|
|

|
Thành viên xuất sắc
|
|
Gia nhập: Dec
2006
Đến từ: Nation &
Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18
lần trong 9 bài
viết
|
|
Ai
giết anh em Ngô Đ́nh Diệm?
Đây là loạt
bài được đăng tải trên
quansuvn.net ḿnh xin
post lại để các bạn cùng
tham khảo .
Tác giả: Quốc Đại
Nhà xuất bản: Thanh Niên
Năm xuất bản: 2003
Số hóa bởi: dongadoan,
ptlinh
Chương I : Định mệnh đă an
bài

Ngô Đ́nh Diệm
Sáng sớm ngày 2 - 11 - 1
963, sau một đêm dài không
ngủ, trong lúc tiếng súng
vẫn c̣n nổ lẻ tẻ đâu đây với
nhiều đám khói tại trung tâm
Sài G̣n, từ các máy thu
thanh phát ra lời loan báo
của phe đảo chính, đă hạ
được dinh Gia Long thủ phủ
cuối cùng của chế độ Ngô
Đ́nh Diệm, nhưng anh em ông
Diệm đă trốn thoát. Khoảng
10 giờ cùng ngày, Đài phát
thanh Sài G̣n loan một tin
vắn tắt: "Anh em ông Diệm bị
bắt tại Chợ Lớn, và đă tự tử"?
Dư luận bàn tán xôn xao,
phần đông nghi ngờ: Không
tin anh em ông Diệm đă chết
và nhất là không tin anh em
ông Diệm tự sát. V́ ai cũng
biết: Tổng thống Diệm là một
trong những người ngoan đạo,
mà Thiên Chúa cấm tự sát.
Trong khi ấy phe đảo chính
không cho biết thêm tin tức
nào về cái chết của Diệm,
Nhu. Và báo chí không dám
nói rằng anh em ông Diệm bị
giết. Ngày 6-11- 1963, nhật
báo New York Time in h́nh
xác Tổng thống Diệm bị c̣ng
tay với lời chú thích
"suicide with no hand" (tự
sát không có tay) Có ư mỉa
mai lời thông báo của phe
đảo chính rằng anh em ông
Diệm đă tự sát. Về sau,
người ta đă có thể công khai
nói rằng anh em cố Tổng
thống bị giết. Nhưng ai giết?
Và ai ra lệnh giết? Đó là
một nghi vấn cho đến nay vẫn
chưa hoàn toàn phơi bày ra
trước ánh sáng. Người viết
không dám làm công việc của
một sử gia, mà chỉ muốn đóng
góp một phần nhỏ vào việc
soi sáng cho một giai đoạn
gay go của lịch sử, một giai
đoạn đầy những biến chuyển
và bí mật.
GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG
Trước khi nhận định toàn bộ
về con người Ngô Đ́nh Diệm
và chế độ của ông ta chúng
tôi xin ghi lại những giây
phút cuối cùng của cuộc đời
một Tổng thống "Việt Nam
Cộng hoà". Nhân dịp tiếp các
phái đoàn quân chính trong
ngày 26-10-1963, Tổng thống
Diệm, bằng một giọng ai oán,
thoáng buồn ông nói: " Chế
độ này tuy c̣n nhiều khuyết
điểm, cũng c̣n hơn nhiều chế
độ khác... Người ta chê là
độc tài nhưng chỉ ngại c̣n
những thứ độc tài khủng
khiếp hơn. Tôi tiến th́ theo
tôi, tôi lui th́ bắn tôi,
tôi chết th́ trả thù cho tôi".
Trong thời gian này tinh
thần của Tổng thống Diệm
đang trải qua cơn dao động
cực độ. Những nhân vật gần
ông đều nhận thấy ông trở
nên nóng nảy bất thường, hay
thở dài, nét mặt đăm chiêu
thoáng buồn. Có lẽ Tổng
thống Diệm đă linh cảm được
tai hoạ sắp đến với ông ta,
gia đ́nh và chế độ. Ông Ngô
Đ́nh Nhu lại càng biểu hiện
một cách mau chóng. Ông Nhu
già hẳn đi, nét mặt chảy dài.
Bức h́nh của ông Nhu đăng
trên tuần báo Express số 909
- (15-12-1968) chính là mấy
bức h́nh chụp vào những ngày
cuồi cùng trong đời ông.
Khuôn mặt ông Nhu càng in
một vẻ căm giận cùng với vẻ
đẹp của đường nét điêu
khắc.Tuy nhiên ông Nhu vẫn
giữ được vẻ điềm tĩnh và sẵn
sàng đối phó... Sáng sớm
ngày 30-10-1963 ông Diệm
lững thững đi xuống vườn hoa
trước cửa dinh Gia Long,
ngắm mấy chậu non bộ nhỏ mới
đắp xong và đặt dưới gốc cây.
Ông bận bộ đồ xám nhạt, đội
mũ len chống chiếc ba toong
như khi đi thăm địa điểm
dinh điền. Ông ngắm vài phút
ngó lên bức ảnh lớn của ông
treo cao đằng sau bàn giấy
của ông Đổng Lư Bộ phủ Tổng
thống rồi mỉm cười lên lầu.
TIẾP KHÁCH LẦN CUỐI
Ngày 31-10, hầm trú ẩn xây
trong dinh Gia Long đă hoàn
tất, để có thể chịu đựng
được loại bom 500 kilôgam.
Cũng vào ngày đó, ông Ngô
Đ́nh Nhu tiếp kiến các đại
diện Uỷ ban Liên hiệp Bảo vệ
Phật giáo. Cùng ngày phái
đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc
về vụ Phật giáo miền Nam đáp
máy bay ra Huế để tiếp tục
cuộc điều tra. Đại sứ Cabot
Lodge đă nhận được đầy đủ
tin tức về kết quả và thái
độ của Phái đoàn này tại Sài
G̣n và thấy rằng sẽ bất lợi
cho những toan tính âm mưu
của ông. Vụ đàn áp Phật giáo
phải được duy tŕ để lấy cớ
lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm
như ông Lodge mong muốn.
Sáng 1 nhằm vào ngày lễ các
Thánh, côngsở đều được nghỉ,
Tổng thống Diệm đă tiếp
người bạn "đồng minh" Hoa Kỳ
cuối cùng trong đời ông. Đó
là Đô đốc Harry D.Felt, Tổng
Tư lệnh lực lượng Mỹ tại
Thái B́nh dương. Đô đốc
Harry D.Felt chắc hẳn biết
rơ những ǵ xảy tới, trong
mấy giờ nữa sẽ kết thúc chế
độ của Tổng thống Diệm mà
ông ta theo lễ nghi vẫn xưng
tụng như một nhà lănh đạo
anh minh của miền Nam. Hồi
13 giờ 30 súng bắt đầu nổ từ
nhiều nơi trong đô thành...
Ai gây nên tiếng súng đó?
Bắt đầu từ một thế lực nào?
Tướng lănh? Quần chúng? Mỹ?
Thực ra, những âm mưu lật đổ
Tổng thống Diệm đă sắp đặt
từ tháng 5-1963, rồi được âm
thầm tiến hành... Buổi tối
ngày 28-10, do sự sắp xếp từ
trước Trung tướng Trần Văn
Đôn đă tiếp xúc bí mật với
giới chức Mỹ tại nhà một nha
sĩ (1). Tướng Đôn luôn luôn
nhắc nhở người Mỹ giữ bí mật
hoàn toàn và không thảo luận
vấn đề này với bất cứ một ai,
ông ta đă cố gắng thuyết
phục Đại sứ Cabot Lodge chấp
nhận chương tŕnh hành động
của nhóm ông và làm như thế
nào để Hoa Kỳ đồng ư cho bật
đèn xanh càng sớm càng tốt.

N.Đ. Diệm tiếp Đô đốc
Harry D.Felt
Lúc đầu nhóm đảo chính dự
định khai hoả vào ngày 31-10
(theo sự tiết lộ của Đại tá
Lu Conein). Trước nữa, nhóm
đảo chính cùng với sự đạo
diễn của mấy chuyên gia CIA
đă dự định đảo chính nhân
ngày kỷ niệm 26-10. Nhưng
đêm 25-10 ông Nhu đă nhận
được báo cáo đầy đủ: Nhóm
đảo chính với các tướng Đôn,
Minh ra tay hành động trong
cuộc duyệt binh tại đường
Thống-nhất vào sáng 25-10.
Dịp này sẽ bắt sống Tổng
thống Diệm và ông Nhu sau đó
sẽ thanh toán dinh GiaLong
và thành Cộng hoà. Vào phút
chót, ông Sinh Trưởng pḥng
CIA toà Đại sứ Mỹ (người
thay thế Đại tá Rieharson)
đă thông báo kịp thờicho Lu
Conein biết là chưa thể bật
đèn xanh bởi có kẻ trong toà
Đại sứ Mỹ tiết lộ cho ông
Nhu. Hiển nhiên là Cabot
Lodge đă đóng vai tṛ một
nhà "lănh đạo" đứng bật đèn
cho cuộc đảo chính
1-11-1963. Cabot Lodge được
coi như tiếng nói có thẩm
quyền của phe "Tự do"
Harriman. Những nguyên nhân
nào khiến cho Mỹ phải gấp
rút t́m mọi cách lật đổ chế
độ Tổng thống Diêm? Hẳn
nhiên, về phía Mỹ không phải
là nguyên nhân Phật giáo.
Đơn giản v́ quyền lợi nước
Mỹ trước hết . Cái gai chính
yếu của Đại sứ Cabot Lodge
cũng như Smith Conein và
nhóm đảo chính là tướng Tôn
Thất Đính. Làm sao nhổ được
cái gai này ? Tuy nhiên, cho
đến ngày 28-11 tướng Đôn có
thể đă tạm yên tâm về mặt
tướng Đính. Điều mà phe đảo
chính lo ngại nhất là lực
lượng đặc biệt của Đại tá Lê
Quang Tung. Lực lượng này
vẫn được coi như thành phần
ṇng cốt của chế độ Ngô Đ́nh
Diệm. Ngày 29-12, tướng Tôn
Thất Đính với tư cách Tư
lệnh Quân đoàn III (và từng
là Tổng trấn Sài G̣n-Gia
Định) ra lệnh cho các đơn vị
thuộc lực lượng đặc biệt di
chuyển ra khỏi Sài G̣n. Đó
cũng là một phần kế hoạch
nhằm vô hiệu hoá những lực
lượng trung thành với chế
độ. Hơn nữa, tướng Đính đang
được ḷng tin cậy của ông
Nhu. Theo dư luận đồn đại
sau ngày đảo chính, ngày
1-11-1963 th́ chính ông Nhu
đă giao phó cho tướng Đính
thực hiện một cuộc đảo chính
giả với danh hiệu Bravo I và
II nhằm phá vỡ kế hoạch đảo
chính thực của nhóm tướng
lĩnh đang liên kết với Cabot
Lodge. Nếu thực sự cuộc đảo
chính sẽ xảy ra, ông Nhu
chấp nhận một cách không
nghi ngờ việc tướng Đính
"móc nối" với nhóm Đôn,
Minh. Chính ông Nhu đă từng
nói với tướng Huỳnh văn Cao:
"Khánh với Đính là chỗ người
trong nhà cả. Không lo”. Ông
Nhu tuy cao tay lắm nhưng
đâu có thể học được chữ ngờ
qua trường hợp của tướng
Đính!
Tương kế tựu kế, tướng Đính
nắm cơ hội này để quật ngược
lại thế cờ cuối cùng của
ôngNhu... Không có sự tham
gia của tướng Đính, cuộc đảo
chính 1-11-1963 không thể
thành công. Cái lối của ông
Nhu là cái lối của một nhà
chiến thuật và chiến lược,
nh́n và tiên liệu quá xa
phạm vi hạn hẹp của chiến
thuật, giai đoạn. Hơn nữa,
v́ ḷng tin cậy, ông Nhu đă
chọn nhầm một người mà chính
trước đây ông Nhu cho là
"khó xài" Nhưng vẫn sử dụng
v́ cho rằng ḿnh cao tay ấn.
Mặt khác, trước đó Đại tá Đỗ
Mậu quyền Giám đốc Nha An
ninh quân đội, một môn đệ
tin cậy của Ngô Đ́nh Diệm đă
phúc tŕnh cho hai ông Nhu,
Diệm biết VC (2) đang tập
trung tại vùng ven đô và âm
mưu đánh phá Sài G̣n. Dĩ
nhiên đây chỉ là bản phúc
tŕnh giả với mục đích làm
lạc hướng theo dơi của chính
quyền và đồng thời có cớ để
phân tán một số đơn vị trung
thành của Diệm ra khỏi Sài
G̣n. Như vậy phe đảo chính
sẽ giảm thiểu được sức chống
đối của phe Chính phủ(3).
Hồi 12 giờ 30 ngày 1-11,
tướng Trần Văn Đôn cùng một
số tướng tá ṇng cốt triệu
tập Hội nghị trong Bộ Tổng
Tham mưu với sự tham gia của
hầu hết các tướng lănh và
một số Tư lệnh quân binh
chủng. Tướng Tôn Thất Đính
không có mặt trong Hội nghị
này, lúc đó ông ta đang phải
túc trực tại tổng hành dinh
Quân đoàn III. Người th́ cho
rằng đến giờ phút quyết
liệt, phe đảo chính vẫn chưa
tin hẳn tưởng Đính. Và có lẽ
đó cũng là lư do tướng Đính
không có mặt trong Hội nghị
quan trọng đó.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
(l) Theo bản báo cáo mật của
Cảnh sát đặc biệt thuộc thẩm
quyền của ông Dương Văn Hiếu
- Phó Tổng Giám đốc cảnh sát
quốc gia.
(2) Thời đó chính quyền Sài
G̣n gọi những chiến .sĩ cách
mạng là Việt Cộng viết tắt
là VC
(3) Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
thành lập ở miền Nam Việt
Nam
THIỆN CHÍ NHÀ GIÀU
Theo tiết lộ của Georges
Chaffard qua bài báo tựa đề
La paix manquée en 1963 (1),
để lôi kéo tướng Đính vào
phe đảo chính, Mỹ đă trao
cho tướng Đính một số tiền
ứng trước là 1 triệu Dollars
do kết quả sự thương lượng
giữa tướng Đôn và Đại sứ
Cabot Lodge ngày 24-10. Số
tiền ứng trước này được coi
là thiện chí cụ thể của Mỹ
giúp phe đảo chính có chút
phương tiện để thực hiện kế
hoạch(1a). Tưởng cũng nên
nhắc lại, khoảng cuối tháng
10, dư luận trong chính giới
và ngoại giao đoàn đă đồn
đại về những hoạt động của
nhóm mật vụ Pháp thuộc Sở
"Hành Động" (Action) do
tướng De Gaulle gởi qua Sài
G̣n v́ nhiệm vụ bảo vệ an
ninh cho hai anh em ông
Diệm.
Sáng 1-2, Đại sứ Cabot Lodge
hướng dẫn Đô đốc Felt đến
dinh Gia Long thăm xă giao
Tổng thống Diệm. Nhân dịp
này Tổng thống Diệm đă Cabot
Lodge biết. là đang có dư
luận về một cuộc đảo chính
nhằm lật đổ Tổng thống. Ông
Diệm nói như thế là có ư bảo
cho ông Cabot Lodge biết,
ông ta luôn luôn theo dơi
đường đi nước bước của Mỹ
trong âm mưu lật đổ chế độ
hiện hữu. Đại sứ Cabot Lodge
vẫn một nụ cười vồn vă hứa
chắc với ông Diệm, nếu có sự
chẳng hay xảy ra như dư luận
đồn đại, người Mỹ sẽ đảm bảo
cho cá nhân Tổng thống.

N.Đ. Diệm và Cabot Lodge
Cũng vào khoảng thời gian
đó, Đại tá Lu Conein đă đến
gặp tướng Đôn và túc trực
bên phe đảo chính trong suốt
ngày 1 và ngày 2 tại Bộ Tổng
Tham mưu. Ông ta là trung
gian giữa toà Đại sứ Mỹ và
phe đảo chánh. Hay đúng hơn,
ông ta thủ vai tṛ của kẻ
điều động và thực hiện kế
hoạch đă được thảo luận và
quyết định chung giữa toà
Đại sứ Mỹ và phe đảo chính ?
(2) Khi ở dinh Gia Long trở
về, Đại sứ Lodge đă nhận
được đầy đủ tin tức từ Bộ
Tổng Tham mưu báo cáo cho
biết kế hoạch tiến hành. Rồi
một ngày trôi qua như mọi
người đều biết, cuộc đảo
chính hoàn toàn thành công
với sự xuất hiện của các
tướng lănh mang danh xưng là
những con người cách mạng và
ở trong tổ chức mới, lúc đầu
mệnh danh "Hội đồng các
tướng lănh" sau đổi thành "
Hội đồng Quân nhân Cách
mạng". Nhằm vào đúng ngày lễ
các đấng linh hồn, một trong
những ngày lễ quan trọng
nhất của tín đồ Thiên chúa
giáo, hai anh em Tổng thống
Diệm cùng bị thảm sát sau
khi đă dâng trọn những lời
cầu nguyện cuối cùng tại nhà
thờ Cha Tam Chợ Lớn, với sự
chứng kiến của Linh mục Jean
- Một Linh mục thuộc Hội
Thừa sai Pa-ri (MEP).Chi
tiết về cái chết của Tổng
thống Diệm đến nay tuy không
c̣n là điều bí mật song đă
có quá nhiều những chi tiết
mâu thuẫn nhau. Trong những
giờ phút cuối cùng, Ngô
Đ́nhDiệm đă tỏ ra hoàn toàn
mệt mỏi và không c̣n tin
tưởng bao nhiêu khi phe đảo
chính báo cho anh em ông
biết là đă bắt Đại tá Tung
và ông này cùng lực lượng
của ông đă đầu hàng phe
"Cách mạng"(3). Tổng thống
Diệm bây giờ chỉ c̣n đặt tin
tưởng vào Quân đoàn 3 của
tướng Huỳnh văn Cao và nhất
là Quân đoàn 2 của tướng
Khánh mà ông Nhu hoàn toàn
tin cậy. Song tướng Cao đă
không làm được ǵ khác hơn.
Sư đoàn 7 nằm trong tay Đại
tá Nguyễn Hữu Có phụ tá Tư
lệnh Quân đoàn. Anh em ông
Diệm chỉ c̣n lại lực lượng
pḥng vệ trong dinh. Tất
nhiên lực lượng này không
c̣n phương thế hoạt động nào
khác hơn là đành thúc thủ
trong bốn bức tường thành
Cộng hoà và dinh Gia Long.
Trước một t́nh thế bi đát
như vậy, ôngNhu quyết định
ra đi - Tổng thống Diệm mặc
nhiên chiều theo quyết định
của em " Đi mô. . . đi th́
đi. . . " Đó là lời nói gió
cuốn mây trôi của Tổng thống
Diệm . 8 giờ 30 Tổng thống
Diệm, ông Nhu, Đại uư Đỗ Thọ
và Đại uư Bằng rời khỏi dinh
Gia Long trên bước đường của
định mệnh. Khi tiếp thu dinh
Gia Long, Trung tá Phạm Ngọc
Thảo không t́m thấy anh em
ông Diệm nên đă cấp báo cho
tướng Trần Thiện Khiêm rơ.
TướngTrần Thiện Khiêm ra
lệnh cho Trung tá Thảo phải
t́m kiếm . . ..
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1)Tuần báo Express số 909
(1a) Theo một tài liệu khác
th́ tướng Đôn đă nhận 3
triệu đồng VNCH để chia cho
các đơn vị tham gia đảo
chính và các tướng lănh khác
- dongadoan
(2) Theo sự tiết lộ của Lu
Conein th́ ông được mời đến
với tư cách Cố vấn Mỹ tại Bộ
Nội vụ tham dự phiên họp
thường lệ của Bộ Tổng Tham
mưu và sau khi đảo chính xảy
ra th́ tướng Đôn giữ khéo Lu
Conein ở lại Bộ Tổng Tham
mưu như một thứ con tin và
một bảo đảm an ninh cho các
tướng lănh
(3) Chỉ phe cánh đảo chính
Theo tiết lộ của những người
trong cuộc, tướng Khiêm dặn
Phạm Ngọc Thảo phải t́m mọi
cách đón anh em ông Diệm,
phải bảo vệ an ninh cho anh
em ông ta, có được như vậy
th́ tướng Khiêm và phe của
Trung tá Khải mới có thể
thực hiện được kế hoạch lật
ngược thế cờ. Khi được tin
dinh Gia Long đă thất thủ
th́ lúc ấy chính là lúc
trong Hội đồng Quân nhân
cách mạng và nhóm tướng tá
đảo chính cũng đă chia thành
năm bảy phe qua những xu
hướng chính trị và quyền lợi
trái ngược nhau . Riêng
Trung tá Phạm Ngọc Thảo từ
trước ngày đảo chính đă có
những liên lạc mật thiết với
Đại tá Đỗ Mậu và tướng
Khiêm. Ông Thảo là người
được tướng Khiêm tin cậy và
cả hai đều là những tướng tá
được chế độ tin dùng. Riêng
tướng Khiêm sau vụ đảo chính
hụt, ông trở thành vị tướng
lănh thân cận của Tổng thống
Diệm và được coi như người
con "tin cẩn" trong gia đ́nh
Tổng thống.
Trong đường lối và trong
thâm tâm của phe Phạm Ngọc
Thảo chỉ muốn thay đổi cơ
cấu của chế độ mà thôi . .
.Song t́nh thế đă biến
chuyển khác hẳn và trái với
ước mong của Phạm Ngọc Thảo
từ buổi đầu. Ông Thảo hẳn đă
biết rơ những xu hướng khác
nhau trong Hội đồng Quân
nhân cách mạng trong đó đă
có một xu hướng chủ trương
phải giết anh em ông Diệm để
trừ hậu hoạ và đó cũng là
chủ trương của một số nhân
vật Mỹ mà ông Fisthel là đại
diện. ông này vẫn chủ
trương: Chế độ Ngô Đ́nh Diệm
phải được cải tổ toàn bộ nếu
Tổng thống Diệm không chịu
th́ Tổng thống phải ra đi
hoặc bị thủ tiêu. Xu hướng
thanh toán Tổng thống Diệm
quy tụ ử mấy tướng lănh đă
sẵn ḷng bất măn với Diệm từ
lâu...Đó là các tướng Trần
Tử Oai, Mai Hữu Xuân. Mặc
dầu những người như Trung
tướng Trần Văn Đôn từng được
chế độ của Tổng thống Diệm
đặc biệt ưu đăi, tin cẩn
trong suốt 9 năm cũng muốn
thay đổi Chính phủ Diệm .
Tướng Đôn liên tiếp được
giao phó những chức vụ quan
trọng, từ Tư lệnh vùng I đến
Tư lệnh lục quân, rồi quyền
Tổng Tham mưu trưởng. Ba
tướng Đôn, Kim, Oai được coi
là thành phần ṇng cốt của
Hội đồng Quân nhân cách
mạng. Người Mỹ tin cẩn vào
tướng Đôn hơn cả. Sở dĩ
tướng Dương Văn Minh được Mỹ
giao phó vai tṛ chính v́
đối với quân đội lúc ấy và
trong hàng tướng lănh th́ uy
tín của tướng Minh nổi bật
hơn cả. Có thể nói năm tướng
Minh, Đôn, Kim, Oai, Xuân
đứng riêng một phe.

Năm tướng tại Đà Lạt
Chưa có chứng cớ nào rơ rệt
để nói rằng tướng Khiêm, Đại
tá Mậu, Trung tá Thảo đứng
về một phe khác không mấy
thân thiết và tín cẩn đối
với phe kia. Nhưng dù sao
tướng Khiêm vẫn là người tỏ
ra ôn hoà với chế độ Ngô
Đ́nh Diệm mà chính ông ta đă
trưởng thành trong chế độ ấy.
C̣n Trung tá Phạm NgọcThảo -
một tín đồ Thiên chúa giáo
có đầu óc tiến bộ và quốc
gia cực đoan, kể từ biến cố
Phật giáo, ông quyết liệt
chủ trương phải thay đổi
thành phần và cơ cấu của chế
độ. Trung tá Thảo là người
thứ nhất đă can đảm tŕnh
bày với tướng Khiêm đang nắm
quyền Tham mưu trưởng Liên
quân, cái trục hên lạc thân
thiết của Trung tá Thảo:
Thảo, Mậu, Tuyến. Thảo là
bạn tâm t́nh của bác sĩ Trần
Kim Tuyến và chính Thảo cũng
đă thẳng thắn tỏ bầy ước
vọng và kế hoạch của ông cho
bác sĩ Tuyến rơ. Kể từ đầu
tháng 5-1963 theo sự lượng
tính và tiên liệu của bác sĩ
Tuyến nếu không kịp thời có
một chương tŕnh hành động
để cứu nguy chế độ th́ khó
ḷng ngăn ngừa được cuộc đảo
chánh. Trung tá Thảo cũng lo
âu như thế. Từ khi ông Tuyến
ra đi th́ Thảo không c̣n ǵ
ràng buộc mật thiết với chế
độ. Song Thảo vẫn tiếp tục
móc nối với một số tướng tá
vẫn được coi là người
củachính quyền, nhằm thực
hiện một cuộc đảo chính cốt
sửa sai, hơn là san bằng
đồng thời có thể ra
tay trước phe tướng Minh và
vô hiệu hoá mọi âm mưu trong
kế hoạch của họ và lật ngược
thế cờ để nắm phần chủ dộng.
Thảo đă đóng một vai tṛ
quan trọng trong cuộc đảo
chính 1-2-1963 và Thảo được
đặt dưới quyền sử dụng trực
tiếp của Khiêm. Dù chủ
trương như thế nào, Thảo
cũng đă là một trong những
người thân tín của chế độ
Diệm. Ông Thảo đă được Hội
đồng Quân nhân cách mạng
giao phó phần phát thanh.
Đây mới là thứ vũ khí sắc
bén nhất để xô đổ chế độ Ngô
Đ́nh Diệm. Ví như không có
phần phát thanh từ lúc đầu
th́ cục diện chưa chắc đă
thay đổi mau lẹ. Khi phe
Minh, Đôn, Kim nhận được tin
Ngô Đ́nh Diệm đang ử chợ Lớn
đă cấp tốc ra lệnh cho Đại
tá Dương Ngọc Lắm' đem thiết
quân vận M 113 vào đón bắt.
Đại tá Lắm lúc ấy đang nắm
quyền Tổng giám đốc Địa
phương quân (một trong số
tướng tá được chế độ đặc
biệt ưu đăi, tin dùng).ông
Lắm là người theo đảo chính
vào phút chót. Tất nhiên là
ông đă không được sự tin cậy
của phe chủ chốt. Do đó, Mai
Hữu Xuân được Minh chỉ định
đi theo giám sát Lắm . Tóm
lại, đă có hai toán quân vào
Chợ Lớn t́m bắt anh em Tổng
thống Diệm. Mỗi toán có thể
nói thuộc về một phe, nhằm
mục đích riêng. Nếu Trung tá
Thảo biết rơ anh em ông Diệm
đang ở nhà thờ Cha Tam th́
cái chết đă không đến với
hai anh em ông Diệm, ít nhất
là đă cứu thoát đượcông Diệm.
Song Thảo lại chỉ đến lục
soát nhà Mă Tuyên trong lúc
anh em Tổng thống Diệm đang
dâng lễ ở nhà thờ Cha Tam.
ông Thảo trở về tay không
đồng thời cũng mang theo sự
thất bại của nhóm ông.Và có
phải chính ông Diệm báo tin
cho Khiêm để nhận sự đầu
hàng và cho biết đang ở nhà
thờ Cha Tam không ? Một nghi
vấn cho rằng: Có lẽ viên sĩ
quan tuỳ viên của ông vào
phút chót đă phản phúc và
báo cho phe đảo chính biết
nơi hai anh em đang trú ẩn.
Sự thực không phải Đại uư Đỗ
Thọ đă phản phúc. Đại uư Đỗ
Thọ được Tổng thống bảo đi
gọi điện thoại về Bộ Tổng
Tham mưu cho Khiêm nhưng Thọ
lại gọi điện thoại trực tiếp
cho Đỗ Mậu là chú ruột của
ḿnh.Vậy th́ hai anh em ông
Diệm có đầu hàng phe đảo
chính không ? Những diễn
biến tại dinh Gia Long và
tại nhà Mă Tuyên từ 12 giờ
30 ngày1-2-1963 đến 4 giờ
đêm ngày 2-2 sẽ giúp cho sử
gia sau này đi đến một kết
luận rơ rệt hơn.Khi Đại tá
Lắm đem quân đến nhà thờ Cha
Tam th́ lúc đó Hội đồng Quân
nhân cách mạng vẫn chưa có
quyết định dứt khoát về số
phận chung của anh em ông
Diệm. Một người trong cuộc
cho biết: "Anh nào cũng run
hết trước một quyết định dứt
khoát quan hệ đến sự thành
bại của cuộc đảo chánh. Hội
đồng chia thành 3, 4 phe:
Một phe nhất định phải thanh
toán ngay anh em ông Diệm.
Tuy nhiên phe này chỉ rỉ tai
bàn kín với nhau thôi. Phe
khác chủ trương để anh em
ông Diệm lưu vong ra ngoại
quốc. Phe thứ ba giữ thái độ
dè dặt . . . Phe quyết định
thanh toán Diệm lấy cớ rằng,
nếu anh em ông Diệm c̣n sống
th́ cuộcđảo chính sẽ bất
thành, v́ tay chân của ông
không sớm th́ muộn cũng sẽ
phản công. Vả lại, phe này
thấy rằng ngay trong Hội
đồng Quân nhân cách mạng
cũng đă quá phần nửa từng là
người thân tín của Diệm và
Nhu. Điều lo ngại hơn nữa là
họ vẫn chưa nắm được tướng
Tôn Thất Đính mà binh quyền
đang nằm gọn trong tay Đính
cũng như một số tướng tá
khác như Nguyễn Khánh Quân
đoàn II, Huỳnh Văn Cao Quân
đoàn IV, Cao VănViên Tư lệnh
nhảy dù và Huỳnh Hữu Hiền Tư
lệnh Không quân (Hai sĩ quan
Viên và Hiền đă thẳng thắn
từ chối tham gia phe đảo
chính). Giả sử nếu đưa anh
em ông Diệm về tŕnh diện
Hội đồng Quân nhân cách mạng
th́ biết đâu sự hiện diện
của anh em ông lại không thể
làm nản ḷng và gây xúc động
lương tâm của những người
thân tín eũ của ông. Nếu chỉ
nhằm đến mục đích hoàn thành
cuộc đảo chính và tránh mọi
hậu hoạ th́ phe này khi ra
tay hạ sát Tổng thống Diệm
cũng không có ǵ khó hiểu.
ĐAO PHỦ
Ai giết anh em ông Diệm?
Theo Robert Shaplen trong
cuốn The Lost Revolution th́
có hai dữ kiện: Dữ kiện thứ
nhất chính Mai Hữu Xuân đă
ra lệnh giết anh em ông
Diệm. Dữ kiện thứ hai có đủ
yếu tố tin được th́ chính
Dương Văn Minh chủ tịch Hội
đồng Quân nhân cách mạng đă
trực tiếp ra lệnh hạ sát.
Người thi hành lệnh là Đại
uư Nhung. Trước vụ thảm sát
này. một số tướng lănh trong
Hội đồng Quân nhân cách mạng
đă phản đối và đặc biệt
tướng Đính đă nổi giận dữ
dằn, đập điện thoại và gục
đầu khóc ngay tại văn pḥng
của ông ở trại Lê Văn Duyệt
(mặc dù theo kư giả David
Habertam của tờ The New
YorkTimes)(1) th́ ông Đính
là người đă phản bội ông
Diệm, nếu không có sự phản
bội của Đính th́ cũng chưa
có cuộc đảo chính 1-2-1963.
Thi hài hai anh em Tổng
thống Diệm được đặt trong
hai bộ quan tài thuộc loại
trung b́nh rồi được an táng
âm thầm trong thành Bộ Tổng
Tham mưu với sự hiện diện
của vợ chồng người cháu gái.
Hai anh em ông được làm thủ
tục khai tử tại quận Tân
B́nh. Về nghề nghiệp của ông
Diệm được ghi là Tuần vũ và
ông Nhu là Quản thủ thư viện
. Khi Nguyễn Hữu Có làm Tổng
Tham mưu trưởng đă nghe lời
một thầy địa lư và bói số
cho rằng, nếu không cải táng
anh em ông Diệm đi một nơi
khác th́ sẽ c̣n đảo chánh.
Do đó di cốt anh em ông Diệm
được đưa ra nghĩa trang Mạc
Đĩnh Chi.
-------------------------------------------------------------
(1) số ra ngày 6-11-1963
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU
CHÚNG TA ???
National Academy of
Public Administration -
Faculty of State and Law
- Inspection
|

09-04-2008, 08:20 PM
|
 |
Thành viên xuất sắc
|
|
Gia nhập: Dec
2006
Đến từ: Nation &
Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18
lần trong 9 bài
viết
|
|
Chương II :
Người sống và người chết
1 giờ 30, Sài G̣n ngái ngủ
trong ánh nắng gay gắt. Từng
loạt đạn nổ làm thức giấc
dân đô thành. Tin đảo chính
lan truyền trong dư luận từ
mấy tháng nay bây giờ đă
thành sự thực. Nhưng ai làm
vụ này và rồi sẽ ra sao? Ai
sẽ lănh đạo? Những khuôn mặt
lớn nào sẽ xuất hiện? Lúc ấy,
dám chắc rằng không một ai
có thể nghĩ Phó Tổng thống
Thơ sẽ làm "Cách mạng" .
Nhưng cũng không ai ngạc
nhiên thấy Trung tướng Dương
Văn Minh trở thành Chủ tịch
Hội đồng Quân nhân cách mạng.
Sáng ngày 2-2-1963 Sài G̣n
bừng bừng trong khí thế vũ
băo. Đường phố đông nghẹt
những người . . .Thế là cáo
chung một chế độ! 9 giờ 15,
Đài phát thanh loan tin: "Anh
em ông Diệm và ông Nhu đă tự
tử " . Tại sao lại tự tử ?
Từng đoàn thanh niên nam nữ
kéo nhau đi đập phá trụ sở
Việt Tấn xă và 9 tờ báo được
coi là thân chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm. 26 trụ sở các hội
đoàn được coi là của chính
quyền cũng bị đập phá tan
hoang. Tướng Dương Văn Minh
trở nên một thần tượng mới.
Tướng Đôn, Đính được suy tôn
như các vị anh hùng lỗi lạc.
Tư thất của một số nhân vật
thuộc chế độ cũ cũng bị đám
đông kéo đến đập phá. Thiệt
hại nặng nề về tư thất là
các ông Ngô Trọng Hiếu,Cao
Xuân Vỹ. Chế độ Ngô Đ́nh
Diệm cáo chung trước hết là
do kết quả của những chùm
mâu thuẫn nội bộ và sự góp
công lật đổ chế độ của một
số viên chức thư lại chỉ
biết cúi đầu thi hành, không
có một sáng kiến làm mới và
xây dựng chế độ.

Nhân dân biểu t́nh chống
Diệm.
ANH ĐI ĐƯỜNG ANH TÔI
ĐƯỜNG TÔI
Sự xuất hiện của tướng Khánh
trên chính trường miền Nam
cùng với sự ủng hộ tích cực
của Mỹ qua vai tṛ của Cabot
Lodge cùng hai ông Minh, Thơ
đă trở thành những người bạn
tâm giao, thân thiết.

Tướng Nguyễn Khánh.
Ông Thơ, ông Minh cũng như
tấm t́nh thân thiết đối với
ông Ngô Trọng Hiếu và ông
Huỳnh Hữu Nghĩa. Khi đảo
chính thành công th́ tứ tài
tử chia làm hai ngả: ông
Hiếu và ông Nghĩa rủ nhau
vào khám Chí Hoà. ông Thơ và
ông Minh lên đến hàng tột
đỉnh "công danh" . Tại sao
lại như vậy ? Một lớp người
từng lương cao bổng hậu của
chế độ cũ song một phần th́
nối tiếp nhau đi vào khám
Chí Hoà, hay nếu không cũng
bị vong gia bại sản. C̣n một
phần khác nối đuôi nhau tiến
lên theo ngọn triều đổi ngôi,
chẳng qua đó cũng chỉ là bức
tranh "vân cẩu” muôn đời của
thế sự. Những lư do nào đă
khiến cho đôi bạn Thơ, Hiếu
trong phút chốc kẻ được
trọng hậu như một v́ "bán
anh hùng" c̣n người bị lên
án như một hung thần "tay
sai" của vợ chồng ông Nhu?
Trước năm 1954, khi ông Thơ
c̣n làm Tỉnh trưởng Long
Xuyên, th́ ông Hiếu làm
Trưởng ty Ngân khố và hai
người trở thành bạn tri giao
thân thiết. Ngoài tướng Minh
với ông Hiếu, ông Thơ c̣n
một người bạn tâm giao khác
là ông Huỳnh Hữu Nghĩa
nguyên Bộ trưởng Lao động.
Phút chốc thế sự đổi thay,
anh đi đường anh tôi đi
đường tôi . . . Ngô Trọng
Hiếu sau khi ra tù, ở ngay
trong một căn nhà b́nh dân
trong xóm Thị Nghè, sáng
chiều leo lên chiếc Vespa cũ
gỉ để đi dạy học, vào lớp
nói tiếng Tây, thả đàn ngâm
Kiều, đọc Chinh phụ ngâm.
Đêm đêm nằm vắt tay lên trán
mà suy ngẫm tṛ đời. Cựu Phó
Tổng thống Thơ từ ngày "thôi
làm" Thủ tướng lui về vui
thú trong cảnh toạ hưởng kỳ
thành, lâu lâu đi Pháp một
chuyến, đi Nhật một chuyến .
. .Sự thực đối với chế độ cũ,
Phó Tổng thống Thơ đă có
công với rất nhiều người.
Nhờ sự đề bạt của Thơ mà
nhiều người có lương cao,
bổng hậu, áo đạt lên Tổng
thống Diệm (Chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm thành lập ngày
7-7-1954, ông Nguyễn Ngọc
Thơ đă đề nghị ông Ngô Trọng
Hiếu là Tổng trưởng Thông
tin nhưng có sự trục trặc
nên ông Bùi Kiên Tín giữ
chức vụ này). Chính ông
Nguyễn Ngọc Thơ đă giới
thiệu và vận động để Hiếu đi
làm Đại diện Chính phủ tại
Cămpuchia (hàng Đặc sứ). Sau
này đôi bạn Hiếu, Thơ trở
thành xa lạ nhau trước hết
chỉ v́ nguyên nhân: Hiếu
được coi là người thân tín
của Ngô Đ́nh Nhu, c̣n Thơ
lại được Tổng thống Diệm
không những kính nể mà c̣n
coi nhau như t́nh anh em.
Ông Nguyễn Ngọc Thơ rất
kiêng kỵ những ai được coi
là "người" của ông Nhu. Tại
sao như vậy? Báo chí ngoại
quốc nói rằng tướng Minh bị
ông Nhu ganh ghét và loại
trừ. Điều đó có đúng không ?
ông Cố vấn Nhu đă nghĩ về
tướng Minh như thế nào ?
Nhất là vai tṛ của Phó Tổng
thống Nguyễn Ngọc Thơ ra sao
trong 9 năm của chế độ cũ và
3 tháng sau đảo chính ?
MỘT CÔNG HẦU
Sau ngày 1-2-1963, một số
đông chính khách đă có bụng
mừng thầm là phen này thế
nào họ cũng được Hội đồng
Quân nhân cách mạng chiếu cố.
Cụ thể hơn là cố làm sao vận
động cho ḿnh và phe đảng
ḿnh được tướng lănh và các
"Thầy" đề bạt vào ghế nào đó
trong Chính phủ mới, mà
tướng Dương Văn Minh đang
thăm ḍ để chọn một số vị "lương
đống quốc gia" chèo lái con
thuyền miền Nam Việt Nam
trong một giai đoạn mới.
Trong hai ngày 2 và 3-2
tướng Minh rất bận rộn và
phải dành nhiều th́ giờ tiếp
xúc với một số chính khách
có tên tuổi. Nhiều người
được coi là có nhiều hy vọng
được chỉ định làm Thủ tướng
Chính phủ: Như Trần Văn Vân,
Phan Huy Quát, Vũ Văn Mẫu,
Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc
Thơ... Ai cũng tưởng Hội
đồng Quân nhân cách mạng sẽ
không bao giờ đề cử cựu phó
Tổng thống Thơ làm Thủ tướng
v́ như vậy rất "khó coi" nếu
xét về t́nh cảm và "không
thể được" nếu xét về lư.
Song như lịch sử đă diễn
biến, cuối cùng chỉ có ông
Nguyễn Ngọc Thơ được quân
đảo chính lựa chọn. Nói là
Hội đồng Quân nhân cách mạng
lựa chọn chỉ là cách nói
theo nguyên tắc và trên văn
từ. Thực tế không phải như
vậy.

Ngô Đ́nh Diệm và Phó
Tổng thống Nguyễn Ngọc
Thơ (bên phải).
BÀN TAY PHÙ THỦY
Trước khi Đại sứ Cabot Lodge
thừa lệnh Wasingtơn cho bật
đèn xanh vào giờ H để các
tướng lănh bắt tay vào đại
sự th́ cũng là lúc, trục
liên lạc Wasingtơn Sài G̣n
bắt đầu hoạt động từng giờ
từng phút. Công việc đảo
chính đă trở thành "thứ yếu”
Điều quan hệ nhất đối với
Wasingtơn là t́m được người
thừa kế Chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm cho hợp t́nh hợp lư.
Cái t́nh ở đây phải hiểu là
hợp với “hảo ư" của giới
chức Mỹ, phải được ḷng "các
thầy" trong hàng ngũ lănh
đạo Phật giáo và đồng thời
có thể làm cho đồng bào
Thiên chúa giáo được an tâm.
Ông Lodge vốn là "cao thủ”
trong ngành ngoại giao Mỹ và
từ lâu bị nghi ngờ có những
hoạt động riêng cho cơ quan
CIA. Tuy vậy ông ta luôn
luôn tỏ ra tôn trọng những
nguyên tắc ngoại giao. Từ
sáng ngày 2 ông Lodge đă
tiếp xúc rộng răi với ngoại
giao đoàn nhất là mấy vị Đại
sứ vốn được coi là "Voix"(1)
có ảnh hưởng đến chính sách
của Mỹ tại miền Nam Việt Nam
và cả khu vực châu Á. Toà
Đại sứ mà ông Lodge quan tâm
nhất đó là các Đại sứ Anh,
Đại sứ Nhật sau nữa là Toà
Khâm sứ đại diện cho Toà
thánh Vatican tại miền Nam
Việt Nam. Dĩ nhiên là Toà
Khâm sứ đă hoàn toàn dè dặt
và chỉ cư xử với ông Lodge
theo mức độ ngoại giao b́nh
thường. Lúc đầu đă có một
vài ứng cử viên được giới
chức Mỹ lưu tâm và dùng làm
trái ball nhỏ để thăm ḍ. Đó
là giáo sư Vũ Văn Mẫu, cựu
Ngoại trưởng của Tổng thống
Diệm. Một vài người Mỹ thuộc
pḥng chính trị toà Đại sứ
Mỹ, cho rằng ông Mẫu vừa có
tiếng trong giới ngoại giao,
vừa có thành tích đối với
Phật giáo nhân vụ giáo sư
Mẫu "xuống tóc" và qua Ấn Độ
hành hương để gọi là phản
đối Chính phủ về vụ Phật
giáo. ông Mẫu lại là một
luật gia tên tuổi khéo léo
mềm mỏng. Tuy vậy, một vài
người Mỹ không bằng ḷng v́
một điểm duy nhất: giáo sư
Vũ Văn Mẫu là người di cư.
Lập trường của ông Mẫu lại
không rơ rệt, ông không được
ḷng tin cậy của Phật giáo,
cũng như các nhà "lănh đạo
mới", đồng thời một số người
khác lại coi giáo sư Mẫu như
một người có trách nhiệm về
sự ám sát tinh thần
(Assassinat Moral) đối với
chế độ của Ngô Đ́nh Diệm.
Theo giới am tường chính sự
tại Hội đồng Quân nhân cách
mạng th́ ngay các tướng lănh
cũng "lờ mờ" không biết ai
sẽ được chỉ định làm tân Thủ
tướng và nhiều vị tướng
trong Hội đồng cho đến phút
chót mới biết được tin ông
Thơ được chỉ định. Trọn ngày
3-2, giới chức Mỹ vẫn chưa
dứt khoát "khuyến cáo" tướng
Minh trong việc chỉ định ai.
Ngoại trưởng Dan Rusk cũng
như Thứ trưởng Harriman dĩ
nhiên trong cương vị của
ḿnh không thể bày tỏ ư định
nào. Nhưng qua những cuộc
đàm đạo với Đại sứ Lodge và
một số chính khách họ cũng
đă hiểu được rằng: Người Mỹ
muốn có một Thủ tướng thuộc
tư tưởng "ôn hoà trung dung"
, được hiểu theo nghĩa thư
lại bàn giấy. Giới chức Mỹ
muốn được tiếp tục đều đặn
như không có chuyện ǵ xảy
ra, nghĩa là ông Diệm chết
là chuyện riêng, c̣n chế độ
của ông th́ vẫn cần phải duy
tŕ, miễn sao thuận với t́nh
cảnh mới . Sau này, người ta
cho rằng, Đại sứ Lodge bị
Phật giáo cho vào mê hồn
trận và xỏ mũi và đồng thời
Mỹ cũng như Hội đồng Quân
nhân cách mạng đă bị chi
phối bởi áp lực rất mạnh mẽ
của phái Phật giáo. Sự thực
như thế này: Hội đồng quân
nhân cách mạng có thể chịu
sự chi phồi mạnh mẽ như vậy,
song ông Đại sứ Lodge th́
không . Cái vẻ bên ngoài th́
Đại sứ Lodge nghiêng hẳn về
phía Phật giáo của các
Thượng toạ Tâm Châu và Trí
Quang. Nhưng trong đường
hướng mới của Mỹ, ông Lodge
đă "lựa chọn" phía Phật giáo
Nam Việt (Mai Thọ Truyền).
Đơn giản v́ Phật giáo Nam
Việt trong quá khứ được coi
là hiền hoà, không có những
tham vọng chính trị, là một
tập thể tương đối thuần về
phương diện tôn giáo. Hơn
nữa phía Phật giáo Nam Việt
sau ngày 1/02/1963 đă tỏ ra
dè dặt hay đúng hơn là tách
khỏi các thầy Tâm Châu và
Trí Quang. Trong chiến thuật
giai đoạn th́ Đại sứ Lodge
phải đi với Phật giáo của
các thượng toạ Tâm Châu và
Trí Quang. Trong chiến lược
và từ cục bộ đến toàn bộ,
th́ ông Lodge không thể sử
dụng người của khối này
trong tư thế Thủ tướng Chính
phủ v́ đây được coi là khởi
điểm của lộ tŕnh mới. Do lẽ
đó, Đại sứ Lodge đă khuyến
cáo tướng Minh nên t́m người
này người nọ. ông Lodge rất
khôn khéo không chỉ rơ đích
danh ai nhưng với một số
tiêu chuẩn nào đó tướng Minh
có thể t́m ngay được vị Thủ
tướng hợp với ư ông lại hợp
với ư Đại sứ Mỹ.
---------------------------------------------------------------------------------------------
(1)Có tiếng, nổi tiếng
TUỒNG MỚI KÉP CŨ
Người đó, như lịch sử đă
ghi: Theo Hiến ước tạm thời
số 1 : tướng Minh với tư
cách Quốc trưởng đă chỉ định
ông Nguyễn Ngọc Thơ thành
lập Chính phủ; Sắc lệnh lại
do chính ông Nguyễn Ngọc Thơ
kư đóng dấu. Thành phần gồm
14 Tổng Bộ trưởng chia ra 4
sắc thái rơ rệt: 1. Chuyên
viên như kỹ sư Trần Ngọc
Oánh, Phạm Hoàng Hồ, 2.
Chính trị gia không "ưa" chế
độ eũ (nhưng lại có ít nhiều
liên lạc bí mật) là giáo sư
Âu Trường Thanh, 3. Tướng
lănh gồm 3 vị được coi là
thân cận của tướng Minh. 4.
C̣n lại là các vị thuộc chế
độ cũ từng là then chốt
trong guồng máy của chế độ
đó (từng là Tổng thư kư Phủ
Tổng thống như ông Nguyễn
Thành Cung đến kỹ sư Trần Lê
Quang là một chuyên viên
được Tổng thống Diệm thương
yêu và coi như người nhà.
Một vài vị khác được coi là
chế độ cũ nếu hiểu như một
công chức và quân nhân của
mọi triều đại) . Những Tổng
Bộ trưởng là người của chế
độ cũ tuy được xài tạm, song
trước hết phải là người của
ông Thơ. Ông Thơ có thể chấp
nhận một cách vui vẻ nếu
cộng sự là “con cái" của
Tổng thống Diệm song ông sẽ
quay mặt đi và coi như kẻ
đáng ghét nhất nếu ai đến
với ông mà trước lại là con
người được ông Ngô Đ́nh Nhu
tin cẩn trọng dụng. Đó cũng
là đầu mối của tấn thảm kịch
"của chế độ Ngô Đ́nhDiệm".
Việc chỉ định ông Nguyễn
Ngọc Thơ được làm Thủ tướng
mặc dầu người Mỹ đă lượng
tính được sự bất hợp tác của
Phật giáo và các đảng phái,
nhất là ông Thơ lại không
thể t́m được cảm t́nh đối
với đa số phật tử Hoà Hảo...
Tất nhiên là Cao Đài cũng
không ủng hộ. Biết như thế
người Mỹ vẫn tiến hành và
tích cực khuyến cáo tướng
Minh. Bởi v́ đơn giản là
người Mỹ đă có sẵn một giải
pháp mà ông Cabot Lodge đang
bỏ túi. Tạm thời trong lúc
chuyển tiếp phải có ông Thơ,
cũng như khi "giải pháp " ấy
được ném ra tức là lúc tướng
Nguyễn Khánh được đem lên
diễn đàn th́ ông Lodge vẫn
phải khuyến cáo tích cực để
tướng Minh đóng vai tṛ "tạm
thời trong lúc chuyển tiếp".

Dương Văn Minh (Big
Minh)
CHẾ ĐỘ DIỆM KHÔNG DIỆM
Dù không được ḷng ai, dù bị
mang tiếng đă làm sống lại
một chế độ " Diệm không
Diệm" song sự lựa chọn ông
Thơ có nhiều cái hợp lư: 1-
ôngThơ là bạn tri kỷ của
tướng Minh. 2- ông Thơ đă
quen việc trong 9 năm của
chế độ cũ. 3- ông Thơ trước
sau vẫn là Đốc phủ sứ với
tất cả ư nghĩa của giới này
trước năm 1945. ông Thơ dầu
sao vẫn là một địa chủ nên
người Mỹ có đủ yếu tố để tin
tưởng vào lập trường địa chủ
của ông, 4- ông Thơ tuy làm
quan lại thời Pháp nhưng
không phải là mẫu người được
Pháp đào tạo từ truyền thống
văn hoá Pháp như ông Ngô
Đ́nh Nhu hay kỹ sư Trần Văn
Vân v.v.. Đó là điều mà
người Mỹ rất ngại.
Có một dư luận trong chính
giới thân Mỹ lúc ấy là: Nếu
không có sự thảm sát anh em
Tổng thống Diệm th́ Đại sứ
Trần Văn Chương đă trở về
nước và ông có nhiều hy vọng
là Thủ tướng. Song v́ con rể
ông bị ám sát, một nhạc gia
tất nhiên không thể làm như
vậy (đây chỉ là dư luận được
tung ra để thăm ḍ tin tức
vào lúc ấy. Cũng nên ghi
thêm, ngày 28-10-1963 nguyên
Đại sứ Trần Văn Chương đă
lên tiếng công kích nặng nề
chế độ Tổng thống Diệm và
con rể ông).
Kể từ ngày 4-2, phe các
tướng Minh, Đôn, Kim, Xuân,
Đính trở thành ngũ hổ, song
sự phân hoá trong Hội đồng
Quân nhân cách mạng càng trở
nên rơ rệt, mỗi bên đều đề
cao cảnh giác. Một số các
đơn vị tham dự đảo chính
được điều động ra khỏi đô
thành. Một số sĩ quan cấp tá
như Phạm Ngọc Thảo bị theo
dơi rất sát sao, Đại tá Đỗ
Mậu được thăng Thiếu tướng,
nhưng vô quyền (sau được bổ
nhiệm là Tổng lănh sự miền
Nam Việt Nam tại Hồng Công).

Trung tá Phạm Ngọc Thảo
- Cán bộ t́nh báo của ta
đă tham gia vào vụ đảo
chính
Tuy mấy tướng lănh như tướng
Xuân, Đôn, Đính, Kim... đang
có thực quyền sinh sát song
sự hiện diện của một vài
tướng lănh cũng như sự xuất
hiện của cựu Trung tá Trần
Đ́nh Lan đă làm cho giới
chức Mỹ không hài ḷng.
Người Mỹ không những "kỵ"
văn hoá Pháp mà "kỵ” cả
những ai bị nghi ngờ "người
của Pháp". Như thế ta cũng
hiểu được rằng, trong lúc mà
Mỹ tin tưởng sẽ chiến thắng
Cộng sản bằng con đường và
nhận thức của Mỹ, th́ ở đây,
Mỹ có thể chấp nhận Cộng sản
nằm vùng (nếu sự nằm vùng có
lợi thế về phía Mỹ) song
không thể chấp nhận sự hiện
diện và thao túng của Pḥng
Nh́ cũng như các tay phản
gián Pháp.
Đó cũng là lư do khiến Trần
Đ́nh Lan cũng như Vương Văn
Đông đă phải cuốn gói ra đi
mặc dù hai người này đă có
thành tích "diệt Cộng" khét
tiếng những năm 1954 (Thực
ra th́ cơ quan CIA Mỹ cũng
biết rơ rằng, Trần Đ́nh Lan
hay Vương Văn Đông sẽ không
làm nên tṛ trống ǵ nhưng
họ lại dùng hai sĩ quan thân
Pháp này như một bằng chứng
cho "hồ sơ" được gọi là
trung lập của bộ ba Minh,
Kim, Xuân và bằng chứng đó
là một phần "luận cứ" để
biện minh cho cuộc chỉnh lư
của tướng Khánh).
BÀN TAY MÓC NỐI
Khi Phó Tổng thống Thơ được
chỉ định làm Thủ tướng và
thành lập Chính phủ, đồng
thời là lúc các đảng phái,
Phật giáo cũng tiêu tan hy
vọng mà họ vẫn hướng về Hội
đồng Quân nhân cách mạng,
coi như đấy là nơi sẽ có
nhiều phép lạ xây dựng cơ đồ
cho Việt Nam.
Thủ tướng Thơ trả lời báo
chí là Thủ tướng đă có ư
định từ chức Phó Tổng thống
từ dạo tháng 9 tháng 10 . .
. nhưng Trung tướng Dương
Văn Minh cản ngăn (?) v́ sợ
hỏng chuyện. Thủ tướng Thơ
cũng cho biết ông có biết
những kế hoạch lật đổ Tổng
thống Diệm. Sau này, một vài
người bạn rất thân của Thơ
cho rằng, đó chỉ là cách Thơ
biện minh cho sự hiện diện
của ḿnh khi được "cách
mạng" trọng dụng. Sự thực,
trước ngày 1-2-1963 kể cả
bạn bè thân của Phó Tổng
thống Thơ chưa bao giờ thấy
ông ngỏ ư từ chức Phó Tổng
thống, ông Thơ chỉ thực sự
bị buộc từ chức Phó Tổng
thống khi cuộc đảo chính
thành công. Vai tṛ của ông
Nguyễn Ngọc Thơ đă liên hệ
như thế nào đối với Tổng
thống Diệm và Trung tướng
Dương Văn Minh sau này ?
Trước hết, tướng Minh khi
c̣n là Trung tá đă được ông
Nguyễn Ngọc Thơ đề đạt với
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm
(l954)và cũng nhờ sự đề đạt
của ông Thơ nên ông Diệm đă
một thời hoàn toàn tin cậy
tướng Minh. Khi Diệm c̣n
hoạt động ở trong bóng tối,
Huỳnh Hữu Nghĩa được coi là
"cán bộ " giao liên tin cẩn.
Chính ông Nghĩa đă có công
"móc nối"giữa anh em Tổng
thống Diệm và Trung tướng
Trịnh Minh Thế. Đồng thời
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm
quen biết Thơ lại là người
móc nối Trung tá Dương Văn
Minh (1954) với Diệm. Đó
cũng là cái"ṿng vo thân
hữu” trong giới chính trị
miền Nam. Nhờ cái “ṿng vo
thân hữu” đó, nhiều khi
không cần tài cho lắm, song
nếu có anh em đưa đẩy đề đạt
th́ vấn đề tạo lập công danh
kể như chuyện đi du ngoạn
lại trúng số mà thôi.
ĐỊA PHƯƠNG
Khi Ngô Đ́nh Diệm về nước
chấp chính, có hai vấn đề mà
Diệm quan tâm bậc nhất về
phương diện nội bộ: 1-Yếu tố
nhân sự và vấn đề nhân sự
miền Nam. 2- Thành phần lănh
đạo trong quân đội. Ngô Đ́nh
Nhu mấy năm đầu vẫn quan
niệm dứt khoát rằng: Bắc-Nam
–Trung không thành vấn đề.
Điều quan trọng họ có làm
được việc không. Song Diệm
tế nhị hơn ông em điều này:
"Phải dùng người sinh quán
tại miền Nam ít nhất cũng
phải theo một tỷ lệ tương
đối so với dân số nam phần".
Cũng bởi lư do đó, ngay từ
buổi đầu, ông Nguyễn Ngọc
Thơ đă được Tổng thống Diệm
lưu tâm đặc biệt ông Thơ lại
có một quá khứ "hành chánh"
hợp với nhăn giới của Diệm
v́ Thơ là một Đốc phủ sứ.
Theo quan niệm của Diệm th́
đó là một giới "biết việc"
cho nên không chỉ một Đốc
phủ sứ Nguyễn Ngọc Thơ được
trọng dụng mà nhiều Đốc phủ
sứ được Diệm đặc biệt cất
nhắc, như trường hợp Đốc phủ
sứ Hải, Đốc phủ sứ Công. Ngô
Đ́nh Diệm lại dùng Thơ như
một tâm điểm để móc nối với
hàng ngũ quan lại và địa chủ
lại miền Nam. Trong hai năm
đầu (l954-1956) Thơ đă thành
công trong nhiệm vụ này. Uy
tín của Thơ đối với Diệm
ngày càng vững chắc, nhất là
Thơ được coi như người có
công lớn trong vụ tướng Hoà
Hảo Ba Cụt cùng các vụ dàn
xếp với mấy nhóm Hoà Hảo
khác (1). Trong chế độ Ngô
Đ́nh Diệm có hai người được
Diệm kính nể đó là Vũ Văn
Mẫu và Nguyễn Ngọc Thơ.

Thiếu tướng Nguyễn Giác
Ngộ, lực lượng Ḥa Hảo
ly khai tuyên bố đầu
hàng chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm
-------------------------------------------------------------------------------------------------
(1)Nhóm Ḥa Hảo Trần Văn
Soái tự Năm Lửa, Lâm Thành
Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ
Riêng ông Thơ, Diệm thường
xưng hô là “Ngài". Diệm
thường nói với Thơ đại khái
như: " Ngài thấy thế nào...
Ngài đi thế tôi giùm việc
này..." Trong những lúc
không có mặt Thơ, ông Diệm
vẫn thường: Một tiếng Phó
Tổng thống, hai tiếng Phó
Tổng thống. Cụ Phó như thế,
Ngài như vậy. Rất ít khi
Tổng thống Diệm gọi Thơ bằng
“ông".

Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn
Ngọc Thơ.
Về phía quân đội, khi về
nước chấp chánh, Diệm coi
như “tay trắng" không - có
một tên quân, không có một
tướng tá nào được coi là
"người của ḿnh". .Trong lúc
hoàn toàn thiếu người tin
cẩn trong giới quân sự,
Nguyễn Ngọc Thơ đă đề đạt
Trung tá Dương Văn Minh. Tất
nhiên là Diệm rất hoan hỉ
chấp nhận. Từ đó Trung tá
Minh được coi là sĩ quan cấp
tá được Diệm yêu mến tin cẩn
nhất. Trung tá Minh lần lượt
được trao phó các chức vụ
quan trọng như Tư lệnh chiến
dịch Rừng Sát và Chiến dịch
b́nh định tại miền Tây. Diệm
vẫn thường coi tướng Minh là
một thứ " homme de
bataille"... Sau vụ chiến
thắng Rừng Sát, Đại tá Minh
dẫn đầu đoàn quán tiến về
Sài G̣n đi trên đại lộ
Catinat rồi về dinh Độc lập.
. . trước bao nhiêu tiếng
hoan hô vang dậy. Báo chí
lại được dịp thổi phồng, tán
dương rất bay bướm. Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm buổi
sáng hôm ấy đă đứng sẵn ở
thềm dinh Độc Lập để dón
mừng "Người anh hùng Rừng
Sát". Sau này Diệm thăng Đại
tá Minh lên Thiếu tướng.
TƯỚNG KHÔNG QUÂN
Xét về hai con người, th́
một Phó Tổng thống Thơ và
hai là tướng Dương Văn Minh,
th́ tướng Minh được Tổng
thống Diệm trọng hậu ngay từ
buổi đầu và nổi bật một cách
dễ dàng. Minh trở thành ngôi
sao sáng trong hàng tướng tá
kể từ đầu năm 1955. C̣n Thơ
phải đợi đến năm 1956 mới
được bổ nhậm Phó Tổng thống,
mặc dầu đă tham gia Chính
phủ đầu tiên của Tổng thống
Diệm với tư cách Bộ trưởng
Nội vụ (7-7-1954) song vai
tṛ của Thơ c̣n lu mờ và chỉ
như một viên chức phụ tá Thủ
tướng. Tướng Minh càng ngày
càng được Tổng thống Diệm
tín nhiệm và yêu mến nhờ hội
đủ được mấy điều kiện mà
Diệm cho là xứng đáng theo
hai tiêu chuẩn. 1- Tướng
Minh có vóc dáng một tướng
lănh đường hoàng. 2- Tướng
Minh không có những vụ lem
nhem về vấn đề "vợ nọ con
kia hay bài bạc". Hơn nữa,
do sự kính mến Thơ nên Diệm
cũng mến trọng Minh.
Khi thành lập Bộ Tư lệnh
hành quân Minh được chỉ định
là Tư lệnh, lúc ấy Minh đă
đeo ba sao và nguyên là Tư
lệnh Quân khu Thủ đô (1).
Giới thân cận với Diệm cho
rằng Diệm đặc biệt lưu tâm
đến Bộ Tư lệnh hành quân nên
đề cử tướng Minh. Diệm coi
đó là một tín nhiệm đặc
biệt. Diệm rất mù mờ về lĩnh
vực quân sự, hai tiếng "hành
quân" đối với Diệm là một sự
trọng đại. Khi chỉ định
tướng Minh, Diệm đă cho
rằng: Chỉ có tướng Minh mới
xứng đáng, v́ Tổng thống vẫn
cho rằng tướng Minh là một
“homme de bataile".
Tuy vậy, tướng Minh lại
không mấy ham ở chức vụ
"không quân" này.
Tướng Minh thường tỏ ra
không thiện ư với vị Trung
tướng Tư lệnh Quân khu Thủ
đô (trước ngày 11-2-1960) .
Tướng Minh vẫn phê b́nh công
khai viên Trung tướng này
"nhảy dù - đi tắt "..
Trước vụ 2-2-1960, chế độ cũ
không hề thắc mắc tướng
Ḿnh, v́ coi ông như người
thân tín của "ông Diệm".
Nhưng sau ngày 2-2-1960, v́
tướng Minh tuyên bố đứng
trung lập giữa chính quyền
và phe đảo chánh (2) rồi lại
có báo cáo là trước ngày đảo
chính tướng Đôn có vào Sài
G̣n và gặp tướng Minh cũng
như tướng Kim ở ngay Bộ Tư
lệnh Hải quân, đó cũng là
một lư do làm tướng Minh xa
dần chế độ.
------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Tức Sài G̣n.
(2) Báo Joumal Extrême Orent
(13-11-1960)
NƯỚC VỚI LỬA
Giữa tướng Minh và ông Ngô
Đ́nh Nhu ít có sự liên lạc.
Người thân cận nhất của Ngô
Đ́nh Nhu hiểu rơ hơn ai hết
là Nhu để ư tướng Minh qua
một vài biến cố quan trọng,
như vụ Rừng Sát, chiến dịch
thanh toán các lực lượng vơ
trang Hoà Hảo, vụ đảo chính
hụt 2-2-1960, mặc dù Nhu có
đọc trên báo Journal Extrême
Orient thấy tường thuật
tướng Minh tuyên bố "Je
reste neutre" Nhu cũng làm
thinh. Thực ra th́ Nhu không
để ư đến tướng Minh. V́ có
"máu say" chính trị nên
tướng lănh như tướng Minh
dưới mắt ông cũng chỉ là nhà
quân sự b́nh thường. Nhu cho
rằng tướng Minh có tài chiến
đấu nhưng ở một mức nào thôi
chứ không phải là một chiến
lược gia quân sự. Nhu bắt
đầu để ư tướng Minh kể từ
tháng 9/1963, khi có những
tin đồn về một cuộc đảo
chính của tướng lănh.

Ngô Đ́nh Nhu
Nhưng tại sao tướng Minh lại
"kỵ" ông Nhu và cho rằng ông
Nhu "ghen ghét" với ḿnh ?
Theo báo chí có một phần lư
do thầm kín như thế này: Sau
vụ thanh toán B́nh Xuyên tại
Sài G̣n và Rừng Sát, dân
chúng loan truyền "huyền
thoại" nhằm suy tôn tướng
Minh, là tướng Minh tịch thu
được bao nhiêu vàng bạc đều
đem nộp cho Tổng thống. Lại
có một nguồn tin khác trong
giới chỉ huy quân sự tại Sài
G̣n dạo ấy là, khi tướng
Minh là Tư lệnh hành quân đi
dẹp B́nh Xuyên, tịch thu
được rất nhiều "bao bố” giấy
bạc. Nhiều bao bạc bị rơi
xuống nước nên ướt đẫm . Số
giấy bạc này được mang về
phơi khô và “ủi" cho phẳng
phiu ngay tại dinh Tỉnh
trưởng Chợ lớn.
Sau đó, không hiểu được đem
đi đâu và chia phần cho
những ai ? Có điều rơ rệt là
chính quyền hồi đó không
nhận được một đồng xu nào
trong số bạc lớn này nếu có.
Tuy vậy, chính quyền cũng
không thấy lên tiếng về vụ
tướng Minh đem nộp vàng bạc
của B́nh Xuyên cho Tổng
thống Diệm cũng như số bạc
lớn trên đây nếu có th́ bỏ
vào túi riêng của những ai ?
Phải chăng v́ thế mà có sự
tránh né.
Một lư do khác nữa khiến
tướng Minh "kỵ" ông Nhu, đơn
giản v́ Phó Tổng thống Thơ
cũng "kỵ" ông Nhu. Tuy được
Tổng thống Diệm kính nể song
Thơ lại tỏ ra không hài ḷng
với ông Nhu. Thường ngày,
Thơ vẫn phải vào dinh nhưng
chỉ vào thẳng văn pḥng Tổng
thống, đệ tŕnh công việc có
khi hàng tháng mới gặp ông
Nhu một lần và hai người
cũng chỉ trao đổi vài câu
thăm hỏi xă giao. Ông Nhu
th́ cho rằng Thơ không biết
ǵ về chính trị và cái khả
năng hành chánh của Thơ cũng
đă quá lỗi thời.
Nhưng ông anh kính mến Thơ
th́ ông em cũng phải kính
mến... Dưới mắt ông Nhu, Phó
Tổng thống Thơ cũng là người
"được việc", nhất là chịu
khó đại diện cho Tổng thống
trong các buổi hội hè, lễ
nghi. Sự thực Nhu không bao
giờ hỏi han Phó Tổng thống
Thơ về các việc chính trị,
Nhu cho rằng Thơ không có
khả năng trong lănh vực này.
Ông Nhu không ghét ông Thơ
trái lại tỏ ra có thiện cảm,
nhất là ông Thơ lại khôn
khéo và luôn luôn tỏ ra
khiêm tốn b́nh dị (Tuy là
Phó Tổng thống nhưng mỗi lần
Thơ đi đâu đều im ĺm...
không kèn trống ồn ào, không
cả xe hộ tống, ông lại có
thói quen ngồi cạnh bên tài
xế) .
Vào năm 1957, khi tiễn chân
Tổng thống Diệm đi công du
tại Mỹ, Phó Tổng thống Thơ
gặp ông Nhu tại Phi trường
Tân Sơn Nhất đă nói nhỏ với
ông Nhu: "Tôi không hiểu tại
sao ông bác sĩ Tuyến cứ cho
người theo dơi tôi hoài".
Mấy hôm sau, ông Nhu nói lại
việc đó với Tuyến "Làm thế
nào mà ông Phó Tổng thống
lại phàn nàn như vậy". Bác
sĩ Tuyến rất đỗi ngạc nhiên
v́ không cử người làm việc
đó. Và cũng không nghĩ đến
làm việc đó.

Ngô Đ́nh Diệm đến Mỹ năm
1957.
TỚI LUI ĐÚNG LÚC
Ông Nguyễn Ngọc Thơ đă có
một hành động hết sức đẹp
trong dịp cải tổ Chính phủ
ngày 24-9-1954 (với sự tham
gia rộng răi của các giáo
phái Cao Đài, Hoà Hảo) hành
động đó như sau: ông Thơ
nguyên Tỉnh trưởng Long
Xuyên vốn là khu vực được
coi như lănh thổ của Hoà Hảo,
giáo phái này đă từ lâu tỏ
ra “thiếu thân thiện", nếu
không nói là hiềm khích đối
với ông Thơ. Sau khi trở
thành Bộ trưởng Nội vụ của
Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, ông
Thơ lại càng bị Hoà Hảo nghi
ngờ.Trong lần cải tổ Chính
phủ vào tháng 9 kể trên, phe
Hoà Hảo Trần văn Soái "lên
tiếng" với Ngô Đ́nh Nhu rằng:
Họ chỉ tham gia Chính phủ
với điều kiện này điều kiện
kia trong đó có điều kiện
không chấp nhận sự có mặt
của Thơ trong thành phần nội
các mới.
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm
phản đối với lư do, từ ngày
ông Thơ lên làm Bộ trưởng
Nội vụ cho đến lúc ấy, chưa
có một lầm lỗi nào, trái lại
ông đă làm việc một cách tận
tâm đắc lực. Ngô Đ́nh Diệm
nhất quyết không nhượng bộ
phe Trần Văn Soái về điểm
này. Khi hai bên Chính phủ
và Hoà Hảo c̣n đang tranh
căi, ông Thơ biết sự việc
này, chính ông nói với Diệm
xin tự ư rút lui để Diệm xử
trí với phe Hoà Hảo.
V́ biết phe Hoà Hảo coi Thơ
như kẻ thù, Ngô Đ́nh Diệm
t́m cách để Thơ “vắng mặt"
một thời gian, đó cũng là ư
muốn của ông. V́ vậy, Thơ
được bổ nhiệm làm Đại sứ cho
Chính phủ miền Nam Việt Nam
của Ngô Đ́nh Diệm tại Nhật
Bản. Vào tháng 4-1955 sau
khi Chính phủ Liên hiệp quốc
gia tan vỡ, Trần Văn Soái,
Lương Trọng Tường từ chức...Hoà
Hảo chống lại Chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm và miền Tây mịt mờ
khói lửa, ông Đại sứ Nguyễn
Ngọc Thơ được gọi về nước,
vẫn giữ nguyên chức vụ Đại
sứ, song ông được Tổng thống
Diệm giao cho nhiệm vụ đặc
biệt là giải quyết tất cả
những vấn đề chính trị tại
miền Tây. ông Thơ được coi
là đại diện Thủ tướng Chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm trong việc
kiểm soát chiến dịch b́nh
định và thu xếp vụ Hoà Hảo.
Sau khi vụ Hoà Hảo được coi
như là thanh toán xong, ông
Thơ trở lại Nhật, đó cũng là
ư muốn của ông.
Thực ra th́ ông Thơ muốn "làm
mờ" vai tṛ của ḿnh trong
vụ Hoà Hảo nhất là vụ bắt
tướng Hoà Hảo Lê Quang Vinh
mà ông Thơ là người có trách
nhiệm. Ông trở lại Nhật mặc
dù Diệm có ư giữ ông ở lại
nước nhận một chức vụ quan
trọng hơn.

Tướng Ḥa Hảo Lê Quang
Vinh (Ba cụt) trong hầm
giam tại Cần Thơ.
NGÀY TRỞ VỀ
Tháng 3-1956, tướng Hoà Hảo
Trần Văn Soái hợp tác với
Chính phủ, tướng Dương Văn
Minh họp báo nói về trường
hợp quy thuận này, chiến
dịch miền Tây được coi như
kết thúc. Tướng Minh cho
biết, trong chiến dịch Hoàng
Diệu, Soái đă tịch thu được
20 ki lô vàng, 16,5 triệu
tiền mặt, số tiền này Soái
đem nộp cho Chính phủ và
dùng xây cất một Cô nhi
viện. Đồng thời 56 sĩ quan
và binh sĩ Hoà Hảo đă về hợp
tác với Chính phủ trong một
buổi lễ tại Cái Vồn
(8-3-l956). Vấn đề Hoà Hảo
miền Tây coi như xong. ông
Nguyễn Ngọc Thơ lúc ấy mới
công khai tham chánh và được
bổ nhiệm là Bộ trưởng Kinh
tế thay thế Trần Văn Mẹo
(16-5-1956).

Tướng Trần Văn Soái (Năm
Lửa) thời oanh liệt
Tuy hai ông Diệm, Nhu muốn
Thơ nắm Bộ Nội vụ v́ Diệm
coi đó là sở trường của ông
Thơ, nhưng ông Thơ không
nhận, chỉ thích Bộ kinh tế
từ đó Thơ chính thức trở
thành người của chế độ Diệm
. Trong buổi tiếp tân vào
tối ngày 26-10-1955, Thơ
xuất hiện bên cạnh Tổng
thống Diệm với tư cách Phó
Tổng thống. Buổi tiếp tân
hôm ấy,trong bộ nhưng phục
mới của cấp tướng, Thiếu
tướng Minh được mọi người
chú ư đặc biệt, v́ ông đă
trở thành "con cưng" của chế
độ Ngô Đ́nh Diệm và đang
được Tổng thống thương yêu.
Bạn bè của Phó Tổng thống
cũng lên vù vù từ đó.
NỖI BUỒN NHO NHỎ
V́ không mấy khi được ông
Nhu tham khảo về chính sự,
Phó Tổng thống Thơ mỗi ngày
càng xa cách ông Nhu với mặc
cảm rằng, ông Nhu chỉ là một
Cố vấn. Đối với công quyền,
ông không có một quyền hành
nào, v́ cố vấn không phải là
một "titre oflciel" (1), phó
Tổng thống Thơ mới là nhân
vật số 2. Do đó ông phải hơn
ông Nhu và sẽ không cần biết
ông Nhu, chỉ cần biết Tổng
thống. Tuy vậy, mỗi lần gặp
ông Nhu, Phó Tổng thống Thơ
vẫn mềm mỏng, khôn khéo và
tỏ ra rụt rè. Tuy bên trong,
có lẽ Phó Tổng thống Thơ vẫn
không được hài ḷng do một
số những bất măn nào đó, có
khi chỉ là chuyện rất tầm
thường.Thí dụ như vụ Thiếu
tá Đỗ Kiến Nhiễu, Tỉnh
trưởng Long Xuyên (1957).
Thiếu tá Nhiễu được coi như
người thân của gia đ́nh Phó
Tổng thống Thơ và được ông
Thơ đề bạt làm Tỉnh trưởng
nơi quê hương ḿnh. Ông
Nhiễu làm Tỉnh trưởng tỉnh
này đă khá lâu. Sau v́ một
vụ "x́-căng-đan-t́nh-ái"
Nhiễu bị mất chức, v́
x́-căng-đan này đă làm sôi
nổi dư luận miền Tây. Sự vụ
là: Một sĩ quan cao cấp của
Hoà Hảo bị bắt, ông ta có
một cô vợ trẻ khá nhan sắc...Nghe
đâu trong một dịp ông Nhiễu
gặp mặt, mụ này đă làm ầm
lên, gây x́-căng-đan lớn. .
.không hiểu trong vụ này Hoà
Hảo có âm ưu hạ uy tín ông
Nhiễu hay không ?
Ông bị thuyên chuyển và
Thiếu tá Nguyễn Văn Minh
được thay thế, Thiếu tá Minh
là một sĩ quan trẻ, cũng có
ít nhiều liên hệ với Phó
Tổng thống Thơ. Trước khi
làm Tỉnh trưởng Long Xuyên,
Minh là Thanh tra Bảo an tại
mấy tỉnh vùng Hậu Giang. Sau
vụ này, Phó Tổng thống
Nguyễn Ngọc Thơ tỏ ra phiền
muộn không ít. Thiếu tá Minh
bị "phe" của Thơ nghi ngờ là
người của ông Nhu. Đó cũng
là lư do sau ngày 1-2-1963
Nguyễn Văn Minh bị "hành hạ"
khá nhiều trước khi đi làm
Tư lệnh sư đoàn 21 đặc biệt
(1966).
C̣n một chuyện "phiền muộn"
khác nữa là năm 1957 Thiếu
tá Nhan Minh Trang bị mất
chức Tỉnh trưởng Rạch Giá.
Phó Tổng thống Thơ không nói
ra nhưng coi đó như một điều
phiền muộn.
Thiếu tá Trang gọi Phó Tổng
thống Thơ là "dượng ruột" (sau
đảo chính được thăng Đại tá
và từng là Chánh văn pḥng
của Thủ tướng Thơ, sau làm
Tỉnh trưởng Gia Định ). Về
vụ này, chính đương sự là
Thiếu tá Trang không lấy ǵ
làm bất măn, v́ lỗi không do
ông mà do sự "lem nhem" của
ông Trưởng ty Quan thuế và
sự không khéo của chính
quyền khi lựa chọn người
thay thế, đă không hỏi ư Phó
Tổng thống Thơ, v́ Thơ vẫn
cho rằng ḿnh rất am tường
dân miền Tây, nhất là 3 tỉnh
Châu Đốc, Rạch Giá, Long
Xuyên. Đó cũng là một điều
làm Thơ không hài ḷng,
chính quyền hồi đó đă không
hiểu tâm lư dân địa phương,
nên thay v́ bổ nhiệm một
Tỉnh trưởng sinh trưởng tại
miền Tây th́ lại cử Trung tá
Hoàng Lạc là người Bắc di cư.
Kinh nghiệm cho biết phàm
những tỉnh miền Đông hay
miền Tây đă có một sắc thái
đặc biệt th́ chính quyền
không bao giờ được bổ nhiệm
một ông Tỉnh trưởng là người
Bắc hay người Trung .Có thể
chính quyền hồi đó cho rằng
Rạch Giá với khu định cư Cái
Sắn phải gắn bó chặt chẽ với
khối dân định cư th́ Tỉnh
trưởng là người Bắc sẽ thuận
tiện hơn. Cũng cần phải ghi
nhận: Thiếu tá Nhan Minh
Trang rất có công lao trong
sự thành lập khu dinh điền
Cái Sắn.
Dù vậy đă tạo nên một số ngộ
nhận, nhất là Trung tá Lạc
trước khi làm tỉnh trưởng
lại là Tư lệnh một Lữ đoàn.
--------------------------------------------------------------------------------
(1) Chỉ người đứng đầu cơ
quan.
NGỒI CHƠI XƠI NƯỚC
Tuy nhiên, sự việc không đơn
giản như vậy. Đối với ông
Thơ Chính quyền "của ông"
lại gây cho ông một sự hiểu
lầm to lớn khác. Khi Chính
phủ cải tổ ngày 28-5-196l,
ông Thơ bị mất chức Bộ
trưởng Kinh tế cho dù ông
được nâng lên hàng Bộ trưởng
Đặc nhiệm phối hợp phát
triển kinh tế. Nhưng ông Thơ
cho rằng chức đó chỉ "ngồi
chơi xơi nước"... ông đă
hoàn toàn mất thực quyền về
kinh tế. Tại một quốc gia
tiến bộ, và trong một chế độ
tiến bộ th́ người lănh đạo
phải là người hoạch định và
phối hợp kế hoạch chứ không
thể là người chỉ biết cúi
đầu thi hành kế hoạch. Nhưng
chậm tiến như miền Nam Việt
Nam th́ người "lănh đạo"
không chịu như vậy họ chỉ
thích đóng vai tṛ "thừa
hành" để được thượng cấp sai
khiến.
Từ một tâm lư lănh đạo như
vậy, nên chức Bộ trưởng Đặc
nhiệm phối hợp đă chả "nước
nôi" ǵ. Hơn nữa, người thay
ông Thơ lại quá trẻ tức ông
Hoàng Khắc Thành (em kỹ sư
Hoàng Kinh, tốt nghiệp cao
học thương mại) . Nhất là
ông Thành lại thuộc giới
khoa bảng, mới hồi hương.
Trong khi đó ông Thơ tuy là
Đốc phủ sứ song không phải
là dân khoa bảng, ông Thành
lại là người Bắc và bị coi
là chân tay của Bộ trưởng
Nguyễn Đ́nh Thuần. Ông Thành
là người trẻ, có khả năng,
tính t́nh thẳng thắn, nhưng
lại vụng về trong thuật xử
thế cho nên ông Thơ cho rằng
ông Thành đi thẳng với phủ
Tổng thống về mọi vấn đề
kinh tế, qua mặt ông là phó
tổng thống.

Nội các Đệ nhất Cộng ḥa
(đứng đầu là Ngô Đ́nh
Diệmn (1) và Nguyễn Ngọc
Thơ (2))
Từ những sự kiện lặt vặt như
vậy đă tạo cho Phó Tổng
thống Thơ có mặc cảm bị tước
đoạt quyền hành và cho rằng
phe ông Nhu đă "chơi" ḿnh.
Khi Thơ không c̣n làm Bộ
trưởng Kinh tế th́ ông Ngô
Trọng Hiếu lại được cất nhắc
lên làm Bộ trưởng Công dân
vụ, một tay quán xuyến ba
ngành Thanh niên, Thông tin
và Công dân vụ (Thực tế chỉ
có Công dân vụ) . Ông Hiếu
được coi là người của ông
Nhu và mỗi ngày càng được
chế độ Ngô Đ́nh Diệm tin
dùng. Có lẽ đó cũng là lư do
khiến cho đôi bạn Thơ, Hiếu
mỗi ngày càng thêm xa cách
nhau.
Kể từ chiến dịch Rừng Sát uy
tín của tướng Minh mỗi ngày
một tăng lên trong Quân đội.
Phải công nhận rằng. guồng
máy tuyên truyền (Báo chí,
Đài phát thanh) của chế độ
cũ đă có công phát triển và
hào quang hoá "anh hùng Rừng
Sát", nhất là từ đêm liên
hoan tại vũ trường Pétrus Kư
(1956). Các đoàn thể đă
không tiếc lời ca tụng tướng
Minh và các chiến binh Rừng
Sát. Tướng Minh lại biết "tự
làm vắng mặt ḿnh" khi thấy
cần, ít ồn ào và trầm lặng
khó hiểu cho nên "huyền
thoại Rừng Sát, miền Tây"
lại càng có dịp thêu thùa
hoa lá trong Quân đội, nhất
là giới sĩ quan trẻ. Trước
năm 1963, Tướng Minh cũng
chỉ đủ dùng hàng ngày, không
nghèo, không giầu đó là ưu
điểm để tăng cường uy tín
của ông trong giới trẻ.
NGÀI NGOẠI TRƯỞNG
Như trên đă viết, nhiều
tướng tá nhờ sự đề bạt của
Phó Tổng thống Thơ nên suốt
9 năm cầm quyền của chế độ
Ngô Đ́nh Diệm đă được hưởng
mũ áo xênh xang. Điển h́nh
là ông Albert Nguyễn Cao.
Ông Cao khi là sĩ quan cấp
uư từng là sĩ quan tuỳ viên
của tướng Nguyễn Văn Hinh.
Đáng lư ra khi tướng Hinh
đại bại th́ Cao cũng khó
ḷng tiến thân được. Nhưng
rồi nhờ "uy thế” của ông
Nguyễn Ngọc Thơ, Thiếu tá
Cao từ trưởng khu dinh điền
Cao nguyên leo lên Tỉnh uỷ
trưởng dinh điền. Thời
Nguyễn Khánh được phong
Chuẩn tướng và là Đổng lư
Văn pḥng của tướng Khánh.
Bức tranh "vân cẩu” của thế
sự đă diễn ra bao nhiêu
"h́nh thù”, trong hào quang
một phút rồi cũng chỉ đen
tối trong một phút.
Đă có bao nhiêu huyền thoại
xây trên sự đổ vỡ và cái hèn
mọn nhất của con người. Cũng
nên nhắc lại nhân dịp nhắc
đến "huyền thoại" này "huyền
thoại" kia... trong 7, 8 năm
làm Ngoại trưởng th́ giáo sư
Vũ Văn Mẫu cũng là một huyền
thoại. Mẫu v́ được Diệm kính
nể, cho nên mọi người cũng
kính nể, có khi đến độ "
thần thánh" nhà trí thức đại
khoa bảng này.
Giáo sư Mẫu là một luật gia
uyên thâm (Thạc sĩ Tư pháp,
giáo sư thực thụ của Đại học
Luật khoa Sài G̣n ). Sự ăn
nói mạch lạc và cách đi đứng
đường hoàng của ông đă dễ
dàng thu hút được cảm t́nh
và sự kính nể của Diệm.
Nhưng ông Diệm "vỡ mộng" đau
điếng khi ông Mẫu "xuống
tóc", cho đến lúc sau này
Diệm vẫn biện minh cho ḷng
kính nể ông Mẫu "Ngài đàng
hoàng đấy, nhưng phải làm
thế cũng chỉ v́ Ngài nể bà
Ngoại trưởng " (ông Mẫu là
người thứ hai sau ông Thơ
được ông Diệm gọi là Ngài) .
Số là, giới cận thần tại
dinh Gia Long và Bộ Ngoại
giao lúc bấy giờ cho biết:
ông Ngoại trưởng rất "vị nể"
phu nhân do bà đau yếu luôn
luôn và bị mất một lá phổi.
Phu nhân cũng như gia đ́nh
Ngoại trưởng rất mộ đạo
Phật. Thế nhưng trong vụ
Phật giáo trước tháng 8,
Ngoại trưởng rất im lặng,
không hề tỏ một thái độ nào
có thể bất lợi cho vị Tổng
thống và chế độ mà ông phục
vụ.

Ông Vũ Văn Mẫu - Thủ
tướng của chính phủ
Dương Văn Minh, ngày
30/4/1975 tại Sài G̣n.
Buổi sáng ngày 20-8, Ngoại
trưởng Mẫu c̣n hướng dẫn tân
Đại sứ Anh đến tŕnh ủy
nhiệm thư tại dinh Gia Long.
Ông đă bày tỏ thái độ hoàn
toàn đồng ư với Chính phủ.
Song buổi chiều ngày 21-8
đột nhiên ông Ngoại trưởng
lại xuống tóc phản đối. Đó
là một hành động đẹp theo
tinh thẩn kẻ sĩ Phương Đông.
Nhưng dư luận cho rằng ông
phải làm thế v́ phu nhân làm
áp lực dữ dội quá. Sau này,
ông Nguyễn Đ́nh Thuần thuật
lại: "Nếu ông ấy xuống tóc
và xin đi hành hương, nhưng
đừng làmcái việc cố vận động
chạy chọt để đổi thật nhiều
dollars, ba bốn ngàn ǵ đó
th́ cũng c̣n coi được".ông
Thuần mà phê b́nh giáo sư
Mẫu th́ kể cũng hơi lạ (Theo
dư luận tại Viện Hối đoái
th́ phủ Tổng thống chỉ thị
viện này để giáo sư cựu
Ngoại trưởng được đổi 5.000
dollars). V́ tiếng súng đảo
chính bùng nổ, ông Thuần tuy
với tư cách Bộ trưởng Bộ
Quốc pḥng phụ tá Quốc pḥng
kiêm Bộ trưởng phủ Tổng
thống) song lại chuồn leï
nhất, đến nỗi trong dinh
không c̣n biết ông ở đâu để
liên lạc.
CHÁY NHÀ RA MẶT CHUỘT
Đêm mùng 1-2, ông Thuần và
ông Nguyễn Lương là hai Bộ
trưởng đến tŕnh diện tại
Hội đồng Quân nhân cách mạng
sớm nhất. Một vị tướng nói"
Cháy nhà mới ra mặt chuột.
Chế độ ông Diệm sụp đổ cũng
chỉ v́ có những Bộ trưởng
như vậy. Khi đến tŕnh diện
th́ rụt rè, khúm núm quá chả
bù với khi c̣n thét ra lửa".
Nhờ sự đầu hàng sớm như vậy,
cũng như sự rụt rè khúm núm,
sợ hăi Thuần và Lương được
quân đảo chính cho về nhà
thong dong. Ít lâu sau Thuần
qua Pháp, v́ vợ con đă ở sẵn
bên đó. C̣n Nguyễn Lương
được thong dong đến một năm
sau, thời tướng Khánh, ông
bị bắt v́ tội tham gia đảng
Cần lao. Thật là số mệnh an
bài...trước đó th́ chả sao.
ông Nguyễn Lương được đưa
vào khám Chí.Hoà hôm trước,
th́ hôm sau ông bị đưa lên
xe ra máy bay trục ra Côn
Đảo.
CÁI GAI CẦN NHỔ
Chính phủ Nguyễn Khánh kết
tội Nguyễn Lương là nhân vật
cao cấp của Đảng Cần lao quả
là bóp méo sự thật. Ông
Lương thuộc hàng quan lại
lớp cũ. Năm 1955, ông đă lên
đến ngạch Chưởng lư toà
Thượng thẩm. Khi giáo sư Vũ
Quốc Thông giữ Bộ Y tế và Xă
hội th́ ông Nguyễn Lương làm
Tổng Giám đốc Xă hội (Viên
Chánh văn pḥng của ông là
Hoàng Thế Phiệt sau trở
thành Nghị sĩ của Thượng
viện Đệ II Cộng hoà) - Khi
Nha Tổng Giám đốc Xă hội
tách khỏi Bộ Y tế và trực
thuộc Phủ Tổng thống th́ đây
là dịp ông Lương được gần
Tổng thống Diệm .
Nhờ tài ăn nói lưu loát và
am tường luật pháp, ông
Lương rất được Tổng thống
Diệm tín nhiệm. Đứng trước
Tổng thống Diệm, Lương luôn
luôn chấp tay cung kính . .
. Rồi trở thành Cố vấn luật
pháp của Tổng thống và sau
được bầu làm Chủ tịch Liên
đoàn công chức cách mạng
quốc gia.
Cái chết của Ngô Đ́nh Diệm
mang theo sự sụp đổ của chế
độ Đệ nhất Cộng hoà, đồng
thời tố cáo luôn bộ mặt thật
của một số thư lại. Chính họ
đă góp công lật đổ chế độ.
Những viên đạn nổ vào đầu
Ngô Đ́nh Diệm chỉ là kết quả
của bao nhiêu mâu thuẫn nội
bộ sự phân hoá hàng ngũ quốc
gia, đồng thời cũng là kết
quả của cuộc hôn nhân miễn
cưỡng giữa Mỹ và Sài G̣n,
hơn nữa là sự "thọc gậy bánh
xe" của Pháp...
Năm 1963 con số cố vấn Mỹ
tại miền Nam đă lên tới
14.000 người, đồng thời tại
Bộ Ngoại giao Mỹ thành lập
một Uỷ ban nghiên cứu hỗn
hợp về sự sử dụng "sức mạnh"
của Mỹ tại miền Nam Việt
Nam, Uỷ ban ấy mang một danh
từ thật đẹp "Việt Nam Task
Force" mà người đứng đầu là
Hilsman. Vấn đề chủ quyền
quốc gia đối với ông Diệm đă
trở thành đầu mối cho tấn
thảm kịch Việt - Mỹ. Nếu
Hilsman đặc trách Á châu sự
vụ, có phận sự nghiên cứu
những phương thức Mỹ nhằm
tiêu diệt những người yêu
nước tại miền Nam Việt Nam,
th́ song hành với công việc
này Hilsman cũng đă "sửa
soạn" theo kỹ thuật của Mỹ
để "hạ" một Tổng thống cứng
đầu thân Pháp như ông Ngô
Đ́nh Diệm. Lu Conein cũng
như Smith và Hilsman,
Fisthel nghĩa là cả guồng
máy CIA đă góp công vào việc
sửa soạn cuộc lật đổ này.
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU
CHÚNG TA ???
National Academy of
Public Administration -
Faculty of State and Law
- Inspection
|

09-04-2008, 08:30 PM
|
 |
Thành viên xuất sắc
|
|
Gia nhập: Dec
2006
Đến từ: Nation &
Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18
lần trong 9 bài
viết
|
|
Chương III : Trong thời gian
của uy quyền và cô đơn
CÂU HỎI GIAO DU
Sau ngày đảo chánh, một số
đông các sĩ quan thuộc Liên
đoàn liên biệt văn pḥng
Tổng thống đều bị bắt giữ.
Mấy sĩ quan tuỳ viên đều
phải trả lời một số những
câu hỏi như: "Có thấy những
người đàn bà nào vào pḥng
riêng của Tổng thống Diệm?"
Tổng thống Diệm có "giao du”
với bà Nhu không?". Đại uư
Lê Công Hoàn, một sĩ quan
tuỳ viên phục vụ Diệm 5 năm
đă trả lời trên giấy tờ: "Tôi
quả quyết không bao giờ có
chuyện như vậy nếu có mà tôi
bảo là không tôi xin chịu
mất đầu’’. Vậy th́ sự tương
quan trong nếp sống gia đ́nh
thường nhật giữa vợ chồng
ông Nhu và ông Diệm ra sao?
Tổng thống Diệm ở trong một
căn pḥng riêng, ngủ trên
tấm phản gỗ.
Mỗi tối, một ông già Ẩn
chăng màn sẵn, sáng sớm lại
tháo gỡ. ông Diệm thường
dùng bữa ngay trong căn
pḥng này. Ông vẫn ăn một
ḿnh trong suốt 9 năm, trừ
những buổi tiệc tùng dạ hội.
Đối với gia đ́nh ông Nhu th́
Diệm sống một thế giới riêng.
Rất ít khi ông Diệm ăn cơm
chung với gia đ́nh ông Nhu.
Hoặc khi sang pḥng ông Nhu
dùng cơm th́ ông Diệm dùng
món ăn riêng của ông. V́ vậy
trong dinh có hai đầu bếp.
Một đầu bếp của vợ chồng ông
Nhu. Một đầu bếp của ông
Diệm.
Thông lệ, mỗi buổi sáng sĩ
quan tuỳ viên đem vào pḥng
ông một xấp báo đủ loại. Ông
vừa đọc vừa ăn điểm tâm.
Thỉnh thoảng có ǵ đặc biệt
lắm ông mới sang pḥng vợ
chồng ông Nhu ngồi uống nước,
nói chuyện lan man. Theo sĩ
quan tuỳ viên Lê Công Hoàn
cũng như Đại uư Bằng, ông
già Ẩn, th́ anh em ông Diệm
và ông Nhu không mấy khi hàn
huyên tâm sự . ông rất kính
trọng và vâng lời Đức cha
Thục theo quan niệm "Quyền
huynh thế phụ” .
Trước khi qua Roma, dự Công
đồng Vatican II, Đức cha
Thục vào dinh ở lại vài ngày.
Như thường lệ Đức cha Thục
vào chào anh em Tổng thống.
Theo sĩ quan tuỳ viên Hoàn
th́ anh em Tổng thống Diệm
rất giữ lễ với nhau chứ
không suồng să tự nhiên. Khi
về dinh, Đức cha Thục thường
dùng cơm với ông bà Nhu và
mỗi lần như vậy, Tổng thống
Diệm lại ghé qua pḥng ông
em nhân tiện đáp lễ ông anh.
Đức cha Thục nói ǵ th́ ông
Diệm nghe điều đó. Tuy nhiên,
mỗi lần không vừa ư ông Diệm
lại chỉ thở dài, cau có và
hết sức bẳn gắt với sĩ quan
tuỳ viên. Cũng không mấy khi
ông bà Nhu vào pḥng riêng
của Tổng thống Diệm trừ mấy
đứa con trai của ông Nhu.

Gia đ́nh Ngô Đ́nh Diệm
tại Huế
Căn pḥng riêng của Tổng
thống Diệm vừa là pḥng ngủ,
vừa là chỗ làm việc, bao giờ
cũng có cận vệ gác ở ngoài
cửa cùng với một sĩ quan tuỳ
viên túc trực ngày đêm (thay
phiên nhau như làm việc theo
từng "ca") . Bất kỳ một ai
thăm viếng về phía quân sự
đều qua tay sĩ quan tuỳ viên
(sự sắp xếp do Tham mưu biệt
bộ) . Sự thăm viếng về phía
dân sự và ngoại giao đoàn
đều do Nha Nghi lễ đảm trách
.
Không kể Đỗ Thọ đă chết, 3
sĩ quan tuỳ viên c̣n sống
sau cuộc đảo chính 1963
(trong đó có Đại uư Lê Châu
Lộc) cùng với Đại uư Bằng
hầu cận đều cho biết: "Họ
không hề bị ông bà Nhu chi
phối. Gặp ông bà ấy th́ chào
hỏi vậy thôi. Họ làm việc
trực tiếp với Tổng thông
Diệm và làm việc theo kiểu
"người nhà " phi nguyên tắc
luật lệ. Vào pḥng ông Tổng
thống lúc nào cũng được và
cửa pḥng ông không bao giờ
khoá mà chỉ khép. Người được
coi là ngang ngược và hay
gây gổ với bà Nhu là Đại uư
Bằng. Thế giới của ông Tổng
thống là thế giới t́nh cảm
".
Quy tụ quanh ông, phái cao
cấp là ông Vơ Văn Hải, gần
Tổng thống là ông Bí thư
Trần Sử rồi đến 4 sĩ quan
tuỳ viên, ông già Ẩn, Đại uư
Bằng và mấy người thân cận
khác. T́m hiểu cuộc sống
riêng tư và tâm t́nh của một
Tổng thống không ǵ bằng t́m
hiểu ngay những người thân
cận quanh ông trong nếp sống
thường nhật.
Viết về giai đoạn lịch sử
1955-1963 không thể bỏ qua
phần t́m hiểu con người Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm để từ đó
soi sáng một phần tâm lư
chính trị.
Tâm lư chính trị này là một
phần căn bản giúp cho sử gia
dễ dàng phân tách và dẫn
giải các sự kiện lịch sử qua
hướng đi của nó ,qua sự chèo
lái của nhà lănh đạo.
Tổng thống Diệm thích làm
thơ. Tất nhiên là thơ Đường
luật, ông c̣n biết vẽ và nét
vẽ rất đẹp. Bức vẽ cuối cùng
của ông là ngôi Thánh đường,
dự định sẽ xây cất ở khu
Phượng Hoàng. ông đă có ư
định không ra ứng cử Tổng
thống nhiệm kỳ 19 và sẽ lui
về an dưỡng ở khu Phượng
Hoàng.
Trước đó, đă có một dự án
chỉnh trang toàn thể khu Cồn
Hến tại Huế để làm nơi Tổng
thống Diệm trở về vui thú
điền viên. Khu này được coi
là một trong mấy nơi thơ
mộng nhất ở Huế, cách thôn
Vỹ Dạ chỉ một con sông. Khi
dự án được tŕnh lên, Tổng
thống không vừa ư và cho dẹp
bỏ. Rồi tự tay ông phác hoạ
khu Phượng Hoàng. Ngôi Thánh
đường cũng tự tay ông vẽ.
Tổng thống Diệm ưa thích
đánh cờ tướng nhưng lại
không phải là tay cao
cờ.Nhiều lần, trong lúc cao
hứng, ông cho gọi Đại úy
Bằng và Ngô Đ́nh Trác vào
pḥng riêng của ông bảo hai
người đánh cờ để ông ngồi
xem, ông có thể ngồi như vậy
trong một, hai giờ liền.

Diệm, Thục và Ngô Đ́nh
Trác - con trai Nhu.
Thú vui lớn nhất của ông là
chụp ảnh và rửa h́nh. Thỉnh
thoảng cao hứng ông lại đưa
bọn con ông Nhu ra chụp một
vài "pô" hay chụp mấy sĩ
quan tuỳ viên. Tướng Lê Văn
Kim được coi là "người bạn"
của Tổng thống về phương
diện chụp h́nh và rửa h́nh.
Một lần vào năm 1961, vợ
chồng bác sĩ Trần Kim Tuyến
đang coi Ciné ở rạp Đại Nam
th́ có thuộc viên t́m đến,
cho biết ”tổng thống điện
thoại gọi bác sĩ vào dinh
gấp". Hai vợ chồng bỏ dở
buổi Ciné trở vào dinh. Bà
vợ ngồi dưới xe chờ chồng từ
10 giờ sáng tới gần 2 giờ
chiều mới thấy chồng trở ra.
Bác sĩ Tuyến được ông Tổng
thống tiếp 4 giờ liền không
ngoài việc máy ảnh và chụp
h́nh. V́ Tổng thống mới mua
một cái máy Canon, cho nên
gọi ông Tuyến vào để chỉ cho
cách sử dụng. Mỗi lần như
thế ông Diệm rất vui, cởi
mở.
Đặc biệt là Tổng thống Diệm
không uống được rượu, chỉ
cần uống một hớp nhỏ, mặt
ông đă đỏ gay...Tuy vậy
trong pḥng ông cũng có một
chai rượu nho, thỉnh thoảng
ông nhấm nháp đôi chút và
những lần như vậy giới hầu
cận đều biết ngay là Tổng
thống có chuyện vui. Đầu bếp
trong dinh phải chế tạo
riêng một loại sâm banh.
Loại sâm banh này chỉ là
nước ngọt cho vào chai và
khi mở cũng nổ chát và sùi
bọt như sâm banh thực. Khi
tiệc lớn cùng với với các
Đại sứ và quốc khách th́
Tổng thống dùng sâm banh
loại này. Tổng thống Diệm ăn
uống không có giờ giấc nào
cả. Bữa cơm chiều có thể là
8 giờ hoặc 10 giờ đêm...Khi
gặp ai vui chuyện, ông Diệm
có thể mạn đàm lan man cả
2,3 giờ liền. Ông hay dùng
thứ Paté Chaud ở Bưu điện và
ông cho là ngon tuyệt hạng.
Như trên đă viết ông Diệm
rất kính trọng và vâng lời
các anh. Ông lại luôn luôn
sống xa mẹ. Sau khi từ chức
Lại bộ Thượng thư triều đ́nh
Huế (1933) ông không về sống
ở Phú Cam mà về ở trong một
ngôi nhà của ông Ngô Đ́nh
Khôi tại Vĩnh Điện, Quảng
Nam. Ngôi nhà đó chỉ có
ôngDiệm và ông Bằng. ông
Bằng lo việc cơm nước, quần
áo và mọi sự cho ông Thượng
thư, một vài tuần ông Diệm
lại về Phú Cam một buổi, vài
tháng lại vào Nam. Từ dạo
đó, ông Diệm đă sống một
cuộc đời khép kín, đi hay về
không ai biết. Khi ông Ngô
Đ́nh Khôi bị giết năm 45,
Đức cha Thục trở thành người
có ảnh hưởng lớn nhất tới
ông Diệm. Qua tập an-bum gia
đ́nh họ Ngô ta thấy đức cha
Thục và ông Diệm hay cùng
nhau chụp ảnh, hai người tỏ
ra tương đắc.
Chúng tôi nêu lên sự kiện
này như một sự kiện lịch sử
để thấy rằng cái t́nh huynh
đệ gia đ́nh của một ông Tổng
thống đă quan hệ đến cả vận
mệnh quốc gia.
Năm 1963 là năm Ngân khánh
của đức cha Thục. Theo
truyền thống Thiên chúa giáo
th́ đây là một dịp trọng
thể; đánh dấu thành công
trongsự nghiệp của một đời
tu hành. Lễ này thường do
giáo dân đứng lên tổ chức để
tỏ bày sự kính mến đối với
bậc chăn chiên của họ. Giả
dụ đức cha Ngô Đ́nh Thục
không phải là anh ruột của
Tổng thống th́ lễ này có tổ
chức long trọng đến mấy cũng
không có ǵ đáng nói, v́ đó
là sự thường t́nh trong nếp
sống tôn giáo. Nhưng Đức cha
Thục lại là anh ruột của một
ông Tổng thống (chúng ta sẽ
phân tích rơ ở chương Phật
giáo 1963) nên đó là một vấn
đề lớn.

Ngô Đ́nh Thục trong lễ
Ngân Khánh năm 1963
.
Từ đầu tháng 1-1963, các
giới chức địa phương và ở
trung ương đă rộn dịp "góp
công" vào việc tổ chức lễ
Ngân khánh của Đức cha. Có
một số địa phương tại miền
Trung, Tỉnh trưởng lại đi
thu góp tiền bạc để góp phần
vào lễ Ngân khánh cho thêm
phần long trọng. Rồi một Uỷ
ban toàn quốc được thành lập
đứng đầu là ông Chủ tịch
Quốc hội Trương Vĩnh Lễ, sau
là bác sĩ Cao Xuân Cẩm cùng
các uỷ viên gồm một số Bộ
trưởng, Dân biểu, Linh mục
Cao Văn Luận Viện trưởng Đại
học Huế cũng được mời tham
dự. Cha Luận lấy làm khó
chịu song không thể khước từ
nên phải nói:" Là một Linh
mục sống trong địa phận của
đức cha th́ có bổn phận kính
vâng Đức cha. Ông Bộ trưởng
Giáo dục, Viện trưởng Đại
học Sài G̣n cũng tham dự th́
Viện trưởng Đại học Huế cũng
xin về tham dự’’. Một mặt
cha Luận biên thư cho ông
Chủ tịch Quốc hội xin tham
dự vào uỷ ban để cho vừa
ḷng đẹp ư người đến mời.
Mặt khác, cha Luận đến gặp
riêng ông Ngô Đ́nh Cẩn v́
cha Luận vẫn được coi là
người có nhiều ảnh hưởng đối
với gia đ́nh họ Ngô (cũng
như Linh mục Nguyễn Văn
Thính, Linh mục Nguyễn Văn
Lập, Linh mục Nguyễn Viết
Khai). Cha Luận khuyên ông
Cẩn nên t́m cách ngăn cản để
làm thế nào lễ Ngân khánh tổ
chức trong ṿng thân mật và
thu hẹp, v́ từ ngày Đức cha
Thục ra trọng nhậm giáo khu
Huế đă gây nên nhiều ngộ
nhận trong giới Phật giáo.
Nếu lễ Ngân khánh tổ chức
quá rầm rộ ngay tại cố đô
Huế e rằng bất lợi. Ông Cẩn
cho là phải và rất đồng ư
với cha Luận, nhưng ông Cẩn
cho biết: "Từ ngày Đức cha
về đây, đức cha có coi tôi
ra cái ǵ đâu. Tôi làm sao
nói được xin nhờ cha vào Sài
G̣n gặp Tổng thống để nói rơ
sự lợi hại". Hôm sau, cha
Luận vào Sài g̣n xin gặp ông
Ngô Đ́nh Nhu.
Ông Nhu cũng đồng ư như vậy
và cho rằng không thể lẫn
lộn tôn giáo với quốc gia,
ông Nhu than thở với cha
Luận là ông không biết làm
thế nào v́ nói thẳng sự thật
sợ phật ḷng Đức cha -bậc
quyền huynh thế phụ đối với
gia đ́nh họ Ngô. Trước năm
1953 ông Nhu vẫn bị ngộ nhận
làngười chống lại hàng giáo
phẩm. ông Nhu phàn nàn với
cha Luận đại ư:" Thân sinh
tôi mất rồi th́ chỉ c̣n đức
cha là bậc quyền huynh thế
phụ. Tôi không biết phải nói
thế nào, Tổng thống th́ cả
nể Đức cha lắm. Từ ngày đức
cha về Huế, ở đây tôi mới
"rảnh rang”... Khi đức cha
c̣n ở Vĩnh Long th́ thứ bảy,
chủ nhật nào bọn họ cũng rủ
nhau xuống Vĩnh Long cả nội
các, cả Quốc hội. Biết là
phiền phức nhưng không làm
thế nào được". Ông Nhu lại
một lần nữa nhờ riêng cha
Luận nói rơ thiệt hơn với
Tổng thống. Tất nhiên ông
Nhu không dám nói thẳng với
Tổng thống Diệm th́ cha Luận
sức nào dám nói thẳng sự hơn
thiệt.
Mặc dầu lễ Ngân khánh đă
được sửa soạn chu đáo nhưng
không được như dự định, v́
xảy ra vụ Phật giáo (ngày
8-5-1963).

Trước đó, Tổng thống Diệm
cũng không dám băi bỏ Uỷ ban
toàn quốc như vậy. Song ông
Chủ tịch Quốc hội là Chủ
tịch Uỷ ban th́ quả là điều
“chướng mắt" khó coi, cho dù
ông là giáo dân... Có lẽ v́
vậy mà bác sĩ Cao Xuân Cẩm
đứng ra làm Chủ tịch (?) . .
. nhưng cũng không phá tan
được sự ngộ nhận "dĩ công vi
tư và lạm dụng ưu thế của
Tổng thống Diệm ".
HÀNH HƯƠNG VĨNH LONG.
Tổng thống Diệm quá nặng
t́nh nghĩa gia đ́nh. Gia
đ́nh đó lại sống theo quan
niệm "đóng cửa bảo nhau”.
Cho nên, dù anh em mâu thuẫn
bất hoà người bên ngoài cũng
không mấy ai biết ngoại trừ
những người thân cận sống
lâu năm trong gia đ́nh họ
Ngô.
Trong 9 năm kháng chiến, Đức
cha Thục không tỏ rơ một
thái độ nào có thể minh
chứng khuynh hướng chính trị
của Đức cha. Khác hẳn với
những giáo khu Phát Diệm,
Bùi Chu, giáo khu Vĩnh Long
luôn luôn đứng ngoài ṿng
cuộc chiến. Những gia đ́nh
quen biết Đức cha Thục như
Phạm Ngọc Thảo, Kiều Công
Cung đă đi theo kháng chiến
ngay từ buổi đầu cho đến năm
1954. Linh mục Lư Vinh cũng
như ông Sáu Nhân (tức Hoàng
Xuân việt) đều được đức cha
gởi vào ở tạm tại Nhà ḍng
Đồng công Thủ Đức. Cha Lư
Vinh đă có lần tâm sự rất
nhiều về đức cha Ngô Đ́nh
Thục và đều cho rằng đức cha
trước năm 1954 rất khác đức
cha sau năm 1954 và càng
ngày càng bị vây hăm, bị lợi
dụng, dấn ḿnh quá sâu vào
đời sống chính trị của các
em.
Vào khoảng tháng 6-1960,
nhân một buổi lễ trọng thể
tại Vĩnh Long (buổi lễ thuộc
phạm vi tôn giáo), thế nhưng
từ sáng sớm đă có hàng trăm
xe hơi nối đuôi nhau trên
con đường "hành hương" về
Vĩnh Long. Hầu hết là các Bộ
trưởng, dân biểu, tướng tá,
công chức cao cấp. V́ có
hàng trăm xe của nhân viên
chính quyền cho nên Bắc Mỹ
Thuận bị kẹt, xe hàng, xe
dân bị ứ lại dài cả hàng cây
số và phải đợi cả hàng 2,3
giờ mới được khai thông. Một
nhà báo Mỹ cũng bị kẹt trong
đám xe đó. Khi trở về Sài
G̣n ông ta tỏ ư phàn nàn và
phê b́nh gay gắt Lương Khải
Minh.
Nhà báo Mỹ th́ lúc nào chẳng
t́m cách "x́-căng-đan" Lương
Khải Minh t́m cách biện minh
cho nhà báo vui vẻ, bỏ qua
sự phiền muộn. Lương Khải
Minh cho ông Ngô Đ́nh Nhu
biết rơ sự thật. Nhu đỏ mặt
tía tai đập tay vào bàn rồi
gọi điện thoại cho ông Chủ
tịch Quốc hội Trương Vĩnh
Lễ: “Làm cái ǵ mà kỳ vậy.
Xuống đấy làm cái ǵ mà lố
vậy. Tôi nhờ ông bảo bọn họ
ngưng ngay cái tṛ đó đi".
Ông Nhu không thích là
chuyện của ông Nhu.
Con đường Sài G̣n - Vĩnh
Long vẫn tấp nập khách công
hầu. Ông Nhu thường phàn nàn
với Lương Khải Minh " Bây
giờ Nội các và Quốc hội họp
ở Vĩnh Long mà! ".
Như trên đă viết, Tổng thống
Diệm bị chi phối mạnh mẽ bởi
t́nh nghĩa gia đ́nh thân
thuộc,chữ Lễ đối với ông là
một điều quan trọng, không
thể thiếu. Tiếc rằng chữ Lễ
trong tinh thần Nho giáo tuy
tạo được sự thể thống về
phương tiện quốc gia, song
thực tại của xă hội giữa thế
kỷ 20 đă làm cho chữ Lễ của
Tổng thống trở nên những
h́nh thức phù du và làm cho
ông lạc lơng và càng cô đơn
xa lạ trong thế kỷ mà nấc
thang giá trị cũ chỉ c̣n như
một áng mây chiều.
Một bọn nịnh thần lại luôn
luôn bám vào chữ Lễ cũ của
ông Diệm để che đậy những
manh tâm . . . Chữ Lễ với
giá trị cao cả của nó trong
t́nh nghĩa của nếp sống Đông
phương lại trở thành chiếc
gậy thần của một số "phù
thuỷ", họ xúm nhau lại suy
tôn và thần thánh hoá Ngô
Tổng thống... ông Tổng thống
càng thêm lạc lơng và chữ Lễ
biến thành vùng ảo tưởng bao
bọc lấy ông.
Tổng thống Diệm làm việc
ngay trong pḥng riêng. ông
ngồi trên chiếc ghế bành
trước một chiếc bàn tṛn và
ở đó ông phê chuẩn, khán kư,
cũng như xem xét hồ sơ công
việc và bàn xét quốc sự. Nếu
không phải tiếp khách ngoại
quốc hay các phái đoàn, ông
làm việc trong pḥng cả
ngày. Thường thường ông mặc
chiếc áo dài đen. Không bao
giờ ông Tổng thống mặc đồ
ngủ để tiếp khách dù đó là
mấy ông thợ chụp h́nh. Khi
phải ra pḥng lớn tiếp khách
th́ theo thói quen ông cũng
xốc lại cổ áo nắn lại chiếc
Cravate rồi cầm lược chải
đầu, gọi bồi lau lại đôi
giầy. . .

Trần Văn Chương, Ngô
Đ́nh Diệm, Cabot Lodge
năm 1957.
CHỮ LỄ TRONG TINH THẦN
NHO GIA
Những ngày đầu vào dinh Gia
Long làm việc,Lương Khải
Minh c̣n trẻ, lại quen tính
ăn mặc luộm thuộm. Mấy lần
vào pḥng làm việc của ông
Tổng thống, chỉ mặc áo cổ
bẻ, cộc tay bỏ ngoài quần và
đi dép quai da, mà không để
ư đến sự khó chịu của ông
Tổng thống nên cứ tiếp tục
ăn mặc như vậy. Sau Tổng
thống Diệm gọi thẳng bà Nhu
phiền trách: "Thiếm phải lo
cho chú ấy ăn mặc đàng
hoàng. Chú ấy ăn mặc lôi
thôi mấy đứa nó bắt chước,
mất cả thể thống. Thằng cha
nó ăn mặc cái ǵ mà lôi thôi
quá". Từ đó Lương Khải Minh
phải để sẵn trong văn pḥng
một bộ Complet, Cravate.
Nếu Tổng thống cho gọi là
phải ăn mặc cho đầy đủ lệ
bộ. Giầy mà không có giây
thắt, ông Tổng thống cũng
cho là một sự thất lễ. Một
lần Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh
Thuần vào dinh, mặc
chiếc"Veste" mới may, xẻ
phía sau lưng theo mo de
mới, liền bị Tổng thống nh́n
một lúc lâu rồi khen "ông Bộ
trưởng mua chiếc áo xẻ lưng
đẹp quá hỉ?". ÔngTổng thống
cho rằng làm lớn ăn mặc như
thế không hợp với thể thống.
Từ đó, Nguyễn Đ́nh Thuần
biết ư phải cố ăn mặc làm
sao cho vừa ḷng Tổng thống
.
Cũng v́ một chữ thể thống mà
một sĩ quan đă thắng được vụ
kiện. Quan toà là ông Tổng
thống, bà Nhu là nguyên cáo.
Khi Quốc vương và Hoàng hậu
Thái Lan qua thăm Sài G̣n
th́ bà Nhu đóng vai "tiếp
viên của Quốc gia" (Hotesse)
để ngênh đón Hoàng hậu Thái
Lan về dinh Độc Lập chào
Tổng thống theo nghi lễ, rồi
trở về dinh Gia Long nghỉ.
Tổng thống cũng đến dinh Gia
Long để đáp lễ, cùng đi theo
có bà Nhu. Lúc trở ra, bà
Nhu đi sau Tổng thống . Viên
sĩ quan hậu cần cản lại và
nói “Bà không được đi cùng.
Theo lễ nghi bà phải đi sau
5 phút..” Bà Nhu nổi giận
phản đối. Viên sĩ quan dẫn
chứng theo "sách": “Bà đâu
có phải là vợ Tổng thống mà
được phép trở về dinh cùng
một lúc. Tôi cử theo lễ nghi
của ông Hoàng Thúc Đàm. Tổng
thống phải về dinh trước,năm
phút sau bà mới được ra về”.
Bà Nhu nổi giận mà đành
chịu.
Nhưng sau đó bà về mách ông
Nhu và sang tận pḥng Tổng
thống kiện. Tổng thống sai
gọi viên sĩ quan hầu cận
(Đại uư Bằng) và "đối chất".
Bà Nhu nói theo lẽ của bà
Nhu.
Viên sĩ quan nói theo lẽ của
viên sĩ quan và nhấn mạnh
là, như thế để giữ thể thống
Quốc gia. Ông Diệm không nói
một câu rồi cho cả hai người
ra về. Bà Nhu rất hậm hực về
thái độ lặng thinh của ông
anh Tổng thống. Sau buổi
chiều ông qua pḥng ông bà
Nhu và tuyên án “Nó nói
đúng. Tính nó ngang ngược
như rứa, thôi bỏ qua".

Trần Lệ Xuân - Đệ nhất
phu nhân của VNCH.
Người em của bà Nhu là Trần
Văn Khiêm cũng đă gây nên
nhiều sự phiền phức cho Tổng
thống. Anh ta ưa phách lối,
làm le và doạ nạt nhiều
người. Có lần (tháng
l0-1963) anh ta doạ ném lựu
đạn giết chết cả nhà bác sĩ
Trần KimTuyến. Sự lạm dụng
và phách lối của Trần Văn
Khiêm đến tai Tổng thống
Diệm, ông cũng không biết
làm thế nào hơn là ra lệnh
cho sĩ quan hầu cận mở cuộc
điều tra riêng. Việc đến tai
bà Nhu. Bà t́m mọi cách che
chở cho em rồi t́m cơ hội
"mách" với Tổng thống về
những "lạm dụng" của đám
người thân bên cạnh ông ta.
Do đó, trong 9 năm, ông Diệm
luôn phải xử những "vụ án"
ngay trong nội bộ của dinh.
Nhiều người thân của Tổng
thống Diệm cho rằng, đó là
nỗi khổ tâm mà ông không thể
nói ra và mỗi lần như vậy
ông lại càng thêm bẳn gắt.
Ví dụ: Một lần đám con ông
bà Nhu lấy bút vẽ bậy bạ lên
tường dinh phía pḥng Tổng
thống, sĩ quan hầu cận đe
nẹt th́ đám trẻ lại nặng lời
với họ rồi về mách mẹ. Bà
Nhu, bênh con lại nặng lời
và đổ thừa cho đám cận vệ vẽ
bậy. Lời qua tiếng lại bà
Nhu lại vào thưa kiện với
Tổng thống v́ viên sĩ quan
đă dám hỗn xược với bà. ông
Tổng thống lại mất công phân
xử. Thường thường bao giờ
ông cũng chỉ đỏ mặt, yên
lặng, quay đi và lắng nghe
hai bên tŕnh bày, không nói
một câu...Nếu cùng lắm th́
chỉ phán quyết: "Thôi bỏ
qua".
Một lần khác, vào đầu năm
1958 khi chế độ Ngô Đ́nh
Diệm đang vào thời kỳ cực
thịnh, một buổi tối bà Nhu
bận đồ ngủ, mặc áo choàng
vào pḥng ông Tổng thống để
kiện cáo một vài chuyện lặt
vặt, ông già Ân khép cửa đi
ra . . . Bỗng Tổng thống
quát tháo rầm rĩ, bấm chuông
gọi ông Ân và ông Bằng mắng
vu vơ trước mặt bà Nhu. Từ
buổi đó, biết ư ông Tổng
thống nên mỗi khi bà Nhu vào
pḥng Tổng thống th́ ông Ân
hay ông Bằng phải có mặt
hoặc sĩ quan tuỳ viên. Nếu
không th́ y như là có sự la
lối. Thường thường nói
chuyện với bà Nhu hoặc bất
kỳ một người đàn bà nào
khác, mặt ông Diệm đều đỏ
gay, mắt nh́n đi chỗ khác và
trả lời đứt quăng, nhát
gừng.
Mỗi lần bà Nhu vào kiện cáo
chuyện ǵ, ông yên lặng
nghe. Khi bà ta đi ra cửa,
ông lại lẩm bẩm nói nhát
gừng: "Chuyện đàn bà con nít
như rứa . . . thôi bỏ qua" .
Một lần khác bà Nhu vào kiện
cáo chuyện gia đ́nh ḍng họ,
Tổng thống Diệm vẫn yên lặng
nghe, rồi nói: "Thím cứ về
rồi tôi tính cho", bà Nhu
không chịu lại la lớn tiếng.
Bất thần ông Diệm cầm chiếc
gạt tàn thuốc lá ném về phía
em dâu. Có lẽ ông ném vờ vậy
thôi. Chiếc gạt tàn văng vào
tường vỡ tung, bà Nhu mở cửa
chuồn lẹ.
Những người thân cận chung
quanh Tổng thống Diệm đa số
đều phục vụ cho ông từ nhiều
năm trước thời kỳ 1945.
Riêng viên sĩ quan tuỳ viên
th́ do Nha Nhân viên Bộ Quốc
pḥng tuyển chọn và đề bạt.
Trước năm 1960, mỗi tuỳ viên
phục vụ trong thời gian 2
năm. Nhưng sau, thời hạn bất
kể. Thông lệ mỗi năm vào lễ
Giáng sinh ông ra lệnh cho
gọi tất cả sĩ quan tuỳ viên
cũ trở về dinh gặp ông và
cho mỗi người một số tiền
2000$.
Đối với Tổng thống Diệm số
tiền này là to quá. Rút tiền
mặt chi cho ai đồng nào, ông
thường đếm đi đếm lại rất
cẩn thận.
Về cách chọn người của Tổng
thống Diệm th́ khó ai có thể
lường trước được. Bác sĩ
Tuyến xác nhận rằng: "80%
các Tỉnh trưởng đều do ông
Tổng thống chọn". Khoảng năm
1958, Tỉnh trưởng Kiến Hoà
lúc bấy giờ là một Thiếu tá
người quen thân của Trung tá
Phạm Ngọc Thảo và cũng là
chỗ quen thân bác sĩ Tuyến.
Một hôm, đương sự vào pḥng
Tổng thống tŕnh bày công
việc, bất thần Tổng thống
hỏi: "Anh có biết sĩ quan
nào quen việc hành chánh
không chỉ cho hai người".
Tất nhiên đương sự không dám
hỏi thẳng Tổng thống dùng
hai sĩ quan ấy vào việc ǵ,
liền đáp: "Thưa có, hiện nay
ở sở của con có hai sĩ quan
con đang chờ lệnh bổ dụng mà
con chưa biết đặt ở đâu .
Hai sĩ quan này đều làm quận
trưởng bên Gia Định vừa mới
bị thay thế". Tổng thống gật
đầu: "Được rồi. Tên?". Hai
sĩ quan này là Đại uư Lê
Minh và Trung uư Q. Rồi ông
Diệm lấy giấy ghi tên hai
người.
Theo thông lệ những việc nào
có tính cách bí mật và tránh
sự nḥm ngó của người xung
quanh Tổng thống đều viết
bằng chữ Hán. Cũng như người
bồi pḥng của Diệm, v́ lo
công việc hàng ngày trong
pḥng riêng của ông nên phải
chọn một anh không biết chữ
như bồi Bẩy Thạnh.
Khoảng 3 ngày sau, ông Đổng
lư Quách Ṭng Đức báo cho
bác sĩ Tuyến biết là hai sĩ
quan kể trên đă có nghị định
bổ nhậm Tỉnh trưởng và Phó
tỉnh trưởng Nội An, Kiến
Hoà. Đại uư Lê Minh được lên
Thiếu tá, Trung uư Q được
lên Đại uư, Tuyến nghe tin
này th́ choáng váng cả người
v́ Thiếu tá Thảo bị thay thế
là chỗ thân của ông. Riêng
Lê Minh lại không muốn đi
làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà.
Sau khi bị thay thế Quận
trưởng, Lê Minh đă chán hành
chánh chỉ muốn có một chỗ
tốt tại Sài G̣n. Bỗng đâu
chỉ v́ một lời giới thiệu vu
vơ, Lê Minh trở thành Tỉnh
trưởng rồi sau này lại bị
ông Tổng thống nổi giận cắt
chức Tỉnh trưởng.
Trong 9 năm có rất nhiều
trường hợp "trúng số độc
đắc" như vậy. Một thí dụ
khác vào khoảng năm 1962,
lúe ấy Bộ trưởng bộ Tư pháp
là ông Nguyễn Văn Lượng theo
Lương Khải Minh, khi ông Bộ
trưởng, bộ Tư pháp vào tŕnh
công việc củ aBộ, rồi cũng
bất thần bị ông Tổng thống
hỏi: "Bên Tư pháp có ông
thẩm phán nào biết việc
hànhchánh, quản tŕ nhân
viên, ông Bộ trưởng t́m cho
tôi hai người". Bộ Tư pháp
lúc ấy cũng có hai thẩm phán
"ngồi chơi xơi nước" trong
khi chờ lệnh bổ nhậm mới. Đó
là ông Trần Thiện Đức,
nguyên Biện lư ở Toà sơ thẩm
Mỹ Tho v́ có sự bất hoà
chống đối viên Tỉnh trưởng
địa phương nên tạm thời được
rút về Bộ. C̣n ông Khánh
thuộc Toà Nha Trang v́ vụ
lỗi lầm ǵ đó nên bị thay
thế và đang nằm đợi lệnh ở
Toà thượng thẩm Huế.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn
Văn Lượng đưa tên hai ông
này tŕnh lên Tổng thống
Diệm, ông Tổng thống lại tự
tay ghi chép. Ít hôm sau, có
Nghị định bổ nhiệm ông Khánh
làm đại biểu Chính phủ tại
Cao nguyên Trung phần, ông
Trần Thiện Đức làm Tổng đoàn
trưởng Công dân vụ mà cả hai
đương sự cũng không được
thông báo trước.
Trước khi có Nghị định bổ
nhiệm, họ nhận được lệnh vào
tŕnh diện cũng chỉ có mục
đích để Tổng thống xem
tướng. Nhiều trường hợp chỉ
v́ "xấu tướng" đă không được
Tổng thống bổ nhiệm.
Riêng ông Đức v́ sự giới
thiệu t́nh cờ của ông Bộ
trưởng Tư pháp mà trở thành
Tổng đoàn trưởng Công dân
vụ. Sau đảo chính 1963 ông
bị điều tra "lên xuống" xem
có phải là đảng viên Đảng
Cần lao hay không, có chạy
tiền để vào chức vụ ấy không
.
Vụ xem tướng người của Tổng
thống Diệm cũng có nhiều cái
rất lạ. Như ông X, Tổng
thống Diệm lắc đầu: "mặt
thịt, vai u nó làm được cái
ǵ”. Như ông Y, Tổng thống
Diệm thấy ăn mặc đường
hoàng, nói năng dơng dạc, đi
đứng trang nghiêm, ông gật
đầu: "Thằng đó khá". Anh nào
nói không ra hơi ngôn bất
xuất khẩu, ông lắc đầu ngay.
. . Nhưng anh nào "nói leo”
chưa hỏi đă nói cũng khó
ḷng lọt vào mắt xanh của
ông. Điều tối kỵ đối với ông
là anh nào có vợ hai, bị báo
cáo là bài bạc, nghiện hút.
Ông ghê sợ sự nghiện hút và
kẻ nào vợ nọ con kia. Thiếu
tá Trần Ngọc Châu được ông
thương v́ có tài nói và
thuyết tŕnh rất lưu loát.
Tướng Đôn được Tổng thống
Diệm sủng ái v́ được coi là
quân nhân có tác phong, đi
đứng và chào lính trang
nghiêm. Phó Tổng thống Thơ
dù lùn và lé nhưng Tổng
thống Diệm coi như em v́ "Cụ
Phó chịu khó làm việc. Cụ Bà
hiền đức".
LÀM LỚN
Dù thế nào th́ Tổng thống
Diệm cũng vẫn là một ông
quan trong tinh thần "phụ
mẫu chi dân" và một ông quan
trong giấc mộng kinh bang tế
thế và được lập thành bởi
t́nh thần nho gia "Dân chi
sở ố, ố chi. Dân chi sở
hiếu, hiếu chi".. (Dân ghét
cái ǵ, ḿnh ghét cái đó.
Dân thích cái ǵ, ḿnh thích
cái đó. Sách Đại học). Sở dĩ
phải dẫn sách Đại học ở đây
v́ ông Tổng thống thuộc ḷng
sách này và thường đem từng
câu ra giảng cho thuộc cấp.
Khi trở thành Tổng thống th́
ông quan ấy trở nên một v́
Hoàng đế với tiêu chuẩn
"Thừa thiên hành đạo". Ông
cai trị dân với một "thiên
mạng" của nho gia. Cho nên
ta thường thấy ông luôn nhắc
đến chữ "Thành". Chữ Thành
lấy ở sách trung dung.
Nhưng từ giữa Thế kỷ 20 và
trong thực tại ở miền Nam
sau 1954, tuy tạo được quyền
uy tối thượng, tuy giữ được
thể thống quốc gia nhưng ông
Tổng thống lại trở nên một
pho tượng trong vườn ngự
uyển. Trong khu vườn đó, ông
tưởng ai cũng làm như ông và
sống như ông sống. Ông lại
qúa tin nơi ḿnh với mặc cảm
đầy uy quyền và ông ghen với
uy quyền đó (i alouse de son
pouvoir) .
Ông làm việc theo lề lối của
một vị đường quan và quần
thần chủ nghĩa. V́ vậy mà
công việc được giải quyết
theo khẩu lệnh và quần thần
cứ y như thế mà làm, không
mấy ai dám ho he phản đối.
Theo Lương Khải Minh làm
việc trực tiếp với Tổng
thống Diệm và ông Nhu trong
9 năm th́ có thể nói nếu so
với đức cha Ngô Đ́nh Thục
hay ông Cẩn, Tổng thống Diệm
và ông Nhu đều biết ai hèn
hạ ai tâng bốc, nhưng biết
mà không nói, biết mà vẫn
dùng. Sĩ quan tuỳ viên Lê
Công Hoàn kể lại rằng: Có
một lần vào năm 1962 ở
dinhTổng thống trên Đà Lạt,
ông Tổng thống cần đi gấp mà
trong pḥng lại không có đôi
giầy. ông la bồi. Lúc ấy bồi
lại đi đâu vắng. Sĩ quan tuỳ
viên vẫn đứng yên v́ lấy
giầy cho Tổng thống không
phải là công việc của anh
những việc như thế để bồi nó
làm. Tổng thống đă dặn vậy).
Thấy Tổng thống la bồi biểu
đi t́m giày, một ông Bộ
trưởng chạy đi t́m và mang
giầy lại. ôngTổng thống mặt
đỏ gay, nhăn nhó và gạt đi,
nói một cách bực tức: “hừ
hừ...để bồi nó làm". Ông Bộ
trưởng tái mặt v́ ngượng và
sợ. Sĩ quan tùy viên nh́n
ông Bộ trưởng mỉm cười.
Nhiều ông lớn tỏ ra hèn hạ
một cách công khai đă bị ông
Tổng thống mắng thẳng vào
mặt. Riêng ông Nhu, một lần
thấy một ông Đại uư mặc quân
phục đeo lon, đẩy xe cho ông
Ngô Đ́nh Luyện dạo qua dinh
(v́ ôngLuyện đau chân nên
phải ngồi xe có tay đẩy) ,
ông Nhu cười "ruồi" chỉ cho
một sĩ quan hầu cận của Tổng
thống Diệm và nói: "Thằng
cha sao nó lố như rứa".

C̣n bao cảnh hèn hạ tuyệt
vời khác như ông Đ cúi đầu
tháo dây giày cho cậu Luyện,
ông L kia ăn dở chén măng
cua ăn thừa của Đức Cha một
cách hoan hỉ. Lỗi lầm tai
hại của chế độ Ngô Đ́nh Diệm
chính là ở điểm đă mặc nhiên
chấp nhận những cái hèn hạ
như vậy của cộng sự viên qua
cái bản chất hèn của con
người họ. Mà ở những con
người ấy lại tiêu biểu cho
quốc gia ở một ngành này hay
ở một địa phương khác.
Người ta thường cho rằng,
trong 9 năm Tổng thống Diệm
chỉ "làm v́" và ông Nhu bao
thầu mọi việc. Bác sĩ Tuyến
cho rằng “như thế rất sai sự
thực" ông Nhu chỉ là một thứ
bổ xung cần thiết cho ông
Diệm. Kể từ năm 1962, và
nhất là khi thành lập ấp
chiến lược th́ công việc mới
bắt đầu dồn lại phía ông
Nhu. Nó dồn lại một cách mặc
nhiên và ông Nhu cũng mặc
nhiên chấp nhận. Nhưng Tổng
thống Diệm vẫn giữ quyền của
ông mà không ai chia sẻ được,
kể cả ông Nhu. Nhiều sự bổ
nhiệm trong quân đội cũng
như hành chánh khi đă có
nghị định, bấy giờ ông Nhu
mới biết. Nếu muốn đặt để ai
ở một chức vụ quan trọng,
ông Nhu chỉ đánh tiếng bằng
những lời khen: “ông ấy, có
khả năng, có tài về lĩnh vực
ấy". Khi chú Nhu đă nói như
vậy th́ ông Tổng thống tin
ngay và chắc chắn đương sự
được bổ nhiệm.
Nhưng nếu mọi việc không có
ư của ông Nhu th́ ông Tổng
thống cũng không yên tâm.
Như việc thảo diễn văn chẳng
hạn. Những năm đầu th́ do
ông Trần Chánh Thành viết,
sau này do ông Lương Danh
Môn (Tổng thư kư Bộ Quốc
pḥng) hoặc khi nào rảnh th́
do ông Vơ Văn Hải. ông Hải
đảm trách phần vụ viết diễn
văn bằng Anh ngữ. Nhưng ai
viết cũng đều phải qua tay
ông Nhu đọc lại. Diễn văn
quan trọng th́ tự tay ông
Nhu viết. Nhưng dù ai viết
và ông Nhu đă xem lại Tổng
thống thế nào cũng đọc kỹ và
sửa một vài chữ mới bằng
ḷng. Một lần theo lời viên
sĩ quan hầu cận (Đại uư Bằng):
"ông Nhu đưa bài diễn văn
qua pḥng Tổng thống , ông
đọc rồi lắc đầu quầy quậy”.
Về diễn văn phải viết bằng
tiếng Pháp th́ do ông Nhu
viết. Về Anh văn do ông Vơ
Văn Hải hoặc Trương Bửu Điện
và sau này là Tôn Thất Thiện
viết. Dù vẫn phục ông Nhu về
tài viết tiếng Pháp văn
nhưng thế nào ông Diệm cũng
đọc lại rồi giở từ điển ra
coi, cân nhắc một vài "từ"
cho chỉnh. Về Anh văn cũng
thế, mặc dầu Tổng thống Diệm
không có sở trường về Anh
văn. Một lần viếng thăm một
quân đoàn, ông tướng Tư lệnh
của quân đoàn này đọc mấy
lời: "Kính dâng Ngô Đ́nh
Diệm"...ông Diệm nhăn trán
quắc mắt v́ trong đó chữ Hán
dùng sai. Buổi tối, trở về
pḥng trong lúc vui chuyện,
ông bảo sĩ quan hầu cận:
"Cái thằng nớ nó người Hoàng
tộc sao mà nó ngu như rứa.
Nó học hành đến đâu hè, ông
thân sinh của nó xưa nghe
giỏi chữ Hán..." Rồi ông nhớ
măi. Vào tháng 10-1963, có
sự đề nghị của ông tướng này
tham chánh, ông Tổng thống
lại nhắc đến bài "Kính dâng"
xưa kia và nói giận dữ.
"Chữ, nó c̣n không thông th́
nó c̣n biết cái mô tê chi ".
Như trên đă viết, ông Nhu là
một thứ bổ sung cần thiết
cho ông Tổng thống. Trong
bất cứ một vấn đề quan hệ
nào nếu không có ư kiến của
ông em th́ ông anh không an
tâm.
Nhưng thế giới của ông anh
là của riêng ông anh, ông em
không thể nào "xía" vô. Hai
thế giới cách xa nhau, màu
sắc và bản chất cũng khác
nhau. Căn pḥng làm việc của
ông anh Tổng thống th́ hoàn
toàn thiếu trật tự, giấy tờ
hồ sơ ông để lung tung. ông
làm việc không theo giờ ấn
định, không có lịch tŕnh.
Theo Đại tá Đỗ Mậu, khi vào
tŕnh Tổng thống về việc A.
. . nhưng chỉ ít phút sau
ông hỏi qua việc B rồi lan
man qua phạm vi tử vi tướng
số . Ông thích hàn huyên tâm
sự, thích nói chuyện đời
xưa. . .Trái lại văn pḥng
làm việc của ông Nhu rất
trật tự. Hằng ngày ông làm
việc theo giờ giấc và đúng
lịch tŕnh. Ông làm việc tại
văn pḥng, phía sau bàn giấy
là tủ sách.Hồ sơ để theo thứ
tự và xếp từng loại. Sự ngăn
nắp này cũng dễ hiểu v́ ông
là một tổng quản thủ thư
viện và văn khố...Nhưng Tổng
thống Diệm gặp đâu làm đó
lại luôn luôn giải quyết
công việc bằng khẩu lệnh .
Theo Lương Khải Minh người
ta thường cho rằng ông Nhu
nói ǵ ông Tổng thống nghe
nấy, điều đó không
đúng...ông Tổng thống chỉ
nghe ông Nhu về những vấn đề
quan trọng thuộc lănh vực
chiến thuật và chiến lược.
Ngoài ra, những vấn đề khác
nhất là những vấn đề thuộc
lănh vực hành chánh và dinh
điền, ông Nhu đôi khi phải
nhờ đệ tam nhân can thiệp
với ông Tổng thống. Đệ tam
nhân đó có thể là ông Nguyễn
Đ́nh Thuần, vừa là người của
ông Tổng thống và là người
được ḷng ông Nhu. Trường
hợp bổ nhậm Nguyễn Xuân
Khương là điển h́nh. Tuy ông
được bác sĩ Tuyến giới thiệu
với ông Nhu khi ông Nhu muốn
kiếm một người làm Tổng Giám
Đốc điền địa, có khả năng
chuyên môn để phụ giúp Bộ
trưởng Huỳnh Hữu Nghĩa.
Trong giới kỹ thuật, Lương
Khải Minh thấy ông Khương là
kỹ sư chuyên về địa chánh,
ăn nói lại lưu loát Nhờ đó
ông Khương được cất nhắc. V́
đang chú trọng đến công tác
chỉnh trang lănh thổ nên
Khương luôn luôn có dịp ở
bên Tổng thống. Ông Tổng
thống lại là người ưa thích
xem hoạ đồ,nói chuyện đất
đai lănh thổ. ông Khương lại
là người lanh chân, lẹ miệng
nên được ḷng Tổng thống. Từ
khi địa vị đă vững vàng,
theo sát chân Tổng thống,
ông Thương lờ luôn cả ông
Nhu, mọi việc ông Khương
nhất nhất đều tŕnh thẳng
lên Tổng thống. Bởi v́ nếu
đă được ḷng Tổng thống dầu
rằng ông Nhu có ghét cũng
không sao.
Tháng 6- 1963, Nguyễn Xuân
Khương được cử thay thế Hồ
Đắc Khương làm Đại biểu
Chính phủ tại Trung Nguyên.
ông Nhu chỉ được biết ông
Tổng thống đă quyết định bổ
nhiệm ông Khương, ông Nhu
đành bóp đầu bóp trán: "Hắn
th́ biết ǵ về chánh trị mà
cử ra đó" nhưng ông anh đă
quyết định th́ ông em đành
phải nghe theo rồi t́m đệ
tam nhân "nắm" Nguyễn Xuân
Khương.
Một thí dụ khác, ông Vơ Văn
Hải và ông Nhu hai bên không
ưa nhau, ông Hải có thành
kiến và ghét luôn những
người làm việc với ông Nhu,
ông Hải công khai công kích
bà Nhu.Thế nhưng, hai người
vẫn làm việc song song đối
đầu nhau. Có những việc mật,
chỉ ông Hải biết mà ông Nhu
không hay, cho dù không ưa
ông Hải, ông Nhu cũng chả
làm được ǵ hơn. Trong gia
đ́nh đó kẻ làm em phải chịu
lép vế. Theo Lương Khải Minh
nhiều vấn đề ông Nhu rất
không đồng ư với ông anh và
nhiều lần công kích, nhưng
khi gặp Tổngthống Diệm th́
ông Nhu lại ngồi lặng thinh
không dám nói. Cũng như ông
Cẩn ở miền Trung,ông không
ưa ǵ bà Nhu, thường nặng
lời công kích, mạt sát,
nhưng khi gặp ông anh trai
và bà chị dâu th́ ông Cẩn
lại lặng thinh.
Tuy cùng ở trong dinh, sống
chết có nhau trong 9 năm,
ông Nhu rất ngại gặp ông
Tổng thống. Theo sĩ quan tuỳ
viên Lê Công Hoàn, từ khi
vào dinh làm việc, từ năm
1958 đến năm 1963, Hoàn chỉ
đến chào ông Nhu lần thứ
nhất khi nhận việc theo sự
chỉ dẫn của Tham mưu Biệt
bộ.
Lần ấy gặp ông Nhu, ông nh́n
Hoàn mỉm cười, nói mấy câu
ngắn ngủi: "Cám ơn, ở đây mà
làm việc". Ông Nhu hầu như
không để ư đến thế giới của
ông anh kể cả cộng sự viên
thân tín của ông anh.
Trường hợp Lê Công Hoàn được
gọi về dinh cũng đầy bất ngờ
như bao nhiêu trường hợp
khác. Anh đang phục vụ trong
ngành Công binh tại Pleiku
th́ có công điện gọi về
tŕnh diện tướng Đính tại
Ban Mê Thuật. Gặp Hoàn tướng
Đính nói: "Anh về Sài G̣n
tŕnh diện Tổng thống ". Rồi
ngay đêm đó, ông Đính cho
một chiếc xe Jeep thật tốt
có người hộ tống Hoàn đi
suốt đêm từ Ban MêThuật về
tới Sài G̣n, Lê Công Hoàn
rất hồi hộp không biết số
phận hên sui ra sao. Sáng
hôm sau, dù qua một đêm hành
tŕnh mệt mỏi, để vào gặp
Tổng thống Hoàn cũng phải
quần áo chỉnh tề ngay ngắn.
. . Nhưng gặp ai và ai đưa
vào tŕnh diện Tổng thống ?
Lúc ấy Lê Công Hoàn c̣n là
Trung uư, nên Hoàn đến tŕnh
diện Bộ TổngTham mưu, ở đây
lắc đầu không biết, Hoàn đến
Bộ Quốc pḥng, ở đây bảo qua
lữ đoàn Liên biệt pḥng vệ.
Bộ Tư lệnh lữ đoàn cũng
không biết và bảo qua Tham
mưu Biệt bộ gặp Trung tá Cao
Văn Viên. Bấy giờ mới t́m
đúng chỗ. Sau đó Hoàn được
Trung tá Viên đưa vào tŕnh
diện Tổng thống Diệm. Trước
hết, Tổng thống lừ mắt nh́n
Hoàn từ đầu đến chân, ông
nh́n thật lâu có lẽ để xem
tướng Hoàn, dùng người ông
Diệm có thói quen bắt tướng.
Một lát ông gật đầu, hỏi qua
Hoàn về gia đ́nh. ông hỏi
Hoàn: “Đeo kiếng cận như vậy
có bắn được không ? " Lê
Công Hoàn đáp: "Dạ thưa, gần
th́ con bắn được". ông Diệm
lại hỏi: “Trúng không ? "
Hoàn thưa: "Dạ bắn được
thôi, con không dám nói là
trúng", ông Tổng thống gật
đầu cười.
Năm năm sống cạnh Tổng thống
Diệm, sĩ quan tuỳ viên Lê
Công Hoàn cho biết rằng:
Hoàn cũng chẳng có quan niệm
nào về Đảng Cần lao, đă được
ông Tổng thống tín nhiệm yêu
thương th́ khỏi cần đảng
phái.
Mà ông Tổng thống cũng rất
ít nhắc đến Đảng. "Việc đảng
phái đă có chú Nhu lo". Tổng
thống thường nói vậy. Người
không hề tham gia đảng phái
chính trị nhưng Đại tướng Lê
Văn Ty rất được ông Tổng
thống tín nhiệm, thương yêu
trong sự tương kính. Dù có
chân trong Đảng hay được ông
Nhu ông Cẩn tín nhiệm, nhưng
Tổng thống không ưa ǵ th́
đương sự cũng khó ngóc đầu
lên được.
Ông Nhu làm việc và tiếp
khách đều theo lịch tŕnh đă
ấn định sẵn. Kể cả lúc đi
săn cũng thể theo chương
tŕnh. Một vài năm ông lại
về Huế 10 ngày và đọc sách.
Đọc sách cũng có chương
tŕnh. Bằng ấy ngày nghỉ sẽ
đọc bằng ấy quyển. Mỗi lần
đều có sổ tay ghi chép. ông
Tổng thống th́ không. Sĩ
quan tuỳ viên Lê Công Hoàn
cho biết: Mỗi lần ông Tổng
thống đi kinh lư ở đâu,văn
pḥng đều có định trước
chương tŕnh. Ví dụ ông lên
Đà Lạt th́ 9 giờ thăm trường
Vơ bị, 14 giờ đi thăm ấp
chiến lược... Rồi sẽ tiếp
những ai. Tuỳ viên phải học
thuộc ḷng. Tổng thống hỏi
nói ngay không bao giờ được
lấy giấy ra coi. Tuy nhiên
chẳng bao giờ Tổng thống
theo chương tŕnh, ngoại trừ
trường hợp có các ông Đại sứ
tháp tùng.
Việc tiếp khách cũng thế,
theo nguyên tắc Tham mưu
Biệt bộ sắp đặt để Tổng
thống tiếp ai, giờ nào, ngày
nào. Nguyên tắc ấy thực tế
không bao giờ được tôn
trọng. Viên chức văn vơ đến
ngồi chờ trong pḥng khách
rồi tuỳ theo chức vụ cấp bậc
và công việc gấp hay không
gấp, sĩ quan tuỳ viên sẽ mời
từng người vào "hầu'. Lúc ấy
ông sĩ quan tuỳ viên trở nên
quan trọng, có thể nói, tuỳ
viên "khoái ai" th́ đưa
người đó vào trước...Không
có cảm t́nh th́ dù ở cấp bậc
cao cấp tuỳ viên vẫn có thể
cho ngồi chờ hai, ba giờ. Có
người Tổng thống tiếp năm,
ba phút, có người được tiếp
lâu hai, ba giờ. Phía tướng
lănh người tương đầu hợp ư
với Tổng thống Diệm là Đại
tướng Tỵ. Mỗi lần Đại tướng
Tỵ vào dinh gặp Tổng thống
sẽ lâu tới một, hai giờ. Mọi
người đều xác nhận, tuy
tướng Tỵ không có tài thao
lược nhưng lại rất tốt bụng,
tướng Tỵ không khúm núm,
không quị luỵ, tướng Ty đề
cử ai th́ xem như chắc ăn
100%. Chính tướng Tỵ đích
thân tuyển chọn Trung tá
Sang lái máy bay riêng cho
ông Diệm. Về nội bộ Quân
đội, tướng Tỵ nói điều ǵ,
Tổng thống Diệm tin điều đó.
Tuy nhiên, tướng Tỵ đối với
các tướng tá khác đều coi là
đàn em, nên ông không gièm
pha ai. Về việc tưởng thưởng
Bảo quốc huân chương, Tổng
thống "tiết kiệm" dè dặt.
ông Tổng thống coi thứ Huân
chương này như nấc thang giá
tŕ cao nhất tiêu biểu cho
chiến công và sự nghiệp của
người được thụ lănh. Nhưng
tướng Tỵ đề nghị cho ai th́
người ấy được ngay. Ngoài
tướng Tỵ ra, khó ḷng ai có
thể đề nghị cho người này
người kia được Bảo quốc huân
chương.

Tướng Lê Văn Tỵ - người
tâm phúc của Ngô Đ́nh
Diệm.
Thí dụ trường hợp của Trung
tá Khôi khi được cử làm Tuỳ
viên quân sự tại nước ngoài.
ông Khôi là một sĩ quan tham
mưu, nên huy chương không có
nhiều. Ra ngoại quốc là sĩ
quan tuỳ viên như vậy th́
hơi kỳ, nên có người vận
động Tổng thống cho ông Khôi
được Bảo quốc huân chương.
Dù là người thân cận tín
nhiệm xin cho ông Khôi song
Tổng thống vẫn gạt đi . Cuối
cùng ông Khôi nghe lời bạn
cứ ra tiệm mua đại một cái
Bảo quốc huân chương đeo vào
ngực cho có thể thống.
Ông Nhu th́ coi thường giai
cấp quan lại cũ, ông Tổng
thống vẫn hoài nhớ dĩ văng
xa xưa cho nên ông mới tái
lập Kim khánh bội tinh. Lập
lại cả chức vụ Chánh phó
Tổng tại địa phương. Ông lại
hay quan niệm gọi cấp bậc
của thuộc viên từ thời Pháp.
Chẳng hạn ông Tá X. ông Tổng
thống lại thường nói: "à ông
Đội phẩm" (ông này vốn thuộc
hàng xuất đội) ông Y, ông
Tổng thống quen biết từ xưa
nên lại thường gọi : " à ông
Huyện. . . "Không phải cứ
quen thân ông bà Nhu là được
Tổng thống Diệm tín nhiệm,
nhiều khi lại ở thế kẹt. Ngô
Đ́nh Diệm là người nóng tính
nhưng cả nể.
Cũng v́ sự cả nể nên bao
nhiêu tai tiếng về vụ Trần
Văn Khiêm đến tai ông, ông
đều bỏ qua, chỉ v́ Khiêm là
em ruột bà Nhu (sau đảo
chính 1963 Khiêm bị khép tội
mật vụ).
Lương Khải Minh xác nhận,
Khiêm chả có chức vụ ǵ cả,
không một ai giao cho anh ta
công việc ǵ. Nhưng dựa vào
thế của người chị, Khiêm đă
ra ngoài lộng hành, nhân
danh người này người kia.
Khi vào dinh th́ chạy lăng
xăng. Nể bà Nhu nên không ai
để ư. Có mấy khi Khiêm
đượcgặp Tổng thống Diệm đâu.
Có một lần sĩ quan tuỳ viên
Lê Công Hoàn ghi nhận: Hôm
ấy Khiêm được Tổng thống
Diệm cho gọi vào. Khiêm
tưởng Diệm ban phát chức vụ
bổng lộc, nên mặt mũi quan
trọng, hất hàm bảo Đại uư Lê
Công Hoàn “Nè, ông Đại uư
ông đưa tôi vào gặp Tổng
thống", ông Hoàn nhă nhặn: "Thưa
ông, Tổng thống đang bận,
xin ông chờ". Nhưng Khiêm ra
vẻ quan trọng. "Tôi cần vào
gặp Tổng thống ngay" . Nói
xong Khiêm kéo tay nh́n đồng
hồ rồi tiếp: "10 giờ tôi có
hẹn gấp Tôi không thể chờ
được lâu”, Hoàn đáp thủng
thẳng: 'Được xin ông cử chờ".
Đáng lư ra Lê Công Hoàn đưa
Khiêm vào gặp Diệm ngay sau
đó nhưng "trả thù” cho bơ
ghét, nên Hoàn cứ để cho
Khiêm ngồi chờ đến 11 giờ
trưa mới dẫn vào yết kiến
ông Diệm. Sĩ quan tuỳ viên
vừa khép cửa đă nghe thấy
tiếng ông Diệm la mắng quát
tháo Khiêm thật dữ dội. Một
lát sau Khiêm đi ra mặt tái
xám, tiu nghỉu, cắm đầu rảo
bước.
Khiêm không có một chức vụ,
một vai tṛ nào, ấy thế mà ở
ngoài ai nghe thấy Khiêm
cũng ngán. Khiêm chỉ là thứ
cáo mượn oai hùm. Dưới chế
độ Ngô Đ́nh Diệm không thiếu
những kẻ cáo mượn oai hùm
như Khiêm.
Nhưng bọn họ có khả năng tạo
nên sự nghẹt thở trong các
khối quần chúng, reo rắc
thêm hoang mang trong dân
gian, đi đến đâu chúng cũng
nhân danh ông này, ông nọ để
lấy le và để lường gạt cũng
có . . .
Bất cứ một chế độ nào muốn
vững vàng, muốn dân chúng
tín nhiệm th́ phải sáng suốt
trừ ngay những thành phần
cáo mượn oai hùm, nhất là
chúng con cáo đó lại là bà
con anh em của người cầm
quyền th́ sự tác hại của nó
đối với chế độ không phải là
nhỏ.
Gần những năm cuối cùng của
chế độ, gia đ́nh Tổng thống
Diệm cũng bắt đầu phân hoá
và mâu thuẫn lớn dần trong
mấy anh em. Ông Nhu càng ít
gặp ông anh Tổng thống.
Nhiều việc ông anh tự quyết
định mà không cần hỏi "chú
Nhu”.
Ngoài miền Trung, Cẩn bắt
đầu uống rượu.Trước kia Cẩn
chỉ nhấm nháp chút đỉnh rượu
lễ. Từ năm 1961,1962 Cẩn đă
uống cả ly lớn. Mỗi lần say
ngất ngư, ông ta lại thét,
chửi mắng. Cố vấn th́ càng
thêm say mê săn bắn. Đại uư
Thạp, tuỳ viên của ông cho
biết rằng, có khi ông Nhu
nằm dưới hầm săn cọp hai đêm
liền. Có khi phải theo ông
ta đi bộ cả ngày trong rừng
già Phan Rang. Đó cũng là
dấu hiệu báo trước sự thay
đổi lớn trong nội tâm của
những cột trụ chế độ đang ở
giai đoạn suy tàn.
Trong năm 1963, giới thân
cận Ngô Đ́nh Cẩn cho biết:
ông Cẩn ức mà thổ huyết ít
nhất cũng ba lần.
Một lần ngồi ăn cơm với các
anh, không biết anh em "xào
nấu” nhau ra sao (người
ngoài không thể biết được)
Cẩn mặt đỏ gay rồi thổ huyết
ngay trong bữa ăn (nói nôm
na là tức giận mà hộc máu).
Cố vấn Nhu cũng như Ngô Đ́nh
Diệm bắt đầu bị ám ảnh nặng
nề bởi tổ chức CIA. ông Nhu
vẫn cho rằng CIA thuộc loại
"..."thứ đó hết xài nổi".
Dạo ấy muốn dèm pha ai, hại
ai chỉ cần cấp báo với ông
Nhu "người ấy hoạt động cho
CIA”, đương sự kể như tan
tành công danh, mất chức
nghiệp.
Thế giới của anh em Ngô Đ́nh
Diệm bắt đầu xa cách nhau.
Xin đưa ra một thí dụ đă nói
lên sự xa cách đó. Tháng
10-1963, Tổng thống Diệm với
sự góp ư của Nhu đă ra lệnh
giải tán ngay Văn pḥng Cố
vấn chỉ đạo miền Trung của
Ngô Đ́nh Cẩn, Diệm cho rằng
mọi công việc đều do toà Đại
biểu Chính phủ giải quyết. .
.Đại uư Nguyễn Văn Minh rời
khỏi chức vụ Chánh văn pḥng
Cố vấn chỉ đạo miền Trung.
Đại uư Minh qua lời giới
thiệu của cha Bửu Đồng (khi
ông Minh c̣n đóng ở đồn Cửa
Tùng) đă trở thành nhân vật
cốt cán của Cẩn từ tháng
5-1954. Trong 9 năm sống ở
bên cạnh Ngô Đ́nh Cẩn, hầu
hết trong gia đ́nh họ Ngô từ
Tổng thống đến Đức Cha không
c̣n xa lạ ǵ Đại uư Minh...
Minh trở thành người trong
gia đ́nh và rất được tin
cẩn.
Tháng 10- l963, bỗng dưng
Đại uư Minh bị gọi vào Sài
G̣n qua thủ tục hành chánh.
Một thủ tục chưa bao giờ áp
dụng đối với người trong
nhà.Bộ Nội vụ theo lệnh Tổng
thống đánh công điện cho Toà
Đại biểu chỉ thị cho Minh
vào tŕnh diện Tổng thống.
Mà Cẩn không được hỏi ư
kiến. Điều ấy làm Cẩn tức
giận không ít.
Khi vào gặp Tổng thống Diệm,
Tổng thống vẫn vui vẻ hỏi:
"Tôi nghe nói ở ngoài đó anh
liên lạc với người Mỹ nhiều
lần hỉ? " Đại uư Minh tŕnh
bày sự liên lạc của ông với
Lănh sự và Phó Lănh sự Mỹ
tại Huế. Đại cương ông Minh
nói: "Con có gặp gỡ họ luôn.
Đây là theo chỉ thị của ông
Cậu ông Cậu bảo con nên t́m
cách tiếp xúc người Mỹ và
t́m hiểu xem thái độ của họ
ra sao" - Tổng thống Diệm
gật đầu không nói ǵ. Khi
Đại uư Minh trở lại Huế vào
gặp Cẩn và đưa cho ông ta
xem sự vụ lệnh thuyên chuyển
Minh lên trường Vơ bị Đà Lạt
th́ vẻ mặt Cẩn lúc ấy đăm
chiêu và lộ vẻ buồn rất sâu
đậm. Ngô Đ́nh Cẩn bảo Đại uư
Ḿnh: "Thôi th́ anh cứ đi.
ông Cụ làm thế này là ông Cụ
đập vào mặt tôi." Hôm ấy là
ngày 28-10-1963. Đại uư Minh
sau 9 năm phục vụ bên cạnh
Ngô Đ́nh Cẩn phải xếp hành
trang rời bỏ cố đô Huế. Có
điều đáng nhớ: Đại uư Minh
sinh trưởng tại miền Bắc,
khi trở thành Chánh văn
pḥng của Ngô Đ́nh Cẩn mới
trên 26 tuổi...Một số người
vẫn cho rằng Cẩn không ưa
người miền Bắc, nhưng trường
hợp Đại uư Minh cũng như
nhiều cộng sự viên thân cận
của ông Cẩn gốc miền Bắc đă
đủ nói lên đây chỉ là "dư
luận", có thể dư luận ấy
xuất phát từ ngôn ngữ của
Cẩn mỗi khi la hét những
người gốc Bắc.
Đại loại sự xa cách trong
gia đ́nh họ Ngô là như vậy.
Chỉ có thể nói là xa cách
c̣n sự bất hoà không mấy ai
biết được ngoại trừ người
thân thiết của ba anh em
ông.
Ông Tổng thống nóng nẩy chửi
ai th́ chửi thẳng vào mặt.
ông Nhu không ưa ai nhưng
vẫn cười nửa miệng, lạnh
lùng khó hiểu. Ông Cẩn hay
quát tháo, xử dụng ngôn ngữ
b́nh dân với thái độ hách
dịch kiểu Đổng lư thời xưa.
UY QUYỀN
Đáng lư ra, những tiểu tiết
thuộc vấn đề nhân sự không
nên tŕnh bày, song có một
điều: Chính những tiểu tiết
vụn vặt nhiều khi lại làm
hỏng đại sự. Ngô Đ́nh Diệm
có cái uy của người lănh đạo
tối thiểu, nhưng ông lại
luôn luôn bị chi phối bởi
những chi tiết vụn vặt do cá
tính của ông cũng như sự dị
biệt trong cá tính của anh
em ông.Về Ngô Đ́nh Nhu, ai
cũng phải công nhận rằng ông
ta rất giỏi, thông minh, am
tường và thông suốt nhiều
vấn đề, nhưng lại quá kiêu
ngạo, tính t́nh lại lạnh
lùng khép kín.
Tổng thống Diệm là một người
giữ chữ Lễ, chữ Nghĩa theo
tiết độ của nho gia đă trở
thành cái khung chắc nịch
nhốt ông vào trong đó. Do đó
mà cái tôi t́nh cảm ( le moi
sensible) của ông không thể
hiện được ra ngoài để thâu
phục nhân tâm và hỗ trợ cho
cái uy sẵn có của ông. Sau
1963, phải nh́n nhận rằng,
trong hàng lănh đạo quốc gia
tại miền Nam, chưa có một
nhà lănh đạo nào chứng tỏ có
cái uy như ông. Đó là ưu
điểm và là điều cần thiết số
một của một ông Quốc trưởng.
Không có uy th́ quốc gia c̣n
ǵ phép tắc, thể thống và uy
quyền ?
Những người thân cận đều xác
nhận rằng: Phải sống lâu với
Tổng thống mới nhận ra con
người thực của ông. Con
người ấy lại luôn luôn bị
t́nh cảm chi phối, ông cả nể
và cả nghe. Năm 1959 là năm
ông đang say mê với công
cuộc khẩn hoang và phát
triển đồn điền. Cho nên nếu
ai khéo nói, khéo tŕnh bày
hợp lư, là Tổng thống đều
chấp thuận cho khai thác
rừng để lập đồn điền. Tướng
Xuân là một trong những
người được ông cho phép khẩn
hoang hàng trăm mẫu rừng tại
Phước Long để trồng cao su.
Có một báo cáo mật của địa
phương cho rằng, ông Xuân
chỉ giả vờ lấy cớ trồng cao
su mà thực ra là để phá rừng
lấy gỗ bán. Sau đó Ngô Đ́nh
Diệm có xem xét lại rồi gạt
bản báo cáo đi, mắng một ông
Bộ trưởng: "Bậy bạ. Người ta
làm cho quốc gia mà ḿnh cử
phá " . ông Tổng thống tin
mọi người cũng ngay thẳng
như ông. . .Nên đă bao nhiêu
giấy phép cho cúp rừng để
lập đồn điền khai hoang
nhưng "đồn điền" chỉ là cái
cớ để loè Tổng thống mà
thôi.
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU
CHÚNG TA ???
National Academy of
Public Administration -
Faculty of State and Law
- Inspection
|

09-04-2008, 08:32 PM
|
 |
Thành viên xuất sắc
|
|
Gia nhập: Dec
2006
Đến từ: Nation &
Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18
lần trong 9 bài
viết
|
|
ĐỊNH MỆNH AN
BÀI
Khoảng năm 1956-1960 có tin
đồn Đại tướng Thái Quang
Hoàng sẽ thay Đại tướng Tỵ.
Cũng như năm 1961, có tin
tướng Khánh sẽ thay tướng Tỵ.
Theo Lương Khải Minh, Đại
tướng Tỵ là cánh tay mặt của
Tổng thống Diệm. Nếu tướng
Tỵ không đi Mỹ chữa bệnh th́
chẳng bao giờ tướng Đôn trở
thành quyền Tổng Tham mưu
trưởng, như đă an bài, không
ai lúc đó có thể ngờ rằng sự
thay đổi chức vụ Tổng Tham
mưu trưởng lại trở thành một
trong những yếu tố làm chế
độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ.
Tổng thống Diệm được một bác
sĩ Mỹ cho biết: Bệnh ung thư
phổi của tướng Tỵ không thể
nào chữa khỏi và chỉ c̣n chờ
ngày chết. Những người thân
xin để Đại tướng Tỵ qua Pháp
điều trị, ông Tổng thống gạt
đi và quyết định đưa Đại
tướng qua Mỹ. Từ bao lâu rồi,
ông Tổng thống yên trí chỉ
có Mỹ mới giỏi về khoa học,
Tổng thống muốn tự tay ông
lo cho tướng Ty.
Trước ngày Đại tướng Ty lên
đường sang Mỹ chữa bệnh, có
đến cáo biệt Diệm. Hai người
tâm sự một lúc lâu. Tổng
thống hỏi: "Bà thân mẫu của
Đại tướng c̣n không ? " Rồi
Tổng thống tâm t́nh: “Tôi
th́ thân mẫu c̣n sống, thân
mẫu tôi đă già rồi, tôi cũng
phải cố giữ ǵn thân thể để
c̣n trả chữ hiếu cho mẹ ".
Tổng thống Diệm quư mến
tướng Tỵ, trước hết v́ tướng
Tỵ thật thà lại hay hàn
huyên tâm sự với Tổng thống.
Tướng Tỵ có thể tiếp chuyện
Tổng thống hàng nhiều giờ
không phải là chuyện quốc sự
hay quân cơ, mà thường là
chuyện t́nh cảm. Tướng Tỵ là
một trong mấy tướng chỉ xưng
"tôi" mà không dùng tiếng
"con" với Ngô Đ́nh Diệm. Đại
khái tướng Ty thường nói:
“Thưa Tổng thống tôi… Tôi
xin tŕnh Tổng thống . . .
Tôi xin thưa Tổng thống “.
Tướng Tỵ ăn mặc rất chỉnh tề,
đúng quân phong quân kỷ. Mỗi
lần vào pḥng Tổng thống
tướng Tỵ đều chào theo đúng
quy cách, đó là điều Tổng
thống rất thích. Một ưu điểm
khác nữa là tướng Ty không "xin
xỏ" lôi thôi...không kéo phe
kết đảng. . . ông nói năng
dơng dạc, nhưng với Tổng
thống lại tỏ ra rí rỏm, tâm
t́nh tỏ ra tương đắc.
Tổng thống Diệm tin cẩn
tướng Tỵ từ năm 1954 trong
vụ tướng Hinh. Lúc ấy tướng
Tỵ đang làm Tư lệnh đệ nhất
quân khu khi mà Tổng .thống
Diệm không có hơn một đại
đội pḥng vệ dinh, th́ chính
tướng Tỵ đă âm thầm t́m mọi
cách ủng hộ Ngô Đ́nh Diệm.
Tháng 9-1954, tướng Hinh dựa
vào lực lượng quân đội viễn
chinh Pháp quyết liệt hạ cho
bằng được ông Diệm, th́
tướng Tỵ bên ngoài vẫn giữ
tư thế quân nhân thuần tuư,
không đứng về phe tướng Hinh
cũng không công khai ủng hộ
Tổng thống Diệm, nhưng trong
bóng tối ông đă có thái độ
dứt khoát ủng hộ ông Diệm .
Từ đó, ông Diệm cảm kích tấm
ḷng trung kiên của tướng Tỵ.
Ông Nhu không ghét tướng Tỵ
nhưng cũng không có nhiều
thiện cảm đối với vị tướng
xuất thân từ thế hệ lính
Pháp. Giao lưu t́nh cảm và
công việc giữa tướng Tỵ và
ông Nhu gần như không có. Cả
năm, tướng Tỵ mới gặp ông
Nhu vài ba lần và mỗi lần
đôi bên chỉ chào hỏi xă
giao.Riêng tướng Tỵ, tỏ ra
khâm phục ông Nhu và dành
cho ông một sự kính trọng
đặc biệt.
Sau vụ đảo chính hụt
2-2-1960, Tổng thống Diệm
lại càng thương yêu tướng Tỵ
và hai con người cùng lớp
tuổi đă trở thành đôi bạn
tri kỷ.Cũng sau cuộc đảo
chính hụt ấy, một số nhân
vật cao cấp có ư t́m cách để
Tổng thống Diệm thay thế
tướng Tỵ. Nhưng tướng lănh
lúc ấy xem ra cũng không c̣n
ai hơn tướng Tỵ - người được
điểm này lại mất điểm kia -
ông Tỵ là loại "chung chung"
tuy vậy ông cũng bị một số
tướng tá trẻ gièm pha, nhất
là một số tướng tá thuộc
hàng con cưng của ông Cẩn.
Thời Đệ nhất Cộng hoà, uy
quyền tập trung vào một ông
Tổng thống, do đó chức Phó
Tổng thống của ông Thơ vẫn ở
tư thế một viên chức cao cấp
hơn là một Phó Tổng thống.
ông Thơ không có huy hiệu
riêng - ngoại trừ những lần
đại diện Tổng thống tham dự
những buổi lễ lớn - Xe của
Phó Tổng thống không có hiệu
kỳ cũng không cắm quốc kỳ.
ông đi làm b́nh thường như
một công chức: ngồi cạnh
tàixế và cũng không có xe
Harley hộ tống.
Riêng Đại tướng Tỵ là người
thứ hai của Đệ nhất Cộng hoà
được chia sẻ quyền uy với
Tổng thống. Mỗi lần ông vào
dinh là một sự uy nghi...hơn
cả ông Bộ trưởng Quốc pḥng.
Tư dinh của tướng Ty ở đường
Cường Để, được xây dựng trên
một ngọn đồi, chính là do
chỉ thị đặc biệt của Tổng
thống Diệm. Từ năm 1956, gần
như không có một cuộc kinh
lư nào của Tổng thống Diệm
mà không có mặt Đại tướng Tỵ.
Khi biến cố Phật giáo bùng
nổ th́ Đại tướng Tỵ lâm
trọng bệnh. Khi tiễn chân
Đại tướng Tỵ, Tổng thống
Diệm tặng cho ông một chuỗi
hạt và nói “Đại tướng nhớ
cầu nguyện cho tôi. . . Tôi
cầu xin ơn trên phù hộ cho
Đại tướng" - Tướng Tỵ là một
thứ tín đồ công giáo trong
tâm hồn – ông thuộc nhiều
kinh Công giáo và có ḷng
sùng mộ Đức Mẹ rất đặc biệt.
Mặc dầu gia đ́nh tướng Tỵ là
Phật giáo thuần thành. Tổng
thống Diệm ngậm ngùi phàn
nàn với Đại uư Bằng: ' Đại
tướng khó qua khỏi. . . bệnh
của Đại tướng không biết.
sống chết thế nào, khó qua
khỏi năm nay”. Tổng thống
Diệm đỡ vai tướng Tỵ và đi
cùng ông xuống đến tận thềm
dinh Gia Long. Cánh cửa xe
đóng lại, tướng Tỵ cúi đầu
chào, Tổng thống vẫy tay với
một vẻ ngậm ngùi.
Tổng thống Diệm chỉ định cho
Bộ trưởng phụ tá Quốc pḥng
phải tổ chức nghi lễ tiễn
chân Đại tướng Tỵ một cách
trọng thể đặc biệt. Ngày Đại
tướng Tỵ ra phi trường Tân
Sơn Nhất đáp máy bay đi Hoa
Kỳ, ông đă được hưởng đầy đủ
nghi lễ dành cho vị Thống
soái. Cửa pḥng khách danh
dự (VIP) của phi trường được
mở rộng. . .Đây là một vinh
dự đặc biệt v́ chỉ có Tổng
thống mới đi qua cửa này . .
.Trước năm 1963, pḥng khách
danh dự phi trường Tân Sơn
Nhất được xem như là nơi
tiêu biểu cho uy quyền và
thể thống quốc gia. Dù là
ông Ngô Đ́nh Nhu, Đức cha
Thục, Phó Tổng thống Thơ,
Chủ tịch Quốc hội vẫn đi vào
phi trường theo ngả thông
thường. Năm 1961, vợ chồng
ông Nhu công du qua Ma Rốc
với tư cách đại diện chánh
thức của Tổng thống Diệm th́
lần ấy pḥng khách danh dự
mới mở cửa đón tiếp.
Tuy là Tổng Tham mưu trưởng
nhưng Đại tướng Ty có uy thế
rất nhiều so với Bộ trưởng
phụ tá Quốc pḥng, đó là một
ưu đăi đặc biệt của Tổng
thống Diệm đối với ông.
Tại Mỹ, khi nghe tin Tổng
thống Diệm bị sát hại, Đại
tướng Tỵ bàng hoàng rồi ôm
mặt khóc. Sau này hồi hương,
mỗi lần nghe ai nhắc đến
Tổng thốngDiệm th́ Đại tướng
Tỵ lại than thở: "Hồi ông
tiễn chân tôi qua Mỹ, ông Cụ
tưởng tôi chết. . .Ai dè ông
lại chết trước tôi". Trước
giờ phút lâm chung, tướng Tỵ
vẫn giữ trong tay chuỗi hạt
của Tổng thống Diệm, ông coi
đó như là một kỷ vật thiêng
liêng.
MỐI T̀NH BÍ MẬT CỦA TỔNG
THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
Có một sự thực đă như thứ
hoả mù bao trùm miền Nam từ
hơn chục năm qua: Đó là sự
hiểu lầm, nghi quẩn lo quanh
và dư luận.
Dư luận bao giờ cũng chỉ là
dư luận. Thế nhưng dân chúng
vốn dễ tin, dễ nghe cho nên
dư luận về một người này hay
một chuyện kia được nhắc đi
nhắc lại nhiều lần, dư luận
mặc nhiên trở thành sự thực.
Hay ít ra cũng như thực. Rồi
dân chúng sống trong sự thực
đó mà phản kháng, mai mỉa
hay bằng ḷng với nó. Về sự
hiểu lầm, nghĩ sai cũng thế,
ngày này qua ngày khác, tích
luỹ lại rồi bộc phát tuỳ
theo hoàn cảnh mà trở nên ân
oán nhau.
Những người trong Chính phủ
"quốc gia" miền Nam, tuy
đứng cùng trong một chiến
tuyến, nhưng rồi v́ ngộ nhận,
v́ chính kiến dị biệt, về
đường lối và cách thể...trong
hơn 10 năm qua, những con
người "quốc gia" ấy đă quay
lưng lại nhau "ra lườm vào
nguưt và đánh đấm" nhau rất
"chí t́nh".
Nói về sự ngộ nhận th́ có cả
trăm h́nh thức ngộ nhận. Từ
đó dân chúng sẵn sàng "thêu
hoa dệt gấm" cho nhau bằng
cả cái gia tài tiếu lâm vô
hạn.Về Tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm chẳng hạn. Trước đây có
dư luận truyền trong dân
chúng là ông Diệm bất lực.
Do đó Tổng thống Diệm không
lập gia đ́nh và cứ đứng gần
đàn bà th́ ông ta hay thẹn
thùng. Nhiều người, kể cả
những người gần gũi Tổng
thống nhất cũng như trong
hàng ngũ đối lập,đều thắc
mắc về tiểu tiết mà họ cho
là hấp dẫn, ly kỳ cần phải
t́m hiểu: "Tổng thống có như
một người b́nh thường về cơ
quan sinh dục không" ? Cái
quan hệ gấp trăm ngàn lần
th́ chả để ư, song cái "tiểu
tiết" đó xem ra thiên hạ
thắc mắc lắm. Rồi ngườí ta
sáng tác ra nhiều giai thoại
rất ly kỳ và rất phù hợp với
bản chất ưa trào phúng và
tiếu lâm của dân chúng. Ông
Phạm Văn Nhu, nguyên Chủ
tịch Quốc hội thời Tổng
thống Diệm trong buổi trà
đàm cho biết rằng, ông và
Tổng thống Diệm thân nhau từ
năm 11, 12 tuổi ở xứ Huế.
Những năm thơ ấu đó trong
lúc hai người sống rất tự
nhiên theo sự tự nhiên của
tuổi trẻ, Phạm Văn Nhu không
thấy có ǵ khác lạ nơi con
người NgôĐ́nh Diệm, nghĩa là
Tổng thống Diệm hoàn toàn
b́nh thường về cơ thể như
tất cả mọi người. Điều này
thiết tưởng cũng nên t́m
hiểu v́ ai cũng hiểu rơ rằng,
yếu tố sinh lư trong một con
người đă rất quan hệ đến đời
sống tâm lư con người đó.
Năm 1948, cựu Thượng thư Ngô
Đ́nh Diệm vào miền Nam, khi
th́ ở Vĩnh Long với anh là
Ngô Đ́nh Thục, khi th́ lên
Sài G̣n lưu ngụ tại khu
Thánh đường Saint Pierre. Có
một thời gian ông Diệm đă
sống tại nhà Cha Tam ở Chợ
Lớn.
Khu Thánh đường ấy, 15 năm
sau (1948-l963) ông Diệm trở
lại lần cuối cùng rồi vĩnh
viễn ra đi về cơi thiên cổ.
Ông Diệm thích tâm sự hàn
huyên với cha Tam, nên dù di
đâu xa, ông vẫn lưu nhớ. Khi
ở Vĩnh Long về Sài G̣n ông
Diệm thường đến làm việc,
họp với nhóm Tinh thần và
Hoa Lư tức là hai tờ báo
hoạt động theo khuynh hướng
xă hội Công giáo, trụ sở của
nhóm Tinh thần và Hoa lư đặt
một pḥng trên tầng lầu hai
của cư thất luật sư Lê Văn
Kim (vị luật sư đậu nhiều
bằng cấp khác nhau. Năm 1945
bị Nhật giết v́ cho rằng
luật sư Kim là gián điệp của
quân đội Đồng minh). Ông
Diệm hằng ngày đến trụ sở
này để làm việc với một số
cộng sự, trong số đó có Giáo
sư Phạm Văn Nhu vừa từ Huế
vào.
Giáo sư Nhu cho biết, anh em
ông vẫn "tiếu lâm" với nhau
sau những giờ làm việc mệt
nhọc và cũng là cách để đỡ
nhớ vợ con.
Nhưng mỗi khi ông "Thượng
thư" đến th́ anh em ông lại
phải bắt tay vào làm việc
hội họp. Ông Diệm không
thích chuyện tếu.
Nhưng ông có thể ngồi nói
chuyện liên miên hằng hai,
ba giờ hết chuyện đất nước
đến chuyện tây chuyện Mỹ,
chuyện trên trời dưới
biển.Những lúc tâm sự như
thế, ông Diệm cười rất có
duyên và yêu đời hơn cả
những dân có "t́nh ái" yêu
đời.
Năm 18, 19 tuổi, khi ông
Diệm c̣n đang là sinh viên
trường Hậu bổ, vào một buổi
sáng mùa hè nọ, ông đang
ngồi đọc sách trên lầu tại
nhà chị gái tức bà Cả Lễ,
th́ ba bốn cô gái Huế đến
chơi nhà bà Cả. Vốn là những
tiểu thơ khuê các trong một
thời mà làn sóng lăng mạn
phương Tây đang đổ xô vào
tâm hồn giới trẻ (tiểu
thuyết Tố Tâm năm 1922 là
một thí dụ).
Các nàng tiểu thơ kia đă t́m
mọi cách chọc ghẹo, chài mồi
cậu ấm Diệm, tuy lùn nhưng
có bộ mặt điển trai. Vào một
thời đại “phi cao đẳng bất
thành phu phụ”, và ở giữa
đất kinh thành của vua chúa
quan quyền th́ tất nhiên là
cậu ấm Diệm trở thành đối
tượng cho ḷng say mê của
biết bao nhiêu tiểu thơ.
Nhưng hôm ấy, trước sự chài
mồi,chọc ghẹo của các cô,
cậu ấm Diệm bỗng nhiên nổi
nóng, đứng trên lầu mà mắng
các cô, những rằng “con gái
ǵ mà hư thân trắc nết như
rứa".
Thêm vào đó, cậu ấm Diệm khi
c̣n học ở trường Pellerin đă
từng nuôi mộng đi tu để trở
thành một sư huynh sau này.
Từ buổi cậu bất thần nổi
giận với mấy cô, cả vùng Phú
Cam các cô rỉ tai nhau: "Cậu
Diệm sợ đàn bà con gái".
Cũng từ đó khi trở thành Tri
phủ Hoà Đa, Tuần vũ Phan
Thiết, ông Diệm đă "ở vậy"
dù có rất nhiều gia đ́nh
“đường quan vị vọng” đánh
tiếng gả con gái cho.
Cho đến năm 1948, khi ông
Diệm đă gần ngũ tuần, giới
thân cận của ông không ai
nghe thấy ông nói về chuyện
đàn bà con gái.
Phần v́ nể ông, cho nên
trong những lần tṛ chuyện
với ông cũng chẳng ai đề cập
làm chi. Lại có một số người
"đạo đức giả" mỗi khi gặp
ông chỉ nói toàn chuyện đạo
đức tu hành thánh hiền. Hoá
cho nên trong ngôn ngữ giao
tiếp hàng ngày, ông Diệm đă
không có dịp nào sử dụng
ngôn ngữ về thế giới đàn bà
và t́nh ái. Rồi dần dần, mỗi
khi nhắc đến ông Diệm, người
thân và cộng sự của ông đă
chỉ coi ông như một người
đàn ông đứng riêng trong một
thế giới không vướng mắc mùi
" tục luỵ ".
BÍ MẬT CỦA NHỮNG ĐIỀU
THẦM KÍN
Sau này khi ông Diệm chấp
chính cho đến năm 1963,
người ta lại càng hồ nghi,
rồi trở nên tin tưởng ông
"bất thường sinh lư". Quanh
cái tiểu tiết đáng ṭ ṃ này
giới có ăn học lại thường
đem ra phân giải theo sự ăn
học. Giới b́nh dân th́ lại
rỉ tai nhau theo cái máu
trào phúng của giới b́nh
dân. Về điều ǵ chứ cái sự
liệt của một người không đi
tu dân Việt ta coi bộ không
chịu và người đó bị coi là
dân khó tính, dân không chịu
chơi, dân mất thăng bằng và
hay quan trọng hoá. Sau vụ
2-2-1960, một luật sư -
người của chế độ cũ - lúc ấy
đă phẩm b́nh trong hơi men
chếnh choáng, đại ư rằng
“ông Diệm th́ liệt, ông Nhu
th́ coi bộ "lănh cảm " nên
bà Nhu mới tha hồ không chế
tung hoành, theo cái luật âm
thịnh dương suy”.
Như trên đă viết, ông Diệm
là một người b́nh thường
trong phần "cơ cấu quan
trọng của thân thể ", giáo
sư Phạm Văn Nhu kể lại như
sau:
Vào một buổi sáng đẹp trời,
năm 1948, ông Diệm từ nhà
thờ Cha Tam đến t́m ông Nhu
ở trụ sở nhóm Hoa Lư Tinh
thần (nhà luật sư Lê Văn
Kim). Hôm ấy, ông Diệm vui
tươi lắm, mất hẳn sự ưu tư
khắc khổ. ông Nhu nghĩ trong
bụng: Có lẽ,”Cụ Thượng thư"
mới nhận được tin ǵ tốt
lành đây ông Diệm bảo ông
Phạm Văn Nhu: "Mọi công
chuyện hăy xếp lại đó sáng
nay bọn ḿnh đi chơi sở
thứ'. ông Nhu đi mượn một
chiếc xe hơi Limousine của
một vị tướng Cao Đài, rồi
hai người "thả ga" lên dọc
sở thú. Dọc đường ông Diệm
đề nghị "Bọn ḿnh ghé tiệm
nào đấy uống ly café chơi".
Và đó cũng là một điều lạ
khiến ông Nhu thắc mắc: "Hẳn
ông ấy phải có một chuyện
chi quan hệ lắm đây" . . .
Sau tuần café sữa , hai
người lên sở thú, đi một
ṿng thưởng ngoạn cỏ cây hoa
lá chim muông. Nhưng xem
chừng ông Diệm có điều ǵ
“nao nức" khác hơn là chuyện
đi chơi sở thú. Ở sở thú ra,
ông Diệm có vẻ ngần ngại,
đắn đo một lúc lâu rồi bảo
ông Nhu: "ông cho tôi lên
đường Pasteur nơi ngă tư
Pasteur và đường Legland De
Lahraye (tức Phan Thanh Giản
hiện nay). Đến nơi, ông Diệm
bảo ông Nhu khoá xe rồi đi
theo ông..Hai người vào một
căn nhà trên tầng lầu hai
(một dăy nhà dài, gồm nhiều
căn và hầu hết đều là nhà
công chức người Pháp) . ông
Nhu chỉ hỏi: "ông vào nhà ai
ở đây?". ông Diệm vẻ mặt
tươi hẳn lên và đáp: "Tôi
vào đây thăm con mệ nó" .
Lần đầu tiên ông Nhu nghe
thấy ông Diệm nói đến "con
mệ nó", ông đi thăm "con mệ
nó". Trước khi vào nhà ông
Diệm nói: "Con mệ nó hiền
đức lắm" - ông Diệm gơ cửa,
một người đàn ông trạc 50
tuổi ra mở cửa, vừa trông
thấy ông Diệm, ông ta đă cúi
đầu kính cẩn thưa: “Mời cụ
lớn vào". Ông Diệm hỏi ngay
“Bà có nhà không “ Người đàn
ông thưa: “Bẩm cụ lớn, bà
con mới ra Nha Trang, mời cụ
lớn vào nhà dùng nước đă " -
Vẫn theo lời giáo sư Phạm
Văn Nhu, ông Diệm đang tươi
vui bỗng nhăn mặt lại, không
vui. ông nói trống không "lạ
chi hè, đi Nha Trang mà
không cho biết hỉ". ông Diệm
đứng bần thần một lúc rồi
hỏi người dàn ông: "ông có
biết bà ra Nha Trang ở nơi
mô không, ông có địa chỉ
không” Người đàn ông đáp là
có biết. Ông Diệm bỗng vui
hẳn lên rồi líu tíu quay
sang phía ông Nhu: "ông có
mang giấy bút, ông ghi lại
cho tôi ngay".
Ông Nhu th́ nghĩ bụng hẳn
ông Diệm hay lui tới căn nhà
này luôn cho nên gia nhân
mới thân mật, mời chào như
vậy.
Căn nhà đó lần đầu tiên ông
Phạm Văn Nhu đến thăm và ông
cũng là người duy nhất được
ông Diệm tin cẩn cho đi
theo. Khi đă có địa chỉ
trong tay rồi, ông Diệm rất
mừng trở về và bảo ông Nhu
phải sửa soạn hành lư đi ra
Nha Trang ngay để thăm "cho
biết".
Dọc đường trở về nhà ông
Diệm đă tâm t́nh với ông Nhu
là “con mệ nó" tuy lấy Tây,
tuy là hạng đàn bà bị người
khinh rẻ, nhưng ḷng dạ tốt
lắm và rất thương đồng bào.
Nhờ "Con mệ nó" (ông Diệm
nhắc đi nhắc lại nhiều lần)
ông ñaơ cứu được nhiều người
quốc gia (1) bị mật thám
bắt. ôngDiệm cho biết thêm,
chồng "con mệ nó " là người
Pháp ṭng sự tại Sở Mật thám
liên bang Bót Catinat
(Surreté Fédérale) mỗi khi
có bạn bè hay người quen
thuộc phe quốc gia bị mật
thám bắt ông Diệm lại nhờ
"con mệ nó " lập tức, chồng
"con mệ nó”, can thiệp trả
tự do ngay”.
Sau này cũng v́ một vụ can
thiệp như vậy do ông Diệm
cậy nhờ qua trung gian là
"con mệ nó" người chồng Pháp
của bà ta bị thải hồi sau
phải lên Đà Lạt làm cho một
hăng sửa xe hơi. Rồi người
chồng của bà ta bị chết
trong một tai nạn máy bay
trên không phận Sài G̣n.
Ngày hôm sau hai ông đă có
mặt tại Nha Trang. ông Nhu
đi kiếm địa chỉ trước, để về
cấp báo cho ông Diệm "con mệ
nó" của ông đang ở nơi mô.
Khi gặp mặt bà ta, ông Nhu
mới ngă ngửa người kinh
ngạc. Người đàn bà này không
ai khác hơn là cô gái Huế
mới thuở nào hai người từng
quen mặt biết tên và cô gái
Huế xinh tươi thuở ấy cũng
đă từng biết mặt, nghe tên
"cậu ấm Diệm".
Qua bao nhiêu năm xa cách,
ông Nhu không hiểu từ một
duyên cớ nào cô ta đă phải
đem thân lưu lạc đến tận đất
Sài G̣n và trở thành vợ một
người da trắng. ông Nhu cho
biết thêm: "Đây là người đàn
bà thuộc loại sắc nước hương
trời, ăn nói lại duyên dáng
mặn mà". ông Diệm đă tâm
t́nh với ông Nhu: "Tôi
thương con mệ nó hiền đức,
tuy lấy Tây mà nó vẫn c̣n
t́nh, c̣n nghĩa với người
đồng bào ".
Bà ta ra Nha Trang lần ấy để
thăm xứ Thuỳ Dương lần cuồi
cùng, trước khi sang Pháp
sống lưu lạc nơi quê chồng.
Một nhà thơ Pháp từng than
thở cho nỗi đoạn trường ân
ái "Mon coeeur à son secret,
mon amour à son mystère. .
."(2) Biết đâu ông Diệm đă
chẳng từng nuôi cơn mộng sầu
nhớ thiên thu của t́nh
trường. Chỉ biết rằng, vẫn
theo lời giáo sư Nhu từ đấy
rồi...thôi, riêng ông không
bao giờ c̣n nghe thấy ông
Diệm nhắc lại, ba tiếng “con
mệ nó” với bao nhiêu nao nức
như lần đi thăm sở thú và
đến Nha thành. ...
Một số người có khuynh hướng
thần thánh hoá Ngô Đ́nh Diệm
(mà cựu bộ trưởng Trần Chánh
Thành là một), nên đă dựng
lên những câu chuyện đầy bí
ẩn về đời riêng của ông ta.
-------------------------------------------------------
1, Chỉ người của Ngô Đ́nh
Diệm
2, Trái tim tôi thuộc về
điều bí mật của ông ta, t́nh
yêu tôi thuộc về sự huyền bí
của ông ta.
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU
CHÚNG TA ???
National Academy of
Public Administration -
Faculty of State and Law
- Inspection
|

09-04-2008, 08:36 PM
|
 |
Thành viên xuất sắc
|
|
Gia nhập: Dec
2006
Đến từ: Nation &
Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18
lần trong 9 bài
viết
|
|
Chương IV : Tổng thống Diệm
và Công giáo
Chúng tôi đơn cử một thí dụ
về "mặc cảm Công giáo" đối
với Tổng thống Diệm. Vào lần
cải tổ Chính phủ năm 1961 .
ông Nhu được uỷ thác t́m một
nhân vật giữ chức vụ Bộ
trưởng Tư pháp.
Ông cho mời bác sĩ Tuyến bàn
luận và ngỏ ư:
- Tôi muốn mời một luật sư
Suy nghĩ một lát, ông nói :
- Giới thẩm phán th́ có
chuyên môn nhưng “Sans
caractère politique". Bác sĩ
Tuyến đáp: Trong hoàn cảnh
này, ông Cố vấn nên chọn
người trong giới thẩm phán .
Ông Nhu băn khoăn:
- Khó lắm. ông Sĩ đó cũng là
thẩm phán!
Bác sĩ Tuyến tŕnh bày:
- Giới thẩm phán có nhiều
người rất khá .
Ông Nhu hỏi:
- Ai đấy? Liệu có làm được
ǵ không hay cũng chỉ như
...gagner quelque chose!
Bác sĩ Tuyến đề nghị:
- Phía nguời Bắc tôi thấy có
ông toà Nguyễn Văn Lượng.
Phía người Nam tôi thấy có
ông toà Trần Minh Tiết.
Ông Nhu không ngần ngại chấp
nhận để ông toà Trần Minh
Tiết giữ Bộ Tư pháp v́ ông
Tiết có ba ưu điểm: Người
Nam, thẩm phán cao cấp và ở
tuổi tráng niên.
V́ biết tính ông Diệm nên
"chú Nhu” đưa cả Trần Minh
Tiết và Nguyễn Xuân Lượng để
tuỳ ư ông Diệm lựa chọn.
Trước đó ông Nhu đă hết lời
khen ngợi nồng nhiệt ông toà
Trần Minh Tiết trước Tổng
thống Diệm. ông Tổng thống
chọn Trần Minh Tiết theo đề
nghị của "chú Nhu”. Ông Nhu
biết tâm lư ông anh nên đề
nghị mà như không đề nghị.
Muốn tiến cử ai, ông Nhu
thường dùng lời nói khéo
léo, gián tiếp khen ngợi
nhân vật này. Trường hợp ông
Trần Minh Tiết ông Nhu nói
đại cương: "Tiết tương đối
trẻ, tôi nghĩ giới thẩm phán
tín nhiệm ông ta lắm. . .
Tiết làm việc hăng hái...".
ông Nhu chỉ cần nói như vậy
là coi như ăn chắc. Nhưng
nếu ông Nhu đề cử đích danh
ai và có tính cách chỉ định
th́ coi như thất bại, ông
Tổng thống sẽ lờ đi luôn.
Nhưng sau một đêm th́ ông
thay đổi ư kiến ngay và gọi
ông Nhu vào cho biết ông
chọn thẩm phán Nguyễn Văn
Lượng. Ông Nhu trở về pḥng
gọi bác sĩ Tuyến vào cho
hay: "Tổng thống nói cái ǵ
cũng công giáo...công giáo
". Thẩm phán Trần Minh Tiết
có ưu điểm là người Nam điều
mà ông Tổng thống lưu ư
trước nhất, nhưng ông Tiết
lại là tín đồ Thiên Chúa
giáo. ông Nguyễn Văn Lượng
là một Phật tử, được trao
chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Theo Lương Khải Minh, trong
9 năm chế độ Ngô Đ́nh Diệm,
mọi sự bổ nhiệm cao cấp đều
căn cứ theo hai yếu tố địa
phương và tôn giáo v́ ông
Diệm muốn như vậy. Một trong
mấy cộng sự thân tín của ông
Tổng thống lại là một Phật
tử như trường hợp ông Vơ Văn
Hải. ông Hải theo ông Diệm
từ hồi c̣n thiếu niên, Bộ,
Sở nào mà nhiều viên chức
cao cấp người Bắc, ông Tổng
thống cũng không chịu hoặc
nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo
ông cũng không ưng. Cuối
cùng Bộ Tham mưu của Nhu đưa
ra một giải pháp:
Nếu Bộ trưởng là người Nam
th́ ông Đổng lư sẽ là người
Bắc, ông Tổng Giám đốc sẽ là
người Trung. Trên thực tế,
giải pháp này rất khó thực
hiện v́ vấn đề địa phương
nếu có kỳ thị th́ chỉ linh
cảm thấy sự kỳ thị chứ thực
ra làm ǵ có kỳ thị. Trước
sau chỉ có mặc cảm và thành
kiến địa phương do địa vị,
quyền lợi tạo nên mà
thôi.Vấn đề tôn giáo cũng
vậy. Trong cuộc sống chung
giữa cộng đồng dân tộc từ
trước đến nay không có vấn
đề kỳ thị tôn giáo, song
trên phương diện quốc gia
nhiều cái vụn vặt và tầm
thường lại dễ dàng tạo nên
những hiện tượng như là kỳ
thị tôn giáo.
Những cuộc rước xách với cờ
xí rợp trời của tôn giáo
cũng là những lư do vụn vặt
từng tạo nên ngộ nhận. Tín
đồ Thiên Chúa giáo lại hay
tổ chức rước xách như vậy.
Tuy là việc thiêng liêng và
phải được chính quyền tôn
trọng, nhưng nó cũng dễ dàng
tạo nên sự khó chịu của
những người không cùng tôn
giáo.Mỗi khi có cuộc rước
xách đồng bào Thiên Chúa
giáo lũ lượt kéo đi và có
khi kéo dài cả hàng cây số,
giao thông bị tắc nghẽn.
cũng dễ dàng gây nên sự khó
chịu cho người không cùng
tôn giáo.
Linh mục X đến thăm Lương
Khải Minh ông Minh phàn nàn:
- Cho đến nay, tôi cũng
không hiểu sao mối bất đồng
giữa cha Lê Hữu Từ và Linh
mục Hoàng Quỳnh lại như vậy.
. . Chính quyền này là một
chính quyền chống cộng mà
đức cha Lê cũng như cha
Quỳnh đều là những chiến sĩ
chống cộng.
Linh mục X đáp:
- Thực ra th́ có nhiều
nguyên nhân. Theo tôi, điều
mà làm cho Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm giận nhất là dạo
cuối năm 1954, cha Hoàng
Quỳnh lại uỷ cho Trần Thiện
tổ chức một trung đoàn Bắc
tiến tại B́nh Tây do B́nh
Xuyên tài trợ.
Lương Khải Minh biết vụ đó
và cho rằng, trong t́nh thế
nguy nan lúc ấy, cha Hoàng
Quỳnh uỷ cho Trần Thiện làm
như vậy chỉ v́ cha có ư nếu
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bị
Pháp lật đổ th́ ít ra công
giáo di cư c̣n có lực lượng
để tự vệ.
Linh mục X cho biết Linh mục
mới vào yết kiến Tổng thống
Diệm, Linh mục phàn nàn về
việc Tổng thống Diệm có vẻ
cấm đoán giáo dân treo cờ
giáo hội. Lương Khải Minh
cho biết:
- Cách đây không lâu tôi
cũng đề cập đến vấn đề này.
Nhưng xử ta ở trong một t́nh
trạng chậm tiến th́ cái ǵ
nó cũng chậm tiến cả..
Linh mục X nói:
- Cờ giáo hội là cả một sự
thiêng liêng, cấm đoán sao
được.
Lương Khải Minh đáp :
- Sự thục th́ như vậy nhưng
trên phương diện quốc gia
th́ cờ giáo hội Công giáo
trước hết là quốc kỳ của
Vatican. Tổng thống cũng có
lư. Thời gian du học tại
Pháp lại không thấy giáo dân
Pháp treo cờ Vatican đầy
đường như tại Việt Nam.
Linh mục X nói:
- Pháp là một chuyện, Việt
Nam là chuyện khác. Trên
phương diện bang giao quốc
tế th́ Vatican đối với Việt
Nam là hai quốc gia. Nhưng
Vatican tiêu biểu cho cho
thần quyền đối với chúng
tôi.
Linh mục X băn khoăn:
- Nếu tôi tŕnh việc này với
Đức Tống Giám mục Nguyễn Văn
B́nh th́ chỉ tạo thêm sự
hiểu lầm giữa Chính phủ với
hàng giáo phẩm. Sau vụ bất
hoà giữa Tổng thống Diệm và
Đức cha Simone Hoà Hiền tôi
nghĩ giới Công giáo cũng
buồn ḷng không ít.
Lương Khải Minh góp lời bàn
:
- Cha nên gặp ông bộ trưởng
Bùi Văn Lương. Theo tôi,
tổng thống nói th́ nói thế
thôi nhưng mai một là quên
ngay. Tôi nghĩ cũng cha nên
gợi lại.
Đề cập đến vụ đất tại khu
vườn cao su Phú Thọ, Linh
mục X nói:
- Hai bên c̣n đang giằng co,
chúng tôi ở giữa bị kẹt.
Nhưng khu vườn cao su Phú
Thọ trên giấy tờ hợp pháp là
tài sản của giáo khu Sài
G̣n. Đức cha Nguyễn Văn B́nh
ngài quá hiền lành nên không
quyết liệt đấy thôi. Tại sao
Tổng thống lạ ingăn cản
không cho giáo khu Sài G̣n
được phát triển, chỉnh trang
khu vục này mặc dù giáo khu
SàI G̣n là sở hữu chủ.
Lương Khải Minh đáp:
- Tôi cũng biết vụ đó. Mới
hôm qua, tôi đưa các cháu đi
dạo qua khu này. Khu đất
rộng bao la. Nhưng Cha nghĩ
coi Tổng thống đă quyết định
th́ không cách nào ngăn nổi.
Nhưng đă thấy nhiều gia đ́nh
đến chiếm ngụ. H́nh như đă
có chương tŕnh phân lô.
Linh mục X nói:
- Giả dụ, Giáo khu cứ cho
giáo dân đến xây dựng nhà
cửa và phát triển, ông nghĩ
sao?
Lương Khải Minh đáp :
- Theo tôi ông Nhu chả dám
nói với Tổng thống về tôn
giáo, chỉ có Phó Tổng thông
Thơ có thể nói với Tổng
thống th́ Tổng thống mới
tin. Tôi nhớ từ dạo
1959-1960, Tổng thống đă cho
lập chương tŕnh chỉnh trang
khu đất này. Chắc là chưa có
ngân khoản nên chưa thực
hiện.
Nếu Tổng thống làm thế th́
gặp phản ứng lớn. Tài sản
của Giáo khu Sài G̣n chứ đâu
phải của Quốc gia mà Tổng
thống cho chỉnh trang sát
nhập vào đô thành.
Tổng thống Diệm rất ghét
những chuyện “Áp phe xin
xỏ". ông là người Quốc gia
cực đoan, cho nên cứ cái ǵ
dính với Tây là ông không
chịu. Nếu ai hay tổ chức nào
dùng áp lực đ̣i ông giải
quyết th́ không giải quyết
được ǵ cả. Vụ cờ "Giáo hội
Vatican" chỉ một ngày sau là
êm rồi không ai nhắc tới
nữa.
Nhưng đến ngày Phật đản năm
1963 th́ vụ cờ quạt lại nổ
tung. Chính quyền ra lệnh
cấm treo cờ vào dịp này.
Sáng ngày 5-8-1963 ông Đổng
lư Quách Ṭng Đức vào pḥng
Tổng thống để nhận chỉ thị,
bỗng dưng Tổng thống Diệm có
thái độ giận dữ. ông la mắng
vu vơ: 'Đă ra chỉ thị mà
không thi hành, quốc gia này
c̣n chi là thể thống ". Tổng
thống Diệm trong giây phút
nóng giận như thế đă chỉ thị
cho Đổng lư Đức đánh công
điện về thể thức cấm treo cờ
tôn giáo. Thực ra không có
chuyện cấm treo cờ Phật giáo
mà chỉ ấn định lại thể thức
treo cờ tôn giáo tại nơi tôn
nghiêm. ở nơi tôn nghiêm th́
quốc kỳ phải được tôn trọng
trên hết. Điều này rất đúng;
mặc dầu tôn giáo là thiêng
liêng nhưng trong cộng đồng
dân tộc với nhiều tôn giáo
khác biệt th́ quốc gia phải
trên hết. Quốc gia đứng trên
tập thể. ông Đổng lư vốn là
một công chức gương mẫu lại
có tính nhẫn nại và bao giờ
cũng tuân hành đúng y lời
chỉ của Tổng thống nên ngày
hôm sau, bức công điện được
gởi đi. Trong Phủ Tổng thống
không một ai hay kể cả ông
Ngô Đ́nh Nhu.
Tại Huế, cố đô của những
lăng tẩm chùa chiền, ngày lễ
Phật đản mỗi năm đều như đại
hoa đăng. Đồng bào Phật giáo
ở đây chiếm đại đa số. Huế
từ bao nhiêu năm vẫn là một
h́nh ảnh của Thuận Hoá, của
Phú Xuân, của tiếng chuông
Thiên Mụ và ấp ủ trong chiếc
nôi ru bằng từng hồi kinh
chùa Báo Quốc, Diệu đế, Từ
đàm . Cho nên, lễ Phật đản
là một dịp thiêng liêng
trọng đại. Trước ngày lễ, từ
nhà đến chùa chiền đă tấp
nập và cờ xí rợp trời. Phật
kỳ tung bay nơi nơi. Mọi năm
vẫn như thế.
Bỗng dưng chỉ v́ một cái
công điện, Huế bắt đầu đổi
thay và chuyển ḿnh. Ngọn
lửa nào đó gặp cơn gió lớn
bắt đầu bốc cao.

Sinh viên và Phật tử Huế
biểu t́nh chống chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm.
HẬU QUẢ
Vụ cấm treo cờ Phật giáo chỉ
là nguyên nhân gần tạo nên
cuộc biến động 1963. Giả thử
không có vụ Phật giáo th́
cũng có một vụ khác. Tuy
nhiên vụ Phật giáo lại trầm
trọng quá và hậu quả của nó
thực ghê gớm và kéo dài măi
măi đến sau này.Về vụ Phật
giáo nếu xét theo khía cạnh
chính trị th́ chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm đă mắc phải
một lỗi lầm lớn. Nếu cắt
nghĩa theo sự an bài của
định mệnh (nếu cho là có
định mệnh th́ vụ Phật giáo
quả là một "định mệnh" đối
với Tổng thống và chế độ Ngô
Đ́nh Diệm.
Ngay khi được h́nh thành chế
độ Ngô Đ́nh Diệm đă có sẵn
cái mầm của sự tan ră. . .chế
độ Ngô Đ́nh Diệm cáo chung
vào ngày 1-11-1963 nhưng nó
đă có khởi điểm của sự cáo
chung ấy từ nhiều năm trước.
CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ
Nhiều người ngộ nhận rằng,
Thiên Chúa giáo luôn luôn
đứng đằng sau lưng “Ngô Tổng
thống " và một ḷng hỗ trợ
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Điều này không đúng. Nếu có
th́ chỉ có những cá nhân
theo Thiên Chúa giáo hết
ḷng với chế độ Ngô Đ́nh
Diệm.
Vụ "Chủng viện" năm
1958-1959 là một thí dụ.Vụ
Chủng viện được coi như hành
động của chánh quyền Ngô
Đ́nh Diệm nhằm hạn chế tự do
của hệ thống giáo dục Công
giáo. Tổng thống Diệm đă
từng sống trong tu viện và
hiểu rơ hệ thống giáo dục
trong tu viện quan trọng như
thế nào đối với Giáo hội
Thiên Chúa giáo.
Tại quốc gia phương Tây, hệ
thống tư thục cũng như các
Chủng viện đều được hưởng
một quy chế tự do trên tinh
thần tôn trọng tôn giáo,
song vẫn được phép phát
triển theo từng sắc thái và
khuynh hướng riêng.
Thế nhưng Tổng thống Diệm
tuy là một tín đồ Thiên Chúa
giáo nhưng ông lại làm trái
tinh thần ấy và với quy chế
tư thục, ông Tổng thống đă "thế
tục hoá" hệ thống giáo dục
Chủng viện và hạ thấp giá
trị của các Chủng viện bằng
cách xếp Chủng viện ngang
hàng với trường tư. Hàng
giáo phẩm Thiên Chúa giáo
Việt Nam coi đây là một sự
cưỡng chế tự do trong ngành
giáo dục của Thiên Chúa giáo.
Các Linh mục thuộc nhiều địa
phận đồng loạt đứng lên phản
đối. Sự thực, nếu không bị
kẹt v́ đức cha Ngô Đ́nh Thục
và nhất là Đức Khâm sứ toà
thánh lúc bấy giờ hàng giáo
phẩm Thiên Chúa giáo không
dễ ǵ để chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm quyết định một
cách cứng rắn như vậy. Đức
Khâm sứ toà thánh trực tiếp
can thiệp nhưng trước sau
Tổng thống Diệm vẫn không
thay đổi lập trường.
Mọi sự dàn xếp bên trong
cũng không đi đến đâu. Một
số Linh mục xin vào yết kiến
và tŕnh bày nguyện vọng,
Tổng thống nghe rồi nói ngắn
ngủi: "Giáo hội ở trong quốc
gia chứ không phải quốc gia
ở trong Giáo hội".
Linh mục Joseph: “Xin Tổng
thống cứu xét lại Các Chủng
viện không thể nào đặt dưới
quyền điều khiển trực tiếp
của một Giám đốc Nha tư
thục".
Tổng thống Diệm nh́n ông Bộ
trưởng Bộ Giáo dục rồi mắng
vu vơ: “Anh không hiểu ǵ
luật lệ cả Anh phải chỉ vẽ
cho người ta. Anh cứ ngậm
miệng hoài".
Bộ trưởng Bộ Giáo dục tự
nhiên bị lôi vào ṿng chiến
và bị mắng oan trước mấy vị
Linh mục. Đó cũng là cách mà
Tổng thống Diệm thường hay
xử dụng để biểu lộ thái độ
tức giận. Nói đúng ra th́
ông đă mắng xéo các vị Linh
mục đang hiện diện trước
mặt.
Trước khi vào yết kiến Tổng
thống Diệm th́ Linh mục nào
cũng mạnh miệng. Một Linh
mục hăng hái nhất nói : "Tôi
sẽ nói thẳng cho Tổng thống
rơ - Tôi sẽ nói hết không nể
nang ǵ cả". Tuy nhiên, khi
gặp Tổng thống Diệm, các
Linh mục mỗi người chỉ nói
vài ba câu rồi im lặng, nghe
Tổng thống Diệm thuyết
giảng.
Kết quả, Tổng thống Diệm
không nhượng bộ. Giáo hội
Thiên Chúa giáo đành chịu
vậy nhưng trong ḷng vẫn hậm
hực. Vụ Chủng viện đến tai
Toà thánh Vatican. Tuy Toà
thánh không có một phản ứng
nào (v́ đường lối ngoại giao
đối với Chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm) nhưng có lẽ do vụ
chủng viện vào năm 1960, khi
mà đức cha Ngô Đ́nh Thục qua
La Mă xin triều kiến Đức
Giáo Hoàng, đức cha đă phải
chờ đợi cả nửa tháng mới
được vào triều kiến. Kể từ
vụ Chủng viện, mối bang giao
giữa Toà thánh Vatican và
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm
trở nên lạnh nhạt, bên ngoài
không mấy ai rơ.
Trong khi đó Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm lại cho rằng Toà
thánh Vatican không ủng hộ
chính quyền của ông một cách
cụ thể.
Kể từ năm 1956 khi đă thành
lập nền Đệ Nhất Cộng hoà,
Tổng thống Diệm ngỏ ư muốn
thiết lập bang giao với
Vatican trên cấp bậc Đại sứ
(Nonce). Tin đưa đi đưa lại
và dàn xếp cả mấy năm vẫn
không đạt được kết quả mong
muốn.
Ông Ngô Đ́nh Nhu đă hiểu rơ
được thế lực của Vatican
trên thực tế. Ngoài Anh,
Pháp Mỹ th́ Vatican cũng là
một "Voix" (1) trong thế lực
quốc tế.Nếu được Vatican ủng
hộ công khai th́ chế độ miền
Nam vừa có bề thế vừa tạo
được một số yếu tố quan
trọng để áp đảo miền Bắc
trên mặt trận ngoại giao.
Cuộc dàn xếp đă âm thầm diễn
ra trong 7, 8 năm. Bác sĩ
Tuyến cũng như Đại sứ Nguyễn
Dương Đôn (tại Ư) Đức Khâm
sứ Brini, Ngoại trưởng Việt
nam Cộng hoà, ông Ngô Đ́nh
Nhu đều là những người đóng
vai tṛ tích cực trong cuộc
thảo luận để thiết lập bang
giao với Vatican qua một
đường hướng mới. Ta có thể
mô tả cuộc dàn xếp đó theo
một h́nh thức đối thoại như
sau:
- Tổng thống Diệm: Việt Nam
Cộng ḥa đă thu hồi độc lập.
Miền Nam là một lănh thổ có
chủ quyền, là một quốc gia
muốn nối liên lạc với
Vatican trên cấp bậc Đại sứ.
-Toà thánh Vatican: Vatican
biết rơ như vậy.Trên phương
diện tinh thần, Vatican ủng
hộ Việt Nam Cộng hoà và cư
xử với Chính phủ như một
quốc gia độc lập. Nhưng trên
thực tế Việt Nam c̣n bị chia
cắt Miền Bắc do cộng sản nắm
chính quyền, trên thực tế họ
vẫn là đại diện có thẩm
quyền của một nửa lănh thổ
Việt Nam và ở đó, Giáo hội
vẫn có trách nhiệm với giáo
dân. Hàng Giáo phẩm Miền Bắc
vẫn thuộc quyền cai trị của
Đức Giáo Hoàng.
Và Toà thánh Vatican c̣n dè
dặt chưa thể dứt khoát,
nhiều người thường lầm tưởng
Khâm sứ Toà thánh tại Việt
Nam tương đương với một Đại
sứ và như vậy Toà thánh đă
công nhận và thiết lập quan
hệ bang giao với miền Nam
Việt Nam. Sự thực vị Khâm sứ
chỉ là vị đại diện có tính
cách tôn giáo (Délégué
Apostohque). Khâm sứ Toà
thánh tuy đi xe mang số dành
cho ngoại giao đoàn và được
hưởng quy chế ngoại giao th́
đó chỉ là trường hợp đặc
cách.
Cấp bậc của vị Khâm sứ chỉ
được xếp ngang hàng với một
Tổng lănh sự. Từ khi tuyên
cáo thành lập chế độ Cộng
hoà, Tổng thống Diệm rất
mong mỏi được Vatican "chiếu
cố" nâng hàng Khâm sứ lên
hàng Đại sứ.
-----------------------------------------------
(1) Tiếng nói quan trọng.
Vatican vẫn hờ hững. ông Ngô
Đ́nh Nhu đưa ra một điều
kiện trong trường hợp
Vatican chấp nhận đặt Đại sứ
tại Sài G̣n. Điều kiện ông
Nhu muốn Toà thánh chấp nhận
lại quá tế nhị, nhưng thực
tại miền Nam phải nêu như
vậy: Tổng thống là một tín
đồ Thiên Chúa giáo. Mà Thiên
Chúa giáo chỉ có gần 2 triệu
người trong tổng số 14 triệu
dân miền Nam Việt Nam. Nếu
Toà thánh đặt Sứ thần tại
Sài G̣n th́ vị Sứ thần đó có
nên từ chối chức vị Niên
trưởng ngoại giao đoàn không
".
Toà thánh vẫn im lặng. Nhưng
ông Nhu và Bộ tham mưu của
ông lại băn khoăn: Trường
hợp Vatican chấp thuận đặt
Đại sứ tại Sài G̣n, lợi th́
có lợi nhưng lại gặp một số
tiểu tiết rất tế nhị theo
truyền thông ngoại giao.
Vị Đại sứ Toà thánh đương
nhiên trở thành Niên trưởng
Ngoại giao đoàn (một chức vị
danh dự nếu không có Đại sứ
nào ở miền Nam Việt Nam lâu
năm nhất so với các Đại sứ
khác). Như vậy sẽ không
thuận lợi đối với tâm lư
quần chúng nhất là quần
chúng chiếm 85% không Thiên
Chúa giáo (Cao Đài, Hoà Hảo,
Ba hai, Phật giáo, Khổng
giáo . . .) V́ rằng, nếu là
Niên trưởng Ngoại giao đoàn
th́ vị Đại sứ Toà thánh phải
xuất hiện hàng đầu trong các
cuộc lễ nghi chính thức và
chính ông sẽ đại diện đoàn
Ngoại giao chúc mừng Tổng
thống theo truyền thống
Ngoại giao quốc tế, hoặc can
thiệp đến quyền lợi của
Ngoại giao đoàn. Đây quả là
một vấn đề nan giải.
Cuối cùng theo ư ông Nhu th́
cứ tạm thời duy tŕ như cũ,
nghĩa là giữ nguyên cấp bậc
Khâm sứ Mặt khác, Đại sứ
Việt Nam Cộng hoà tại Ư sẽ
linh động giao thiệp hẳn với
Vatican theo mức quan hệ
b́nh thường.
Như trên đă viết, Tổng thống
Diệm là một nhà quốc gia cực
đoan. Trong đời sống cá nhân
của ông th́ tôn giáo là
thiêng liêng nhất nhưng
trong đời sống quốc gia
nhiều khi địa vị tôn giáo đă
trở nên mờ nhạt. Tuy nhiên
nhiều chuyện vặt vănh rất
không đáng nói lại trở nên
những yếu tố quan trọng tác
động đến tâm lư, quần chúng
có mặc cảm rằng Tổng thống
Diệm đă "Công giáo hoá "
quốc gia Việt Nam Cộng hoà.
Chẳng hạn sau mỗi bài diễn
văn hay thông điệp Tổng
thống Diệm bao giờ cũng kết
luận: “Xin ơn trên phù hộ
cho chúng ta " Sự thực đó là
thành ư của ông và ông muốn
chứng tỏ ông chống lại chủ
nghĩa vô thần và tin nơi
Thượng đế. Nhưng đồng bào
không phải là tín đồ Thiên
Chúa giáo lại cảm thấy khó
chịu mặc dầu chữ phù hộ là
một chữ quen dùng trong các
lời khấn vái và văn sử cúng
tế ông bà.
Trên thực tế th́ ông Diệm
luôn luôn tỏ ra khó tính đối
với Thiên Chúa giáo và nhất
là những cha cố “cầu cạnh".
Với mặc cảm thượng tôn uy
quyền quốc gia, Tổng thống
Diệm qua nhiều trường hợp đă
tỏ ra quá coi thường trong
cách xử sự với hàng giáo
phẩm Thiên Chúa giáo.
Theo giới thân cận, vào
khoảng tháng 3-196l một vị
Linh mục thừa phái từ Ban Mê
Thuột về Sài G̣n và xin gặp
Tổng thống Diệm. Sĩ quan tuỳ
viên vào tŕnh:
"Thưa, có cha P xin vào hầu
Tổng thống". Tổng thống Diệm
hỏi: "C̣n có những ai ngoài
đó". Sĩ quan tuỳ viên kể
thêm một số nhân vật quan
trọng ngồi chờ ngoài pḥng
khách để được vào tiếp kiến.
Khi nhắc đến Thiếu tá Nguyễn
Văn Minh,Tỉnh trưởng An
Giang, ông Tổng thống nói
"Gọi nó vô ". Ông Tổng thống
tiếp 3 người khoảng chừng 2
giờ sau đó mới bảo sĩ quan
tuỳ viên: 'Mời ông cha vô".
Cuộc tiếp xúc ngắn ngủi
không đầy nửa giờ. Sau đó,
thấy ông Tổng thống giận dữ
mặt hầm hầm.
Sau này Linh mục P tiết lộ:
Linh mục đă tŕnh bày thẳng
thắn với Tổng thống về một
số Linh mục miền Nam Việt
Nam có những lạm dụng quá
đáng về việc khai thác rừng
lấy gỗ bán và làm cho thường
dân rất bất măn, nhất là
đồng bào Thượng.
Một tuần sau, bất thần Tổng
thống Diệm đi kinh lư Cao
nguyên. Sau đó có những chỉ
thị rất nghiêm ngặt về việc
khai thác rừng.
Lần ấy ông nổi giận mắng Đại
tá Lê Quang Trọng Tư lệnh sư
đoàn 23 “Mi làm Tư lệnh
trông coi lănh thổ mà mi
không biết chi hết”. Ông
Tổng thống ra lệnh: “Bất kỳ
ai phá rừng chặt cây mi bắt
bỏ tù cho ta ". Ông nhắc đi
nhắc lại trong cơn tức giận
“Bắt bỏ tù, bất kỳ ai “.
Từ đó Tổng thống lại càng có
mặc cảm đối với một số cha
hay có tính "lo toan chạy
chọt".
Tuy vậy tại các địa phương
cũng như các cấp chỉ huy v́
hèn cũng có, v́ nhu nhược
cũng có, v́ quá sợ thượng
cấp cũng có cho nên đă xúm
nhau bợ đỡ các vị Linh mục
tất nhiên là một thiểu số.Họ
ngán “các cha cố" v́ cho
rằng. các cha cố có ảnh
hưởng rất nhiều tới Tổng
thống và nói ǵ Tổng thống
nghe nấy. Do vậy, cứ áo dài
đen vào cửa công nào th́
công việc đều sẽ qua trôi
chảy.Trong sự lạm dụng về
những vụ lặt vặt như xin
giấy tờ, xin môn bài cho đạo
hữu, xin hợp thức hoá đất
đai v.v. . Những "áp phe"
(1) vặt vănh đó đă gây nên
nhiều chuyện ngộ nhận.
Song thực tế giới thân cận
nhất tại dinhTổng thống đều
xác nhận rằng Tổng thống
Diệm (khác với ông Nhu và
ông Cẩn) ông đều luôn hết
ḷng, cung kính hàng giáo
phẩm. Nhưng ngoài Đức cha
Ngô Đ́nh Thục th́ chẳng một
ai có thể lay chuyển được
ông Tổng thống...Nhiều Linh
mục được ông hỏi ư kiến
nhưng hỏi để mà hỏi thế
thôi.
---------------------------------------------
(1) vụ buôn bán làm ăn.
Linh mục Hồ Văn Vui được coi
là một tu sĩ có nhiều uy tín
trong giới Thiên Chúa giáo
tại miền Nam. Dạo năm 1958,
Linh mục Vui đă nhiều lần
công khai phê phán chế độ và
trong một bài thuyết giảng
tại nhà thờ Đức Bà, Linh mục
Hồ Văn Vui đă lên tiếng phê
b́nh Chính phủ một cách vô
tư thẳng thắn. Khi nghe được
tin Linh mục công kích Chính
phủ, Tổng thống Diệm tỏ vẻ
tức giận:
Nhà thờ là nơi tôn nghiêm
tại sao lại đưa chính trị
vào vô đó mà công kích Chính
phủ.
Ông Nhu cũng tỏ vẻ tức giận
nói với bác sĩ Trần Kim
Tuyến: Tại sao Đức cha
Simone Hoà Hiền lại để cho
Cha Vui nói lôi thôi như
vậy, việc nhà thờ tại sao
lại đem chuyện nhà nước xía
vô. Giận Linh mục Vui th́
ít, nhưng không bằng ḷng
đức cha Hoà Hiền th́ nhiều.
Lời nói đi th́ nhẹ, nói lại
th́ nặng. Tổng thống Diệm
lại bị mấy ông Dân biểu và
Bộ trưởng "xàm tấu” rằng:
"Cha Vui công kích Tổng
thống thế này, kết án Chính
phủ thế kia”. Do đó càng tạo
nên hố sâu ngăn cách cho nên
thay v́ t́m gặp Linh mục để
tỏ rơ sự t́nh, ông Ngô Đ́nh
Diệm với uy quyền của một
Quốc trưởng không gặp linh
mục và cũng không công khai
bày tỏ thái độ nào với địa
phận Sài G̣n. Mặt khác ông
lại bảo ông Chủ tịch Quốc
hội và vài ông Dân biểu (là
những giáo dân thuộc địa
phận Sài G̣n) t́m cách khác
để đức cha Simone Hoà Hiền
thuyên chuyển Linh mục Vui
đi một nơi khác.
Qua vụ cha Của và cha Vui,
giáo dân miền Nam tuy ngoài
mặt vẫn vui vẻ với chính
quyền nhưng thâm tâm đa số
có mặc cảm rằng chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm đă xử ức họ và
coi thường giới công giáo
Việt Nam.
Riêng vụ cha Của th́ lỗi
cũng không phải do nơi cha
mà quy hoàn toàn trách nhiệm
cho Tổng thống Diệm cũng là
oan. Số là sau khi quân đội
Viễn chinh Pháp rút lui một
vài sĩ quan người Pháp đă
bán rẻ cho cha Của mấy chiếc
xe thuộc loại phế thải. Sau
Nha Công an Nam Việt do
Trung tá Trần Bá Thành là
Giám đốc đă làm nổ tung vụ
này. Sự việc xảy ra mấy hôm
sau mới đến tai Tổng thống
Diệm. Nhưng ông lại không
can gián và cứ để mặc đấy
cho toà xử để làm gương, nếu
xét thấy có tội...Vụ này
Trung tá Thành muốn chứng tỏ
tinh thần vô tư và cứng rắn
của Công an và ông đặt Tổng
thống Diệm trước một việc đă
rồi.
Việc xét xử cha Của tuy t́nh
ngay nhưng lư gian, đă gây
nên mâu thuẫn trầm trọng
giữa chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm và giáo dân thuộc Địa
phận Sài G̣n.
Lúc ấy dư luận xầm x́ rằng,
nếu cha Của thuộc đia phận
Vĩnh Long của đức cha Ngô
Đ́nh Thục th́ cho dù, có
phạm pháp thực cũng không
sao. Dư luận lại xầm x́
rằng: Cha Của là con tốt thí
v́ sự bất hoà giữa đức cha
Simone Hoà Hiền và gia đ́nh
Tổng thống Diệm.
Từ đó sự liên lạc giữa Địa
phận Sài G̣n và gia đ́nh
Tổng thống Diệm càng trở nên
lạnh nhạt xa cách. Cuối cùng
đức cha Simone Hoà Hiền lên
trọng nhậm Địa phận Đà Lạt
cũng là một cách tế nhị của
Giáo hội Thiên Chúa giáo
muốn t́m lại không khí tốt
đẹp giữa chính quyền Ngô
Đ́nhDiệm với địa phận Sài
G̣n qua một con người trung
dung hiền dịu là đức cha
Nguyễn Văn B́nh.
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU
CHÚNG TA ???
National Academy of
Public Administration -
Faculty of State and Law
- Inspection
|

09-04-2008, 08:37 PM
|
 |
Thành viên xuất sắc
|
|
Gia nhập: Dec
2006
Đến từ: Nation &
Ethnic
Tuổi: 22
Bài gửi: 2,261
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 18
lần trong 9 bài
viết
|
|
CHÙM MÂU
THUẪN VÀ NGỘ NHẬN
Năm 1961, 1962, chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm đă ngồi trên
một nồi "Súp de" sôi bỏng
đầy mâu thuẫn: Mâu thuẫn
giữa chính quyền với các
“khối quần chúng", mâu thuẫn
giữa chính quyền với quần
chúng trong hệ thống ấp
chiến lược của chính quyền,
mâu thuẫn ngấm ngầm giữa
chính quyền và các tôn giáo
trong đó có cả Thiên Chúa
giáo. Mâu thuẫn và nứt rạn
phân hoá ngay trong giới
thân cận của Tổng thống Diệm,
mâu thuẫn giữa ông Nhu với
ông Cẩn, mâu thuẫn giữa ông
Cẩn với đức Tổng Giám mục
Ngô Đ́nh Thục. Rồi c̣n bao
nhiêu những "mâu thuẫn" ở
ngay trong hàng ngũ thượng
tầng của chế độ. Cái chùm
mâu thuẫn này không phải là
mâu thuẫn về chính kiến mà
lại mâu thuẫn do những cá
tính dị biệt cùng thành kiến
và ngộ nhận. Người có quyền
thế nếu có thành kiến với
ông A và ông A là Phật giáo,
rồi ông A bị thất sủng th́ y
như rằng thành kiến cá nhân
trở thành kỳ thị tôn giáo.
Rồi ông Bộ trưởng người Nam
có thành kiến và ngộ nhận về
ông C do đó ông C bị thất
sủng, ông C là người Bắc th́
y như rằng thành kiến và ngộ
nhận trở thành kỳ thị Nam-Bắc...
Chúng tôi nêu ra hai trường
hợp sau đây để có thể thẩm
định ông Diệm có kỳ thị tôn
giáo không ? Đó là trường
hợp ông Vơ Văn Hải, Chánh
Văn pḥng đặc biệt của Tổng
thống và ông Nguyễn Đ́nh
Thuần. Ông Hải là người thân
cận của Tổng thống Diệm và
như ruột thịt của ôngDiệm
khi ông Diệm chưa chấp chánh.
Có thể nói, hai người đó một
già, một trẻ keo sơn với
nhau như định mệnh đă an bài,
và không thể rời bỏ nhau
được. Nếu đ̣i hỏi điều kiện
khoa bảng th́ ông Hải là một
nhà khoa bảng. Ông Hải lại
là người cần cù biết việc,
có đủ ḷng tin cẩn của Diệm.
Nhưng trong suốt 9 năm ông
Hải phải đóng vai tṛ của
một người bị "ông Diệm sáng
cằn nhằn, chiều la lối ".
Song ông Hải trước sau vẫn
chỉ là một Chánh Văn pḥng
bù đầu suốt tháng năm và ông
đă không hề được chế độ đặt
ông ở một vị trí khác (người
nào ở trong trường hợp ông
Hải mà chẳng mơ ước có thể
thi thố được tài năng). Ông
Hải lại kỵ ông Nhu.
Phải công nhận rằng, ông Hải
tuy thân thiết với Diệm
nhưng ông giữ được sự khí
khái và lại xa cách ông Nhu.
Đó cũng là lư do ông Hải là
một Phật tử thuần thành,
sinh trưởng trong một gia
đ́nh Nho giáo...nhưng không
phải v́ lư do tôn giáo khác
biệt mà ông Hải không được
làm việc trong bộ này hay bộ
khác...ông Diệm coi ông quá
thân thiết và chức vụ Chánh
Văn pḥng chính là phần trái
tim ông Diệm trao cho ông ấp
ủ khiến ông Hải phục vụ hết
ḿnh, nhưng bổng lộc của chế
độ th́ lại do những ai "nhanh
chân lẹ miệng thụ hưởng".
Trong chế độ có rất nhiều
người ở vào trường hợp ông
Hải...nhưng lại được ông
Diệm tin yêu, tín nhiệm như
ruột thịt. Vấn đề tôn giáo
ông không quan tâm v́ nếu
quan tâm th́ hẳn nhiên ông
Hải không được tin dùng. . .Tuy
có điều, ai được ông Diệm
coi như tâm huyết th́ nhiều
khi lại có cảm tưởng bị thất
sủng, bỏ rơi. Đồng thời có
một số người khác "may tay"
lại lên như diều gặp gió. Đó
là trường hợp ông Nguyễn
Đ́nh Thuần. Ai cũng biết,
ông Thuần là "đàn em" của
ông Trần Trung Dung, và đă
làm báo cho ông Dung từ ngày
c̣n ở Hà Nội. Ông Dung được
coi như một bạn bè thân
thiết của Ngô Đ́nh Nhu. Ông
thuộc gia đ́nh công giáo đại
gốc.
Khi ông Dung là Bộ trưởng
Phụ tá Quốc pḥng th́ cất
nhắc đàn em là Nguyễn Đ́nh
Thuần lên Đổng lư Văn pḥng.
Ông Dung tuy là thân cận của
ông Nhu và cũng là hàng con
cháu trong gia đ́nh nhưng
đến năm 1960 th́ ông Dung
rời bỏ Bộ Quốc pḥng
(18-10-1960) và ông Thuần
được cử thay thế. Dạo ấy có
dư luận cho rằng ông Dung bị
ông Thuần "đá" và tranh chức
Bộ trưởng. Sự thực không
đúng như vậy.
Tuy tin cẩn ông Dung nhưng
ông Diệm lại không "chịu"
cách thức làm việc của ông.
Ông Diệm vẫn thường cằn nhằn
"Ông ta làm Bộ trưởng Quốc
pḥng mà không hiểu công
việc ǵ cả. Khi hỏi đến chỉ
nói những vấn đề đâu đâu”.
Ông Dung tuy xuất thân từ
một Tri huyện nhưng có lẽ
cái "chất Tri huyện" chưa
thấm sâu vào mạch máu ông
cho nên ông không có cái cần
cù mẫn cán của một người
ngồi viết công văn, đọc báo
cáo và ghi nhớ hồ sơ, cho
nên khi ông Diệm hỏi đến các
công việc ǵ ở Bộ Quốc pḥng
th́ ông Dung chỉ tường tŕnh
một cách tổng quát.
Tổng thống Diệm không chịu
như vậy, cho nên ông phải
gọi thẳng ông Đổng lư. Ông
Đổng lư Thuần vốn là người
thông minh, sắp đặt công
việc có hệ thống tuy bị ghi
nhận là quá lanh chân, lẹ
miệng. Có lẽ nhờ vậy, mỗi
khi ông Diệm hỏi đến công
việc ông đă trả lời rất vừa
ư ông Diệm. Hồ sơ này thế
này, hồ sơ này thế kia...Mà
thực ra trên phương diện
tổng quát, ông Thuần lại
thiếu khả năng của một Bộ
trưởng Quốc pḥng vào thời
chiến. Thế nhưng ưu điểm của
ông là "Tổng thống gọi th́
thưa ngay, hỏi hồ sơ nào th́
có liền ".
Do đó, thay v́ t́m sự công
tác trên b́nh diện lănh đạo
Bộ Quốc pḥng ở nơi ông Trần
Trung Dung, th́ ông Diệm lại
chỉ sai phái và hỏi han ông
Đổng lư. Khi ông Dung vào
làm việc với Tổng thống th́
chỉ muốn mau chóng tŕnh bày
một cách tổng quát rồi tuỳ
nghi thi hành, ông Thuần th́
trái lại sẵn sàng có thể
ngồi đến bao giờ cũng được
để nghe lời " dạy". Vốn là
người cô đơn khắc kỷ và ưa
được dài lời chuyện tṛ lan
man qua công việc Tổng thống
Diệm đă t́m được một người
vừa ư như ông Thuần luôn
luôn biết lắng nghe và làm
rất vừa ư. Ngày này qua
tháng khác và luôn chứng tỏ
tài mẫn cán, ông Thuần trở
thành người Tổng thống Diệm
coi là giới “biết việc". Khi
luật sư Nguyễn Hữu Châu rời
bỏ chức vụ Bộ trưởng Phủ
Tổng thống, ông Diệm chưa
biết t́m ai thay. Ông Nhu
biết ư ông anh nên để tuỳ ư
ông anh "để ông muốn t́m ai
th́ t́m”, ông Nhu cũng không
đoán nổi ông anh sẽ chọn ai.
Có điều là cho đến phút chót
khi Tổng thống Diệm quyết
định chọn ông Thuần làm Bộ
trưởng Phủ Tổng thống, th́
chính ông Nhu vẫn tưởng ông
Thuần sẽ được ông Diệm bổ
nhậm là Đặc sứ tại Tunisie.
Ngay ông Thuần cũng không
hay biết. Khi Lương Khải
Minh gọi điện thoại báo cho
ông Thuần hay: “Moa có lời
mừng cho toa". Ông Thuần
ngạc nhiên: “Thưa anh có
chuyện ǵ vậy ?" "Toa được
cử làm Bộ trưởng Phủ Tổng
thống”. Cho đến lúc ấy ông
Thuần mới biết là ḿnh đă
được ông Diệm tín nhiệm ở
chức vụ quan trọng như vậy.
Ông Thuần trở thành Bộ
trưởng Phủ Tổng thống sau
này kiêm nhiệm Bộ trưởng phụ
tá quốc pḥng (thay thế ông
Trần Trung Dung) rồi lại
được tạm giữ chức Bộ trưởng
phối hợp An ninh (Chính phủ
cải tổ ngày 28-5-1961). Giới
thân cận phủ Tổng thống cho
rằng: ông Thuần là người
biết "chiều ư" Tổng thống
đến tuyệt mức.
Cái sự lên như diều gặp gió
của ông Thuần cũng như sự
"dẫm chân một chỗ" của bao
nhiêu người khác đă tạo nên
mầm bất măn tuy không ai nói
ra, và cái mầm bất măn
"trong nhà" đă không bùng nổ
v́ c̣n một Tổng thống Diệm.
V́ thế những mâu thuẫn không
tạo nên sức ép và những tia
điện.
Trong cuộc tiếp xúc và tâm
t́nh với các "nhân chứng "
thân cận Tổng thống Diệm,
chúng tôi thấy rằng phần lớn
những cộng sự viên thân tín
của ông đều là Phật giáo.
Điển h́nh là ông Bộ trưởng
Nguyễn Đ́nh Thuần, bác sĩ
Bùi Kiện Tín, ông Vơ Văn
Hải, Đại tá Đỗ Mậu cũng như
Trung tá Cao Văn Viên. Các
Tư lệnh lữ đoàn Liên biệt
pḥng vệ phủ Tổng thống như
Đại tá Hoàng Văn Lạc, Trung
tá Lê Ngọc Triển đều là Phật
giáo ngoại trừ Trung tá
Nguyễn Ngọc Khôi, vị Tư lệnh
cuối cùng của Lữ đoàn này là
tín đồ Thiên Chúa giáo. V́
ông Tổng thống mặc cảm với
Thiên Chúa giáo nên nhiều
viên chức Công giáo ở trung
ương đă không được Tổng
thống Diệm cất nhắc nên chức
vụ quan trọng. . .Tư lệnh
các binh chủng như lữ đoàn
nhảy dù, Lữ đoàn Thuỷ quân
lục chiến trước sau từ Đại
tá Đỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh
Thi đến Cao Văn Viên và
Trung tá Lê Nguyên Khanh đều
là Phật giáo . . .Vậy th́
Tổng thống Diệm có kỳ thị
Phật giáo hay không, sử gia
sau này sẽ phán đoán công
minh. Điều rơ rệt là Tổng
thống Diệm quá nhiều mặc cảm
và thành kiến sâu nặng đối
với một số chánh khách thuộc
Đảng Đại Việt gồm quan lại
đă từng tham chánh dưới thời
Thủ tướng Trần Văn Hữu và
Nguyễn Văn Tâm. ..
__________________
THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU
CHÚNG TA ???
National Academy of
Public Administration -
Faculty of State and Law
- Inspection
|

09-04-2008, 08:47 PM
|
 |
Điều hành viên
|
|
Gia nhập: Dec
2007
Đến từ: Nation &
Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
Chương V
: Từ cái chế độ Ngô Đ́nh
Diệm và cái chết của Ngô
Đ́nh Cẩn
Cái chết của một Tổng thống
như ông Ngô Đ́nh Diệm, tất
nhiên không phải là một sự
vô lư đơn giản như người ta
thường nghĩ. Nó đă được sửa
soạn tinh vi, v́ làm thế nào
để giết một ông Tổng thống
đă cầm quyền 9 năm không
phải là chuyện "tuỳ hứng" .
NGƯỜI EM ÚT
Quanh cái chết của Tổng
thống Diệm đầy rẫy những sự
vô lư nông nổi bi thảm. Sau
khi ông chết đi, lại c̣n bao
nhiêu sự vô lư khác. Chữ vô
lư ở đây xin được hiểu theo
sự suy đoán trong bản chất
và tinh thần Việt Nam vốn
trọng t́nh cảm, sự trung hậu
và lễ nghĩa.
Một trong những sự vô lư đó
là cái chết của ông Ngô Đ́nh
Cẩn người em thứ 5 của Tổng
thống Diệm. Cái chết này đă
được công khai hợp pháp hoá
v́ ông Cẩn được ra toà xét
xử. Nếu bị viên công tố gay
gắt buộc tội th́ cũng chả có
cái ǵ vô lư. Khi đảo chính
bùng nổ th́ Tướng Đỗ Cao Trí
đang là Tư lệnh Vùng I chiến
thuật. Ông tướng này là
người có thẩm quyền duy nhất
tiếpthu toàn vẹn những ǵ có
ở bên trong căn nhà tổ ấm
của gia đ́nh họ Ngô. Ông Cẩn
tưởng đă thoát thân...dù tấm
thân chỉ c̣n hai bàn tay
trắng. Trong cuốn Việt Nam
Crisis, hai tác giả Stephen
Pan và Daniel Lyons đă viết
như sau:
“Ông Cẩn lúc đầu ty nạn tại
nhà ḍng Chúa Cúu Thế. Nhưng
những người từng được ông
giúp đỡ sợ rằng: Nếu chứa
chấp ông, sẽ có thể bị các
nhà lănh đạo đảo chính
nghiêm trị nên ông Cẩn phải
qua toà Lănh sự Mỹ tại Huế
xin trú ẩn. Toà Lănh sự này
phải xin chỉ thị của toà Đại
sứ Mỹ tại Sài G̣n. Đại sứ
Hennry Cabot Lodge trả lời
rằng Lănh sự Mỹ không được
phép cho ông ta ty nạn nhưng
lại, đồng thời ra lệnh đưa
ngay ông Cẩn vào toà Đại sứ
Mỹ. Nhưng khi ông Cẩn đến
Sài G̣n toà Đại sứ Mỹ liền
trao ông Cẩn cho Hội đồng
quân nhân cách mạng xét xử.
Theo nguồn tin có thẩm quyền
mà hai tác giả được biết,
toà Đại sứ Mỹ đă hội ư với
Hội đồng quân nhân cách mạng
và buộc Hội đồng phải cam
kết 3 điều kỉện th́ toà Đại
sứ mới dẫn độ: 1) Phải được
xét xử minh bạch và công
khai. 2) Không được đối xử
tàn nhẫn. 3) Không bị bắn
hoặc giết".
Stephen Pan và Daniel Lyons
viết: "Trong t́nh cảnh lúc
bấy giờ, nếu tin tưởng vào
cuộc xét xử minh bạch, công
khai th́ thật là ngây thơ.
Mặc dù trong thời gian đó,
ông Cẩn đang bị yếu nặng với
hai căn bệnh áp huyết cao và
tiểu đường. Với cách đối xử
rất tồi tệ lại thiêú thuốc
men, chăm sóc trong tù th́
ông Cẩn chắc chắn sẽ không
sống thêm được bao lâu.
Nhưng dù quá yếu đến nỗi
không đứng nổi, ông ta vẫn
bị cột vào cái trụ đứng và
bị bắn ".
Stephen Pan và Daniel Lyons
thắc mắc: Người ta c̣n nhớ
hồi tháng 8-63 một nhà sư
(...) đă lánh nạn trong toà
đại sứ Mỹ và được Đại sứ
Cabot Loadge bảo vệ an toàn
trong 9 tuần lễ, nghĩa là
cho đến ngày hai anh em ông
Diệm bị giết. Hăy để cho
lịch sử phán xét nhũng sự
việc mâu thuẫn như trên".
Nếu ông Cẩn bị đem ra xử bắn
trước cuộc chỉnh lư của
tướng Khánh, th́ cũng có thể
giải thích được. Nhưng ông
Cẩn lại bị xử tử khi tướng
Khánh lên cầm quyền và Cabot
Lodge vẫn c̣n tiếp tục là
Đại sứ ông Lodge thường được
coi như quan thầy quyền uy
của tướng Khánh. Mấy ngày
sau cuộc chỉnh lư, người ta
cho rằng rất có thể ông Cẩn
được tha và cho xuất ngoại .
V́ dù sao tướng Khánh cũng
là một trong mấy người con
tinh thần của ông Diệm và
tướng Khánh đă trung thành
với ông Diệm cho đến phút
cuối cùng dinh Gia Long bị
mất vào tay quân đảo chính .
Chiều ngày 11 tướng Khánh từ
Pleiku c̣n gọi điện cho
tướng Cao ở Cần Thơ, hối
thúc ông Cao đem quân về cứu
Tổng thống Diệm. Tướng Khánh
cho biết không thể đem quân
về được v́ Quân đoàn 2 quá
xa...Tướng Cao tin cho tướng
Khánh rơ là tướng Minh,
Khiêm và các Đại tá Đỗ Mậu,
Nguyễn đức Thắng hứa là bảo
đảm tính mạng Tổng thống
Diệm và ông Nhu. Tướng Khánh
trả lời: "Không tin được tụi
nó đâu chúng nó nói vậy mà
làm khác". Tướng Khánh vẫn
giữ ḷng trung thành cho đến
phút chót. Thế nhưng...quyền
lợi cá nhân và địa vị đă
thay đổi ḷng người.

Hội đồng quân nhân cách
mạng họp báo sau đảo
chánh.
Khi ông Cẩn bị đưa ra toà,
người ta vẫn tin rằng có thể
ông sẽ bị xử qua loa. Khi bị
kết án tử h́nh người ta vẫn
tin ông Cẩn sẽ được Quốc
trưởng Dương Văn Minh chấp
thuận đơn ân xá.
Cuối cùng vào một buổi chiều
ánh nắng c̣n chan hoà, tử
tội Ngô Đ́nh Cẩn được khiêng
ra pháp trường trong ṿng
thành khám Chí Hoà. Tay bị
trói chặt vào cây cột giữa
pháp trường và bị bắn gục
trước sự chứng kiến của
những người trước kia ra vào
dinh ông Cẩn thường khúm núm
như gia nhân. Đại sứ Lodge
là người đă buộc "Hội đồng
Quân nhân cách mạng" phải
cam kết không được xử bắn
ông Cẩn, khi ông Cẩn nhận
từng loạt đạn, Lodge vẫn c̣n
là vị Đại sứ Mỹ đầy uy quyền
tại miền Nam Việt Nam. Rồi
có các giả thuyết được nêu
ra:
1- Ông Khánh làm như thế để
chiều ḷng những áp lực khác
đang đè nặng lên ông.
2- Ông Khánh chủ trương
thanh toán ông Ngô Đ́nh Cẩn
v́ áp lực của "những người"
từng ra luồn vào cúi dưới
trướng "Cố vấn chỉ đạo " . .
.
3- Ông Khánh chủ trương
thanh toán ông Cẩn chỉ v́ vụ
"tài sản" của ông Cẩn mà ông
Khánh đă được chia phần kể
từ khi ông ra nhậm chức Tư
lệnh Vùng chiến thuật I thay
thế tướng Trí.
SÉT ĐÁNH NGANG ĐẦU
Sáng ngày 2-11 -1963 tại tư
thất ông Cẩn chuông điện
thoại reo vang. Âm vang của
hồi chuông thật rền rĩ réo
rắt trong buổi sáng tinh
sương. Điện thoại gọi từ Đà
Nẵng. Đại uư Minh nhấc máy
lên. Từ phía đầu dây bên kia,
vẫn giọng tướng Trí ngập
ngừng, cắt quăng, rời rạc.
Lời tướng Trí được ghi nhớ
như sau: “Anh thông báo ngay
cho Cậu biết, Sài G̣n vừa
báo tin cho tôi hay là Tổng
thống và ông Cố vấn chánh
trị đă tự tử chết rồi. Tôi
không hiểu ra sao nữa. . .
". Đại uư Minh chân tay bủn
rủn, có cảm tưởng như đang
nghe điện thoại trong cơn mê
của giấc ngủ say. Ông hỏi đi
hỏi lại tướng Trí hai ba lần.
Tướng Trí xác nhận: “Sài G̣n
vừa báo cho tôi hay nhu vậy".
.Lúc ấy Đại uư Minh mới tin
đây là sự thực - một sự thực
phũ phàng ngoài trí tưởng
tượng của ông. Nhưng tưởng
tượng quả là vô lư ? Khi báo
cho ông Cẩn hay hung tin này,
ông Cẩn vẫn không tin và nói:
"Làm ǵ có chuyện động trời
như vậy". Nhưng Tổng thống
Diệm và ông Nhu đă chết. . .
dù ông Cẩn có không tin là
thực th́ sự thực vẫn tàn
nhẫn xảy ra như thế.
Ngay lúc đó, Đại uư Minh cho
người đi báo hung tin cho
cha Thuận. Sáng ngày 2- 11
màn tang đă bao phủ căn nhà
tổ ấm của gia đ́nh Tổng
thống Diệm ở miền Phú Cam
nơi hai anh em ông Diệm đă
sinh ra và lớn lên. Lúc đó
chung quanh ông Cẩn vẫn c̣n
đầy đủ các cộng sự viên thân
tín, trong đó có ông Đào
Quang Hiển Giám đốc nha Công
an Trung nguyên Trung phần.
Rồi chiều mùng 2, buổi chiều
nặng nề như những phiến đá
đè nặng trên phận người mong
manh. Khoảng 1 giờ 30, Đại
uư Minh được lệnh của ông
Cẩn gọi điện thoại cho tướng
Trí và mời tướng Trí ra Huế
để báo cáo cho ông Cẩn rơ
nội vụ. Huế cho đến lúc ấy
vẫn tương đối yên tĩnh.
Khoảng 3 giờ, bỗng nhiên
đoàn thiết giáp của thiếu tá
Tuấn đến bao vây vùng Phú
Cam và căn nhà ông Cẩn (Thiếu
tá Tuấn sau thăng Trung tá
và bị chết thảm trong biến
cố Tết Mậu Thân tại trường
Thiết giáp G̣ Vấp Sài G̣n).
T́nh h́nh Huế bắt đầu ngột
ngạt, dao động và như cây
nước giữa biển nặng đang bắt
đầu vỡ ra và dâng cao. Trong
giờ phút cuối cùng này, một
nhân chứng thuật lại: ông
Cẩn đă mất tinh thần v́ xúc
động trước cái tin hai ông
anh bị giết chết. Chung
quanh ông vẫn c̣n đầy đủ
cộng sự viên như Minh, Trọng,
Độ . . .
Khoảng 9 giờ đêm mùng 2, Huế
bắt đầu chuyển động như cơn
sóng trong trận cuồng phong.
Trời tê buốt hoang vắng và
đầy đe doạ, bất trắc thê
lương. Dân Huế vây quanh
radio nghe đài Sài G̣n, BBC
và VOA... Hồi hộp, rung động,
kích thích... Rồi một nhóm
người tự động quy tụ lại như
một h́nh thức Hội đồng Quân
nhân cách mạng. Đứng đầu là
Trung tá Mô, Thiếu tá Hiếu
và ông Đào Quang Hiển. Ba
viên chức này đến gặp Đại uư
Minh đ̣i đưa họ vào gặp ông
Cẩn. Lúc ấy đoàn thiết giáp
của Thiếu tá Tuấn đang bao
vây nhà ông Cẩn nhưng chỉ có
tính cách giữ ǵn an ninh
trật tự và theo lời tướng
Trí là "để bảo vệ sanh mạng
của ông Cẩn và đề pḥng một
khi dân chúng làm hoảng"...quân
đội có thể can thiệp kịp
thời.
Thể theo yêu cầu của Trung
tá Mô cũng như Thiếu tá Hiếu
...Đại uư Minh vào t́m gặp
ông Cẩn trong khi đó 3 viên
chức vẫn đứng chờ ở ngoài.
Nhà lúc ấy vắng ngắt không
c̣n ai, không khí đầy một
nỗi bi thương đổ vỡ. Bé gái
Kính cho Đại uư Minh hay là
ông Cẩn đă trốn khỏi. Để
đánh lạc hướng phe ông Mô,
Đại uư Minh cho bọn ông Mô
hay là ông Cẩn hiện đang bị
mệt và đang nằm nghỉ, mai sẽ
vào gặp sau. Thực ra lúc ấy
ông Cẩn đă vào trú ẩn tại
nhà ḍng Chúa Cứu thế.
TẨU VI THƯỢNG SÁCH
Trong bước đường cùng th́
trong 36 kế, "tẩu vi thượng
sách" chước "chuồn" vẫn là
hơn cả. Tuy nhiên ông Cẩn
rời căn nhà tổ ấm cùng với
cơn đau của loài chim bị bắn
trúng cả hai cánh khi đang
tung bay.
Qua ngày thứ 3, Huế vẫn c̣n
tương đối yên tĩnh, tuy
trong dân chúng bắt đầu
chuyển động, đang bắt đầu
một trận cuồng phong cho
sóng đổ lên cao. Từ Đà Nẵng,
tướng Trí gọi điện thoại cho
biết ông sẽ trở ra Huế với
tư cách đại diện cho Hội
đồng Quân nhân cách mạng.
Lúc ấy, ông Cẩn bắt đầu lâm
bệnh, khuôn mặt hốc hác, đôi
mắt như lạc mất tinh thần.
Ông xúc động một cách khó tả
trước cái chết của hai ông
anh.
Bên cạnh ông trong những giờ
phút đó vẫn c̣n một số cộng
sự viên thân tín như cha
Thuận (người cháu ruột của
ông) . Cho đến giờ phút đó
vẫn không thấy ông Cẩn quan
tâm ǵ đến tiền bạc tài sản.
Khi Đại uư Minh vào thăm ông
(tại một căn nhà trong nhà
ḍng Chúa Cứu thế) ông rớm
nước mắt và nói: Thôi hết
rồi Minh ơi. Và những người
có mặt đều khóc theo ông.
Ông Cẩn nằm trên giường nệm,
vắt chân chữ ngũ, nước mắt
giàn giụa trên g̣ má. Căn
bệnh áp huyết của ông bắt
đầu tái phát.
Ông bảo Đại uư Minh gọi điện
thoại cho tướng Trí, nhắn
tướng Trí vào Huế ngay để
ông có đôi điều dặn ḍ.
Huế lúc ấy bắt đầu sôi động.
Thiếu tá Hiếu, Trung tá Mô,
ông Đào Quang Hiển và một số
"bá quan văn vơ “ đă đứng về
phe đảo chính. Biến chuyển
mau lẹ quá. Huế ngỡ ngàng,
rồi Huế bùng lên trong cuộc
nổi lửa.
Chiều 3-11, tướng Trí từ
ngoài Đà Nẵng vào Huế. Quân
đội vẫn làm chủ t́nh h́nh
Huế.
Không có tiếng súng nổ,
không đổ máu. Sự lặng lẽ
trong cơn dao động hoang
mang. Ảnh của Tổng thống
Diệm vẫn c̣n được treo ở
nhiều công sở. Người đầu
tiên mà tướng Trí t́m gặp
lại là Đại uư Minh . Đây là
mẩu đối thoại giữa hai người:
- Bây giờ Cậu ở đâu? Tướng
Trí hỏi.
- Cậu đang ở trong nhà ḍng
Chúa Cứu thế. Đại uư Minh
đáp.
- Anh em cứ an tâm, không có
ǵ phải lo sợ. Mọi việc ở
ngoài này đă có tôi.
- Là sĩ quan của quân đội,
tôi phải tuân theo lệnh của
Thiếu tướng.
- Anh cho tôi gặp ông Cậu.
Tôi ra đây với tư cách đại
diện Hội đồng Quân nhân cách
mạng - Lời tướng Trí.
Lúc ấy ông Cẩn vẫn nằm trên
chiếc giường sắt, cơn đau đă
bớt. Ông lấy trầu ra ăn .
Ông Cẩn cho gọi một cộng sự
viên thân cận và nói giọng
thều thào "Chiếc bao bố ném
ở dưới gậm giuờng (trong căn
nhà Phú Cam) trong đó có 24
ki lô vàng. Chiếc valise gồm
một số gia bảo và qúy vật
v.v.. Mày lo liệu giữ ǵn
không th́ tụi nó lấy hết. Số
bạc mặt tao vẫn để trong tủ.
. . ". Ông Cẩn c̣n dặn ḍ
thêm : "Mày trao cho Trí giữ
hộ. . . Cứ trao cho Trí
không sao đâu".
Buổi chiều ngày 3 -11 tại
nhà ḍng Chúa Cứu thế, không
khí thê lương ảm đạm như một
ngày cuối đông miền hàn đới.
T́nh h́nh Huế lúc ấy đă náo
động.
Cha bề trên Nhă cúi đầu lần
hạt đi đi lại lại trên hành
lang, cha Nhă hỏi Đại uư
Minh: “Anh đă đi t́m cha
Thuận chưa"... Hai người
nh́n nhau lặng lẽ, nỗi buồn
thật mênh mông. Đại uư Minh
lên pḥng ông Cẩn. . .Lúc ấy
ông Cẩn vẫn nằm vắt chân chữ
ngũ, mắt ông đỏ ngầu v́ khóc
. . .Tướng Trí cũng vào
pḥng ông Cẩn cùng với Đại
uư Minh. Đỗ Cao Trí vẫn niềm
nở và trọng vọng ông Cẩn như
xưa, ông giơ tay chào theo
kiểu nhà binh. ông Cẩn ngước
mắt nh́n tướng Trí không nói
một lời nào. Đôi mắt ông
nặng trĩu nỗi đau thương.
Dường như lúc ấy ông Cẩn như
muốn khóc. Mẩu đối thoại
giữa tướng Trí và ông Cẩn
được ghi lại như sau:
- Hội đồng Quân nhân cách
mạng uỷ con xin thưa lại với
Cậu, Tổng thống và ông Cố
vấn chết là do tai nạn ngoài
ư muốn của các tướng lănh.
Tướng Trí không dấu nổi xúc
động, ông yên lặng một lúc
rồi nói tiếp:
- Chuyện đă xảy ra như vậy
bây giờ biết làm thế nào.
Con được Hội đồng Quân nhân
cách mạng uỷ cho đến đây để
xin thưa với Cậu, Hội đồng
Quân nhân cách mạng kính mời
Cậu tham gia và xin mời Cậu
đứng trong thành phần của
Hội đồng.
Ông Cẩn đưa mắt nh́n một vài
người thân yêu. Mọi người
yên lặng. Tướng Trí nói
trong niềm xúc động:
- Việc đă xảy ra như vậy th́
thế nào, Hội đồng Quân nhân
cách mạng cũng áp dụng một
số biện pháp đối với cậu,
như tịch biên tài sản...Con
nghĩ Cậu nên tính xem thế
nào. . . Cậu có thể đưa cho
con giữ hộ.
Chuyện tṛ với ông Cẩn một
lát rồi tướng Trí ra xe cùng
về với Đại uư Minh.
Lúc ấy tại vùng Phú Cam vẫn
yên tĩnh. Đoàn Thiết giáp
của Thiếu tá Tuấn đang giữ
phận sự canh pḥng và kiểm
soát chặt chẽ. Nhà ông Cẩn
vắng lặng chỉ có con bé Kính,
một vài gia nhân. Con bé
Kính sau này cho biết, Vali
và bao bố vàng được đưa lên
xe Jeep, rồi đoàn tuỳ tùng
rời khỏi tư thất ông Cẩn.
ÔNG LĂNH SỰ
Từ khi tướng Trí và Đại uư
Minh đi khỏi, bên cạnh ông
Cẩn không c̣n ai . Một vài
người thân yêu ngơ ngẩn ở
trước cửa nhà ḍng có ư đợi
. Đại úy Minh xem ông Minh
có quyết định sang tị nạn ở
toà Phó Lănh sự Mỹ hay không.
Buổi sáng ở nhà Đại uư Minh,
ông Phó Lănh sự Mỹ có đến
t́m gặp và đề nghị:
- Nếu Đại uư và gia đ́nh
cũng như viên chức nào thấy
ở ngoài này không có an ninh
và nguy hiểm cho tính mạng,
tôi mời tất cả qua tị nạn
ṭa Lănh sự.
Đại úy Minh đáp: Xin cảm ơn
ông Lănh sự, có lẽ không cần
thiết.
Ngày 2-11-1963 chính là ngày
sinh nhật của ông Cẩn...ông
có ngờ đâu đó cũng chính là
ngày ông phải để tang hai
người anh trai...Sau khi
ôngCẩn sang tị nạn tại nhà
ḍng Chúa Cứu thế th́ ông
Lănh sự và Phó Lănh sự có
t́m gặp Đại uư Minh và đề
nghị đưa ông Cẩn qua toà
Lănh sự tị nạn cho an ninh
hơn và ông cam kết sẽ để ông
Cẩn được hưởng quyền lợi tị
nạn như toà Đại sứ Mỹ đă
dành cho Thượng toạ Trí
Quang trước đây.
Nhưng ông Cẩn chỉ bằng ḷng
qua đó tị nạn với điều kiện
ông phải được đem theo thân
mẫu tức bà Ngô Đ́nh Khả . .
. Lănh sự Mỹ không chấp nhận
điều kiện này. Hơn nữa, các
cộng sự viên thân tín tỏ ư
dè dặt v́ không hiểu ḷng dạ
của người Mỹ ra sao.
Ngày 5/11 tướng Trí được
lệnh của quân đảo chính đưa
ông Cẩn về Sài G̣n cùng với
bà cụ Khả. Lúc ấy bà cụ Khả
vẫn chưa biết tin Tổng thống
Diệm và ông Nhu bị thảm sát,
v́ trong nhà cố giữ kín tin
này. Bà cụ Khả đă trên tuổi
90 và bán thân bất toại từ
lâu. . .
Khi về Sài G̣n th́ mẹ con
đôi ngả. Ông Cẩn vĩnh viễn
xa mẹ từ buổi ấy. Ông bị
giam trong một căn pḥng "ghê
rợn" nhất của khám Chí Hoà.
Cái đau khổ lớn của tù nhân
không phải v́ thân thể bị
câu thúc mà trước hết đau
khổ v́ cô đơn. Nỗi cô đơn
như một phi tần trong chốn
lănh cung. Có ai trải qua
cơn phong trần mới thông cảm
được nỗi “giết nhau chẳng
cái lưu cầu, giết nhau bằng
cái u sầu độc chưa” Trên sáu
tháng trời ông Cẩn đă chết
ṃn trong cái u sầu thê
lương như vậy của một cấm
pḥng đầy oan trái và hồn
ma. Chắc hẳn trong những đêm
dài thao thức, ông Cẩn chỉ
c̣n sống theo dĩ văng huy
hoàng, 9 năm trong đó bao
nhiêu công hầu đă đến với
ông, van lậy ông, một điều
cậu, một điều con để mong
ông ban phát bổng lộc.
Điều đau khổ nhất đối với
riêng ông Cẩn là những ngày
tháng ông phải sống xa mẹ.
Từ ấu thơ cho đến ngày lao
lư, ông Cẩn không bao giờ
phải sống xa mẹ. Trong gia
đ́nh Tổng thống th́ chỉ có
một ḿnh ông Cẩn sống cạnh
mẹ. Ông Diệm cho đến Đức cha
Thục, ông Nhu, ông Luyện mỗi
người mỗi ngả một năm mới về
thăm mẹ đôi ba lần. Theo
nhân chứng, ông Cẩn được
thân mẫu thương yêu nhất mực
về đức hiếu thảo. Kể từ ngày
bà cụ Ngô Đ́nh Khả bị bán
thân bất toại, suốt ngày nằm
trên ghế tựa, ông Cẩn luôn
luôn có mặt bên cạnh không
chịu xa mẹ lấy một đêm.
Thế mà những ngày ấy ông
phải sống xa mẹ. Và ngày
20-4-64, Toà án "cách mạng"
tuyên án tử h́nh ông Ngô
Đ́nh Cẩn mà chánh thẩm là
Đại tá Đặng Văn Quang (vợ
chồng Đại tá Quang vốn là
con đỡ đầu của thân mẫu Đức
cha Nguyễn Văn Thuận chị
ruột của ông Cẩn). Trước toà
ông Cẩn nói: "Tôi quân sự
không biết, hành chánh không
biết, học tầm thường làm sao
ra lệnh cho ai được?”. Bốn
ngày sau khi tuyên án, ông
Cẩn đệ đơn xin ân xá và 2
ngày sau nữa tướng Dương Văn
Minh bác đơn xin ân xá với
tư cách Quốc trưởng. Trong
thời gian này, tướng Khánh
đă "đau đầu”, rồi bối rối
không biết làm thế nào để
giải quyết mọi việc cho mọi
bề êm đẹp. Bao nhiêu cuộc
tiếp xúc, bao nhiêu cuộc trả
giá, tấm thân của ông Cẩn
trở thành món hàng để “bên
này đưa ra điều kiện này bên
kia đặt điều kiện khác". Chữ
"nếu” làm cho ông Khánh bù
đầu. Nếu không giết ông Cẩn
chúng tôi sẽ có thái độ,
hoặc không ân xá cho ông Cẩn
chúng tôi sẽ hành động". Các
cố vấn của tướng Khánh th́
cho rằng "Trong vụ này Thủ
tướng cứ coi như vô can.
Việc xử thế nào là do Toà.
Việc ân xá hay không là do
tướng Minh.
Nếu tướng Minh ân xá th́ hợp
ư với Thủ tướng và có thể
xoa dịu được phe bên này, mà
áp lực “búa ŕu"của phe bên
kia sẽ đổ hết vào đầu ông
Minh và ngược lại. . .”.
Cộng sự viên thân tín của
tướng Khánh lúc ấy đều là
những người cùng chống chế
độ Ngô Đ́nh Diệm và bị giam
cầm như Phạm Thái, Tổng
Trưởng thông tin hay thuộc
Đảng Đại Việt như bác sĩ
Nguyễn Tôn Hoàn, Phó Thủ
tướng hoặc thuộc "gà nhà"
như luật sư Nghiêm Xuân Hồng,
Bộ trưởng phủ Thủ tướng…
Hôm xử bắn ông Cẩn tại khám
Chí Hoà, buổi sáng ông Khánh
uống một hơi hết ly rượu
mạnh, mắt ông lại lồi hẳn ra.
CHẾT V̀ CỦA
Qua lời nguyền phục hận cho
anh em Tổng thống Diệm mà
tướng Khánh đă nhiều lần tỏ
bày ... ai cũng tưởng ông là
một người một ḷng một dạ
sống chết với anh em ông
Diệm. Nhưng với tướng Khánh
th́ "lời nói gió bay lên
trời”, thảy đều không quan
trọng.
Sau khi đảo chính thành công,
hầu hết các tướng tham dự
đều được vinh thăng, nhưng
trường hợp tướng Khánh lại
bị chậm trễ. Trong quá khứ
và thuở c̣n mang lon cấp tá,
tướng Minh và Khánh quá biết
rơ nhau. Đă từ lâu, không ai
ưa ai. Ngày 5-2, tướng Khánh
ở Pleiku bay về Sài G̣n một
mặt tŕnh diện tướng Minh.
Mặt khác chạy lon. Vốn là
người láu cá vặt, nên tướng
Khánh chạy qua "cửa" Thủ
tướng Thơ, và biết rằng ông
Thơ hay bị xiêu ḷng nếu
chịu khó năn nỉ. Hơn nữa,
ông Thơ vẫn có ḷng tốt đối
với bọn em út. Quả nhiên
tướng Khánh đă thành công.
Thủ tướng Thơ gọi điện thoại
cho tướng Minh để "xin lon”
cho tướng Khánh và ông Minh
cũng đồng ư cho ông Khánh
lên Trung tướng. Sáng hôm
sau, tướng Khánh lại đến tư
thất của Thủ tướng Thơ năn
nỉ . Việc thăng Trung tướng,
Thủ tướng Thơ đă dàn xếp
xong.
Tướng Khánh nóng ḷng nên
cho người lên phố mua cặp
sao ngay. Tại tư thất, Thủ
tướng Chính phủ vẫn c̣n mặc
áo Pyjama, vốn là con người
xuề xoà, không kiểu cách,
Thủ tướng Thơ đă gắn lon
Trung tướng cho Nguyễn Khánh
trong lúc ông đang mặc đồ
ngủ.
Thực ra th́ tướng Khánh cũng
chẳng thương xót ǵ Tổng
thống Diệm. Đối với ông ai
cũng có thể là người "tri kỷ",
ai cũng có thể là bạn đường...Người
như tướng Khánh khó ḷng giữ
được sự trung nghĩa.
V́ tướng Khánh không chỉ bắt
cá hai tay mà ba bốn tay.
Cùng một câu chuyện, gặp ông
A, tướng Khánh nói thế này,
gặp ông B tướng Khánh lại
nói cách khác.
Ngày 9-5-l964, ông Cẩn bị xử
bắn tại khám Chí Hoà th́
Phan Quang Đông bị xử bắn
tại Huế. Ông Khánh bay ra
Huế để lấy ḷng dân chúng từ
một trung tâm tranh đấu...nhưng
ông lại bị dân chúng vây tại
dinh tỉnh trưởng Thừa Thiên.
Ông phải "trốn lủi" đi cửa
sau rồi dùng trực thăng rời
khỏi cố đô.
Sau một ngày hành tŕnh toát
mồ hôi, lại bị dân chúng la
ó đả đảo, hôm ấy ông Khánh
t́m lại giấc ngủ b́nh an sau
khi ông Cẩn đă ra người
thiên cổ. Chết là hết, ông
Khánh được b́nh an v́ những
tưởng ông Cẩn sẽ mang theo
tất cả những bí mật về phần
tài sản của ông. Sự đời đâu
có đơn giản như vậy. Cái kim
trong bọc để lâu ngày cũng
ḷi ra, huống chi tài sản
của ông Cẩn không phải là ít
từ của ch́m của nổi. Nhiều
người thân tín trong gia
đ́nh ông Cẩn cho rằng “Ông
Cẩn chết v́ tài sản đó”. Để
gây quỹ cho đoàn thể Cần
Lao, trong 9 năm ông Cẩn đă
uỷ tên cho một số người đứng
tên quản trị. Ông X đứng tên
và quản trị một cơ sở kinh
doanh này. Ông Y được trao
phó đứng tên mua một thửa
đất kia. Trong cái valise
của ông Cẩn lại chất đầy
những quư vật rồi lại có một
trương mục tại ngân hàng do
mấy người trong Đoàn thể
đứng tên. Nếu ông Cẩn c̣n
sống, các đương sự sẽ khó
ḷng chiếm đoạt nổi. Có thể
tướng Khánh đă được chia một
phần tài sản ấy về mặt của
nổi để gọi là dùng vào quỹ
mật.
Tại nhà ḍng Chúa Cứu thế
ngày 3-2 khi được quân đảo
chính mời tham gia, một vài
người thân tín của ông Cẩn
đă đề nghị: "T́nh thế đă như
vậy rồi nay Hội đồng mời Cậu
tham gia th́ Cậu cứ tham gia.
Bao nhiêu tài sản, của cải
của đoàn thể hiện do ai đứng
tên, do ai cất giữ cậu khai
hết rồi đem nạp cho Hội đồng
để xung vào công quỹ
Quốc-gia". Nếu ông Cẩn nghe
lời nhân chứng B, công khai
hoá tài sản và đem nạp cho
Quốc gia th́ ít nhất cũng
không ai có thể nuốt được
hết cho dù có "chấm mút" ít
nhiều.
Nói về tài sản của ông Cẩn,
giới thân tín của ông đều
ngao ngán: "Ông Cẩn không
bao giờ tin nhũng cộng sự
viên thân cận của ông mà ông
vẫn cho rằng quá trẻ không
hiểu ǵ về vấn đề kinh tài
cho đoàn thể”.
Dạo năm 1961 nhiều đảng viên
Cần lao bị thương, đau yếu
túng quẫn, Đại uư Minh có đề
nghị: "Cậu trích một số tiền
trong quỹ đoàn thể giúp đỡ
những người đă ph ả i hy
sinh hay thương tích v́ quốc
gia và đoàn thể”. Lúc ấy ông
Cẩn nói: “Tiền đâu bây chừ...tao
làm ǵ có tiền". Mấy cộng sự
viên rất đỗi ngạc nhiên,
không hiểu tiền bạc bấy lâu
nay đi về đâu và ở những tay
ai ? Vào khoảng năm 1959, có
người đề nghị ông Cẩn mua
lại một số đất của hoàng tộc.
Ông bảo Đại uư Minh và mấy
người thân tín cùng ông đi
coi xem đất cát ra sao. Một
người lên tiếng cản ngăn:
"Con nghĩ Cậu không nên làm
như vậy. Ḿnh vừa truất phế
Bảo Đại xong bây giờ lại
đứng ra mua lại đất đai của
Hoàng tộc th́ cho dù có trả
tiền theo thời giá vẫn bị
mang tiếng " ông Cẩn đáp:
"Tao một thân một ḿnh th́
cần chi. Lo là lo cho bọn
bay, đoàn thể mà không có
vốn liếng th́ làm sao hoạt
động được? Tụi bay c̣n trẻ
biết ǵ".
Từ đó mấy cộng sự viên thân
tín không ai đả động ǵ đến
việc này dù họ cũng biết rơ
ông Cẩn đă uỷ cho ai lo phần
kinh tài. Theo người biết
chuyện th́ mẹ con bà Luyến
và một số người khác đă làm
hỏng ông Cẩn, nhất là vấn đề
kinh doanh tiền bạc. Rồi khi
tàn cuộc th́ những “ai đó"
phỗng tay trên. Trong suốt 9
năm cầm quyền đă có biết bao
ông bà lớn tâng bốc bà Luyến
lên mây xanh, một tiếng D́,
một tiếng Mợ. Một đằng Cậu
Cẩn, một đằng Mợ Luyến. Do
đó đă gây nên bao nhiêu dư
luận xấu xa. Mà bà Luyến tuy
anh em con d́ với anh em ông
Cẩn nhưng lại chỉ là thứ gia
nhân lo việc nội trợ trong
nhà.
__________________
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG:
ĐẢNG VIỆT NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|

09-04-2008, 08:52 PM
|
 |
Điều hành viên
|
|
Gia nhập: Dec
2007
Đến từ: Nation &
Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
PHÚ HỘ ĐỒNG
QUÊ
Trong 9 năm ông Cẩn đă cho
tiền thiên hạ rất nhiều. Bản
thân ông vốn là cậu ấm con
quan Thượng thư Lễ bộ nhưng
ông lại là con người tiêu
biểu cho trạng thái quê mùa.
Thường ngày, ông dùng cơm
với cá kho, dưa chua. Ngay
nhà ông bao giờ cũng muối
sẵn từng vại dưa, vại cà, có
khi ông c̣n tỉ mẩn đi muối
hàng vại "dưa rau muống ".
Một sáng kiến khá kỳ cục…v́
chưa thấy ai dùng rau muống
để muối dưa, v́ ông lại
không ăn được vây yến hay
sơn hào hải vị!. Nhà ông ở
Phú Cam nuôi hàng trăm con
chim bồ câu. Nuôi là để dành
dấy thôi. ông Cẩn có tâm lư
một nhà giàu xứ quê cho nên
cái ǵ ông cũng thu vén chắt
chiu, cái ǵ cũng cho vào
trong kho hết, trong kho của
nhà ông chứa đựng không biết
bao tranh sơn mài đồ gốm, đồ
cổ. Dĩ chí có nhiều người
biếu ông miếng gỗ cẩm lai
ông cũng cho cất vào kho để
dành.
Ngày 1-2 là sinh nhật ông
cho nên khách bốn phương đổ
về Huế tấp nập với bao nhiêu
quà, ông không ăn, trong nhà
cũng không thể ăn hết, tuy
vậy dù là quà thuộc về thực
phẩm, ông cũng đem cho vào
kho cất đi. Mấy hôm sau để
thối ra đấy người nhà lại
mất công đem đi đổ. . . .
Con người ông Cẩn là một thế
giới đầy mâu thuẫn, ông vừa
có cái cốt phong kiến của
con quan, ông lại có tính
thu vén chắt chiu của một
phú nông, cùng cái hách của
Tổng lư thời xưa. ông có bản
chất và sắc thái của một ông
già nhà quê. Ngoài thú câu
cá, ông c̣n tự tay vót tre
đan rổ rá. Rổ rá trong nhà
ông phần lớn là do ông đan
lấy và ông coi đó như một
sinh thú.
CÔNG LƯ
Ngày 20-4-64, ông Cẩn được
xét xử trước Toà án. Ông Cẩn
cũng bị khép vào các tội như
Phan Quang Đông chỉ khác tội
cố sát. Trên đây, xét từ
nguyên nhân sâu xa th́ ông
Cẩn chết v́ lư do tài sản.
Nhưng ra toà, bản án tử h́nh
dành cho ông lại bắt nguồn
từ vụ án gián điệp miền
Trung với Huỳnh Văn Trọng,
Nguyễn Đắc Phương bị người
của ông Cẩn xô từ trên lầu
xuống và Phương chết như vậy
tức là Phương bị cố sát chứ
không phải Phương tự tử (?).
Buổi sáng ngày 20-4, khi toà
xử, có vợ Nguyễn Đắc Phương
ra làm nhân chứng. Một vài
tờ báo mô tả rằng: 'Người vợ
của ông Phuơng v́ thương
chồng phẫn uất quá nên ra
toà bị ngất xỉu”. Một người
ở Huế biết quá rơ bà Phương
nói rằng: "Bà Phương mới
sinh được hai tháng đă phải
ra toà nên ngất xỉu". Tại
sao lại như thế ? Chồng bà
đă chết từ lâu cơ mà ? Đại
cương vụ án gián điệp tại
miền Trung như thế này:
Hồ sơ vụ này đă có từ thời
ông Giám đốc Công an Trung
phần Nguyễn Chữ. Đầu năm
1960 mấy Linh mục Đà Nẵng có
lên gặp Đức Tổng giám Mục
Ngô Đ́nh Thục tŕnh bày về
việc một số người bị bắt oan
trong đó có cả tín đồ Thiên
Chúa giáo. Đức cha Thục thay
v́ hỏi thẳng Phan Quang Đông
(v́ Đông có trách nhiệm
trong vụ này) ngược lại Đức
cha Thục lại vào thẳng Sài
G̣n tŕnh bày nội vụ với
Tổng thống Diệm, sau đó Tổng
thống Diệm ra lệnh cho Đại
tá Đỗ Mậu mở cuộc điều tra.
Đại tá Mậu đánh công điện
cho Đại uư Thích, Trưởng khu
An ninh Huế điều tra vụ này.
Dĩ nhiên là động đến ông Cẩn,
Đại uư Thích không dám đơn
phương tiến hành. Đại uư
Thích đến xin gặp Đại uư
Minh bàn luận cùng ông Minh
nên xử trí như thế nào. Ông
Minh cho rằng, vụ này nên
hỏi lại Phan Quang Đông và
báo cho Đông biết sự thể nó
như vậy. Sau đó sẽ tŕnh báo
với ông Cẩn.
Đại uư Thích vào gặp ông Cẩn
tŕnh bày về bức công điện
từ Sài G̣n. Phản ứng đầu
tiên là ông Cẩn tái mặt, ông
bảo Thích điều tra lại xem
có điều ǵ oan ức không. Ông
Cẩn nói: Giết oan người ta
th́ Chúa phạt đến đời con
đời cháu. Sau An ninh Quân
đội điều tra th́ đều xác
nhận vụ án gián điệp có thật.
Ngày 20-4, Toà xử ông Cẩn về
vụ ấy.
NGƯỜI TỬ TÙ
Một viên giám thị tại khám
Chí Hoà (từng có nhiệm vụ
canh gác pḥng ông Cẩn) đă
kể lại với chúng tôi: Có một
đêm đă khuya lắm, anh ta đi
qua pḥng ông Cẩn, ṭ ṃ
nh́n qua lỗ khoá. Anh ta
thấy ông Cẩn đi đi lại lại
quanh pḥng rồi ông gục đầu
vào tường. Anh nghe thấy
tiếng ông khóc nấc. Sau đó
anh thấy ông Cẩn đi lại phía
giường.
Ông quỳ dưới chân tường gục
đầu vào nệm, anh vẫn nghe
thấy tiếng ông khóc nấc. Một
lần khác có việc vào pḥng
ông, ông lại có vẻ b́nh thản
và hỏi: "Chú có nghe tin tức
ǵ ở ngoài nớ không? ". Tất
nhiên là anh ta chỉ ầm ừ rồi
mau chóng đi ra (v́ sợ bị
nghi có liên lạc với tù
nhân) . . . Lần nào gặp, ông
Cẩn cũng có lời hỏi han anh
như: lương bao nhiêu, có đủ
ăn không, mấy con, bố mẹ c̣n
không, có nuôi được bố mẹ
không?
Buổi sáng ngày ông Cẩn ra
pháp trường, người con gái
bà Ấm (cháu gọi ông Cẩn bằng
cậu) được phép vào tận trong
pḥng giam thăm ông với sự
hiện diện của viên chức quản
lư. Chị ta giơ năm ngón tay
ra hiệu cho ông Cẩn (có
nghĩa là năm giờ bị xử). ông
Cẩn khẽ gật đầu. V́ không
nén được xúc động, người
cháu gái khóc bù lu bù loa
và nặng lời nguyền rủa những
ai phản phúc với ông cậu
ḿnh. Ông Cẩn th́ vẫn điềm
đạm. Lời ông nói với cô cháu
gái được ghi nhận như sau:
"Không có ǵ đáng buồn mà
phải khóc lóc. Làm chính trị
là phải như thế. Cậu không
có ǵ oán thán hết. Làm
chính trị th́ phải biết sẽ
có ngày như thế này ".
Buổi chiều, có những viên
chức đă đưa ông từ trại giam
ra pháp trường: Đại tá Trang
Văn Chính, Giám đốc Cảnh sát
Đô thành, Trung tá Nguyễn
Văn Đức, Uỷ viên Chính phủ
và luật sư Vơ Văn Quang cùng
một số viên chức khác và có
cả bà Ấm, người chị ruột của
ông Cẩn.
Trước đó ông Cẩn bị bệnh
sưng khớp xương và những
tháng nằm trong tù ông gần
như bị tê liệt, mỗi khi đi
đứng phải có người xốc hai
vai.
Song buổi chiều ra pháp
trường một số người hiện
diện đều ngạc nhiên, da mặt
ông ta tự nhiên đỏ hồng, từ
trên lầu xuống nhà ông vịn
tường mà đi không cần người
xốc nách. Ông vẫn thường nói
với chị ông và các cháu
(trong đó có bà Trần Trung
Dung) “Không việc ǵ phải
khóc lóc hay chửi rủa ai. Cứ
cầu nguyện cho người ta. Cậu
làm chính trị cậu đă nghĩ
đến ngày phải như thế này".
Đại tá Chính và mấy người
khác lên tiếng chào ông, ông
cúi đầu thi lễ: “Xin chào
các ngài ". Mọi người đều
công nhận ông có vẻ thản
nhiên và khoẻ mạnh hơn mọi
ngày thường.
Khi ra pháp trường ông Cẩn
lẻ loi một ḿnh. Mặt ông vẫn
thản nhiên, ông bị trói vào
cột (như báo chí đă tường
thuật). Trung uư Bảo, sĩ
quan báo chí Phủ Thủ tướng
là người duy nhất đại diện
báo chí nhà nước có mặt tại
"sân bắn" lúc ấy. Trung uư
Bảo thuật lại: Hai bàn chân
của ông chỉ có năm ngón chấm
đất, gót chân lơ lửng. Ông
Bảo tiếp lời: Biết đâu lúc
ấy ông Cẩn không nhận ra tôi
Trung uư Bảo đứng cách tử
tội Ngô Đ́nh Cẩn 15m về phía
tay mặt. Đằng trước ông Cẩn
là toán quân thực thi nhiệm
vụ. Sau toán quân cách là
báo chí. Do t́nh cờ của số
phận, Bảo lại có mặt trong
tư thế đại diện chính quyền
trong buổi xử bắn ông Cẩn.
Thật là éo le.
Nhân chứng nói: “Nh́n ông
Cẩn lúc ấy tôi rướm nước mắt
song vẫn cố t́nh làm ra vẻ
thản nhiên". Định mệnh lịch
sử có thật hay sao? Trước đó
Bảo được Trung tá Khôi cho
ra Huế mang thư riêng đến
ông Cẩn.
Khi được Đại uư Minh đưa vào
yết kiến, Trung uư Bảo rất
ngạc nhiên. Ông Cẩn nằm trên
chiếc ghế xích đu kê ở hàng
hiên. Ông đang nhai trầu bỏm
bẻm. Thấy Bảo ông Cẩn ngồi
nhỏm dậy và tự tay kéo ghế
mời ngồi. Ông gọi đích danh
Bảo rồi hỏi thăm chuyện tṛ
lan man về t́nh h́nh Sài
G̣n, về gia cảnh và công
việc làm ăn của Trung uư
Bảo.
Vẫn khuôn mặt cũ, buổi chiều
hôm ấy ra pháp trường, Trung
uư Bảo thấy ông Cẩn vẫn giữ
vẻ b́nh thản, da mặt đỏ
hồng.
Rồi một loạt súng nổ, ông
Cẩn trở về cơi thiên cổ.
Trước đó ông ta từ chối
không chịu bịt mắt. Nhưng
Trung tá uỷ viên Chính phủ
nói “Đây là luật lệ bắt buộc
như vậy ". Ông Cẩn đành
chịu, ông cũng không quên
lên tiếng xin mọi người tha
thứ cho ông và những người
đồng đạo có mặt lúc ấy đă
đọc cho ông một kinh lạy cha
trong đó có câu “Xin cho
chúng tôi hàng ngày dùng đủ
và tha tội chúng tôi như
chúng tôi cũng tha kẻ có nợ
chúng tôi ". Khi bị trói vào
cột, ông Cẩn được gặp riêng
cha Thính thuộc ḍng Chúa
Cứu thế là vị quan linh
hướng của ông. Rồi sau là
luật sư Vơ Văn Quan. . .
Luật sư Quan nói chuyện với
ông Cẩn một lúc, rồi đưa tay
gỡ cặp kính trắng trên mắt
ông, không khí thật trầm
lặng và căng thẳng trong nỗi
thê lương. Cha Thính quay
đi... mắt vịLinh mục long
lanh hạt lệ . Luật sư Quan
khẽ thở dài như tiếc thương
cho một phận người.
Chỉ một loạt đạn thứ nhất,
ông Cẩn đi ngay. Đầu ông gục
xuống, lắc lư . . .
Trung uư Bảo đến bên ông. .
. Màu da đỏ hồng biến thành
mầu xám nhạt. Không ai giữ
được tiếng thở dài nghẹn
ngào. Ông được tháo dây trói
và đặt trên băng ca khiêng
trở lại khám đường. Bảo đi
theo. Trong gian pḥng hoang
lạnh, không c̣n ai ngoài
Bảo, người hiến binh áp giải
và lát sau th́ bà Ấm lật đật
chạy vào. ông Cẩn nằm trên
băng ca, phủ tấm vải trắng
loang lổ máu. Người chị ông
khóc rưng rức, nước mắt giàn
giụa trên g̣ má. Thế là xong
một đời người.
__________________
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG:
ĐẢNG VIỆT NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|

09-04-2008, 08:55 PM
|
 |
Điều hành viên
|
|
Gia nhập: Dec
2007
Đến từ: Nation &
Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
Chương VI : Trường hợp bà
Ngô Đ́nh Nhu
Bà Ngô Đ́nh Nhu có điệu bộ
vóc dáng của một minh tinh
màn bạc hơn là một phu nhân
theo cốt cách Đông phương.
Trong 9 năm chế độ Ngô Đ́nh
Diệm bà được suy tụng như
một Đệ nhất phu nhân. Chính
cái danh xưng này đă không
thuận tai và làm cho dư luận
đàm tiếu không ít. Ông Nhu
tuy là một Cố vấn chính trị
Phủ Tổng thống, nhưng trên
danh nghĩa ông không có một
vị thế công quyền. Ông Tổng
thống sống đời độc thân mà
người em dâu lại được "suy
tôn" như Đệ nhất phu nhân
th́ điều đó quả chướng tai,
v́ nó không chính danh và
hợp với chữ Lễ.
Nhưng từ nguyên do nào đă
đưa bà Nhu lên địa vị một
người đàn bà "uy quyền"
khiến bao nhiêu khách công
hầu của chế độ phải ra luồn
vào cúi và coi bà như một nữ
lănh tụ? Ai phong cho bà Nhu
tước vị Đệ nhất phu nhân?
Không ai phong cho bà cả.
Nếu có th́ chỉ có cơ quan
Thông tin thỉnh thoảng qua
một vài bản tin, qua bích
chương đă "bốc" bà lên hàng
tột đỉnh công danh đó.
Xin trở lại quá khứ: Tháng
4-1955 khi Sài G̣n đang ngút
ngàn khói lửa, B́nh Xuyên
quyết ăn thua đủ với chính
quyền, gia đ́nh bà Nhu vẫn
c̣n ở căn nhà của bác sĩ Cao
Xuân Cẩn trước dưỡng đường
Saint Pierre Sài G̣n.
Khi thu hồi dinh Norodom,
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm
dành một pḥng phía bên
-trái cho vợ chồng ông
Luyện. Trong hai người em
dâu th́ Tổng thống Diệm quư
bà Luyện hơn. Giữa vợ chồng
ông Luyện với Tổng thống
Diệm có sự thân mật đậm đà
và không xa cách như vợ
chồng ông Nhu. Từ khi trở về
nước chấp chính cho đến
tháng 4-1955, vai tṛ của
ông Ngô Đ́nh Luyện mới là
quan trọng. Vai tṛ của ông
Nhu lúc ấy c̣n mờ nhạt . . .
Nhưng có một điểm tâm lư như
thế này: Tuy rất quư vợ
chồng ông Luyện nhưng ông
Luyện lại chỉ có toàn con
gái. Tổng thống Diệm không
thích cháu gái, ông rất yêu
mến đám con trai của bà Nhu.
Đó cũng là lư do dễ hiểu,
khi cha con ông Ngô Đ́nh
Khôi qua đời (1945) th́ mấy
chú con trai của ông Nhu là
kẻ nối dơi tông đường của
ḍng họ Ngô Đ́nh. Ngô Đ́nh
Trác đứng vào hàng đích tôn
thừa tự và là bực trưởng của
gia đ́nh Ngô Đ́nh sau này.
Mấy chú con trai của ông Nhu
trở thành nhịp cầu nối tiếp
giữa vợ chồng ông Nhu và
Tổng thống Diệm mặc dầu bản
chất giữa Tổng thống Diệm và
ông Nhu rất khác biệt nhau.
Anh em không mấy khi gần
nhau qua những phút tâm t́nh
hàn huyên. Nhưng mấy đứa
cháu trai lại trở thành
nguồn hứng thú tinh thần của
Tổng thống Diệm và đó cũng
là nguồn hy vọng của ông
Tổng thống c̣n nặng ḷng với
nho giáo...trong t́nh cảm
gia d́nh. Chính cũng nhờ ở
điểm có mấy người con trai
cho nên bà Nhu dă dễ dàng
tạo được tư thế trong gia
đ́nh nhà chồng.
Khi trận chiến giữa B́nh
Xuyên và chính quyền bùng
nổ, Đại tá Huỳnh Văn Cao bàn
tính với Thiếu tá Vinh làm
thế nào để di tản gia đ́nh
bà Nhu vào trong dinh, nếu
không B́nh Xuyên có thể làm
"hoảng", giết ông bà Nhu
hoặc bắt cóc mấy đứa con của
bà để làm điều kiện thương
thuyết. Ư kiến này mọi người
đều cho là phải. Trước đó
Tổng thống Diệm cũng tỏ ư
băn khoăn ngỏ ư với ông Bằng
"Mi bàn với Vinh và Cao làm
sao che chở gia đ́nh ông Nhu
ở Saint Pierre...B́nh Xuyên
nó làm dữ quá..". Mấy hôm
sau, gia đ́nh bà Nhu di tản
vào dinh Độc Lập, ở trong
một gian pḥng phía góc
trái. Lúc đầu ông Nhu nằm
ghế bố v́ không có giường. .
.
Bà Nhu tuy chỉ học hết lớp
Đệ tam (classe de seconde)
trường Albert Sarraut Hà Nội
nhưng bà lại có một tŕ
thông minh thiên bẩm. Sinh
ra trong nhung lụa, lại
thuộc gia đ́nh quan lại vọng
tộc, bà Nhu từ tấm bé đă ở
trong một môi trường tháp
ngà, hầu như không liên hệ
với nếp sống Việt Nam. Có
thể nói, bà thuộc một giai
cấp không có trong xă hội
Việt Nam. Cái giai cấp đó
được h́nh thành trong chiếc
nôi văn hoá của phương Tây.
Bà là thứ trưởng giả thứ
thiệt. Nhưng thứ trưởng giả
này là một chất hỗn hợp giữa
bản chất hoàng phái (ḍng
máu bên ngoại) cùng quan lại
vọng tộc (ḍng máu bên nội
qua gia đ́nh ông Trần Văn
Thông) . Thân mẫu của bà là
cô gái Huế thuộc hàng khuê
các sông Hương núi Ngự. Thân
phụ bà tuy hiền lành nhưng
trong con người của ông Trần
Văn Chương đă có tới 80%
chất Tây. Quê nội trong Nam,
quê ngoại ở xứ Huế, lại sinh
trưởng ở đất Bắc, bà trở
thành một thứ lưu dân giữa 3
miền Bắc, Trung, Nam.
Từ nhỏ học trường Pháp, và
trong gia đ́nh sống theo lối
Pháp, cha mẹ con cái chỉ nói
tiếng Pháp như một ngôn ngữ
mẹ đẻ, bà Nhu trở thành một
thứ đầm con khi c̣n cắp sách
đến trường.
Tóm lại, môi trường và nếp
sống của bà hoàn toàn xa
cách với nếp sống của quảng
đại quần chúng Việt Nam. Khi
trở về làm dâu họ Ngô Đ́nh
bà Nhu trở nên lạc lơng.
Giữa hai họ Ngô Đ́nh và Trần
Văn tuy là ḍng quan lại cũ
nhưng họ Trần Văn đă "tây
hơn cả tây”. Họ Ngô Đ́nh
trước năm 1945 thường bị
giới đường quan phê phán là
"quê". Quê có nghĩa là không
biết ăn chơi, không có một
đời sống thích nghi với nếp
sống phương Tây và hầu hết
giới quan lại thời đó đều
coi đây là h́nh ảnh mâu
thuẫn và hoàn toàn khác biệt
giữa hai gia đ́nh thông gia,
Ngô Đ́nh và Trần Văn. Qua
tấm ảnh trong album của gia
đ́nh Ngô Đ́nh chúng ta thấy
cụ ông Ngô Đ́nh Khả đứng cao
lênh khênh, mặc áo đại quan,
đeo bài ngà kim nhưng chiếc
quần lại cao quá mắt cá
chân, rộng thùng th́nh. Ông
là h́nh ảnh một vị thượng
quan thế kỷ 18. Bà Khả thấp,
mặc áo dài đen, quần th́ ống
thấp ống cao, bế con. Chung
quanh hai ông bà là một đàn
con yêu vận quốc phục. Riêng
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm lại
mặc một bộ đầm sọc (loại tây
đă phế thải) và đi chân đất.
Nh́n cảnh đó, ta có ngay một
mối cảm tưởng sâu xa về cảnh
hàn vi của một Lễ bộ Thượng
thư Nam triều c̣n gia đ́nh
bà Nhu th́ trái hẳn, ông
Trần Văn Chương mặc Smoking
rất đúng điệu trưởng giả Anh
quốc...Bà Chương lộng lẫy
trong áo dài gấm, vấn tóc
trần. Chính ảnh một phu nhân
tân thời vào những năm
l930...trong khi con cái bà
Chương đều mặc "đầm" rất
đúng điệu. Chú con trai mới
mấy tuổi cũng Com lê hoàn
toàn trưởng giả.
Trong gia đ́nh ông Trần Văn
Chương, vợ chồng con cái đều
dùng tiếng Pháp như tiếng mẹ
đẻ. Bà Nhu vốn đă nổi tiếng
là một mệnh phụ giao du rất
rộng. Bà thuộc loại "đầm
galăng”.
Được ấp ủ và giáo dục trong
một trường Tây phương, khi
c̣n đi học bà đă nổi tiếng
là một tiểu thư lả lướt,
lăng mạn.
Ông Nhu vốn là bạn của vợ
chồng luật sư Chương. Cuộc
t́nh duyên giữa chú Nhu và
cô bé Lệ Xuân là một cuộc
t́nh duyên "chú cháu”. Chú
lớn hơn cháu trên cả hai
mươi tuổi.
Kể từ năm 1945, gia đ́nh ông
Nhu trải qua cuộc “phong
trần" khi th́ ở Đà Lạt, khi
th́ ở Sài G̣n . . .ông Nhu
"thất nghiệp". . . 6, 7 năm
trời . Khoảng thời gian này
đều do tay bà Nhu tần tảo
thu xếp. Từ nếp sống một
tiểu thư trưởng giả đổi qua
vai tṛ người vợ một ông
chồng "lừng khừng và thất
nghiệp chính trị" bà phải lo
toan mọi bề và thời gian này
với một người như bà Nhu
không tránh khỏi tâm lư của
kẻ tự tôn với dĩ văng vàng
son và tự ti với hiện tại
cam go đầy sinh kế.
Dù có sự trợ cấp của Đức cha
Thục, gia đ́nh vẫn không
thoát khỏi cơn khủng khoảng
kinh tế kéo dài 6 năm. Thời
gian này, chuyện xô xát giữa
đôi vợ chồng trẻ khó bề
tránh khỏi. Theo sự tiết lộ
của một số gia nhân thân
cận...th́ bà Nhu luôn luôn
to tiếng. . . với ông chồng.
Ông Nhu không biết kiếm đâu
ra tiền, mọi sự đành "một
tay nhờ mụ nó". Khi một
người đàn ông, dù người đàn
ông đó là loại siêu đẳng
nhưng từ một điếu thuốc cũng
do tiền vợ mua th́ tất nhiên
do kết quả tiệm tiến của một
quá tŕnh tâm sinh lư người
đàn ông đó không thể nào
không bị vợ chi phối. Vợ
không khinh đă là đại phước
lắm rồi. Nếu vợ vẫn trọng
vọng ḿnh th́ lại càng tạo
nên yếu tố tâm lư giúp cho
ngườivợ dễ dàng khuất phục
ông chồng và quyền uy của
người vợ theo thời gian mà
thấm vào trái tim và trí óc
ông chồng, không bao lâu
quyền uy của chồng trở thành
quyền uy của vợ. Ông Nhu ở
trong trường hợp này.
Kể từ năm 1952, t́nh trạng
kinh tế gia đ́nh của vợ
chồng ông Nhu càng thêm sa
sút, đến độ tê liệt. Bà Nhu
đă phải bán hết nữ trang. Từ
năm 1952 chiếc ṿng bà đeo
cổ cuối cùng cũng phải đem
đi phát mại. Khi ông Nhu
quay sang làm tờ Tuần báo Xă
hội th́ cảnh nhà lại càng tệ
hại. Những cộng tác viên của
ông dạo đó phải mua tặng ông
Nhu từng bao thuốc, đăi ông
từng bữa quà sáng. Quần áo
của ông Nhu cũng đă xác xơ.
Ông chỉ c̣n lại một vài bộ
đồ lớn c̣n lưu giữ từ thời
tiền chiến. Bà Nhu th́ đi xe
đạp...ông chồng Nhu vẫn đi
ké xe "muôn thuở" từ năm
1945 cho đến 1954.
Bản chất ông Nhu vốn trầm
lặng một cách khó hiểu, cho
nên cứ mỗi lần bà Nhu la lối
là ông ngồi im không một lời
nói năng, nét mặt chảy dài.
X́ căng đan như một biến cố
tâm lư trong đời ông là dạo
cuối 1953 bà Nhu đă doạ tự
tử sau một trận xô xát .
Trước sau ông Nhu vẫn là kẻ
thua cuộc v́ bất lực trong
cuộc âm mưu sinh kế cho gia
đ́nh. Nguyên nhân chỉ v́ cạn
tiền không c̣n cách nào xoay
xở để sinh sống. Với một con
người trí thức cỡ nặng như
ông Nhu trong t́nh cảnh ấy
kéo dài qua nhiều năm th́ áp
lực và ảnh hưởng của vợ đối
với chồng (nhất là chồng già
vợ trẻ) mỗi ngày càng thấm
sâu lan rộng. . . do đó bà
Nhu càng dễ dàng khuynh
loát, khống chế bao toả mọi
việc...từ gia đ́nh riêng đến
giao tế bên ngoài. Trước năm
1952 đối với vợ ông là người
cứng rắn, không thích ai bàn
tính chuyện thế sự với bà
vợ...mà ông cũng không bàn
thảo ǵ với bà vợ c̣n non
trẻ.
Ông vẫn coi vợ là một cô
cháu gái ngây thơ. Nhưng bà
Nhu lại nhiều lần muốn chứng
tỏ ḿnh không c̣n nhỏ dại và
đủ khả năng để giúp chồng
làm việc lớn. Trong vụ tranh
chấp giữa tướng Hinh và Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm, bà đă
chứng tỏ bà có khả năng
thực. Dạo ấy bà Nhu đă len
lỏi đến nhiều nơi để vận
động ông tướng Hinh và kể cả
chuyện tham gia sách động
biểu t́nh tháng 9 năm 1954.
Giữa lúc t́nh h́nh gay go
nhất, bà Nhu nhảy vào ṿng
với một lập trường dứt khoát
là phải đuổi cổ anh "tây
con" sang Pháp. Tháng 4 năm
1954, khi Tổng thống Diệm
nhận được điện của Quốc
trưởng Bảo Đại triệu qua
Cannes, bà Nhu đă mạnh bạo
tỏ thái độ quyết hệt và t́m
cách ngăn không cho ông anh
chồng sang Pháp và chủ
trương lật đổ ông Vua này.
Về vụ B́nh Xuyên bà cũng
nhảy vào ṿng (dù không ai
yêu cầu) nhưng bà lại chứng
tỏ có khả năng và nhiều sáng
kiến trong việc giúp anh và
chồng giải quyết đại sự
trong một t́nh thế sôi bỏng.

Khi gia đ́nh bà Nhu dọn vào
dinh Norodom, lúc đầu chỉ có
tính cách ở tạm ít lâu để
lánh nạn B́nh Xuyên. Gia
đ́nh ông Luyện tự động
nhường căn pḥng phía bên
trái dinh cho vợ chồng ông
anh và dọn ra ở toà nhà
trắng phía đường Nguyễn Du.
ông bà Nhu ở căn pḥng này
cho đến vụ ném bom
27-2-1962.
Trong gia đ́nh, ngoài Đức
cha Ngô Đ́nh Thục và Ngô
Đ́nh Diệm th́ không ai ưa bà
Nhu cả. Riêng ông Luyện lại
coi thường bà chị dâu và tỏ
ra bất măn khó chịu mỗi khi
thấy bà chị dâu “can dự vào"
chuyện quốc sự. Sự bất đồng
giữa ông Nhu và ông Luyện
trở nên rơ rệt qua vụ truất
phế Bảo Đại. Ông Luyện là
bạn thân của Bảo Đại từ hồi
c̣n đi học và chính ông đă
đóng vai tṛ giao liên dàn
xếp với Bảo Đại qua vụ tướng
Hinh và B́nh Xuyên. Ông Nhu
th́ chủ trương phải truất
phế cựu Hoàng Bảo Đại và
thành lập chế độ Cộng hoà,
dĩ nhiên là bà Nhu hùa theo.
Bà lại thường dùng những
ngôn ngữ đao to búa lớn . .
.Thái độ và lời nói của bà
vừa lấn át người đối thoại,
vừa như mệnh lệnh khuất phục
kẻ đối lập với bà. Trong
thời gian 3 tháng qua Pháp
để dàn xếp với Bảo Đại vào
đầu năm 1955 lúc ông Luyện
trở về th́ quyền Cố vấn đă
hoàn toàn nằm trong tay
ôngNhu, có nghĩa là bà Nhu
cũng tham gia ít nhiều vào
quyền Cố vấn đó. Tổng thống
Diệm đă dặn riêng mấy người
thân cận như Đại uư Cao,
Thiếu tá Vinh như “ở nhà có
chuyện ǵ xảy ra đừng có kể
lại cho ông Luyện nghe". Ư
Tổng thống Diệm không muốn
làm phật ḷng ông em út mà
Tổng thống I)iệm thương nhất
trong nhà, nhưng ông lại nể
ông Nhu hơn và phục cái tài
của ông em học giả. Từ dạo
đó, quanh Tổng thống Diệm đă
chia thành hai phe, một phe
thân ông Luyện, một phe thân
ông bà Nhu. Mấy gia nhân
thân cận như ông Bằng cũng
bắt đầu công khai va chạm
với gia đ́nh bà Nhu.
Sở dĩ phải mô tả và nhận
định về con người và bản
chất thực của bà Nhu ở thiên
bút kư này là v́ những t́nh
cờ của lịch sử và số phận
hẩm hiu của Việt Nam, bà Nhu
đă có cơ hội tham dự ít
nhiều vào một số biến cố
lịch sử năm 1963. Điều quan
trọng hơn là bà Cố vấn Nhu
có một phần trách nhiệm
trong biến cố đó.
Vấn đề đại sự quốc gia nhiều
khi lại bắt nguồn từ những
sự việc rất tầm thường. Biến
chuyển lớn của lịch sử hơn
một lần lại bùng nổ từ những
xúc cảm và ư kiến phiến diện
của cá nhân lănh đạo cùng
những ảnh hưởng cảm t́nh
chung quanh cá nhân đó. Biến
cố 1963 đă nói lên điều này
và bà Nhu đă góp phần "đổ
dầu thêm vào ḷ than hồng
năm 1963".
Chẳng hạn như chiếc “ghế
khoái lạc " của bà Nhu được
triển lăm tại Pḥng Thông
tin Đô thành năm 1964 (đây
chính là chiếc ghế ngồi uốn
tóc).Từ năm 1962 th́ bà Nhu
không ra tiệm cắt uốn tóc
nên một tiệm uốn tóc ở đường
Catinat đă đưa chiếc ghế này
vào dinh, mỗi tuần cho thợ
vào một lần, chiếc ghế đó
bỗng nhiên được đặt tên là
ghế khoái lạc để chứng tỏ
tội ác của bà Nhu cùng chế
độ Ngô Đ́nh Diệm . . . chiếc
ghế khoái lạc đó đă ít nhiều
kích động quần chúng tạo
dựng nên bao nhiêu điều đáng
ṭ ṃ qua con người đầy sôi
nổi như bà Nhu.
Trong 9 năm đă có biết bao
nhiêu "sự thực" như vậy được
diễn tả một cách mê ly gay
cấn trong dư luận quần chúng.
Mà sự thực về bà Nhu như thế
nào? Trước hết, nếu nói về
tội th́ bà có một "tội lớn"
như thế này: "Bà không biết
ǵ về chính trị nhưng lại
hăng hái tham gia chính trị”.
Sinh trưởng trong nhung lụa
của một tháp ngà trưởng giả
Tây phương, không thích nghi
với đời sống của quảng đại
quần chúng, nhưng lại công
khai nhảy ra hoạt động hàng
đầu...Tất nhiên bà phải dấn
ḿnh vào thực tế nhưng lại
không thích nghi được, thực
tại trở nên đối địch với
chính bản chất trưởng giả và
xa lạ quần chúng của bà.
Thực ra th́ chính quyền dạo
đó cũng muốn tạo lực lượng
phụ nữ...V́ đây là một lực
lượng đáng kể và nếu biết
cách tổ chức và vận động th́
lực lượng này là một hậu
thuẫn to lớn. Bà Nhu có thể
làm được điều đó cùng với ưu
thế và quyền hành (trong
bóng tối mà trong bóng tối
mới là quan trọng). Bà Nhu
lại quyết tâm hoàn thành
gíâc mộng trở thành lănh tụ
của giới phụ nữ miền Nam
Việt Nam. Ngay trong gia
đ́nh nhà chồng -một gia đ́nh
thượng quan nho phong - bà
Nhu c̣n không sống được cho
thích nghi với đời sống,
huống chi quảng đại quần
chúng, nhất là quần chúng
Việt Nam vốn trọng nam khinh
nữ, người dân Việt Nam vốn
chỉ tôn mộ khâm phục những
người như bà huyện Thanh
Quan, Sương Nguyệt Ánh, Phan
Bội Châu phu nhân...
Những lư do nào khiến bà Nhu
tạo được cơ hội nhảy vào sân
khấu chính trị và từ năm
1956 bà đă gây được nhiều
thanh thế trong dư luận quốc
nội và quốc ngoại...Nói là
bà quá ồn ào nhưng ồn ào có
kỹ thuật tŕnh diễn. Lư do
gần như là tầm thường nhất
đă giúp bà Nhu thành công
trên con đường của bà, trước
hết và đáng kể chỉ v́ bà Nhu
trở thành con dâu trong gia
đ́nh họ Ngô và độc quyền
dành cho họ Ngô mấy cậu con
trai để nối dơi tông đường (măi
sau này ông Luyện mới có con
trai). Tổng thống Diệm độc
thân và mấy đứa cháu trai
trở thành nhu cầu cần thiết
cho đời sống t́nh cảm của
một con người c̣n nặng ḷng
với gia tộc và truyền thống
như Tổng thống Diệm. Sau nữa
là dù Phủ Tổng thống đă có
Nha Nghi lễ, có Sở Nội dịch,
ông Tổng thống Diệm vẫn cần
phải có một phụ nữ để lo
toan công việc tiếp khách và
nhiều vấn đề khác thuộc phạm
vi giao tế nhân sự mà thiếu
một người đàn bà cũng gây
nên nhiều nan giải, bế tắc.
Bà Nhu lại có sở trường giao
thiệp, có đôi chút khiếu
thẩm mỹ. Trong khi Tổng
thống Diệm cũng như ông Nhu
hoàn toàn mù mờ về thẩm mỹ
và giao tế (lo toan việc nội
trợ đều một tay bà Nhu điều
động) như trang hoàng pḥng
khách, sắm sửa các đồ trang
trí và trang sức . Bà lại
luôn luôn tỏ ra con người
mẫn tiệp, tháo vát và khéo
léo (khi tiếp phái đoàn
ngoại quốc) Bà lại nói Pháp
ngữ và Anh ngữ rất lưu loát.
Từ tư thế một nữ tiếp viên
của dinh Độc Lập, lại thêm
tham vọng lănh tụ của phụ nữ
cùng với uy thế và quyền
hành của chồng và anh chồng,
bà Nhu được mặc nhiên chấp
nhận trên thực tế một uy
quyền bất khả kháng và uy
quyền đó, cách này hay cách
khác dă chi phối ít nhiều
trong sinh hoạt quốc gia và
công vụ.
Lực lượng phụ nữ của bà Nhu
qua phong trào Phụ nữ Liên
đới lại chỉ gồm toàn vợ mấy
ông lớn cho nên không có
tính cách quần chúng và chỉ
nặng về tŕnh diễn. Khi các
bà lớn tŕnh diễn chính trị
th́ quả thật không hấp dẫn
được ai và trở thành tṛ
cười cho thiên hạ.
Bà Nhu chịu đọc sách lại có
ông chồng "Cố vấn”, nên bà
cũng có chút kiến thức. Tuy
kiêu ngạo và tự tôn nhưng
gặp việc khó khăn nan giải,
bà vẫn chịu khó t́m hiểu ư
kiến qua một vài cộng sự
viên thân cận của ông Nhu.
Bà đối đáp rất mau lẹ, phản
ứng kịp thời. Đó là ưu điểm
của bà. Nhưng trong hoạt
động chính trị, phản ứng
nóng nảy bốp chát của một
người đàn bà ở địa vị bà Nhu
đă trở nên bất lợi cho bà.
Khuyết điểm lớn của bà là đă
không tạo được những cử chỉ
phong độ, ngôn ngữ hấp dẫn
được quần chúng kể cả giới
phụ nữ.
Nếu ư thức được như vậy, lư
ra bà Nhu phải hoàn toàn
đứng trong bóng tối một cách
khiêm nhường, đằng này bà
Nhu lại xuất hiện với tất cả
sự lộng lẫy loè loẹt với
chiêng trống nhịp nhàng của
một số các bà tướng tá, Bộ
trưởng, Tổng giám đốc và kể
cả mấy vị tu mi " râu mày
nhẵn nhụi " . . .
Trước hết là dịp lễ Hai Bà
Trưng, bà Nhu muốn làm sống
lại khí thế của hai vị nữ
anh hùng Dân tộc này...và có
nhẽ bà Nhu cũng muốn nhân cơ
hội trở về nguồn lịch sử để
tạo một thần tượng dẫn đạo
phụ nữ. Theo bà Nhu “Nam
giới có Lê Lợi, Quang Trung
th́ nữ giới cũng có Hai Bà
Trưng như Pháp có Jeane
d’Arc". Trước năm 1963, lễ
hội Hai Bà Trưng được mô tả
như một lễ Quốc Khánh, không
có ai công khai phản đối
được. Nhưng v́ tŕnh diễn
quá nhiều nên lại không
thuận t́nh. Xin dẫn chứng về
cái gọi là không thuận t́nh
như thế này:
Lễ đài trần thiết thật long
trọng tôn nghiêm có bàn thờ,
có tàn lọng, có đồ bát biểu,
gươm đao, khí giới . . .
trên bục lớn của lễ đài trải
nhung đỏ (màu tiêu biểu cho
sự thiêng liêng của dân tộc
) . Lễ nghi dành cho bậc anh
hùng dân tộc như vậy là đúng.
Nhưng người chủ lễ rất quan
trọng. Dư luận luôn lưu ư về
điểm này. Bà Nhu với tư cách
đại diện phụ nữ Việt Nam và
Đại diện Tổng thống, nhất là
Đại diện Tổng thống nên bà
được hưởng đầy đủ nghi lễ,
nào là xe dành riêng cho
Tổng thống lại có đoàn xe
Harley hộ tống, khi đến lễ
đài lại có đủ mặt Bộ trưởng,
tướng lănh tăm tắp đứng lên
"kính chào" theo nghi lễ
quân cách. Trên nguyên tắc
th́ đúng là vị đại diện của
Tổng thống đuợc quyền hưởng
nghi lễ như vậy.
Nhưng thực tế chính trị và
tâm lư truyền thống Việt Nam
không chấp thuận như vậy. Dù
cho là vợ một Tổng thống,
người Việt cũng cảm thấy khó
chịu. Nếu vợ ông Tổng thống
cũng được hưởng nghi lễ đón
tiếp dành riêng cho vị
nguyên thủ quốc gia ở Tây
phương th́ lại khác, huống
chi bà Nhu chỉ là em dâu một
Tổng thống vốn được tôn
trọng theo hàng trưởng lăo
quốc gia. Do đó mà dư luận
bàn tán mỉa mai thành ra "kính
chẳng bơ phiền " không ít,
giọng nói của bà Nhu qua các
bài diễn từ cũng là một thất
lợi v́ giọng tuy mạnh thật,
tuy có lửa nhưng lại vốn ra
vẻ lănh tụ, như răn dạy,
truyền bảo, thêm vào đó
tiếng nói lại thiếu ngọt
ngào truyền cảm, thiếu nữ
tính . . .
Khi đă có quyền hành, có địa
vị (dù là trong bóng tối )
và một uy tín cần phải được
bảo vệ trong tư thế lănh đạo
. . . ông Nhu hay ai cũng
không thể làm cách nào khác
hơn là nhịn một người vợ hay
lớn tiếng, dám làm những
việc động trời như bà Nhu .
. .ông Nhu trở thành bất lực
không thể ngăn cản vợ . . .
đó chỉ là hậu quả bản chất
của kẻ nhu nhược.
Vả lại dưới con mắt chủ quan
của ông Nhu th́ người vợ ông
không làm ǵ quá đáng, trái
lại công việc của bà Nhu lại
hợp lư và hữu ích cho quốc
gia. Lấy việc bà tham gia
Luật gia đ́nh là một thí dụ.
Kể từ tháng 12-1957, Quốc
hội họp bàn sôi nổi về dự án
của Luật Gia đ́nh, bà Nhu đă
từng bỏ pḥng họp ra về với
thái độ, ngôn ngữ rất ngang
ngược ngạo mạn. Đối với một
tín đồ Thiên Chúa giáo th́
đời sống lứa đôi chỉ có một
vợ một chồng và không được
li dị, vấn đề đa thê không
cần đặt ra. Nhưng xă hội
Việt Nam không phải là xă
hội phương Tây và dân chúng
Việt Nam không phải tất cả
đều là tín đồ Thiên Chúa
giáo Thiên Chúa giáo chỉ
chiếm (15% dân số) cho nên
Luật này trên lư thuyết th́
hay song thực tế không phù
hợp với bản chất và nếp sống
của quảng đại quần chúng lúc
bấy giờ. Hơn nữa giới âm
thầm phản đối chính là giai
cấp tướng tá và công chức
cao cấp cũng như những công
kỹ nghệ gia giàu có, phần
lớn các vị này đều bị kẹt
nếu không có vợ bé th́ cũng
lén lút giao du.
Bà Nhu đă lư luận " Đă đến
lúc người phụ nữ đứng lên
b́nh đẳng với người chồng
ngay trong phạm vi gia đ́nh
, chỉ một vợ một chồng thôi.
. . chỉ những kẻ hư hỏng
không ra ǵ mới lấy vợ nhỏ
rồi bỏ phế gia đ́nh”. Bà Nhu
vẫn tin là ḿnh đi đúng
đường với chủ trương cách
mạng xă hội, giải phóng phụ
nữ của thế giới, trước hết
từ gia đ́nh, để từ đó ra
ngoài xă hội. Lư luận và chủ
trương của bà nghe xuôi tai
và hợp lư. Nhưng điều căn
bản là cải tạo xă hội, không
phải chỉ bằng một biện pháp,
ban hành một vài đạo luật.
Có thiện chí và hăng say
song bà Nhu vẫn bị phản đối,
dân chúng lại thờ ơ. Trước
hết v́ bà Nhu không nắm được
một vài định luật rất giản
dị, đơn giản của chính trị
(Những nhà lănh đạo của
chính quyền ông Diệm sau
1963 đều mắc phải lỗi lầm
như vậy, v́ là một thứ lănh
tụ "non" thiếu học tập thiếu
kinh nghiệm, không có căn
bản chính trị ).
Một trong những "định luật
chính trị " căn bản của
người lănh đạo là không bao
giờ được lấy chủ quan của
ḿnh để biến đổi khách quan
(tức thực tại chính trị )
nhưng ngược lại phải biết
biến hoá chủ quan lănh đạo
của ḿnh. Và dung hoà chủ
quan với khách quan tức là
hoà đồng bản thân với thực
tại để nắm thực tại.
Bà Nhu là người có tài thực,
có thiện chí, song tính kiêu
ngạo và chủ quan cũng đă đủ
làm cho bà trở thành đối
tượng cho bao nhiêu điều
phẩm b́nh, dị nghị đàm
tiếu...Mẫu người như bà Nhu
sẽ dễ dàng thành công trong
xă hội Mỹ. Ngôn ngữ cử chỉ
cùng những phản ứng lanh lẹ
của bà sẽ dễ dàng thu hút
được đám đông. Nhưng đám
đông trong quần chúng Việt
Nam lại trở nên xa cách với
ngôn ngữ, dáng điệu và cử
chỉ của bà Nhu. Qua mấy lần
ra ngoại quốc tại Maroc,
Brasil...bà Nhu đă thành
công nhờ ưu điểm trên. C̣n
chuyến đi giải độc tại Hội
nghị Quốc tế nghị sĩ tại
Belgrade (Nam Tư 1963 ) và
Mỹ quốc bà Nhu đă chứng tỏ
được khả năng đặc biệt của
ḿnh và nhất là tại Mỹ quốc
bà đă gây được nhiều sóng
gió làm kinh động chính
quyền Kennedy và Đảng Dân
chủ Mỹ. Nhưng với xă hội
Việt Nam, bà hoàn toàn thất
bại trước đám đông.
Người ta tự hỏi, tại sao một
trí thức như ông Nhu lại
không kiềm chế được người
vợ? ông Nhu sợ vợ ? Nói cho
ngay t́nh th́ ông Nhu không
phải là một người sợ vợ, ông
rất ghét "chuyện đàn bà dính
vô", nhưng ông đă bị bà dắt
mũi.
Bộ Luật Gia đ́nh đă gây sôi
nổi trong dư luận một thời.
Thực tế th́ Luật ấy cho đến
khi ban hành và thực thi
cũng không tạo được một tác
dụng lớn lao nào trong tầng
lớp dân chúng. Phản ứng của
dân chúng đối với Luật gia
đ́nh không có ǵ đáng quan
tâm, v́ luật pháp hăy c̣n
hết sức xa vời so với quảng
đại quần chúng Nam Việt Nam
bởi nó không công bằng với
tất cả...Dù có luật hay
không luật, đời sống vợ
chồng trong giới b́nh dân
đều dựa trên căn bản t́nh
cảm "yêu nhau giá thú bất
luận tất" . Nhưng đối với
giới thượng lưu và nhất là
giới tướng tá và công chức
cao cấp tuy ngoài mặt hân
hoan chào mừng Luật Gia
đ́nh,nhưng trong ḷng đau
đớn không ít và chính mấy
giới này đă góp công không
nhỏ trong việc tạo dựng "dư
luận xấu” về bà Nhu. Một số
quan toà xuất thân từ hàng
quan lại thuộc địa, trở
thành nạn nhân thứ nhất của
Luật gia đ́nh. Có ông Toà
hai ba vợ...như vậy th́
trách chi không oán ghét bà
Nhu. Bà Nhu thường bàn luận
với mấy cộng sự viên của ông
Cố vấn chính trị như thế này
" Kinh nghiệm trong gia đ́nh
nội ngoại của tôi, tôi biết
quá rơ. Ai có vợ nhỏ th́
đang trong sạch cũng trở
thành tham nhũng, gia đ́nh
chia rẽ, rồi ḍng con này,
ḍng con kia cứ lung tung
lộn xộn ". Khởi từ kinh
nghiệm này, bà Nhu quyết
thanh toán chế độ đa thê, mà
bà nghĩ rằng nếu hoàn thành
là bà đă giải phóng cho nữ
giới cái thảm cảnh gia đ́nh
vợ nọ con kia (chém cha cái
kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp
chăn bông kẻ lạnh lùng).
Trước diễn đàn Quốc hội năm
1957, cũng đă có nhiều dân
biểu mạnh dạn lên tiếng công
kích dự án Luật này. Bà coi
mấy ông dân biểu không đi
đến đâu cả. . .bà Nhu coi
thường không muốn nói là
khinh miệt một số dân biểu
như vậy cũng có nguyên nhân.
V́ rằng bà cũng biết rơ chân
tướng của các ông (Đời tư
lẫn đời công cũng chẳng có
ǵ đẹp đẽ). Chức dân biểu
của họ phần lớn cũng do
"công ơn ban phát...". Do dó
mà phản ứng của một số dân
biểu trở thành vô hiệu.
Trong một phiên họp vào khoá
đầu năm 1959, bà Nhu công
khai đả kích một số dân biểu
ngay tại diễn đàn Quốc hội
và cho rằng “Ai chống đối
Luật Gia đ́nh chỉ là những
kẻ ích kỷ hèn nhát muốn lấy
"vợ lẽ ". Thái độ chống đối
đó thật là hèn”. Mấy ông dân
biểu quyết làm lớn vụ này và
đ̣i bà Nhu phải xin lỗi . .
.về thái độ hống hách của
bà. Sau đó bà Nhu tỏ ra phục
thiện và ra một thông báo
cải chính là bà không nói
các dân biểu “thật hèn”
nhưng bà chỉ nói dân biểu
"thất hẹn ".Cách cải chánh
của bà kể ra cũng thông minh
và khéo léo.
Tất nhiên ai cũng hiểu rằng,
không ai lại nói “thái độ
thất hẹn" cả. Nhưng ở đây bà
bẻ quặt hai chữ thật hèn
thành thất hẹn. Bà đă "chơi
chữ " mộtcách thông minh và
đúng lúc. Mấy ông dân biểu
đành chịu đựng một cách hoan
hỉ. Phụ hoạ với bà Nhu c̣n
một số nữ dân biểu thuộc "gà
nhà" . Nhưng hầu hết tŕnh
độ chính trị c̣n non kém lại
thiếu thông minh nên mới có
một nữ dân biểu lớn tiếng
bênh vực luật gia đ́nh và
đưa ra một "định thức": Đàn
bà đẻ ra đàn ông. Nhờ câu
nói "phàm phu tục tử "này mà
cả mấy năm trời báo chí có
đề tài đem ra "thị phi".
Thực tế là Luật Gia đ́nh có
nhiều điểm phù hợp với tinh
thần thượng tôn hạnh phúc và
bảo vệ trật tự xă hội qua
trật tự gia đ́nh. Thế nhưng
lại có một số điều quá khắt
khe, không phù hợp với thực
tế, thiếu căn bản của một
tinh thần xă hội trong
truyền thống Việt Nam . Do
đó mà cái hay cái đẹp đều bị
che lấp bởi cái dở. . . Khi
một người nh́n trang giấy
trắng thường chỉ chú ư đến
một vết mực đen (dù vết mực
có nhỏ và ở ngoài lề). Bà
Nhu hănh diện với Luật gia
đ́nh nhưng luật ấy có tác
dụng không lại là chuyện
khác. Sau đó bà lại đưa ra
dự án Lành mạnh xă hội.
Trước đó tháng 5-1958 tại
Quốc hội bà Nhu đưa ra đề
nghị thành lập phong trào
Phụ nữ Liên đới và kêu gọi
các bà vợ công tư chức quân
nhân tham gia phong trào.
Quốc hội khóa II (tháng
8-1959) đă có 9 nữ dân biểu
trong đó có bà Nhu. Bà lại
khởi công hoàn thành dự án
Luật "Lành mạnh xă hội ".
Sau cái tên này bị đả kích
nên được đổi thành Luật Bảo
vệ luân lư (ban hành năm
1962 bị băi bỏ sau đảo chính
bằng sắc luật 2-1963).
Dự luật này cũng gây sôi nổi
không ít. Xét cho công bằng,
khi đưa ra dự luật này, bà
Nhu nắm ngay được chính
nghĩa v́ rằng chỉ có một
thiểu số là nạn nhân của
Luật Bảo vệ luân lư. Thiết
tưởng dù là ở một thời đại
nào, ở một chế độ nào,
(ngoại trừ chế độ của những
kẻ hănh tiến ăn chơi sa đoạ
và coi nhảy đầm như một lư
tưởng đáng tôn thờ) không ai
có thể tán thành cho các
thiếu niên uống rượu hay hút
thuốc hoặc ủng hộ cho nạn
phá thai, đồng bóng. ấy thế
mà người ta vẫn chống đối và
hè nhau tạo nên niềm công
phẫn. Bà Nhu lại trở thành
trung tâm của bao nhiêu mũi
dùi dư luận. Dĩ nhiên luật
ấy cũng có những điểm quá
đáng và thiếu thực tế.
Trên quan điểm quần chúng
cũng như phong tục truyền
thống dân tộc th́ dự Luật
Bảo vệ luân lư của bà Nhu là
một công tŕnh tốt đẹp với
thành ư xây dựng rất rơ rệt,
15 triệu đồng bào bất quá
chỉ có vào khoảng nửa triệu
ảnh hưởng đến luật này,
nhưng chính lớp người thiểu
số đó lại có tác dụng sa đoạ
hoá xă hội miền Nam Việt Nam
và đồng thời vong bản hoá
bản chất dân tộc cũng như
bôi đen cả tập tục tốt đẹp
của xứ sở. Do đó không thể
nào buông thả cho một thiểu
số này sống phóng đăng được
trong khi quảng đại quần
chúngvẫn phải sống đời lầm
lũi cơ cực và trong khi mà
nếp sống của quảng đại quần
chúng vẫn tập thành trên căn
bản của truyền thống cao
đẹp.
Về công tŕnh này, bà Nhu
đứng hẳn về phía quần chúng,
lập trường là lập trường xă
hội dân tộc. Nhưng bà lại
gặp phải phản ứng dữ dội tuy
ngấm ngầm. Nhiều tướng tá
hay một số công chức cao cấp
đều mê cái món nhảy đầm. Các
bà lớn th́ bài bạc.
Phần nhiều con các ông lớn
th́ rượu chè thuốc sái (con
nhà nghèo và trung lưu th́
lấy tiền đâu ra)...Các vũ nữ
lại là một thành phần liên
kết ruột thịt với một số
tướng tá công chức cao cấp,
công kỹ nghệ gia ăn chơi và
giới "văn minh " đô thị. Bà
Nhu vô t́nh đă đụng độ với
những địch thủ ghê gớm đó.
Quảng đại quần chúng từ nông
thôn đến giới trung lưu
không ai chê trách ǵ Luật
Bảo vệ luân lư (có hay không
đối với họ không quan trọng)
nhưng một giới khác th́ Luật
này trở nên quan trọng.
Việc cấm nhảy đầm của bà Nhu
cũng gây bất măn lớn trong
giới ngoại kiều tại Sài G̣n
(Tây phương coi nhảy đầm là
một nghệ thuật, một tṛ giải
trí thanh lịch truyền thống)
. Trong một cuộc gặp gỡ mấy
bà, ông Taylor không đề cập
đến vấn đề nào khác hơn là
chuyện nhảy đầm. Ông cho
rằng sự cấm đoán như vậy là
kỳ quái, lỗ măng, sống
sượng.
Đáng lư chuyện nhảy đầm nếu
cấm th́ cũng nên linh động
uyển chuyển, nhưng kẻ thi
hành lại quá hăng say trong
việc lập công. Trường hợp nữ
giới thuộc lănh sự đoàn
người Liban, cư ngụ tại
đường Trương Minh Kư, đă bị
nhân viên công lực gây phiền
phức, tạo nên dư luận không
tốt trong giới ngoại giao.
Bà này đă có tuổi. Nhân dịp
một tàu hàng Líban cập bến,
một số thuỷ thủ đồng hương
của bà đến thăm rồi nghe
nhạc theo vũ điệu . . . Thế
là cảnh sát cũng ập vào lập
biên bản đem về bót. Rất
nhiều trường hợp như thế đă
xảy ra. Giới ngoại kiều càng
thêm bất măn và đó cũng là
một sự bất lợi về "ngoại
giao". Trong khi triệt để
cấm nhảy đầm th́ mấy ông
tướng tá vẫn cứ lén lút du
dương.
Riêng về việc cấm nhảy đầm,
bà Nhu tỏ ra dè dặt. Bà cũng
là dân nhảy nổi tiếng từ
thuở c̣n đi học tại Hà Nội.
Cấm nhảy đầm sẽ động chạm
đến nhiều ông tai to mặt
lớn. Trong một phiên họp của
Ban chấp hành Phụ nữ Liên
đới, vấn đề nhảy đầm được mổ
xẻ cặn kẽ . Phiên họp này
quy tụ rất nhiều quư bà
"lừng danh". Một số ư kiến
cho rằng chỉ giới hạn việc
nhảy đầm mà không nên cấm
tuyệt đối. Một bà tướng Tổng
Thư kư của Phong trào Phụ nữ
Liên đới lại "bảo hoàng hơn
vua" đă yêu cầu "Bà Cố vấn"
phải cấm triệt để. Bà Nhu
vẫn lững lờ chưa quyết định
hẳn, nhưng cuối cùng vẫn
quyết định cấm nhảy.
Việc cấm nhảy đầm được nhiều
"bà lớn" tán thành triệt để
v́ các đức ông chồng quư của
các bà đều thuộc loại hảo
ngọt lẫy lừng.
Thế nhưng cấm là một chuyện
c̣n nhảy vẫn nhảy. Nhiều
tướng tá vẫn "lén lút mở
bar" ngay trong doanh trại
hay tư dinh .
Ai đă ở Nha Trang vào những
năm 1960-1961 đều biết rơ
chuyện ông Đại tá chỉ huy
trưởng Đồng Đế vẫn mở bar
đều đều, lại cho sĩ quan hầu
cận về Sài G̣n kiếm vũ nữ và
bao dàn cả tuần.
Chuyện nhảy đầm lậu tại Nha
Trang, Đà Nẵng cũng như
Pleiku do mấy ông tướng tá
cao cấp đỡ đầu đều lọt vô
tai Tổng thống Diệm. Ông
Tổng thống cố ư làm ngơ.
Nhờ những yếu tố nào mà bà
Nhu tạo được uy quyền trên
thực tế ? Đơn giản nhất là
nhờ sự khôn khéo tinh ranh
và nhiều sáng kiến với một
tiềm lực tinh thần mạnh mẽ
trực giác, bà Nhu đă ảnh
hưởng sâu xa trong đời sống
của năm anh em trong gia
đ́nh từ Tổng thống Diệm đến
Ngô Đ́nh Thục và kể cả ông
Ngô Đ́nh Cẩn.
Ông Cẩn được coi là chống
đối bà Nhu kịch liệt và chửi
đổng chị dâu cũng không tiếc
lời, nhưng ông Cẩn chỉ chửi
"đổng" thế thôi. Trong gia
đ́nh ông vẫn chịu lép vế.
Thí dụ trong việc lập Phong
trào Phụ nữ Liên đới, ông
vẫn bĩu môi khinh bỉ "Mấy
con mụ đó mần được chi, chỉ
ăn hại ". Trước năm 1961,
nhiều bà vợ của các ông lớn
tại miền Trung cũng muốn lập
Hội để có ăn, nhưng ông Cẩn
ghét như vậy nên đành chịu.
Khi bà Nhu nhúng tay vào
quyết định phát triển phong
trào ra miền Trung. . . ông
Cẩn đành chịu thua. Bà lại
c̣n chỉ thị cho Huế, Đà Nẵng
phải tuân theo ư bà. Bà rất
coi thường ông Cẩn nhưng
cũng chỉ để trong ḷng.
Dịp ra Huế chủ toạ thành lập
Phong trào là cả một việc
trọng đại. Chung quy bà đă
áp đảo được chú em chồng.
Trước hôm đó, cả một đại đội
phủ Tổng thống được gởi ra
Huế để lo việc an ninh cho
bà Cố vấn. Giới chức thẩm
quyền toát mồ hôi v́ phải lo
tổ chức sao cho long trọng.
Ông Cẩn trong ḷng tức tối
nhưng phải đành chịu và
chính ông cũng phải đứng ra
đôn đốc cho các giới chức lo
liệu thực chu đáo. Điều nực
cười nhất là hôm lễ khai
mạc, bà Nhu như một nữ hoàng
th́ cậu Cẩn rụt rè khiêm tốn
như một công tử miền quê có
chút uy quyền. Trước đám
đông ấy cậu Cẩn chẳng c̣n
ǵ... khiêm tốn, bé nhỏ,
nhọc nhằn. Trong khí đó từ
cách đón tiếp đến chiếc ghế
ngồi, qua ngôn ngữ và cử chỉ
bà Nhu lấn át hoàn toàn chú
em chồng.
Đây là lần đầu tiên ông Cẩn
đành chịu khuất phục uy
quyền của bà chị dâu, người
mà ông Cẩn rỉ rả công kích
nhiều khi dùng cả chữ “con
mụ" và “lăng loàn” để chỉ.
Khi bà Nhu trở về Sài G̣n
th́ Phụ nữ Liên đới cũng
theo bà đi luôn. Miền Trung
vẫn là đất của ông Cẩn...
Phụ nữ Liên đới chỉ được
"phép" phát triển tại Nam
phần và mấy tỉnh Cao nguyên.
Sở dĩ , trước mặt bà Nhu ông
Cẩn phải chịu khuất phục v́
bà ta đă biết sử dụng cái bề
thế của bà chị dâu trong gia
đ́nh vốn khắt khe với những
tôn chỉ lễ giáo. C̣n Tổng
thống Diệm th́ như thế nào?
Điểm quan trọng sau đây đă
giúp cho bà Nhu thành công
trong công việc thuyết phục
ông anh Tổng thống.
Thí dụ điển h́nh vẫn là
những quan niệm về luân lư
của bà Nhu. Quan niệm đó rất
thích hợp với quan niệm và
bản chất nho sĩ cũng như tu
đức Thiên Chúa giáo trong
con người của Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm. Khi bà Nhu đưa ra
dự án Luật "Bảo vệ luân lư"
(lành mạnh hoá xă hội) th́
trong gia đ́nh họ Ngô hoàn
toàn tán đồng và c̣n khích
lệ. Nhưng báo chí và Quốc
hội lên tiếng công kích,
b́nh phẩm (tất nhiên là yếu
ớt), Tổng thống Diệm lại cho
rằng dư luận lầm lẫn v́ có
nhiều người ganh ghét bà Nhu
mà t́m cách nói xấu gièm
pha. Bà Nhu đă tŕnh bày với
ông anh Tổng thống như thế
nào mà được Tổng thống dễ
dàng chấp nhận và hết sức
tán trợ.
Trước hết xin đơn cử một vài
chi tiết đă thể hiện quan
niệm luân lư và tâm tính bất
thường của Tổng thống Diệm
qua khía cạnh này. Dạo năm
1959 một thời đại "vàng son"
của Hội bảo vệ luân lư do
linh mục Hoàng Yến làm Chủ
tịch. Linh mục Hoàng Yến tất
nhiên không thể thoát khỏi
những lư do "méo mó nghề
nghiệp " qua quan niệm tu
đức và luân lư giữa thế giới
tu hành và xă hội ngoài đời.
Linh mục Yến qua nhưng lần
đi quan sát ngoài phố, chụp
được một số ảnh tượng bán
thân và khoả thân trưng bày
tại mấy tiệm bán đồ điêu
khắc và mỹ thuật, trong đó
có mấy bức tượng được coi là
hoàn toàn "loă lồ" trưng bày
tại tiệm Mai Lĩnh, đường
Phan Thanh Giản. Thêm vào đó
c̣n cả một số h́nh đàn ông
đàn bà, trai lẫn gái tắm
chung ở một bể tắm (dĩ nhiên
là mặc đồ tắm).
Đối với một người b́nh
thường và qua những quan
niệm b́nh thường trong đời
sống th́ những h́nh ảnh trên
đây không có ǵ đáng chú ư.
Tượng phụ nữ loă thể chỉ là
một công tŕnh của nghệ
thuật. Trai gái tắm với quần
áo tắm hở hang cũng là
chuyện quá thông thường.
Nhưng nó lại trở nên quan
trọng trước mắt một vị Linh
mục Hội trưởng Hội bảo vệ
luân lư. Linh mục Hoàng Yến
làm một phúc tŕnh dài kèm
theo h́nh ảnh gởi lên cho
ông Diệm.
Chỉ mới xem qua những tấm
h́nh đó , ông Tổng thống đă
đỏ mặt, bất thần nổi giận.
ông dùng bút đỏ phê vào bản
phúc tŕnh "Ông Lương, cấm
ngay". Nguyễn Lương lúc đó
là Tổng giám đốc xă hội.
Nhận được bản phúc tŕnh
trên ông Lương đă hết sức lo
âu, không biết phải xử trí
như thế nào. Ông đành hỏi ư
kiến của một số người trong
Phủ. Tất nhiên là không có
một ư kiến nào khác hơn là
t́m cách khôn khéo nhất để
áp dụng lệnh của ông Tổng
thống. Ư kiến được nêu ra
như sau: ông Nguyễn Lương
cho người đến một vài tiệm
mỹ thuật như tiệm Thế Hệ nói
khéo để họ thông cảm trưng
bày một cách kín đáo bức
tượng bán thân loă thể. Hai
hôm sau ông Nguyễn Lương vào
tŕnh Tổng thống với hồ sơ
đầy đủ để tỏ ra rằng đă tuân
theo chỉ thị của thượng cấp.
Tổng thống Diệm lại vui vẻ
gật đầu: " Ờ, ừ thôi được "
Từ đó ông Tổng thống quên cả
chuyện cấm trai gái tắm
chung, cũng như chuyện cấm
trưng bày tượng bán thân.
Với một quan niệm luân lư
khắt khe và quá cổ như vậy
lại có những phản ứng bất
thường nên ông Diệm dễ dàng
bị bà Nhu thuyết phục. Đây
là một pha thuyết phục ông
của bà Nhu do sĩ quan hầu
cận kể lại (khi vào pḥng
Tổng thống tŕnh bày việc ǵ
th́ luôn luôn phải có sự
hiện diện của một sĩ quan
hầu cận hay tuỳ viên).
Bà Nhu thuyết phục ông Diệm
để ông chấp nhận Luật bảo vệ
luân lư, đại cương như sau:
Luân lư Việt Nam hiện nay
đang suy đồi. Trẻ con th́ hư
hỏng, người lớn th́ bài bạc
sa đoạ. . . Một người như
Tổng thống Diệm nghe nói như
vậy th́ tất nhiên là phải lo
lắng cảm phục người em dâu
nổi tiếng là văn minh tân
thời nhưng lại tỏ ra thoát
xác, biết nghĩ tới con đường
thánh thiện. Bà Nhu biết
điểm yếu của ông anh chồng .
. . nên chỉ đưa ra đoạn mở
đầu như vậy nhằm gây xúc
động. Sau đó bà mới tŕnh
bày những biện pháp giải
quyết.
Những biện pháp ấy đều lư
tưởng cả. ông Diệm cho là em
dâu có thành ư muốn xây dựng
đất nước. Bà nhảy đầm th́
rất tài hoa, mà nay th́ lại
đề nghị cấm nhảy th́ ai mà
không cho là hy sinh đáng
quư. Ông Tổng thống đă tin
tưởng như thế rồi th́ đề
nghị nào mà ông không chấp
thuận.
Khi ông Tổng thống để hết
ḿnh ủng hộ dự Luật ấy th́
c̣n ai dám chống đối. Một
vài dân biểu lên tiếng công
kích một số sai lầm và sự
không thực tế của dự Luật
này. Tuy nhiên sự công kích
chỉ là dàn cảnh để tạo ra dư
luận có vẻ dân chủ thế thôi
Trong những buổi họp của Ban
chấp hành Phụ nữ Liên đới bà
Nhu trở thành một chiến sĩ
tiên phong trong cuộc giải
phóng phụ nữ. C̣n thực tế có
giải phóng không th́ 9 năm
qua đă trả lời đầy đủ. Tuy
nhiên phải công minh mà nhận
rằng bà Nhu đă làm được
nhiều điều, dù làm theo chủ
quan của bà. Chẳng hạn như
vấn đề cấm triệt để thiếu
niên không được uống rượu,
hút thuốc lá, cấm hẳn bài
bạc (trừ món tổ tôm được toà
án cho là không thuộc loại
đổ bác sát phạt). Bà Nhu có
một ư kiến như thế này về
giá trị thân xác đàn bà.
Tưởng cũng nên ghi lại đây
về việc cấm thi sắc đẹp của
đàn bà, bà cho rằng “Thời
Trung cổ người Tây phương
trưng bày nô lệ tại phố cho
bọn nô lệ xếp từng hàng cho
nguời ta đến xem xét đánh
giá như mua bán súc vật, con
này mông to, con kia ngực nở
con nọ giống tốt...Với những
giá bao nhiêu. Thi sắc đẹp
tuyển lựa hoa khôi của
phương Tây xuất phát khởi
thuỷ từ các cuộc mua bán nô
lệ thời Trung cổ. Ở xứ ta
không chấp nhận được cái tṛ
đó ".
Bà Nhu nói riêng với bà
Lương Khải Minh: “Ăn mặc hở
hang, để cả ngực cả đùi cho
đàn ông họ nh́n ngắm rồi họ
đánh giá, họ cho điểm làm
như vậy ô nhục lắm, hạ thấp
nhân phẩm của người phụ nữ
ngang với nô lệ thời Trung
cổ. Phụ nữ Á đông không thể
chấp nhận được như vậy... ".
Cho nên ông Diệm cũng như
ông Nhu và những người hiểu
biết không đến nỗi nông cạn
lắm đều cho là bà Nhu có
thiện chí và sáng suốt. Do
đó mới có vụ cấm luôn các
cuộc thi sắc đẹp, tuyển lựa
hoa khôi và kể cả thi lực sĩ
khỏe đẹp . Bà Nhu luôn nhắc
nhở "đàn ông họ ích kỷ lắm .
. . Phụ nữ không thể là tṛ
chơi cho họ mua vui được.
Măi dâm và gái nhảy là những
việc ô nhục đồi bại nhất cho
những người phụ nữ".
Giá như bà Nhu không phải là
em dâu của Tổng thống đương
nhiệm th́ thiện chí và những
cố gắng giải phóng của bà
Nhu thật đáng ca ngợi.
Nhưng ở đây lại khác. Trong
khi bà cố gắng hoàn tất dự
Luật Gia đ́nh cũng như dự
Luật Bảo vệ luân lư th́
trong gia đ́nh từ thành đến
tỉnh và nhất là trong giới
thượng lưu đă đồn đại rất
nhiều về những cái gọi là
“lem nhem bê bối" thuộc đời
tư của Bà. Dư luận th́ nhiều
lắm. Nhưng đâu là bằng cớ ?
Tuy vậy quần chúng đông đảo
vẫn lập luận rằng "nếu không
có lửa th́ sao có khói ".
Rồi một số "phu nhân " vây
bủa quanh bà xem phần đức
hạnh cũng không có ǵ được
bảo đảm cho lắm của bà. Quan
trọng là chỗ đứng. Chỗ đứng
của bà Nhu không thuận lợi
cho mọi đề xướng cải cách
của bà khi những cải cách đó
hoặc c̣n quá sớm hoặc không
phù hợp với tập quán cổ
truyền. Dư luận thêu dệt rất
nhiều về cuộc t́nh của bà
với ông tướng Đôn. . . lại
có dư luận cho rằng Nolting
bị bà Nhu mê hoặc trong lưới
t́nh dục. Tục ngữ có
câu"ghét ai ghét cả đường đi
lối về ". Trong 9 năm qua
với cử chỉ và ngôn ngữ của
ḿnh, bà Nhu đă làm cho
nhiều giới và nhiều người
"mếch ḷng" thực. Cái dễ
ghét rất giản dị v́ tâm lư
và truyền thống không ưa đàn
bà múa may hay lợi dụng chức
vị của chồng mà "lớn lối" -
chỉ nguyên một chuyện sử
dụng ngôn ngữ đao to búa lớn
của bà đă làm cho người ta
dễ ghét. Trong cái dễ ghét
đó tất nhiên là do sự ghen
tức nhau. Các ông thường bị
ảnh hưởng của các bà. Các bà
thấy bà Nhu như vậy nếu
không có cơ hội được gần bà
th́ trở nên ghen ghét nói
xấu. Ai nói xấu th́ không
đáng kể chứ đàn bà nói xấu
nhau th́ quả là một nghệ
thuật qua khả năng sáng tạo
và trí tưởng tượng. Nhiều
câu chuyện "mê ly gay cấn "
chung quanh con người bà Nhu
hầu hết do một số phu nhân
dựng đứng lên...rồi lan rộng
ra dư luận và dư luận lâu
ngày trở nên như là thực.
Tổng thống Diệm không được
nghe những dư luận đó và chỉ
nhận được những lời công
kích bà Nhu qua việc làm của
bà. Một số báo Mỹ tiết lộ bà
Nhu có một gia tài đồ sộ tại
Braxin (đồn điền café) và
Thuỵ Sĩ. Tổng thống Diệm
không tin v́ ông vốn có
thành kiến với báo chí Mỹ.
C̣n sự công kích Luật Gia
đ́nh cũng như Luật Bảo vệ
luân lư ông đều cho là ganh
tị phá hoại và do một số
người có vợ nhỏ "dông dài
ham chơi" nên cố ư phá bà
Nhu.
Tóm lại, bà Nhu hiểu rơ tâm
tính và cuộc đời của ông anh
chồng. Bà lợi dụng ngay
những đặc điểm đó để tạo ảnh
hưởng với ông Diệm. Khi đă
tạo được ảnh hưởng với ông
Diệm . . .th́ hàng bộ
trưởng, tướng tá đối với bà
chả có nghĩa lư ǵ cả. Tuy
vậy, v́ biết rơ tính ông
anh, bà Nhu không bao giờ
công khai bày tỏ một ư kiến
nào về hoạt động của Chính
phủ cũng như các nhân vật
văn vơ. Trước mặt ông Diệm,
bà luôn tỏ ra rằng ḿnh chỉ
biết lo công việc của phụ
nữ. Khi nào có đại biến như
vụ tướng Hinh, vụ B́nh Xuyên
và cuộc đảo chính hụt
2-2-1960 bà Nhu mới nhảy vào
ṿng.
__________________
TÔI CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG:
ĐẢNG VIỆT NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|

09-04-2008, 08:57 PM
|
 |
Điều hành viên
|
|
Gia nhập: Dec
2007
Đến từ: Nation &
Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
ẢNH HƯỞNG CỦA
BÀ NHU ĐỐI VỚI ĐỨC CHA THỤC
Ảnh hưởng của bà Nhu đối với
Đức cha Ngô Đ́nh Thục như
thế nào ? Ảnh hưởng ấy người
ta chỉ có thể cảm thấy một
cách bàng bạc. Mỗi khi về ở
dinh, Đức cha Thục đều dùng
cơm chung với gia đ́nh ông
Nhu. Trong bữa cơm thân mật
gia đ́nh đó anh em tỏ ra
tương đắc từ chuyện hàn
huyên đến việc quốc gia đại
sự. Bà Nhu không những đóng
trọn vai tṛ của người em
dâu mà luôn luôn tỏ ra là
một con chiên hết sức kính
cẩn, vâng phục một vị Giám
mục. Bà theo đạo chồng (gọi
nôm na là Đạo theo) nhưng từ
ngày vào ở trong dinh bà tỏ
ra là một tín đồ ngoan đạo.
Mặc dầu đă mấy lần bà Nhu
công khai phê b́nh một số
Linh mục với lời lẽ phạm
thượng sỗ sàng, nhưng với
ông anh chồng là đức cha th́
lại khác, Đức cha Ngô Đ́nh
Thục thường ngợi khen bà Nhu
trước mặt nhiều người "Bà cố
vấn tốt đạo lắm, siêng năng
xưng tội rước lễ lắm ". Chỉ
một lời khen đó ta cũng thấy
Đức cha tin tưởng người em
dâu như thế nào.
Về mặt tâm lư, ảnh hưởng của
bà Nhu đối với Đức cha Ngô
Đ́nh Thục cũng dễ hiểu. Dù
là Giám mục hay ở một tước
vị cao sang nào cũng vẫn chỉ
là một con người cùng với
những "yếu điểm tâm lư " của
con người. Kinh nghiệm và
sách vở đă cho ta thấy,
trong một sứ Đạo với một vị
Lịnh mục già th́ bà quản gia
mới là người có ảnh hưởng
nhiều nhất đối với Linh mục.
Trường hợp Cha Ngô Đ́nh Thục
cũng không thoát khỏi những
phản ứng tự nhiên đó.
Những phản ứng thân yêu
trong trái tim con người
tương tự như của bà mẹ đối
với cậu con trai hay một ông
bố già đối với một người con
dâu hiếu thảo khéo léo.
Mỗi khi Đức cha Thục về dinh
Độc Lập th́ bà Nhu lo toan
từ món ăn thức uống và lúc
đó trước mặt đức cha bà Nhu
chỉ là một cô em gái ngoan,
dịu hiền ăn nói ngọt ngào dễ
thương.
Đức cha đă dùng tất cả mọi
ảnh hưởng của ḿnh để hỗ trợ
hai dự luật của bà Nhu, nhất
là Luật Gia đ́nh. Đức cha
Ngô Đ́nh Thục hết ḷng hỗ
trợ và bênh vực Luật Gia
đ́nh cũng là điều dễ hiểu v́
nó đă thể hiện đầy đủ tinh
thần luyến ái quan Thiên
Chúa giáo. Với một tín đồ
Thiên Chúa giáo th́ việc cấm
li dị là điều hiển nhiên
theo phép hôn phối.
Bà Nhu lại có sáng kiến đưa
ra Luật ấy lẽ dĩ nhiên, ông
anh đức cha phải lấy làm cảm
phục và cho rằng cô em dâu
đă làm những việc cao quư
trong tinh thần Phúc âm.
Từ Luật Gia đ́nh cùng những
ngôn ngữ cử chỉ khéo ăn khéo
ở của bà Nhu đă giúp bà tạo
được những yếu tố sống động
gây ảnh hưởng mạnh mẽ nơi
cha Ngô Đ́nh Thục. Nhưng
Luật Gia đ́nh đă làm cho bà
thất bại hơn là những dư
luận đồn đại về đời tư của
bà. Bởi luật đó chỉ tạo nên
những thị phi và đàm tiếu
của quần chúng. Trên thực tế,
trai gái vẫn tự do giao du,
lấy nhau cứ việc lấy nhau,
hôn thú chưa phải là điều
chính yếu.
Luật cấm con ngoại hôn không
được hưởng gia tài, không
được hưởng một quyền lợi của
người cha nhưng thực tế th́
người Việt vẫn sống theo một
thứ luật bất thành văn trên
tinh thần con nào cũng là
con.
Dư luận đàm tiếu không phải
là đàm tiếu về nội dung luật
đó. Hầu hết quảng đại quần
chúng có mấy ai t́m hiểu
luật pháp mà biết nó hay
hoặc nó dở. Duy có một điều
Luật Gia đ́nh của bà Nhu cấm
không cho đàn ông lấy vợ nhỏ,
nhưng cô chánh văn pḥng của
bà (gọi là cô cho danh chính
v́, theo luật th́ cô chưa
lấy chồng) ai lại không biết
cô là vợ nhỏ của một ông văn
nhân (thường t́nh nếu cô ta
không phải là chánh văn
pḥng của bà Nhu th́ chả ai
chú ư thị phi, v́ vợ lớn vợ
nhỏ cũng đều là vợ cả miễn
sao được chồng thương yêu).
Đằng khác dư luận giới cao
cấp không ngớt bàn ra tán
vào về đời tư của mấy bà "lớn
" trong Ban chấp hành Phụ nữ
liên đới. Nào là vợ nhỏ sau
“đá vợ cả" của ông tướng để
lên ngôi chính thất. Nào bà
tá B vốn đă có một đời chồng
rồi sau "mèo chuột" bỏ chồng
lấy ông tá B... Dư luận đàm
tiếu tùm lum như vậy. Mà dư
luận ấy có thật chứ không
phải do sự thêu dệt. Nhưng
từ đó dư luận được dịp phụ
đề thêm "hoa lá". Đó cũng là
một cái nguy cho một cá nhân
trong guồng máy lănh đạo khi
cá nhân đó trở thành một cái
đinh của dư luận. Trong khi
đó, nhờ Luật Gia đ́nh cũng
như những công tác xă hội mà
bà Nhu đề ra, càng làm tăng
cường ảnh hưởng của đức cha
Thục.
ẢNH HƯỞNG CỦA BÀ NHU ĐỐI
VỚI ÔNG CHỒNG
C̣n ông Nhu ? Giới thân cận
nhất của ông đều xác nhận
trước năm 1955, bà Nhu không
tạo được ảnh hưởng chính trị
nào đối với ông chồng "đa
mưu túc kế" rất uyên thâm.
Nhưng nó lại như thế này, từ
khi ảnh hưởng tâm sinh lư
của bà vợ đă dễ dàng biến
thành ảnh hưởng chính trị...
Trước năm 1945, ông Ngô Đ́nh
Nhu chỉ coi bà vợ như một cô
em gái không biết ǵ về
chính trị. Nhưng mấy năm sau,
trong văn pḥng của ông lại
treo một bức h́nh bán thân
của bà vợ tràn đầy nhựa sống.
Một người thường th́ không
nói làm ǵ nhưng ở vào
trường hợp của ông Nhu và
nhất là con người trí thức
như ông Nhu, th́ khi treo
bức h́nh đó ngay tại văn
pḥng chính thức của một vị
cố vấn chính trị Phủ Tổng
thống quả là điều chướng mắt...
Đáng lư ra nên treo trong
pḥng riêng. Dĩ nhiên ông
Nhu cũng cảm thấy như thế
khi tự tay bà treo bức h́nh
đó, song ông Nhu không phản
đối.
Bức h́nh treo ở một nơi
trang trọng trong văn pḥng
đă đủ nói lên việc ông Nhu
chấp nhận sự hiện diện của
bà vợ trong đời sống của
ḿnh (v́ văn pḥng ấy là nơi
ông Nhu tiếp quan khách
ngoại quốc, bộ trưởng, tướng
lănh, quan sĩ...nghĩa là đủ
mặt mọi giới) . Qua sự kiện
này cũng đă đủ nói lên ảnh
hưởng của bà Nhu, đă chinh
phục toàn diện được con
người ông chồng mà nhiều khi
chính ông Nhu cũng không
biết, ảnh hưởng của bà vợ
đối với ông chồng là một
cuộc hành tŕnh bằng những
chất liệu "vô h́nh " thấm
dần vào tim vào óc nói ra
không được mà chỉ mơ hồ cảm
thấy hoặc không thể cảm thấy
và chỉ có người ngoài mới
nh́n rơ được.
Bởi vậy cô nhân t́nh của một
nhà lănh đạo nhiều trường
hợp lại ảnh hưởng sâu xa đến
chuyện quốc gia đại sự mà
chính nhà lănh đạo đó cũng
không hay. Do vậy, nhà lănh
đạo dù tài ba cũng cần phải
đặt ḿnh trong guồng máy
lănh đạo và phải chấp nhận
mọi sự và phê b́nh về cá
nhân ḿnh qua những nhân
viên của trong guồng máy.
Tuy vậy giới thân cận với
ông Nhu biết rơ rằng ông
không bao giờ nghe vợ bàn
góp ư kiến. Sự thực một
người tự kiêu như ông Nhu,
với khả năng tri thức như
vậy khó ḷng có thể tin theo
ư kiến của bà vợ c̣n nhỏ
tuổi, mà trước mắt ông, bà
vẫn chỉ là h́nh ảnh một nữ
sinh trường Pháp, chưa đậu
tú tài. Tuy nhiên, đă có một
vài trường hợp ngoại lệ ông
Nhu theo ư kiến của bà,
nhưng đó chỉ là ư kiến xuất
phát từ khả năng trực giác
dồi dào của một người đàn bà
thông minh, nhạy cảm (qua vụ
đảo chính hụt 2-2-1960).
Nhưng ông Nhu vốn sợ "x́
căng đan" đó cũng là yếu
điểm của ông. Bà Nhu vốn
nóng như lửa nói năng bất
chấp và dễ gây gổ làm lớn
chuyện. Hễ một khi bà vợ lớn
tiếng th́ ông Nhu đành im.
Quá lắm th́ ông Nhu chỉ đập
bàn mắng mấy câu tiếng Pháp
cho thoả ḷng rồi đành chịu
thua (giới có học bị vợ lấn
át và mang tiếng sợ vợ phần
lớn cũng chung một cảnh ngộ
tâm lư như vậy) . Ông Diệm
cũng là người sợ sự lớn
tiếng gây gổ. (Đại uư Bằng
kể lại, một lần ông Diệm bảo
Bằng đi theo sang pḥng ông
bà Nhu. Ông Tổng thống đang
có điều ǵ vui mừng. Nhưng
đến cửa pḥng nghe thấy bà
Nhu đang la lối ông chồng,
ông Diệm quay gót trở về
pḥng khẽ lắc đầu). Cứ nhận
diện ông Nhu theo tướng số
th́ khuôn mặt ông không phải
là người "sợ vợ ".
C̣n một chi tiết nhỏ này
cũng đủ chứng tỏ, ảnh hưởng
của bà Nhu đă thâm nhập sâu
xa trong con người ông chồng:
Trước kia ông muốn hút bao
nhiêu thuốc lá th́ hút,
nhưng kể từ năm1959-1960, bà
Nhu giới hạn ông, mỗi ngày
bà tự chia cho ông một vài
điếu, hút cho đỡ nhớ mà thôi.
Nhiều khi một điếu được cắt
làm đôi. Một người nghiện
thuốc lá nặng như ông Nhu mà
đành chịu cũng là một điều
lạ lùng.
Trước năm 1955 ông Nhu là
người ăn mặc xuề xoà… Khi
trở thành cố vấn chính trị
ông cũng vẫn thế, nhưng ông
Diệm không bằng ḷng v́ cho
rằng ăn mặc như vậy “mất cả
thể thống. . . thím phải lo
cho chú ấy ăn mặc đàng hoàng".
Từ đó tự tay bà Nhu lo liệu
cho ông chồng, bà lựa chọn
cho ông từng chiếc Cravat.
Ngay văn pḥng làm việccủa
ông, bà Nhu cũng tự tay
trang trí cho có ngăn nắp,
mỹ thuật. Một người già mà
được cô vợ trẻ săn sóc
thương yêu như vậy ai mà
không cảm động. Từ chỗ cảm
động đến chỗ bị "chi phối âm
thầm" không bao xa.
Ảnh hưởng của bà Nhu đối với
đức ông chồng mỗi ngày càng
mạnh, đó cũng là điều dễ
hiểu xét theo khía cạnh tâm
lư. ông Nhu không phải là
người ăn chơi, trước năm
1954 th́ ch́m đắm trong thế
giới sách vở, sau năm 1954
sống trong một thế giới kín
cổng cao tường của Phủ Tổng
thống. Ông Nhu cũng không
phải là người quảng giao nên
ít bạn bè . Rồi tuổi ông mỗi
ngày một cao . . . Cô vợ với
tuổi hồi xuân càng trở nên "ngào
ngạt yêu thương" đó mới là
nguyên nhân thầm kín tạo cho
bà Nhu một “uy quyền" đối
với ông chồng. Thứ uy quyền
chỉ có thể cảm thấy nơi ông
chồng có đời sống nội tâm...Bà
vợ trái ngược, bà ham mê
hoạt động hoà vào cuộc sống
bên ngoài...Đó không phải là
hai thái cực quá chi phối mà
là hai "hố" mâu thuẫn để tạo
thành một hậu đời sống vợ
chồng theo một tương quan
t́nh cảm.
Một vài nhân vật thân cận
nhất của ông Nhu bị ông cho
ra "ŕa" v́ thất sủng trước
hết do sự bất hoà và bất
đồng với bà Nhu. Nói rằng
ông Nhu nghe vợ th́ không
đúng...Nhưng quả v́ sợ vợ mà
ông đă bỏ rơi một vài người
thân cận... Thật dễ hiểu,
trong đời sống pḥng the,
nay nghe bà vợ rủ rỉ bên
tai: "Thằng ấy nó như thế
như thế” mai lại nghe bà vợ
phàn nàn: "ông ta như vậy
như vậy". những lời nói ngọt
ngào đó lúc đầu ông chồng bỏ
qua v́ cho rằng: "Chuyện đàn
bà...đàn bà lắm chuyện"
nhưng lâu ngày th́ chuyện
đàn bà biến thành chuyện đàn
ông. Trong cái thời đại quân
chủ, bao nhiêu bậc vua chúa
đă mất ngai vàng v́ nghe vợ
thủ thỉ bên tai. Ở miền Nam
này cũngvậy, bao nhiêu lănh
tụ đảng phái mất cả anh em
đồng nghiệp rồi hủ hoá cũng
một phần nghe vợ với cung
cách trên. Muốn loại bỏ
nhưng ảnh hưởng tiệm tiến vô
h́nh đó th́ lănh tụ phải
được biến thể theo khách
quan của thực tại lănh đạo.
Thực tại lănh đạo gần nhất
là những người cận thân. Nếu
nghe vợ hay v́ cách này hay
cách khác qua ảnh hưởng của
vợ mà làm xa cách cộng sự
th́ sứ mệnh lănh đạo không
c̣n nữa. Bông hoa hồng của
bà vợ cài trên ve áo và cái
đinh ốc trong guồng máy mà
ḿnh lănh đạo cả hai đều
quan trọng nhưng làm thế nào
để không v́ bông hoa hồng mà
làm mất chiếc đinh ốc của
guồng máy đó mới là điều
quan trọng.
Đó là một cuộc cách mạng
nhạy cảm nhờ sự tham dự ngạt
ngào hương thơm của phái yếu.
Vậy th́ muốn mưu đồ đại sự
cũng cần có yếu tố nhạy cảm
và phái yếu bổ xung để gợi
cảm và xung động quần chúng.
Vậy th́ sự thành lập phụ nữ
Liên đới cũng như tổ chức
bán quân sự của Phụ nữ (tuy
chỉ có h́nh thức để biểu
dương) quả là điều cần thiết
cho những chiến thuật chính
trị.
Nếu như bà Nhu chỉ đứng bên
trong lèo lái và chọn một
người tương đối xứng đáng
đứng ra thành lập th́ quả là
tốt hơn. Nhưng đây th́ lại
khác, bà Nhu vừa là tác giả
lại đóng luôn vai tṛ diễn
xuất của "kép "chánh.
Ông Nhu cũng như Tổng thống
Diệm có “dính dáng" vào sự
thành lập phong trào đó
không ? Có thể nói ông Diệm
thấy cô em dâu làm được điều
tốt với chủ ư hỗ trợ chính
quyền tất nhiên ai ở địa vị
ông cũng không có lư do ǵ
ngăn cản. C̣n ông Nhu? ông
cũng không đóng vai tṛ giật
dây trong phong trào đó. Khi
thấy việc làm của vợ có ích
lợi cho chế độ th́ ai ở địa
vị ông cũng không có lư do
ǵ ngăn cản. Mà thực ra th́
ông Nhu muốn cản cũng không
được.
Giới thân cận được biết rằng,
đối với bà Nhu th́ "việc ông
ông làm, việc tôi tôi làm,
miễn sao tôi không chống lại
ông". Nhiều việc bà Nhu cứ "làm
đại" nếu ông chồng biết th́
sự đă rồi. Tuy nhiên những
việc "làm đại " đó đối với
ông Nhu đều là những việc
hợp lư.
Dư luận trước năm 1963 cho
rằng, ông Nhu bị vợ "chế ngự,
áp đảo " . . . Nhưng điều đó
không đúng. Trong các việc
chính sự quốc gia, có bao
giờ ông hỏi "ư kiến" bà vợ
đâu. Nhưng có điều như thế
này, ông Nhu cũng phải ngán
sự nóng tính và dữ dằn như
hổ lửa của bà Nhu. Một lần
bà Nhu hỏi ông chồng trước
mặt một số người thân trong
đó có bà Lương Khải Minh: "Tại
sao mấy ông ấy (tức các ông
lớn ) lại khiếp tôi quá dữ
vậy". Ông Nhu mỉm cười trả
lời: "Tui cũng c̣n khiếp bà
nói chi mấy ông ấy ".
Bà Nhu áp đảo được nhiều
nhân vật cỡ lớn trước hết
nhờ yếu tố bạo ăn bạo nói
của bà. Trong các buổi họp
Ban chấp hành Phụ nữ Liên
đới, bà Nhu chủ toạ và hầu
như chỉ có một ḿnh bà ta
độc thoại. Các bà khác ngồi
lặng thinh lắng nghe chăm
chú và luôn tỏ rơ sự thán
phục. Một lần nọ vào năm
1962 một bà Liên đới đi họp
muộn, bà Nhu hỏi lư do th́
bà kia thực thà tŕnh bày là
có một vài nhân vật Mỹ đến
thăm ông chồng do đó đến
muộn. Trước đông đủ mọi
người bà Nhu lớn tiếng: "Tiên
sư mấy thằng Mỹ".
Đại để lời ăn tiếng nói của
bà Nhu có những sỗ sàng như
vậy.
Nhưng nó lại quá sức thất
lợi về phương diện giao tế
chính trị. Chửi Mỹ sỗ sàng
như vậy vào năm 1963 quả là
"liều” nếu không phải là bà
Nhu th́ không ai trong giới
quan chức chính quyền dám ăn
nói như vậy. Nhưng bà Nhu
nói, với tư cách Chủ tịch
phong trào Liên đới lại là
vợ một Cố vấn chính trị th́
hẳn rằng giới chức Mỹ phải
đặc biệt lưu ư (trong đám
người hội họp hôm đó dĩ
nhiên là phải có một vài bà
về nói lại với ông chồng và
ông chồng nói lại với Mỹ).
Ngày 20-5-1958 trong một
phiên họp Quốc hội, bà Nhu
đă đưa ra một đề nghị thành
lập một Phong trào phụ nữ
với danh xưng "Phụ nữ Liên
đới Việt Nam" và yêu cầu
Liên Đoàn công chức để cho
các bà vợ công chức được
phép tham gia. Bốn năm sau
phong trào đó mới được ông
Diệm chính thức chấp nhận và
được thừa nhận là một Hội
đoàn Công ích (SL 84 Việt
Nam l3-4-1962).
Như trên đă viết, phong trào
này không đạt được "quần
chúng tính". Trước sau đây
chỉ là một hội đoàn của các
phu nhân, vợ công chức, các
nữ công chức và nữ quân nhân.
V́ vậy hội đoàn ấy được xem
như một hội đoàn bán chính
thức của chính quyền.
Ban chấp hành Trung ương
ngoài một số nữ Dân biểu "gà
nhà" của bà Nhu c̣n hầu hết
là vợ một số công chức cao
cấp và tướng tá. Vai tṛ của
các bà cao thấp tuỳ thuộc
theo địa vị người chồng cùng
sự khôn lanh nịnh bợ bà cố
vấn.
Một bà là vợ một ông tướng
nên được làm Tổng thư kư,
một bà là vợ ông Bộ trưởng
nên được cất nhắc làm Phó
Chủ tịch v.v...Chúng tôi
không bao giờ làrn công việc
"bới móc" chuyện "đàn bà con
trẻ" nhưng chuyện "đàn bà"
của Phong trào Phụ nữ Liên
đới lại có liên hệ đến sự
tồn vong của một chế độ.
Đáng lẽ, một phong trào như
vậy th́ phải t́m những phụ
nữ có khả năng, có học vấn (học
vấn không có nghĩa là có
bằng cấp). Nhưng ở đây th́
lại khác. Tuy bà X là vợ
tướng lănh thật nhưng chỉ v́
"đàn ông quan tắt th́ chầy,
đàn bà quan tắt nửa ngày nên
quan" cho nên bà ta chỉ có
tŕnh độ "biết viết" nhưng
nhờ địa vị chồng nên phút
chốc đă leo lên địa vị "lănh
tụ” của phong trào. Như vậy
phong trào ấy làm sao có
lănh tụ tốt, có sáng kiến
tốt cho được. Tuy phong trào
cũng có một vài bà luật sư,
nhưng đa số chỉ là độc giả
của tờ báo "SM" và nữ khán
giả có một số bà chuyên mộ
điệu tuồng "cải lương" . . .nếu
không th́ lại chỉ lo toan áp
phe làm giàu. Bởi vậy mới có
một bà Liên đới, phu nhân
một bộ trưởng khi ngồi vào
bàn hội nghị với tư cách chủ
toạ đă lên tiếng ngay "Thưa
chị em hôm nay đại diện bà
Cố vấn tôi tuyên bố bế mạc
hội nghị". Cả hội nghị đều
ngỡ ngàng tại sao chưa khai
mạc lại bế mạc, sau mới rơ
bà bộ trưởng sử dụng chữ bế
mạc thay cho chữ khai mạc ?
Rồi một phu nhân khác trong
dịp đi vận động tranh cử (Khoá
III ) đến một trại gia binh
đă nói với các bà vợ các
quân nhân ở đấy rằng: “Chồng
tôi làm đến bộ trưởng. . .
chồng tôi chức cao như vậy
tôi đâu có ham, nhưng v́
thương chị em tôi mới ra ứng
cử để bênh vực quyền lợi cho
chị em ". Bằng một giọng lớn
lối như vậy bà Bộ trưởng đă
khiến các bà vợ lính la ó. .
.nhún vai nhổ nước bọt...Bà
ứng cử viên dân biểu phải
chuồn lẹ. Đại để các bà có
những lỗi lầm ấu trĩ như vậy
nhưng mấy bà lại "đua nhau”
tham gia công tác phong trào
để được bà Cố vấn sủng ái
rồi chỉ định ra tranh cử dân
biểu (khoá III. Trong Quốc
hội Phong trào Liên đới đạt
được 22 ghế dân biểu).
Tất nhiên cũng không ai quá
khắt khe chấp nhất những "lỗi
lầm đáng bỏ qua " của quư bà.
Nhưng có điều quan trọng như
thế này: Các bà đă làm cho
các ông mâu thuẫn, hiềm
khích nhau...Rồi Chính phủ
trở thành "Chính phủ đàn bà”.
Bà Nhu trao cho bà tướng X
công tác A. Bà tướng X hoàn
toàn "mù tịt " nhưng cứ nhận
đại rồi về nhà trao trách
nhiệm thực hiện cho ông
chồng, ông chồng lại gọi
thuộc viên trao phó . .
.Thuộc viên hùng hục làm cho
xong v́ họ đă thuộc ḷng: "
Lệnh của bà mới là điều quan
trọng !!" ông chồng nào “nể
vợ" th́ làm tốt, ông nào
"cứng đầu” với vợ th́ làm
qua loa. Hậu quả không những
các viên chức cao cấp phải
làm thêm công việc của các
bà vợ mà c̣n tạo nên sự ganh
ty suy b́...Bà X tâng công
“Việc của em bà Cố trao phó
cho em làm xong ngay c̣n
việc của chị Y. . . chị ấy
dựa vào thế lực chồng chị ấy
chỉ có chỉ tay năm ngón !".
Các bà chia thành phe cánh
ra lườm vào nguưt, cũng là
điều dễ hiểu nhưng các bà
lại kéo theo các ông . . .
C̣n một điều đáng nói nữa là
dư luận quần chúng quanh bức
tượng Hai Bà Trưng được dựng
tại công trường Mê Linh (bến
Bạch Đằng tháng 3-1962). Bức
tượng Hai Bà sáng 2-11-1963
đă bị làn sóng biểu t́nh của
học sinh sinh viên hè nhau
kéo đổ rồi chặt đầu lôi
quanh các đường phố, chỉ v́
bức tượng đó giống bà Nhu và
con gái bà tức Ngô Đ́nh Lệ
Thuỷ.
Nhưng nguyên do từ đâu mà
lại giống như vậy ? Có phải
mẹ con bà Nhu làm mẫu cho
điêu khắc gia Nguyễn Văn Thế
tạc tượng ấy không (ông Thế
đạt giải Á nguyên La Mă về
điêu khắc).
Bức tượng Hai Bà Trưng thật
"kính chả bỏ phiền" . Bao
nhiêu lời đàm tiếu chung
quanh bức tượng đó. Mà sự
đàm tiếu cũng rất phải, v́
đây là sự bôi lọ anh hùng
lịch sử. Lạ thay càng nh́n
kỹ th́ pho tượng càng giống
hai mẹ con bà Nhu. Cũng v́
vậy mà pho tượng trở thành
trung tâm của bao nhiêu lời
phê phán nghiệt ngă. Người
thức giả trung dung cũng
phải lên tiếng: "Pho tượng
sừng sững thế kia th́ c̣n ǵ
là thể thống quốc gia. Lịch
sử cũng chẳng c̣n giá trị ǵ
nữa". Rồi người ta suy luận
rằng: "Bà Nhu dám can đảm
dựng tượng ḿnh như vậy th́
chuyện ǵ mà bà ta không dám
làm?".
Cách ăn mặc của bà Nhu cũng
tạo nên nhiều dư luận bất
lợi cho bà trong quần chúng.
Bà luôn luôn "cách tân" các
kiểu áo dài phụ nữ. Kiểu áo
hở cổ mà hiện nay các bà các
cô thường mặc th́ chính bà
Nhu đă "khởi đầu” từ dạo năm
1958. Rồi một số bà Liên đới
cũng "a dua" mặc theo. Bà
Nhu phỏng theo kiểu áo dài
Việt Nam và áo dài của phụ
nữ Chiêm Thành để tạo thành
áo dài của bà. Áo dài của bà
lại thường thêu hoa lá và
chim phượng hoàng. Một bức
ảnh cho ta thấy bà Nhu mặc
một chiếc áo hở cổ, ngay
trước ngực thêu một con chim
phượng hoàng. . .bà Nhu coi
đó như một việc "cách mạng"
chiếc áo dài Việt Nam.
Bà Nhu không muốn một ai phê
phán ḿnh. Tất nhiên như vậy
th́ chỉ chấp nhận sự ca ngợi
tán tụng. Bất kỳ ai tỏ ra
nổi hơn bà một chút, khác
hơn bà một chút cũng đủ bị
bà làm cho "thất sủng". Khi
bà vợ bị thất sủng th́ ông
chồng cũng dễ dàng bị thất
sủng. Người đàn bà có tài và
thông minh hầu hết đều mắc
phải cái tật xấu này. Bà Nhu
bị nhiều người ghen ghét, bị
dư luận dân chúng chỉ trích
nặng nề và nghiêm khắc trước
hết do sự xuất hiện nặng về
phần tŕnh diễn của bà cùng
tính cao ngạo và cố tạo ra
vẻ có uy quyền để được mọi
người thán phục tôn trọng.
Nếu so với nhiều bà tai to
mặt lớn hiện nay th́ sự
trưng diện áo quần của bà
Nhu hăy c̣n giản dị lắm.
Nhiều bà lớn bây giờ đeo cả
hạt xoàn kim cương giá 3,4
triệu đồng với kẻ hầu người
hạ như một lănh chúa cùng sự
ăn chơi bài bạc vô cùng sa
đoạ. Nhưng chỉ có một giới
nào biết rơ mà thôi . Song
dù bà Nhu có cố t́nh có lúc
mặc đồ nội hoá, không đeo
kim cương hạt xoàn lộng lẫy
th́ dân chúng mọi giới vẫn
chĩa mũi dùi vào bà. Tại
sao? Giản dị v́ bà lại tiêu
biểu cho một phần uy quyền
của chế độ, uy quyền ấy
không được chính thức công
nhận, nhưng thực tế th́
không ai chối căi được.
Bà Nhu sống trong khung cảnh
"kín cổng cao tường" cho nên
dễ dàng trở thành nơi "thâm
cung bí sử". Dân chúng bao
giờ cũng ṭ ṃ muốn t́m hiểu
sự thật, cho nên khi thấy
cảnh bà Nhu đi xe hơi lộng
lẫy, ăn mặc diêm dúa, lính
tráng theo hầu canh gác cẩn
mật, bằng ấy thứ làm cho dân
chúng dễ dàng liên tưởng đến
sự xa hoa đài các. Rồi thân
h́nh của bà Nhu nữa, căng
đầy nhựa sống và trang sức
như một tài tử, dân chúng
lại càng dễ liên tưởng đến
một ẩn dụ sinh lư. Bởi vậy
mới có dư luận hàng ngày cho
bà Nhu tắm bằng sữa tươi để
giữ cho nước da được đẹp.
Sau 1-11-1963, đă biết bao
dư luận được dựng lên xung
quanh bà Nhu...nhất là một
số chuyện t́nh ái lăng
nhăng. . . Không hiểu xuất
phát từ đâu có một số h́nh
ảnh loă lồ của bà Nhu và mấy
bà Liên đới được tung ra
công chúng và nói rằng bà
Nhu buộc mấy bà Liên đới
phải chụp ảnh loă lồ như vậy
để bà giữ làm điều kiện, ấy
thế mà dư luận có vẻ tin
thực. Tấm h́nh loă thể của
bà Nhu cũng vậy, nh́n qua
thật là giống, nhưng so
sánh, một người Việt Nam như
bà dù nở nang nhưng với 4
mặt con và trên 40 tuổi
không thể nào có bộ ngực
tṛn trĩnh và eặp gị chắc
nịch như vậy. Tấm thân từ cổ
trở xuống phải là tấm thân
của một cô gái Tây phương
khoảng 22, 23 tuổi.
Sự thực th́ ai cũng biết
rằng, những tấm h́nh trên đă
được các tay thợ ảnh lành
nghề ráp nối lại. Nhiều bà
tai to mặt lớn đă bị bọn
"bất lương" tống tiền bằng
cách doạ đăng báo h́nh ảnh
loă thể.
Sau đảo chính 1963, bà Nhu
được mô tả như một "ác phụ
dâm loàn". Tại sao như thế ?
Gia dĩ trong quá khứ bà đă
gây nên nhiều nỗi bất b́nh
nhất là ở giới thượng lưu.
NGÔ Đ̀NH NHU: ÔNG CỐ VẤN
Ông Nhu đậu cử nhân văn
chương Đại học Sorbonne Pa
ri và tốt nghiệp trường
Chartes.
Danh từ riêng "Chartinste"
chỉ những người tốt nghiệp
trường Chartes của Pháp cũng
đồng nghĩa với sự uyên bác
thông thái. Trường Chartes
không tới 100 sinh viên
nhưng thư viện lại chứa đựng
100.000 tài liệu và sách
thuộc mọi ngành. Giáo sư hầu
hết là học giả và các ông
Hàn lâm. Mỗi lớp chỉ giới
hạn 20 sinh viên. Tuy ấn
định tú tài II mới được thi
vào, nhưng sinh viên đều
phải học qua hai năm luyện
thi vào trường Chartes (tại
trường danh tiếng Henri IV).
Cố giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu
bạn học của ông Nhu cũng
theo học tại trường Chartes
nhưng bị loại v́ sự thi cử
rất khắt khe. Trong 4 năm
học sinh viên chỉ có quyền
thi trượt một lần và mỗi năm
chỉ có một kỳ lên lớp. Mỗi
khoá năm thứ I vào khoảng 20
sinh viên th́ khi tốt nghiệp
chỉ lọt chừng một nửa.
Chương tŕnh học thuật là
mênh mông. Tiếng La-tinh là
ngôn ngữ thông dụng.
Sinh viên phải am tường về
cổ tự, phải học về công văn
thư, học Pháp chế sử ... Ông
Ngô Đ́nh Nhu đă được đào tạo
trong môi trường khoa bảng
uyên thâm đó.
Khi về nước ông trở thành
quản thủ thư viện. Tại Tổng
thư viện Hà Nội ông được mô
tả như một "con mọt sách".
Quả thực một nửa đời người
ông đă ch́m đắm trong thế
giới suy tư và chữ nghĩa kim
cổ. Hai tác giả mà ông Nhu
mê say và nghiên cứu rất kỹ
đó là Thánh Ghandi và Mao
Trạch Đông (tức từ triết lư
bất bạo động đến triết lư
cách mạng bạo động).
Cho đến nay nhiều người vẫn
phê b́nh ôngNhu là thâm
hiểm, hẹp ḥi. Sự thực th́
ông quá kiêu ngạo và tự tôn.
Hơn nữa ông lại vụng về lúng
túng trong sự giao tế. Ông
lại nói rất kém (tiếng Việt
cũng như tiếng Pháp) và lại
là người ít nói. Nhưng ông
lại là người có khả năng
tiên liệu, đa mưu túc kế.
Với cuộc sống khép kín như
vậy nên ngay cả cộng sự viên
cận thân với ông trong 7, 8
năm cũng khó hiểu ông.
Cuộc đời Ngô Đ́nh Nhu được
coi là “phong trần" kể từ
năm 1945. Khi chiến tranh
Việt -Pháp bùng nổ tại Hà
Nội th́ ông Nhu cùng Hoàng
Bá Vinh chạy về vùng ngoại ô
Hà Nội. Rồi ngày đêm qua sự
hướng dẫn của Hoàng Bá Vinh,
Nhu trốn về Phát Diệm và lưu
ngụ tại Nhà Chung. Ở đây ít
ngày, Nhu được hướng dẫn vào
Thanh Hoá.
Trong thời gian này ông chịu
ơn các Linh mục địa phận
Thanh Hoá. Sau này ông c̣n
nhớ măi ân nghĩa đó. Linh
mục Trọng đă phải cho ông
Nhu mượn tấm áo Linh mục để
hoá trang trên bước đường
trốn tránh.
Khi trở về Sài G̣n ông Nhu
"thất nghiệp chính trị" và
"trùm chăn” để chờ thời. Từ
đó sinh kế trong gia đ́nh
đều do một tay bà vợ lo
liệu. Trong thời gian này,
ông cộng tác chặt chẽ với
Linh mục Parell trong việc
nghiên cứu chính trị và xă
hội.
Vốn là con người lạnh lùng
nên đời sống tôn giáo của
ông Nhu cũng lạnh lùng. Tổng
thống Diệm mộ đạo bao nhiêu
th́ ông Nhu thờ ơ bấy nhiêu.
Đức tin của ông thật mạnh mẽ
nhưng ông không biểu lộ đức
tin đó bằng những h́nh thức
nghi lễ. Tổng thống Diệm th́
xưng tội rước lễ thường
xuyên, ông Nhu trái lại
không mấy khi rước lễ, xưng
tội. Đại úy Bằng một người
sống lâu năm trong gia đ́nh
họ Ngô cho biết, có khi cả
năm sống trong dinh cũng
không thấy ông Nhu xưng tội
rước lễ.
Mỗi lần xem lễ trong dinh,
hai h́nh ảnh thật trái
ngược: Tổng thống Diệm th́
đăm đăm đọc kinh, coi sách
lễ, ông Nhu tuy cũng quỳ gối
nhưng h́nh như chỉ quỳ thế
thôi. Lần nào, ông anh cũng
mở từng trang sách lễ rồi
trao sách lễ cho ông em,chỉ
rơ từng trang. Ông Nhu cầm
lấy nhưng chỉ cầm chiếu lệ
mà không đọc.
Một cộng sự viên thân cận
khi đề cập đến Thiên Chúa
giáo đă nói với ông Nhu:
"Thánh Bernard cho rằng
trong nhà thờ người ta thờ
Chúa bằng chén vàng chén
bạc, ngoài cửa nhà th́ con
chiên chết đói", ông Nhu gật
đầu đắc ư: “Đúng, đúng như
rứa". Mỗi lần nghe họ đạo nọ
xây nhà thờ nguy nga, họ đạo
kia dựng bức tượng Đức Mẹ
rất lớn, ông Nhu lại nhăn
mặt khó chịu vô cùng, nói
với chung quanh: "Tại sao
không xây nhà thương trường
học mà cứ phải xây nhà thờ".
Ông Nhu rất ít tiếp xúc với
các vị Linh mục trừ một số
Linh mục thân thiết trong
gia đ́nh. Mỗi khi phải tiếp
một vị Linh mục nào ông coi
như chuyện bất đắc dĩ và
tiếp cho mau chóng.
Ông thường tâm sự: "Nhiều
cha hay lợi dụng lắm chỉ lo
affaire này kia".
Dư luận cho rằng, ông chống
lại hàng giáo phẩm nhưng
Linh mục nhận định: "ông
theo đạo một cách khác, ông
không coi thường các hàng
giáo phẩm nhưng không cho là
quan trọng đến mức độ phải
tôn thờ quỵ luỵ".
Con người ông Nhu thật khó
hiểu và ông không bao giờ
tâm sự với ai, dè dặt mọi
cuộc tiếp xúc không muốn đi
ra ngoài và dè dặt với từng
lời nói. Người ta vẫn có
thành kiến cho rằng ông Nhu
thâm độc và chủ trương độc
tài. Trái lại ông có vẻ
phóng khoáng và có tầm nh́n
cởi mở của một chánh khách
tây phương. Người độc đoán
phải là Tổng thống Diệm, ông
Nhu th́ lại khác. Nhiều sự
kiện đă chứng tỏ điều này.
Thí dụ về kết quả cuộc bầu
cử Quốc hội khoá II
(31-8-1959) trong đó có bác
sĩ Phan Quang Đán dẫn đầu
tại quận II với 33. 166
phiếu và tiếp theo là Cụ
Phan Khắc Sửu và ông Nguyễn
Trân (nguyên Tỉnh trưởng Mỹ
Tho) Tổng thống Diệm quyết
định phải loại 3 dân biểu
này bằng mọi cách, nhất là
ông Phan Quang Đán và Nguyễn
Trân.
Cả tháng trời ông Diệm cho
gọi các luật gia như ông
Trần Chánh Thành và giáo sư
Vũ Văn Mẫu, để nghiên cứu
làm thế nào dùng biện pháp
của luật để loại các dân
biểu.
Ông Nhu nói với bác sĩ Trần
Kim Tuyến: "Làm chi mà quá
như vậy. Th́ người ta đắc cử
th́ để người ta vô Quốc hội,
người vô làm được cái ǵ… Có
3 người như vậy đâu có nhiều
mà phải làm như vậy...". Ông
Nhu tỏ ra rất khó chịu và
hoàn toàn bất đồng với Tổng
thống Diệm về vấn đề này.
Cuối cùng để chiều ư ông anh
ông Nhu đành chịu. Tuy vậy
riêng cụ Phan Khắc Sửu v́
biết rơ uy tín cũng như đức
độ của cụ trong dân chúng,
nên ông Nhu đă uỷ cho ông Bộ
trưởng Huỳnh Hữu Nghĩa liên
lạc với cụ Sửu và dàn xếp
mời cụ Sửu vào dinh Độc Lập
gặp riêng ông Nhu. Cuộc gặp
gỡ giữa cụ Sửu và ông Nhu
lâu cả hơn một giờ. Theo bác
sĩ Tuyến th́ cụ Sửu cũng như
ông Nhu tỏ ra thông cảm và
cởi mở (cụ Sửu bị bắt trong
cuộc đảo chính hụt 2-2-1960
song cụ bà vẫn được tiếp tục
lănh lương dân biểu).
Thu xếp xong vấn đề cụ Phan
Khắc Sửu nhưng c̣n hai
trường hợp ông Phan Quang
Đán và Nguyễn Trân, ông Nhu
để mặc ông anh quyết định.
Hơn nữa, đối với ông Nhu th́
cụ Phan Khắc Sửu mới là điều
quan trọng, v́ không ai phủ
nhận được đời sống đạo đức
và thành tích tranh đấu của
cụ trong dĩ văng.
Sau đó th́ Uỷ ban Hợp thức
hoá quyết định không thừa
nhận hai dân biểu kể trên.
Đây cũng là một vết đen lớn
của Quốc hội Đệ nhất Cộng
hoà và dù cách nào hay dựa
trên căn bản pháp lư cũng
không thể biện minh cho sự
vi phạm quy chế dân chủ một
cách quá rơ rệt như vậy.
Về việc loại trừ bác sĩ Phan
Quang Đán khỏi Quốc hội, xét
về tâm lư cũng dễ hiểu. Bác
sĩ Đán trúng cử tại một đơn
vị chính Tổng thống Diệm đi
bỏ phiếu và ở ngay khu trung
tâm Sài G̣n. Vả lại Tổng
thống Diệm đă biết rơ con
người ông Đán, khi gặp ông
bên Mỹ. Ông Nhu th́ cho rằng
ông Phan Quang Đán không
quan trọng "Cứ để cho hắn
vào" . Nhưng Tổng thống Diệm
không chấp nhận. Đây cũng là
điều quá hẹp ḥi và sai lầm.
Nếu cứ để ông Đán vào Quốc
hội th́ sớm muộn ǵ ông Đán
cũng bị "cháy" do chính ông
"đốt" ông. Nhưng khi loại
ông Đán th́ chính là cơ hội
tạo cho ông Đán thêm nhiều
tiếng tăm uy tín trong dân
chúng, mà thực ra uy tín đó
hết sức bấp bênh.
Dạo đó dư luận đồn đại rằng,
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cố
loại Phan Quang Đán v́ ông
Đán có thể sẽ tranh cử Tổng
thống và ông Đán là "con bài
nặng kư" của Mỹ. Dư luận
cũng cho rằng ông Ngô Đ́nh
Diệm ghen tức với uy tín của
ông Phan Quang Đán. Sự thực
th́ năm 1955 chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm đă chấp thuận cho
ông Đán hồi hương mà không
do áp lực của Mỹ. Một vài
lần ông Diệm có ư dành cho
ông Đán một ghế Bộ trưởng
không mấy quan trọng, nhưng
ông Đán lại quá nhiều tham
vọng muốn trở thành một lănh
tụ đối lập trong khi ông
không có thực lực nhân dân,
không có một số người cần
thiết. Điều đó ông Nhu hiểu
rất rơ nên để mặc ông Đán ăn
nói rộng răi trước các sinh
viên Y khoa năm IV và sinh
viên trường Cán sự y tế. Khi
về nước, bác sĩ Đán được mời
vào dạy môn y tế công cộng
và y tế dự pḥng tại hai
trường Y khoa và Cán sự y tế
(55- 56).
Ông Nhu chấp nhận những cá
nhân đối lập cùng những ư
kiến đối lập. Cũng v́ vậy,
Tổng thống Diệm quyết định
loại Phan Quang Đán và
Nguyễn Trân th́ ông Nhu lại
không đồng ư và cho rằng cứ
để họ vào Quốc hội. Với một
Phan Quang Đán, ông Nhu đă
nhiều lần "miệt thị" và sẵn
một thành kiến là Phan Quang
Đán hèn, hết chạy theo Pháp
và Bảo Đại bây giờ lại trở
cờ.
Khi qua Mỹ Phan Quang Đán
móc nối được mấy tay thượng
nghị sĩ và một vài viên chức
CIA th́ Phan Quang Đán lại
trở cờ theo Mỹ. Ông cũng
biết rơ, Phan Quang Đán
không có một thực lực nào,
Đảng Dân chủ của ông ta chỉ
là đảng ma và thứ đảng phái
"c̣ mồi" cho Mỹ.
Ngay trong dinh Độc Lập đă
có sự đối lập rồi. Một bên
là Tổng thống Diệm với các
ông Vơ Văn Hải v.v..Một bên
là ông Nhu với mấy cộng sự
viên thân cận. Ông Vơ Văn
Hải theo Tổng thống Diệm từ
thời thiếu niên, một Phật tử
thuần thành, nhưng đối với
ông Nhu lại "mặt trăng mặt
trời". Sau cuộc đảo chính
hụt 2-2-1960 ông Hải bị nghi
oan có liên hệ với phe đảo
chánh, ông tức giận làm một
bản phúc tŕnh dài gởi thẳng
Tổng thống Diệm và kết luận
đại ư rằng: "Tôi theo Tổng
thống, trung thành với Tổng
thống, tôi chỉ biết một ḷng
với Tổng thống thôi..."
Bản phúc tŕnh ấy có ư nói
gián tiếp là không cần biết
ông Nhu, ông Nhu được xem
bản phúc tŕnh đó không biết
ḷng dạ ông thế nào nhưng
không tỏ thái độ ǵ cả. Rồi
mỗi người mỗi phận, mỗi
việc.
Nói năng kém hoạt bát, giao
tế lại ngượng ngùng. Đó là
cái yếu nhất của một nhà
chính trị. Ông Nhu mấy lần
cũng cố gắng mở cuộc tiếp
xúc với một số chính khách
nhưng cũng v́ sự giao tế
ngượng ngùng mà kết quả
không đi đến đâu, không t́m
được sự hợp tác.
Sau cuộc đảo chính hụt
2-2-1960 ông Nhu được khuyến
cáo cần phải mở rộng chính
quyền phải kết hợp các thành
phần vẫn được coi là đối
lập. Một cộng sự viên được
ông Nhu uỷ cho vai tṛ móc
nối và dàn xếp . Nếu mời các
chính khách vào dinh Độc Lập
th́ rất bất tiện. Vả lại các
vị này vốn mặc cảm sợ mang
tiếng “luồn lọt". Do đó phải
tổ chức cuộc gặp gỡ ở bên
ngoài.
Lần thứ nhất cuộc gặp gỡ
được tổ chức ở nhà riêng của
giáo sư Vũ Quốc Thúc. Nhưng
khi ôngNhu đến th́ ông lại
trở thành người cô đơn lạc
lơng. Mấy vị chính khách th́
ngồi tận xa c̣n ḿnh ông trơ
trọi trên chiếc ghế bành,
kết quả không đi đến đâu, và
không cởi mở với nhau được
những ǵ cần cởi mở.
Lần thứ hai tại nhà riêng
bác sĩ Phan Huy Quát. Lần
này khá đông, nhưng khi ông
Nhu đến th́ mọi người lại né
tránh, ông vẫn là người trơ
trọi. Vốn ít nói, lại nói
"trọ trẹ" khó nghe nên ông
càng thêm trơ trọi. Trong
khi đó không ai gợi chuyện
để hiểu tính nhau và t́m
đường thông cảm với nhau.
Người ta cho rằng, ông Nhu
thâm hiểm, nhưng sự thực như
trên đă viết, tâm hồn ông
quá khép kín, vui buồn không
bộc lộ ra ngoài, không mấy
khi tâm sự với ai kể cả
người thân. Ông lầm ĺ, trù
tính những ǵ không ai hay
biết.
Nhưng ông lại là người biết
nghe cộng sự viên tŕnh bày
những điều hợp lư, phải lẽ.
Nhưng có mấy ai tŕnh bày
nguyện vọng thực của ḿnh để
ông có thể nh́n rơ thực
trạng ?
Đối với một công việc dù
quan hệ đến đâu nếu do tay
ông giải quyết th́ ông giải
quyết ngay, không do dự.
Thí dụ năm 1957, nhân một
chuyến đi dạo quanh đô
thành, Tổng thống Diệm đi
qua bến Bạch Đằng...ông nổi
giận đùng đùng v́ cảnh bến
sông thật là "bê bối"...
hàng quán san sát, chiêu đăi
viên cùng thực khách đùa
giỡn lả lơi, ông Diệm sau đó
chỉ thị cho giới chức đô
thành phải giải toả ngay,
ông Tổng thống cho rằng thủ
đô là tiêu biểu cho thể
thống quốc gia để cho hàng
quán tùm lum ở bến sông, ở
hè phố như vậy th́ c̣n ǵ là
thể thống. Theo quyết định
của Tổng thống, Đô trưởng
Sài G̣n khẩn cấp ra lệnh
giải toả. Hàng ba trăm bạn
hàng dọc theo bờ sông bến
Bạch Đằng và một số nơi khác
ở các vỉa hè lớn bị giải toả
Trước khi giải toả họ chỉ
được thông báo và thông báo
một cách cấp kỳ như vậy
trong một thời gian quá ngắn
làm sao thu xếp được công ăn
việc làm.
Các bạn hàng cấp tốc quy tụ
lại thành một nghiệp đoàn để
tranh đấu (đặt dưới sự bảo
trợ của Tổng Liên đoàn Lao
công) do ông Nguyễn Văn
Vượng làm Chủ tịch và dự
định biểu t́nh làm lớn
chuyện. Ông Nhu biết được
như vậy th́ t́m cách giải
quyết ngay. Ông cho gọi ông
Nguyễn Văn Vượng vào dinh để
giàn hoà.
Nếu ông Diệm quá khắt khe
trong quan niệm luân lư và
thuần phong mỹ tục th́ ông
Nhu lại tỏ ra rộng răi, mặc
dù ông không phải là người
bài bạc ăn chơi.
Khoảng năm 1959 Tổng thống
đi xe từ trại Quang Trung về
đến ngă ba Chú Ía (gần nhà
thương Cộng hoà) th́ có cả
mấy chục cô gái giang hồ
phấn son loè loẹt dừng bên
đường vẫy tay cười nói, ông
Tổng thống mặt đỏ bừng bừng:
"Mấy con mụ đó nó làm chi mà
dị hợm rứa" (chữ dị hợm này,
Tổng thống Diệm đă dùng để
nhận định về con người ông
Phan Quang Đán). Viên sĩ
quan tuỳ viên cứ ngay t́nh
nói thẳng: "Bẩm, mấy đứa nó
là gái giang hồ, vùng này
nhiều lắm " . Ông Tổng thống
lại hầm hầm mặt đỏ gay:
"Thằng tỉnh trưởng nó làm
chi đó hỉ. . . “
Khi trở về dinh, ông Diệm
cho gọi Đại uư Bằng đến hỏi
kỹ về chuyện này. Sau đó ông
bảo Tổng Giám đốc Cảnh sát
đô thành, Tỉnh trưởng Gia
Định và Trung tá Cao văn
Viên phải thân hành lấy xe
đi một ṿng kiểm soát xem
thực hư thế nào. Các viên
chức trở về dinh đều xác
nhận là có nhiều gái giang
hồ tại mấy vùng ngoại ô như
Lăng Cha Cả vùng nhà thương
Cộng hoà. Ông Giám đốc Cảnh
sát đô thành (Trần Văn Tư)
phải một phen xanh mặt. Mấy
hôm sau Tổng thống Diệm ra
lệnh băi chức một loạt Cảnh
sát trưởng thuộc Đô thành và
Trưởng ty Cảnh sát Gia định.
Vụ này làm "rung động" giới
chức Cảnh sát cao cấp ông
Nhu cứ nhăn mặt lắc đầu:
"Làm chi mà quá đáng như
rứa". Ông cũng thường nói
với các cộng sự viên: "Cấm
là cấm vậy thôi chứ nạn măi
dâm làm sao hết được tập
trung bọn nó sang cả vùng
Cầu Hàn cho dễ kiểm soát
bệnh tật”.
Ông Nhu quan niệm rộng răi
như vậy cũng dễ hiểu v́ ông
cũng không lạ ǵ nạn măi dâm
tại thành phố Paris nơi ông
đă lưu trú nhiều năm. Theo
Lương Khải Minh ông Nhu khác
hẳn với ông Diệm, ông không
quan tâm đến chuyện vụn vặt.
Điều quan trọng với ông là
"Chơi th́ cứ chơi nhưng kín
đáo đừng gây nên tai tiếng".
Ông thường nói: "Bọn Cảnh
sát cao cấp nó cũng ăn chơi
hủ hoá ghê lắm, nhưng nó kín
đáo...chơi th́ chơi nhưng
chịu làm việc có suy nghĩ ".
Cái chết của tướng Hồ Văn Tố
v́ bệnh thượng mă phong làm
cho ông Diệm mặt chảy dài,
thở ph́ ph́ tức giận...ông
Nhu chỉ lắc đầu: "Làm th́
không lo làm...lúc nào cũng
chỉ có "con chim" trên đầu”.
Nhưng ông có cái rộng răi
này th́ cũng vấp phải những
định kiến hẹp ḥi khác,
nhiều khi rất quá đáng nhu
đứng ở tư thế một nhà lănh
đạo chính trị. Trường hợp
đối xử với một số đồng bạn
cũ của ông cũng gây ra tai
tiếng không ít và do đó
người ta cho rằng ông Nhu
theo chính sách "vắt chanh
bỏ vỏ”.
__________________
TÔI CHỈ
CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT
NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|
Chương VII : Chế độ Ngô Đ́nh
Diệm và người Mỹ
Sau vụ biến cố đẫm máu tại
Đài Phát thanh Huế 4 ngày,
ông Nhu đă cho nổ một trái
bom làm rung động giới ngoại
giao Mỹ, khi ông Nhu tuyên
bố với phái viên tờ
Washington Post "Cho đến lúc
này Chính phủ Việt Nam cộng
hoà không thấy cần thiết một
số cố vấn quân sự quá lớn,
cho nên Việt Nam Cộng hoà có
thể yêu cầu Chính phủ Mỹ cho
rút một nửa số cố vấn quân
sự Mỹ, tức là chỉ nên duy
tŕ 7, 8 ngàn là đủ
(Washington Post 12-5-1963).
Cũng vào thời gian này ông
Nhu nói với giáo sư Bửu Hội
"Đă đến lúc ḿnh phải xét
lại sự viện trợ và hợp tác
của Mỹ. Anh có thể giúp tôi
t́m sự ủng hộ thân hữu của
Pháp và các quốc gia Bắc
Phi. Trong t́nh thế hiện nay
chúng ta phải đi đến một
modus vivendi thoả ước với
Bắc Việt”. Sáng chủ nhật hôm
ấy ông Nhu cũng lặp lại câu
nói như vậy với một vài cộng
sự viên thân cận. Nhưng ai
nấy đều cho rằng con đường
mà ông Nhu sắp đi tới rất
nguy hiểm. Nhưng ông Nhu vẫn
chủ quan cho rằng kế hoạch
ấp chiến lược và đường lối
ngoại giao mới qua trục
Paris và Á phi sẽ tạo cho
miền Nam đủ tư thế chấp
thuận thoả ước với miền Bắc.
Nhưng ông Nhu quên rằng với
16 ngàn cố vấn Mỹ và mỗi
ngày Mỹ phải chi trên một
triệu dollars cho cuộc chiến
tại Việt Nam (1963) th́
không dễ ǵ Mỹ có thể để cho
ông Nhu tự do hành động khác
với những đường lối của họ.
MỘNG ƯỚC HIỆP THƯƠNG HAI
MIỀN NAM BẮC.
Trước năm 1961 Ngoại trưởng
Pháp Couve de Murvíle sau
cuộc tiếp xúc với ông Nhu
tại Paris (196l) đă phê b́nh
ông "Ngô Đ́nh Nhu là một
người có nhiều ảo tưởng”.
Ông Murville cũng như bác sĩ
Trần Kim Tuyến cho rằng phê
b́nh như vậy cũng có phần
đúng. Theo ông Tuyến "ông
Nhu là một chính khách có
suy tư về chính trị, có khám
phá, có sáng tạo trên b́nh
diện chiến lược. Nhưng thực
tại t́nh h́nh chính trị miền
Nam chính nó đă làm cho suy
nghĩ của ông Nhu trở nên ảo
tưởng". Một buổi sáng trời
trong xanh, ông Nhu mỉm cười
mô tả một cách đầy thi vị
với ông Tuyến: "Buổi sáng
Việt Nam mầu trời pha lê,
toa thấy chiến tranh phi lư
quá hỉ. Bọn nó (tức Mỹ) như
con hổ bị thương, chúng sẽ
cho dollars để Phật giáo phá
moa. . . Nhưng chế độ này
th́ phải tồn tại ".
Khi ông Nhu toan tính bắt
tay với miền Bắc Việt Nam
th́ trước hết ông đă gặp
phản ứng hết sức bất lợi cho
kế hoạch riêng của ông...
Phản ứng đó xuất phát ngay
từ tập thể Thiên Chúa giáo
và nhất là một số người khối
dân di cư.
Một số trong khối người đó
từng hậu thuẫn vô giá cho
chế độ Ngô Đ́nh Diệm, những
ngày đầu 1954-1955. Tuy toan
tính của ông Nhu không mấy
ai biết nhưng hẳn nhiên
không thể qua mắt được các
đức Giám mục Thiên Chúa
giáo. Đức cha Lê Hữu Từ có
thể là người được biết quá
thông suốt về những toan
tính của ông Nhu. Điều này
cha Jean (một Linh mục người
Pháp lúc đó đang sống tại
Sài G̣n) đă có nhiều cơ hội
được am tường một cách tương
đối rành rẽ. Sau cuộc biểu
t́nh dữ dội của Phật giáo
ngày 17-7, phản ứng của Mỹ
hoàn toàn bất lợi cho chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm. Đài VOA
thông tin và b́nh luận một
cách có thiện cảm hay đúng
hơn là đă gián tiếp ca ngợi
cuộc đấu tranh của Phật
giáo. Cha Jean được mời vào
dinh gặp ông Nhu. Cuộc gặp
gỡ kéo dài trong hai tiếng
đồng hồ. Ông Nhu đă đề cập
về cuộc xuống đường của Phật
giáo ngày 17, ông nói: "Tôi
có nhiều bằng chứng là hiện
nay Cộng sản đă thao túng
phật giáo. Rất nhiều cán bộ
Cộng sản cải trang vào đó
với tư cách Phật tử hay các
nhà sư".
Cha Jean chỉ lắng nghe mà
không đáp. ÔngNhu với thái
độ giận dữ: "Tôn giáo là tôn
giáo, quốc gia là quốc gia.
Tổng thống không thể nào
nhượng bộ họ được nữa. Đă
đến lúc Chính phủ phải có
biện pháp mạnh. Nếu Chính
phủ hạ lệnh th́ chỉ trong
ṿng một ngày, quân đội và
cảnh sát có thể dẹp tan
phong trào tranh đấu này".
Cha Jean đáp : "Thưa ông Cố
vấn, đây là vấn đề nguy hiểm
và rất tế nhị. . . vấn đề
Phật giáo theo tôi biết đă
có tầm mức quôc tế. ông Cố
vấn có thể nào t́m được cách
giải quyết tốt đẹp hơn là
đàn áp không”.
Ông Nhu lừ mắt nh́n cha
Jean, ông lắc đầu: “Đến nay
th́ không c̣n cách nào giải
quyết tốt đẹ pnữa. Hiện các
tướng lănh và sĩ quan cao
cấp đang bất măn với Phật
giáo, họ đang thúc xúi Tổng
thống hạ lệnh cho họ được
phép dẹp cho yên ". Cha Jean
không c̣n biết nói ǵ hơn.
ông Nhu lại tiếp tục: "Tôi
hiểu, nhiều kẻ đang âm mưu
gây rối miền Nam... Chính
phủ không thể tha thứ bất cứ
một cuộc nổi loạn nào”.
Bất chợt ông Nhu hỏi cha
Jean: "Phía Hoa kiều Chợ Lớn
cha thấy thái độ chung của
họ như thê' nào”. Cha Jean
đáp "Hoa kiều tại Việt Nam
như ông Cố vấn đă rơ, họ chỉ
biết làm ăn buôn bán". Ông
Nhu nói: "Cha có thể giúp
tôi làm mộ tviệc riêng? ".
Cha Jean đáp: “Tôi sẵn sàng
nếu thấ ycó khả năng". Ông
Nhu ngần ngại rồi đi thẳng
vào câu chuyện: "Cha có thể
giúp tôi một việc quan trọng
này ngoài cha, Tổng thống
không muôn uỷ thác cho một
ai ".
Ông Nhu lại yên lặng hút
thuốc lá lâu hàng 5, 7 phút.
Đoạn ông nói: "Cha sang Đài
Loan giúp Chính phủ được
không”. Cha Jean chưa trả
lời, ông Nhu nói tiếp: "Cha
có đủ uy tín nói chuyện với
Chính phủ Đài Bắc, làm sáng
tỏ cho họ rơ là Việt Nam
Cộng hoà không bao giờ chủ
trươg và kỳ thị tôn giáo.
Cuộc tranh đấu của Phật giá
ođang bị lợi dụng”. Cha Jean
đáp: "Thưa ông Cố vấn, tôi
nghĩ việc này ông Cố vấn nên
tiếp xúc thẳng với Dại sứ
Đài Bắc hoặc nếu không ông
Cố vấn có thể uỷ thác cho
ông Bộ trưởng Ngoại giao".
Sự từ chối khéo của cha Jean
làm ông Nhu mất b́nh tĩnh:
"Bộ trưởng Ngoại giao ấy à ?
ông ta không làm được cái
chi hết. C̣n ông đại sứ Đài
Bắc, cũng đang bị dư luận
đầu độc. Tôi muốn cha sang
Đài Loan nói cho Chính phủ
Tưởng Giới Thạch biết rơ sự
thực và cha nói giùm Chính
phủ Đài Bắc phải chấm dứt
ngay chiến dịch báo chí ở
Đài Loan hiện đang xuyên tạc
Chính phủ Việt Nam Cộng hoà
và họ đang cổ vũ cho cuộc
tranh đấu của Cộng sản duới
chiêu bài tôn giáo".
Cha Jean nói: "Xin ông Cố
vấn cho tôi tŕnh bày ư
hiên. Theo tôi, có thể nói
Cộng sản len lỏi vào hàng
ngũ tranh đấu của Phật giáo
nhưng tôi tin rằng cuộc
tranh đấu này vẫn có tính
tôn giáo đấy chứ. Tôi không
tin Thượng tọa Thích Tâm
Châu hay ông Mai là Cộng
sản. Đại sứ của ông Tưởng
Giới Thạch cũng đă nói với
tôi nhu thế. Xin ông Cố vấn
thông cảm cho sự khó khăn
của tôi, tôi xin không thể
nói ǵ khác hơn là như vậy
".
Ông Nhu hỏi: "Ngay cha cũng
tin vào dư luận là Tổng
thống sẽ thương thuyết với
Bắc Việt”. Cha Jean đáp: “Đó
là điều làm tôi ngạc nhiên
". Cha 1ại hỏi "Chắc chắn
ông Cố vấn có theo dơi hoạt
động của "Uỷ ban Hoà b́nh
phục hưng miền Nam"(Comité
pour la Paix et la
Rénovation du Sud Việt Nam).
Ông Nhu "à" một tiếng khá
lớn lắc đầu với thái độ
khinh miệt "Tôi biết tổ chức
ấy là một con số không, do
một số người Pháp đỡ đầu.
Trần Văn Hữu chắc cha biết
rơ?” Cha Jean đáp “Tôi có
gặp ông ấy một vài lần". Ông
Nhu bỗng cao hứng nói một
hơi thật dài. Đến nay cha
Jean chỉ c̣n nhớ lại một số
nét chính đại cương: "Trần
Văn Hữu hiện nay đang được
nhóm Paul Devinat Bolaert,
Pignon đỡ đầu, hắn đ̣i biết
ǵ không? Hắn đ̣i phải lật
đổ Chánh phủ này, nghĩa là
xoá bỏ chế độ này, sau đó tổ
chức một chánh phủ liên
hiệp, có Mặt trận Giải phóng
tham gia và miền Nam sẽ
trung lập" Cha Jean lại hỏi:
“Thưa ông Cố vấn nghĩ như
thế nào về đề nghị của ông
Hữu? ". Ông Nhu đáp: "Đó là
một đề nghị trẻ con, tôi
không quan tâm, nếu có nói
chuyện trung lập th́ chỉ nói
với Bắc Việt thôi chứ Mặt
trận Giải phóng chỉ là một
tổ chức phiến loạn". Cha
Jean nhân cơ hội này lại hỏi
"Thưa ông cố vấn, ông có
nghĩ đến vấn đề nói chuyện
với Bắc Việt không?”.
Ông Nhu mỉm cười: “Đó là vấn
đề chính mà hôm nay tôi cần
gặp cha và nhờ cha giúp
tôi".
BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN CHỈ
LÀ CHIẾN THUẬT TRẢ ĐŨA HOA
KỲ
Qua cuộc tiếp xúc với ông
Nhu, cha Jean nhận thấy ông
Nhu đang trải qua cơn dao
động với một thái độ quyết
liệt. Về vấn đề bắt tay với
Bắc Việt, ông Nhu tỏ ra hết
sức dè dặt. Ông vẫn không
tin tưởng vào thế trung lập
mà liên hiệp với Bắc Việt
lại càng không thể có. Ông
Nhu nhắc đi nhắc lại với cha
Jean: "Cha đă hiểu biết
nhiều về Cộng sản . . Chắc
cũng biết rơ là Tổng thống
ghét Cộng sản như thế nào".
Sau đó ông rất dè dặt tâm
sự: “ Trong t́nh thế này Hoa
Kỳ cứ gây khó khăn măi cho
Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa
tôi phải lựa chọn”. Ư ông
Nhu muốn nói là ông phải lựa
chọn một thế đứng mới làm
điều kiện trả đũa áp lực của
Hoa Kỳ. Cha Jean cũng nhận
thấy chưa bao giờ ông Nhu
lại tỏ vẻ tức giận Hoa Kỳ
như vậy. Trong cuộc gặp gỡ
hôm ấy, ông Nhu muốn nhờ Cha
Jean qua Đài Loan rồi trở về
Paris. Về việc qua Đài Loan
ông Nhu cho biết ông rnuốn
nhờ cha Jean nói với nhà cầm
quyền Đài Loan biết rằng,
Tổng thống Diệm vẫn giữ vững
lập trường chống Cộng không
có vấn đề liên hiệp, tuy
nhiên ông Nhu nhấn mạnh "Tuy
nhiên nếu quốc gia chống
Cộng như Trung Hoa dân quốc
(1) không giúp đỡ tích cực
Việt Nam Cộng hoà và không
làm cách nào cho Mỹ bớt gây
rối Miền Nam th́ buộc ḷng
Việt Nam cộng hoà phải chọn
lựa, nghĩa là sẽ có chuyện
ngưng bắn và thiết lập quan
hệ ngoại giao b́nh thường
với Bắc Việt”.
Điểm sau cùng mà ông Nhu
nhấn mạnh "Chánh phủ Việt
Nam Cộng ḥa hoàn toàn ủng
hộ Trung Hoa Dân quốc và
chính v́ thế mà Hoa kiều tại
Việt Nam Cộng hoà đă hưởng
mọi ân huệ. Nếu t́nh thế
thay đổi nghĩa là khi Chính
phủ Việt Nam Cộng hoà buộc
ḷng phải bắt tay với Cộng
sản Bắc Việt th́ lúc ấy Hoa
kiều không c̣n được hưởng ân
huệ như vậy và các tổ chức
ch́m nổi của Chính phủ Đài
Loan tại miền Nam Việt Nam
cũng sẽ khó khăn rồi tự nó
tan ră".
Trước khi ra về ông Nhu nắm
chặt tay cha Jean tiễn ra
tận hành lang, ông nhắc đi
nhắc lại:"Bất cứ một người
Công giáo nào cũng không thể
nghi ngờ được lập trường
chống Cộng của Tổng thống".
Ông Nhu ngập ngừng khẽ nhún
vai, dáng điệu ấy cho đến
nay cha Jean vẫn chưa thể
quên. Ông Nhu nói: "Lập
trường chống Cộng phải đi
song song với lập trường dân
tộc. Nếu Hoa Kỳ không tôn
trọng quyền tự quyết của dân
tộc Việt Nam th́ buộc ḷng
Tổng thống sẽ phải xét lại
công cuộc viện trợ. Chắc Cha
đă rơ nhiều quốc gia sẵn
sàng viện trợ cho Việt Nam,
Tổng thống sẽ cân nhắc lựa
chọn". Trong buổi tiếp xúc
này, ông Nhu nói có vẻ muốn
thanh minh hai điểm quan
trọng.
1) Không có chuyện đàn áp
Phật giáo.
2) Tập thể Công giáo cứ yên
tâm và tin tưởng vào lập
trường chống Cộng của Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm.
Từ Cha Jean cho đến bác sĩ
Trần Kim Tuyến và giới thân
cận với ông Nhu đều nhận
định rằng ông Nhu muốn thoát
khỏi ảnh hưởng của Mỹ, muốn
t́m một thế đứng mới, nhưng
chuyện mưu đồ bắt tay với
Cộng sản chỉ là một chiến
thuật mặc cả với Hoa Kỳ.
Nhưng Hoa Kỳ lại dùng chiến
thuật "gậy ông đập lưng ông"
quật ngă ông Nhu, khi họ cố
t́nh cho rằng ông Nhu bắt
tay với Cộng sản. Một số
tướng lănh và sĩ quan cao
cấp Việt Nam Cộng hoà đă bị
Hoa Kỳ lung lạc tinh thần
bằng cái dư luận: ông Nhu
định điều đ́nh với Cộng sản.
Thực sự cơ quan CIA không
thiếu ǵ phương tiện, nhất
cử nhất động của ông Nhu
không qua khỏi con mắt của
CIA. Có lẽ vấn đề ông Nhu
bắt tay với Cộng sần không
làm Mỹ lo ngại bằng vấn đề
bang giao Việt-Pháp mỗi ngày
càng thêm tốt đẹp, sau nữa
là thái độ quá cứng rắn của
ông Diệm trước những đề nghị
của Mỹ mà ông Diệm cho rằng
xâm phạm đến chủ quyền miền
Nam Việt Nam (như vụ Cam
Ranh, đề nghị đặt Cố vấn Mỹ
cạnh Tỉnh trưởng Việt Nam,
lập pḥng Dân vụ Mỹ cạnh Toà
Đại biểu Chính phủ. Sau năm
1963 những vấn đề này được
Chính phủ sau đảo chính thoả
măn ngay).
Trước năm 1962, bang giao
Việt - Pháp vẫn tẻ lạnh như
buổi chợ chiều. Chánh phủ De
Gaulle không một chút thân
thiện nào đối với Việt Nam
Cộng hoà. Theo những tài
liệu mà chúng tôi t́m hiểu
th́ Tổng thống Diệm do sự
thúc đẩy của ông Nhu đă gián
tiếp ngỏ ư muốn qua hành
hương tại Lourdes và nhân
cuộc hành hương này tướng De
Gaulle sẽ chính thức mời
Tổng thống Diệm thăm viếng
Paris. Song điều đó bất
thành.
---------------------------------------------------
(1) Tức Đài Bắc
CHẮP NỐI DUYÊN XƯA
Theo cha Jean th́ không phải
chỉ năm 1963 ông Nhu mới
nghĩ đến chuyện phát triển
bang giao Việt - Pháp và t́m
điểm tựa mới nơi chính phủ
De Gaulle. Năm 1961 trong
chuyến du hành qua Maroc dự
lễ đăng quang Đức vua Hassan
II ông Nhu nhân dịp này ghé
qua Paris với tư cách riêng.
Tuy vậy ông Nhu cũng đến
thăm xă giao Ngoại trưởng
Pháp Couve de Murville. Tuy
với tư cách riêng Ngoại
trưởng Couve de Murville
cũng mở dạ tiệc khoản đăi
ông Nhu với sự hiện diện của
Đại sứ Laloutte và ông
Étienne Manach đặc trách Á
Châu sự vụ tại Bộ Ngoại giao
Pháp. Tuy không đạt được một
kết quả cụ thể nào nhưng
chuyến thăm viếng Paris lần
này ông Nhu đă phá được bầu
không khí tẻ lạnh giữa chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm với
Pháp. Kể từ năm 1961, ông
Manach trở thành nhịp cầu
thông cảm giữa hai Chính
phủ. Hơn nữa vẫn theo cha
Jean, ông Manach rất có
thiện cảm với ông Nhu - một
cựu sinh viên trường Cổ học
Paris- đó cũng là điểm hào
quang dễ dàng thu hút sự cảm
phục của giới ngoại giao
Pháp. Trước năm 1960, các
cha thừa sai Pháp (MPE) từng
tỏ ra bị lạnh nhạt bởi chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm, nhưng
sau năm 1960 thái độ của ông
Diệm đă thay đổi. Tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm trở lại ưu ái
các cha thừa sai Paris, đặc
biệt những cha hoạt động tại
Cao nguyên th́ Tổng thống
mỗi ngày càng thêm tín nhiệm
và kính phục. Đó cũng là tia
sáng soi đường cho quan hệ
thân thiện với Pháp. Một trí
thức cỡ như Ngô Đ́nh Nhu tất
nhiên dễ dàng thông cảm với
Pháp hơn. Cái văn minh cơ
khí của Mỹ có tiền dollars
viện trợ dù to tát như thế
nào cũng khó ḷng đè bẹp
được cái tinh hoa văn học
Pháp, đă tiêm nhiễm sâu xa
trong con người trí thức như
Ngô Đ́nh Nhu.
Đó cũng là điều dễ hiểu khi
ông Nhu giơ bàn tay tiếp
nhận người bạn Pháp. Đó cũng
là lư do dễ hiểu tại sao
những năm 1960-1961 chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm cho mở
hàng loạt các toà Đại sứ tại
các quốc gia Á Phi thuộc ảnh
hưởng của Pháp. Trong một
bài báo nhan đề “La Paix
manquée en" của kư giả
Georges Chaffard (Express số
990) nhận định rằng trong
cuộc gặp gỡ. Couve de
Murville - Ngô Đ́nh Nhu
(1961) đă không đạt được kết
quả v́ ông Nhu tự ái. Couve
de Murville lại tỏ ra lạnh
nhạt. Chaffard viết: "ông
Couve de Murville tin rằng
bởi thế nào chuyến sang Pháp
lần này ông Nhu cũng ve văn
Pháp, nhưng ông Couve de
Murville đă thất vọng v́
trong suốt bữa tiệc ông Nhu
chỉ đề cao chính sách của
anh em ông, ca ngợi khu trù
mật và tự hào về chế độ Ngô
Đ́nh Diệm đang mạnh". Vẫn
theo Chaffard th́ ông
Etienne Manach linh cảm rằng
ông Nhu sang Pháp không phải
chỉ để nói những lời "suông"
như vậy ông Etienne Manach
lại bố trí một cuộc hội đàm
Ngô Đ́nh Nhu với Couve de
Murville khi ông Nhu từ
Rabat (Maroc) trên đường ghé
về qua Ba lê. Cuộc hội đàm
không đi đến đâu... nhưng đó
là cái mốc lớn mở đầu cho
giai đoạn mới mà Đại sứ
Lalouette đóng một vai tṛ
quan trọng. Đại sứ Lalouette
đă hiểu rơ sự rạn nứt trong
mối t́nh đồng minh Mỹ- Diệm.
Sự mâu thuẫn giữa Việt-Mỹ
ngày càng gia tăng và ông
Nhu đă hơn một lần gián tiếp
ngỏ ư cho Đại sứ Lalouette
hay rằng đă đến lúc
Pháp-Việt phải cải thiện
quan hệ bang giao và người
Pháp có thể đóng một vai tṛ
quan trọng tại bán đảo Đông
Dương. Đại sứ Lalouette trở
thành người bạn thân của cả
Tổng thống Diệm lẫn ông Ngô
Đ́nh Nhu. Lalouette đóng vai
tṛ biện hộ cho chế độ Ngô
Đ́nh Diệm trước thái độ nghi
ngờ của tướng De Gaulle - v́
De Gaulle vẫn chưa quên bài
học đau đớn 1954-1955, một
mặt bị Mỹ đá khỏi Việt Nam
một mặt chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm tẩy chay Pháp. Theo
Georges Chaffard nhận định
th́ theo ông Lalouette anh
em ông Diệm quá nhiều tự ái
dù anh em ông ta muốn ve văn
Pháp đến mức nào đi chăng
nữa, anh em ôngDiệm cũng
không nói thẳng ra được. Dần
dần, tướng De Gaulle ngả
theo chiều hướng thuyết phục
của Đại sứ Lalouette.
Nghĩa là: Với sự mâu thuẫn
Việt-Mỹ, khi mà ông Nhu muốn
t́m một thế đứng mới, th́
đây là một cơ hội tốt nhất
để Pháp nhảy vào Đông Dương,
đóng vai tṛ mới.
Tưởng cũng nên ghi lại một
biến cố ngoại giao đáng cho
Hoa Kỳ lo ngại. Tháng
2-1963, một phái đoàn dân
biểu của chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm chính thức qua
viếng thăm Pháp quốc do ông
Trương Vĩnh Lễ hướng dẫn,
gồm có các dân biểu Nguyễn
Hữu Chỉnh, Hà Như Chi,
Nguyễn Quốc Hưng, Trần Văn
Thọ. Phái đoàn dân biểu Việt
Nam Cộng ḥa được đón tiếp
một cách khác thường, Tổng
thống De Gaulle đă tiếp phái
đoàn tại điện Elyssée và
cuộc hội kiến kéo dài 35
phút. Báo chí Pháp trong
ngày 14-2-1963 đă nhận định
về cuộc hội kiến này. Tờ Le
Monde cũng như France Soi
coi đây là một biến cố lớn,
một khúc quanh quan trọng
trong cuộc bang giao
Việt-Pháp. Ngày 15-2, Thủ
tướng Pompidou cùng với
Ngoại trưởng Couve de
Murville đă thảo luận rất
lâu với phái đoàn dân biểu
Việt Nam Cộng ḥa với sự
tham gia gần như đủ mặt giới
danh thương và kỹ nghệ Pháp.
Người hoan hỉ nhất trong dịp
này là Đại sứ Lalouette. Ông
Đại sứ đă thành công trong
chặng đầu...Từ đó trở đi,
Đại sứ Lalouette trở thành
một Đại sứ quan trọng sau
Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n.
Phản ứng của Hoa Kỳ như thế
nào ? Dĩ nhiên Hoa Kỳ không
thể công khai phản đối mối
t́nh Việt-Pháp nhưng Hoa
Thịnh Đốn bắt đầu phản công
lại.
Đại tá Lansdale Fishel người
đă từng ủng hộ hết ḷng Tổng
thống Diệm trong thời gian
1954-1955 th́ 1963 lại là
người tích cực vận động lật
đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm,
Fishel từng lưu ngụ tại miền
Nam Việt Nam và đă từng cộng
tác với chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm th́ 1963 ông lại chủ
trương phải lật đổ ngay Ngô
Đ́nh Diệm dù phải dùng biện
pháp sắt kể cả việc thanh
toán cá nhân Tổng thống
Diệm.
CHÍNH HOA KỲ ĐĂ ĐẨY ÔNG
NHU VÀO THẾ CHÂN TƯỜNG
Kể từ khi Trung Hoa Dân quốc
thiết lập một số đài kiểm
thanh tại Nam Việt Nam
(chẳng hạn Đài Kiểm thính
Phú Bài Huế) th́ hiệu năng
t́nh báo gia tăng mạnh mẽ.
Điều đáng kể những đài kiểm
thính này đều đặt dưới quyền
kiểm soát trực tiếp của Sở
nghiên cứu chính trị. Nhân
viên Trung Hoa Dân quốc tự
coi như nhân viên của sở
nghiên cứu chính trị Nam
Việt Nam. Không những đài
kiểm soát được toàn bộ các
làn sóng điện của Bắc Việt,
Lào mà c̣n bao trùm cả miền
Hoa Nam. Tuy nhiên có một
điều Hoa Kỳ không vừa ư là
kết quả khai thác của đài
kiểm thính đă không được
chuyển giao cho Hoa Kỳ. Măi
sau này, khi cuộc chiến bộc
phát mạnh, Hoa Kỳ mới thiết
lập một Trung tâm Kiểm thính
khác (1962) gần Bộ Tổng Tham
mưu để họ sử dụng riêng
trong phạm vi cơ quan MAC.V
(l)
Qua vụ Đài Kiểm thính ta
cũng thấy rơ một phần nào
bản chất viện trợ của Mỹ tại
xứ này. Rồi vụ Đài Phát
thanh Sài G̣n nữa. Khoảng
đầu năm 1960 Tổng thống Diệm
muốn gia tăng hiệu năng vô
tuyến truyền thanh th́ đài
Sài G̣n lại quá yếu. Ngân
sách không cho phép phát
triển theo ư muốn, để đương
đầu với hiệu năng quá lớn
mạnh của Đài phát thanh Hà
Nội. Tất nhiên là phải yêu
cầu Hoa Kỳ viện trợ. Song
người Mỹ chỉ đồng ư viện trợ
máy móc tối tân cùng với
chuyên viên điều khiển của
họ. Tổng thống Diệm cho rằng
đây là một tṛ chơi nguy
hiểm. ông Nhu cũng lo ngại
v́ nếu máy móc đặt trong tay
chuyên viên Hoa Kỳ th́ nếu
có một biến cố lớn xảy ra,
Hoa Kỳ có thể chơi xấu và
phá đám bằng khả năng kỹ
thuật của họ. Phía Nam Việt
Nam có đề nghị Hoa Kỳ huấn
luyện chuyên viên của ḿnh
và chỉ cần viện trợ máy móc
cũng quá đủ. Đề nghị này
không được Hoa Kỳ chấp
thuận, cuối cùng Tổng thống
Diệm cũng bỏ qua không nhắc
nhở đến nữa.
Kể từ năm 1962 thế lực Mỹ
mỗi ngày càng gia tăng và
bao trùm nhiều ngành sinh
hoạt quốc gia, chiến tranh
càng lan rộng th́ thế lực Mỹ
cũng có nhiều cơ hội thuận
tiện nhất để khống chế chế
độ Ngô Đ́nh Diệm. Theo bác
sĩ Tuyến th́ ông Nhu tâm sự
rằng: "Ngân sách quốc pḥng
tăng như rứa, viện trợ như
rứa... buộc phải t́m lại thế
quân b́nh. Chiến tranh càng
kéo dài càng bất lợi cho chế
độ. " Theo ông Nhu (thường
thổ lộ ư kiến với bác sĩ
Trần Kim Tuyến cũng như một
số cộng sự viên thân cận)
th́ chiến tranh sẽ phải sớm
chấm dứt. Một là dốc toàn
lực để đè bẹp Cộng sản. Nếu
hai bên c̣n nghiêng ngửa và
chiến tranh có chiều hướng
kéo dài th́ phải t́m cách
chấm dứt bằng giải pháp
chính trị. Ông Nhu tin tưởng
ấp chiến lược là một căn bản
và một ưu thế cho giải pháp
chính trị để chấm dứt chiến
tranh. Khi khả năng quốc
pḥng và chiến tranh phải
tuỳ thuộc vào viên trợ Mỹ
th́ sự mất mát chủ quyền là
một điều khó có thể tránh
khỏi. Theo Lương Khải Minh
cũng như những nhân vật
trọng yếu gần Tổng thống
Diệm th́ vấn đề chủ quyền
quốc gia đối với Tổng thống
Diệm là vấn đề số 1. Chủ
quyền quốc gia gắn liền với
tính tự ái quá cao của ông
Tổng thống. Bằng chứng là
năm 1961, 1962 các cố vấn
quân sự Mỹ khuyến cáo chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm băi bỏ
ngành hiến binh. Lúc đầu
Tổng thống Diệm có vẻ thuận
ư qua lời tŕnh bày của Bộ
trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần.
Ông Thuần cũng chỉ tŕnh
theo đề nghị của cố vấn quân
sự Mỹ. Tổng thống Diệm có
một điểm do dự là hiện ngành
hiến binh, đang phục vụ đắc
lực, ông Tổng thống vẫn tin
tưởng vào hiến binh v́ cho
rằng hiến binh “làm việc
đúng đắn rành luật pháp".
Nhưng sau đó Tổng thống Diệm
cho xếp lại và vẫn duy tŕ
ngạch hiến binh. Tổng thống
Diệm bảo ông Thuần: "Cứ thư
thả, không có ǵ thay đổi
hết, họ (tức Hoa Kỳ) nói sao
ḿnh làm vậy th́ c̣n ǵ là
thể thống quốc gia". Sự thực
lúc đầu Tổng thống Diệm cũng
nghiêng theo lời tŕnh bày
của ôngThuần nhưng bỗng hầm
hầm nổi giận khi ông Thuần
cho biết, cố vấn quân sự Mỹ
muốn băi bỏ ngành hiến binh
chỉ v́ quân đội Hoa Kỳ không
có ngành này ( MP đảm trách
mọi việc). Cố vấn quân sự Mỹ
cho rằng đă có quân cảnh rồi
th́ hiến binh không cần
thiết và sẽ có riêng loại
quân cảnh hiếnbinh. Cố vấn
Mỹ cho biết, nếu không băi
bỏ ngành hiến binh th́ Hoa
Kỳ không thể dành một ngân
khoản viện trợ cho một ngành
không cần thiết như vậy.
Tổng thống Diệm coi đây là
một áp lực và vô t́nh đă xúc
phạm đến tự ái của một vị
Tổng thống cai trị dân theo
quan niệm "thiên mệnh". Do
đó mà ngành hiến binh bao
nhiêu lần có tin đồn băi bỏ
rồi rút cuộc vẫn được duy
tŕ cho đến ngày sau đảo
chính 1-11-1963.
Trên đây là một vài sự kiện
trong bao nhiêu sự kiện khác
và đó cũng là một nguyên
nhân đẩy ông Nhu vào một sự
lựa chọn mới .
--------------------------------------------
(1) Cơ quan t́nh báo quân sự
Mỹ.
KHÔNG THỂ LÀM TAY SAI MỘT
CÁCH TRƠ TRẼN
Mâu thuẫn Việt-Mỹ càng trầm
trọng khi chiến cuộc mỗi lúc
càng gia tăng. Trước hết
Việt-Mỹ đă xung khắc ngay từ
buổi đầu của cuộc hôn nhân.
Nói đúng hơn, miền Nam Việt
nam trở thành một phận gái
hẩm hiu do cảnh ngộ của lịch
sử mà phải ép duyên gán nợ
cho một anh chồng trọc phú.
Xin trở lại vụ đài phát
thanh để dễ dàng sáng tỏ
tính chất xung khắc qua cuộc
hôn nhân miễn cưỡng này.
Tổng thống Diệm khao khát có
được một đài phát thanh tối
tân và hiệu năng của nó có
thể tương đương với đài Hà
Nội, trước hết v́ đ̣i hỏi
phải có một chiến lược chính
trị trường kỳ tại Bắc Việt
với hiệu năng lớn mạnh của
đài Sài G̣n th́ chính quyền
miền Nam mới để dành một
chương tŕnh đặc biệt hướng
về toàn thể miền Bắc và xa
hơn nữa là Lào và Bắc Thái
Lan là nơi có hàng ngàn Việt
kiều cư ngụ. Đài Sài G̣n
không đủ khả năng hoạt động
trong một khu vực rộng lớn
như vậy. Chính quyền miền
Nam đành bó tay v́ Hoa Kỳ từ
chối lời yêu cầu tối tân hoá
đài Sài G̣n. Trong khi đó
th́ Hoa Kỳ sẵn sàng viện trợ
cho Nam Việt Nam một đài
tiếp vận địa phương (mà ngân
khoản tổn phí có thể gấp đôi
ngân khoản tối tân hoá đài
Sài G̣n).
Tại sao có vụ mâu thuẫn kỳ
cục như vậy ? Điều giản dị
là Hoa Kỳ muốn độc quyền
truyền thanh "tiếng nói
chống cộng" của họ qua bức
màn sắt Hoa Kỳ không muốn
miền Nam được quyền "chia
sẻ"... Cho đến lúc bấy giờ
đài Sài G̣n vẫn không có ǵ
khả quan hơn xưa. Điều mà
trước năm 1963 Tổng thống
Diệm ao ước có một chương
tŕnh phát thanh đặc biệt
hướng về miền Bắc (với một
hiệu năng tối đa) th́ đă có
(1964-1970) nhưng chương
tŕnh ấy lại nằm trong hệ
thống đài VOF(Voice of
Freedom) tuy đài đặt ngay
tại Sài G̣n và do nhân viên
người Việt đảm trách nhưng
thực chất của nó là của Hoa
Kỳ qua miệng người Việt.
Tóm lại Hoa Kỳ quan niệm Đài
Phát thanh Sài G̣n chỉ có
một nhiệm vụ thông tin tuyên
truyền trong lănh thổ miền
Nam c̣n miền Bắc đă có Hoa
Kỳ lo liệu (trước hết là Đài
VOA sau là Đài VOF). Trí
thức Ngô Đ́nh Nhu thúc thủ
trong một thực tại viện trợ
như vậy th́ chỉ c̣n con
đường là cam phận làm tay
sai một cách thiếu thông
minh và trơ trẽn. Ông Nhu
lựa chọn một thế đứng mới
tức là lựa chọn một con
đường giải thoát khỏi ông
chủ keo kiệt. Tiếc thay con
đường đó lại đem đến sự giải
thoát vĩnh viễn cho ba anh
em ông Nhu. Nói ra những mâu
thuẫn Việt Nam Cộng ḥa và
Mỹ th́ nhiều lắm. Mâu thuẫn
về quan điểm lập
trường...mâu thuẫn về chiến
thuật, chiến lược.v.v. Khi
ông Nhu trở lại thân thiện
với Pháp, th́ chỉ là một
chiến thuật tạo thế chân vạc
và cũng là điều kiện dọa Hoa
Kỳ "nếu anh bắt bí tôi quá
tôi bỏ anh…"
"Tôi sẽ không cô đơn. De
Gaulle đă sẵn sàng" . Một
khi De Gaulle thân thiện với
miền Nam th́ lẽ dĩ nhiên
Sihanúc sẽ không theo đuổi
chính sách thù nghịch với
miền Nam nữa và đó cũng là
con đường đưa đến thoả hiệp
với miền Bắc. Trước sau cái
gút của vấn đề chỉ là Pháp.
CIA không khi nào để cho
miền Nam một mặt sống v́
viện trợ Mỹ, một mặt lại đưa
tay nắm bàn tay De Gaulle
(vẫn bị coi như kẻ thù của
Mỹ) CIA không e ngại những
toan tính của ông Nhu trong
việc t́m một thế thoả hiệp
với Cộng sản Bắc Việt nhưng
CIA coi việc miền Nam thân
thiện với Pháp là một biến
cố nguy hiểm và phải đập vỡ
từ trong trứng nước.
CÁI THẾ CỦA KẺ KHÓ ĂN
ĐONG
Riêng những công tác t́nh
báo tại miền Bắc (phần đầu
đă nói sơ qua) th́ Hoa Kỳ và
chính quyền miền Nam đă bất
đồng sâu xa. Chính quyền
miền Nam muốn chú trọng về
t́nh báo chiến lược, Hoa Kỳ
ngược lại chỉ chấp thuận
những hoạt động có tính cách
t́nh báo chiến thuật. Phương
tiện hoạt động của Sở nghiên
cứu lúc đầu đều tuỳ thuộc
vào khả năng viện trợ của
Mỹ. Mà Mỹ viện trợ cho từng
điệp vụ và những vụ này phải
là những công tác phối hợp
tay đôi (Việt và Mỹ). Năm
1957, chính quyền miền Nam
rất muốn thực hiện một kế
hoạch t́nh báo chiến lược
tại miền Bắc, trước hết nhằm
vào các vùng thượng du (Móng
Cái, Đầm Hà, Tiên Yên, Lai
Châu, Hoà B́nh) sau là hai
miền Bùi Chu, Phát Diệm. Nếu
kế hoạch này được thực hiện
với phương tiện dồi dào th́
sẽ tiến đến sự thành lập một
Mặt trận giải phóng miền Bắc
làm động cơ phát động du
kích chiến đấu chống cộng từ
mỗi cục bộ địa phương nhằm
đến toàn bộ miền Bắc.
Muốn được như thế đ̣i hỏi
một ngân khoản quá lớn lao
và một sự đài thọ liên tục
và dồi dào. Cuối cùng kế
hoạch ấy chỉ c̣n là mộng ảo
và Hoa Kỳ chỉ thoả thuận tài
trợ cho những điệp vụ phối
hợp có tính trắc nghiệm khả
năng t́nh báo (cả miền Bắc
lẫn miền Nam) . Những điệp
vụ phối hợp đó chỉ nhằm thả
người ra miền Bắc với nhiệm
vụ thâu lượm tin tức, gây
rối phá hoại như phá hoại
đường xe lửa, ném lựu đạn,
đặt chất nổ, nghĩa là hoàn
toàn có tính cách chiến
thuật giai đoạn. Chống Cộng
mà lại chống ngay trong vùng
Cộng sản (Bắc Việt) th́ như
thế quả thật là ngây ngô lố
bịch v́ không khác ǵ kẻ cho
ăn đong giữa khi đói kém,
khốn nỗi miền Nam lại vào
thế của kẻ khó ăn đong mà
Hoa Kỳ th́ nắm hầu bao rất
chặt.
Đại cương sự bất đồng giữa
Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam
là như vậy.
__________________
TÔI CHỈ
CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT
NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|
09-04-2008, 09:05 PM
|
|
 |
|
|
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
CHÍNH QUYỀN
NGÔ Đ̀NH DIỆM - SIHANÚC VÀ
MỸ.
Trong khi Hoa Kỳ t́m cách
loại bỏ ảnh hưởng của Pháp
tại miền Nam th́ ngược lại
họ vẫn củng cố Sihanúc mặc
dầu ai cũng biết Sihanúc chỉ
là con cờ của Pháp phải duy
tŕ bằng bất cứ giá nào tại
Đông Dương.
Năm l956 ông Ngô Đ́nh Nhu
qua Campuchia cùng với chủ
trương ve văn Sihanúc. Lúc
ấy Hoa Kỳ chưa phải là thế
lực đáng kể tại bán đảo Đông
Dương. Và Hoa Kỳ tán trợ
đường lối ve văn Sihanúc của
ông Nhu. Theo bác sĩ Trần
Kim Tuyến th́ ông Nhu được
Sihanúc đón tiếp một cách
trọng thể. Tuy không có nghi
lễ chính thức nhưng ông
Sihanúc đă dành cho ông Nhu
một ngoại lệ, nghĩa là tiếp
ông như một quốc trưởng. Sau
đó Sihanúc chính thức được
mời qua thăm Việt Nam Cộng
ḥa và dịp này Sihanúc được
đón tiếp hết sức trọng thể.
Cuộc hội đàm Sihanúc-Ngô
Đ́nh Nhu được coi là rất tốt
đẹp. Nhưng Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm vốn là người không
khéo léo trong sự giao tế
qua h́nh thức nghi lễ nên
theo bác sĩ Tuyến, trong
cuộc gặp gỡ Sihanúc, Tổng
thống Diệm vẫn giữ vẻ mặt
trang nghiêm đạo mạo. . .Do
đó mà thiếu sự thân mật cởi
mở cần phải có đối với một
người khôn khéo và có tài
"diễn xuất" như Sihanúc.
Kết quả là khi trở về nước
Sihanúc lại tiếp tục chính
sách ve văn Cộng sản và bất
thân thiện với miền Nam.
Cũng từ đó Việt Nam Cộng hoà
và Campuchia giữ miếng nhau.
Theo bác sĩ Tuyến, ông Nhu
chủ trương "phải triệt hạ
cho bằng được Sihanúc". Khi
ông Nhu chủ trương như vậy
th́ Hoa Kỳ tiếp tục ve văn
Sihanúc. Một xa lộ thênh
thang nối liền Campuchia với
Sihanúcvilie được Mỹ thực
hiện để làm quà dâng cho ông
vua xứ chùa tháp. Rồi một
bệnh viện lớn cũng được Hoa
Kỳ xây cất tại Campuchia .
Nhưng Sihanúc vẫn tiếp tục
chính sách riêng của ông ta
và tiếp tục công kích Mỹ. Xa
lộ Nam Vang biệt thự Sihanúc
do Mỹ viện trợ khánh thành
chưa được bao lâu th́
Trung-cộng lại nhảy vào viện
trợ cho Campuchia và dựng
lên cả một hệ thống cột điện
chạy dài trên xa lộ của Mỹ.
Bệnh viện tại Nonpênh do Mỹ
xây cất th́ lại do Nga-xô
viện trợ máy móc cùng các đồ
trang bị thuốc men với một
số bác sĩ Nga. Dù ve văn, Mỹ
vẫn bị Sihanúc đá bay khỏi
Campuchia.
Tuy vậy, Mỹ vẫn cố gắng t́m
mọi cơ hội ve văn Campuchia
và đồng thời ngăn chặn không
cho miền Nam phá Sihanúc.
Hậu quả là Mỹ vẫn "tay
trắng" tại Campuchia. Nhưng
Mỹ muốn tách biệt miền Nam
với Campuchia. Chúng tôi kể
lại đây một câu chuyện mưu
sát Sihanúc do miền Nam chủ
động, nhưng Mỹ lại chịu tai
bay vạ gió và nồng độ chống
Mỹ của Sihanúc càng tăng.
Đây cũng là một thí dụ cho
biết rằng đối với Mỹ th́
đừng có do dự khúm núm và
phải đặt Mỹ vào trước những
việc đă rồi và phải trói
chặt chân họ vào những biến
cố. Và ta phải làm chủ biến
cố. Chính sách chủ nhân ông
độc quyền của Mỹ, dân nhược
tiểu phải biết điều đó.
Tháng 8 năm 1963, bà Ngô
Đ́nh Nhu nói trong phiên họp
Phụ nữ Liên đới rằng "Phải
trói chân, trói tay mấy
thằng phiêu lưu đó (ám chỉ
Mỹ) mà hành hạ". Câu nói đó
tuy có đại ngôn nhưng nghĩ
lại cũng đáng cho ta suy
nghĩ. Trở lại câu chuyện ám
sát Sihanúc năm 1961 th́ đó
cũng chỉ là " trước ám sát
Sihanúc " "sau hành hạ Mỹ
cho vui". Số là, sau khi ông
Ngô Trọng Hiếu rời khỏi chức
vụ đại diện Nam Việt Nam tại
Campuchia th́ toà đại diện
Nam Việt Nam vẫn duy tŕ cơ
sở như cũ. NamViệt
Nam-Campuchia tuy rất căng
thẳng nhưng chưa đến nỗi
đoạn giao. Mặc dù vậy cơ
quan t́nh báo Phủ Tổng thống
vẫn nhận được chỉ thị phải
"hạ" Sihanúc bằng bất cứ
cách nào. âm mưu này muốn
đạt được kết quả th́ trước
hết phải canh chừng Mỹ. Xử
lư chức vụ đại diện lúc ấy
là ông Phạm Trọng Nhơn một
điệp viên của Nam Việt Nam
hoạt động tại Nonpênh có
biết được một kỹ sư Mỹ (có
trách nhiệm thiết lập xa lộ
Nonpênh vườn Sihanúc) là chỗ
quen thân của họ Sihanúc. Bà
mẹ Sihanúc lại nổi tiếng là
người thích nhận hối lộ và
quà biếu. Điệp viên này được
mật lệnh của Phủ Tổng thống
là phải bám sát viên kỹ sư
người Mỹ và t́m cánh "khai
thác" ông ta nếu có thể
được. Điệp viên kể trên báo
cáo cho cơ quan t́nh báo Phủ
Tổng thống biết là viên kỹ
sư Mỹ sắp lên đường về Mỹ
qua ngả Hong Kong. Ngày lên
đường về Mỹ viên kỹ sư người
Mỹ có đến chào cáo biệt Quốc
trưởng Sihanúc và Hoàng Thái
hậu. Đó cũng là ngày Sài G̣n
bật đèn xanh cho phép các
điệp viên hành nghề. Réseau
tại Nonpênh có chuyển về Sài
G̣n một tấm danh thiếp của
viên kỹ sư Mỹ này cùng bút
tích của ông ta. Lập tức cơ
quan t́nh báo Phủ Tổng thống
in lại một số danh thiếp của
viên kỹ sư Mỹ (rập đúng y
khuôn) và trao phó cho một
chuyên viên nghiên cứu kiểu
chữ của ông ta và sẽ giả mạo
kiểu chữ này cho công tác
điệp vụ. Kế hoạch được tŕnh
bày lên ông Nhu và ông hoàn
toàn tán thành. Sau đó hai
chiếc vali tuyệt đẹp được
dùng vào việc giết Quốc
trưởng Sihanúc. Chiếc va li
thứ nhứt th́ b́nh thường
trong đựng một số kỷ vật quư
giá xuất xứ tại Hong Kong.
Chiếc vai thứ hai chính nó
sẽ quyết định số mạng của
Sihanúc, trong đó ngoài một
số kỷ vật c̣n có một cái hộp
ngà hảo hạng xuất xứ từ Đài
Loan, một loại chất nổ ghê
gớm cực mạnh (dành cho các
điệp viên) được cho vào hộp
cùng với một bộ phận cơ bẩm
tinh vi khác và bộ phận này
được nối với nắp va li khi
mở vali th́ tự động chất nổ
sẽ bộc phát ngay. Sau khi
hoá trang và làm dấu cẩn
thận. . . hai chiếc vali này
được đưa lên xe mang biển số
ngoại giao của ông đại diện
Phạm Trọng Nhơn. Chính ông
Phạm Trọng Nhơn có nhiệm vụ
chuyên chở hai chiếc va li
này lên Nonpênh nhưng ông
cũng không biết được "nội
dung" ra sao và ông Nhơn
cũng chỉ "cảm thấy" có
chuyện ǵ khác lạ sắp xảy
ra.
SIHANÚC THOÁT CHẾT
VÀ KẾ HOẠCH CỦA ÔNG NHU BẤT
THÀNH.
Nhờ xe mang biển số ngoại
giao đoàn của ông Phạm Trọng
Nhơn nên hai chiếc vai "nguy
hiểm" đă vượt qua biên giới
và đến toà Đại diện hoàn
toàn tốt đẹp. Tại Sài G̣n,
cơ quan t́nh báo Phủ Tổng
thống theo dơi từng giây
phút với bao nhiêu lo âu hồi
hộp. Nếu như bị t́nh báo
Campuchia khám phá th́ bang
giao Campuchia -Nam Việt lần
này sẽ đứt đoạn luôn không
c̣n ǵ hàn gắn được nữa. Ông
Ngô Đ́nh Nhu cùng mấy cộng
sự viên thân cận đă tính
toán thế này: nếu giết được
Sihanúc th́ việc đầu tiên
phải đưa Sơn Ngọc Thành về
Campuchia để làm chủ t́nh
h́nh.
Ngoài mấy điệp viên chủ chốt
th́ Toà đại diện Nam Việt
Nam không một ai hay biết ǵ
về âm mưu này, kể cả ông đại
diện Phạm Trọng Nhơn cũng
chỉ được "rỉ tai” sơ qua là
sẽ có một vụ nổ lớn.
Theo kế hoạch đă dự định,
điệp viên Nguyễn Nhơn cải
trang thành một nhân viên
của nhà thầu Mỹ nơi mà viên
kỹ sư Mỹ này phục vụ. Khoảng
9 giờ sáng, điệp viên Nhơn
dùng xe hơi vào Hoàng cung
xin yết kiến viên Giám đốc
Nghi lễ Hoàng cung để trao
tặng phẩm của viên kỹ sư Mỹ.
Nhơn nói là viên kỹ sư Mỹ
khi ghé qua Hong Kong đă mua
hai vali tặng phẩm này để
gửi tặng Quốc trưởng Sihanúc
và ông Giám đốc Nghi lễ.
Giám đốc Nghi lễ Hoàng cung
Campuchia cũng là chỗ bạn
thân của viên kỹ sư Mỹ nên
không do dự ǵ cả và ông vui
vẻ nhận hai va li quư giá.
Chiếc va li thứ nhất tặng
viên Giám đốc Nghi lễ cùng
với danh thiếp của viên kỹ
sư Mỹ và trên danh thiếp
không quên viết mấy ḍng
thăm hỏi.
Sau vụ ám sát hụt này, báo
chí Campuchia đă có dịp
tường thuật khá đầy đủ.
Riêng về phía t́nh báo Phủ
Tổng thống lúc bấy giờ được
báo cáo nội vụ như sau: Khi
viên Giám đốc Nghi lễ mở
chiếc va li phần tặng của
ông ta th́ chiếc vali này
chứa đựng toàn tặng phẩm đắt
tiền. Sau đó, ông ta đem
chiếc va li vào pḥng khách
riêng của Sihanúc. Chiếc
vali này niêm phong kỹ càng
đề chữ "Kính tặng Hoàng Thái
hậu và Quốc trưởng Khmer”,
cùng với phong thư đựng tấm
danh thiếp của viên kỹ sư Mỹ
với những lời lẽ rất đẹp
"kính thăm" và chào cáo biệt
Hoàng Thái hậu và Quốc
trưởng Sihanúc. Pḥng khách
lúc ấy lại có mặt cả hai mẹ
con Sihanúc. Nhưng lại nhằm
đúng vào giờ Thái tử Sihanúc
và Hoàng Thái Hậu phải ra
đại sảnh để tiếp đón phái
đoàn sinh viên Trung Quốc
cùng đi với một số sinh viên
Campuchia.
Thái tử Sihanúc vừa cất lời
khuyên nhủ sinh viên th́ một
tiếng nổ kinh hoàng làm rung
động cả hoàng cung. Số là,
khi Sihanúc và Hoàng Thái
hậu ra đại sảnh tiếp sinh
viên th́ có nhẽ, viên Giám
đốc mở vali lấy tặng phẩm để
dâng Thái tử nên chiếc vali
phát nổ, viên Giám đốc Nghi
lễ chết tan thây. Cả thủ đô
Nonpênh náo động. Buổi phát
thanh vào lúc 12 giờ trưa
đài VOA cũng như Matxcơva
đều loan tin và cho biết vắn
tắt Thái tử Sihanúc thoát
hiểm, nhưng dân Campuchia
lại không tin và cho rằng
Sihanúc đă chết tan thây.
12 giờ trưa nghe tin đài
VOA, cơ quan t́nh báo Phủ
Tổng thống đă lấy làm mừng
và sửa soạn thực hiện giai
đoạn II, nghĩa là cấp thời
đưa Sơn Ngọc Thành về nhưng
chỉ ít phút sau, một tài
liệu gởi về Sài G̣n cho
biết, âm mưu bất thành. Cho
đến lúc ấy, toà Đại sứ Mỹ
vẫn chưa được biết t́nh báo
Nam Việt Nam chủ động vụ
này. Nhưng chỉ một ngày sau
th́ báo chí Campuchia đều
chĩa mũi dùi vào Mỹ và quả
quyết Mỹ âm mưu sát hại Thái
tử Sihanúc. Bang giao Mỹ
Campuchia lại thêm một lần
nữa trở nên căng thẳng. Có
một điều lạ là Campuchia
không nghi ngờ Sài G̣n. Hoa
Kỳ lănh đủ cơn tai bay vạ
gió này. Dư luận báo chí
Campuchia lại có dịp được ồn
ào và mạt sát Mỹ thậm tệ,
nhất là mấy nhật báo La
Dépêche Cambodge, Bang
Khoeum Monous. Sau đó ít lâu
một người Nam Việt bị bắt v́
Campuchia t́nh nghi ông ta
là nhân viên t́nh báo CIA có
liên quan đến vụ mưu sát
Sihanúc. Thực ra Phạm Quang
Ṭng (tên đương sự) hết sức
oan uổng ông ta chỉ làm nghề
viết báo. Đương sự bị kết án
tử h́nh. Măi gần đến sau
cuộc đảo chính của Lonnon
ông ta mới được trả tự do.
Cuộc mưu sát Sihanúc bất
thành nên kế hoạch đưa Sơn
Ngọc Thành về Nonpênh đành
xếp lại Nam Việt Nam bắt đầu
nghiên cứu một kế hoạch mới
mà Sơn Ngọc Thành sẽ giữ vai
tṛ chủ chốt.
Trước vấn đề nan giải này,
ông Nhu hỏi bác sĩ Tuyến xem
có cắt xén ngân sách và
ngoại viện được không. Điều
này không thể được v́ sẽ lộ
ngay và khi toà Đại sứ Mỹ
biết được th́ họ sẽ không
bao giờ chấp thuận dùng
khoản tiền ngoại viện để
viện trợ cho họ Sơn. Do đó
chỉ c̣n cách trích trong quỹ
đen của Phủ Tổng thống. Nếu
dồi dào phương tiện th́ Sơn
Ngọc Thành có đủ khả năng
phát triển tổ chức của ông
ta đến mức độ lớn mạnh.
Nhưng rút cuộc ông ta đành
thúc thủ trong một hoàn cảnh
hết sức thiếu thốn. Mỗi
tháng Phủ Tổng thống chỉ có
thể viện trợ cho Sơn Ngọc
Thành vài ba trăm ngàn bạc
mặt.
Tuy có điều số tiền này được
trao tận tay họ Sơn và ông
ta có thể chi tiêu như thế
nào tuỳ ư. Điều đó theo bác
sĩ Tuyến đă làm cho Sơn Ngọc
Thành rất cảm động v́ tuy
nhận tiền của Nam Việt Nam
nhưng ông ta vẫn không bị
xúc phạm v́ ḷng tự ái quốc
gia của một lănh tụ.
Nơi ăn chốn ở và sự di
chuyển của Sơn Ngọc Thành
hoàn toàn bí mật. Cơ quan
CIA của Mỹ cũng biết nhưng
không có một phản ứng nào,
v́ lẽ tiền của Nam Việt Nam
tài trợ cho Sơn Ngọc Thành
không thuộc ngân sách ngoại
viện. Đầu năm 1960, lực
lượng họ Sơn quy tụ khoảng
hơn 400 cây súng phân tán
trong hai vùng mật khu Châu
Đốc và B́nh Long. Sĩ quan
Nam Việt Nam trực tiếp đảm
nhận huấn luyện và làm cố
vấn cho lực lượng vơ trang
này. Tuy họ có tinh thần
chiến đấu hoàn toàn gan dạ
nhưng lại hoàn toàn thiếu về
mọi phương diện nhất là vũ
khí, quân trang, quân dụng.
Trong khi đó Hoa Kỳ th́ vũ
khí đổ đi không hết, nhưng
tuyệt nhiên Hoa Kỳ không
viện trợ cho lực lượng của
Sơn Ngọc Thành lấy một cây
súng Garant. Chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm cũng chỉ c̣n cách
vơ vét một số khí giới thuộc
loại phế thải của Pháp, như
MAT 49, MAS 36 để giúp họ
Sơn. Nếu nói rằng Mỹ viện
trợ vũ khí cho Nam Việt Nam
và Nam Việt Nam có toàn
quyền sử dụng vũ khí ấy th́
không đúng. Cố vấn Mỹ kiểm
soát một cách khắt khe nên
Phủ Tổng thống không thể
dùng một khẩu Garant M1 của
Mỹ để tặng họ Sơn. Bởi nhất
nhất đều không qua được con
mắt ḍm ngó của t́nh báo Mỹ.
Về phía Tây, Sơn Ngọc Thành
được Thái Lan yểm trợ nhưng
bản doanh vẫn là Sài G̣n.
Trên đây cũng tạm đủ nói lên
sự mâu thuẫn và bất đồng
giữa Việt - Mỹ.
CHỦ TRƯƠNG CỦA HOA KỲ
THEO NGÔ Đ̀NH NHU
LÀ MỘT SỰ LƯỜNG GẠT XẤU XA
Kể từ năm 1959, theo bác sĩ
Trần Kim Tuyến th́ ông Ngô
Đ́nh Nhu chủ trương quyết hạ
cho bằng được Sihanúc, v́
nếu không chính Sihanúc sẽ
là một mũi dùi đâm cực mạnh
ngang hông Việt Nam Cộng
hoà. Biên giới Việt -
Campuchia nếu c̣n Sihanúc
th́ đây sẽ trở thành vùng
chiến thuật bất khả xâm phạm
của Cộng sản. Đối với
Sihanúc, ông Nhu chỉ có hai
giải pháp: một là lật nhào
ông ta, hai là trở lại ve
văn thân thiện với ông ta.
Giải pháp ve văn thân thiện
đă bất thành cho nên miền
Nam chỉ c̣n một cách là
đương đầu quyết liệt với
Campuchia.
Con đường này lại đi ngược
với chủ trương của Mỹ. Kể từ
năm 1960 khi chiến cuộc gia
tăng và nhất là trận đánh
Kiến Phong (tháng 10-1960)
giữa lực lượng chính quy của
Cộng sản với tiểu đoàn 1
nhảy dù, người Mỹ mới bắt
đầu nhận ra sự thật:
Campuchia đă trở thành căn
cứ đại an toàn của Mặt trận
dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam. Lực lượng Cộng sản
đă xuất phát từ bên kia lănh
thổ Campuchia tiến qua đánh
Kiến Phong. Tuy biết sự thật
như vậy nhưng Mỹ vẫn giữ chủ
trương ve văn o bế Sihanúc.
Không phải tất cả các chiến
lược gia Mỹ không hiểu rơ
tầm mức quan trọng của lănh
thổ Campuchia đối với cuộc
chiến tại Việt Nam. Nhưng
lúc ấy Washington vẫn c̣n
chủ trương giới hạn cuộc
chiến trong cục bộ miền Nam.
Đầu năm 1963, với trận Ấp
Bắc tuy không có ǵ đáng gọi
là một trận thua lớn (sự
thiệt hại của Việt Nam Cộng
hoà được coi là cân bằng)
nhưng Hoa Kỳ lại lợi dụng
trận đánh này và ồn ào gây
áp lực mạnh với Tổng thống
Kennedy buộc chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm phải thay đổi
chiến thuật. Cũng từ năm
1963 Hilsman nhận định rằng,
phải thay đổi thái độ với
Sihanúc nghĩa là chấm dứt
giai đoạn o bế ve văn. Trong
khi đó th́ ông Ngô Đ́nh Nhu
lại làm ngược lại, nghĩa là
bắt tay với Pháp t́m ở De
Gaulle một điểm tựa, ông Nhu
cũng đồng thời cũng muốn hâm
nóng lại mối bang giao
Việt-Campuchia đă nguội lạnh
từ lâu. Hoa Kỳ coi chủ
trương này như một mối đe
doạ cho thế đứng của họ tại
bán đảo Đông Dương. Bởi v́
Hoa Kỳ muốn đẩy mạnh cuộc
chiến, muốn mở rộng địa bàn
hoạt động, th́ toan tính của
ông Nhu lấy Pháp làm thế
tựa, t́m ở Campuchia một
thái độ trung lập tích cực
(nghĩa là trung lập giữa
Việt Nam Cộng hoà và Bắc
Việt) th́ chủ trương ấy tự
nói lên tính cách đe doạ
nguy hiểm đối với toan tính
của Hoa Kỳ. Đó cũng là lư do
khiến người Mỹ nóng ḷng
muốn thanh toán ngay Ngô
Đ́nh Diệm. Ngày 19-7-1963
Nghị sĩ Wayne L. Morse thuộc
ủy ban Ngoại giao Hoa Kỳ
tuyên bố. "Việt Nam không
đáng nhận được sự hy sinh
của một trẻ em Hoa Kỳ" . Ông
c̣n nói rằng, không đồng ư
cho một đồng Dollars nào nữa
để ủng hộ một chế độ độc tài
tàn bạo của Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm; Tại sao như thế ?
ĐƯỢC NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT
NGƯỜI CAMPUCHIA NĂM 1959
COI ĐÓ NHƯ MỘT THẮNG LỢI
Trong vụ tranh đấu Phật giáo
1963, Campuchia được ghi
nhận là nước công kích chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm mănh
liệt nhất. Ngay từ tháng
7-1963, khi cuộc tranh đấu
của Phật giáo trở nên mănh
liệt th́ Sihanúc đă t́m mọi
cách vận động khối người
Việt gốc Campuchia tham gia
cuộc tranh đấu này với chủ ư
lật đổ cho kỳ được chế độ
Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Sihanúc
đă không thành công như ư
muốn. Bởi cộng đồng người
Việt gốc Campuchia tại miền
Tây vốn có cảm t́nh đặc biệt
với cựu Thủ tướng Sơn Ngọc
Thành và dĩ nhiên trong hoàn
cảnh lúc ấy Sơn Ngọc Thành
phải giữ thế trung lập giữa
chính quyền Nam Việt Nam và
Phật giáo. Nói đến cộng đồng
người Việt gốc Campuchia th́
không thể nào bỏ qua thế lực
của các sư săi Campuchia.
Các vị sư săi này luôn luôn
là các vị thủ lănh có uy
quyền đối với đồng bào họ và
đa số lại có cảm t́nh đặc
biệt với Sơn Ngọc Thành. Khi
phái đoàn Phật giáo đến yết
kiến Tổng thống Diệm vào
ngày 15-5 (sau vụ nổ Đài
phát thanh Huế ) Hoà thượng
Lâm Em đă phát biểu: “Được
gặp Tổng thống như thế này
tôi thấy tốt đẹp lắm ". Từ
đó, tuy có tiếng trong Ủỷ
ban Liên phái nhưng Hoà
thượng Lâm Em, cũng như cư
sĩ Sơn Thái Nguyên vẫn giữ
thái độ ôn hoà đối với chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm nếu
không muốn nói là họ vẫn giữ
thái độ thân thiện với chính
quyền. Nhờ vậy trong suốt
cuộc đấu tranh chống Phật
giáo năm 1963 người Việt gốc
Campuchia tại miền Tây vẫn
thụ động. Những tỉnh có
nhiều người Việt gốc
Campuchia (chiếm đa số) như
ở Trà Vinh, Sóc Trăng đều
không có một phản ứng đáng
ghi nhận. Trong bốn vùng
chiến thuật th́ vùng bốn
nhất là miền Tây kể từ tháng
5 đến ngày 1-11-1963 được
coi là yên tĩnh về Phật
giáo. Mặc dù Sihanúc có sự
hỗ trợ của Mặt trận dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam
song ông vẫn không sao khích
động được cộng đồng người
Việt gốc Campuchia để họ
đứng lên chống lại Chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm. Được như vậy
là nhờ ảnh hưởng của Sơn
Ngọc Thành và uy quyền lớn
lao của Hoà thượng Lâm Em,
vị thủ lĩnh của các sư săi
Campuchia tại miền Nam. Điều
đáng kể là chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm nắm vững cộng đồng
người Việt gốc Campuchia
chính là nhờ trục Lâm Em,
Sơn Thái Nguyên, Sơn Ngọc
Thành. Năm 1950 đă có đề
nghị yêu cầu Tổng thống Diệm
đặt người Việt gốc Campuchia
thành thiểu số (như đồng bào
Thượng) các thủ lănh của họ
phản đối. Hoà thượng Lâm Em
cũng như sư săi Campuchia
cho rằng như thế là "hạ
nhục" người Campuchia. Đề
nghị này được huỷ bỏ, các
thủ lănh Campuchia coi đó
như một chiến thắng và một
ân huệ mà Tổng thống Diệm
dành cho họ.
Với chính sách ve văn
Campuchia và nắm vững cộng
đồng Campuchia tại miền Tây,
Diệm đă dành cho họ nhiều ưu
tiên và đó cũng là cách nhằm
nâng cao uy tín của Sơn Ngọc
Thành và vuốt ve ḷng tự ái
dân tộc của cộng đồng người
Campuchia vốn có nhiều mặc
cảm với người Việt. Khi
người Campuchia được nhập
quốc tịch Việt họ coi như
một thành công đáng kể, tức
là được đối xử ngang hàng
như người Việt. Có điều rất
khó hiểu là vào năm 1954
người Campuchia lại muốn trở
thành dân tộc thiểu số tại
miền Nam. Theo sự tiên liệu
th́ đây cũng chỉ là một
chiến thuật nằm trong sách
lược của ngoại bang muốn
biến ngườiViệt gốc Campuchia
thành dân thiểu số, rồi từ
nhăn hiệu thiểu số sẽ dễ
dàng bước qua một giai đoạn
khác tức là giai đoạn phát
động phong trào tự trị của
người Campuchia tại miền
Tây.
1963 Sihanúc được dịp trả
thù. Kể từ năm 1959 Thái tử
Sihanúc t́m mọi cách phát
triển uy tín và cơ sở mật
tại hạ tầng cộng đồng người
Việt gốc Campuchia nhưng như
trên đă viết uy tín của Thái
tử Sihanúc vẫn mờ nhạt trước
một Sơn Ngọc Thành và Lâm
Em. Vụ tranh đấu Phật giáo
năm 1963 là một thất bại lớn
của Sihanúc tại miền Tây v́
Sihanúc không đạt được âm
mưu khuấy động tại miền Tây
với danh nghĩa tranh đấu cho
5 nguyện vọng của Phật giáo.
Trong khi đó tại Nonpênh,
Sihanúc dùng mọi nỗ lực để
yểm trợ tinh thần cho cuộc
tranh đấu của phật giáo miền
Nam. Báo chí từ phe
Campuchia hữu đến phe tả đều
nhất loạt lên án chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm. Điển h́nh là
nhật báo Neak cheat Niyum
(tờ báo của Chính phủ) kể từ
tháng 5 - 1959 cho đến 2 -
1963 nhật báo này mở cả một
chiến dịch tấn công chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm về vụ
gọi là "kỳ thị và tàn sát
Phật giáo". Ngôi chùa
Onnalum, một ngôi chùa lớn
mới được xây cất tại Nonpênh
đă trở thành trung tâm tranh
đấu của Phật Giáo tại
Campuchia. Trong buổi lễ
khánh thành ngôi chùa này
vào đầu tháng 6-63, Thái tử
Sihanúc đă tuyên bố những
lời nảy lửa lên án Chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm: “Chính phủ
Diệm sau khi tàn sát nhiều
sư săi và Phật tử Campuchia
tại miền Nam nay lại ngược
đăi và tàn sát cả đồng bào
họ theo Phật giáo". Ngày
9-6-63 Chính phủ Campuchia
tổ chức một cuộc mít tinh
tại chùa Onnalum để gọi là
biểu dương tinh thần đoàn
kết với Phật tử miền Nam để
phản kháng chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm về sự đàn áp Phật
giáo. Hội Việt kiều Phật
giáo do ông Trần Văn Được
làm Chủ tịch cũng được Chính
phủ Campuchia dành mọi sự dễ
dăi trong công cuộc vận động
Việt kiều chống lại chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm. Ngày
16-6-1963 Chính phủ
Campuchia lại cho phép hội
này được tổ chức một cuộc
biểu t́nh rầm rộ trước toà
Đại diện Việt Nam Cộng hoà
tại Nonpênh để lên án chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm và đế
quốc đàn áp Phật giáo Việt
Nam. Trước đó 3 ngày tức là
ngày 13-6 Campuchia bày tỏ
ḷng căm phẫn của Chính phủ
và nhân dân Campuchia trước
các vụ đàn áp đối với người
Campuchia tại miền Nam và
cũng bày tỏ niềm âu lo trước
các biện pháp đàn áp Phật
giáo và Phật tử của Chính
phủ Việt Nam Cộng hoà. Trong
văn thư kể trên Chính phủ
Campuchia đ̣i hỏi Chính phủ
Việt Nam Cộng hoà phải tôn
trọng các nguyên tắc của bản
tuyên ngôn nhân quyền của
Liên Hợp Quốc.
Tổng trưởng Ngoại giao
Campuchia đă chính thức mời
viên Đại lư toà Đại diện
Việt Nam Cộng hoà đến Bộ
Ngoại giao và trao cho ông
này một văn thư gửi Bộ
trưởng Ngoại giao Việt Nam
Cộng ḥa. Trong văn thư ngày
16-6 Sihanúc tuyên bố hỗ trợ
Chính phủ Tích Lan của bà
Sikimawo Bandanaike về việc
vận động với U-thant, Tổng
Thư kư Liên Hợp Quốc để đưa
vụ Phật giáo Việt Nam ra
trước Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc.
KHI SIHANÚC TRANH ĐẤU CHO
PHẬT GIÁO
VIỆT NAM CỘNG H̉A
Đối với Sihanúc th́ vụ Phật
giáo năm 1963 là một cơ hội
ngàn vàng để ông có dịp tố
cáo Việt Nam Cộng hoà về một
điều giả tạo, nhưng Sihanúc
vẫn cho rằng chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm đă đàn áp giết hại
người Campuchia và các sư
săi Campuchia tại miền Nam.
Sihanúc gắn liền lời tố cáo
này với chiêu bài "ủng hộ
triệt để cuộc tranh đấu của
Mặt trận Giải phóng miền Nam
Việt Nam" Sihanúc không
ngừng phát động cả một chiến
dịch báo chí tấn công và bôi
đen chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm, trong khi đó cộng đồng
người Việt gốc Campuchia lại
tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt. Nhờ
vậy mà Vùng bốn chiến thuật
không gặp một khó khăn nào
trong vụ tranh đấu, ngoại
trừ một vài địa phương như
Bến Tre và Mỹ Tho nhưng lại
rất không đáng kể. Căn cứ
theo tài liệu th́ trong suốt
thời gian tranh đấu của Phật
giáo, Vùng bốn chiến thuật
chỉ phải đối phó với áp lực
quân sự mạnh mẽ của Mặt trận
dân tộc giải phóng miền Nam.
"Miền Tây coi như không có
vụ tranh đấu của Phật giáo
nếu không theo dơi báo chí
và đài VOA và BBC". Khi nhận
được ư kiến của Tổng thống
Diệm cũng như Bộ trưởng Bùi
Văn Lương, ông đại biểu
Nguyễn Văn Vàng cũng đă
tŕnh bày rơ ràng như vậy và
Tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh
Vùng 4 cũng xác nhận như vậy
trong tập hồi kư của ông mới
xuất bản gần đây.
Tại Nonpênh ngày 2-11-1963
tức là trong ngày đảo chính
và trước cái chết của hai
anh em Ngô Đ́nh Diệm Thái tử
Sihanúc đă biểu lộ niềm hân
hoan chưa từng có. Đêm 2-11
Sihanúc mở tiệc liên hoan
trong Hoàng cung. Tờ La
dépêche du Cambodge số ra
ngày 3 cho rằng, cái chết
của Nhu, Diệm đă đem lại cho
nhân dân Campuchia một niềm
vui mừng vô hạn. Thái tử
Sihanúc chính thức tuyên bố.
"Ngô Đ́nh Diệm, kẻ thù của
nhân dân Campuchia và Phật
giáo đă đền tội... đó là
ngày hội lớn của lịch sử
Đông Dương". Liên tiếp trong
3 ngày liền, Thái tử Sihanúc
mở tiệc liên hoan làm như
chính ông ta ra tay hạ được
kẻ thù không đội trời chung.
Sự thực th́ anh em Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm chính là
kẻ thù không đội trời chung
của Sihanúc.
Sihanúc biết rơ chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm đă tài trợ và
dung dưỡng tổ chức Khmer tự
do của Sơn Ngọc Thành, chỉ
một điều này đă đủ khiến
Sihanúc căm thù chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm, bởi v́ Sơn
Ngọc Thành đối với Sihanúc
là kẻ thù không đội trời
chung. Sihanúc đă dùng đủ
cách để hạ sát Sơn Ngọc
Thành kể cả âm mưu dùng bàn
tay pḥng Nh́ Pháp và Mặt
trận dân tộc giải phóng miền
Nam. Nhưng Sihanúc không thể
làm ǵ được họ Sơn bởi chính
cái uy tín lớn lao của họ
Sơn trong cộng đồng người
Campuchia ở miền Nam đă tạo
nên bức tường thành bảo vệ
Sơn và tổ chức Khmer đỏ tự
do.
MỐI THÙ BIÊN GIỚI
Trong chuyến công du tại
Việt Nam năm 1957 Thái tử
Sihanúc đă đặt vấn đề biên
giới Việt-Campuchia với ông
Nhu. Kết quả là Sihanúc và
ông Nhu đă thoả thuận như
thế này "Hai Chính phủ Nam
Việt - Campuchia sẽ không
đặt vấn đề biên giới như một
tiên quyết cho việc thiết
lập bang giao Việt -
Campuchia. Tuy nhiên hai
nước vẫn mặc nhiên công nhận
thoả hiệp Dupré-Norodom
1873". Theo thoả hiệp
Dupe-Norodom kư kết giữa
Thống đốc Nam kỳ (Đô đốc
Dupe) và Campuchia ông Hoàng
Norodom th́ biên giới
ViệtCampuchia được phân định
bằng 124 cột trụ kéo dài từ
ngă ba biên giới cho đến
phía bắc kênh Vĩnh Tế qua
sông Tonly tree. Soc Stroc
tum, Ban Chrung, Paplan.
Kết quả cuộc hội đàm giữa
Sihanúc và Ngô Đ́nh Nhu là
Campuchia sẽ không công nhận
chính quyền miền Bắc nhưng
v́ tôn trọng tinh thần Hiệp
ước Genève 1945, Campuchia
chỉ thiết lập bang giao với
Việt Nam trên hàng Đại diện
ngoại giao (với cấp bậc Đặc
sứ).
Ít lâu sau Sihanúc làm ngược
lại lời cam kết khi ông ta
tính chuyện kết thân với
chính quyền Bắc Việt và
Trung Cộng.
Sihanúc lại đưa ra hai mục
tiêu để gây hấn với chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm. Trước
hết là vấn đề biên giới,
Sihanúc lại phủ nhận thoả
hiệp Dupré.
Sihanúc thường lên tiếng tố
cáo chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm đă vi phạm và lấn chiếm
lănh thổ Campuchia, sau nữa
Sihanúc lại phủ nhận các
nghị định mà các Toàn quyền
Đông Dương của Pháp trước
đây đă kư ấn định gianh giới
các tỉnh Tây Ninh và Prey
Veng, Thủ Dầu Một và Kompong
Chàm, Châu Đốc...Những năm
1959, 1960, 1961 tại các
vùng biên giới Việt - Miên,
lính Miên được lệnh nhổ trụ
cột cắm sâu vào lănh thổ
Việt Nam cả 6, 7 cây số.
Quân đội Việt Nam Cộng ḥa
lại phải mở cuộc hành quân
nhổ cột trụ đem chôn vào vị
trí cũ. Cứ mỗi lần như thế
Sihanúc lại hô hoán là quân
đội Việt Nam Cộng ḥa vi
phạm biên giới. Vấn đề thứ
hai là người Miên tại miền
Nam, Sihanúc chống lại việc
Việt tịch hoá người
Campuchia.
Trên đây chúng tôi tŕnh bày
sơ qua về mối cừu hận của
Sihanúc đối với chế độ Ngô
Đ́nh Diệm và đó cũng là lư
do khiến cho Sihanúc vô cùng
hân hoan trước cái chết của
anh em Tổng thống Diệm.
Sihanúc hận thù chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm v́ chính quyền
này đă dung dưỡng và hỗ trợ
Sơn Ngọc Thành. Một điều
khác nữa là đă có một lần
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm âm
mưu lật đổ chế độ Sihanúc
vào tháng giêng năm 1959.
Giai đoạn đầu Tổng thống
Diệm vẫn giữ vững chủ trương
giao hảo tốt đẹp với Sihanúc
(1957-1959). Vào cuối năm
1956 Việt – Campuchia đồng ư
thiết lập bang giao trên cấp
bậc Đặc sứ. Tổng thống Diệm
hỏi ư kiến Phó Tổng thống
Thơ về việc này và yêu cầu
ông chọn một nhân vật giữ
chức vụ Đặc sứ Việt Nam đầu
tiên tại Campuchia. Tổng
thống Diệm đưa ra 3 tiêu
chuẩn để ông Thơ dễ dàng lựa
chọn 1- Viên Đặc sứ ăn nói
phải hoạt bát lanh lẹn và
giỏi về Pháp ngữ, 2- Am
tường nội t́nh Campuchia, 3-
Có mưu mẹo tháo vát và quen
biết nhiều các giới
Campuchia Pháp.
Phó Tổng thống Thơ đề bạt
người bạn tâm giao của ông -
Ngô Trọng Hiếu, lúc ấy đang
giữ chức vụ Tổng Giám đốc
Ngân khố. Cũng nên ghi thêm
là trong suốt 9 năm cầm
quyền Tổng thống Diệm rất
tin cẩn ôngThơ. Một khi ông
Thơ đề bạt ai th́ người đó
có rất nhiều hy vọng được bổ
nhậm. Mặc dầu bổ nhậm một
Đặc sứ đáng lư ông Tổng
thống phải hỏi ư kiến của
ông Bộ trưởng Ngoại giao,
nhưng Tổng thống Diệm vẫn có
thành kiến là Phó Tổng thống
Thơ am tường về miền Nam và
nội t́nh Campuchia. Khi Tổng
thống Diệm nói: “Người Cụ
Phó giới thiệu”. Câu nói đó
có nghĩa là người đó đáng
tin cẩn của chế độ. Người
duy nhất mà ông Thơ đề bạt
giữ chức vụ Đặc sứ tại
Campuchia là ông Hiếu (hai
người này được coi như đôi
bạn cố tri, khi ông Thơ lănh
Tỉnh trưởng Long Xuyên th́
ông Hiếu giữ chức Trưởng ty
Ngân khố ) Phó Tổng thống
Thơ có tŕnh bầy với Tổng
thống Diệm là ông Ngô Trọng
Hiếu hội đủ những tiêu chuẩn
mà Tổng thống Diệm đưa ra.
Ông Thơ cũng nhấn mạnh là
Ngô Trọng Hiếu nói tiếng
Campuchia rất thông thạo
từng sống nhiều năm tại
Campuchia và là một viên
chức của ngành Ngân khố Pháp
tại Campuchia. Tổng thống
Diệm đồng ư, nhưng sau đó
hỏi lại ư kiến ông Nhu th́
ông Nhu cho rằng “Tuỳ Tổng
thống, cắt cử ai cũng được,
ăn thua là chính sách của
ḿnh, tôi thấy Ngô Trọng
Hiếu cũng được”. Ông Nhu
thắc mắc: "Hiếu c̣n hơn là
dân Tây mà ?" . Tổng thống
Diệm nói một hơi dài như thể
biện minh cho ông Hiếu: "Hắn
hồi Việt tịch rồi". Ông Nhu
đáp nhát gừng: "Như vậy cũng
đuợc rồi ".
Trước khi chính thức bổ
nhậm, Ngô Trọng Hiếu phải
trải qua một cuộc thi "vấn
đáp" mà giám khảo là Tổng
thống Diệm. Sau khi hỏi kỹ
về t́nh h́nh Campuchia Tổng
thống Diệm chất vấn Ngô
Trọng Hiếu: "T́nh h́nh như
vậy th́ đối với Campuchia
bây giờ ông sẽ tính sao”.
Vốn là người nói năng lưu
loát ông Hiếu đáp ngay:
"Tŕnh cụ, đối với Miên th́
tôi có hai điều căn bản, một
là dùng t́nh cảm, hai là mua
chuộc hối lộ họ ". Tổng
thống Diệm hỏi: “Dùng t́nh
cảm như thế nào”. Ông Hiếu
đáp: “Người Miên có nhiều
mặc cảm với nguời Việt lắm
vậy ta phải dùng mọi cách để
thân thiện với họ, đề cao họ
để cho họ thấy rằng ta coi
họ như bạn bè". Tổng thống
Diệm lại căn vặn:"Lúc năy
ông nói hối lộ vậy hối lộ
như thế nào?”. Ông Hiếu đáp:
"Thưa cụ xin hăy tuỳ cơ ứng
biến,bà mẹ Sihanúc ham được
quà biếu lắm".
Tổng thống Diệm hỏi: "Ông có
quen ai ở bên đó không?”.
Ngô Trọng Hiếu đáp: “Dạ
thưa, quen nhiều, tôi có
quen ông hoàng Monireth”.
Tổng thống Diệm hỏi tiếp:
"ông ta là người như thế
nào”. Ông Hiếu đáp: "Theo
thứ tự trong hoàng tộc vua
Miên th́ Hoàng thân Monireth
mới là nguười nối ngôi vua
Cao Miên chứ không phải
Sihanúc". Tổng thống Diệm
lại hỏi: "Ông ta với Sihanúc
như thế nào ", ông Hiếu đáp:
"Hoàng thân Monireth là cậu
ruột của Sihanúc. Thời Pháp
Monireth là Trung uư trong
Quân đội Lê dương của Pháp,
ông ta rất đuợc mẹ Sihanúc
tin cẩn ". Tổng thống Diệm
hỏi: "Bà ta như thế nào ",
ông Hiếu đáp: “Thưa, bà ta
nổi tiếng là người tham lam
hay nhận hối lộ". Tổng thống
Diệm lại hỏi: "Ông c̣n quen
ai khác nũa không ? ", ông
Hiếu đáp: "Thưa, c̣n một vài
người bạn thân như Salusary
Yan Sambaur”. Tổng thống
Diệm gật đầu: "Thôi được ông
về lo thu xếp rồi sang bên
đó giúp tôi". Tổng thống
Diệm thắc mắc: "Ông sang bên
đó ai có thể thay ông làm
Tổng Giám Đốc Ngân Khố? "
ông Hiếu đáp: “Nhân viên cao
cấp của ngành ngân khố hiện
nay hầu hết c̣n giữ Pháp
tịch vậy xin tŕnh Tổng
thống cho Trần Văn Minh tạm
thời thay quyền Tổng giám
đốc Ngân khố”. Tổng thống
Diệm nói vắn tắt: "Thôi
được, ông sang bên đó cố
gắng làm sao cho tốt đẹp ".
Trước khi ra về ông Hiếu
được Tổng thống Diệm chỉ thị
thêm: “Ḿnh phải tạo được
thế liên minh với Miên, Lào
th́ hai nước ấy cùng một
khối với ḿnh th́ ḿnh sẽ đủ
sức chống Cộng sản. "
NGÔ Đ̀NH NHU VÀ VỤ ĐẢO
CHÍNH HỤT CỦA DAP CHOUN
Khi toà Đại diện Việt Nam
Cộng ḥa được thiết lập
chính thức mở đầu cho quan
hệ bang giao tốt đẹp giữa
Việt - Campuchia th́ Pháp
cũng như chính quyền Hà Nội
bắt đầu lo ngại. Toà Đại
diện Việt Nam Cộng ḥa đă
thành công qua giai đoạn
"thân thiện và mua chuộc",
theo đúng chỉ thị của Tổng
thống Diệm "Tốn phí thế nào
cũng được miễn sao mua chuộc
được Miên", rồi lần về Sài
G̣n, Ngô Trọng Hiếu mua sắm
đủ thứ của ngon vật lạ để
đưa sang Nonpênh “hối lộ”
Hoàng hậu Kossmack. Bà ta
cũng như Hoàng thân Monireth
đều có cảm t́nh tốt đẹp với
người Việt.
Từng giỏ soài, cam, ổi xá lị
của ông Hiếu dâng tặng Hoàng
hậu Kossamack đă có tác dụng
ngay. Sihanúc qua ảnh hưởng
của người mẹ đă có một thái
độ tốt đẹp và cởi mở đối với
chính quyền Sài G̣n. Toà Đại
diện Việt Nam Cộng ḥa sử
dụng phương thuật “phóng tài
hoá thu nhân tâm" nên không
những hối lộ quà cáp với
Hoàng hậu Kossamack mà c̣n
mua chuộc các giới chức cao
cấp Campuchia cũng như Hoàng
thân Moniret bằng cách biếu
quà, tổ chức tiệc tùng săn
bắn...Nhờ vậy, Ngô Trọng
Hiếu móc nối được tướng Dap
Choun mệnh danh là phó vương
Campuchia, một ḿnh ông ta
thống lănh cả vùng Xiêm Riệp
miền Tây Campuchia.
Giữa năm 1958, Sihanúc thay
đổi chính sách ngoại
giao....việc đầu tiên là
Sihanúc chấp thuận cho Trung
cộng đặt tại Nonpênh một đại
diện thương mại. Đồng thời
Sihanúc cũng t́m cách mở
rộng bang giao với khối Cộng
và bắt tay với chính quyền
Hà Nội. Cuối năm 1958,
Sihanúc thiên hẳn về khối
Cộng.
Sự thực Sihanúc chủ tâm gây
hấn về vấn đề biên giới Việt
- Campuchia, về việc Việt
tịch hóa người Campuchia
cũng như đ̣i lại mấy tỉnh
miền Tây chẳng qua chỉ là
một chiến thuật gây rối và
tạo áp lực trước hết để
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm
không tạo được cơ hội gây
rối nội bộ Miên, sau nữa là
nhắm đến việc sửa soạn đón
tiếp "ông bạn” Bắc Việt.
Sihanúc đă từng tuyên bố
“cộng sản Bắc Việt và Việt
Nam Cộng hoà đều nguy hiểm
như nhau” nhưng Bắc Việt là
mối nguy hiểm c̣n ở đằng xa
- Việt Nam Cộng hoà mới là
mối nguy hiểm trực tiếp với
Campuchia.
Rơ rệt nhất là Việt Nam Cộng
ḥa tài trợ và dung túng tổ
chức Khmer tự do của Sơn
Ngọc Thành, họ Sơn là một ám
ảnh lớn đối với Sihanúc, đó
cũng là mối thù của Sihanúc
đối với chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm. Nhưng không có mối thù
nào lớn cho bằng vụ Dap
Choun đă gây nên mối cừu hận
giữa Sihanúc và chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm. Đó cũng là lư
do cho ta thấy tại sao liên
tiếp trong 3 ngày đảo chính
1-11-1963 Sihanúc đă tổ chức
liên hoan như đại hội hoa
đăng để ăn mừng Diệm, Nhu bị
thảm sát.
__________________
TÔI CHỈ
CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT
NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|
09-04-2008, 09:08 PM
|
|
 |
|
|
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
TƯỚNG DAP
CHOUN VÀ 100 KILO VÀNG
CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ.
Vụ Dap Choun diễn tiến như
thế nào ? Ông Đặc sứ Ngô
Trọng Hiếu trở về Sài G̣n
trong chiều hướng mới của
Sihanúc đối với Cộng sản Bắc
Việt và Campuchia với chiều
hướng này sẽ là mối đe doạ
lớn cho Việt Nam Cộng hoà.
Ông Ngô Đ́nh Nhu chỉ thị nếu
không kéo được Sihanúc về
phe ḿnh và nếu Sihanúc
trung lập thân cộng th́ chỉ
c̣n cách mưu đồ hạ bệ ông ta.
Ông Ngô Trọng Hiếu đề nghị
nên làm một "cú” đảo chính
Sihanúc. Về đề nghị này,
Tổng thống Diệm hỏi: “Ai có
thể làm được ? ". Ngô Trọng
Hiếu đáp: "Tŕnh cụ Tướng
Dap Choun có thể làm được "
. Tổng thống Diệm lại hỏi
ông Hiếu: "Vai tṛ của Dap
Choun hiện nay ra sao ? ".
Ông Hiếu tŕnh bày: "Tướng
Dap Choun nắm hết quyền bính
tại miền Tây Campuchia, lực
lượng pḥng vệ tại Hoàng
cung Nonpênh đều là tay chân
của Dap Choun " Tổng thống
Diệm đồng ư:” Ông cứ làm đi,
liên lạc với Dap Choun xem
sao”.
Trở lại Campuchia, ông Ngô
Trọng Hiếu bắt liên lạc ngay
với tướng Dap Choun. Trong
một chuyến đi săn tại khu
rừng phía Bắc Xiêm Riệt, ông
Hiếu đi với Dap Choun và t́m
lời ngỏ ư… Tướng Dap Choun
đang có chuyện bất măn với
Sihanúc và cho rằng Sihanúc
chưa đủ trưởng thành để lănh
đạo. Dap Choun thuộc phe
quân phiệt cực hữu Campuchia
và ông ta chống lại chủ
trương trung lập thân Cộng
của Sihanúc. Dap Choun lại
có cô vợ bé người Việt mà
ông ta đang sủng ái, chính
người vợ bé này đă giúp Toà
Đại diện Việt Nam Cộng ḥa
trong nhiệm vụ giao liên để
thuyết phục Dap Choun.
Sau nhiều lần gặp gỡ và thảo
luận, Tướng Dap Choun đă
đồng ư với Đặc sứ Ngô Trọng
Hiếu về kế hoạch đánh chiếm
Campuchia và lật đổ Sihanúc.
Tướng Dap Choun ngỏ ư, ông
cần một số dollars hoặc vàng
để làm phương tiện dưỡng
quân trong ṿng hai tháng.
Điều kiện này không có ǵ
quá khó khăn và ông Ngô
Trọng Hiếu trở về Sài G̣n
tŕnh với Tổng thống Diệm và
ông Nhu . Tổng thống Diệm
nói đơn giản:
“Nếu thấy làm được th́ cứ
làm, tổn phí cũng phải ráng
chịu cho nó xong việc".
Ông Nhu cho mời bác sĩ Tuyến
vào pḥng để thảo luận cho
kỹ lưỡng cân nhắc lợi hại
trước khi bắt tay hành động.
Kế hoạch này tuyệt đối bí
mật không một nhân vật cao
cấp nào được biết rơ ngoại
trừ Phó Tổng thống Thơ, ông
Nhu, ông Tuyến và ông Hiếu.
Vấn đề khó khăn nhất là t́m
đâu ra 100 kilo vàng để tài
trợ cho Dap Choun ? Điều này
Tổng thống Diệm trao cho Phó
Tổng thống Thơ giải quyết v́
ông Thơ c̣n là Bộ trưởng
Kinh tế, nếu rút 100 kilo
vàng trong số trừ kim ngân
khố sẽ không ai để ư, nghi
ngờ và sau đó sẽ t́m cách
giải quyết. Phó Tổng thống
Thơ đă góp công đắc lực
trong vụ này.
Một trăm kilo vàng được đóng
vào thùng, niêm phong cẩn
mật và tự tay ông Hiếu lái
xe đưa lên Nonpênh, rồi từ
đây ông Hiếu dùng xe hơi chở
lên tận Xiêm Riệt trao tận
tay cho tướng Dap Choun.
Trong khi đó th́ Phủ Tổng
thống cũng gửi lên Xiêm Riệt
hai chuyên viên. Hai chuyên
viên này đáp máy bay AIR
Việt Nam lên thẳng Xiêm Riệt
qua lộ tŕnh Sài G̣n -
Nonpênh. Hai chuyên viên này
không biết mặt ông Hiếu và
cũng không rơ Chính phủ Việt
Nam toan tính ǵ.
Hai chuyên viên vô tuyến ăn
ở ngay trong dinh Thống đốc
tỉnh Xiêm Riệt. Tại đây, đặt
một điện đài liên lạc thẳng
với Sài G̣n và Toà đại diện
Việt Nam. Đặc sứ Ngô Trọng
Hiếu vẫn tiếp tục liên lạc
bí mật với tướng Dap Choun
và người em của tướng Dap
Choun cũng là dân biểu Quốc
hội Tưởng Dap Choun khi nhận
được 100 ki lo vàng đă đánh
một văn điện cảm ơn Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm và cho
biết ông đă nhận được quà
biếu. Từ đầu tháng 1-1959
hàng ngày cứ lúc 7 giờ sáng,
12 giờ trưa và 9 giờ đêm,
điện đài vô tuyến từ dinh
Dap Choun vẫn gửi tin tức
đều đặn về cơ quan t́nh báo
Phủ Tổng thống. Phía Dap
Choun cũng đă sửa soạn kế
hoạch tiến đánh Nonpênh. Lần
gặp gỡ cuối cùng giữa Dap
Choun và Ngô Trọng Hiếu nhằm
ngày 10-1-1959. Dap Choun
cho ông rơ là công việc mưu
đồ đang tốt đẹp và hai bên
ấn định ngày H sẽ ra tay.
Tại Sài G̣n, ông Nhu cũng
như bác sĩ Tuyến chỉ c̣n
thảo luận về việc đem Sơn
Ngọc Thành trở lại Nonpênh.
Một khi cuộc đảo chính bùng
nổ th́ lực lượng Quân khu V
và Quân khu II sẽ động binh
tiến về biên giới giúp Dap
Choun nắm khu vực miền Đông
và Đông bắc Campuchia. Sơn
Ngọc Thành lại qua liên lạc
với chính quyền Thái Lan để
hỗ trợ ông ta về phía Tây.
Cũng v́ Sơn Ngọc Thành qua
Thái Lan nên ngày H phải trở
lại và đó cũng là nguyên
nhân làm cho âm mưu bị bại
lộ.
HAI ĐIỆP VIÊN
VIỆT NAM CỘNG H̉A BỊ XỬ TỬ
Nếu ngày H theo đúng kế
hoạch và thời hạn ấn định
th́ Sihanúc không kịp trở
tay. Như trên đă viết sở dĩ
phải lùi lại thêm 10 ngày
nữa chỉ v́ c̣n chờ đợi cho
Sơn Ngọc Thành đi tiếp xúc
với nhà cầm quyền Thái Lan.
Trong thời gian này. Có lẽ
tướng Dap Choun sơ hở và quá
chủ quan cho nên âm mưu đảo
chính lọt đến tai toà Đại sứ
Pháp. Dĩ nhiên là Pháp phải
cấp báo cho Sihanúc.
12 giờ đêm ngày 21, Đại sứ
Pháp cùng Đại sứ Nga vào
Hoàng cung gặp Sihanúc và
tiết lộ âm mưu đảo chính của
Dap Choun. Hai giờ sau,
Sihanúc cho lệnh động binh
trao cho tướng Lon Non thống
lănh lực lượng Dù mở cuộc
tấn công chớp nhoáng thành
phố Xiêm Riệt, 6 giờ sáng
tướng Dap Choun c̣n đang
ngủ, quân của tướng Lon Non
đă tràn ngập thành phố Xiêm
Riệp. Dap Choun không kịp
trở tay, ông ta cải trang và
đă trốn thoát.
Quân của Lon Non chiếm dinh
Thống đốc Xiêm Riệt và bắt
được đầy đủ tang vật gồm 100
ki lo vàng, hai chuyên viên
Việt Nam và đài vô tuyến
cùng một số vũ khí. Khi quân
của tướng Lon Non tiến về
Xiêm Riệt, toà Đại sứ Việt
Nam biết rơ nhưng đành bó
tay v́ không c̣n một phương
cách nào cấp báo cho Dap
Choun.
Tại Sài g̣n theo thông lệ 7
giờ mỗi sáng đều nhận được
tín hiệu từ dinh Dap Choun
nhưng suốt buổi sáng hôm đó
bặt tin. Cơ quan t́nh báo
Phủ Tổng thống đă linh cảm
thấy nguy cơ...âm mưu lật đổ
Sihanúc chắc là bất thành.
Ngày hôm sau, Thái tử
Sihanúc mời tất cả ngoại
giao đoàn lên Xiêm Riệt xem
chiến lợi phẩm trong đó có
Ngô Trọng Hiếu. Ông Hiếu ở
thế tiến thoái lưỡng nan,
nhưng cuối cùng vẫn quyết
định đi theo phái đoàn Ngoại
giao cùng với toàn thể nội
các Campuchia. Ngôi sao Lon
Non bắt đầu rực sáng. Đó là
thành tích huy hoàng của ông
đối với Thái tử Sihanúc. Từ
thành tích này, tướng Lon
Non trở nên một cận thần có
thế lực nhất sau Sihanúc.
Tại dinh Thống đốc Xiêm
Riệt, Sihanúc vênh vang đắc
thắng nhưng không ngớt lời
thoá mạ “kẻ thù dân tộc
Khmer" mà Sihanúc không nêu
đích danh Việt Nam Cộng hoà
nhưng ám chỉ bằng những danh
từ "tay sai đế quốc...".
Sihanúc tŕnh bày tất cả
bằng chứng 100 ki lo vàng và
hai điệp viên Việt Nam Cộng
ḥa cùng Điện đài. Sihanúc
quay về phía Ngô Trọng Hiếu
và hỏi: "Thưa ngài Đại diện.
Ngài nghĩ thế nào về nhũng
bằng chúng rơ rệt này". Ông
Hiếu cố làm vẻ thản nhiên
đáp: “Thưa Thái tử Quốc
trưởng chúng tôi đến đây để
nghe ngài tŕnh bày nên
không có ǵ để trả lời cả ".
Ngoại giao đoàn im phăng
phắc...Thái tử Sihanúc không
biết nói sao nhưng bằng
chứng thật rơ rệt, 100 ki lo
vàng c̣n giữ nguyên dấu hiệu
của ngân khố Việt Nam Cộng
ḥa. Hai chuyên viên vô
tuyến là người Việt, lại
mang theo giấy thông hành
Việt Nam Cộng ḥa.
Tuy vậy Sihanúc vẫn không
lên án đích danh Việt Nam
Cộng hoà mặc dù ông ta đă
biết rơ tường tận từ bằng
chứng cụ thể đến âm mưu kế
hoạch. Khi Ngô Trọng Hiếu và
Ngoại giao đoàn được mời đến
quan sát hai chuyên viên vô
tuyến người Việt (bị trói
chặt tay) ông Hiếu đưa tay
tát yêu trên má họ và mỉm
cười không nói một lời nào.
Hai chuyên viên này cũng
không biết ông là Đặc sứ của
Việt Nam. Ít lâu sau họ bị
kết án tử h́nh và hành quyết
ngay.
Riêng tướng Dap Choun trốn
thoát vào rừng, nhưng ông ta
vốn nghiện thuốc phiện và ôm
cả thuốc nằm gục dưới một
gốc cây. Lực lượng Dù của
tướng Lon Non bắt gặp và hạ
sát Dap Choun tại chỗ.
Tại Sài G̣n, Tổng thống Diệm
cũng như ông Nhu đều phập
phồng lo âu cho sứ mạng của
Đặc sứ Hiếu, v́ biết đâu
Sihanúc có thể làm càn.
Nhưng trái lại Sihanúc chỉ
yêu cầu Chính phủ Việt Nam
Cộng ḥa triệu hồi Ngô Trọng
Hiếu.
Linh mục Francois từ Nonpênh
qua vào cuối tháng 7-1963.
Trước khi đặt chân lên thủ
đô miền Nam, Linh mục có cảm
tưởng Sài G̣n đang là một
hoả ngục thiêu đốt hàng ngàn
sư săi và Phật tử. Sở dĩ có
cảm tưởng như vậy v́ thông
qua báo chí phương Tây và
nhất là những lời đồn đại và
dư luận báo chí tại Nonpênh.
Linh mục tuy vẫn tin tưởng
nơi cá nhân Tổng thống Diệm,
nhưng Linh mục cảm thấy ghê
tởm những trại tù lộ thiên
"giam hàng ngàn Phật tử bỏ
đói, phơi nắng và bị tra tấn
rất dă man họ". Trong cuộc
gặp gỡ Linh mục Francois và
Thủ tướng (hoàng thân
Norodom Kantol) chính Thủ
tướng Kantol đă nói như vậy.
Nhưng sự thật có như vậy
không ? Linh mục Francois
lưu ngụ tại Sài G̣n hai tuần
lễ và t́m mọi cách để điều
tra xem chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm đă đàn áp Phật giáo đến
mức độ nào ?
Trong cuộc gặp gỡ Thủ tướng
Kantol ông ta có nói với
Linh mục:
-Thái tử Quốc trưởng và
Chính phủ Campuchia rất lo
ngại cho số phận của hàng
trăm ngàn Phật tử Campuchia
thuộc giáo phái Theravada
nếu chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm không ngừng đàn áp Phật
tử th́ các nước Phật giáo Á
Châu sẽ có một thái độ quyết
liệt và có thể tiến đến một
hành động, chúng tôi sợ rằng
lúc ấy sẽ bất lợi cho tín đồ
Thiên Chúa giáo Á châu.
Linh mục đáp : "Chúng tôi
rất hổ thẹn có một tín hữu
dùng quyền bính Tổng thống
mà đàn áp ngược đăi đồng bào
Phật tử của ông ta như vậy.
Nếu cử như lời Thủ tướng nói
th́ sự đàn áp này có thật.
Chắc chắn Giáo hội Thiên
Chúa giáo tại miền Nam sẽ có
thái độ."
Thủ tướng Kantol nói: “Cuộc
biểu t́nh ngày 17 vừa qua
(17-7) của hàng trăm ngàn
Phật tử tại Sài G̣n chính
quyền Thiên Chúa giáo thẳng
tay đàn áp. Hiện nay có hàng
ngàn sư săi đang bị giam
giữ, một số bị thủ tiêu".
Linh mục Francois lắc đầu: “
Tôi không biết phải thưa
chuyện với Thủ tướng như thế
nào. Nhưng nếu Thủ tướng nói
là chính quyền Thiên Chúa
giáo th́ hoàn toàn là không
đúng. Tôi nghĩ chỉ có chính
quyền Miền Nam do ông Ngô
Đ́nh Diệm lănh đạo. Giáo hội
Thiên Chúa giáo không liên
hệ ǵ đến công việc của
chính quyền”
Có lẽ Thủ tướng Kantol cũng
biết ḿnh lỡ lời nên mỉm
cười, nói: “Xin lỗi cha đó
chỉ là cách nói của tôi theo
dư luận báo chí. Tuy nhiên
Giáo hội Thiên Chúa giáo
cũng có trách nhiệm, nhất là
vụ “bắn giết” phật tử lại
xảy ra ngay nơi mà nguời anh
của ông Diệm làm Tổng giám
mục và điều khiển chính
quyền."
Linh mục Francois: "Tôi có
đến thăm giáo khu Huế một
vài lần, tôi có thể cả quyết
với Thủ tướng là Tổng giám
mục Ngô Đ́nh Thục không có
một quyền hạn đối với chính
quyền do nguời em ông lănh
đạo. Dù nếu có th́ Giáo hội
cũng không cho phép Tổng
giám mục Ngô Đ́nh Thục được
làm như vậy"
Thủ tướng Kantol có vẻ không
tin lời cha Francois. Ông ta
dẫn chứng qua một vài bài
báo của Mỹ và khẳng định
rằng "Tổng giám mục Ngô Đ́nh
Thục đang chia sẻ một phần
lớn quyền hành của ông em và
theo chỗ tôi được biết th́
Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục
đang chỉ huy chiến dịch đàn
áp Phật giáo”
Thủ tướng Kantol dịp này
cũng tiết lộ là ông mới gặp
một Đại diện cao cấp của
Chính phủ Hà Nội. Đại diện
này đă trao tất cả tài liệu
(?) về chiến dịch đàn áp
Phật giáo của chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm và đặc biệt về
tài liệu “bắn giết giam cầm"
hàng ngàn Phật tử tại miền
Trung do Đức Tổng giám mục
Ngô Đ́nh Thục chỉ huy. Linh
mục Francois hỏi thẳng
Kantol: "Ngài Thủ tướng, có
thể tin vào tài liệu của
chính quyền Cộng sản miền
Bắc?” Kantol đáp: "Thưa cha
ít nhất th́ tài liệu đó cũng
giúp Chính phủ Campuchia t́m
hiểu được sư thật ".
Bước chân xuống phi trường
Tân Sơn Nhứt, Cha Francois
vẫn c̣n bí ám ảnh...về những
vụ thủ tiêu giam cầm đàn áp.
Có đúng như vậy không ? Cha
Francois vẫn tin tuyệt đối
nơi cá nhân thánh thiện của
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm,
nhưng cha cũng bắt đầu nghi
ngờ... Cha Francois bỗng nhớ
lại những trang sử đẫm máu
của cuộc bách đạo Thiên Chúa
giáo dưới thời Thiệu Trị, Tự
Đức. Có lẽ vào giữa năm 63
lại tái diễn một cuộc bách
đạo như vậy mà nạn nhân lại
là sư săi và Phật tử ?
Những ngày đầu ở Sài G̣n
Linh mục Francois thấy thành
phố không có ǵ thay đổi
nhiều. Tuy nhiên ở đâu đâu
cũng âm ỉ như một ḷ than
hồng. Việc đầu tiên là cha
đến xin yết kiến Đức Khâm sứ
Toà Thánh. Đức Khâm sứ cũng
đang sửa soạn về La Mă. Dịp
này Đức Khâm sứ sẽ tường
tŕnh với Toà thánh La Mă về
cuộc tranh đấu của Phật giáo
cùng thái độ của chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm. Gặp Cha
Francois, Đức Khâm sứ tỏ vẻ
thất vọng và nói: "T́nh h́nh
rất nguy ngập, nếu Tổng
thống Diệm không cải tiến
th́ chắc hẳn chế ñoä của ông
ta sẽ sụp đổ”.
Cha Francois hỏi: "Thưa Đức
Khâm sứ ngài có thể dùng uy
tín để thuyết phục Tổng
thống Diệm không? Con thấy
dư luận các nước Á châu
không nhũng bất lợi cho
chính quyền ông Diệm mà bất
lợi cho cả Giáo hội Việt Nam
".
Đức Khâm sứ phác một cử chỉ
lạnh lùng đáp:"Làm thế nào
được ? Dù là Tổng thống của
một nước dân chủ nhưng con
người ông Diệm vẫn là vị
Hoàng đế của nước Việt Nam
thời xa xưa ".
Cha Francois hỏi: “Lúc này
Đức Khâm sử có hay gặp Đức
Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục
không ? Con tin rằng đức cha
Ngô Đ́nh Thục sẽ tuân theo
lời khuyến cáo của đức cha !
"
Đức Khâm sứ đáp: “Đă lâu tôi
không gặp Ngài. Theo Linh
mục Cao Văn Luận cho tôi
biết th́ ngài cũng có một
phần trách nhiệm về "vụ biến
cố này ! "
Cha Francois hỏi: "Vậy th́
lời tố cáo của phía Phật
Giáo cũng không phải là sai
? ".
Đức Khâm sứ đáp: “Không sai,
nhưng không hoàn toàn đúng .
Tôi nói là đức cha Ngô Đ́nh
Thục phải chịu một phần
trách nhiệm. Đây chỉ là
trách nhiệm tinh thần đối
với lương tâm Công giáo ".
Cha Francois hỏi: "Thưa Đức
Khâm sứ có thực là chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm đàn áp
Phật giáo như báo chí ngoại
quốc tường thuật không? "
Đức Khâm sứ im lặng một lát
rồi khẳng định: “Đây chỉ là
lối phiên dịch thổi phồng
quá đáng. Cha đă từng sống ở
Việt Nam chắc Cha hiểu rơ họ
hơn tôi. Trí tưởng tượng của
họ ghê gớm lắm, tôi tin rằng
chắc cũng có những vụ bắt bớ
giam cầm đánh đập Phật tử,
nhưng làm ǵ đến độ ghê gớm
như sự tường thuật của báo
chí ".
Đức Khâm sứ kể: "Mới đây có
một giáo dân đến thăm tôi.
Ông là một nhân vật cao cấp
trong Chính phủ, ông ta quả
quyết có bàn tay của người
Mỹ, dàn cảnh trong vụ biểu
t́nh của Phật tử ngày 17-7
vừa qua, ông ta nói có một
bác sĩ bên Phật giáo đă chế
tạo cả mấy chục ngàn lọ
thuốc mê (chloroforme) trao
cho các nhà sư trẻ và Phật
tử để khi biểu t́nh mà xô
xát với cảnh sát th́ đưa
thuốc lên mũi ngửi lúc ấy
thuốc mê sẽ làm họ lảo đảo
rồi ngă qụy rồi lúc ấy phóng
viên ngoại quốc sẽ quay phim
chụp h́nh. Nhân vật này cũng
cho biết sau cuộc biểu t́nh
ngày 17-7 cảnh sát đă tịch
thu được cả hàng chục chai
thuốc mê như vậy. Ông ta
cũng tiết lộ với tôi là
truyền đơn của phía tranh
đấu được quay ronéo bằng
những loại giấy mà chỉ có cơ
quan USAID(1) mới có. Đó là
thứ giấy tốt đặc biệt".
Cha Francois lại hỏi: "Thưa
Đức Khâm sứ ngài có nghĩ
rằng đă có bàn tay Cộng sản
trong phong trào tranh đấu
Phật giáo hay không? "
Đức Khâm sứ ngần ngại rồi
đáp: 'Đây là một vấn đề quá
tế nhị, cho đến bây giờ chưa
có một dữ kiện nào khiến
chúng ta có thể nghi ngờ như
vậy ".
Cha Franeois nói: "Tại sao
Tổng thống Diệm lại có thể
hành động thiếu khôn ngoan
khi ông ta lệnh cấm treo cờ
Phật giáo?”
Đức Khâm sứ đáp: "Có nhiều
nguyên nhân sâu xa lắm, lệnh
cấm treo cờ của ông Diệm đâu
có phải chỉ dành riêng cho
Phật giáo mà quy định cho cả
Giáo hội Công giáo nữa. Cha
phải hiểu rằng ông Diệm là
một nhà quốc gia cực đoan.
Ông ấy coi Tổ quốc trên Giáo
hội, chứ không phải Giáo hội
trên Tổ quốc ".
Cha Francois nói: "Con vẫn
tin Tổng thống Diệm là một
người hoàn toàn thánh
thiện". ĐứcKhâm sử gật đầu
đáp:”Đúng, ông ấy là một
giáo dân có một đời sống rất
thánh thiện. Nhưng ông ấy
không phải là một giáo dân
thức thời".
Cha Francois hỏi: "Con nghe
nói một số linh mục và giáo
dân đang tham gia phong trào
tranh đấu Phật giáo ".
Đức Khâm sứ đáp: “Đúng , tôi
có nghe nói như vậy, một số
linh mục có đến hỏi ư kiến
của tôi như thế nào khi họ
có thái độ thân thiện và hỗ
trợ Phật giáo th́ tôi trả
lời các ngài hăy cứ làm theo
lương tâm các ngài".
-----------------------------
(1) T́nh báo Mỹ
CON SỐ 80%
SỰ THỰC HAY LÀ HUYỀN THOẠI
Cha Francois trong cuộc gặp
gỡ Đức Khâm sứ cũng không
được thoả măn lắm. Đức Khâm
sứ tỏ ra thiếu thiện cảm với
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và
ngài bị ảnh hưởng sâu xa bởi
những dư luận dồn đại về đời
sống của bà Nhu cũng như
quyền bính của ông Nhu và
đức cha Ngô Đ́nh Thục. Khi
Cha Francois sắp cáo từ ra
về th́ một giáo sư đại học
và một Linh mục trẻ cũng vừa
đến xin thăm Đức Khâm sứ.
Ngài bảo Cha Francois: “Cha
có thể ngồi lại đây. . . nếu
Cha muốn biết rơ t́nh h́nh
Việt Nam như thế nào th́ hai
ông khách này có thể giúp
Cha nhiều tài liệu xác
thực".
Lúc đầu hai vị khách c̣n dè
dặt nhưng sau hai ông bắt
đầu nổ máy, công kích chính
quyền hết sức mănh liệt. Cha
hỏi: "Tôi vẫn nghĩ rằng
chính quyền này có thực thi
dân chủ và thực hiện nhiều
công việc lớn lao cho Chính
phủ".
Vị Linh mục trẻ: "Thưa cha
chúng tôi chưa thấy dân chủ
ở đâu cả, Quốc hội là Quốc
hội bù nh́n, toàn thứ nghị
gật do được chỉ định. Quyền
hành đều nằm gọn trong tay
Tổng thống hay đúng ra là ở
trong tay ông bà Nhu ".
Vị giáo sư đại học: “Thưa
Đức Khâm sứ và Cha, t́nh
h́nh đến lúc nghiêm trọng
lắm rồi. Thiết tưởng Giáo
hội không thể đứng ngoài
ṿng Giáo hội phải lên tiếng
". Đức Khâm sứ mỉm cười:
“Ông bảo Giáo hội phải lên
tiếng như thế nào ? Giáo hội
không đứng ngoài ṿng th́
Giáo hội phải làm sao bây
giờ?”.
Nếu không có vụ tranh chấp
năm 1963 và nói một cách
chung th́ Phật giáo chưa có
một xích mích nào đáng kể
đối với chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm. (Ngoại trừ những xích
mích có tính cách địa phương
xảy ra tại B́nh Định, vào
những năm 1960-1961). Trước
năm 1963 Phật giáo Việt Nam
chỉ là một tập thể bao gồm
những cục bộ riêng rẽ . Mà
những cục bộ này cũng không
được tổ chức chu đáo. Tuy
vậy Phật giáo Nam Việt cũng
bị ảnh hưởng sâu xa bởi sắc
thái địa phương, bối cảnh
dịa dư và nhân sự. Do đó,
Phật giáo đă thể hiện rơ rệt
qua ba "sắc thái sinh hoạt"
: Phật giáo miền Nam, Phật
giáo miền Trung và Phật giáo
di cư. Phật giáo miền Nam
gồm hội Phật học Nam Việt
(Cư sĩ Mai Thọ Truyền và
chùa Xá Lợi), Giáo hội tăng
gia Việt Nam (Thượng tọa
Thích Thiện Hoa chùa Ấn
Quang), Phật giáo nguyên
thuỷ (nhóm Tiểu thừa chùa Kỳ
Viên) và một số hội đoàn lẻ
tẻ khác. Phật giáo Campuchia
di cư ước độ 200.000 người
nhưng không tạo thành một
cộng đồng. Phật tử di cư với
tư cách cá nhân và bằng
phương tiện cá nhân, trong
số 200.000 người có khoảng
50.000 người sống rải rác ở
các trại định cư. Khoảng
50.000 người sinh sống ở các
thị xă. C̣n lại 100.000 tín
đồ quy tụ tại Sài G̣n. Phật
giáo di cư tại Đô thành có
thể chia thành hai nhóm,
nhóm thuộc chùa Phổ Quang và
Nghĩa trang Bắc Việt (Thượng
tọa Thích Trí Dũng). Nhóm đa
số thuộc chùa Từ Quang
(Thượng tọa Thích Tâm Châu).
Riêng Phật giáo miền Trung
được coi là một cộng đồng có
tổ chức và sinh hoạt từ cấp
khuôn hội cho đến trung ương
(từ chùa Từ Đàm). Theo thống
kê trước năm 1963 Phật giáo
(miền Trung )có vào khoảng
400.000 người với một tổ
chức thanh niên và hướng đạo
Phật tử đáng kể. Sau 1963
cũng theo thống kê th́ số
Phật giáo miền Trung lên tới
800.000 người.
Tổng Hội Phật giáo Việt Nam
do Hoà thượng Thích Tịnh
Khiết làm Hội chủ. Trên thực
tế, Phật giáo miền Trung mới
là chủ lực của Tổng Hội Phật
giáo Việt Nam. Hoà thượng
Thích Tịnh Khiết là một bậc
cao tăng nổi tiếng về đức độ
của con người xuất thế tu
đạo. Nhưng tước vị Hội chủ
chỉ là một danh nghĩa tiêu
biểu cho tinh thần thống
nhất cao. Quyền hành của
Tổng hội Phật giáo Việt Nam
vẫn do các Vị Thượng tọa Trí
Quang và Thiện Minh, xa hơn
nữa là các thượng tọa Trí
Thủ và Đôn Hậu cùng một số
thượng tọa, Đại đức thuộc
khuynh hướng dấn thân tích
cực.
Phật giáo miền Nam trước,
sau năm 1963 luôn giữ thái
độ xuất thế không thân chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm mà cũng
không chống và cũng không hề
biểu lộ một thái độ nào có
màu sắc chính trị và thời
thế.
Cư sĩ Chánh trí Mai Thọ
Truyền không có một quan hệ
nào đối với chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm nhưng giữa ông và
Phó Tổng thống Thơ lại có
nhiều mối tương thân giao
hữu.
Ngược lại, Tổng hội Phật
giáo miền Trung lại được coi
như thân thiện và có những
tương giao tốt đẹp với chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm qua ông
Ngô Đ́nh Cẩn, chính ông Cẩn
vẫn tự hào và lớn tiếng kể
công với các anh là ông đă
nắm được Phật giáo miền
Trung.
Ông Cẩn thường coi thành
tích này như một điều để
"bắt bí" mấy ông anh. Bất cứ
một hội nghị Phật giáo nào
tại ngoại quốc, các Thượng
tọa miền Trung phải được ưu
tiên. Do đó cũng làm cho
giới chức tại Sài G̣n gặp
nhiều cảnh "tréo cẳng
ngỗng". Theo Lương Khải
Minh, vào khoảng năm
1960...Tổng thống Diệm đă
chấp thuận một danh sách gồm
mấy Thượng tọa và Cư sĩ đi
tham dự Hội nghị Phật giáo
thế giới. Các vị này đă được
thông báo để sửa soạn làm
giấy thông hành, bỗng nhiên
ông Cẩn cho người đem vào
Sài G̣n một danh sách mới và
đ̣i cho bằng được phải để
cho mấy vị Thượng tọa miền
Trung tham dự và nắm chức
trưởng phái đoàn.
Ông Cẩn lấy cớ rằng : "Tổng
hội Phật giáo Việt Nam do
Hoà thượng Thích Tịnh Khiết
làm Hội chủ và trụ sở đặt
tại Huế th́ Huế mới là trung
ương Tổng hội”. Do đó, một
Thượng tọa ở Huế phải làm
trưởng phái đoàn.
Sự việc này quả khó giải
quyết cho nên lại phải tŕnh
bày lên ông Diệm. Ông Tổng
thống đáp: “Ai đi cũng vậy.
Tôi nghe nói mấy ông Thượng
tọa này tốt lắm. Chắc là ông
cậu ngoại nớ đă biết họ rơ".
Có lẽ bắt nguồn từ những
việc này nên Phật giáo Sài
G̣n vẫn ŕ rầm là chính
quyền không hiểu sao đă ưu
đăi các thầy ở Huế. Nhiều kẻ
đa nghi lại rỉ tai nhau :
"Thày ấy...là người thân của
ông Cẩn mà ".
Đại uư Bằng, sĩ quan hầu cận
của Tổng thống Diệm cũng xác
nhận rằng : “Không hiểu một
lư do ǵ mà ông Cẩn lại quá
ư ưu đăi và trọng vọng mấy
vị Thượng tọa ở chùa Từ Đàm”
. Đại uư Bằng nhớ lại :
“Cũng vào khoảng năm 1960
khi tháp tùng Tổng thống
Diệm về Phú Cam, ông Cẩn đă
gọi Bằng lại dặn ḍ rất kỹ :
Mi về Sài G̣n gặp ngay anh
Tuyến hỏi xem tuần trước các
thầy có mang thơ giới thiệu
của tao đến gặp anh ấy
không? Mi bảo anh Tuyến lo
ngay cái vụ hồ sơ đi xuất
ngoại của thầy Trí Quang. "
- Một lát sau ông Cẩn nhắc
lại lần nữa và bảo Bằng tin
ra Huế ngay để ông biết rơ
vụ giấy tờ xuất ngoại của
mấy thầy đă đi đến đâu.
Khi về Sài G̣n, Đại uư Bằng
đến t́m bác sĩ Tuyến và nói
như vậy. Bác sĩ Tuyến cho
biết là hồ sơ đă đưa qua
pḥng ông Hải rồi : "Có thư
của ông Cậu ai mà dám chậm
trễ".
Ông Ngô Đ́nh Cẩn tỏ ra rất
tự hào về những tương quan
thân hữu của ông và Tổng hội
Phật giáo tại miền Trung. Do
đó, khi nhận được bức công
điện cấm treo cờ tôn giáo,
ông Cẩn tỏ ra tức giận không
ít.
Bức công điện mang số 9195
đề ngày 6-6-1963 cho đến
chiều ngày 6, bức công điện
mới đến toà đại biểu và tỉnh
đường Thừa-Thiên. Văn Pḥng
Cố vấn chỉ đạo của ông Cẩn
vẫn không hay biết một chút
nào. Măi đến sáng ngày 7,
người vú già của Đại uư Minh
đi chợ về, thuật lại :
"Ngoài chợ đang xôn xao về
việc ǵ đó. Đồng bào nói
rằng Chính phủ cấm không cho
Phật giáo treo cờ". Lúc đó
Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo mới
rơ và t́m gặp ông Cẩn để
tŕnh bày tự sự ông mới hay.
Ông Nguyễn Văn Đẳng, Tỉnh
trưởng Thừa-Thiên vào tŕnh
bức công điện kể trên. Với
sự hiện diện của Đại uư
Minh, ông Cẩn băn khoăn...
“Sao lại có chuyện lạ như
thế”
Đại uư Minh cũng ngần ngại :
- Đồng bào các nơi đă treo
cờ hết cả rồi. Bây giờ làm
thế nào được.
Ông Đẳng lo ngại:
Thưa nếu th́ hành bức công
điện này, con thấy lôi thôi
lắm.
Ông Cẩn bảo Đại uư Minh hỏi
Toà đại biểu xem thế nào và
yêu cầu xác thực xem bức
công điện có phải đúng như
thế không? Cầm bức công điện
trên tay ông Cẩn vẫn chưa
tin là thực. Ông Cẩn nhắc đi
nhắc lại "Quyết định cái ǵ
mà lạ lùng vậy”.
Trong thời gian này, ông Ngô
Đ́nh Cẩn đang bị thất sủng.
Tổng thống Diệm không c̣n
tín nhiệm vào ông em nữa.
Trên thực tế, kể từ ngày Đức
cha Ngô Đ́nh Thục trở về Huế
th́ uy tín của ông Cẩn bắt
đầu xuống dốc dần. . .Tổng
thống Diệm đă quyết định băi
bỏ Văn pḥng cố vấn chỉ đạo
từ đầu năm 1963 (cho đến
tháng 10-1963 ông Diệm mới
dứt khoát băi bỏ Văn pḥng
Cố vấn chỉ đạo có nghĩa là
ông Cẩn bị loại khỏi chính
trường miền Trung).
Bức công điện trên đây ông
Cẩn chỉ được biết khi ông
Đẳng mang vào. Ông Cẩn bảo
Tỉnh trưởng Thừa Thiên:
“Đồng bào người ta treo cờ
rồi th́ cứ để nguyên như vậy
đừng có ra lệnh hạ ǵ cả ".
Ông Cẩn lại bảo ông Hồ Đắc
Thương, đại biểu Chính phủ
Trung Nguyên Trung Phần,
đánh điện vào Trung ương xin
hoăn thi hành bức công điện
"kỳ quái" này.
Một số viên chức có mặt tại
nhà ông Cẩn lúc ấy đều đồng
ư phải hoăn thi hành lệnh
trên và cứ để đồng bào Phật
tử treo cờ như mọi năm . Đại
uư Minh bàn luận với một số
viên chức: "Tại sao không ra
lệnh từ trước, măi đến bây
giờ mới ra lệnh. Vụ này kẹt
cho tụi ḿnh lắm. Các anh
tính sao ? "
Ông Cẩn thắc mắc hỏi ông
Đẳng và Hoàng Trọng Bá :
"Các thày dưới Từ Đàm đă
biết chưa ? ". Thực ra, các
thày cũng như một số đông
phật tử biết tin từ tối hôm
trước.
Tất nhiên là phải có một
viên chức nào ở toà tỉnh đă
tiết lộ bức công điện trước
khi thông báo cho ông Cấn.
Sau một hồi thảo luận, cân
nhắc ông Cẩn bảo Tỉnh trưởng
Thừa Thiên “Chú cho mấy xe
thông tin nó đi. thông báo
gấp cho đồng bào hay là
không có ǵ thay đổi. Đồng
bào cứ treo cờ như mọi năm."
Ông Cẩn đồng thời căn đặn
Đại uư Minh cũng như Hồ Đắc
Thương, Hoàng Trọng Bá phải
thận trọng hết sức và làm
thế nào để tránh những
chuyện đáng tiếc có thể xảy
ra. Mặt khác Văn pḥng ông
Cẩn cũng chỉ thị cho giới
chức cảnh sát thành phố Huế
không được hạ cờ của đồng
bào.
Nói về ông Ngô Đ́nh Cẩn và
Phật giáo, Thượng tọa Mật
Nguyệt (thuộc phái Ấn
Quang)cho rằng, trong chín
năm chế độ Ngô Đ́nh Diệm,
không hiểu trong ḷng như
thế nào nhưng ngoài mặt, ông
Cẩn tỏ ra rất thân thiết và
tin cậy các thày trong Tổng
hội Phật giáo miền Nam tại
Huế). Qua bức công điện cấm
treo cờ, thái độ của ông Cẩn
ngay từ phút đầu là sửng
sốt, tức giận. Ông Cẩn than
thở với mấy thuộc viên thân
cận : “Làm như rứa tao c̣n
mặt mũi nào nói chuyện với
người ta" (tức các thầy tại
chùa Từ Đàm).
Buổi trưa ngày 7, ông Cẩn
trầm ngâm một cách khó hiểu,
ông uống một hơi hết ly rượu
lễ và cho gọi ông Minh vào
để t́m hiểu t́nh h́nh và
được biết Huế cho đến giờ
phút này vẫn không hề xao
động.
Cả một thành phố như rừng
cờ. Số lượng cờ phật giáo
như càng tăng thêm . Vào
buổi chiều ông Cẩn nhận được
báo cáo cho biết khoảng 8g30
sáng (khi Nguyễn Văn Đẳng
vào tŕnh bức công điện)th́
lại có mấy cảnh sát viên
trong thành nội kéo nhau đi
hạ cờ tại mấy nhà đồng bào
và đă có sự giằng co xô xát.
Sau đó được thu xếp êm ngay.
Huế nơi nơi như bừng sống
như đang vươn cao trong
hương hoa ngào ngạt. Không
khí như ngày hội hoa đăng và
như tất cả dành riêng cho
ngày Phật giáng thế.
Ông Nguyễn Hữu Cang, một
trong những nhân chứng trong
vụ Phật giáo Huế năm 1963 đă
kể với chúng tôi : "Sáng
ngày 7 trong giờ đồng bào và
các khuôn hội đă xôn xao
lắm. Nhất là chúng tôi lại
được tin cho biết chính Đức
Cha Ngô Đ́nh Thục đă về tận
Sài G̣n thúc đẩy ông Ngô
Đ́nh Nhu ra lệnh "triệt hạ"
Phật giáo. Do đó lại càng
khiến mọi giới Phật tử xôn
động bất măn" Nguyễn Hữu
Cang cho biết thêm: "Trưa
ngày 7, khi được tin chính
quyền cho cảnh sát đi hạ cờ
và xé cờ Phật tại mấy khuôn
hội th́ dư luận lại càng
thêm sôi nổi phẫn uất. Nhất
là giới bạn hàng chợ ĐôngBa.
Có thể nói giới bạn hàng này
mới là thànhphần đi tiên
phong trong vụ tranh đấu kể
từ ngày 7 chứ không phải chỉ
riềng ngày 8".
Nguyễn Hữu Cang cũng công
nhận rằng : Anh có nghe thấy
xe thông tin đi loan báo là
đồng bào cứ treo cờ như
thường lệ. Tuy nhiên lúc bấy
giờ bao nhiêu dồn nén trong
quần chúng được khởi dậy và
chỉ chờ đợi giây phút nổ
tung.
Các hội đoàn và quân đội đều
nhận được mật lệnh sửa soạn
để tranh đấu đ̣i b́nh đẳng
tôn giáo, đối tượng cho sự
đấu tranh như vậy quả là hấp
dẫn và dễ dàng lôi được mọi
giới Phật tử.
Khoảng 6 giờ chiều, một số
công chức ṭng sự tại Toà
đại biểu không đến Toà hành
chính Thừa Thiên và ở đây
cũng có một số công chức
thuộc tỉnh đường tụ tập bàn
tán xôn xao về bức công điện
cấm treo cờ, đồng thời cũng
có vào khoảng một ngàn đồng
bào với một số Thượng tọa,
Đại đức kéo đến Toà hành
chính để tỏ thái độ trong đó
có Thượng tọa Đôn Hậu, Trí
Quang.
Không khí lúc ấy đă nhuốm
màu tranh đấu. Nguyễn Hữu
Cang cũng có mặt trong ngày
đó. Ngày nay tuy đă quên
nhiều chi tiết nhưng ông vẫn
giữ nguyên giây phút ngọn
lửa hồng cháy rực. Ông nói :
“Khi nghe tin cờ Phật giáo
bị xé tôi có cảm tưởng như
chính tổ tiên ḿnh bị chính
quyền chà đạp. Lúc ấy dù có
phải chết cho đạo pháp tôi
cũng bằng ḷng".
Cang cho biết trong một
không khí sôi động như vậy
Thượng tọa Trí Quang xuất
hiện cùng với mấy Thượng tọa
khác như Thượng tọa Trí Thủ,
Thượng tọa Thiện Minh. Về
phía chính quyền th́ có ông
Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng,
ông Phó Tỉnh trưởng Hành
chính, ông Phong Trưởng ty
cảnh sát thành phố Huế...Lát
sau, Thiếu tá Đặng Sỹ Phó
Tỉnh trưởng Hội An lái xe
đến. Ông này mới đi hành
quân về chiều ngày 6. Khi
được cấp báo đồng bào Phật
tử đang biểu t́nh ở tỉnh
đường, Thiếu tá Sỹ vội vă
lái xe đến.
Lúc ấy Thượng tọa Trí Quang
với một vẻ xúc động mạnh,
lên tiếng gay gắt phản đối
bức công điện cấm treo cờ
tôn giáo. Ông Đẳng cho các
Thượng tọa biết là chính
quyền đă hoăn thi hành bức
công điện này và xin các
Thượng tọa cứ an tâm. Mọi sự
đều như mọi năm không có ǵ
thay đổi.
Tuy vậy, Thượng tọa Trí
Quang vẫn giữ vẻ tức giận và
lên tiếng phản đối chính
quyền Thừa Thiên tại sao
sáng ngày 7 đă cho cảnh sát
hạ cờ Phật giáo và tại một
vài nơi Cảnh sát đă xé cờ.
Ông Đẳng quay sang hỏi ông
Phong Trưởng ty Cảnh sát xem
sự thể hư thực như thế nào.
Ông Phong lên tiếng : “Tôi
quả quyết không có chuyện
đó”. Ông Phong lại nhấn mạnh
thêm : "Tôi quả quyết với
các thày là không có chuyện
xé cờ". Thiếu tá Sỹ lên
tiếng : “Nếu có chuyện xảy
ra như vậy xin thày cho biết
rơ nơi nào cảnh sát đă xé
cờ, tôi sẽ cho điều tra và
trừng trị ngay”.
Ông Phong lại nói một lần
nữa quả quyết là không có
chuyện như vậy. Ông Phong
xin Thượng tọa Trí Quang nêu
lên một vài chứng cớ. Thượng
tọa Trí Quang đáp : “Tôi
nghe đồng bào Phật tử nói
như vậy ".
Ông Phong lại thỉnh cầu :
"Xin Thày cho biết rơ nơi
xảy ra chuyện xé cờ thuộc về
khuôn hội nào, khu phố nào
để chúng tôi mở cuộc điều
tra ngay".
Thượng tọa Trí Quang lắc đầu
không tiết lộ và nói đại ư :
“Tôi không thể cho các ông
biết rơ được. Tôi cho các
ông biết rơ để rồi cảnh sát
đến làm phiền đồng bào Phật
tử rồi tính sao đây ? ".
Cuối cùng Thượng tọa Trí
Quang tỏ vẻ lo ngại : "Hiện
nay chúng tôi rất hoang mang
không hiểu chính quyền đàn
áp chúng tôi đến khi nào? ".
Ông Nguyễn Văn Đẳng vẫn
"xuống nước" thỉnh cầu các
thượng tọa yên tâm trở về
chùa và ngày mai mọi sự sẽ
tiến hành tốt đẹp như mọi
năm. Thượng tọa Trí Quang
vẫn lo ngại : “Mai này đồng
bào Phật tử sẽ tổ chúc rước
kiệu, chúng tôi đă sửa soạn
đâu đấy cả rồi chúng tôi rất
hoang mang”.
Hai bên chính quyền và các
Thượng tọa cứ ṿng vo bàn
căi, cuối cùng chính quyền
Thừa Thiên phải nhượng bộ
bằng cách gọi điện thoại
ngay cho ông Trừ Trưởng ty
Thông tin cho ba xe có máy
phóng thanh đến toà tỉnh.
Ông Nguyễn Văn Đẳng đề nghị
các Thượng tọa cho các cán
bộ Phật tử của ḿnh đi theo
xe và chính các cán bộ này
sẽ chia nhau đi khắp các khu
phố để loan báo cho đồng bào
rơ ngày 8-5 sẽ không có ǵ
thay đổi, đồng bào cứ đi
hành lễ như chương tŕnh của
Giáo hội đă ấn định. Kết quả
các thượng tọa cũng bằng
ḷng như vậy. Khoảng 9 giờ
đêm đám đông mới giải tán và
mọi chuyện tưởng chừng đă
được giải quyết tạm thời êm
đẹp. Ba xe thông tin chia
nhau đi vào các khu phố để
làm phận sự như chính quyền
và các thượng tọa đă thoả
thuận.
Theo Nguyễn Hữu Cang đêm
mùng 7 là một đêm không ngủ.
Cang cũng như một số Phật tử
khác thừa hành lệnh trên đi
kẻ biểu ngữ và quay ronêo
những bản văn đ̣i chính
quyền thực thi quyền b́nh
đẳng tôn giáo.
Giới an ninh quân đội Khu XI
Chiến thuật đă "cảm thấy"
những hiện tượng đáng lo
ngại. Có lẽ v́ vậy đêm mùng
7 , Đại tá Đỗ Cao Trí ra
lệnh cấm trại.
Không một ai ngờ được rằng
chỉ một ngày sau Huế nổ tung
mở đầu cho một biến chuyển
lịch sử.
Sau cuộc thoả thuận với các
Thượng tọa tại toà Hành
chính Thừa Thiên ông Cẩn
không c̣n ǵ băn khoăn, ông
dặn ḍ mấy người thân cận:
“Các Thày đ̣i hỏi như thế
cũng là phải. Ngày lễ của
người ta . Nếu có ǵ quá
đáng th́ bọn bay t́m ông
Nghiêm, không có ǵ th́ cho
gọi Lê Trọng Quát hoặc t́m
Hà Thúc Luyện ". Ngay đêm
đó, ông Cẩn đă nhận được báo
cáo là mọi chuyện đă được
giải quyết êm đẹp. Ông Cẩn
tin tưởng sẽ không c̣n
chuyện ǵ xảy ra nữa v́ ông
vẫn tin cẩn là được các thày
chùa Từ Đàm trọng nể và tin
ông. Hơn nữa, những người
ruột của ông Cẩn lại là
những Phật tử có nhiều tương
quan mật thiết với các thày
như Thiếu tướng Lê Văn
Nghiêm, có họ hàng gần với
Hoà thượng Hội chủ Thích
Tịnh Khiết, ông Lê Trọng
Quát lại là một Phật tử quy
y nơi Thượng tọa Đôn Hậu,
ông Hà Thúc Luyện vốn từ xưa
đóng vai tṛ giao liên giữa
ông Cẩn và mấy thày. Đó là
sự tự hào và tin tưởng chủ
quan của ông Cẩn. Trong khi
đó bức công điện cấm treo cờ
trở nên một đối tượng khích
động quần chúng. Nguồn tin
cảnh sát xé cờ lại là những
yếu tố ngoại quan đập mạnh
vào ḷng hiếu động của quần
chúng.
__________________
TÔI CHỈ
CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT
NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|
09-04-2008, 09:12 PM
|
 |
Điều
hành viên
|
|
Gia nhập: Dec
2007
Đến từ: Nation &
Ethnic
Bài gửi: 535
Đă cảm ơn: 0
Được cảm ơn 1
lần trong 1 bài
viết
|
|
Chương VIII : Tổng thống
Diệm và Phật Giáo
NGÀY LỊCH SỬ 7-5-1963 (ÂM
LỊCH)
Không một người Việt Nam nào
có thể ngờ rằng, ngày ấy và
bức công điện ấy đă cắm cột
mốc khởi điểm cho một thảm
kịch bi thương.
Trần Khôi hồi tưởng lại
những ngày khi ông ra Huế
thanh tra trước ngày 8-5
khoảng mấy ngày. Bây giờ
nghĩ lại ông Khôi chợt bàng
hoàng về một sự trùng hợp
ngẫu nhiên và tự hỏi. Người
Mỹ muốn ǵ ở Việt Nam ?
Vốn quen biết với Đại tá Mỹ
Coner trong thời gian thuộc
quyền Bộ Nội vụ trước khi ra
Huế, Khôi t́nh cờ gặp ông
Coner, ông Coner khoe:
“- Do sự thuyết phục của tôi
Tổng thống Diệm mới chịu thi
hành dân chủ tại xă ấp.
Kể từ đó xă ấp đều do dân
chúng trực tiếp bầu theo lối
phổ thông đầu phiếu.
Biết rơ bản tính Coner nên
ông Khôi nghĩ bụng "Thằng
cha thuộc loại nói róc tay
tổ " Coner c̣n nói thêm:
Chính phủ Việt Nam Cộng hoà
c̣n phải thi hành nhiều cải
tổ quan trọng nữa mới thắng
được Cộng sản chính quyền
này thiếu dân chủ. Rồi Coner
lại nhấn mạnh : "Tôi có có
cảm tưởng Chính phủ Việt Nam
Cộng hoà là Chính phủ của
những nguời Công giáo.
Anh ra Huế th́ biết. Tôi sẽ
giới thiệu anh với Johnson,
đàn em của tôi đang giúp
Hoàng Trọng Bá huấn luyện
lực lượng Nhân dân vơ
trang".
Coner nói với Khôi như một
giăi bày tâm sự :
"- Dư luận Mỹ đang bất lợi
cho Việt Nam, muốn chống
Cộng sản th́ phải huy động
lực lượng Phật giáo không
phải chỉ một chính quyền
Công giáo. Phật giáo sẽ tẩy
chay Chính phủ.
Ông ra Huế th́ biết đó chỉ
là một vương quốc của Tổng
giám mục Ngô Đ́nh Thục"
Ông Khôi lấy làm lạ lùng về
thái độ của Coner, một người
Mỹ có kinh nghiệm 30 năm ở
miền Nam Việt Nam không hiểu
suy luận từ một sự kiện nào
lại nhất định cho rằng chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm là một
chính quyền của người Công
giáo. Ông Khôi biết bụng vậy
thôi và khi ra Huế đúng vào
dịp Huế đang tưng bừng đón
Phật đản đồng thời đang sôi
động về bức công điện cấm
treo cờ ông mới hiểu điều
Coner ám chỉ.
Theo lời Trần Khôi, quan sát
ngay tại chỗ về vụ nổ ở Đài
Phát thanh Huế sẽ không dủ
cho ta những lập luận có thể
tin được, là CIA hoặc Cộng
sản đă nhúng tay vào biến cố
ngày 8-5. Nhưng về phía Mỹ,
qua những cuộc đối thoại
trao đổi th́ talại dễ dàng
cảm thấy bằng trực giác là
Mỹ có thể đă nhúng tay và
qua nhiều ngẫu nhiên trùng
hợp th́ quả là người Mỹ đă
"ra tay hành động".
Buổi tối 7-5, ông Khôi được
mời dùng cơm tại nhà một
viên chức Mỹ. Trong bữa cơm
đó ông gặp Johnson, ông Phó
Lănh sự Mỹ, một bác sĩ người
Đức tại trường Đại học Y
khoa Huế và một người Việt
Nam tự giới thiệu là giáo sư
trường Đại học văn Khoa Huế.
Khôi ngồi cạnh ông Johnson,
ông ghi nhận Johnson là một
tay người Mỹ, không khen hay
chê Chính quyền. Nhưng luận
điệu của ông Phó Lănh sự Mỹ
cũng tương tự như Coner. Đề
cập đến Phật giáo ông Phó
Lănh sự Mỹ nói đại ư :
Phật giáo là một lực lượng
rất lớn lao. Nhưng Phật giáo
không tham gia vào công cuộc
chống Cộng nếu Chính phủ
Việt Nam Cộng hoà không mở
rộng cho Phật giáo tham dự.
Nghe nói như vậy, ông Khôi
phản đối :
Quan niệm của ông Phó Lănh
sự có phần không đúng. ông
Tỉnh trưởng ở đây, ông tướng
Tư lệnh vùng đềtt là Phật
giáo. Phó Tổng thông cũng là
phật giáo. Tướng Tổng Tham
muu trưởng cũng là phật giáo
.
Ông Phó Lănh sự Mỹ mỉm cười
không đáp. Một lát sau, viên
chức Mỹ Warren Smith lên
tiếng công kích nặng nề việc
làm của Nha Công tác miền
Thượng. Viên chức Smith cho
rằng, chính quyền Việt Nam
Cộng hoà đang thực hiện kế
hoạch Việt Nam hoá và Công
giáo hoá tất cả đồng bào
Thượng và nhất là Nha này đă
xâm phạm chủ quyền vương
quốc Lào và quyền "tự quyết"
của các sắc tộc Thượng.
Bữa cơm hôm ấy, các viên
chức Mỹ, Smith và nhất là
ông Phó Lănh sự đă công kích
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm
khá mạnh mẽ về vấn đề Phật
giáo. Đề cập đến vụ biểu
t́nh tại toà Tỉnh trưởng
Thừa Thiên chiều mùng 7, ông
Phó Lănh sự cho rằng : “Nếu
chính quyền Ngô D́nh Diệm
không chịu "liên hiệp”(?)
với Phật giáo tham chánh th́
Phật giáo sẽ đứng lên tranh
đấu”
Cũng từ ngày 7-5, có một số
người Mỹ ở Đà Nẵng cấp tốc
ra Huế. Đó là Đại uư Scot.
Tất nhiên là không ai để ư
đến ông ta.
Nhưng Đại uư Scot ra Huế để
thực hiện một công việc quan
trọng do Trung ương t́nh báo
Mỹ trao phó cho ông ta.
(Năm 1965, Đại uư Scot trở
thành sĩ quan cố vấn của
Tiểu đoàn 1/3 Sư đoàn 1 BB.
Trong cuộc hành quân tại
vùng Nam Đồng, Scot trong
lúc đau buồn bất măn đă tiết
lộ công v́ệc mà ông ta đă
thực hiện ngày 8-5-1963)
Tại Sài G̣n, không có một
chuyện đáng tiếc nào xảy ra
trong hai ngày 7 và 8. Sáng
ngày 8, Lương Khải Minh được
mấy người bạn cho biết, bên
phía chùa Xá Lợi đang có
chuyện bất măn với Chính
quyền về vụ cấm treo cờ. Lúc
ấy ông ta mới hay và rất
ngạc nhiên.
Lương Khải Minh thầm nghĩ :
"Trong t́nh thế này cấm đoán
làm chi dù cho là hợp lư. Vụ
cờ Vatican rồi vụ cờ Phật
giáo, chế độ càng ngày càng
tạo thêm mâu thuẫn".
Và Cộng sản cũng chỉ mong có
thế. Sáng sớm, Thượng tọa
Trí Dũng và một vị Thượng
tọa khác có lại thăm bác sĩ
Tuyến tại nhà riêng và yêu
cầu ông can thiệp, làm thế
nào để Chính quyền đ́nh chỉ
thi hành bức công điện cấm
treo cờ. Bác sĩ Tuyến gọi
điện hỏi ông Đoàn Thêm (Đổng
lư Văn pḥng Bộ phủ tổng
thống) ông Đoàn Thêm xác
nhận là có bức công điện đó
và do nơi ông Đổng lư phó
tổng thống Quách Ṭng Đức
gởi đi (ông Quách Ṭng Đức
thi hành khẩu lệnh của Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm).
Sự việc đă xảy ra như vậy,
biết làm thế nào ?
Tại Sài G̣n, Lương Khải Minh
tự động giải quyết theo
đường lối t́nh cảm cá nhân.
Quận 3 là nơi tập trung rất
nhiều chùa chiền và những
chùa lớn như Xá Lợi, Kỳ
Viên...Từ tư thất, bác sĩ
Tuyến gọi Trung tá Phó đô
trưởng Nội An và ông Cảnh
sát trưởng quận 3 (bấy giờ
là c̣ Kính ) và yêu cầu hết
sức thận trọng "Nơi nào đă
treo cờ rồi cứ để nguyên
đừng cho cảnh sát hạ xuống.
Nơi nào đồng bào Phật tử
chưa treo th́ t́m lời khéo
léo nói với họ xin thông
cảm".
Nhờ sự sốt sắng và không
quan tâm của cảnh sát thuộc
7 quận đô thành nên vụ cờ
Phật giáo đă không gây ra
những chuyện đáng tiếc tại
Sài G̣n. Lễ Phật đản cử hành
như mọi năm.
BÀI THUYẾT PHÁP NẢY LỬA
Ngày 8-5, từ sáng sớm tinh
mơ, Huế đă trở ḿnh thức dậy
giữa một rừng cờ. Đồng bào
Phật tử trong khắp thành phố
nhất tề quần áo bảnh bao sửa
soạn kéo nhau về chùa Từ Đàm
để dự đại lễ. Nguyễn Hữu
Cang trong một tâm trạng nao
nức.
Nguyễn Hữu Cang đă được bạn
rỉ tai từ tối hôm trước là
sáng nay có thể chính quyền
sẽ đàn áp Phật giáo và ngăn
chặn không cho rước kiệu
Phật. Song cũng v́ nguồn tin
như vậy nên số Phật tử đi dự
lễ càng đông càng hăng say.
Từ 8 giờ sáng trên các ngả
đường thành phố Huế tấp nập
những người, từ Đập Đá, từ
An Cựu, đến Gia Hội , Diệu
Đế. . . .hàng ngàn Phật tử
rước kiệu Phật tiến về lễ
đài thiết lập tại chùa Từ
Đàm.
Khoảng 9 giờ, Đại uư Minh
vào gặp ông Cẩn và tin cho
ông Cẩn hay, mọi chuyện rước
xách đă diễn ra rất tốt đẹp.
Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm
cũng như ông đại biểu Hồ Đắc
Thương, ông Tỉnh trưởng
Nguyễn Văn Đẳng đều khăn
đóng áo dài đến chùa Từ Đàm
dự lễ vừa với tư cách chính
quyền vừa tư cách Phật tử.
Trước đó, một đoàn ước chừng
500 người từ Gia Hội rước
Phật qua Từ Đàm, khi đi
ngang Toà Đại biểu th́ dừng
lại, năm bảy chiếc biểu ngữ
được giơ lên. Không khí bắt
đầu sôi nổi.
Trong số biểu ngữ đó có
những khẩu hiệu như là đ̣i
chính quyền thực thi quyền
b́nh đẳng tôn giáo và lên án
kỳ thị tôn giáo.
Đoàn người dừng lại một lúc
lâu, có nhiều tiếng la ó và
đả đảo. Sau đó đoàn người
lại thẳng bước tiến về lễ
đài. Theo Nguyễn Hữu Cang
th́ hôm ấy, thanh niên và
hướng đạo Phật tử đă nhận
được lệnh là luôn luôn đề
cao cảnh giác và chính quyền
có thể đàn áp bất cứ lúc
nào.
Trong buổi lễ Thượng tọa Trí
Quang đăng đàn thuyết giảng.
Bao nhiêu ngàn Phật tử im
lặng như tờ. Phật tử vừa
thích thú vừa hồi hộp, ngạc
nhiên. Thượng tọa Trí Quang
nói hay quá, hấp dẫn và nồng
nàn. Thượng tọa lên tiếng
công kích chính quyền rất
nặng nề và tố cáo sự kỳ thị
tôn giáo, bất b́nh đẳng tôn
giáo. Tóm lại, bài thuyết
giảng đó vừa công kích chính
quyền vừa có tính cách kêu
gọi Phật giáo tranh đấu cho
Phật pháp và “đ̣i quyền b́nh
đẳng tôn giáo".
Tội nghiệp cho ba "ông
lớn"của chính quyền được một
phen "rụng tim". Ba "ông
lớn" thất sắc đưa mắt nh́n
nhau và lắc đầu chịu trận.
Thiếu tướng Nghiêm cho rằng
thầy Trí Quang công kích
chính quyền nặng quá, đang
dự leă chả lẽ ông lại bỏ
ngang ra về. Bài thuyết
giảng của Thượng tọa Trí
Quang được cơ quan an ninh
thu băng.
Khi tan lễ, Thiếu tướng
Nghiêm cũng như ông Đẳng và
ông Chương cùng lần lượt kéo
nhau đến tư dinh ông Cẩn và
mỗi người lần lượt tŕnh bày
về nội dung bài thuyết pháp
của Thượng tọa Trí Quang.
Ông Cẩn thắc mắc nói với mọi
người : “Tại sao thầy Trí
Quang lại cư xử với ḿnh như
vậy?”. Có thể nói ông Cẩn
rất ngạc nhiên về bài thuyết
pháp của Thượng tọa Trí
Quang. Lúc đầu nghe nói ông
vẫn không tin “Làm ǵ có
chuyện đó”. Măi sau khi nghe
hết cuộn băng, ông Cẩn chỉ
lắc đầu, than dài.
Về phía đồng bào Phật tử
tinh thần bỗng lên cao và
càng thêm hăng say nhờ bài
thuyết pháp của Thượng tọa
Trí Quang.
Theo Nguyễn Hữu Cang, sau
khi nghe Thượng tọa Trí
Quang thuyết pháp như vậy,
Cang cũng như bạn bè nhất là
giới Phật tử lao động và học
sinh, sinh viên bỗng nhiên
cảm thấy phẫn uất và cần
phải làm một cái ǵ đó. Cơn
giông tố bắt đầu nổi lên.
Buổi chiều ngày 8 lặng lẽ
trôi qua. Theo chương tŕnh
đă dự định th́ 8g30 tối sẽ
đốt pháo bông và rước xe hoa
tại chùa Từ Đàm. Vào khoảng
6 giờ chiều đồng bào đă lũ
lượt kéo nhau về Từ Đàm.
Những năm trước lễ Phật đản
tại Huế bao giờ cũng tấp nập
đông vui như vậy.
Vào khoảng 7giờ 30, đồng bào
tập trung tại chùa Từ Đàm
chen chân không nổi. Bỗng
nhiên ban tổ chức cho biết,
chương tŕnh được thay đổi
và không có đốt pháo bông
như dự định.
Đồng bào được mời về tập
trung tại Đài phát thanh
phía cầu Tràng Tiền. Ban tổ
chức cho biết đồng bào hăy
tập trung quanh vùng Morin,
để đón đoàn xe hoa từ Đà
Nẵng ra tham dự. Đồng bào
Phật tử lại chen nhau đổ xô
về địa điểm đă định. Ai nấy
đều nao nức, mong chờ đoàn
xe hoa từ Đà Nẵng tiến ra.
Tại Đài phát thanh, ông Quản
đốc Ngô Ganh đang cho sửa
soạn để phát chương tŕnh lễ
Phật đản vào lúc 8g15.
Chương tŕnh đă được thu
thanh từ trước và được kiểm
duyệt theo thể lệ chung.
Ĺnh tính cho ông biết sắp
xảy ra chuyện chẳng lành.
Đồng bào tập trung quanh Đài
phát thanh đông quá sức
tưởng tượng. Nhân viên của
đài vẫn yên trí làm việc v́
cho rằng, đồng bào đến để
nghe phát thanh chương tŕnh
đặc biệt về lễ Phật Đản,
giản dị chỉ có thế thôi.
Nhưng sau đó, có mấy ông
Thượng tọa, Đại đức và một
số thanh niên Phật tử vào
thẳng văn pḥng ông Quản
đốc, yêu cầu được thay đổi
chương tŕnh phát thanh.
Thay v́ cho phát thanh
chương tŕnh đă được thu
thanh và kiểm duyệt, ban tổ
chức yêu cầu ông Quản đốc
cho truyền thanh trực tiếp
buổi lễ ban sáng kể cả bài
thuyết pháp của Thượng tọa
Trí Quang mà ban tổ chức đă
thu thanh.
Quản đốc Ngô Ganh từ chối
với lư do ông chỉ được phép
cho truyền thanh những cuộn
băng nào đă được kiểm duyệt,
c̣n vấn đề trực tiếp truyền
thanh buổi lễ th́ ông không
thể thoả măn. Ban tổ chức
cương quyết đ̣i hỏi phải
được truyền thanh theo
chương tŕnh trong cuốn băng
của Ban tổ chức. Bên ngoài
Phật tử và đồng bào tập
trung mỗi lúc một đông và
tựa như từng lớp sóng người
trong vùng biển động.
Ngô Ganh gọi điện cho từng
cấp liên hệ để báo cáo sự
t́nh. Đôi bên vẫn dằng co.
Về phía chính quyền lúc 5
giờ chiều, cơ quan an ninh
đă nhận được nguồn tin mật
là tối nay các Thày sẽ làm
áp lực buộc Đài Phát thanh
phải cho trực tiếp truyền
thanh cuộn băng ghi lời
thuyết pháp ban sáng của
Thượng tọa Trí Quang - Thiếu
tá Đặng Sỹ Phó Tỉnh trưởng
đi t́m ông Tỉnh Trưởng để
tường tŕnh nội vụ. Nhưng
ông Sỹ không sao t́m được
ông Đẳng. Ông Sỹ cho người
đến nhà vợ nhỏ ông Đẳng cũng
không thấy ông đâu.
Cuối cùng Thiếu tá Sỹ đến
văn pḥng ông Cẩn th́ lúc ấy
ông Lê Văn Đạm (Đổng lư toà
Đại biểu) và ông Đẳng cũng
vừa tới. Ông Sỹ tŕnh bày
qua loa về hiện t́nh, ông
Đẳng cho biết ông đă gặp
Thượng tọa Trí Quang và nói
: "Cứ yên trí không có
chuyện ǵ đâu". Sau đó hai
ông Đạm và Đẳng gặp riêng
ông Cẩn. Ông Cẩn cho rằng :
“Nếu có như rứa th́ sao bây
chừ ...vậy cố gắng sao nói
với thày Trí Quang bỏ qua
đi".
T́nh h́nh đài phát thanh lúc
ấy đă hết sức căng thẳng.
Đồng bào Phật tử đă tràn vào
tới sân, nhiều tiếng la lối,
ḥ hét. Ngô Ganh gọi điện
thoại cho Thiếu tá Sỹ cầu
cứu. "Thiếu tá phải can
thiệp gấp họ chiếm Đài bây
giờ này". Rồi cứ năm phút
Thiếu tá Sỹ lại nhận được
điện thoại của Ngô Ganh.
“thiếu tá không can thiệp
gấp th́ họ chiếm Đài họ giết
tôi đó". Ông Sỹ cũng không
biết làm thế nào, đành phải
trấn an Ngô Ganh : “Anh. cứ
yên trí, không sao đâu tôi
ra ngay đó". Sự thực lúc ấy
Thiếu tá Sỹ cũng như văn
pḥng ông Cẩn chưa biết phải
giải quyết như thế nào cho
êm đẹp.
T́nh thế quá gấp rút, ông
Nguyễn Văn Đẳng bảo Thiếu tá
Sỹ: "Bây giờ chỉ c̣n cách
giải tán, Thiếu tá lo giùm
tôi đi ".
Ông Sỹ trả lời "Tôi làm
ngay, nhưng ông Tỉnh trưởng
ra lệnh đă". Ông Đẳng có vẻ
mất b́nh tĩnh. Tin tức cho
biết, Đài phát thanh có thể
mất đến nơi. Ông Đẳng bảo
Thiếu tá Sỹ: "Thiếu tá lo
gấp dùm tôi, kư một giấy chứ
hàng trăm giấy tôicũng kư”.
Thiếu tá Sỹ ngần ngại: "Tôi
thi hành lệnh giải tán với
tư cách nào ? Phó Tỉnh
trưởng Nội an hay Tiểu khu
trưởng ?". Ông Đẳng chưa
biết trả lời sao th́ được
ông Sỹ giải thích : “Nếu với
tư cách phó Nội an th́ tôi
chỉ có một ít cảnh sát, công
an và hai đại đội địa phương
quân". Ông Đẳng vui vẻ:
"Thiếu tá thi hành theo tư
cách Tiểu khu trưởng đi”.
Ông Đẳng không quên vấn đề
giấy tờ và nói : “Thiếu tá
về Tiểu khu làm giấy tờ đi
rồi tôi kư sau”. Theo quyết
định 57 của Chính phủ Việt
Nam Cộng ḥa th́, Tỉnh
trưởng ngoài chức trưởng
hành chính c̣n giữ chức
trưởng an ninh lănh thổ. Như
vậy, giải tán cuộc biểu t́nh
tại Đài phát thanh đều thuộc
thẩm quyền tối thượng của
Tỉnh trưởng Thừa Thiên.
Sau khi nhận lệnh của ông
Đẳng, Thiếu tá Sỹ gọi điện
thoại về Đà Nẵng tŕnh nội
vụ lên Thiếu tướng Nghiêm Tư
lệnh Vùng I chiến thuật.
Tướng Nghiêm tỏ vẻ lo lắng
và ra lệnh cho ông Sỹ: “Anh
phải lo giải quyết ngay c̣n
chần chừ ǵ nữa....Nếu họ
chiếm được Đài phát thanh
Việt Cộng nó lợi dụng phá
Đài rồi làm sao đây ? ".
Thiếu tá Sỹ tŕnh bầy :
"Hiện nay Tiểu khu Thừa
Thiên không đủ phương tiện,
xin Thiếu tướng cho phương
tiện". Thiếu tướng Nghiêm
đồng ư cho Tiểu khu Thừa
Thiên được sử dụng phương
tiện thuộc khu và vùng chiến
thuật đặt dưới quyền Tư lệnh
của Thiếu tướng Nghiêm.
Như vậy đă có sự đồng ư của
Vùng. Thiếu tá Sỹ gọi điện
thoại xin lệnh của Tư lệnh
sư đoàn I bộ binh kiêm Tư
lệnh khu XI chiến thuật. Đại
tá Đỗ Cao Trí đă bay về Sài
G̣n từ chiều và chỉ c̣n
Trung tá Lê Quan Hiền Tư
lệnh phó. Sau khi tŕnh bày
nội vụ, Thiếu tá Sỹ xin lệnh
và ư kiến th́ Trung tá Hiền
sốt sắng đồng ư ngay : “Tôi
cho anh sử dụng đại đội
Thiên hổ " Đại đội trù bị
của sư đoàn I nổi tiếng là
thiện chiến do thiếu uư Phú
làm đại đội trưởng. Thiếu tá
Nguyễn Hộ làm Tham mưu
trưởng sư đoàn cũng có mặt
tại Bộ Tư lệnh cũng đồng ư
để ông Sỹ sử dụng lực lượng
trù bị của sư đoàn. Thiếu tá
Nguyễn Hộ bảo ông Sỹ: “Anh
cứ làm kế hoạch đi, Thiếu uư
Phú đến tŕnh diện anh ngay
bây giờ".
Thiếu tá Sỹ gọi điện thoại
cho Thiếu tướng Nghiêm báo
cáo diễn biến của nội vụ.
Ông Nghiêm ra lệnh : "Phải
lo giải tán gấp đi. Tôi cho
anh một đại đội khoá sinh C1
và một đại đội thiết giáp
đang hành quân tại vùng Phú
Lộc". Hai đại đội này đều
trực thuộc cấp Vùng. Ông Sỹ
trở về tiểu khu Thừa Thiên
và gọi điện thoại cho Thiếu
tá Vĩnh Biểu (chỉ huy trưởng
Trung tâm huấn luyện Phú
Bài) : “Anh cho tôi xin một
đại đội, anh cho lên Tiểu
khu gấp, Thiếu tướng đă nói
ǵ với anh chưa ? ". Thiếu
tá Biểu xác nhận đă nhận
được lệnh của Thiếu tướng
Nghiêm qua Đại uư Thiết,
Chánh văn pḥng của Tư lệnh
Vùng I.
Thiếu tá Vĩnh Biểu cho biết
là đại đội khoá sinh C1 đang
lên xe trực tiểu khu.
Kể từ lúc này Thiếu tá Sỹ đă
có một lực lượng khá hùng
hậu gồm đại đội Thiên hổ,
đại đội C1, đại đội Quân
Trấn, chi đội cơ giới Bảo an
(do Trung uư Kỳ chỉ huy, sau
1963 ông Kỳ bị bắn chết một
cách rất ly kỳ sẽ nói vào
đoạn sau) đại đội thiết giáp
và một số hiến binh quân
cảnh thuộc Quân Trấn.
Bộ Tham mưu của ông Sỹ có
mặt Đại uư Lê Nguyên Phu
(Tiểu khu phó), Đại uư
Nguyễn Kinh Lược (Tỉnh đoàn
trưởng Bảo an), Đại uư Lê
Duy Hiền (Tham mưu trưởng).
Tuy đă nhận được lệnh đầy đủ
từ ba phía liên hệ (Tỉnh
trưởng, Vùng và Khu chiến
thuật)ông Sỹ cũng như các sĩ
quan hiện diện đều băn khoăn
do dự. Riêng ông Sỹ lại càng
khó xử hơn cả, v́ ông mắc
vào 2 cái kẹt : là một tín
đồ Thiên chúa giáo, gia đ́nh
bên vợ lại là Phật giáo (bà
mẹ vợ ông Sỹ thuộc hàng tu
tại gia và thọ giới trai).
Các sĩ quan hiện diện đều
đồng ư là phải hết sức thận
trọng, đây là vấn đề thuộc
phạm vi tôn giáo v́ dù có
giải tán một cách êm đẹp
cũng vẫn bị mang tiếng là
đàn áp. Nếu thất bại để mất
Đài Phát thanh th́ hậu quả
sẽ không biết như thế nào.
Các đơn vị đă tập hợp đầy đủ
tại sân Tiểu khu ông Sỹ ra
trước hàng quân giải thích
cho quân nhân các cấp rơ và
ra lệnh dùng súng Garrant
tay cầm ngang trước mặt xô
đồng bào, tuyệt đối không
được dùng lưỡi lê đâm và
cũng không được phép nổ
súng. Bộ Tham mưu chọn 10
người và chỉ 10 người này
mới được phép bắn. Đại uư
Lược lưu ư : "Chỉ được bắn
chỉ thiên mà thôi. Khi nào
nghe thấy Thiếu tá báo hiệu
lệnh th́ mới được nổ..." .
Ngoài 10 người được chỉ định
không một quân nhân nào được
sử dụng đạn nổ. Bộ Tham mưu
lại chọn 15 quân nhân khác,
phân phối cho 15 địa điểm và
mỗi quân nhân được phát một
trái lựu đạn MK.3 cũng dùng
khi tấn công địch, tiếng nổ
MK.3 rất lớn khủng bố tinh
thần địch, nhưng MK.3 không
có tác dụng giết người và
nếu đứng gần chỗ nổ sẽ chói
tai long óc và có thể bị
thương nhẹ.
Đại uư Phu nhắc lại lệnh
Thiếu tá Sỹ : "Các anh em sử
dụng lựu đạn phải nhớ hai
tiêu chuẩn : 1, chỉ ném khi
có súng lệnh của Thiếu tá;
2, chọn nơi nào không có
người mới được ném, thí dụ
như ném vào băi cỏ gốc cây".
Trong khi Bộ Tham mưu của
Tiểu khu c̣n đang bàn thảo
kế hoạch đối phó th́ Đài
Phát thanh bắt đầu lâm nguy
trầm trọng. Gạch đá bay vun
vút. Trung tá Thưởng Giám
đốc nha Công an gọi điện
thoại cho Thiếu tá Sỹ giọng
bẳn gắt: “Anh c̣n chần chờ
ǵ nữa. . . Anh giải tán
ngay đi. T́nh h́nh nguy lắm
rồi.". Thiếu tướng Nghiêm từ
Đà Nẵng gọi điện thoại hỏi
t́nh h́nh và ra lệnh cho ông
Sỹ : "Việc đă gấp rồi giải
tán th́ giải tán ngay đi,
c̣n chần chừ ǵ. . . ".
Ông Sỹ và mấy sĩ quan Tham
mưu nh́n nhau do dự...Ai
cũng ngán.
Đợt thứ nhất, ông Sỹ cho sử
dụng xe phun nước nhưng vô
hiệu. Đồng bào đông quá và
nhấp nhô như biển động trong
cơn giông tố. Đợt thứ hai,
ông Sỹ cho hai tiểu đội quân
cảnh, một tiểu đội hiến binh
và khoảng 20 nhân viên cảnh
sát, nhưng cũng vô hiệu. Đám
quần chúng ngày càng bị
khích động và đang như trong
cơn lên đồng.
Ông Quản đốc Ngô Ganh kêu
cứu trong sự tuyệt vọng :
“Đài mất đến nơi rồi, họ
giết tôi bây giờ đây nè.
Thiếu tá can thiệp gấp. ".
Đợt thứ 3: Thiếu tá Sỹ cho
hai trung đội ra đi tiến
theo đội h́nh dàn hàng ngang
cùng với 3 xe phóng thanh
kêu gọi đồng bào giải tán,
gạch đá bay vun vút, hàng
ngàn tiếng la ó, đả đảo,
hoan hô.
Ông Nguyễn Văn Đẳng bắt đầu
mất tinh thần. Quần chúng
làm dữ quá. Gạch đá ném tới
tấp vào cửa Đài Phát thanh.
Ông nói với Thượng tọa Trí
Quang : "Thày dùng Micro
Thày nói dùm, như thế này
nguy hiểm quá". Thầy Trí
Quang ngần ngại : “Bây giờ
tôi phải nói với Phật tử sao
đây” Đám đông vẫn cuồn cuộn
như thuỷ triều dâng cao.
Thầy Trí Quang ra trước cửa
Đài, lên tiếng tiếng trấn an
dân chúng : “Phật tử cứ b́nh
tĩnh, mọi việc Thày đang t́m
cách giải quyết...”. Nhưng
lời Thày Trí Quang cũng vẫn
vô hiệu.
Đám đông làm dữ quá. Một nhà
sư trẻ đă nhẩy lên được nóc
đài Phát thanh và cắm cờ
Phật giáo. Khi cắm Phật kỳ
xong đám đông càng thêm phấn
khởi hô to vang dội. Từ lúc
đó, chung quanh Đài , Phật
kỳ bay rợp trong ánh sáng
như vùng hào quang đêm hoa
đăng. Biển người nhấp nhô
chuyển động và bắt đầu như
con thuyền trăm tay lái. Đám
đông này sẽ vỡ như tổ ong.
Một số ít nhân viên công lực
đành khoanh tay và lúc ấy
đám đông đang làm chủ t́nh
h́nh. Khi đám đông bộc phát
trong ngọn lửa của nhiệt
t́nh tôn giáo th́ thiết
tưởng không có ǵ chế ngự
được. Lúc ấy họ chỉ biết
vâng phục một thứ thần quyền
qua ngọn cờ tôn giáo.
Quản đốc Ngô Ganh cũng như
Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng
gần như mất hết b́nh tĩnh.
Lúc ấy nhà cầm quyền phải
triệu thỉnh Thượng tọa Trí
Quang, Thượng tọa Trí Quang
tuy có kêu gọi Phật tử phải
nên b́nh tĩnh nhưng đám đông
mỗi lúc một thêm cuồng
nhiệt.
Trung tá Thưởng tỏ ra vô
cùng lo ngại nên một lần nữa
gọi điện thoại cho Thiếu tá
Sỹ hối thúc : “Anh c̣n đợi
ǵ nữa? Anh c̣n chần chờ ǵ
nữa ? Anh c̣n chần chờ ǵ
nữa mà không bắt đầu đi” Dù
ông Sỹ đă cho hai tiểu đội
quân cảnh cùng hiến binh và
cảnh sát đi giải tán nhưng
họ đành khoanh tay không thể
làm ǵ được hơn. Trung tá
Thưởng phải thân hành đến
quân trấn hối thúc ông Sỹ.
Thiếu tá Sỹ cho hai trung
đội tiến ra theo đội h́nh
hàng ngang. Kể từ lúc ấy,
đồng bào Phật tử cũng bắt
đầu lo việc bố pḥng. . .
Các xe đạp được đưa ra chắn
ngang đường. Thanh niên Phật
tử lẫn lộn bên cạnh các bà
các cô và thiếu nhi để tạo
thành ṿng rào ngăn chặn
nhân viên công lực.
Từ trên nóc Đài Phát thanh
một nhà sư trẻ cầm chiếc loa
kêu gọi Phật tử hăy tiến lên
không sờn ḷng trước bạo
lực. Nhà sư lại nhấn mạnh là
đang có sư đoàn từ Đà Nẵng
tiến vào để hỗ trợ cho cuộc
đấu tranh v́ Đạo pháp. Nhà
sư vừa dứt lời, đám đông
bỗng náo nhiệt hẳn lên nhiều
tiếng la ó hoan hô vang dậy.
Tại Tiểu khu Thiếu tá Đặng
Sỹ duyệt xét kế hoạch lần
cuối cùng với các sĩ quan
như Đại uư Phu, Đại uư Lược,
Trung uư Kỳ. Ông Sỹ quyết
định dùng xe cơ giới của Bảo
An (thứ xe có 4 bánh cao
lênh khênh) để mở đường,
lính tiến sau xe. Một sĩ
quan cho rằng dùng xe mở
đường rất hay, đồng bào thấy
xe đạp bị cán sẽ xót, do đó
cũng tự động vác xe lên hè
phố, như thế binh sĩ mới có
thể tiến được, ư kiến quả
hiệu nghiệm, khi xe Thiếu tá
Sỹ tiến lên, theo Trung sĩ
Quang (thuộc tiểu khu Thừa
Thiên ) th́ xe đi với một
tốc độ như rùa. Xe tiến tới
đâu th́ đồng bào đổ xô ra
đường vác xe lên hè phố. Ai
cũng biết dân miền Trung
nghèo khổ, nên chiếc xe đạp
luôn luôn là một bảo vật.
Nhờ vậy cuộc tiến quân diễn
ra êm thắm. Tuy nhiên theo
ông Nguyễn Nghiễm khi đồng
bào thấy xe và lính th́
không khí tranh đấu bỗng
dưng bùng lên cực mạnh. Bao
nhiêu con mắt đều đổ dồn về
phía ông Sỹ và có nhiều
tiếng chửi thề. Có Phật tử
lại gọi đích danh Thiếu tá
Sỹ ra mà chửi. Thế rồi gạch
đá, guốc, vỏ la ve bay như
bướm. Theo ông Nguyễn Nghiễm
lúc ấy tinh thần đồng bào
lên quá cao.
Chính Nguyễn Nghiễm cũng có
cảm tưởng như ḿnh đang dự
vào cuộc thánh chiến và sẵn
sàng xả thân cho đạo pháp.
Cho đến lúc ấy chương tŕnh
phát thanh vẫn ngưng bặt và
chỉ c̣n tiếng la ó của đám
đông. Mô tả đám đông này,
ông Nguyễn Nghiễm cho rằng,
chưa có lễ Phật đản nào
(trước l963) lại đông người
và phấn khởi như vậy.
Trên xe, Thiếu tá Sỹ mặc áo
giáp cùng với 2 hạ sĩ quan
là Trung sĩ Tư và
Quang...Gạch đá ném lên xe
nhiều quá nhưng v́ có mũ sắt
và áo giáp nên không ăn nhằm
vào đâu. Ông Sỹ vẫn cho xe
tiến lên từ từ.
Xe tiến đến đâu th́ đồng bào
dạt ra hai bên đường, trông
cảnh tượng rất ngộ. Dù chạy
th́ chạy nhưng ai nấy không
quên dắt xe theo.
Ông Sỹ được một phen nghe
chửi rát tai.
Trong khi đó, ba xe phóng
thanh của Ty Thông tin luôn
luôn kêu gọi đồng bào giải
tán. Văn pḥng Cố vấn chỉ
đạo của ông Cẩn lại có vẻ
b́nh thản v́ không ai ngờ
thảm hoạ sẽ xảy ra. Cho đến
lúc ấy Văn pḥng của ông Cẩn
không có một liên lạc nào
với Trung ương. Từ Thiếu
tướng Nghiêm đến ông Hồ Đắc
Thương, ông Cẩn và bộ Tham
mưu ai cũng chỉ lo sợ một
điều là Đài Phát thanh bị
chiếm và một khi bài thuyết
pháp của Thượng tọa Trí
Quang được phát thanh th́
coi như mấy tai hoạ cùng ập
đến cho mấy ông lớn, v́ bài
thuyết pháp đó như trên đă
viết công kích chính quyền
mạnh quá và tất cả đều sợ
trách nhiệm đối với Tổng
thống.
Thực nếu không sử dụng quân
đội th́ lực lượng an ninh
thành phố Huế không thể nào
giữ nổi Đài Phát thanh. Ai
có mặt trong đêm 8-5 mới
thấy rơ sức mạnh của quần
chúng. Sức mạnh đó khi được
khơi động bằng lư tưởng tôn
giáo và được hướng dẫn bởi
một số huyền thoại lănh tụ
th́ đó là sức mạnh của giông
băo.
TIẾNG NỔ RUNG CHUYỂN CẢ
NƯỚC.
Chiếc xe cơ giới của Thiếu
tá Sỹ tiến đến gần Đài phát
thanh khoảng 50 thước, bỗng
có một tiếng nổ kinh hồn và
tiếp theo là những tiếng nổ
khác. Lúc ấy là 10g30.
Xe của ông Sỹ quay khựng
lại, 1 hạ sĩ quan la lớn
“Nổ, Thiếu tá coi chừng Việt
cộng Thiếu tá" Ông Sỹ rút
khẩu Colt 12 cầm tay, nói
qua máy nghe "Nghe đây, nghe
lịnh Đại bàng đây".
Theo sự mô tả của một số sĩ
quan có mặt ở gần Đài lúc ấy
th́ tiếng nổ làm rung chuyển
tất cả, thứ ánh sáng từ
tiếng nổ phát ra giống như
một tia sét và trong đời
binh nghiệp của họ thảy đều
chưa nghe thấy một tiếng nổ
nào lạ tai như vậy.
Sau tiếng nổ, ông Nguyễn
Nghiễm cho biết cảnh tượng
trở nên vô cùng hỗn loạn
trong sự kinh hoàng. Đồng
bào xô đẩy nhau t́m đường
thoát thân. Bao nhiêu tiếng
khóc kêu la. Các đường xung
quanh Đài Phát thanh vốn nhỏ
hẹp nên lại càng thêm tắc
nghẽn. Đồng bào bỏ cả xe,
guốc dép và t́m đường thoát
thân. Trẻ con đàn bà khóc
như ri. Ông Nguyễn Nghiễm
đứng cách chỗ nổ khoảng 50,
60 thước, cảm tưởng của ông
lúc ấy giống như người bị
mất trí, người th́ ngất ngư,
hai mắt hoa lên, tay chân
luống cuống không biết chạy
đâu.
Sau tiếng nổ đầu, khoảng 4,
5 phút sau ông Nguyễn Nghiễm
nghe thấy 3, 4 tiếng súng
lục từ phía xe của Thiếu tá
Sỹ và tiếng la lối của mấy
quân nhân trên xe. Ông
Nguyễn Nghiễm thấy tức nơi
ngực, ông chạy khỏi Đài một
quăng xa mới đứng dừng lại.
Nguyễn Hữu Cang chạy thoát
qua cầu Tràng Tiền. Khi
tiếng nổ xảy ra, Nguyễn Hữu
Cang ở ngay gần Đài. Tiếng
nổ quá lớn làm anh xây xẩm
và lảo đảo. Một mảnh thịt
người văng tung vào mặt
Nguyễn Hữu Cang, cho đến nay
Nguyễn Hữu Cang vẫn không
thể xoá nhoà được cảnh tượng
bi thương hôm ấy.
Trong khi đồng bào xô đẩy
nhau chạy thoát thân, đồng
bào luôn luôn được nghe
tiếng người ta hô hoán "Chạy
lẹ đi, nó bắn chết hết bây
giờ". Hoặc những tiếng la
lối như "Bà con chạy lối
ni... đồng bào đừng về lốí
nớ... Đặng Sỹ nó đang cho xe
cán đồng bào ở lối nớ...
Đám đông quần chúng đă hỗn
loạn lại càng thêm hỗn loạn.
Về phía Thiếu tá Sỹ, khi
nghe hai tiếng nổ, ông hét
lên qua máy nói : "Việt cộng
phá Đài, nghe tôi . Nghe tôi
Đ ại bàng đây Việt Cộng tấn
công Đài ".
Dứt lời ông Sỹ rút "Colt 12"
bắn chỉ thiên ba phát theo
hiệu lệnh. Thiếu tá Sỹ lại
ra lệnh : "Việt Cộng tấn
công đài, áp dụng lệnh Đại
bàng".
Lệnh trên được truyền ra,
thế là 10 tay súng được chỉ
định từ trước đều giơ cao
ṇng súng lên không trung và
nhả đạn. Họ chỉ được phép
bắn chỉ thiên mà thôi. Đồng
thời lúc đó, các quân nhân
sử dụng lựu đạn MK 3 cũng
đồng loạt cho nổ qua 15 địa
điểm khác nhau. Có anh ném
MK 3 xuống phía bờ sông. Có
anh ném trong sân trường Văn
khoa, có anh ném gần ngay
câu lạc bộ thể thao.
Quân đội bắt đầu chuyển dịch
và bắt tay vào hành động. Xe
của Thiếu tá Sỹ đứng trước
Đài. Chao ơi cảnh tượng thê
lương chưa từng thấy. Không
một xác chết nào được toàn
thây. Có nạn nhân, đầu bị
thổi bay cách Đài cả chục
thước, cẳng gị cũng bay đi
đâu mất tiêu, gan ruột phèo
phổi bay lên cả cành cây,
tung toé ra khắp nơi, tất cả
cửa kính của Đài bị bay đi
hết. Cảnh tượng ấy theo
những người chứng kiến, có
thể nói không bút nào tả hết
được sự thê lương. Tiếng nổ
đó không do mảnh mà chỉ do
hơi. Sức hơi ép ước khoảng
tương đương với 5 kílo thuốc
nổ TNT. Nạn nhân chết không
do mảnh mà do hơi ép. Sức
hơi ép ấy làrn nạn nhân tan
xác. Trung sĩ Tư đến cách
Đài 30 thước bỗng dưng đứng
khự ng lại, hô thấtthanh :
“Bớ đầu người ta đây nè "
Một chiếc đầu nạn nhân ở
ngay dưới chân ông ta. Theo
ông Tư chiếc đầu đó không
c̣n là đầu người nữa. Ông ta
chỉ thấy hàm răng dính vô
một mảng thịt.
Một loạt liên thanh nổ lên
trời. Thiếu tá Sỹ Colt 12
cầm tay, mặt thất sắc nói
không ra lời, ông cố ra lệnh
cho thuộc viên “coi chừng,
nó có thể tấn công Đài bây
giờ" . Sau đó. . .ông Sỹ vào
thẳng bên trong Đài. Vừa
trông thấy Thượng tọa Trí
Quang, ông Sỹ đă mất b́nh
tĩnh nói lớn : “Làm sao thế
này. Sao có người chết như
thế này”. Những người có mặt
trong Đài lúc ấy đều tỏ ra
lo sợ và mất hết tinh thần.
Ông Đẳng mặt tái xanh ngơ
ngác. Tại hoạ xảy ra bất ngờ
quá không ai tưởng tượng
nổi. Thượng tọa Trí Quang
cũng vậy thảy đều không giữ
được b́nh tĩnh. Thượng tọa
Trí Quang chắp tay vào nhau
như nguyện cầu nói trong cơn
lo âu : “tôi không ngờ lại
xảy ra như thế này”. Thiếu
tá Sỹ bảo Thượng tọa Trí
Quang : ”Thày phải chịu
trách nhiệm về những hậu quả
đă xảy ra như thế này". Ông
Sỹ lại dằn giọng nhắc lại :
“Tại sao lại xảy ra như thế
này?”.
Trung tá Thưởng Giám đốc Nha
Công an Tư pháp như không
nén được cơn tức giận. Ông
lừ mắt nh́n mọi người rồi
nói với Thượng tọa Trí Quang
: "ông phải chịu hết trách
nhiệm " - Ông Thưởng lại nói
: “Ai gây ra tai hoạ th́
phải chịu hết trách nhiệm "
- Lúc ấy, Thượng tọa Thiện
Minh đứng bên Thượng tọa Trí
Quang với một thái độ khá ôn
tồn và khiêm tốn nói với
Thiếu tá Sỹ cũng như Trung
tá Thưởng "Chuyện đă xảy ra
như thế này, th́ không biết
nói sao. Tôi xin chịu hết
trách nhiệm ".
Lúc bây giờ chung quanh Đài
không c̣n một ai ngoài quân
đội và nhân viên công lực.
Đồng bào đă chạy dạt sang
bên kia cầu và đang tụ tập ở
phía chợ Đông Ba khoảng 5, 7
trăm người. Những nạn nhân
bị thương được chuyển gấp
đến nhà thương Huế. Nạn nhân
bị tử thương ngay lúc đầu đă
không có cách nào để nhận
ra, có bao nhiêu người nam
hay nữ, già hay trẻ v́ như
trên đă viết, nạn nhân chết
không toàn thây, da thịt bay
tứ tung.
Lúc ấy một viên chức Mỹ đến
đây để lo chụp h́nh quay
phim, nhưng bị nhân viên
công lực đuổi khỏi. Vợ chồng
bác sĩ Wuff người Đức thuộc
Đại học Y khoa Huế t́m cách
vào trong Đài xin để săn sóc
nạn nhân nhưng bị từ chối.
Chính bác sĩ Wuff này đă
lanh tay chụp được mấy tấm
h́nh, một vài chiếc xe cơ
giới của Bảo an lúc ấy đang
đậu ngay trước Đài (nội sáng
9-5 tấm h́nh này đă được gởi
về Sài G̣n và mấy ngày sau
xuất hiện trên báo chí Tây
Đức, Pháp, Mỹ. Một chi tiết
cần lưu ư là năm 1965, ba
bác sĩ người Đức của Đại học
Y khoa Huế trong đó có bác
sĩ Wuff người đă chụp h́nh
và ráp nối h́nh đêm 8-5-1963
đều bị an ninh của sư đoàn I
dưới thời tướng Nguyễn Chánh
Thi làm Tư lệnh trong một
cuộc hành quân tại khu Nam
Đồng đă khám phá được tài
liệu mật, cho biết rằng 3
bác sĩ người Đức trên đây
đều là người Đông Đức, vượt
qua Tây Đức và là những điệp
viên Cộng sản thuộc loại
quốc tế. Nhưng lại có giả
thuyết cho rằng họ thuộc
loại gián điệp).
Khoảng 11 giờ đêm đồng bào
Phật tử lại nhốn nháo, người
th́ lo t́m các Thày bị bắt,
người th́ xốn xang không
biết nạn nhân có phải là vợ
con ḿnh hay không. Đồng bào
t́m cách vượt qua cầu Tràng
Tiền tiến sang Đài Phát
thanh. Cầu Tràng Tiền lúc đó
ngổn ngang không biết bao
nhiêu guốc dép. Không khí
bỗng dưng sôi nổi. Một Phật
tử từ phía Đài sang bên Đông
Ba kêu gọi đồng bào phải có
thái độ ngay, v́ các Thày bị
bắt rồi và xe tăng cán người
ta chết nhiều không biết bao
nhiêu mà kể. Thế là trong
cơn hăng say, một số đồng
bào lại kéo nhau qua Đài.
Ông Nguyễn Văn Đẳng lo âu
lắm, bảo với Thiếu tá Sỹ:
"Việc đă xảy ra như vậy rồi,
Thiếu tá cứ an tâm, tôi sẽ
tŕnh với Tổng thống về vụ
này”. Đám đông tiến về phía
Đài bắt đầu sôi dộng, nhiều
tiếng la ó. Thiếu tá Sỹ thấy
vậy chạy vào mời Thượng tọa
Trí Quang ra coi và nói :
“Thày nh́n kia, bây giờ mà
c̣n làm tới nữa. Thày bảo
bọn họ về ngay đi, đừng làm
cái tṛ đó nữa". Thượng tọa
Trí Quang vui vẻ nhận lời và
nói với các Phật tử : "Các
con về đi. Các Thày không
sao cả”. Đám đông nghe thèo
lời tự động kéo về nhưng
trong ḷng rất dao động, bất
măn và ai cũng nóng ruột
muốn t́m hiểu xem có bao
nhiêu nạn nhân bị gục ngă.
AI LÀ THỦ PHẠM ?
Giới chức chính quyền Thừa
Thiên bắt đầu lo sợ không
biết giải quyết như thế nào
và thượng cấp sẽ tỏ thái độ
ra sao. Hầu hết đều yên trí
rằng đây là một vụ do Cộng
sản chủ động. Việc cấp thời
lúc ấy là cho di tản các nạn
nhân bị thương vào bệnh
viện.
Mặt khác, nhân viên hữu
trách cho người đi lượm từng
mảnh thịt, từng khúc xương,
từng bàn chân của nạn nhân
bị tử nạn. Theo Đại uư Minh
trong số nạn nhân này có một
thiếu nữ đă chịu phép rửa
tội theo đạo Thiên chúa.
Suốt đêm mùng 8 nhân chứng
Nguyễn Hữu Cang cũng như ông
Nguyễn Nghiễm và nhiều lănh
đạo Phật tử đă gần như thức
trắng đêm, vừa hoang mang lo
âu vừa căm tức chánh quyền
đă gây ra vụ nổ đó. Lại có
nguồn tin loan truyền trong
giới Phật tử là Thiếu tá Sỹ
đă cho xe thiết giáp “đằn"
Phật tử và ném lưu đạn vào
Phật tử.
Trong khi đó tại Bộ Tham mưu
Tiểu khu từ Thiếu tá Sỹ đến
Đại uư Phu, Đại uư Lược
không dấu nổi sự lo âu.
Người trong cuộc cũng không
hiểu đầu đuôi ra thế nào.
Hai tiếng nổ từ đâu ? Do ai
? Cảm tưởng đầu tiên của họ
là bàng hoàng. Tiếng nổ lạ
tai quá cũng không giống như
plastic, lựu đạn lại càng vô
lư. Nhưng không ai có thể
suy đoán ra được. Người nghe
tiếng nổ đầu tiên là ông Sỹ
cũng như một số sĩ quan và
binh sĩ trên xe cũng như đi
sau xe. Họ đều bị chói tai
và áp lực của tiếng nổ làm
cho họ không c̣n phản ứng
lúc đầu và ngực như bị một
vật ǵ rất nặng đập ngang.
Có điều lạ là sáng hôm sau
ông bác sĩ Wuff đă có một số
h́nh ảnh về vụ nổ, trong đó
có tấm h́nh xe cơ giới đang
"đằn" qua đồng bào Phật tử.
Một số h́nh này bác sĩ Wuff
trao cho Bác sĩ Lê Khắc
Quyến. Ngày 9, ông Quyến cấp
tốc về Sài G̣n.
Ai gây ra tiếng nổ ? Trong
phiên toà xử Thiếu tá Đặng
Sỹ, các chuyên viên quân cụ
đă có dịp phân tích các loại
chất nổ như
M.26...MK.3...Giả thuyết về
M.26 đă bị loại - giả thuyết
MK3 mặc dầu toà đặc biệt lưu
ư nhưng cuối cùng cũng bị
loại. Như trên đă viết MK.3
có thể làm cho người chết
được v́ áp lực hơi nổ, nhưng
tác dụng không thể nào đạt
tới con số thương vong cao
như vậy nhất là trong một
khoảng trống. Mà nơi phát ra
tiếng nổ th́ nền xi măng lại
chỉ lơm xuống không sâu bao
nhiêu.
THỦ PHẠM MANG TÊN SCOT.
Măi sau này, năm 1966 trong
cuộc hành quân ở Nam Đồng,
Đại uư Scot (Cố vấn của tiểu
đoàn 1/3 - từ năm 1965 ) mới
cho biết về một sự thật.
Dạo ấy năm 1965, miền Trung
đang bắt đầu sôi động và
ngút ngàn trong ngọn lửa
Phật giáo đấu tranh. Trong
một buổi mạn đàm Đại uư Bửu
nói chuyện trăng gió mây
nước với Đại uư Scot rồi hai
người "bắt" qua chuyện Phật
giáo tranh đấu. Đại uư Scot,
nói đại ư:
“Phật giáo miền Trung sẽ
không thành công trong vụ
này".
Ông Bửu hỏi:
" Tại sao lại không thể
thành công ?”.
Đại uư Scot đáp: “Phật giáo
không tạo được những yếu tố
ñeå thành công như năm 1963"
Đại uư Bửu hỏi : “Đại uư
muốn nói tới những yếu tố
nào ? "
Đại uư Scot nói : “Những yếu
tố không phải do Phật giáo
có thể tạo được”.
Đại uư Bửu : “Đại uư muốn
nói đến tiền bạc hay khí
giới tinh thần ".
Đại uư Scot đáp : “Khí giới
tinh thần th́ Phật giáo có
đấy chứ, nhưng không dễ ǵ
thành công v́ không được
đồng minh ủng hộ”.
Đại uư Scot lại nói : "Hoa
Kỳ đă giúp cho Phật giáo
nhiều yếu tố để thành công
trong vụ 1963“.
Đại uư Bửu nói : "Bây giờ
Hoa kỳ sẽ không c̣n giúp đỡ
Phật giáo nữa ? ". Đại uư
Scot : "Bây giờ th́ tôi
không biết, nhưng vụ 1963
tôi biết rơ".
Đại uư Bửu lấy làm ngạc
nhiên tại sao một Đại uư như
Scot lại có thể am tường nội
t́nh Phật giáo Việt Nam như
vậy. Đại uư Bửu hỏi tiếp:
“Năm 1963 Đại uư ở đâu ?”.
Scot không đáp thẳng vào câu
hỏi và tựa hồ trong ḷng ông
c̣n ẩn giấu bao nhiêu điều
bí mật. Sau đó Scot tâm sự :
“Tôi hiểu rơ Phật giáo ở
đây, có thể c̣n hơn cả các
anh. Tháng 5-1963 tôi ở Đà
Nẵng. Tôi trở ra Huế một
ngày trước khi vụ nổ xảy ra
tại Đài Phát thanh Huế”.
Đại uư Bửu hỏi ngay : "Như
vậy th́ Thiếu tá Đặng Sỹ Phó
Nội an cho nổ?” Scot đáp : '
Làm ǵ có chuyện đó, tội
nghiệp cho ông ta. Bây giờ
ông ấy đang bị tù phải không
? " Đại uư Bửu : “Hiện Thiếu
tá Sỹ đang bị cầm tù. Ông ấy
bị kết tội đă đàn áp Phật
giáo và làm chết 8 Phật tử
tại Đài phát thanh"
Lời Scot : “Không ai nói
thẳng sự thật để bênh vực
ông ấy ? "
Đại uư Bửu hỏi : “Vậy anh có
tin là Thiếu tá Sỹ là thủ
phạm vụ nổ tại Đài Phát
thanh không ?”
Đại uư Scot nói : "Thiếu tá
Sỹ cũng chỉ là một nạn
nhân”.
Hỏi : "Theo Đại uư ai là thủ
phạm trong vụ này?”.
Đại uư Scot lắc đầu, chuyện
c̣n dài lắm. Tôi sẽ kể cho
anh nghe .
Trả lời tiếng nổ thuộc về
loại nào, Đại uư Scot nói :
“Tại sao người ta lại tin đó
là tiếng nổ của plastic Việt
cộng và lựu đạn của chính
quyền Việt Nam Cộng ḥa ? "
“CÚ SCOT “
Đại uư Bửu chính là em họ
bên vợ của Thiếu tá Sỹ ông
cố bám sát Scot và t́m lời
ḍ hỏi xem đầu giây mối nhợ
như thế nào. Lúc đầu Scot
thổ lộ rằng chính người bạn
của ông là một nhân viên CIA
đă làm vụ đó. Scot mô tả
chất nổ đó là một chất đặc
biệt của Trung ương T́nh báo
Mỹ. Thể tích của nó không
lớn hơn bao quẹt và có riêng
bộ phận để điều khiển. Bộ
phận này sẽ "căn giờ" chừng
nào nổ.
Ít lâu sau, do nhiệt tâm t́m
hiểu của Bửu, Đại uư Scot đă
phanh phui tất cả sự thật,
ông ta có lẽ v́ “lương tâm "
xúc động cho nên tâm sự
rằng, chính ḿnh đặt thứ khí
giới đặc biệt đó tại Đài
Phát thanh.
Scot hay ai cũng chỉ là một
thứ thừa hành. Ai ra chỉ thị
? Washington hay Toà Đại sứ
hay ông trùm CIA? Hay Đại
tướng Richarson? Dưới thời
Tổng thống Kennedy, tổ chức
Việt Nam Task Force được coi
như có thẩm quyền mạnh nhất
trước các quyết định về Việt
Nam do Hilsman cầm đầu. Ngay
từ năm 1962, Hilsman đă chủ
trương lật đổ chế độ Ngô
Đ́nh Diệm và người Mỹ phải
có thái độ tích cực hơn đối
với các vấn đề Việt Nam, có
nghĩa là Mỹ phải trực tiếp
can dự vào cuộc chiến, Mỹ
phải nắm quyền chủ động tại
chiến trường Việt Nam.
Hilsman không phải nhân viên
t́nh báo chuyên nghiệp nhưng
trong quá khứ ông là một
cộng tác viên tích cực của
CIA.
Hilsman thuộc giới trẻ và
khuynh hướng tự do (ông đă
công khai chống đối Đại sứ
Nolting và chịu sự chi phối
của một số kư giả Mỹ cho
rằng Đại sứ Nolting quá nhu
nhược với chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm và cũng lên án
Nolting đă bị chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm mua chuộc). Đă
từ lâu phe Hilsman chue
trương thay thế Đại sứ
Nolting. Ông Nolting lại là
một nhà ngoại giao thuần
túy. Ngôn ngữ, cử chỉ của
ông có vẻ Tây hơn Mỹ. Ông bị
ảnh hưởng của văn hóa Pháp
khá sâu xa. Sự thật là lập
trường của Đại sứ Nolting là
ủng hộ chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm và ông được coi là
người Mỹ mềm dẻo nhất tại
Việt Nam Cộng Ḥa.
Năm 1963, Pḥng Trung ương
T́nh báo tại ṭa đại sứ Mỹ
có khoảng 50 nhân viên (sau
năm 1963 và cho đến nay số
này đông vô kể) Đại tá
Richarson là ông trùm CIA
tại Nam Việt Nam lúc đó dưới
quyền ông Smith. Nhưng
Richarson lại tỏ ra đồng một
lập trường với Đại sứ
Nolting. Sau này ông Nhu tố
cáo Richarson âm mưu đảo
chính, ông Nhu tố sai, tuy
vậy Richarson bị cấp tốc
thay thế. Ông Nhu mất một Mỹ
CIA ủng hộ. đấy cũng là một
tính toán lầm của ông Nhu.
Nếu nói rằng CIA tại toà Đại
sứ Mỹ chủ động vụ nổ tại Đài
Phát thanh th́ không đúng.
Nhưng CIA không phải chỉ ở
toà Đại sứ Mỹ mà họ có đường
dây hoạt động biệt lập với
pḥng CIA của Đại tá
Richarson và chỉ trực tiếp
với Washington. Do đó, "cú
Scot" tại Đài Phát thanh Huế
cũng chỉ là một cú "chơi
lẻ".
Ngay từ những năm 1961, 1962
nhân viên Trung ương t́nh
báo Mỹ đă gài người trong
nhiều cơ quan như USAID kể
cả những tổ chức văn hoá,
giáo dục.
Nhờ vậy ,CIA đă thừa khả
năng nhân sự để chơi những
"cú lẻ" tương tự như trên.
Người ta tự hỏi rằng, hà tất
ǵ CIA phải nhập cuộc như
vậy qua vụ nổ Scot tại Đài
Phát thanh Huế ? Câu chuyện
thật dài ḍng phức tạp và
khó có thể kết luận cho vấn
nạn trên đây nếu không có
căn cứ theo những diễn biến
trong cuộc bang giao Việt Mỹ
1964 cùng những toan tính
của Mỹ trong chiến lược của
họ tại Việt Nam . Giới chức
Mỹ nhất là phía CIA đă thuộc
ḷng phương thức này : Những
lănh tụ Á đông phải dùng bạo
lực mới có thể đánh đổ họ
xuống được.
Nhưng lúc ấy không ai nghĩ
CIA nhúng tay "tinh vi" như
vậy mà người ta nhất định
cho rằng Cộng sản làm vụ
này.
Riêng ông Cẩn trước cái hoạ
như vậy và khi nghe tường
tŕnh nội vụ rồi im lặng
triền miên nhưng đành bất
lực không biết phải giải
quyết như thế nào. Theo Đại
uư Minh đă có 3 ư kiến được
nêu lên như sau:
1- Đă xảy ra như vậy th́ làm
tới luôn. Sáng ngày 9, ban
hành lệnh giới nghiêm tại
thành phố. Đồng thời cô lập
giữa chùa Từ Đàm với các cán
bộ Phật tử. Trong khi đó cơ
quan an ninh sẽ truy lùng
những thành phần Việt cộng
khả nghi từ bấy lâu nay.
2- Nếu không giải quyết theo
cách một th́ cấp tốc phải
t́m tới gia đ́nh các nạn
nhân để điều đ́nh thu xếp ổn
thoả và bồi thường xứng
đáng.
3- Cách hai không đồng ư th́
phải thương thuyết với mấy
thày chùa Từ Đàm và nhờ các
thầy xoa dịu đồng bào Phật
tử và đồng thời sẽ bồi
thường nạn nhân một cách đầy
đủ.
Cả 3 phương thức giải quyết
đưa ra ông Cẩn không có một
thái độ nào rơ rệt. Ông Cẩn
ra lệnh cho Toà Đại biểu
đánh điện cấp tốc về Sài G̣n
để xin quyết định. Một việc
nóng bỏng như vậy nhưng măi
hai ngày sau Sài G̣n mới
phái ông Bùi Văn Lương Bộ
trưởng Nội vụ ra Huế t́m
cách giải quyết tại chỗ.
Trong số những phương thức
dược đưa ra để giải quyết có
một phương thức khá nguy
hiểm. Hoàng Trọng Bá cho
rằng, ngoài việc giới nghiêm
toàn thể ngày 9-10 chính
quyền phải cho mời ngay
Thượng tọa Trí Quang và
Thiện Minh v́ ai cũng biết
hai vị này là ṇng cốt của
Giáo hội Phật giáo miền
Trung. Ư kiến ấy như thế
này:
“Ông Cố vấn (tức ông Cẩn)
sẵn "hồ sơ tối mật" của hai
thày (ông Cẩn có thể dùng
những hồ sơ đó như một điều
kiện giao tế) và cho rằng
khi đă nắm được những "a tu”
cua mấy vị tất sẽ dễ dàng
khu xử và những cái gọi là
"bí ẩn" trong đời sống cá
nhân cùng những hoạt động từ
năm 1945-1955. Ư kiến trên
căn cứ theo đó xin với ông
Cẩn cho an ninh "mời" ngay
hai thầy lại và sẽ đưa ra
điều kiện để doạ : Hồ sơ hai
thầy như thế, như thế, hoạt
động quá khứ như vậy...như
vậy. Do đó, 1 là mấy thầy bỏ
qua nội vụ và để chính quyền
lo việc bồi thường. Hai là
nếu không chính quyền sẽ bắt
giữ rồi công khai hoá "hồ sơ
tối mật" đă nắm giữ từ dạo
năm 1956 trong khi đó chính
quyền sẽ dùng phương thuật
"phóng tại hoá thu nhân
tâm", bồi thường nạn nhân
xoa dịu Phật tử, mua chuộc
các thày khác”.
Ư kiến trên có vẻ bá đạo,
nhưng Hoàng Trọng Bá tin
chắc chắn sẽ có hiệu nghiệm.
Cuối cùng lại không được
chấp nhận.
Sáng 9-5 Đại uư Minh túc
trực tại Văn pḥng chỉ đạo
từ sớm. Ông Cẩn chỉ thị t́m
mọi cách giải quyết sao cho
êm đẹp.
Về phía Phật giáo tại chùa
Từ Đàm th́ ngay đêm 8, sau
vụ nổ, nhiều Thượng tọa cũng
dao động không biết sự thể
sẽ xảy ra như thế nào. Hầu
hết đều ngán thứ "uy quyền"
trong tay ông Cẩn (trên thực
tế uy quyền đă suy giảm từ
năm 1961) cho nên không một
Thượng tọa, Đại đức nàođủ
b́nh tĩnh để trù tính kế
hoạch cho ngày hôm sau ngoại
trừ một hai thày đă có mưu
kế riêng.
Mấy Thượng tọa lại lo sợ
chính quyền sẽ áp dụng biện
pháp mạnh, và có thể tan ră
hàng ngũ mà các thày đă dầy
công xây đắp từ mấy chục năm
qua. Riêng Nguyễn Nghiễm
trong thâm tâm nghĩ rằng, sẽ
có sự bắt bớ vào sáng mai và
ông đă trù tính trốn nếu sự
thể không êm. Nhưng lại có
một khuynh hướng tích cực
khác cho rằng, phải lợi dụng
ngay biến cố này để làm lớn
chuyện. Đây là cơ hội ngàn
năm một thuở. Đứng đầu
khuynh hướng này là Thượng
tọa Thiện Minh.
Theo Nguyễn Nghiễm, Thượng
tọa Trí Quang tuy là người
lên tiếng và phát động đầu
tiên (qua bài thuyết pháp)
nhưng ngay từ ngày 7đến ngày
9 vai tṛ của Thượng tọa
Thích Thiện Minh mới là quan
trọng và chủ động. V́ Thượng
tọa này có lập trường dứt
khoát cho rằng, phải lợi
dụng ngay biến cố đẫm máu kể
trên để hướng đồng bào Phật
tử về một mục đích sống chết
cho đạo pháp. Việc đầu tiên,
nếu như ngày 9 êm xuôi th́
phải đứng lên, thời cơ đă
đến.
Sáng 9-5, chính quyền lo sợ
bên chùa Từ Đàm sẽ làm tới,
nên ông Cẩn muốn dùng "tấm
t́nh cố tri" với mấy thày để
giải quyết. Song nội bộ chùa
Từ Đàm tuy đoàn kết nhưng ư
kiến rất phân tán, do dự và
không ai ngờ phía ông Cẩn
lại mềm dẻo như vậy.
Trụ cột là ông Cẩn. Và chính
quyền địa phương chỉ chờ đợi
sự giải quyết của ông Cẩn
th́ ông Cẩn lại không có một
quyết định nào. Mọi sự đều
nhờ Trung ương. Suốt buổi
sáng ngày 9, ông Cẩn rất bận
rộn: nào là tiếp Thượng tọa
Trí Quang, nào là tiếp các
giới chức liên hệ. Ông Cẩn
vẫn không t́m ra được phương
thức nào thu xếp ổn thoả.
Một cách đơn giản nhất, ông
Cẩn chỉ dùng tiền mua chuộc
những người liên hệ và mặt
khác cho người tiếp xúc
riêng với các gia đ́nh nạn
nhân để dàn xếp.
Về phía Từ Đàm, chỉ cần một
buổi sáng "tiếp xúc và hoà
hoăn" đă trắc nghiệm được
phản ứng của phía chính
quyền và thấy rằng, chính
quyền không dám làm tới, do
đó cần phải bắt tay hành
động. Việc đầu tiên là phải
yêu cầu chính quyền trả xác
các nạn nhân về chùa Từ Đàm
để nhà chùa lo phần ma chay
chôn cất.
Lời yêu cầu này không được
thoả măn v́ phía ông Cẩn đă
lượng tính được hậu quả và
biết thế nào cũng có biến
chuyển rất nguy hiểm nếu
phía Từ Đàm tổ chức chôn cất
nạn nhân.
Trong khi ở Huế c̣n đang
giằng co dàn xếp th́ tại Sài
G̣n vẫn có vẻ yên tĩnh lắng
đọng. Tại dinh Gia Long, khi
nhận được tin về vụ nổ Đài
Phát thanh Huế, Tổng thống
Diệm vẫn yên trí rằng Cộng
sản len lỏi vào, sách động
và gây tiếng vang để quy tội
cho chính quyền đàn áp Phật
giáo.
Ngày 9 và ngày 10, ông Tổng
thống vô cùng đăm chiêu.
Nguồn tin và báo chí ngoại
quốc - nhất là Mỹ, Pháp đều
không đồng nhất. Tổng thống
Diệm vẫn đinh ninh câu
chuyện sẽ giải quyết êm đẹp,
không có ǵ quan trọng gọi
là đại sự. Phía Phật giáo
tại Sài G̣n cũng chưa có một
phản ứng nào khác hơn là xôn
xao bàn tán và cũng mới chỉ
biết biến cố qua báo chí dư
luận và nhất là bản tin của
Đài VOC, BBC.
Toà Đại sứ Mỹ qua ngày 9 và
ngày 10 vẫn giữ thái độ yên
lặng dè dặt. Ngay trong hàng
lănh đạo Phật giáo tại Huế
cũng như Sài G̣n không ai
ngờ rằng biến cố có thể lan
rộng và trở thành cơn giông
tố. Nếu như chính quyền
Trung ương lúc đó có một
quyết định dứt khoát để giải
quyết cấp thời th́ vụ Phật
giáo cũng không nổ to và có
thể thu xếp được ngay từ
buổi đầu.
Trước một biến cố như vậy,
không thể giải quyết bằng
đường lối hành chính, luật
pháp và công quyền, mà phải
giải quyết bằng những biện
pháp chính trị với tính cách
uyển chuyển, thích nghi và
thông suốt. Đằng này, Tổng
thống Diệm lại chờ đợi giới
chức Thừa Thiên báo cáo sau
đó mới cử ông Bộ trưởng Nội
vụ ra điều tra tại chỗ.
Biến cố tại Đài Phát thanh
Huế sẽ không thể bùng nổ to
nếu không có sự lợi dụng
những mâu thuẫn giữa ông Ngô
Đ́nh Cẩn và Đức cha Ngô Đ́nh
Thục và nhất là nếu không có
sự đổ dầu vào lửa của toà
Lănh sự Mỹ tại Huế. Một vài
Thượng tọa thuộc phe "tích
cực dấn thân" như Thượng tọa
Trí Quang, Đôn Hậu v́ có
t́nh quen biết với ông Cẩn
nên cứ làm tới trước hết,
không phải là để “chơi" ông
Cẩn mà có ư biểu dương lực
lượng cho Đức Cha Thục coi.
Sau khi trắc nghiệm thấy có
thể làm được th́ làm tới
luôn. Lúc đầu, ông Cẩn lại
chủ quan tin rằng :
Các thày chùa Từ Đàm nể ông
và v́ t́nh riêng ông sẽ
không làm mạnh cho nên lập
trường của ông Cẩn lúc đầu
hết sức dè dặt và t́m mọi
phương thương nghị. Đêm 9
ông Cẩn tâm sự với mấy nhân
vật thân cận như Đại uư
Minh, Hoàng Trọng Bá, Hồ Đắc
Trọng: “Dù là Cộng sản nó
gây ra như vậy th́ ḿnh cũng
có trách nhiệm. Sáng nay
thày Trí Quang gặp tui, thầy
ấy có buồn phiền nhưng sau
nói riết, thầy ấy cũng vui
vẻ nhận lời thu xếp".. Thực
tế th́ sáng 9-5, khi gặp ông
Cẩn, thầy Trí Quang cũng
không có ǵ là quá "găng" .
Thượng tọa Thiện Minh lại
quá "thâm trầm" nên không ai
thấy rơ thầy Minh muốn ǵ,
sẽ làm ǵ. Nhưng Thượng tọa
Trí Quang có sự nóng tính và
qua sự nóng tính đó đă nhiều
lần thày Trí Quang biểu lộ
sự bất măn về Đức Cha Ngô
Đ́nh Thục cùng sự "hiện diện
quyền uy" của Đức cha tại
Huế. Điều mà chính ông Ngô
Đ́nh Cẩn cũng tỏ ra khó chịu
và bất măn. Bài thuyết pháp
của Thượng tọa Trí Quang
sáng 8-5 có ư nhằm vào Đức
Cha Ngô đ́nh thục hơn là
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và
ông Ngô Đ́nh Nhu.
Có nhẽ v́ thế mà ông Ngô
Đ́nh Cẩn tỏ vẻ thờ ơ không
lấy làm khó chịu về bài
thuyết pháp của Thượng tọa
Trí Quang và có nhẽ vẫn tin
rằng, ḿnh đă nắm được mấy
thầy nên ông Cẩn đă từ chối
ngay đề nghị của Hoàng Trọng
Bá yêu cầu tung ra trước
công luận một vài tài liệu
"tổ chức” nọ. Tuy nhiên dù
có tung tài liệu đó ra và
tài liệu đó có đúng 10/ 10
đi nữa th́ quần chúng đang
hăng say cũng sẽ không tin
tưởng ǵ vào tài liệu đó
cuối cùng sẽ mang tiếng là
dùng sức mạnh của nhà nước
để chụp mũ.
Trong khung cảnh và thực tại
của Huế lúc ấy chính quyền
Thừa Thiên chỉ cần khôn khéo
đôi chút th́ đă dễ dàng xoa
dịu được phản ứng nhất thời
của quần chúng Phật tử.
Nhưng từ Tỉnh trưởng đến đại
biểu Chính phủ đă quá non
nớt về chính trị và chỉ là
cấp thừa hành về hành chính
nên đành khoanh tay, trong
khi đó phản ứng của quần
chúng không được xoa dịu và
càng ngày càng bị khích động
do những nguồn dư luận "giật
gân”.
__________________
TÔI CHỈ
CÓ MỘT ĐẢNG: ĐẢNG VIỆT
NAM
Đừng
hỏi Tổ quốc có thể làm ǵ
cho bạn, hăy hỏi bạn có thể
làm ǵ cho Tổ quốc...Ask not
what your country can do for
you_Ask what you can do for
your country (Tổng Thống Mỹ
John F. Kennedy)
|
|
|