Nhận định:

 

Toát yếu trong tài liệu sau đây ở câu trả lời của ô. Minh Vơ

   

 Hỏi: Hiệp thưong từng đă là một cạm bẫy làm cho các đảng phái quốc gia hồi 1945 sa vào mà trở thành thân bại danh liệt, khiến đa số bị hại hay phải chạy trốn sang Tầu. Ông có nghĩ anh em ông Diệm có tài để không mắc bẫy không ?

Đáp:
Ông Diệm đă không sa bẫy lúc ấy. Các ông Hùynh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại đều nghe lời dụ dỗ của ông Hồ ra hợp tác. Các đảng phái quốc gia như Việt Quốc, Việt Cách của các ông Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần v.v... đều mắc bẫy tham gia chính phủ liên hiệp và nhận 70 ghế ở quốc hội mà không được bầu. Nhưng như tôi từng viết chỉ có ông Diệm không mắc bẫy. Chính Hồ Chí Minh đă mời ông Diệm giữ chức bộ trưởng Nội Vụ mà bị ông Diệm từ chối thẳng thừng, trong lúc đang ở trong tay sinh sát của ông Hồ. Đó là trước kia, lúc ông ở vào cái thế thập tử nhất sinh, hoàn toàn trong tay ông Hồ, mà ông c̣n không nhượng bộ để mắc bẫy. C̣n bây giờ ông Diệm đă có một nửa nước phồn thịnh và hùng mạnh hơn ông Hồ. Nếu có hiệp thương là hiệp thương ở thế mạnh, th́ sao lại phải sợ. Hơn nữa bất cứ một cuộc xung đột vũ trang hay chính trị nào cũng đều phải đi tới một cuộc thương thuyết để chấm dứt xung đột. Đặc biệt là cuộc xung đột giữa ư thức hệ CS một bên, và bên kia là thế giới tự do, cuộc xung đột bao trùm khắp hoàn vũ cũng đă kết thúc bằng một loạt những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và thương thuyết giữa các nhà lănh đạo hai bên. Th́ lúc ấy dù bên nào đi bước trước để mở đường cho một giải pháp chính trị cũng đều đáng hoan nghênh.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmil.com

  

 

 

 

 Căn Nguyên

 

(Vào năm 1963, Hoa kỳ dùng lá bài Phật giáo bóp chết trong trứng nước mưu đồ thỏa hiệp Nam Bắc giữa Cố vấn Chính trị VNCH Ngô Đ́nh Nhu và Chủ tịch VNDCCH Hồ Chí Minh ) 

Anh-Huy                          ( phần  4 ) 

Vào những năm 1961/62, Tổng Thống J.F.Kennedy đă giải quyết các vấn đề sôi bỏng trên thế giới với những quyết định táo bạo. Vụ phi cơ CU2 bị Liên Sô bắn hạ, tiếp đến vụ Vịnh Con Heo, rồi xảy ra vấn đề Liên Sô toan thiết bị nhiều dàn hỏa tiển mang đầu đạn nguyên tử trên đảo quốc CuBa của  Fidel Castro, sát nách lục địa Hoa Kỳ, hăm dọa trực tiếp nền an ninh Hợp Chúng Quốc.

Tối hậu thư của TổngThống Kennedy buộc Trùm đỏ Liên Sô Khrouchtchev tháo gở tức th́ nếu không là chiến tranh khai hỏa, khiến nhân loại sống trong lo âu thắc thỏm suốt thời điểm đó. Cũng may, Chủ tịch  Khrouchtchev nhượng bộ, chấp nhận tháo gở toàn bộ dàn hỏa tiển đem về nước. Thế giới thoát qua một cuộc chiến tranh nguyên tử trong đường tơ kẻ tóc.

Vấn đề Việt Nam, dưới thời Tổng Thống Kennedy là tiếp tục kế hoạch  và đường lối của hai vị Tổng Thống tiền nhiệm Truman và Eisenhower.

Như đă tŕnh bày, sau hiệp định Genève 1954 đến 1963 t́nh trạng Việt Nam không khác ǵ thời gian 15 phút nghỉ giải lao dứt hiệp đầu của  một trận túc cầu.

Thượng Nghị Sĩ Kennedy đắc cử Tổng Thống vào tháng 11.1960, cũng trong thời gian đó MTGPMN được Cộng Sản BắcViệt dựng lên, rồi 11.11.1960 cuộc đảo chánh của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông với sự tiếp tay của vài chánh đảng Quốc gia. Dù thất bại, nhưng đó là một trong những biến cố gây chấn động cho nền Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam của Gia đ́nh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

MTGPMN từ lúc thành lập cho đến cuối năm 1961, về hoạt động quân sự chỉ những trận đánh du kích lẻ tẻ nhắm vào những tiền đồn hẻo lánh, đấp mô, phá cầu, pháo kích vào ấp chiến lược, phục kích những đoàn công xa.

Quân đội VNCH tảo thanh, càn quét vào những chiến khu khiến quân Chủ lực Miền đào thoát, tránh né những cuộc đụng độ. Đồng thời, lực lượng an ninh t́nh báo VNCH thanh lọc, tiểu trừ và làm tê liệt phần lớn những cơ sở hạ tầng đặc công nằm vùng của Việt Cộng từ cấp ấp xă cho đến quận tỉnh.

Cho nên vào năm 1962, tinh thần Việt Cộng từ khu 5 đến  khu 9 miền Tây sa sút trầm trọng đến mức độ Hà Nội phải xét lại nhân sự và kế hoạch của Trung Ương Cục Miền Nam th́ bất ngờ khu 8 cứu nguy cho phe Nguyễn Chí Thanh và Lê Duẫn qua trận Ấp Bắc, một trận  đánh làm lung lay chế độ Đệ Nhất VNCH Ngô Đ́nh Diệm và cả Ṭa Bạch Ốc Hoa Kỳ.Nh́n cục bộ th́ là một trận nhỏ nhưng vào giửa một t́nh huống chính trị quốc tế khi cuộc chiến tranh Lạnh leo thang đến cùng độ, cơ hồ tạo thành cuộc chiến tranh Nóng. Bởi vậy, trận ấp Bắc bổng nhiên đă làm sôi động trên chính trường thế giới.

T́nh báoVNCH cho tin một lực lượng Việt Cộng tập trung tại ấp Bắc, một ấp nhỏ thuộc xă Tân Phú, quận Cai Lậy, Tỉnh Định Tường, cách Mỹ Tho 20 Km. Đại-tá Bùi Đ́nh Đạm lúc bấy giờ là Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh, theo chỉ thị của Thiếu tướng Huỳnh văn Cao, Tư Lệnh Quân Khu IV huy động đại lực lượng tấn công và do Paul Vann, Trung tá Hoa Kỳ, Cố vấn Sư đoàn 7 BB điều động trực thăng vận UH-IA và CH-21, gồm cả Thiết vận xa M-113, Tiểu đoàn 8 Nhảy dù, 2 Đại đội Biệt Động Quân và Bảo An với quân số  khoảng 2500 người.

Trong khi đó Việt Cộng chỉ có 400 quân gồm một Đại đội thuộc Tiểu đoàn 261 Chủ lực quân khu 8, một Đại đội Địa phương Tỉnh, một Trung đội Địa phương Huyện và một Trung đội Trợ chiến.

Trận ấp Bắc, Việt Nam Cộng Ḥa bị thảm bại,  "  Nhảy xuống đầu Việt Cộng, bị Việt Cộng lao lên chém ",  rồi từng lớp nhảy tăng viện đều phải đương đầu với trận cận chiến mà Việt Cộng ở thế thuận lợi nhất. Trận chiến kéo dài từ 06 giờ sáng đến 17 giờ chiều với 5 đợt tấn công, 3 Cố vấn Hoa Kỳ tử thương, 10 bị thương, quân VNCH hy sinh 65 người, 100 bị thương.

Theo tài liệu Cộng sản : Quân đội VNCH chết và bị thương 450 người.

Tất nhiên phía Việt Cộng như thông lệ không bao giờ nêu con số thiệt hại của họ. Bộ Quốc Pḥng VNCH thông cáo: Việt Cộng chết 101 người, Cố vấn Hoa Kỳ tổng kết th́ Việt Cộng bỏ lại 41 xác chết tại trận địa .

Chiến thắng ấp Bắc chỉ là một chiến thắng chính trị thu lượm được của MTGPMN nhưng thực tế nó không khỏa lấp được nỗi lo âu to lớn và càng ngày càng hiện rơ ở Hà Nội về hiện t́nh kinh tế , chính trị, quân sự và nội bộ đảng Lao Động ( tức Đảng CS trá h́nh ).

Tranh chấp giữa hai phe mỗi ngày một trấm trọng, mỗi phe đều dựa vào thế lực Cộng sản ngoại bang giữa Liên-Sô và Trung Cộng. Sau  "  Chiến thắng Chính trị " ấp Bắc của MTGPMN ( Công cụ của CS Bắc Việt ), Bộ Chính Trị CSBV đă nh́n thấy rơ ảnh hưởng của Bắc Kinh đang ăn sâu trong Trung Ương Cục Miền Nam và những thành phần chưa là Cộng sản như Nguyễn Hữu Thọ và nhất là Khmer Đỏ đă bắt đầu thanh trừng các thành phần " thân CS BV ". Nhóm Pol Pot xích lại gần Trung Cộng và ly khai Cộng sản VN mà trước đây Khmer Đỏ chỉ là một bộ phận trực thuộc Trung Ương Cục R.

Chiến thắng trận ấp Bắc hay thảm bại trận ấp Bắc đều là khởi điểm cho 2 phe toan tính thay đổi sách lược nhằm mở rộng cuộc chiến tranh hay mưu t́m một nền ḥa b́nh cho Việt Nam.

Đầu năm 1963, cả hai miền Nam Bắc đều thắm mệt, đều nghĩ đến một nền ḥa b́nh cho quê hương , đều cố tạo điều kiện trao đổi và gặp gở ngơ hầu thoát ra khỏi gọng kềm của ngoại bang đang đè nặng cả hai miền Nam Bắc qua 2 h́nh thức : "Chống Quốc Tế Cộng Sản " của bên này, " Chống Đế Quốc Tư Bản " của bên kia .

Hậu quả của trận ấp Bắc, đối với ngoại bang trợ lực hoàn toàn khác với cái nh́n của VNCH và CS Bắc Việt .

Hoa Kỳ yểm trợ và cố vấn VNCH. CS Bắc Việt th́ được trợ lực và chỉ đạo bởi Trung Cộng và Liên Sô.

Nhưng, Trung Cộng và Liên Sô không cùng một chiến lược trù định cho Đông Dương .

Đằng khác, xuyên qua trận ấp Bắc, càng về lâu về dài, MTGPMN sẽ thoát khỏi tầm tay giựt dây điều khiển của CS Bắc Việt. Mưu toan của Trung Cộng măi cho đến ngày 30.04.1975 là chủ trương ngắt Miền Nam VN thành hai, vùng I & II ( VNCH ) tức là liên khu 5,6 và một phần liên khu 7( CSVN ) để thành lập lănh thổ cho MTGPMN v́

Trung Cộng đang từng bước cố nắm được quyền chỉ đạo MTGPMN.

Thực hiện được toan tính này Việt Nam chia thành 3 :

1/ Bắc Việt tay sai Liên Sô.

2/ Cộng Ḥa Miền Nam V N / MTGPMN( vùng I &II ) chư hầu TC.

3/ VNCH ( vùng III & IV ) ảnh hưởng Hoa Kỳ ( hoặc Pháp thay thế ) Trung Cộng không chấp nhận V N thống nhất và lệ thuộc Liên Sô, cho nên muốn tạo trái độn chắn giửa hai miền Nam Bắc VN với một chánh quyền thân Trung Cộng, như thế ngăn chặn được làn sóng Đệ Tam Quốc Tế Liên Sô qua tay CS Bắc Việt tràn xuống Đông Nam Á, cùng lúc phá vở Liên Pḥng Đông Nam Á, sách lược Domino của Hoa Kỳ và Đồng minh.

Sự thảm bại  trong trận ấp Bắc tạo cho Hoa Kỳ mạnh dạn đặt điều kiện đổ quân trực tiếp tham chiến vào VN. Bởi sự thảm bại trận ấp Bắc đă đủ lư do để chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm không c̣n bào chữa khả năng thích ứng của Quân Đội VNCH khi lâm trận địa chiến từ cấp Trung đoàn.

Mặc khác, việc đổ quân Mỹ vào VN c̣n có tác dụng đặt CS Bắc Việt vào tư thế phải nhúng tay chính trị thật sự của ḿnh để chỉ đạo MTGPMN, đồng thời xua quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam để trực tiếp đối đầu chiến tranh Đông Dương lần thứ 2. Mục tiêu tối hậu là dồn Trung Cộng và Liên Sô vào bí thế, buộc phải cùng trợ lực CS Bắc Việt chống trả lại Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh cục bộ này .

Đương thời, Hồ Chí Minh vẫn c̣n thực quyền lănh đạo Miền Bắc, thuộc hạ lúc bấy giờ phần đông đi vào con đường phục vụ Liên Sô.

Cho nên, trận ấp Bắc tạo tiếng vang cho MTGPMN, mở đường cho Trung Cộng lấn sâu vào đầu nảo và chỉ đạo MT phục dịch cho mưu đồ chia 3 Việt Nam là điều Hà Nội thẳng thừng không chấp nhận.

Để phá vỡ kế hoạch đem quân Hoa Kỳ vào Việt Nam, bẻ gảy tham vọng của Trung Cộng vói tay vào bàn cờ Đông Dương, Hồ Chí Minh bèn gửi vào Sài G̣n tặng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm một cành Đào mang nhiều ư nghĩa đồng t́nh.

Giáo sư Mieczlaw Maneli, Trưởng phái bộ Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế Đ́nh Chiến tại VN, ông thường đi lại giữa Hà Nội và Sài G̣n. Ông tiếp xúc với các nhân vật chủ yếu của Nam Bắc từ Ngô Đ́nh Nhu đến Phạm Văn Đồng, Xuân Thủy, Vơ Nguyên Giáp và Hà Văn Lâu ( Trưởng phái đoàn VNDCCH cạnh Uỷ Hội  Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến ).

Tại SàiG̣n, Ông Maneli lại thân thiết với Khâm sứ Ṭa Thánh Vatican Salvatore d'Asta, Đại sứ Italie Grovanni Orlandi, Đại sứ Goburdhum, Trưởng phái bộ Ấn Độ Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến ...

Giáo Sư Maneli trở thành sứ giả, con thoi giữa SàiG̣n và Hà Nội và từ đó được biết vào giữa năm 1962 và đầu năm 1963: Hồ Chí Minh sẳn sàng thương thuyết với Chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm để trực tiếp giải quyết vấn đề Nam Bắc Việt Nam.

Nhân dịp đầu xuân từ SàiG̣n ra Hà Nội, Đại sứ Ấn Độ Goburdhum đến thăm Chủ Tịch Hồ Chí Minh, họ Hồ vờ ngây thơ hỏi ở SàiG̣n có ǵ lạ không, lại c̣n hỏi thăm sức khỏe Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

Lúc Đại sứ từ biệt ra về, Hồ Chí Minh ân cần dặn ḍ :

" Khi nào gặp Tổng Thống Diệm nhờ ông bắt tay ông Diệm dùm tôi ".

Cuối tháng 02.1963, Maneli đi Hà Nội mang theo " kế hoạch ḥa b́nh " của Pháp do  Đại sứ Pháp Lalouette trao tay.

Tháng 04.1963, t́nh báo Trung Hoa Dân Quốc tiết lộ : qua sự trung gian của Pháp, một cuộc gặp gở giữa Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Đặc sứ Hà Nội tại  một ngôi biệt thự ở Đà Lạt.

Trước đó lại có tin đồn một cuộc họp mật giữa Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ủy Viên Bộ Chính Trị CSBV Phạm Hùng trong rừng lá Tánh Linh.

Theo Giáo Sư Maneli, trong chuyến đi Hà Nội gặp Phạm Văn Đồng và Xuân Thủy th́ 2 ngày sau Maneli được giới lănh đạo Hà Nội chính thức trả lời :

"Hồ Chủ Tịch đă tuyên bố từ lâu nay rằng, chính phủ sẵn sàng vào bất cứ lúc nào công khai hay bí mật để bắt đầu thương thảo giữa đôi bên "

Căn cứ vào tài liệu " War of the Vanquished " của Đại sứ Ba Lan Gs M. Maneli cộng thêm tài liệu " Les deux guerres du Vietnam "của G.Chaffard, đối chiếu thêm những thiên hồi kư của nhiều nhân vật trong cuộc và có thẩm quyền th́ cuộc thương thuyết dự định giữa hai miền Nam Bắc đă thành sự thật, khởi đầu từ giữa năm 1962 ở Quai d'Orsay, Paris tức Trụ sở Bộ Ngoại Giao Pháp.

Nguyên do, có lẽ Chủ Tịch Hồ Chí Minh sợ cái giây tḥng lọng sẽ siết cổ ḿnh từ Bắc Kinh quăng tới, cùng lúc chuỗi giây xích cột chặt đôi chân già của ḿnh tŕ kéo găy lọi bởi Mạc Tư Khoa, ngược lại Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu cũng đang khốn đốn, lo âu,  hoảng sợ trước áp lực Hoa Kỳ qua bóng dáng Sát thần CIA, chẳng khác ǵ đang bị đẩy xô đến bờ hang sâu vực thẵm.

Lời cáo buộc của Tướng CIA Lansdale :

" Quả thực Ngô Đ́nh Nhu chứ không phải Ông Diệm đă toan tính thương thuyết với Hà Nội và đó là cuộc thương thuyết sẽ tệ nhất nếu thành h́nh "

Hàm ư Hoa Kỳ không dung thứ, một khi chánh quyền của Gia đ́nh Ngô Đ́nh Diệm ương ngạnh đi ngược lại chủ trương của Hoa Kỳ .

Cũng nên biết rằng Tướng CIA Lansdale, vị Tướng lănh Hoa Kỳ đăm nhiệm trách vụ trong thập niên 1950 là vun bồi , bảo trợ cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm được đâm chồi nẩy lá đứng vửng tại Miền Nam với sự ủng hộ cuồng nhiệt của 1 triệu đồng bào miền Bắc di cư giữa 20 triệu đồng bào miền Nam thật thà chất phác.

T́m được thế dựa của Pháp với chủ trương" Trung Lập Hóa Đông Dương" qua Đại sứ Lalouette. Tin tưởng vào sự trung thành của đa số Tướng lănh, Sĩ quan thân cận  nắm giử quyền hành then chốt, từ đầu năo Bộ Tổng Tham Mưu, Tư lệnh các quân đoàn, các Quân Binh Chủng cho đến tận phạm vi Tiểu khu địa phương. Đoan chắc, Đảng Cần Lao Nhân Vị sau 9 năm gầy dựng đă trở thành một lực lượng chính trị mạnh mẽ sẵn sàng hậu thuẫn ḿnh. Quyết đoán, hai triệu Đồng bào Thiên Chúa giáo Vatican là một thực thể nhân dân bảo vệ và pḥng ngự chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bền vững trước mọi sóng gió chính trị bất cứ từ đâu đưa đến. Cho nên,Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu trở nên cứng rắn đối với Hoa Kỳ.

Thời gian trước, Ông Cố Vấn c̣n do dự khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm phản đối Hoa Kỳ đề nghị đem quân chiến đấu vào Việt Nam th́ nay Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu tán đồng và c̣n quyết liệt hơn .

Từ khi bang giao VNCH- Pháp được cải thiện, t́nh báo Pháp thường xuyên liên lạc và thông báo những tin mật : Hoa kỳ đang toan tính lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm sau khi Tổng Thống Kennedy bổ nhiệm Ông Henry Cabot Lodge làm Đại sứ Hoa Kỳ tại SàiG̣n.

Tháng 05.1963, Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu chống Hoa Kỳ quyết liệt hơn khi tuyên bố với báo Washington Post, hăng thông tấn UPI và báo NewYork Times, đại ư, VNCH muốn Hoa Kỳ rút bớt một số cố vấn quân sự :

" Ông không nghĩ rằng người Mỹ có cái khả năng cho người Việt Nam chúng tôi những lời khuyên về chiến tranh cách mạng ".

Thâm thúy, Ông Nhu c̣n sâu xa hơn :

" Người Hoa Kỳ rất tiến bộ trong các lănh vực như không gian, c̣n những vấn đề nho nhỏ trên trái đất này, tôi nghĩ người Mỹ chẳng hơn ǵ chúng tôi"

Áp lực của Hoa Kỳ đè nặng lênVNCH buộc Chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm phải chấp nhận Hoa Kỳ đổ quân chiến đấu vào Việt Nam. Bởi v́, thời gian 15 phút nghỉ giải lao sau hiệp đầu của trận đấu Túc cầu đă chấm dứt. Có nghĩa là 9 năm sau Hiệp định Genève 1954, thời lượng để hai miền Nam Bắc rèn quân chỉnh cán hoàn tất. Bây giờ là thời điểm khai mào cho cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.

Cuộc chiến tranh cục bộ phải diễn ra trên đất nước Việt Nam nằm trong chiến lược toàn cầu, bằng mọi cách Hoa Kỳ phải thực hiện cho kỳ được để kết thúc cuộc " Chiến tranh Lạnh " trong chiến thắng !

Tháng 05.1963, tại Vũ Hán, Bộ Đối Ngoại Trung Cộng tổ chức một cuộc họp quan trọng giữa hai Ban Lănh Đạo Đảng CS Bắc Việt và Đảng CS Trung Quốc.

Tài liệu CS lưu trữ c̣n ghi :

" Tại Vũ Hán năm 1963, ban lănh đạo Trung Quốc thuyết phục ban lănh đạo Việt Nam chống Liên Sô và tham gia " Quốc Tế Mới" gồm 11 đảng Cộng Sản trên Thế giới do Bắc Kinh thành lập và chỉ huy. Đặng Tiểu B́nh hứa sẽ viện trợ cho CS Việt Nam 01 tỷ

"Nhân dân tệ" nếu CS Việt Nam không nhận viện trợ của Liên Sô.

Măi 15 năm sau (1978), Hà Nội mới lên tiếng tố cáo về sự kiện trên rằng : " Trong thời kỳ 1954-1964, v́ lợi ích dân tộc ích kỷ của họ, v́ đánh giá quá cao Đế Quốc Mỹ và sợ Mỹ, Mao Trạch Đông và đồng bọn đă nhiều lần ngăn cản ta đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang chống Đế Quốc Mỹ. Trên thực tế, họ ép ta phải nhận sự chia cắt đất nước.

Đồng thời, lúc đó, Đặng Tiểu B́nh đang giử chức Tổng Bí Thư Đảng CS TQ c̣n tḥng thêm một câu hăm dọa :

" Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng : một là thắng và một khả năng nữa mất că Miền Bắc ".

Ba áp lực nặng nề đè xuống hai miền Nam Bắc :

1/ Áp lực Hoa Kỳ trói buộc Miền Nam.

2/ Áp lực Liên Sô và Trung Cộng đối chọi nhau để khống chế Miền Bắc.

Đó chính là "căn nguyên "mà cả hai Miền Nam Bắc t́m kiếm và tạo dựng lại điểm chính trị đồng quy hợp lư thuận t́nh dân tộc.

Chủ trương tách rời khỏi qũy đạo Hoa Kỳ của Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu cũng phải được dọ ư qua Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, Khâm Sứ Ṭa Thánh Vatican ngài Salvatore d'Asta. Có nghĩa là Đức Giáo Hoàng Paul VI không hề thống trách phương sách thương thuyết với Cộng Sản Bắc Việt của Gia đ́nh Tổng Thống Ngô D́nh Diệm, một Thế gia vọng tộcThiên Chúa giáo Vatican ngoan đạo lâu đời.

Kinh nghiệm thỏa hiệp Quốc Cộng 1945 vẫn c̣n in dấu, hẳn nhiên Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu không thể nào quên. Nhưng, chính quyền VNCH hiện hữu không phải h́nh thành từ sự phối hợp của các đảng phái Quốc gia, mà thật sự được tạo dựng từ Hoa Kỳ và Ṭa Thánh Vatican qua sách lược Domino nhằm thành lập một tiền đồn chống Cộng Sản tại Miền Nam VN.

Sự sắp xếp lại đội ngũ, chiến thuật, trong thời gian 15 phút nghĩ giải lao trước khi tiếp tục hiệp nh́ của trận túc cầu hoàn toàn do quyết định của Huấn luyện viên.

Cũng như chuyển đổi " Quốc Gia Việt Nam " thành VNCH, thay thế Quốc Trưởng ( cựu Hoàng Đế ) Bảo Đại bằng Tổng Thống ( cựu Thượng Thư ) Ngô Đ́nh Diệm, gián tiếp hay trực tiếp phải có ưng thuận hổ trợ của Đồng minh Hoa Kỳ.

Trên bốn vùng chiến thuật VNCH, màn lưới CIA đặt dầy dặt khắp mọi nơi, nên hành vi toan tính phản bội của Chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm nhất là mọi cử động của Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu  Hoa Kỳ đều biết rơ.

Thể diện một Đại Siêu Cường, Hoa Kỳ không thể đột ngột, thẳng thừng lật đổ Chế độ Ngô Đ́nh Diệm bằng lư do đơn thuần mù mờ : Toa rập với Cộng Sản BắcViệt trù tính việc hiệp thương hai miền Nam Bắc, phản bội lại chính sách của Hoa Kỳ.

Hành động như thế sẽ gặp phản ứng đối kháng của những thành phần ủng hộ chánh quyền gia đ́nh Ngô đ́nh Diệm, nhất là thực thể chính trị lớn mạnh của hơn 2 triệu đồng bào Thiên Chúa giáo Vatican sẽ gây bất lợi cho Hoa Kỳ. Khi mà, Hoa Kỳ cần thiết về lâu về dài sự hợp tác của thực lực Tôn giáo này trong trận chiến Đông Dương lần thứ hai. 

Không phải ngẩu nhiên xảy ra vấn đề cấm treo cờ Phật giáo vào ngày lễ Phật đản tại Huế. Không phải vô t́nh vô ư chế độ Ngô Đ́nh Diệm thiếu tinh tế chính trị để cho phong trào đấu tranh Phật giáo bùng nổ khắp toàn quốc, ngay thời điểm toan tính hiệp thương giữa Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đă chín mùi, hẳn nhiên phải hiểu sự việc trêndo bàn tay lông lá chủ động để chuyển biến thế cờ .

Điều cần ghi nhận, nếu Thượng tọa Trí Quang là cán bộ Cộng sản BV th́ tại sao ở giai đoạn này, Thượng tọa không t́m phương cách giải quyết ổn thỏa Phong trào Phật giáo với Chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm.

V́ như thế sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Chủ tịch Cộng sản BV Hồ Chí Minh dể dàng tiến hành chuyện hiệp thương với VNCH.

Đứng trước thực trạng nghiêm trọng do bàn tay CIA  tạo ra để có lư do chánh đáng xúi dục Quân đội VNCH lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, bẻ găy mưu toan tống xuất thế lực ngoại bang ra khỏi VN nhằm tiến tới thỏa hiệp hai miền Nam Bắc, thực hiện đúng đ̣i hỏi của Hà Nội từ 9 năm qua. Ngược lại, vai tṛ của Thượng Tọa Trí Quang hầu như tiếp tay, tiếp sức cho Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge. Hệ thống truyền thông Mỹ đồng loạt tuyên truyền tạo căm phẩn sâu đậm trong chánh giới và công luận Hoa Kỳ về t́nh trạng kỳ thị và đàn áp Phật giáo của Chánh quyền Gia đ́nh Ngô Đ́nh Diệm, một thế gia vọng tộc Thiên Chúa giáo Vatican.

Từ thời Pháp thuộc đến Đệ nhất VNCH, Phật giáo không thụ đắc đúng vai tṛ của một tôn giáo gắn liền với Tổ quốc Dân tộc gần 2000 năm qua,có 80% tín đồ trong quần chúng, bị ḱm hăm và chi phối bất công bởi Dụ số10, phong tỏa Phật giáo trong quy chế giới hạn của hiệp hội tương tế. Chánh quyền thuộc địa với sự hợp tác thủy chung của những quan chức Nam Triều, phần đông là tín đồ Thiên Chúa giáo Vatican thuần hành đă đè nén Phật giáo vào thế im hơi lặng tiếng, bất động trước thảm cảnh nước mất nhà tan gây ra bởi thế lực cường quyền quốc tế.

Sự đối xử bất công,chèn ép Phật giáo vẫn tiếp tục dưới thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm.

Hệ thống t́nh báo CIA Hoa Kỳ đă từ lâu nghiên cứu và trù liệu "Lá bài Phật giáo " và chưa từng dịp sử dụng từ đầu thập niên 1950 đến nay.

Cho nên, khi CIA Hoa Kỳ đưa " Lá bài Phật giáo " ra trong thời điểm này thật là ngoạn mục, hổ trợ bởi lực lượng truyển thông báo chí quốc tế thần sầu quỷ khóc, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và Gia đ́nh bị Công luận Thế giới và Hoa Kỳ kết án kỳ thị , tàn ác, trắng trợn đàn áp Phật giáo đồ.

Hoa Kỳ đă tạo dựng điều kiện ắt có và đủ để danh chánh ngôn thuận hạ lệnh cho Quân đội VNCH dưới quyền điều khiển của các Tướng lănh liên hệ, thực hiện cuộc đảo chánh lật đổ Chánh quyền Gia đ́nh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

" Lá bài Phật giáo ", Hoa Kỳ tung ra bằng chưởng lực thâm hậu của Đại Siêu cường Quốc đốn ngă Đệ Nhất VNCH của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, bóp chết trong trứng nước mưu đồ thỏa hiệp Nam Bắc giữa Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu và Chủ tịch CS Bắc Việt Hồ Chí Minh, đồng thời ung dung đưa Việt Nam đi vào Bát quái trận đồ máu lửa Đông Dương lần thứ hai !

 

Anh-Huy

 

 

 

Ngô Đ́nh Nhu: Hiệp thương Nam-Bắc

 

Đài Tiếng nói VNHNPhỏng vấn Minh Vơ


Ông Ngô Đ́nh Nhu tiếp xúc với đại diện của nước Pháp và Bắc Việt năm 1962 về vấn đề hiệp thương giữa Nam-Bắc Việt Nam.

Người hỏi là nhà báo Hồng Phúc Lê Hồng Long, chủ nhiệm báo Thế Giới Ngày Nay. Cuộc phỏng vấn này đă được phát thanh ngày chủ nhật 07/10/2007 trên đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại.

Hỏi: Trong cuộc mạn đàm giữa ông và ông Cao Xuân Vỹ đăng trên DCVOnline mới đây, ông Cao Xuân Vỹ có nói đến cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đ́nh Nhu với ông Pinay, đại diện Tổng Thống Pháp Charles De Gaulle và sau đó với Phạm Hùng, cán bộ cao cấp của Việt Cộng, sau này từng là thủ tướng Bắc Việt. Nhiều độc giả rất quan tâm đến vấn đề chính trị tế nhị này. Theo ông, các cuộc tiếp xúc này ảnh hưởng thế nào đến t́nh h́nh chính trị Việt Nam vào thời gian đó?

Đáp: Theo tôi nghĩ đây là dịp để những người Mỹ không ưa Tổng Thống Diệm và đặc biệt có ác cảm với ông Nhu vin vào chuyện này để t́m cách lật đổ Đệ Nhất Cộng Ḥa.

Trong lần tiếp xúc với ông Cao Xuân Vỹ vừa qua, ông Vỹ có nói một điều không được tôi ghi trong bài đă đăng trên Đàn Chim Việt. Ông Vỹ bảo tôi, khi bàn với ông Nhu về đề nghị của Bắc Việt muốn hai miền hiệp thương,
ông Pinay đă nói nửa đùa nửa thật: “Coi chừng người Mỹ họ mà biết chuyện này, họ sẽ đảo chính các ông đấy!” Dĩ nhiên một số người Mỹ trong chính quyền Kennedy đă muốn làm đảo chính từ 3 năm trước cơ. Nhưng lần này họ cũng có thêm ít nhất là một cái cớ hợp lư để giải thích với dư luận.

Hỏi: Ông có thấy là hai anh em ông Diệm tự mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất không? Trước kia, năm 1955, ông Hồ đă nhiều lần đề nghị hai ḿền hiệp thương để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956. Lúc ấy các ông đă cực lực từ chối. Th́ tại sao bây giờ lại tán thành?

Đáp: Đúng ra năm 1955 Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă từ chối v́ lư do miền Bắc không có tự do, và cũng viện cớ không kư hiệp định Giơ Neo, th́ không bị ràng buộc bởi hiệp định đó trong vấn đề tổng tuyển cử. Ông Diệm khi nhận lời cựu hoàng Bảo Đại về chấp chánh năm 1954, ông đă biết ḿnh phải làm ǵ để cứu ít nhất nửa nước khỏi hoạ Cộng Sản, v́ ông đă quá hiểu thế nào là một nền chuyên chính vô sản, và các biện pháp tàn bạo của chế độ ấy. Cho nên không thể nào ông để cho một cuộc tuyển cử không công bằng, không có tự do này đưa nốt miền Nam cho Cộng Sản Quốc Tế. V́ ông cũng biết rơ ông Hồ là tay sai của Quốc Tế CS, chẳng thực tâm yêu nước, mà chỉ lợi dụng ḷng yêu nước của nhiều thành phần dân tộc để chiến đấu cho ảo tưởng chế độ đại đồng của Mác.

Hơn nữa cũng phải nh́n nhận là lúc đầu trong những năm 1954–1955 Miền Nam c̣n nhiều khó khăn chồng chất. Dân số lại ít hơn miền Bắc nhiều, nếu chấp nhận tổng tuyển cử ngay th́ khó thắng được. Nhưng đến năm 1963 th́ miền Nam đă vượt xa miền Bắc về mọi mặt. Tôi chỉ nêu vài con số.

Ví dụ số nước có ṭa đại sứ ở Saigon lúc ấy là 81, gần gấp đôi số nước có bang giao với Hànội. Trong khi dân miền Bắc không đủ gạo ăn th́ Saigon xuất cảng gạo, từ 70.000 tấn vào năm 1955 đă tăng lên đến 340,000 tấn xuất cảng vào năm 1962. Số lượng gia súc trong 7 năm đă tăng tới 500 lần. Thịt gia súc như heo, gà, vịt xuất cảng trong năm 1961 đă trị giá gần 140 triệu đồng (vào khỏang 4 triệu Đô la, tính theo giá chính thức là > 35 Đồng một Đôla.). Và c̣n nhiều ưu điểm khác không kể xiết.

Sài G̣n xưa
Nguồn: airsceneuk.org.uk


Để nói lên một cách cụ thể về cảnh thanh b́nh trù phú của miền Nam thời ấy tôi xin trích dẫn chỉ một đoạn vắn thôi của tác giả Hồ Sỹ Khuê, một người vốn chê ông Diệm là độc tài và kỳ thị tôn giáo, thậm chí đàn áp Phật Giáo. Ông Hồ Sỹ Khuê nói về cảnh thanh b́nh phồn thịnh ấy như sau. Đây tôi đọc từ cuốn sách đồ sộ của ông nhan đề Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong đó có nhiều câu đại loại như thế này:

Cuộc sống hằng ngày con nhà nông không c̣n đầu tắt mặt tối quá đáng. Thanh niên miệt vườn dùng quen tay nên biết ham chuộng máy móc. Nhờ giao thông tiện lợi hơn xưa, nên rành cảnh sống phố phường, mà không phải so b́ hơn kém. Giáo dục mở mang. Trường ốc mở rộng thêm nhiều. Trẻ em miệt vườn trước không qua bậc tiểu học, nay đi vào trung học là chuyện b́nh thường. Báo chí sách vở lan tràn khắp nơi, mở rộng tầm hiểu biết phổ thông. Người lớn trẻ con đều thạo tin tức thế giới và chuyện xảy ra hằng ngày trong nước. Không c̣n mấy ai ch́m trong ṿng ngu tối nữa...

“Nông thôn không c̣n bần cố nông. Thành thị cũng không bao giờ c̣n gọi là vô sản được....“ Đây là một cảnh sống của dân lao động ở thành thị được ông mô tả như sau:

“Tài xế tắc xi nhưng trưa đến không kể khách, nằm gác chân xem báo. Đạp xích lô nhưng mỗi ch́ều ngồi nhậu nhẹt lai rai bàn chuỵện thời cuộc với xóm giiềng. Những cảnh sống như thế xóa sạch mọi đẳng cấp thầy thợ trong xă hội, tạo một không khí ḥa đồng vươn cao. Con em lao động đă bắt đầu vào đại học, làm giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, sánh vai cùng bạn bè đồng lứa, xuất phát từ đủ mọi thành phần xă hội.....Thực thế, dân Miền Nam thời Cộng Ḥa Nhân Vị có một cuộc sống vât chất đầy đủ.... Đầy đủ. Chưa đúng. Thừa thăi.”

Ông Khuê c̣n viết nhiều rất nhiều nữa về cảnh thanh b́nh phồn thịnh của miền Nam trong cuốn Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Tôi nghĩ, trong cảnh phồn thịnh như thế, nông thôn không c̣n bần cố nông, thành thị hết vô sản, nếu hiệp thương để tuyển cử tự do miền Nam có nhiều hy vọng sẽ thắng.

Hỏi: Thế c̣n cuộc sống ở miền Bắc th́ sao?

Đáp: Tôi không có số liệu chính thức.Thực ra số liệu chính thức do CS đưa ra nhiều khi cũng chẳng đáng tin. Nhưng cứ đọc mấy truyện của một số nhà văn nhà thơ th́ cũng đủ thấy cuộc sống ở miền Bắc, không phải chỉ thua miền Nam, mà là rất bi đát khó có thể tưởng tượng nổi. Ví dụ chỉ cần đọc Nỗi Oan của Đào Hiếu, Con Ḅ Thải và Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Ǵ của Phùng Gia Lộc, Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, hay Ông Tướng Về Hưu, và Con Gái Thủy Thần của Nguyễn Huy Thiệp th́ sẽ rơ.

Ngọc, vai chính trong Nỗi Oan mới 12 tuổi đă phải leo xuống giếng sâu thăm thẳm, đường lên trơn trượt để múc nước, gánh nước. Rồi khi lớn lên thấy trong làng “sao mà lắm người tự tử thế? Nhiều người tự thắt cổ. Có người nhảy xuống giếng mà chết. Người sống th́ mùa đông chui vào đống lá khô cho đỡ rét...

Gia đ́nh cậu Chính của Hằng vai chính trong Thiên Đường Mù bữa ăn chỉ có một đĩa rau muống luộc và một đĩa nhộng rang hành chia ra làm 3 ô, mỗi ô chỉ có 15, 16 con bé tí bằng đầu đũa. Thằng anh chọc đũa vào phần của thằng em bị mẹ dở đầu đũa gơ vào đầu thắng anh. Thằng anh khóc ré lên...

Con ḅ của hợp tác xă trong Con Ḅ Thải của Phùng Gia Lộc th́ gầy nhom, chả bù cho khi nó chưa vào hợp tác xă th́ béo tốt. Cái cảnh cha chung không ai khóc ở các hợp tác xă quá tàn tệ. Nếu thu hoạch có khá đôi chút th́ cũng chỉ béo mấy kẻ trong ban quản trị. Xă viên vẫn đói meo.

Đặc biết dân quê nghèo đến độ trẻ con đă chín mười tuổi cũng không có quần. Không chỉ có thơ của Nguyễn Chí Thiện tả trẻ con trong tù lon ton không phải mặc quần.

Mà cả chuyện Cô Gái Thủy Thần của Nguyễn Huy Thiệp cũng tả cảnh một bé gái 12 tuổi cởi truồng cầm đầu một tóan 6,7 đứa trẻ ban đêm cũng trần truồng đi ăn trộm mía của hợp tác xă. C̣n con trai mới 14 tuổi đă phải đi cầy. Mà lại c̣n là thợ cầy chủ lực của hợp tác xă. Tối đến về nhà lại c̣n phải đi đào đá ong! Trong Ông Tướng về hưu một nhân vật nói mỗi ngày trong nước có cả ngàn người chết khắc khỏai, chỉ ước được chết nhanh như lính. “Lính các anh sướng, đ̣m một phát. Sướng!“ Chỉ mấy hàng đă đủ đau ḷng. Có lẽ tin tức t́nh báo cũng cho ông Diệm biết t́nh cảnh đó. Nên nếu hiệp thương được, mà có dịp chia bớt phần lúa gạo, vải vóc ở miền Nam cho dân quê miền Bắc, th́ đă là một cử chỉ bác ái, từ thiện rồi. Hơn nữa ai cũng biết ông là một nhà ái quốc, rất thương dân.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng khi tính chuyện hiệp thương với Hồ Chí Minh, là ông Nhu đă mắc mưu trúng kế của con cáo già rồi không?

Đáp: Quả quưt dầy đă có móng tay nhọn. Tôi nghĩ ông Nhu không thể không biết mưu mô của CS. Và ông cũng phải tính toán kỹ lắm trước khi dấn thân vào những cuộc tiếp xúc nguy hiểm như vậy, nhất là vào mật khu của Việt Cộng không có hộ tống vũ trang. Chắc rằng trong các cuộc thương lượng ở Paris năm trước, có các nhà lănh đạo Pháp Quốc bảo đảm, ông Nhu đă có thể có một sự tin tưởng nào đó, cũng như phải tự tin lắm, mới dấn thân như vậy. Chứ ông Nhu không phải con người xốc nổi, làm liều. Vả lại cũng
v́ nhiệt t́nh mong ước tránh được một cuộc xung đột vũ trang rộng lớn, trong đó có thể sẽ có sự tham dự của lực lượng vũ trang đáng kinh sợ của các đại cường.

Chính ông Đỗ Mậu, tác giả “hữu danh vô thực“ của cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Văn Nghệ xuất bản tại Nam Cali năm 1993) đă trích đăng một lá thư riêng của một người bạn của ông, trong đó có nói đến những lời cố Tổng Thống Diệm nói với ông Vơ Như Nguyện là một đồng chí của Tổng Thống rằng, “
Vả tôi với chú Nhu có ư dù hai miền Quốc Cộng tranh chấp, nhưng đều là máu mủ ruột thịt, phải có biện pháp anh em giải quyết lấy chiến tranh, đỡ tốn hao sinh mạng, tài sản....“ Trong cuốn Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê tôi đă trích dẫn đầy đủ hơn và đă có lời b́nh. Ông Đỗ Mậu trích lại bức thư của người bạn này để chứng minh Tổng Thống Diệm có ư định thỏa hiệp với Cộng Sản, bán đứng miền Nam.

Nhưng tôi lại thấy đây là bằng chứng cho thấy anh em ông Diệm thực sự yêu nước, thương dân, không muốn chíến tranh tiếp tục, mở rộng, gây thêm tang thương, chết chóc.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng, nếu anh em ông Diệm không bị giết, và Hoa Kỳ ủng hộ ông trong việc hiệp thương với Bắc Việt th́ Miền Nam sẽ không bị mất vào tay Cộng Sản không?


Đáp: Rất tiếc rằng lịch sử không có chữ nếu hay chữ giả sử. Hơn nữa để trả lời câu hỏi hóc búa này tôi phải tự đặt ḿnh vào địa vị hai ông mới thỏa đáng và công b́nh. Nhưng lại cũng tiếc rằng tôi không phải là một chính khách, chỉ viết báo, nghiên cứu và theo rơi thời cuộc với một nhăn quan hạn chế. Có thể nào ông miễn cho tôi khỏi trả lời câu hỏi này không?

Hỏi: Đă đành là thế. Nhưng ông vừa nói ông từng nghiên cứu và theo rơi thời cuộc, vậy cứ như những ǵ ông nghiên cứu được, ông cứ thử đưa ra một nhận định và ước đóan tương đối thực tiễn xem sao?

Đáp: Đă vậy, th́ xin ông cũng như qúy thính giả hăy coi như đây chỉ là phỏng định về t́nh h́nh có thể đă xảy ra trong dĩ văng, theo nhăn quan của tôi mà thôi.

Theo tôi biết th́ nhiều người chê ông Diệm quá ngay thẳng dễ bị lừa. C̣n ông Nhu th́ quá kiêu ngạo lại có ảo tưởng. Nhưng ngược lại cũng có người khen ông Nhu là có nhiều mưu lược và trầm tĩnh. Và nhiều người hơn nữa khen ông Diệm là người có viễn kiến chính trị như một nhà tiên tri, kiến thức về chiến lược sách lược quân sự của ông cũng rất là uyên bác.

Tôi chỉ xin nêu lên vài danh tánh và sự việc mà hiện tôi c̣n nhớ. Tôi không nhắc lại lời ca tụng của những danh nhân Mỹ như 3 vị Tổng Thống Mỹ là Dwight Eisenhower, Richard Nixon, Lyndon B. Johnson, Thống Tướng Maxwell Taylor hay đại sứ Frederick Nolting, hay nữ kư giả tên tuổi Marguerite Higgins, hay nhất là học giả, sử gia, nữ Tiến Sĩ Ellen Hammer là những người ai cũng biết là rất ngưỡng mộ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Tôi chỉ xin trưng dẫn mấy nhà báo Mỹ, Anh, Pháp, Úc đă từng chỉ trích nặng nề ông Diệm là độc tài gia đ́nh trị, và coi ông thua kém ông Hồ. Tôi muốn nói đến những Stanley Karnow, Bernard Fall, Dennis J. Duncanson, Denis Warner. Người Việt th́ có ông Hồ Sỹ Khuê đă nêu trên. Tất cả những người trên đều nêu những bằng chứng cho thấy ông Diệm có một viễn kiến chính trị như nhà tiên tri. Bernard Fall đă trưng dẫn một bản tin t́nh báo của Pháp năm 1948 đă phúc tŕnh rằng ông Diệm lúc ấy đă biết trước Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào Việt Nam, rồi Bernard Fall phê rằng viễn kiến đó rơ ràng là một lời tiên tri mà lúc ấy (1948) chẳng ai để ư. Karnow cũng khen ông Diệm đă tiên tri là phe Quốc Gia sẽ thua ... Về phía người Việt, có ông Hồ Sỹ Khuê đă nêu lên ít nhất là 3 trường hợp chứng tỏ ông Diệm nh́n trước thời cuộc như một nhà tiên tri. Riêng nhà báo Úc Denis Warner, trong cuốn The Last Confucian, --gọi ông Diệm là Nhà Nho Cuối Cùng-- đă thuật lại trường hợp ông Diệm chỉ cho ông trên bản đồ thấy chiến lược chiến thuật của Việt Cộng ở vùng Việt Bắc hồi 1948-50 ra sao. Ông cũng nhắc lại lời Tổng Thống Diệm nói về chiến lược của Mao Trạch Đông mà ông (Tổng Thống Diệm) cho rằng rất đơn sơ nhưng trên thế giới lại chỉ có hai người hiểu nổi là Che Guevara và Hồ Chí Minh. Phân tích kỹ nhận định này th́ thấy ông Diệm phải là một người rất am tường về lịch sử và chiến lược mới có thể có một nhận xét trong một lúc về 3 nhân vật Cộng Sản trong chỉ một câu nói như vậy. Một người không nghiên cứu kỹ về Mao Trạch Đông, về Hồ Chí Minh, về Che Guevara, và phong trào Cộng Sản ở Nam Mỹ, th́ không thể nào dám nói lời khẳng định như đinh đóng cột với một nhà báo nổi tiếng của Úc như Denis Warner.

Hỏi: Tôi cũng nghĩ
ông Diệm là một lănh tụ có tài mới có thể dẹp tan nạn thập nhị sứ quân trong một năm, rồi sau đó, tạo lập được một miền Nam trù phú và tương đối an b́nh chỉ trong ṿng mấy năm. Nhưng nếu thực hiện 6 giai đoạn để hiệp thương theo kế hoạch của Tổng Thống Diệm, như tự do trao đổi thư tín, tự do đi lại thăm viếng giữa hai miền, nhất là tự do chuyển cư từ Bắc vào Nam, th́ sẽ chẳng khác ǵ mở toang cửa cho CS xâm nhập để rồi sau đó nó đánh phá ḿnh th́ sao? Trong số 3000 dân mà ông Nhu ước tính sẽ bỏ miền Bắc để di cư vào Nam sinh sống, thế nào chẳng có hàng trăm cán bộ tính báo gián điệp của Cộng Sản.

Phạm Hùng và Ngô Đ́nh Nhu
Nguồn: DCVOnline


Đáp: Trước khi thực hiện 6 giai đoạn hiệp thương tất nhiên đă phải có một thỏa hiệp chấm dứt các hành động vũ trang chống phá lẫn nhau. Từ chỗ có những tiếp xúc giữa ông Nhu với Phạm Hùng sẽ có thể dẫn đến một cuộc họp thượng đỉnh giữa hai nhà lănh đạo tối cao hai miền. Hay ít nhất cũng phải có một văn kiện kư kết giữa các bộ trưởng ngoại giao hai miền trước sự chứng kiến của các quan sát viên quốc tế. Cho nên việc gián điệp xâm nhập dù có cũng chỉ là những hoạt động thông thường không có nguy cơ đưa đến những xung đột vũ trang công khai được. Vả lại nếu miền Bắc có phái điệp viên vào Nam được một cách dễ dàng, th́ miền Nam cũng có thể đưa gián điệp vào miền Bắc vậy. Tắt một lời, khi đă thỏa hiệp được với nhau th́ chẳng những nguy cơ lan rộng chiến tranh không c̣n, mà c̣n có thể ngăn chặn hay giảm thiểu được những hành động quấy phá lẻ tẻ nữa. Dầu sao th́ để đi tới đựơc một thỏa hiệp như thế đường đi dĩ nhiên c̣n dài chứ không thể thành tựu được chỉ qua một lần tiếp xúc giữa ông Nhu và Phạm Hùng. Trong khi đó th́ cả hai bên đều phải tính tóan điều hơn lẽ thiệt, t́m hiểu thiện ư của nhau, thông cảm nhau hơn mới có thể thành đạt. Tóm lại đây là một cuộc đấu trí cam go, chứ không dễ dàng.

Hỏi: Việc hai bên thù địch tính chuyện ḥa giải thường phải có trung gian, và khi thưong thuyết cũng cần có người chứng kiến. Ví dụ hiệp định Giơ Ne Vơ trước khi Pháp và Việt Minh kư kết, th́ đă có những cuộc thảo luận, bàn căi, mặc cả kéo dài nhiều tháng. Vậy trong việc ông Nhu tiếp xúc với đại diện của Hà Nội, ngoài các nhà lănh đạo Pháp quốc ra như Tổng Thống De Gaulle và ông Pinay ra có c̣n nước nào biết không?

Đáp: Theo Tiến sĩ Ellen Hammer, tác giả cuốn A Death In November, th́ trong buổi tiếp tân ra mắt của tân ngoại trưởng Trương Công Cừu vào cuối tháng 8 năm 1963, ông Nhu đă tiếp xúc với trưởng đoàn Ba Lan trong ủy hội Quốc Tế Kiểm Sóat Đ́nh Chiến (ICC) là luật sư Mieczyslaw Maneli, lúc ấy có sự hiện diện của các đại sứ Ấn Độ, đại sứ Pháp, đại sứ Ư và đại diện Vatican. Đúng ra Maneli đă từ Hà Nội vào Saigon vào mùa xuân, trước đó khá lâu. Nhưng khi một số nhà ngoại giao, trong đó dĩ nhiên có đại sứ Pháp Lalouette, tiếp xúc được với Maneli để khuyên ông ta nên gặp ông Ngô Đ́nh Nhu th́ vụ Phật Giáo bùng nổ. Cho nên măi đến cuối tháng 8 hai người mới có dịp gặp nhau tại buổi tiếp tân. Tiến Sĩ Hammer thuật lại rằng lúc ấy Maneli đang nói chuyện với đức Giám mục Asta, đại diện ṭa thánh Vatican, th́ thấy ông Ngô Đ́nh Nhu cũng đứng đó không xa, đức Giám mục liền kéo Maneli đến giới thiệu với ông Nhu. Lập tức 3 nhà ngoại giao khác cùng tiến về phía họ. Đó là các ông Lalouette, đại sứ Pháp, D'Orlandi, đại sứ Ư và Goburdhun, đại sứ Ấn Độ, cũng là chủ tịch Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Sóat Đ́nh Chiến. Tưởng cùng cần lưu ư là tân đại sứ Mỹ là ông Henry Cabot Lodge cũng có mặt trong cuộc tiếp tân này và cũng đứng cách đó không xa lắm.

Tiến Sĩ Hammer thuật lại nhiều điều trao đổi giữa hai người. Nhưng trong đó tôi chỉ chú ư tới việc ông Nhu nhấn mạnh đến mục đích đem lại ḥa b́nh. Và trong lời đối thoại với Maneli, mà nhiều nghe được, ông Nhu thẳng thắn phê b́nh các chế độ thực dân, c̣n nhấn mạnh không chỉ phê b́nh người Tầu mà thôi, khiến nhiều nhà ngoại giao có mặt tự hỏi, không biết có phải ông nhắm gián tiếp đả kích cả Hoa Kỳ hay không. C̣n Maneli th́ hứa sẵn sàng giữ vai tṛ tích cực nhất. Sau đó Maneli nhận được giấy mời đến gặp ông Nhu tại dinh Gia Long vào ngày 02/09/1963. Về cuộc gặp gỡ này th́ không thấy có tài liệu nào cho biết nội dung ra sao cả.

Hỏi: Có tài liệu nói Maneli có gặp ông Nhu tại nhà riêng của ông đại sứ Lalouette trong ngày 14/07/1963, tức là ngày Quốc Khánh của Pháp. Ông có tin tức ǵ về nội dung cuộc gặp gỡ này không?

Đáp: Tin này do tờ Jeune Afrique (Châu Phi Trẻ) loan. Nhưng chính Maneli đă phủ nhận trong tác phẩm The War Of The Vanquished (Cuộc chiến của những kẻ chiến bại). Hai người gặp nhau lần đầu trong buổi tiếp tân của Ngoại Trường Trương Công Cừu. Và lần thứ hai, cũng là lần chót, vào ngày 2-9-63 tại dinh Gia Long.

Hỏi: Về phía nhà cầm quyền miền Bắc, phản ứng của họ ra sao, và những đ́ều kiện họ đưa ra là ǵ?

Đáp: Theo bà Hammer, tác giả cuốn A Death In November, th́ khi ông Goburghun, đại sứ Ấn đi Hà Nội với tư cách chủ tịch Ủy Ban Kiểm Sóat Đ́nh Chiến, đến gặp ông Hồ Chí Minh th́ thấy ông ta chẳng những không thấy có ǵ ngăn cản cuộc hiệp thương với Saigon, ông ta c̣n bảo đại sứ Ấn: “Ngô Đ́nh Diệm là người yêu nước theo cách của ông ta...hăy bắt tay ông ấy thay tôi, nếu gặp.“ Về ông đại sứ Ấn này, th́ chính Maneli cũng cho rằng ông ta, cũng như dân Ấn đứng hẳn về phía anh em ông Diệm và sẽ rất buồn nếu “mất lá bài này“. Cho nên Goburghun, cũng như Lalouette, t́m mọi cách để tránh đảo chính. Nhất là ông Lalouette đă nhiều lần cố thuyết phục ông Cagot Lodge, nhưng không thành công.

Khi Maneli đến Hà Nội tŕnh bày kế hoạch theo sự hướng dẫn của các ông Lalouette và Goburghun, th́ chỉ hai ngày sau Hà Nội đă có đáp ứng: Hà Nội sẵn sàng khởi sự thương thuyết bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, bí mật hay công khai. Bộ trưởng ngoại giao Xuân Thủy, theo chỉ thị của chủ tịch và thủ tướng sẽ sẵn sàng tŕnh lên một danh sách những hàng hóa có thể trao đổi giữa hai miền.
C̣n điều kiện, Hà Nội chỉ cần thấy Mỹ rút khỏi miền Nam, th́ sẵn sàng bàn thảo về bất cứ vấn đề ǵ?

Hỏi: Về nội dung các cuộc thương thuyết, ông có tài liệu nào về tin đồn hồi ấy rằng sẽ có một chính phủ liên hiệp quốc cộng, hay một thứ liên bang Đông Dương không?

Đáp: Theo tôi, có lẽ tin đồn này phát xuất từ báo cáo của Maneli. Trong cuốn sách nói trên, Maneli có viết rằng ông ta hỏi Phạm Văn Đồng trước mặt ông Hồ về một khả năng có một thứ chính phủ liên bang với miền Nam, hay một thứ chính phủ liên hiệp không, th́ Phạm Văn Đồng trả lời là, mọi sự đều có thể thương lượng trên cơ sở nền độc lập và chủ quyền tối thượng của dân tộc. Mấy lời trên, tác giả Maneli đă trích dẫn báo cáo tối mật của ông ta chỉ gửi cho chính phủ CS Balan, và ṭa đại sứ Liên Xô ngày 10/07/1963.

Cũng về tin đồn này c̣n có một nguồn tin khác liên quan đến câu chuyện giữa tướng Nguyễn Khánh và trưởng nhiệm sở CIA ở Saigon lúc ấy là John Richardson. Họ bàn về một lời tuyên bố nào đó của ông Hồ Chí Minh. Người ta c̣n đồn rằng trong năm 1963 đă có một hội nghị tại Cam Bốt để bàn về vấn đền Liên Bang này trong hội nghị đó có đại diện của ông Hồ và đại diện của ông Nhu. Nhưng không có chi tiết ǵ cụ thể về những tin đồn này.

Hỏi: Ông có tin rằng ông Hồ được ḥan toàn tự do để thương lượng mà không bị Liên Xô và Trung Cộng ngăn cản không?

Đáp: Từ khi Khrutshchev hạ bệ Stalin rồi đưa ra 5 nguyên tắc sống chung, th́ áp lực của Liên Xô trên các nước chư hầu có giảm bớt. Hơn nữa Khrutshchev đă từng đề nghị cho cả Việt Nam Cộng Ḥa thời ông Diệm vào Liên Hiệp Quốc, th́ có lẽ lúc ấy Liên Xô không chống việc hai miền hiệp thương với nhau, để làm giảm bớt sự căng thẳng, chẳng những giữa hai miền mà cả giữa hai khối Đông Tây nữa. C̣n Trung Cộng, th́ ta đă biết họ vẫn có thiện cảm với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, ngay từ khi vừa thành h́nh. Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai đă nhiều lần đề nghị lập bang giao giữa Nam Việt và Bắc Kinh. Nhưng dầu sao th́ trong vấn đề này xin để Maneli có ư kiến:

Trong báo cáo tối mật ngày 10-7-63 Maneli nói hai bên muốn có thể đi tới một thỏa hiệp mà không có sự tham dự của các đại cường. Về phản ứng của Liên Xô, Maneli trích lời của ông đại sứ nói với Maneli răng, có lư do để nghi rằng người Việt họ muốn thu xếp riêng với nhau. C̣n về phía Trung Quốc, th́ qua cuộc tiếp xúc với sứ quan Trung Cộng ở Hà Nội, Maneli cho rằng Trung Cộng không biết ǵ về cuộc tiếp xúc giữa Saigon và Hà Nội. Nhưng Maneli lại thêm rằng, hoặc giả họ biết nhưng không chấp nhận. Rồi Maneli phê một câu làm lời kết luận của chương sách dài 20 trang về cuộc gặp gỡ giữa ông với ông Ngô Đ́nh Nhu: Xét về mặt chính trị mà nói th́ việc Hà Nội hành động mà không có sự chấp thuận của Bắc Kinh là điều có ư nghĩa nhất.

Hỏi: Điều này đối với tôi hơi khó tin. Theo tôi nghĩ, chẳng những Trung Cộng mà cả đàn em của ông Hồ cũng không thể chấp nhận cho ông ta tự ư thương lượng với chính quyền Miền Nam. Không biết ông có tin là ngoài hai bản di chúc ông Hồ để lại, được nhà cầm quyền Hà Nội công bố, c̣n có một bản di chúc ông ấy viết tay không? Trong bản di chúc này, mà người ta bảo đă đựoc giảo nghiệm tự dạng th́ chắc chắn là của ông Hồ thật. Trong bản di chúc này ông Hồ có nói đến việc ông có một cô con gái với một người Pháp và về việc ông tính chuyện thương lượng với ông Ngô Đ́nh Diệm, và v́ vậy ông đă bị nhóm Lê Duẫn hiếu chiến hăm hại, từ đó về sau mất hết quyền hành.

Đáp: Tôi cũng có nghe nói đến bản di chúc viết tay này rồi cũng đi t́m đọc th́ thấy không đáng tin lắm. Tôi cũng có hỏi mấy cựu cán bộ cao cấp Cộng Sản ở hải ngoại th́ họ cũng nói có biết có một di chúc như vậy, nhưng văn phong không phải của ông Hồ. Theo tôi nghĩ, muốn kiểm chứng xem đây có phải là di chúc thật hay không, nên t́m người con gái của ông Hồ để hỏi cho ra lẽ. Nhưng tôi nghĩ, nếu bà ấy c̣n sống, nay cũng đă ngoài 90 rồi. Tiếc rằng những người đưa bản di chúc này ra trên báo, đă không trưng dẫn được xuất xứ đáng tin cậy. V́ vậy rất khó tin. Riêng chúng tôi vẫn nghĩ ông Hồ vẫn c̣n đầy đủ quyền lực vào những năm cuối đời. Trong cuốn Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp chúng tôi đă để hẳn một chương để chứng minh điều đó.

Hỏi: Hiệp thưong từng đă là một cạm bẫy làm cho các đảng phái quốc gia hồi 1945 sa vào mà trở thành thân bại danh liệt, khiến đa số bị hại hay phải chạy trốn sang Tầu. Ông có nghĩ anh em ông Diệm có tài để không mắc bẫy không ?

Đáp:
Ông Diệm đă không sa bẫy lúc ấy. Các ông Hùynh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại đều nghe lời dụ dỗ của ông Hồ ra hợp tác. Các đảng phái quốc gia như Việt Quốc, Việt Cách của các ông Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần v.v... đều mắc bẫy tham gia chính phủ liên hiệp và nhận 70 ghế ở quốc hội mà không được bầu. Nhưng như tôi từng viết chỉ có ông Diệm không mắc bẫy. Chính Hồ Chí Minh đă mời ông Diệm giữ chức bộ trưởng Nội Vụ mà bị ông Diệm từ chối thẳng thừng, trong lúc đang ở trong tay sinh sát của ông Hồ. Đó là trước kia, lúc ông ở vào cái thế thập tử nhất sinh, hoàn toàn trong tay ông Hồ, mà ông c̣n không nhượng bộ để mắc bẫy. C̣n bây giờ ông Diệm đă có một nửa nước phồn thịnh và hùng mạnh hơn ông Hồ. Nếu có hiệp thương là hiệp thương ở thế mạnh, th́ sao lại phải sợ. Hơn nữa bất cứ một cuộc xung đột vũ trang hay chính trị nào cũng đều phải đi tới một cuộc thương thuyết để chấm dứt xung đột. Đặc biệt là cuộc xung đột giữa ư thức hệ CS một bên, và bên kia là thế giới tự do, cuộc xung đột bao trùm khắp hoàn vũ cũng đă kết thúc bằng một loạt những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và thương thuyết giữa các nhà lănh đạo hai bên. Th́ lúc ấy dù bên nào đi bước trước để mở đường cho một giải pháp chính trị cũng đều đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên cũng phải thú thực rằng có nhiều người coi việc ông Hồ tặng ông Ngô Đ́nh Diệm cành đào dịp xuân Qúy Măo (1963) cũng tương tự như Vương Dơan, trong truyện Tam Quốc, tặng cho Đổng Trác con hát ả đào Điêu Thuyền, khiến Lữ Bố v́ ghen mà giết cha nuôi. Họ cho rằng cành đào tượng trưng và mở đầu cho những cuộc tiếp xúc giữa hai miển đă làm cho người Mỹ ra tay hạ ông Diệm. Nhưng riêng tôi không nghĩ thế.

Hỏi: Nhiều sử gia Mỹ cho rằng ông Nhu tiếp xúc với Bắc Việt là cố ư làm “săng ta“ với Mỹ, khi thấy áp lực của Mỹ quá nặng. Ông có nghĩ như vậy không?

Đáp: Nếu chỉ nh́n vào những diễn biến trong mấy tháng giữa năm 1963, th́ suy đóan như thế cũng có lư. Nhưng thực ra người Mỹ đă muốn thay ông Diệm hay ít nhất cố làm áp lực để đưa ông Nhu ra ngoại quốc từ lâu trước đó. Và hai anh em Tổng Thống Diệm cũng đă có những toan tính về một kế hoạch ḥa b́nh qua những cuộc tiếp xúc ngoại giao được bộc lộ từ năm 1962 trước kia rồi.
Người Mỹ muốn hạ ông Diệm, không phải v́ ông đàn áp Phật Giáo, cũng không phải v́ ông định đi đến một giải pháp với Bắc Việt. Mà theo tôi nghĩ, lư do chính họ muốn hạ ông Diệm v́ ông không đồng ư cho họ đem quân ồ ạt vào Việt Nam. Ông Diệm muốn dần dần tiến tới hiệp thương với Bắc Việt chỉ v́ muốn t́m kiếm cho nhân dân Việt Nam một nền ḥa b́nh, dù tạm thời và giới hạn chăng nữa, c̣n hơn là càng ngày càng dấn sâu vào một cuộc chiến mỗi lúc một thêm ác liệt. Nhất là khi mà số người ngoại quốc càng ngày càng gia tăng măi, như từ 1962.

 

 

1963

 

 <<< Trở về trang chính     ĐẠI CÁO TRẠNG

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage