|
CIA TRONG CHIẾN
TRANH VIỆT NAM
NHỮNG HUYỀN THOẠI
VÀ THỰC TẠI
Sơn Tùng
Do sự giải mật gần đây
của nhiều tài liệu liên quan đến Việt Nam (1954-1975) tại
Cơ-quan T́nh-báo Trung-ương (CIA) Hoa Kỳ, Thomas Ahern Jr.
đă viết cuốn “Vietnam
Declassified: The CIA And Counterinsurgency” (University
Press of Kentucky xuất bản) để nói về vai tṛ của CIA trong
cuộc chiến mà ông ta gọi là cuộc “nổi dậy” (insurgency) tại
miền Nam Việt Nam.
Với tiền đề ấy,
Thomas Ahern muốn chứng minh rằng CIA đă thất bại sau nhiều
năm nỗ lực hoạt động để thuyết phục quần chúng ở nông thôn
Việt Nam đứng về phiá chính quyền Sài-G̣n.
Là một sĩ quan
chỉ huy điệp vụ của CIA hơn ba thập niên, trong đó có thời
gian ở Việt Nam, Thomas Ahern nhận định rằng nỗ lực của CIA
tại Việt Nam là một “mission
imposible” ngay từ lúc khởi đầu nhưng đă được tiến hành
v́ giới lănh đạo chính phủ Hoa Kỳ lúc ấy tin chắc rằng Việt
Nam tượng trưng cho tham vọng bành trướng của cộng sản tại
Đông Nam Á, giống như Liên-sô đă tạo lập ra những nước chư
hầu vệ tinh ở Đông Âu, và như Trung Cộng đă cùng Bắc Hàn gây
chiến ở Triều Tiên để xâm chiếm Nam Hàn. V́ vậy Hoa Kỳ đă
nhảy vào tiếp sức cho thực dân Pháp tại Việt Nam, và khi
Pháp thất bại th́ các tổng thống Mỹ đă theo nhau thế chân để
ngăn chặn cộng sản.
Tác giả Thomas Ahern
đă kể ra vô số chương tŕnh, kế hoạch, cơ quan với các tên
tắt như ICEX, PFC, PRU, PSDF, RD, RDCG, vân vân, nhằm mục
đích “thu phục con tim và khối óc” của quần chúng Việt Nam
Vào giữa thập niên
1960, theo Ahern, khác với sự lạc quan của Tổng thống Lyndon
B. Johnson, Bộ trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara và nhiều
viên chức cao cấp khác tại Washington, giới chỉ huy cao cấp
CIA, kể cả Giám đốc Richard Helm, rất nghi ngờ về sự thành
công sẽ đạt được của các chương tŕnh do CIA thi hành, mặc
dù nhiều nhân viên dũng cảm của cơ quan đă hăng say làm
nhiệm vụ, bất kể nguy hiểm đến tính mạng.
Ahern ghi nhận điều mà
nhiều cấp chỉ huy CIA thấy rơ vào đầu thập niên 1960: chính
quyền Sài-G̣n lúc đó thù nghịch với ư niệm của các chương
tŕnh do CIA thực hiện mà có thể đem đến sự tự trị của các
vùng nông thôn, đặt ra sự đe dọa cho quyền lực của chính phủ,
dù rằng thực tế miền quê đang sụp đổ chung quanh Sài-G̣n.
Điều đáng bàn ở đây là
Ahern bác bỏ ư niệm cho rằng vũ khí chính của Việt Cộng tại
miền quê là khủng bố. Trong khi không chối căi sự tàn bạo
thường có, ông ta lập luận rằng nhiều dân quê đă tự ư theo
Việt Cộng, bằng cớ là có nhiều địa chủ đă đóng thuế lúa cho
Việt Cộng, dù không bị ép buộc, kể cả tại những nơi được ghi
trên bản đồ là vùng “thân thiện” với chính quyền.
Luận cứ này được đưa
ra phải chăng để hậu thuẫn cho ư niệm cho rằng cuộc chiến
tại miền Nam Việt Nam trước đây là một cuộc “nổi dậy” của
quần chúng, đặc biệt là dân quê, để biện hộ cho sự thất bại
của CIA, và của Hoa Kỳ nói chung tại Việt Nam? Và luận cứ
này phù hợp với tuyên truyền của Cộng sản Bắc Việt, nơi phát
động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam và được giới truyền
thông, tŕ thức thiên tả Tây phương về huà.
Sự thật lịch sử ngày
nay đă có đầy đủ bằng chứng cho thấy cuộc chiến tranh tại
miền Nam Việt Nam từ năm 1960 đến 1975 là do miền Bắc chủ
mưu, phát động, tiến hành. “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền
Nam” và “Chính phủ Lâm thời Cộng Hoà Miền Nam VN” chỉ là
những h́nh nộm do CSBV dựng ra. Huyền thoại về một cuộc “nổi
dậy” đă hoàn toàn sụp đổ với sự thất bại toàn diện cuả cuộc
“tổng công kích” vào dịp Tất Mậu Thân 1968, và sau đó CSBV
đă xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, công khai đánh chiếm miền Nam
bằng những sư đoàn chủ lực và xe tăng Liên-sô sau khi Hoa Kỳ
đă bỏ rơi đồng minh Nam Việt Nam.
Thật ra, không phải
đợi tới bây giờ, hơn 35 năm sau khi CSBV chiếm Nam Việt Nam,
mới có một nhân viên CIA viết về sự thất bại của Cơ quan
T́nh báo Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Ngay từ năm 1977,
hai năm sau cái chết cuả tự do tại Việt Nam, một nhân viên
CIA khác, Frank Snepp, đă từ dịch, để tung ra cuốn sách đồ
sộ “Decent Interval”, phơi
bày những hoạt động bí mật và thất bại của CIA tại Việt Nam.
Dựa vào nhiều tài liệu
trong cuốn “Decent Interval”,
cố Học giả Phạm Kim Vinh cũng đă viết về hoạt động của CIA
trong chiến tranh Việt Nam nơi cuốn “Giải Phóng Việt Nam -
Huyền Thoại, Thực Tại và Hy Vọng”, xuất bản tại Hoa Kỳ năm
1986, một trong 36 cuốn sách (cả Việt ngữ và Anh ngữ) của
ông viết về Việt Nam. Dưới đây là nguyên văn đoạn Ông Phạm
Kim Vinh viết về hoạt động của CIA tại Việt Nam:
“Khi người ta muốn bàn
đến vấn đề ‘b́nh định’ theo một cách khác th́ người ta phải
kể đến vai tṛ của cơ quan CIA Mỹ trong chiến tranh Việt
Nam. Quân đội Mỹ chỉ chiến đấu thực sự tại VN từ năm 1965
đến năm 1969, c̣n cơ quan CIA đă hoạt động tại VN ngay từ
năm 1954. Nếu có cơ quan nào cuả Mỹ thất bại trong chiến
tranh VN th́ phải nói rằng đó là cơ quan CIA.
“Tại miền Nam VN trong
cuộc chiến tự vệ chống cộng từ năm 1954 tới 1975, huyền
thoại ‘Bàn tay lông lá’ truyền tụng trong dân gian đă gán
cho CIA một sức mạnh phi thường, và tệ hại hơn nữa là huyền
thoại ấy mặc nhiên cho rằng cơ quan ấy làm ǵ cũng đều thắng
lợi. Sự thật, trong những năm chiến tranh đă chứng tỏ điều
ngược hẳn lại.
“Khoảng năm 1965, có
lúc cơ quan CIA tại VN đă gồm trên 600 nhân viên. Đó là số
nhân viên đông nhất của CIA tại hải ngoại, và số nhân viên
ấy chỉ thua số nhân viên tại đại bản doanh CIA ở Virginia,
gần thủ đô Mỹ (Frank Snepp, ‘Decent Interval’, Random House
Inc, New York 1977, trang 11-12).
“Với số nhân viên đông
đảo như thế, và với ngân khoản chắc chắn là phải khổng lồ,
cơ quan ấy được giả dụ là sẽ giúp được nước Mỹ chiến thắng
dễ và mau tại Việt Nam. Từ năm 1954 trở đi, cơ quan CIA đă,
hoặc kín đáo, hoặc lộ liễu, điều khiển nhiều nỗ lực ‘b́nh
định’ mang nhiều nhăn hiệu khác nhau để diệt cộng sản tại
nông thôn Việt Nam. Nỗ lực của CIA tại Bắc Việt không được
bàn tới ở đây, và cũng không cần thiết phải bàn, v́ lẽ giản
dị là nếu CIA thành công tại miền Bắc VN th́ có thể cuộc
chiến đă chấm dứt theo chiều hướng đại thắng cho Nam VN và
cho nước Mỹ rồi. Đoạn này sẽ chỉ bàn về hai điều thuộc về
hoạt động của CIA tại Nam VN: đường lối làm việc của cơ quan
ấy và chiến dịch Phượng Hoàng.
“Sở dĩ có huyền thoại
‘Bàn tay lông lá’ thời ấy là v́ cơ quan CIA đă dùng một
phương pháp ‘mua tin tức’ rất bừa băi, và rất kém thông
minh. Sự vụng về kỳ lạ ấy càng được chứng tỏ trong thời gian
từ 1969 đến 1972, là thời gian mà trùm của CIA tại Nam VN là
Theodore Shackley. Châm ngôn của Shackley lúc ấy là
‘recruit, recruit, and
recruit’. Cấp dưới cứ thế nhắm mắt tuyển mộ, mua tin mà
không hề bận tâm chút nào về sự chính xác và sự hữu ích cuả
các tin ấy.
“Những người bán tin
về cộng sản cho CIA tại Việt Nam chắc đă phải cười về cung
cách làm việc của cơ quan t́nh báo trung ương cuả cường quốc
số một thế giới. Có đủ mọi hạng người cung cấp tin cho CIA.
Nếu bán được một vài mẩu tin cho CIA được kể là ‘nhân viên
của CIA’ th́ hồi đó có cả ngàn người ở miền Nam đă làm việc
ấy. V́ tin tức ‘quá dồi dào’ như thế nên cơ quan CIA mỗi
tháng đă gửi về Mỹ tới 500 bản báo cáo. Dĩ nhiên đó cũng là
con số kỷ lục về báo cáo của cơ quan ấy từ trước đến nay. Và
cũng dĩ nhiên là hầu hết tin tức do các ‘nhân viên’ loại vừa
kể cung cấp đều chẳng có chút giá trị nào. Những người ấy
chỉ cần đọc báo, lượm lặt tin đồn đại đó đây, kể cả tin đồn
đại do chính cộng sản tung ra, ghép nối lại cho có đầu, đuôi
rồi nộp cho cơ quan CIA.
“Đám người kể trên làm
ăn được khá lâu, và moi được tiền của CIA dễ dàng như vậy
cũng khá lâu. Cho măi tới năm 1974, cơ quan ấy mới bắt đầu
mở mắt để nhận ra rằng ḿnh đă bị cả một đám đông lừa bịp
trắng trợn mà không hay biết ǵ. Đó mới chỉ là hậu quả ở tầm
mức địa phương (Đông Dương và Đông Nam Á). Nh́n về tầm mức
quốc gia của nước Mỹ, những báo cáo sai lầm hoặc vô nghiă do
CIA từ Sài-G̣n gửi về đă đưa chính quyền Mỹ tới những quyết
định sai lầm vô cùng trầm trọng có ảnh hưởng thật tai hại
cho nỗ lực chiến đấu của nước Mỹ để giúp Nam VN.
“Người kế vị Shackley
là Thomas Polgar, một người Mỹ gốc Hung-gia-lợi. Nếu
Shackley mắc lỗi lầm tệ hại là ‘ai cũng tin, ai nói ǵ cũng
theo’ th́ Polgar lại mắc lỗi lầm khác, nhục nhă hơn nhiều,
đó là sự nhắm mắt tin theo sự lừa bịp và dẫn dắt của trưởng
phái đoàn Hung và phái đoàn Ba Lan trong tổ chức quốc tế
theo dơi việc thi hành thoả hiệp ngưng bắn kư tại Paris ngày
27.1.1973. Tại trang 572 của cuốn ‘Decent Interval’, Frank
Snepp viết rất rơ rằng các nhân viên Sô Viết, Hung, Ba Lan
và Pháp đă thành công lừa bịp được cả Kissinger lẫn Thomas
Polgar để cho hai kẻ ấy giữ cái ảo tưởng rằng quả thật đă có
một cơ hội để thực hiện hoà b́nh theo kiểu chính phủ Vichy
thời Thế chiến II…
“Cho đến khi cộng quân
đă tiến gần đến cửa ngơ Sài-G̣n, người ta vẫn c̣n thấy
Polgar tiếp tục tin rằng những ǵ má các trưởng phái đoàn
Hung và Ba Lan nói với ông ta đều rất đúng, và vẫn c̣n ‘hy
vọng’ cứu được miền Nam. Thật khó có thể tưởng tượng kẻ cầm
đầu cơ quan CIA tại một chiến trường quan trọng như Việt Nam
lại ngây thơ và ngu xuẩn như Thomas Polgar.” (ngưng trích)
Xin nhắc lại, những
điều Ông Phạm Kim Vinh viết trên đây là dựa theo cuốn “Decent
Interval” của Frank Snepp. Nhưng nếu Snepp thẳng tay
vạch ra sự ngu muội của cấp trên tại Việt Nam th́ chính bản
thân ông ta cũng không cao quư ǵ. Ngay ở những trang đầu
của cuốn sách, ông ta đă thú nhận gia nhập CIA năm 1968 chỉ
là để tránh phải nhập ngũ sang Việt Nam, và sau bốn năm phục
vụ tại Âu Châu được phái tới Việt Nam th́ Snepp đă nghiễm
nhiên trở thành một “chuyên viên về các vấn đề Bắc Việt” của
CIA!
Về Chiến dịch Phượng
Hoàng, Ông Phạm Kim Vinh viết như sau:
“Ai cũng biết rằng
những cuộc hành quân lớn nhỏ của chính quyền quốc gia và
đồng minh không bao giờ kéo dài. Chỉ riêng điều ấy đă nóí
lên sự vô ích của hành động quân sự rồi, v́ hành động ấy
không diệt được ‘sự có mặt thường trực’ của cộng sản tại
nông thôn, và không làm cho chính bọn cán bộ cộng sản khiếp
sợ. Chiến dịch Phượng Hoàng đáng được coi là phương pháp ‘dĩ
độc trị độc’, nghiă là cũng âm thầm t́m và giết cán bộ cộng
sản trong nỗ lực diệt cơ sở của chúng tại thôn quê. Người
điều khiển chiến dịch này là William Colby, và chiến dịch ấy,
tiếc thay, chỉ kéo dài từ sau Tết Mậu Thân 1968 cho tới năm
1971.
“Chính Colby viết rằng
‘khẩu cung các cán bộ cộng sản bị bắt hoặc đầu hàng khai
rằng chúng khó thở nhất trong thời kỳ có Chiến dịch Phượng
Hoàng’ (William Colby,
‘Honorable Men – My Life In The CIA’, Simon & Schuster
1978, trang 276). Cũng trong sách ấy, tại trang 272, Colby
ghi các thắng lợi do chiến dịch ấy đạt được từ 1968 tới
1971: 17,000 cán bộ cộng sản đầu hàng và được ân xá, 28,000
tên bị bắt sống, 20,000 tên bị giết. Chỉ có 12% chết v́ cảnh
sát hoặc lực lượng chính quy VNCH hành quân.” (ngưng trích)
Chiến dịch Phượng
Hoàng phải chấm dứt v́ “phong trào phản chiến” lên cao làm
dữ tại Mỹ và báo chí tả phái Tây phương xúm vào chỉ trích,
vu cáo là chiến dịch “ám sát dân quê vô tội”. Tháng 7 năm
1971, William Colby đă phải ra điều trần trước Thượng Viện
Mỹ và bị chất vấn gắt gao, thậm chí bị buộc phải thề không
có ai bị giết lầm trong Chiến dịch Phượng Hoàng! Dĩ nhiên
ông Colby không thể thề về một điều ngớ ngẩn như vậy. Tức
th́ báo chí Mỹ hô hoán lên “như vậy là thú nhận có ám sát”!
Chỉ có tại nước Mỹ mới
có sự phô diễn đạo đức trong chiến tranh kiểu ấy. Trong khi
không có ai hỏi xem Việt Cộng đă giết bao nhiêu người vô tội,
điển h́nh là vụ thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế.
Bây giờ trở lại với
lập luận cho rằng chiến tranh ở Nam Việt Nam là một cuộc nổi
dậy cuả quần chúng, đặc biệt là tại miền quê. Sự thật, tuyệt
đại đa số dân quê miền Nam VN không bao giờ “nổi dậy” chống
chính phủ Sài-G̣n. Sau năm 1955, chỉ có một số thân nhân của
những cán binh cộng sản đă tập kết ra Bắc có liên hệ với
Việt Cộng. Trong thời kháng chiến chống Pháp, với bản chất
đơn giản, hào hiệp và yêu nước, người dân quê miền Nam VN
cũng oán ghét thực dân Pháp và cũng đă tham gia kháng chiến,
và như thế, họ đă có một “mối t́nh” với kháng chiến mà không
biết đă bị cộng sản lợi dụng. Cho đến khi đất nước chia đôi,
một chính quyền quốc gia chống cộng được thiết lập tại miền
Nam, và cán bộ cộng sản nằm vùng bắt đầu hoạt động, người
dân quê mới dần dần hiểu ra họ đang ở trong cảnh “trên đe
dưới búa”. Cán bộ cộng sản nằm vùng thi hành một chính sách
hai mặt để “nắm” thôn quê: vừa tuyên truyền dụ dỗ, vừa đe
dọa và khủng bố. Những người thực sự theo cộng sản, hoạt
động cho cộng sản tại miền quê rất ít. Phần nhiều chỉ v́ sợ
hăi mà phải tiếp tay cho chúng, che giấu chúng, tiếp tế cho
chúng, cung cấp tin tức cho chúng, đóng thuế cho chúng.
Ai có thực sự sống tại
thôn quê miền Nam VN trong những năm chiến tranh mới hiểu
nỗi sợ hăi bị Việt Cộng trừng phạt ra sao, kể cả đối với
những người sống trong vùng do quốc gia “kiểm soát ban ngày”.
Cộng sản Bắc
Việt đă thành công trên mặt trận tuyên truyền khi vẽ ra h́nh
ảnh người “chiến sĩ giải phóng” với bộ bà ba đen, với đôi
dép râu, với chiếc khăn rằn quàng cổ, và với chiếc mũ tai
bèo trên đầu. Chính h́nh ảnh này đă đánh lừa và chinh phục
được cảm t́nh của đám “trí thức mơ ngủ” tại Mỹ và Tây phương,
nhưng với một nhân viên t́nh báo CIA cấp chỉ huy trong ba
thập niên từng hoạt động tại Việt Nam mà nói rằng dân quê
miền Nam đă tự nguyện đóng “thuế luá” cho VC th́ là điều
khó hiểu.
Và, giống như
các tác giả viết về chiến tranh Việt Nam trong thời gian gần
đây, Thomas Ahern cũng so sánh những “bài học Việt Nam” với
cuộc chiến tại Afghanistan hiện nay mà ông ta cho rằng có
“những sự giống nhau khó thể bác bỏ” (compelling
similarities) để rồi đưa ra những câu hỏi về sự khôn ngoan
của Hoa Kỳ khi lại phạm lỗi lầm đă làm tại Việt Nam là cố
tạo dựng một chính thể dân chủ tại Afghanistan.
Quả thật có
những cái giống nhau giữa chiến tranh tại Việt Nam trước đây
và chiến tranh tại Afghanistan hiện nay, nhưng có một điều
khác căn bản: chiến tranh tại Afghanistan là một cuộc nổi
dậy của một bộ phận dân Afghanistan, chiến tranh tại Nam
Việt Nam trước đây là một cuộc xâm lược từ bên ngoài (Cộng
sản Bắc Việt) vào một quốc gia có chủ quyền (Việt Nam Cộng
Hoà) được hơn 100 nước nh́n nhận và thiết lập bang giao.
Nhưng, dù giống
hay khác, người Mỹ cũng đang áp dụng những bài học tại Việt
Nam cho chiến truờng Afghanistan và CIA lại đang giữ một vai
tṛ quan trọng, và phải chăng đang tái phạm một lỗi lầm tai
hại: “recruit, recruit, and
recruit”? Bằng cớ là vụ nổ bom mới đây tại bản doanh của
CIA ở Khost, Afghanistan, gây thiệt mạng cho 7 nhân viên
CIA, kể cả người chỉ huy. Thủ phạm là một gián điệp đôi đă
được CIA tuyển mộ để xâm nhập hàng ngũ al Qaeda, và hắn đă
giấu bom trong người để cho nổ tung giữa cuộc họp của CIA.
Vụ này là tổn
thất lớn nhất của CIA từ nhiều năm nay, về nhân sự cũng như
về thanh danh. Nó là một đ̣n nặng đánh vào những huyền thoại
của cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ được nhiều người coi là “vạn
năng”, có thể làm bất cứ
“mission impossible” nào.
Sơn Tùng
02.02.2010
2010/2/7 M B <giunuoccuudan@yahoo.com>
| DienDanCongLuan@yahoogroups.com; PhoNang@yahoogroups.com;
vanlang@hotmail.com; thaoluan9@yahoogroups.com;
huyethoa@yahoogroups.com; nguoivietquocgia@yahoogroups.com;
VN-Politics@yahoogroups.com |
| diendanlangvan@yahoogroups.com; VietNamThiDan@yahoogroups.com;
Nuoc_VIETquocnoi@yahoogroups.com;
diendannguoiviettoronto@yahoogroups.com; SGHN_9@yahoogroups.com;
diendanviahe@yahoogroups.com; thaoluan@yahoogroups.com;
hoinghi@yahoogroups.com |
|