổng thống.

 


N.Đ. Diệm và Cabot Lodge


Cũng vào khoảng thời gian đó, Đại tá Lu Conein đă đến gặp tướng Đôn và túc trực bên phe đảo chính trong suốt ngày 1 và ngày 2 tại Bộ Tổng Tham mưu. Ông ta là trung gian giữa toà Đại sứ Mỹ và phe đảo chánh. Hay đúng hơn, ông ta thủ vai tṛ của kẻ điều động và thực hiện kế hoạch đă được thảo luận và quyết định chung giữa toà Đại sứ Mỹ và phe đảo chính ? (2) Khi ở dinh Gia Long trở về, Đại sứ Lodge đă nhận được đầy đủ tin tức từ Bộ Tổng Tham mưu báo cáo cho biết kế hoạch tiến hành. Rồi một ngày trôi qua như mọi người đều biết, cuộc đảo chính hoàn toàn thành công với sự xuất hiện của các tướng lănh mang danh xưng là những con người cách mạng và ở trong tổ chức mới, lúc đầu mệnh danh "Hội đồng các tướng lănh" sau đổi thành " Hội đồng Quân nhân Cách mạng". Nhằm vào đúng ngày lễ các đấng linh hồn, một trong những ngày lễ quan trọng nhất của tín đồ Thiên chúa giáo, hai anh em Tổng thống Diệm cùng bị thảm sát sau khi đă dâng trọn những lời cầu nguyện cuối cùng tại nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn, với sự chứng kiến của Linh mục Jean - Một Linh mục thuộc Hội Thừa sai Pa-ri (MEP).Chi tiết về cái chết của Tổng thống Diệm đến nay tuy không c̣n là điều bí mật song đă có quá nhiều những chi tiết mâu thuẫn nhau. Trong những giờ phút cuối cùng, Ngô Đ́nhDiệm đă tỏ ra hoàn toàn mệt mỏi và không c̣n tin tưởng bao nhiêu khi phe đảo chính báo cho anh em ông biết là đă bắt Đại tá Tung và ông này cùng lực lượng của ông đă đầu hàng phe "Cách mạng"(3). Tổng thống Diệm bây giờ chỉ c̣n đặt tin tưởng vào Quân đoàn 3 của tướng Huỳnh văn Cao và nhất là Quân đoàn 2 của tướng Khánh mà ông Nhu hoàn toàn tin cậy. Song tướng Cao đă không làm được ǵ khác hơn. Sư đoàn 7 nằm trong tay Đại tá Nguyễn Hữu Có phụ tá Tư lệnh Quân đoàn. Anh em ông Diệm chỉ c̣n lại lực lượng pḥng vệ trong dinh. Tất nhiên lực lượng này không c̣n phương thế hoạt động nào khác hơn là đành thúc thủ trong bốn bức tường thành Cộng hoà và dinh Gia Long. Trước một t́nh thế bi đát như vậy, ôngNhu quyết định ra đi - Tổng thống Diệm mặc nhiên chiều theo quyết định của em " Đi mô. . . đi th́ đi. . . " Đó là lời nói gió cuốn mây trôi của Tổng thống Diệm . 8 giờ 30 Tổng thống Diệm, ông Nhu, Đại uư Đỗ Thọ và Đại uư Bằng rời khỏi dinh Gia Long trên bước đường của định mệnh. Khi tiếp thu dinh Gia Long, Trung tá Phạm Ngọc Thảo không t́m thấy anh em ông Diệm nên đă cấp báo cho tướng Trần Thiện Khiêm rơ. TướngTrần Thiện Khiêm ra lệnh cho Trung tá Thảo phải t́m kiếm . . ..

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1)Tuần báo Express số 909
(1a) Theo một tài liệu khác th́ tướng Đôn đă nhận 3 triệu đồng VNCH để chia cho các đơn vị tham gia đảo chính và các tướng lănh khác - dongadoan
(2) Theo sự tiết lộ của Lu Conein th́ ông được mời đến với tư cách Cố vấn Mỹ tại Bộ Nội vụ tham dự phiên họp thường lệ của Bộ Tổng Tham mưu và sau khi đảo chính xảy ra th́ tướng Đôn giữ khéo Lu Conein ở lại Bộ Tổng Tham mưu như một thứ con tin và một bảo đảm an ninh cho các tướng lănh
(3) Chỉ phe cánh đảo chính


Theo tiết lộ của những người trong cuộc, tướng Khiêm dặn Phạm Ngọc Thảo phải t́m mọi cách đón anh em ông Diệm, phải bảo vệ an ninh cho anh em ông ta, có được như vậy th́ tướng Khiêm và phe của Trung tá Khải mới có thể thực hiện được kế hoạch lật ngược thế cờ. Khi được tin dinh Gia Long đă thất thủ th́ lúc ấy chính là lúc trong Hội đồng Quân nhân cách mạng và nhóm tướng tá đảo chính cũng đă chia thành năm bảy phe qua những xu hướng chính trị và quyền lợi trái ngược nhau . Riêng Trung tá Phạm Ngọc Thảo từ trước ngày đảo chính đă có những liên lạc mật thiết với Đại tá Đỗ Mậu và tướng Khiêm. Ông Thảo là người được tướng Khiêm tin cậy và cả hai đều là những tướng tá được chế độ tin dùng. Riêng tướng Khiêm sau vụ đảo chính hụt, ông trở thành vị tướng lănh thân cận của Tổng thống Diệm và được coi như người con "tin cẩn" trong gia đ́nh Tổng thống.
Trong đường lối và trong thâm tâm của phe Phạm Ngọc Thảo chỉ muốn thay đổi cơ cấu của chế độ mà thôi . . .Song t́nh thế đă biến chuyển khác hẳn và trái với ước mong của Phạm Ngọc Thảo từ buổi đầu. Ông Thảo hẳn đă biết rơ những xu hướng khác nhau trong Hội đồng Quân nhân cách mạng trong đó đă có một xu hướng chủ trương phải giết anh em ông Diệm để trừ hậu hoạ và đó cũng là chủ trương của một số nhân vật Mỹ mà ông Fisthel là đại diện. ông này vẫn chủ trương: Chế độ Ngô Đ́nh Diệm phải được cải tổ toàn bộ nếu Tổng thống Diệm không chịu th́ Tổng thống phải ra đi hoặc bị thủ tiêu. Xu hướng thanh toán Tổng thống Diệm quy tụ ử mấy tướng lănh đă sẵn ḷng bất măn với Diệm từ lâu...Đó là các tướng Trần Tử Oai, Mai Hữu Xuân. Mặc dầu những người như Trung tướng Trần Văn Đôn từng được chế độ của Tổng thống Diệm đặc biệt ưu đăi, tin cẩn trong suốt 9 năm cũng muốn thay đổi Chính phủ Diệm . Tướng Đôn liên tiếp được giao phó những chức vụ quan trọng, từ Tư lệnh vùng I đến Tư lệnh lục quân, rồi quyền Tổng Tham mưu trưởng. Ba tướng Đôn, Kim, Oai được coi là thành phần ṇng cốt của Hội đồng Quân nhân cách mạng. Người Mỹ tin cẩn vào tướng Đôn hơn cả. Sở dĩ tướng Dương Văn Minh được Mỹ giao phó vai tṛ chính v́ đối với quân đội lúc ấy và trong hàng tướng lănh th́ uy tín của tướng Minh nổi bật hơn cả. Có thể nói năm tướng Minh, Đôn, Kim, Oai, Xuân đứng riêng một phe.

 


Năm tướng tại Đà Lạt


Chưa có chứng cớ nào rơ rệt để nói rằng tướng Khiêm, Đại tá Mậu, Trung tá Thảo đứng về một phe khác không mấy thân thiết và tín cẩn đối với phe kia. Nhưng dù sao tướng Khiêm vẫn là người tỏ ra ôn hoà với chế độ Ngô Đ́nh Diệm mà chính ông ta đă trưởng thành trong chế độ ấy. C̣n Trung tá Phạm NgọcThảo - một tín đồ Thiên chúa giáo có đầu óc tiến bộ và quốc gia cực đoan, kể từ biến cố Phật giáo, ông quyết liệt chủ trương phải thay đổi thành phần và cơ cấu của chế độ. Trung tá Thảo là người thứ nhất đă can đảm tŕnh bày với tướng Khiêm đang nắm quyền Tham mưu trưởng Liên quân, cái trục hên lạc thân thiết của Trung tá Thảo: Thảo, Mậu, Tuyến. Thảo là bạn tâm t́nh của bác sĩ Trần Kim Tuyến và chính Thảo cũng đă thẳng thắn tỏ bầy ước vọng và kế hoạch của ông cho bác sĩ Tuyến rơ. Kể từ đầu tháng 5-1963 theo sự lượng tính và tiên liệu của bác sĩ Tuyến nếu không kịp thời có một chương tŕnh hành động để cứu nguy chế độ th́ khó ḷng ngăn ngừa được cuộc đảo chánh. Trung tá Thảo cũng lo âu như thế. Từ khi ông Tuyến ra đi th́ Thảo không c̣n ǵ ràng buộc mật thiết với chế độ. Song Thảo vẫn tiếp tục móc nối với một số tướng tá vẫn được coi là người củachính quyền, nhằm thực hiện một cuộc đảo chính cốt sửa sai, hơn là san bằng đồng thời có thể ra
tay trước phe tướng Minh và vô hiệu hoá mọi âm mưu trong kế hoạch của họ và lật ngược thế cờ để nắm phần chủ dộng. Thảo đă đóng một vai tṛ quan trọng trong cuộc đảo chính 1-2-1963 và Thảo được đặt dưới quyền sử dụng trực tiếp của Khiêm. Dù chủ trương như thế nào, Thảo cũng đă là một trong những người thân tín của chế độ Diệm. Ông Thảo đă được Hội đồng Quân nhân cách mạng giao phó phần phát thanh. Đây mới là thứ vũ khí sắc bén nhất để xô đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ví như không có phần phát thanh từ lúc đầu th́ cục diện chưa chắc đă thay đổi mau lẹ. Khi phe Minh, Đôn, Kim nhận được tin Ngô Đ́nh Diệm đang ử chợ Lớn đă cấp tốc ra lệnh cho Đại tá Dương Ngọc Lắm' đem thiết quân vận M 113 vào đón bắt. Đại tá Lắm lúc ấy đang nắm quyền Tổng giám đốc Địa phương quân (một trong số tướng tá được chế độ đặc biệt ưu đăi, tin dùng).ông Lắm là người theo đảo chính vào phút chót. Tất nhiên là ông đă không được sự tin cậy của phe chủ chốt. Do đó, Mai Hữu Xuân được Minh chỉ định đi theo giám sát Lắm . Tóm lại, đă có hai toán quân vào Chợ Lớn t́m bắt anh em Tổng thống Diệm. Mỗi toán có thể nói thuộc về một phe, nhằm mục đích riêng. Nếu Trung tá Thảo biết rơ anh em ông Diệm đang ở nhà thờ Cha Tam th́ cái chết đă không đến với hai anh em ông Diệm, ít nhất là đă cứu thoát đượcông Diệm. Song Thảo lại chỉ đến lục soát nhà Mă Tuyên trong lúc anh em Tổng thống Diệm đang dâng lễ ở nhà thờ Cha Tam. ông Thảo trở về tay không đồng thời cũng mang theo sự thất bại của nhóm ông.Và có phải chính ông Diệm báo tin cho Khiêm để nhận sự đầu hàng và cho biết đang ở nhà thờ Cha Tam không ? Một nghi vấn cho rằng: Có lẽ viên sĩ quan tuỳ viên của ông vào phút chót đă phản phúc và báo cho phe đảo chính biết nơi hai anh em đang trú ẩn. Sự thực không phải Đại uư Đỗ Thọ đă phản phúc. Đại uư Đỗ Thọ được Tổng thống bảo đi gọi điện thoại về Bộ Tổng Tham mưu cho Khiêm nhưng Thọ lại gọi điện thoại trực tiếp cho Đỗ Mậu là chú ruột của ḿnh.Vậy th́ hai anh em ông Diệm có đầu hàng phe đảo chính không ? Những diễn biến tại dinh Gia Long và tại nhà Mă Tuyên từ 12 giờ 30 ngày1-2-1963 đến 4 giờ đêm ngày 2-2 sẽ giúp cho sử gia sau này đi đến một kết luận rơ rệt hơn.Khi Đại tá Lắm đem quân đến nhà thờ Cha Tam th́ lúc đó Hội đồng Quân nhân cách mạng vẫn chưa có quyết định dứt khoát về số phận chung của anh em ông Diệm. Một người trong cuộc cho biết: "Anh nào cũng run hết trước một quyết định dứt khoát quan hệ đến sự thành bại của cuộc đảo chánh. Hội đồng chia thành 3, 4 phe: Một phe nhất định phải thanh toán ngay anh em ông Diệm. Tuy nhiên phe này chỉ rỉ tai bàn kín với nhau thôi. Phe khác chủ trương để anh em ông Diệm lưu vong ra ngoại quốc. Phe thứ ba giữ thái độ dè dặt . . . Phe quyết định thanh toán Diệm lấy cớ rằng, nếu anh em ông Diệm c̣n sống th́ cuộcđảo chính sẽ bất thành, v́ tay chân của ông không sớm th́ muộn cũng sẽ phản công. Vả lại, phe này thấy rằng ngay trong Hội đồng Quân nhân cách mạng cũng đă quá phần nửa từng là người thân tín của Diệm và Nhu. Điều lo ngại hơn nữa là họ vẫn chưa nắm được tướng Tôn Thất Đính mà binh quyền đang nằm gọn trong tay Đính cũng như một số tướng tá khác như Nguyễn Khánh Quân đoàn II, Huỳnh Văn Cao Quân đoàn IV, Cao VănViên Tư lệnh nhảy dù và Huỳnh Hữu Hiền Tư lệnh Không quân (Hai sĩ quan Viên và Hiền đă thẳng thắn từ chối tham gia phe đảo chính). Giả sử nếu đưa anh em ông Diệm về tŕnh diện Hội đồng Quân nhân cách mạng th́ biết đâu sự hiện diện của anh em ông lại không thể làm nản ḷng và gây xúc động lương tâm của những người thân tín eũ của ông. Nếu chỉ nhằm đến mục đích hoàn thành cuộc đảo chính và tránh mọi hậu hoạ th́ phe này khi ra tay hạ sát Tổng thống Diệm cũng không có ǵ khó hiểu.

ĐAO PHỦ


Ai giết anh em ông Diệm? Theo Robert Shaplen trong cuốn The Lost Revolution th́ có hai dữ kiện: Dữ kiện thứ nhất chính Mai Hữu Xuân đă ra lệnh giết anh em ông Diệm. Dữ kiện thứ hai có đủ yếu tố tin được th́ chính Dương Văn Minh chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng đă trực tiếp ra lệnh hạ sát. Người thi hành lệnh là Đại uư Nhung. Trước vụ thảm sát này. một số tướng lănh trong Hội đồng Quân nhân cách mạng đă phản đối và đặc biệt tướng Đính đă nổi giận dữ dằn, đập điện thoại và gục đầu khóc ngay tại văn pḥng của ông ở trại Lê Văn Duyệt (mặc dù theo kư giả David Habertam của tờ The New YorkTimes)(1) th́ ông Đính là người đă phản bội ông Diệm, nếu không có sự phản bội của Đính th́ cũng chưa có cuộc đảo chính 1-2-1963. Thi hài hai anh em Tổng thống Diệm được đặt trong hai bộ quan tài thuộc loại trung b́nh rồi được an táng âm thầm trong thành Bộ Tổng Tham mưu với sự hiện diện của vợ chồng người cháu gái. Hai anh em ông được làm thủ tục khai tử tại quận Tân B́nh. Về nghề nghiệp của ông Diệm được ghi là Tuần vũ và ông Nhu là Quản thủ thư viện . Khi Nguyễn Hữu Có làm Tổng Tham mưu trưởng đă nghe lời một thầy địa lư và bói số cho rằng, nếu không cải táng anh em ông Diệm đi một nơi khác th́ sẽ c̣n đảo chánh. Do đó di cốt anh em ông Diệm được đưa ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.


-------------------------------------------------------------
(1) số ra ngày 6-11-1963

__________________
 
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???

 
National Academy of Public Administration - Faculty of State and Law - Inspection
 
Click quảng cáo ủng hộ diễn đàn
  #2  
Old 09-04-2008, 08:20 PM
Avatar của Bạch Văn Cơ
Bạch Văn Cơ Bạch Văn Cơ is offline
Thành viên xuất sắc
 
Gia nhập: Dec 2006
Đến từ: Nation & Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18 lần trong 9 bài viết
Default

Chương II : Người sống và người chết

1 giờ 30, Sài G̣n ngái ngủ trong ánh nắng gay gắt. Từng loạt đạn nổ làm thức giấc dân đô thành. Tin đảo chính lan truyền trong dư luận từ mấy tháng nay bây giờ đă thành sự thực. Nhưng ai làm vụ này và rồi sẽ ra sao? Ai sẽ lănh đạo? Những khuôn mặt lớn nào sẽ xuất hiện? Lúc ấy, dám chắc rằng không một ai có thể nghĩ Phó Tổng thống Thơ sẽ làm "Cách mạng" . Nhưng cũng không ai ngạc nhiên thấy Trung tướng Dương Văn Minh trở thành Chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng. Sáng ngày 2-2-1963 Sài G̣n bừng bừng trong khí thế vũ băo. Đường phố đông nghẹt những người . . .Thế là cáo chung một chế độ! 9 giờ 15, Đài phát thanh loan tin: "Anh em ông Diệm và ông Nhu đă tự tử " . Tại sao lại tự tử ? Từng đoàn thanh niên nam nữ kéo nhau đi đập phá trụ sở Việt Tấn xă và 9 tờ báo được coi là thân chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. 26 trụ sở các hội đoàn được coi là của chính quyền cũng bị đập phá tan hoang. Tướng Dương Văn Minh trở nên một thần tượng mới. Tướng Đôn, Đính được suy tôn như các vị anh hùng lỗi lạc. Tư thất của một số nhân vật thuộc chế độ cũ cũng bị đám đông kéo đến đập phá. Thiệt hại nặng nề về tư thất là các ông Ngô Trọng Hiếu,Cao Xuân Vỹ. Chế độ Ngô Đ́nh Diệm cáo chung trước hết là do kết quả của những chùm mâu thuẫn nội bộ và sự góp công lật đổ chế độ của một số viên chức thư lại chỉ biết cúi đầu thi hành, không có một sáng kiến làm mới và xây dựng chế độ.

 


Nhân dân biểu t́nh chống Diệm.


ANH ĐI ĐƯỜNG ANH TÔI ĐƯỜNG TÔI

Sự xuất hiện của tướng Khánh trên chính trường miền Nam cùng với sự ủng hộ tích cực của Mỹ qua vai tṛ của Cabot Lodge cùng hai ông Minh, Thơ đă trở thành những người bạn tâm giao, thân thiết.

 


Tướng Nguyễn Khánh.


Ông Thơ, ông Minh cũng như tấm t́nh thân thiết đối với ông Ngô Trọng Hiếu và ông Huỳnh Hữu Nghĩa. Khi đảo chính thành công th́ tứ tài tử chia làm hai ngả: ông Hiếu và ông Nghĩa rủ nhau vào khám Chí Hoà. ông Thơ và ông Minh lên đến hàng tột đỉnh "công danh" . Tại sao lại như vậy ? Một lớp người từng lương cao bổng hậu của chế độ cũ song một phần th́ nối tiếp nhau đi vào khám Chí Hoà, hay nếu không cũng bị vong gia bại sản. C̣n một phần khác nối đuôi nhau tiến lên theo ngọn triều đổi ngôi, chẳng qua đó cũng chỉ là bức tranh "vân cẩu” muôn đời của thế sự. Những lư do nào đă khiến cho đôi bạn Thơ, Hiếu trong phút chốc kẻ được trọng hậu như một v́ "bán anh hùng" c̣n người bị lên án như một hung thần "tay sai" của vợ chồng ông Nhu? Trước năm 1954, khi ông Thơ c̣n làm Tỉnh trưởng Long Xuyên, th́ ông Hiếu làm Trưởng ty Ngân khố và hai người trở thành bạn tri giao thân thiết. Ngoài tướng Minh với ông Hiếu, ông Thơ c̣n một người bạn tâm giao khác là ông Huỳnh Hữu Nghĩa nguyên Bộ trưởng Lao động. Phút chốc thế sự đổi thay, anh đi đường anh tôi đi đường tôi . . . Ngô Trọng Hiếu sau khi ra tù, ở ngay trong một căn nhà b́nh dân trong xóm Thị Nghè, sáng chiều leo lên chiếc Vespa cũ gỉ để đi dạy học, vào lớp nói tiếng Tây, thả đàn ngâm Kiều, đọc Chinh phụ ngâm. Đêm đêm nằm vắt tay lên trán mà suy ngẫm tṛ đời. Cựu Phó Tổng thống Thơ từ ngày "thôi làm" Thủ tướng lui về vui thú trong cảnh toạ hưởng kỳ thành, lâu lâu đi Pháp một chuyến, đi Nhật một chuyến . . .Sự thực đối với chế độ cũ, Phó Tổng thống Thơ đă có công với rất nhiều người. Nhờ sự đề bạt của Thơ mà nhiều người có lương cao, bổng hậu, áo đạt lên Tổng thống Diệm (Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm thành lập ngày 7-7-1954, ông Nguyễn Ngọc Thơ đă đề nghị ông Ngô Trọng Hiếu là Tổng trưởng Thông tin nhưng có sự trục trặc nên ông Bùi Kiên Tín giữ chức vụ này). Chính ông Nguyễn Ngọc Thơ đă giới thiệu và vận động để Hiếu đi làm Đại diện Chính phủ tại Cămpuchia (hàng Đặc sứ). Sau này đôi bạn Hiếu, Thơ trở thành xa lạ nhau trước hết chỉ v́ nguyên nhân: Hiếu được coi là người thân tín của Ngô Đ́nh Nhu, c̣n Thơ lại được Tổng thống Diệm không những kính nể mà c̣n coi nhau như t́nh anh em. Ông Nguyễn Ngọc Thơ rất kiêng kỵ những ai được coi là "người" của ông Nhu. Tại sao như vậy? Báo chí ngoại quốc nói rằng tướng Minh bị ông Nhu ganh ghét và loại trừ. Điều đó có đúng không ? ông Cố vấn Nhu đă nghĩ về tướng Minh như thế nào ? Nhất là vai tṛ của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ ra sao trong 9 năm của chế độ cũ và 3 tháng sau đảo chính ?

MỘT CÔNG HẦU


Sau ngày 1-2-1963, một số đông chính khách đă có bụng mừng thầm là phen này thế nào họ cũng được Hội đồng Quân nhân cách mạng chiếu cố. Cụ thể hơn là cố làm sao vận động cho ḿnh và phe đảng ḿnh được tướng lănh và các "Thầy" đề bạt vào ghế nào đó trong Chính phủ mới, mà tướng Dương Văn Minh đang thăm ḍ để chọn một số vị "lương đống quốc gia" chèo lái con thuyền miền Nam Việt Nam trong một giai đoạn mới. Trong hai ngày 2 và 3-2 tướng Minh rất bận rộn và phải dành nhiều th́ giờ tiếp xúc với một số chính khách có tên tuổi. Nhiều người được coi là có nhiều hy vọng được chỉ định làm Thủ tướng Chính phủ: Như Trần Văn Vân, Phan Huy Quát, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc Thơ... Ai cũng tưởng Hội đồng Quân nhân cách mạng sẽ không bao giờ đề cử cựu phó Tổng thống Thơ làm Thủ tướng v́ như vậy rất "khó coi" nếu xét về t́nh cảm và "không thể được" nếu xét về lư. Song như lịch sử đă diễn biến, cuối cùng chỉ có ông Nguyễn Ngọc Thơ được quân đảo chính lựa chọn. Nói là Hội đồng Quân nhân cách mạng lựa chọn chỉ là cách nói theo nguyên tắc và trên văn từ. Thực tế không phải như vậy.

 


Ngô Đ́nh Diệm và Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ (bên phải).


BÀN TAY PHÙ THỦY

Trước khi Đại sứ Cabot Lodge thừa lệnh Wasingtơn cho bật đèn xanh vào giờ H để các tướng lănh bắt tay vào đại sự th́ cũng là lúc, trục liên lạc Wasingtơn Sài G̣n bắt đầu hoạt động từng giờ từng phút. Công việc đảo chính đă trở thành "thứ yếu” Điều quan hệ nhất đối với Wasingtơn là t́m được người thừa kế Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cho hợp t́nh hợp lư. Cái t́nh ở đây phải hiểu là hợp với “hảo ư" của giới chức Mỹ, phải được ḷng "các thầy" trong hàng ngũ lănh đạo Phật giáo và đồng thời có thể làm cho đồng bào Thiên chúa giáo được an tâm. Ông Lodge vốn là "cao thủ” trong ngành ngoại giao Mỹ và từ lâu bị nghi ngờ có những hoạt động riêng cho cơ quan CIA. Tuy vậy ông ta luôn luôn tỏ ra tôn trọng những nguyên tắc ngoại giao. Từ sáng ngày 2 ông Lodge đă tiếp xúc rộng răi với ngoại giao đoàn nhất là mấy vị Đại sứ vốn được coi là "Voix"(1) có ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ tại miền Nam Việt Nam và cả khu vực châu Á. Toà Đại sứ mà ông Lodge quan tâm nhất đó là các Đại sứ Anh, Đại sứ Nhật sau nữa là Toà Khâm sứ đại diện cho Toà thánh Vatican tại miền Nam Việt Nam. Dĩ nhiên là Toà Khâm sứ đă hoàn toàn dè dặt và chỉ cư xử với ông Lodge theo mức độ ngoại giao b́nh thường. Lúc đầu đă có một vài ứng cử viên được giới chức Mỹ lưu tâm và dùng làm trái ball nhỏ để thăm ḍ. Đó là giáo sư Vũ Văn Mẫu, cựu Ngoại trưởng của Tổng thống Diệm. Một vài người Mỹ thuộc pḥng chính trị toà Đại sứ Mỹ, cho rằng ông Mẫu vừa có tiếng trong giới ngoại giao, vừa có thành tích đối với Phật giáo nhân vụ giáo sư Mẫu "xuống tóc" và qua Ấn Độ hành hương để gọi là phản đối Chính phủ về vụ Phật giáo. ông Mẫu lại là một luật gia tên tuổi khéo léo mềm mỏng. Tuy vậy, một vài người Mỹ không bằng ḷng v́ một điểm duy nhất: giáo sư Vũ Văn Mẫu là người di cư. Lập trường của ông Mẫu lại không rơ rệt, ông không được ḷng tin cậy của Phật giáo, cũng như các nhà "lănh đạo mới", đồng thời một số người khác lại coi giáo sư Mẫu như một người có trách nhiệm về sự ám sát tinh thần (Assassinat Moral) đối với chế độ của Ngô Đ́nh Diệm. Theo giới am tường chính sự tại Hội đồng Quân nhân cách mạng th́ ngay các tướng lănh cũng "lờ mờ" không biết ai sẽ được chỉ định làm tân Thủ tướng và nhiều vị tướng trong Hội đồng cho đến phút chót mới biết được tin ông Thơ được chỉ định. Trọn ngày 3-2, giới chức Mỹ vẫn chưa dứt khoát "khuyến cáo" tướng Minh trong việc chỉ định ai. Ngoại trưởng Dan Rusk cũng như Thứ trưởng Harriman dĩ nhiên trong cương vị của ḿnh không thể bày tỏ ư định nào. Nhưng qua những cuộc đàm đạo với Đại sứ Lodge và một số chính khách họ cũng đă hiểu được rằng: Người Mỹ muốn có một Thủ tướng thuộc tư tưởng "ôn hoà trung dung" , được hiểu theo nghĩa thư lại bàn giấy. Giới chức Mỹ muốn được tiếp tục đều đặn như không có chuyện ǵ xảy ra, nghĩa là ông Diệm chết là chuyện riêng, c̣n chế độ của ông th́ vẫn cần phải duy tŕ, miễn sao thuận với t́nh cảnh mới . Sau này, người ta cho rằng, Đại sứ Lodge bị Phật giáo cho vào mê hồn trận và xỏ mũi và đồng thời Mỹ cũng như Hội đồng Quân nhân cách mạng đă bị chi phối bởi áp lực rất mạnh mẽ của phái Phật giáo. Sự thực như thế này: Hội đồng quân nhân cách mạng có thể chịu sự chi phồi mạnh mẽ như vậy, song ông Đại sứ Lodge th́ không . Cái vẻ bên ngoài th́ Đại sứ Lodge nghiêng hẳn về phía Phật giáo của các Thượng toạ Tâm Châu và Trí Quang. Nhưng trong đường hướng mới của Mỹ, ông Lodge đă "lựa chọn" phía Phật giáo Nam Việt (Mai Thọ Truyền). Đơn giản v́ Phật giáo Nam Việt trong quá khứ được coi là hiền hoà, không có những tham vọng chính trị, là một tập thể tương đối thuần về phương diện tôn giáo. Hơn nữa phía Phật giáo Nam Việt sau ngày 1/02/1963 đă tỏ ra dè dặt hay đúng hơn là tách khỏi các thầy Tâm Châu và Trí Quang. Trong chiến thuật giai đoạn th́ Đại sứ Lodge phải đi với Phật giáo của các thượng toạ Tâm Châu và Trí Quang. Trong chiến lược và từ cục bộ đến toàn bộ, th́ ông Lodge không thể sử dụng người của khối này trong tư thế Thủ tướng Chính phủ v́ đây được coi là khởi điểm của lộ tŕnh mới. Do lẽ đó, Đại sứ Lodge đă khuyến cáo tướng Minh nên t́m người này người nọ. ông Lodge rất khôn khéo không chỉ rơ đích danh ai nhưng với một số tiêu chuẩn nào đó tướng Minh có thể t́m ngay được vị Thủ tướng hợp với ư ông lại hợp với ư Đại sứ Mỹ.

---------------------------------------------------------------------------------------------
(1)Có tiếng, nổi tiếng


TUỒNG MỚI KÉP CŨ

Người đó, như lịch sử đă ghi: Theo Hiến ước tạm thời số 1 : tướng Minh với tư cách Quốc trưởng đă chỉ định ông Nguyễn Ngọc Thơ thành lập Chính phủ; Sắc lệnh lại do chính ông Nguyễn Ngọc Thơ kư đóng dấu. Thành phần gồm 14 Tổng Bộ trưởng chia ra 4 sắc thái rơ rệt: 1. Chuyên viên như kỹ sư Trần Ngọc Oánh, Phạm Hoàng Hồ, 2. Chính trị gia không "ưa" chế độ eũ (nhưng lại có ít nhiều liên lạc bí mật) là giáo sư Âu Trường Thanh, 3. Tướng lănh gồm 3 vị được coi là thân cận của tướng Minh. 4. C̣n lại là các vị thuộc chế độ cũ từng là then chốt trong guồng máy của chế độ đó (từng là Tổng thư kư Phủ Tổng thống như ông Nguyễn Thành Cung đến kỹ sư Trần Lê Quang là một chuyên viên được Tổng thống Diệm thương yêu và coi như người nhà. Một vài vị khác được coi là chế độ cũ nếu hiểu như một công chức và quân nhân của mọi triều đại) . Những Tổng Bộ trưởng là người của chế độ cũ tuy được xài tạm, song trước hết phải là người của ông Thơ. Ông Thơ có thể chấp nhận một cách vui vẻ nếu cộng sự là “con cái" của Tổng thống Diệm song ông sẽ quay mặt đi và coi như kẻ đáng ghét nhất nếu ai đến với ông mà trước lại là con người được ông Ngô Đ́nh Nhu tin cẩn trọng dụng. Đó cũng là đầu mối của tấn thảm kịch "của chế độ Ngô Đ́nhDiệm".
Việc chỉ định ông Nguyễn Ngọc Thơ được làm Thủ tướng mặc dầu người Mỹ đă lượng tính được sự bất hợp tác của Phật giáo và các đảng phái, nhất là ông Thơ lại không thể t́m được cảm t́nh đối với đa số phật tử Hoà Hảo... Tất nhiên là Cao Đài cũng không ủng hộ. Biết như thế người Mỹ vẫn tiến hành và tích cực khuyến cáo tướng Minh. Bởi v́ đơn giản là người Mỹ đă có sẵn một giải pháp mà ông Cabot Lodge đang bỏ túi. Tạm thời trong lúc chuyển tiếp phải có ông Thơ, cũng như khi "giải pháp " ấy được ném ra tức là lúc tướng Nguyễn Khánh được đem lên diễn đàn th́ ông Lodge vẫn phải khuyến cáo tích cực để tướng Minh đóng vai tṛ "tạm thời trong lúc chuyển tiếp".

 


Dương Văn Minh (Big Minh)


CHẾ ĐỘ DIỆM KHÔNG DIỆM

Dù không được ḷng ai, dù bị mang tiếng đă làm sống lại một chế độ " Diệm không Diệm" song sự lựa chọn ông Thơ có nhiều cái hợp lư: 1- ôngThơ là bạn tri kỷ của tướng Minh. 2- ông Thơ đă quen việc trong 9 năm của chế độ cũ. 3- ông Thơ trước sau vẫn là Đốc phủ sứ với tất cả ư nghĩa của giới này trước năm 1945. ông Thơ dầu sao vẫn là một địa chủ nên người Mỹ có đủ yếu tố để tin tưởng vào lập trường địa chủ của ông, 4- ông Thơ tuy làm quan lại thời Pháp nhưng không phải là mẫu người được Pháp đào tạo từ truyền thống văn hoá Pháp như ông Ngô Đ́nh Nhu hay kỹ sư Trần Văn Vân v.v.. Đó là điều mà người Mỹ rất ngại.
Có một dư luận trong chính giới thân Mỹ lúc ấy là: Nếu không có sự thảm sát anh em Tổng thống Diệm th́ Đại sứ Trần Văn Chương đă trở về nước và ông có nhiều hy vọng là Thủ tướng. Song v́ con rể ông bị ám sát, một nhạc gia tất nhiên không thể làm như vậy (đây chỉ là dư luận được tung ra để thăm ḍ tin tức vào lúc ấy. Cũng nên ghi thêm, ngày 28-10-1963 nguyên Đại sứ Trần Văn Chương đă lên tiếng công kích nặng nề chế độ Tổng thống Diệm và con rể ông).
Kể từ ngày 4-2, phe các tướng Minh, Đôn, Kim, Xuân, Đính trở thành ngũ hổ, song sự phân hoá trong Hội đồng Quân nhân cách mạng càng trở nên rơ rệt, mỗi bên đều đề cao cảnh giác. Một số các đơn vị tham dự đảo chính được điều động ra khỏi đô thành. Một số sĩ quan cấp tá như Phạm Ngọc Thảo bị theo dơi rất sát sao, Đại tá Đỗ Mậu được thăng Thiếu tướng, nhưng vô quyền (sau được bổ nhiệm là Tổng lănh sự miền Nam Việt Nam tại Hồng Công).

 


Trung tá Phạm Ngọc Thảo - Cán bộ t́nh báo của ta đă tham gia vào vụ đảo chính


Tuy mấy tướng lănh như tướng Xuân, Đôn, Đính, Kim... đang có thực quyền sinh sát song sự hiện diện của một vài tướng lănh cũng như sự xuất hiện của cựu Trung tá Trần Đ́nh Lan đă làm cho giới chức Mỹ không hài ḷng. Người Mỹ không những "kỵ" văn hoá Pháp mà "kỵ” cả những ai bị nghi ngờ "người của Pháp". Như thế ta cũng hiểu được rằng, trong lúc mà Mỹ tin tưởng sẽ chiến thắng Cộng sản bằng con đường và nhận thức của Mỹ, th́ ở đây, Mỹ có thể chấp nhận Cộng sản nằm vùng (nếu sự nằm vùng có lợi thế về phía Mỹ) song không thể chấp nhận sự hiện diện và thao túng của Pḥng Nh́ cũng như các tay phản gián Pháp.
Đó cũng là lư do khiến Trần Đ́nh Lan cũng như Vương Văn Đông đă phải cuốn gói ra đi mặc dù hai người này đă có thành tích "diệt Cộng" khét tiếng những năm 1954 (Thực ra th́ cơ quan CIA Mỹ cũng biết rơ rằng, Trần Đ́nh Lan hay Vương Văn Đông sẽ không làm nên tṛ trống ǵ nhưng họ lại dùng hai sĩ quan thân Pháp này như một bằng chứng cho "hồ sơ" được gọi là trung lập của bộ ba Minh, Kim, Xuân và bằng chứng đó là một phần "luận cứ" để biện minh cho cuộc chỉnh lư của tướng Khánh).


BÀN TAY MÓC NỐI

Khi Phó Tổng thống Thơ được chỉ định làm Thủ tướng và thành lập Chính phủ, đồng thời là lúc các đảng phái, Phật giáo cũng tiêu tan hy vọng mà họ vẫn hướng về Hội đồng Quân nhân cách mạng, coi như đấy là nơi sẽ có nhiều phép lạ xây dựng cơ đồ cho Việt Nam.
Thủ tướng Thơ trả lời báo chí là Thủ tướng đă có ư định từ chức Phó Tổng thống từ dạo tháng 9 tháng 10 . . . nhưng Trung tướng Dương Văn Minh cản ngăn (?) v́ sợ hỏng chuyện. Thủ tướng Thơ cũng cho biết ông có biết những kế hoạch lật đổ Tổng thống Diệm. Sau này, một vài người bạn rất thân của Thơ cho rằng, đó chỉ là cách Thơ biện minh cho sự hiện diện của ḿnh khi được "cách mạng" trọng dụng. Sự thực, trước ngày 1-2-1963 kể cả bạn bè thân của Phó Tổng thống Thơ chưa bao giờ thấy ông ngỏ ư từ chức Phó Tổng thống, ông Thơ chỉ thực sự bị buộc từ chức Phó Tổng thống khi cuộc đảo chính thành công. Vai tṛ của ông Nguyễn Ngọc Thơ đă liên hệ như thế nào đối với Tổng thống Diệm và Trung tướng Dương Văn Minh sau này ? Trước hết, tướng Minh khi c̣n là Trung tá đă được ông Nguyễn Ngọc Thơ đề đạt với Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm (l954)và cũng nhờ sự đề đạt của ông Thơ nên ông Diệm đă một thời hoàn toàn tin cậy tướng Minh. Khi Diệm c̣n hoạt động ở trong bóng tối, Huỳnh Hữu Nghĩa được coi là "cán bộ " giao liên tin cẩn. Chính ông Nghĩa đă có công "móc nối"giữa anh em Tổng thống Diệm và Trung tướng Trịnh Minh Thế. Đồng thời Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm quen biết Thơ lại là người móc nối Trung tá Dương Văn Minh (1954) với Diệm. Đó cũng là cái"ṿng vo thân hữu” trong giới chính trị miền Nam. Nhờ cái “ṿng vo thân hữu” đó, nhiều khi không cần tài cho lắm, song nếu có anh em đưa đẩy đề đạt th́ vấn đề tạo lập công danh kể như chuyện đi du ngoạn lại trúng số mà thôi.

ĐỊA PHƯƠNG

Khi Ngô Đ́nh Diệm về nước chấp chính, có hai vấn đề mà Diệm quan tâm bậc nhất về phương diện nội bộ: 1-Yếu tố nhân sự và vấn đề nhân sự miền Nam. 2- Thành phần lănh đạo trong quân đội. Ngô Đ́nh Nhu mấy năm đầu vẫn quan niệm dứt khoát rằng: Bắc-Nam –Trung không thành vấn đề. Điều quan trọng họ có làm được việc không. Song Diệm tế nhị hơn ông em điều này: "Phải dùng người sinh quán tại miền Nam ít nhất cũng phải theo một tỷ lệ tương đối so với dân số nam phần". Cũng bởi lư do đó, ngay từ buổi đầu, ông Nguyễn Ngọc Thơ đă được Tổng thống Diệm lưu tâm đặc biệt ông Thơ lại có một quá khứ "hành chánh" hợp với nhăn giới của Diệm v́ Thơ là một Đốc phủ sứ.
Theo quan niệm của Diệm th́ đó là một giới "biết việc" cho nên không chỉ một Đốc phủ sứ Nguyễn Ngọc Thơ được trọng dụng mà nhiều Đốc phủ sứ được Diệm đặc biệt cất nhắc, như trường hợp Đốc phủ sứ Hải, Đốc phủ sứ Công. Ngô Đ́nh Diệm lại dùng Thơ như một tâm điểm để móc nối với hàng ngũ quan lại và địa chủ lại miền Nam. Trong hai năm đầu (l954-1956) Thơ đă thành công trong nhiệm vụ này. Uy tín của Thơ đối với Diệm ngày càng vững chắc, nhất là Thơ được coi như người có công lớn trong vụ tướng Hoà Hảo Ba Cụt cùng các vụ dàn xếp với mấy nhóm Hoà Hảo khác (1). Trong chế độ Ngô Đ́nh Diệm có hai người được Diệm kính nể đó là Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Ngọc Thơ.

 


Thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ, lực lượng Ḥa Hảo ly khai tuyên bố đầu hàng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm


-------------------------------------------------------------------------------------------------
(1)Nhóm Ḥa Hảo Trần Văn Soái tự Năm Lửa, Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ


Riêng ông Thơ, Diệm thường xưng hô là “Ngài". Diệm thường nói với Thơ đại khái như: " Ngài thấy thế nào... Ngài đi thế tôi giùm việc này..." Trong những lúc không có mặt Thơ, ông Diệm vẫn thường: Một tiếng Phó Tổng thống, hai tiếng Phó Tổng thống. Cụ Phó như thế, Ngài như vậy. Rất ít khi Tổng thống Diệm gọi Thơ bằng “ông".

 


Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Ngọc Thơ.


Về phía quân đội, khi về nước chấp chánh, Diệm coi như “tay trắng" không - có một tên quân, không có một tướng tá nào được coi là "người của ḿnh". .Trong lúc hoàn toàn thiếu người tin cẩn trong giới quân sự, Nguyễn Ngọc Thơ đă đề đạt Trung tá Dương Văn Minh. Tất nhiên là Diệm rất hoan hỉ chấp nhận. Từ đó Trung tá Minh được coi là sĩ quan cấp tá được Diệm yêu mến tin cẩn nhất. Trung tá Minh lần lượt được trao phó các chức vụ quan trọng như Tư lệnh chiến dịch Rừng Sát và Chiến dịch b́nh định tại miền Tây. Diệm vẫn thường coi tướng Minh là một thứ " homme de bataille"... Sau vụ chiến thắng Rừng Sát, Đại tá Minh dẫn đầu đoàn quán tiến về Sài G̣n đi trên đại lộ Catinat rồi về dinh Độc lập. . . trước bao nhiêu tiếng hoan hô vang dậy. Báo chí lại được dịp thổi phồng, tán dương rất bay bướm. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm buổi sáng hôm ấy đă đứng sẵn ở thềm dinh Độc Lập để dón mừng "Người anh hùng Rừng Sát". Sau này Diệm thăng Đại tá Minh lên Thiếu tướng.

TƯỚNG KHÔNG QUÂN

Xét về hai con người, th́ một Phó Tổng thống Thơ và hai là tướng Dương Văn Minh, th́ tướng Minh được Tổng thống Diệm trọng hậu ngay từ buổi đầu và nổi bật một cách dễ dàng. Minh trở thành ngôi sao sáng trong hàng tướng tá kể từ đầu năm 1955. C̣n Thơ phải đợi đến năm 1956 mới được bổ nhậm Phó Tổng thống, mặc dầu đă tham gia Chính phủ đầu tiên của Tổng thống Diệm với tư cách Bộ trưởng Nội vụ (7-7-1954) song vai tṛ của Thơ c̣n lu mờ và chỉ như một viên chức phụ tá Thủ tướng. Tướng Minh càng ngày càng được Tổng thống Diệm tín nhiệm và yêu mến nhờ hội đủ được mấy điều kiện mà Diệm cho là xứng đáng theo hai tiêu chuẩn. 1- Tướng Minh có vóc dáng một tướng lănh đường hoàng. 2- Tướng Minh không có những vụ lem nhem về vấn đề "vợ nọ con kia hay bài bạc". Hơn nữa, do sự kính mến Thơ nên Diệm cũng mến trọng Minh.
Khi thành lập Bộ Tư lệnh hành quân Minh được chỉ định là Tư lệnh, lúc ấy Minh đă đeo ba sao và nguyên là Tư lệnh Quân khu Thủ đô (1). Giới thân cận với Diệm cho rằng Diệm đặc biệt lưu tâm đến Bộ Tư lệnh hành quân nên đề cử tướng Minh. Diệm coi đó là một tín nhiệm đặc biệt. Diệm rất mù mờ về lĩnh vực quân sự, hai tiếng "hành quân" đối với Diệm là một sự trọng đại. Khi chỉ định tướng Minh, Diệm đă cho rằng: Chỉ có tướng Minh mới xứng đáng, v́ Tổng thống vẫn cho rằng tướng Minh là một “homme de bataile".
Tuy vậy, tướng Minh lại không mấy ham ở chức vụ "không quân" này.
Tướng Minh thường tỏ ra không thiện ư với vị Trung tướng Tư lệnh Quân khu Thủ đô (trước ngày 11-2-1960) . Tướng Minh vẫn phê b́nh công khai viên Trung tướng này "nhảy dù - đi tắt "..
Trước vụ 2-2-1960, chế độ cũ không hề thắc mắc tướng Ḿnh, v́ coi ông như người thân tín của "ông Diệm". Nhưng sau ngày 2-2-1960, v́ tướng Minh tuyên bố đứng trung lập giữa chính quyền và phe đảo chánh (2) rồi lại có báo cáo là trước ngày đảo chính tướng Đôn có vào Sài G̣n và gặp tướng Minh cũng như tướng Kim ở ngay Bộ Tư lệnh Hải quân, đó cũng là một lư do làm tướng Minh xa dần chế độ.
------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Tức Sài G̣n.
(2) Báo Joumal Extrême Orent (13-11-1960)


NƯỚC VỚI LỬA

Giữa tướng Minh và ông Ngô Đ́nh Nhu ít có sự liên lạc. Người thân cận nhất của Ngô Đ́nh Nhu hiểu rơ hơn ai hết là Nhu để ư tướng Minh qua một vài biến cố quan trọng, như vụ Rừng Sát, chiến dịch thanh toán các lực lượng vơ trang Hoà Hảo, vụ đảo chính hụt 2-2-1960, mặc dù Nhu có đọc trên báo Journal Extrême Orient thấy tường thuật tướng Minh tuyên bố "Je reste neutre" Nhu cũng làm thinh. Thực ra th́ Nhu không để ư đến tướng Minh. V́ có "máu say" chính trị nên tướng lănh như tướng Minh dưới mắt ông cũng chỉ là nhà quân sự b́nh thường. Nhu cho rằng tướng Minh có tài chiến đấu nhưng ở một mức nào thôi chứ không phải là một chiến lược gia quân sự. Nhu bắt đầu để ư tướng Minh kể từ tháng 9/1963, khi có những tin đồn về một cuộc đảo chính của tướng lănh.

 


Ngô Đ́nh Nhu


Nhưng tại sao tướng Minh lại "kỵ" ông Nhu và cho rằng ông Nhu "ghen ghét" với ḿnh ? Theo báo chí có một phần lư do thầm kín như thế này: Sau vụ thanh toán B́nh Xuyên tại Sài G̣n và Rừng Sát, dân chúng loan truyền "huyền thoại" nhằm suy tôn tướng Minh, là tướng Minh tịch thu được bao nhiêu vàng bạc đều đem nộp cho Tổng thống. Lại có một nguồn tin khác trong giới chỉ huy quân sự tại Sài G̣n dạo ấy là, khi tướng Minh là Tư lệnh hành quân đi dẹp B́nh Xuyên, tịch thu được rất nhiều "bao bố” giấy bạc. Nhiều bao bạc bị rơi xuống nước nên ướt đẫm . Số giấy bạc này được mang về phơi khô và “ủi" cho phẳng phiu ngay tại dinh Tỉnh trưởng Chợ lớn.
Sau đó, không hiểu được đem đi đâu và chia phần cho những ai ? Có điều rơ rệt là chính quyền hồi đó không nhận được một đồng xu nào trong số bạc lớn này nếu có. Tuy vậy, chính quyền cũng không thấy lên tiếng về vụ tướng Minh đem nộp vàng bạc của B́nh Xuyên cho Tổng thống Diệm cũng như số bạc lớn trên đây nếu có th́ bỏ vào túi riêng của những ai ? Phải chăng v́ thế mà có sự tránh né.
Một lư do khác nữa khiến tướng Minh "kỵ" ông Nhu, đơn giản v́ Phó Tổng thống Thơ cũng "kỵ" ông Nhu. Tuy được Tổng thống Diệm kính nể song Thơ lại tỏ ra không hài ḷng với ông Nhu. Thường ngày, Thơ vẫn phải vào dinh nhưng chỉ vào thẳng văn pḥng Tổng thống, đệ tŕnh công việc có khi hàng tháng mới gặp ông Nhu một lần và hai người cũng chỉ trao đổi vài câu thăm hỏi xă giao. Ông Nhu th́ cho rằng Thơ không biết ǵ về chính trị và cái khả năng hành chánh của Thơ cũng đă quá lỗi thời.
Nhưng ông anh kính mến Thơ th́ ông em cũng phải kính mến... Dưới mắt ông Nhu, Phó Tổng thống Thơ cũng là người "được việc", nhất là chịu khó đại diện cho Tổng thống trong các buổi hội hè, lễ nghi. Sự thực Nhu không bao giờ hỏi han Phó Tổng thống Thơ về các việc chính trị, Nhu cho rằng Thơ không có khả năng trong lănh vực này. Ông Nhu không ghét ông Thơ trái lại tỏ ra có thiện cảm, nhất là ông Thơ lại khôn khéo và luôn luôn tỏ ra khiêm tốn b́nh dị (Tuy là Phó Tổng thống nhưng mỗi lần Thơ đi đâu đều im ĺm... không kèn trống ồn ào, không cả xe hộ tống, ông lại có thói quen ngồi cạnh bên tài xế) .
Vào năm 1957, khi tiễn chân Tổng thống Diệm đi công du tại Mỹ, Phó Tổng thống Thơ gặp ông Nhu tại Phi trường Tân Sơn Nhất đă nói nhỏ với ông Nhu: "Tôi không hiểu tại sao ông bác sĩ Tuyến cứ cho người theo dơi tôi hoài". Mấy hôm sau, ông Nhu nói lại việc đó với Tuyến "Làm thế nào mà ông Phó Tổng thống lại phàn nàn như vậy". Bác sĩ Tuyến rất đỗi ngạc nhiên v́ không cử người làm việc đó. Và cũng không nghĩ đến làm việc đó.

 


Ngô Đ́nh Diệm đến Mỹ năm 1957.


TỚI LUI ĐÚNG LÚC

Ông Nguyễn Ngọc Thơ đă có một hành động hết sức đẹp trong dịp cải tổ Chính phủ ngày 24-9-1954 (với sự tham gia rộng răi của các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo) hành động đó như sau: ông Thơ nguyên Tỉnh trưởng Long Xuyên vốn là khu vực được coi như lănh thổ của Hoà Hảo, giáo phái này đă từ lâu tỏ ra “thiếu thân thiện", nếu không nói là hiềm khích đối với ông Thơ. Sau khi trở thành Bộ trưởng Nội vụ của Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, ông Thơ lại càng bị Hoà Hảo nghi ngờ.Trong lần cải tổ Chính phủ vào tháng 9 kể trên, phe Hoà Hảo Trần văn Soái "lên tiếng" với Ngô Đ́nh Nhu rằng: Họ chỉ tham gia Chính phủ với điều kiện này điều kiện kia trong đó có điều kiện không chấp nhận sự có mặt của Thơ trong thành phần nội các mới.
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm phản đối với lư do, từ ngày ông Thơ lên làm Bộ trưởng Nội vụ cho đến lúc ấy, chưa có một lầm lỗi nào, trái lại ông đă làm việc một cách tận tâm đắc lực. Ngô Đ́nh Diệm nhất quyết không nhượng bộ phe Trần Văn Soái về điểm này. Khi hai bên Chính phủ và Hoà Hảo c̣n đang tranh căi, ông Thơ biết sự việc này, chính ông nói với Diệm xin tự ư rút lui để Diệm xử trí với phe Hoà Hảo.
V́ biết phe Hoà Hảo coi Thơ như kẻ thù, Ngô Đ́nh Diệm t́m cách để Thơ “vắng mặt" một thời gian, đó cũng là ư muốn của ông. V́ vậy, Thơ được bổ nhiệm làm Đại sứ cho Chính phủ miền Nam Việt Nam của Ngô Đ́nh Diệm tại Nhật Bản. Vào tháng 4-1955 sau khi Chính phủ Liên hiệp quốc gia tan vỡ, Trần Văn Soái, Lương Trọng Tường từ chức...Hoà Hảo chống lại Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và miền Tây mịt mờ khói lửa, ông Đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ được gọi về nước, vẫn giữ nguyên chức vụ Đại sứ, song ông được Tổng thống Diệm giao cho nhiệm vụ đặc biệt là giải quyết tất cả những vấn đề chính trị tại miền Tây. ông Thơ được coi là đại diện Thủ tướng Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm trong việc kiểm soát chiến dịch b́nh định và thu xếp vụ Hoà Hảo.
Sau khi vụ Hoà Hảo được coi như là thanh toán xong, ông Thơ trở lại Nhật, đó cũng là ư muốn của ông.
Thực ra th́ ông Thơ muốn "làm mờ" vai tṛ của ḿnh trong vụ Hoà Hảo nhất là vụ bắt tướng Hoà Hảo Lê Quang Vinh mà ông Thơ là người có trách nhiệm. Ông trở lại Nhật mặc dù Diệm có ư giữ ông ở lại nước nhận một chức vụ quan trọng hơn.

 


Tướng Ḥa Hảo Lê Quang Vinh (Ba cụt) trong hầm giam tại Cần Thơ.


NGÀY TRỞ VỀ

Tháng 3-1956, tướng Hoà Hảo Trần Văn Soái hợp tác với Chính phủ, tướng Dương Văn Minh họp báo nói về trường hợp quy thuận này, chiến dịch miền Tây được coi như kết thúc. Tướng Minh cho biết, trong chiến dịch Hoàng Diệu, Soái đă tịch thu được 20 ki lô vàng, 16,5 triệu tiền mặt, số tiền này Soái đem nộp cho Chính phủ và dùng xây cất một Cô nhi viện. Đồng thời 56 sĩ quan và binh sĩ Hoà Hảo đă về hợp tác với Chính phủ trong một buổi lễ tại Cái Vồn (8-3-l956). Vấn đề Hoà Hảo miền Tây coi như xong. ông Nguyễn Ngọc Thơ lúc ấy mới công khai tham chánh và được bổ nhiệm là Bộ trưởng Kinh tế thay thế Trần Văn Mẹo (16-5-1956).

 


Tướng Trần Văn Soái (Năm Lửa) thời oanh liệt


Tuy hai ông Diệm, Nhu muốn Thơ nắm Bộ Nội vụ v́ Diệm coi đó là sở trường của ông Thơ, nhưng ông Thơ không nhận, chỉ thích Bộ kinh tế từ đó Thơ chính thức trở thành người của chế độ Diệm . Trong buổi tiếp tân vào tối ngày 26-10-1955, Thơ xuất hiện bên cạnh Tổng thống Diệm với tư cách Phó Tổng thống. Buổi tiếp tân hôm ấy,trong bộ nhưng phục mới của cấp tướng, Thiếu tướng Minh được mọi người chú ư đặc biệt, v́ ông đă trở thành "con cưng" của chế độ Ngô Đ́nh Diệm và đang được Tổng thống thương yêu. Bạn bè của Phó Tổng thống cũng lên vù vù từ đó.

NỖI BUỒN NHO NHỎ

V́ không mấy khi được ông Nhu tham khảo về chính sự, Phó Tổng thống Thơ mỗi ngày càng xa cách ông Nhu với mặc cảm rằng, ông Nhu chỉ là một Cố vấn. Đối với công quyền, ông không có một quyền hành nào, v́ cố vấn không phải là một "titre oflciel" (1), phó Tổng thống Thơ mới là nhân vật số 2. Do đó ông phải hơn ông Nhu và sẽ không cần biết ông Nhu, chỉ cần biết Tổng thống. Tuy vậy, mỗi lần gặp ông Nhu, Phó Tổng thống Thơ vẫn mềm mỏng, khôn khéo và tỏ ra rụt rè. Tuy bên trong, có lẽ Phó Tổng thống Thơ vẫn không được hài ḷng do một số những bất măn nào đó, có khi chỉ là chuyện rất tầm thường.Thí dụ như vụ Thiếu tá Đỗ Kiến Nhiễu, Tỉnh trưởng Long Xuyên (1957). Thiếu tá Nhiễu được coi như người thân của gia đ́nh Phó Tổng thống Thơ và được ông Thơ đề bạt làm Tỉnh trưởng nơi quê hương ḿnh. Ông Nhiễu làm Tỉnh trưởng tỉnh này đă khá lâu. Sau v́ một vụ "x́-căng-đan-t́nh-ái" Nhiễu bị mất chức, v́ x́-căng-đan này đă làm sôi nổi dư luận miền Tây. Sự vụ là: Một sĩ quan cao cấp của Hoà Hảo bị bắt, ông ta có một cô vợ trẻ khá nhan sắc...Nghe đâu trong một dịp ông Nhiễu gặp mặt, mụ này đă làm ầm lên, gây x́-căng-đan lớn. . .không hiểu trong vụ này Hoà Hảo có âm ưu hạ uy tín ông Nhiễu hay không ?
Ông bị thuyên chuyển và Thiếu tá Nguyễn Văn Minh được thay thế, Thiếu tá Minh là một sĩ quan trẻ, cũng có ít nhiều liên hệ với Phó Tổng thống Thơ. Trước khi làm Tỉnh trưởng Long Xuyên, Minh là Thanh tra Bảo an tại mấy tỉnh vùng Hậu Giang. Sau vụ này, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ tỏ ra phiền muộn không ít. Thiếu tá Minh bị "phe" của Thơ nghi ngờ là người của ông Nhu. Đó cũng là lư do sau ngày 1-2-1963 Nguyễn Văn Minh bị "hành hạ" khá nhiều trước khi đi làm Tư lệnh sư đoàn 21 đặc biệt (1966).
C̣n một chuyện "phiền muộn" khác nữa là năm 1957 Thiếu tá Nhan Minh Trang bị mất chức Tỉnh trưởng Rạch Giá. Phó Tổng thống Thơ không nói ra nhưng coi đó như một điều phiền muộn.
Thiếu tá Trang gọi Phó Tổng thống Thơ là "dượng ruột" (sau đảo chính được thăng Đại tá và từng là Chánh văn pḥng của Thủ tướng Thơ, sau làm Tỉnh trưởng Gia Định ). Về vụ này, chính đương sự là Thiếu tá Trang không lấy ǵ làm bất măn, v́ lỗi không do ông mà do sự "lem nhem" của ông Trưởng ty Quan thuế và sự không khéo của chính quyền khi lựa chọn người thay thế, đă không hỏi ư Phó Tổng thống Thơ, v́ Thơ vẫn cho rằng ḿnh rất am tường dân miền Tây, nhất là 3 tỉnh Châu Đốc, Rạch Giá, Long Xuyên. Đó cũng là một điều làm Thơ không hài ḷng, chính quyền hồi đó đă không hiểu tâm lư dân địa phương, nên thay v́ bổ nhiệm một Tỉnh trưởng sinh trưởng tại miền Tây th́ lại cử Trung tá Hoàng Lạc là người Bắc di cư. Kinh nghiệm cho biết phàm những tỉnh miền Đông hay miền Tây đă có một sắc thái đặc biệt th́ chính quyền không bao giờ được bổ nhiệm một ông Tỉnh trưởng là người Bắc hay người Trung .Có thể chính quyền hồi đó cho rằng Rạch Giá với khu định cư Cái Sắn phải gắn bó chặt chẽ với khối dân định cư th́ Tỉnh trưởng là người Bắc sẽ thuận tiện hơn. Cũng cần phải ghi nhận: Thiếu tá Nhan Minh Trang rất có công lao trong sự thành lập khu dinh điền Cái Sắn.
Dù vậy đă tạo nên một số ngộ nhận, nhất là Trung tá Lạc trước khi làm tỉnh trưởng lại là Tư lệnh một Lữ đoàn.
--------------------------------------------------------------------------------
(1) Chỉ người đứng đầu cơ quan.


NGỒI CHƠI XƠI NƯỚC

Tuy nhiên, sự việc không đơn giản như vậy. Đối với ông Thơ Chính quyền "của ông" lại gây cho ông một sự hiểu lầm to lớn khác. Khi Chính phủ cải tổ ngày 28-5-196l, ông Thơ bị mất chức Bộ trưởng Kinh tế cho dù ông được nâng lên hàng Bộ trưởng Đặc nhiệm phối hợp phát triển kinh tế. Nhưng ông Thơ cho rằng chức đó chỉ "ngồi chơi xơi nước"... ông đă hoàn toàn mất thực quyền về kinh tế. Tại một quốc gia tiến bộ, và trong một chế độ tiến bộ th́ người lănh đạo phải là người hoạch định và phối hợp kế hoạch chứ không thể là người chỉ biết cúi đầu thi hành kế hoạch. Nhưng chậm tiến như miền Nam Việt Nam th́ người "lănh đạo" không chịu như vậy họ chỉ thích đóng vai tṛ "thừa hành" để được thượng cấp sai khiến.
Từ một tâm lư lănh đạo như vậy, nên chức Bộ trưởng Đặc nhiệm phối hợp đă chả "nước nôi" ǵ. Hơn nữa, người thay ông Thơ lại quá trẻ tức ông Hoàng Khắc Thành (em kỹ sư Hoàng Kinh, tốt nghiệp cao học thương mại) . Nhất là ông Thành lại thuộc giới khoa bảng, mới hồi hương.
Trong khi đó ông Thơ tuy là Đốc phủ sứ song không phải là dân khoa bảng, ông Thành lại là người Bắc và bị coi là chân tay của Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần. Ông Thành là người trẻ, có khả năng, tính t́nh thẳng thắn, nhưng lại vụng về trong thuật xử thế cho nên ông Thơ cho rằng ông Thành đi thẳng với phủ Tổng thống về mọi vấn đề kinh tế, qua mặt ông là phó tổng thống.

 


Nội các Đệ nhất Cộng ḥa (đứng đầu là Ngô Đ́nh Diệmn (1) và Nguyễn Ngọc Thơ (2))


Từ những sự kiện lặt vặt như vậy đă tạo cho Phó Tổng thống Thơ có mặc cảm bị tước đoạt quyền hành và cho rằng phe ông Nhu đă "chơi" ḿnh.
Khi Thơ không c̣n làm Bộ trưởng Kinh tế th́ ông Ngô Trọng Hiếu lại được cất nhắc lên làm Bộ trưởng Công dân vụ, một tay quán xuyến ba ngành Thanh niên, Thông tin và Công dân vụ (Thực tế chỉ có Công dân vụ) . Ông Hiếu được coi là người của ông Nhu và mỗi ngày càng được chế độ Ngô Đ́nh Diệm tin dùng. Có lẽ đó cũng là lư do khiến cho đôi bạn Thơ, Hiếu mỗi ngày càng thêm xa cách nhau.
Kể từ chiến dịch Rừng Sát uy tín của tướng Minh mỗi ngày một tăng lên trong Quân đội. Phải công nhận rằng. guồng máy tuyên truyền (Báo chí, Đài phát thanh) của chế độ cũ đă có công phát triển và hào quang hoá "anh hùng Rừng Sát", nhất là từ đêm liên hoan tại vũ trường Pétrus Kư (1956). Các đoàn thể đă không tiếc lời ca tụng tướng Minh và các chiến binh Rừng Sát. Tướng Minh lại biết "tự làm vắng mặt ḿnh" khi thấy cần, ít ồn ào và trầm lặng khó hiểu cho nên "huyền thoại Rừng Sát, miền Tây" lại càng có dịp thêu thùa hoa lá trong Quân đội, nhất là giới sĩ quan trẻ. Trước năm 1963, Tướng Minh cũng chỉ đủ dùng hàng ngày, không nghèo, không giầu đó là ưu điểm để tăng cường uy tín của ông trong giới trẻ.

NGÀI NGOẠI TRƯỞNG

Như trên đă viết, nhiều tướng tá nhờ sự đề bạt của Phó Tổng thống Thơ nên suốt 9 năm cầm quyền của chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă được hưởng mũ áo xênh xang. Điển h́nh là ông Albert Nguyễn Cao.
Ông Cao khi là sĩ quan cấp uư từng là sĩ quan tuỳ viên của tướng Nguyễn Văn Hinh. Đáng lư ra khi tướng Hinh đại bại th́ Cao cũng khó ḷng tiến thân được. Nhưng rồi nhờ "uy thế” của ông Nguyễn Ngọc Thơ, Thiếu tá Cao từ trưởng khu dinh điền Cao nguyên leo lên Tỉnh uỷ trưởng dinh điền. Thời Nguyễn Khánh được phong Chuẩn tướng và là Đổng lư Văn pḥng của tướng Khánh.
Bức tranh "vân cẩu” của thế sự đă diễn ra bao nhiêu "h́nh thù”, trong hào quang một phút rồi cũng chỉ đen tối trong một phút.
Đă có bao nhiêu huyền thoại xây trên sự đổ vỡ và cái hèn mọn nhất của con người. Cũng nên nhắc lại nhân dịp nhắc đến "huyền thoại" này "huyền thoại" kia... trong 7, 8 năm làm Ngoại trưởng th́ giáo sư Vũ Văn Mẫu cũng là một huyền thoại. Mẫu v́ được Diệm kính nể, cho nên mọi người cũng kính nể, có khi đến độ " thần thánh" nhà trí thức đại khoa bảng này.
Giáo sư Mẫu là một luật gia uyên thâm (Thạc sĩ Tư pháp, giáo sư thực thụ của Đại học Luật khoa Sài G̣n ). Sự ăn nói mạch lạc và cách đi đứng đường hoàng của ông đă dễ dàng thu hút được cảm t́nh và sự kính nể của Diệm. Nhưng ông Diệm "vỡ mộng" đau điếng khi ông Mẫu "xuống tóc", cho đến lúc sau này Diệm vẫn biện minh cho ḷng kính nể ông Mẫu "Ngài đàng hoàng đấy, nhưng phải làm thế cũng chỉ v́ Ngài nể bà Ngoại trưởng " (ông Mẫu là người thứ hai sau ông Thơ được ông Diệm gọi là Ngài) . Số là, giới cận thần tại dinh Gia Long và Bộ Ngoại giao lúc bấy giờ cho biết: ông Ngoại trưởng rất "vị nể" phu nhân do bà đau yếu luôn luôn và bị mất một lá phổi. Phu nhân cũng như gia đ́nh Ngoại trưởng rất mộ đạo Phật. Thế nhưng trong vụ Phật giáo trước tháng 8, Ngoại trưởng rất im lặng, không hề tỏ một thái độ nào có thể bất lợi cho vị Tổng thống và chế độ mà ông phục vụ.

 


Ông Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng của chính phủ Dương Văn Minh, ngày 30/4/1975 tại Sài G̣n.


Buổi sáng ngày 20-8, Ngoại trưởng Mẫu c̣n hướng dẫn tân Đại sứ Anh đến tŕnh ủy nhiệm thư tại dinh Gia Long. Ông đă bày tỏ thái độ hoàn toàn đồng ư với Chính phủ. Song buổi chiều ngày 21-8 đột nhiên ông Ngoại trưởng lại xuống tóc phản đối. Đó là một hành động đẹp theo tinh thẩn kẻ sĩ Phương Đông. Nhưng dư luận cho rằng ông phải làm thế v́ phu nhân làm áp lực dữ dội quá. Sau này, ông Nguyễn Đ́nh Thuần thuật lại: "Nếu ông ấy xuống tóc và xin đi hành hương, nhưng đừng làmcái việc cố vận động chạy chọt để đổi thật nhiều dollars, ba bốn ngàn ǵ đó th́ cũng c̣n coi được".ông Thuần mà phê b́nh giáo sư Mẫu th́ kể cũng hơi lạ (Theo dư luận tại Viện Hối đoái th́ phủ Tổng thống chỉ thị viện này để giáo sư cựu Ngoại trưởng được đổi 5.000 dollars). V́ tiếng súng đảo chính bùng nổ, ông Thuần tuy với tư cách Bộ trưởng Bộ Quốc pḥng phụ tá Quốc pḥng kiêm Bộ trưởng phủ Tổng thống) song lại chuồn leï nhất, đến nỗi trong dinh không c̣n biết ông ở đâu để liên lạc.

CHÁY NHÀ RA MẶT CHUỘT

Đêm mùng 1-2, ông Thuần và ông Nguyễn Lương là hai Bộ trưởng đến tŕnh diện tại Hội đồng Quân nhân cách mạng sớm nhất. Một vị tướng nói" Cháy nhà mới ra mặt chuột. Chế độ ông Diệm sụp đổ cũng chỉ v́ có những Bộ trưởng như vậy. Khi đến tŕnh diện th́ rụt rè, khúm núm quá chả bù với khi c̣n thét ra lửa".
Nhờ sự đầu hàng sớm như vậy, cũng như sự rụt rè khúm núm, sợ hăi Thuần và Lương được quân đảo chính cho về nhà thong dong. Ít lâu sau Thuần qua Pháp, v́ vợ con đă ở sẵn bên đó. C̣n Nguyễn Lương được thong dong đến một năm sau, thời tướng Khánh, ông bị bắt v́ tội tham gia đảng Cần lao. Thật là số mệnh an bài...trước đó th́ chả sao. ông Nguyễn Lương được đưa vào khám Chí.Hoà hôm trước, th́ hôm sau ông bị đưa lên xe ra máy bay trục ra Côn Đảo.


