PHẢN BIỆN Tài liệu:   

của Lũ du côn CIA vu cáo

Tướng Nguyễn Cao Kỳ buôn thuốc phiện

 

 

 

Phác Giác

Âm Mưu đê tiện của CIA và Mafia Do Thái côn đồ

     - Vu Cáo  Ngô Đình Nhu & Nguyễn Cao Kỳ Buôn Thuốc Phiện

     - Vu Cáo các Tướng Lãnh Miền Nam buôn Thuốc Phiện

để chạy tội Giết anh em Ngô Đình Diệm 1963

để hô hào Hoa Kỳ Giết Miền Nam bằng Hiệp Định Paris 1973

Bùi Như Hùng

2011

Sau khi điều nghiên tài liệu in trong "The Politics of Heroin in Southeast Asia" do Alfred McCoy viết ra và ấn hành năm 1971. Rồi đến cái phúc trình CIA General Inspector Report 1972

Tôi khám phá ra cái thủ đọan ấu trỉ của tên du côn Alfred McCoy cùng với tập đòan CIA dã man đã có hành vi đê tiện như sau:

Cuốn sách của nó gồm tòan là phỏng vấn người nầy người nọ về sự buôn thuốc phiện tại Miền Nam, chứ không có một chứng cớ nào cả.

 

Giai đọan 1: Alfred McCoy phỏng vấn 2 người là Lucien Conein và Mai Hữu Xuân

đó là 2 nhân viên của cơ quan tình báo CIA. Chúng đã chủ mưu giết cả nhà họ Ngô năm 1963. Cho nên McCoy đã cố tình bôi nhọ danh dự giòng họ Ngô Đình với lời chứng gian của 2 hung thủ Lucien Conein và Mai Hữu Xuân. Hai tên nầy khai gian để vu cáo ông Ngô Đình Nhu buôn thuốc phiện, có Nguyễn cao Kỳ phụ tá chuyên chở bằng phi đòan không lực VNCH.

 

Giai đọan 2:  Alfred McCoy dựa vào các lời chứng gian đó để viết ra sách "The Politics of Heroin in Southeast Asia" ấn hành năm 1971

Giai đọan 3: năm 1972 Inspecteur General của CIA dựa vào sách "The Politics of Heroin in Southeast Asia" của tên du côn Alfred McCoy để xác quyết Ngô Đình Nhu và Nguyễn Cao Kỳ  buôn thuốc phiện.

 

Tại sao chính phủ Hoa Kỳ lại làm những việc trân tráo như vậy ?

căn nguyên vì chúng là một lũ du côn chuyên đi lường gạt, chúng hành động như những con bò tót và những con heo nọc vô cùng dơ dáy.

Đây là mô hình phỏng theo chương trình hành động của lũ gian:

 

Bấm vào đây

để rọi lớn

 

 

Chủ mưu của chúng là biện minh cho việc giết TT Diệm và ông Nhu năm 1963, rồi sau đó để hô hào bán Miền Nam cho Cộng Sản vào năm 1975.

Xin mời đọc

Băng Đảng của Ngô Đình Nhu

 

Trân trọng

Bùi Như Hùng

2011

 

CƯỚC CHÚ:

1). Chúng cũng vu cáo Tướng Ngô Du buôn thuốc phiện.

Nhưng tôi xác quyết là Tướng Ngô Du không buôn thuốc phiện

vì:

CIA Do Thái phản thùng du côn đang tìm lập căn cứ địa cho Việt Cộng tại Cao Nguyên. Vị trí chiến lược của căn cứ địa nầy nằm ở phía tây Ban Mê Thuột, tất giáp ranh với đọan cuối của đường mòn Hồ Chí Minh, vô cùng thuận lợi để đánh chiếm Cao Nguyên, để làm bàn đạp đánh sập toàn thể Miền Nam.

Nếu Tướng Ngô Du buôn thuốc phiện thì người Mỹ và Nguyễn văn Thiệu không bứng ông tướng nầy đi. Nhưng vì Tướng Ngô Du không có phạm tội gì cả, cho nên chúng không làm săng-ta (chantage= blackmail) với ông được. Thế là chúng cách chức ông rồi sau đó đưa tên Nguyễn Văn Toàn tổ sư tham nhũng làm Tư lệnh quân đòan II vùng II chiến thuật. Nguyễn Văn Tòan cho thiết lập một an tòan khu vào phía tây Ban Mê Thuột (cấm quân đội VNCH hành quân hay pháo kích vào đây):

Trích sách ĐẠI CÁO TRẠNG:

3.13. Đánh cao nguyên 

    Đánh cao nguyên Trung phần thì toàn thắng là mưu lược của tên Do thái Moshe Dayan, tướng chột mắt, chỉ vẽ từ năm 1960 khi y được mời tham quan thân hữu VNCH. Chúng ta đã dại đi giao hữu với gian phi. Chúng ta hồ đồ đến đui điếc khi mở rộng vòng tay tiếp đón lưu manh. Ngay tại Hoa kỳ chúng ta đang thấy rõ cái tai hại to lớn mà nước nầy phải gánh chịu. Con siêu vi khuẩn Do thái đã, đang và sẽ bòn rút người Mỹ đến tận xương tủy.

   Theo mưu lược bí mật của những phái đoàn quân sự Do thái đã điều nghiên nhiều lần tại chỗ từ 1960 đến 1971 thì Ban Mê Thuột là nhược điểm của ta, cho nên Kissinger bày kế riêng cho Lê đức Thọ thi hành. Trong quyển "Đại thắng mùa xuân" đại tướng Bắc Việt tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh 1975 đánh chiếm Miền Nam là Văn tiến Dũng ghi lại cuộc họp vào tháng 1-1975 tại Hà nội:

  "Cuộc họp vừa bắt đầu thì đồng chí Lê đức Thọ bất ngờ mở cửa vào và ngồi họp với chúng tôi. Sau chúng tôi hiểu rằng Bộ Chính trị chưa thật yên tâm vì thấy ý định đánh Ban Mê Thuột chưa thể hiện rõ ràng trong kế hoạch tác chiến, cho nên cử đồng chí Lê đức Thọ đến tham gia ý kiến với chúng tôi là nhất quyết phải đánh Ban Mê Thuột".

   Cũng trong cuộc họp nầy, tướng Trần văn Trà ghi chỉ thị của Lê đức Thọ:

  "Quyết tâm của Bộ Chính trị là đánh Ban Mê Thuột. Chỉ chấp hành lịnh không thảo luận gì cả".

   Cũng trong hồi ký "Đại thắng mùa xuân" của tướng VC Văn tiến Dũng có ghi rõ chỉ thị của Lê đức Thọ do tên Do thái Kissinger mách nước: "Đồng chí Lê đức Thọ khi tiễn tôi vào Nam, có dặn rằng hễ đánh Cao nguyên thì toàn thắng, tôi không tin như vậy, nhưng vẫn nghe theo."  

Cả hai cuốn sách của hai tướng Dũng và Trà đều bị Bộ Chính trị ra lệnh tịch thu ngay khi mới vừa phát hành vì những câu nói hớ hênh làm bại lộ âm mưu của tập đoàn Do thái, nên bị cộng sản ra lịnh tịch thu, cấm lưu hành.

   Khu rừng bất khả xâm phạm phía tây Ban Mê Thuột được thiết lập do tên tay sai CIA là Nguyễn văn Toàn, trung tướng tư lệnh quân đoàn II vùng II chiến thuật. Nêu lý do giả tạo dành một khu an toàn khai thác gỗ, giao cho một tên Tàu phù quản lý, mà quân đội VNCH không được hành quân hay pháo kích vào đó, tên Toàn cho lập khu rừng an toàn nầy nằm ở phía tây Ban Mê Thuột, tất giáp ranh với đường mòn Hồ chí Minh. Trên thực tế đây là an toàn khu rất tiện lợi cho Việt cộng ung dung tích lũy quân và vũ khí. Đây là một âm mưu của CIA vô cùng bí mật, tướng V.T.Dũng khi vào đến nơi mới biết. Tướng Dũng đặt đại bản doanh ở đây để tiến đánh Miền Nam. Cho nên mở màn đánh chiếm Miền Nam 1975, hàng hàng lớp lớp T54 và PT76 tấn công như vũ bão vào thành phố Ban Mê Thuột với 3 sư đoàn chính qui hùng hậu 320, 316 và công trường cơ giới F10, trong lúc quân ta chỉ có một trung đoàn trấn giữ tại đây (!).

   Vì :   Giám đốc CIA tại Việt Nam là tên Do thái Thomas Polgar lừa phỉnh tướng Phú là Việt cộng sẽ tấn công Pleiku chứ không tấn công Ban Mê Thuột. Từ trước đến nay cái gì CIA nói với tướng Phú đều đúng cho nên tướng Phú tin thật, ông dồn tất cả chủ lực quân về bảo vệ Pleiku, mặc dầu cơ quan quân báo của ta phúc trình cho tướng Phú là Việt cộng nhất định đánh Ban Mê Thuột, tháng ba - 1975 khi ông biết mình bị lừa thì đã trễ.

   Khi Ban Mê Thuột thất thủ, quân đoàn II phải theo lệnh của ông Thiệu rút chạy về Nha Trang, trên quốc lộ 7 mà bản đồ và kế hoạch đã bị CIA tiết lộ cho Việt cộng từ trước để gài mìn phục kích, chận đánh và pháo; quân dân ta thây nằm chật đất, máu chảy thành suối.

   Giúp lập khu an toàn chứa quân, võ khí và xe tăng cho Việt cộng, rồi lừa gạt cấp chỉ huy quân đội Miền Nam, từ đầu chí cuối đều do tên Do thái Thomas Polgar chủ mưu.   Tướng Phú tự vận, ông hấp hối ở bệnh viện Grall, không chịu di tản theo "đồng minh" phản bội, đến chết tướng Phú cứ tưởng là "người Mỹ" gian ác, ông không nghi ngờ gì tập đoàn Do thái cả, ông ôm hận nhìn sự thành công phi lý của giặc Cộng vào dày xéo Saigon.

ĐẠI CÁO TRẠNG

 

2). Chúng cũng vu cáo Tướng Đặng Văn Quang buôn thuốc phiện.

Tướng Quang trước làm chánh văn phòng cho Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, rồi sau đó về phủ tổng thống Dinh Độc Lập làm chánh võ phòng cho TT Thiệu.

Nếu Trần Thiện Khiêm là nhân viên của CIA, Nguyễn văn Thiệu là tay sai của CIA, thì đương nhiên Tướng Quang cũng là tay sai của CIA, dính liếu cùng với Nguyễn Văn Tòan trong vụ sát hại Tướng Nguyễn Văn Hiếu.

Nhưng chúng ta có thể xác quyết Tướng Quang không thể là người buôn thuốc phiện vì việc buôn thuốc phiện cần có một cơ cấu tổ chức từ Lào về đến Cao Nguyên và Sàigòn. Mà Lào thì do Việt Cộng và Pathet Lào kiểm sóat. Hệ thống buôn thuốc phiện như vậy là phải thương lượng với Việt Cộng, mà cho đến ngày nay, ngoài việc vu cáo suông không thấy CIA và du côn McCoy nói đến những tiếp xúc với Việt Cộng.

Làm chính trị mà ngu như CIA, như Mafia Do Thái thì cho đến đứa con nít cũng phải khinh khi chúng. 

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2011

 

 
 
 

 

 Nhận định:  về bài viết

 

 1972 CIA Inspector General Report Confirms Heroin Complicity

                                    

Bùi Như Hùng

2010

 

Alfred W. McCoy viết theo tài liệu của CIA ngụy tạo về ông Nguyễn Cao Kỳ:

Ngoài ra, đoạn nầy:

Quand le Sénateur Gruening déclare en février 1968 que le gouvernement de Saïgon est "si corrompu qu'il ne peut plus commencer à commander la loyauté et le respect de ses citoyens, les fonctionnaires américains à Saïgon défendent le régime de Thieu-Ky en disant qu'il n'y a pas de preuves que les dirigeants sudvietnamiens sont coupables de recevoir des "commissions." Un mois plus tard, le Sénateur Gruening affiche l'évidence du trafic d'opium de Ky dans les années 1961-1962, mais l'Ambassade américaine protège Ky contre des enquêtes plus avancées en offrant un démenti vigoureux contre les accusations du sénateur.

Frustrated at the Embassy's failure to take action, an unknown member of U.S. customs leaked some of Roberts' reports on corruption to a Senate subcommittee chaired by Sen. Albert Gruening of Alaska. When Senator Gruening declared in February 1968 that the Saigon government was "so corrupt and graft-ridden that it cannot begin to command the loyalty and respect of its citizens," (65) U.S. officials in Saigon defended the Thieu-Ky regime by saying that "it had not been proved that South Vietnam's leaders are guilty of receiving 'rake-offs." (66) A month later Senator Gruening released evidence of Ky's 1961-1962 opium trafficking, but the U.S. Embassy protected Ky from further investigations by issuing a flat denial of the senator's charges. (67)

The New Opium Monopoly

Kẻ tung người hứng, chúng đóng kịch cốt để gióng lên sự vu cáo ghê tởm về sự buôn thuốc phiện tại Miền Nam.

Nếu thật sự Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ có dính liếu đến vụ buôn lậu thuốc phiện thì ông không thể nào dám đối kháng chống lại Henry Kissinger một cách mãnh liệt và dứt khoát. Tấm hình sau đây chứng minh một cách hùng hồn tư cách của vị tướng lãnh kiêu hùng. Henry Kissinger đã từng là Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia của Mỹ. 

Bọn du côn Do Thái viết ra đủ lời vu cáo dơ bẩn với dụng ý phải giết Nguyễn Cao Kỳ, vì tướng Kỳ cực lực chống lại âm mưu của Henry Kissinger nhượng nhiều ưu đãi cho Bắc Việt trong Hội đàm Paris (1969-1973)

Nguyễn Cao Kỳ, Henry Kissinger ,  Ellsworth Kunker

Rồi chúng giết Tướng Nguyễn Cao Kỳ, để đưa một thằng giả vào Mỹ. Đây là hình thằng giả trên tàu USS Midway ngày 29 tháng 4 - 1975

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmail.com

  

CƯỚC CHÚ:

Lịch sử sẽ điểm mặt những tên Việt gian đã in ấn và phổ biến tài liệu giả mạo của CIA du côn sắt máu chuyên vu khống để giết người: "The Politics of Heroin in Southeast Asia" .

Tháng 3 năm 1975, tôi có gặp Thếu tướng Kỳ tại văn phòng công ty Phi Long của ông ở thương xá TAX, Sàigòn. Tôi xác quyết Tướng Kỳ có hình dáng như thế nầy:

Khi gặp tôi, Tướng Kỳ có ưu tư là người đàn bà, "Đặng Tuyết Mai" đang sống với ông, không phải là vợ ông, vì tư cách của mụ nầy là một con điếm du côn chớ không phải người đàn bà hiền thục đã từng là một tiếp viên phi hành kiều diễm. Tôi đoan chắt rằng chúng đã giết bà Đặng Tuyết Mai (khi chúng lập kế phao tin bà ĐTM đi sửa sắc đẹp vào đầu tháng 3-1975) rồi đưa con mụ giả nầy vào thế. Con mụ nầy chuyên mặc đồ cao bồi, dáng đi như ngựa, thô bỉ chuyên lường gạt trân tráo.

Nhận Định về Bà ĐẶNG TUYẾT MAI

 

Nhân dịp nầy chính Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ nói với tôi: "Người Mỹ đã bán Miền Nam cho Việt Cộng"!

Thành thật lúc đó tôi không tin Tướng Kỳ, và tôi bày tỏ không tin lời ông nói, thì ông ta thất vọng và không nói gì thêm.

__________________________________________________________________

Rồi (khi tướng Kỳ bị giết ngày 20 tháng 3-1975) thì con mụ Đặng Tuyết Mai giả mạo đó cùng tên Kỳ DõM tha hồ tung hòanh trong nhà của Tướng Kỳ tại Sàigòn, tổ chức đảo chánh dõm, hô hào tử thủ rồi bỏ chạy.

 

__________________________________________________________________

Những kẻ nào vào tháng 4 năm 1975 và sau đó gặp thằng DõM nầy

 

 

     

 

mà còn nói nó là Tướng Kỳ

thì nhất định tên đó là bọn gnđđ@cia.us (gia nô đĩ điếm của Mỹ) .  Gia nô đĩ điếm chúng nó là một thành phần cặn bã đê tiện súc vật, có nhiệm vụ giúp CIA cầu chứng cho thằng DõM trong tấn tuồng dơ dáy đen tối 1975 ám hại dân tộc ta.

Xin mời xem tài liệu sau đây để biết vai trò then chốt của Kỳ giả mạo (Kỳ DõM):

Điểm mặt tên Du Côn

 

 

 

 

 

 

 

1972 CIA Inspector General Report Confirms Heroin Complicity  

 

image 1

Tên du côn

Alfred W. McCoy

là một tên Do Thái ngậm máu phun người,

vu cáo cả đến chế độ Ngô Đình Diệm đã buôn thuốc phiện.

 

De : "Lelytran63@aol.com" <Lelytran63@aol.com>
À : goidan@yahoogroups.com; chinhnghiaviet@yahoogroups.com
Envoyé le : Mer 23 juin 2010, 23h 29min 35s
Objet : [GoiDan] Ngo Dinh Nhu: CIA Inspector General Report Confirms Heroin Complicity

 

1972 CIA Inspector General Report  Confirms Heroin Complicity

Excerpt of comments by:

Alfred W. McCoy, professor of Southeast Asian history at the University of Wisconsin; author of "The Politics of Heroin: CIA Complicity in the Global Drug Trade" (Lawrence Hill, 1991) and "The Politics of Heroin in Southeast Asia" (1971).

At "Drugs, Impunity and the CIA" A seminar sponsored by the Center for International Policy's Intelligence Reform Project Dirksen Senate Office Building, November 26, 1996

Heroin Production

The CIA's policy of tolerance towards its Laotian allies did not change even when they began producing heroin to supply U.S. combat forces fighting in South Vietnam.

In 1968-69, CIA assets opened a cluster of heroin laboratories in the Golden Triangle, the tri-border area where Burma, Thailand, and Laos converge. When Hmong officers loaded opium on the CIA's Air America and the Lao Army's commander opened a heroin laboratory to supply U.S. troops in Vietnam, the Agency was silent. In a secret internal report compiled in 1972, the CIA's inspector-general said the following to explain their inaction:

The past involvement of many of these officers in drugs is well known, yet their goodwill. . . considerably facilitates the military activities of Agency-supported irregulars.

All this heroin was smuggled into South Vietnam where, by 1971, according to a White House survey, 34 percent of U.S. troops were addicted.

Instead of trying to restrain drug trafficking by its Laotian assets, the Agency engaged in concealment and cover-up. Professor McCoy recalled that when he went to Laos to investigate in 1971, the Lao army commander graciously opened his opium accounts but the U.S. mission stonewalled. In a Hmong village, where he was investigating opium shipments on Air America, CIA mercenaries ambushed his research team. A CIA operative threatened to murder his Lao interpreter unless he quit.

When his book was in press, the CIA's Deputy Director for Plans pressured his publisher to suppress it and the CIA's general counsel demanded deletions of all references to Agency complicity. After the book was published unaltered, CIA agents in Laos pressed his sources to recant and convinced investigators from the House Foreign Affairs Committee that his allegations were baseless.

Simultaneously, the CIA's inspector-general conducted a secret internal investigation that confirmed his allegations. "The war has clearly been our overriding priority in Southeast Asia and all other issues have taken second place," the inspector-general said in defense of their inaction on drugs. "It would be foolish to deny this, and we see no reason to do so."

SMACK TO CRACK AND THE OUTLAW GOVERNMENT

By 1971 the greatest threat to the 400,000 member U.S. military force that had invaded Vietnam was not Communist firepower or lack of air support, it was heroin. Ninty to ninty nine percent pure, No. 4 heroin was being sold at roadside stands by Vietnamese children, in army camps, and at sidewalk cigarette stands throughout downtown Saigon. The heroin epidemic was considered so pervasive that one U.S. authority told a Newsweek reporter that "Heroin is wrecking the U.S. Army and creating a whole new class of American addicts.

As the heroin epidemic surged through the force structure the army's Criminal Investigation Division (CID) uncovered incriminating evidence that South Vietnam Major General Ngo Dzu, commander of II Corps, was " one of the chief traffickers" in the country. The CID investigation also revealed that the Chief of the Laotian general staff, General Ouane Rathikone, was "deeply involved." The conclusion's of the army investigation were sent, through channels, to the U.S. Embassy in Saigon which ignored the findings and assembled a spirited defense of General Ngo Dzu. "There is no information available to me that in any shape, manner or fashion would substantiate the charges" declared the U.S. advisor to General Dzu.

That high officials in the South Vietnamese, Laotian, and Thai governments were controlling the heroin industry should have been as shocking as the information conveyed to the police chief in the classic movie ""Casablanca" " when told of gambling at Rick's American Cafe.

The Central Intelligence Agency had been in Indochina since at least l949 and formed allegiances with groups who had been trafficking in opium for centuries. The CIA facilitated the transport logistics of the opium trade among it's allies as part of it's mission, first to initiate a covert invasion of the People's Republic of China using KMT irregulars, then in it's effort's in support of the U.S. invasion of South Vietnam. Shocking to some, unbelievable to others, and consistently denied by the U.S. government, the U.S. Government and CIA at best ignored, or as the record will show actively participated in the facilitation of the illegal drug industry, that was "wrecking the U.S. Army".

Operation PAPER, a covert CIA/KMT invasion of China supported by Civil Air Transport (CAT) a CIA proprietary airline was resoundingly crushed by Chinese soldiers in l951. Two more invasions of China were attempted as the CIA inaccurately predicted, as they would in Cuba in l961, that large number's of Chinese would spontaneously rise and join the fight. Each abortive invasion met the same fate at the first. 66 After these defeats the war lords of the KMT consolidated control of the Thai Burma border areas, expanded their tradition of opium production and shipped much of it's contraband to Bangkok not only on mules but also on CAT C-47's.

After delivering arms from Bangkok many KMT reloaded the transports with opium for the return trip. This aspect of the KMT's existence was hardly covert as the New York Times reported detailed accounts of the KMT's drug trafficking as early as l952. 67 26. As the Chinese Peoples Liberation Army were repeatedly crushing the CIA/KMT incursions the French were struggling to hold their colonial possessions in Southeast Asia. The war against the Vietnamese had become increasingly unpopular in France and the French intelligence and paramilitary operatives in Vietnam turned increasingly to the opium business for financial resources.

Dubbed OPERATION X, this covert initiative came to control most of the opium trade and incorporated Corsican gangsters for the purposes of export. 69 Service de Documentation Extrieure et du Contre Espionage (SDECE) was the French equivalent of the CIA and it's program of using illegal drugs to finance an unwanted war was top secret, known only by a few high ranking French officials. The SDECE used it's planes to transport drugs from the highlands into the urban markets and mobilized drug gangs to fight the liberation forces.

After the French defeat in l954 the U.S. began it's direct involvement to protect the Vietnamese from what President Eisenhower described as the "red ruler's godless goons". South Vietnam President Diem decided to fight the "godless goons" by resurrecting the French drug distribution network. As opium could not be grown in Vietnam it had to be imported from Laos by air and the CIA's CAT (now called Air America) and Vietnamese First Air Transport Group, under the command of Col. Nguyen Ky (later Premiere) became the mules.

By l960, CIA asset and head of the South Vietnamese secret police, Ngo Dinh Nhu, working with Cholon Chinese syndicates had increased the number of opium dens to 2,500 and incorporated Corsican mobsters as part of the transport logistics. The secret police had a well developed drug infrastructure with Col. Ky's air force providing most of the transit bypassing customs and using air force bases as distribution hubs. By l968-69 the Golden Triangle was producing over 1,000 tons of raw opium, much of which was now being refined into heroin for shipment to Europe, the U.S., and South Vietnam.

The CIA reported in l971 that much of the Golden Triangle increases in production "appears to be due to the sudden increase in demand by a large and relatively affluent market in South Vietnam". This, of course, was a reference to the 500,000 U.S. troops now stationed in Vietnam who could buy high grade no. 4 heroin everywhere, from road side stands to 14 year old street dealers. In l971 New York Congressman Seymore Halpern reported that up to sixty thousand U.S. troops in South Vietnam were either addicted or users of heroin. Other estimates placed the number as high as 15 percent prompting Newsweek to report in part ""heroin addiction among U.S. troops is reaching epidemic proportions and, in the view of many American officers, now poses a greater threat to the young soldiers in Vietnam than Communist firepower does".

The Air America fleet, another CIA proprietary which included Iran Contra Air Force officer Richad Secord as its logistics person, became a factor in solidifying the power of Hmong leader Vang Pao, who was given the authority to approve rice delivery's and opium pickups to remote villages. These villages had been separated by rugged mountain terrain and the introduction of air communications not only unified these tribes but provided them with advanced capabilities of marketing their opium. "By flying bundles of raw opium from remote villages to refineries, the CIA allowed the Hmong to continue their cash crop income, thus reducing the Agency's direct costs in maintaining tribal households."

Much of the opium transhipped by Air America was converted into no. 4 heroin for the GI market in South Vietnam. In l958, after a neutralist government was elected in Laos, prohibited by John Foster Dulles in the Grand Arena, the CIA financed a right wing political coalition. Within three months, the neutralist government was replaced by the right wing which included Cabinet Minister Phoumi a CIA asset. Phoumi had controlled the Laotian opium traffic working in collusion with Corsican and Chinese smugglers and went on to open opium dens in Vientiene, the capital city.

In l962 Phoumi moved to consolidate his control over the opium trade by establishing links with Burmese traffickers. He appointed Laotian Army General, Ouane Rattiake, Chairman of the Laotian Opium Administration and within several months Ouane brought the first major opium caravans across the Mekong River. General Ouane went on to become one of the largest drug traffickers in the Golden Triangle using Laotian C-47s and helicopters to open new trading relations with KMT and Shan brokers. One of the largest shipments he is known to have organized was a winding mile long 16 ton load carried over the jagged mountain terrain on a 300 pack horse caravan, guarded by five hundred Laotian soldiers.

This caravan provoked a battle that came to be known in the media as the l967 Opium War. The confrontation, between KMT drug units and the Shan warlords who were delivering the drugs, was a fight to control the traffic in this region. General Ouane entered the fight with Laotian jets and a paratroop battalion decisively defeating the opposing forces and retrieved the 16 tons of opium, The drug war between the KMT's 1,400 troops and Ouanes 1,800 paratroopers was reported in the U.S. media, however, it's deeper implications and the connections with heroin sales to U.S. GI's were overlooked. General Ouane consolidated this victory by displacing the KMT forces from the Burmese border and using the Laotian army to tax opium shipments.

Ouane operated five heroin refinery's producing no.4 and his operation became the lead processor for Burmese opium. This massive heroin operation was widely know to be operating including a Time magazine article that reported "the kingpin of the Laotian opium trade is General Ouane... He is reputed to own one of Laos's two major opium refineries, and five smaller refineries scattered along the Mekong". Ouane, the Laotian Chief of Staff, whose army was largely funded by the U.S., held a press conference with U.S. reporters in l971 where he was quoted as saying "the opium traffic was a good thing, since it provided the Meo (Hmong) tribesmen with a livelihood and kept them out of the hand of the Communist Pathet Lao." Ouanes candor was apparently too much for the CIA as he was reportedly forced to resign his army position several weeks later, but not from his drug operations.

BEFORE CRACK THERE WAS "SMACK"
HEROIN AND BLACK GHETTO'S

Ouane, in the finest traditions of free market enterprenuership, responded to the GI demand for No.4 by marketing his own brand name "Double U-O Globe" heroin and increasing production to 10 kilos per day. Double U_O Globe was following U.S. troops home as 8 kilos were seized in New Jersey and 16 kilos in New York in November l971. These large seizures, the GI problem and increasing media attention led to President Nixon's "war on drugs". Announced in June of 1971 Time magazine reported that the problem had become exacerbated since it (heroin addiction) had been traditionally "confined to black urban ghettos" and now it appeared the "disease has come to invade the heartland of white, middle class America."

Fearing that heroin was moving beyond the politically and racialy segregated ghettos, Nixon declared a "national emergency" and using rhetoric future politicians would borrow and build upon pronounced that "America's Public Enemy No. l is drug abuse". Part of Nixon's "War on Drugs" included cooperation between U.S. drug enforcement personnel and police of other nations. In 1971, the U.S. Bureau of Narcotics (DEA) sent a team of agents to Laos to investigate the problem. Upon their arrival they were prevented from conducting investigations by the U.S. Embassy, the CIA, and the Laotian government.

The U.S. Embassy, apparently unaware of "America's Pubic Enemy No. 1", defended this action by claiming that U.S. narcotics agents would be violating Laotian sovereignty as Laos had no legal prohibitions against drugs. The State Department, which was then demonstrating it's respect for the principle of sovereignty in neighboring Vietnam, was concerned that any pressure on the drug traffickers might damage the war effort.

The CIA and U.S. government role in the Southeast Asian drug trade was considered logical and pragmatic in a region where opium had been a primary cash commodity for centuryies. Opium was and is a mammoth agro-business in this area just as coca in the Andean nations of South America. Covert aggression required alliances with "powerful warlords who necessarily deal in drugs" in the U.S. war against Communist's who did not, as the experience in post revolutionary China demonstrated. The CIA in l972 denied any involvement in the drug trade while expressing "some concern that local officials with whom we are in contact... have been or may be still involved in the drug business". The CIA went to explain that alliances with Laotian military officers whose drug connections were well known while their "goodwill facilitates Agency military irregulars".

The report concluded with the observation that the war had been the "overiding priority" and all other issue "have taken second place. It would be foolish to deny this, and we see no reason to do so".


 

 

 

Bài tiếng Anh trên đây và bản tiếng Pháp dưới đây là Tài liệu giả mạo của gián điệp Do Thái ngụy tạo và dược in ấn tại trang liên mạng Nguyễn Văn Hiếu. Cái nguy hại là người Việt mình dễ tin, hể cái gì bọn Mỹ nói ra cũng tưởng là đúng (vì vậy mà chúng ta mất nước).

 

Việc đáng tội nghiệp là có một bọn mà tôi gọi là gnđđ@cia.us (gia nô đĩ điếm của Mỹ) do CIA đem sang Mỹ trong dịp 1975 (trước 30 tháng 4-1975, một số theo diện HO), đối với bọn nầy cái gì của Mỹ cũng thơm !

 

 

 

CHỨNG TÍCH ĐANH ÁC ĐĂNG TRÊN TRANG MẠNG general Hieu:

 

 

 

  

 

Les Politiques de l'Héroïne dans Le Sud Est Asie

Le Nouveau Monopole de l'Opium

La carrière dans l'armée de l'air du Premier Ministre Ky commence quand il retourne de l'école de vol en France avec son dîplome de pilote de transport et une femme française. Comme les Américains commencent à évincer les Français hors des positions de conseillers de la force de l'air en 1955, les Français essaient de renforcer leur influence ébranlante en promouvant les officiers avec des citoyens fortement pro-Français, il est promu au rang de colonel "presque du jour au lendemain" et devient le premier Vietnamien à prendre la commande de la force de l'air vietnamienne. La femme du lieutenant Ky est une preuve suffisante de sa loyauté, et en dépit de sa jeunesse et inexpérience, il a été nommé commandant du 1er Escadron de Transport. En 1956, Ky est également nommé commandant du terrain d'aviation militaire Tan Son Nhut de Saïgon, et son escadron, qui est basé là, a été doublé à un total de trente-deux C-47 et a été renommé le 1er Groupe de Transpost. Bien que faisant la navette à travers le pays dans ces C-47 encombrants puisse manquer d'éclat et de charme, ceci a ses avantages. La responsabilité de Ky de transporter les fonctionnaires du gouvernement et les généraux lui procurent des contacts politiques utiles, et avec trente-deux avions sous sa commande, Ky possède la plus grande flotte aérienne commerciale dans le Sud Vietnam. Ky a perdu la commande du terrain d'aviation militaire Tan Son Nhut, à cause de la critique au sujet de la gestion (ou mal gestion) de la cantine du terrain d'aviation par sa soeur, Madame Nguyen Thi Ly. Mais il demeure au contrôle du 1er Groupe de Transport jusqu'au coup anti-Diem de novembre 1963. Puis Ky s'engage dans quelque sorte d'intrigue politique et, en dépit de son manque de capacités en tant que conspirateur du coup, émerge en tant que commandant de l'entière force de l'air vietnamienne seulement six semaines après la chute de Diem.

En tant que commandant de la force de l'air, le Vice-Maréchal de l'Air Ky devient l'un des membres le plus actif des "jeunes Turcs" qui ont rendu la vie politique dans Saïgon si chaotique sous l'égide brève et erratique du Général Khanh. Bien que la force de l'air n'ait pas le pouvoir pour initier à elle seule un coup, comme une division blindée ou d'infanterie le puisse, sa capacité de marmiter les routes conduisant à Saïgon et de bloquer le mouvement des divisions de n'importe qui montant un coup donne à Ky un pouvoir de veto virtuel. Après que la force de l'air écrase le coup abortif du 13 septembre 1964 contre le Général Khanh, l'étoile politique de Ky commence à s'élever. Le 19 juin 1965, le Comité Dirigeant National composé de dix membres dirigé par le Général Nguyen Van Thieu nomme Ky au poste de premier ministre, la plus haute position politique dans le Sud Vietnam.

Bien qu'il soit énormément populaire avec la force de l'air, Ky n'a ni une base politique indépendante ni aucune réclamation à un leadership d'aucun mouvement de masse authentique quand il a pris la position. Un nouveau venu en quelque sorte dans la politique, Ky est presque inconnu au dehors des cercles élites. En outre, Ky semble en court d'argent, de connexions, et la capacité d'intrigue nécessaires pour construire une faction gouvernante efficace et rétablir la sécurité de Saïgon. Mais il résout ces problèmes dans la façon traditionnelle vietnamienne en choisissant un courtier de pouvoirs, un "poids lourd" comme Machiavel et corrompu comme Bay Vien ou Ngo Dinh Nhu - le Général Nguyen Ngoc Loan.

Loan a été facilement l'un des plus brillants jeunes officiers de la force de l'air. Sa carrière a été marquée par un avancement rapide et nomination à de tels postes requérant une connaissance technologique comme commandant du Groupe d'Observation Légère et assistant commandant du Centre d'Opérations Tactiques. Loan a également servi en tant que commandant adjoint de Ky, un ancien camarade de classe et ami, à la suite du coup anti-Diem. Peu après que Ky a pris son poste, il nomme Loan directeur du Service de Sécurité Militaire (MSS). Comme le MSS est responsable de l'enquête anticorruption dans le militaire, Loan est dans une position excellente de protéger les membres de la faction de Ky. Plusieurs mois après le pouvoir de Loan augmente grandement quand il est également nommé directeur de l'Organisation Centrale de Renseignement (OCR), la CIA sudvietnamienne, sans être demandé de démissionner du MSS. Finalement, en avril 1966, Premier Ky annonce que le Général Loan a été nommé à un poste supplémentaire - directeur général de la Police Nationale. Seulement après que Loan ait consolidé sa position et choisi ses successeurs qu'il "quitte" les postes de directeur du MSS et de la OCR. Même sous Diem personne n'a contrôllé tant d'agences de police et de renseignement.

Dans la nomination de Loan à tous ces trois postes, l'intérêt de Ky et des Américains se coïncident. Tandis que Premier Ky utilise Loan pour construire une machine politique, la mission américaine est contente de voir un homme fort prendre la commande des communautés de police et de renseignement de Saïgon pour déloger le FLN hors de la capitale. Lieutenant Colonel Lucien Conein dit que Loan a été accordé le soutien à plein coeur de l'US parce que

Nous voulons une sécurité efficace dans Saïgon par-dessus de tout, et Loan a pu fournir cette sécurité. Les activités de Loan ont été placées au-delà de toute reproche et la structure entière à trois étages du conseiller américain aux niveaux de district, province et nation a été placé à sa disposition.

La naïveté libérale qui avait marquée les diplomates de Kennedy dans les quelques derniers mois du régime de Diem a été décidément absente. Passées sont les querelles au sujet des tactiques "d'état policière" et rêveries que Saïgon pourrait être sécurisé et les situations politiques stabilisées sans l'emploi des fonds disponibles provenant du contrôle des raquettes lucratives de Saïgon.

Avec l'encouragement de Ky et le soutien tacite de la mission américaine, Loan (que les Américains appellent "Laughing Larry" parce qu'il éclate souvent dans un gloussement à haute diapason) ressuscite la formule de Binh Xuyen pour utilitser systématiquement la corruption pour combattre contre la guerre de guerrilla urbaine. Au lieu de purger les bureaux de police et de renseignement, Loan forge une alliance avec les spécialistes qui avaient dirigé ces agences pendant les dix à quinze dernières années passées. Selon Lieutenant Colonel Conein, "les mêmes professionnels qui ont organisé la corruption pour Diem et Nhu sont encore en charge de la police et du renseignement. Loan a simplement passé le mot parmi ces gens et a remis le vieux système de nouveau en place."

Sous la direction de Loan, la sécurité de Saïgon a été améliorée remarquablement. Avec le réseau de surveillance de "porte à porte" perfectionné par Docteur Tuyen remise en action, la police est très inondée d'information. Un fonctionnaire de l'Ambassade américaine, Charles Sweet, qui était alors impliqué dans le travail de pacification urbaine, se rappelle qu'en 1965 le FLN tenaient en fait des rallies à plein jour dans les sixième, septième et huitième arrondissements de Cholon et les incidents terroristes dépassaient quarante par mois dans le 8ème arrondissement tout seul. Les méthodes de Loan sont si efficaces, cependant, qu'en octobre 1966 jusqu'en janvier 1968 il n'y pas même un incident terroriste dans le 8ème arrondissement. En janvier 1968, le correspondant Robert Shaplen rapporte que Loan "a fait ce qui est généralement regardé comme un bon travail de dépister les terroristes communistes dans Saïgon..."

Remettre "le vieux système de nouveau en place", bien sûr, signifie ressusciter la corruption à grande échelle pour financer les récompenses monétaires payés à ces agents à mi-temps toutes les fois qu'ils délivrent l'information. Loan et les professionels du renseignement de police systématisent la corruption, régularisant combien chaque agence particulière pourrait collecter, combien chaqu'officier pourrait retenir pour son propre usage, et quel pourcentage devrait être retourné à la machine politique de Ky. Toute corruption individuelle excessive extirpée, les raquettes de vice dans Saïgon-Cholon, les raquettes de protection, et les paiements sont strictement contrôlés. Après plusieurs années d'observation du système de Loan en action, Charles Sweet sent qu'il y a quatre sources principales de corruption au Sud Vietnam: (1) vente des postes gouvernementaux par les généraux ou leurs épouses, (2) corruption administrative (ristournes, présents corrupteurs, etc), (3) corruption militaire (vol des biens et supercherie de salaires), et (4) le trafic d'opium. Et de ces quatre, Sweet a conclu que le trafic d'opium est indéniablement la source la plus importante du revenu illicite.

En tant que courtier de pouvoirs du Premier Ky, Loan supervise simplement toutes les formes variées de corruption à un niveau administratif général; il normalement laisse les problèmes mondains d'organisation et de gestion des raquettes individuelles aux assistants loyaux.

Tôt en 1966 le Général Loan nomme un politicien plutôt mystérieux de Saïgon du nom de Nguyen Thanh Tung (connu comme "Mai Den" ou "Mai Noir:) directeur du Bureau de Renseignement Etranger de l'Organisation Centrale de Renseignement. Mai Den est l'un de ces conspirateurs vietnamiens perpétuels qui ont changé de camps tant de fois dans les dernières vingt-cinq années que personne ne sait vraiment pas beaucoup à leur sujet. En général on croit que Mai Den a commencé sa carière d'échiquier en tant qu'agent de renseignement Viet Minh tard dans les années 1940s, devient un agent français à Hanoï dans les années 1950s, et joint la police secrète du Docteur Tuyen après le retrait des Français. Quand le gouvernement de Diem tombe, il devient un conseiller politique proche du puissant commandant du 1er Corps, le Général Nguyen Chanh Thi. Cependant, quand le Général Thi ne s'entend pas avec Premier Ky pendant la crise bouddhiste de 1966, Mai Den commence à fournir au Général Loan avec l'information sur les mouvements et plans de Thi. Après la chute du Général Thi en avril 1966, Loan récompense Mai Den en le nommant au Bureau de Renseignement Etranger. Bien qu'il soit nominalement responsable des opérations d'espionnage étrangères, présumément le vrai boulot de Mai Den est de réorganiser la contrebande d'opium et d'or entre Saïgon et Laos.

A travers son contrôle des recrutements de renseignement et de consulat à l'étranger, Mai Den n'aurait pas trop de difficulté à placer un nombre suffisant d'hommes de contact en Laos. Cependant, l'attaché militaire à Vientiane, Lieutenant Colonel Khu Duc Nung, et la soeur du Premier Ky à Pakse, Madame Nguyen Thi Ly (qui gère l'Hotel du Palais Sedone), sont les contacts probables de Mai Den.

Une fois que l'opium est acheté, réemballé pour livraison, et délivré à un point de reprise au Laos (normalement Savannakhet ou Pakse), un certain nombre de méthodes sont utilisées pour les introduire frauduleusement au Sud Vietnam. Bien qu'elles ne soient plus aussi importantes que dans le passé, les largages aériens dans les Hauts-Plateaux du Centre continuent. En août 1966, par exemple, les Bérets Verts américains en opérations dans les collines au nord de Pleiku ont été surpris quand leurs alliés montagnards leur présentent un paquet d'opium cru largué par un avion passant dont le pilote s'est évidemment trompé que les guérilleros montagnards sont ses hommes de contact. L'homme de Ky dans les Hauts-Plateaux du Centre est le commandant du 2ème Corps, le Général Vinh Loc. Il a été placé là en 1965 et hérite toutes les bénéfices d'un tel poste. Son successeur, un général réputé corrompu, se vante auprès de ses collègues d'avoir perçu cinq milles dollars pour chaque tonne d'opium larguée dans les Hauts-Plateaux.

Tandis que les larguages aériennes dans les Hauts-Plateaux diminuent en importance et que les contrebandes narcotiques par voie terrestre du Cambodge n'a pas encore développé, de larges quantités d'opium cru sont contrebandées dans Saïgon par des vols aériens commerciaux réguliers du Laos. Le service douanier à Tan Son Nhut est largement corrompu, et le Directeur de la Douane Nguyen Van Loc est un important rouage dans la machine produisant les fonds. Dans un rapport de novembre 1967, George Roberts, alors chef de l'équipe de conseillers de douane américains à Saïgon, décrit l'étendue de la corruption et de la contrebande au Sud Vietnam:

Malgré quatre ans d'observation d'une agence typiquement dominée par la corruption du GVN (Gouvernement du Vietnam), le Service de Douane, je continue à ne pouvoir prendre que très peu de personnes à un tribunal régulier avec de l'évidence solide que je possède et avoir très peu de chance de les faire condamner sur cette évidence. L'institution de la corruption est tellement devenue une part du processus gouvernemental qu'elle est protégée par l'étendue de sa pénétration même. C'est tellement une part des choses qu'on ne peut pas séparer les actions "honnêtes" de celles "déshonnêtes". Qu'est-ce qui constitue la corruption au Vietnam? De mes observations personnelles, c'est comme suit:

Les très hauts placés fonctionnaires qui tolèrent et s'engagent dans la contrebande, non seulement des marchandises réglées par la douane, mais qui sappent l'économie de la nation dans la contrebande d'or et bien pire que tout, ce mal unpardonnable -- opium et autres narcotiques;

Les policiers pour qui "stations de contrôle" sont synonymes avec "stations de dépouillement";

Les fonctionnaires gouvernementaux hauts placés qui avisent leurs subalternes du paiement mensuel qu'ils exigent d'eux...

Les douanies qui vendent au plus offrant le privilège de tenir pendant un temps spécifique la position où les possibilités de corruption et de pillage sont au plus haut point.

Il semble que le Directeur de la Douane Loc consacre la plupart de ses énergies à organiser le trafic d'or et opium entre Vientiane, Laos, et Saïgon. Quand 114 kilos d'or sont interceptés à l'Aéroport Tan Son Nhut provenant de Vientiane, George Roberts rapporte à la douane américaine à Washington qu'"Il y malheureusement des accents politiques et implications de culpabilité de la part des personnages hauts placés." Directeur Loc utilise également ses connexions politiques pour avoir sa séduisante nièce embauchée comme hôtesse de l'air sur Royal Air Lao, qui vole plusieurs fois par semaine entre Vientiane et Saïgon, et l'utilise en tant que courtier de livraisons d'or et opium. Quand les conseillers américains de la douane à Tan Son Nhut donnent l'ordre de fouiller ses baggages en décembre 1967 comme elle débarque d'un vol de Royal Air Lao venant de Vientiane, ils découvrent deux cents kilos d'opium cru. Dans son rapport mensuel à Washington, George Roberts conclue que Directeur Los "promeut le système de paiements journaliers dans certains domaines des activités de la Douane."

Après que Roberts aient soumis un nombre de rapports bien accentués avec la mission américaine, Ambassadeur Ellsworth Bunker l'appelle ensemble avec les membres de l'équipe des conseillers de la douane à l'Ambassade pour discuter "l'implication vietnamienne dans la contrebande d'or et de narcotiques." 'The Public Administration Ad Hoc Committee on Corruption' au Vietnam a été formé pour faire face au problème. Bien que Roberts réprimande le comité, disant que "nous devons nous arrêter d'enterrer nos têtes dans le sable comme les autriches" quand nous faisons face à la corruption et contrebande, et supplie, "Avant tout, ne réduisez pas ceci à devenir un sujet classifié et ainsi l'enterrer," l'Ambassade américaine décide de faire justement ainsi. Les fonctionnairs de l'Ambassade que Roberts décrit come des partisans de "concept noble de coeurs et d'esprits" ont décidé à ne pas s'immiscer avec la contrebande ou la corruption à grande envergure à cause "des pressions qui sont trop bien connues pour exiger l'énumération."

Frustré envers la défaillance de l'Ambassade à prendre action, un membre inconnu de la douane américaine divulgue certains des rapports de Roberts au sujet de la corruption à un sous-comité du Sénat présidé par le Sénateur Albert Gruening d'Alaska. Quand le Sénateur Gruening déclare en février 1968 que le gouvernement de Saïgon est "si corrompu qu'il ne peut plus commencer à commander la loyauté et le respect de ses citoyens, les fonctionnaires américains à Saïgon défendent le régime de Thieu-Ky en disant qu'"il n'y a pas de preuves que les dirigeants sudvietnamiens sont coupables de recevoir des "commissions." Un mois plus tard, le Sénateur Gruening affiche l'évidence du trafic d'opium de Ky dans les années 1961-1962, mais l'Ambassade américaine protège Ky contre des enquêtes plus avancées en offrant un démenti vigoureux contre les accusations du sénateur.

Tandis que ces exposés sensationnelles de contrebande au terminal civil à Tan Son Nhut saissisent les gros titres, seulement à quelques centaines de mètres sur la piste des avions de transports C-47s de l'Armée de l'Air Vietnamienne chargés d'opium du Laos sont en train d'atterrir inaperçus. Ky n'a cédé la commande de la force de l'air qu'en novembre 1967, et même alors il continue à faire toutes les promotions et les nominations importantes à travers un réseau d'officiers loyaux qui continuent à le considérer comme le vrai commandant. En tant que premier et en tant que vice-président, le Vice Maréchal de l'Air Ky a refusé les résidences officielles qui lui sont offertes et par contre a utilisé la somme de 200 000 dollars du gouvernement pour construire un palais moderne, air-conditionné juste au milieu de la Base d'Aviation de Tan Son Nhut. Le "palais vic-présidentiel," une monstruosité colorée à pastel qui ressemble à un condominium à Los Angeles, est seulement à quelque pas de la piste d'envol de Tan Son Nhut, où des hélicoptères demeurent en alerte 24 heures sur 24, et à une minute par route du quartier général de son ancienne unité, le 1er Groupe de Transport. Comme on peut s'en attendre, les partisans les plus loyaux de Ky sont les hommes du 1er Groupe de Transport. Son commandant, le Colonel Luu Kim Cuong, est considéré par beaucoup d'observateurs informés à être "le commandant par intérim" non officiel de l'entière force de l'air et un principal dans le trafic d'opium. Depuis que la commande du 1er Group de Transport et celle de la Base d'Aviation de Tan Son Nhut ont été consolidées en 1964, Colonel Cuong non seulement a des avions qui volent du sud de Laos et des Hauts-Plateaux du Centre (les routes principales d'opium), mais il contrôle également les gardes de sécurité de la base d'aviation et ainsi peut prévenir toute recherche des C-47s.

Une fois qu'il parvienne en sécurité à Saïgon, l'opium est vendu aux syndicats chinois qui prennent soins des détails tels que la raffinerie et la distribution. La police de Loan utilise leur organisation efficace pour "licencier" et fouiller les milliers de tanières illicites d'opium concentrées dans les 5ème, 6ème et 7ème conscriptions de Cholon et éparpillées à égalité à travers le reste des arrondissements de la capitale.

Bien que les bases d'exportation de morphine vers l'Europe aient été relativement petites pendant l'administration de Diem, elles ont augmenté pendant l'administration de Ky comme la Turquie commence à éliminer la production en 1967-1968. Et selon Lieutenant Colonel Lucien Conein, Loan a profité de ce changement:

Loan organise l'exportation d'opium de nouveau comme une part du système de corruption. Il contacte les Corses et les Chinois, leur disant qu'ils peuvent commencer à exporter l'opium de Laos de Saïgon s'il paient un prix fixe à l'organisation de Ky.

La plupart des narcotiques exportés du Sud Vietnam - que ce soit à base de morphine d'Europe ou de l'opium cru des autres parts du Sud Est Asie - sont expédiés du Port de Saïgon sur des navires de transports au long cours. (Egalement, Saïgon est probablement un port d'entrée pour les drogues contrebandées dans le Sud Vietnam de Thailand.) Le directeur de l'autorité du port de Saïgon pendant cette période est le beau-frère du Premier Ky et un proche conseiller politique, Lieutenant Colonel Pho Quoc Chu (Ky a divorcé sa femme française et s'est marié à une Vietnamienne). Sous la supervision du Lieutenant Colonel Chu tous les officiers bien formés du port ont été systématiquement expurgés, et en octobre 1967, le conseiller chef de la douane américain rapporte que l'autorité du port "est maintenant une coterie solide d'officier militaires du GVN." Cependant, comparé aux fortunes qui peuvent être faites du vol des équipements militaires, des marchandises, des marchandises de fabrication, l'opium probablement n'est pas si important.

Loan et Ky sans doute ont du souci au sujet de la situation de sécurité critique dans Saïgon quand ils prennent le pouvoir, mais leur vrai but en construisant l'appareil d'état policier est le pouvoir politique. Souvent ils semblent oublier qui leur "ennemi" est supposé d'être, et utilisent la majorité de leur réseau de renseignement policier pour attaquer les factions politiques et militaires adversaires. A part de l'exécution sommaire d'un suspect FLN devant les caméras de télévision américaine pendant l'offensive du Têt 1968, le Général Loan est probablement mieux connu au monde entier pour sa méthode unique de briser les impasses législatives pendant la campagne d'élection de 1967. Un membre de l'Assemblée qui proposait une loi qui aurait exclu Ky des élections à venir a été tué. Sa veuve accuse publiquement le Général Loan d'avoir ordonné l'assasinat. Quand l'assemblée refuse d'approuver le ticket Thieu-Ky à moins qu'ils se conforment aux lois d'élection, le Général Loan marche dans le balcon de la chambre des députés avec deux gardes armés, et l'opposition s'évapore. Quand l'assemblée hésite de valider les tactiques frauduleuses que le ticket Thieu-Ky a utilisées pour gagner leur victoire dans les élections de septembre, le Général Loan et ses hommes armés envahissent dans le balcon, et de nouveau les députés réalisent l'erreur de leurs actes.

Sous la supervision du Général Loan, la machine de Ky réorganise systématiquement le réseau de paiements dans le trafic d'opium et construit une organisation que beaucoup d'observateurs sentent plus compréhensive que l'appareil clandestin de Nhu. Nhu dépend des syndicats corses pour gérer la plupart de la contrebande d'opium entre Laos et Saïgon, mais leurs vols charters ont été évincés de Laos au début de 1965. Ceci a forcé l'appareil de Ky à devenir plus directement impliqué dans l'actuelle contrebande que la police secrète de Nhu l'ait été. A travers des contacts personnels au Laos, des quantités en gros d'opium raffiné et cru sont transportées aux aéroports dans le sud Laos, où elles sont reçues et contrebandées dans le Sud Vietnam par les avions de la force de l'air. Le Service Douanier Vietnamien est également contrôlé par la machine de Ky, et de quantités substantielles d'opium sont transportées directement à Saïgon par des vols commerciaux du Laos. Une fois que l'opium atteigne la capitale, il est distribué aux tanières d'opium à travers la ville qui sont protégées par la force policière du Général Loan. Finalement, à travers son contrôle de l'autorité du port de Saïgon, l'appareil de Ky peut soutirer des revenus considérables en taxant l'exportation de la morphine corse en Europe et les livraisons d'opium et de morphine chinois à Hong Kong. Malgré l'importance croissante de l'exportation de la morphine, la machine de Ky continue à avoir du souci de son propre marché domestique d'opium. L'épidémie d'héroïne chez les GIs est encore cinq ans dans le future.

Thieu Prend la Commande

A la veille du déclin politique précipité de Vice Maréchal de l'Air Ky, les officiers hauts placés qui répondent au Président Thieu semblent s'émerger comme les trafiquants de narcotiques dominants dans le Sud Vietnam. Comme ses prédécesseurs, Président Diem et Premier Ky, Président Thieu prend bien soin d'éviter de s'impliquer lui-même personnellement dans la corruption politique. Cependant, son courtier de pouvoir, le conseiller présidentiel de renseignement, le Général Dang Van Quang, est lourdement impliqué dans ces activités mal famées. Travaillant à travers les officiers hauts placés de l'armée et de la marine personnellement loyaux à lui ou au Président Thieu, le Général Quang a construit une base de pouvoir formidable. bien que le réseau international du Général Quang apparaîsse plus faible que celui de Ky, le Général Quang contrôle la marine vietnamienne, qui abrite une organisation de contrebande élaborée qui importe de larges quantités de narcotiques soit en protégeant les contrebandiers maritimes chinois ou en utilisant les vaisseaux navals vietnamiens. L'influence de Ky parmi les officiers hauts placés de l'armée s'est affaiblie considérablement, et le contrôle sur l'armée est maintenant passé au Général Quang. L'armée maintenant gère la pluplart de la distribution et la vente de l'héroïne aux GIs américains. En plus, un bloc de députés pro-Thieu dans la chambre de députés de l'Assemblée Nationale ont été publiquement exposés comme étant activement impliqués dans la contrebande d'héroïne, mais il semble qu'ils opèrent en quelque sorte plus indépendamment du Général Quang que l'armée et la marine.

Le 15 juillet 1971, l'édition de NBC Nightly News, le correspondant du réseau de Saïgon, Phil Brady, dit à une audience de spectateurs de toute la nation que Président Thieu et Vice-Président Ky sont tous deux en train de financer leurs campagnes d'élection du trafic de narcotiques. Brady cite des "sources extrêmement fiables" en disant que le conseiller chef de renseignement du Président Thieu, le Général Dang Van Quang, est "le plus grand dealer" au Sud Vietnam. Bien le sécrétaire de presse de Thieu démentit vigoureusement et accuse Brady de "propager des mensonges et calomnies contre les dirigeants dans le gouvernement, fournissant ainsi l'aide et confort à l'ennemi communiste," il n'a pas essayé de défendre le Général Quang, réputé comme étant le plus déshonnête général au Sud Vietnam quand il était le commandant du 4ème Corps dans le Delta du Mekong.

En juillet 1969 le correspondant à Saïgon de Time magazine cable au bureau de New York ce rapport sur les activités du Général Quang dans le 4ème Corps:

Quand il était là il avait gagné des millions en vendant des postes et en percevant des commissions sur la production du riz. Il y avait un incident fameux, décrit dans les fichiers passés de corruption, quand Colonel Nguyen Van Minh fut investi comme commandant de la 21ème Division. Il avait été le commandant adjoint de corps de Quang. A la cérémonie, la femme du commandant en partance se tint debout et criât à l'assemblée que Minh a payé Quang 2 millions de piastres (7300 dollars) pour la position...Quang a été finalement relevé du 4ème Corps à l'insistance des Américains.

Le Général Quang est transféré à Saïgon tard en 1966 et devient le ministre de planification et de développement, une sinécure sauve-face. Tôt après l'élection du Président Thieu en septembre 1967, il est nommé assistant spécial pour les affaires militaire et de sécurité. Le Général Quang émerge rapidement comme le courtier de pouvoir du Président Thieu, et maintenant fait le même genre de lever de fonds illicite pour la machine politique de Thieu que le maladroit Général Loan a fait pour celle de Ky.

Président Thieu, cependant, n'est pas aussi sûr de Quang que Premier Ky a été du Général Loan. Loan a joui d'une confiance absolue de Ky et était confié avec un pouvoir personnel quasi illimité. Thieu, par contre, prend soin de construire des centres de pouvoir en compétition à l'intérieur de sa machine politique pour garder le Général de gagner trop de pouvoirs. Comme résultat, Quang n'a jamais eu le même contrôle sur les diverses mini-factions pro-Thieu comme Loan avait sur l'appareil de Ky. Comme le contrôle de l'appareil de Ky sur les raquettes de Saïgon s'affaiblissent après juin 1968, les diverses factions pro-Thieu les remplacent. Dans le changement politique, le Général Quang gagne le contrôle des forces spéciales, la marine et l'armée, mais l'une des cliques pro-Thieu, qui est dirigé par le Général Tran Thien Khiem, a gagné suffisamment de pouvoir de façon qu'elle émerge graduellement comme étant une faction indépendante en elle-même. Cependant, très au début presque tout le pouvoir et l'influence gagnés de la chute de Ky semblent être logés en sécurité dans le camp de Thieu sous la supervision du Général Quang.

Il y de l'évidence qu'un des premiers nouveaux groupes commencent à contrebander l'opium dans le Sud Vietnam sont les contingents des forces spéciales vietnamiennes opérant au sud Laos. En août 1971 The New York Times rapporte que beaucoup d'avions transportant des narcotiques dans le Sud Vietnam "sont liés avec les forces spéciales vietnamiennes opérant le long du réseau de la Piste de Ho Chi Minh dans Laos." Basées dans la Province de Kontum, nord de Pleiku, les "forces de frappe" des forces spéciales ont une petite flotte d'hélicoptères de transports et d'avions qui volent dans le sud Laos en des incursions de sabotage régulières et de reconnaissance à longue rangée. Certains officiers des forces spéciales affirment que le commandant de cette unité a été transféré à un autre poste en mi-1971 parce que son implication extensive dans le trafic narcotique risque d'être exposée.

Mais les incursions clandestines sont des méthodes de contrebande relativement inefficaces, et il apparaît que l'appareil du Général Quang n'est pas devenu lourdement impliqué dans le trafic narcotique que jusqu'à l'invasion du Cambodge en mai 1970. Pour la première fois après plusieurs années l'armée vietnamienne opère à l'intérieur du Cambodge; les troupes vietnamiennes gardent les routes clés de communications cambodgiennes, les officiers de liaisons de l'armée à Phnom Penh, et les officiers de renseignement sont permis de travailler à l'intérieur de l'ancienne royauté neutraliste. Plus important encore, la marine vietnamienne commence des patrouille permanentes le long des sections du Mekong et établit des camps à Phnom Penh.

La Marine Vietnamienne: Remontant la Crique

La marine vietnamienne utilise l'invasion cambodgienne pour étendre son rôle dans le trafic narcotique, ouvrant une nouvelle conduite qui a été auparavant inaccessible. Le 9 mai une armada de 110 navires vietnamiens et 30 navires américains commandée par le commandant de la flotte navale, Capitaine Nguyen Thanh Chau, traverse la frontière cambodgienne, remontant le Mekong en une formation de forme V dramatique. Le jour suivant le commandant de la 211ème Force de Frapppe Riveraine, Capitaine Nguyen Van Thong, débarque plusieurs centaine Vietnamiens à vingt miles au haut de la rivière à Neak Luong, une traversée de bac vitale sur la Route 1 liant Phnom Penh avec Saïgon. Laissant derrière les conseillers américains là, les Vietnamiens arrivent à Phnom Penh le 11 mai, et le 12 mai atteignent Kompong Cham, soixante-dix miles au nord de la capitale cambodgienne, ainsi nettoyant entièrement la voie maritime pour leur usage. Loué comme un coup tactique et une grande "flotte militaire humanitaire" par les publicistes navals, l'armada a également, selon les sources à l'intérieur de la marine vietnamienne, la distinction douteuse de contrebander de larges quantités d'opium et héroïne dans le Sud Vietnam.

Un associé du Général Quang, l'ancien commandant de la marine le Vice Amiral Chung Tan Cang, s'élève à la prominence pendant l'invasion cambodgienne. L'Amiral Cang a été un bon ami du Président Thieu depuis leurs jours d'étudiant ensemble à l'Académie de la Marine Marchande à Saïgon (classe de '47). Quand Amiral Cang est relevé de la commande de la marine en 1965, après avoir été accusé d'avoir vendu les ravitaillements de nourriture pour secourir les victimes d'inondation au marché noir au lieu de les délivrer aux réfugiés affamés, Thieu s'est intervenu pour prévenir qu'il soit prosécuté et l'a nommé à une sinécure sauve-face.

Une source à l'intérieur de la marine vietnamienne dit qu'un réseau de contrebande qui transporte l'héroïne et opium du Cambodge au Sud Vietnam a été établi parmi les officiers hauts placés de la marine tôt après la marine vietnamienne arrive au quai de Phnom Penh. Les livraisons sont passées de mains en mains jusqu'à ce qu'elles atteignent Saïgon: en premier lieu le relai est de Phnom Pen à Neak Luong, en suite de Tan Chau à Binh Thuy. De là les narcotiques sont transportés à Saïgon sur une variété de vaisseaux navals et civils.

Comme l'opération militaire cambodgienne approche la fin au milieu de 1970, l'organisation de contrebande de la marine (qui a ramené des quantités limités d'or, d'opium et de marchandises réglementées par la douane dans le Vietnam depuis 1968) se répand.

Commodore Lam Nguon Tanh est nommé chef adjoint des opérations navales en août 1970. Egalement un membre de la classe de Thieu à l'Académie de la Marine Marchande (classe de '47) Commodore Tanh a été abrutement relevé de son poste de chef d'état major naval en 1966. Une source à l'intérieur de la marine stipule que les officiers hauts placés de la marine a utilisé trois des camps navals dans le Delta de Mekong sous la commande du Commodore Tanh - Rach Soi, Long Xuyen et Tan Chau - comme des points de dépôt des narcotiques contrebandés au Vietnam sur des bateaux de pêche Thai ou des sampans cambodgiens. De ces trois camps, les narcotiques sont contrebandés à Saïgon par des bateaux à haute vitesse (officiellement connues comme PCFs). Quand, et ça arrive souvent, les narcotiques sont transportés à Saïgon sur des sampans civils ordinaires ou des bateaux de pêches, leurs déplacements sont protégés par ces unités navales.

Bien que ces précautions aurait été adéquates, les événements et décisions dépassant le contrôle du Général Quang ont de près abouti à une exposé humiliante au public. Le 25 juin 1971, la police narcotique vietnamienne, assistée par les agents Thai et Américains, brise un syndicat chinois majeur chiu chau dans Cholon, arrête 60 trafiquants de drogues, et a fait un des plus larges saississements de narcotiques dans l'histoire récente du Vietnam - 51 kilos d'héroïne et 334 kilos d'opium. Loué dans la presse comme une grande victoire pour la guerre du gouvernement de Thieu contre la drogue, ces raids s'avèrent plutôt une enbarrassement majeur, comme ils exposent partiellement le réseau de contrebande de la marine.

L'Armée Vietnamienne: Marketing le Produit

Tandis que la marine vietnamienne est impliquée dans l'importation du drogue, les éléments pro-Thieu de l'armée vietnamienne (ARVN) gèrent la distribution et la vente de l'héroïne aux GIs à l'intérieur du Sud Vietnam. Mais plutôt de risquer l'exposition en ayant leurs propres officiers manipuler les aspects vulnérables de l'opération, les commandants hauts placés de l'ARVN préfèrent travailler avec les syndicats chinois de Cholon. Ainsi, une fois les livraisons en gros de l'héroïne sont introduites à l'intérieur du pays soit par le militaire même soit par les Chinois protégés par le militaire - elles sont normalement passées aux syndicats de Cholon pour l'emballage et et livraison. De Cholon, les courtiers chinois et vietnamiens se répandent aux quatre coins du pays, délivrant des lots de plusieurs kilos d'héroïne aux commandants militaires du Delta à la ZDM. Dans trois des quatres zones militaires, la distribution locale est supervisée et protégée par les officiers hauts placés de l'armée. Dans le Delta du Mékong (4ème Corps) les ventes locales sont contrôlées par des colonels loyaux au Général Quang, dans le sud de la région centrale du pays (2ème Corps) la distribution de l'héroïne est devenu un sujet de controverse entre les deux généraux féodaux loyaux au Président Thieu, l'ancien commandant du 2ème Corps le Général Lu Lan et le présent commandant le Général Ngo Dzu; et dans le 1er Corps tout au nord du pays, le trafic est dirigé par les députés du commandant de Corps. En juin 1971, le chef conseiller américain de la police soumet un memorandum sur l'implication du Général Ngo Dzu dans le marché de l'héroïne qui décrit la relation entre les trafiquants chinois de Cholon et les généraux vietnamiens.

"HEADQUARTERS UNITED STATES MILITARY COMMAND, VIETNAM APO SAN FRANCISCO 96222 Office of the Assistant Chief of Staff, CORDS MACCORDS-PS 10 Juin 1971

MEMORANDUM SUJET: Le Trafic de l'Héroïne

1. Une source confidentielle a avisé ce Directorat que le père du Général Dzu, Commandant Général du 2ème Corps, a trafiqué l'héroïne avec M. Chanh, d'origine chinoise de Cholon. (Autre identification pas disponible).

2. Le père du Général Dzu demeure à Qui Nhon. M. Chanh fait régulièrment la navette entre Qui Nhon et Saïgon normalement via Air Vietnam, mais parfois par l'avion privé du Général Dzu. M. Chanh soit voyage à Qui Nhon tout seul, soit avec d'autres Chinois. A l'arrivée à l'Aéroport de Qui Nhon, il est reçu par une escorte normalement composée des unités de la Sécurité Militaire et/ou de la Police Militaire.; M. Chanh est ensuite escorté au père du Général Dzu, où il délivre des quantités en kilos d'héroïne en échange de dollars américains. M. Chanh normalement dépense plusieurs jours à Qui Nhon, et reste à l'Hotel Hoa Binh, rue Gia Long, Qui Nhon. Quand Chanh retourne à Saïgon il est également offert une escorte de l'Aéroport TSN.

3. La Police Nationale à Qui Nhon, en particulier les policiers qui sont assignés à l'aéroport, sont conscients de l'activité entre le père du Général Dzu et M. Chanh, mais ils ont peur soit de rapporter soit d'enquêter ces violations par crainte qu'ils soient fais bouc émissaire s'ils agissent

4. M. Chanh (alias: Nez Rouge) est d'origine chinoise de Cholon d'environ 40 ans.

[signé] Michael G. McCann, Director Public Safety Directorate CORDS

Le gros des livraisons d'héroïne ont été délivrées dans les cités ou les camps de l'ARVN près des installations américaines. Elle est vendue aux GIs à travers un réseau des trafiquants civils (les serveuses de barraques, vendeurs de rue, les maquereaux, les gosses vagabonds) ou par des officiers de bas échelons de l'ARVN. A Saïgon et aux alentours du 2ème Corps la plupart du marketing de l'héroïne est géré par des réseaux de civils ordinaires, mais comme les drogués américains s'éloignent de la capitale aux camps isolés le long de la frontière laotienne et la ZDM, les trafiquants de l'ARVN deviennent de plus en plus prédominants. "Comment obtenons-nous ceci?", dit un GI stationné à un camp désolé près de la ZDM, "on n'a qu'à approcher la clôture et parle à un ARVN. S'il en a, vous pouvez faire l'achat.

Même à Long Binh, l'installation massive de l'armée américaine aux abords de Saïgon, les officiers vietnamiens travaillent en tant que trafiquants. Comme un GI drogué stationné à Long Binh a dit, "Vous pouvez toujours obtenir de l'héroïne d'un ARVN; pas un sous-officiers, mais les officiers. J'ai l'obtenue même d'un Capitaine."

L'Appareil de Khiem: Toute dans la Famille

Après quatre années d'exile politique en Taïwan et Etats Unis, Khiem retourne au Vietnam en mai 1968 et est nommé ministre d'intérieur dans l'administration du Président Thieu. Khiem, probablement le plus versatile des dirigeants militaires du Vietnam, procède à construire sa propre base de pouvoir, devenant premier ministre en 1969. Bien que Khiem ait une histoire de trahison envers ses alliés quand ça convient à ses buts, le Président Thieu s'est vérouillé à une guerre souterraine désespérée avec le Vice-Président Ky, et probablement nomme Khiem parce qu'il a besoin de ses talents sans égals en tant que combattant politique. Mais en premier lieu comme ministre de l'intérieur et plus tard concuremment comme premier ministre, Khiem nomme ses parentés aux bureaux lucratifs dans l'administration civile et commence à construire une organisation politique de plus en plus indépendante. En juin 1968 il nomme son beau-frère maire de Saïgon. Il utilise son influence politique grandissante pour avoir son jeune frère, Tran Thien Khoi, nommé chef de la Division de Répression de Fraude de la douane (un bras d'application), un autre frère fait directeur du Port de Saïgon et son cousin nommé gouverneur-général adjoint de Saïgon. Suivant sa promotion au premier ministre en 1969, Khiem a pu nommé un proche de sa femme à la position de directeur-général de la Police Nationale.

L'un des plus importants hommes dans l'appareil de Khiem est son frère, Tran Thien Khoi, chef de la Division de Répression de Fraude de la douane. Tôt après que les conseillers américains de la douane commencent à travailler à l'Aéroport de Tan Son Nhut en 1968, ils soumettent des rapports détaillés au sujet des conditions épouvantables et conseillent à leurs homologues sudvietnamiens de sévir fortement. Cependant, comme un fonctionnaire américain a dit, "Ils viennent tout juste à commencer à nettoyer quand le frère de Khiem arrive, et puis tout est balancé à travers la fenêtre." Le Chef de Répression de Fraude Tran Thien Khoi délègue la plupart du travail sale à son chef adjoint, et ensemble les deux hommes amènent tout travail d'application efficace à un arrêt. Le partenaire du Chef Khoi a été décrit vivement dans un rapport du shériff américain en 1971:

Il a une habitude d'opium qui coûte approximatevement 10 000 piastres par jour [35 dollars] et fréquente une tanière d'opium locale d'après un horaire prévisible. Il a été accusé de sérieuses irrégularités quelque deux années auparavant mais par des paiements et influence politique, a pu avoir ses accusations laisser tombées. Quand il prend sa position présente il est connu comme presque indigent, mais maintenant est riche et nourrit deux ou trois épouses.

Le rapport décrit Chef Khoi lui-même comme "un principal dans le trafic d'opium" qui a saboté les efforts d'établir une brigade narcotique à l'intérieur de la Division de Répression de Fraude. Sous le leadership inspiré de Chef Khoi, l'or et l'opium contrabandés à Tan Son Nhut deviennent si flagrants qu'en février 1971 un conseiller américain de douane a rapporté que "...après trois années de ces réunions et d'innombrables directives décrétées à tous les niveaux, l'opération de la douane à l'aéroport a ... atteint un point où les personnel de douane du Vietnam est réduit à pas plus que larbins aux trafiquants..."Le rapport continue à décrire l'association entre les fonctionnaires de douane et un groupe de trafiquants professionels qui semblent contrôler l'aéroport:

Actuellement, les Douaniers semblent extrêmement anxieux à plaire ces trafiquants et non seulement les escorter à travers les comptoirs d'examen mais même les accompagner au dehors aux taxis en station. Ceci donne un air de légimité à la transaction afin qu'il puisse ne pas y avoir interférence de la part d'un douanier outrement zélé ou un policier qui pourrait être nouveau au poste et ne sait pas encore ce qui est attendu de lui.

Le plus important trafiquant à l'Aéroport Tan Son Nhut a été une femme avec des connexions politiques impressionnantes:

"L'un des plus grand problèmes à l'aéroport depuis que les Conseillers arrivent la première fois là et le sujet de l'un des premiers rapports est Madame Chin, ou Ba Chin ou Chin Map qui en Vietnamien est litéralement traduit comme "Grosse Chin." Cette description cadre bien à elle comme elle est assez corpulente pour être facilement reconnue dans n'importe quelle groupe... Cette personne est à la tête d'un réseau de 10 ou 12 femmes qui sont présentes à toutes les arrivées d'avions de Laos et Singapore et ces femmes sont les destinataires de la plupart du cargo qui arrive sur ces vols comme bagages non accompagnés... Quand Madame Chin quitte la zone de douane, elle est comme un canard-mère avec sa couvée comme elle conduit la procession et est suivie avec obéissance par 8 ou 10 porteurs qui transportent des marchandises à être chargées dans les taxis...

Je me rappelle une occasion...en juillet 1968 quand un avion arrive de Laos... J'exprime un intérêt dans le même genre de médecine chinoise que cette femme a reçue et a emportée avec elle. Un des nouveaux douaniers ouvre un paquet et y trouve non pas de la médecine mais des feuilles minces d'or...Cet incident est apporté à l'attention du Directeur Général mais le Chef de la Zone 2...dit que je suis en train de deviner et que je ne peut pas accuser Madame Chin d'aucune faute. J'exhibite ce fait pour montrer que cette femme est protéger à tout niveau dans le service douanier du GVN."

Bien que presque tout fonctionnaire du service douanier reçoive des paiements des trafiquants, les conseillers américains de douane croie que le poste de Chef Khoi est celui qui donne le plus de satisfactions. Tandis que la plupart des chefs de division recoivent seulement les paiements de leur subalternes immédiats, ses pouvoirs d'application lui permettent de recevoirsdes paiements de chaque division du service douanier. Comme même le plus petit fonctionnaire comme les chefs collecteurs aux dépots de cargo de Tan Son Nhut payent 22 000 dollars chaque mois à leurs supérieurs, le revenu de Chef Khoi doit être énorme.

Au début de 1971 les conseillers américains de douane font un grand effort pour avoir le chef adjoint transféré, mais Chef Khoi est extrêmement adroit à protéger son associé. En mars les fonctionnaires américains à Vientiane ont appris que le Député Pham Chi Thien devrait s'embarquer un vol pour Saïgon transportant quatre kilos d'héroïne et transmettent cette information à Saïgon. Quand les conseillers américains de douane demande la Division de Répression de Fraude de faire l'arrêt (les fonctionnaires américains de douane n'ont pas le droit de faire les arrêts), Chef Khoi confie le saississement à son assistant fumeur d'opium. Le "héro" est plus tard décoré pour son "accomplissement," et les conseillers américains de douane, qui continuent à le faire licencié, ou au moins transféré, ont dû serrer leurs dents et assister à un banquet en son honneur.

Frusté par des mois d'inaction par la mission américaine et totale duplicité des Vietnamiens, les membres de l'équipe conseillère de douane américaine décide de porter leur cas au public américain. Des copies des rapports des conseillers de douane peu flatteurs cités ci-dessus sont divulgués à la presse et deviennent la base d'un article qui apparaît à la page une de The New York Times le 22 avril 1971, sous le gros titre, "L'Aéroport de Saïgon un Paradis de Trafiquants."

La réponse américaine est immédiate. Washington envoie davantage de conseillers de douane pour travailler à Tan Son Nhut, et l'Ambassade américaine finalement demande de l'action au régime de Thieu. Initialement, cependant, le gouvernement de Saïgon est froid aux demandes de l'Ambassade de nettoyer la Division de Répression de Fraude de la douane. Ce n'est que quand le sujet de trafiquant devient un ballon politique entre les factions de Khiem et de Thieu que les Vietnamiens montrent un intérêt à faire face au problème.

The Politiques of Heroin in SEA
Alfred W. McCoy (1973)
Harper Colophon Books
Courtoisie d'Adam Sadowski

generalhieu

 

 

 

 

 

 

 

   
   
   
 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage