BẢN TUYÊN NGÔN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Phổ biến ngày 15 tháng 5 năm 1963 tại Chùa Từ Đàm Huế
Kính thưa quư Độc Giả,
Ông Minh Vơ - San Diego, vừa thực hiện một cuộc phỏng vấn đặc biệt và phổ biến rộng răi trên các Diễn Đàn mới đây, ngày 3/11/2011) và vị nhân sĩ được phỏng vấn là ông Cao Xuân Vỹ - nguyên phụ tá thân cận của ông Ngô Đ́nh Nhu vốn là bào đệ và là cố vấn chính trị của cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Trong các câu trả lời phỏng vấn, ông Cao Xuân Vỹ có nói nguyên văn một câu rằng: (trích) “… Hồi ấy (năm 1963) c̣n cả một Ủy ban của Chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được…” (hết trích).
Về lời tuyên bố sai trật này, tôi không tin rằng ông Cao Xuân Vỹ nay đă là một Phật tử cao niên mà lại c̣n muốn cố ư vu khống cho Phật Giáo, có lẽ v́ già nên ông đă… quên hết những chuyện thật sự đă xảy ra hồi mấy chục năm trước. Cho nên hôm nay tôi quyết định phổ biến trở lại “Bản Tuyên Ngôn” của Phật Giáo Việt Nam do cố Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết - Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam (và cũng là Đệ Nhất Tăng Thống của Viện Tăng Thống - GHPGVNTN) kư tên phổ biến ngày 23 tháng 5 năm 1963. Nguyên văn “Bản Tuyên Ngôn của Phật Giáo Việt Nam” được in trong cuốn sách “Công Cuộc Tranh Đấu của Phật Giáo Việt Nam” là cuốn sách đă trung thực ghi lại đầy đủ mọi biến cố xảy ra cho Phật Giáo “từ Phật Đản đến Cách Mạng 1963”, tác giả là ông Quốc Tuệ, sách dày 543 trang, và trong sách này “Bản Tuyên Ngôn của PGVN” được in từ trang 51 đến trang 60. Cuốn “Công Cuộc Tranh Đấu của Phật Giáo Việt Nam” có giấy phép xuất bản số 190/XB ngày 28-1-1964, mà tôi tin là hiện nay sách này vẫn c̣n trong một số Thư Viện Phật Giáo.
Kính mời quư độc giả đọc “Bản Tuyên Ngôn” này để biết rơ Chủ Trương, Lập Trường, Quan Điểm, và nhất là những Nguyện Vọng của Phật Giáo Việt Nam trong cuộc đấu tranh đ̣i tự do tín ngưỡng hồi năm 1963. Để thấy được cái sai trật của ông Cao Xuân Vỹ khi phát biểu trong cuộc phỏng vấn nói trên, quư độc giả chỉ cần đọc ở ngay phần mở đầu của “Bản Tuyên Ngôn”, đoạn “I. Quan Điểm của Phật Giáo Việt Nam” đă viết nguyên văn: “1. Đối với Chính phủ, chúng tôi không chủ trương lật đổ, chúng tôi chỉ có cái nguyện vọng cải thiện chính sách…”, rồi kế đó là “2. Không ai là kẻ thù…”, và “3. Chỉ tranh đấu cho lư tưởng tôn giáo b́nh đẳng…”. Mong quư độc giả đọc hết “Bản Tuyên Ngôn của PGVN” để biết các Nguyện Vọng của Phật Giáo Việt Nam với những lời “Yêu Cầu Chính Phủ” có phải là “không cách nào làm được” như lời tuyên bố của ông Cao Xuân Vỹ hay không. Cuối cùng tôi cũng mong được đọc ư kiến của các bậc cao minh, của quư nhân sĩ, trí thức và quư độc giả sau khi quư vị đọc qua “Bản Tuyên Ngôn của PGVN” này.
Kính cảm ơn quư vị.
Kính nhờ Bà Phạm Hoài Việt phổ biến giúp để rộng đường dư luận, rất cảm ơn bà.
Trân trọng,
Trần Kiên Cường
khongthekhongnoi@gmail.com
Ngày 8 tháng 11 năm 2011
BẢN TUYÊN NGÔN
của Phật Giáo Việt Nam
đă đọc trong cuộc hội họp của Phật tử
tại chùa Từ Đàm Huế (ngày 15-5-1963)
Trước khi tŕnh bày nguyện vọng của Phật-giáo-đồ Việt Nam qua Bản Tuyên Ngôn, chúng tôi thấy cần phải giải thích quan điểm của chúng tôi một cách rơ ràng:
I. Quan điểm của Phật Giáo Việt Nam
1. Đối với Chính Phủ.- Chúng tôi không chủ trương lật đổ, chúng tôi chỉ có cái nguyện vọng “cải thiện chính sách”. Chúng tôi không nói vấn đề người. Người nào đứng ra phụ trách Chính Phủ mà chính sách không cải thiện th́ nguyện vọng của chúng tôi cũng không thỏa măn. V́ lẽ đó, quan niệm của chúng tôi là ước mong Chính quyền có thiện chí và khả năng cải thiện chính sách mà nguyện vọng Phật Giáo Việt Nam công khai bày tỏ.
Chúng tôi cũng tuyên ngôn minh bạch rằng chúng tôi không nhằm mục đích tranh thủ quyền hành. Nói thế có nghĩa chúng tôi đă làm măi măi cho Phật Giáo thuần túy, nhưng không phải v́ vậy mà Phật-giáo-đồ không quan tâm đóng góp vào ích lợi Quốc Gia theo nghĩa vụ công dân của ḿnh, trái lại, Phật-giáo-đồ đă phải tích cực đóng góp trong nghĩa vụ công dân vào lợi ích quốc gia để - về phương diện tín ngưỡng – làm cho Phật Giáo của ḿnh phát triển và phát triển một cách thuần túy.
2. Không ai là kẻ thù.- Dĩ nhiên sự động cập khó mà tránh khỏi, nhưng chúng tôi tuyên bố không gọi ai là kẻ thù, nhất là đối với đạo Thiên Chúa. Lẽ thứ nhất, dầu cho từ ngày Đạo dụ số 10 ra đời đến bây giờ, sự thiên vị đạo Thiên Chúa đă công khai, nhưng chúng tôi tranh đấu cho lư tưởng công b́nh (và v́ thế mà động cập đến đạo Thiên Chúa) chứ không phải tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống với một tôn giáo. Lẽ thứ hai, về tín ngưỡng, tuy chúng tôi không thừa nhận tôn giáo khác, nhưng về quan niệm - nhất là quan niệm của con người sống cận hậu diệp thứ 20 – chúng tôi cho rằng bất cứ ai, kể cả chúng tôi, nếu cho tôn giáo của ḿnh có giá trị tuyệt đối và chỉ có tôn giáo của ḿnh đáng tồn tại th́ đây là quan niệm sai lầm nhất.
3. Chỉ tranh đấu cho lư tưởng “tôn giáo b́nh đẳng”.- Thế nào gọi là tôn giáo b́nh đẳng theo quan niệm của chúng tôi?
a.- Các tôn giáo phải được xác định lại, Quốc Gia phải quy định thế nào là một tôn giáo xứng đáng được hưởng những chế độ đặc biệt. Như thế có nghĩa chúng tôi không chấp thuận đồng bóng, phù thủy v.v… là tôn giáo được Quốc Gia thừa nhận (cũng như danh từ “công giáo” không thể dùng để gọi đạo Thiên Chúa).
b.- Các tôn giáo được xác định sẽ cùng hưởng một chế độ “b́nh đẳng”, có nghĩa cùng được quan niệm là có tư cách như nhau. Nhưng “b́nh đẳng” là “b́nh trong đồng đẳng”, v́ lẽ đó giá trị các tôn giáo vẫn khác nhau.
c.- Tôn giáo b́nh đẳng là một điểm mới nhất, thiêng liêng nhất, trong lư-tưởng công-b́nh xă-hội.
Với quan niệm tôn giáo b́nh đẳng như vậy, đối chiếu với t́nh trạng hiện hữu, chúng tôi bất măn sự thiên vị của đạo Dụ số 10, cùng lúc, cảm thấy “ngày trước những người cộng sản lợi dụng danh nghĩa chống ngoại xâm để tiêu diệt các đảng phái quốc gia, th́ ngày nay cũng có cái vẻ người Thiên Chúa lũng đoạn công việc chống cộng sản để lấn át các tôn giáo khác, nhất là Phật Giáo chúng tôi”. Đó là nguy cơ cho Quốc Gia và làm chia rẽ tôn giáo. V́ lẽ đó Phật-giáo-đồ chúng tôi đă phải công khai, bày tỏ rơ rệt nguyện vọng của ḿnh. Và, như thế, không những lư do mà phạm vi chúng tôi tranh đấu cũng đă được ấn định rơ ràng: Với danh nghĩa Phật Giáo, chúng tôi đang làm một việc tranh đấu cho lư tưởng “tôn giáo b́nh đẳng trong khuôn khổ của lư tưởng công-b́nh xă-hội”.
4. Phương pháp tranh đấu mà chúng tôi áp dụng.- Phương pháp là “bất bạo động”. Chúng tôi ư thức, chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh mà chính trị và quân sự cực kỳ phức tạp, chúng tôi, hơn thế nữa, phải thể hiện tư tưởng Phật Giáo ngay trong công cuộc tranh đấu của chúng tôi. V́ những lư do đó, chúng tôi chấp nhận một sự hy sinh đến tột độ và lấy sự hy sinh ấy làm sức mạnh - để rung chuyển tận ḷng người chứ không phải rung chuyển chính sách mà thôi. Ngay từ bây giờ, chúng tôi có thể tuyên bố minh bạch rằng: những người tăng sĩ của Phật Giáo là những người sẵn sàng noi gương Gandhi - vị thánh của sức mạnh “bất bạo động”, và như vậy, Chính Phủ chỉ nên nghĩ những điều ấy hơn là nhọc long nghĩ đấn Phật-giáo-đồ được huy động.
Chúng tôi lại xác định thêm, với phương pháp “bất bạo động” sẽ tranh đấu trong phạm vi hợp pháp được ngần nào tốt ngần đó. Nhưng tinh thần và phương pháp “bất bạo động” không thể chỉ có thế, nên chúng tôi sẵn sàng hy sinh đến cùng theo phương pháp này.
5. Không chấp nhận mọi sự lợi dụng.- Nhưng đă tŕnh bày hết sức rơ rang: Mục tiêu tranh đấu của Phật-giáo-đồ chỉ nhằm vào lư tưởng tôn giáo b́nh đẳng trong khuôn khổ lư-tưởng công-b́nh và xă-hội, v́ lư do đó chúng tôi từ chối mọi sự lợi dụng phù hợp với tôn chỉ của chúng tôi, nhất là những người cộng sản và những kẻ mưu toan chức vị chính quyền.
II. Nguyện Vọng của Phật Giáo Việt Nam qua Bản Tuyên Ngôn:
Nguyện vọng thứ nhất: “Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa thu hồi vĩnh viễn Công điện triệt Giáo kỳ của Phật Giáo”: Chúng tôi không nói tiên quyết rằng nguyện vọng này không chứa đựng sự phũ nhận Quốc Kỳ. Chúng tôi tuyên bố thừa nhận và tôn trọng Quốc Kỳ. Nhưng chúng tôi chỉ phản đối sự hạn chế của Bộ Nội Vụ vừa qua và sự triệt hạ thực sự của văn pḥng Tổng Thống vừa rồi đối với Giáo Kỳ của các tôn giáo mà Phật Giáo phải chịu đầu tiên nhân ngày Phật Đản. Nguyện vọng của chúng tôi dựa trên quan niệm Quốc Kỳ trọng đại, các cơ quan tôn giáo và mọi tư gia đều phải và chỉ treo lên trong những ngày đại lễ của Quốc Gia, c̣n Giáo Kỳ dầu sao cũng chỉ là một tôn giáo nên chỉ được treo lên tại Cơ quan tôn giáo và tư gia tín đồ sở quan trong những ngày đại lễ của tôn giáo ấy. Dĩ nhiên cái chỗ treo lên nói trên đây là chính của các Cơ quan tôn giáo và tư gia. Cùng một quan niệm đó, chúng tôi thiết nghĩ trong đoàn kiệu rước của tôn giáo chỉ được mang Giáo Kỳ, cũng như xe các nhận vật quan trọng trong các tôn giáo khi cần thượng cờ lên, theo sự quan trọng mà các tôn giáo tự ấn định th́ cũng chỉ được mang Giáo Kỳ.
Nguyện vọng thứ 2: “Yêu cầu Phật Giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa đă được ghi trong Đạo Dụ số 10”. - Điều này chúng tôi phải tŕnh bày bằng 3 tiểu mục như sau: Trước hết chúng toi nói chi tiết, kế đó nói đại-khái thế, sau hết là nguyện vọng sửa đổi của chúng tôi.
a.- Nói về chi tiết, đạo Dụ số 10 có những nét chính mà chúng tôi phản đối sau:
- Qua điều thứ nhất, Đạo Dụ đó liệt các tôn giáo (trừ Thiên Chúa và Gia Tô) như hết thảy hiệp hội thường của tất cả tầng lớp nhân dân: Tôn giáo được xem như (và có thể thua bởi điều 14 và v́ tính chất gọi là “lợi ích chung” của Dụ ấy) những hội tiêu khiển, thể thao, bất kể đến tính cách thiêng liêng của tôn giáo, bất kể đến nếp sống khác biệt cách nào của tôn giáo.
- Qua điều thứ 7, giấy phép của các hi65p hội tôn giáo “có quyền bác khước đi không cho phép lập hội mà không phải nói lư do, phép cho rồi có thể băi đi v́ trái điều lệ, thay v́ lẽ trị an”, “lẽ trị an” là từ ngữ không có giới hạn nào rơ rệt và đă bị lợi dụng quá đáng, từ ngày người Pháp trở lại Việt Nam đến bây giờ.
Ấy là chưa nói rằng, nếu thế gian này có cái ǵ được gọi là vĩnh viễn th́ cái đó là tôn giáo, vậy mà tôn giáo lại bị ghép vào hiệp hội với giấy phép cho và băi một cách cực kỳ đơn giản như trên.
- Qua điều 10, nhất là điều 12, tôn giáo bị kiểm soát một cách cực kỳ nghiêm khắc bởi bất cứ một nhân viên nào của hành chánh và tư pháp. Cũng may mà sự kiện này, các tôn giáo đă không bị thi hành một cách quá đáng, nếu bị th́ c̣n ǵ là tư cách tôn giáo và thể thống Quốc Gia.
- Qua các đoạn sau của điều 14 và điều 28, tài sản Tôn giáo từ tính chất cố hữu của nó là “lạc cúng” để thực hiện việc truyền đạo thiêng liêng vô cùng, th́ trái lại, chỉ được có số tiền đóng góp phải định trong điều lệ, và chỉ có quyền có những bất động sản “thật cần thiết”. “Thật cần thiết” là xét theo Công tố viện. Rồi xét không “thật cần thiết” th́ phải đem bán đấu giá.
Gần đây, thậm chí quyền tạo măi bất động sản và nhận sự lạc cúng bất động sản dù bé nhỏ đến đâu cũng phải được sự cho phép của Tổng thống do công văn số 166-TTP/TKT/1 ngày 23-9-69 của Ṭa Thư Kư Tổng Thống Phủ.
- Qua các điều 18, 19, nhất là 25, 26 và 27, đạo Dụ số 10 trái ngược với tính chất căn bản của Tôn giáo. Căn bản của Tôn giáo dựa trên đức tính tinh thuần chính và sự tiến bộ về đời sống tâm linh theo Tôn giáo. Không thể và không phải do bầu cử mà người được bầu cử thành một tín đồ hay thành một tu sĩ. Nhưng, đạo Dụ số 10 đặt các Tôn giáo vào cái căn bản hiệp hội để đại hội đồng bầu cử và quyết định mọi việc.
Với tính chất đặt các Tôn giáo vào phạm vi hiệp hội, đạo Dụ số 10 triệt hạ hết thảy Tôn giáo, “may mắn” c̣n điều 44 ghi “chế độ đặc biệt cho các hội truyền-giáo Thiên Chúa và Gia Tô”. Nhưng, cái “may mắn” ấy đă chứng tỏ một sự thiên vị cực kỳ vô lư kể cả mọi phương diện, nhất là về cái gọi là “giặc chia rẽ” mà Chính phủ hiện tại đă và đang quyết liệt đả kích.
b.- Bây giờ chúng tôi nói đến cái vô lư đại thể của đạo Dụ số 10:
- Trước hết, đạo Dụ số 10 có từ năm 1950 dưới chế độ Quốc trưởng. Nếu chế độ này chỉ được thay đổi bằng chế độ Tổng thống, th́ đạo Dụ số 10 được áp dụng là điều chúng tôi không ngạc nhiên. Hoặc giả nó được công nhận c̣n hữu hiệu mà áp dụng th́ c̣n ít ngạc nhiên! Đằng này một chế độ đă bị đánh đổ, một đạo luật của chế độ đó không có minh thị công nhận, vậy mà vẫn c̣n chiếu chỉ áp dụng cho tất cả Tôn giáo: đó là căn bản pháp lư mà chúng tôi thấy cực kỳ mâu thuẫn.
- Theo điều 44 của đạo Dụ số 10, (chế độ đặc biệt cho các hội truyền-giáo Thiên Chúa và Gia Tô), nhưng từ năm 1950 đến bây giờ, chế độ đó vẫn chưa thấy qui định và ban hành. Như vậy, một mặt chứng tỏ tính chất dung túng và thiên vị các hội truyền-giáo này một cách vô lư, mặt khác, làm cho Thiên Chúa giáo và Gia Tô giáo ở măi trong t́nh trạng nếu không phải là căn bản pháp lư không có, th́ phải gọi là tồn tại trên căn bản pháp lư của Thực dân Pháp.
c. Do đó, nguyện vọng của chúng tôi như sau:
- Hăy rút các Tôn giáo - kể cả Thiên Chúa và Gia Tô – ra khỏi phạm vi ràng buộc hay thiên vị của đạo Dụ số 10.
- Hăy ban hành một chế độ đặc biệt cho các Tôn giáo trong đó có Phật Giáo, Thiên Chúa và Gia Tô.
- Nếu ghi một “chế độ đặc biệt” với ư thức trọng-thị, th́ phải ghi “chế độ đặc biệt cho các Tôn giáo trong đó có Phật Giáo, Thiên Chúa và Gia Tô”.
Nguyện vọng thứ 3: “Yêu cầu Chính phủ chấm dứt t́nh trạng bắt bớ, khủng bố t́n đồ Phật Giáo”, và:
Nguyện vọng thứ 4: “Yêu cầu cho Tăng, tín đồ Phật Giáo được tự do truyền-đạo và hành-đạo”.-
Hai điểm này nói trên minh-văn giấy tờ hay chủ trương công khai của Chính phủ, th́ dĩ nhiên không có sự khủng bố Phật Giáo, nhưng t́nh trạng sau đây th́ thực nặng nề: ấy là sự thi hành lệch lạc chính sách của Chính phủ, t́nh trạng ấy tuy cục bộ nhưng đă xảy ra nhiều nơi có nhiều lúc, đă tạo thành sự thực hiển nhiên là ngày nay ai cũng cảm thấy chứ không những chỉ nhận thấy mà thôi, rằng “Phật Giáo bị kỳ-thị thật sự”.
V́ vậy, nguyện vọng của chúng tôi là yêu cầu Tổng thống chỉ thị bằng mệnh lệnh cho tất cả các cấp chính quyền hăy thi hành nghiêm chỉnh chính sách tự do tín ngưỡng và chính sách đoàn kết Tôn giáo mà Chính phủ chủ trương, nhất là Tổng thống đặc biệt lưu tâm kiểm tra sự chấp hành minh-lệnh của Tổng thống, trừng trị xứng đáng những kẻ lợi dụng quyền hành để thỏa măn kỳ-thị, lấn át kẻ khác, chấm dứt t́nh trạng tự động ở các địa phương núp sau chiêu bài chống cộng để gây tang tóc cho quần chúng. Nếu không, sự lệch lạc chính sách vẫn được dung túng, th́ cái t́nh trạng lợi dụng danh nghĩa chống cộng sản để phát triển Thiên Chúa giáo và lấn át Phật Giáo, tạo ra một t́nh trạng chia rẽ ngày càng trầm trọng, th́ ngay bây giờ và mai hậu, chỉ người cộng sản có lợi mà thôi. Ở điểm này chúng tôi yêu cầu Tổng thống lập một hệ thống thanh tra chính xác vô tư, để thả ra những Phật tử đă bị bắt bớ chỉ v́ lư do tín ngưỡng (điển h́nh như vụ Phú Yên, Quảng Ngăi, B́nh Định, v.v… mà hồ sơ liên hệ chúng tôi đă gởi đến Tổng thống và Quốc hội ngày 20 tháng 2 năm 1963), và chấm dứt t́nh trạng trả thù, bắt cóc, thủ tiêu, và trong trường hợp tội trạng nếu có th́ phải được xử theo luật lệ minh bạch của Quốc Gia.
Nguyện vọng thứ 5: “Yêu cầu Chính phủ bồi thường một cách xứng đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức”.- Điều này là chúng tôi nói đến những người thiệt mạng tại đài phát thanh Huế. Họ chết trong ḷng cuộc tranh đấu công khai của Phật Giáo, nên họ đă được Phật Giáo gọi là “Thánh Tử V́ Đạo” của ḿnh. Nhưng như thế chưa đủ. Họ phải được đền bồi xứng đáng về phương diện vật chất, và kẻ chủ mưu giết hại phải được truy tố (dầu cho chúng tôi đứng mặt nguyên cáo sẽ xin Chính phủ tha tội cho họ), bởi v́ chúng tôi quan niệm mọi việc xảy ra bất cứ ở đâu và dưới h́nh thức nào trong lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, trách nhiệm vẫn ở Chính phủ: trách nhiệm giữ ǵn an ninh cho Quốc gia, Đồng bào.
Nói tổng quát, nguyện vọng của Phật Giáo Việt Nam, như đă nói là “cải thiện chính sách” như sau:
- Đối với nguyện vọng một và hai th́ yêu cầu cải thiện bằng cách sửa đổi giấy tờ và thực thi nghiêm chỉnh.
- Đối với nguyện vọng ba và bốn th́ yêu cầu cải thiện bằng cách ra minh lệnh và lập hệ thống thanh tra để kiểm soát chặt chẽ sự thi hành minh lệnh ấy: minh lệnh cho các cấp chính quyền hạ tầng phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tự do tín ngưỡng và chính sách đoàn kết Tôn giáo của Chính phủ.
- Đối với nguyện vọng thứ năm th́ yêu cầu truy tố thủ phạm gây ra chết chốc tại đài phát thanh Huế, và làm thỏa măn gia quyến các nạn nhân của vụ đó.
III. Những nguyện vọng cấp bách của Phật Giáo VN
1. Yêu cầu Tổng Thống và Chính phủ cứu xét Bản Tuyên Ngôn và Bản phụ đính của chúng tôi, và trong một thời gian càng sớm càng tốt, thỏa măn nguyện vọng chính đáng của Phật Giáo Việt Nam. Sự thỏa măn ấy là Chính phủ có minh văn và công bố trên những cơ quan chính thức.
2. Yêu cầu Tổng Thống ra lệnh không bắt bớ, trả thù quần chúng Phật Giáo trong vụ công khai tranh đấu này, bởi v́ chỉ làm một việc đạo đạt nguyện vọng của họ theo phương thức tranh đấu thường lệ.
3. Những nguyện vọng ghi trong Bản Tuyên Ngôn và hai nguyện vọng cấp bách trên đây được thỏa măn từ lư thuyết, văn kiện cho đến thực thi: th́ chính quần chúng Phật Giáo Việt Nam sẽ công khai hoan hô Tổng Thống và Chính phủ như đă công khai tranh đấu cho nguyện vọng của họ vậy.
*
Chúng tôi quan niệm và tin tưởng Tổng Thống là chức vụ “do dân, v́ dân và cho dân” cho nên chúng tôi không có ư nghĩ đạo đạt nguyện vọng của ḿnh ra là yêu sách, đối lại, chúng tôi quan niệm Tổng Thống và Chính Phủ thỏa măn nguyện vọng của chúng tôi là “v́ dân và cho dân” chứ không phải là nhượng bộ.
Với tất cả ư niệm hợp lư và chân thành này, chúng tôi ước mong Tổng Thống giải quyết thích đáng nguyện vọng Phật Giáo gồm quảng đại quần chúng Việt Nam.
Huế, ngày 23 tháng 5 năm 1963
Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
Kư tên: Ḥa Thượng TỊNH KHIẾT