CÁI GAI CẦN NHỔ

Chính phủ Nguyễn Khánh kết tội Nguyễn Lương là nhân vật cao cấp của Đảng Cần lao quả là bóp méo sự thật. Ông Lương thuộc hàng quan lại lớp cũ. Năm 1955, ông đă lên đến ngạch Chưởng lư toà Thượng thẩm. Khi giáo sư Vũ Quốc Thông giữ Bộ Y tế và Xă hội th́ ông Nguyễn Lương làm Tổng Giám đốc Xă hội (Viên Chánh văn pḥng của ông là Hoàng Thế Phiệt sau trở thành Nghị sĩ của Thượng viện Đệ II Cộng hoà) - Khi Nha Tổng Giám đốc Xă hội tách khỏi Bộ Y tế và trực thuộc Phủ Tổng thống th́ đây là dịp ông Lương được gần Tổng thống Diệm .
Nhờ tài ăn nói lưu loát và am tường luật pháp, ông Lương rất được Tổng thống Diệm tín nhiệm. Đứng trước Tổng thống Diệm, Lương luôn luôn chấp tay cung kính . . . Rồi trở thành Cố vấn luật pháp của Tổng thống và sau được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn công chức cách mạng quốc gia.
Cái chết của Ngô Đ́nh Diệm mang theo sự sụp đổ của chế độ Đệ nhất Cộng hoà, đồng thời tố cáo luôn bộ mặt thật của một số thư lại. Chính họ đă góp công lật đổ chế độ. Những viên đạn nổ vào đầu Ngô Đ́nh Diệm chỉ là kết quả của bao nhiêu mâu thuẫn nội bộ sự phân hoá hàng ngũ quốc gia, đồng thời cũng là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng giữa Mỹ và Sài G̣n, hơn nữa là sự "thọc gậy bánh xe" của Pháp...
Năm 1963 con số cố vấn Mỹ tại miền Nam đă lên tới 14.000 người, đồng thời tại Bộ Ngoại giao Mỹ thành lập một Uỷ ban nghiên cứu hỗn hợp về sự sử dụng "sức mạnh" của Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Uỷ ban ấy mang một danh từ thật đẹp "Việt Nam Task Force" mà người đứng đầu là Hilsman. Vấn đề chủ quyền quốc gia đối với ông Diệm đă trở thành đầu mối cho tấn thảm kịch Việt - Mỹ. Nếu Hilsman đặc trách Á châu sự vụ, có phận sự nghiên cứu những phương thức Mỹ nhằm tiêu diệt những người yêu nước tại miền Nam Việt Nam, th́ song hành với công việc này Hilsman cũng đă "sửa soạn" theo kỹ thuật của Mỹ để "hạ" một Tổng thống cứng đầu thân Pháp như ông Ngô Đ́nh Diệm. Lu Conein cũng như Smith và Hilsman, Fisthel nghĩa là cả guồng máy CIA đă góp công vào việc sửa soạn cuộc lật đổ này.

__________________
 
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???

 
National Academy of Public Administration - Faculty of State and Law - Inspection
 
  #3  
Old 09-04-2008, 08:30 PM
Avatar của Bạch Văn Cơ
Bạch Văn Cơ Bạch Văn Cơ is offline
Thành viên xuất sắc
 
Gia nhập: Dec 2006
Đến từ: Nation & Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18 lần trong 9 bài viết
Default

Chương III : Trong thời gian của uy quyền và cô đơn

CÂU HỎI GIAO DU

Sau ngày đảo chánh, một số đông các sĩ quan thuộc Liên đoàn liên biệt văn pḥng Tổng thống đều bị bắt giữ. Mấy sĩ quan tuỳ viên đều phải trả lời một số những câu hỏi như: "Có thấy những người đàn bà nào vào pḥng riêng của Tổng thống Diệm?" Tổng thống Diệm có "giao du” với bà Nhu không?". Đại uư Lê Công Hoàn, một sĩ quan tuỳ viên phục vụ Diệm 5 năm đă trả lời trên giấy tờ: "Tôi quả quyết không bao giờ có chuyện như vậy nếu có mà tôi bảo là không tôi xin chịu mất đầu’’. Vậy th́ sự tương quan trong nếp sống gia đ́nh thường nhật giữa vợ chồng ông Nhu và ông Diệm ra sao? Tổng thống Diệm ở trong một căn pḥng riêng, ngủ trên tấm phản gỗ.
Mỗi tối, một ông già Ẩn chăng màn sẵn, sáng sớm lại tháo gỡ. ông Diệm thường dùng bữa ngay trong căn pḥng này. Ông vẫn ăn một ḿnh trong suốt 9 năm, trừ những buổi tiệc tùng dạ hội. Đối với gia đ́nh ông Nhu th́ Diệm sống một thế giới riêng. Rất ít khi ông Diệm ăn cơm chung với gia đ́nh ông Nhu. Hoặc khi sang pḥng ông Nhu dùng cơm th́ ông Diệm dùng món ăn riêng của ông. V́ vậy trong dinh có hai đầu bếp. Một đầu bếp của vợ chồng ông Nhu. Một đầu bếp của ông Diệm.
Thông lệ, mỗi buổi sáng sĩ quan tuỳ viên đem vào pḥng ông một xấp báo đủ loại. Ông vừa đọc vừa ăn điểm tâm.
Thỉnh thoảng có ǵ đặc biệt lắm ông mới sang pḥng vợ chồng ông Nhu ngồi uống nước, nói chuyện lan man. Theo sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn cũng như Đại uư Bằng, ông già Ẩn, th́ anh em ông Diệm và ông Nhu không mấy khi hàn huyên tâm sự . ông rất kính trọng và vâng lời Đức cha Thục theo quan niệm "Quyền huynh thế phụ” .
Trước khi qua Roma, dự Công đồng Vatican II, Đức cha Thục vào dinh ở lại vài ngày. Như thường lệ Đức cha Thục vào chào anh em Tổng thống.
Theo sĩ quan tuỳ viên Hoàn th́ anh em Tổng thống Diệm rất giữ lễ với nhau chứ không suồng să tự nhiên. Khi về dinh, Đức cha Thục thường dùng cơm với ông bà Nhu và mỗi lần như vậy, Tổng thống Diệm lại ghé qua pḥng ông em nhân tiện đáp lễ ông anh. Đức cha Thục nói ǵ th́ ông Diệm nghe điều đó. Tuy nhiên, mỗi lần không vừa ư ông Diệm lại chỉ thở dài, cau có và hết sức bẳn gắt với sĩ quan tuỳ viên. Cũng không mấy khi ông bà Nhu vào pḥng riêng của Tổng thống Diệm trừ mấy đứa con trai của ông Nhu.

 


Gia đ́nh Ngô Đ́nh Diệm tại Huế


Căn pḥng riêng của Tổng thống Diệm vừa là pḥng ngủ, vừa là chỗ làm việc, bao giờ cũng có cận vệ gác ở ngoài cửa cùng với một sĩ quan tuỳ viên túc trực ngày đêm (thay phiên nhau như làm việc theo từng "ca") . Bất kỳ một ai thăm viếng về phía quân sự đều qua tay sĩ quan tuỳ viên (sự sắp xếp do Tham mưu biệt bộ) . Sự thăm viếng về phía dân sự và ngoại giao đoàn đều do Nha Nghi lễ đảm trách .
Không kể Đỗ Thọ đă chết, 3 sĩ quan tuỳ viên c̣n sống sau cuộc đảo chính 1963 (trong đó có Đại uư Lê Châu Lộc) cùng với Đại uư Bằng hầu cận đều cho biết: "Họ không hề bị ông bà Nhu chi phối. Gặp ông bà ấy th́ chào hỏi vậy thôi. Họ làm việc trực tiếp với Tổng thông Diệm và làm việc theo kiểu "người nhà " phi nguyên tắc luật lệ. Vào pḥng ông Tổng thống lúc nào cũng được và cửa pḥng ông không bao giờ khoá mà chỉ khép. Người được coi là ngang ngược và hay gây gổ với bà Nhu là Đại uư Bằng. Thế giới của ông Tổng thống là thế giới t́nh cảm ".
Quy tụ quanh ông, phái cao cấp là ông Vơ Văn Hải, gần Tổng thống là ông Bí thư Trần Sử rồi đến 4 sĩ quan tuỳ viên, ông già Ẩn, Đại uư Bằng và mấy người thân cận khác. T́m hiểu cuộc sống riêng tư và tâm t́nh của một Tổng thống không ǵ bằng t́m hiểu ngay những người thân cận quanh ông trong nếp sống thường nhật.
Viết về giai đoạn lịch sử 1955-1963 không thể bỏ qua phần t́m hiểu con người Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm để từ đó soi sáng một phần tâm lư chính trị.
Tâm lư chính trị này là một phần căn bản giúp cho sử gia dễ dàng phân tách và dẫn giải các sự kiện lịch sử qua hướng đi của nó ,qua sự chèo lái của nhà lănh đạo.
Tổng thống Diệm thích làm thơ. Tất nhiên là thơ Đường luật, ông c̣n biết vẽ và nét vẽ rất đẹp. Bức vẽ cuối cùng của ông là ngôi Thánh đường, dự định sẽ xây cất ở khu Phượng Hoàng. ông đă có ư định không ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ 19 và sẽ lui về an dưỡng ở khu Phượng Hoàng.
Trước đó, đă có một dự án chỉnh trang toàn thể khu Cồn Hến tại Huế để làm nơi Tổng thống Diệm trở về vui thú điền viên. Khu này được coi là một trong mấy nơi thơ mộng nhất ở Huế, cách thôn Vỹ Dạ chỉ một con sông. Khi dự án được tŕnh lên, Tổng thống không vừa ư và cho dẹp bỏ. Rồi tự tay ông phác hoạ khu Phượng Hoàng. Ngôi Thánh đường cũng tự tay ông vẽ. Tổng thống Diệm ưa thích đánh cờ tướng nhưng lại không phải là tay cao cờ.Nhiều lần, trong lúc cao hứng, ông cho gọi Đại úy Bằng và Ngô Đ́nh Trác vào pḥng riêng của ông bảo hai người đánh cờ để ông ngồi xem, ông có thể ngồi như vậy trong một, hai giờ liền.

 


Diệm, Thục và Ngô Đ́nh Trác - con trai Nhu.


Thú vui lớn nhất của ông là chụp ảnh và rửa h́nh. Thỉnh thoảng cao hứng ông lại đưa bọn con ông Nhu ra chụp một vài "pô" hay chụp mấy sĩ quan tuỳ viên. Tướng Lê Văn Kim được coi là "người bạn" của Tổng thống về phương diện chụp h́nh và rửa h́nh. Một lần vào năm 1961, vợ chồng bác sĩ Trần Kim Tuyến đang coi Ciné ở rạp Đại Nam th́ có thuộc viên t́m đến, cho biết ”tổng thống điện thoại gọi bác sĩ vào dinh gấp". Hai vợ chồng bỏ dở buổi Ciné trở vào dinh. Bà vợ ngồi dưới xe chờ chồng từ 10 giờ sáng tới gần 2 giờ chiều mới thấy chồng trở ra. Bác sĩ Tuyến được ông Tổng thống tiếp 4 giờ liền không ngoài việc máy ảnh và chụp h́nh. V́ Tổng thống mới mua một cái máy Canon, cho nên gọi ông Tuyến vào để chỉ cho cách sử dụng. Mỗi lần như thế ông Diệm rất vui, cởi mở.
Đặc biệt là Tổng thống Diệm không uống được rượu, chỉ cần uống một hớp nhỏ, mặt ông đă đỏ gay...Tuy vậy trong pḥng ông cũng có một chai rượu nho, thỉnh thoảng ông nhấm nháp đôi chút và những lần như vậy giới hầu cận đều biết ngay là Tổng thống có chuyện vui. Đầu bếp trong dinh phải chế tạo riêng một loại sâm banh. Loại sâm banh này chỉ là nước ngọt cho vào chai và khi mở cũng nổ chát và sùi bọt như sâm banh thực. Khi tiệc lớn cùng với với các Đại sứ và quốc khách th́ Tổng thống dùng sâm banh loại này. Tổng thống Diệm ăn uống không có giờ giấc nào cả. Bữa cơm chiều có thể là 8 giờ hoặc 10 giờ đêm...Khi gặp ai vui chuyện, ông Diệm có thể mạn đàm lan man cả 2,3 giờ liền. Ông hay dùng thứ Paté Chaud ở Bưu điện và ông cho là ngon tuyệt hạng.
Như trên đă viết ông Diệm rất kính trọng và vâng lời các anh. Ông lại luôn luôn sống xa mẹ. Sau khi từ chức Lại bộ Thượng thư triều đ́nh Huế (1933) ông không về sống ở Phú Cam mà về ở trong một ngôi nhà của ông Ngô Đ́nh Khôi tại Vĩnh Điện, Quảng Nam. Ngôi nhà đó chỉ có ôngDiệm và ông Bằng. ông Bằng lo việc cơm nước, quần áo và mọi sự cho ông Thượng thư, một vài tuần ông Diệm lại về Phú Cam một buổi, vài tháng lại vào Nam. Từ dạo đó, ông Diệm đă sống một cuộc đời khép kín, đi hay về không ai biết. Khi ông Ngô Đ́nh Khôi bị giết năm 45, Đức cha Thục trở thành người có ảnh hưởng lớn nhất tới ông Diệm. Qua tập an-bum gia đ́nh họ Ngô ta thấy đức cha Thục và ông Diệm hay cùng nhau chụp ảnh, hai người tỏ ra tương đắc.
Chúng tôi nêu lên sự kiện này như một sự kiện lịch sử để thấy rằng cái t́nh huynh đệ gia đ́nh của một ông Tổng thống đă quan hệ đến cả vận mệnh quốc gia.
Năm 1963 là năm Ngân khánh của đức cha Thục. Theo truyền thống Thiên chúa giáo th́ đây là một dịp trọng thể; đánh dấu thành công trongsự nghiệp của một đời tu hành. Lễ này thường do giáo dân đứng lên tổ chức để tỏ bày sự kính mến đối với bậc chăn chiên của họ. Giả dụ đức cha Ngô Đ́nh Thục không phải là anh ruột của Tổng thống th́ lễ này có tổ chức long trọng đến mấy cũng không có ǵ đáng nói, v́ đó là sự thường t́nh trong nếp sống tôn giáo. Nhưng Đức cha Thục lại là anh ruột của một ông Tổng thống (chúng ta sẽ phân tích rơ ở chương Phật giáo 1963) nên đó là một vấn đề lớn.

 


Ngô Đ́nh Thục trong lễ Ngân Khánh năm 1963

.

Từ đầu tháng 1-1963, các giới chức địa phương và ở trung ương đă rộn dịp "góp công" vào việc tổ chức lễ Ngân khánh của Đức cha. Có một số địa phương tại miền Trung, Tỉnh trưởng lại đi thu góp tiền bạc để góp phần vào lễ Ngân khánh cho thêm phần long trọng. Rồi một Uỷ ban toàn quốc được thành lập đứng đầu là ông Chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ, sau là bác sĩ Cao Xuân Cẩm cùng các uỷ viên gồm một số Bộ trưởng, Dân biểu, Linh mục Cao Văn Luận Viện trưởng Đại học Huế cũng được mời tham dự. Cha Luận lấy làm khó chịu song không thể khước từ nên phải nói:" Là một Linh mục sống trong địa phận của đức cha th́ có bổn phận kính vâng Đức cha. Ông Bộ trưởng Giáo dục, Viện trưởng Đại học Sài G̣n cũng tham dự th́ Viện trưởng Đại học Huế cũng xin về tham dự’’. Một mặt cha Luận biên thư cho ông Chủ tịch Quốc hội xin tham dự vào uỷ ban để cho vừa ḷng đẹp ư người đến mời. Mặt khác, cha Luận đến gặp riêng ông Ngô Đ́nh Cẩn v́ cha Luận vẫn được coi là người có nhiều ảnh hưởng đối với gia đ́nh họ Ngô (cũng như Linh mục Nguyễn Văn Thính, Linh mục Nguyễn Văn Lập, Linh mục Nguyễn Viết Khai). Cha Luận khuyên ông Cẩn nên t́m cách ngăn cản để làm thế nào lễ Ngân khánh tổ chức trong ṿng thân mật và thu hẹp, v́ từ ngày Đức cha Thục ra trọng nhậm giáo khu Huế đă gây nên nhiều ngộ nhận trong giới Phật giáo. Nếu lễ Ngân khánh tổ chức quá rầm rộ ngay tại cố đô Huế e rằng bất lợi. Ông Cẩn cho là phải và rất đồng ư với cha Luận, nhưng ông Cẩn cho biết: "Từ ngày Đức cha về đây, đức cha có coi tôi ra cái ǵ đâu. Tôi làm sao nói được xin nhờ cha vào Sài G̣n gặp Tổng thống để nói rơ sự lợi hại". Hôm sau, cha Luận vào Sài g̣n xin gặp ông Ngô Đ́nh Nhu.
Ông Nhu cũng đồng ư như vậy và cho rằng không thể lẫn lộn tôn giáo với quốc gia, ông Nhu than thở với cha Luận là ông không biết làm thế nào v́ nói thẳng sự thật sợ phật ḷng Đức cha -bậc quyền huynh thế phụ đối với gia đ́nh họ Ngô. Trước năm 1953 ông Nhu vẫn bị ngộ nhận làngười chống lại hàng giáo phẩm. ông Nhu phàn nàn với cha Luận đại ư:" Thân sinh tôi mất rồi th́ chỉ c̣n đức cha là bậc quyền huynh thế phụ. Tôi không biết phải nói thế nào, Tổng thống th́ cả nể Đức cha lắm. Từ ngày đức cha về Huế, ở đây tôi mới "rảnh rang”... Khi đức cha c̣n ở Vĩnh Long th́ thứ bảy, chủ nhật nào bọn họ cũng rủ nhau xuống Vĩnh Long cả nội các, cả Quốc hội. Biết là phiền phức nhưng không làm thế nào được". Ông Nhu lại một lần nữa nhờ riêng cha Luận nói rơ thiệt hơn với Tổng thống. Tất nhiên ông Nhu không dám nói thẳng với Tổng thống Diệm th́ cha Luận sức nào dám nói thẳng sự hơn thiệt.
Mặc dầu lễ Ngân khánh đă được sửa soạn chu đáo nhưng không được như dự định, v́ xảy ra vụ Phật giáo (ngày 8-5-1963).

 


Trước đó, Tổng thống Diệm cũng không dám băi bỏ Uỷ ban toàn quốc như vậy. Song ông Chủ tịch Quốc hội là Chủ tịch Uỷ ban th́ quả là điều “chướng mắt" khó coi, cho dù ông là giáo dân... Có lẽ v́ vậy mà bác sĩ Cao Xuân Cẩm đứng ra làm Chủ tịch (?) . . . nhưng cũng không phá tan được sự ngộ nhận "dĩ công vi tư và lạm dụng ưu thế của Tổng thống Diệm ".

HÀNH HƯƠNG VĨNH LONG.

Tổng thống Diệm quá nặng t́nh nghĩa gia đ́nh. Gia đ́nh đó lại sống theo quan niệm "đóng cửa bảo nhau”. Cho nên, dù anh em mâu thuẫn bất hoà người bên ngoài cũng không mấy ai biết ngoại trừ những người thân cận sống lâu năm trong gia đ́nh họ Ngô.
Trong 9 năm kháng chiến, Đức cha Thục không tỏ rơ một thái độ nào có thể minh chứng khuynh hướng chính trị của Đức cha. Khác hẳn với những giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu, giáo khu Vĩnh Long luôn luôn đứng ngoài ṿng cuộc chiến. Những gia đ́nh quen biết Đức cha Thục như Phạm Ngọc Thảo, Kiều Công Cung đă đi theo kháng chiến ngay từ buổi đầu cho đến năm 1954. Linh mục Lư Vinh cũng như ông Sáu Nhân (tức Hoàng Xuân việt) đều được đức cha gởi vào ở tạm tại Nhà ḍng Đồng công Thủ Đức. Cha Lư Vinh đă có lần tâm sự rất nhiều về đức cha Ngô Đ́nh Thục và đều cho rằng đức cha trước năm 1954 rất khác đức cha sau năm 1954 và càng ngày càng bị vây hăm, bị lợi dụng, dấn ḿnh quá sâu vào đời sống chính trị của các em.
Vào khoảng tháng 6-1960, nhân một buổi lễ trọng thể tại Vĩnh Long (buổi lễ thuộc phạm vi tôn giáo), thế nhưng từ sáng sớm đă có hàng trăm xe hơi nối đuôi nhau trên con đường "hành hương" về Vĩnh Long. Hầu hết là các Bộ trưởng, dân biểu, tướng tá, công chức cao cấp. V́ có hàng trăm xe của nhân viên chính quyền cho nên Bắc Mỹ Thuận bị kẹt, xe hàng, xe dân bị ứ lại dài cả hàng cây số và phải đợi cả hàng 2,3 giờ mới được khai thông. Một nhà báo Mỹ cũng bị kẹt trong đám xe đó. Khi trở về Sài G̣n ông ta tỏ ư phàn nàn và phê b́nh gay gắt Lương Khải Minh.

Nhà báo Mỹ th́ lúc nào chẳng t́m cách "x́-căng-đan" Lương Khải Minh t́m cách biện minh cho nhà báo vui vẻ, bỏ qua sự phiền muộn. Lương Khải Minh cho ông Ngô Đ́nh Nhu biết rơ sự thật. Nhu đỏ mặt tía tai đập tay vào bàn rồi gọi điện thoại cho ông Chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ: “Làm cái ǵ mà kỳ vậy. Xuống đấy làm cái ǵ mà lố vậy. Tôi nhờ ông bảo bọn họ ngưng ngay cái tṛ đó đi".

Ông Nhu không thích là chuyện của ông Nhu.
Con đường Sài G̣n - Vĩnh Long vẫn tấp nập khách công hầu. Ông Nhu thường phàn nàn với Lương Khải Minh " Bây giờ Nội các và Quốc hội họp ở Vĩnh Long mà! ".

Như trên đă viết, Tổng thống Diệm bị chi phối mạnh mẽ bởi t́nh nghĩa gia đ́nh thân thuộc,chữ Lễ đối với ông là một điều quan trọng, không thể thiếu. Tiếc rằng chữ Lễ trong tinh thần Nho giáo tuy tạo được sự thể thống về phương tiện quốc gia, song thực tại của xă hội giữa thế kỷ 20 đă làm cho chữ Lễ của Tổng thống trở nên những h́nh thức phù du và làm cho ông lạc lơng và càng cô đơn xa lạ trong thế kỷ mà nấc thang giá trị cũ chỉ c̣n như một áng mây chiều.

Một bọn nịnh thần lại luôn luôn bám vào chữ Lễ cũ của ông Diệm để che đậy những manh tâm . . . Chữ Lễ với giá trị cao cả của nó trong t́nh nghĩa của nếp sống Đông phương lại trở thành chiếc gậy thần của một số "phù thuỷ", họ xúm nhau lại suy tôn và thần thánh hoá Ngô Tổng thống... ông Tổng thống càng thêm lạc lơng và chữ Lễ biến thành vùng ảo tưởng bao bọc lấy ông.

Tổng thống Diệm làm việc ngay trong pḥng riêng. ông ngồi trên chiếc ghế bành trước một chiếc bàn tṛn và ở đó ông phê chuẩn, khán kư, cũng như xem xét hồ sơ công việc và bàn xét quốc sự. Nếu không phải tiếp khách ngoại quốc hay các phái đoàn, ông làm việc trong pḥng cả ngày. Thường thường ông mặc chiếc áo dài đen. Không bao giờ ông Tổng thống mặc đồ ngủ để tiếp khách dù đó là mấy ông thợ chụp h́nh. Khi phải ra pḥng lớn tiếp khách th́ theo thói quen ông cũng xốc lại cổ áo nắn lại chiếc Cravate rồi cầm lược chải đầu, gọi bồi lau lại đôi giầy. . .

 


Trần Văn Chương, Ngô Đ́nh Diệm, Cabot Lodge năm 1957.


CHỮ LỄ TRONG TINH THẦN NHO GIA

Những ngày đầu vào dinh Gia Long làm việc,Lương Khải Minh c̣n trẻ, lại quen tính ăn mặc luộm thuộm. Mấy lần vào pḥng làm việc của ông Tổng thống, chỉ mặc áo cổ bẻ, cộc tay bỏ ngoài quần và đi dép quai da, mà không để ư đến sự khó chịu của ông Tổng thống nên cứ tiếp tục ăn mặc như vậy. Sau Tổng thống Diệm gọi thẳng bà Nhu phiền trách: "Thiếm phải lo cho chú ấy ăn mặc đàng hoàng. Chú ấy ăn mặc lôi thôi mấy đứa nó bắt chước, mất cả thể thống. Thằng cha nó ăn mặc cái ǵ mà lôi thôi quá". Từ đó Lương Khải Minh phải để sẵn trong văn pḥng một bộ Complet, Cravate.

Nếu Tổng thống cho gọi là phải ăn mặc cho đầy đủ lệ bộ. Giầy mà không có giây thắt, ông Tổng thống cũng cho là một sự thất lễ. Một lần Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần vào dinh, mặc chiếc"Veste" mới may, xẻ phía sau lưng theo mo de mới, liền bị Tổng thống nh́n một lúc lâu rồi khen "ông Bộ trưởng mua chiếc áo xẻ lưng đẹp quá hỉ?". ÔngTổng thống cho rằng làm lớn ăn mặc như thế không hợp với thể thống. Từ đó, Nguyễn Đ́nh Thuần biết ư phải cố ăn mặc làm sao cho vừa ḷng Tổng thống .

Cũng v́ một chữ thể thống mà một sĩ quan đă thắng được vụ kiện. Quan toà là ông Tổng thống, bà Nhu là nguyên cáo. Khi Quốc vương và Hoàng hậu Thái Lan qua thăm Sài G̣n th́ bà Nhu đóng vai "tiếp viên của Quốc gia" (Hotesse) để ngênh đón Hoàng hậu Thái Lan về dinh Độc Lập chào Tổng thống theo nghi lễ, rồi trở về dinh Gia Long nghỉ. Tổng thống cũng đến dinh Gia Long để đáp lễ, cùng đi theo có bà Nhu. Lúc trở ra, bà Nhu đi sau Tổng thống . Viên sĩ quan hậu cần cản lại và nói “Bà không được đi cùng. Theo lễ nghi bà phải đi sau 5 phút..” Bà Nhu nổi giận phản đối. Viên sĩ quan dẫn chứng theo "sách": “Bà đâu có phải là vợ Tổng thống mà được phép trở về dinh cùng một lúc. Tôi cử theo lễ nghi của ông Hoàng Thúc Đàm. Tổng thống phải về dinh trước,năm phút sau bà mới được ra về”. Bà Nhu nổi giận mà đành chịu.

Nhưng sau đó bà về mách ông Nhu và sang tận pḥng Tổng thống kiện. Tổng thống sai gọi viên sĩ quan hầu cận (Đại uư Bằng) và "đối chất". Bà Nhu nói theo lẽ của bà Nhu.

Viên sĩ quan nói theo lẽ của viên sĩ quan và nhấn mạnh là, như thế để giữ thể thống Quốc gia. Ông Diệm không nói một câu rồi cho cả hai người ra về. Bà Nhu rất hậm hực về thái độ lặng thinh của ông anh Tổng thống. Sau buổi chiều ông qua pḥng ông bà Nhu và tuyên án “Nó nói đúng. Tính nó ngang ngược như rứa, thôi bỏ qua".

 


Trần Lệ Xuân - Đệ nhất phu nhân của VNCH.


Người em của bà Nhu là Trần Văn Khiêm cũng đă gây nên nhiều sự phiền phức cho Tổng thống. Anh ta ưa phách lối, làm le và doạ nạt nhiều người. Có lần (tháng l0-1963) anh ta doạ ném lựu đạn giết chết cả nhà bác sĩ Trần KimTuyến. Sự lạm dụng và phách lối của Trần Văn Khiêm đến tai Tổng thống Diệm, ông cũng không biết làm thế nào hơn là ra lệnh cho sĩ quan hầu cận mở cuộc điều tra riêng. Việc đến tai bà Nhu. Bà t́m mọi cách che chở cho em rồi t́m cơ hội "mách" với Tổng thống về những "lạm dụng" của đám người thân bên cạnh ông ta. Do đó, trong 9 năm, ông Diệm luôn phải xử những "vụ án" ngay trong nội bộ của dinh.

Nhiều người thân của Tổng thống Diệm cho rằng, đó là nỗi khổ tâm mà ông không thể nói ra và mỗi lần như vậy ông lại càng thêm bẳn gắt. Ví dụ: Một lần đám con ông bà Nhu lấy bút vẽ bậy bạ lên tường dinh phía pḥng Tổng thống, sĩ quan hầu cận đe nẹt th́ đám trẻ lại nặng lời với họ rồi về mách mẹ. Bà Nhu, bênh con lại nặng lời và đổ thừa cho đám cận vệ vẽ bậy. Lời qua tiếng lại bà Nhu lại vào thưa kiện với Tổng thống v́ viên sĩ quan đă dám hỗn xược với bà. ông Tổng thống lại mất công phân xử. Thường thường bao giờ ông cũng chỉ đỏ mặt, yên lặng, quay đi và lắng nghe hai bên tŕnh bày, không nói một câu...Nếu cùng lắm th́ chỉ phán quyết: "Thôi bỏ qua".

Một lần khác, vào đầu năm 1958 khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm đang vào thời kỳ cực thịnh, một buổi tối bà Nhu bận đồ ngủ, mặc áo choàng vào pḥng ông Tổng thống để kiện cáo một vài chuyện lặt vặt, ông già Ân khép cửa đi ra . . . Bỗng Tổng thống quát tháo rầm rĩ, bấm chuông gọi ông Ân và ông Bằng mắng vu vơ trước mặt bà Nhu. Từ buổi đó, biết ư ông Tổng thống nên mỗi khi bà Nhu vào pḥng Tổng thống th́ ông Ân hay ông Bằng phải có mặt hoặc sĩ quan tuỳ viên. Nếu không th́ y như là có sự la lối. Thường thường nói chuyện với bà Nhu hoặc bất kỳ một người đàn bà nào khác, mặt ông Diệm đều đỏ gay, mắt nh́n đi chỗ khác và trả lời đứt quăng, nhát gừng.

Mỗi lần bà Nhu vào kiện cáo chuyện ǵ, ông yên lặng nghe. Khi bà ta đi ra cửa, ông lại lẩm bẩm nói nhát gừng: "Chuyện đàn bà con nít như rứa . . . thôi bỏ qua" .
Một lần khác bà Nhu vào kiện cáo chuyện gia đ́nh ḍng họ, Tổng thống Diệm vẫn yên lặng nghe, rồi nói: "Thím cứ về rồi tôi tính cho", bà Nhu không chịu lại la lớn tiếng. Bất thần ông Diệm cầm chiếc gạt tàn thuốc lá ném về phía em dâu. Có lẽ ông ném vờ vậy thôi. Chiếc gạt tàn văng vào tường vỡ tung, bà Nhu mở cửa chuồn lẹ.
Những người thân cận chung quanh Tổng thống Diệm đa số đều phục vụ cho ông từ nhiều năm trước thời kỳ 1945. Riêng viên sĩ quan tuỳ viên th́ do Nha Nhân viên Bộ Quốc pḥng tuyển chọn và đề bạt. Trước năm 1960, mỗi tuỳ viên phục vụ trong thời gian 2 năm. Nhưng sau, thời hạn bất kể. Thông lệ mỗi năm vào lễ Giáng sinh ông ra lệnh cho gọi tất cả sĩ quan tuỳ viên cũ trở về dinh gặp ông và cho mỗi người một số tiền 2000$.

Đối với Tổng thống Diệm số tiền này là to quá. Rút tiền mặt chi cho ai đồng nào, ông thường đếm đi đếm lại rất cẩn thận.

Về cách chọn người của Tổng thống Diệm th́ khó ai có thể lường trước được. Bác sĩ Tuyến xác nhận rằng: "80% các Tỉnh trưởng đều do ông Tổng thống chọn". Khoảng năm 1958, Tỉnh trưởng Kiến Hoà lúc bấy giờ là một Thiếu tá người quen thân của Trung tá Phạm Ngọc Thảo và cũng là chỗ quen thân bác sĩ Tuyến. Một hôm, đương sự vào pḥng Tổng thống tŕnh bày công việc, bất thần Tổng thống hỏi: "Anh có biết sĩ quan nào quen việc hành chánh không chỉ cho hai người".

Tất nhiên đương sự không dám hỏi thẳng Tổng thống dùng hai sĩ quan ấy vào việc ǵ, liền đáp: "Thưa có, hiện nay ở sở của con có hai sĩ quan con đang chờ lệnh bổ dụng mà con chưa biết đặt ở đâu . Hai sĩ quan này đều làm quận trưởng bên Gia Định vừa mới bị thay thế". Tổng thống gật đầu: "Được rồi. Tên?". Hai sĩ quan này là Đại uư Lê Minh và Trung uư Q. Rồi ông Diệm lấy giấy ghi tên hai người.

Theo thông lệ những việc nào có tính cách bí mật và tránh sự nḥm ngó của người xung quanh Tổng thống đều viết bằng chữ Hán. Cũng như người bồi pḥng của Diệm, v́ lo công việc hàng ngày trong pḥng riêng của ông nên phải chọn một anh không biết chữ như bồi Bẩy Thạnh.

Khoảng 3 ngày sau, ông Đổng lư Quách Ṭng Đức báo cho bác sĩ Tuyến biết là hai sĩ quan kể trên đă có nghị định bổ nhậm Tỉnh trưởng và Phó tỉnh trưởng Nội An, Kiến Hoà. Đại uư Lê Minh được lên Thiếu tá, Trung uư Q được lên Đại uư, Tuyến nghe tin này th́ choáng váng cả người v́ Thiếu tá Thảo bị thay thế là chỗ thân của ông. Riêng Lê Minh lại không muốn đi làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà. Sau khi bị thay thế Quận trưởng, Lê Minh đă chán hành chánh chỉ muốn có một chỗ tốt tại Sài G̣n. Bỗng đâu chỉ v́ một lời giới thiệu vu vơ, Lê Minh trở thành Tỉnh trưởng rồi sau này lại bị ông Tổng thống nổi giận cắt chức Tỉnh trưởng.

Trong 9 năm có rất nhiều trường hợp "trúng số độc đắc" như vậy. Một thí dụ khác vào khoảng năm 1962, lúe ấy Bộ trưởng bộ Tư pháp là ông Nguyễn Văn Lượng theo Lương Khải Minh, khi ông Bộ trưởng, bộ Tư pháp vào tŕnh công việc củ aBộ, rồi cũng bất thần bị ông Tổng thống hỏi: "Bên Tư pháp có ông thẩm phán nào biết việc hànhchánh, quản tŕ nhân viên, ông Bộ trưởng t́m cho tôi hai người". Bộ Tư pháp lúc ấy cũng có hai thẩm phán "ngồi chơi xơi nước" trong khi chờ lệnh bổ nhậm mới. Đó là ông Trần Thiện Đức, nguyên Biện lư ở Toà sơ thẩm Mỹ Tho v́ có sự bất hoà chống đối viên Tỉnh trưởng địa phương nên tạm thời được rút về Bộ. C̣n ông Khánh thuộc Toà Nha Trang v́ vụ lỗi lầm ǵ đó nên bị thay thế và đang nằm đợi lệnh ở Toà thượng thẩm Huế.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Lượng đưa tên hai ông này tŕnh lên Tổng thống Diệm, ông Tổng thống lại tự tay ghi chép. Ít hôm sau, có Nghị định bổ nhiệm ông Khánh làm đại biểu Chính phủ tại Cao nguyên Trung phần, ông Trần Thiện Đức làm Tổng đoàn trưởng Công dân vụ mà cả hai đương sự cũng không được thông báo trước.

Trước khi có Nghị định bổ nhiệm, họ nhận được lệnh vào tŕnh diện cũng chỉ có mục đích để Tổng thống xem tướng. Nhiều trường hợp chỉ v́ "xấu tướng" đă không được Tổng thống bổ nhiệm.

Riêng ông Đức v́ sự giới thiệu t́nh cờ của ông Bộ trưởng Tư pháp mà trở thành Tổng đoàn trưởng Công dân vụ. Sau đảo chính 1963 ông bị điều tra "lên xuống" xem có phải là đảng viên Đảng Cần lao hay không, có chạy tiền để vào chức vụ ấy không .

Vụ xem tướng người của Tổng thống Diệm cũng có nhiều cái rất lạ. Như ông X, Tổng thống Diệm lắc đầu: "mặt thịt, vai u nó làm được cái ǵ”. Như ông Y, Tổng thống Diệm thấy ăn mặc đường hoàng, nói năng dơng dạc, đi đứng trang nghiêm, ông gật đầu: "Thằng đó khá". Anh nào nói không ra hơi ngôn bất xuất khẩu, ông lắc đầu ngay. . . Nhưng anh nào "nói leo” chưa hỏi đă nói cũng khó ḷng lọt vào mắt xanh của ông. Điều tối kỵ đối với ông là anh nào có vợ hai, bị báo cáo là bài bạc, nghiện hút. Ông ghê sợ sự nghiện hút và kẻ nào vợ nọ con kia. Thiếu tá Trần Ngọc Châu được ông thương v́ có tài nói và thuyết tŕnh rất lưu loát. Tướng Đôn được Tổng thống Diệm sủng ái v́ được coi là quân nhân có tác phong, đi đứng và chào lính trang nghiêm. Phó Tổng thống Thơ dù lùn và lé nhưng Tổng thống Diệm coi như em v́ "Cụ Phó chịu khó làm việc. Cụ Bà hiền đức".

LÀM LỚN

Dù thế nào th́ Tổng thống Diệm cũng vẫn là một ông quan trong tinh thần "phụ mẫu chi dân" và một ông quan trong giấc mộng kinh bang tế thế và được lập thành bởi t́nh thần nho gia "Dân chi sở ố, ố chi. Dân chi sở hiếu, hiếu chi".. (Dân ghét cái ǵ, ḿnh ghét cái đó. Dân thích cái ǵ, ḿnh thích cái đó. Sách Đại học). Sở dĩ phải dẫn sách Đại học ở đây v́ ông Tổng thống thuộc ḷng sách này và thường đem từng câu ra giảng cho thuộc cấp. Khi trở thành Tổng thống th́ ông quan ấy trở nên một v́ Hoàng đế với tiêu chuẩn "Thừa thiên hành đạo". Ông cai trị dân với một "thiên mạng" của nho gia. Cho nên ta thường thấy ông luôn nhắc đến chữ "Thành". Chữ Thành lấy ở sách trung dung.

Nhưng từ giữa Thế kỷ 20 và trong thực tại ở miền Nam sau 1954, tuy tạo được quyền uy tối thượng, tuy giữ được thể thống quốc gia nhưng ông Tổng thống lại trở nên một pho tượng trong vườn ngự uyển. Trong khu vườn đó, ông tưởng ai cũng làm như ông và sống như ông sống. Ông lại qúa tin nơi ḿnh với mặc cảm đầy uy quyền và ông ghen với uy quyền đó (i alouse de son pouvoir) .

Ông làm việc theo lề lối của một vị đường quan và quần thần chủ nghĩa. V́ vậy mà công việc được giải quyết theo khẩu lệnh và quần thần cứ y như thế mà làm, không mấy ai dám ho he phản đối. Theo Lương Khải Minh làm việc trực tiếp với Tổng thống Diệm và ông Nhu trong 9 năm th́ có thể nói nếu so với đức cha Ngô Đ́nh Thục hay ông Cẩn, Tổng thống Diệm và ông Nhu đều biết ai hèn hạ ai tâng bốc, nhưng biết mà không nói, biết mà vẫn dùng. Sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn kể lại rằng: Có một lần vào năm 1962 ở dinhTổng thống trên Đà Lạt, ông Tổng thống cần đi gấp mà trong pḥng lại không có đôi giầy. ông la bồi. Lúc ấy bồi lại đi đâu vắng. Sĩ quan tuỳ viên vẫn đứng yên v́ lấy giầy cho Tổng thống không phải là công việc của anh những việc như thế để bồi nó làm. Tổng thống đă dặn vậy).

Thấy Tổng thống la bồi biểu đi t́m giày, một ông Bộ trưởng chạy đi t́m và mang giầy lại. ôngTổng thống mặt đỏ gay, nhăn nhó và gạt đi, nói một cách bực tức: “hừ hừ...để bồi nó làm". Ông Bộ trưởng tái mặt v́ ngượng và sợ. Sĩ quan tùy viên nh́n ông Bộ trưởng mỉm cười. Nhiều ông lớn tỏ ra hèn hạ một cách công khai đă bị ông Tổng thống mắng thẳng vào mặt. Riêng ông Nhu, một lần thấy một ông Đại uư mặc quân phục đeo lon, đẩy xe cho ông Ngô Đ́nh Luyện dạo qua dinh (v́ ôngLuyện đau chân nên phải ngồi xe có tay đẩy) , ông Nhu cười "ruồi" chỉ cho một sĩ quan hầu cận của Tổng thống Diệm và nói: "Thằng cha sao nó lố như rứa".

 


C̣n bao cảnh hèn hạ tuyệt vời khác như ông Đ cúi đầu tháo dây giày cho cậu Luyện, ông L kia ăn dở chén măng cua ăn thừa của Đức Cha một cách hoan hỉ. Lỗi lầm tai hại của chế độ Ngô Đ́nh Diệm chính là ở điểm đă mặc nhiên chấp nhận những cái hèn hạ như vậy của cộng sự viên qua cái bản chất hèn của con người họ. Mà ở những con người ấy lại tiêu biểu cho quốc gia ở một ngành này hay ở một địa phương khác.
Người ta thường cho rằng, trong 9 năm Tổng thống Diệm chỉ "làm v́" và ông Nhu bao thầu mọi việc. Bác sĩ Tuyến cho rằng “như thế rất sai sự thực" ông Nhu chỉ là một thứ bổ xung cần thiết cho ông Diệm. Kể từ năm 1962, và nhất là khi thành lập ấp chiến lược th́ công việc mới bắt đầu dồn lại phía ông Nhu. Nó dồn lại một cách mặc nhiên và ông Nhu cũng mặc nhiên chấp nhận. Nhưng Tổng thống Diệm vẫn giữ quyền của ông mà không ai chia sẻ được, kể cả ông Nhu. Nhiều sự bổ nhiệm trong quân đội cũng như hành chánh khi đă có nghị định, bấy giờ ông Nhu mới biết. Nếu muốn đặt để ai ở một chức vụ quan trọng, ông Nhu chỉ đánh tiếng bằng những lời khen: “ông ấy, có khả năng, có tài về lĩnh vực ấy". Khi chú Nhu đă nói như vậy th́ ông Tổng thống tin ngay và chắc chắn đương sự được bổ nhiệm.

Nhưng nếu mọi việc không có ư của ông Nhu th́ ông Tổng thống cũng không yên tâm. Như việc thảo diễn văn chẳng hạn. Những năm đầu th́ do ông Trần Chánh Thành viết, sau này do ông Lương Danh Môn (Tổng thư kư Bộ Quốc pḥng) hoặc khi nào rảnh th́ do ông Vơ Văn Hải. ông Hải đảm trách phần vụ viết diễn văn bằng Anh ngữ. Nhưng ai viết cũng đều phải qua tay ông Nhu đọc lại. Diễn văn quan trọng th́ tự tay ông Nhu viết. Nhưng dù ai viết và ông Nhu đă xem lại Tổng thống thế nào cũng đọc kỹ và sửa một vài chữ mới bằng ḷng. Một lần theo lời viên sĩ quan hầu cận (Đại uư Bằng): "ông Nhu đưa bài diễn văn qua pḥng Tổng thống , ông đọc rồi lắc đầu quầy quậy”.

Về diễn văn phải viết bằng tiếng Pháp th́ do ông Nhu viết. Về Anh văn do ông Vơ Văn Hải hoặc Trương Bửu Điện và sau này là Tôn Thất Thiện viết. Dù vẫn phục ông Nhu về tài viết tiếng Pháp văn nhưng thế nào ông Diệm cũng đọc lại rồi giở từ điển ra coi, cân nhắc một vài "từ" cho chỉnh. Về Anh văn cũng thế, mặc dầu Tổng thống Diệm không có sở trường về Anh văn. Một lần viếng thăm một quân đoàn, ông tướng Tư lệnh của quân đoàn này đọc mấy lời: "Kính dâng Ngô Đ́nh Diệm"...ông Diệm nhăn trán quắc mắt v́ trong đó chữ Hán dùng sai. Buổi tối, trở về pḥng trong lúc vui chuyện, ông bảo sĩ quan hầu cận: "Cái thằng nớ nó người Hoàng tộc sao mà nó ngu như rứa. Nó học hành đến đâu hè, ông thân sinh của nó xưa nghe giỏi chữ Hán..." Rồi ông nhớ măi. Vào tháng 10-1963, có sự đề nghị của ông tướng này tham chánh, ông Tổng thống lại nhắc đến bài "Kính dâng" xưa kia và nói giận dữ. "Chữ, nó c̣n không thông th́ nó c̣n biết cái mô tê chi ".
Như trên đă viết, ông Nhu là một thứ bổ sung cần thiết cho ông Tổng thống. Trong bất cứ một vấn đề quan hệ nào nếu không có ư kiến của ông em th́ ông anh không an tâm.

Nhưng thế giới của ông anh là của riêng ông anh, ông em không thể nào "xía" vô. Hai thế giới cách xa nhau, màu sắc và bản chất cũng khác nhau. Căn pḥng làm việc của ông anh Tổng thống th́ hoàn toàn thiếu trật tự, giấy tờ hồ sơ ông để lung tung. ông làm việc không theo giờ ấn định, không có lịch tŕnh. Theo Đại tá Đỗ Mậu, khi vào tŕnh Tổng thống về việc A. . . nhưng chỉ ít phút sau ông hỏi qua việc B rồi lan man qua phạm vi tử vi tướng số . Ông thích hàn huyên tâm sự, thích nói chuyện đời xưa. . .Trái lại văn pḥng làm việc của ông Nhu rất trật tự. Hằng ngày ông làm việc theo giờ giấc và đúng lịch tŕnh. Ông làm việc tại văn pḥng, phía sau bàn giấy là tủ sách.Hồ sơ để theo thứ tự và xếp từng loại. Sự ngăn nắp này cũng dễ hiểu v́ ông là một tổng quản thủ thư viện và văn khố...Nhưng Tổng thống Diệm gặp đâu làm đó lại luôn luôn giải quyết công việc bằng khẩu lệnh . Theo Lương Khải Minh người ta thường cho rằng ông Nhu nói ǵ ông Tổng thống nghe nấy, điều đó không đúng...ông Tổng thống chỉ nghe ông Nhu về những vấn đề quan trọng thuộc lănh vực chiến thuật và chiến lược. Ngoài ra, những vấn đề khác nhất là những vấn đề thuộc lănh vực hành chánh và dinh điền, ông Nhu đôi khi phải nhờ đệ tam nhân can thiệp với ông Tổng thống. Đệ tam nhân đó có thể là ông Nguyễn Đ́nh Thuần, vừa là người của ông Tổng thống và là người được ḷng ông Nhu. Trường hợp bổ nhậm Nguyễn Xuân Khương là điển h́nh. Tuy ông được bác sĩ Tuyến giới thiệu với ông Nhu khi ông Nhu muốn kiếm một người làm Tổng Giám Đốc điền địa, có khả năng chuyên môn để phụ giúp Bộ trưởng Huỳnh Hữu Nghĩa.

Trong giới kỹ thuật, Lương Khải Minh thấy ông Khương là kỹ sư chuyên về địa chánh, ăn nói lại lưu loát Nhờ đó ông Khương được cất nhắc. V́ đang chú trọng đến công tác chỉnh trang lănh thổ nên Khương luôn luôn có dịp ở bên Tổng thống. Ông Tổng thống lại là người ưa thích xem hoạ đồ,nói chuyện đất đai lănh thổ. ông Khương lại là người lanh chân, lẹ miệng nên được ḷng Tổng thống. Từ khi địa vị đă vững vàng, theo sát chân Tổng thống, ông Thương lờ luôn cả ông Nhu, mọi việc ông Khương nhất nhất đều tŕnh thẳng lên Tổng thống. Bởi v́ nếu đă được ḷng Tổng thống dầu rằng ông Nhu có ghét cũng không sao.

Tháng 6- 1963, Nguyễn Xuân Khương được cử thay thế Hồ Đắc Khương làm Đại biểu Chính phủ tại Trung Nguyên. ông Nhu chỉ được biết ông Tổng thống đă quyết định bổ nhiệm ông Khương, ông Nhu đành bóp đầu bóp trán: "Hắn th́ biết ǵ về chánh trị mà cử ra đó" nhưng ông anh đă quyết định th́ ông em đành phải nghe theo rồi t́m đệ tam nhân "nắm" Nguyễn Xuân Khương.

Một thí dụ khác, ông Vơ Văn Hải và ông Nhu hai bên không ưa nhau, ông Hải có thành kiến và ghét luôn những người làm việc với ông Nhu, ông Hải công khai công kích bà Nhu.Thế nhưng, hai người vẫn làm việc song song đối đầu nhau. Có những việc mật, chỉ ông Hải biết mà ông Nhu không hay, cho dù không ưa ông Hải, ông Nhu cũng chả làm được ǵ hơn. Trong gia đ́nh đó kẻ làm em phải chịu lép vế. Theo Lương Khải Minh nhiều vấn đề ông Nhu rất không đồng ư với ông anh và nhiều lần công kích, nhưng khi gặp Tổngthống Diệm th́ ông Nhu lại ngồi lặng thinh không dám nói. Cũng như ông Cẩn ở miền Trung,ông không ưa ǵ bà Nhu, thường nặng lời công kích, mạt sát, nhưng khi gặp ông anh trai và bà chị dâu th́ ông Cẩn lại lặng thinh.

Tuy cùng ở trong dinh, sống chết có nhau trong 9 năm, ông Nhu rất ngại gặp ông Tổng thống. Theo sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn, từ khi vào dinh làm việc, từ năm 1958 đến năm 1963, Hoàn chỉ đến chào ông Nhu lần thứ nhất khi nhận việc theo sự chỉ dẫn của Tham mưu Biệt bộ.

Lần ấy gặp ông Nhu, ông nh́n Hoàn mỉm cười, nói mấy câu ngắn ngủi: "Cám ơn, ở đây mà làm việc". Ông Nhu hầu như không để ư đến thế giới của ông anh kể cả cộng sự viên thân tín của ông anh.

Trường hợp Lê Công Hoàn được gọi về dinh cũng đầy bất ngờ như bao nhiêu trường hợp khác. Anh đang phục vụ trong ngành Công binh tại Pleiku th́ có công điện gọi về tŕnh diện tướng Đính tại Ban Mê Thuật. Gặp Hoàn tướng Đính nói: "Anh về Sài G̣n tŕnh diện Tổng thống ". Rồi ngay đêm đó, ông Đính cho một chiếc xe Jeep thật tốt có người hộ tống Hoàn đi suốt đêm từ Ban MêThuật về tới Sài G̣n, Lê Công Hoàn rất hồi hộp không biết số phận hên sui ra sao. Sáng hôm sau, dù qua một đêm hành tŕnh mệt mỏi, để vào gặp Tổng thống Hoàn cũng phải quần áo chỉnh tề ngay ngắn. . . Nhưng gặp ai và ai đưa vào tŕnh diện Tổng thống ? Lúc ấy Lê Công Hoàn c̣n là Trung uư, nên Hoàn đến tŕnh diện Bộ TổngTham mưu, ở đây lắc đầu không biết, Hoàn đến Bộ Quốc pḥng, ở đây bảo qua lữ đoàn Liên biệt pḥng vệ. Bộ Tư lệnh lữ đoàn cũng không biết và bảo qua Tham mưu Biệt bộ gặp Trung tá Cao Văn Viên. Bấy giờ mới t́m đúng chỗ. Sau đó Hoàn được Trung tá Viên đưa vào tŕnh diện Tổng thống Diệm. Trước hết, Tổng thống lừ mắt nh́n Hoàn từ đầu đến chân, ông nh́n thật lâu có lẽ để xem tướng Hoàn, dùng người ông Diệm có thói quen bắt tướng. Một lát ông gật đầu, hỏi qua Hoàn về gia đ́nh. ông hỏi Hoàn: “Đeo kiếng cận như vậy có bắn được không ? " Lê Công Hoàn đáp: "Dạ thưa, gần th́ con bắn được". ông Diệm lại hỏi: “Trúng không ? " Hoàn thưa: "Dạ bắn được thôi, con không dám nói là trúng", ông Tổng thống gật đầu cười.

Năm năm sống cạnh Tổng thống Diệm, sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn cho biết rằng: Hoàn cũng chẳng có quan niệm nào về Đảng Cần lao, đă được ông Tổng thống tín nhiệm yêu thương th́ khỏi cần đảng phái.

Mà ông Tổng thống cũng rất ít nhắc đến Đảng. "Việc đảng phái đă có chú Nhu lo". Tổng thống thường nói vậy. Người không hề tham gia đảng phái chính trị nhưng Đại tướng Lê Văn Ty rất được ông Tổng thống tín nhiệm, thương yêu trong sự tương kính. Dù có chân trong Đảng hay được ông Nhu ông Cẩn tín nhiệm, nhưng Tổng thống không ưa ǵ th́ đương sự cũng khó ngóc đầu lên được.
Ông Nhu làm việc và tiếp khách đều theo lịch tŕnh đă ấn định sẵn. Kể cả lúc đi săn cũng thể theo chương tŕnh. Một vài năm ông lại về Huế 10 ngày và đọc sách. Đọc sách cũng có chương tŕnh. Bằng ấy ngày nghỉ sẽ đọc bằng ấy quyển. Mỗi lần đều có sổ tay ghi chép. ông Tổng thống th́ không. Sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn cho biết: Mỗi lần ông Tổng thống đi kinh lư ở đâu,văn pḥng đều có định trước chương tŕnh. Ví dụ ông lên Đà Lạt th́ 9 giờ thăm trường Vơ bị, 14 giờ đi thăm ấp chiến lược... Rồi sẽ tiếp những ai. Tuỳ viên phải học thuộc ḷng. Tổng thống hỏi nói ngay không bao giờ được lấy giấy ra coi. Tuy nhiên chẳng bao giờ Tổng thống theo chương tŕnh, ngoại trừ trường hợp có các ông Đại sứ tháp tùng.

Việc tiếp khách cũng thế, theo nguyên tắc Tham mưu Biệt bộ sắp đặt để Tổng thống tiếp ai, giờ nào, ngày nào. Nguyên tắc ấy thực tế không bao giờ được tôn trọng. Viên chức văn vơ đến ngồi chờ trong pḥng khách rồi tuỳ theo chức vụ cấp bậc và công việc gấp hay không gấp, sĩ quan tuỳ viên sẽ mời từng người vào "hầu'. Lúc ấy ông sĩ quan tuỳ viên trở nên quan trọng, có thể nói, tuỳ viên "khoái ai" th́ đưa người đó vào trước...Không có cảm t́nh th́ dù ở cấp bậc cao cấp tuỳ viên vẫn có thể cho ngồi chờ hai, ba giờ. Có người Tổng thống tiếp năm, ba phút, có người được tiếp lâu hai, ba giờ. Phía tướng lănh người tương đầu hợp ư với Tổng thống Diệm là Đại tướng Tỵ. Mỗi lần Đại tướng Tỵ vào dinh gặp Tổng thống sẽ lâu tới một, hai giờ. Mọi người đều xác nhận, tuy tướng Tỵ không có tài thao lược nhưng lại rất tốt bụng, tướng Tỵ không khúm núm, không quị luỵ, tướng Ty đề cử ai th́ xem như chắc ăn 100%. Chính tướng Tỵ đích thân tuyển chọn Trung tá Sang lái máy bay riêng cho ông Diệm. Về nội bộ Quân đội, tướng Tỵ nói điều ǵ, Tổng thống Diệm tin điều đó. Tuy nhiên, tướng Tỵ đối với các tướng tá khác đều coi là đàn em, nên ông không gièm pha ai. Về việc tưởng thưởng Bảo quốc huân chương, Tổng thống "tiết kiệm" dè dặt. ông Tổng thống coi thứ Huân chương này như nấc thang giá tŕ cao nhất tiêu biểu cho chiến công và sự nghiệp của người được thụ lănh. Nhưng tướng Tỵ đề nghị cho ai th́ người ấy được ngay. Ngoài tướng Tỵ ra, khó ḷng ai có thể đề nghị cho người này người kia được Bảo quốc huân chương.

 


Tướng Lê Văn Tỵ - người tâm phúc của Ngô Đ́nh Diệm.


Thí dụ trường hợp của Trung tá Khôi khi được cử làm Tuỳ viên quân sự tại nước ngoài. ông Khôi là một sĩ quan tham mưu, nên huy chương không có nhiều. Ra ngoại quốc là sĩ quan tuỳ viên như vậy th́ hơi kỳ, nên có người vận động Tổng thống cho ông Khôi được Bảo quốc huân chương. Dù là người thân cận tín nhiệm xin cho ông Khôi song Tổng thống vẫn gạt đi . Cuối cùng ông Khôi nghe lời bạn cứ ra tiệm mua đại một cái Bảo quốc huân chương đeo vào ngực cho có thể thống.
Ông Nhu th́ coi thường giai cấp quan lại cũ, ông Tổng thống vẫn hoài nhớ dĩ văng xa xưa cho nên ông mới tái lập Kim khánh bội tinh. Lập lại cả chức vụ Chánh phó Tổng tại địa phương. Ông lại hay quan niệm gọi cấp bậc của thuộc viên từ thời Pháp. Chẳng hạn ông Tá X. ông Tổng thống lại thường nói: "à ông Đội phẩm" (ông này vốn thuộc hàng xuất đội) ông Y, ông Tổng thống quen biết từ xưa nên lại thường gọi : " à ông Huyện. . . "Không phải cứ quen thân ông bà Nhu là được Tổng thống Diệm tín nhiệm, nhiều khi lại ở thế kẹt. Ngô Đ́nh Diệm là người nóng tính nhưng cả nể.

Cũng v́ sự cả nể nên bao nhiêu tai tiếng về vụ Trần Văn Khiêm đến tai ông, ông đều bỏ qua, chỉ v́ Khiêm là em ruột bà Nhu (sau đảo chính 1963 Khiêm bị khép tội mật vụ).

Lương Khải Minh xác nhận, Khiêm chả có chức vụ ǵ cả, không một ai giao cho anh ta công việc ǵ. Nhưng dựa vào thế của người chị, Khiêm đă ra ngoài lộng hành, nhân danh người này người kia. Khi vào dinh th́ chạy lăng xăng. Nể bà Nhu nên không ai để ư. Có mấy khi Khiêm đượcgặp Tổng thống Diệm đâu. Có một lần sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn ghi nhận: Hôm ấy Khiêm được Tổng thống Diệm cho gọi vào. Khiêm tưởng Diệm ban phát chức vụ bổng lộc, nên mặt mũi quan trọng, hất hàm bảo Đại uư Lê Công Hoàn “Nè, ông Đại uư ông đưa tôi vào gặp Tổng thống", ông Hoàn nhă nhặn: "Thưa ông, Tổng thống đang bận, xin ông chờ". Nhưng Khiêm ra vẻ quan trọng. "Tôi cần vào gặp Tổng thống ngay" . Nói xong Khiêm kéo tay nh́n đồng hồ rồi tiếp: "10 giờ tôi có hẹn gấp Tôi không thể chờ được lâu”, Hoàn đáp thủng thẳng: 'Được xin ông cử chờ". Đáng lư ra Lê Công Hoàn đưa Khiêm vào gặp Diệm ngay sau đó nhưng "trả thù” cho bơ ghét, nên Hoàn cứ để cho Khiêm ngồi chờ đến 11 giờ trưa mới dẫn vào yết kiến ông Diệm. Sĩ quan tuỳ viên vừa khép cửa đă nghe thấy tiếng ông Diệm la mắng quát tháo Khiêm thật dữ dội. Một lát sau Khiêm đi ra mặt tái xám, tiu nghỉu, cắm đầu rảo bước.

Khiêm không có một chức vụ, một vai tṛ nào, ấy thế mà ở ngoài ai nghe thấy Khiêm cũng ngán. Khiêm chỉ là thứ cáo mượn oai hùm. Dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm không thiếu những kẻ cáo mượn oai hùm như Khiêm.

Nhưng bọn họ có khả năng tạo nên sự nghẹt thở trong các khối quần chúng, reo rắc thêm hoang mang trong dân gian, đi đến đâu chúng cũng nhân danh ông này, ông nọ để lấy le và để lường gạt cũng có . . .

Bất cứ một chế độ nào muốn vững vàng, muốn dân chúng tín nhiệm th́ phải sáng suốt trừ ngay những thành phần cáo mượn oai hùm, nhất là chúng con cáo đó lại là bà con anh em của người cầm quyền th́ sự tác hại của nó đối với chế độ không phải là nhỏ.
Gần những năm cuối cùng của chế độ, gia đ́nh Tổng thống Diệm cũng bắt đầu phân hoá và mâu thuẫn lớn dần trong mấy anh em. Ông Nhu càng ít gặp ông anh Tổng thống. Nhiều việc ông anh tự quyết định mà không cần hỏi "chú Nhu”.

Ngoài miền Trung, Cẩn bắt đầu uống rượu.Trước kia Cẩn chỉ nhấm nháp chút đỉnh rượu lễ. Từ năm 1961,1962 Cẩn đă uống cả ly lớn. Mỗi lần say ngất ngư, ông ta lại thét, chửi mắng. Cố vấn th́ càng thêm say mê săn bắn. Đại uư Thạp, tuỳ viên của ông cho biết rằng, có khi ông Nhu nằm dưới hầm săn cọp hai đêm liền. Có khi phải theo ông ta đi bộ cả ngày trong rừng già Phan Rang. Đó cũng là dấu hiệu báo trước sự thay đổi lớn trong nội tâm của những cột trụ chế độ đang ở giai đoạn suy tàn.

Trong năm 1963, giới thân cận Ngô Đ́nh Cẩn cho biết: ông Cẩn ức mà thổ huyết ít nhất cũng ba lần.

Một lần ngồi ăn cơm với các anh, không biết anh em "xào nấu” nhau ra sao (người ngoài không thể biết được) Cẩn mặt đỏ gay rồi thổ huyết ngay trong bữa ăn (nói nôm na là tức giận mà hộc máu).

Cố vấn Nhu cũng như Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu bị ám ảnh nặng nề bởi tổ chức CIA. ông Nhu vẫn cho rằng CIA thuộc loại "..."thứ đó hết xài nổi". Dạo ấy muốn dèm pha ai, hại ai chỉ cần cấp báo với ông Nhu "người ấy hoạt động cho CIA”, đương sự kể như tan tành công danh, mất chức nghiệp.

Thế giới của anh em Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu xa cách nhau. Xin đưa ra một thí dụ đă nói lên sự xa cách đó. Tháng 10-1963, Tổng thống Diệm với sự góp ư của Nhu đă ra lệnh giải tán ngay Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo miền Trung của Ngô Đ́nh Cẩn, Diệm cho rằng mọi công việc đều do toà Đại biểu Chính phủ giải quyết. . .Đại uư Nguyễn Văn Minh rời khỏi chức vụ Chánh văn pḥng Cố vấn chỉ đạo miền Trung. Đại uư Minh qua lời giới thiệu của cha Bửu Đồng (khi ông Minh c̣n đóng ở đồn Cửa Tùng) đă trở thành nhân vật cốt cán của Cẩn từ tháng 5-1954. Trong 9 năm sống ở bên cạnh Ngô Đ́nh Cẩn, hầu hết trong gia đ́nh họ Ngô từ Tổng thống đến Đức Cha không c̣n xa lạ ǵ Đại uư Minh... Minh trở thành người trong gia đ́nh và rất được tin cẩn.

Tháng 10- l963, bỗng dưng Đại uư Minh bị gọi vào Sài G̣n qua thủ tục hành chánh. Một thủ tục chưa bao giờ áp dụng đối với người trong nhà.Bộ Nội vụ theo lệnh Tổng thống đánh công điện cho Toà Đại biểu chỉ thị cho Minh vào tŕnh diện Tổng thống. Mà Cẩn không được hỏi ư kiến. Điều ấy làm Cẩn tức giận không ít.

Khi vào gặp Tổng thống Diệm, Tổng thống vẫn vui vẻ hỏi: "Tôi nghe nói ở ngoài đó anh liên lạc với người Mỹ nhiều lần hỉ? " Đại uư Minh tŕnh bày sự liên lạc của ông với Lănh sự và Phó Lănh sự Mỹ tại Huế. Đại cương ông Minh nói: "Con có gặp gỡ họ luôn. Đây là theo chỉ thị của ông Cậu ông Cậu bảo con nên t́m cách tiếp xúc người Mỹ và t́m hiểu xem thái độ của họ ra sao" - Tổng thống Diệm gật đầu không nói ǵ. Khi Đại uư Minh trở lại Huế vào gặp Cẩn và đưa cho ông ta xem sự vụ lệnh thuyên chuyển Minh lên trường Vơ bị Đà Lạt th́ vẻ mặt Cẩn lúc ấy đăm chiêu và lộ vẻ buồn rất sâu đậm. Ngô Đ́nh Cẩn bảo Đại uư Ḿnh: "Thôi th́ anh cứ đi. ông Cụ làm thế này là ông Cụ đập vào mặt tôi." Hôm ấy là ngày 28-10-1963. Đại uư Minh sau 9 năm phục vụ bên cạnh Ngô Đ́nh Cẩn phải xếp hành trang rời bỏ cố đô Huế. Có điều đáng nhớ: Đại uư Minh sinh trưởng tại miền Bắc, khi trở thành Chánh văn pḥng của Ngô Đ́nh Cẩn mới trên 26 tuổi...Một số người vẫn cho rằng Cẩn không ưa người miền Bắc, nhưng trường hợp Đại uư Minh cũng như nhiều cộng sự viên thân cận của ông Cẩn gốc miền Bắc đă đủ nói lên đây chỉ là "dư luận", có thể dư luận ấy xuất phát từ ngôn ngữ của Cẩn mỗi khi la hét những người gốc Bắc.

Đại loại sự xa cách trong gia đ́nh họ Ngô là như vậy. Chỉ có thể nói là xa cách c̣n sự bất hoà không mấy ai biết được ngoại trừ người thân thiết của ba anh em ông.

Ông Tổng thống nóng nẩy chửi ai th́ chửi thẳng vào mặt. ông Nhu không ưa ai nhưng vẫn cười nửa miệng, lạnh lùng khó hiểu. Ông Cẩn hay quát tháo, xử dụng ngôn ngữ b́nh dân với thái độ hách dịch kiểu Đổng lư thời xưa.

UY QUYỀN

Đáng lư ra, những tiểu tiết thuộc vấn đề nhân sự không nên tŕnh bày, song có một điều: Chính những tiểu tiết vụn vặt nhiều khi lại làm hỏng đại sự. Ngô Đ́nh Diệm có cái uy của người lănh đạo tối thiểu, nhưng ông lại luôn luôn bị chi phối bởi những chi tiết vụn vặt do cá tính của ông cũng như sự dị biệt trong cá tính của anh em ông.Về Ngô Đ́nh Nhu, ai cũng phải công nhận rằng ông ta rất giỏi, thông minh, am tường và thông suốt nhiều vấn đề, nhưng lại quá kiêu ngạo, tính t́nh lại lạnh lùng khép kín.

Tổng thống Diệm là một người giữ chữ Lễ, chữ Nghĩa theo tiết độ của nho gia đă trở thành cái khung chắc nịch nhốt ông vào trong đó. Do đó mà cái tôi t́nh cảm ( le moi sensible) của ông không thể hiện được ra ngoài để thâu phục nhân tâm và hỗ trợ cho cái uy sẵn có của ông. Sau 1963, phải nh́n nhận rằng, trong hàng lănh đạo quốc gia tại miền Nam, chưa có một nhà lănh đạo nào chứng tỏ có cái uy như ông. Đó là ưu điểm và là điều cần thiết số một của một ông Quốc trưởng. Không có uy th́ quốc gia c̣n ǵ phép tắc, thể thống và uy quyền ?

Những người thân cận đều xác nhận rằng: Phải sống lâu với Tổng thống mới nhận ra con người thực của ông. Con người ấy lại luôn luôn bị t́nh cảm chi phối, ông cả nể và cả nghe. Năm 1959 là năm ông đang say mê với công cuộc khẩn hoang và phát triển đồn điền. Cho nên nếu ai khéo nói, khéo tŕnh bày hợp lư, là Tổng thống đều chấp thuận cho khai thác rừng để lập đồn điền. Tướng Xuân là một trong những người được ông cho phép khẩn hoang hàng trăm mẫu rừng tại Phước Long để trồng cao su. Có một báo cáo mật của địa phương cho rằng, ông Xuân chỉ giả vờ lấy cớ trồng cao su mà thực ra là để phá rừng lấy gỗ bán. Sau đó Ngô Đ́nh Diệm có xem xét lại rồi gạt bản báo cáo đi, mắng một ông Bộ trưởng: "Bậy bạ. Người ta làm cho quốc gia mà ḿnh cử phá " . ông Tổng thống tin mọi người cũng ngay thẳng như ông. . .Nên đă bao nhiêu giấy phép cho cúp rừng để lập đồn điền khai hoang nhưng "đồn điền" chỉ là cái cớ để loè Tổng thống mà thôi.

__________________
 
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???

 
National Academy of Public Administration - Faculty of State and Law - Inspection
 
  #4  
Old 09-04-2008, 08:32 PM
Avatar của Bạch Văn Cơ
Bạch Văn Cơ Bạch Văn Cơ is offline
Thành viên xuất sắc
 
Gia nhập: Dec 2006
Đến từ: Nation & Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18 lần trong 9 bài viết
Default

ĐỊNH MỆNH AN BÀI

Khoảng năm 1956-1960 có tin đồn Đại tướng Thái Quang Hoàng sẽ thay Đại tướng Tỵ. Cũng như năm 1961, có tin tướng Khánh sẽ thay tướng Tỵ. Theo Lương Khải Minh, Đại tướng Tỵ là cánh tay mặt của Tổng thống Diệm. Nếu tướng Tỵ không đi Mỹ chữa bệnh th́ chẳng bao giờ tướng Đôn trở thành quyền Tổng Tham mưu trưởng, như đă an bài, không ai lúc đó có thể ngờ rằng sự thay đổi chức vụ Tổng Tham mưu trưởng lại trở thành một trong những yếu tố làm chế độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ.
Tổng thống Diệm được một bác sĩ Mỹ cho biết: Bệnh ung thư phổi của tướng Tỵ không thể nào chữa khỏi và chỉ c̣n chờ ngày chết. Những người thân xin để Đại tướng Tỵ qua Pháp điều trị, ông Tổng thống gạt đi và quyết định đưa Đại tướng qua Mỹ. Từ bao lâu rồi, ông Tổng thống yên trí chỉ có Mỹ mới giỏi về khoa học, Tổng thống muốn tự tay ông lo cho tướng Ty.
Trước ngày Đại tướng Ty lên đường sang Mỹ chữa bệnh, có đến cáo biệt Diệm. Hai người tâm sự một lúc lâu. Tổng thống hỏi: "Bà thân mẫu của Đại tướng c̣n không ? " Rồi Tổng thống tâm t́nh: “Tôi th́ thân mẫu c̣n sống, thân mẫu tôi đă già rồi, tôi cũng phải cố giữ ǵn thân thể để c̣n trả chữ hiếu cho mẹ ".
Tổng thống Diệm quư mến tướng Tỵ, trước hết v́ tướng Tỵ thật thà lại hay hàn huyên tâm sự với Tổng thống. Tướng Tỵ có thể tiếp chuyện Tổng thống hàng nhiều giờ không phải là chuyện quốc sự hay quân cơ, mà thường là chuyện t́nh cảm. Tướng Tỵ là một trong mấy tướng chỉ xưng "tôi" mà không dùng tiếng "con" với Ngô Đ́nh Diệm. Đại khái tướng Ty thường nói: “Thưa Tổng thống tôi… Tôi xin tŕnh Tổng thống . . . Tôi xin thưa Tổng thống “. Tướng Tỵ ăn mặc rất chỉnh tề, đúng quân phong quân kỷ. Mỗi lần vào pḥng Tổng thống tướng Tỵ đều chào theo đúng quy cách, đó là điều Tổng thống rất thích. Một ưu điểm khác nữa là tướng Ty không "xin xỏ" lôi thôi...không kéo phe kết đảng. . . ông nói năng dơng dạc, nhưng với Tổng thống lại tỏ ra rí rỏm, tâm t́nh tỏ ra tương đắc.

Tổng thống Diệm tin cẩn tướng Tỵ từ năm 1954 trong vụ tướng Hinh. Lúc ấy tướng Tỵ đang làm Tư lệnh đệ nhất quân khu khi mà Tổng .thống Diệm không có hơn một đại đội pḥng vệ dinh, th́ chính tướng Tỵ đă âm thầm t́m mọi cách ủng hộ Ngô Đ́nh Diệm. Tháng 9-1954, tướng Hinh dựa vào lực lượng quân đội viễn chinh Pháp quyết liệt hạ cho bằng được ông Diệm, th́ tướng Tỵ bên ngoài vẫn giữ tư thế quân nhân thuần tuư, không đứng về phe tướng Hinh cũng không công khai ủng hộ Tổng thống Diệm, nhưng trong bóng tối ông đă có thái độ dứt khoát ủng hộ ông Diệm . Từ đó, ông Diệm cảm kích tấm ḷng trung kiên của tướng Tỵ. Ông Nhu không ghét tướng Tỵ nhưng cũng không có nhiều thiện cảm đối với vị tướng xuất thân từ thế hệ lính Pháp. Giao lưu t́nh cảm và công việc giữa tướng Tỵ và ông Nhu gần như không có. Cả năm, tướng Tỵ mới gặp ông Nhu vài ba lần và mỗi lần đôi bên chỉ chào hỏi xă giao.Riêng tướng Tỵ, tỏ ra khâm phục ông Nhu và dành cho ông một sự kính trọng đặc biệt.

Sau vụ đảo chính hụt 2-2-1960, Tổng thống Diệm lại càng thương yêu tướng Tỵ và hai con người cùng lớp tuổi đă trở thành đôi bạn tri kỷ.Cũng sau cuộc đảo chính hụt ấy, một số nhân vật cao cấp có ư t́m cách để Tổng thống Diệm thay thế tướng Tỵ. Nhưng tướng lănh lúc ấy xem ra cũng không c̣n ai hơn tướng Tỵ - người được điểm này lại mất điểm kia - ông Tỵ là loại "chung chung" tuy vậy ông cũng bị một số tướng tá trẻ gièm pha, nhất là một số tướng tá thuộc hàng con cưng của ông Cẩn.

Thời Đệ nhất Cộng hoà, uy quyền tập trung vào một ông Tổng thống, do đó chức Phó Tổng thống của ông Thơ vẫn ở tư thế một viên chức cao cấp hơn là một Phó Tổng thống. ông Thơ không có huy hiệu riêng - ngoại trừ những lần đại diện Tổng thống tham dự những buổi lễ lớn - Xe của Phó Tổng thống không có hiệu kỳ cũng không cắm quốc kỳ. ông đi làm b́nh thường như một công chức: ngồi cạnh tàixế và cũng không có xe Harley hộ tống.

Riêng Đại tướng Tỵ là người thứ hai của Đệ nhất Cộng hoà được chia sẻ quyền uy với Tổng thống. Mỗi lần ông vào dinh là một sự uy nghi...hơn cả ông Bộ trưởng Quốc pḥng. Tư dinh của tướng Ty ở đường Cường Để, được xây dựng trên một ngọn đồi, chính là do chỉ thị đặc biệt của Tổng thống Diệm. Từ năm 1956, gần như không có một cuộc kinh lư nào của Tổng thống Diệm mà không có mặt Đại tướng Tỵ.

Khi biến cố Phật giáo bùng nổ th́ Đại tướng Tỵ lâm trọng bệnh. Khi tiễn chân Đại tướng Tỵ, Tổng thống Diệm tặng cho ông một chuỗi hạt và nói “Đại tướng nhớ cầu nguyện cho tôi. . . Tôi cầu xin ơn trên phù hộ cho Đại tướng" - Tướng Tỵ là một thứ tín đồ công giáo trong tâm hồn – ông thuộc nhiều kinh Công giáo và có ḷng sùng mộ Đức Mẹ rất đặc biệt. Mặc dầu gia đ́nh tướng Tỵ là Phật giáo thuần thành. Tổng thống Diệm ngậm ngùi phàn nàn với Đại uư Bằng: ' Đại tướng khó qua khỏi. . . bệnh của Đại tướng không biết. sống chết thế nào, khó qua khỏi năm nay”. Tổng thống Diệm đỡ vai tướng Tỵ và đi cùng ông xuống đến tận thềm dinh Gia Long. Cánh cửa xe đóng lại, tướng Tỵ cúi đầu chào, Tổng thống vẫy tay với một vẻ ngậm ngùi.

Tổng thống Diệm chỉ định cho Bộ trưởng phụ tá Quốc pḥng phải tổ chức nghi lễ tiễn chân Đại tướng Tỵ một cách trọng thể đặc biệt. Ngày Đại tướng Tỵ ra phi trường Tân Sơn Nhất đáp máy bay đi Hoa Kỳ, ông đă được hưởng đầy đủ nghi lễ dành cho vị Thống soái. Cửa pḥng khách danh dự (VIP) của phi trường được mở rộng. . .Đây là một vinh dự đặc biệt v́ chỉ có Tổng thống mới đi qua cửa này . . .Trước năm 1963, pḥng khách danh dự phi trường Tân Sơn Nhất được xem như là nơi tiêu biểu cho uy quyền và thể thống quốc gia. Dù là ông Ngô Đ́nh Nhu, Đức cha Thục, Phó Tổng thống Thơ, Chủ tịch Quốc hội vẫn đi vào phi trường theo ngả thông thường. Năm 1961, vợ chồng ông Nhu công du qua Ma Rốc với tư cách đại diện chánh thức của Tổng thống Diệm th́ lần ấy pḥng khách danh dự mới mở cửa đón tiếp.

Tuy là Tổng Tham mưu trưởng nhưng Đại tướng Ty có uy thế rất nhiều so với Bộ trưởng phụ tá Quốc pḥng, đó là một ưu đăi đặc biệt của Tổng thống Diệm đối với ông.

Tại Mỹ, khi nghe tin Tổng thống Diệm bị sát hại, Đại tướng Tỵ bàng hoàng rồi ôm mặt khóc. Sau này hồi hương, mỗi lần nghe ai nhắc đến Tổng thốngDiệm th́ Đại tướng Tỵ lại than thở: "Hồi ông tiễn chân tôi qua Mỹ, ông Cụ tưởng tôi chết. . .Ai dè ông lại chết trước tôi". Trước giờ phút lâm chung, tướng Tỵ vẫn giữ trong tay chuỗi hạt của Tổng thống Diệm, ông coi đó như là một kỷ vật thiêng liêng.

MỐI T̀NH BÍ MẬT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM

Có một sự thực đă như thứ hoả mù bao trùm miền Nam từ hơn chục năm qua: Đó là sự hiểu lầm, nghi quẩn lo quanh và dư luận.

Dư luận bao giờ cũng chỉ là dư luận. Thế nhưng dân chúng vốn dễ tin, dễ nghe cho nên dư luận về một người này hay một chuyện kia được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, dư luận mặc nhiên trở thành sự thực. Hay ít ra cũng như thực. Rồi dân chúng sống trong sự thực đó mà phản kháng, mai mỉa hay bằng ḷng với nó. Về sự hiểu lầm, nghĩ sai cũng thế, ngày này qua ngày khác, tích luỹ lại rồi bộc phát tuỳ theo hoàn cảnh mà trở nên ân oán nhau.

Những người trong Chính phủ "quốc gia" miền Nam, tuy đứng cùng trong một chiến tuyến, nhưng rồi v́ ngộ nhận, v́ chính kiến dị biệt, về đường lối và cách thể...trong hơn 10 năm qua, những con người "quốc gia" ấy đă quay lưng lại nhau "ra lườm vào nguưt và đánh đấm" nhau rất "chí t́nh".

Nói về sự ngộ nhận th́ có cả trăm h́nh thức ngộ nhận. Từ đó dân chúng sẵn sàng "thêu hoa dệt gấm" cho nhau bằng cả cái gia tài tiếu lâm vô hạn.Về Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm chẳng hạn. Trước đây có dư luận truyền trong dân chúng là ông Diệm bất lực. Do đó Tổng thống Diệm không lập gia đ́nh và cứ đứng gần đàn bà th́ ông ta hay thẹn thùng. Nhiều người, kể cả những người gần gũi Tổng thống nhất cũng như trong hàng ngũ đối lập,đều thắc mắc về tiểu tiết mà họ cho là hấp dẫn, ly kỳ cần phải t́m hiểu: "Tổng thống có như một người b́nh thường về cơ quan sinh dục không" ? Cái quan hệ gấp trăm ngàn lần th́ chả để ư, song cái "tiểu tiết" đó xem ra thiên hạ thắc mắc lắm. Rồi ngườí ta sáng tác ra nhiều giai thoại rất ly kỳ và rất phù hợp với bản chất ưa trào phúng và tiếu lâm của dân chúng. Ông Phạm Văn Nhu, nguyên Chủ tịch Quốc hội thời Tổng thống Diệm trong buổi trà đàm cho biết rằng, ông và Tổng thống Diệm thân nhau từ năm 11, 12 tuổi ở xứ Huế. Những năm thơ ấu đó trong lúc hai người sống rất tự nhiên theo sự tự nhiên của tuổi trẻ, Phạm Văn Nhu không thấy có ǵ khác lạ nơi con người NgôĐ́nh Diệm, nghĩa là Tổng thống Diệm hoàn toàn b́nh thường về cơ thể như tất cả mọi người. Điều này thiết tưởng cũng nên t́m hiểu v́ ai cũng hiểu rơ rằng, yếu tố sinh lư trong một con người đă rất quan hệ đến đời sống tâm lư con người đó.

Năm 1948, cựu Thượng thư Ngô Đ́nh Diệm vào miền Nam, khi th́ ở Vĩnh Long với anh là Ngô Đ́nh Thục, khi th́ lên Sài G̣n lưu ngụ tại khu Thánh đường Saint Pierre. Có một thời gian ông Diệm đă sống tại nhà Cha Tam ở Chợ Lớn.

Khu Thánh đường ấy, 15 năm sau (1948-l963) ông Diệm trở lại lần cuối cùng rồi vĩnh viễn ra đi về cơi thiên cổ. Ông Diệm thích tâm sự hàn huyên với cha Tam, nên dù di đâu xa, ông vẫn lưu nhớ. Khi ở Vĩnh Long về Sài G̣n ông Diệm thường đến làm việc, họp với nhóm Tinh thần và Hoa Lư tức là hai tờ báo hoạt động theo khuynh hướng xă hội Công giáo, trụ sở của nhóm Tinh thần và Hoa lư đặt một pḥng trên tầng lầu hai của cư thất luật sư Lê Văn Kim (vị luật sư đậu nhiều bằng cấp khác nhau. Năm 1945 bị Nhật giết v́ cho rằng luật sư Kim là gián điệp của quân đội Đồng minh). Ông Diệm hằng ngày đến trụ sở này để làm việc với một số cộng sự, trong số đó có Giáo sư Phạm Văn Nhu vừa từ Huế vào.

Giáo sư Nhu cho biết, anh em ông vẫn "tiếu lâm" với nhau sau những giờ làm việc mệt nhọc và cũng là cách để đỡ nhớ vợ con.

Nhưng mỗi khi ông "Thượng thư" đến th́ anh em ông lại phải bắt tay vào làm việc hội họp. Ông Diệm không thích chuyện tếu.

Nhưng ông có thể ngồi nói chuyện liên miên hằng hai, ba giờ hết chuyện đất nước đến chuyện tây chuyện Mỹ, chuyện trên trời dưới biển.Những lúc tâm sự như thế, ông Diệm cười rất có duyên và yêu đời hơn cả những dân có "t́nh ái" yêu đời.

Năm 18, 19 tuổi, khi ông Diệm c̣n đang là sinh viên trường Hậu bổ, vào một buổi sáng mùa hè nọ, ông đang ngồi đọc sách trên lầu tại nhà chị gái tức bà Cả Lễ, th́ ba bốn cô gái Huế đến chơi nhà bà Cả. Vốn là những tiểu thơ khuê các trong một thời mà làn sóng lăng mạn phương Tây đang đổ xô vào tâm hồn giới trẻ (tiểu thuyết Tố Tâm năm 1922 là một thí dụ).

Các nàng tiểu thơ kia đă t́m mọi cách chọc ghẹo, chài mồi cậu ấm Diệm, tuy lùn nhưng có bộ mặt điển trai. Vào một thời đại “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, và ở giữa đất kinh thành của vua chúa quan quyền th́ tất nhiên là cậu ấm Diệm trở thành đối tượng cho ḷng say mê của biết bao nhiêu tiểu thơ. Nhưng hôm ấy, trước sự chài mồi,chọc ghẹo của các cô, cậu ấm Diệm bỗng nhiên nổi nóng, đứng trên lầu mà mắng các cô, những rằng “con gái ǵ mà hư thân trắc nết như rứa".

Thêm vào đó, cậu ấm Diệm khi c̣n học ở trường Pellerin đă từng nuôi mộng đi tu để trở thành một sư huynh sau này. Từ buổi cậu bất thần nổi giận với mấy cô, cả vùng Phú Cam các cô rỉ tai nhau: "Cậu Diệm sợ đàn bà con gái". Cũng từ đó khi trở thành Tri phủ Hoà Đa, Tuần vũ Phan Thiết, ông Diệm đă "ở vậy" dù có rất nhiều gia đ́nh “đường quan vị vọng” đánh tiếng gả con gái cho.

Cho đến năm 1948, khi ông Diệm đă gần ngũ tuần, giới thân cận của ông không ai nghe thấy ông nói về chuyện đàn bà con gái.

Phần v́ nể ông, cho nên trong những lần tṛ chuyện với ông cũng chẳng ai đề cập làm chi. Lại có một số người "đạo đức giả" mỗi khi gặp ông chỉ nói toàn chuyện đạo đức tu hành thánh hiền. Hoá cho nên trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, ông Diệm đă không có dịp nào sử dụng ngôn ngữ về thế giới đàn bà và t́nh ái. Rồi dần dần, mỗi khi nhắc đến ông Diệm, người thân và cộng sự của ông đă chỉ coi ông như một người đàn ông đứng riêng trong một thế giới không vướng mắc mùi " tục luỵ ".

BÍ MẬT CỦA NHỮNG ĐIỀU THẦM KÍN

Sau này khi ông Diệm chấp chính cho đến năm 1963, người ta lại càng hồ nghi, rồi trở nên tin tưởng ông "bất thường sinh lư". Quanh cái tiểu tiết đáng ṭ ṃ này giới có ăn học lại thường đem ra phân giải theo sự ăn học. Giới b́nh dân th́ lại rỉ tai nhau theo cái máu trào phúng của giới b́nh dân. Về điều ǵ chứ cái sự liệt của một người không đi tu dân Việt ta coi bộ không chịu và người đó bị coi là dân khó tính, dân không chịu chơi, dân mất thăng bằng và hay quan trọng hoá. Sau vụ 2-2-1960, một luật sư - người của chế độ cũ - lúc ấy đă phẩm b́nh trong hơi men chếnh choáng, đại ư rằng “ông Diệm th́ liệt, ông Nhu th́ coi bộ "lănh cảm " nên bà Nhu mới tha hồ không chế tung hoành, theo cái luật âm thịnh dương suy”.

Như trên đă viết, ông Diệm là một người b́nh thường trong phần "cơ cấu quan trọng của thân thể ", giáo sư Phạm Văn Nhu kể lại như sau:

Vào một buổi sáng đẹp trời, năm 1948, ông Diệm từ nhà thờ Cha Tam đến t́m ông Nhu ở trụ sở nhóm Hoa Lư Tinh thần (nhà luật sư Lê Văn Kim). Hôm ấy, ông Diệm vui tươi lắm, mất hẳn sự ưu tư khắc khổ. ông Nhu nghĩ trong bụng: Có lẽ,”Cụ Thượng thư" mới nhận được tin ǵ tốt lành đây ông Diệm bảo ông Phạm Văn Nhu: "Mọi công chuyện hăy xếp lại đó sáng nay bọn ḿnh đi chơi sở thứ'. ông Nhu đi mượn một chiếc xe hơi Limousine của một vị tướng Cao Đài, rồi hai người "thả ga" lên dọc sở thú. Dọc đường ông Diệm đề nghị "Bọn ḿnh ghé tiệm nào đấy uống ly café chơi". Và đó cũng là một điều lạ khiến ông Nhu thắc mắc: "Hẳn ông ấy phải có một chuyện chi quan hệ lắm đây" . . . Sau tuần café sữa , hai người lên sở thú, đi một ṿng thưởng ngoạn cỏ cây hoa lá chim muông. Nhưng xem chừng ông Diệm có điều ǵ “nao nức" khác hơn là chuyện đi chơi sở thú. Ở sở thú ra, ông Diệm có vẻ ngần ngại, đắn đo một lúc lâu rồi bảo ông Nhu: "ông cho tôi lên đường Pasteur nơi ngă tư Pasteur và đường Legland De Lahraye (tức Phan Thanh Giản hiện nay). Đến nơi, ông Diệm bảo ông Nhu khoá xe rồi đi theo ông..Hai người vào một căn nhà trên tầng lầu hai (một dăy nhà dài, gồm nhiều căn và hầu hết đều là nhà công chức người Pháp) . ông Nhu chỉ hỏi: "ông vào nhà ai ở đây?". ông Diệm vẻ mặt tươi hẳn lên và đáp: "Tôi vào đây thăm con mệ nó" . Lần đầu tiên ông Nhu nghe thấy ông Diệm nói đến "con mệ nó", ông đi thăm "con mệ nó". Trước khi vào nhà ông Diệm nói: "Con mệ nó hiền đức lắm" - ông Diệm gơ cửa, một người đàn ông trạc 50 tuổi ra mở cửa, vừa trông thấy ông Diệm, ông ta đă cúi đầu kính cẩn thưa: “Mời cụ lớn vào". Ông Diệm hỏi ngay “Bà có nhà không “ Người đàn ông thưa: “Bẩm cụ lớn, bà con mới ra Nha Trang, mời cụ lớn vào nhà dùng nước đă " - Vẫn theo lời giáo sư Phạm Văn Nhu, ông Diệm đang tươi vui bỗng nhăn mặt lại, không vui. ông nói trống không "lạ chi hè, đi Nha Trang mà không cho biết hỉ". ông Diệm đứng bần thần một lúc rồi hỏi người dàn ông: "ông có biết bà ra Nha Trang ở nơi mô không, ông có địa chỉ không” Người đàn ông đáp là có biết. Ông Diệm bỗng vui hẳn lên rồi líu tíu quay sang phía ông Nhu: "ông có mang giấy bút, ông ghi lại cho tôi ngay".

Ông Nhu th́ nghĩ bụng hẳn ông Diệm hay lui tới căn nhà này luôn cho nên gia nhân mới thân mật, mời chào như vậy.

Căn nhà đó lần đầu tiên ông Phạm Văn Nhu đến thăm và ông cũng là người duy nhất được ông Diệm tin cẩn cho đi theo. Khi đă có địa chỉ trong tay rồi, ông Diệm rất mừng trở về và bảo ông Nhu phải sửa soạn hành lư đi ra Nha Trang ngay để thăm "cho biết".

Dọc đường trở về nhà ông Diệm đă tâm t́nh với ông Nhu là “con mệ nó" tuy lấy Tây, tuy là hạng đàn bà bị người khinh rẻ, nhưng ḷng dạ tốt lắm và rất thương đồng bào. Nhờ "Con mệ nó" (ông Diệm nhắc đi nhắc lại nhiều lần) ông ñaơ cứu được nhiều người quốc gia (1) bị mật thám bắt. ôngDiệm cho biết thêm, chồng "con mệ nó " là người Pháp ṭng sự tại Sở Mật thám liên bang Bót Catinat (Surreté Fédérale) mỗi khi có bạn bè hay người quen thuộc phe quốc gia bị mật thám bắt ông Diệm lại nhờ "con mệ nó " lập tức, chồng "con mệ nó”, can thiệp trả tự do ngay”.

Sau này cũng v́ một vụ can thiệp như vậy do ông Diệm cậy nhờ qua trung gian là "con mệ nó" người chồng Pháp của bà ta bị thải hồi sau phải lên Đà Lạt làm cho một hăng sửa xe hơi. Rồi người chồng của bà ta bị chết trong một tai nạn máy bay trên không phận Sài G̣n.

Ngày hôm sau hai ông đă có mặt tại Nha Trang. ông Nhu đi kiếm địa chỉ trước, để về cấp báo cho ông Diệm "con mệ nó" của ông đang ở nơi mô. Khi gặp mặt bà ta, ông Nhu mới ngă ngửa người kinh ngạc. Người đàn bà này không ai khác hơn là cô gái Huế mới thuở nào hai người từng quen mặt biết tên và cô gái Huế xinh tươi thuở ấy cũng đă từng biết mặt, nghe tên "cậu ấm Diệm".

Qua bao nhiêu năm xa cách, ông Nhu không hiểu từ một duyên cớ nào cô ta đă phải đem thân lưu lạc đến tận đất Sài G̣n và trở thành vợ một người da trắng. ông Nhu cho biết thêm: "Đây là người đàn bà thuộc loại sắc nước hương trời, ăn nói lại duyên dáng mặn mà". ông Diệm đă tâm t́nh với ông Nhu: "Tôi thương con mệ nó hiền đức, tuy lấy Tây mà nó vẫn c̣n t́nh, c̣n nghĩa với người đồng bào ".

Bà ta ra Nha Trang lần ấy để thăm xứ Thuỳ Dương lần cuồi cùng, trước khi sang Pháp sống lưu lạc nơi quê chồng. Một nhà thơ Pháp từng than thở cho nỗi đoạn trường ân ái "Mon coeeur à son secret, mon amour à son mystère. . ."(2) Biết đâu ông Diệm đă chẳng từng nuôi cơn mộng sầu nhớ thiên thu của t́nh trường. Chỉ biết rằng, vẫn theo lời giáo sư Nhu từ đấy rồi...thôi, riêng ông không bao giờ c̣n nghe thấy ông Diệm nhắc lại, ba tiếng “con mệ nó” với bao nhiêu nao nức như lần đi thăm sở thú và đến Nha thành. ...

Một số người có khuynh hướng thần thánh hoá Ngô Đ́nh Diệm (mà cựu bộ trưởng Trần Chánh Thành là một), nên đă dựng lên những câu chuyện đầy bí ẩn về đời riêng của ông ta.


-------------------------------------------------------
1, Chỉ người của Ngô Đ́nh Diệm
2, Trái tim tôi thuộc về điều bí mật của ông ta, t́nh yêu tôi thuộc về sự huyền bí của ông ta.

__________________
 
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???

 
National Academy of Public Administration - Faculty of State and Law - Inspection
 
  #5  
Old 09-04-2008, 08:36 PM
Avatar của Bạch Văn Cơ
Bạch Văn Cơ Bạch Văn Cơ is offline
Thành viên xuất sắc
 
Gia nhập: Dec 2006
Đến từ: Nation & Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18 lần trong 9 bài viết
Default

Chương IV : Tổng thống Diệm và Công giáo

Chúng tôi đơn cử một thí dụ về "mặc cảm Công giáo" đối với Tổng thống Diệm. Vào lần cải tổ Chính phủ năm 1961 . ông Nhu được uỷ thác t́m một nhân vật giữ chức vụ Bộ trưởng Tư pháp.

Ông cho mời bác sĩ Tuyến bàn luận và ngỏ ư:
- Tôi muốn mời một luật sư

Suy nghĩ một lát, ông nói :
- Giới thẩm phán th́ có chuyên môn nhưng “Sans caractère politique". Bác sĩ Tuyến đáp: Trong hoàn cảnh này, ông Cố vấn nên chọn người trong giới thẩm phán .

Ông Nhu băn khoăn:
- Khó lắm. ông Sĩ đó cũng là thẩm phán!

Bác sĩ Tuyến tŕnh bày:
- Giới thẩm phán có nhiều người rất khá .

Ông Nhu hỏi:
- Ai đấy? Liệu có làm được ǵ không hay cũng chỉ như ...gagner quelque chose!

Bác sĩ Tuyến đề nghị:
- Phía nguời Bắc tôi thấy có ông toà Nguyễn Văn Lượng. Phía người Nam tôi thấy có ông toà Trần Minh Tiết.

Ông Nhu không ngần ngại chấp nhận để ông toà Trần Minh Tiết giữ Bộ Tư pháp v́ ông Tiết có ba ưu điểm: Người Nam, thẩm phán cao cấp và ở tuổi tráng niên.

V́ biết tính ông Diệm nên "chú Nhu” đưa cả Trần Minh Tiết và Nguyễn Xuân Lượng để tuỳ ư ông Diệm lựa chọn. Trước đó ông Nhu đă hết lời khen ngợi nồng nhiệt ông toà Trần Minh Tiết trước Tổng thống Diệm. ông Tổng thống chọn Trần Minh Tiết theo đề nghị của "chú Nhu”. Ông Nhu biết tâm lư ông anh nên đề nghị mà như không đề nghị. Muốn tiến cử ai, ông Nhu thường dùng lời nói khéo léo, gián tiếp khen ngợi nhân vật này. Trường hợp ông Trần Minh Tiết ông Nhu nói đại cương: "Tiết tương đối trẻ, tôi nghĩ giới thẩm phán tín nhiệm ông ta lắm. . . Tiết làm việc hăng hái...". ông Nhu chỉ cần nói như vậy là coi như ăn chắc. Nhưng nếu ông Nhu đề cử đích danh ai và có tính cách chỉ định th́ coi như thất bại, ông Tổng thống sẽ lờ đi luôn. Nhưng sau một đêm th́ ông thay đổi ư kiến ngay và gọi ông Nhu vào cho biết ông chọn thẩm phán Nguyễn Văn Lượng. Ông Nhu trở về pḥng gọi bác sĩ Tuyến vào cho hay: "Tổng thống nói cái ǵ cũng công giáo...công giáo ". Thẩm phán Trần Minh Tiết có ưu điểm là người Nam điều mà ông Tổng thống lưu ư trước nhất, nhưng ông Tiết lại là tín đồ Thiên Chúa giáo. ông Nguyễn Văn Lượng là một Phật tử, được trao chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Theo Lương Khải Minh, trong 9 năm chế độ Ngô Đ́nh Diệm, mọi sự bổ nhiệm cao cấp đều căn cứ theo hai yếu tố địa phương và tôn giáo v́ ông Diệm muốn như vậy. Một trong mấy cộng sự thân tín của ông Tổng thống lại là một Phật tử như trường hợp ông Vơ Văn Hải. ông Hải theo ông Diệm từ hồi c̣n thiếu niên, Bộ, Sở nào mà nhiều viên chức cao cấp người Bắc, ông Tổng thống cũng không chịu hoặc nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ông cũng không ưng. Cuối cùng Bộ Tham mưu của Nhu đưa ra một giải pháp:

Nếu Bộ trưởng là người Nam th́ ông Đổng lư sẽ là người Bắc, ông Tổng Giám đốc sẽ là người Trung. Trên thực tế, giải pháp này rất khó thực hiện v́ vấn đề địa phương nếu có kỳ thị th́ chỉ linh cảm thấy sự kỳ thị chứ thực ra làm ǵ có kỳ thị. Trước sau chỉ có mặc cảm và thành kiến địa phương do địa vị, quyền lợi tạo nên mà thôi.Vấn đề tôn giáo cũng vậy. Trong cuộc sống chung giữa cộng đồng dân tộc từ trước đến nay không có vấn đề kỳ thị tôn giáo, song trên phương diện quốc gia nhiều cái vụn vặt và tầm thường lại dễ dàng tạo nên những hiện tượng như là kỳ thị tôn giáo.

Những cuộc rước xách với cờ xí rợp trời của tôn giáo cũng là những lư do vụn vặt từng tạo nên ngộ nhận. Tín đồ Thiên Chúa giáo lại hay tổ chức rước xách như vậy.

Tuy là việc thiêng liêng và phải được chính quyền tôn trọng, nhưng nó cũng dễ dàng tạo nên sự khó chịu của những người không cùng tôn giáo.Mỗi khi có cuộc rước xách đồng bào Thiên Chúa giáo lũ lượt kéo đi và có khi kéo dài cả hàng cây số, giao thông bị tắc nghẽn. cũng dễ dàng gây nên sự khó chịu cho người không cùng tôn giáo.

Linh mục X đến thăm Lương Khải Minh ông Minh phàn nàn:
- Cho đến nay, tôi cũng không hiểu sao mối bất đồng giữa cha Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh lại như vậy. . . Chính quyền này là một chính quyền chống cộng mà đức cha Lê cũng như cha Quỳnh đều là những chiến sĩ chống cộng.

Linh mục X đáp:
- Thực ra th́ có nhiều nguyên nhân. Theo tôi, điều mà làm cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm giận nhất là dạo cuối năm 1954, cha Hoàng Quỳnh lại uỷ cho Trần Thiện tổ chức một trung đoàn Bắc tiến tại B́nh Tây do B́nh Xuyên tài trợ.

Lương Khải Minh biết vụ đó và cho rằng, trong t́nh thế nguy nan lúc ấy, cha Hoàng Quỳnh uỷ cho Trần Thiện làm như vậy chỉ v́ cha có ư nếu chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bị Pháp lật đổ th́ ít ra công giáo di cư c̣n có lực lượng để tự vệ.

Linh mục X cho biết Linh mục mới vào yết kiến Tổng thống Diệm, Linh mục phàn nàn về việc Tổng thống Diệm có vẻ cấm đoán giáo dân treo cờ giáo hội. Lương Khải Minh cho biết:

- Cách đây không lâu tôi cũng đề cập đến vấn đề này. Nhưng xử ta ở trong một t́nh trạng chậm tiến th́ cái ǵ nó cũng chậm tiến cả..

Linh mục X nói:
- Cờ giáo hội là cả một sự thiêng liêng, cấm đoán sao được.

Lương Khải Minh đáp :
- Sự thục th́ như vậy nhưng trên phương diện quốc gia th́ cờ giáo hội Công giáo trước hết là quốc kỳ của Vatican. Tổng thống cũng có lư. Thời gian du học tại Pháp lại không thấy giáo dân Pháp treo cờ Vatican đầy đường như tại Việt Nam.

Linh mục X nói:
- Pháp là một chuyện, Việt Nam là chuyện khác. Trên phương diện bang giao quốc tế th́ Vatican đối với Việt Nam là hai quốc gia. Nhưng Vatican tiêu biểu cho cho thần quyền đối với chúng tôi.

Linh mục X băn khoăn:
- Nếu tôi tŕnh việc này với Đức Tống Giám mục Nguyễn Văn B́nh th́ chỉ tạo thêm sự hiểu lầm giữa Chính phủ với hàng giáo phẩm. Sau vụ bất hoà giữa Tổng thống Diệm và Đức cha Simone Hoà Hiền tôi nghĩ giới Công giáo cũng buồn ḷng không ít.

Lương Khải Minh góp lời bàn :
- Cha nên gặp ông bộ trưởng Bùi Văn Lương. Theo tôi, tổng thống nói th́ nói thế thôi nhưng mai một là quên ngay. Tôi nghĩ cũng cha nên gợi lại.

Đề cập đến vụ đất tại khu vườn cao su Phú Thọ, Linh mục X nói:
- Hai bên c̣n đang giằng co, chúng tôi ở giữa bị kẹt. Nhưng khu vườn cao su Phú Thọ trên giấy tờ hợp pháp là tài sản của giáo khu Sài G̣n. Đức cha Nguyễn Văn B́nh ngài quá hiền lành nên không quyết liệt đấy thôi. Tại sao Tổng thống lạ ingăn cản không cho giáo khu Sài G̣n được phát triển, chỉnh trang khu vục này mặc dù giáo khu SàI G̣n là sở hữu chủ.

Lương Khải Minh đáp:
- Tôi cũng biết vụ đó. Mới hôm qua, tôi đưa các cháu đi dạo qua khu này. Khu đất rộng bao la. Nhưng Cha nghĩ coi Tổng thống đă quyết định th́ không cách nào ngăn nổi. Nhưng đă thấy nhiều gia đ́nh đến chiếm ngụ. H́nh như đă có chương tŕnh phân lô.

Linh mục X nói:
- Giả dụ, Giáo khu cứ cho giáo dân đến xây dựng nhà cửa và phát triển, ông nghĩ sao?

Lương Khải Minh đáp :
- Theo tôi ông Nhu chả dám nói với Tổng thống về tôn giáo, chỉ có Phó Tổng thông Thơ có thể nói với Tổng thống th́ Tổng thống mới tin. Tôi nhớ từ dạo 1959-1960, Tổng thống đă cho lập chương tŕnh chỉnh trang khu đất này. Chắc là chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện.
Nếu Tổng thống làm thế th́ gặp phản ứng lớn. Tài sản của Giáo khu Sài G̣n chứ đâu phải của Quốc gia mà Tổng thống cho chỉnh trang sát nhập vào đô thành.

Tổng thống Diệm rất ghét những chuyện “Áp phe xin xỏ". ông là người Quốc gia cực đoan, cho nên cứ cái ǵ dính với Tây là ông không chịu. Nếu ai hay tổ chức nào dùng áp lực đ̣i ông giải quyết th́ không giải quyết được ǵ cả. Vụ cờ "Giáo hội Vatican" chỉ một ngày sau là êm rồi không ai nhắc tới nữa.

Nhưng đến ngày Phật đản năm 1963 th́ vụ cờ quạt lại nổ tung. Chính quyền ra lệnh cấm treo cờ vào dịp này.

Sáng ngày 5-8-1963 ông Đổng lư Quách Ṭng Đức vào pḥng Tổng thống để nhận chỉ thị, bỗng dưng Tổng thống Diệm có thái độ giận dữ. ông la mắng vu vơ: 'Đă ra chỉ thị mà không thi hành, quốc gia này c̣n chi là thể thống ". Tổng thống Diệm trong giây phút nóng giận như thế đă chỉ thị cho Đổng lư Đức đánh công điện về thể thức cấm treo cờ tôn giáo. Thực ra không có chuyện cấm treo cờ Phật giáo mà chỉ ấn định lại thể thức treo cờ tôn giáo tại nơi tôn nghiêm. ở nơi tôn nghiêm th́ quốc kỳ phải được tôn trọng trên hết. Điều này rất đúng; mặc dầu tôn giáo là thiêng liêng nhưng trong cộng đồng dân tộc với nhiều tôn giáo khác biệt th́ quốc gia phải trên hết. Quốc gia đứng trên tập thể. ông Đổng lư vốn là một công chức gương mẫu lại có tính nhẫn nại và bao giờ cũng tuân hành đúng y lời chỉ của Tổng thống nên ngày hôm sau, bức công điện được gởi đi. Trong Phủ Tổng thống không một ai hay kể cả ông Ngô Đ́nh Nhu.

Tại Huế, cố đô của những lăng tẩm chùa chiền, ngày lễ Phật đản mỗi năm đều như đại hoa đăng. Đồng bào Phật giáo ở đây chiếm đại đa số. Huế từ bao nhiêu năm vẫn là một h́nh ảnh của Thuận Hoá, của Phú Xuân, của tiếng chuông Thiên Mụ và ấp ủ trong chiếc nôi ru bằng từng hồi kinh chùa Báo Quốc, Diệu đế, Từ đàm . Cho nên, lễ Phật đản là một dịp thiêng liêng trọng đại. Trước ngày lễ, từ nhà đến chùa chiền đă tấp nập và cờ xí rợp trời. Phật kỳ tung bay nơi nơi. Mọi năm vẫn như thế.

Bỗng dưng chỉ v́ một cái công điện, Huế bắt đầu đổi thay và chuyển ḿnh. Ngọn lửa nào đó gặp cơn gió lớn bắt đầu bốc cao.

 


Sinh viên và Phật tử Huế biểu t́nh chống chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.


HẬU QUẢ

Vụ cấm treo cờ Phật giáo chỉ là nguyên nhân gần tạo nên cuộc biến động 1963. Giả thử không có vụ Phật giáo th́ cũng có một vụ khác. Tuy nhiên vụ Phật giáo lại trầm trọng quá và hậu quả của nó thực ghê gớm và kéo dài măi măi đến sau này.Về vụ Phật giáo nếu xét theo khía cạnh chính trị th́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă mắc phải một lỗi lầm lớn. Nếu cắt nghĩa theo sự an bài của định mệnh (nếu cho là có định mệnh th́ vụ Phật giáo quả là một "định mệnh" đối với Tổng thống và chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

Ngay khi được h́nh thành chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă có sẵn cái mầm của sự tan ră. . .chế độ Ngô Đ́nh Diệm cáo chung vào ngày 1-11-1963 nhưng nó đă có khởi điểm của sự cáo chung ấy từ nhiều năm trước.


CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ

Nhiều người ngộ nhận rằng, Thiên Chúa giáo luôn luôn đứng đằng sau lưng “Ngô Tổng thống " và một ḷng hỗ trợ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Điều này không đúng. Nếu có th́ chỉ có những cá nhân theo Thiên Chúa giáo hết ḷng với chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

Vụ "Chủng viện" năm 1958-1959 là một thí dụ.Vụ Chủng viện được coi như hành động của chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm nhằm hạn chế tự do của hệ thống giáo dục Công giáo. Tổng thống Diệm đă từng sống trong tu viện và hiểu rơ hệ thống giáo dục trong tu viện quan trọng như thế nào đối với Giáo hội Thiên Chúa giáo.

Tại quốc gia phương Tây, hệ thống tư thục cũng như các Chủng viện đều được hưởng một quy chế tự do trên tinh thần tôn trọng tôn giáo, song vẫn được phép phát triển theo từng sắc thái và khuynh hướng riêng.

Thế nhưng Tổng thống Diệm tuy là một tín đồ Thiên Chúa giáo nhưng ông lại làm trái tinh thần ấy và với quy chế tư thục, ông Tổng thống đă "thế tục hoá" hệ thống giáo dục Chủng viện và hạ thấp giá trị của các Chủng viện bằng cách xếp Chủng viện ngang hàng với trường tư. Hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo Việt Nam coi đây là một sự cưỡng chế tự do trong ngành giáo dục của Thiên Chúa giáo.

Các Linh mục thuộc nhiều địa phận đồng loạt đứng lên phản đối. Sự thực, nếu không bị kẹt v́ đức cha Ngô Đ́nh Thục và nhất là Đức Khâm sứ toà thánh lúc bấy giờ hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo không dễ ǵ để chính quyền Ngô Đ́nh Diệm quyết định một cách cứng rắn như vậy. Đức Khâm sứ toà thánh trực tiếp can thiệp nhưng trước sau Tổng thống Diệm vẫn không thay đổi lập trường.

Mọi sự dàn xếp bên trong cũng không đi đến đâu. Một số Linh mục xin vào yết kiến và tŕnh bày nguyện vọng, Tổng thống nghe rồi nói ngắn ngủi: "Giáo hội ở trong quốc gia chứ không phải quốc gia ở trong Giáo hội".

Linh mục Joseph: “Xin Tổng thống cứu xét lại Các Chủng viện không thể nào đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của một Giám đốc Nha tư thục".

Tổng thống Diệm nh́n ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục rồi mắng vu vơ: “Anh không hiểu ǵ luật lệ cả Anh phải chỉ vẽ cho người ta. Anh cứ ngậm miệng hoài".

Bộ trưởng Bộ Giáo dục tự nhiên bị lôi vào ṿng chiến và bị mắng oan trước mấy vị Linh mục. Đó cũng là cách mà Tổng thống Diệm thường hay xử dụng để biểu lộ thái độ tức giận. Nói đúng ra th́ ông đă mắng xéo các vị Linh mục đang hiện diện trước mặt.

Trước khi vào yết kiến Tổng thống Diệm th́ Linh mục nào cũng mạnh miệng. Một Linh mục hăng hái nhất nói : "Tôi sẽ nói thẳng cho Tổng thống rơ - Tôi sẽ nói hết không nể nang ǵ cả". Tuy nhiên, khi gặp Tổng thống Diệm, các Linh mục mỗi người chỉ nói vài ba câu rồi im lặng, nghe Tổng thống Diệm thuyết giảng.

Kết quả, Tổng thống Diệm không nhượng bộ. Giáo hội Thiên Chúa giáo đành chịu vậy nhưng trong ḷng vẫn hậm hực. Vụ Chủng viện đến tai Toà thánh Vatican. Tuy Toà thánh không có một phản ứng nào (v́ đường lối ngoại giao đối với Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm) nhưng có lẽ do vụ chủng viện vào năm 1960, khi mà đức cha Ngô Đ́nh Thục qua La Mă xin triều kiến Đức Giáo Hoàng, đức cha đă phải chờ đợi cả nửa tháng mới được vào triều kiến. Kể từ vụ Chủng viện, mối bang giao giữa Toà thánh Vatican và chính quyền Ngô Đ́nh Diệm trở nên lạnh nhạt, bên ngoài không mấy ai rơ.
Trong khi đó Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm lại cho rằng Toà thánh Vatican không ủng hộ chính quyền của ông một cách cụ thể.

Kể từ năm 1956 khi đă thành lập nền Đệ Nhất Cộng hoà, Tổng thống Diệm ngỏ ư muốn thiết lập bang giao với Vatican trên cấp bậc Đại sứ (Nonce). Tin đưa đi đưa lại và dàn xếp cả mấy năm vẫn không đạt được kết quả mong muốn.

Ông Ngô Đ́nh Nhu đă hiểu rơ được thế lực của Vatican trên thực tế. Ngoài Anh, Pháp Mỹ th́ Vatican cũng là một "Voix" (1) trong thế lực quốc tế.Nếu được Vatican ủng hộ công khai th́ chế độ miền Nam vừa có bề thế vừa tạo được một số yếu tố quan trọng để áp đảo miền Bắc trên mặt trận ngoại giao.

Cuộc dàn xếp đă âm thầm diễn ra trong 7, 8 năm. Bác sĩ Tuyến cũng như Đại sứ Nguyễn Dương Đôn (tại Ư) Đức Khâm sứ Brini, Ngoại trưởng Việt nam Cộng hoà, ông Ngô Đ́nh Nhu đều là những người đóng vai tṛ tích cực trong cuộc thảo luận để thiết lập bang giao với Vatican qua một đường hướng mới. Ta có thể mô tả cuộc dàn xếp đó theo một h́nh thức đối thoại như sau:

- Tổng thống Diệm: Việt Nam Cộng ḥa đă thu hồi độc lập. Miền Nam là một lănh thổ có chủ quyền, là một quốc gia muốn nối liên lạc với Vatican trên cấp bậc Đại sứ.

-Toà thánh Vatican: Vatican biết rơ như vậy.Trên phương diện tinh thần, Vatican ủng hộ Việt Nam Cộng hoà và cư xử với Chính phủ như một quốc gia độc lập. Nhưng trên thực tế Việt Nam c̣n bị chia cắt Miền Bắc do cộng sản nắm chính quyền, trên thực tế họ vẫn là đại diện có thẩm quyền của một nửa lănh thổ Việt Nam và ở đó, Giáo hội vẫn có trách nhiệm với giáo dân. Hàng Giáo phẩm Miền Bắc vẫn thuộc quyền cai trị của Đức Giáo Hoàng.

Và Toà thánh Vatican c̣n dè dặt chưa thể dứt khoát, nhiều người thường lầm tưởng Khâm sứ Toà thánh tại Việt Nam tương đương với một Đại sứ và như vậy Toà thánh đă công nhận và thiết lập quan hệ bang giao với miền Nam Việt Nam. Sự thực vị Khâm sứ chỉ là vị đại diện có tính cách tôn giáo (Délégué Apostohque). Khâm sứ Toà thánh tuy đi xe mang số dành cho ngoại giao đoàn và được hưởng quy chế ngoại giao th́ đó chỉ là trường hợp đặc cách.

Cấp bậc của vị Khâm sứ chỉ được xếp ngang hàng với một Tổng lănh sự. Từ khi tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hoà, Tổng thống Diệm rất mong mỏi được Vatican "chiếu cố" nâng hàng Khâm sứ lên hàng Đại sứ.

-----------------------------------------------
(1) Tiếng nói quan trọng.


Vatican vẫn hờ hững. ông Ngô Đ́nh Nhu đưa ra một điều kiện trong trường hợp Vatican chấp nhận đặt Đại sứ tại Sài G̣n. Điều kiện ông Nhu muốn Toà thánh chấp nhận lại quá tế nhị, nhưng thực tại miền Nam phải nêu như vậy: Tổng thống là một tín đồ Thiên Chúa giáo. Mà Thiên Chúa giáo chỉ có gần 2 triệu người trong tổng số 14 triệu dân miền Nam Việt Nam. Nếu Toà thánh đặt Sứ thần tại Sài G̣n th́ vị Sứ thần đó có nên từ chối chức vị Niên trưởng ngoại giao đoàn không ".

Toà thánh vẫn im lặng. Nhưng ông Nhu và Bộ tham mưu của ông lại băn khoăn: Trường hợp Vatican chấp thuận đặt Đại sứ tại Sài G̣n, lợi th́ có lợi nhưng lại gặp một số tiểu tiết rất tế nhị theo truyền thông ngoại giao.

Vị Đại sứ Toà thánh đương nhiên trở thành Niên trưởng Ngoại giao đoàn (một chức vị danh dự nếu không có Đại sứ nào ở miền Nam Việt Nam lâu năm nhất so với các Đại sứ khác). Như vậy sẽ không thuận lợi đối với tâm lư quần chúng nhất là quần chúng chiếm 85% không Thiên Chúa giáo (Cao Đài, Hoà Hảo, Ba hai, Phật giáo, Khổng giáo . . .) V́ rằng, nếu là Niên trưởng Ngoại giao đoàn th́ vị Đại sứ Toà thánh phải xuất hiện hàng đầu trong các cuộc lễ nghi chính thức và chính ông sẽ đại diện đoàn Ngoại giao chúc mừng Tổng thống theo truyền thống Ngoại giao quốc tế, hoặc can thiệp đến quyền lợi của Ngoại giao đoàn. Đây quả là một vấn đề nan giải.

Cuối cùng theo ư ông Nhu th́ cứ tạm thời duy tŕ như cũ, nghĩa là giữ nguyên cấp bậc Khâm sứ Mặt khác, Đại sứ Việt Nam Cộng hoà tại Ư sẽ linh động giao thiệp hẳn với Vatican theo mức quan hệ b́nh thường.

Như trên đă viết, Tổng thống Diệm là một nhà quốc gia cực đoan. Trong đời sống cá nhân của ông th́ tôn giáo là thiêng liêng nhất nhưng trong đời sống quốc gia nhiều khi địa vị tôn giáo đă trở nên mờ nhạt. Tuy nhiên nhiều chuyện vặt vănh rất không đáng nói lại trở nên những yếu tố quan trọng tác động đến tâm lư, quần chúng có mặc cảm rằng Tổng thống Diệm đă "Công giáo hoá " quốc gia Việt Nam Cộng hoà. Chẳng hạn sau mỗi bài diễn văn hay thông điệp Tổng thống Diệm bao giờ cũng kết luận: “Xin ơn trên phù hộ cho chúng ta " Sự thực đó là thành ư của ông và ông muốn chứng tỏ ông chống lại chủ nghĩa vô thần và tin nơi Thượng đế. Nhưng đồng bào không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo lại cảm thấy khó chịu mặc dầu chữ phù hộ là một chữ quen dùng trong các lời khấn vái và văn sử cúng tế ông bà.

Trên thực tế th́ ông Diệm luôn luôn tỏ ra khó tính đối với Thiên Chúa giáo và nhất là những cha cố “cầu cạnh". Với mặc cảm thượng tôn uy quyền quốc gia, Tổng thống Diệm qua nhiều trường hợp đă tỏ ra quá coi thường trong cách xử sự với hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo.

Theo giới thân cận, vào khoảng tháng 3-196l một vị Linh mục thừa phái từ Ban Mê Thuột về Sài G̣n và xin gặp Tổng thống Diệm. Sĩ quan tuỳ viên vào tŕnh:

"Thưa, có cha P xin vào hầu Tổng thống". Tổng thống Diệm hỏi: "C̣n có những ai ngoài đó". Sĩ quan tuỳ viên kể thêm một số nhân vật quan trọng ngồi chờ ngoài pḥng khách để được vào tiếp kiến. Khi nhắc đến Thiếu tá Nguyễn Văn Minh,Tỉnh trưởng An Giang, ông Tổng thống nói "Gọi nó vô ". Ông Tổng thống tiếp 3 người khoảng chừng 2 giờ sau đó mới bảo sĩ quan tuỳ viên: 'Mời ông cha vô". Cuộc tiếp xúc ngắn ngủi không đầy nửa giờ. Sau đó, thấy ông Tổng thống giận dữ mặt hầm hầm.

Sau này Linh mục P tiết lộ: Linh mục đă tŕnh bày thẳng thắn với Tổng thống về một số Linh mục miền Nam Việt Nam có những lạm dụng quá đáng về việc khai thác rừng lấy gỗ bán và làm cho thường dân rất bất măn, nhất là đồng bào Thượng.

Một tuần sau, bất thần Tổng thống Diệm đi kinh lư Cao nguyên. Sau đó có những chỉ thị rất nghiêm ngặt về việc khai thác rừng.

Lần ấy ông nổi giận mắng Đại tá Lê Quang Trọng Tư lệnh sư đoàn 23 “Mi làm Tư lệnh trông coi lănh thổ mà mi không biết chi hết”. Ông Tổng thống ra lệnh: “Bất kỳ ai phá rừng chặt cây mi bắt bỏ tù cho ta ". Ông nhắc đi nhắc lại trong cơn tức giận “Bắt bỏ tù, bất kỳ ai “.

Từ đó Tổng thống lại càng có mặc cảm đối với một số cha hay có tính "lo toan chạy chọt".

Tuy vậy tại các địa phương cũng như các cấp chỉ huy v́ hèn cũng có, v́ nhu nhược cũng có, v́ quá sợ thượng cấp cũng có cho nên đă xúm nhau bợ đỡ các vị Linh mục tất nhiên là một thiểu số.Họ ngán “các cha cố" v́ cho rằng. các cha cố có ảnh hưởng rất nhiều tới Tổng thống và nói ǵ Tổng thống nghe nấy. Do vậy, cứ áo dài đen vào cửa công nào th́ công việc đều sẽ qua trôi chảy.Trong sự lạm dụng về những vụ lặt vặt như xin giấy tờ, xin môn bài cho đạo hữu, xin hợp thức hoá đất đai v.v. . Những "áp phe" (1) vặt vănh đó đă gây nên nhiều chuyện ngộ nhận.

Song thực tế giới thân cận nhất tại dinhTổng thống đều xác nhận rằng Tổng thống Diệm (khác với ông Nhu và ông Cẩn) ông đều luôn hết ḷng, cung kính hàng giáo phẩm. Nhưng ngoài Đức cha Ngô Đ́nh Thục th́ chẳng một ai có thể lay chuyển được ông Tổng thống...Nhiều Linh mục được ông hỏi ư kiến nhưng hỏi để mà hỏi thế thôi.

---------------------------------------------
(1) vụ buôn bán làm ăn.


Linh mục Hồ Văn Vui được coi là một tu sĩ có nhiều uy tín trong giới Thiên Chúa giáo tại miền Nam. Dạo năm 1958, Linh mục Vui đă nhiều lần công khai phê phán chế độ và trong một bài thuyết giảng tại nhà thờ Đức Bà, Linh mục Hồ Văn Vui đă lên tiếng phê b́nh Chính phủ một cách vô tư thẳng thắn. Khi nghe được tin Linh mục công kích Chính phủ, Tổng thống Diệm tỏ vẻ tức giận:
Nhà thờ là nơi tôn nghiêm tại sao lại đưa chính trị vào vô đó mà công kích Chính phủ.

Ông Nhu cũng tỏ vẻ tức giận nói với bác sĩ Trần Kim Tuyến: Tại sao Đức cha Simone Hoà Hiền lại để cho Cha Vui nói lôi thôi như vậy, việc nhà thờ tại sao lại đem chuyện nhà nước xía vô. Giận Linh mục Vui th́ ít, nhưng không bằng ḷng đức cha Hoà Hiền th́ nhiều.

Lời nói đi th́ nhẹ, nói lại th́ nặng. Tổng thống Diệm lại bị mấy ông Dân biểu và Bộ trưởng "xàm tấu” rằng: "Cha Vui công kích Tổng thống thế này, kết án Chính phủ thế kia”. Do đó càng tạo nên hố sâu ngăn cách cho nên thay v́ t́m gặp Linh mục để tỏ rơ sự t́nh, ông Ngô Đ́nh Diệm với uy quyền của một Quốc trưởng không gặp linh mục và cũng không công khai bày tỏ thái độ nào với địa phận Sài G̣n. Mặt khác ông lại bảo ông Chủ tịch Quốc hội và vài ông Dân biểu (là những giáo dân thuộc địa phận Sài G̣n) t́m cách khác để đức cha Simone Hoà Hiền thuyên chuyển Linh mục Vui đi một nơi khác.

Qua vụ cha Của và cha Vui, giáo dân miền Nam tuy ngoài mặt vẫn vui vẻ với chính quyền nhưng thâm tâm đa số có mặc cảm rằng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă xử ức họ và coi thường giới công giáo Việt Nam.

Riêng vụ cha Của th́ lỗi cũng không phải do nơi cha mà quy hoàn toàn trách nhiệm cho Tổng thống Diệm cũng là oan. Số là sau khi quân đội Viễn chinh Pháp rút lui một vài sĩ quan người Pháp đă bán rẻ cho cha Của mấy chiếc xe thuộc loại phế thải. Sau Nha Công an Nam Việt do Trung tá Trần Bá Thành là Giám đốc đă làm nổ tung vụ này. Sự việc xảy ra mấy hôm sau mới đến tai Tổng thống Diệm. Nhưng ông lại không can gián và cứ để mặc đấy cho toà xử để làm gương, nếu xét thấy có tội...Vụ này Trung tá Thành muốn chứng tỏ tinh thần vô tư và cứng rắn của Công an và ông đặt Tổng thống Diệm trước một việc đă rồi.

Việc xét xử cha Của tuy t́nh ngay nhưng lư gian, đă gây nên mâu thuẫn trầm trọng giữa chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và giáo dân thuộc Địa phận Sài G̣n.

Lúc ấy dư luận xầm x́ rằng, nếu cha Của thuộc đia phận Vĩnh Long của đức cha Ngô Đ́nh Thục th́ cho dù, có phạm pháp thực cũng không sao. Dư luận lại xầm x́ rằng: Cha Của là con tốt thí v́ sự bất hoà giữa đức cha Simone Hoà Hiền và gia đ́nh Tổng thống Diệm.

Từ đó sự liên lạc giữa Địa phận Sài G̣n và gia đ́nh Tổng thống Diệm càng trở nên lạnh nhạt xa cách. Cuối cùng đức cha Simone Hoà Hiền lên trọng nhậm Địa phận Đà Lạt cũng là một cách tế nhị của Giáo hội Thiên Chúa giáo muốn t́m lại không khí tốt đẹp giữa chính quyền Ngô Đ́nhDiệm với địa phận Sài G̣n qua một con người trung dung hiền dịu là đức cha Nguyễn Văn B́nh.

__________________
 
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???

 
National Academy of Public Administration - Faculty of State and Law - Inspection
 
  #6  
Old 09-04-2008, 08:37 PM
Avatar của Bạch Văn Cơ
Bạch Văn Cơ Bạch Văn Cơ is offline
Thành viên xuất sắc
 
Gia nhập: Dec 2006
Đến từ: Nation & Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18 lần trong 9 bài viết
Default

CHÙM MÂU THUẪN VÀ NGỘ NHẬN

Năm 1961, 1962, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă ngồi trên một nồi "Súp de" sôi bỏng đầy mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa chính quyền với các “khối quần chúng", mâu thuẫn giữa chính quyền với quần chúng trong hệ thống ấp chiến lược của chính quyền, mâu thuẫn ngấm ngầm giữa chính quyền và các tôn giáo trong đó có cả Thiên Chúa giáo. Mâu thuẫn và nứt rạn phân hoá ngay trong giới thân cận của Tổng thống Diệm, mâu thuẫn giữa ông Nhu với ông Cẩn, mâu thuẫn giữa ông Cẩn với đức Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục. Rồi c̣n bao nhiêu những "mâu thuẫn" ở ngay trong hàng ngũ thượng tầng của chế độ. Cái chùm mâu thuẫn này không phải là mâu thuẫn về chính kiến mà lại mâu thuẫn do những cá tính dị biệt cùng thành kiến và ngộ nhận. Người có quyền thế nếu có thành kiến với ông A và ông A là Phật giáo, rồi ông A bị thất sủng th́ y như rằng thành kiến cá nhân trở thành kỳ thị tôn giáo. Rồi ông Bộ trưởng người Nam có thành kiến và ngộ nhận về ông C do đó ông C bị thất sủng, ông C là người Bắc th́ y như rằng thành kiến và ngộ nhận trở thành kỳ thị Nam-Bắc... Chúng tôi nêu ra hai trường hợp sau đây để có thể thẩm định ông Diệm có kỳ thị tôn giáo không ? Đó là trường hợp ông Vơ Văn Hải, Chánh Văn pḥng đặc biệt của Tổng thống và ông Nguyễn Đ́nh Thuần. Ông Hải là người thân cận của Tổng thống Diệm và như ruột thịt của ôngDiệm khi ông Diệm chưa chấp chánh. Có thể nói, hai người đó một già, một trẻ keo sơn với nhau như định mệnh đă an bài, và không thể rời bỏ nhau được. Nếu đ̣i hỏi điều kiện khoa bảng th́ ông Hải là một nhà khoa bảng. Ông Hải lại là người cần cù biết việc, có đủ ḷng tin cẩn của Diệm. Nhưng trong suốt 9 năm ông Hải phải đóng vai tṛ của một người bị "ông Diệm sáng cằn nhằn, chiều la lối ". Song ông Hải trước sau vẫn chỉ là một Chánh Văn pḥng bù đầu suốt tháng năm và ông đă không hề được chế độ đặt ông ở một vị trí khác (người nào ở trong trường hợp ông Hải mà chẳng mơ ước có thể thi thố được tài năng). Ông Hải lại kỵ ông Nhu.

Phải công nhận rằng, ông Hải tuy thân thiết với Diệm nhưng ông giữ được sự khí khái và lại xa cách ông Nhu. Đó cũng là lư do ông Hải là một Phật tử thuần thành, sinh trưởng trong một gia đ́nh Nho giáo...nhưng không phải v́ lư do tôn giáo khác biệt mà ông Hải không được làm việc trong bộ này hay bộ khác...ông Diệm coi ông quá thân thiết và chức vụ Chánh Văn pḥng chính là phần trái tim ông Diệm trao cho ông ấp ủ khiến ông Hải phục vụ hết ḿnh, nhưng bổng lộc của chế độ th́ lại do những ai "nhanh chân lẹ miệng thụ hưởng".

Trong chế độ có rất nhiều người ở vào trường hợp ông Hải...nhưng lại được ông Diệm tin yêu, tín nhiệm như ruột thịt. Vấn đề tôn giáo ông không quan tâm v́ nếu quan tâm th́ hẳn nhiên ông Hải không được tin dùng. . .Tuy có điều, ai được ông Diệm coi như tâm huyết th́ nhiều khi lại có cảm tưởng bị thất sủng, bỏ rơi. Đồng thời có một số người khác "may tay" lại lên như diều gặp gió. Đó là trường hợp ông Nguyễn Đ́nh Thuần. Ai cũng biết, ông Thuần là "đàn em" của ông Trần Trung Dung, và đă làm báo cho ông Dung từ ngày c̣n ở Hà Nội. Ông Dung được coi như một bạn bè thân thiết của Ngô Đ́nh Nhu. Ông thuộc gia đ́nh công giáo đại gốc.

Khi ông Dung là Bộ trưởng Phụ tá Quốc pḥng th́ cất nhắc đàn em là Nguyễn Đ́nh Thuần lên Đổng lư Văn pḥng. Ông Dung tuy là thân cận của ông Nhu và cũng là hàng con cháu trong gia đ́nh nhưng đến năm 1960 th́ ông Dung rời bỏ Bộ Quốc pḥng (18-10-1960) và ông Thuần được cử thay thế. Dạo ấy có dư luận cho rằng ông Dung bị ông Thuần "đá" và tranh chức Bộ trưởng. Sự thực không đúng như vậy.

Tuy tin cẩn ông Dung nhưng ông Diệm lại không "chịu" cách thức làm việc của ông. Ông Diệm vẫn thường cằn nhằn "Ông ta làm Bộ trưởng Quốc pḥng mà không hiểu công việc ǵ cả. Khi hỏi đến chỉ nói những vấn đề đâu đâu”. Ông Dung tuy xuất thân từ một Tri huyện nhưng có lẽ cái "chất Tri huyện" chưa thấm sâu vào mạch máu ông cho nên ông không có cái cần cù mẫn cán của một người ngồi viết công văn, đọc báo cáo và ghi nhớ hồ sơ, cho nên khi ông Diệm hỏi đến các công việc ǵ ở Bộ Quốc pḥng th́ ông Dung chỉ tường tŕnh một cách tổng quát.

Tổng thống Diệm không chịu như vậy, cho nên ông phải gọi thẳng ông Đổng lư. Ông Đổng lư Thuần vốn là người thông minh, sắp đặt công việc có hệ thống tuy bị ghi nhận là quá lanh chân, lẹ miệng. Có lẽ nhờ vậy, mỗi khi ông Diệm hỏi đến công việc ông đă trả lời rất vừa ư ông Diệm. Hồ sơ này thế này, hồ sơ này thế kia...Mà thực ra trên phương diện tổng quát, ông Thuần lại thiếu khả năng của một Bộ trưởng Quốc pḥng vào thời chiến. Thế nhưng ưu điểm của ông là "Tổng thống gọi th́ thưa ngay, hỏi hồ sơ nào th́ có liền ".

Do đó, thay v́ t́m sự công tác trên b́nh diện lănh đạo Bộ Quốc pḥng ở nơi ông Trần Trung Dung, th́ ông Diệm lại chỉ sai phái và hỏi han ông Đổng lư. Khi ông Dung vào làm việc với Tổng thống th́ chỉ muốn mau chóng tŕnh bày một cách tổng quát rồi tuỳ nghi thi hành, ông Thuần th́ trái lại sẵn sàng có thể ngồi đến bao giờ cũng được để nghe lời " dạy". Vốn là người cô đơn khắc kỷ và ưa được dài lời chuyện tṛ lan man qua công việc Tổng thống Diệm đă t́m được một người vừa ư như ông Thuần luôn luôn biết lắng nghe và làm rất vừa ư. Ngày này qua tháng khác và luôn chứng tỏ tài mẫn cán, ông Thuần trở thành người Tổng thống Diệm coi là giới “biết việc". Khi luật sư Nguyễn Hữu Châu rời bỏ chức vụ Bộ trưởng Phủ Tổng thống, ông Diệm chưa biết t́m ai thay. Ông Nhu biết ư ông anh nên để tuỳ ư ông anh "để ông muốn t́m ai th́ t́m”, ông Nhu cũng không đoán nổi ông anh sẽ chọn ai. Có điều là cho đến phút chót khi Tổng thống Diệm quyết định chọn ông Thuần làm Bộ trưởng Phủ Tổng thống, th́ chính ông Nhu vẫn tưởng ông Thuần sẽ được ông Diệm bổ nhậm là Đặc sứ tại Tunisie. Ngay ông Thuần cũng không hay biết. Khi Lương Khải Minh gọi điện thoại báo cho ông Thuần hay: “Moa có lời mừng cho toa". Ông Thuần ngạc nhiên: “Thưa anh có chuyện ǵ vậy ?" "Toa được cử làm Bộ trưởng Phủ Tổng thống”. Cho đến lúc ấy ông Thuần mới biết là ḿnh đă được ông Diệm tín nhiệm ở chức vụ quan trọng như vậy.

Ông Thuần trở thành Bộ trưởng Phủ Tổng thống sau này kiêm nhiệm Bộ trưởng phụ tá quốc pḥng (thay thế ông Trần Trung Dung) rồi lại được tạm giữ chức Bộ trưởng phối hợp An ninh (Chính phủ cải tổ ngày 28-5-1961). Giới thân cận phủ Tổng thống cho rằng: ông Thuần là người biết "chiều ư" Tổng thống đến tuyệt mức.

Cái sự lên như diều gặp gió của ông Thuần cũng như sự "dẫm chân một chỗ" của bao nhiêu người khác đă tạo nên mầm bất măn tuy không ai nói ra, và cái mầm bất măn "trong nhà" đă không bùng nổ v́ c̣n một Tổng thống Diệm. V́ thế những mâu thuẫn không tạo nên sức ép và những tia điện.

Trong cuộc tiếp xúc và tâm t́nh với các "nhân chứng " thân cận Tổng thống Diệm, chúng tôi thấy rằng phần lớn những cộng sự viên thân tín của ông đều là Phật giáo. Điển h́nh là ông Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần, bác sĩ Bùi Kiện Tín, ông Vơ Văn Hải, Đại tá Đỗ Mậu cũng như Trung tá Cao Văn Viên. Các Tư lệnh lữ đoàn Liên biệt pḥng vệ phủ Tổng thống như Đại tá Hoàng Văn Lạc, Trung tá Lê Ngọc Triển đều là Phật giáo ngoại trừ Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, vị Tư lệnh cuối cùng của Lữ đoàn này là tín đồ Thiên Chúa giáo. V́ ông Tổng thống mặc cảm với Thiên Chúa giáo nên nhiều viên chức Công giáo ở trung ương đă không được Tổng thống Diệm cất nhắc nên chức vụ quan trọng. . .Tư lệnh các binh chủng như lữ đoàn nhảy dù, Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến trước sau từ Đại tá Đỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh Thi đến Cao Văn Viên và Trung tá Lê Nguyên Khanh đều là Phật giáo . . .Vậy th́ Tổng thống Diệm có kỳ thị Phật giáo hay không, sử gia sau này sẽ phán đoán công minh. Điều rơ rệt là Tổng thống Diệm quá nhiều mặc cảm và thành kiến sâu nặng đối với một số chánh khách thuộc Đảng Đại Việt gồm quan lại đă từng tham chánh dưới thời Thủ tướng Trần Văn Hữu và Nguyễn Văn Tâm. ..

__________________
 
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU CHÚNG TA ???

 
National Academy of Public Administration - Faculty of State and Law - Inspection
 
  #7  
Old 09-04-2008, 08:47 PM
Avatar của Trần Toàn Trung
Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline
Điều hành viên
 
Gia nhập: Dec 2007
Đến từ: Nation & Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết
Default

Chương V : Từ cái chế độ Ngô Đ́nh Diệm và cái chết của Ngô Đ́nh Cẩn

Cái chết của một Tổng thống như ông Ngô Đ́nh Diệm, tất nhiên không phải là một sự vô lư đơn giản như người ta thường nghĩ. Nó đă được sửa soạn tinh vi, v́ làm thế nào để giết một ông Tổng thống đă cầm quyền 9 năm không phải là chuyện "tuỳ hứng" .

NGƯỜI EM ÚT

Quanh cái chết của Tổng thống Diệm đầy rẫy những sự vô lư nông nổi bi thảm. Sau khi ông chết đi, lại c̣n bao nhiêu sự vô lư khác. Chữ vô lư ở đây xin được hiểu theo sự suy đoán trong bản chất và tinh thần Việt Nam vốn trọng t́nh cảm, sự trung hậu và lễ nghĩa.

Một trong những sự vô lư đó là cái chết của ông Ngô Đ́nh Cẩn người em thứ 5 của Tổng thống Diệm. Cái chết này đă được công khai hợp pháp hoá v́ ông Cẩn được ra toà xét xử. Nếu bị viên công tố gay gắt buộc tội th́ cũng chả có cái ǵ vô lư. Khi đảo chính bùng nổ th́ Tướng Đỗ Cao Trí đang là Tư lệnh Vùng I chiến thuật. Ông tướng này là người có thẩm quyền duy nhất tiếpthu toàn vẹn những ǵ có ở bên trong căn nhà tổ ấm của gia đ́nh họ Ngô. Ông Cẩn tưởng đă thoát thân...dù tấm thân chỉ c̣n hai bàn tay trắng. Trong cuốn Việt Nam Crisis, hai tác giả Stephen Pan và Daniel Lyons đă viết như sau:

“Ông Cẩn lúc đầu ty nạn tại nhà ḍng Chúa Cúu Thế. Nhưng những người từng được ông giúp đỡ sợ rằng: Nếu chứa chấp ông, sẽ có thể bị các nhà lănh đạo đảo chính nghiêm trị nên ông Cẩn phải qua toà Lănh sự Mỹ tại Huế xin trú ẩn. Toà Lănh sự này phải xin chỉ thị của toà Đại sứ Mỹ tại Sài G̣n. Đại sứ Hennry Cabot Lodge trả lời rằng Lănh sự Mỹ không được phép cho ông ta ty nạn nhưng lại, đồng thời ra lệnh đưa ngay ông Cẩn vào toà Đại sứ Mỹ. Nhưng khi ông Cẩn đến Sài G̣n toà Đại sứ Mỹ liền trao ông Cẩn cho Hội đồng quân nhân cách mạng xét xử. Theo nguồn tin có thẩm quyền mà hai tác giả được biết, toà Đại sứ Mỹ đă hội ư với Hội đồng quân nhân cách mạng và buộc Hội đồng phải cam kết 3 điều kỉện th́ toà Đại sứ mới dẫn độ: 1) Phải được xét xử minh bạch và công khai. 2) Không được đối xử tàn nhẫn. 3) Không bị bắn hoặc giết".

Stephen Pan và Daniel Lyons viết: "Trong t́nh cảnh lúc bấy giờ, nếu tin tưởng vào cuộc xét xử minh bạch, công khai th́ thật là ngây thơ. Mặc dù trong thời gian đó, ông Cẩn đang bị yếu nặng với hai căn bệnh áp huyết cao và tiểu đường. Với cách đối xử rất tồi tệ lại thiêú thuốc men, chăm sóc trong tù th́ ông Cẩn chắc chắn sẽ không sống thêm được bao lâu.
Nhưng dù quá yếu đến nỗi không đứng nổi, ông ta vẫn bị cột vào cái trụ đứng và bị bắn ".

Stephen Pan và Daniel Lyons thắc mắc: Người ta c̣n nhớ hồi tháng 8-63 một nhà sư (...) đă lánh nạn trong toà đại sứ Mỹ và được Đại sứ Cabot Loadge bảo vệ an toàn trong 9 tuần lễ, nghĩa là cho đến ngày hai anh em ông Diệm bị giết. Hăy để cho lịch sử phán xét nhũng sự việc mâu thuẫn như trên".

Nếu ông Cẩn bị đem ra xử bắn trước cuộc chỉnh lư của tướng Khánh, th́ cũng có thể giải thích được. Nhưng ông Cẩn lại bị xử tử khi tướng Khánh lên cầm quyền và Cabot Lodge vẫn c̣n tiếp tục là Đại sứ ông Lodge thường được coi như quan thầy quyền uy của tướng Khánh. Mấy ngày sau cuộc chỉnh lư, người ta cho rằng rất có thể ông Cẩn được tha và cho xuất ngoại . V́ dù sao tướng Khánh cũng là một trong mấy người con tinh thần của ông Diệm và tướng Khánh đă trung thành với ông Diệm cho đến phút cuối cùng dinh Gia Long bị mất vào tay quân đảo chính . Chiều ngày 11 tướng Khánh từ Pleiku c̣n gọi điện cho tướng Cao ở Cần Thơ, hối thúc ông Cao đem quân về cứu Tổng thống Diệm. Tướng Khánh cho biết không thể đem quân về được v́ Quân đoàn 2 quá xa...Tướng Cao tin cho tướng Khánh rơ là tướng Minh, Khiêm và các Đại tá Đỗ Mậu, Nguyễn đức Thắng hứa là bảo đảm tính mạng Tổng thống Diệm và ông Nhu. Tướng Khánh trả lời: "Không tin được tụi nó đâu chúng nó nói vậy mà làm khác". Tướng Khánh vẫn giữ ḷng trung thành cho đến phút chót. Thế nhưng...quyền lợi cá nhân và địa vị đă thay đổi ḷng người.

 


Hội đồng quân nhân cách mạng họp báo sau đảo chánh.


Khi ông Cẩn bị đưa ra toà, người ta vẫn tin rằng có thể ông sẽ bị xử qua loa. Khi bị kết án tử h́nh người ta vẫn tin ông Cẩn sẽ được Quốc trưởng Dương Văn Minh chấp thuận đơn ân xá.

Cuối cùng vào một buổi chiều ánh nắng c̣n chan hoà, tử tội Ngô Đ́nh Cẩn được khiêng ra pháp trường trong ṿng thành khám Chí Hoà. Tay bị trói chặt vào cây cột giữa pháp trường và bị bắn gục trước sự chứng kiến của những người trước kia ra vào dinh ông Cẩn thường khúm núm như gia nhân. Đại sứ Lodge là người đă buộc "Hội đồng Quân nhân cách mạng" phải cam kết không được xử bắn ông Cẩn, khi ông Cẩn nhận từng loạt đạn, Lodge vẫn c̣n là vị Đại sứ Mỹ đầy uy quyền tại miền Nam Việt Nam. Rồi có các giả thuyết được nêu ra:

1- Ông Khánh làm như thế để chiều ḷng những áp lực khác đang đè nặng lên ông.

2- Ông Khánh chủ trương thanh toán ông Ngô Đ́nh Cẩn v́ áp lực của "những người" từng ra luồn vào cúi dưới trướng "Cố vấn chỉ đạo " . . .

3- Ông Khánh chủ trương thanh toán ông Cẩn chỉ v́ vụ "tài sản" của ông Cẩn mà ông Khánh đă được chia phần kể từ khi ông ra nhậm chức Tư lệnh Vùng chiến thuật I thay thế tướng Trí.

SÉT ĐÁNH NGANG ĐẦU

Sáng ngày 2-11 -1963 tại tư thất ông Cẩn chuông điện thoại reo vang. Âm vang của hồi chuông thật rền rĩ réo rắt trong buổi sáng tinh sương. Điện thoại gọi từ Đà Nẵng. Đại uư Minh nhấc máy lên. Từ phía đầu dây bên kia, vẫn giọng tướng Trí ngập ngừng, cắt quăng, rời rạc. Lời tướng Trí được ghi nhớ như sau: “Anh thông báo ngay cho Cậu biết, Sài G̣n vừa báo tin cho tôi hay là Tổng thống và ông Cố vấn chánh trị đă tự tử chết rồi. Tôi không hiểu ra sao nữa. . . ". Đại uư Minh chân tay bủn rủn, có cảm tưởng như đang nghe điện thoại trong cơn mê của giấc ngủ say. Ông hỏi đi hỏi lại tướng Trí hai ba lần. Tướng Trí xác nhận: “Sài G̣n vừa báo cho tôi hay nhu vậy". .Lúc ấy Đại uư Minh mới tin đây là sự thực - một sự thực phũ phàng ngoài trí tưởng tượng của ông. Nhưng tưởng tượng quả là vô lư ? Khi báo cho ông Cẩn hay hung tin này, ông Cẩn vẫn không tin và nói: "Làm ǵ có chuyện động trời như vậy". Nhưng Tổng thống Diệm và ông Nhu đă chết. . . dù ông Cẩn có không tin là thực th́ sự thực vẫn tàn nhẫn xảy ra như thế.

Ngay lúc đó, Đại uư Minh cho người đi báo hung tin cho cha Thuận. Sáng ngày 2- 11 màn tang đă bao phủ căn nhà tổ ấm của gia đ́nh Tổng thống Diệm ở miền Phú Cam nơi hai anh em ông Diệm đă sinh ra và lớn lên. Lúc đó chung quanh ông Cẩn vẫn c̣n đầy đủ các cộng sự viên thân tín, trong đó có ông Đào Quang Hiển Giám đốc nha Công an Trung nguyên Trung phần.

Rồi chiều mùng 2, buổi chiều nặng nề như những phiến đá đè nặng trên phận người mong manh. Khoảng 1 giờ 30, Đại uư Minh được lệnh của ông Cẩn gọi điện thoại cho tướng Trí và mời tướng Trí ra Huế để báo cáo cho ông Cẩn rơ nội vụ. Huế cho đến lúc ấy vẫn tương đối yên tĩnh.

Khoảng 3 giờ, bỗng nhiên đoàn thiết giáp của thiếu tá Tuấn đến bao vây vùng Phú Cam và căn nhà ông Cẩn (Thiếu tá Tuấn sau thăng Trung tá và bị chết thảm trong biến cố Tết Mậu Thân tại trường Thiết giáp G̣ Vấp Sài G̣n). T́nh h́nh Huế bắt đầu ngột ngạt, dao động và như cây nước giữa biển nặng đang bắt đầu vỡ ra và dâng cao. Trong giờ phút cuối cùng này, một nhân chứng thuật lại: ông Cẩn đă mất tinh thần v́ xúc động trước cái tin hai ông anh bị giết chết. Chung quanh ông vẫn c̣n đầy đủ cộng sự viên như Minh, Trọng, Độ . . .

Khoảng 9 giờ đêm mùng 2, Huế bắt đầu chuyển động như cơn sóng trong trận cuồng phong. Trời tê buốt hoang vắng và đầy đe doạ, bất trắc thê lương. Dân Huế vây quanh radio nghe đài Sài G̣n, BBC và VOA... Hồi hộp, rung động, kích thích... Rồi một nhóm người tự động quy tụ lại như một h́nh thức Hội đồng Quân nhân cách mạng. Đứng đầu là Trung tá Mô, Thiếu tá Hiếu và ông Đào Quang Hiển. Ba viên chức này đến gặp Đại uư Minh đ̣i đưa họ vào gặp ông Cẩn. Lúc ấy đoàn thiết giáp của Thiếu tá Tuấn đang bao vây nhà ông Cẩn nhưng chỉ có tính cách giữ ǵn an ninh trật tự và theo lời tướng Trí là "để bảo vệ sanh mạng của ông Cẩn và đề pḥng một khi dân chúng làm hoảng"...quân đội có thể can thiệp kịp thời.

Thể theo yêu cầu của Trung tá Mô cũng như Thiếu tá Hiếu ...Đại uư Minh vào t́m gặp ông Cẩn trong khi đó 3 viên chức vẫn đứng chờ ở ngoài. Nhà lúc ấy vắng ngắt không c̣n ai, không khí đầy một nỗi bi thương đổ vỡ. Bé gái Kính cho Đại uư Minh hay là ông Cẩn đă trốn khỏi. Để đánh lạc hướng phe ông Mô, Đại uư Minh cho bọn ông Mô hay là ông Cẩn hiện đang bị mệt và đang nằm nghỉ, mai sẽ vào gặp sau. Thực ra lúc ấy ông Cẩn đă vào trú ẩn tại nhà ḍng Chúa Cứu thế.

TẨU VI THƯỢNG SÁCH

Trong bước đường cùng th́ trong 36 kế, "tẩu vi thượng sách" chước "chuồn" vẫn là hơn cả. Tuy nhiên ông Cẩn rời căn nhà tổ ấm cùng với cơn đau của loài chim bị bắn trúng cả hai cánh khi đang tung bay.

Qua ngày thứ 3, Huế vẫn c̣n tương đối yên tĩnh, tuy trong dân chúng bắt đầu chuyển động, đang bắt đầu một trận cuồng phong cho sóng đổ lên cao. Từ Đà Nẵng, tướng Trí gọi điện thoại cho biết ông sẽ trở ra Huế với tư cách đại diện cho Hội đồng Quân nhân cách mạng.

Lúc ấy, ông Cẩn bắt đầu lâm bệnh, khuôn mặt hốc hác, đôi mắt như lạc mất tinh thần. Ông xúc động một cách khó tả trước cái chết của hai ông anh.

Bên cạnh ông trong những giờ phút đó vẫn c̣n một số cộng sự viên thân tín như cha Thuận (người cháu ruột của ông) . Cho đến giờ phút đó vẫn không thấy ông Cẩn quan tâm ǵ đến tiền bạc tài sản. Khi Đại uư Minh vào thăm ông (tại một căn nhà trong nhà ḍng Chúa Cứu thế) ông rớm nước mắt và nói: Thôi hết rồi Minh ơi. Và những người có mặt đều khóc theo ông.

Ông Cẩn nằm trên giường nệm, vắt chân chữ ngũ, nước mắt giàn giụa trên g̣ má. Căn bệnh áp huyết của ông bắt đầu tái phát.

Ông bảo Đại uư Minh gọi điện thoại cho tướng Trí, nhắn tướng Trí vào Huế ngay để ông có đôi điều dặn ḍ.

Huế lúc ấy bắt đầu sôi động. Thiếu tá Hiếu, Trung tá Mô, ông Đào Quang Hiển và một số "bá quan văn vơ “ đă đứng về phe đảo chính. Biến chuyển mau lẹ quá. Huế ngỡ ngàng, rồi Huế bùng lên trong cuộc nổi lửa.

Chiều 3-11, tướng Trí từ ngoài Đà Nẵng vào Huế. Quân đội vẫn làm chủ t́nh h́nh Huế.

Không có tiếng súng nổ, không đổ máu. Sự lặng lẽ trong cơn dao động hoang mang. Ảnh của Tổng thống Diệm vẫn c̣n được treo ở nhiều công sở. Người đầu tiên mà tướng Trí t́m gặp lại là Đại uư Minh . Đây là mẩu đối thoại giữa hai người:

- Bây giờ Cậu ở đâu? Tướng Trí hỏi.

- Cậu đang ở trong nhà ḍng Chúa Cứu thế. Đại uư Minh đáp.

- Anh em cứ an tâm, không có ǵ phải lo sợ. Mọi việc ở ngoài này đă có tôi.

- Là sĩ quan của quân đội, tôi phải tuân theo lệnh của Thiếu tướng.

- Anh cho tôi gặp ông Cậu. Tôi ra đây với tư cách đại diện Hội đồng Quân nhân cách mạng - Lời tướng Trí.

Lúc ấy ông Cẩn vẫn nằm trên chiếc giường sắt, cơn đau đă bớt. Ông lấy trầu ra ăn . Ông Cẩn cho gọi một cộng sự viên thân cận và nói giọng thều thào "Chiếc bao bố ném ở dưới gậm giuờng (trong căn nhà Phú Cam) trong đó có 24 ki lô vàng. Chiếc valise gồm một số gia bảo và qúy vật v.v.. Mày lo liệu giữ ǵn không th́ tụi nó lấy hết. Số bạc mặt tao vẫn để trong tủ. . . ". Ông Cẩn c̣n dặn ḍ thêm : "Mày trao cho Trí giữ hộ. . . Cứ trao cho Trí không sao đâu".

Buổi chiều ngày 3 -11 tại nhà ḍng Chúa Cứu thế, không khí thê lương ảm đạm như một ngày cuối đông miền hàn đới. T́nh h́nh Huế lúc ấy đă náo động.

Cha bề trên Nhă cúi đầu lần hạt đi đi lại lại trên hành lang, cha Nhă hỏi Đại uư Minh: “Anh đă đi t́m cha Thuận chưa"... Hai người nh́n nhau lặng lẽ, nỗi buồn thật mênh mông. Đại uư Minh lên pḥng ông Cẩn. . .Lúc ấy ông Cẩn vẫn nằm vắt chân chữ ngũ, mắt ông đỏ ngầu v́ khóc . . .Tướng Trí cũng vào pḥng ông Cẩn cùng với Đại uư Minh. Đỗ Cao Trí vẫn niềm nở và trọng vọng ông Cẩn như xưa, ông giơ tay chào theo kiểu nhà binh. ông Cẩn ngước mắt nh́n tướng Trí không nói một lời nào. Đôi mắt ông nặng trĩu nỗi đau thương. Dường như lúc ấy ông Cẩn như muốn khóc. Mẩu đối thoại giữa tướng Trí và ông Cẩn được ghi lại như sau:

- Hội đồng Quân nhân cách mạng uỷ con xin thưa lại với Cậu, Tổng thống và ông Cố vấn chết là do tai nạn ngoài ư muốn của các tướng lănh.

Tướng Trí không dấu nổi xúc động, ông yên lặng một lúc rồi nói tiếp:

- Chuyện đă xảy ra như vậy bây giờ biết làm thế nào. Con được Hội đồng Quân nhân cách mạng uỷ cho đến đây để xin thưa với Cậu, Hội đồng Quân nhân cách mạng kính mời Cậu tham gia và xin mời Cậu đứng trong thành phần của Hội đồng.

Ông Cẩn đưa mắt nh́n một vài người thân yêu. Mọi người yên lặng. Tướng Trí nói trong niềm xúc động:

- Việc đă xảy ra như vậy th́ thế nào, Hội đồng Quân nhân cách mạng cũng áp dụng một số biện pháp đối với cậu, như tịch biên tài sản...Con nghĩ Cậu nên tính xem thế nào. . . Cậu có thể đưa cho con giữ hộ.

Chuyện tṛ với ông Cẩn một lát rồi tướng Trí ra xe cùng về với Đại uư Minh.

Lúc ấy tại vùng Phú Cam vẫn yên tĩnh. Đoàn Thiết giáp của Thiếu tá Tuấn đang giữ phận sự canh pḥng và kiểm soát chặt chẽ. Nhà ông Cẩn vắng lặng chỉ có con bé Kính, một vài gia nhân. Con bé Kính sau này cho biết, Vali và bao bố vàng được đưa lên xe Jeep, rồi đoàn tuỳ tùng rời khỏi tư thất ông Cẩn.

ÔNG LĂNH SỰ

Từ khi tướng Trí và Đại uư Minh đi khỏi, bên cạnh ông Cẩn không c̣n ai . Một vài người thân yêu ngơ ngẩn ở trước cửa nhà ḍng có ư đợi . Đại úy Minh xem ông Minh có quyết định sang tị nạn ở toà Phó Lănh sự Mỹ hay không. Buổi sáng ở nhà Đại uư Minh, ông Phó Lănh sự Mỹ có đến t́m gặp và đề nghị:

- Nếu Đại uư và gia đ́nh cũng như viên chức nào thấy ở ngoài này không có an ninh và nguy hiểm cho tính mạng, tôi mời tất cả qua tị nạn ṭa Lănh sự.

Đại úy Minh đáp: Xin cảm ơn ông Lănh sự, có lẽ không cần thiết.

Ngày 2-11-1963 chính là ngày sinh nhật của ông Cẩn...ông có ngờ đâu đó cũng chính là ngày ông phải để tang hai người anh trai...Sau khi ôngCẩn sang tị nạn tại nhà ḍng Chúa Cứu thế th́ ông Lănh sự và Phó Lănh sự có t́m gặp Đại uư Minh và đề nghị đưa ông Cẩn qua toà Lănh sự tị nạn cho an ninh hơn và ông cam kết sẽ để ông Cẩn được hưởng quyền lợi tị nạn như toà Đại sứ Mỹ đă dành cho Thượng toạ Trí Quang trước đây.

Nhưng ông Cẩn chỉ bằng ḷng qua đó tị nạn với điều kiện ông phải được đem theo thân mẫu tức bà Ngô Đ́nh Khả . . . Lănh sự Mỹ không chấp nhận điều kiện này. Hơn nữa, các cộng sự viên thân tín tỏ ư dè dặt v́ không hiểu ḷng dạ của người Mỹ ra sao.

Ngày 5/11 tướng Trí được lệnh của quân đảo chính đưa ông Cẩn về Sài G̣n cùng với bà cụ Khả. Lúc ấy bà cụ Khả vẫn chưa biết tin Tổng thống Diệm và ông Nhu bị thảm sát, v́ trong nhà cố giữ kín tin này. Bà cụ Khả đă trên tuổi 90 và bán thân bất toại từ lâu. . .

Khi về Sài G̣n th́ mẹ con đôi ngả. Ông Cẩn vĩnh viễn xa mẹ từ buổi ấy. Ông bị giam trong một căn pḥng "ghê rợn" nhất của khám Chí Hoà.

Cái đau khổ lớn của tù nhân không phải v́ thân thể bị câu thúc mà trước hết đau khổ v́ cô đơn. Nỗi cô đơn như một phi tần trong chốn lănh cung. Có ai trải qua cơn phong trần mới thông cảm được nỗi “giết nhau chẳng cái lưu cầu, giết nhau bằng cái u sầu độc chưa” Trên sáu tháng trời ông Cẩn đă chết ṃn trong cái u sầu thê lương như vậy của một cấm pḥng đầy oan trái và hồn ma. Chắc hẳn trong những đêm dài thao thức, ông Cẩn chỉ c̣n sống theo dĩ văng huy hoàng, 9 năm trong đó bao nhiêu công hầu đă đến với ông, van lậy ông, một điều cậu, một điều con để mong ông ban phát bổng lộc.

Điều đau khổ nhất đối với riêng ông Cẩn là những ngày tháng ông phải sống xa mẹ. Từ ấu thơ cho đến ngày lao lư, ông Cẩn không bao giờ phải sống xa mẹ. Trong gia đ́nh Tổng thống th́ chỉ có một ḿnh ông Cẩn sống cạnh mẹ. Ông Diệm cho đến Đức cha Thục, ông Nhu, ông Luyện mỗi người mỗi ngả một năm mới về thăm mẹ đôi ba lần. Theo nhân chứng, ông Cẩn được thân mẫu thương yêu nhất mực về đức hiếu thảo. Kể từ ngày bà cụ Ngô Đ́nh Khả bị bán thân bất toại, suốt ngày nằm trên ghế tựa, ông Cẩn luôn luôn có mặt bên cạnh không chịu xa mẹ lấy một đêm.

Thế mà những ngày ấy ông phải sống xa mẹ. Và ngày 20-4-64, Toà án "cách mạng" tuyên án tử h́nh ông Ngô Đ́nh Cẩn mà chánh thẩm là Đại tá Đặng Văn Quang (vợ chồng Đại tá Quang vốn là con đỡ đầu của thân mẫu Đức cha Nguyễn Văn Thuận chị ruột của ông Cẩn). Trước toà ông Cẩn nói: "Tôi quân sự không biết, hành chánh không biết, học tầm thường làm sao ra lệnh cho ai được?”. Bốn ngày sau khi tuyên án, ông Cẩn đệ đơn xin ân xá và 2 ngày sau nữa tướng Dương Văn Minh bác đơn xin ân xá với tư cách Quốc trưởng. Trong thời gian này, tướng Khánh đă "đau đầu”, rồi bối rối không biết làm thế nào để giải quyết mọi việc cho mọi bề êm đẹp. Bao nhiêu cuộc tiếp xúc, bao nhiêu cuộc trả giá, tấm thân của ông Cẩn trở thành món hàng để “bên này đưa ra điều kiện này bên kia đặt điều kiện khác". Chữ "nếu” làm cho ông Khánh bù đầu. Nếu không giết ông Cẩn chúng tôi sẽ có thái độ, hoặc không ân xá cho ông Cẩn chúng tôi sẽ hành động". Các cố vấn của tướng Khánh th́ cho rằng "Trong vụ này Thủ tướng cứ coi như vô can. Việc xử thế nào là do Toà. Việc ân xá hay không là do tướng Minh.

Nếu tướng Minh ân xá th́ hợp ư với Thủ tướng và có thể xoa dịu được phe bên này, mà áp lực “búa ŕu"của phe bên kia sẽ đổ hết vào đầu ông Minh và ngược lại. . .”. Cộng sự viên thân tín của tướng Khánh lúc ấy đều là những người cùng chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm và bị giam cầm như Phạm Thái, Tổng Trưởng thông tin hay thuộc Đảng Đại Việt như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Phó Thủ tướng hoặc thuộc "gà nhà" như luật sư Nghiêm Xuân Hồng, Bộ trưởng phủ Thủ tướng…

Hôm xử bắn ông Cẩn tại khám Chí Hoà, buổi sáng ông Khánh uống một hơi hết ly rượu mạnh, mắt ông lại lồi hẳn ra.

CHẾT V̀ CỦA

Qua lời nguyền phục hận cho anh em Tổng thống Diệm mà tướng Khánh đă nhiều lần tỏ bày ... ai cũng tưởng ông là một người một ḷng một dạ sống chết với anh em ông Diệm. Nhưng với tướng Khánh th́ "lời nói gió bay lên trời”, thảy đều không quan trọng.

Sau khi đảo chính thành công, hầu hết các tướng tham dự đều được vinh thăng, nhưng trường hợp tướng Khánh lại bị chậm trễ. Trong quá khứ và thuở c̣n mang lon cấp tá, tướng Minh và Khánh quá biết rơ nhau. Đă từ lâu, không ai ưa ai. Ngày 5-2, tướng Khánh ở Pleiku bay về Sài G̣n một mặt tŕnh diện tướng Minh. Mặt khác chạy lon. Vốn là người láu cá vặt, nên tướng Khánh chạy qua "cửa" Thủ tướng Thơ, và biết rằng ông Thơ hay bị xiêu ḷng nếu chịu khó năn nỉ. Hơn nữa, ông Thơ vẫn có ḷng tốt đối với bọn em út. Quả nhiên tướng Khánh đă thành công. Thủ tướng Thơ gọi điện thoại cho tướng Minh để "xin lon” cho tướng Khánh và ông Minh cũng đồng ư cho ông Khánh lên Trung tướng. Sáng hôm sau, tướng Khánh lại đến tư thất của Thủ tướng Thơ năn nỉ . Việc thăng Trung tướng, Thủ tướng Thơ đă dàn xếp xong.

Tướng Khánh nóng ḷng nên cho người lên phố mua cặp sao ngay. Tại tư thất, Thủ tướng Chính phủ vẫn c̣n mặc áo Pyjama, vốn là con người xuề xoà, không kiểu cách, Thủ tướng Thơ đă gắn lon Trung tướng cho Nguyễn Khánh trong lúc ông đang mặc đồ ngủ.

Thực ra th́ tướng Khánh cũng chẳng thương xót ǵ Tổng thống Diệm. Đối với ông ai cũng có thể là người "tri kỷ", ai cũng có thể là bạn đường...Người như tướng Khánh khó ḷng giữ được sự trung nghĩa.

V́ tướng Khánh không chỉ bắt cá hai tay mà ba bốn tay. Cùng một câu chuyện, gặp ông A, tướng Khánh nói thế này, gặp ông B tướng Khánh lại nói cách khác.

Ngày 9-5-l964, ông Cẩn bị xử bắn tại khám Chí Hoà th́ Phan Quang Đông bị xử bắn tại Huế. Ông Khánh bay ra Huế để lấy ḷng dân chúng từ một trung tâm tranh đấu...nhưng ông lại bị dân chúng vây tại dinh tỉnh trưởng Thừa Thiên. Ông phải "trốn lủi" đi cửa sau rồi dùng trực thăng rời khỏi cố đô.

Sau một ngày hành tŕnh toát mồ hôi, lại bị dân chúng la ó đả đảo, hôm ấy ông Khánh t́m lại giấc ngủ b́nh an sau khi ông Cẩn đă ra người thiên cổ. Chết là hết, ông Khánh được b́nh an v́ những tưởng ông Cẩn sẽ mang theo tất cả những bí mật về phần tài sản của ông. Sự đời đâu có đơn giản như vậy. Cái kim trong bọc để lâu ngày cũng ḷi ra, huống chi tài sản của ông Cẩn không phải là ít từ của ch́m của nổi. Nhiều người thân tín trong gia đ́nh ông Cẩn cho rằng “Ông Cẩn chết v́ tài sản đó”. Để gây quỹ cho đoàn thể Cần Lao, trong 9 năm ông Cẩn đă uỷ tên cho một số người đứng tên quản trị. Ông X đứng tên và quản trị một cơ sở kinh doanh này. Ông Y được trao phó đứng tên mua một thửa đất kia. Trong cái valise của ông Cẩn lại chất đầy những quư vật rồi lại có một trương mục tại ngân hàng do mấy người trong Đoàn thể đứng tên. Nếu ông Cẩn c̣n sống, các đương sự sẽ khó ḷng chiếm đoạt nổi. Có thể tướng Khánh đă được chia một phần tài sản ấy về mặt của nổi để gọi là dùng vào quỹ mật.

Tại nhà ḍng Chúa Cứu thế ngày 3-2 khi được quân đảo chính mời tham gia, một vài người thân tín của ông Cẩn đă đề nghị: "T́nh thế đă như vậy rồi nay Hội đồng mời Cậu tham gia th́ Cậu cứ tham gia. Bao nhiêu tài sản, của cải của đoàn thể hiện do ai đứng tên, do ai cất giữ cậu khai hết rồi đem nạp cho Hội đồng để xung vào công quỹ Quốc-gia". Nếu ông Cẩn nghe lời nhân chứng B, công khai hoá tài sản và đem nạp cho Quốc gia th́ ít nhất cũng không ai có thể nuốt được hết cho dù có "chấm mút" ít nhiều.

Nói về tài sản của ông Cẩn, giới thân tín của ông đều ngao ngán: "Ông Cẩn không bao giờ tin nhũng cộng sự viên thân cận của ông mà ông vẫn cho rằng quá trẻ không hiểu ǵ về vấn đề kinh tài cho đoàn thể”.

Dạo năm 1961 nhiều đảng viên Cần lao bị thương, đau yếu túng quẫn, Đại uư Minh có đề nghị: "Cậu trích một số tiền trong quỹ đoàn thể giúp đỡ những người đă ph ả i hy sinh hay thương tích v́ quốc gia và đoàn thể”. Lúc ấy ông Cẩn nói: “Tiền đâu bây chừ...tao làm ǵ có tiền". Mấy cộng sự viên rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu tiền bạc bấy lâu nay đi về đâu và ở những tay ai ? Vào khoảng năm 1959, có người đề nghị ông Cẩn mua lại một số đất của hoàng tộc. Ông bảo Đại uư Minh và mấy người thân tín cùng ông đi coi xem đất cát ra sao. Một người lên tiếng cản ngăn: "Con nghĩ Cậu không nên làm như vậy. Ḿnh vừa truất phế Bảo Đại xong bây giờ lại đứng ra mua lại đất đai của Hoàng tộc th́ cho dù có trả tiền theo thời giá vẫn bị mang tiếng " ông Cẩn đáp: "Tao một thân một ḿnh th́ cần chi. Lo là lo cho bọn bay, đoàn thể mà không có vốn liếng th́ làm sao hoạt động được? Tụi bay c̣n trẻ biết ǵ".

Từ đó mấy cộng sự viên thân tín không ai đả động ǵ đến việc này dù họ cũng biết rơ ông Cẩn đă uỷ cho ai lo phần kinh tài. Theo người biết chuyện th́ mẹ con bà Luyến và một số người khác đă làm hỏng ông Cẩn, nhất là vấn đề kinh doanh tiền bạc. Rồi khi tàn cuộc th́ những “ai đó" phỗng tay trên. Trong suốt 9 năm cầm quyền đă có biết bao ông bà lớn tâng bốc bà Luyến lên mây xanh, một tiếng D́, một tiếng Mợ. Một đằng Cậu Cẩn, một đằng Mợ Luyến. Do đó đă gây nên bao nhiêu dư luận xấu xa. Mà bà Luyến tuy anh em con d́ với anh em ông Cẩn nhưng lại chỉ là thứ gia nhân lo việc nội trợ trong nhà.

__________________
 
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM

Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)
 
  #8  
Old 09-04-2008, 08:52 PM
Avatar của Trần Toàn Trung
Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline
Điều hành viên
 
Gia nhập: Dec 2007
Đến từ: Nation & Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết
Default

PHÚ HỘ ĐỒNG QUÊ

Trong 9 năm ông Cẩn đă cho tiền thiên hạ rất nhiều. Bản thân ông vốn là cậu ấm con quan Thượng thư Lễ bộ nhưng ông lại là con người tiêu biểu cho trạng thái quê mùa. Thường ngày, ông dùng cơm với cá kho, dưa chua. Ngay nhà ông bao giờ cũng muối sẵn từng vại dưa, vại cà, có khi ông c̣n tỉ mẩn đi muối hàng vại "dưa rau muống ". Một sáng kiến khá kỳ cục…v́ chưa thấy ai dùng rau muống để muối dưa, v́ ông lại không ăn được vây yến hay sơn hào hải vị!. Nhà ông ở Phú Cam nuôi hàng trăm con chim bồ câu. Nuôi là để dành dấy thôi. ông Cẩn có tâm lư một nhà giàu xứ quê cho nên cái ǵ ông cũng thu vén chắt chiu, cái ǵ cũng cho vào trong kho hết, trong kho của nhà ông chứa đựng không biết bao tranh sơn mài đồ gốm, đồ cổ. Dĩ chí có nhiều người biếu ông miếng gỗ cẩm lai ông cũng cho cất vào kho để dành.

Ngày 1-2 là sinh nhật ông cho nên khách bốn phương đổ về Huế tấp nập với bao nhiêu quà, ông không ăn, trong nhà cũng không thể ăn hết, tuy vậy dù là quà thuộc về thực phẩm, ông cũng đem cho vào kho cất đi. Mấy hôm sau để thối ra đấy người nhà lại mất công đem đi đổ. . . . Con người ông Cẩn là một thế giới đầy mâu thuẫn, ông vừa có cái cốt phong kiến của con quan, ông lại có tính thu vén chắt chiu của một phú nông, cùng cái hách của Tổng lư thời xưa. ông có bản chất và sắc thái của một ông già nhà quê. Ngoài thú câu cá, ông c̣n tự tay vót tre đan rổ rá. Rổ rá trong nhà ông phần lớn là do ông đan lấy và ông coi đó như một sinh thú.

CÔNG LƯ

Ngày 20-4-64, ông Cẩn được xét xử trước Toà án. Ông Cẩn cũng bị khép vào các tội như Phan Quang Đông chỉ khác tội cố sát. Trên đây, xét từ nguyên nhân sâu xa th́ ông Cẩn chết v́ lư do tài sản. Nhưng ra toà, bản án tử h́nh dành cho ông lại bắt nguồn từ vụ án gián điệp miền Trung với Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Đắc Phương bị người của ông Cẩn xô từ trên lầu xuống và Phương chết như vậy tức là Phương bị cố sát chứ không phải Phương tự tử (?).

Buổi sáng ngày 20-4, khi toà xử, có vợ Nguyễn Đắc Phương ra làm nhân chứng. Một vài tờ báo mô tả rằng: 'Người vợ của ông Phuơng v́ thương chồng phẫn uất quá nên ra toà bị ngất xỉu”. Một người ở Huế biết quá rơ bà Phương nói rằng: "Bà Phương mới sinh được hai tháng đă phải ra toà nên ngất xỉu". Tại sao lại như thế ? Chồng bà đă chết từ lâu cơ mà ? Đại cương vụ án gián điệp tại miền Trung như thế này:

Hồ sơ vụ này đă có từ thời ông Giám đốc Công an Trung phần Nguyễn Chữ. Đầu năm 1960 mấy Linh mục Đà Nẵng có lên gặp Đức Tổng giám Mục Ngô Đ́nh Thục tŕnh bày về việc một số người bị bắt oan trong đó có cả tín đồ Thiên Chúa giáo. Đức cha Thục thay v́ hỏi thẳng Phan Quang Đông (v́ Đông có trách nhiệm trong vụ này) ngược lại Đức cha Thục lại vào thẳng Sài G̣n tŕnh bày nội vụ với Tổng thống Diệm, sau đó Tổng thống Diệm ra lệnh cho Đại tá Đỗ Mậu mở cuộc điều tra.

Đại tá Mậu đánh công điện cho Đại uư Thích, Trưởng khu An ninh Huế điều tra vụ này. Dĩ nhiên là động đến ông Cẩn, Đại uư Thích không dám đơn phương tiến hành. Đại uư Thích đến xin gặp Đại uư Minh bàn luận cùng ông Minh nên xử trí như thế nào. Ông Minh cho rằng, vụ này nên hỏi lại Phan Quang Đông và báo cho Đông biết sự thể nó như vậy. Sau đó sẽ tŕnh báo với ông Cẩn.

Đại uư Thích vào gặp ông Cẩn tŕnh bày về bức công điện từ Sài G̣n. Phản ứng đầu tiên là ông Cẩn tái mặt, ông bảo Thích điều tra lại xem có điều ǵ oan ức không. Ông Cẩn nói: Giết oan người ta th́ Chúa phạt đến đời con đời cháu. Sau An ninh Quân đội điều tra th́ đều xác nhận vụ án gián điệp có thật.

Ngày 20-4, Toà xử ông Cẩn về vụ ấy.

NGƯỜI TỬ TÙ

Một viên giám thị tại khám Chí Hoà (từng có nhiệm vụ canh gác pḥng ông Cẩn) đă kể lại với chúng tôi: Có một đêm đă khuya lắm, anh ta đi qua pḥng ông Cẩn, ṭ ṃ nh́n qua lỗ khoá. Anh ta thấy ông Cẩn đi đi lại lại quanh pḥng rồi ông gục đầu vào tường. Anh nghe thấy tiếng ông khóc nấc. Sau đó anh thấy ông Cẩn đi lại phía giường.

Ông quỳ dưới chân tường gục đầu vào nệm, anh vẫn nghe thấy tiếng ông khóc nấc. Một lần khác có việc vào pḥng ông, ông lại có vẻ b́nh thản và hỏi: "Chú có nghe tin tức ǵ ở ngoài nớ không? ". Tất nhiên là anh ta chỉ ầm ừ rồi mau chóng đi ra (v́ sợ bị nghi có liên lạc với tù nhân) . . . Lần nào gặp, ông Cẩn cũng có lời hỏi han anh như: lương bao nhiêu, có đủ ăn không, mấy con, bố mẹ c̣n không, có nuôi được bố mẹ không?

Buổi sáng ngày ông Cẩn ra pháp trường, người con gái bà Ấm (cháu gọi ông Cẩn bằng cậu) được phép vào tận trong pḥng giam thăm ông với sự hiện diện của viên chức quản lư. Chị ta giơ năm ngón tay ra hiệu cho ông Cẩn (có nghĩa là năm giờ bị xử). ông Cẩn khẽ gật đầu. V́ không nén được xúc động, người cháu gái khóc bù lu bù loa và nặng lời nguyền rủa những ai phản phúc với ông cậu ḿnh. Ông Cẩn th́ vẫn điềm đạm. Lời ông nói với cô cháu gái được ghi nhận như sau: "Không có ǵ đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có ǵ oán thán hết. Làm chính trị th́ phải biết sẽ có ngày như thế này ".

Buổi chiều, có những viên chức đă đưa ông từ trại giam ra pháp trường: Đại tá Trang Văn Chính, Giám đốc Cảnh sát Đô thành, Trung tá Nguyễn Văn Đức, Uỷ viên Chính phủ và luật sư Vơ Văn Quang cùng một số viên chức khác và có cả bà Ấm, người chị ruột của ông Cẩn.

Trước đó ông Cẩn bị bệnh sưng khớp xương và những tháng nằm trong tù ông gần như bị tê liệt, mỗi khi đi đứng phải có người xốc hai vai.

Song buổi chiều ra pháp trường một số người hiện diện đều ngạc nhiên, da mặt ông ta tự nhiên đỏ hồng, từ trên lầu xuống nhà ông vịn tường mà đi không cần người xốc nách. Ông vẫn thường nói với chị ông và các cháu (trong đó có bà Trần Trung Dung) “Không việc ǵ phải khóc lóc hay chửi rủa ai. Cứ cầu nguyện cho người ta. Cậu làm chính trị cậu đă nghĩ đến ngày phải như thế này".

Đại tá Chính và mấy người khác lên tiếng chào ông, ông cúi đầu thi lễ: “Xin chào các ngài ". Mọi người đều công nhận ông có vẻ thản nhiên và khoẻ mạnh hơn mọi ngày thường.

Khi ra pháp trường ông Cẩn lẻ loi một ḿnh. Mặt ông vẫn thản nhiên, ông bị trói vào cột (như báo chí đă tường thuật). Trung uư Bảo, sĩ quan báo chí Phủ Thủ tướng là người duy nhất đại diện báo chí nhà nước có mặt tại "sân bắn" lúc ấy. Trung uư Bảo thuật lại: Hai bàn chân của ông chỉ có năm ngón chấm đất, gót chân lơ lửng. Ông Bảo tiếp lời: Biết đâu lúc ấy ông Cẩn không nhận ra tôi Trung uư Bảo đứng cách tử tội Ngô Đ́nh Cẩn 15m về phía tay mặt. Đằng trước ông Cẩn là toán quân thực thi nhiệm vụ. Sau toán quân cách là báo chí. Do t́nh cờ của số phận, Bảo lại có mặt trong tư thế đại diện chính quyền trong buổi xử bắn ông Cẩn. Thật là éo le.

Nhân chứng nói: “Nh́n ông Cẩn lúc ấy tôi rướm nước mắt song vẫn cố t́nh làm ra vẻ thản nhiên". Định mệnh lịch sử có thật hay sao? Trước đó Bảo được Trung tá Khôi cho ra Huế mang thư riêng đến ông Cẩn.

Khi được Đại uư Minh đưa vào yết kiến, Trung uư Bảo rất ngạc nhiên. Ông Cẩn nằm trên chiếc ghế xích đu kê ở hàng hiên. Ông đang nhai trầu bỏm bẻm. Thấy Bảo ông Cẩn ngồi nhỏm dậy và tự tay kéo ghế mời ngồi. Ông gọi đích danh Bảo rồi hỏi thăm chuyện tṛ lan man về t́nh h́nh Sài G̣n, về gia cảnh và công việc làm ăn của Trung uư Bảo.

Vẫn khuôn mặt cũ, buổi chiều hôm ấy ra pháp trường, Trung uư Bảo thấy ông Cẩn vẫn giữ vẻ b́nh thản, da mặt đỏ hồng.

Rồi một loạt súng nổ, ông Cẩn trở về cơi thiên cổ.

Trước đó ông ta từ chối không chịu bịt mắt. Nhưng Trung tá uỷ viên Chính phủ nói “Đây là luật lệ bắt buộc như vậy ". Ông Cẩn đành chịu, ông cũng không quên lên tiếng xin mọi người tha thứ cho ông và những người đồng đạo có mặt lúc ấy đă đọc cho ông một kinh lạy cha trong đó có câu “Xin cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha tội chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi ". Khi bị trói vào cột, ông Cẩn được gặp riêng cha Thính thuộc ḍng Chúa Cứu thế là vị quan linh hướng của ông. Rồi sau là luật sư Vơ Văn Quan. . . Luật sư Quan nói chuyện với ông Cẩn một lúc, rồi đưa tay gỡ cặp kính trắng trên mắt ông, không khí thật trầm lặng và căng thẳng trong nỗi thê lương. Cha Thính quay đi... mắt vịLinh mục long lanh hạt lệ . Luật sư Quan khẽ thở dài như tiếc thương cho một phận người.

Chỉ một loạt đạn thứ nhất, ông Cẩn đi ngay. Đầu ông gục xuống, lắc lư . . .

Trung uư Bảo đến bên ông. . . Màu da đỏ hồng biến thành mầu xám nhạt. Không ai giữ được tiếng thở dài nghẹn ngào. Ông được tháo dây trói và đặt trên băng ca khiêng trở lại khám đường. Bảo đi theo. Trong gian pḥng hoang lạnh, không c̣n ai ngoài Bảo, người hiến binh áp giải và lát sau th́ bà Ấm lật đật chạy vào. ông Cẩn nằm trên băng ca, phủ tấm vải trắng loang lổ máu. Người chị ông khóc rưng rức, nước mắt giàn giụa trên g̣ má. Thế là xong một đời người.

__________________
 
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM

Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)
 
  #9  
Old 09-04-2008, 08:55 PM
Avatar của Trần Toàn Trung
Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline
Điều hành viên
 
Gia nhập: Dec 2007
Đến từ: Nation & Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết
Default

Chương VI : Trường hợp bà Ngô Đ́nh Nhu

Bà Ngô Đ́nh Nhu có điệu bộ vóc dáng của một minh tinh màn bạc hơn là một phu nhân theo cốt cách Đông phương. Trong 9 năm chế độ Ngô Đ́nh Diệm bà được suy tụng như một Đệ nhất phu nhân. Chính cái danh xưng này đă không thuận tai và làm cho dư luận đàm tiếu không ít. Ông Nhu tuy là một Cố vấn chính trị Phủ Tổng thống, nhưng trên danh nghĩa ông không có một vị thế công quyền. Ông Tổng thống sống đời độc thân mà người em dâu lại được "suy tôn" như Đệ nhất phu nhân th́ điều đó quả chướng tai, v́ nó không chính danh và hợp với chữ Lễ.

Nhưng từ nguyên do nào đă đưa bà Nhu lên địa vị một người đàn bà "uy quyền" khiến bao nhiêu khách công hầu của chế độ phải ra luồn vào cúi và coi bà như một nữ lănh tụ? Ai phong cho bà Nhu tước vị Đệ nhất phu nhân? Không ai phong cho bà cả. Nếu có th́ chỉ có cơ quan Thông tin thỉnh thoảng qua một vài bản tin, qua bích chương đă "bốc" bà lên hàng tột đỉnh công danh đó.

Xin trở lại quá khứ: Tháng 4-1955 khi Sài G̣n đang ngút ngàn khói lửa, B́nh Xuyên quyết ăn thua đủ với chính quyền, gia đ́nh bà Nhu vẫn c̣n ở căn nhà của bác sĩ Cao Xuân Cẩn trước dưỡng đường Saint Pierre Sài G̣n.

Khi thu hồi dinh Norodom, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm dành một pḥng phía bên -trái cho vợ chồng ông Luyện. Trong hai người em dâu th́ Tổng thống Diệm quư bà Luyện hơn. Giữa vợ chồng ông Luyện với Tổng thống Diệm có sự thân mật đậm đà và không xa cách như vợ chồng ông Nhu. Từ khi trở về nước chấp chính cho đến tháng 4-1955, vai tṛ của ông Ngô Đ́nh Luyện mới là quan trọng. Vai tṛ của ông Nhu lúc ấy c̣n mờ nhạt . . .

Nhưng có một điểm tâm lư như thế này: Tuy rất quư vợ chồng ông Luyện nhưng ông Luyện lại chỉ có toàn con gái. Tổng thống Diệm không thích cháu gái, ông rất yêu mến đám con trai của bà Nhu. Đó cũng là lư do dễ hiểu, khi cha con ông Ngô Đ́nh Khôi qua đời (1945) th́ mấy chú con trai của ông Nhu là kẻ nối dơi tông đường của ḍng họ Ngô Đ́nh. Ngô Đ́nh Trác đứng vào hàng đích tôn thừa tự và là bực trưởng của gia đ́nh Ngô Đ́nh sau này. Mấy chú con trai của ông Nhu trở thành nhịp cầu nối tiếp giữa vợ chồng ông Nhu và Tổng thống Diệm mặc dầu bản chất giữa Tổng thống Diệm và ông Nhu rất khác biệt nhau. Anh em không mấy khi gần nhau qua những phút tâm t́nh hàn huyên. Nhưng mấy đứa cháu trai lại trở thành nguồn hứng thú tinh thần của Tổng thống Diệm và đó cũng là nguồn hy vọng của ông Tổng thống c̣n nặng ḷng với nho giáo...trong t́nh cảm gia d́nh. Chính cũng nhờ ở điểm có mấy người con trai cho nên bà Nhu dă dễ dàng tạo được tư thế trong gia đ́nh nhà chồng.

Khi trận chiến giữa B́nh Xuyên và chính quyền bùng nổ, Đại tá Huỳnh Văn Cao bàn tính với Thiếu tá Vinh làm thế nào để di tản gia đ́nh bà Nhu vào trong dinh, nếu không B́nh Xuyên có thể làm "hoảng", giết ông bà Nhu hoặc bắt cóc mấy đứa con của bà để làm điều kiện thương thuyết. Ư kiến này mọi người đều cho là phải. Trước đó Tổng thống Diệm cũng tỏ ư băn khoăn ngỏ ư với ông Bằng "Mi bàn với Vinh và Cao làm sao che chở gia đ́nh ông Nhu ở Saint Pierre...B́nh Xuyên nó làm dữ quá..". Mấy hôm sau, gia đ́nh bà Nhu di tản vào dinh Độc Lập, ở trong một gian pḥng phía góc trái. Lúc đầu ông Nhu nằm ghế bố v́ không có giường. . .

Bà Nhu tuy chỉ học hết lớp Đệ tam (classe de seconde) trường Albert Sarraut Hà Nội nhưng bà lại có một tŕ thông minh thiên bẩm. Sinh ra trong nhung lụa, lại thuộc gia đ́nh quan lại vọng tộc, bà Nhu từ tấm bé đă ở trong một môi trường tháp ngà, hầu như không liên hệ với nếp sống Việt Nam. Có thể nói, bà thuộc một giai cấp không có trong xă hội Việt Nam. Cái giai cấp đó được h́nh thành trong chiếc nôi văn hoá của phương Tây. Bà là thứ trưởng giả thứ thiệt. Nhưng thứ trưởng giả này là một chất hỗn hợp giữa bản chất hoàng phái (ḍng máu bên ngoại) cùng quan lại vọng tộc (ḍng máu bên nội qua gia đ́nh ông Trần Văn Thông) . Thân mẫu của bà là cô gái Huế thuộc hàng khuê các sông Hương núi Ngự. Thân phụ bà tuy hiền lành nhưng trong con người của ông Trần Văn Chương đă có tới 80% chất Tây. Quê nội trong Nam, quê ngoại ở xứ Huế, lại sinh trưởng ở đất Bắc, bà trở thành một thứ lưu dân giữa 3 miền Bắc, Trung, Nam.

Từ nhỏ học trường Pháp, và trong gia đ́nh sống theo lối Pháp, cha mẹ con cái chỉ nói tiếng Pháp như một ngôn ngữ mẹ đẻ, bà Nhu trở thành một thứ đầm con khi c̣n cắp sách đến trường.

Tóm lại, môi trường và nếp sống của bà hoàn toàn xa cách với nếp sống của quảng đại quần chúng Việt Nam. Khi trở về làm dâu họ Ngô Đ́nh bà Nhu trở nên lạc lơng.

Giữa hai họ Ngô Đ́nh và Trần Văn tuy là ḍng quan lại cũ nhưng họ Trần Văn đă "tây hơn cả tây”. Họ Ngô Đ́nh trước năm 1945 thường bị giới đường quan phê phán là "quê". Quê có nghĩa là không biết ăn chơi, không có một đời sống thích nghi với nếp sống phương Tây và hầu hết giới quan lại thời đó đều coi đây là h́nh ảnh mâu thuẫn và hoàn toàn khác biệt giữa hai gia đ́nh thông gia, Ngô Đ́nh và Trần Văn. Qua tấm ảnh trong album của gia đ́nh Ngô Đ́nh chúng ta thấy cụ ông Ngô Đ́nh Khả đứng cao lênh khênh, mặc áo đại quan, đeo bài ngà kim nhưng chiếc quần lại cao quá mắt cá chân, rộng thùng th́nh. Ông là h́nh ảnh một vị thượng quan thế kỷ 18. Bà Khả thấp, mặc áo dài đen, quần th́ ống thấp ống cao, bế con. Chung quanh hai ông bà là một đàn con yêu vận quốc phục. Riêng Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm lại mặc một bộ đầm sọc (loại tây đă phế thải) và đi chân đất. Nh́n cảnh đó, ta có ngay một mối cảm tưởng sâu xa về cảnh hàn vi của một Lễ bộ Thượng thư Nam triều c̣n gia đ́nh bà Nhu th́ trái hẳn, ông Trần Văn Chương mặc Smoking rất đúng điệu trưởng giả Anh quốc...Bà Chương lộng lẫy trong áo dài gấm, vấn tóc trần. Chính ảnh một phu nhân tân thời vào những năm l930...trong khi con cái bà Chương đều mặc "đầm" rất đúng điệu. Chú con trai mới mấy tuổi cũng Com lê hoàn toàn trưởng giả.

Trong gia đ́nh ông Trần Văn Chương, vợ chồng con cái đều dùng tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ. Bà Nhu vốn đă nổi tiếng là một mệnh phụ giao du rất rộng. Bà thuộc loại "đầm galăng”.

Được ấp ủ và giáo dục trong một trường Tây phương, khi c̣n đi học bà đă nổi tiếng là một tiểu thư lả lướt, lăng mạn.

Ông Nhu vốn là bạn của vợ chồng luật sư Chương. Cuộc t́nh duyên giữa chú Nhu và cô bé Lệ Xuân là một cuộc t́nh duyên "chú cháu”. Chú lớn hơn cháu trên cả hai mươi tuổi.

Kể từ năm 1945, gia đ́nh ông Nhu trải qua cuộc “phong trần" khi th́ ở Đà Lạt, khi th́ ở Sài G̣n . . .ông Nhu "thất nghiệp". . . 6, 7 năm trời . Khoảng thời gian này đều do tay bà Nhu tần tảo thu xếp. Từ nếp sống một tiểu thư trưởng giả đổi qua vai tṛ người vợ một ông chồng "lừng khừng và thất nghiệp chính trị" bà phải lo toan mọi bề và thời gian này với một người như bà Nhu không tránh khỏi tâm lư của kẻ tự tôn với dĩ văng vàng son và tự ti với hiện tại cam go đầy sinh kế.

Dù có sự trợ cấp của Đức cha Thục, gia đ́nh vẫn không thoát khỏi cơn khủng khoảng kinh tế kéo dài 6 năm. Thời gian này, chuyện xô xát giữa đôi vợ chồng trẻ khó bề tránh khỏi. Theo sự tiết lộ của một số gia nhân thân cận...th́ bà Nhu luôn luôn to tiếng. . . với ông chồng. Ông Nhu không biết kiếm đâu ra tiền, mọi sự đành "một tay nhờ mụ nó". Khi một người đàn ông, dù người đàn ông đó là loại siêu đẳng nhưng từ một điếu thuốc cũng do tiền vợ mua th́ tất nhiên do kết quả tiệm tiến của một quá tŕnh tâm sinh lư người đàn ông đó không thể nào không bị vợ chi phối. Vợ không khinh đă là đại phước lắm rồi. Nếu vợ vẫn trọng vọng ḿnh th́ lại càng tạo nên yếu tố tâm lư giúp cho ngườivợ dễ dàng khuất phục ông chồng và quyền uy của người vợ theo thời gian mà thấm vào trái tim và trí óc ông chồng, không bao lâu quyền uy của chồng trở thành quyền uy của vợ. Ông Nhu ở trong trường hợp này.

Kể từ năm 1952, t́nh trạng kinh tế gia đ́nh của vợ chồng ông Nhu càng thêm sa sút, đến độ tê liệt. Bà Nhu đă phải bán hết nữ trang. Từ năm 1952 chiếc ṿng bà đeo cổ cuối cùng cũng phải đem đi phát mại. Khi ông Nhu quay sang làm tờ Tuần báo Xă hội th́ cảnh nhà lại càng tệ hại. Những cộng tác viên của ông dạo đó phải mua tặng ông Nhu từng bao thuốc, đăi ông từng bữa quà sáng. Quần áo của ông Nhu cũng đă xác xơ. Ông chỉ c̣n lại một vài bộ đồ lớn c̣n lưu giữ từ thời tiền chiến. Bà Nhu th́ đi xe đạp...ông chồng Nhu vẫn đi ké xe "muôn thuở" từ năm 1945 cho đến 1954.

Bản chất ông Nhu vốn trầm lặng một cách khó hiểu, cho nên cứ mỗi lần bà Nhu la lối là ông ngồi im không một lời nói năng, nét mặt chảy dài. X́ căng đan như một biến cố tâm lư trong đời ông là dạo cuối 1953 bà Nhu đă doạ tự tử sau một trận xô xát . Trước sau ông Nhu vẫn là kẻ thua cuộc v́ bất lực trong cuộc âm mưu sinh kế cho gia đ́nh. Nguyên nhân chỉ v́ cạn tiền không c̣n cách nào xoay xở để sinh sống. Với một con người trí thức cỡ nặng như ông Nhu trong t́nh cảnh ấy kéo dài qua nhiều năm th́ áp lực và ảnh hưởng của vợ đối với chồng (nhất là chồng già vợ trẻ) mỗi ngày càng thấm sâu lan rộng. . . do đó bà Nhu càng dễ dàng khuynh loát, khống chế bao toả mọi việc...từ gia đ́nh riêng đến giao tế bên ngoài. Trước năm 1952 đối với vợ ông là người cứng rắn, không thích ai bàn tính chuyện thế sự với bà vợ...mà ông cũng không bàn thảo ǵ với bà vợ c̣n non trẻ.

Ông vẫn coi vợ là một cô cháu gái ngây thơ. Nhưng bà Nhu lại nhiều lần muốn chứng tỏ ḿnh không c̣n nhỏ dại và đủ khả năng để giúp chồng làm việc lớn. Trong vụ tranh chấp giữa tướng Hinh và Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, bà đă chứng tỏ bà có khả năng thực. Dạo ấy bà Nhu đă len lỏi đến nhiều nơi để vận động ông tướng Hinh và kể cả chuyện tham gia sách động biểu t́nh tháng 9 năm 1954. Giữa lúc t́nh h́nh gay go nhất, bà Nhu nhảy vào ṿng với một lập trường dứt khoát là phải đuổi cổ anh "tây con" sang Pháp. Tháng 4 năm 1954, khi Tổng thống Diệm nhận được điện của Quốc trưởng Bảo Đại triệu qua Cannes, bà Nhu đă mạnh bạo tỏ thái độ quyết hệt và t́m cách ngăn không cho ông anh chồng sang Pháp và chủ trương lật đổ ông Vua này. Về vụ B́nh Xuyên bà cũng nhảy vào ṿng (dù không ai yêu cầu) nhưng bà lại chứng tỏ có khả năng và nhiều sáng kiến trong việc giúp anh và chồng giải quyết đại sự trong một t́nh thế sôi bỏng.

 


Khi gia đ́nh bà Nhu dọn vào dinh Norodom, lúc đầu chỉ có tính cách ở tạm ít lâu để lánh nạn B́nh Xuyên. Gia đ́nh ông Luyện tự động nhường căn pḥng phía bên trái dinh cho vợ chồng ông anh và dọn ra ở toà nhà trắng phía đường Nguyễn Du. ông bà Nhu ở căn pḥng này cho đến vụ ném bom 27-2-1962.

Trong gia đ́nh, ngoài Đức cha Ngô Đ́nh Thục và Ngô Đ́nh Diệm th́ không ai ưa bà Nhu cả. Riêng ông Luyện lại coi thường bà chị dâu và tỏ ra bất măn khó chịu mỗi khi thấy bà chị dâu “can dự vào" chuyện quốc sự. Sự bất đồng giữa ông Nhu và ông Luyện trở nên rơ rệt qua vụ truất phế Bảo Đại. Ông Luyện là bạn thân của Bảo Đại từ hồi c̣n đi học và chính ông đă đóng vai tṛ giao liên dàn xếp với Bảo Đại qua vụ tướng Hinh và B́nh Xuyên. Ông Nhu th́ chủ trương phải truất phế cựu Hoàng Bảo Đại và thành lập chế độ Cộng hoà, dĩ nhiên là bà Nhu hùa theo. Bà lại thường dùng những ngôn ngữ đao to búa lớn . . .Thái độ và lời nói của bà vừa lấn át người đối thoại, vừa như mệnh lệnh khuất phục kẻ đối lập với bà. Trong thời gian 3 tháng qua Pháp để dàn xếp với Bảo Đại vào đầu năm 1955 lúc ông Luyện trở về th́ quyền Cố vấn đă hoàn toàn nằm trong tay ôngNhu, có nghĩa là bà Nhu cũng tham gia ít nhiều vào quyền Cố vấn đó. Tổng thống Diệm đă dặn riêng mấy người thân cận như Đại uư Cao, Thiếu tá Vinh như “ở nhà có chuyện ǵ xảy ra đừng có kể lại cho ông Luyện nghe". Ư Tổng thống Diệm không muốn làm phật ḷng ông em út mà Tổng thống I)iệm thương nhất trong nhà, nhưng ông lại nể ông Nhu hơn và phục cái tài của ông em học giả. Từ dạo đó, quanh Tổng thống Diệm đă chia thành hai phe, một phe thân ông Luyện, một phe thân ông bà Nhu. Mấy gia nhân thân cận như ông Bằng cũng bắt đầu công khai va chạm với gia đ́nh bà Nhu.

Sở dĩ phải mô tả và nhận định về con người và bản chất thực của bà Nhu ở thiên bút kư này là v́ những t́nh cờ của lịch sử và số phận hẩm hiu của Việt Nam, bà Nhu đă có cơ hội tham dự ít nhiều vào một số biến cố lịch sử năm 1963. Điều quan trọng hơn là bà Cố vấn Nhu có một phần trách nhiệm trong biến cố đó.

Vấn đề đại sự quốc gia nhiều khi lại bắt nguồn từ những sự việc rất tầm thường. Biến chuyển lớn của lịch sử hơn một lần lại bùng nổ từ những xúc cảm và ư kiến phiến diện của cá nhân lănh đạo cùng những ảnh hưởng cảm t́nh chung quanh cá nhân đó. Biến cố 1963 đă nói lên điều này và bà Nhu đă góp phần "đổ dầu thêm vào ḷ than hồng năm 1963".

Chẳng hạn như chiếc “ghế khoái lạc " của bà Nhu được triển lăm tại Pḥng Thông tin Đô thành năm 1964 (đây chính là chiếc ghế ngồi uốn tóc).Từ năm 1962 th́ bà Nhu không ra tiệm cắt uốn tóc nên một tiệm uốn tóc ở đường Catinat đă đưa chiếc ghế này vào dinh, mỗi tuần cho thợ vào một lần, chiếc ghế đó bỗng nhiên được đặt tên là ghế khoái lạc để chứng tỏ tội ác của bà Nhu cùng chế độ Ngô Đ́nh Diệm . . . chiếc ghế khoái lạc đó đă ít nhiều kích động quần chúng tạo dựng nên bao nhiêu điều đáng ṭ ṃ qua con người đầy sôi nổi như bà Nhu.

Trong 9 năm đă có biết bao nhiêu "sự thực" như vậy được diễn tả một cách mê ly gay cấn trong dư luận quần chúng. Mà sự thực về bà Nhu như thế nào? Trước hết, nếu nói về tội th́ bà có một "tội lớn" như thế này: "Bà không biết ǵ về chính trị nhưng lại hăng hái tham gia chính trị”.
Sinh trưởng trong nhung lụa của một tháp ngà trưởng giả Tây phương, không thích nghi với đời sống của quảng đại quần chúng, nhưng lại công khai nhảy ra hoạt động hàng đầu...Tất nhiên bà phải dấn ḿnh vào thực tế nhưng lại không thích nghi được, thực tại trở nên đối địch với chính bản chất trưởng giả và xa lạ quần chúng của bà. Thực ra th́ chính quyền dạo đó cũng muốn tạo lực lượng phụ nữ...V́ đây là một lực lượng đáng kể và nếu biết cách tổ chức và vận động th́ lực lượng này là một hậu thuẫn to lớn. Bà Nhu có thể làm được điều đó cùng với ưu thế và quyền hành (trong bóng tối mà trong bóng tối mới là quan trọng). Bà Nhu lại quyết tâm hoàn thành gíâc mộng trở thành lănh tụ của giới phụ nữ miền Nam Việt Nam. Ngay trong gia đ́nh nhà chồng -một gia đ́nh thượng quan nho phong - bà Nhu c̣n không sống được cho thích nghi với đời sống, huống chi quảng đại quần chúng, nhất là quần chúng Việt Nam vốn trọng nam khinh nữ, người dân Việt Nam vốn chỉ tôn mộ khâm phục những người như bà huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh, Phan Bội Châu phu nhân...

Những lư do nào khiến bà Nhu tạo được cơ hội nhảy vào sân khấu chính trị và từ năm 1956 bà đă gây được nhiều thanh thế trong dư luận quốc nội và quốc ngoại...Nói là bà quá ồn ào nhưng ồn ào có kỹ thuật tŕnh diễn. Lư do gần như là tầm thường nhất đă giúp bà Nhu thành công trên con đường của bà, trước hết và đáng kể chỉ v́ bà Nhu trở thành con dâu trong gia đ́nh họ Ngô và độc quyền dành cho họ Ngô mấy cậu con trai để nối dơi tông đường (măi sau này ông Luyện mới có con trai). Tổng thống Diệm độc thân và mấy đứa cháu trai trở thành nhu cầu cần thiết cho đời sống t́nh cảm của một con người c̣n nặng ḷng với gia tộc và truyền thống như Tổng thống Diệm. Sau nữa là dù Phủ Tổng thống đă có Nha Nghi lễ, có Sở Nội dịch, ông Tổng thống Diệm vẫn cần phải có một phụ nữ để lo toan công việc tiếp khách và nhiều vấn đề khác thuộc phạm vi giao tế nhân sự mà thiếu một người đàn bà cũng gây nên nhiều nan giải, bế tắc. Bà Nhu lại có sở trường giao thiệp, có đôi chút khiếu thẩm mỹ. Trong khi Tổng thống Diệm cũng như ông Nhu hoàn toàn mù mờ về thẩm mỹ và giao tế (lo toan việc nội trợ đều một tay bà Nhu điều động) như trang hoàng pḥng khách, sắm sửa các đồ trang trí và trang sức . Bà lại luôn luôn tỏ ra con người mẫn tiệp, tháo vát và khéo léo (khi tiếp phái đoàn ngoại quốc) Bà lại nói Pháp ngữ và Anh ngữ rất lưu loát.

Từ tư thế một nữ tiếp viên của dinh Độc Lập, lại thêm tham vọng lănh tụ của phụ nữ cùng với uy thế và quyền hành của chồng và anh chồng, bà Nhu được mặc nhiên chấp nhận trên thực tế một uy quyền bất khả kháng và uy quyền đó, cách này hay cách khác dă chi phối ít nhiều trong sinh hoạt quốc gia và công vụ.

Lực lượng phụ nữ của bà Nhu qua phong trào Phụ nữ Liên đới lại chỉ gồm toàn vợ mấy ông lớn cho nên không có tính cách quần chúng và chỉ nặng về tŕnh diễn. Khi các bà lớn tŕnh diễn chính trị th́ quả thật không hấp dẫn được ai và trở thành tṛ cười cho thiên hạ.
Bà Nhu chịu đọc sách lại có ông chồng "Cố vấn”, nên bà cũng có chút kiến thức. Tuy kiêu ngạo và tự tôn nhưng gặp việc khó khăn nan giải, bà vẫn chịu khó t́m hiểu ư kiến qua một vài cộng sự viên thân cận của ông Nhu.

Bà đối đáp rất mau lẹ, phản ứng kịp thời. Đó là ưu điểm của bà. Nhưng trong hoạt động chính trị, phản ứng nóng nảy bốp chát của một người đàn bà ở địa vị bà Nhu đă trở nên bất lợi cho bà. Khuyết điểm lớn của bà là đă không tạo được những cử chỉ phong độ, ngôn ngữ hấp dẫn được quần chúng kể cả giới phụ nữ.

Nếu ư thức được như vậy, lư ra bà Nhu phải hoàn toàn đứng trong bóng tối một cách khiêm nhường, đằng này bà Nhu lại xuất hiện với tất cả sự lộng lẫy loè loẹt với chiêng trống nhịp nhàng của một số các bà tướng tá, Bộ trưởng, Tổng giám đốc và kể cả mấy vị tu mi " râu mày nhẵn nhụi " . . .

Trước hết là dịp lễ Hai Bà Trưng, bà Nhu muốn làm sống lại khí thế của hai vị nữ anh hùng Dân tộc này...và có nhẽ bà Nhu cũng muốn nhân cơ hội trở về nguồn lịch sử để tạo một thần tượng dẫn đạo phụ nữ. Theo bà Nhu “Nam giới có Lê Lợi, Quang Trung th́ nữ giới cũng có Hai Bà Trưng như Pháp có Jeane d’Arc". Trước năm 1963, lễ hội Hai Bà Trưng được mô tả như một lễ Quốc Khánh, không có ai công khai phản đối được. Nhưng v́ tŕnh diễn quá nhiều nên lại không thuận t́nh. Xin dẫn chứng về cái gọi là không thuận t́nh như thế này:

Lễ đài trần thiết thật long trọng tôn nghiêm có bàn thờ, có tàn lọng, có đồ bát biểu, gươm đao, khí giới . . . trên bục lớn của lễ đài trải nhung đỏ (màu tiêu biểu cho sự thiêng liêng của dân tộc ) . Lễ nghi dành cho bậc anh hùng dân tộc như vậy là đúng. Nhưng người chủ lễ rất quan trọng. Dư luận luôn lưu ư về điểm này. Bà Nhu với tư cách đại diện phụ nữ Việt Nam và Đại diện Tổng thống, nhất là Đại diện Tổng thống nên bà được hưởng đầy đủ nghi lễ, nào là xe dành riêng cho Tổng thống lại có đoàn xe Harley hộ tống, khi đến lễ đài lại có đủ mặt Bộ trưởng, tướng lănh tăm tắp đứng lên "kính chào" theo nghi lễ quân cách. Trên nguyên tắc th́ đúng là vị đại diện của Tổng thống đuợc quyền hưởng nghi lễ như vậy.

Nhưng thực tế chính trị và tâm lư truyền thống Việt Nam không chấp thuận như vậy. Dù cho là vợ một Tổng thống, người Việt cũng cảm thấy khó chịu. Nếu vợ ông Tổng thống cũng được hưởng nghi lễ đón tiếp dành riêng cho vị nguyên thủ quốc gia ở Tây phương th́ lại khác, huống chi bà Nhu chỉ là em dâu một Tổng thống vốn được tôn trọng theo hàng trưởng lăo quốc gia. Do đó mà dư luận bàn tán mỉa mai thành ra "kính chẳng bơ phiền " không ít, giọng nói của bà Nhu qua các bài diễn từ cũng là một thất lợi v́ giọng tuy mạnh thật, tuy có lửa nhưng lại vốn ra vẻ lănh tụ, như răn dạy, truyền bảo, thêm vào đó tiếng nói lại thiếu ngọt ngào truyền cảm, thiếu nữ tính . . .
Khi đă có quyền hành, có địa vị (dù là trong bóng tối ) và một uy tín cần phải được bảo vệ trong tư thế lănh đạo . . . ông Nhu hay ai cũng không thể làm cách nào khác hơn là nhịn một người vợ hay lớn tiếng, dám làm những việc động trời như bà Nhu . . .ông Nhu trở thành bất lực không thể ngăn cản vợ . . . đó chỉ là hậu quả bản chất của kẻ nhu nhược.

Vả lại dưới con mắt chủ quan của ông Nhu th́ người vợ ông không làm ǵ quá đáng, trái lại công việc của bà Nhu lại hợp lư và hữu ích cho quốc gia. Lấy việc bà tham gia Luật gia đ́nh là một thí dụ.

Kể từ tháng 12-1957, Quốc hội họp bàn sôi nổi về dự án của Luật Gia đ́nh, bà Nhu đă từng bỏ pḥng họp ra về với thái độ, ngôn ngữ rất ngang ngược ngạo mạn. Đối với một tín đồ Thiên Chúa giáo th́ đời sống lứa đôi chỉ có một vợ một chồng và không được li dị, vấn đề đa thê không cần đặt ra. Nhưng xă hội Việt Nam không phải là xă hội phương Tây và dân chúng Việt Nam không phải tất cả đều là tín đồ Thiên Chúa giáo Thiên Chúa giáo chỉ chiếm (15% dân số) cho nên Luật này trên lư thuyết th́ hay song thực tế không phù hợp với bản chất và nếp sống của quảng đại quần chúng lúc bấy giờ. Hơn nữa giới âm thầm phản đối chính là giai cấp tướng tá và công chức cao cấp cũng như những công kỹ nghệ gia giàu có, phần lớn các vị này đều bị kẹt nếu không có vợ bé th́ cũng lén lút giao du.

Bà Nhu đă lư luận " Đă đến lúc người phụ nữ đứng lên b́nh đẳng với người chồng ngay trong phạm vi gia đ́nh , chỉ một vợ một chồng thôi. . . chỉ những kẻ hư hỏng không ra ǵ mới lấy vợ nhỏ rồi bỏ phế gia đ́nh”. Bà Nhu vẫn tin là ḿnh đi đúng đường với chủ trương cách mạng xă hội, giải phóng phụ nữ của thế giới, trước hết từ gia đ́nh, để từ đó ra ngoài xă hội. Lư luận và chủ trương của bà nghe xuôi tai và hợp lư. Nhưng điều căn bản là cải tạo xă hội, không phải chỉ bằng một biện pháp, ban hành một vài đạo luật.

Có thiện chí và hăng say song bà Nhu vẫn bị phản đối, dân chúng lại thờ ơ. Trước hết v́ bà Nhu không nắm được một vài định luật rất giản dị, đơn giản của chính trị (Những nhà lănh đạo của chính quyền ông Diệm sau 1963 đều mắc phải lỗi lầm như vậy, v́ là một thứ lănh tụ "non" thiếu học tập thiếu kinh nghiệm, không có căn bản chính trị ).

Một trong những "định luật chính trị " căn bản của người lănh đạo là không bao giờ được lấy chủ quan của ḿnh để biến đổi khách quan (tức thực tại chính trị ) nhưng ngược lại phải biết biến hoá chủ quan lănh đạo của ḿnh. Và dung hoà chủ quan với khách quan tức là hoà đồng bản thân với thực tại để nắm thực tại.

Bà Nhu là người có tài thực, có thiện chí, song tính kiêu ngạo và chủ quan cũng đă đủ làm cho bà trở thành đối tượng cho bao nhiêu điều phẩm b́nh, dị nghị đàm tiếu...Mẫu người như bà Nhu sẽ dễ dàng thành công trong xă hội Mỹ. Ngôn ngữ cử chỉ cùng những phản ứng lanh lẹ của bà sẽ dễ dàng thu hút được đám đông. Nhưng đám đông trong quần chúng Việt Nam lại trở nên xa cách với ngôn ngữ, dáng điệu và cử chỉ của bà Nhu. Qua mấy lần ra ngoại quốc tại Maroc, Brasil...bà Nhu đă thành công nhờ ưu điểm trên. C̣n chuyến đi giải độc tại Hội nghị Quốc tế nghị sĩ tại Belgrade (Nam Tư 1963 ) và Mỹ quốc bà Nhu đă chứng tỏ được khả năng đặc biệt của ḿnh và nhất là tại Mỹ quốc bà đă gây được nhiều sóng gió làm kinh động chính quyền Kennedy và Đảng Dân chủ Mỹ. Nhưng với xă hội Việt Nam, bà hoàn toàn thất bại trước đám đông.

Người ta tự hỏi, tại sao một trí thức như ông Nhu lại không kiềm chế được người vợ? ông Nhu sợ vợ ? Nói cho ngay t́nh th́ ông Nhu không phải là một người sợ vợ, ông rất ghét "chuyện đàn bà dính vô", nhưng ông đă bị bà dắt mũi.

Bộ Luật Gia đ́nh đă gây sôi nổi trong dư luận một thời. Thực tế th́ Luật ấy cho đến khi ban hành và thực thi cũng không tạo được một tác dụng lớn lao nào trong tầng lớp dân chúng. Phản ứng của dân chúng đối với Luật gia đ́nh không có ǵ đáng quan tâm, v́ luật pháp hăy c̣n hết sức xa vời so với quảng đại quần chúng Nam Việt Nam bởi nó không công bằng với tất cả...Dù có luật hay không luật, đời sống vợ chồng trong giới b́nh dân đều dựa trên căn bản t́nh cảm "yêu nhau giá thú bất luận tất" . Nhưng đối với giới thượng lưu và nhất là giới tướng tá và công chức cao cấp tuy ngoài mặt hân hoan chào mừng Luật Gia đ́nh,nhưng trong ḷng đau đớn không ít và chính mấy giới này đă góp công không nhỏ trong việc tạo dựng "dư luận xấu” về bà Nhu. Một số quan toà xuất thân từ hàng quan lại thuộc địa, trở thành nạn nhân thứ nhất của Luật gia đ́nh. Có ông Toà hai ba vợ...như vậy th́ trách chi không oán ghét bà Nhu. Bà Nhu thường bàn luận với mấy cộng sự viên của ông Cố vấn chính trị như thế này " Kinh nghiệm trong gia đ́nh nội ngoại của tôi, tôi biết quá rơ. Ai có vợ nhỏ th́ đang trong sạch cũng trở thành tham nhũng, gia đ́nh chia rẽ, rồi ḍng con này, ḍng con kia cứ lung tung lộn xộn ". Khởi từ kinh nghiệm này, bà Nhu quyết thanh toán chế độ đa thê, mà bà nghĩ rằng nếu hoàn thành là bà đă giải phóng cho nữ giới cái thảm cảnh gia đ́nh vợ nọ con kia (chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng). Trước diễn đàn Quốc hội năm 1957, cũng đă có nhiều dân biểu mạnh dạn lên tiếng công kích dự án Luật này. Bà coi mấy ông dân biểu không đi đến đâu cả. . .bà Nhu coi thường không muốn nói là khinh miệt một số dân biểu như vậy cũng có nguyên nhân. V́ rằng bà cũng biết rơ chân tướng của các ông (Đời tư lẫn đời công cũng chẳng có ǵ đẹp đẽ). Chức dân biểu của họ phần lớn cũng do "công ơn ban phát...". Do dó mà phản ứng của một số dân biểu trở thành vô hiệu.

Trong một phiên họp vào khoá đầu năm 1959, bà Nhu công khai đả kích một số dân biểu ngay tại diễn đàn Quốc hội và cho rằng “Ai chống đối Luật Gia đ́nh chỉ là những kẻ ích kỷ hèn nhát muốn lấy "vợ lẽ ". Thái độ chống đối đó thật là hèn”. Mấy ông dân biểu quyết làm lớn vụ này và đ̣i bà Nhu phải xin lỗi . . .về thái độ hống hách của bà. Sau đó bà Nhu tỏ ra phục thiện và ra một thông báo cải chính là bà không nói các dân biểu “thật hèn” nhưng bà chỉ nói dân biểu "thất hẹn ".Cách cải chánh của bà kể ra cũng thông minh và khéo léo.

Tất nhiên ai cũng hiểu rằng, không ai lại nói “thái độ thất hẹn" cả. Nhưng ở đây bà bẻ quặt hai chữ thật hèn thành thất hẹn. Bà đă "chơi chữ " mộtcách thông minh và đúng lúc. Mấy ông dân biểu đành chịu đựng một cách hoan hỉ. Phụ hoạ với bà Nhu c̣n một số nữ dân biểu thuộc "gà nhà" . Nhưng hầu hết tŕnh độ chính trị c̣n non kém lại thiếu thông minh nên mới có một nữ dân biểu lớn tiếng bênh vực luật gia đ́nh và đưa ra một "định thức": Đàn bà đẻ ra đàn ông. Nhờ câu nói "phàm phu tục tử "này mà cả mấy năm trời báo chí có đề tài đem ra "thị phi".
Thực tế là Luật Gia đ́nh có nhiều điểm phù hợp với tinh thần thượng tôn hạnh phúc và bảo vệ trật tự xă hội qua trật tự gia đ́nh. Thế nhưng lại có một số điều quá khắt khe, không phù hợp với thực tế, thiếu căn bản của một tinh thần xă hội trong truyền thống Việt Nam . Do đó mà cái hay cái đẹp đều bị che lấp bởi cái dở. . . Khi một người nh́n trang giấy trắng thường chỉ chú ư đến một vết mực đen (dù vết mực có nhỏ và ở ngoài lề). Bà Nhu hănh diện với Luật gia đ́nh nhưng luật ấy có tác dụng không lại là chuyện khác. Sau đó bà lại đưa ra dự án Lành mạnh xă hội. Trước đó tháng 5-1958 tại Quốc hội bà Nhu đưa ra đề nghị thành lập phong trào Phụ nữ Liên đới và kêu gọi các bà vợ công tư chức quân nhân tham gia phong trào. Quốc hội khóa II (tháng 8-1959) đă có 9 nữ dân biểu trong đó có bà Nhu. Bà lại khởi công hoàn thành dự án Luật "Lành mạnh xă hội ". Sau cái tên này bị đả kích nên được đổi thành Luật Bảo vệ luân lư (ban hành năm 1962 bị băi bỏ sau đảo chính bằng sắc luật 2-1963).

Dự luật này cũng gây sôi nổi không ít. Xét cho công bằng, khi đưa ra dự luật này, bà Nhu nắm ngay được chính nghĩa v́ rằng chỉ có một thiểu số là nạn nhân của Luật Bảo vệ luân lư. Thiết tưởng dù là ở một thời đại nào, ở một chế độ nào, (ngoại trừ chế độ của những kẻ hănh tiến ăn chơi sa đoạ và coi nhảy đầm như một lư tưởng đáng tôn thờ) không ai có thể tán thành cho các thiếu niên uống rượu hay hút thuốc hoặc ủng hộ cho nạn phá thai, đồng bóng. ấy thế mà người ta vẫn chống đối và hè nhau tạo nên niềm công phẫn. Bà Nhu lại trở thành trung tâm của bao nhiêu mũi dùi dư luận. Dĩ nhiên luật ấy cũng có những điểm quá đáng và thiếu thực tế.

Trên quan điểm quần chúng cũng như phong tục truyền thống dân tộc th́ dự Luật Bảo vệ luân lư của bà Nhu là một công tŕnh tốt đẹp với thành ư xây dựng rất rơ rệt, 15 triệu đồng bào bất quá chỉ có vào khoảng nửa triệu ảnh hưởng đến luật này, nhưng chính lớp người thiểu số đó lại có tác dụng sa đoạ hoá xă hội miền Nam Việt Nam và đồng thời vong bản hoá bản chất dân tộc cũng như bôi đen cả tập tục tốt đẹp của xứ sở. Do đó không thể nào buông thả cho một thiểu số này sống phóng đăng được trong khi quảng đại quần chúngvẫn phải sống đời lầm lũi cơ cực và trong khi mà nếp sống của quảng đại quần chúng vẫn tập thành trên căn bản của truyền thống cao đẹp.

Về công tŕnh này, bà Nhu đứng hẳn về phía quần chúng, lập trường là lập trường xă hội dân tộc. Nhưng bà lại gặp phải phản ứng dữ dội tuy ngấm ngầm. Nhiều tướng tá hay một số công chức cao cấp đều mê cái món nhảy đầm. Các bà lớn th́ bài bạc.

Phần nhiều con các ông lớn th́ rượu chè thuốc sái (con nhà nghèo và trung lưu th́ lấy tiền đâu ra)...Các vũ nữ lại là một thành phần liên kết ruột thịt với một số tướng tá công chức cao cấp, công kỹ nghệ gia ăn chơi và giới "văn minh " đô thị. Bà Nhu vô t́nh đă đụng độ với những địch thủ ghê gớm đó.

Quảng đại quần chúng từ nông thôn đến giới trung lưu không ai chê trách ǵ Luật Bảo vệ luân lư (có hay không đối với họ không quan trọng) nhưng một giới khác th́ Luật này trở nên quan trọng.

Việc cấm nhảy đầm của bà Nhu cũng gây bất măn lớn trong giới ngoại kiều tại Sài G̣n (Tây phương coi nhảy đầm là một nghệ thuật, một tṛ giải trí thanh lịch truyền thống) . Trong một cuộc gặp gỡ mấy bà, ông Taylor không đề cập đến vấn đề nào khác hơn là chuyện nhảy đầm. Ông cho rằng sự cấm đoán như vậy là kỳ quái, lỗ măng, sống sượng.

Đáng lư chuyện nhảy đầm nếu cấm th́ cũng nên linh động uyển chuyển, nhưng kẻ thi hành lại quá hăng say trong việc lập công. Trường hợp nữ giới thuộc lănh sự đoàn người Liban, cư ngụ tại đường Trương Minh Kư, đă bị nhân viên công lực gây phiền phức, tạo nên dư luận không tốt trong giới ngoại giao.

Bà này đă có tuổi. Nhân dịp một tàu hàng Líban cập bến, một số thuỷ thủ đồng hương của bà đến thăm rồi nghe nhạc theo vũ điệu . . . Thế là cảnh sát cũng ập vào lập biên bản đem về bót. Rất nhiều trường hợp như thế đă xảy ra. Giới ngoại kiều càng thêm bất măn và đó cũng là một sự bất lợi về "ngoại giao". Trong khi triệt để cấm nhảy đầm th́ mấy ông tướng tá vẫn cứ lén lút du dương.

Riêng về việc cấm nhảy đầm, bà Nhu tỏ ra dè dặt. Bà cũng là dân nhảy nổi tiếng từ thuở c̣n đi học tại Hà Nội. Cấm nhảy đầm sẽ động chạm đến nhiều ông tai to mặt lớn. Trong một phiên họp của Ban chấp hành Phụ nữ Liên đới, vấn đề nhảy đầm được mổ xẻ cặn kẽ . Phiên họp này quy tụ rất nhiều quư bà "lừng danh". Một số ư kiến cho rằng chỉ giới hạn việc nhảy đầm mà không nên cấm tuyệt đối. Một bà tướng Tổng Thư kư của Phong trào Phụ nữ Liên đới lại "bảo hoàng hơn vua" đă yêu cầu "Bà Cố vấn" phải cấm triệt để. Bà Nhu vẫn lững lờ chưa quyết định hẳn, nhưng cuối cùng vẫn quyết định cấm nhảy.

Việc cấm nhảy đầm được nhiều "bà lớn" tán thành triệt để v́ các đức ông chồng quư của các bà đều thuộc loại hảo ngọt lẫy lừng.

Thế nhưng cấm là một chuyện c̣n nhảy vẫn nhảy. Nhiều tướng tá vẫn "lén lút mở bar" ngay trong doanh trại hay tư dinh .

Ai đă ở Nha Trang vào những năm 1960-1961 đều biết rơ chuyện ông Đại tá chỉ huy trưởng Đồng Đế vẫn mở bar đều đều, lại cho sĩ quan hầu cận về Sài G̣n kiếm vũ nữ và bao dàn cả tuần.

Chuyện nhảy đầm lậu tại Nha Trang, Đà Nẵng cũng như Pleiku do mấy ông tướng tá cao cấp đỡ đầu đều lọt vô tai Tổng thống Diệm. Ông Tổng thống cố ư làm ngơ.

Nhờ những yếu tố nào mà bà Nhu tạo được uy quyền trên thực tế ? Đơn giản nhất là nhờ sự khôn khéo tinh ranh và nhiều sáng kiến với một tiềm lực tinh thần mạnh mẽ trực giác, bà Nhu đă ảnh hưởng sâu xa trong đời sống của năm anh em trong gia đ́nh từ Tổng thống Diệm đến Ngô Đ́nh Thục và kể cả ông Ngô Đ́nh Cẩn.

Ông Cẩn được coi là chống đối bà Nhu kịch liệt và chửi đổng chị dâu cũng không tiếc lời, nhưng ông Cẩn chỉ chửi "đổng" thế thôi. Trong gia đ́nh ông vẫn chịu lép vế. Thí dụ trong việc lập Phong trào Phụ nữ Liên đới, ông vẫn bĩu môi khinh bỉ "Mấy con mụ đó mần được chi, chỉ ăn hại ". Trước năm 1961, nhiều bà vợ của các ông lớn tại miền Trung cũng muốn lập Hội để có ăn, nhưng ông Cẩn ghét như vậy nên đành chịu.

Khi bà Nhu nhúng tay vào quyết định phát triển phong trào ra miền Trung. . . ông Cẩn đành chịu thua. Bà lại c̣n chỉ thị cho Huế, Đà Nẵng phải tuân theo ư bà. Bà rất coi thường ông Cẩn nhưng cũng chỉ để trong ḷng.

Dịp ra Huế chủ toạ thành lập Phong trào là cả một việc trọng đại. Chung quy bà đă áp đảo được chú em chồng. Trước hôm đó, cả một đại đội phủ Tổng thống được gởi ra Huế để lo việc an ninh cho bà Cố vấn. Giới chức thẩm quyền toát mồ hôi v́ phải lo tổ chức sao cho long trọng. Ông Cẩn trong ḷng tức tối nhưng phải đành chịu và chính ông cũng phải đứng ra đôn đốc cho các giới chức lo liệu thực chu đáo. Điều nực cười nhất là hôm lễ khai mạc, bà Nhu như một nữ hoàng th́ cậu Cẩn rụt rè khiêm tốn như một công tử miền quê có chút uy quyền. Trước đám đông ấy cậu Cẩn chẳng c̣n ǵ... khiêm tốn, bé nhỏ, nhọc nhằn. Trong khí đó từ cách đón tiếp đến chiếc ghế ngồi, qua ngôn ngữ và cử chỉ bà Nhu lấn át hoàn toàn chú em chồng.

Đây là lần đầu tiên ông Cẩn đành chịu khuất phục uy quyền của bà chị dâu, người mà ông Cẩn rỉ rả công kích nhiều khi dùng cả chữ “con mụ" và “lăng loàn” để chỉ.

Khi bà Nhu trở về Sài G̣n th́ Phụ nữ Liên đới cũng theo bà đi luôn. Miền Trung vẫn là đất của ông Cẩn... Phụ nữ Liên đới chỉ được "phép" phát triển tại Nam phần và mấy tỉnh Cao nguyên.

Sở dĩ , trước mặt bà Nhu ông Cẩn phải chịu khuất phục v́ bà ta đă biết sử dụng cái bề thế của bà chị dâu trong gia đ́nh vốn khắt khe với những tôn chỉ lễ giáo. C̣n Tổng thống Diệm th́ như thế nào?

Điểm quan trọng sau đây đă giúp cho bà Nhu thành công trong công việc thuyết phục ông anh Tổng thống.

Thí dụ điển h́nh vẫn là những quan niệm về luân lư của bà Nhu. Quan niệm đó rất thích hợp với quan niệm và bản chất nho sĩ cũng như tu đức Thiên Chúa giáo trong con người của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Khi bà Nhu đưa ra dự án Luật "Bảo vệ luân lư" (lành mạnh hoá xă hội) th́ trong gia đ́nh họ Ngô hoàn toàn tán đồng và c̣n khích lệ. Nhưng báo chí và Quốc hội lên tiếng công kích, b́nh phẩm (tất nhiên là yếu ớt), Tổng thống Diệm lại cho rằng dư luận lầm lẫn v́ có nhiều người ganh ghét bà Nhu mà t́m cách nói xấu gièm pha. Bà Nhu đă tŕnh bày với ông anh Tổng thống như thế nào mà được Tổng thống dễ dàng chấp nhận và hết sức tán trợ.

Trước hết xin đơn cử một vài chi tiết đă thể hiện quan niệm luân lư và tâm tính bất thường của Tổng thống Diệm qua khía cạnh này. Dạo năm 1959 một thời đại "vàng son" của Hội bảo vệ luân lư do linh mục Hoàng Yến làm Chủ tịch. Linh mục Hoàng Yến tất nhiên không thể thoát khỏi những lư do "méo mó nghề nghiệp " qua quan niệm tu đức và luân lư giữa thế giới tu hành và xă hội ngoài đời. Linh mục Yến qua nhưng lần đi quan sát ngoài phố, chụp được một số ảnh tượng bán thân và khoả thân trưng bày tại mấy tiệm bán đồ điêu khắc và mỹ thuật, trong đó có mấy bức tượng được coi là hoàn toàn "loă lồ" trưng bày tại tiệm Mai Lĩnh, đường Phan Thanh Giản. Thêm vào đó c̣n cả một số h́nh đàn ông đàn bà, trai lẫn gái tắm chung ở một bể tắm (dĩ nhiên là mặc đồ tắm).

Đối với một người b́nh thường và qua những quan niệm b́nh thường trong đời sống th́ những h́nh ảnh trên đây không có ǵ đáng chú ư. Tượng phụ nữ loă thể chỉ là một công tŕnh của nghệ thuật. Trai gái tắm với quần áo tắm hở hang cũng là chuyện quá thông thường.

Nhưng nó lại trở nên quan trọng trước mắt một vị Linh mục Hội trưởng Hội bảo vệ luân lư. Linh mục Hoàng Yến làm một phúc tŕnh dài kèm theo h́nh ảnh gởi lên cho ông Diệm.

Chỉ mới xem qua những tấm h́nh đó , ông Tổng thống đă đỏ mặt, bất thần nổi giận. ông dùng bút đỏ phê vào bản phúc tŕnh "Ông Lương, cấm ngay". Nguyễn Lương lúc đó là Tổng giám đốc xă hội. Nhận được bản phúc tŕnh trên ông Lương đă hết sức lo âu, không biết phải xử trí như thế nào. Ông đành hỏi ư kiến của một số người trong Phủ. Tất nhiên là không có một ư kiến nào khác hơn là t́m cách khôn khéo nhất để áp dụng lệnh của ông Tổng thống. Ư kiến được nêu ra như sau: ông Nguyễn Lương cho người đến một vài tiệm mỹ thuật như tiệm Thế Hệ nói khéo để họ thông cảm trưng bày một cách kín đáo bức tượng bán thân loă thể. Hai hôm sau ông Nguyễn Lương vào tŕnh Tổng thống với hồ sơ đầy đủ để tỏ ra rằng đă tuân theo chỉ thị của thượng cấp.

Tổng thống Diệm lại vui vẻ gật đầu: " Ờ, ừ thôi được " Từ đó ông Tổng thống quên cả chuyện cấm trai gái tắm chung, cũng như chuyện cấm trưng bày tượng bán thân.

Với một quan niệm luân lư khắt khe và quá cổ như vậy lại có những phản ứng bất thường nên ông Diệm dễ dàng bị bà Nhu thuyết phục. Đây là một pha thuyết phục ông của bà Nhu do sĩ quan hầu cận kể lại (khi vào pḥng Tổng thống tŕnh bày việc ǵ th́ luôn luôn phải có sự hiện diện của một sĩ quan hầu cận hay tuỳ viên).

Bà Nhu thuyết phục ông Diệm để ông chấp nhận Luật bảo vệ luân lư, đại cương như sau: Luân lư Việt Nam hiện nay đang suy đồi. Trẻ con th́ hư hỏng, người lớn th́ bài bạc sa đoạ. . . Một người như Tổng thống Diệm nghe nói như vậy th́ tất nhiên là phải lo lắng cảm phục người em dâu nổi tiếng là văn minh tân thời nhưng lại tỏ ra thoát xác, biết nghĩ tới con đường thánh thiện. Bà Nhu biết điểm yếu của ông anh chồng . . . nên chỉ đưa ra đoạn mở đầu như vậy nhằm gây xúc động. Sau đó bà mới tŕnh bày những biện pháp giải quyết.

Những biện pháp ấy đều lư tưởng cả. ông Diệm cho là em dâu có thành ư muốn xây dựng đất nước. Bà nhảy đầm th́ rất tài hoa, mà nay th́ lại đề nghị cấm nhảy th́ ai mà không cho là hy sinh đáng quư. Ông Tổng thống đă tin tưởng như thế rồi th́ đề nghị nào mà ông không chấp thuận.

Khi ông Tổng thống để hết ḿnh ủng hộ dự Luật ấy th́ c̣n ai dám chống đối. Một vài dân biểu lên tiếng công kích một số sai lầm và sự không thực tế của dự Luật này. Tuy nhiên sự công kích chỉ là dàn cảnh để tạo ra dư luận có vẻ dân chủ thế thôi

Trong những buổi họp của Ban chấp hành Phụ nữ Liên đới bà Nhu trở thành một chiến sĩ tiên phong trong cuộc giải phóng phụ nữ. C̣n thực tế có giải phóng không th́ 9 năm qua đă trả lời đầy đủ. Tuy nhiên phải công minh mà nhận rằng bà Nhu đă làm được nhiều điều, dù làm theo chủ quan của bà. Chẳng hạn như vấn đề cấm triệt để thiếu niên không được uống rượu, hút thuốc lá, cấm hẳn bài bạc (trừ món tổ tôm được toà án cho là không thuộc loại đổ bác sát phạt). Bà Nhu có một ư kiến như thế này về giá trị thân xác đàn bà. Tưởng cũng nên ghi lại đây về việc cấm thi sắc đẹp của đàn bà, bà cho rằng “Thời Trung cổ người Tây phương trưng bày nô lệ tại phố cho bọn nô lệ xếp từng hàng cho nguời ta đến xem xét đánh giá như mua bán súc vật, con này mông to, con kia ngực nở con nọ giống tốt...Với những giá bao nhiêu. Thi sắc đẹp tuyển lựa hoa khôi của phương Tây xuất phát khởi thuỷ từ các cuộc mua bán nô lệ thời Trung cổ. Ở xứ ta không chấp nhận được cái tṛ đó ".

Bà Nhu nói riêng với bà Lương Khải Minh: “Ăn mặc hở hang, để cả ngực cả đùi cho đàn ông họ nh́n ngắm rồi họ đánh giá, họ cho điểm làm như vậy ô nhục lắm, hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ ngang với nô lệ thời Trung cổ. Phụ nữ Á đông không thể chấp nhận được như vậy... ". Cho nên ông Diệm cũng như ông Nhu và những người hiểu biết không đến nỗi nông cạn lắm đều cho là bà Nhu có thiện chí và sáng suốt. Do đó mới có vụ cấm luôn các cuộc thi sắc đẹp, tuyển lựa hoa khôi và kể cả thi lực sĩ khỏe đẹp . Bà Nhu luôn nhắc nhở "đàn ông họ ích kỷ lắm . . . Phụ nữ không thể là tṛ chơi cho họ mua vui được. Măi dâm và gái nhảy là những việc ô nhục đồi bại nhất cho những người phụ nữ".

Giá như bà Nhu không phải là em dâu của Tổng thống đương nhiệm th́ thiện chí và những cố gắng giải phóng của bà Nhu thật đáng ca ngợi.

Nhưng ở đây lại khác. Trong khi bà cố gắng hoàn tất dự Luật Gia đ́nh cũng như dự Luật Bảo vệ luân lư th́ trong gia đ́nh từ thành đến tỉnh và nhất là trong giới thượng lưu đă đồn đại rất nhiều về những cái gọi là “lem nhem bê bối" thuộc đời tư của Bà. Dư luận th́ nhiều lắm. Nhưng đâu là bằng cớ ? Tuy vậy quần chúng đông đảo vẫn lập luận rằng "nếu không có lửa th́ sao có khói ". Rồi một số "phu nhân " vây bủa quanh bà xem phần đức hạnh cũng không có ǵ được bảo đảm cho lắm của bà. Quan trọng là chỗ đứng. Chỗ đứng của bà Nhu không thuận lợi cho mọi đề xướng cải cách của bà khi những cải cách đó hoặc c̣n quá sớm hoặc không phù hợp với tập quán cổ truyền. Dư luận thêu dệt rất nhiều về cuộc t́nh của bà với ông tướng Đôn. . . lại có dư luận cho rằng Nolting bị bà Nhu mê hoặc trong lưới t́nh dục. Tục ngữ có câu"ghét ai ghét cả đường đi lối về ". Trong 9 năm qua với cử chỉ và ngôn ngữ của ḿnh, bà Nhu đă làm cho nhiều giới và nhiều người "mếch ḷng" thực. Cái dễ ghét rất giản dị v́ tâm lư và truyền thống không ưa đàn bà múa may hay lợi dụng chức vị của chồng mà "lớn lối" - chỉ nguyên một chuyện sử dụng ngôn ngữ đao to búa lớn của bà đă làm cho người ta dễ ghét. Trong cái dễ ghét đó tất nhiên là do sự ghen tức nhau. Các ông thường bị ảnh hưởng của các bà. Các bà thấy bà Nhu như vậy nếu không có cơ hội được gần bà th́ trở nên ghen ghét nói xấu. Ai nói xấu th́ không đáng kể chứ đàn bà nói xấu nhau th́ quả là một nghệ thuật qua khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng. Nhiều câu chuyện "mê ly gay cấn " chung quanh con người bà Nhu hầu hết do một số phu nhân dựng đứng lên...rồi lan rộng ra dư luận và dư luận lâu ngày trở nên như là thực.

Tổng thống Diệm không được nghe những dư luận đó và chỉ nhận được những lời công kích bà Nhu qua việc làm của bà. Một số báo Mỹ tiết lộ bà Nhu có một gia tài đồ sộ tại Braxin (đồn điền café) và Thuỵ Sĩ. Tổng thống Diệm không tin v́ ông vốn có thành kiến với báo chí Mỹ. C̣n sự công kích Luật Gia đ́nh cũng như Luật Bảo vệ luân lư ông đều cho là ganh tị phá hoại và do một số người có vợ nhỏ "dông dài ham chơi" nên cố ư phá bà Nhu.

Tóm lại, bà Nhu hiểu rơ tâm tính và cuộc đời của ông anh chồng. Bà lợi dụng ngay những đặc điểm đó để tạo ảnh hưởng với ông Diệm. Khi đă tạo được ảnh hưởng với ông Diệm . . .th́ hàng bộ trưởng, tướng tá đối với bà chả có nghĩa lư ǵ cả. Tuy vậy, v́ biết rơ tính ông anh, bà Nhu không bao giờ công khai bày tỏ một ư kiến nào về hoạt động của Chính phủ cũng như các nhân vật văn vơ. Trước mặt ông Diệm, bà luôn tỏ ra rằng ḿnh chỉ biết lo công việc của phụ nữ. Khi nào có đại biến như vụ tướng Hinh, vụ B́nh Xuyên và cuộc đảo chính hụt 2-2-1960 bà Nhu mới nhảy vào ṿng.

__________________
 
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM

Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)
 
  #10  
Old 09-04-2008, 08:57 PM
Avatar của Trần Toàn Trung
Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline
Điều hành viên
 
Gia nhập: Dec 2007
Đến từ: Nation & Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết
Default

ẢNH HƯỞNG CỦA BÀ NHU ĐỐI VỚI ĐỨC CHA THỤC

Ảnh hưởng của bà Nhu đối với Đức cha Ngô Đ́nh Thục như thế nào ? Ảnh hưởng ấy người ta chỉ có thể cảm thấy một cách bàng bạc. Mỗi khi về ở dinh, Đức cha Thục đều dùng cơm chung với gia đ́nh ông Nhu. Trong bữa cơm thân mật gia đ́nh đó anh em tỏ ra tương đắc từ chuyện hàn huyên đến việc quốc gia đại sự. Bà Nhu không những đóng trọn vai tṛ của người em dâu mà luôn luôn tỏ ra là một con chiên hết sức kính cẩn, vâng phục một vị Giám mục. Bà theo đạo chồng (gọi nôm na là Đạo theo) nhưng từ ngày vào ở trong dinh bà tỏ ra là một tín đồ ngoan đạo. Mặc dầu đă mấy lần bà Nhu công khai phê b́nh một số Linh mục với lời lẽ phạm thượng sỗ sàng, nhưng với ông anh chồng là đức cha th́ lại khác, Đức cha Ngô Đ́nh Thục thường ngợi khen bà Nhu trước mặt nhiều người "Bà cố vấn tốt đạo lắm, siêng năng xưng tội rước lễ lắm ". Chỉ một lời khen đó ta cũng thấy Đức cha tin tưởng người em dâu như thế nào.

Về mặt tâm lư, ảnh hưởng của bà Nhu đối với Đức cha Ngô Đ́nh Thục cũng dễ hiểu. Dù là Giám mục hay ở một tước vị cao sang nào cũng vẫn chỉ là một con người cùng với những "yếu điểm tâm lư " của con người. Kinh nghiệm và sách vở đă cho ta thấy, trong một sứ Đạo với một vị Lịnh mục già th́ bà quản gia mới là người có ảnh hưởng nhiều nhất đối với Linh mục.

Trường hợp Cha Ngô Đ́nh Thục cũng không thoát khỏi những phản ứng tự nhiên đó.

Những phản ứng thân yêu trong trái tim con người tương tự như của bà mẹ đối với cậu con trai hay một ông bố già đối với một người con dâu hiếu thảo khéo léo.

Mỗi khi Đức cha Thục về dinh Độc Lập th́ bà Nhu lo toan từ món ăn thức uống và lúc đó trước mặt đức cha bà Nhu chỉ là một cô em gái ngoan, dịu hiền ăn nói ngọt ngào dễ thương.

Đức cha đă dùng tất cả mọi ảnh hưởng của ḿnh để hỗ trợ hai dự luật của bà Nhu, nhất là Luật Gia đ́nh. Đức cha Ngô Đ́nh Thục hết ḷng hỗ trợ và bênh vực Luật Gia đ́nh cũng là điều dễ hiểu v́ nó đă thể hiện đầy đủ tinh thần luyến ái quan Thiên Chúa giáo. Với một tín đồ Thiên Chúa giáo th́ việc cấm li dị là điều hiển nhiên theo phép hôn phối.

Bà Nhu lại có sáng kiến đưa ra Luật ấy lẽ dĩ nhiên, ông anh đức cha phải lấy làm cảm phục và cho rằng cô em dâu đă làm những việc cao quư trong tinh thần Phúc âm.

Từ Luật Gia đ́nh cùng những ngôn ngữ cử chỉ khéo ăn khéo ở của bà Nhu đă giúp bà tạo được những yếu tố sống động gây ảnh hưởng mạnh mẽ nơi cha Ngô Đ́nh Thục. Nhưng Luật Gia đ́nh đă làm cho bà thất bại hơn là những dư luận đồn đại về đời tư của bà. Bởi luật đó chỉ tạo nên những thị phi và đàm tiếu của quần chúng. Trên thực tế, trai gái vẫn tự do giao du, lấy nhau cứ việc lấy nhau, hôn thú chưa phải là điều chính yếu.

Luật cấm con ngoại hôn không được hưởng gia tài, không được hưởng một quyền lợi của người cha nhưng thực tế th́ người Việt vẫn sống theo một thứ luật bất thành văn trên tinh thần con nào cũng là con.

Dư luận đàm tiếu không phải là đàm tiếu về nội dung luật đó. Hầu hết quảng đại quần chúng có mấy ai t́m hiểu luật pháp mà biết nó hay hoặc nó dở. Duy có một điều Luật Gia đ́nh của bà Nhu cấm không cho đàn ông lấy vợ nhỏ, nhưng cô chánh văn pḥng của bà (gọi là cô cho danh chính v́, theo luật th́ cô chưa lấy chồng) ai lại không biết cô là vợ nhỏ của một ông văn nhân (thường t́nh nếu cô ta không phải là chánh văn pḥng của bà Nhu th́ chả ai chú ư thị phi, v́ vợ lớn vợ nhỏ cũng đều là vợ cả miễn sao được chồng thương yêu). Đằng khác dư luận giới cao cấp không ngớt bàn ra tán vào về đời tư của mấy bà "lớn " trong Ban chấp hành Phụ nữ liên đới. Nào là vợ nhỏ sau “đá vợ cả" của ông tướng để lên ngôi chính thất. Nào bà tá B vốn đă có một đời chồng rồi sau "mèo chuột" bỏ chồng lấy ông tá B... Dư luận đàm tiếu tùm lum như vậy. Mà dư luận ấy có thật chứ không phải do sự thêu dệt. Nhưng từ đó dư luận được dịp phụ đề thêm "hoa lá". Đó cũng là một cái nguy cho một cá nhân trong guồng máy lănh đạo khi cá nhân đó trở thành một cái đinh của dư luận. Trong khi đó, nhờ Luật Gia đ́nh cũng như những công tác xă hội mà bà Nhu đề ra, càng làm tăng cường ảnh hưởng của đức cha Thục.

ẢNH HƯỞNG CỦA BÀ NHU ĐỐI VỚI ÔNG CHỒNG

C̣n ông Nhu ? Giới thân cận nhất của ông đều xác nhận trước năm 1955, bà Nhu không tạo được ảnh hưởng chính trị nào đối với ông chồng "đa mưu túc kế" rất uyên thâm. Nhưng nó lại như thế này, từ khi ảnh hưởng tâm sinh lư của bà vợ đă dễ dàng biến thành ảnh hưởng chính trị... Trước năm 1945, ông Ngô Đ́nh Nhu chỉ coi bà vợ như một cô em gái không biết ǵ về chính trị. Nhưng mấy năm sau, trong văn pḥng của ông lại treo một bức h́nh bán thân của bà vợ tràn đầy nhựa sống. Một người thường th́ không nói làm ǵ nhưng ở vào trường hợp của ông Nhu và nhất là con người trí thức như ông Nhu, th́ khi treo bức h́nh đó ngay tại văn pḥng chính thức của một vị cố vấn chính trị Phủ Tổng thống quả là điều chướng mắt... Đáng lư ra nên treo trong pḥng riêng. Dĩ nhiên ông Nhu cũng cảm thấy như thế khi tự tay bà treo bức h́nh đó, song ông Nhu không phản đối.

Bức h́nh treo ở một nơi trang trọng trong văn pḥng đă đủ nói lên việc ông Nhu chấp nhận sự hiện diện của bà vợ trong đời sống của ḿnh (v́ văn pḥng ấy là nơi ông Nhu tiếp quan khách ngoại quốc, bộ trưởng, tướng lănh, quan sĩ...nghĩa là đủ mặt mọi giới) . Qua sự kiện này cũng đă đủ nói lên ảnh hưởng của bà Nhu, đă chinh phục toàn diện được con người ông chồng mà nhiều khi chính ông Nhu cũng không biết, ảnh hưởng của bà vợ đối với ông chồng là một cuộc hành tŕnh bằng những chất liệu "vô h́nh " thấm dần vào tim vào óc nói ra không được mà chỉ mơ hồ cảm thấy hoặc không thể cảm thấy và chỉ có người ngoài mới nh́n rơ được.

Bởi vậy cô nhân t́nh của một nhà lănh đạo nhiều trường hợp lại ảnh hưởng sâu xa đến chuyện quốc gia đại sự mà chính nhà lănh đạo đó cũng không hay. Do vậy, nhà lănh đạo dù tài ba cũng cần phải đặt ḿnh trong guồng máy lănh đạo và phải chấp nhận mọi sự và phê b́nh về cá nhân ḿnh qua những nhân viên của trong guồng máy.

Tuy vậy giới thân cận với ông Nhu biết rơ rằng ông không bao giờ nghe vợ bàn góp ư kiến. Sự thực một người tự kiêu như ông Nhu, với khả năng tri thức như vậy khó ḷng có thể tin theo ư kiến của bà vợ c̣n nhỏ tuổi, mà trước mắt ông, bà vẫn chỉ là h́nh ảnh một nữ sinh trường Pháp, chưa đậu tú tài. Tuy nhiên, đă có một vài trường hợp ngoại lệ ông Nhu theo ư kiến của bà, nhưng đó chỉ là ư kiến xuất phát từ khả năng trực giác dồi dào của một người đàn bà thông minh, nhạy cảm (qua vụ đảo chính hụt 2-2-1960).

Nhưng ông Nhu vốn sợ "x́ căng đan" đó cũng là yếu điểm của ông. Bà Nhu vốn nóng như lửa nói năng bất chấp và dễ gây gổ làm lớn chuyện. Hễ một khi bà vợ lớn tiếng th́ ông Nhu đành im. Quá lắm th́ ông Nhu chỉ đập bàn mắng mấy câu tiếng Pháp cho thoả ḷng rồi đành chịu thua (giới có học bị vợ lấn át và mang tiếng sợ vợ phần lớn cũng chung một cảnh ngộ tâm lư như vậy) . Ông Diệm cũng là người sợ sự lớn tiếng gây gổ. (Đại uư Bằng kể lại, một lần ông Diệm bảo Bằng đi theo sang pḥng ông bà Nhu. Ông Tổng thống đang có điều ǵ vui mừng. Nhưng đến cửa pḥng nghe thấy bà Nhu đang la lối ông chồng, ông Diệm quay gót trở về pḥng khẽ lắc đầu). Cứ nhận diện ông Nhu theo tướng số th́ khuôn mặt ông không phải là người "sợ vợ ".

C̣n một chi tiết nhỏ này cũng đủ chứng tỏ, ảnh hưởng của bà Nhu đă thâm nhập sâu xa trong con người ông chồng: Trước kia ông muốn hút bao nhiêu thuốc lá th́ hút, nhưng kể từ năm1959-1960, bà Nhu giới hạn ông, mỗi ngày bà tự chia cho ông một vài điếu, hút cho đỡ nhớ mà thôi. Nhiều khi một điếu được cắt làm đôi. Một người nghiện thuốc lá nặng như ông Nhu mà đành chịu cũng là một điều lạ lùng.

Trước năm 1955 ông Nhu là người ăn mặc xuề xoà… Khi trở thành cố vấn chính trị ông cũng vẫn thế, nhưng ông Diệm không bằng ḷng v́ cho rằng ăn mặc như vậy “mất cả thể thống. . . thím phải lo cho chú ấy ăn mặc đàng hoàng". Từ đó tự tay bà Nhu lo liệu cho ông chồng, bà lựa chọn cho ông từng chiếc Cravat. Ngay văn pḥng làm việccủa ông, bà Nhu cũng tự tay trang trí cho có ngăn nắp, mỹ thuật. Một người già mà được cô vợ trẻ săn sóc thương yêu như vậy ai mà không cảm động. Từ chỗ cảm động đến chỗ bị "chi phối âm thầm" không bao xa.

Ảnh hưởng của bà Nhu đối với đức ông chồng mỗi ngày càng mạnh, đó cũng là điều dễ hiểu xét theo khía cạnh tâm lư. ông Nhu không phải là người ăn chơi, trước năm 1954 th́ ch́m đắm trong thế giới sách vở, sau năm 1954 sống trong một thế giới kín cổng cao tường của Phủ Tổng thống. Ông Nhu cũng không phải là người quảng giao nên ít bạn bè . Rồi tuổi ông mỗi ngày một cao . . . Cô vợ với tuổi hồi xuân càng trở nên "ngào ngạt yêu thương" đó mới là nguyên nhân thầm kín tạo cho bà Nhu một “uy quyền" đối với ông chồng. Thứ uy quyền chỉ có thể cảm thấy nơi ông chồng có đời sống nội tâm...Bà vợ trái ngược, bà ham mê hoạt động hoà vào cuộc sống bên ngoài...Đó không phải là hai thái cực quá chi phối mà là hai "hố" mâu thuẫn để tạo thành một hậu đời sống vợ chồng theo một tương quan t́nh cảm.

Một vài nhân vật thân cận nhất của ông Nhu bị ông cho ra "ŕa" v́ thất sủng trước hết do sự bất hoà và bất đồng với bà Nhu. Nói rằng ông Nhu nghe vợ th́ không đúng...Nhưng quả v́ sợ vợ mà ông đă bỏ rơi một vài người thân cận... Thật dễ hiểu, trong đời sống pḥng the, nay nghe bà vợ rủ rỉ bên tai: "Thằng ấy nó như thế như thế” mai lại nghe bà vợ phàn nàn: "ông ta như vậy như vậy". những lời nói ngọt ngào đó lúc đầu ông chồng bỏ qua v́ cho rằng: "Chuyện đàn bà...đàn bà lắm chuyện" nhưng lâu ngày th́ chuyện đàn bà biến thành chuyện đàn ông. Trong cái thời đại quân chủ, bao nhiêu bậc vua chúa đă mất ngai vàng v́ nghe vợ thủ thỉ bên tai. Ở miền Nam này cũngvậy, bao nhiêu lănh tụ đảng phái mất cả anh em đồng nghiệp rồi hủ hoá cũng một phần nghe vợ với cung cách trên. Muốn loại bỏ nhưng ảnh hưởng tiệm tiến vô h́nh đó th́ lănh tụ phải được biến thể theo khách quan của thực tại lănh đạo. Thực tại lănh đạo gần nhất là những người cận thân. Nếu nghe vợ hay v́ cách này hay cách khác qua ảnh hưởng của vợ mà làm xa cách cộng sự th́ sứ mệnh lănh đạo không c̣n nữa. Bông hoa hồng của bà vợ cài trên ve áo và cái đinh ốc trong guồng máy mà ḿnh lănh đạo cả hai đều quan trọng nhưng làm thế nào để không v́ bông hoa hồng mà làm mất chiếc đinh ốc của guồng máy đó mới là điều quan trọng.

Đó là một cuộc cách mạng nhạy cảm nhờ sự tham dự ngạt ngào hương thơm của phái yếu. Vậy th́ muốn mưu đồ đại sự cũng cần có yếu tố nhạy cảm và phái yếu bổ xung để gợi cảm và xung động quần chúng. Vậy th́ sự thành lập phụ nữ Liên đới cũng như tổ chức bán quân sự của Phụ nữ (tuy chỉ có h́nh thức để biểu dương) quả là điều cần thiết cho những chiến thuật chính trị.

Nếu như bà Nhu chỉ đứng bên trong lèo lái và chọn một người tương đối xứng đáng đứng ra thành lập th́ quả là tốt hơn. Nhưng đây th́ lại khác, bà Nhu vừa là tác giả lại đóng luôn vai tṛ diễn xuất của "kép "chánh.

Ông Nhu cũng như Tổng thống Diệm có “dính dáng" vào sự thành lập phong trào đó không ? Có thể nói ông Diệm thấy cô em dâu làm được điều tốt với chủ ư hỗ trợ chính quyền tất nhiên ai ở địa vị ông cũng không có lư do ǵ ngăn cản. C̣n ông Nhu? ông cũng không đóng vai tṛ giật dây trong phong trào đó. Khi thấy việc làm của vợ có ích lợi cho chế độ th́ ai ở địa vị ông cũng không có lư do ǵ ngăn cản. Mà thực ra th́ ông Nhu muốn cản cũng không được.

Giới thân cận được biết rằng, đối với bà Nhu th́ "việc ông ông làm, việc tôi tôi làm, miễn sao tôi không chống lại ông". Nhiều việc bà Nhu cứ "làm đại" nếu ông chồng biết th́ sự đă rồi. Tuy nhiên những việc "làm đại " đó đối với ông Nhu đều là những việc hợp lư.

Dư luận trước năm 1963 cho rằng, ông Nhu bị vợ "chế ngự, áp đảo " . . . Nhưng điều đó không đúng. Trong các việc chính sự quốc gia, có bao giờ ông hỏi "ư kiến" bà vợ đâu. Nhưng có điều như thế này, ông Nhu cũng phải ngán sự nóng tính và dữ dằn như hổ lửa của bà Nhu. Một lần bà Nhu hỏi ông chồng trước mặt một số người thân trong đó có bà Lương Khải Minh: "Tại sao mấy ông ấy (tức các ông lớn ) lại khiếp tôi quá dữ vậy". Ông Nhu mỉm cười trả lời: "Tui cũng c̣n khiếp bà nói chi mấy ông ấy ".

Bà Nhu áp đảo được nhiều nhân vật cỡ lớn trước hết nhờ yếu tố bạo ăn bạo nói của bà. Trong các buổi họp Ban chấp hành Phụ nữ Liên đới, bà Nhu chủ toạ và hầu như chỉ có một ḿnh bà ta độc thoại. Các bà khác ngồi lặng thinh lắng nghe chăm chú và luôn tỏ rơ sự thán phục. Một lần nọ vào năm 1962 một bà Liên đới đi họp muộn, bà Nhu hỏi lư do th́ bà kia thực thà tŕnh bày là có một vài nhân vật Mỹ đến thăm ông chồng do đó đến muộn. Trước đông đủ mọi người bà Nhu lớn tiếng: "Tiên sư mấy thằng Mỹ".

Đại để lời ăn tiếng nói của bà Nhu có những sỗ sàng như vậy.

Nhưng nó lại quá sức thất lợi về phương diện giao tế chính trị. Chửi Mỹ sỗ sàng như vậy vào năm 1963 quả là "liều” nếu không phải là bà Nhu th́ không ai trong giới quan chức chính quyền dám ăn nói như vậy. Nhưng bà Nhu nói, với tư cách Chủ tịch phong trào Liên đới lại là vợ một Cố vấn chính trị th́ hẳn rằng giới chức Mỹ phải đặc biệt lưu ư (trong đám người hội họp hôm đó dĩ nhiên là phải có một vài bà về nói lại với ông chồng và ông chồng nói lại với Mỹ).

Ngày 20-5-1958 trong một phiên họp Quốc hội, bà Nhu đă đưa ra một đề nghị thành lập một Phong trào phụ nữ với danh xưng "Phụ nữ Liên đới Việt Nam" và yêu cầu Liên Đoàn công chức để cho các bà vợ công chức được phép tham gia. Bốn năm sau phong trào đó mới được ông Diệm chính thức chấp nhận và được thừa nhận là một Hội đoàn Công ích (SL 84 Việt Nam l3-4-1962).

Như trên đă viết, phong trào này không đạt được "quần chúng tính". Trước sau đây chỉ là một hội đoàn của các phu nhân, vợ công chức, các nữ công chức và nữ quân nhân. V́ vậy hội đoàn ấy được xem như một hội đoàn bán chính thức của chính quyền.

Ban chấp hành Trung ương ngoài một số nữ Dân biểu "gà nhà" của bà Nhu c̣n hầu hết là vợ một số công chức cao cấp và tướng tá. Vai tṛ của các bà cao thấp tuỳ thuộc theo địa vị người chồng cùng sự khôn lanh nịnh bợ bà cố vấn.

Một bà là vợ một ông tướng nên được làm Tổng thư kư, một bà là vợ ông Bộ trưởng nên được cất nhắc làm Phó Chủ tịch v.v...Chúng tôi không bao giờ làrn công việc "bới móc" chuyện "đàn bà con trẻ" nhưng chuyện "đàn bà" của Phong trào Phụ nữ Liên đới lại có liên hệ đến sự tồn vong của một chế độ. Đáng lẽ, một phong trào như vậy th́ phải t́m những phụ nữ có khả năng, có học vấn (học vấn không có nghĩa là có bằng cấp). Nhưng ở đây th́ lại khác. Tuy bà X là vợ tướng lănh thật nhưng chỉ v́ "đàn ông quan tắt th́ chầy, đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan" cho nên bà ta chỉ có tŕnh độ "biết viết" nhưng nhờ địa vị chồng nên phút chốc đă leo lên địa vị "lănh tụ” của phong trào. Như vậy phong trào ấy làm sao có lănh tụ tốt, có sáng kiến tốt cho được. Tuy phong trào cũng có một vài bà luật sư, nhưng đa số chỉ là độc giả của tờ báo "SM" và nữ khán giả có một số bà chuyên mộ điệu tuồng "cải lương" . . .nếu không th́ lại chỉ lo toan áp phe làm giàu. Bởi vậy mới có một bà Liên đới, phu nhân một bộ trưởng khi ngồi vào bàn hội nghị với tư cách chủ toạ đă lên tiếng ngay "Thưa chị em hôm nay đại diện bà Cố vấn tôi tuyên bố bế mạc hội nghị". Cả hội nghị đều ngỡ ngàng tại sao chưa khai mạc lại bế mạc, sau mới rơ bà bộ trưởng sử dụng chữ bế mạc thay cho chữ khai mạc ? Rồi một phu nhân khác trong dịp đi vận động tranh cử (Khoá III ) đến một trại gia binh đă nói với các bà vợ các quân nhân ở đấy rằng: “Chồng tôi làm đến bộ trưởng. . . chồng tôi chức cao như vậy tôi đâu có ham, nhưng v́ thương chị em tôi mới ra ứng cử để bênh vực quyền lợi cho chị em ". Bằng một giọng lớn lối như vậy bà Bộ trưởng đă khiến các bà vợ lính la ó. . .nhún vai nhổ nước bọt...Bà ứng cử viên dân biểu phải chuồn lẹ. Đại để các bà có những lỗi lầm ấu trĩ như vậy nhưng mấy bà lại "đua nhau” tham gia công tác phong trào để được bà Cố vấn sủng ái rồi chỉ định ra tranh cử dân biểu (khoá III. Trong Quốc hội Phong trào Liên đới đạt được 22 ghế dân biểu).

Tất nhiên cũng không ai quá khắt khe chấp nhất những "lỗi lầm đáng bỏ qua " của quư bà. Nhưng có điều quan trọng như thế này: Các bà đă làm cho các ông mâu thuẫn, hiềm khích nhau...Rồi Chính phủ trở thành "Chính phủ đàn bà”.

Bà Nhu trao cho bà tướng X công tác A. Bà tướng X hoàn toàn "mù tịt " nhưng cứ nhận đại rồi về nhà trao trách nhiệm thực hiện cho ông chồng, ông chồng lại gọi thuộc viên trao phó . . .Thuộc viên hùng hục làm cho xong v́ họ đă thuộc ḷng: " Lệnh của bà mới là điều quan trọng !!" ông chồng nào “nể vợ" th́ làm tốt, ông nào "cứng đầu” với vợ th́ làm qua loa. Hậu quả không những các viên chức cao cấp phải làm thêm công việc của các bà vợ mà c̣n tạo nên sự ganh ty suy b́...Bà X tâng công “Việc của em bà Cố trao phó cho em làm xong ngay c̣n việc của chị Y. . . chị ấy dựa vào thế lực chồng chị ấy chỉ có chỉ tay năm ngón !".

Các bà chia thành phe cánh ra lườm vào nguưt, cũng là điều dễ hiểu nhưng các bà lại kéo theo các ông . . .
C̣n một điều đáng nói nữa là dư luận quần chúng quanh bức tượng Hai Bà Trưng được dựng tại công trường Mê Linh (bến Bạch Đằng tháng 3-1962). Bức tượng Hai Bà sáng 2-11-1963 đă bị làn sóng biểu t́nh của học sinh sinh viên hè nhau kéo đổ rồi chặt đầu lôi quanh các đường phố, chỉ v́ bức tượng đó giống bà Nhu và con gái bà tức Ngô Đ́nh Lệ Thuỷ.

Nhưng nguyên do từ đâu mà lại giống như vậy ? Có phải mẹ con bà Nhu làm mẫu cho điêu khắc gia Nguyễn Văn Thế tạc tượng ấy không (ông Thế đạt giải Á nguyên La Mă về điêu khắc).

Bức tượng Hai Bà Trưng thật "kính chả bỏ phiền" . Bao nhiêu lời đàm tiếu chung quanh bức tượng đó. Mà sự đàm tiếu cũng rất phải, v́ đây là sự bôi lọ anh hùng lịch sử. Lạ thay càng nh́n kỹ th́ pho tượng càng giống hai mẹ con bà Nhu. Cũng v́ vậy mà pho tượng trở thành trung tâm của bao nhiêu lời phê phán nghiệt ngă. Người thức giả trung dung cũng phải lên tiếng: "Pho tượng sừng sững thế kia th́ c̣n ǵ là thể thống quốc gia. Lịch sử cũng chẳng c̣n giá trị ǵ nữa". Rồi người ta suy luận rằng: "Bà Nhu dám can đảm dựng tượng ḿnh như vậy th́ chuyện ǵ mà bà ta không dám làm?".

Cách ăn mặc của bà Nhu cũng tạo nên nhiều dư luận bất lợi cho bà trong quần chúng. Bà luôn luôn "cách tân" các kiểu áo dài phụ nữ. Kiểu áo hở cổ mà hiện nay các bà các cô thường mặc th́ chính bà Nhu đă "khởi đầu” từ dạo năm 1958. Rồi một số bà Liên đới cũng "a dua" mặc theo. Bà Nhu phỏng theo kiểu áo dài Việt Nam và áo dài của phụ nữ Chiêm Thành để tạo thành áo dài của bà. Áo dài của bà lại thường thêu hoa lá và chim phượng hoàng. Một bức ảnh cho ta thấy bà Nhu mặc một chiếc áo hở cổ, ngay trước ngực thêu một con chim phượng hoàng. . .bà Nhu coi đó như một việc "cách mạng" chiếc áo dài Việt Nam.

Bà Nhu không muốn một ai phê phán ḿnh. Tất nhiên như vậy th́ chỉ chấp nhận sự ca ngợi tán tụng. Bất kỳ ai tỏ ra nổi hơn bà một chút, khác hơn bà một chút cũng đủ bị bà làm cho "thất sủng". Khi bà vợ bị thất sủng th́ ông chồng cũng dễ dàng bị thất sủng. Người đàn bà có tài và thông minh hầu hết đều mắc phải cái tật xấu này. Bà Nhu bị nhiều người ghen ghét, bị dư luận dân chúng chỉ trích nặng nề và nghiêm khắc trước hết do sự xuất hiện nặng về phần tŕnh diễn của bà cùng tính cao ngạo và cố tạo ra vẻ có uy quyền để được mọi người thán phục tôn trọng.

Nếu so với nhiều bà tai to mặt lớn hiện nay th́ sự trưng diện áo quần của bà Nhu hăy c̣n giản dị lắm. Nhiều bà lớn bây giờ đeo cả hạt xoàn kim cương giá 3,4 triệu đồng với kẻ hầu người hạ như một lănh chúa cùng sự ăn chơi bài bạc vô cùng sa đoạ. Nhưng chỉ có một giới nào biết rơ mà thôi . Song dù bà Nhu có cố t́nh có lúc mặc đồ nội hoá, không đeo kim cương hạt xoàn lộng lẫy th́ dân chúng mọi giới vẫn chĩa mũi dùi vào bà. Tại sao? Giản dị v́ bà lại tiêu biểu cho một phần uy quyền của chế độ, uy quyền ấy không được chính thức công nhận, nhưng thực tế th́ không ai chối căi được.

Bà Nhu sống trong khung cảnh "kín cổng cao tường" cho nên dễ dàng trở thành nơi "thâm cung bí sử". Dân chúng bao giờ cũng ṭ ṃ muốn t́m hiểu sự thật, cho nên khi thấy cảnh bà Nhu đi xe hơi lộng lẫy, ăn mặc diêm dúa, lính tráng theo hầu canh gác cẩn mật, bằng ấy thứ làm cho dân chúng dễ dàng liên tưởng đến sự xa hoa đài các. Rồi thân h́nh của bà Nhu nữa, căng đầy nhựa sống và trang sức như một tài tử, dân chúng lại càng dễ liên tưởng đến một ẩn dụ sinh lư. Bởi vậy mới có dư luận hàng ngày cho bà Nhu tắm bằng sữa tươi để giữ cho nước da được đẹp.

Sau 1-11-1963, đă biết bao dư luận được dựng lên xung quanh bà Nhu...nhất là một số chuyện t́nh ái lăng nhăng. . . Không hiểu xuất phát từ đâu có một số h́nh ảnh loă lồ của bà Nhu và mấy bà Liên đới được tung ra công chúng và nói rằng bà Nhu buộc mấy bà Liên đới phải chụp ảnh loă lồ như vậy để bà giữ làm điều kiện, ấy thế mà dư luận có vẻ tin thực. Tấm h́nh loă thể của bà Nhu cũng vậy, nh́n qua thật là giống, nhưng so sánh, một người Việt Nam như bà dù nở nang nhưng với 4 mặt con và trên 40 tuổi không thể nào có bộ ngực tṛn trĩnh và eặp gị chắc nịch như vậy. Tấm thân từ cổ trở xuống phải là tấm thân của một cô gái Tây phương khoảng 22, 23 tuổi.

Sự thực th́ ai cũng biết rằng, những tấm h́nh trên đă được các tay thợ ảnh lành nghề ráp nối lại. Nhiều bà tai to mặt lớn đă bị bọn "bất lương" tống tiền bằng cách doạ đăng báo h́nh ảnh loă thể.

Sau đảo chính 1963, bà Nhu được mô tả như một "ác phụ dâm loàn". Tại sao như thế ? Gia dĩ trong quá khứ bà đă gây nên nhiều nỗi bất b́nh nhất là ở giới thượng lưu.

NGÔ Đ̀NH NHU: ÔNG CỐ VẤN

Ông Nhu đậu cử nhân văn chương Đại học Sorbonne Pa ri và tốt nghiệp trường Chartes.

Danh từ riêng "Chartinste" chỉ những người tốt nghiệp trường Chartes của Pháp cũng đồng nghĩa với sự uyên bác thông thái. Trường Chartes không tới 100 sinh viên nhưng thư viện lại chứa đựng 100.000 tài liệu và sách thuộc mọi ngành. Giáo sư hầu hết là học giả và các ông Hàn lâm. Mỗi lớp chỉ giới hạn 20 sinh viên. Tuy ấn định tú tài II mới được thi vào, nhưng sinh viên đều phải học qua hai năm luyện thi vào trường Chartes (tại trường danh tiếng Henri IV). Cố giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu bạn học của ông Nhu cũng theo học tại trường Chartes nhưng bị loại v́ sự thi cử rất khắt khe. Trong 4 năm học sinh viên chỉ có quyền thi trượt một lần và mỗi năm chỉ có một kỳ lên lớp. Mỗi khoá năm thứ I vào khoảng 20 sinh viên th́ khi tốt nghiệp chỉ lọt chừng một nửa. Chương tŕnh học thuật là mênh mông. Tiếng La-tinh là ngôn ngữ thông dụng.

Sinh viên phải am tường về cổ tự, phải học về công văn thư, học Pháp chế sử ... Ông Ngô Đ́nh Nhu đă được đào tạo trong môi trường khoa bảng uyên thâm đó.

Khi về nước ông trở thành quản thủ thư viện. Tại Tổng thư viện Hà Nội ông được mô tả như một "con mọt sách". Quả thực một nửa đời người ông đă ch́m đắm trong thế giới suy tư và chữ nghĩa kim cổ. Hai tác giả mà ông Nhu mê say và nghiên cứu rất kỹ đó là Thánh Ghandi và Mao Trạch Đông (tức từ triết lư bất bạo động đến triết lư cách mạng bạo động).

Cho đến nay nhiều người vẫn phê b́nh ôngNhu là thâm hiểm, hẹp ḥi. Sự thực th́ ông quá kiêu ngạo và tự tôn. Hơn nữa ông lại vụng về lúng túng trong sự giao tế. Ông lại nói rất kém (tiếng Việt cũng như tiếng Pháp) và lại là người ít nói. Nhưng ông lại là người có khả năng tiên liệu, đa mưu túc kế. Với cuộc sống khép kín như vậy nên ngay cả cộng sự viên cận thân với ông trong 7, 8 năm cũng khó hiểu ông.

Cuộc đời Ngô Đ́nh Nhu được coi là “phong trần" kể từ năm 1945. Khi chiến tranh Việt -Pháp bùng nổ tại Hà Nội th́ ông Nhu cùng Hoàng Bá Vinh chạy về vùng ngoại ô Hà Nội. Rồi ngày đêm qua sự hướng dẫn của Hoàng Bá Vinh, Nhu trốn về Phát Diệm và lưu ngụ tại Nhà Chung. Ở đây ít ngày, Nhu được hướng dẫn vào Thanh Hoá.

Trong thời gian này ông chịu ơn các Linh mục địa phận Thanh Hoá. Sau này ông c̣n nhớ măi ân nghĩa đó. Linh mục Trọng đă phải cho ông Nhu mượn tấm áo Linh mục để hoá trang trên bước đường trốn tránh.

Khi trở về Sài G̣n ông Nhu "thất nghiệp chính trị" và "trùm chăn” để chờ thời. Từ đó sinh kế trong gia đ́nh đều do một tay bà vợ lo liệu. Trong thời gian này, ông cộng tác chặt chẽ với Linh mục Parell trong việc nghiên cứu chính trị và xă hội.

Vốn là con người lạnh lùng nên đời sống tôn giáo của ông Nhu cũng lạnh lùng. Tổng thống Diệm mộ đạo bao nhiêu th́ ông Nhu thờ ơ bấy nhiêu. Đức tin của ông thật mạnh mẽ nhưng ông không biểu lộ đức tin đó bằng những h́nh thức nghi lễ. Tổng thống Diệm th́ xưng tội rước lễ thường xuyên, ông Nhu trái lại không mấy khi rước lễ, xưng tội. Đại úy Bằng một người sống lâu năm trong gia đ́nh họ Ngô cho biết, có khi cả năm sống trong dinh cũng không thấy ông Nhu xưng tội rước lễ.

Mỗi lần xem lễ trong dinh, hai h́nh ảnh thật trái ngược: Tổng thống Diệm th́ đăm đăm đọc kinh, coi sách lễ, ông Nhu tuy cũng quỳ gối nhưng h́nh như chỉ quỳ thế thôi. Lần nào, ông anh cũng mở từng trang sách lễ rồi trao sách lễ cho ông em,chỉ rơ từng trang. Ông Nhu cầm lấy nhưng chỉ cầm chiếu lệ mà không đọc.

Một cộng sự viên thân cận khi đề cập đến Thiên Chúa giáo đă nói với ông Nhu: "Thánh Bernard cho rằng trong nhà thờ người ta thờ Chúa bằng chén vàng chén bạc, ngoài cửa nhà th́ con chiên chết đói", ông Nhu gật đầu đắc ư: “Đúng, đúng như rứa". Mỗi lần nghe họ đạo nọ xây nhà thờ nguy nga, họ đạo kia dựng bức tượng Đức Mẹ rất lớn, ông Nhu lại nhăn mặt khó chịu vô cùng, nói với chung quanh: "Tại sao không xây nhà thương trường học mà cứ phải xây nhà thờ".

Ông Nhu rất ít tiếp xúc với các vị Linh mục trừ một số Linh mục thân thiết trong gia đ́nh. Mỗi khi phải tiếp một vị Linh mục nào ông coi như chuyện bất đắc dĩ và tiếp cho mau chóng.

Ông thường tâm sự: "Nhiều cha hay lợi dụng lắm chỉ lo affaire này kia".

Dư luận cho rằng, ông chống lại hàng giáo phẩm nhưng Linh mục nhận định: "ông theo đạo một cách khác, ông không coi thường các hàng giáo phẩm nhưng không cho là quan trọng đến mức độ phải tôn thờ quỵ luỵ".

Con người ông Nhu thật khó hiểu và ông không bao giờ tâm sự với ai, dè dặt mọi cuộc tiếp xúc không muốn đi ra ngoài và dè dặt với từng lời nói. Người ta vẫn có thành kiến cho rằng ông Nhu thâm độc và chủ trương độc tài. Trái lại ông có vẻ phóng khoáng và có tầm nh́n cởi mở của một chánh khách tây phương. Người độc đoán phải là Tổng thống Diệm, ông Nhu th́ lại khác. Nhiều sự kiện đă chứng tỏ điều này.

Thí dụ về kết quả cuộc bầu cử Quốc hội khoá II (31-8-1959) trong đó có bác sĩ Phan Quang Đán dẫn đầu tại quận II với 33. 166 phiếu và tiếp theo là Cụ Phan Khắc Sửu và ông Nguyễn Trân (nguyên Tỉnh trưởng Mỹ Tho) Tổng thống Diệm quyết định phải loại 3 dân biểu này bằng mọi cách, nhất là ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân.

Cả tháng trời ông Diệm cho gọi các luật gia như ông Trần Chánh Thành và giáo sư Vũ Văn Mẫu, để nghiên cứu làm thế nào dùng biện pháp của luật để loại các dân biểu.

Ông Nhu nói với bác sĩ Trần Kim Tuyến: "Làm chi mà quá như vậy. Th́ người ta đắc cử th́ để người ta vô Quốc hội, người vô làm được cái ǵ… Có 3 người như vậy đâu có nhiều mà phải làm như vậy...". Ông Nhu tỏ ra rất khó chịu và hoàn toàn bất đồng với Tổng thống Diệm về vấn đề này. Cuối cùng để chiều ư ông anh ông Nhu đành chịu. Tuy vậy riêng cụ Phan Khắc Sửu v́ biết rơ uy tín cũng như đức độ của cụ trong dân chúng, nên ông Nhu đă uỷ cho ông Bộ trưởng Huỳnh Hữu Nghĩa liên lạc với cụ Sửu và dàn xếp mời cụ Sửu vào dinh Độc Lập gặp riêng ông Nhu. Cuộc gặp gỡ giữa cụ Sửu và ông Nhu lâu cả hơn một giờ. Theo bác sĩ Tuyến th́ cụ Sửu cũng như ông Nhu tỏ ra thông cảm và cởi mở (cụ Sửu bị bắt trong cuộc đảo chính hụt 2-2-1960 song cụ bà vẫn được tiếp tục lănh lương dân biểu).

Thu xếp xong vấn đề cụ Phan Khắc Sửu nhưng c̣n hai trường hợp ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân, ông Nhu để mặc ông anh quyết định.

Hơn nữa, đối với ông Nhu th́ cụ Phan Khắc Sửu mới là điều quan trọng, v́ không ai phủ nhận được đời sống đạo đức và thành tích tranh đấu của cụ trong dĩ văng.

Sau đó th́ Uỷ ban Hợp thức hoá quyết định không thừa nhận hai dân biểu kể trên. Đây cũng là một vết đen lớn của Quốc hội Đệ nhất Cộng hoà và dù cách nào hay dựa trên căn bản pháp lư cũng không thể biện minh cho sự vi phạm quy chế dân chủ một cách quá rơ rệt như vậy.

Về việc loại trừ bác sĩ Phan Quang Đán khỏi Quốc hội, xét về tâm lư cũng dễ hiểu. Bác sĩ Đán trúng cử tại một đơn vị chính Tổng thống Diệm đi bỏ phiếu và ở ngay khu trung tâm Sài G̣n. Vả lại Tổng thống Diệm đă biết rơ con người ông Đán, khi gặp ông bên Mỹ. Ông Nhu th́ cho rằng ông Phan Quang Đán không quan trọng "Cứ để cho hắn vào" . Nhưng Tổng thống Diệm không chấp nhận. Đây cũng là điều quá hẹp ḥi và sai lầm. Nếu cứ để ông Đán vào Quốc hội th́ sớm muộn ǵ ông Đán cũng bị "cháy" do chính ông "đốt" ông. Nhưng khi loại ông Đán th́ chính là cơ hội tạo cho ông Đán thêm nhiều tiếng tăm uy tín trong dân chúng, mà thực ra uy tín đó hết sức bấp bênh.

Dạo đó dư luận đồn đại rằng, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cố loại Phan Quang Đán v́ ông Đán có thể sẽ tranh cử Tổng thống và ông Đán là "con bài nặng kư" của Mỹ. Dư luận cũng cho rằng ông Ngô Đ́nh Diệm ghen tức với uy tín của ông Phan Quang Đán. Sự thực th́ năm 1955 chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă chấp thuận cho ông Đán hồi hương mà không do áp lực của Mỹ. Một vài lần ông Diệm có ư dành cho ông Đán một ghế Bộ trưởng không mấy quan trọng, nhưng ông Đán lại quá nhiều tham vọng muốn trở thành một lănh tụ đối lập trong khi ông không có thực lực nhân dân, không có một số người cần thiết. Điều đó ông Nhu hiểu rất rơ nên để mặc ông Đán ăn nói rộng răi trước các sinh viên Y khoa năm IV và sinh viên trường Cán sự y tế. Khi về nước, bác sĩ Đán được mời vào dạy môn y tế công cộng và y tế dự pḥng tại hai trường Y khoa và Cán sự y tế (55- 56).

Ông Nhu chấp nhận những cá nhân đối lập cùng những ư kiến đối lập. Cũng v́ vậy, Tổng thống Diệm quyết định loại Phan Quang Đán và Nguyễn Trân th́ ông Nhu lại không đồng ư và cho rằng cứ để họ vào Quốc hội. Với một Phan Quang Đán, ông Nhu đă nhiều lần "miệt thị" và sẵn một thành kiến là Phan Quang Đán hèn, hết chạy theo Pháp và Bảo Đại bây giờ lại trở cờ.

Khi qua Mỹ Phan Quang Đán móc nối được mấy tay thượng nghị sĩ và một vài viên chức CIA th́ Phan Quang Đán lại trở cờ theo Mỹ. Ông cũng biết rơ, Phan Quang Đán không có một thực lực nào, Đảng Dân chủ của ông ta chỉ là đảng ma và thứ đảng phái "c̣ mồi" cho Mỹ.

Ngay trong dinh Độc Lập đă có sự đối lập rồi. Một bên là Tổng thống Diệm với các ông Vơ Văn Hải v.v..Một bên là ông Nhu với mấy cộng sự viên thân cận. Ông Vơ Văn Hải theo Tổng thống Diệm từ thời thiếu niên, một Phật tử thuần thành, nhưng đối với ông Nhu lại "mặt trăng mặt trời". Sau cuộc đảo chính hụt 2-2-1960 ông Hải bị nghi oan có liên hệ với phe đảo chánh, ông tức giận làm một bản phúc tŕnh dài gởi thẳng Tổng thống Diệm và kết luận đại ư rằng: "Tôi theo Tổng thống, trung thành với Tổng thống, tôi chỉ biết một ḷng với Tổng thống thôi..."

Bản phúc tŕnh ấy có ư nói gián tiếp là không cần biết ông Nhu, ông Nhu được xem bản phúc tŕnh đó không biết ḷng dạ ông thế nào nhưng không tỏ thái độ ǵ cả. Rồi mỗi người mỗi phận, mỗi việc.

Nói năng kém hoạt bát, giao tế lại ngượng ngùng. Đó là cái yếu nhất của một nhà chính trị. Ông Nhu mấy lần cũng cố gắng mở cuộc tiếp xúc với một số chính khách nhưng cũng v́ sự giao tế ngượng ngùng mà kết quả không đi đến đâu, không t́m được sự hợp tác.

Sau cuộc đảo chính hụt 2-2-1960 ông Nhu được khuyến cáo cần phải mở rộng chính quyền phải kết hợp các thành phần vẫn được coi là đối lập. Một cộng sự viên được ông Nhu uỷ cho vai tṛ móc nối và dàn xếp . Nếu mời các chính khách vào dinh Độc Lập th́ rất bất tiện. Vả lại các vị này vốn mặc cảm sợ mang tiếng “luồn lọt". Do đó phải tổ chức cuộc gặp gỡ ở bên ngoài.

Lần thứ nhất cuộc gặp gỡ được tổ chức ở nhà riêng của giáo sư Vũ Quốc Thúc. Nhưng khi ôngNhu đến th́ ông lại trở thành người cô đơn lạc lơng. Mấy vị chính khách th́ ngồi tận xa c̣n ḿnh ông trơ trọi trên chiếc ghế bành, kết quả không đi đến đâu, và không cởi mở với nhau được những ǵ cần cởi mở.

Lần thứ hai tại nhà riêng bác sĩ Phan Huy Quát. Lần này khá đông, nhưng khi ông Nhu đến th́ mọi người lại né tránh, ông vẫn là người trơ trọi. Vốn ít nói, lại nói "trọ trẹ" khó nghe nên ông càng thêm trơ trọi. Trong khi đó không ai gợi chuyện để hiểu tính nhau và t́m đường thông cảm với nhau.

Người ta cho rằng, ông Nhu thâm hiểm, nhưng sự thực như trên đă viết, tâm hồn ông quá khép kín, vui buồn không bộc lộ ra ngoài, không mấy khi tâm sự với ai kể cả người thân. Ông lầm ĺ, trù tính những ǵ không ai hay biết.

Nhưng ông lại là người biết nghe cộng sự viên tŕnh bày những điều hợp lư, phải lẽ. Nhưng có mấy ai tŕnh bày nguyện vọng thực của ḿnh để ông có thể nh́n rơ thực trạng ?

Đối với một công việc dù quan hệ đến đâu nếu do tay ông giải quyết th́ ông giải quyết ngay, không do dự.

Thí dụ năm 1957, nhân một chuyến đi dạo quanh đô thành, Tổng thống Diệm đi qua bến Bạch Đằng...ông nổi giận đùng đùng v́ cảnh bến sông thật là "bê bối"... hàng quán san sát, chiêu đăi viên cùng thực khách đùa giỡn lả lơi, ông Diệm sau đó chỉ thị cho giới chức đô thành phải giải toả ngay, ông Tổng thống cho rằng thủ đô là tiêu biểu cho thể thống quốc gia để cho hàng quán tùm lum ở bến sông, ở hè phố như vậy th́ c̣n ǵ là thể thống. Theo quyết định của Tổng thống, Đô trưởng Sài G̣n khẩn cấp ra lệnh giải toả. Hàng ba trăm bạn hàng dọc theo bờ sông bến Bạch Đằng và một số nơi khác ở các vỉa hè lớn bị giải toả Trước khi giải toả họ chỉ được thông báo và thông báo một cách cấp kỳ như vậy trong một thời gian quá ngắn làm sao thu xếp được công ăn việc làm.

Các bạn hàng cấp tốc quy tụ lại thành một nghiệp đoàn để tranh đấu (đặt dưới sự bảo trợ của Tổng Liên đoàn Lao công) do ông Nguyễn Văn Vượng làm Chủ tịch và dự định biểu t́nh làm lớn chuyện. Ông Nhu biết được như vậy th́ t́m cách giải quyết ngay. Ông cho gọi ông Nguyễn Văn Vượng vào dinh để giàn hoà.

Nếu ông Diệm quá khắt khe trong quan niệm luân lư và thuần phong mỹ tục th́ ông Nhu lại tỏ ra rộng răi, mặc dù ông không phải là người bài bạc ăn chơi.

Khoảng năm 1959 Tổng thống đi xe từ trại Quang Trung về đến ngă ba Chú Ía (gần nhà thương Cộng hoà) th́ có cả mấy chục cô gái giang hồ phấn son loè loẹt dừng bên đường vẫy tay cười nói, ông Tổng thống mặt đỏ bừng bừng: "Mấy con mụ đó nó làm chi mà dị hợm rứa" (chữ dị hợm này, Tổng thống Diệm đă dùng để nhận định về con người ông Phan Quang Đán). Viên sĩ quan tuỳ viên cứ ngay t́nh nói thẳng: "Bẩm, mấy đứa nó là gái giang hồ, vùng này nhiều lắm " . Ông Tổng thống lại hầm hầm mặt đỏ gay: "Thằng tỉnh trưởng nó làm chi đó hỉ. . . “

Khi trở về dinh, ông Diệm cho gọi Đại uư Bằng đến hỏi kỹ về chuyện này. Sau đó ông bảo Tổng Giám đốc Cảnh sát đô thành, Tỉnh trưởng Gia Định và Trung tá Cao văn Viên phải thân hành lấy xe đi một ṿng kiểm soát xem thực hư thế nào. Các viên chức trở về dinh đều xác nhận là có nhiều gái giang hồ tại mấy vùng ngoại ô như Lăng Cha Cả vùng nhà thương Cộng hoà. Ông Giám đốc Cảnh sát đô thành (Trần Văn Tư) phải một phen xanh mặt. Mấy hôm sau Tổng thống Diệm ra lệnh băi chức một loạt Cảnh sát trưởng thuộc Đô thành và Trưởng ty Cảnh sát Gia định. Vụ này làm "rung động" giới chức Cảnh sát cao cấp ông Nhu cứ nhăn mặt lắc đầu: "Làm chi mà quá đáng như rứa". Ông cũng thường nói với các cộng sự viên: "Cấm là cấm vậy thôi chứ nạn măi dâm làm sao hết được tập trung bọn nó sang cả vùng Cầu Hàn cho dễ kiểm soát bệnh tật”.

Ông Nhu quan niệm rộng răi như vậy cũng dễ hiểu v́ ông cũng không lạ ǵ nạn măi dâm tại thành phố Paris nơi ông đă lưu trú nhiều năm. Theo Lương Khải Minh ông Nhu khác hẳn với ông Diệm, ông không quan tâm đến chuyện vụn vặt. Điều quan trọng với ông là "Chơi th́ cứ chơi nhưng kín đáo đừng gây nên tai tiếng". Ông thường nói: "Bọn Cảnh sát cao cấp nó cũng ăn chơi hủ hoá ghê lắm, nhưng nó kín đáo...chơi th́ chơi nhưng chịu làm việc có suy nghĩ ". Cái chết của tướng Hồ Văn Tố v́ bệnh thượng mă phong làm cho ông Diệm mặt chảy dài, thở ph́ ph́ tức giận...ông Nhu chỉ lắc đầu: "Làm th́ không lo làm...lúc nào cũng chỉ có "con chim" trên đầu”. Nhưng ông có cái rộng răi này th́ cũng vấp phải những định kiến hẹp ḥi khác, nhiều khi rất quá đáng nhu đứng ở tư thế một nhà lănh đạo chính trị. Trường hợp đối xử với một số đồng bạn cũ của ông cũng gây ra tai tiếng không ít và do đó người ta cho rằng ông Nhu theo chính sách "vắt chanh bỏ vỏ”.

__________________
 

TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM


Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)

 

 


Chương VII : Chế độ Ngô Đ́nh Diệm và người Mỹ

Sau vụ biến cố đẫm máu tại Đài Phát thanh Huế 4 ngày, ông Nhu đă cho nổ một trái bom làm rung động giới ngoại giao Mỹ, khi ông Nhu tuyên bố với phái viên tờ Washington Post "Cho đến lúc này Chính phủ Việt Nam cộng hoà không thấy cần thiết một số cố vấn quân sự quá lớn, cho nên Việt Nam Cộng hoà có thể yêu cầu Chính phủ Mỹ cho rút một nửa số cố vấn quân sự Mỹ, tức là chỉ nên duy tŕ 7, 8 ngàn là đủ (Washington Post 12-5-1963). Cũng vào thời gian này ông Nhu nói với giáo sư Bửu Hội "Đă đến lúc ḿnh phải xét lại sự viện trợ và hợp tác của Mỹ. Anh có thể giúp tôi t́m sự ủng hộ thân hữu của Pháp và các quốc gia Bắc Phi. Trong t́nh thế hiện nay chúng ta phải đi đến một modus vivendi thoả ước với Bắc Việt”. Sáng chủ nhật hôm ấy ông Nhu cũng lặp lại câu nói như vậy với một vài cộng sự viên thân cận. Nhưng ai nấy đều cho rằng con đường mà ông Nhu sắp đi tới rất nguy hiểm. Nhưng ông Nhu vẫn chủ quan cho rằng kế hoạch ấp chiến lược và đường lối ngoại giao mới qua trục Paris và Á phi sẽ tạo cho miền Nam đủ tư thế chấp thuận thoả ước với miền Bắc. Nhưng ông Nhu quên rằng với 16 ngàn cố vấn Mỹ và mỗi ngày Mỹ phải chi trên một triệu dollars cho cuộc chiến tại Việt Nam (1963) th́ không dễ ǵ Mỹ có thể để cho ông Nhu tự do hành động khác với những đường lối của họ.

MỘNG ƯỚC HIỆP THƯƠNG HAI MIỀN NAM BẮC.


Trước năm 1961 Ngoại trưởng Pháp Couve de Murvíle sau cuộc tiếp xúc với ông Nhu tại Paris (196l) đă phê b́nh ông "Ngô Đ́nh Nhu là một người có nhiều ảo tưởng”. Ông Murville cũng như bác sĩ Trần Kim Tuyến cho rằng phê b́nh như vậy cũng có phần đúng. Theo ông Tuyến "ông Nhu là một chính khách có suy tư về chính trị, có khám phá, có sáng tạo trên b́nh diện chiến lược. Nhưng thực tại t́nh h́nh chính trị miền Nam chính nó đă làm cho suy nghĩ của ông Nhu trở nên ảo tưởng". Một buổi sáng trời trong xanh, ông Nhu mỉm cười mô tả một cách đầy thi vị với ông Tuyến: "Buổi sáng Việt Nam mầu trời pha lê, toa thấy chiến tranh phi lư quá hỉ. Bọn nó (tức Mỹ) như con hổ bị thương, chúng sẽ cho dollars để Phật giáo phá moa. . . Nhưng chế độ này th́ phải tồn tại ".

Khi ông Nhu toan tính bắt tay với miền Bắc Việt Nam th́ trước hết ông đă gặp phản ứng hết sức bất lợi cho kế hoạch riêng của ông... Phản ứng đó xuất phát ngay từ tập thể Thiên Chúa giáo và nhất là một số người khối dân di cư.

Một số trong khối người đó từng hậu thuẫn vô giá cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm, những ngày đầu 1954-1955. Tuy toan tính của ông Nhu không mấy ai biết nhưng hẳn nhiên không thể qua mắt được các đức Giám mục Thiên Chúa giáo. Đức cha Lê Hữu Từ có thể là người được biết quá thông suốt về những toan tính của ông Nhu. Điều này cha Jean (một Linh mục người Pháp lúc đó đang sống tại Sài G̣n) đă có nhiều cơ hội được am tường một cách tương đối rành rẽ. Sau cuộc biểu t́nh dữ dội của Phật giáo ngày 17-7, phản ứng của Mỹ hoàn toàn bất lợi cho chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Đài VOA thông tin và b́nh luận một cách có thiện cảm hay đúng hơn là đă gián tiếp ca ngợi cuộc đấu tranh của Phật giáo. Cha Jean được mời vào dinh gặp ông Nhu. Cuộc gặp gỡ kéo dài trong hai tiếng đồng hồ. Ông Nhu đă đề cập về cuộc xuống đường của Phật giáo ngày 17, ông nói: "Tôi có nhiều bằng chứng là hiện nay Cộng sản đă thao túng phật giáo. Rất nhiều cán bộ Cộng sản cải trang vào đó với tư cách Phật tử hay các nhà sư".

Cha Jean chỉ lắng nghe mà không đáp. ÔngNhu với thái độ giận dữ: "Tôn giáo là tôn giáo, quốc gia là quốc gia. Tổng thống không thể nào nhượng bộ họ được nữa. Đă đến lúc Chính phủ phải có biện pháp mạnh. Nếu Chính phủ hạ lệnh th́ chỉ trong ṿng một ngày, quân đội và cảnh sát có thể dẹp tan phong trào tranh đấu này".

Cha Jean đáp : "Thưa ông Cố vấn, đây là vấn đề nguy hiểm và rất tế nhị. . . vấn đề Phật giáo theo tôi biết đă có tầm mức quôc tế. ông Cố vấn có thể nào t́m được cách giải quyết tốt đẹp hơn là đàn áp không”.

Ông Nhu lừ mắt nh́n cha Jean, ông lắc đầu: “Đến nay th́ không c̣n cách nào giải quyết tốt đẹ pnữa. Hiện các tướng lănh và sĩ quan cao cấp đang bất măn với Phật giáo, họ đang thúc xúi Tổng thống hạ lệnh cho họ được phép dẹp cho yên ". Cha Jean không c̣n biết nói ǵ hơn. ông Nhu lại tiếp tục: "Tôi hiểu, nhiều kẻ đang âm mưu gây rối miền Nam... Chính phủ không thể tha thứ bất cứ một cuộc nổi loạn nào”.

Bất chợt ông Nhu hỏi cha Jean: "Phía Hoa kiều Chợ Lớn cha thấy thái độ chung của họ như thê' nào”. Cha Jean đáp "Hoa kiều tại Việt Nam như ông Cố vấn đă rơ, họ chỉ biết làm ăn buôn bán". Ông Nhu nói: "Cha có thể giúp tôi làm mộ tviệc riêng? ". Cha Jean đáp: “Tôi sẵn sàng nếu thấ ycó khả năng". Ông Nhu ngần ngại rồi đi thẳng vào câu chuyện: "Cha có thể giúp tôi một việc quan trọng này ngoài cha, Tổng thống không muôn uỷ thác cho một ai ".

Ông Nhu lại yên lặng hút thuốc lá lâu hàng 5, 7 phút. Đoạn ông nói: "Cha sang Đài Loan giúp Chính phủ được không”. Cha Jean chưa trả lời, ông Nhu nói tiếp: "Cha có đủ uy tín nói chuyện với Chính phủ Đài Bắc, làm sáng tỏ cho họ rơ là Việt Nam Cộng hoà không bao giờ chủ trươg và kỳ thị tôn giáo. Cuộc tranh đấu của Phật giá ođang bị lợi dụng”. Cha Jean đáp: "Thưa ông Cố vấn, tôi nghĩ việc này ông Cố vấn nên tiếp xúc thẳng với Dại sứ Đài Bắc hoặc nếu không ông Cố vấn có thể uỷ thác cho ông Bộ trưởng Ngoại giao".

Sự từ chối khéo của cha Jean làm ông Nhu mất b́nh tĩnh: "Bộ trưởng Ngoại giao ấy à ? ông ta không làm được cái chi hết. C̣n ông đại sứ Đài Bắc, cũng đang bị dư luận đầu độc. Tôi muốn cha sang Đài Loan nói cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch biết rơ sự thực và cha nói giùm Chính phủ Đài Bắc phải chấm dứt ngay chiến dịch báo chí ở Đài Loan hiện đang xuyên tạc Chính phủ Việt Nam Cộng hoà và họ đang cổ vũ cho cuộc tranh đấu của Cộng sản duới chiêu bài tôn giáo".

Cha Jean nói: "Xin ông Cố vấn cho tôi tŕnh bày ư hiên. Theo tôi, có thể nói Cộng sản len lỏi vào hàng ngũ tranh đấu của Phật giáo nhưng tôi tin rằng cuộc tranh đấu này vẫn có tính tôn giáo đấy chứ. Tôi không tin Thượng tọa Thích Tâm Châu hay ông Mai là Cộng sản. Đại sứ của ông Tưởng Giới Thạch cũng đă nói với tôi nhu thế. Xin ông Cố vấn thông cảm cho sự khó khăn của tôi, tôi xin không thể nói ǵ khác hơn là như vậy ".

Ông Nhu hỏi: "Ngay cha cũng tin vào dư luận là Tổng thống sẽ thương thuyết với Bắc Việt”. Cha Jean đáp: “Đó là điều làm tôi ngạc nhiên ". Cha 1ại hỏi "Chắc chắn ông Cố vấn có theo dơi hoạt động của "Uỷ ban Hoà b́nh phục hưng miền Nam"(Comité pour la Paix et la Rénovation du Sud Việt Nam). Ông Nhu "à" một tiếng khá lớn lắc đầu với thái độ khinh miệt "Tôi biết tổ chức ấy là một con số không, do một số người Pháp đỡ đầu. Trần Văn Hữu chắc cha biết rơ?” Cha Jean đáp “Tôi có gặp ông ấy một vài lần". Ông Nhu bỗng cao hứng nói một hơi thật dài. Đến nay cha Jean chỉ c̣n nhớ lại một số nét chính đại cương: "Trần Văn Hữu hiện nay đang được nhóm Paul Devinat Bolaert, Pignon đỡ đầu, hắn đ̣i biết ǵ không? Hắn đ̣i phải lật đổ Chánh phủ này, nghĩa là xoá bỏ chế độ này, sau đó tổ chức một chánh phủ liên hiệp, có Mặt trận Giải phóng tham gia và miền Nam sẽ trung lập" Cha Jean lại hỏi: “Thưa ông Cố vấn nghĩ như thế nào về đề nghị của ông Hữu? ". Ông Nhu đáp: "Đó là một đề nghị trẻ con, tôi không quan tâm, nếu có nói chuyện trung lập th́ chỉ nói với Bắc Việt thôi chứ Mặt trận Giải phóng chỉ là một tổ chức phiến loạn". Cha Jean nhân cơ hội này lại hỏi "Thưa ông cố vấn, ông có nghĩ đến vấn đề nói chuyện với Bắc Việt không?”.

Ông Nhu mỉm cười: “Đó là vấn đề chính mà hôm nay tôi cần gặp cha và nhờ cha giúp tôi".

BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN CHỈ LÀ CHIẾN THUẬT TRẢ ĐŨA HOA KỲ


Qua cuộc tiếp xúc với ông Nhu, cha Jean nhận thấy ông Nhu đang trải qua cơn dao động với một thái độ quyết liệt. Về vấn đề bắt tay với Bắc Việt, ông Nhu tỏ ra hết sức dè dặt. Ông vẫn không tin tưởng vào thế trung lập mà liên hiệp với Bắc Việt lại càng không thể có. Ông Nhu nhắc đi nhắc lại với cha Jean: "Cha đă hiểu biết nhiều về Cộng sản . . Chắc cũng biết rơ là Tổng thống ghét Cộng sản như thế nào". Sau đó ông rất dè dặt tâm sự: “ Trong t́nh thế này Hoa Kỳ cứ gây khó khăn măi cho Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa tôi phải lựa chọn”. Ư ông Nhu muốn nói là ông phải lựa chọn một thế đứng mới làm điều kiện trả đũa áp lực của Hoa Kỳ. Cha Jean cũng nhận thấy chưa bao giờ ông Nhu lại tỏ vẻ tức giận Hoa Kỳ như vậy. Trong cuộc gặp gỡ hôm ấy, ông Nhu muốn nhờ Cha Jean qua Đài Loan rồi trở về Paris. Về việc qua Đài Loan ông Nhu cho biết ông rnuốn nhờ cha Jean nói với nhà cầm quyền Đài Loan biết rằng, Tổng thống Diệm vẫn giữ vững lập trường chống Cộng không có vấn đề liên hiệp, tuy nhiên ông Nhu nhấn mạnh "Tuy nhiên nếu quốc gia chống Cộng như Trung Hoa dân quốc (1) không giúp đỡ tích cực Việt Nam Cộng hoà và không làm cách nào cho Mỹ bớt gây rối Miền Nam th́ buộc ḷng Việt Nam cộng hoà phải chọn lựa, nghĩa là sẽ có chuyện ngưng bắn và thiết lập quan hệ ngoại giao b́nh thường với Bắc Việt”.

Điểm sau cùng mà ông Nhu nhấn mạnh "Chánh phủ Việt Nam Cộng ḥa hoàn toàn ủng hộ Trung Hoa Dân quốc và chính v́ thế mà Hoa kiều tại Việt Nam Cộng hoà đă hưởng mọi ân huệ. Nếu t́nh thế thay đổi nghĩa là khi Chính phủ Việt Nam Cộng hoà buộc ḷng phải bắt tay với Cộng sản Bắc Việt th́ lúc ấy Hoa kiều không c̣n được hưởng ân huệ như vậy và các tổ chức ch́m nổi của Chính phủ Đài Loan tại miền Nam Việt Nam cũng sẽ khó khăn rồi tự nó tan ră".

Trước khi ra về ông Nhu nắm chặt tay cha Jean tiễn ra tận hành lang, ông nhắc đi nhắc lại:"Bất cứ một người Công giáo nào cũng không thể nghi ngờ được lập trường chống Cộng của Tổng thống". Ông Nhu ngập ngừng khẽ nhún vai, dáng điệu ấy cho đến nay cha Jean vẫn chưa thể quên. Ông Nhu nói: "Lập trường chống Cộng phải đi song song với lập trường dân tộc. Nếu Hoa Kỳ không tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam th́ buộc ḷng Tổng thống sẽ phải xét lại công cuộc viện trợ. Chắc Cha đă rơ nhiều quốc gia sẵn sàng viện trợ cho Việt Nam, Tổng thống sẽ cân nhắc lựa chọn". Trong buổi tiếp xúc này, ông Nhu nói có vẻ muốn thanh minh hai điểm quan trọng.

1) Không có chuyện đàn áp Phật giáo.

2) Tập thể Công giáo cứ yên tâm và tin tưởng vào lập trường chống Cộng của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm.

Từ Cha Jean cho đến bác sĩ Trần Kim Tuyến và giới thân cận với ông Nhu đều nhận định rằng ông Nhu muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Mỹ, muốn t́m một thế đứng mới, nhưng chuyện mưu đồ bắt tay với Cộng sản chỉ là một chiến thuật mặc cả với Hoa Kỳ. Nhưng Hoa Kỳ lại dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông" quật ngă ông Nhu, khi họ cố t́nh cho rằng ông Nhu bắt tay với Cộng sản. Một số tướng lănh và sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng hoà đă bị Hoa Kỳ lung lạc tinh thần bằng cái dư luận: ông Nhu định điều đ́nh với Cộng sản. Thực sự cơ quan CIA không thiếu ǵ phương tiện, nhất cử nhất động của ông Nhu không qua khỏi con mắt của CIA. Có lẽ vấn đề ông Nhu bắt tay với Cộng sần không làm Mỹ lo ngại bằng vấn đề bang giao Việt-Pháp mỗi ngày càng thêm tốt đẹp, sau nữa là thái độ quá cứng rắn của ông Diệm trước những đề nghị của Mỹ mà ông Diệm cho rằng xâm phạm đến chủ quyền miền Nam Việt Nam (như vụ Cam Ranh, đề nghị đặt Cố vấn Mỹ cạnh Tỉnh trưởng Việt Nam, lập pḥng Dân vụ Mỹ cạnh Toà Đại biểu Chính phủ. Sau năm 1963 những vấn đề này được Chính phủ sau đảo chính thoả măn ngay).

Trước năm 1962, bang giao Việt - Pháp vẫn tẻ lạnh như buổi chợ chiều. Chánh phủ De Gaulle không một chút thân thiện nào đối với Việt Nam Cộng hoà. Theo những tài liệu mà chúng tôi t́m hiểu th́ Tổng thống Diệm do sự thúc đẩy của ông Nhu đă gián tiếp ngỏ ư muốn qua hành hương tại Lourdes và nhân cuộc hành hương này tướng De Gaulle sẽ chính thức mời Tổng thống Diệm thăm viếng Paris. Song điều đó bất thành.

---------------------------------------------------
(1) Tức Đài Bắc


CHẮP NỐI DUYÊN XƯA

Theo cha Jean th́ không phải chỉ năm 1963 ông Nhu mới nghĩ đến chuyện phát triển bang giao Việt - Pháp và t́m điểm tựa mới nơi chính phủ De Gaulle. Năm 1961 trong chuyến du hành qua Maroc dự lễ đăng quang Đức vua Hassan II ông Nhu nhân dịp này ghé qua Paris với tư cách riêng. Tuy vậy ông Nhu cũng đến thăm xă giao Ngoại trưởng Pháp Couve de Murville. Tuy với tư cách riêng Ngoại trưởng Couve de Murville cũng mở dạ tiệc khoản đăi ông Nhu với sự hiện diện của Đại sứ Laloutte và ông Étienne Manach đặc trách Á Châu sự vụ tại Bộ Ngoại giao Pháp. Tuy không đạt được một kết quả cụ thể nào nhưng chuyến thăm viếng Paris lần này ông Nhu đă phá được bầu không khí tẻ lạnh giữa chính quyền Ngô Đ́nh Diệm với Pháp. Kể từ năm 1961, ông Manach trở thành nhịp cầu thông cảm giữa hai Chính phủ. Hơn nữa vẫn theo cha Jean, ông Manach rất có thiện cảm với ông Nhu - một cựu sinh viên trường Cổ học Paris- đó cũng là điểm hào quang dễ dàng thu hút sự cảm phục của giới ngoại giao Pháp. Trước năm 1960, các cha thừa sai Pháp (MPE) từng tỏ ra bị lạnh nhạt bởi chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, nhưng sau năm 1960 thái độ của ông Diệm đă thay đổi. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm trở lại ưu ái các cha thừa sai Paris, đặc biệt những cha hoạt động tại Cao nguyên th́ Tổng thống mỗi ngày càng thêm tín nhiệm và kính phục. Đó cũng là tia sáng soi đường cho quan hệ thân thiện với Pháp. Một trí thức cỡ như Ngô Đ́nh Nhu tất nhiên dễ dàng thông cảm với Pháp hơn. Cái văn minh cơ khí của Mỹ có tiền dollars viện trợ dù to tát như thế nào cũng khó ḷng đè bẹp được cái tinh hoa văn học Pháp, đă tiêm nhiễm sâu xa trong con người trí thức như Ngô Đ́nh Nhu.

Đó cũng là điều dễ hiểu khi ông Nhu giơ bàn tay tiếp nhận người bạn Pháp. Đó cũng là lư do dễ hiểu tại sao những năm 1960-1961 chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cho mở hàng loạt các toà Đại sứ tại các quốc gia Á Phi thuộc ảnh hưởng của Pháp. Trong một bài báo nhan đề “La Paix manquée en" của kư giả Georges Chaffard (Express số 990) nhận định rằng trong cuộc gặp gỡ. Couve de Murville - Ngô Đ́nh Nhu (1961) đă không đạt được kết quả v́ ông Nhu tự ái. Couve de Murville lại tỏ ra lạnh nhạt. Chaffard viết: "ông Couve de Murville tin rằng bởi thế nào chuyến sang Pháp lần này ông Nhu cũng ve văn Pháp, nhưng ông Couve de Murville đă thất vọng v́ trong suốt bữa tiệc ông Nhu chỉ đề cao chính sách của anh em ông, ca ngợi khu trù mật và tự hào về chế độ Ngô Đ́nh Diệm đang mạnh". Vẫn theo Chaffard th́ ông Etienne Manach linh cảm rằng ông Nhu sang Pháp không phải chỉ để nói những lời "suông" như vậy ông Etienne Manach lại bố trí một cuộc hội đàm Ngô Đ́nh Nhu với Couve de Murville khi ông Nhu từ Rabat (Maroc) trên đường ghé về qua Ba lê. Cuộc hội đàm không đi đến đâu... nhưng đó là cái mốc lớn mở đầu cho giai đoạn mới mà Đại sứ Lalouette đóng một vai tṛ quan trọng. Đại sứ Lalouette đă hiểu rơ sự rạn nứt trong mối t́nh đồng minh Mỹ- Diệm. Sự mâu thuẫn giữa Việt-Mỹ ngày càng gia tăng và ông Nhu đă hơn một lần gián tiếp ngỏ ư cho Đại sứ Lalouette hay rằng đă đến lúc Pháp-Việt phải cải thiện quan hệ bang giao và người Pháp có thể đóng một vai tṛ quan trọng tại bán đảo Đông Dương. Đại sứ Lalouette trở thành người bạn thân của cả Tổng thống Diệm lẫn ông Ngô Đ́nh Nhu. Lalouette đóng vai tṛ biện hộ cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm trước thái độ nghi ngờ của tướng De Gaulle - v́ De Gaulle vẫn chưa quên bài học đau đớn 1954-1955, một mặt bị Mỹ đá khỏi Việt Nam một mặt chính quyền Ngô Đ́nh Diệm tẩy chay Pháp. Theo Georges Chaffard nhận định th́ theo ông Lalouette anh em ông Diệm quá nhiều tự ái dù anh em ông ta muốn ve văn Pháp đến mức nào đi chăng nữa, anh em ôngDiệm cũng không nói thẳng ra được. Dần dần, tướng De Gaulle ngả theo chiều hướng thuyết phục của Đại sứ Lalouette.

Nghĩa là: Với sự mâu thuẫn Việt-Mỹ, khi mà ông Nhu muốn t́m một thế đứng mới, th́ đây là một cơ hội tốt nhất để Pháp nhảy vào Đông Dương, đóng vai tṛ mới.

Tưởng cũng nên ghi lại một biến cố ngoại giao đáng cho Hoa Kỳ lo ngại. Tháng 2-1963, một phái đoàn dân biểu của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm chính thức qua viếng thăm Pháp quốc do ông Trương Vĩnh Lễ hướng dẫn, gồm có các dân biểu Nguyễn Hữu Chỉnh, Hà Như Chi, Nguyễn Quốc Hưng, Trần Văn Thọ. Phái đoàn dân biểu Việt Nam Cộng ḥa được đón tiếp một cách khác thường, Tổng thống De Gaulle đă tiếp phái đoàn tại điện Elyssée và cuộc hội kiến kéo dài 35 phút. Báo chí Pháp trong ngày 14-2-1963 đă nhận định về cuộc hội kiến này. Tờ Le Monde cũng như France Soi coi đây là một biến cố lớn, một khúc quanh quan trọng trong cuộc bang giao Việt-Pháp. Ngày 15-2, Thủ tướng Pompidou cùng với Ngoại trưởng Couve de Murville đă thảo luận rất lâu với phái đoàn dân biểu Việt Nam Cộng ḥa với sự tham gia gần như đủ mặt giới danh thương và kỹ nghệ Pháp. Người hoan hỉ nhất trong dịp này là Đại sứ Lalouette. Ông Đại sứ đă thành công trong chặng đầu...Từ đó trở đi, Đại sứ Lalouette trở thành một Đại sứ quan trọng sau Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n. Phản ứng của Hoa Kỳ như thế nào ? Dĩ nhiên Hoa Kỳ không thể công khai phản đối mối t́nh Việt-Pháp nhưng Hoa Thịnh Đốn bắt đầu phản công lại.

Đại tá Lansdale Fishel người đă từng ủng hộ hết ḷng Tổng thống Diệm trong thời gian 1954-1955 th́ 1963 lại là người tích cực vận động lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, Fishel từng lưu ngụ tại miền Nam Việt Nam và đă từng cộng tác với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm th́ 1963 ông lại chủ trương phải lật đổ ngay Ngô Đ́nh Diệm dù phải dùng biện pháp sắt kể cả việc thanh toán cá nhân Tổng thống Diệm.

CHÍNH HOA KỲ ĐĂ ĐẨY ÔNG NHU VÀO THẾ CHÂN TƯỜNG

Kể từ khi Trung Hoa Dân quốc thiết lập một số đài kiểm thanh tại Nam Việt Nam (chẳng hạn Đài Kiểm thính Phú Bài Huế) th́ hiệu năng t́nh báo gia tăng mạnh mẽ. Điều đáng kể những đài kiểm thính này đều đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Sở nghiên cứu chính trị. Nhân viên Trung Hoa Dân quốc tự coi như nhân viên của sở nghiên cứu chính trị Nam Việt Nam. Không những đài kiểm soát được toàn bộ các làn sóng điện của Bắc Việt, Lào mà c̣n bao trùm cả miền Hoa Nam. Tuy nhiên có một điều Hoa Kỳ không vừa ư là kết quả khai thác của đài kiểm thính đă không được chuyển giao cho Hoa Kỳ. Măi sau này, khi cuộc chiến bộc phát mạnh, Hoa Kỳ mới thiết lập một Trung tâm Kiểm thính khác (1962) gần Bộ Tổng Tham mưu để họ sử dụng riêng trong phạm vi cơ quan MAC.V (l)

Qua vụ Đài Kiểm thính ta cũng thấy rơ một phần nào bản chất viện trợ của Mỹ tại xứ này. Rồi vụ Đài Phát thanh Sài G̣n nữa. Khoảng đầu năm 1960 Tổng thống Diệm muốn gia tăng hiệu năng vô tuyến truyền thanh th́ đài Sài G̣n lại quá yếu. Ngân sách không cho phép phát triển theo ư muốn, để đương đầu với hiệu năng quá lớn mạnh của Đài phát thanh Hà Nội. Tất nhiên là phải yêu cầu Hoa Kỳ viện trợ. Song người Mỹ chỉ đồng ư viện trợ máy móc tối tân cùng với chuyên viên điều khiển của họ. Tổng thống Diệm cho rằng đây là một tṛ chơi nguy hiểm. ông Nhu cũng lo ngại v́ nếu máy móc đặt trong tay chuyên viên Hoa Kỳ th́ nếu có một biến cố lớn xảy ra, Hoa Kỳ có thể chơi xấu và phá đám bằng khả năng kỹ thuật của họ. Phía Nam Việt Nam có đề nghị Hoa Kỳ huấn luyện chuyên viên của ḿnh và chỉ cần viện trợ máy móc cũng quá đủ. Đề nghị này không được Hoa Kỳ chấp thuận, cuối cùng Tổng thống Diệm cũng bỏ qua không nhắc nhở đến nữa.

Kể từ năm 1962 thế lực Mỹ mỗi ngày càng gia tăng và bao trùm nhiều ngành sinh hoạt quốc gia, chiến tranh càng lan rộng th́ thế lực Mỹ cũng có nhiều cơ hội thuận tiện nhất để khống chế chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Theo bác sĩ Tuyến th́ ông Nhu tâm sự rằng: "Ngân sách quốc pḥng tăng như rứa, viện trợ như rứa... buộc phải t́m lại thế quân b́nh. Chiến tranh càng kéo dài càng bất lợi cho chế độ. " Theo ông Nhu (thường thổ lộ ư kiến với bác sĩ Trần Kim Tuyến cũng như một số cộng sự viên thân cận) th́ chiến tranh sẽ phải sớm chấm dứt. Một là dốc toàn lực để đè bẹp Cộng sản. Nếu hai bên c̣n nghiêng ngửa và chiến tranh có chiều hướng kéo dài th́ phải t́m cách chấm dứt bằng giải pháp chính trị. Ông Nhu tin tưởng ấp chiến lược là một căn bản và một ưu thế cho giải pháp chính trị để chấm dứt chiến tranh. Khi khả năng quốc pḥng và chiến tranh phải tuỳ thuộc vào viên trợ Mỹ th́ sự mất mát chủ quyền là một điều khó có thể tránh khỏi. Theo Lương Khải Minh cũng như những nhân vật trọng yếu gần Tổng thống Diệm th́ vấn đề chủ quyền quốc gia đối với Tổng thống Diệm là vấn đề số 1. Chủ quyền quốc gia gắn liền với tính tự ái quá cao của ông Tổng thống. Bằng chứng là năm 1961, 1962 các cố vấn quân sự Mỹ khuyến cáo chính quyền Ngô Đ́nh Diệm băi bỏ ngành hiến binh. Lúc đầu Tổng thống Diệm có vẻ thuận ư qua lời tŕnh bày của Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần. Ông Thuần cũng chỉ tŕnh theo đề nghị của cố vấn quân sự Mỹ. Tổng thống Diệm có một điểm do dự là hiện ngành hiến binh, đang phục vụ đắc lực, ông Tổng thống vẫn tin tưởng vào hiến binh v́ cho rằng hiến binh “làm việc đúng đắn rành luật pháp". Nhưng sau đó Tổng thống Diệm cho xếp lại và vẫn duy tŕ ngạch hiến binh. Tổng thống Diệm bảo ông Thuần: "Cứ thư thả, không có ǵ thay đổi hết, họ (tức Hoa Kỳ) nói sao ḿnh làm vậy th́ c̣n ǵ là thể thống quốc gia". Sự thực lúc đầu Tổng thống Diệm cũng nghiêng theo lời tŕnh bày của ôngThuần nhưng bỗng hầm hầm nổi giận khi ông Thuần cho biết, cố vấn quân sự Mỹ muốn băi bỏ ngành hiến binh chỉ v́ quân đội Hoa Kỳ không có ngành này ( MP đảm trách mọi việc). Cố vấn quân sự Mỹ cho rằng đă có quân cảnh rồi th́ hiến binh không cần thiết và sẽ có riêng loại quân cảnh hiếnbinh. Cố vấn Mỹ cho biết, nếu không băi bỏ ngành hiến binh th́ Hoa Kỳ không thể dành một ngân khoản viện trợ cho một ngành không cần thiết như vậy. Tổng thống Diệm coi đây là một áp lực và vô t́nh đă xúc phạm đến tự ái của một vị Tổng thống cai trị dân theo quan niệm "thiên mệnh". Do đó mà ngành hiến binh bao nhiêu lần có tin đồn băi bỏ rồi rút cuộc vẫn được duy tŕ cho đến ngày sau đảo chính 1-11-1963.

Trên đây là một vài sự kiện trong bao nhiêu sự kiện khác và đó cũng là một nguyên nhân đẩy ông Nhu vào một sự lựa chọn mới .

--------------------------------------------
(1) Cơ quan t́nh báo quân sự Mỹ.


KHÔNG THỂ LÀM TAY SAI MỘT CÁCH TRƠ TRẼN

Mâu thuẫn Việt-Mỹ càng trầm trọng khi chiến cuộc mỗi lúc càng gia tăng. Trước hết Việt-Mỹ đă xung khắc ngay từ buổi đầu của cuộc hôn nhân. Nói đúng hơn, miền Nam Việt nam trở thành một phận gái hẩm hiu do cảnh ngộ của lịch sử mà phải ép duyên gán nợ cho một anh chồng trọc phú. Xin trở lại vụ đài phát thanh để dễ dàng sáng tỏ tính chất xung khắc qua cuộc hôn nhân miễn cưỡng này. Tổng thống Diệm khao khát có được một đài phát thanh tối tân và hiệu năng của nó có thể tương đương với đài Hà Nội, trước hết v́ đ̣i hỏi phải có một chiến lược chính trị trường kỳ tại Bắc Việt với hiệu năng lớn mạnh của đài Sài G̣n th́ chính quyền miền Nam mới để dành một chương tŕnh đặc biệt hướng về toàn thể miền Bắc và xa hơn nữa là Lào và Bắc Thái Lan là nơi có hàng ngàn Việt kiều cư ngụ. Đài Sài G̣n không đủ khả năng hoạt động trong một khu vực rộng lớn như vậy. Chính quyền miền Nam đành bó tay v́ Hoa Kỳ từ chối lời yêu cầu tối tân hoá đài Sài G̣n. Trong khi đó th́ Hoa Kỳ sẵn sàng viện trợ cho Nam Việt Nam một đài tiếp vận địa phương (mà ngân khoản tổn phí có thể gấp đôi ngân khoản tối tân hoá đài Sài G̣n).

Tại sao có vụ mâu thuẫn kỳ cục như vậy ? Điều giản dị là Hoa Kỳ muốn độc quyền truyền thanh "tiếng nói chống cộng" của họ qua bức màn sắt Hoa Kỳ không muốn miền Nam được quyền "chia sẻ"... Cho đến lúc bấy giờ đài Sài G̣n vẫn không có ǵ khả quan hơn xưa. Điều mà trước năm 1963 Tổng thống Diệm ao ước có một chương tŕnh phát thanh đặc biệt hướng về miền Bắc (với một hiệu năng tối đa) th́ đă có (1964-1970) nhưng chương tŕnh ấy lại nằm trong hệ thống đài VOF(Voice of Freedom) tuy đài đặt ngay tại Sài G̣n và do nhân viên người Việt đảm trách nhưng thực chất của nó là của Hoa Kỳ qua miệng người Việt.

Tóm lại Hoa Kỳ quan niệm Đài Phát thanh Sài G̣n chỉ có một nhiệm vụ thông tin tuyên truyền trong lănh thổ miền Nam c̣n miền Bắc đă có Hoa Kỳ lo liệu (trước hết là Đài VOA sau là Đài VOF). Trí thức Ngô Đ́nh Nhu thúc thủ trong một thực tại viện trợ như vậy th́ chỉ c̣n con đường là cam phận làm tay sai một cách thiếu thông minh và trơ trẽn. Ông Nhu lựa chọn một thế đứng mới tức là lựa chọn một con đường giải thoát khỏi ông chủ keo kiệt. Tiếc thay con đường đó lại đem đến sự giải thoát vĩnh viễn cho ba anh em ông Nhu. Nói ra những mâu thuẫn Việt Nam Cộng ḥa và Mỹ th́ nhiều lắm. Mâu thuẫn về quan điểm lập trường...mâu thuẫn về chiến thuật, chiến lược.v.v. Khi ông Nhu trở lại thân thiện với Pháp, th́ chỉ là một chiến thuật tạo thế chân vạc và cũng là điều kiện dọa Hoa Kỳ "nếu anh bắt bí tôi quá tôi bỏ anh…"

"Tôi sẽ không cô đơn. De Gaulle đă sẵn sàng" . Một khi De Gaulle thân thiện với miền Nam th́ lẽ dĩ nhiên Sihanúc sẽ không theo đuổi chính sách thù nghịch với miền Nam nữa và đó cũng là con đường đưa đến thoả hiệp với miền Bắc. Trước sau cái gút của vấn đề chỉ là Pháp. CIA không khi nào để cho miền Nam một mặt sống v́ viện trợ Mỹ, một mặt lại đưa tay nắm bàn tay De Gaulle (vẫn bị coi như kẻ thù của Mỹ) CIA không e ngại những toan tính của ông Nhu trong việc t́m một thế thoả hiệp với Cộng sản Bắc Việt nhưng CIA coi việc miền Nam thân thiện với Pháp là một biến cố nguy hiểm và phải đập vỡ từ trong trứng nước.

CÁI THẾ CỦA KẺ KHÓ ĂN ĐONG

Riêng những công tác t́nh báo tại miền Bắc (phần đầu đă nói sơ qua) th́ Hoa Kỳ và chính quyền miền Nam đă bất đồng sâu xa. Chính quyền miền Nam muốn chú trọng về t́nh báo chiến lược, Hoa Kỳ ngược lại chỉ chấp thuận những hoạt động có tính cách t́nh báo chiến thuật. Phương tiện hoạt động của Sở nghiên cứu lúc đầu đều tuỳ thuộc vào khả năng viện trợ của Mỹ. Mà Mỹ viện trợ cho từng điệp vụ và những vụ này phải là những công tác phối hợp tay đôi (Việt và Mỹ). Năm 1957, chính quyền miền Nam rất muốn thực hiện một kế hoạch t́nh báo chiến lược tại miền Bắc, trước hết nhằm vào các vùng thượng du (Móng Cái, Đầm Hà, Tiên Yên, Lai Châu, Hoà B́nh) sau là hai miền Bùi Chu, Phát Diệm. Nếu kế hoạch này được thực hiện với phương tiện dồi dào th́ sẽ tiến đến sự thành lập một Mặt trận giải phóng miền Bắc làm động cơ phát động du kích chiến đấu chống cộng từ mỗi cục bộ địa phương nhằm đến toàn bộ miền Bắc.

Muốn được như thế đ̣i hỏi một ngân khoản quá lớn lao và một sự đài thọ liên tục và dồi dào. Cuối cùng kế hoạch ấy chỉ c̣n là mộng ảo và Hoa Kỳ chỉ thoả thuận tài trợ cho những điệp vụ phối hợp có tính trắc nghiệm khả năng t́nh báo (cả miền Bắc lẫn miền Nam) . Những điệp vụ phối hợp đó chỉ nhằm thả người ra miền Bắc với nhiệm vụ thâu lượm tin tức, gây rối phá hoại như phá hoại đường xe lửa, ném lựu đạn, đặt chất nổ, nghĩa là hoàn toàn có tính cách chiến thuật giai đoạn. Chống Cộng mà lại chống ngay trong vùng Cộng sản (Bắc Việt) th́ như thế quả thật là ngây ngô lố bịch v́ không khác ǵ kẻ cho ăn đong giữa khi đói kém, khốn nỗi miền Nam lại vào thế của kẻ khó ăn đong mà Hoa Kỳ th́ nắm hầu bao rất chặt.

Đại cương sự bất đồng giữa Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam là như vậy.

__________________
 

TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM


Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)

 

Click quảng cáo ủng hộ diễn đàn

  #12  

Old 09-04-2008, 09:05 PM

Avatar của Trần Toàn Trung

Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline

Điều hành viên

 

Gia nhập: Dec 2007

Đến từ: Nation & Ethnic

Bài gửi: 535

Đă cảm ơn: 0

Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

Default


CHÍNH QUYỀN NGÔ Đ̀NH DIỆM - SIHANÚC VÀ MỸ.

Trong khi Hoa Kỳ t́m cách loại bỏ ảnh hưởng của Pháp tại miền Nam th́ ngược lại họ vẫn củng cố Sihanúc mặc dầu ai cũng biết Sihanúc chỉ là con cờ của Pháp phải duy tŕ bằng bất cứ giá nào tại Đông Dương.

Năm l956 ông Ngô Đ́nh Nhu qua Campuchia cùng với chủ trương ve văn Sihanúc. Lúc ấy Hoa Kỳ chưa phải là thế lực đáng kể tại bán đảo Đông Dương. Và Hoa Kỳ tán trợ đường lối ve văn Sihanúc của ông Nhu. Theo bác sĩ Trần Kim Tuyến th́ ông Nhu được Sihanúc đón tiếp một cách trọng thể. Tuy không có nghi lễ chính thức nhưng ông Sihanúc đă dành cho ông Nhu một ngoại lệ, nghĩa là tiếp ông như một quốc trưởng. Sau đó Sihanúc chính thức được mời qua thăm Việt Nam Cộng ḥa và dịp này Sihanúc được đón tiếp hết sức trọng thể. Cuộc hội đàm Sihanúc-Ngô Đ́nh Nhu được coi là rất tốt đẹp. Nhưng Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm vốn là người không khéo léo trong sự giao tế qua h́nh thức nghi lễ nên theo bác sĩ Tuyến, trong cuộc gặp gỡ Sihanúc, Tổng thống Diệm vẫn giữ vẻ mặt trang nghiêm đạo mạo. . .Do đó mà thiếu sự thân mật cởi mở cần phải có đối với một người khôn khéo và có tài "diễn xuất" như Sihanúc.

Kết quả là khi trở về nước Sihanúc lại tiếp tục chính sách ve văn Cộng sản và bất thân thiện với miền Nam. Cũng từ đó Việt Nam Cộng hoà và Campuchia giữ miếng nhau. Theo bác sĩ Tuyến, ông Nhu chủ trương "phải triệt hạ cho bằng được Sihanúc". Khi ông Nhu chủ trương như vậy th́ Hoa Kỳ tiếp tục ve văn Sihanúc. Một xa lộ thênh thang nối liền Campuchia với Sihanúcvilie được Mỹ thực hiện để làm quà dâng cho ông vua xứ chùa tháp. Rồi một bệnh viện lớn cũng được Hoa Kỳ xây cất tại Campuchia . Nhưng Sihanúc vẫn tiếp tục chính sách riêng của ông ta và tiếp tục công kích Mỹ. Xa lộ Nam Vang biệt thự Sihanúc do Mỹ viện trợ khánh thành chưa được bao lâu th́ Trung-cộng lại nhảy vào viện trợ cho Campuchia và dựng lên cả một hệ thống cột điện chạy dài trên xa lộ của Mỹ. Bệnh viện tại Nonpênh do Mỹ xây cất th́ lại do Nga-xô viện trợ máy móc cùng các đồ trang bị thuốc men với một số bác sĩ Nga. Dù ve văn, Mỹ vẫn bị Sihanúc đá bay khỏi Campuchia.

Tuy vậy, Mỹ vẫn cố gắng t́m mọi cơ hội ve văn Campuchia và đồng thời ngăn chặn không cho miền Nam phá Sihanúc. Hậu quả là Mỹ vẫn "tay trắng" tại Campuchia. Nhưng Mỹ muốn tách biệt miền Nam với Campuchia. Chúng tôi kể lại đây một câu chuyện mưu sát Sihanúc do miền Nam chủ động, nhưng Mỹ lại chịu tai bay vạ gió và nồng độ chống Mỹ của Sihanúc càng tăng. Đây cũng là một thí dụ cho biết rằng đối với Mỹ th́ đừng có do dự khúm núm và phải đặt Mỹ vào trước những việc đă rồi và phải trói chặt chân họ vào những biến cố. Và ta phải làm chủ biến cố. Chính sách chủ nhân ông độc quyền của Mỹ, dân nhược tiểu phải biết điều đó. Tháng 8 năm 1963, bà Ngô Đ́nh Nhu nói trong phiên họp Phụ nữ Liên đới rằng "Phải trói chân, trói tay mấy thằng phiêu lưu đó (ám chỉ Mỹ) mà hành hạ". Câu nói đó tuy có đại ngôn nhưng nghĩ lại cũng đáng cho ta suy nghĩ. Trở lại câu chuyện ám sát Sihanúc năm 1961 th́ đó cũng chỉ là " trước ám sát Sihanúc " "sau hành hạ Mỹ cho vui". Số là, sau khi ông Ngô Trọng Hiếu rời khỏi chức vụ đại diện Nam Việt Nam tại Campuchia th́ toà đại diện Nam Việt Nam vẫn duy tŕ cơ sở như cũ. NamViệt Nam-Campuchia tuy rất căng thẳng nhưng chưa đến nỗi đoạn giao. Mặc dù vậy cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống vẫn nhận được chỉ thị phải "hạ" Sihanúc bằng bất cứ cách nào. âm mưu này muốn đạt được kết quả th́ trước hết phải canh chừng Mỹ. Xử lư chức vụ đại diện lúc ấy là ông Phạm Trọng Nhơn một điệp viên của Nam Việt Nam hoạt động tại Nonpênh có biết được một kỹ sư Mỹ (có trách nhiệm thiết lập xa lộ Nonpênh vườn Sihanúc) là chỗ quen thân của họ Sihanúc. Bà mẹ Sihanúc lại nổi tiếng là người thích nhận hối lộ và quà biếu. Điệp viên này được mật lệnh của Phủ Tổng thống là phải bám sát viên kỹ sư người Mỹ và t́m cánh "khai thác" ông ta nếu có thể được. Điệp viên kể trên báo cáo cho cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống biết là viên kỹ sư Mỹ sắp lên đường về Mỹ qua ngả Hong Kong. Ngày lên đường về Mỹ viên kỹ sư người Mỹ có đến chào cáo biệt Quốc trưởng Sihanúc và Hoàng Thái hậu. Đó cũng là ngày Sài G̣n bật đèn xanh cho phép các điệp viên hành nghề. Réseau tại Nonpênh có chuyển về Sài G̣n một tấm danh thiếp của viên kỹ sư Mỹ này cùng bút tích của ông ta. Lập tức cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống in lại một số danh thiếp của viên kỹ sư Mỹ (rập đúng y khuôn) và trao phó cho một chuyên viên nghiên cứu kiểu chữ của ông ta và sẽ giả mạo kiểu chữ này cho công tác điệp vụ. Kế hoạch được tŕnh bày lên ông Nhu và ông hoàn toàn tán thành. Sau đó hai chiếc vali tuyệt đẹp được dùng vào việc giết Quốc trưởng Sihanúc. Chiếc va li thứ nhứt th́ b́nh thường trong đựng một số kỷ vật quư giá xuất xứ tại Hong Kong. Chiếc vai thứ hai chính nó sẽ quyết định số mạng của Sihanúc, trong đó ngoài một số kỷ vật c̣n có một cái hộp ngà hảo hạng xuất xứ từ Đài Loan, một loại chất nổ ghê gớm cực mạnh (dành cho các điệp viên) được cho vào hộp cùng với một bộ phận cơ bẩm tinh vi khác và bộ phận này được nối với nắp va li khi mở vali th́ tự động chất nổ sẽ bộc phát ngay. Sau khi hoá trang và làm dấu cẩn thận. . . hai chiếc vali này được đưa lên xe mang biển số ngoại giao của ông đại diện Phạm Trọng Nhơn. Chính ông Phạm Trọng Nhơn có nhiệm vụ chuyên chở hai chiếc va li này lên Nonpênh nhưng ông cũng không biết được "nội dung" ra sao và ông Nhơn cũng chỉ "cảm thấy" có chuyện ǵ khác lạ sắp xảy ra.

SIHANÚC THOÁT CHẾT
VÀ KẾ HOẠCH CỦA ÔNG NHU BẤT THÀNH.


Nhờ xe mang biển số ngoại giao đoàn của ông Phạm Trọng Nhơn nên hai chiếc vai "nguy hiểm" đă vượt qua biên giới và đến toà Đại diện hoàn toàn tốt đẹp. Tại Sài G̣n, cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống theo dơi từng giây phút với bao nhiêu lo âu hồi hộp. Nếu như bị t́nh báo Campuchia khám phá th́ bang giao Campuchia -Nam Việt lần này sẽ đứt đoạn luôn không c̣n ǵ hàn gắn được nữa. Ông Ngô Đ́nh Nhu cùng mấy cộng sự viên thân cận đă tính toán thế này: nếu giết được Sihanúc th́ việc đầu tiên phải đưa Sơn Ngọc Thành về Campuchia để làm chủ t́nh h́nh.

Ngoài mấy điệp viên chủ chốt th́ Toà đại diện Nam Việt Nam không một ai hay biết ǵ về âm mưu này, kể cả ông đại diện Phạm Trọng Nhơn cũng chỉ được "rỉ tai” sơ qua là sẽ có một vụ nổ lớn.

Theo kế hoạch đă dự định, điệp viên Nguyễn Nhơn cải trang thành một nhân viên của nhà thầu Mỹ nơi mà viên kỹ sư Mỹ này phục vụ. Khoảng 9 giờ sáng, điệp viên Nhơn dùng xe hơi vào Hoàng cung xin yết kiến viên Giám đốc Nghi lễ Hoàng cung để trao tặng phẩm của viên kỹ sư Mỹ. Nhơn nói là viên kỹ sư Mỹ khi ghé qua Hong Kong đă mua hai vali tặng phẩm này để gửi tặng Quốc trưởng Sihanúc và ông Giám đốc Nghi lễ.

Giám đốc Nghi lễ Hoàng cung Campuchia cũng là chỗ bạn thân của viên kỹ sư Mỹ nên không do dự ǵ cả và ông vui vẻ nhận hai va li quư giá. Chiếc va li thứ nhất tặng viên Giám đốc Nghi lễ cùng với danh thiếp của viên kỹ sư Mỹ và trên danh thiếp không quên viết mấy ḍng thăm hỏi.

Sau vụ ám sát hụt này, báo chí Campuchia đă có dịp tường thuật khá đầy đủ. Riêng về phía t́nh báo Phủ Tổng thống lúc bấy giờ được báo cáo nội vụ như sau: Khi viên Giám đốc Nghi lễ mở chiếc va li phần tặng của ông ta th́ chiếc vali này chứa đựng toàn tặng phẩm đắt tiền. Sau đó, ông ta đem chiếc va li vào pḥng khách riêng của Sihanúc. Chiếc vali này niêm phong kỹ càng đề chữ "Kính tặng Hoàng Thái hậu và Quốc trưởng Khmer”, cùng với phong thư đựng tấm danh thiếp của viên kỹ sư Mỹ với những lời lẽ rất đẹp "kính thăm" và chào cáo biệt Hoàng Thái hậu và Quốc trưởng Sihanúc. Pḥng khách lúc ấy lại có mặt cả hai mẹ con Sihanúc. Nhưng lại nhằm đúng vào giờ Thái tử Sihanúc và Hoàng Thái Hậu phải ra đại sảnh để tiếp đón phái đoàn sinh viên Trung Quốc cùng đi với một số sinh viên Campuchia.

Thái tử Sihanúc vừa cất lời khuyên nhủ sinh viên th́ một tiếng nổ kinh hoàng làm rung động cả hoàng cung. Số là, khi Sihanúc và Hoàng Thái hậu ra đại sảnh tiếp sinh viên th́ có nhẽ, viên Giám đốc mở vali lấy tặng phẩm để dâng Thái tử nên chiếc vali phát nổ, viên Giám đốc Nghi lễ chết tan thây. Cả thủ đô Nonpênh náo động. Buổi phát thanh vào lúc 12 giờ trưa đài VOA cũng như Matxcơva đều loan tin và cho biết vắn tắt Thái tử Sihanúc thoát hiểm, nhưng dân Campuchia lại không tin và cho rằng Sihanúc đă chết tan thây.

12 giờ trưa nghe tin đài VOA, cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống đă lấy làm mừng và sửa soạn thực hiện giai đoạn II, nghĩa là cấp thời đưa Sơn Ngọc Thành về nhưng chỉ ít phút sau, một tài liệu gởi về Sài G̣n cho biết, âm mưu bất thành. Cho đến lúc ấy, toà Đại sứ Mỹ vẫn chưa được biết t́nh báo Nam Việt Nam chủ động vụ này. Nhưng chỉ một ngày sau th́ báo chí Campuchia đều chĩa mũi dùi vào Mỹ và quả quyết Mỹ âm mưu sát hại Thái tử Sihanúc. Bang giao Mỹ Campuchia lại thêm một lần nữa trở nên căng thẳng. Có một điều lạ là Campuchia không nghi ngờ Sài G̣n. Hoa Kỳ lănh đủ cơn tai bay vạ gió này. Dư luận báo chí Campuchia lại có dịp được ồn ào và mạt sát Mỹ thậm tệ, nhất là mấy nhật báo La Dépêche Cambodge, Bang Khoeum Monous. Sau đó ít lâu một người Nam Việt bị bắt v́ Campuchia t́nh nghi ông ta là nhân viên t́nh báo CIA có liên quan đến vụ mưu sát Sihanúc. Thực ra Phạm Quang Ṭng (tên đương sự) hết sức oan uổng ông ta chỉ làm nghề viết báo. Đương sự bị kết án tử h́nh. Măi gần đến sau cuộc đảo chính của Lonnon ông ta mới được trả tự do.

Cuộc mưu sát Sihanúc bất thành nên kế hoạch đưa Sơn Ngọc Thành về Nonpênh đành xếp lại Nam Việt Nam bắt đầu nghiên cứu một kế hoạch mới mà Sơn Ngọc Thành sẽ giữ vai tṛ chủ chốt.

Trước vấn đề nan giải này, ông Nhu hỏi bác sĩ Tuyến xem có cắt xén ngân sách và ngoại viện được không. Điều này không thể được v́ sẽ lộ ngay và khi toà Đại sứ Mỹ biết được th́ họ sẽ không bao giờ chấp thuận dùng khoản tiền ngoại viện để viện trợ cho họ Sơn. Do đó chỉ c̣n cách trích trong quỹ đen của Phủ Tổng thống. Nếu dồi dào phương tiện th́ Sơn Ngọc Thành có đủ khả năng phát triển tổ chức của ông ta đến mức độ lớn mạnh. Nhưng rút cuộc ông ta đành thúc thủ trong một hoàn cảnh hết sức thiếu thốn. Mỗi tháng Phủ Tổng thống chỉ có thể viện trợ cho Sơn Ngọc Thành vài ba trăm ngàn bạc mặt.

Tuy có điều số tiền này được trao tận tay họ Sơn và ông ta có thể chi tiêu như thế nào tuỳ ư. Điều đó theo bác sĩ Tuyến đă làm cho Sơn Ngọc Thành rất cảm động v́ tuy nhận tiền của Nam Việt Nam nhưng ông ta vẫn không bị xúc phạm v́ ḷng tự ái quốc gia của một lănh tụ.

Nơi ăn chốn ở và sự di chuyển của Sơn Ngọc Thành hoàn toàn bí mật. Cơ quan CIA của Mỹ cũng biết nhưng không có một phản ứng nào, v́ lẽ tiền của Nam Việt Nam tài trợ cho Sơn Ngọc Thành không thuộc ngân sách ngoại viện. Đầu năm 1960, lực lượng họ Sơn quy tụ khoảng hơn 400 cây súng phân tán trong hai vùng mật khu Châu Đốc và B́nh Long. Sĩ quan Nam Việt Nam trực tiếp đảm nhận huấn luyện và làm cố vấn cho lực lượng vơ trang này. Tuy họ có tinh thần chiến đấu hoàn toàn gan dạ nhưng lại hoàn toàn thiếu về mọi phương diện nhất là vũ khí, quân trang, quân dụng. Trong khi đó Hoa Kỳ th́ vũ khí đổ đi không hết, nhưng tuyệt nhiên Hoa Kỳ không viện trợ cho lực lượng của Sơn Ngọc Thành lấy một cây súng Garant. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cũng chỉ c̣n cách vơ vét một số khí giới thuộc loại phế thải của Pháp, như MAT 49, MAS 36 để giúp họ Sơn. Nếu nói rằng Mỹ viện trợ vũ khí cho Nam Việt Nam và Nam Việt Nam có toàn quyền sử dụng vũ khí ấy th́ không đúng. Cố vấn Mỹ kiểm soát một cách khắt khe nên Phủ Tổng thống không thể dùng một khẩu Garant M1 của Mỹ để tặng họ Sơn. Bởi nhất nhất đều không qua được con mắt ḍm ngó của t́nh báo Mỹ. Về phía Tây, Sơn Ngọc Thành được Thái Lan yểm trợ nhưng bản doanh vẫn là Sài G̣n.

Trên đây cũng tạm đủ nói lên sự mâu thuẫn và bất đồng giữa Việt - Mỹ.

CHỦ TRƯƠNG CỦA HOA KỲ THEO NGÔ Đ̀NH NHU
LÀ MỘT SỰ LƯỜNG GẠT XẤU XA


Kể từ năm 1959, theo bác sĩ Trần Kim Tuyến th́ ông Ngô Đ́nh Nhu chủ trương quyết hạ cho bằng được Sihanúc, v́ nếu không chính Sihanúc sẽ là một mũi dùi đâm cực mạnh ngang hông Việt Nam Cộng hoà. Biên giới Việt - Campuchia nếu c̣n Sihanúc th́ đây sẽ trở thành vùng chiến thuật bất khả xâm phạm của Cộng sản. Đối với Sihanúc, ông Nhu chỉ có hai giải pháp: một là lật nhào ông ta, hai là trở lại ve văn thân thiện với ông ta. Giải pháp ve văn thân thiện đă bất thành cho nên miền Nam chỉ c̣n một cách là đương đầu quyết liệt với Campuchia.

Con đường này lại đi ngược với chủ trương của Mỹ. Kể từ năm 1960 khi chiến cuộc gia tăng và nhất là trận đánh Kiến Phong (tháng 10-1960) giữa lực lượng chính quy của Cộng sản với tiểu đoàn 1 nhảy dù, người Mỹ mới bắt đầu nhận ra sự thật: Campuchia đă trở thành căn cứ đại an toàn của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Lực lượng Cộng sản đă xuất phát từ bên kia lănh thổ Campuchia tiến qua đánh Kiến Phong. Tuy biết sự thật như vậy nhưng Mỹ vẫn giữ chủ trương ve văn o bế Sihanúc. Không phải tất cả các chiến lược gia Mỹ không hiểu rơ tầm mức quan trọng của lănh thổ Campuchia đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Nhưng lúc ấy Washington vẫn c̣n chủ trương giới hạn cuộc chiến trong cục bộ miền Nam. Đầu năm 1963, với trận Ấp Bắc tuy không có ǵ đáng gọi là một trận thua lớn (sự thiệt hại của Việt Nam Cộng hoà được coi là cân bằng) nhưng Hoa Kỳ lại lợi dụng trận đánh này và ồn ào gây áp lực mạnh với Tổng thống Kennedy buộc chính quyền Ngô Đ́nh Diệm phải thay đổi chiến thuật. Cũng từ năm 1963 Hilsman nhận định rằng, phải thay đổi thái độ với Sihanúc nghĩa là chấm dứt giai đoạn o bế ve văn. Trong khi đó th́ ông Ngô Đ́nh Nhu lại làm ngược lại, nghĩa là bắt tay với Pháp t́m ở De Gaulle một điểm tựa, ông Nhu cũng đồng thời cũng muốn hâm nóng lại mối bang giao Việt-Campuchia đă nguội lạnh từ lâu. Hoa Kỳ coi chủ trương này như một mối đe doạ cho thế đứng của họ tại bán đảo Đông Dương. Bởi v́ Hoa Kỳ muốn đẩy mạnh cuộc chiến, muốn mở rộng địa bàn hoạt động, th́ toan tính của ông Nhu lấy Pháp làm thế tựa, t́m ở Campuchia một thái độ trung lập tích cực (nghĩa là trung lập giữa Việt Nam Cộng hoà và Bắc Việt) th́ chủ trương ấy tự nói lên tính cách đe doạ nguy hiểm đối với toan tính của Hoa Kỳ. Đó cũng là lư do khiến người Mỹ nóng ḷng muốn thanh toán ngay Ngô Đ́nh Diệm. Ngày 19-7-1963 Nghị sĩ Wayne L. Morse thuộc ủy ban Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố. "Việt Nam không đáng nhận được sự hy sinh của một trẻ em Hoa Kỳ" . Ông c̣n nói rằng, không đồng ư cho một đồng Dollars nào nữa để ủng hộ một chế độ độc tài tàn bạo của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm; Tại sao như thế ?

ĐƯỢC NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NGƯỜI CAMPUCHIA NĂM 1959
COI ĐÓ NHƯ MỘT THẮNG LỢI


Trong vụ tranh đấu Phật giáo 1963, Campuchia được ghi nhận là nước công kích chính quyền Ngô Đ́nh Diệm mănh liệt nhất. Ngay từ tháng 7-1963, khi cuộc tranh đấu của Phật giáo trở nên mănh liệt th́ Sihanúc đă t́m mọi cách vận động khối người Việt gốc Campuchia tham gia cuộc tranh đấu này với chủ ư lật đổ cho kỳ được chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Sihanúc đă không thành công như ư muốn. Bởi cộng đồng người Việt gốc Campuchia tại miền Tây vốn có cảm t́nh đặc biệt với cựu Thủ tướng Sơn Ngọc Thành và dĩ nhiên trong hoàn cảnh lúc ấy Sơn Ngọc Thành phải giữ thế trung lập giữa chính quyền Nam Việt Nam và Phật giáo. Nói đến cộng đồng người Việt gốc Campuchia th́ không thể nào bỏ qua thế lực của các sư săi Campuchia. Các vị sư săi này luôn luôn là các vị thủ lănh có uy quyền đối với đồng bào họ và đa số lại có cảm t́nh đặc biệt với Sơn Ngọc Thành. Khi phái đoàn Phật giáo đến yết kiến Tổng thống Diệm vào ngày 15-5 (sau vụ nổ Đài phát thanh Huế ) Hoà thượng Lâm Em đă phát biểu: “Được gặp Tổng thống như thế này tôi thấy tốt đẹp lắm ". Từ đó, tuy có tiếng trong Ủỷ ban Liên phái nhưng Hoà thượng Lâm Em, cũng như cư sĩ Sơn Thái Nguyên vẫn giữ thái độ ôn hoà đối với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm nếu không muốn nói là họ vẫn giữ thái độ thân thiện với chính quyền. Nhờ vậy trong suốt cuộc đấu tranh chống Phật giáo năm 1963 người Việt gốc Campuchia tại miền Tây vẫn thụ động. Những tỉnh có nhiều người Việt gốc Campuchia (chiếm đa số) như ở Trà Vinh, Sóc Trăng đều không có một phản ứng đáng ghi nhận. Trong bốn vùng chiến thuật th́ vùng bốn nhất là miền Tây kể từ tháng 5 đến ngày 1-11-1963 được coi là yên tĩnh về Phật giáo. Mặc dù Sihanúc có sự hỗ trợ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam song ông vẫn không sao khích động được cộng đồng người Việt gốc Campuchia để họ đứng lên chống lại Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Được như vậy là nhờ ảnh hưởng của Sơn Ngọc Thành và uy quyền lớn lao của Hoà thượng Lâm Em, vị thủ lĩnh của các sư săi Campuchia tại miền Nam. Điều đáng kể là chính quyền Ngô Đ́nh Diệm nắm vững cộng đồng người Việt gốc Campuchia chính là nhờ trục Lâm Em, Sơn Thái Nguyên, Sơn Ngọc Thành. Năm 1950 đă có đề nghị yêu cầu Tổng thống Diệm đặt người Việt gốc Campuchia thành thiểu số (như đồng bào Thượng) các thủ lănh của họ phản đối. Hoà thượng Lâm Em cũng như sư săi Campuchia cho rằng như thế là "hạ nhục" người Campuchia. Đề nghị này được huỷ bỏ, các thủ lănh Campuchia coi đó như một chiến thắng và một ân huệ mà Tổng thống Diệm dành cho họ.

Với chính sách ve văn Campuchia và nắm vững cộng đồng Campuchia tại miền Tây, Diệm đă dành cho họ nhiều ưu tiên và đó cũng là cách nhằm nâng cao uy tín của Sơn Ngọc Thành và vuốt ve ḷng tự ái dân tộc của cộng đồng người Campuchia vốn có nhiều mặc cảm với người Việt. Khi người Campuchia được nhập quốc tịch Việt họ coi như một thành công đáng kể, tức là được đối xử ngang hàng như người Việt. Có điều rất khó hiểu là vào năm 1954 người Campuchia lại muốn trở thành dân tộc thiểu số tại miền Nam. Theo sự tiên liệu th́ đây cũng chỉ là một chiến thuật nằm trong sách lược của ngoại bang muốn biến ngườiViệt gốc Campuchia thành dân thiểu số, rồi từ nhăn hiệu thiểu số sẽ dễ dàng bước qua một giai đoạn khác tức là giai đoạn phát động phong trào tự trị của người Campuchia tại miền Tây.

1963 Sihanúc được dịp trả thù. Kể từ năm 1959 Thái tử Sihanúc t́m mọi cách phát triển uy tín và cơ sở mật tại hạ tầng cộng đồng người Việt gốc Campuchia nhưng như trên đă viết uy tín của Thái tử Sihanúc vẫn mờ nhạt trước một Sơn Ngọc Thành và Lâm Em. Vụ tranh đấu Phật giáo năm 1963 là một thất bại lớn của Sihanúc tại miền Tây v́ Sihanúc không đạt được âm mưu khuấy động tại miền Tây với danh nghĩa tranh đấu cho 5 nguyện vọng của Phật giáo.

Trong khi đó tại Nonpênh, Sihanúc dùng mọi nỗ lực để yểm trợ tinh thần cho cuộc tranh đấu của phật giáo miền Nam. Báo chí từ phe Campuchia hữu đến phe tả đều nhất loạt lên án chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Điển h́nh là nhật báo Neak cheat Niyum (tờ báo của Chính phủ) kể từ tháng 5 - 1959 cho đến 2 - 1963 nhật báo này mở cả một chiến dịch tấn công chính quyền Ngô Đ́nh Diệm về vụ gọi là "kỳ thị và tàn sát Phật giáo". Ngôi chùa Onnalum, một ngôi chùa lớn mới được xây cất tại Nonpênh đă trở thành trung tâm tranh đấu của Phật Giáo tại Campuchia. Trong buổi lễ khánh thành ngôi chùa này vào đầu tháng 6-63, Thái tử Sihanúc đă tuyên bố những lời nảy lửa lên án Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm: “Chính phủ Diệm sau khi tàn sát nhiều sư săi và Phật tử Campuchia tại miền Nam nay lại ngược đăi và tàn sát cả đồng bào họ theo Phật giáo". Ngày 9-6-63 Chính phủ Campuchia tổ chức một cuộc mít tinh tại chùa Onnalum để gọi là biểu dương tinh thần đoàn kết với Phật tử miền Nam để phản kháng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm về sự đàn áp Phật giáo. Hội Việt kiều Phật giáo do ông Trần Văn Được làm Chủ tịch cũng được Chính phủ Campuchia dành mọi sự dễ dăi trong công cuộc vận động Việt kiều chống lại chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Ngày 16-6-1963 Chính phủ Campuchia lại cho phép hội này được tổ chức một cuộc biểu t́nh rầm rộ trước toà Đại diện Việt Nam Cộng hoà tại Nonpênh để lên án chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và đế quốc đàn áp Phật giáo Việt Nam. Trước đó 3 ngày tức là ngày 13-6 Campuchia bày tỏ ḷng căm phẫn của Chính phủ và nhân dân Campuchia trước các vụ đàn áp đối với người Campuchia tại miền Nam và cũng bày tỏ niềm âu lo trước các biện pháp đàn áp Phật giáo và Phật tử của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà. Trong văn thư kể trên Chính phủ Campuchia đ̣i hỏi Chính phủ Việt Nam Cộng hoà phải tôn trọng các nguyên tắc của bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc.

Tổng trưởng Ngoại giao Campuchia đă chính thức mời viên Đại lư toà Đại diện Việt Nam Cộng hoà đến Bộ Ngoại giao và trao cho ông này một văn thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng ḥa. Trong văn thư ngày 16-6 Sihanúc tuyên bố hỗ trợ Chính phủ Tích Lan của bà Sikimawo Bandanaike về việc vận động với U-thant, Tổng Thư kư Liên Hợp Quốc để đưa vụ Phật giáo Việt Nam ra trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.

KHI SIHANÚC TRANH ĐẤU CHO PHẬT GIÁO
VIỆT NAM CỘNG H̉A


Đối với Sihanúc th́ vụ Phật giáo năm 1963 là một cơ hội ngàn vàng để ông có dịp tố cáo Việt Nam Cộng hoà về một điều giả tạo, nhưng Sihanúc vẫn cho rằng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă đàn áp giết hại người Campuchia và các sư săi Campuchia tại miền Nam.

Sihanúc gắn liền lời tố cáo này với chiêu bài "ủng hộ triệt để cuộc tranh đấu của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam" Sihanúc không ngừng phát động cả một chiến dịch báo chí tấn công và bôi đen chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, trong khi đó cộng đồng người Việt gốc Campuchia lại tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt. Nhờ vậy mà Vùng bốn chiến thuật không gặp một khó khăn nào trong vụ tranh đấu, ngoại trừ một vài địa phương như Bến Tre và Mỹ Tho nhưng lại rất không đáng kể. Căn cứ theo tài liệu th́ trong suốt thời gian tranh đấu của Phật giáo, Vùng bốn chiến thuật chỉ phải đối phó với áp lực quân sự mạnh mẽ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

"Miền Tây coi như không có vụ tranh đấu của Phật giáo nếu không theo dơi báo chí và đài VOA và BBC". Khi nhận được ư kiến của Tổng thống Diệm cũng như Bộ trưởng Bùi Văn Lương, ông đại biểu Nguyễn Văn Vàng cũng đă tŕnh bày rơ ràng như vậy và Tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Vùng 4 cũng xác nhận như vậy trong tập hồi kư của ông mới xuất bản gần đây.

Tại Nonpênh ngày 2-11-1963 tức là trong ngày đảo chính và trước cái chết của hai anh em Ngô Đ́nh Diệm Thái tử Sihanúc đă biểu lộ niềm hân hoan chưa từng có. Đêm 2-11 Sihanúc mở tiệc liên hoan trong Hoàng cung. Tờ La dépêche du Cambodge số ra ngày 3 cho rằng, cái chết của Nhu, Diệm đă đem lại cho nhân dân Campuchia một niềm vui mừng vô hạn. Thái tử Sihanúc chính thức tuyên bố. "Ngô Đ́nh Diệm, kẻ thù của nhân dân Campuchia và Phật giáo đă đền tội... đó là ngày hội lớn của lịch sử Đông Dương". Liên tiếp trong 3 ngày liền, Thái tử Sihanúc mở tiệc liên hoan làm như chính ông ta ra tay hạ được kẻ thù không đội trời chung. Sự thực th́ anh em Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm chính là kẻ thù không đội trời chung của Sihanúc.

Sihanúc biết rơ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă tài trợ và dung dưỡng tổ chức Khmer tự do của Sơn Ngọc Thành, chỉ một điều này đă đủ khiến Sihanúc căm thù chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, bởi v́ Sơn Ngọc Thành đối với Sihanúc là kẻ thù không đội trời chung. Sihanúc đă dùng đủ cách để hạ sát Sơn Ngọc Thành kể cả âm mưu dùng bàn tay pḥng Nh́ Pháp và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Nhưng Sihanúc không thể làm ǵ được họ Sơn bởi chính cái uy tín lớn lao của họ Sơn trong cộng đồng người Campuchia ở miền Nam đă tạo nên bức tường thành bảo vệ Sơn và tổ chức Khmer đỏ tự do.

MỐI THÙ BIÊN GIỚI

Trong chuyến công du tại Việt Nam năm 1957 Thái tử Sihanúc đă đặt vấn đề biên giới Việt-Campuchia với ông Nhu. Kết quả là Sihanúc và ông Nhu đă thoả thuận như thế này "Hai Chính phủ Nam Việt - Campuchia sẽ không đặt vấn đề biên giới như một tiên quyết cho việc thiết lập bang giao Việt - Campuchia. Tuy nhiên hai nước vẫn mặc nhiên công nhận thoả hiệp Dupré-Norodom 1873". Theo thoả hiệp Dupe-Norodom kư kết giữa Thống đốc Nam kỳ (Đô đốc Dupe) và Campuchia ông Hoàng Norodom th́ biên giới ViệtCampuchia được phân định bằng 124 cột trụ kéo dài từ ngă ba biên giới cho đến phía bắc kênh Vĩnh Tế qua sông Tonly tree. Soc Stroc tum, Ban Chrung, Paplan.

Kết quả cuộc hội đàm giữa Sihanúc và Ngô Đ́nh Nhu là Campuchia sẽ không công nhận chính quyền miền Bắc nhưng v́ tôn trọng tinh thần Hiệp ước Genève 1945, Campuchia chỉ thiết lập bang giao với Việt Nam trên hàng Đại diện ngoại giao (với cấp bậc Đặc sứ).

Ít lâu sau Sihanúc làm ngược lại lời cam kết khi ông ta tính chuyện kết thân với chính quyền Bắc Việt và Trung Cộng.

Sihanúc lại đưa ra hai mục tiêu để gây hấn với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Trước hết là vấn đề biên giới, Sihanúc lại phủ nhận thoả hiệp Dupré.

Sihanúc thường lên tiếng tố cáo chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă vi phạm và lấn chiếm lănh thổ Campuchia, sau nữa Sihanúc lại phủ nhận các nghị định mà các Toàn quyền Đông Dương của Pháp trước đây đă kư ấn định gianh giới các tỉnh Tây Ninh và Prey Veng, Thủ Dầu Một và Kompong Chàm, Châu Đốc...Những năm 1959, 1960, 1961 tại các vùng biên giới Việt - Miên, lính Miên được lệnh nhổ trụ cột cắm sâu vào lănh thổ Việt Nam cả 6, 7 cây số. Quân đội Việt Nam Cộng ḥa lại phải mở cuộc hành quân nhổ cột trụ đem chôn vào vị trí cũ. Cứ mỗi lần như thế Sihanúc lại hô hoán là quân đội Việt Nam Cộng ḥa vi phạm biên giới. Vấn đề thứ hai là người Miên tại miền Nam, Sihanúc chống lại việc Việt tịch hoá người Campuchia.

Trên đây chúng tôi tŕnh bày sơ qua về mối cừu hận của Sihanúc đối với chế độ Ngô Đ́nh Diệm và đó cũng là lư do khiến cho Sihanúc vô cùng hân hoan trước cái chết của anh em Tổng thống Diệm. Sihanúc hận thù chính quyền Ngô Đ́nh Diệm v́ chính quyền này đă dung dưỡng và hỗ trợ Sơn Ngọc Thành. Một điều khác nữa là đă có một lần chính quyền Ngô Đ́nh Diệm âm mưu lật đổ chế độ Sihanúc vào tháng giêng năm 1959.

Giai đoạn đầu Tổng thống Diệm vẫn giữ vững chủ trương giao hảo tốt đẹp với Sihanúc (1957-1959). Vào cuối năm 1956 Việt – Campuchia đồng ư thiết lập bang giao trên cấp bậc Đặc sứ. Tổng thống Diệm hỏi ư kiến Phó Tổng thống Thơ về việc này và yêu cầu ông chọn một nhân vật giữ chức vụ Đặc sứ Việt Nam đầu tiên tại Campuchia. Tổng thống Diệm đưa ra 3 tiêu chuẩn để ông Thơ dễ dàng lựa chọn 1- Viên Đặc sứ ăn nói phải hoạt bát lanh lẹn và giỏi về Pháp ngữ, 2- Am tường nội t́nh Campuchia, 3- Có mưu mẹo tháo vát và quen biết nhiều các giới Campuchia Pháp.

Phó Tổng thống Thơ đề bạt người bạn tâm giao của ông - Ngô Trọng Hiếu, lúc ấy đang giữ chức vụ Tổng Giám đốc Ngân khố. Cũng nên ghi thêm là trong suốt 9 năm cầm quyền Tổng thống Diệm rất tin cẩn ôngThơ. Một khi ông Thơ đề bạt ai th́ người đó có rất nhiều hy vọng được bổ nhậm. Mặc dầu bổ nhậm một Đặc sứ đáng lư ông Tổng thống phải hỏi ư kiến của ông Bộ trưởng Ngoại giao, nhưng Tổng thống Diệm vẫn có thành kiến là Phó Tổng thống Thơ am tường về miền Nam và nội t́nh Campuchia. Khi Tổng thống Diệm nói: “Người Cụ Phó giới thiệu”. Câu nói đó có nghĩa là người đó đáng tin cẩn của chế độ. Người duy nhất mà ông Thơ đề bạt giữ chức vụ Đặc sứ tại Campuchia là ông Hiếu (hai người này được coi như đôi bạn cố tri, khi ông Thơ lănh Tỉnh trưởng Long Xuyên th́ ông Hiếu giữ chức Trưởng ty Ngân khố ) Phó Tổng thống Thơ có tŕnh bầy với Tổng thống Diệm là ông Ngô Trọng Hiếu hội đủ những tiêu chuẩn mà Tổng thống Diệm đưa ra. Ông Thơ cũng nhấn mạnh là Ngô Trọng Hiếu nói tiếng Campuchia rất thông thạo từng sống nhiều năm tại Campuchia và là một viên chức của ngành Ngân khố Pháp tại Campuchia. Tổng thống Diệm đồng ư, nhưng sau đó hỏi lại ư kiến ông Nhu th́ ông Nhu cho rằng “Tuỳ Tổng thống, cắt cử ai cũng được, ăn thua là chính sách của ḿnh, tôi thấy Ngô Trọng Hiếu cũng được”. Ông Nhu thắc mắc: "Hiếu c̣n hơn là dân Tây mà ?" . Tổng thống Diệm nói một hơi dài như thể biện minh cho ông Hiếu: "Hắn hồi Việt tịch rồi". Ông Nhu đáp nhát gừng: "Như vậy cũng đuợc rồi ".

Trước khi chính thức bổ nhậm, Ngô Trọng Hiếu phải trải qua một cuộc thi "vấn đáp" mà giám khảo là Tổng thống Diệm. Sau khi hỏi kỹ về t́nh h́nh Campuchia Tổng thống Diệm chất vấn Ngô Trọng Hiếu: "T́nh h́nh như vậy th́ đối với Campuchia bây giờ ông sẽ tính sao”. Vốn là người nói năng lưu loát ông Hiếu đáp ngay: "Tŕnh cụ, đối với Miên th́ tôi có hai điều căn bản, một là dùng t́nh cảm, hai là mua chuộc hối lộ họ ". Tổng thống Diệm hỏi: “Dùng t́nh cảm như thế nào”. Ông Hiếu đáp: “Người Miên có nhiều mặc cảm với nguời Việt lắm vậy ta phải dùng mọi cách để thân thiện với họ, đề cao họ để cho họ thấy rằng ta coi họ như bạn bè". Tổng thống Diệm lại căn vặn:"Lúc năy ông nói hối lộ vậy hối lộ như thế nào?”. Ông Hiếu đáp: "Thưa cụ xin hăy tuỳ cơ ứng biến,bà mẹ Sihanúc ham được quà biếu lắm".

Tổng thống Diệm hỏi: "Ông có quen ai ở bên đó không?”. Ngô Trọng Hiếu đáp: “Dạ thưa, quen nhiều, tôi có quen ông hoàng Monireth”. Tổng thống Diệm hỏi tiếp: "ông ta là người như thế nào”. Ông Hiếu đáp: "Theo thứ tự trong hoàng tộc vua Miên th́ Hoàng thân Monireth mới là nguười nối ngôi vua Cao Miên chứ không phải Sihanúc". Tổng thống Diệm lại hỏi: "Ông ta với Sihanúc như thế nào ", ông Hiếu đáp: "Hoàng thân Monireth là cậu ruột của Sihanúc. Thời Pháp Monireth là Trung uư trong Quân đội Lê dương của Pháp, ông ta rất đuợc mẹ Sihanúc tin cẩn ". Tổng thống Diệm hỏi: "Bà ta như thế nào ", ông Hiếu đáp: “Thưa, bà ta nổi tiếng là người tham lam hay nhận hối lộ". Tổng thống Diệm lại hỏi: "Ông c̣n quen ai khác nũa không ? ", ông Hiếu đáp: "Thưa, c̣n một vài người bạn thân như Salusary Yan Sambaur”. Tổng thống Diệm gật đầu: "Thôi được ông về lo thu xếp rồi sang bên đó giúp tôi". Tổng thống Diệm thắc mắc: "Ông sang bên đó ai có thể thay ông làm Tổng Giám Đốc Ngân Khố? " ông Hiếu đáp: “Nhân viên cao cấp của ngành ngân khố hiện nay hầu hết c̣n giữ Pháp tịch vậy xin tŕnh Tổng thống cho Trần Văn Minh tạm thời thay quyền Tổng giám đốc Ngân khố”. Tổng thống Diệm nói vắn tắt: "Thôi được, ông sang bên đó cố gắng làm sao cho tốt đẹp ".

Trước khi ra về ông Hiếu được Tổng thống Diệm chỉ thị thêm: “Ḿnh phải tạo được thế liên minh với Miên, Lào th́ hai nước ấy cùng một khối với ḿnh th́ ḿnh sẽ đủ sức chống Cộng sản. "

NGÔ Đ̀NH NHU VÀ VỤ ĐẢO CHÍNH HỤT CỦA DAP CHOUN

Khi toà Đại diện Việt Nam Cộng ḥa được thiết lập chính thức mở đầu cho quan hệ bang giao tốt đẹp giữa Việt - Campuchia th́ Pháp cũng như chính quyền Hà Nội bắt đầu lo ngại. Toà Đại diện Việt Nam Cộng ḥa đă thành công qua giai đoạn "thân thiện và mua chuộc", theo đúng chỉ thị của Tổng thống Diệm "Tốn phí thế nào cũng được miễn sao mua chuộc được Miên", rồi lần về Sài G̣n, Ngô Trọng Hiếu mua sắm đủ thứ của ngon vật lạ để đưa sang Nonpênh “hối lộ” Hoàng hậu Kossmack. Bà ta cũng như Hoàng thân Monireth đều có cảm t́nh tốt đẹp với người Việt.

Từng giỏ soài, cam, ổi xá lị của ông Hiếu dâng tặng Hoàng hậu Kossamack đă có tác dụng ngay. Sihanúc qua ảnh hưởng của người mẹ đă có một thái độ tốt đẹp và cởi mở đối với chính quyền Sài G̣n. Toà Đại diện Việt Nam Cộng ḥa sử dụng phương thuật “phóng tài hoá thu nhân tâm" nên không những hối lộ quà cáp với Hoàng hậu Kossamack mà c̣n mua chuộc các giới chức cao cấp Campuchia cũng như Hoàng thân Moniret bằng cách biếu quà, tổ chức tiệc tùng săn bắn...Nhờ vậy, Ngô Trọng Hiếu móc nối được tướng Dap Choun mệnh danh là phó vương Campuchia, một ḿnh ông ta thống lănh cả vùng Xiêm Riệp miền Tây Campuchia.

Giữa năm 1958, Sihanúc thay đổi chính sách ngoại giao....việc đầu tiên là Sihanúc chấp thuận cho Trung cộng đặt tại Nonpênh một đại diện thương mại. Đồng thời Sihanúc cũng t́m cách mở rộng bang giao với khối Cộng và bắt tay với chính quyền Hà Nội. Cuối năm 1958, Sihanúc thiên hẳn về khối Cộng.

Sự thực Sihanúc chủ tâm gây hấn về vấn đề biên giới Việt - Campuchia, về việc Việt tịch hóa người Campuchia cũng như đ̣i lại mấy tỉnh miền Tây chẳng qua chỉ là một chiến thuật gây rối và tạo áp lực trước hết để chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không tạo được cơ hội gây rối nội bộ Miên, sau nữa là nhắm đến việc sửa soạn đón tiếp "ông bạn” Bắc Việt. Sihanúc đă từng tuyên bố “cộng sản Bắc Việt và Việt Nam Cộng hoà đều nguy hiểm như nhau” nhưng Bắc Việt là mối nguy hiểm c̣n ở đằng xa - Việt Nam Cộng hoà mới là mối nguy hiểm trực tiếp với Campuchia.

Rơ rệt nhất là Việt Nam Cộng ḥa tài trợ và dung túng tổ chức Khmer tự do của Sơn Ngọc Thành, họ Sơn là một ám ảnh lớn đối với Sihanúc, đó cũng là mối thù của Sihanúc đối với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng không có mối thù nào lớn cho bằng vụ Dap Choun đă gây nên mối cừu hận giữa Sihanúc và chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Đó cũng là lư do cho ta thấy tại sao liên tiếp trong 3 ngày đảo chính 1-11-1963 Sihanúc đă tổ chức liên hoan như đại hội hoa đăng để ăn mừng Diệm, Nhu bị thảm sát.

__________________
 

TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM


Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)

 

  #13  

Old 09-04-2008, 09:08 PM

Avatar của Trần Toàn Trung

Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline

Điều hành viên

 

Gia nhập: Dec 2007

Đến từ: Nation & Ethnic

Bài gửi: 535

Đă cảm ơn: 0

Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

Default


TƯỚNG DAP CHOUN VÀ 100 KILO VÀNG
CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ.


Vụ Dap Choun diễn tiến như thế nào ? Ông Đặc sứ Ngô Trọng Hiếu trở về Sài G̣n trong chiều hướng mới của Sihanúc đối với Cộng sản Bắc Việt và Campuchia với chiều hướng này sẽ là mối đe doạ lớn cho Việt Nam Cộng hoà. Ông Ngô Đ́nh Nhu chỉ thị nếu không kéo được Sihanúc về phe ḿnh và nếu Sihanúc trung lập thân cộng th́ chỉ c̣n cách mưu đồ hạ bệ ông ta. Ông Ngô Trọng Hiếu đề nghị nên làm một "cú” đảo chính Sihanúc. Về đề nghị này, Tổng thống Diệm hỏi: “Ai có thể làm được ? ". Ngô Trọng Hiếu đáp: "Tŕnh cụ Tướng Dap Choun có thể làm được " . Tổng thống Diệm lại hỏi ông Hiếu: "Vai tṛ của Dap Choun hiện nay ra sao ? ".

Ông Hiếu tŕnh bày: "Tướng Dap Choun nắm hết quyền bính tại miền Tây Campuchia, lực lượng pḥng vệ tại Hoàng cung Nonpênh đều là tay chân của Dap Choun " Tổng thống Diệm đồng ư:” Ông cứ làm đi, liên lạc với Dap Choun xem sao”.

Trở lại Campuchia, ông Ngô Trọng Hiếu bắt liên lạc ngay với tướng Dap Choun. Trong một chuyến đi săn tại khu rừng phía Bắc Xiêm Riệt, ông Hiếu đi với Dap Choun và t́m lời ngỏ ư… Tướng Dap Choun đang có chuyện bất măn với Sihanúc và cho rằng Sihanúc chưa đủ trưởng thành để lănh đạo. Dap Choun thuộc phe quân phiệt cực hữu Campuchia và ông ta chống lại chủ trương trung lập thân Cộng của Sihanúc. Dap Choun lại có cô vợ bé người Việt mà ông ta đang sủng ái, chính người vợ bé này đă giúp Toà Đại diện Việt Nam Cộng ḥa trong nhiệm vụ giao liên để thuyết phục Dap Choun.

Sau nhiều lần gặp gỡ và thảo luận, Tướng Dap Choun đă đồng ư với Đặc sứ Ngô Trọng Hiếu về kế hoạch đánh chiếm Campuchia và lật đổ Sihanúc.

Tướng Dap Choun ngỏ ư, ông cần một số dollars hoặc vàng để làm phương tiện dưỡng quân trong ṿng hai tháng. Điều kiện này không có ǵ quá khó khăn và ông Ngô Trọng Hiếu trở về Sài G̣n tŕnh với Tổng thống Diệm và ông Nhu . Tổng thống Diệm nói đơn giản:

“Nếu thấy làm được th́ cứ làm, tổn phí cũng phải ráng chịu cho nó xong việc".

Ông Nhu cho mời bác sĩ Tuyến vào pḥng để thảo luận cho kỹ lưỡng cân nhắc lợi hại trước khi bắt tay hành động. Kế hoạch này tuyệt đối bí mật không một nhân vật cao cấp nào được biết rơ ngoại trừ Phó Tổng thống Thơ, ông Nhu, ông Tuyến và ông Hiếu. Vấn đề khó khăn nhất là t́m đâu ra 100 kilo vàng để tài trợ cho Dap Choun ? Điều này Tổng thống Diệm trao cho Phó Tổng thống Thơ giải quyết v́ ông Thơ c̣n là Bộ trưởng Kinh tế, nếu rút 100 kilo vàng trong số trừ kim ngân khố sẽ không ai để ư, nghi ngờ và sau đó sẽ t́m cách giải quyết. Phó Tổng thống Thơ đă góp công đắc lực trong vụ này.

Một trăm kilo vàng được đóng vào thùng, niêm phong cẩn mật và tự tay ông Hiếu lái xe đưa lên Nonpênh, rồi từ đây ông Hiếu dùng xe hơi chở lên tận Xiêm Riệt trao tận tay cho tướng Dap Choun. Trong khi đó th́ Phủ Tổng thống cũng gửi lên Xiêm Riệt hai chuyên viên. Hai chuyên viên này đáp máy bay AIR Việt Nam lên thẳng Xiêm Riệt qua lộ tŕnh Sài G̣n - Nonpênh. Hai chuyên viên này không biết mặt ông Hiếu và cũng không rơ Chính phủ Việt Nam toan tính ǵ.

Hai chuyên viên vô tuyến ăn ở ngay trong dinh Thống đốc tỉnh Xiêm Riệt. Tại đây, đặt một điện đài liên lạc thẳng với Sài G̣n và Toà đại diện Việt Nam. Đặc sứ Ngô Trọng Hiếu vẫn tiếp tục liên lạc bí mật với tướng Dap Choun và người em của tướng Dap Choun cũng là dân biểu Quốc hội Tưởng Dap Choun khi nhận được 100 ki lo vàng đă đánh một văn điện cảm ơn Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và cho biết ông đă nhận được quà biếu. Từ đầu tháng 1-1959 hàng ngày cứ lúc 7 giờ sáng, 12 giờ trưa và 9 giờ đêm, điện đài vô tuyến từ dinh Dap Choun vẫn gửi tin tức đều đặn về cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống. Phía Dap Choun cũng đă sửa soạn kế hoạch tiến đánh Nonpênh. Lần gặp gỡ cuối cùng giữa Dap Choun và Ngô Trọng Hiếu nhằm ngày 10-1-1959. Dap Choun cho ông rơ là công việc mưu đồ đang tốt đẹp và hai bên ấn định ngày H sẽ ra tay.

Tại Sài G̣n, ông Nhu cũng như bác sĩ Tuyến chỉ c̣n thảo luận về việc đem Sơn Ngọc Thành trở lại Nonpênh. Một khi cuộc đảo chính bùng nổ th́ lực lượng Quân khu V và Quân khu II sẽ động binh tiến về biên giới giúp Dap Choun nắm khu vực miền Đông và Đông bắc Campuchia. Sơn Ngọc Thành lại qua liên lạc với chính quyền Thái Lan để hỗ trợ ông ta về phía Tây. Cũng v́ Sơn Ngọc Thành qua Thái Lan nên ngày H phải trở lại và đó cũng là nguyên nhân làm cho âm mưu bị bại lộ.

HAI ĐIỆP VIÊN
VIỆT NAM CỘNG H̉A BỊ XỬ TỬ


Nếu ngày H theo đúng kế hoạch và thời hạn ấn định th́ Sihanúc không kịp trở tay. Như trên đă viết sở dĩ phải lùi lại thêm 10 ngày nữa chỉ v́ c̣n chờ đợi cho Sơn Ngọc Thành đi tiếp xúc với nhà cầm quyền Thái Lan. Trong thời gian này. Có lẽ tướng Dap Choun sơ hở và quá chủ quan cho nên âm mưu đảo chính lọt đến tai toà Đại sứ Pháp. Dĩ nhiên là Pháp phải cấp báo cho Sihanúc.

12 giờ đêm ngày 21, Đại sứ Pháp cùng Đại sứ Nga vào Hoàng cung gặp Sihanúc và tiết lộ âm mưu đảo chính của Dap Choun. Hai giờ sau, Sihanúc cho lệnh động binh trao cho tướng Lon Non thống lănh lực lượng Dù mở cuộc tấn công chớp nhoáng thành phố Xiêm Riệt, 6 giờ sáng tướng Dap Choun c̣n đang ngủ, quân của tướng Lon Non đă tràn ngập thành phố Xiêm Riệp. Dap Choun không kịp trở tay, ông ta cải trang và đă trốn thoát.

Quân của Lon Non chiếm dinh Thống đốc Xiêm Riệt và bắt được đầy đủ tang vật gồm 100 ki lo vàng, hai chuyên viên Việt Nam và đài vô tuyến cùng một số vũ khí. Khi quân của tướng Lon Non tiến về Xiêm Riệt, toà Đại sứ Việt Nam biết rơ nhưng đành bó tay v́ không c̣n một phương cách nào cấp báo cho Dap Choun.

Tại Sài g̣n theo thông lệ 7 giờ mỗi sáng đều nhận được tín hiệu từ dinh Dap Choun nhưng suốt buổi sáng hôm đó bặt tin. Cơ quan t́nh báo Phủ Tổng thống đă linh cảm thấy nguy cơ...âm mưu lật đổ Sihanúc chắc là bất thành.

Ngày hôm sau, Thái tử Sihanúc mời tất cả ngoại giao đoàn lên Xiêm Riệt xem chiến lợi phẩm trong đó có Ngô Trọng Hiếu. Ông Hiếu ở thế tiến thoái lưỡng nan, nhưng cuối cùng vẫn quyết định đi theo phái đoàn Ngoại giao cùng với toàn thể nội các Campuchia. Ngôi sao Lon Non bắt đầu rực sáng. Đó là thành tích huy hoàng của ông đối với Thái tử Sihanúc. Từ thành tích này, tướng Lon Non trở nên một cận thần có thế lực nhất sau Sihanúc.

Tại dinh Thống đốc Xiêm Riệt, Sihanúc vênh vang đắc thắng nhưng không ngớt lời thoá mạ “kẻ thù dân tộc Khmer" mà Sihanúc không nêu đích danh Việt Nam Cộng hoà nhưng ám chỉ bằng những danh từ "tay sai đế quốc...". Sihanúc tŕnh bày tất cả bằng chứng 100 ki lo vàng và hai điệp viên Việt Nam Cộng ḥa cùng Điện đài. Sihanúc quay về phía Ngô Trọng Hiếu và hỏi: "Thưa ngài Đại diện. Ngài nghĩ thế nào về nhũng bằng chúng rơ rệt này". Ông Hiếu cố làm vẻ thản nhiên đáp: “Thưa Thái tử Quốc trưởng chúng tôi đến đây để nghe ngài tŕnh bày nên không có ǵ để trả lời cả ".

Ngoại giao đoàn im phăng phắc...Thái tử Sihanúc không biết nói sao nhưng bằng chứng thật rơ rệt, 100 ki lo vàng c̣n giữ nguyên dấu hiệu của ngân khố Việt Nam Cộng ḥa. Hai chuyên viên vô tuyến là người Việt, lại mang theo giấy thông hành Việt Nam Cộng ḥa.

Tuy vậy Sihanúc vẫn không lên án đích danh Việt Nam Cộng hoà mặc dù ông ta đă biết rơ tường tận từ bằng chứng cụ thể đến âm mưu kế hoạch. Khi Ngô Trọng Hiếu và Ngoại giao đoàn được mời đến quan sát hai chuyên viên vô tuyến người Việt (bị trói chặt tay) ông Hiếu đưa tay tát yêu trên má họ và mỉm cười không nói một lời nào. Hai chuyên viên này cũng không biết ông là Đặc sứ của Việt Nam. Ít lâu sau họ bị kết án tử h́nh và hành quyết ngay.

Riêng tướng Dap Choun trốn thoát vào rừng, nhưng ông ta vốn nghiện thuốc phiện và ôm cả thuốc nằm gục dưới một gốc cây. Lực lượng Dù của tướng Lon Non bắt gặp và hạ sát Dap Choun tại chỗ.

Tại Sài G̣n, Tổng thống Diệm cũng như ông Nhu đều phập phồng lo âu cho sứ mạng của Đặc sứ Hiếu, v́ biết đâu Sihanúc có thể làm càn. Nhưng trái lại Sihanúc chỉ yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa triệu hồi Ngô Trọng Hiếu.

Linh mục Francois từ Nonpênh qua vào cuối tháng 7-1963. Trước khi đặt chân lên thủ đô miền Nam, Linh mục có cảm tưởng Sài G̣n đang là một hoả ngục thiêu đốt hàng ngàn sư săi và Phật tử. Sở dĩ có cảm tưởng như vậy v́ thông qua báo chí phương Tây và nhất là những lời đồn đại và dư luận báo chí tại Nonpênh. Linh mục tuy vẫn tin tưởng nơi cá nhân Tổng thống Diệm, nhưng Linh mục cảm thấy ghê tởm những trại tù lộ thiên "giam hàng ngàn Phật tử bỏ đói, phơi nắng và bị tra tấn rất dă man họ". Trong cuộc gặp gỡ Linh mục Francois và Thủ tướng (hoàng thân Norodom Kantol) chính Thủ tướng Kantol đă nói như vậy. Nhưng sự thật có như vậy không ? Linh mục Francois lưu ngụ tại Sài G̣n hai tuần lễ và t́m mọi cách để điều tra xem chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă đàn áp Phật giáo đến mức độ nào ?

Trong cuộc gặp gỡ Thủ tướng Kantol ông ta có nói với Linh mục:

-Thái tử Quốc trưởng và Chính phủ Campuchia rất lo ngại cho số phận của hàng trăm ngàn Phật tử Campuchia thuộc giáo phái Theravada nếu chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không ngừng đàn áp Phật tử th́ các nước Phật giáo Á Châu sẽ có một thái độ quyết liệt và có thể tiến đến một hành động, chúng tôi sợ rằng lúc ấy sẽ bất lợi cho tín đồ Thiên Chúa giáo Á châu.

Linh mục đáp : "Chúng tôi rất hổ thẹn có một tín hữu dùng quyền bính Tổng thống mà đàn áp ngược đăi đồng bào Phật tử của ông ta như vậy. Nếu cử như lời Thủ tướng nói th́ sự đàn áp này có thật. Chắc chắn Giáo hội Thiên Chúa giáo tại miền Nam sẽ có thái độ."

Thủ tướng Kantol nói: “Cuộc biểu t́nh ngày 17 vừa qua (17-7) của hàng trăm ngàn Phật tử tại Sài G̣n chính quyền Thiên Chúa giáo thẳng tay đàn áp. Hiện nay có hàng ngàn sư săi đang bị giam giữ, một số bị thủ tiêu".

Linh mục Francois lắc đầu: “ Tôi không biết phải thưa chuyện với Thủ tướng như thế nào. Nhưng nếu Thủ tướng nói là chính quyền Thiên Chúa giáo th́ hoàn toàn là không đúng. Tôi nghĩ chỉ có chính quyền Miền Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo. Giáo hội Thiên Chúa giáo không liên hệ ǵ đến công việc của chính quyền”

Có lẽ Thủ tướng Kantol cũng biết ḿnh lỡ lời nên mỉm cười, nói: “Xin lỗi cha đó chỉ là cách nói của tôi theo dư luận báo chí. Tuy nhiên Giáo hội Thiên Chúa giáo cũng có trách nhiệm, nhất là vụ “bắn giết” phật tử lại xảy ra ngay nơi mà nguời anh của ông Diệm làm Tổng giám mục và điều khiển chính quyền."

Linh mục Francois: "Tôi có đến thăm giáo khu Huế một vài lần, tôi có thể cả quyết với Thủ tướng là Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục không có một quyền hạn đối với chính quyền do nguời em ông lănh đạo. Dù nếu có th́ Giáo hội cũng không cho phép Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục được làm như vậy"

Thủ tướng Kantol có vẻ không tin lời cha Francois. Ông ta dẫn chứng qua một vài bài báo của Mỹ và khẳng định rằng "Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục đang chia sẻ một phần lớn quyền hành của ông em và theo chỗ tôi được biết th́ Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục đang chỉ huy chiến dịch đàn áp Phật giáo”

Thủ tướng Kantol dịp này cũng tiết lộ là ông mới gặp một Đại diện cao cấp của Chính phủ Hà Nội. Đại diện này đă trao tất cả tài liệu (?) về chiến dịch đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và đặc biệt về tài liệu “bắn giết giam cầm" hàng ngàn Phật tử tại miền Trung do Đức Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục chỉ huy. Linh mục Francois hỏi thẳng Kantol: "Ngài Thủ tướng, có thể tin vào tài liệu của chính quyền Cộng sản miền Bắc?” Kantol đáp: "Thưa cha ít nhất th́ tài liệu đó cũng giúp Chính phủ Campuchia t́m hiểu được sư thật ".

Bước chân xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, Cha Francois vẫn c̣n bí ám ảnh...về những vụ thủ tiêu giam cầm đàn áp. Có đúng như vậy không ? Cha Francois vẫn tin tuyệt đối nơi cá nhân thánh thiện của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng cha cũng bắt đầu nghi ngờ... Cha Francois bỗng nhớ lại những trang sử đẫm máu của cuộc bách đạo Thiên Chúa giáo dưới thời Thiệu Trị, Tự Đức. Có lẽ vào giữa năm 63 lại tái diễn một cuộc bách đạo như vậy mà nạn nhân lại là sư săi và Phật tử ?

Những ngày đầu ở Sài G̣n Linh mục Francois thấy thành phố không có ǵ thay đổi nhiều. Tuy nhiên ở đâu đâu cũng âm ỉ như một ḷ than hồng. Việc đầu tiên là cha đến xin yết kiến Đức Khâm sứ Toà Thánh. Đức Khâm sứ cũng đang sửa soạn về La Mă. Dịp này Đức Khâm sứ sẽ tường tŕnh với Toà thánh La Mă về cuộc tranh đấu của Phật giáo cùng thái độ của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Gặp Cha Francois, Đức Khâm sứ tỏ vẻ thất vọng và nói: "T́nh h́nh rất nguy ngập, nếu Tổng thống Diệm không cải tiến th́ chắc hẳn chế ñoä của ông ta sẽ sụp đổ”.

Cha Francois hỏi: "Thưa Đức Khâm sứ ngài có thể dùng uy tín để thuyết phục Tổng thống Diệm không? Con thấy dư luận các nước Á châu không nhũng bất lợi cho chính quyền ông Diệm mà bất lợi cho cả Giáo hội Việt Nam ".

Đức Khâm sứ phác một cử chỉ lạnh lùng đáp:"Làm thế nào được ? Dù là Tổng thống của một nước dân chủ nhưng con người ông Diệm vẫn là vị Hoàng đế của nước Việt Nam thời xa xưa ".

Cha Francois hỏi: “Lúc này Đức Khâm sử có hay gặp Đức Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục không ? Con tin rằng đức cha Ngô Đ́nh Thục sẽ tuân theo lời khuyến cáo của đức cha ! "

Đức Khâm sứ đáp: “Đă lâu tôi không gặp Ngài. Theo Linh mục Cao Văn Luận cho tôi biết th́ ngài cũng có một phần trách nhiệm về "vụ biến cố này ! "

Cha Francois hỏi: "Vậy th́ lời tố cáo của phía Phật Giáo cũng không phải là sai ? ".

Đức Khâm sứ đáp: “Không sai, nhưng không hoàn toàn đúng . Tôi nói là đức cha Ngô Đ́nh Thục phải chịu một phần trách nhiệm. Đây chỉ là trách nhiệm tinh thần đối với lương tâm Công giáo ".

Cha Francois hỏi: "Thưa Đức Khâm sứ có thực là chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đàn áp Phật giáo như báo chí ngoại quốc tường thuật không? "

Đức Khâm sứ im lặng một lát rồi khẳng định: “Đây chỉ là lối phiên dịch thổi phồng quá đáng. Cha đă từng sống ở Việt Nam chắc Cha hiểu rơ họ hơn tôi. Trí tưởng tượng của họ ghê gớm lắm, tôi tin rằng chắc cũng có những vụ bắt bớ giam cầm đánh đập Phật tử, nhưng làm ǵ đến độ ghê gớm như sự tường thuật của báo chí ".

Đức Khâm sứ kể: "Mới đây có một giáo dân đến thăm tôi. Ông là một nhân vật cao cấp trong Chính phủ, ông ta quả quyết có bàn tay của người Mỹ, dàn cảnh trong vụ biểu t́nh của Phật tử ngày 17-7 vừa qua, ông ta nói có một bác sĩ bên Phật giáo đă chế tạo cả mấy chục ngàn lọ thuốc mê (chloroforme) trao cho các nhà sư trẻ và Phật tử để khi biểu t́nh mà xô xát với cảnh sát th́ đưa thuốc lên mũi ngửi lúc ấy thuốc mê sẽ làm họ lảo đảo rồi ngă qụy rồi lúc ấy phóng viên ngoại quốc sẽ quay phim chụp h́nh. Nhân vật này cũng cho biết sau cuộc biểu t́nh ngày 17-7 cảnh sát đă tịch thu được cả hàng chục chai thuốc mê như vậy. Ông ta cũng tiết lộ với tôi là truyền đơn của phía tranh đấu được quay ronéo bằng những loại giấy mà chỉ có cơ quan USAID(1) mới có. Đó là thứ giấy tốt đặc biệt".

Cha Francois lại hỏi: "Thưa Đức Khâm sứ ngài có nghĩ rằng đă có bàn tay Cộng sản trong phong trào tranh đấu Phật giáo hay không? "

Đức Khâm sứ ngần ngại rồi đáp: 'Đây là một vấn đề quá tế nhị, cho đến bây giờ chưa có một dữ kiện nào khiến chúng ta có thể nghi ngờ như vậy ".

Cha Franeois nói: "Tại sao Tổng thống Diệm lại có thể hành động thiếu khôn ngoan khi ông ta lệnh cấm treo cờ Phật giáo?”
Đức Khâm sứ đáp: "Có nhiều nguyên nhân sâu xa lắm, lệnh cấm treo cờ của ông Diệm đâu có phải chỉ dành riêng cho Phật giáo mà quy định cho cả Giáo hội Công giáo nữa. Cha phải hiểu rằng ông Diệm là một nhà quốc gia cực đoan. Ông ấy coi Tổ quốc trên Giáo hội, chứ không phải Giáo hội trên Tổ quốc ".

Cha Francois nói: "Con vẫn tin Tổng thống Diệm là một người hoàn toàn thánh thiện". ĐứcKhâm sử gật đầu đáp:”Đúng, ông ấy là một giáo dân có một đời sống rất thánh thiện. Nhưng ông ấy không phải là một giáo dân thức thời".

Cha Francois hỏi: "Con nghe nói một số linh mục và giáo dân đang tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo ".

Đức Khâm sứ đáp: “Đúng , tôi có nghe nói như vậy, một số linh mục có đến hỏi ư kiến của tôi như thế nào khi họ có thái độ thân thiện và hỗ trợ Phật giáo th́ tôi trả lời các ngài hăy cứ làm theo lương tâm các ngài".

-----------------------------
(1) T́nh báo Mỹ


CON SỐ 80%
SỰ THỰC HAY LÀ HUYỀN THOẠI


Cha Francois trong cuộc gặp gỡ Đức Khâm sứ cũng không được thoả măn lắm. Đức Khâm sứ tỏ ra thiếu thiện cảm với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và ngài bị ảnh hưởng sâu xa bởi những dư luận dồn đại về đời sống của bà Nhu cũng như quyền bính của ông Nhu và đức cha Ngô Đ́nh Thục. Khi Cha Francois sắp cáo từ ra về th́ một giáo sư đại học và một Linh mục trẻ cũng vừa đến xin thăm Đức Khâm sứ. Ngài bảo Cha Francois: “Cha có thể ngồi lại đây. . . nếu Cha muốn biết rơ t́nh h́nh Việt Nam như thế nào th́ hai ông khách này có thể giúp Cha nhiều tài liệu xác thực".

Lúc đầu hai vị khách c̣n dè dặt nhưng sau hai ông bắt đầu nổ máy, công kích chính quyền hết sức mănh liệt. Cha hỏi: "Tôi vẫn nghĩ rằng chính quyền này có thực thi dân chủ và thực hiện nhiều công việc lớn lao cho Chính phủ".

Vị Linh mục trẻ: "Thưa cha chúng tôi chưa thấy dân chủ ở đâu cả, Quốc hội là Quốc hội bù nh́n, toàn thứ nghị gật do được chỉ định. Quyền hành đều nằm gọn trong tay Tổng thống hay đúng ra là ở trong tay ông bà Nhu ".

Vị giáo sư đại học: “Thưa Đức Khâm sứ và Cha, t́nh h́nh đến lúc nghiêm trọng lắm rồi. Thiết tưởng Giáo hội không thể đứng ngoài ṿng Giáo hội phải lên tiếng ". Đức Khâm sứ mỉm cười: “Ông bảo Giáo hội phải lên tiếng như thế nào ? Giáo hội không đứng ngoài ṿng th́ Giáo hội phải làm sao bây giờ?”.

Nếu không có vụ tranh chấp năm 1963 và nói một cách chung th́ Phật giáo chưa có một xích mích nào đáng kể đối với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. (Ngoại trừ những xích mích có tính cách địa phương xảy ra tại B́nh Định, vào những năm 1960-1961). Trước năm 1963 Phật giáo Việt Nam chỉ là một tập thể bao gồm những cục bộ riêng rẽ . Mà những cục bộ này cũng không được tổ chức chu đáo. Tuy vậy Phật giáo Nam Việt cũng bị ảnh hưởng sâu xa bởi sắc thái địa phương, bối cảnh dịa dư và nhân sự. Do đó, Phật giáo đă thể hiện rơ rệt qua ba "sắc thái sinh hoạt" : Phật giáo miền Nam, Phật giáo miền Trung và Phật giáo di cư. Phật giáo miền Nam gồm hội Phật học Nam Việt (Cư sĩ Mai Thọ Truyền và chùa Xá Lợi), Giáo hội tăng gia Việt Nam (Thượng tọa Thích Thiện Hoa chùa Ấn Quang), Phật giáo nguyên thuỷ (nhóm Tiểu thừa chùa Kỳ Viên) và một số hội đoàn lẻ tẻ khác. Phật giáo Campuchia di cư ước độ 200.000 người nhưng không tạo thành một cộng đồng. Phật tử di cư với tư cách cá nhân và bằng phương tiện cá nhân, trong số 200.000 người có khoảng 50.000 người sống rải rác ở các trại định cư. Khoảng 50.000 người sinh sống ở các thị xă. C̣n lại 100.000 tín đồ quy tụ tại Sài G̣n. Phật giáo di cư tại Đô thành có thể chia thành hai nhóm, nhóm thuộc chùa Phổ Quang và Nghĩa trang Bắc Việt (Thượng tọa Thích Trí Dũng). Nhóm đa số thuộc chùa Từ Quang (Thượng tọa Thích Tâm Châu).

Riêng Phật giáo miền Trung được coi là một cộng đồng có tổ chức và sinh hoạt từ cấp khuôn hội cho đến trung ương (từ chùa Từ Đàm). Theo thống kê trước năm 1963 Phật giáo (miền Trung )có vào khoảng 400.000 người với một tổ chức thanh niên và hướng đạo Phật tử đáng kể. Sau 1963 cũng theo thống kê th́ số Phật giáo miền Trung lên tới 800.000 người.

Tổng Hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ. Trên thực tế, Phật giáo miền Trung mới là chủ lực của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Hoà thượng Thích Tịnh Khiết là một bậc cao tăng nổi tiếng về đức độ của con người xuất thế tu đạo. Nhưng tước vị Hội chủ chỉ là một danh nghĩa tiêu biểu cho tinh thần thống nhất cao. Quyền hành của Tổng hội Phật giáo Việt Nam vẫn do các Vị Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh, xa hơn nữa là các thượng tọa Trí Thủ và Đôn Hậu cùng một số thượng tọa, Đại đức thuộc khuynh hướng dấn thân tích cực.

Phật giáo miền Nam trước, sau năm 1963 luôn giữ thái độ xuất thế không thân chính quyền Ngô Đ́nh Diệm mà cũng không chống và cũng không hề biểu lộ một thái độ nào có màu sắc chính trị và thời thế.

Cư sĩ Chánh trí Mai Thọ Truyền không có một quan hệ nào đối với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm nhưng giữa ông và Phó Tổng thống Thơ lại có nhiều mối tương thân giao hữu.

Ngược lại, Tổng hội Phật giáo miền Trung lại được coi như thân thiện và có những tương giao tốt đẹp với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm qua ông Ngô Đ́nh Cẩn, chính ông Cẩn vẫn tự hào và lớn tiếng kể công với các anh là ông đă nắm được Phật giáo miền Trung.

Ông Cẩn thường coi thành tích này như một điều để "bắt bí" mấy ông anh. Bất cứ một hội nghị Phật giáo nào tại ngoại quốc, các Thượng tọa miền Trung phải được ưu tiên. Do đó cũng làm cho giới chức tại Sài G̣n gặp nhiều cảnh "tréo cẳng ngỗng". Theo Lương Khải Minh, vào khoảng năm 1960...Tổng thống Diệm đă chấp thuận một danh sách gồm mấy Thượng tọa và Cư sĩ đi tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới. Các vị này đă được thông báo để sửa soạn làm giấy thông hành, bỗng nhiên ông Cẩn cho người đem vào Sài G̣n một danh sách mới và đ̣i cho bằng được phải để cho mấy vị Thượng tọa miền Trung tham dự và nắm chức trưởng phái đoàn.

Ông Cẩn lấy cớ rằng : "Tổng hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và trụ sở đặt tại Huế th́ Huế mới là trung ương Tổng hội”. Do đó, một Thượng tọa ở Huế phải làm trưởng phái đoàn.

Sự việc này quả khó giải quyết cho nên lại phải tŕnh bày lên ông Diệm. Ông Tổng thống đáp: “Ai đi cũng vậy. Tôi nghe nói mấy ông Thượng tọa này tốt lắm. Chắc là ông cậu ngoại nớ đă biết họ rơ". Có lẽ bắt nguồn từ những việc này nên Phật giáo Sài G̣n vẫn ŕ rầm là chính quyền không hiểu sao đă ưu đăi các thầy ở Huế. Nhiều kẻ đa nghi lại rỉ tai nhau : "Thày ấy...là người thân của ông Cẩn mà ".

Đại uư Bằng, sĩ quan hầu cận của Tổng thống Diệm cũng xác nhận rằng : “Không hiểu một lư do ǵ mà ông Cẩn lại quá ư ưu đăi và trọng vọng mấy vị Thượng tọa ở chùa Từ Đàm” . Đại uư Bằng nhớ lại : “Cũng vào khoảng năm 1960 khi tháp tùng Tổng thống Diệm về Phú Cam, ông Cẩn đă gọi Bằng lại dặn ḍ rất kỹ : Mi về Sài G̣n gặp ngay anh Tuyến hỏi xem tuần trước các thầy có mang thơ giới thiệu của tao đến gặp anh ấy không? Mi bảo anh Tuyến lo ngay cái vụ hồ sơ đi xuất ngoại của thầy Trí Quang. " - Một lát sau ông Cẩn nhắc lại lần nữa và bảo Bằng tin ra Huế ngay để ông biết rơ vụ giấy tờ xuất ngoại của mấy thầy đă đi đến đâu.

Khi về Sài G̣n, Đại uư Bằng đến t́m bác sĩ Tuyến và nói như vậy. Bác sĩ Tuyến cho biết là hồ sơ đă đưa qua pḥng ông Hải rồi : "Có thư của ông Cậu ai mà dám chậm trễ".

Ông Ngô Đ́nh Cẩn tỏ ra rất tự hào về những tương quan thân hữu của ông và Tổng hội Phật giáo tại miền Trung. Do đó, khi nhận được bức công điện cấm treo cờ tôn giáo, ông Cẩn tỏ ra tức giận không ít.

Bức công điện mang số 9195 đề ngày 6-6-1963 cho đến chiều ngày 6, bức công điện mới đến toà đại biểu và tỉnh đường Thừa-Thiên. Văn Pḥng Cố vấn chỉ đạo của ông Cẩn vẫn không hay biết một chút nào. Măi đến sáng ngày 7, người vú già của Đại uư Minh đi chợ về, thuật lại : "Ngoài chợ đang xôn xao về việc ǵ đó. Đồng bào nói rằng Chính phủ cấm không cho Phật giáo treo cờ". Lúc đó Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo mới rơ và t́m gặp ông Cẩn để tŕnh bày tự sự ông mới hay.

Ông Nguyễn Văn Đẳng, Tỉnh trưởng Thừa-Thiên vào tŕnh bức công điện kể trên. Với sự hiện diện của Đại uư Minh, ông Cẩn băn khoăn...

“Sao lại có chuyện lạ như thế”

Đại uư Minh cũng ngần ngại :

- Đồng bào các nơi đă treo cờ hết cả rồi. Bây giờ làm thế nào được.

Ông Đẳng lo ngại:

Thưa nếu th́ hành bức công điện này, con thấy lôi thôi lắm.

Ông Cẩn bảo Đại uư Minh hỏi Toà đại biểu xem thế nào và yêu cầu xác thực xem bức công điện có phải đúng như thế không? Cầm bức công điện trên tay ông Cẩn vẫn chưa tin là thực. Ông Cẩn nhắc đi nhắc lại "Quyết định cái ǵ mà lạ lùng vậy”.

Trong thời gian này, ông Ngô Đ́nh Cẩn đang bị thất sủng. Tổng thống Diệm không c̣n tín nhiệm vào ông em nữa. Trên thực tế, kể từ ngày Đức cha Ngô Đ́nh Thục trở về Huế th́ uy tín của ông Cẩn bắt đầu xuống dốc dần. . .Tổng thống Diệm đă quyết định băi bỏ Văn pḥng cố vấn chỉ đạo từ đầu năm 1963 (cho đến tháng 10-1963 ông Diệm mới dứt khoát băi bỏ Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo có nghĩa là ông Cẩn bị loại khỏi chính trường miền Trung).

Bức công điện trên đây ông Cẩn chỉ được biết khi ông Đẳng mang vào. Ông Cẩn bảo Tỉnh trưởng Thừa Thiên:

“Đồng bào người ta treo cờ rồi th́ cứ để nguyên như vậy đừng có ra lệnh hạ ǵ cả ". Ông Cẩn lại bảo ông Hồ Đắc Thương, đại biểu Chính phủ Trung Nguyên Trung Phần, đánh điện vào Trung ương xin hoăn thi hành bức công điện "kỳ quái" này.

Một số viên chức có mặt tại nhà ông Cẩn lúc ấy đều đồng ư phải hoăn thi hành lệnh trên và cứ để đồng bào Phật tử treo cờ như mọi năm . Đại uư Minh bàn luận với một số viên chức: "Tại sao không ra lệnh từ trước, măi đến bây giờ mới ra lệnh. Vụ này kẹt cho tụi ḿnh lắm. Các anh tính sao ? "

Ông Cẩn thắc mắc hỏi ông Đẳng và Hoàng Trọng Bá : "Các thày dưới Từ Đàm đă biết chưa ? ". Thực ra, các thày cũng như một số đông phật tử biết tin từ tối hôm trước.

Tất nhiên là phải có một viên chức nào ở toà tỉnh đă tiết lộ bức công điện trước khi thông báo cho ông Cấn.

Sau một hồi thảo luận, cân nhắc ông Cẩn bảo Tỉnh trưởng Thừa Thiên “Chú cho mấy xe thông tin nó đi. thông báo gấp cho đồng bào hay là không có ǵ thay đổi. Đồng bào cứ treo cờ như mọi năm."

Ông Cẩn đồng thời căn đặn Đại uư Minh cũng như Hồ Đắc Thương, Hoàng Trọng Bá phải thận trọng hết sức và làm thế nào để tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra. Mặt khác Văn pḥng ông Cẩn cũng chỉ thị cho giới chức cảnh sát thành phố Huế không được hạ cờ của đồng bào.

Nói về ông Ngô Đ́nh Cẩn và Phật giáo, Thượng tọa Mật Nguyệt (thuộc phái Ấn Quang)cho rằng, trong chín năm chế độ Ngô Đ́nh Diệm, không hiểu trong ḷng như thế nào nhưng ngoài mặt, ông Cẩn tỏ ra rất thân thiết và tin cậy các thày trong Tổng hội Phật giáo miền Nam tại Huế). Qua bức công điện cấm treo cờ, thái độ của ông Cẩn ngay từ phút đầu là sửng sốt, tức giận. Ông Cẩn than thở với mấy thuộc viên thân cận : “Làm như rứa tao c̣n mặt mũi nào nói chuyện với người ta" (tức các thầy tại chùa Từ Đàm).

Buổi trưa ngày 7, ông Cẩn trầm ngâm một cách khó hiểu, ông uống một hơi hết ly rượu lễ và cho gọi ông Minh vào để t́m hiểu t́nh h́nh và được biết Huế cho đến giờ phút này vẫn không hề xao động.

Cả một thành phố như rừng cờ. Số lượng cờ phật giáo như càng tăng thêm . Vào buổi chiều ông Cẩn nhận được báo cáo cho biết khoảng 8g30 sáng (khi Nguyễn Văn Đẳng vào tŕnh bức công điện)th́ lại có mấy cảnh sát viên trong thành nội kéo nhau đi hạ cờ tại mấy nhà đồng bào và đă có sự giằng co xô xát. Sau đó được thu xếp êm ngay. Huế nơi nơi như bừng sống như đang vươn cao trong hương hoa ngào ngạt. Không khí như ngày hội hoa đăng và như tất cả dành riêng cho ngày Phật giáng thế.

Ông Nguyễn Hữu Cang, một trong những nhân chứng trong vụ Phật giáo Huế năm 1963 đă kể với chúng tôi : "Sáng ngày 7 trong giờ đồng bào và các khuôn hội đă xôn xao lắm. Nhất là chúng tôi lại được tin cho biết chính Đức Cha Ngô Đ́nh Thục đă về tận Sài G̣n thúc đẩy ông Ngô Đ́nh Nhu ra lệnh "triệt hạ" Phật giáo. Do đó lại càng khiến mọi giới Phật tử xôn động bất măn" Nguyễn Hữu Cang cho biết thêm: "Trưa ngày 7, khi được tin chính quyền cho cảnh sát đi hạ cờ và xé cờ Phật tại mấy khuôn hội th́ dư luận lại càng thêm sôi nổi phẫn uất. Nhất là giới bạn hàng chợ ĐôngBa. Có thể nói giới bạn hàng này mới là thànhphần đi tiên phong trong vụ tranh đấu kể từ ngày 7 chứ không phải chỉ riềng ngày 8".

Nguyễn Hữu Cang cũng công nhận rằng : Anh có nghe thấy xe thông tin đi loan báo là đồng bào cứ treo cờ như thường lệ. Tuy nhiên lúc bấy giờ bao nhiêu dồn nén trong quần chúng được khởi dậy và chỉ chờ đợi giây phút nổ tung.

Các hội đoàn và quân đội đều nhận được mật lệnh sửa soạn để tranh đấu đ̣i b́nh đẳng tôn giáo, đối tượng cho sự đấu tranh như vậy quả là hấp dẫn và dễ dàng lôi được mọi giới Phật tử.

Khoảng 6 giờ chiều, một số công chức ṭng sự tại Toà đại biểu không đến Toà hành chính Thừa Thiên và ở đây cũng có một số công chức thuộc tỉnh đường tụ tập bàn tán xôn xao về bức công điện cấm treo cờ, đồng thời cũng có vào khoảng một ngàn đồng bào với một số Thượng tọa, Đại đức kéo đến Toà hành chính để tỏ thái độ trong đó có Thượng tọa Đôn Hậu, Trí Quang.

Không khí lúc ấy đă nhuốm màu tranh đấu. Nguyễn Hữu Cang cũng có mặt trong ngày đó. Ngày nay tuy đă quên nhiều chi tiết nhưng ông vẫn giữ nguyên giây phút ngọn lửa hồng cháy rực. Ông nói : “Khi nghe tin cờ Phật giáo bị xé tôi có cảm tưởng như chính tổ tiên ḿnh bị chính quyền chà đạp. Lúc ấy dù có phải chết cho đạo pháp tôi cũng bằng ḷng".

Cang cho biết trong một không khí sôi động như vậy Thượng tọa Trí Quang xuất hiện cùng với mấy Thượng tọa khác như Thượng tọa Trí Thủ, Thượng tọa Thiện Minh. Về phía chính quyền th́ có ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, ông Phó Tỉnh trưởng Hành chính, ông Phong Trưởng ty cảnh sát thành phố Huế...Lát sau, Thiếu tá Đặng Sỹ Phó Tỉnh trưởng Hội An lái xe đến. Ông này mới đi hành quân về chiều ngày 6. Khi được cấp báo đồng bào Phật tử đang biểu t́nh ở tỉnh đường, Thiếu tá Sỹ vội vă lái xe đến.

Lúc ấy Thượng tọa Trí Quang với một vẻ xúc động mạnh, lên tiếng gay gắt phản đối bức công điện cấm treo cờ tôn giáo. Ông Đẳng cho các Thượng tọa biết là chính quyền đă hoăn thi hành bức công điện này và xin các Thượng tọa cứ an tâm. Mọi sự đều như mọi năm không có ǵ thay đổi.

Tuy vậy, Thượng tọa Trí Quang vẫn giữ vẻ tức giận và lên tiếng phản đối chính quyền Thừa Thiên tại sao sáng ngày 7 đă cho cảnh sát hạ cờ Phật giáo và tại một vài nơi Cảnh sát đă xé cờ.

Ông Đẳng quay sang hỏi ông Phong Trưởng ty Cảnh sát xem sự thể hư thực như thế nào. Ông Phong lên tiếng : “Tôi quả quyết không có chuyện đó”. Ông Phong lại nhấn mạnh thêm : "Tôi quả quyết với các thày là không có chuyện xé cờ". Thiếu tá Sỹ lên tiếng : “Nếu có chuyện xảy ra như vậy xin thày cho biết rơ nơi nào cảnh sát đă xé cờ, tôi sẽ cho điều tra và trừng trị ngay”.

Ông Phong lại nói một lần nữa quả quyết là không có chuyện như vậy. Ông Phong xin Thượng tọa Trí Quang nêu lên một vài chứng cớ. Thượng tọa Trí Quang đáp : “Tôi nghe đồng bào Phật tử nói như vậy ".

Ông Phong lại thỉnh cầu : "Xin Thày cho biết rơ nơi xảy ra chuyện xé cờ thuộc về khuôn hội nào, khu phố nào để chúng tôi mở cuộc điều tra ngay".

Thượng tọa Trí Quang lắc đầu không tiết lộ và nói đại ư : “Tôi không thể cho các ông biết rơ được. Tôi cho các ông biết rơ để rồi cảnh sát đến làm phiền đồng bào Phật tử rồi tính sao đây ? ".

Cuối cùng Thượng tọa Trí Quang tỏ vẻ lo ngại : "Hiện nay chúng tôi rất hoang mang không hiểu chính quyền đàn áp chúng tôi đến khi nào? ".

Ông Nguyễn Văn Đẳng vẫn "xuống nước" thỉnh cầu các thượng tọa yên tâm trở về chùa và ngày mai mọi sự sẽ tiến hành tốt đẹp như mọi năm. Thượng tọa Trí Quang vẫn lo ngại : “Mai này đồng bào Phật tử sẽ tổ chúc rước kiệu, chúng tôi đă sửa soạn đâu đấy cả rồi chúng tôi rất hoang mang”.

Hai bên chính quyền và các Thượng tọa cứ ṿng vo bàn căi, cuối cùng chính quyền Thừa Thiên phải nhượng bộ bằng cách gọi điện thoại ngay cho ông Trừ Trưởng ty Thông tin cho ba xe có máy phóng thanh đến toà tỉnh. Ông Nguyễn Văn Đẳng đề nghị các Thượng tọa cho các cán bộ Phật tử của ḿnh đi theo xe và chính các cán bộ này sẽ chia nhau đi khắp các khu phố để loan báo cho đồng bào rơ ngày 8-5 sẽ không có ǵ thay đổi, đồng bào cứ đi hành lễ như chương tŕnh của Giáo hội đă ấn định. Kết quả các thượng tọa cũng bằng ḷng như vậy. Khoảng 9 giờ đêm đám đông mới giải tán và mọi chuyện tưởng chừng đă được giải quyết tạm thời êm đẹp. Ba xe thông tin chia nhau đi vào các khu phố để làm phận sự như chính quyền và các thượng tọa đă thoả thuận.

Theo Nguyễn Hữu Cang đêm mùng 7 là một đêm không ngủ. Cang cũng như một số Phật tử khác thừa hành lệnh trên đi kẻ biểu ngữ và quay ronêo những bản văn đ̣i chính quyền thực thi quyền b́nh đẳng tôn giáo.

Giới an ninh quân đội Khu XI Chiến thuật đă "cảm thấy" những hiện tượng đáng lo ngại. Có lẽ v́ vậy đêm mùng 7 , Đại tá Đỗ Cao Trí ra lệnh cấm trại.

Không một ai ngờ được rằng chỉ một ngày sau Huế nổ tung mở đầu cho một biến chuyển lịch sử.

Sau cuộc thoả thuận với các Thượng tọa tại toà Hành chính Thừa Thiên ông Cẩn không c̣n ǵ băn khoăn, ông dặn ḍ mấy người thân cận: “Các Thày đ̣i hỏi như thế cũng là phải. Ngày lễ của người ta . Nếu có ǵ quá đáng th́ bọn bay t́m ông Nghiêm, không có ǵ th́ cho gọi Lê Trọng Quát hoặc t́m Hà Thúc Luyện ". Ngay đêm đó, ông Cẩn đă nhận được báo cáo là mọi chuyện đă được giải quyết êm đẹp. Ông Cẩn tin tưởng sẽ không c̣n chuyện ǵ xảy ra nữa v́ ông vẫn tin cẩn là được các thày chùa Từ Đàm trọng nể và tin ông. Hơn nữa, những người ruột của ông Cẩn lại là những Phật tử có nhiều tương quan mật thiết với các thày như Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, có họ hàng gần với Hoà thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết, ông Lê Trọng Quát lại là một Phật tử quy y nơi Thượng tọa Đôn Hậu, ông Hà Thúc Luyện vốn từ xưa đóng vai tṛ giao liên giữa ông Cẩn và mấy thày. Đó là sự tự hào và tin tưởng chủ quan của ông Cẩn. Trong khi đó bức công điện cấm treo cờ trở nên một đối tượng khích động quần chúng. Nguồn tin cảnh sát xé cờ lại là những yếu tố ngoại quan đập mạnh vào ḷng hiếu động của quần chúng.

__________________
 

TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM


Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)

 
  #14  
Old 09-04-2008, 09:12 PM
Avatar của Trần Toàn Trung
Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung is offline
Điều hành viên
 
Gia nhập: Dec 2007
Đến từ: Nation & Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết
Default

Chương VIII : Tổng thống Diệm và Phật Giáo

NGÀY LỊCH SỬ 7-5-1963 (ÂM LỊCH)

Không một người Việt Nam nào có thể ngờ rằng, ngày ấy và bức công điện ấy đă cắm cột mốc khởi điểm cho một thảm kịch bi thương.

Trần Khôi hồi tưởng lại những ngày khi ông ra Huế thanh tra trước ngày 8-5 khoảng mấy ngày. Bây giờ nghĩ lại ông Khôi chợt bàng hoàng về một sự trùng hợp ngẫu nhiên và tự hỏi. Người Mỹ muốn ǵ ở Việt Nam ?

Vốn quen biết với Đại tá Mỹ Coner trong thời gian thuộc quyền Bộ Nội vụ trước khi ra Huế, Khôi t́nh cờ gặp ông Coner, ông Coner khoe:

“- Do sự thuyết phục của tôi Tổng thống Diệm mới chịu thi hành dân chủ tại xă ấp.

Kể từ đó xă ấp đều do dân chúng trực tiếp bầu theo lối phổ thông đầu phiếu.

Biết rơ bản tính Coner nên ông Khôi nghĩ bụng "Thằng cha thuộc loại nói róc tay tổ " Coner c̣n nói thêm:

Chính phủ Việt Nam Cộng hoà c̣n phải thi hành nhiều cải tổ quan trọng nữa mới thắng được Cộng sản chính quyền này thiếu dân chủ. Rồi Coner lại nhấn mạnh : "Tôi có có cảm tưởng Chính phủ Việt Nam Cộng hoà là Chính phủ của những nguời Công giáo.

Anh ra Huế th́ biết. Tôi sẽ giới thiệu anh với Johnson, đàn em của tôi đang giúp Hoàng Trọng Bá huấn luyện lực lượng Nhân dân vơ trang".

Coner nói với Khôi như một giăi bày tâm sự :

"- Dư luận Mỹ đang bất lợi cho Việt Nam, muốn chống Cộng sản th́ phải huy động lực lượng Phật giáo không phải chỉ một chính quyền Công giáo. Phật giáo sẽ tẩy chay Chính phủ.

Ông ra Huế th́ biết đó chỉ là một vương quốc của Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục"

Ông Khôi lấy làm lạ lùng về thái độ của Coner, một người Mỹ có kinh nghiệm 30 năm ở miền Nam Việt Nam không hiểu suy luận từ một sự kiện nào lại nhất định cho rằng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm là một chính quyền của người Công giáo. Ông Khôi biết bụng vậy thôi và khi ra Huế đúng vào dịp Huế đang tưng bừng đón Phật đản đồng thời đang sôi động về bức công điện cấm treo cờ ông mới hiểu điều Coner ám chỉ.

Theo lời Trần Khôi, quan sát ngay tại chỗ về vụ nổ ở Đài Phát thanh Huế sẽ không dủ cho ta những lập luận có thể tin được, là CIA hoặc Cộng sản đă nhúng tay vào biến cố ngày 8-5. Nhưng về phía Mỹ, qua những cuộc đối thoại trao đổi th́ talại dễ dàng cảm thấy bằng trực giác là Mỹ có thể đă nhúng tay và qua nhiều ngẫu nhiên trùng hợp th́ quả là người Mỹ đă "ra tay hành động".

Buổi tối 7-5, ông Khôi được mời dùng cơm tại nhà một viên chức Mỹ. Trong bữa cơm đó ông gặp Johnson, ông Phó Lănh sự Mỹ, một bác sĩ người Đức tại trường Đại học Y khoa Huế và một người Việt Nam tự giới thiệu là giáo sư trường Đại học văn Khoa Huế. Khôi ngồi cạnh ông Johnson, ông ghi nhận Johnson là một tay người Mỹ, không khen hay chê Chính quyền. Nhưng luận điệu của ông Phó Lănh sự Mỹ cũng tương tự như Coner. Đề cập đến Phật giáo ông Phó Lănh sự Mỹ nói đại ư :

Phật giáo là một lực lượng rất lớn lao. Nhưng Phật giáo không tham gia vào công cuộc chống Cộng nếu Chính phủ Việt Nam Cộng hoà không mở rộng cho Phật giáo tham dự.

Nghe nói như vậy, ông Khôi phản đối :

Quan niệm của ông Phó Lănh sự có phần không đúng. ông Tỉnh trưởng ở đây, ông tướng Tư lệnh vùng đềtt là Phật giáo. Phó Tổng thông cũng là phật giáo. Tướng Tổng Tham muu trưởng cũng là phật giáo .

Ông Phó Lănh sự Mỹ mỉm cười không đáp. Một lát sau, viên chức Mỹ Warren Smith lên tiếng công kích nặng nề việc làm của Nha Công tác miền Thượng. Viên chức Smith cho rằng, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đang thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá và Công giáo hoá tất cả đồng bào Thượng và nhất là Nha này đă xâm phạm chủ quyền vương quốc Lào và quyền "tự quyết" của các sắc tộc Thượng.

Bữa cơm hôm ấy, các viên chức Mỹ, Smith và nhất là ông Phó Lănh sự đă công kích chính quyền Ngô Đ́nh Diệm khá mạnh mẽ về vấn đề Phật giáo. Đề cập đến vụ biểu t́nh tại toà Tỉnh trưởng Thừa Thiên chiều mùng 7, ông Phó Lănh sự cho rằng : “Nếu chính quyền Ngô D́nh Diệm không chịu "liên hiệp”(?) với Phật giáo tham chánh th́ Phật giáo sẽ đứng lên tranh đấu”

Cũng từ ngày 7-5, có một số người Mỹ ở Đà Nẵng cấp tốc ra Huế. Đó là Đại uư Scot. Tất nhiên là không ai để ư đến ông ta.

Nhưng Đại uư Scot ra Huế để thực hiện một công việc quan trọng do Trung ương t́nh báo Mỹ trao phó cho ông ta.

(Năm 1965, Đại uư Scot trở thành sĩ quan cố vấn của Tiểu đoàn 1/3 Sư đoàn 1 BB. Trong cuộc hành quân tại vùng Nam Đồng, Scot trong lúc đau buồn bất măn đă tiết lộ công v́ệc mà ông ta đă thực hiện ngày 8-5-1963)

Tại Sài G̣n, không có một chuyện đáng tiếc nào xảy ra trong hai ngày 7 và 8. Sáng ngày 8, Lương Khải Minh được mấy người bạn cho biết, bên phía chùa Xá Lợi đang có chuyện bất măn với Chính quyền về vụ cấm treo cờ. Lúc ấy ông ta mới hay và rất ngạc nhiên.

Lương Khải Minh thầm nghĩ : "Trong t́nh thế này cấm đoán làm chi dù cho là hợp lư. Vụ cờ Vatican rồi vụ cờ Phật giáo, chế độ càng ngày càng tạo thêm mâu thuẫn".

Và Cộng sản cũng chỉ mong có thế. Sáng sớm, Thượng tọa Trí Dũng và một vị Thượng tọa khác có lại thăm bác sĩ Tuyến tại nhà riêng và yêu cầu ông can thiệp, làm thế nào để Chính quyền đ́nh chỉ thi hành bức công điện cấm treo cờ. Bác sĩ Tuyến gọi điện hỏi ông Đoàn Thêm (Đổng lư Văn pḥng Bộ phủ tổng thống) ông Đoàn Thêm xác nhận là có bức công điện đó và do nơi ông Đổng lư phó tổng thống Quách Ṭng Đức gởi đi (ông Quách Ṭng Đức thi hành khẩu lệnh của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm).

Sự việc đă xảy ra như vậy, biết làm thế nào ?

Tại Sài G̣n, Lương Khải Minh tự động giải quyết theo đường lối t́nh cảm cá nhân. Quận 3 là nơi tập trung rất nhiều chùa chiền và những chùa lớn như Xá Lợi, Kỳ Viên...Từ tư thất, bác sĩ Tuyến gọi Trung tá Phó đô trưởng Nội An và ông Cảnh sát trưởng quận 3 (bấy giờ là c̣ Kính ) và yêu cầu hết sức thận trọng "Nơi nào đă treo cờ rồi cứ để nguyên đừng cho cảnh sát hạ xuống. Nơi nào đồng bào Phật tử chưa treo th́ t́m lời khéo léo nói với họ xin thông cảm".

Nhờ sự sốt sắng và không quan tâm của cảnh sát thuộc 7 quận đô thành nên vụ cờ Phật giáo đă không gây ra những chuyện đáng tiếc tại Sài G̣n. Lễ Phật đản cử hành như mọi năm.

BÀI THUYẾT PHÁP NẢY LỬA

Ngày 8-5, từ sáng sớm tinh mơ, Huế đă trở ḿnh thức dậy giữa một rừng cờ. Đồng bào Phật tử trong khắp thành phố nhất tề quần áo bảnh bao sửa soạn kéo nhau về chùa Từ Đàm để dự đại lễ. Nguyễn Hữu Cang trong một tâm trạng nao nức.

Nguyễn Hữu Cang đă được bạn rỉ tai từ tối hôm trước là sáng nay có thể chính quyền sẽ đàn áp Phật giáo và ngăn chặn không cho rước kiệu Phật. Song cũng v́ nguồn tin như vậy nên số Phật tử đi dự lễ càng đông càng hăng say.

Từ 8 giờ sáng trên các ngả đường thành phố Huế tấp nập những người, từ Đập Đá, từ An Cựu, đến Gia Hội , Diệu Đế. . . .hàng ngàn Phật tử rước kiệu Phật tiến về lễ đài thiết lập tại chùa Từ Đàm.

Khoảng 9 giờ, Đại uư Minh vào gặp ông Cẩn và tin cho ông Cẩn hay, mọi chuyện rước xách đă diễn ra rất tốt đẹp.

Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm cũng như ông đại biểu Hồ Đắc Thương, ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đều khăn đóng áo dài đến chùa Từ Đàm dự lễ vừa với tư cách chính quyền vừa tư cách Phật tử.

Trước đó, một đoàn ước chừng 500 người từ Gia Hội rước Phật qua Từ Đàm, khi đi ngang Toà Đại biểu th́ dừng lại, năm bảy chiếc biểu ngữ được giơ lên. Không khí bắt đầu sôi nổi.

Trong số biểu ngữ đó có những khẩu hiệu như là đ̣i chính quyền thực thi quyền b́nh đẳng tôn giáo và lên án kỳ thị tôn giáo.

Đoàn người dừng lại một lúc lâu, có nhiều tiếng la ó và đả đảo. Sau đó đoàn người lại thẳng bước tiến về lễ đài. Theo Nguyễn Hữu Cang th́ hôm ấy, thanh niên và hướng đạo Phật tử đă nhận được lệnh là luôn luôn đề cao cảnh giác và chính quyền có thể đàn áp bất cứ lúc nào.

Trong buổi lễ Thượng tọa Trí Quang đăng đàn thuyết giảng. Bao nhiêu ngàn Phật tử im lặng như tờ. Phật tử vừa thích thú vừa hồi hộp, ngạc nhiên. Thượng tọa Trí Quang nói hay quá, hấp dẫn và nồng nàn. Thượng tọa lên tiếng công kích chính quyền rất nặng nề và tố cáo sự kỳ thị tôn giáo, bất b́nh đẳng tôn giáo. Tóm lại, bài thuyết giảng đó vừa công kích chính quyền vừa có tính cách kêu gọi Phật giáo tranh đấu cho Phật pháp và “đ̣i quyền b́nh đẳng tôn giáo".

Tội nghiệp cho ba "ông lớn"của chính quyền được một phen "rụng tim". Ba "ông lớn" thất sắc đưa mắt nh́n nhau và lắc đầu chịu trận. Thiếu tướng Nghiêm cho rằng thầy Trí Quang công kích chính quyền nặng quá, đang dự leă chả lẽ ông lại bỏ ngang ra về. Bài thuyết giảng của Thượng tọa Trí Quang được cơ quan an ninh thu băng.

Khi tan lễ, Thiếu tướng Nghiêm cũng như ông Đẳng và ông Chương cùng lần lượt kéo nhau đến tư dinh ông Cẩn và mỗi người lần lượt tŕnh bày về nội dung bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang. Ông Cẩn thắc mắc nói với mọi người : “Tại sao thầy Trí Quang lại cư xử với ḿnh như vậy?”. Có thể nói ông Cẩn rất ngạc nhiên về bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang. Lúc đầu nghe nói ông vẫn không tin “Làm ǵ có chuyện đó”. Măi sau khi nghe hết cuộn băng, ông Cẩn chỉ lắc đầu, than dài.

Về phía đồng bào Phật tử tinh thần bỗng lên cao và càng thêm hăng say nhờ bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang.

Theo Nguyễn Hữu Cang, sau khi nghe Thượng tọa Trí Quang thuyết pháp như vậy, Cang cũng như bạn bè nhất là giới Phật tử lao động và học sinh, sinh viên bỗng nhiên cảm thấy phẫn uất và cần phải làm một cái ǵ đó. Cơn giông tố bắt đầu nổi lên.

Buổi chiều ngày 8 lặng lẽ trôi qua. Theo chương tŕnh đă dự định th́ 8g30 tối sẽ đốt pháo bông và rước xe hoa tại chùa Từ Đàm. Vào khoảng 6 giờ chiều đồng bào đă lũ lượt kéo nhau về Từ Đàm. Những năm trước lễ Phật đản tại Huế bao giờ cũng tấp nập đông vui như vậy.

Vào khoảng 7giờ 30, đồng bào tập trung tại chùa Từ Đàm chen chân không nổi. Bỗng nhiên ban tổ chức cho biết, chương tŕnh được thay đổi và không có đốt pháo bông như dự định.

Đồng bào được mời về tập trung tại Đài phát thanh phía cầu Tràng Tiền. Ban tổ chức cho biết đồng bào hăy tập trung quanh vùng Morin, để đón đoàn xe hoa từ Đà Nẵng ra tham dự. Đồng bào Phật tử lại chen nhau đổ xô về địa điểm đă định. Ai nấy đều nao nức, mong chờ đoàn xe hoa từ Đà Nẵng tiến ra.

Tại Đài phát thanh, ông Quản đốc Ngô Ganh đang cho sửa soạn để phát chương tŕnh lễ Phật đản vào lúc 8g15. Chương tŕnh đă được thu thanh từ trước và được kiểm duyệt theo thể lệ chung. Ĺnh tính cho ông biết sắp xảy ra chuyện chẳng lành. Đồng bào tập trung quanh Đài phát thanh đông quá sức tưởng tượng. Nhân viên của đài vẫn yên trí làm việc v́ cho rằng, đồng bào đến để nghe phát thanh chương tŕnh đặc biệt về lễ Phật Đản, giản dị chỉ có thế thôi.

Nhưng sau đó, có mấy ông Thượng tọa, Đại đức và một số thanh niên Phật tử vào thẳng văn pḥng ông Quản đốc, yêu cầu được thay đổi chương tŕnh phát thanh. Thay v́ cho phát thanh chương tŕnh đă được thu thanh và kiểm duyệt, ban tổ chức yêu cầu ông Quản đốc cho truyền thanh trực tiếp buổi lễ ban sáng kể cả bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang mà ban tổ chức đă thu thanh.

Quản đốc Ngô Ganh từ chối với lư do ông chỉ được phép cho truyền thanh những cuộn băng nào đă được kiểm duyệt, c̣n vấn đề trực tiếp truyền thanh buổi lễ th́ ông không thể thoả măn. Ban tổ chức cương quyết đ̣i hỏi phải được truyền thanh theo chương tŕnh trong cuốn băng của Ban tổ chức. Bên ngoài Phật tử và đồng bào tập trung mỗi lúc một đông và tựa như từng lớp sóng người trong vùng biển động.

Ngô Ganh gọi điện cho từng cấp liên hệ để báo cáo sự t́nh. Đôi bên vẫn dằng co.

Về phía chính quyền lúc 5 giờ chiều, cơ quan an ninh đă nhận được nguồn tin mật là tối nay các Thày sẽ làm áp lực buộc Đài Phát thanh phải cho trực tiếp truyền thanh cuộn băng ghi lời thuyết pháp ban sáng của Thượng tọa Trí Quang - Thiếu tá Đặng Sỹ Phó Tỉnh trưởng đi t́m ông Tỉnh Trưởng để tường tŕnh nội vụ. Nhưng ông Sỹ không sao t́m được ông Đẳng. Ông Sỹ cho người đến nhà vợ nhỏ ông Đẳng cũng không thấy ông đâu.

Cuối cùng Thiếu tá Sỹ đến văn pḥng ông Cẩn th́ lúc ấy ông Lê Văn Đạm (Đổng lư toà Đại biểu) và ông Đẳng cũng vừa tới. Ông Sỹ tŕnh bày qua loa về hiện t́nh, ông Đẳng cho biết ông đă gặp Thượng tọa Trí Quang và nói : "Cứ yên trí không có chuyện ǵ đâu". Sau đó hai ông Đạm và Đẳng gặp riêng ông Cẩn. Ông Cẩn cho rằng : “Nếu có như rứa th́ sao bây chừ ...vậy cố gắng sao nói với thày Trí Quang bỏ qua đi".

T́nh h́nh đài phát thanh lúc ấy đă hết sức căng thẳng. Đồng bào Phật tử đă tràn vào tới sân, nhiều tiếng la lối, ḥ hét. Ngô Ganh gọi điện thoại cho Thiếu tá Sỹ cầu cứu. "Thiếu tá phải can thiệp gấp họ chiếm Đài bây giờ này". Rồi cứ năm phút Thiếu tá Sỹ lại nhận được điện thoại của Ngô Ganh. “thiếu tá không can thiệp gấp th́ họ chiếm Đài họ giết tôi đó". Ông Sỹ cũng không biết làm thế nào, đành phải trấn an Ngô Ganh : “Anh. cứ yên trí, không sao đâu tôi ra ngay đó". Sự thực lúc ấy Thiếu tá Sỹ cũng như văn pḥng ông Cẩn chưa biết phải giải quyết như thế nào cho êm đẹp.

T́nh thế quá gấp rút, ông Nguyễn Văn Đẳng bảo Thiếu tá Sỹ: "Bây giờ chỉ c̣n cách giải tán, Thiếu tá lo giùm tôi đi ".

Ông Sỹ trả lời "Tôi làm ngay, nhưng ông Tỉnh trưởng ra lệnh đă". Ông Đẳng có vẻ mất b́nh tĩnh. Tin tức cho biết, Đài phát thanh có thể mất đến nơi. Ông Đẳng bảo Thiếu tá Sỹ: "Thiếu tá lo gấp dùm tôi, kư một giấy chứ hàng trăm giấy tôicũng kư”. Thiếu tá Sỹ ngần ngại: "Tôi thi hành lệnh giải tán với tư cách nào ? Phó Tỉnh trưởng Nội an hay Tiểu khu trưởng ?". Ông Đẳng chưa biết trả lời sao th́ được ông Sỹ giải thích : “Nếu với tư cách phó Nội an th́ tôi chỉ có một ít cảnh sát, công an và hai đại đội địa phương quân". Ông Đẳng vui vẻ: "Thiếu tá thi hành theo tư cách Tiểu khu trưởng đi”. Ông Đẳng không quên vấn đề giấy tờ và nói : “Thiếu tá về Tiểu khu làm giấy tờ đi rồi tôi kư sau”. Theo quyết định 57 của Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa th́, Tỉnh trưởng ngoài chức trưởng hành chính c̣n giữ chức trưởng an ninh lănh thổ. Như vậy, giải tán cuộc biểu t́nh tại Đài phát thanh đều thuộc thẩm quyền tối thượng của Tỉnh trưởng Thừa Thiên.

Sau khi nhận lệnh của ông Đẳng, Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại về Đà Nẵng tŕnh nội vụ lên Thiếu tướng Nghiêm Tư lệnh Vùng I chiến thuật. Tướng Nghiêm tỏ vẻ lo lắng và ra lệnh cho ông Sỹ: “Anh phải lo giải quyết ngay c̣n chần chừ ǵ nữa....Nếu họ chiếm được Đài phát thanh Việt Cộng nó lợi dụng phá Đài rồi làm sao đây ? ". Thiếu tá Sỹ tŕnh bầy : "Hiện nay Tiểu khu Thừa Thiên không đủ phương tiện, xin Thiếu tướng cho phương tiện". Thiếu tướng Nghiêm đồng ư cho Tiểu khu Thừa Thiên được sử dụng phương tiện thuộc khu và vùng chiến thuật đặt dưới quyền Tư lệnh của Thiếu tướng Nghiêm.

Như vậy đă có sự đồng ư của Vùng. Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại xin lệnh của Tư lệnh sư đoàn I bộ binh kiêm Tư lệnh khu XI chiến thuật. Đại tá Đỗ Cao Trí đă bay về Sài G̣n từ chiều và chỉ c̣n Trung tá Lê Quan Hiền Tư lệnh phó. Sau khi tŕnh bày nội vụ, Thiếu tá Sỹ xin lệnh và ư kiến th́ Trung tá Hiền sốt sắng đồng ư ngay : “Tôi cho anh sử dụng đại đội Thiên hổ " Đại đội trù bị của sư đoàn I nổi tiếng là thiện chiến do thiếu uư Phú làm đại đội trưởng. Thiếu tá Nguyễn Hộ làm Tham mưu trưởng sư đoàn cũng có mặt tại Bộ Tư lệnh cũng đồng ư để ông Sỹ sử dụng lực lượng trù bị của sư đoàn. Thiếu tá Nguyễn Hộ bảo ông Sỹ: “Anh cứ làm kế hoạch đi, Thiếu uư Phú đến tŕnh diện anh ngay bây giờ".

Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại cho Thiếu tướng Nghiêm báo cáo diễn biến của nội vụ. Ông Nghiêm ra lệnh : "Phải lo giải tán gấp đi. Tôi cho anh một đại đội khoá sinh C1 và một đại đội thiết giáp đang hành quân tại vùng Phú Lộc". Hai đại đội này đều trực thuộc cấp Vùng. Ông Sỹ trở về tiểu khu Thừa Thiên và gọi điện thoại cho Thiếu tá Vĩnh Biểu (chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Phú Bài) : “Anh cho tôi xin một đại đội, anh cho lên Tiểu khu gấp, Thiếu tướng đă nói ǵ với anh chưa ? ". Thiếu tá Biểu xác nhận đă nhận được lệnh của Thiếu tướng Nghiêm qua Đại uư Thiết, Chánh văn pḥng của Tư lệnh Vùng I.

Thiếu tá Vĩnh Biểu cho biết là đại đội khoá sinh C1 đang lên xe trực tiểu khu.

Kể từ lúc này Thiếu tá Sỹ đă có một lực lượng khá hùng hậu gồm đại đội Thiên hổ, đại đội C1, đại đội Quân Trấn, chi đội cơ giới Bảo an (do Trung uư Kỳ chỉ huy, sau 1963 ông Kỳ bị bắn chết một cách rất ly kỳ sẽ nói vào đoạn sau) đại đội thiết giáp và một số hiến binh quân cảnh thuộc Quân Trấn.

Bộ Tham mưu của ông Sỹ có mặt Đại uư Lê Nguyên Phu (Tiểu khu phó), Đại uư Nguyễn Kinh Lược (Tỉnh đoàn trưởng Bảo an), Đại uư Lê Duy Hiền (Tham mưu trưởng).

Tuy đă nhận được lệnh đầy đủ từ ba phía liên hệ (Tỉnh trưởng, Vùng và Khu chiến thuật)ông Sỹ cũng như các sĩ quan hiện diện đều băn khoăn do dự. Riêng ông Sỹ lại càng khó xử hơn cả, v́ ông mắc vào 2 cái kẹt : là một tín đồ Thiên chúa giáo, gia đ́nh bên vợ lại là Phật giáo (bà mẹ vợ ông Sỹ thuộc hàng tu tại gia và thọ giới trai). Các sĩ quan hiện diện đều đồng ư là phải hết sức thận trọng, đây là vấn đề thuộc phạm vi tôn giáo v́ dù có giải tán một cách êm đẹp cũng vẫn bị mang tiếng là đàn áp. Nếu thất bại để mất Đài Phát thanh th́ hậu quả sẽ không biết như thế nào.

Các đơn vị đă tập hợp đầy đủ tại sân Tiểu khu ông Sỹ ra trước hàng quân giải thích cho quân nhân các cấp rơ và ra lệnh dùng súng Garrant tay cầm ngang trước mặt xô đồng bào, tuyệt đối không được dùng lưỡi lê đâm và cũng không được phép nổ súng. Bộ Tham mưu chọn 10 người và chỉ 10 người này mới được phép bắn. Đại uư Lược lưu ư : "Chỉ được bắn chỉ thiên mà thôi. Khi nào nghe thấy Thiếu tá báo hiệu lệnh th́ mới được nổ..." . Ngoài 10 người được chỉ định không một quân nhân nào được sử dụng đạn nổ. Bộ Tham mưu lại chọn 15 quân nhân khác, phân phối cho 15 địa điểm và mỗi quân nhân được phát một trái lựu đạn MK.3 cũng dùng khi tấn công địch, tiếng nổ MK.3 rất lớn khủng bố tinh thần địch, nhưng MK.3 không có tác dụng giết người và nếu đứng gần chỗ nổ sẽ chói tai long óc và có thể bị thương nhẹ.

Đại uư Phu nhắc lại lệnh Thiếu tá Sỹ : "Các anh em sử dụng lựu đạn phải nhớ hai tiêu chuẩn : 1, chỉ ném khi có súng lệnh của Thiếu tá; 2, chọn nơi nào không có người mới được ném, thí dụ như ném vào băi cỏ gốc cây".

Trong khi Bộ Tham mưu của Tiểu khu c̣n đang bàn thảo kế hoạch đối phó th́ Đài Phát thanh bắt đầu lâm nguy trầm trọng. Gạch đá bay vun vút. Trung tá Thưởng Giám đốc nha Công an gọi điện thoại cho Thiếu tá Sỹ giọng bẳn gắt: “Anh c̣n chần chờ ǵ nữa. . . Anh giải tán ngay đi. T́nh h́nh nguy lắm rồi.". Thiếu tướng Nghiêm từ Đà Nẵng gọi điện thoại hỏi t́nh h́nh và ra lệnh cho ông Sỹ : "Việc đă gấp rồi giải tán th́ giải tán ngay đi, c̣n chần chừ ǵ. . . ".

Ông Sỹ và mấy sĩ quan Tham mưu nh́n nhau do dự...Ai cũng ngán.

Đợt thứ nhất, ông Sỹ cho sử dụng xe phun nước nhưng vô hiệu. Đồng bào đông quá và nhấp nhô như biển động trong cơn giông tố. Đợt thứ hai, ông Sỹ cho hai tiểu đội quân cảnh, một tiểu đội hiến binh và khoảng 20 nhân viên cảnh sát, nhưng cũng vô hiệu. Đám quần chúng ngày càng bị khích động và đang như trong cơn lên đồng.

Ông Quản đốc Ngô Ganh kêu cứu trong sự tuyệt vọng : “Đài mất đến nơi rồi, họ giết tôi bây giờ đây nè. Thiếu tá can thiệp gấp. ".
Đợt thứ 3: Thiếu tá Sỹ cho hai trung đội ra đi tiến theo đội h́nh dàn hàng ngang cùng với 3 xe phóng thanh kêu gọi đồng bào giải tán, gạch đá bay vun vút, hàng ngàn tiếng la ó, đả đảo, hoan hô.

Ông Nguyễn Văn Đẳng bắt đầu mất tinh thần. Quần chúng làm dữ quá. Gạch đá ném tới tấp vào cửa Đài Phát thanh. Ông nói với Thượng tọa Trí Quang : "Thày dùng Micro Thày nói dùm, như thế này nguy hiểm quá". Thầy Trí Quang ngần ngại : “Bây giờ tôi phải nói với Phật tử sao đây” Đám đông vẫn cuồn cuộn như thuỷ triều dâng cao. Thầy Trí Quang ra trước cửa Đài, lên tiếng tiếng trấn an dân chúng : “Phật tử cứ b́nh tĩnh, mọi việc Thày đang t́m cách giải quyết...”. Nhưng lời Thày Trí Quang cũng vẫn vô hiệu.

Đám đông làm dữ quá. Một nhà sư trẻ đă nhẩy lên được nóc đài Phát thanh và cắm cờ Phật giáo. Khi cắm Phật kỳ xong đám đông càng thêm phấn khởi hô to vang dội. Từ lúc đó, chung quanh Đài , Phật kỳ bay rợp trong ánh sáng như vùng hào quang đêm hoa đăng. Biển người nhấp nhô chuyển động và bắt đầu như con thuyền trăm tay lái. Đám đông này sẽ vỡ như tổ ong. Một số ít nhân viên công lực đành khoanh tay và lúc ấy đám đông đang làm chủ t́nh h́nh. Khi đám đông bộc phát trong ngọn lửa của nhiệt t́nh tôn giáo th́ thiết tưởng không có ǵ chế ngự được. Lúc ấy họ chỉ biết vâng phục một thứ thần quyền qua ngọn cờ tôn giáo.

Quản đốc Ngô Ganh cũng như Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng gần như mất hết b́nh tĩnh. Lúc ấy nhà cầm quyền phải triệu thỉnh Thượng tọa Trí Quang, Thượng tọa Trí Quang tuy có kêu gọi Phật tử phải nên b́nh tĩnh nhưng đám đông mỗi lúc một thêm cuồng nhiệt.

Trung tá Thưởng tỏ ra vô cùng lo ngại nên một lần nữa gọi điện thoại cho Thiếu tá Sỹ hối thúc : “Anh c̣n đợi ǵ nữa? Anh c̣n chần chờ ǵ nữa ? Anh c̣n chần chờ ǵ nữa mà không bắt đầu đi” Dù ông Sỹ đă cho hai tiểu đội quân cảnh cùng hiến binh và cảnh sát đi giải tán nhưng họ đành khoanh tay không thể làm ǵ được hơn. Trung tá Thưởng phải thân hành đến quân trấn hối thúc ông Sỹ.

Thiếu tá Sỹ cho hai trung đội tiến ra theo đội h́nh hàng ngang. Kể từ lúc ấy, đồng bào Phật tử cũng bắt đầu lo việc bố pḥng. . . Các xe đạp được đưa ra chắn ngang đường. Thanh niên Phật tử lẫn lộn bên cạnh các bà các cô và thiếu nhi để tạo thành ṿng rào ngăn chặn nhân viên công lực.

Từ trên nóc Đài Phát thanh một nhà sư trẻ cầm chiếc loa kêu gọi Phật tử hăy tiến lên không sờn ḷng trước bạo lực. Nhà sư lại nhấn mạnh là đang có sư đoàn từ Đà Nẵng tiến vào để hỗ trợ cho cuộc đấu tranh v́ Đạo pháp. Nhà sư vừa dứt lời, đám đông bỗng náo nhiệt hẳn lên nhiều tiếng la ó hoan hô vang dậy.

Tại Tiểu khu Thiếu tá Đặng Sỹ duyệt xét kế hoạch lần cuối cùng với các sĩ quan như Đại uư Phu, Đại uư Lược, Trung uư Kỳ. Ông Sỹ quyết định dùng xe cơ giới của Bảo An (thứ xe có 4 bánh cao lênh khênh) để mở đường, lính tiến sau xe. Một sĩ quan cho rằng dùng xe mở đường rất hay, đồng bào thấy xe đạp bị cán sẽ xót, do đó cũng tự động vác xe lên hè phố, như thế binh sĩ mới có thể tiến được, ư kiến quả hiệu nghiệm, khi xe Thiếu tá Sỹ tiến lên, theo Trung sĩ Quang (thuộc tiểu khu Thừa Thiên ) th́ xe đi với một tốc độ như rùa. Xe tiến tới đâu th́ đồng bào đổ xô ra đường vác xe lên hè phố. Ai cũng biết dân miền Trung nghèo khổ, nên chiếc xe đạp luôn luôn là một bảo vật.

Nhờ vậy cuộc tiến quân diễn ra êm thắm. Tuy nhiên theo ông Nguyễn Nghiễm khi đồng bào thấy xe và lính th́ không khí tranh đấu bỗng dưng bùng lên cực mạnh. Bao nhiêu con mắt đều đổ dồn về phía ông Sỹ và có nhiều tiếng chửi thề. Có Phật tử lại gọi đích danh Thiếu tá Sỹ ra mà chửi. Thế rồi gạch đá, guốc, vỏ la ve bay như bướm. Theo ông Nguyễn Nghiễm lúc ấy tinh thần đồng bào lên quá cao.

Chính Nguyễn Nghiễm cũng có cảm tưởng như ḿnh đang dự vào cuộc thánh chiến và sẵn sàng xả thân cho đạo pháp. Cho đến lúc ấy chương tŕnh phát thanh vẫn ngưng bặt và chỉ c̣n tiếng la ó của đám đông. Mô tả đám đông này, ông Nguyễn Nghiễm cho rằng, chưa có lễ Phật đản nào (trước l963) lại đông người và phấn khởi như vậy.

Trên xe, Thiếu tá Sỹ mặc áo giáp cùng với 2 hạ sĩ quan là Trung sĩ Tư và Quang...Gạch đá ném lên xe nhiều quá nhưng v́ có mũ sắt và áo giáp nên không ăn nhằm vào đâu. Ông Sỹ vẫn cho xe tiến lên từ từ.

Xe tiến đến đâu th́ đồng bào dạt ra hai bên đường, trông cảnh tượng rất ngộ. Dù chạy th́ chạy nhưng ai nấy không quên dắt xe theo.

Ông Sỹ được một phen nghe chửi rát tai.

Trong khi đó, ba xe phóng thanh của Ty Thông tin luôn luôn kêu gọi đồng bào giải tán. Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo của ông Cẩn lại có vẻ b́nh thản v́ không ai ngờ thảm hoạ sẽ xảy ra. Cho đến lúc ấy Văn pḥng của ông Cẩn không có một liên lạc nào với Trung ương. Từ Thiếu tướng Nghiêm đến ông Hồ Đắc Thương, ông Cẩn và bộ Tham mưu ai cũng chỉ lo sợ một điều là Đài Phát thanh bị chiếm và một khi bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang được phát thanh th́ coi như mấy tai hoạ cùng ập đến cho mấy ông lớn, v́ bài thuyết pháp đó như trên đă viết công kích chính quyền mạnh quá và tất cả đều sợ trách nhiệm đối với Tổng thống.

Thực nếu không sử dụng quân đội th́ lực lượng an ninh thành phố Huế không thể nào giữ nổi Đài Phát thanh. Ai có mặt trong đêm 8-5 mới thấy rơ sức mạnh của quần chúng. Sức mạnh đó khi được khơi động bằng lư tưởng tôn giáo và được hướng dẫn bởi một số huyền thoại lănh tụ th́ đó là sức mạnh của giông băo.

TIẾNG NỔ RUNG CHUYỂN CẢ NƯỚC.

Chiếc xe cơ giới của Thiếu tá Sỹ tiến đến gần Đài phát thanh khoảng 50 thước, bỗng có một tiếng nổ kinh hồn và tiếp theo là những tiếng nổ khác. Lúc ấy là 10g30.

Xe của ông Sỹ quay khựng lại, 1 hạ sĩ quan la lớn “Nổ, Thiếu tá coi chừng Việt cộng Thiếu tá" Ông Sỹ rút khẩu Colt 12 cầm tay, nói qua máy nghe "Nghe đây, nghe lịnh Đại bàng đây".

Theo sự mô tả của một số sĩ quan có mặt ở gần Đài lúc ấy th́ tiếng nổ làm rung chuyển tất cả, thứ ánh sáng từ tiếng nổ phát ra giống như một tia sét và trong đời binh nghiệp của họ thảy đều chưa nghe thấy một tiếng nổ nào lạ tai như vậy.

Sau tiếng nổ, ông Nguyễn Nghiễm cho biết cảnh tượng trở nên vô cùng hỗn loạn trong sự kinh hoàng. Đồng bào xô đẩy nhau t́m đường thoát thân. Bao nhiêu tiếng khóc kêu la. Các đường xung quanh Đài Phát thanh vốn nhỏ hẹp nên lại càng thêm tắc nghẽn. Đồng bào bỏ cả xe, guốc dép và t́m đường thoát thân. Trẻ con đàn bà khóc như ri. Ông Nguyễn Nghiễm đứng cách chỗ nổ khoảng 50, 60 thước, cảm tưởng của ông lúc ấy giống như người bị mất trí, người th́ ngất ngư, hai mắt hoa lên, tay chân luống cuống không biết chạy đâu.

Sau tiếng nổ đầu, khoảng 4, 5 phút sau ông Nguyễn Nghiễm nghe thấy 3, 4 tiếng súng lục từ phía xe của Thiếu tá Sỹ và tiếng la lối của mấy quân nhân trên xe. Ông Nguyễn Nghiễm thấy tức nơi ngực, ông chạy khỏi Đài một quăng xa mới đứng dừng lại. Nguyễn Hữu Cang chạy thoát qua cầu Tràng Tiền. Khi tiếng nổ xảy ra, Nguyễn Hữu Cang ở ngay gần Đài. Tiếng nổ quá lớn làm anh xây xẩm và lảo đảo. Một mảnh thịt người văng tung vào mặt Nguyễn Hữu Cang, cho đến nay Nguyễn Hữu Cang vẫn không thể xoá nhoà được cảnh tượng bi thương hôm ấy.

Trong khi đồng bào xô đẩy nhau chạy thoát thân, đồng bào luôn luôn được nghe tiếng người ta hô hoán "Chạy lẹ đi, nó bắn chết hết bây giờ". Hoặc những tiếng la lối như "Bà con chạy lối ni... đồng bào đừng về lốí nớ... Đặng Sỹ nó đang cho xe cán đồng bào ở lối nớ...

Đám đông quần chúng đă hỗn loạn lại càng thêm hỗn loạn.

Về phía Thiếu tá Sỹ, khi nghe hai tiếng nổ, ông hét lên qua máy nói : "Việt cộng phá Đài, nghe tôi . Nghe tôi Đ ại bàng đây Việt Cộng tấn công Đài ".

Dứt lời ông Sỹ rút "Colt 12" bắn chỉ thiên ba phát theo hiệu lệnh. Thiếu tá Sỹ lại ra lệnh : "Việt Cộng tấn công đài, áp dụng lệnh Đại bàng".

Lệnh trên được truyền ra, thế là 10 tay súng được chỉ định từ trước đều giơ cao ṇng súng lên không trung và nhả đạn. Họ chỉ được phép bắn chỉ thiên mà thôi. Đồng thời lúc đó, các quân nhân sử dụng lựu đạn MK 3 cũng đồng loạt cho nổ qua 15 địa điểm khác nhau. Có anh ném MK 3 xuống phía bờ sông. Có anh ném trong sân trường Văn khoa, có anh ném gần ngay câu lạc bộ thể thao.

Quân đội bắt đầu chuyển dịch và bắt tay vào hành động. Xe của Thiếu tá Sỹ đứng trước Đài. Chao ơi cảnh tượng thê lương chưa từng thấy. Không một xác chết nào được toàn thây. Có nạn nhân, đầu bị thổi bay cách Đài cả chục thước, cẳng gị cũng bay đi đâu mất tiêu, gan ruột phèo phổi bay lên cả cành cây, tung toé ra khắp nơi, tất cả cửa kính của Đài bị bay đi hết. Cảnh tượng ấy theo những người chứng kiến, có thể nói không bút nào tả hết được sự thê lương. Tiếng nổ đó không do mảnh mà chỉ do hơi. Sức hơi ép ước khoảng tương đương với 5 kílo thuốc nổ TNT. Nạn nhân chết không do mảnh mà do hơi ép. Sức hơi ép ấy làrn nạn nhân tan xác. Trung sĩ Tư đến cách Đài 30 thước bỗng dưng đứng khự ng lại, hô thấtthanh : “Bớ đầu người ta đây nè " Một chiếc đầu nạn nhân ở ngay dưới chân ông ta. Theo ông Tư chiếc đầu đó không c̣n là đầu người nữa. Ông ta chỉ thấy hàm răng dính vô một mảng thịt.

Một loạt liên thanh nổ lên trời. Thiếu tá Sỹ Colt 12 cầm tay, mặt thất sắc nói không ra lời, ông cố ra lệnh cho thuộc viên “coi chừng, nó có thể tấn công Đài bây giờ" . Sau đó. . .ông Sỹ vào thẳng bên trong Đài. Vừa trông thấy Thượng tọa Trí Quang, ông Sỹ đă mất b́nh tĩnh nói lớn : “Làm sao thế này. Sao có người chết như thế này”. Những người có mặt trong Đài lúc ấy đều tỏ ra lo sợ và mất hết tinh thần. Ông Đẳng mặt tái xanh ngơ ngác. Tại hoạ xảy ra bất ngờ quá không ai tưởng tượng nổi. Thượng tọa Trí Quang cũng vậy thảy đều không giữ được b́nh tĩnh. Thượng tọa Trí Quang chắp tay vào nhau như nguyện cầu nói trong cơn lo âu : “tôi không ngờ lại xảy ra như thế này”. Thiếu tá Sỹ bảo Thượng tọa Trí Quang : ”Thày phải chịu trách nhiệm về những hậu quả đă xảy ra như thế này". Ông Sỹ lại dằn giọng nhắc lại : “Tại sao lại xảy ra như thế này?”.

Trung tá Thưởng Giám đốc Nha Công an Tư pháp như không nén được cơn tức giận. Ông lừ mắt nh́n mọi người rồi nói với Thượng tọa Trí Quang : "ông phải chịu hết trách nhiệm " - Ông Thưởng lại nói : “Ai gây ra tai hoạ th́ phải chịu hết trách nhiệm " - Lúc ấy, Thượng tọa Thiện Minh đứng bên Thượng tọa Trí Quang với một thái độ khá ôn tồn và khiêm tốn nói với Thiếu tá Sỹ cũng như Trung tá Thưởng "Chuyện đă xảy ra như thế này, th́ không biết nói sao. Tôi xin chịu hết trách nhiệm ".

Lúc bây giờ chung quanh Đài không c̣n một ai ngoài quân đội và nhân viên công lực. Đồng bào đă chạy dạt sang bên kia cầu và đang tụ tập ở phía chợ Đông Ba khoảng 5, 7 trăm người. Những nạn nhân bị thương được chuyển gấp đến nhà thương Huế. Nạn nhân bị tử thương ngay lúc đầu đă không có cách nào để nhận ra, có bao nhiêu người nam hay nữ, già hay trẻ v́ như trên đă viết, nạn nhân chết không toàn thây, da thịt bay tứ tung.

Lúc ấy một viên chức Mỹ đến đây để lo chụp h́nh quay phim, nhưng bị nhân viên công lực đuổi khỏi. Vợ chồng bác sĩ Wuff người Đức thuộc Đại học Y khoa Huế t́m cách vào trong Đài xin để săn sóc nạn nhân nhưng bị từ chối. Chính bác sĩ Wuff này đă lanh tay chụp được mấy tấm h́nh, một vài chiếc xe cơ giới của Bảo an lúc ấy đang đậu ngay trước Đài (nội sáng 9-5 tấm h́nh này đă được gởi về Sài G̣n và mấy ngày sau xuất hiện trên báo chí Tây Đức, Pháp, Mỹ. Một chi tiết cần lưu ư là năm 1965, ba bác sĩ người Đức của Đại học Y khoa Huế trong đó có bác sĩ Wuff người đă chụp h́nh và ráp nối h́nh đêm 8-5-1963 đều bị an ninh của sư đoàn I dưới thời tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư lệnh trong một cuộc hành quân tại khu Nam Đồng đă khám phá được tài liệu mật, cho biết rằng 3 bác sĩ người Đức trên đây đều là người Đông Đức, vượt qua Tây Đức và là những điệp viên Cộng sản thuộc loại quốc tế. Nhưng lại có giả thuyết cho rằng họ thuộc loại gián điệp).

Khoảng 11 giờ đêm đồng bào Phật tử lại nhốn nháo, người th́ lo t́m các Thày bị bắt, người th́ xốn xang không biết nạn nhân có phải là vợ con ḿnh hay không. Đồng bào t́m cách vượt qua cầu Tràng Tiền tiến sang Đài Phát thanh. Cầu Tràng Tiền lúc đó ngổn ngang không biết bao nhiêu guốc dép. Không khí bỗng dưng sôi nổi. Một Phật tử từ phía Đài sang bên Đông Ba kêu gọi đồng bào phải có thái độ ngay, v́ các Thày bị bắt rồi và xe tăng cán người ta chết nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Thế là trong cơn hăng say, một số đồng bào lại kéo nhau qua Đài.

Ông Nguyễn Văn Đẳng lo âu lắm, bảo với Thiếu tá Sỹ: "Việc đă xảy ra như vậy rồi, Thiếu tá cứ an tâm, tôi sẽ tŕnh với Tổng thống về vụ này”. Đám đông tiến về phía Đài bắt đầu sôi dộng, nhiều tiếng la ó. Thiếu tá Sỹ thấy vậy chạy vào mời Thượng tọa Trí Quang ra coi và nói : “Thày nh́n kia, bây giờ mà c̣n làm tới nữa. Thày bảo bọn họ về ngay đi, đừng làm cái tṛ đó nữa". Thượng tọa Trí Quang vui vẻ nhận lời và nói với các Phật tử : "Các con về đi. Các Thày không sao cả”. Đám đông nghe thèo lời tự động kéo về nhưng trong ḷng rất dao động, bất măn và ai cũng nóng ruột muốn t́m hiểu xem có bao nhiêu nạn nhân bị gục ngă.

AI LÀ THỦ PHẠM ?

Giới chức chính quyền Thừa Thiên bắt đầu lo sợ không biết giải quyết như thế nào và thượng cấp sẽ tỏ thái độ ra sao. Hầu hết đều yên trí rằng đây là một vụ do Cộng sản chủ động. Việc cấp thời lúc ấy là cho di tản các nạn nhân bị thương vào bệnh viện.

Mặt khác, nhân viên hữu trách cho người đi lượm từng mảnh thịt, từng khúc xương, từng bàn chân của nạn nhân bị tử nạn. Theo Đại uư Minh trong số nạn nhân này có một thiếu nữ đă chịu phép rửa tội theo đạo Thiên chúa. Suốt đêm mùng 8 nhân chứng Nguyễn Hữu Cang cũng như ông Nguyễn Nghiễm và nhiều lănh đạo Phật tử đă gần như thức trắng đêm, vừa hoang mang lo âu vừa căm tức chánh quyền đă gây ra vụ nổ đó. Lại có nguồn tin loan truyền trong giới Phật tử là Thiếu tá Sỹ đă cho xe thiết giáp “đằn" Phật tử và ném lưu đạn vào Phật tử.

Trong khi đó tại Bộ Tham mưu Tiểu khu từ Thiếu tá Sỹ đến Đại uư Phu, Đại uư Lược không dấu nổi sự lo âu. Người trong cuộc cũng không hiểu đầu đuôi ra thế nào. Hai tiếng nổ từ đâu ? Do ai ? Cảm tưởng đầu tiên của họ là bàng hoàng. Tiếng nổ lạ tai quá cũng không giống như plastic, lựu đạn lại càng vô lư. Nhưng không ai có thể suy đoán ra được. Người nghe tiếng nổ đầu tiên là ông Sỹ cũng như một số sĩ quan và binh sĩ trên xe cũng như đi sau xe. Họ đều bị chói tai và áp lực của tiếng nổ làm cho họ không c̣n phản ứng lúc đầu và ngực như bị một vật ǵ rất nặng đập ngang.

Có điều lạ là sáng hôm sau ông bác sĩ Wuff đă có một số h́nh ảnh về vụ nổ, trong đó có tấm h́nh xe cơ giới đang "đằn" qua đồng bào Phật tử. Một số h́nh này bác sĩ Wuff trao cho Bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ngày 9, ông Quyến cấp tốc về Sài G̣n.

Ai gây ra tiếng nổ ? Trong phiên toà xử Thiếu tá Đặng Sỹ, các chuyên viên quân cụ đă có dịp phân tích các loại chất nổ như M.26...MK.3...Giả thuyết về M.26 đă bị loại - giả thuyết MK3 mặc dầu toà đặc biệt lưu ư nhưng cuối cùng cũng bị loại. Như trên đă viết MK.3 có thể làm cho người chết được v́ áp lực hơi nổ, nhưng tác dụng không thể nào đạt tới con số thương vong cao như vậy nhất là trong một khoảng trống. Mà nơi phát ra tiếng nổ th́ nền xi măng lại chỉ lơm xuống không sâu bao nhiêu.

THỦ PHẠM MANG TÊN SCOT.

Măi sau này, năm 1966 trong cuộc hành quân ở Nam Đồng, Đại uư Scot (Cố vấn của tiểu đoàn 1/3 - từ năm 1965 ) mới cho biết về một sự thật.

Dạo ấy năm 1965, miền Trung đang bắt đầu sôi động và ngút ngàn trong ngọn lửa Phật giáo đấu tranh. Trong một buổi mạn đàm Đại uư Bửu nói chuyện trăng gió mây nước với Đại uư Scot rồi hai người "bắt" qua chuyện Phật giáo tranh đấu. Đại uư Scot, nói đại ư:

“Phật giáo miền Trung sẽ không thành công trong vụ này".

Ông Bửu hỏi:

" Tại sao lại không thể thành công ?”.

Đại uư Scot đáp: “Phật giáo không tạo được những yếu tố ñeå thành công như năm 1963"

Đại uư Bửu hỏi : “Đại uư muốn nói tới những yếu tố nào ? "

Đại uư Scot nói : “Những yếu tố không phải do Phật giáo có thể tạo được”.

Đại uư Bửu : “Đại uư muốn nói đến tiền bạc hay khí giới tinh thần ".

Đại uư Scot đáp : “Khí giới tinh thần th́ Phật giáo có đấy chứ, nhưng không dễ ǵ thành công v́ không được đồng minh ủng hộ”.

Đại uư Scot lại nói : "Hoa Kỳ đă giúp cho Phật giáo nhiều yếu tố để thành công trong vụ 1963“.

Đại uư Bửu nói : "Bây giờ Hoa kỳ sẽ không c̣n giúp đỡ Phật giáo nữa ? ". Đại uư Scot : "Bây giờ th́ tôi không biết, nhưng vụ 1963 tôi biết rơ".

Đại uư Bửu lấy làm ngạc nhiên tại sao một Đại uư như Scot lại có thể am tường nội t́nh Phật giáo Việt Nam như vậy. Đại uư Bửu hỏi tiếp: “Năm 1963 Đại uư ở đâu ?”. Scot không đáp thẳng vào câu hỏi và tựa hồ trong ḷng ông c̣n ẩn giấu bao nhiêu điều bí mật. Sau đó Scot tâm sự : “Tôi hiểu rơ Phật giáo ở đây, có thể c̣n hơn cả các anh. Tháng 5-1963 tôi ở Đà Nẵng. Tôi trở ra Huế một ngày trước khi vụ nổ xảy ra tại Đài Phát thanh Huế”.

Đại uư Bửu hỏi ngay : "Như vậy th́ Thiếu tá Đặng Sỹ Phó Nội an cho nổ?” Scot đáp : ' Làm ǵ có chuyện đó, tội nghiệp cho ông ta. Bây giờ ông ấy đang bị tù phải không ? " Đại uư Bửu : “Hiện Thiếu tá Sỹ đang bị cầm tù. Ông ấy bị kết tội đă đàn áp Phật giáo và làm chết 8 Phật tử tại Đài phát thanh"

Lời Scot : “Không ai nói thẳng sự thật để bênh vực ông ấy ? "

Đại uư Bửu hỏi : “Vậy anh có tin là Thiếu tá Sỹ là thủ phạm vụ nổ tại Đài Phát thanh không ?”

Đại uư Scot nói : "Thiếu tá Sỹ cũng chỉ là một nạn nhân”.

Hỏi : "Theo Đại uư ai là thủ phạm trong vụ này?”.

Đại uư Scot lắc đầu, chuyện c̣n dài lắm. Tôi sẽ kể cho anh nghe .

Trả lời tiếng nổ thuộc về loại nào, Đại uư Scot nói : “Tại sao người ta lại tin đó là tiếng nổ của plastic Việt cộng và lựu đạn của chính quyền Việt Nam Cộng ḥa ? "

“CÚ SCOT “

Đại uư Bửu chính là em họ bên vợ của Thiếu tá Sỹ ông cố bám sát Scot và t́m lời ḍ hỏi xem đầu giây mối nhợ như thế nào. Lúc đầu Scot thổ lộ rằng chính người bạn của ông là một nhân viên CIA đă làm vụ đó. Scot mô tả chất nổ đó là một chất đặc biệt của Trung ương T́nh báo Mỹ. Thể tích của nó không lớn hơn bao quẹt và có riêng bộ phận để điều khiển. Bộ phận này sẽ "căn giờ" chừng nào nổ.

Ít lâu sau, do nhiệt tâm t́m hiểu của Bửu, Đại uư Scot đă phanh phui tất cả sự thật, ông ta có lẽ v́ “lương tâm " xúc động cho nên tâm sự rằng, chính ḿnh đặt thứ khí giới đặc biệt đó tại Đài Phát thanh.

Scot hay ai cũng chỉ là một thứ thừa hành. Ai ra chỉ thị ? Washington hay Toà Đại sứ hay ông trùm CIA? Hay Đại tướng Richarson? Dưới thời Tổng thống Kennedy, tổ chức Việt Nam Task Force được coi như có thẩm quyền mạnh nhất trước các quyết định về Việt Nam do Hilsman cầm đầu. Ngay từ năm 1962, Hilsman đă chủ trương lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm và người Mỹ phải có thái độ tích cực hơn đối với các vấn đề Việt Nam, có nghĩa là Mỹ phải trực tiếp can dự vào cuộc chiến, Mỹ phải nắm quyền chủ động tại chiến trường Việt Nam. Hilsman không phải nhân viên t́nh báo chuyên nghiệp nhưng trong quá khứ ông là một cộng tác viên tích cực của CIA.

Hilsman thuộc giới trẻ và khuynh hướng tự do (ông đă công khai chống đối Đại sứ Nolting và chịu sự chi phối của một số kư giả Mỹ cho rằng Đại sứ Nolting quá nhu nhược với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và cũng lên án Nolting đă bị chính quyền Ngô Đ́nh Diệm mua chuộc). Đă từ lâu phe Hilsman chue trương thay thế Đại sứ Nolting. Ông Nolting lại là một nhà ngoại giao thuần túy. Ngôn ngữ, cử chỉ của ông có vẻ Tây hơn Mỹ. Ông bị ảnh hưởng của văn hóa Pháp khá sâu xa. Sự thật là lập trường của Đại sứ Nolting là ủng hộ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và ông được coi là người Mỹ mềm dẻo nhất tại Việt Nam Cộng Ḥa.

Năm 1963, Pḥng Trung ương T́nh báo tại ṭa đại sứ Mỹ có khoảng 50 nhân viên (sau năm 1963 và cho đến nay số này đông vô kể) Đại tá Richarson là ông trùm CIA tại Nam Việt Nam lúc đó dưới quyền ông Smith. Nhưng Richarson lại tỏ ra đồng một lập trường với Đại sứ Nolting. Sau này ông Nhu tố cáo Richarson âm mưu đảo chính, ông Nhu tố sai, tuy vậy Richarson bị cấp tốc thay thế. Ông Nhu mất một Mỹ CIA ủng hộ. đấy cũng là một tính toán lầm của ông Nhu.

Nếu nói rằng CIA tại toà Đại sứ Mỹ chủ động vụ nổ tại Đài Phát thanh th́ không đúng. Nhưng CIA không phải chỉ ở toà Đại sứ Mỹ mà họ có đường dây hoạt động biệt lập với pḥng CIA của Đại tá Richarson và chỉ trực tiếp với Washington. Do đó, "cú Scot" tại Đài Phát thanh Huế cũng chỉ là một cú "chơi lẻ".

Ngay từ những năm 1961, 1962 nhân viên Trung ương t́nh báo Mỹ đă gài người trong nhiều cơ quan như USAID kể cả những tổ chức văn hoá, giáo dục.

Nhờ vậy ,CIA đă thừa khả năng nhân sự để chơi những "cú lẻ" tương tự như trên.

Người ta tự hỏi rằng, hà tất ǵ CIA phải nhập cuộc như vậy qua vụ nổ Scot tại Đài Phát thanh Huế ? Câu chuyện thật dài ḍng phức tạp và khó có thể kết luận cho vấn nạn trên đây nếu không có căn cứ theo những diễn biến trong cuộc bang giao Việt Mỹ 1964 cùng những toan tính của Mỹ trong chiến lược của họ tại Việt Nam . Giới chức Mỹ nhất là phía CIA đă thuộc ḷng phương thức này : Những lănh tụ Á đông phải dùng bạo lực mới có thể đánh đổ họ xuống được.

Nhưng lúc ấy không ai nghĩ CIA nhúng tay "tinh vi" như vậy mà người ta nhất định cho rằng Cộng sản làm vụ này.

Riêng ông Cẩn trước cái hoạ như vậy và khi nghe tường tŕnh nội vụ rồi im lặng triền miên nhưng đành bất lực không biết phải giải quyết như thế nào. Theo Đại uư Minh đă có 3 ư kiến được nêu lên như sau:

1- Đă xảy ra như vậy th́ làm tới luôn. Sáng ngày 9, ban hành lệnh giới nghiêm tại thành phố. Đồng thời cô lập giữa chùa Từ Đàm với các cán bộ Phật tử. Trong khi đó cơ quan an ninh sẽ truy lùng những thành phần Việt cộng khả nghi từ bấy lâu nay.

2- Nếu không giải quyết theo cách một th́ cấp tốc phải t́m tới gia đ́nh các nạn nhân để điều đ́nh thu xếp ổn thoả và bồi thường xứng đáng.

3- Cách hai không đồng ư th́ phải thương thuyết với mấy thày chùa Từ Đàm và nhờ các thầy xoa dịu đồng bào Phật tử và đồng thời sẽ bồi thường nạn nhân một cách đầy đủ.

Cả 3 phương thức giải quyết đưa ra ông Cẩn không có một thái độ nào rơ rệt. Ông Cẩn ra lệnh cho Toà Đại biểu đánh điện cấp tốc về Sài G̣n để xin quyết định. Một việc nóng bỏng như vậy nhưng măi hai ngày sau Sài G̣n mới phái ông Bùi Văn Lương Bộ trưởng Nội vụ ra Huế t́m cách giải quyết tại chỗ.

Trong số những phương thức dược đưa ra để giải quyết có một phương thức khá nguy hiểm. Hoàng Trọng Bá cho rằng, ngoài việc giới nghiêm toàn thể ngày 9-10 chính quyền phải cho mời ngay Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh v́ ai cũng biết hai vị này là ṇng cốt của Giáo hội Phật giáo miền Trung. Ư kiến ấy như thế này:

“Ông Cố vấn (tức ông Cẩn) sẵn "hồ sơ tối mật" của hai thày (ông Cẩn có thể dùng những hồ sơ đó như một điều kiện giao tế) và cho rằng khi đă nắm được những "a tu” cua mấy vị tất sẽ dễ dàng khu xử và những cái gọi là "bí ẩn" trong đời sống cá nhân cùng những hoạt động từ năm 1945-1955. Ư kiến trên căn cứ theo đó xin với ông Cẩn cho an ninh "mời" ngay hai thầy lại và sẽ đưa ra điều kiện để doạ : Hồ sơ hai thầy như thế, như thế, hoạt động quá khứ như vậy...như vậy. Do đó, 1 là mấy thầy bỏ qua nội vụ và để chính quyền lo việc bồi thường. Hai là nếu không chính quyền sẽ bắt giữ rồi công khai hoá "hồ sơ tối mật" đă nắm giữ từ dạo năm 1956 trong khi đó chính quyền sẽ dùng phương thuật "phóng tại hoá thu nhân tâm", bồi thường nạn nhân xoa dịu Phật tử, mua chuộc các thày khác”.

Ư kiến trên có vẻ bá đạo, nhưng Hoàng Trọng Bá tin chắc chắn sẽ có hiệu nghiệm. Cuối cùng lại không được chấp nhận.

Sáng 9-5 Đại uư Minh túc trực tại Văn pḥng chỉ đạo từ sớm. Ông Cẩn chỉ thị t́m mọi cách giải quyết sao cho êm đẹp.

Về phía Phật giáo tại chùa Từ Đàm th́ ngay đêm 8, sau vụ nổ, nhiều Thượng tọa cũng dao động không biết sự thể sẽ xảy ra như thế nào. Hầu hết đều ngán thứ "uy quyền" trong tay ông Cẩn (trên thực tế uy quyền đă suy giảm từ năm 1961) cho nên không một Thượng tọa, Đại đức nàođủ b́nh tĩnh để trù tính kế hoạch cho ngày hôm sau ngoại trừ một hai thày đă có mưu kế riêng.

Mấy Thượng tọa lại lo sợ chính quyền sẽ áp dụng biện pháp mạnh, và có thể tan ră hàng ngũ mà các thày đă dầy công xây đắp từ mấy chục năm qua. Riêng Nguyễn Nghiễm trong thâm tâm nghĩ rằng, sẽ có sự bắt bớ vào sáng mai và ông đă trù tính trốn nếu sự thể không êm. Nhưng lại có một khuynh hướng tích cực khác cho rằng, phải lợi dụng ngay biến cố này để làm lớn chuyện. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở. Đứng đầu khuynh hướng này là Thượng tọa Thiện Minh.

Theo Nguyễn Nghiễm, Thượng tọa Trí Quang tuy là người lên tiếng và phát động đầu tiên (qua bài thuyết pháp) nhưng ngay từ ngày 7đến ngày 9 vai tṛ của Thượng tọa Thích Thiện Minh mới là quan trọng và chủ động. V́ Thượng tọa này có lập trường dứt khoát cho rằng, phải lợi dụng ngay biến cố đẫm máu kể trên để hướng đồng bào Phật tử về một mục đích sống chết cho đạo pháp. Việc đầu tiên, nếu như ngày 9 êm xuôi th́ phải đứng lên, thời cơ đă đến.

Sáng 9-5, chính quyền lo sợ bên chùa Từ Đàm sẽ làm tới, nên ông Cẩn muốn dùng "tấm t́nh cố tri" với mấy thày để giải quyết. Song nội bộ chùa Từ Đàm tuy đoàn kết nhưng ư kiến rất phân tán, do dự và không ai ngờ phía ông Cẩn lại mềm dẻo như vậy.

Trụ cột là ông Cẩn. Và chính quyền địa phương chỉ chờ đợi sự giải quyết của ông Cẩn th́ ông Cẩn lại không có một quyết định nào. Mọi sự đều nhờ Trung ương. Suốt buổi sáng ngày 9, ông Cẩn rất bận rộn: nào là tiếp Thượng tọa Trí Quang, nào là tiếp các giới chức liên hệ. Ông Cẩn vẫn không t́m ra được phương thức nào thu xếp ổn thoả. Một cách đơn giản nhất, ông Cẩn chỉ dùng tiền mua chuộc những người liên hệ và mặt khác cho người tiếp xúc riêng với các gia đ́nh nạn nhân để dàn xếp.

Về phía Từ Đàm, chỉ cần một buổi sáng "tiếp xúc và hoà hoăn" đă trắc nghiệm được phản ứng của phía chính quyền và thấy rằng, chính quyền không dám làm tới, do đó cần phải bắt tay hành động. Việc đầu tiên là phải yêu cầu chính quyền trả xác các nạn nhân về chùa Từ Đàm để nhà chùa lo phần ma chay chôn cất.

Lời yêu cầu này không được thoả măn v́ phía ông Cẩn đă lượng tính được hậu quả và biết thế nào cũng có biến chuyển rất nguy hiểm nếu phía Từ Đàm tổ chức chôn cất nạn nhân.

Trong khi ở Huế c̣n đang giằng co dàn xếp th́ tại Sài G̣n vẫn có vẻ yên tĩnh lắng đọng. Tại dinh Gia Long, khi nhận được tin về vụ nổ Đài Phát thanh Huế, Tổng thống Diệm vẫn yên trí rằng Cộng sản len lỏi vào, sách động và gây tiếng vang để quy tội cho chính quyền đàn áp Phật giáo.

Ngày 9 và ngày 10, ông Tổng thống vô cùng đăm chiêu. Nguồn tin và báo chí ngoại quốc - nhất là Mỹ, Pháp đều không đồng nhất. Tổng thống Diệm vẫn đinh ninh câu chuyện sẽ giải quyết êm đẹp, không có ǵ quan trọng gọi là đại sự. Phía Phật giáo tại Sài G̣n cũng chưa có một phản ứng nào khác hơn là xôn xao bàn tán và cũng mới chỉ biết biến cố qua báo chí dư luận và nhất là bản tin của Đài VOC, BBC.

Toà Đại sứ Mỹ qua ngày 9 và ngày 10 vẫn giữ thái độ yên lặng dè dặt. Ngay trong hàng lănh đạo Phật giáo tại Huế cũng như Sài G̣n không ai ngờ rằng biến cố có thể lan rộng và trở thành cơn giông tố. Nếu như chính quyền Trung ương lúc đó có một quyết định dứt khoát để giải quyết cấp thời th́ vụ Phật giáo cũng không nổ to và có thể thu xếp được ngay từ buổi đầu.

Trước một biến cố như vậy, không thể giải quyết bằng đường lối hành chính, luật pháp và công quyền, mà phải giải quyết bằng những biện pháp chính trị với tính cách uyển chuyển, thích nghi và thông suốt. Đằng này, Tổng thống Diệm lại chờ đợi giới chức Thừa Thiên báo cáo sau đó mới cử ông Bộ trưởng Nội vụ ra điều tra tại chỗ.

Biến cố tại Đài Phát thanh Huế sẽ không thể bùng nổ to nếu không có sự lợi dụng những mâu thuẫn giữa ông Ngô Đ́nh Cẩn và Đức cha Ngô Đ́nh Thục và nhất là nếu không có sự đổ dầu vào lửa của toà Lănh sự Mỹ tại Huế. Một vài Thượng tọa thuộc phe "tích cực dấn thân" như Thượng tọa Trí Quang, Đôn Hậu v́ có t́nh quen biết với ông Cẩn nên cứ làm tới trước hết, không phải là để “chơi" ông Cẩn mà có ư biểu dương lực lượng cho Đức Cha Thục coi. Sau khi trắc nghiệm thấy có thể làm được th́ làm tới luôn. Lúc đầu, ông Cẩn lại chủ quan tin rằng :

Các thày chùa Từ Đàm nể ông và v́ t́nh riêng ông sẽ không làm mạnh cho nên lập trường của ông Cẩn lúc đầu hết sức dè dặt và t́m mọi phương thương nghị. Đêm 9 ông Cẩn tâm sự với mấy nhân vật thân cận như Đại uư Minh, Hoàng Trọng Bá, Hồ Đắc Trọng: “Dù là Cộng sản nó gây ra như vậy th́ ḿnh cũng có trách nhiệm. Sáng nay thày Trí Quang gặp tui, thầy ấy có buồn phiền nhưng sau nói riết, thầy ấy cũng vui vẻ nhận lời thu xếp".. Thực tế th́ sáng 9-5, khi gặp ông Cẩn, thầy Trí Quang cũng không có ǵ là quá "găng" . Thượng tọa Thiện Minh lại quá "thâm trầm" nên không ai thấy rơ thầy Minh muốn ǵ, sẽ làm ǵ. Nhưng Thượng tọa Trí Quang có sự nóng tính và qua sự nóng tính đó đă nhiều lần thày Trí Quang biểu lộ sự bất măn về Đức Cha Ngô Đ́nh Thục cùng sự "hiện diện quyền uy" của Đức cha tại Huế. Điều mà chính ông Ngô Đ́nh Cẩn cũng tỏ ra khó chịu và bất măn. Bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang sáng 8-5 có ư nhằm vào Đức Cha Ngô đ́nh thục hơn là chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu.

Có nhẽ v́ thế mà ông Ngô Đ́nh Cẩn tỏ vẻ thờ ơ không lấy làm khó chịu về bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang và có nhẽ vẫn tin rằng, ḿnh đă nắm được mấy thầy nên ông Cẩn đă từ chối ngay đề nghị của Hoàng Trọng Bá yêu cầu tung ra trước công luận một vài tài liệu "tổ chức” nọ. Tuy nhiên dù có tung tài liệu đó ra và tài liệu đó có đúng 10/ 10 đi nữa th́ quần chúng đang hăng say cũng sẽ không tin tưởng ǵ vào tài liệu đó cuối cùng sẽ mang tiếng là dùng sức mạnh của nhà nước để chụp mũ.

Trong khung cảnh và thực tại của Huế lúc ấy chính quyền Thừa Thiên chỉ cần khôn khéo đôi chút th́ đă dễ dàng xoa dịu được phản ứng nhất thời của quần chúng Phật tử. Nhưng từ Tỉnh trưởng đến đại biểu Chính phủ đă quá non nớt về chính trị và chỉ là cấp thừa hành về hành chính nên đành khoanh tay, trong khi đó phản ứng của quần chúng không được xoa dịu và càng ngày càng bị khích động do những nguồn dư luận "giật gân”.

__________________
 
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT NAM

Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ cho bạn, hăy hỏi bạn có thể làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not what your country can do for you_Ask what you can do for your country (Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy)

 

 

 

 

 

 
1963 1968 1975 1975 - 2010
 

 

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage