|
CHẾ ĐỘ NGÔ
Đ̀NH DIỆM
Một chế độ
ngược ḷng dân và phản thời đại
Nguyễn Kha
Hiến pháp Việt
Nam 1956 của đệ nhất Cọng ḥa do Quốc hội biểu quyết ngày
20/10/1956 được Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành ngày
26/10/1956, thành lập nền Đệ nhất Cộng ḥa. Hiến pháp gồm 98
điều, chia làm 8 thiên.
Hiến pháp tuy là do sự đóng
góp của nhiều người
[],
kể cả đóng góp một cách gián tiếp của các chức sắc trong
Giáo hội Công giáo Việt Nam (như linh mục Bữu Dưỡng và nhóm
Tinh Thần), nhưng nội dung chính vẫn do ông Ngô Đ́nh Nhu,
người được cho là lư thuyết gia của chế độ, duyệt xét chung
quyết. Bản Hiến pháp này, ngoài một vài từ ngữ mà trên mặt …
tượng thanh có vẻ rút ra từ “chủ nghĩa” gọi là “Nhân Vị” như
“giá trị siêu việt”, “nhân vị”, “duy linh”, “Đấng tạo hóa”,
... c̣n nội dung thật sự của nó chỉ là một nỗ lực “đầu
Ngô ḿnh Sở” (từ của ông Đoàn Thêm trong Những Ngày Chưa
Quên, Đại Nam, 1969) của một ít thần học Thiên Chúa giáo
Âu châu, pha trộn vài điều của Tổng thống chế Mỹ và một ít
triết lư Đông phương mà thôi. Tiếc rằng nỗ lực đó hoàn toàn
thất bại. Có hai lư do để giải thích sự thất bại này: Thứ
nhất là v́ lúc bấy giờ (và sau đó tan dần không c̣n dấu vết
ǵ đáng kể theo sự sụp đổ của chế độ vào năm 1963)
thuyết Nhân Vị của ông Nhu
là tổng hợp trụy thai
[]
c̣n hỗn tạp và c̣n ở dạng sơ khai
nên không có những yếu tính
đặc thù để tạo ra nét độc đáo riêng cho Hiến pháp; và thứ
hai là v́ nhu cầu quyền lực chính trị quá lớn nên ông
Nhu đă bất chấp nội dung “Nhân Vị” - dù c̣n mơ hồ chưa thành
h́nh - để đưa vào Hiến pháp những nguyên tắc chuyên chính
độc tài, chà đạp sinh hoạt dân chủ của quốc gia và quyền tự
do của công dân, với mục đích tập trung quyền hành vào một
thiểu số thống trị. Nghĩa là áp đặt càng nhiều càng tốt
tính độc tài trong bộ luật căn bản và cao cấp nhất của quốc
gia.
Thực vậy, ông Nhu đă muốn cho
anh ḿnh trở thành một thứ Đế vương phong kiến với những
h́nh thức và ngôn ngữ có vẻ dân chủ tự do...
Chính ông Ngô
Đ́nh Diệm cũng đă công khai bày tỏ sự tán đồng nội dung của
bản Hiến pháp này trong bài phỏng vấn của nhật báo Pháp
Le Figaro số ra ngày 23 và 24 tháng 3 năm 1959: “Cần
phải nhớ lại quá khứ của chúng tôi. Chế độ chính trị ở Việt
Nam thời nào cũng vậy, đă thành lập trên nguyên tắc điều
khiển việc nước không phải do những đại biểu của quốc dân
mà do những ông vua có những tể tướng sáng suốt phụ tá...
Chúng tôi phải lập lại ở Việt Nam hệ thống luân lư như ngày
xưa”
[]
Ông
Nhu đúng là vị “tể tướng sáng suốt” đă sơn son thếp vàng cho
ông vua Ngô Đ́nh Diệm phong kiến của thời đại quân
chủ lên làm nguyên thủ của nước Việt Nam Cộng ḥa theo Tổng
thống chế, để xây dựng tự do dân chủ cho miền Nam chống Cộng!
Trách ǵ dân miền Nam chẳng rủ nhau theo Việt Cọng.

Le Roi
(Bảo Đại) est mort. Vive le Roi (Ngô Đ́nh Diệm) !
Nói chung, để kiểm
soát và bóp nghẹt quyền của người dân, Hiến pháp 1956 đă
tung ra một mớ gươm Damoclès treo trên đầu người dân với
những từ ngữ mà chính quyền muốn giải thích như thế nào cũng
được như “điều kiện luật định, lư do quốc pḥng, an
ninh công cộng, an toàn chung, trật tự chung, lợi ích công
cộng, đạo lư công cộng...” Và để bảo đảm tối đa sự kiểm
soát này, Hiến pháp c̣n nâng chủ trương nầy lên thành nguyên
tắc tổng quát trong điều 28: “quyền của mỗi người đều
được xử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định”.
Điều 28 quỷ quyệt này đóng kín một cách hoàn toàn và vĩnh
viễn tất cả mọi hy vọng của người dân về một sinh hoạt dân
chủ và an toàn cá nhân dưới chế độ, đồng thời trao lại một
cách hoàn toàn và vĩnh viễn quyền sinh sát vào tay một thiểu
số gia đ́nh họ Ngô đang nắm quyền lực trong tay.
Theo
Wikipedia th́ :
“Về
mặt pháp lư, bản Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa 1956 khẳng định
việc phân chia quyền lực của chế độ là
tam
quyền phân lập và có mục tiêu để hai ngành
lập
pháp và
hành
pháp kiểm soát lẫn nhau. Về ngành tư pháp th́
quyền lực kém hơn và không được độc lập hoàn toàn v́ lệ
thuộc vào Bộ Tư pháp và phủ Tổng thống bổ nhiệm và điều
hành. So sánh với các quốc gia khác th́ Hiến pháp 1956
dồn nhiều quyền lực vào ngành hành pháp hơn cả v́
tổng
thống có những đặc quyền trong những trường hợp
nội loạn, chiến tranh hay khủng hoảng tài chánh.
Điều đáng ghi
nhận là nền tảng của bản hiến pháp nêu ra ba khía cạnh: "văn
minh Việt Nam", "duy linh", và "giá trị con người" như ghi
rơ trong lời mở đầu. V́ văn bản ghi là dân tộc có "sứ
mệnh" trước "Đấng Tạo hóa"
nên có người cho rằng đây chứng minh sự thiên vị của
chính quyền với
Thiên
Chúa giáo trong khi các tôn giáo khác không
được đề cập đến.”
Ngoài
một số nhà nghiên cứu Mỹ như
Joseph Buttinger (trong Vietnam, a Political
History, 1968), Stanley Karnow (trong Vietnam
A History, 1983), Frances Fitzgeral (trong
Fire in the Lake, 1972), Robert
Shaplen (trong The Cult
of Diem, 1972) đă nặng lời chỉ trích
Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cộng ḥa, nhiều luật gia Việt Nam
tên tuổi cũng đă nghiêm khắc lên án Hiến pháp đó là
thoái hóa, kỳ thị và độc tài:
■ Luật gia Nguyễn Hữu Châu,
giáo sư đại học Luật khoa Paris, nguyên Bộ trưởng Bộ Phủ Thủ
tướng năm 1957 và 1958 đă có những phán xét không tốt đẹp ǵ
cho Hiến pháp Nhân Vị 1956 của Đệ nhất Cộng ḥa.
Trong Luận án Cao
học Luật khoa (Mémoire DES, 1960) ông Nguyễn Hữu Châu sau
khi phân tách từng chương từng mục đă kết luận rằng:
“Xét
đến lịch sử các cơ chế và tư tưởng chính trị của Việt Nam,
thật khó mà không công nhân rằng hệ thống của Hiến pháp
ngày 26-10-1956 quả là một sự thoái hóa so với hệ thống
chính trị cổ truyền. Tại v́ Hiến pháp 26-10-1956 đă
giữ lại những ǵ kém tiến bộ nhất của chế độ xưa cũ, rồi bổ
túc bằng những sự kiềm chế tân tiến nhất.
Do đó mà cái ư
niệm về lănh đạo (leadership) được tŕnh bày trong bản dịch
chính thức của Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa không có cái ư
nghĩa mà các nhà Xă hội học Mỹ trao gửi lúc đầu”
[].
■
Giáo sư Thạc sĩ Luật
Vũ Văn Mẫu, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao
của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, sau nầy, cũng đă tố cáo ư đồ
thiên vị Thiên Chúa giáo của bản Hiến pháp 1956 như sau:
Điều
17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đă được giáo sư Bửu Hội chiếu
dẫn trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để chứng minh rằng tại Việt
Nam không có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như
sau: “Mọi
người dân đều có tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo và tự do
truyền giáo, miễn là xử dụng quyền ấy không trái với luân lư
và thuần phong mỹ tục.”
Hiến pháp 26/10/1956 như vậy đă minh thị công nhận nguyên
tắc tự do tín ngưỡng và b́nh đẵng giữa các tôn giáo.
Tuy
nhiên trong phần “Mở
đầu”
của Hiến pháp, đă có một đoạn phản chiếu của một sự thiên
vị Thiên Chúa giáo khá rơ rệt như sau:
“Ư
thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc
tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưỡng tiến
bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và
trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và
phát triễn con người toàn diện....”
Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956
đă đề cập đến sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa, tức là trước
Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới
các tôn giáo khác.
Đoạn văn này đă đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo. Vô
t́nh hay cố ư, đoạn văn này đă tạo cho Thiên Chúa giáo
một địa vị ưu đăi đặc biệt tại Việt Nam v́ Hiến pháp
1956 nói rơ là nhằm mục đích hoàn thành sứ mạng trước Chúa
tức là Đấng Tạo hóa đă tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo
như Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đă chép.
[]
■ C̣n giáo sư
Nguyễn Văn Bông, Thạc sĩ Công Pháp, Viện trưởng Viện
Quốc gia Hành chánh th́ trong đoạn kết của giáo tŕnh năm
thứ nhất Cử nhân Luật về môn “Luật
Hiến pháp và Chính trị học”
của Đại học Luật khoa Sài G̣n, 1966, đă viết rằng:
“Thật
vậy, ngay ở điều khoản thứ ba, chúng ta nhận thấy “Tổng
thống Lănh đạo Quốc gia”.
Tổng thống bổ nhiệm và cách chức các sứ thần cùng công chức
cao cấp không cần ư kiến của Quốc hội. Trái với nguyên
tắc phân nhiệm mà điều 3 ghi rơ là “nguyên tắc phân
nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rơ rệt”. Hiến pháp
1956 dành cho Tổng thống quyền kư sắc luật giữa hai khóa họp
Quốc hội, quyền kư sắc lệnh tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp,
báo động hoặc giới nghiêm.
Một sự tập
trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập
và sự hiện diện của một chính đảng duy nhất đă đưa
chế độ Ngô Đ́nh Diệm lần lần đi đến một chế độ quyền hành
cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng
súng ngày 1-11-1963 đă đưa vào dĩ văng.
”
* * *
Hiến pháp là văn bản
công khai và là nền tảng quy chiếu luật pháp của quốc gia mà
ngay từ những ngày đầu của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, những người
đẻ ra nó c̣n đưa vào đó một nội dung phi dân chủ và
phản dân quyền độc tài trắng trợn như thế th́ trên thực
tế, một thực tế đă được bưng bít và che đậy bằng màng lưới
công an mật vụ dày đặc, người dân c̣n chịu thống khổ ngần
nào, giá trị và vị thế con người c̣n có nghĩa ǵ trước mặt
kẻ cầm quyền !
Thật vậy, trừ vài
năm đầu, lúc mà bộ máy của chế độ đang trong giai đoạn cũng
cố và người dân c̣n cọng tác để cùng ông Diệm xây dựng miền
Nam, c̣n kể từ năm 1959, khi những công cụ đàn áp khũng
khiếp như Đảng Cần Lao, Lực lượng Đặc biệt (của ông Ngô Đ́nh
Nhu do Lê Quang Tung chỉ huy), Đoàn Công tác Đặc biệt miền
Trung (của ông Ngô Đ́nh Cẩn), Sỡ Nghiện cứu Chính trị Xă hội
(của bác sĩ Trần Kim Tuyến), và sáu cơ quan an ninh, công
an, mật vụ … đă được cũng cố như thiên la địa vơng chụp
xuống miền Nam, th́ Hiến pháp 1956 trở thành tờ giấy lộn
và Quốc hội Lập pháp trở thành một bầy gia nô để “hợp
pháp” hóa lệnh của phủ Tổng thống mà thôi . Từ đó, chế độ
Diệm đă hiện h́nh trọn vẹn là một chế độ dộc tài.
Muốn biết một chế
độ, bất kỳ chế độ có tên gọi là ǵ, có độc tài hay không, ta
chỉ cần đơn giản trả lời ba câu hỏi rất cụ thể, dễ kiểm
chứng, và bất khả phản bác sau đây:
1- Chế
độ đó có khung pháp lư cho đối lập chính trị hay không ?
Nếu không có
khung pháp lư đó, hay có đối lập mà bị đàn áp thủ tiêu, th́
chế độ đó chắc chắn độc tài. Hiến pháp 1956 thiết
định Quốc hội chỉ có một Viện, không có “Thượng Viện” như
quốc hội Mỹ, nơi định chế hóa sự có mặt của đảng phái. (Phải
đợi đến sau 1963, khi thành lập Đệ nhị Cọng ḥa với
Hiến pháp ban hành vào tháng 4 năm 1967, Quốc hội mới có
thêm Thượng Viện với sự có mặt của 6 liên danh đại diện cho
các đảng phái và khuynh hướng chính trị). Do đó, từ tiên
quyết, chế độ Diệm đă không thừa nhận và khuyến khích một
chế độ đa đảng, v́ vậy mà khi đi vào thực tế sinh hoạt,
xă hội miền Nam không phải là một xă hội đa nguyên chính
trị. Chế độ Diệm đă đàn áp các đảng phái quốc gia (đến
nỗi Đại Việt Quốc Dân đảng phải lập chiến khu Ba Ḷng ở
Quảng Trị để vơ trang chống lại, c̣n các đảng khác như Việt
Quốc, Duy Dân, Dân Xă th́ co cụm lại đi vào bí mật để đối
lập), đă thủ tiêu đối lập (Tạ Chí Diệp, Nguyễn Tấn Quê, Vũ
Tam Anh, Nguyễn Bảo Toàn, Ba Cụt Lê Thành Vinh, Tŕnh Minh
Thế, Hồ Hán Sơn … Đó là chưa nói đến những Nguyễn Văn Yến,
Nguyễn Đắc Phương trong vụ án gián điệp miền Trung
[].),
đă kết án rồi t́m cách giết các nhà đối lập chính trị thuộc
nhóm “Caravelle” (khi ra lệnh cho phi cơ của Không quân thả
bom xuống Hải vận hạm HQ401 khi chiến hạm nầy đang trên
đường chở các nhà đối lập nầy ra nhà tù Côn đảo), đă cưởng
bức o ép đến nỗi ông Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn Nhất
Linh) phải tự tử và để lại câu trối trăn tiền định: “Đời
tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả.
Sự
bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một
tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng sản.
Tôi chống đối sự đó và tự hũy ḿnh cũng như Ḥa Thượng Thích
Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ
tự do.”
Kết án tử h́nh Tướng Ḥa Hảo
Lê Quang Vinh – Di bút tuyệt mệnh của văn hào
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam – Di tích Nhà tù “Chín Hầm”
của Ngô Đ́nh Cẩn tại Huế
2- Trong
nhà tù của chế độ có chính trị phạm hay không ?
Nếu có chính trị phạm, dù chỉ
một người, th́ chế độ đó chắc chắn độc tài. Chế độ
Diệm, theo Avro Manhattan trong “Vietnam, Why Did We Go ?”,
đă bỏ tù hơn 300,000 người v́ lư do chính trị. Theo ông Lê
Nguyên Long, một lănh tụ Quốc Dân Đảng ở miền Trung, th́
hàng ngàn cán bộ của đảng ông đă bị nhóm “Cần Lao ác ôn” (như
ông Quận trưởng tên Thái ở Điện Bàn, Quảng Nam) vu cáo là
Việt Cọng rồi bỏ tù theo luật 10/59. Trong Nam th́ đội Phước
kéo lê máy chém đi hành h́nh không biết bao nhiêu người
kháng chiến yêu nước không-Cọng sản trong chiến dịch
Tố Cọng của bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ngoài ra c̣n hai nhà
tù siêu chính phủ là “Chín hầm” ở Huế của ông Ngô
Đ́nh Cẩn không nằm trong hệ thống Tư pháp quốc gia , và trại
biệt giam P42 của ông Ngô Đ́nh Nhu, cũng bí mật không
thuộc cơ quan nào của chính phủ cả, ở gần Sở thú Sài G̣n, đă
nhốt biết bao nhiêu người chiến sĩ yêu nước nhưng không chịu
được chế độ độc tài của Thục-Diệm-Nhu-Cẫn (như các cụ Nguyễn
Xuân Chử, Xuân Tùng, Trần Văn Hương, Phan Bá Cầm, Phan Quang
Đán, Nguyễn Văn Lực, Phan Khắc Sữu, …)
3- Trong
sinh hoạt ngôn luận, có tự do báo chí hay không ?
Nếu không có tự do báo chí th́
chế độ đó chắc chắn độc tài. Chế độ Diệm có ông Bộ
trưởng Thông tin cũng là Chủ tịch Phong trào Tố Cọng toàn
quốc, kư giả nói ǵ viết ǵ cũng phải trong cái khung tố
Cọng, dọa nhau th́ lại chụp cho cái nón cối lên đầu. Lại có
hệ thống Cấp bông giấy (in báo) để khống chế quyền độc lập
của chủ báo, và có gia nô của chính phủ độc quyền hệ thống
Phát hành th́ làm sao nói đến tự do báo chí nữa.
► Nhật báo Tự Do của
các ông Nguyễn Hoạt (Hiếu Chân), Lưu Đức Sinh (Mặc Thu), Lê
Văn Tiến (Như Phong), Tam Lang (Vũ Đ́nh Chí) ... lúc đầu là
diễn đàn chống Cọng sâu sắc và hiệu quả nhất nhưng cuối cùng
cũng không thể hợp tác được với chế độ Diệm. Số Xuân Tự
Do năm Canh Tư (1960), v́ in h́nh b́a của họa sĩ Phạm
Tăng vẽ 5 con chuột (vừa tượng trưng cho tuổi Tư của ông
Diệm vừa tiêu biểu cho 4 anh em Ngô Đ́nh và bà Nhu) đang gậm
nhắm đục khoét trái dưa hấu (tượng trưng cho miền Nam) nên
báo bị đóng cửa và các kư giả th́ đi tù.
► Nhà báo Vũ Bằng mô tả
t́nh trạng làm báo dưới chế độ Diệm trong tác phẩm nổi tiếng
“Bốn Mươi Năm Nói Láo” (Cơ sở Xuất Bản Sống Mới – Sài
G̣n – 1969, trang 204 đến 263) như sau:
… nhà báo đối lập chẳng
trước th́ sau cũng bị lâm vào mấy cái thế sau đây: báo bị
đóng cửa; chủ nhiệm, quản lư … bị đưa đi bí mật ban đêm;
nếu không thế th́ một ngày đẹp trời nào đó tự nhiên cũng bị
ghép vào tội gá bạc, tống tiền, dỗ gái vị thành niên hay đi
lừa đảo, đưa ra toà, gia sản bị tịch biên, có bao nhiêu vốn
liếng đi tiêu hết.
… ông Nhu và vợ đặt ở các
văn pḥng các đường phố một số mật báo viên , có nhiệm vụ
báo cáo những phần tử chỉ trích chánh phủ; ngoài ra theo dơi
hành động của các tờ báo khác, hồ thấy viết một câu nào xa
xôi, xách mé bóng gió th́ đóng cửa vĩnh viễn, c̣n kư giả
nào bướng bỉnh, không quy phục th́ chụp cái nón cối Cọng sản
lên đầu, cho xuống hầm tối để không bao giờ lên được đất
liền nữa, hoặc có lên được cũng mù loà, què quặt, bán thân
bất toại.
… Không khí làng báo lúc ấy
thực đ́u hiu, tẻ lạnh. Mỗi buổi sáng, người làm báo nhận
được những cú điện thoại cho biết phải tránh những tin ǵ
không được nói, những lời tuyên bố nào của ông Diệm, bà Nhu
phải làm to; thậm chí lại có khi buộc phải đưa câu nói
này của bà Nhu lên làm vơ-đét tám cột, diễn văn kia của ông
Diệm năm cột và kèm theo thật nhiều tranh ảnh.
… Báo nào mới ra đời cũng
la thét ghê gớm lắm: nào dám nói, dám làm, dám chửi; nào
phục vụ nhân dân, đứng hẳn về phiá đối lập, đ̣i công bằng xă
hội, tranh đấu cho đồng bào có cơm no áo ấm; nào quét sạch
thối tha, nhơ bẩn, dám làm, dám chết…nhưng
rút cục trong một chính thể độc tài, nô lệ, dân chủ ngụy tạo
như chính thể nhà Ngô, chẳng có một tờ báo nào thoát được ra
ngoài quỹ đạo của chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
► C̣n ba nhà báo tên tuổi là
Từ Chung (báo Chính Luận), Hiếu Chân
(tên thật llà Nguyễn Hoạt làm báo Tự Do) và Chu Tử
(tên thật là Chu Văn B́nh làm báo Sống), ngay sau khi
chế độ Diệm sụp đổ, trong “Lời Hiệu triệu các Nhà Văn Nhà
Báo” đăng trên báo Ngôn Luận số ra ngày 4/11/1963, đă
hối hận thú nhận rằng:
Mang danh là những người
cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, giải phóng con người
vậy mà trong thời gian vừa qua, v́ cơm áo, khiếp nhược, đớn
hèn, chúng ta đă
nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội sự thật,
phản bội dân tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô.
Dù chúng ta có viện bất cứ lẽ ǵ để bào chữa, chúng ta cũng
không thể chối căi được tội lỗi của chúng ta đối với đồng
bào, lịch sử...
Cách mạng 1/11/1963 là cơ
hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút
phi cầm phi thú, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm
người đă tới... Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi văn nghệ sĩ,
bằng máu và nước mắt, mồ hôi mà trong chín năm qua bè lũ
họ Ngô đă làm hoen ố...
*
* *
Tóm lại, dưới nền Đệ Nhất Cọng
ḥa, dù Hiến Pháp 1956 đă bộc lộ rơ ràng tính phi dân chủ
của nó, nhưng thật ra, chính thực tế sinh hoạt chính trị
miền Nam trong những năm sau đó là đối lập chính trị bị
đàn áp, nhà tù chất đầy chính trị phạm, và quyền tự do báo
chí bị thủ tiêu, mới là những xác quyết không thể chối
cải rằng chế độ Diệm là một chế độ phản dân quyền.
Những thuộc tính nỗi tiếng khác của chế độ Diệm như Gia
đ́nh trị, Công an trị, Công giáo trị,… chỉ
làm mạnh thêm và rơ thêm tính độc tài của gia đ́nh cầm quyền
họ Ngô mà thôi.
Chính v́ chế độ độc tài đó đă
kềm hảm, thậm chí c̣n tiêu diệt, sức mạnh phát triển quốc
gia để đối đầu với miền Bắc, lại chẳng đem lại ấm no và tự
do cho đồng bào miền Nam, nên chỉ trong 7 năm cầm quyền (từ
khi ông Diệm làm tổng thống vào tháng 10/1956 đến khi chế độ
của ông sụp đổ vào tháng 11/1963), người dân miền Nam đă 7
lần chống đối lại chế độ của ông:
1- Tháng
2/1957, hàng giáo phẩm Cao Đài đă ủng hộ cho một tín
đồ tên là Hà Minh Trí mưu sát ông Diệm tại Hội chợ Xuân Tây
Nguyên ở thành phố Ban Mê Thuột, với lư do là để trả thù
cho tướng Tŕnh Minh Thế và cho tín đồ Cao Đài bị đàn áp
khiến Hộ pháp Phạm Công Tắc phải tị nạn qua Cam Bốt. Súng bị
két đạn, mưu sát không thành, ông Hà Minh Trí bị cầm tù đến
sau 1963 mới được thả ra. Nhưng cũng từ sau vụ mưu sát đó,
trong mỗi bài diễn văn, ông Diệm lại dùng câu “Xin Ơn
Trên che chở cho chúng ta” [Que Dieu nous protège!] để
kết bài.
Nhiều tài liệu và nhân chứng
cho rằng ông Ngô Đ́nh Nhu đă ra lệnh thủ tiêu Tướng Cao Đài
Tŕnh Minh Thế -
Tín đồ Cao Đài Hà Minh Trí bị bắt tại Hội chợ Cao
Nguyên năm 1957 sau vụ mưu sát ông Diệm
2- Tháng
5/1957, không chịu được nền độc tài gia đ́nh trị và chính
sách trả thù Quốc Dân đảng thông qua chiến dịch chống Cọng
bừa bải, Đai Việt Quốc Dân đảng “thành
lập chiến khu Ba Ḷng tại vùng rừng núi phía Tây tỉnh Quảng
Trị nhằm mục đích chống lại chế độ gia đ́nh trị của
Nhu-Diệm, đồng thời cũng là cơ hội dẹp tan các âm mưu cố
thủ của Cộng Sản tại nam vĩ tuyến 17.”
[]
Tuy nhiên, dưới sự điều động sắt máu của ông Cố vấn miền
Trung Ngô Đ́nh Cẩn, quân đội đă dẹp được chiến khu nầy. Một
phần lớn các đảng viên bị bắt và tù đày. Từ đó, mâu thuẫn
giữa đảng Đại Việt và chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không những
không hàn gắn được mà càng lúc càng sâu sắc thêm.
3- Tháng
4/1960, mười tám nhân vật tên tuổi của miền Nam
[]
họp tại một khách sạn ở trung tâm thủ đô Sài G̣n để công bố
một Bản Tuyên Ngôn
chỉ trích và lên án ông Diệm
đă không đem lại cho dân chúng một cuộc sống tốt đẹp, tự do.
V́ biết không thể xin họp công khai, những nhân vật nầy đă
bí mật mời một số thông tín viên ngoại quốc và vài kư giả
Việt Nam đến họp tại hội trường khách sạn Caravelle (v́ vậy,
nhóm nầy c̣n được gọi là “nhóm Caravelle”). Bản Tuyên
ngôn gồm phần mở đầu và phần nhận định về 4 lănh vực Chính
trị, Chính quyền, Quân đội và Kinh tế Xă hội. Họ thẳng thắn
cho rằng Quốc hội chỉ là tay sai của chính phủ, bầu cử chỉ
là tṛ bịp bợm, t́nh trạng tham những bè phái khắp nơi, các
chính đảng quốc gia bị đàn áp, quân đội chỉ là một công cụ
để củng cố chính quyền chứ không được dùng để chống Cọng,
lấy “sự trung thành với một đảng để tùng phục mù quáng
những kẻ lănh đạo đảng làm tiêu chuẩn thăng thưởng”…
Bản Tuyên Ngôn kết luận:
“Cho
đến nay, chúng tôi đă giữ im lặng và để cho chính quyền mặc
ư hành động. Nhưng bây giờ đă đến lúc khẩn thiết, chúng tôi
cảm thấy rằng bổn phận của chúng tôi - và trong lúc nước nhà
gặp cảnh rối loạn th́ ngay cả những kẻ hèn kém nhất cũng
phải chia xẻ bổn phận này - là phải nói lên sự thật, thức
tỉnh dư luận, báo động với nhân dân, và liên kết những kẻ
đối lập, để cho thấy lối thoát.
Chúng tôi thỉnh cầu chính
quyền gấp thay đổi chính sách để cứu văn t́nh thế,
bảo vệ chế độ Cộng Ḥa và bảo vệ sự sống c̣n của quốc gia.
Chúng tôi giữ vững niềm hy vọng là dân tộc Việt Nam sẽ có
một tương lai sáng lạn để được hưởng thanh b́nh và thịnh
vượng trong Tự Do và Tiến Bộ”,
nhưng lời
“thỉnh cầu” tâm huyết và cấp thiết nầy của 18 nhân vật ưu tú
nhất của miền Nam lúc bấy giờ đă bị hai ông Diệm Nhu không
đếm xĩa đến. Dĩ nhiên sau đó, 18 nhân vật nầy đa số đều bị
bắt bớ, tra tấn, giam cầm.
4- Tháng
11/1960, chỉ 7 tháng sau “Tuyên ngôn Caravelle”, trước những
biện pháp chính trị thất nhân tâm của chính quyền Diệm và
trước t́nh h́nh an ninh miền Nam càng lúc càng tồi tệ (Đầu
năm 1960, sư đoàn 21 bị tấn công và thiệt hại nặng nề ở Tây
Ninh, cuối năm đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam ra đời), binh chũng Nhăy Dù (với các sĩ quan chỉ
huy như Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng,
Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Huy Lợi …) cùng
nhiều nhân vật
[]
đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân Chủ và
Mặt trận Quốc gia Đoàn kết đă phát động cuộc binh
biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đ̣i ông Diệm cải tổ toàn
diện cơ cấu lănh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và
nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Bị cô
lập và bao vây trong Dinh Độc Lập, ông Diệm hứa sẽ đáp ứng
những đ̣i hỏi đó nhưng thật ra ông chỉ kéo dài thời gian để
chờ quân đội ở miền Tây về cứu ứng
[].
Tin vào lời hứa đó nên quân Nhăy Dù ngưng chiến, và sau đó
trở tay không kịp, bị thua nên cấp lănh đạo cuộc binh biến
một phần bị bắt đưa ra Ṭa án kết tội phản loạn, một phần
phải trốn sang tị nạn chính trị tại Cam Bốt. Binh chũng Nhăy
Dù, từ đó, không được ông Diệm tin tưởng nữa.
5- Tháng
2/1962, hơn một năm sau “Đảo chánh Nhăy dù”, hai sĩ quan của
một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy
Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử đă bay 2 chiếc
Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập
với mục đích tiêu diệt đầu năo của chế độ ông Diệm (Ngoài
ông bà Ngô Đ́nh Nhu ở và làm việc trong Dinh Độc Lập, hôm đó
c̣n có TGM Ngô Đ́nh Thục nữa). Trung úy Quốc là gịng dơi
của cụ Phạm Phú Thứ, một nhà cách mạng khí khái ở Quảng Nam
mà gịng họ Ngô Đ́nh vừa ghen vừa ghét trong thời Nam triều.
C̣n trung úy Cử là con của cụ Nguyễn Văn Lực, một lănh tụ
của Đại Việt QuốcDân Đảng. Bom và phi tiển chỉ làm hư
hại cánh trái của Dinh Độc Lập mà thôi. Máy bay của Trung úy
Quốc bị pḥng không Hải quân bắn hạ, ông nhảy dù và bị bắt.
C̣n Trung úy Cử th́ bay qua Cam bốt tị nạn. Sau 1963, hai
ông trở về binh chủng Không quân và tiếp tục thi hành các
phi vụ oanh kích Việt Cọng trên chiến trường miền Nam.
Cánh trái Dinh Độc Lập,
khu cư trú của Ông bà Nhu, bị bom và phi tiển gây thiệt hại
-
Chiếc Skyrider A-1 của Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc
bị bắn hạ trên sông Sài G̣n
6- Một
năm sau, vào tháng 5/1963, chính sách kỳ thị Phật giáo của
chế độ Diệm lên đến cao điểm với lệnh cấm treo Phật kỳ trong
lễ Phật đản tại Huế và sau đó nổ súng giết 8 Phật tử tại Đài
Phát thanh. Đây là giọt nước làm tràn sự bất công của chính
sách tiêu diệt Phật giáo một cách có hệ thống để Công giáo
hóa miền Nam vốn bắt đầu từ năm 1956, khi lần đầu
tiên Hoà thượng Trí Thủ gửi văn thư chính thức phản đối
Linh mục Vàng, giảng sư của Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long,
đ̣i cắm cây thánh giá lên núi Ngũ Hành Sơn, nơi có chùa Non
Nước ở Đà Nẵng.[]
Kể từ năm 1956 đó cho đến suốt 7 năm c̣n lại, Phật giáo đă
bị đối xử phân biệt, áp lực đổi đạo, đày đọa đi các vùng
dinh điền trên cao nguyên, bị chụp mũ là Cọng sản, chùa
chiền bị các cha xứ lấn chiếm tranh dành, công chức quân
nhân Phật tử bị trù dập.
Xin ghi lại đây ba t́nh trạng
kỳ thị Phât giáo tiêu biểu và trắng trợn mà ở miến Nam lúc
bấy giờ ai cũng biết là: (a) Lễ Phật đản không được
ghi trong danh sách ngày nghĩ quốc gia trong khi lễ Giáng
sinh, lễ Phục sinh, … của Công giáo th́ lại được xem như
quốc lễ. Măi cho đến năm 1957, Hội chủ Phật giáo phải làm
đơn “xin”, chính phủ mới “cho” nghĩ ngày Phật Đản; (b)
Khi Phật tử bị ép buộc vào sống trong các khu Trù mật., Dinh
điền, Ấp Chiến lược của chính phủ, họ bị đủ mọi áp bức, nhất
là áp bức kinh tế để đổi đạo đến nỗi có câu vè thật ai oán
rằng “theo đạo có gạo mà ăn”; (c) Nhưng quan
trọng hơn cả là chính quyền Ngô Đ́nh Diệm vẫn duy tŕ Dụ
số 10 để khống chế Phật giáo trong quy chế của một Hội
b́nh thường, trong khi Công giáo th́ không bị ràng buộc,
muốn tự do điều hành và sinh hoạt sao cũng được
[].
Ông Diệm đă truất phế vua Bảo Đại, đă thành lập nền Cọng ḥa,
đă thủ tiêu tất cả luật lệ thời phong kiến thực dân Tây để
lại, vậy tại sao lại duy tŕ Dụ số 10 cực kỳ bất công
và nham hiểm của phong kiến và thực dân, nếu không phải là
để đạp Phật giáo xuống cho Công giáo lên ngôi vị độc tôn tại
Việt Nam ?
Biến cố ở Huế sau đó trở thành
cuộc đấu tranh cho nguyện vọng 5 điểm đ̣i b́nh đẳng tôn giáo.
Trước sự ngoan cố của chính phủ Diệm, ngày 11/6 Hoà thương
Thích Quảng Đức tự thiêu để “trân
trọng kính gởi lời cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm nên lấy ḷng
bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách b́nh
đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa”
khiến cuộc đấu tranh của Phật
giáo lan rộng ra với sự hiện diện mạnh mẽ và đông đăo của
sinh viên, học sinh và đảng phái. Ngày 7/7, văn hào Nhất
Linh tự thiêu để cảnh báo chế độ Diệm đang làm “tội
nặng mất vào tay Cọng sản”. Khuya 20/8, ông Nhu ra lệnh
cho Cảnh sát dă chiến và Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê
Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ ào ạt tấn
công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở
Sài G̣n và chùa chiền khắp toàn quốc, bắt Tăng Ni (riêng tại
Sài G̣n là 1,400 vị) và Phật tử giam giữ, phản bội Thông cáo
Chung và vu khống cho Phật giáo là tay sai của Việt cọng. Hệ
quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần
lănh đạo Phật giáo bị triệt tiêu, phong trào đấu tranh của
Phật giáo gần như bị tê liệt, nhưng chính v́ vậy mà phong
trào đă trở thành tiền đề văn hóa và sức bật chính trị cho
ngày 1/11/1963 của Quân đội ba tháng sau đó.
Phật tử và Tăng Ni biểu t́nh
đ̣i chính phủ Diệm chấm dứt đàn áp và cho Phật giáo
cùng những tôn giáo khác được b́nh đẳng với Thiên Chúa giáo
Sinh viên Sài G̣n biểu t́nh
chống các biện pháp đàn áp của chế độ Diệm
bị Cảnh sát bắt đem nhốt vào quân trường
7- Trong
ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ để dứt điểm Phật giáo, nhiều
vị lănh đạo trên thế giới, kể cả Đức Giáo hoàng Paul VI và
các tổ chức Công giáo, đă lên án chế độ Diệm. TGM Thục đến
Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, bà Nhu dẫn phái
đoàn Quốc hội đi “giải độc” trên thế giới bị chống đối. Cuối
tháng 9/1963, Tồ chức Liên Hiệp Quốc quyết định gửi phái
đoàn đến Việt Nam để điều tra t́nh h́nh đàn áp Phật giáo.
Sinh viên học sinh và đông đảo đồng bào thay thế Phật tử và
Tăng Ni ào ạt xuống đường biểu t́nh … Những tin đồn về việc
ông Nhu sẽ tổ chức đảo chánh (kế hoạch “Bravo”) để
thay ông Diệm, nhất là tin về hai anh em ông Nhu-Diệm đang
thỏa hiệp với chính quyền Cọng sản miền Bắc được truyền đi
khắp hang cùng ngơ hẻm. Trường học đóng cửa, quân nhân bị
cắm trại 100%, nhu yếu phẩm bị đầu cơ tích trữ. Sài G̣n như
bốc lữa …
Ngày 1/11/1963, quân đội phát
động cuộc binh biến lần thứ ba để lật đổ chế độ độc tài Ngô
Đ́nh Diệm. Và lần nầy họ thành công. Ngày hôm sau, 2/11, hai
anh em ông Nhu và Diệm bị bắn chết. Toàn quân toàn dân trên
35 tỉnh thị miền Nam hân hoan vui mừng ngày Cách mạng.
Ngày 1-11-1963: Đồng bào thủ
đô Sài G̣n cổ vũ
và chào mừng Quân đội thành công lật đổ chế độ Diệm
Tượng “Mẹ
con bà Nhu” bị kéo sập - Đồng bào hân hoan tụ họp tại bến
Bạch Đằng để chào đón Tù nhân chính trị
của chế độ Diệm được Hải vận hạm Tiền Giang HQ405 chở
từ nhà tù Côn Đảo về lại Sài G̣n
Ba
điều đặc biệt về biến cố nầy là:
(a) Thứ nhất,
ngày 1/11 không tự nó là một kết quả riêng lẽ đến từ
chỉ một nguyên nhân, mà là cao điểm kết tụ của một chuổi
liên hoàn nhiều biến cố nối tiếp và gối đầu lên nhau trong
thời gian (7 năm bạo trị), cũng như là kết quả tất yếu kết
tinh từ nhiều thành tố đan bện và kết hợp với nhau
(như kỳ thị Phật giáo, đàn áp đảng phái quốc gia, bất công
tham những, mâu thuẫn với Mỹ, bè phái gia đ́nh trị, thoả
hiệp với Hà Nội, …). Nói như lư Duyên Sinh của nhà chùa: “Cái
nầy có là v́ (nhiều) cái kia có”. Do đó, nói rằng
chỉ quân đội bất măn nên lật đổ ông Diệm là một cách nói
giản lược, phi lịch sử và thiếu tính hệ thống, nếu không
muốn nói là không lương thiện.
(b) Thứ nh́,
ngày 1/11 đă tŕnh hiện rơ ràng t́nh trạng cô lập tuyệt
đối của gia đ́nh họ Ngô và các công cụ bạo lực của họ trước
cao trào chống đối của quân dân miền Nam. Đảng Cần Lao,
Sở Nghiên cứu Chính trị, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật
vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cọng
ḥa, Phụ nữ Liên đớ́, các xóm Đạo vơ trang… tất cả đều tê
liệt rồi tan ră không một phản ứng v́ tính phi chánh nghĩa,
nặng bè phái và kém tổ chức của bản thân từng tổ chức một.
Chế độ đang tan, lănh tụ đang bôn tẩu, cả cấu trúc chính trị
và bạo lực của nó sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ !.
Chế độ Diệm đúng là một chế
độ đă tồn tại như một ốc đảo trong dân, không một chút gốc
rễ trong dân.
(c)
Và thứ ba, người Mỹ đă đóng một vai tṛ vừa quan sát
vừa tham dự vào biến cố 1/11 nầy v́ sự sống c̣n của “tiền
đồn” mà họ đă đầu tư cả tài lực lẫn vốn liếng chính trị
trong chiến lược chống Cọng toàn cầu của họ. Chính ông
Diệm chứ không ai cả, đă là nguyên nhân, từ đầu, làm cho
người Mỹ có được một vai tṛ và thế lực đáng kể, can thiệp
quá sâu vào sinh hoạt chính trị của miền Nam sau nầy.
Người Mỹ “nặn” ra ông, “bồng” ông về và “đặt” ông lên ngôi
Tổng thống. Rồi quân viện và kinh viện, nhân sự và tiền bạc
đổ vào miền Nam như thác đổ, từ viên đạn cho đến giọt xăng,
từ lương tổng thống cho đến đôi giày bốtđờxô của anh binh
nh́ … Nhưng khác với các lănh tụ cũng độc tài nhưng v́ dân
tộc và tổ quốc ở Đài Loan và Nam Hàn, ông độc tài v́ gia
đ́nh và v́ tôn giáo của ông chứ không v́ nhân dân và lư
tưởng chống Cọng. Ông đă chấp nhận làm con cờ cho Mỹ,
nhưng lại bất lực trong nhiệm vụ làm con cờ, rồi lại thoả
hiệp với kẻ thù Hà Nội, phản bội không những “người nặn ra
ông” mà c̣n cả cái Hiến pháp chống Cọng và quân dân miền
Nam, th́ Mỹ phải đồng ư với và giúp đở cho quân dân miền Nam
“dứt điểm” ông là đúng rồi. Nhà văn Doăn Quốc Sỹ tóm tắt
trong một câu rất ngắn mà thật tuyệt đối đúng: “Bảo là
người Mỹ đă giết Diệm. Không! Diệm đă chết trong ḷng
dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.”
[]
* *
*
Làm tổng thống 7 năm mà bị 7
lần chống đối ! Chống đối từ ôn ḥa đến bạo động, càng lúc
càng mạnh, từ tuyên ngôn, đến biều t́nh, đến ám sát, đến
chiến khu, đến ném bom, rồi đến 2 lần binh biến…. Chống đối
càng lúc càng sâu rộng, từ sinh viên học sinh, đến tôn giáo
và trí thức, đến đảng phái và báo chí, đến đồng minh và công
luận thế giới, đến quân đội…. Rơ ràng có một điều ǵ căn bản
và trầm trọng khiến quân dân miền Nam không thể chấp nhận
được chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Điều không chấp nhận đó có thể
tóm gọn trong 2 bản chất cốt lơi của chế độ: Ngược ḷng
dân và Phản thời đại.
Chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă tiêu
vong, để lại bao nhiêu máu lệ cho dân tộc và ngang trái cho
lịch sử. Tuy nhiên, phải thẳng thắn một điều: Lịch sử h́nh
thành và quá tŕnh chấm dứt của chế độ đó vẫn c̣n có thể
đóng góp cho dân tộc ta. Đó là chế độ nầy sẽ được xem:
§
như mẫu mực của một chế độ chính trị phi dân tộc, độc tài,
và thiếu khả năng. Do đó, mọi mầm mống và biểu hiện của
một chế độ như thế sẽ không được phép tồn tại trên đất nước
Việt Nam.
§
như một kính chiếu yêu để chúng ta điểm mặt nhận diện cái
thành phần phi dân tộc và phản thời đại vẫn c̣n ngoan cố
bóp méo lịch sử để bào chữa cho chế độ nầy, cho cái quá khứ
oan nghiệt của thời kỳ họ ê a hai câu kinh “Ngô tổng
thống muôn năm” và “Xin Thượng đế ban phước lành cho
Người”.
Nguyễn Kha
Tháng 12
năm 2010
[1]
The system of
fundamental laws and principles that
prescribes the nature, functions, and
limits of a government (The American
Heritage® Dictionary of the English
Language, Fourth Edition, copyright
©2000 by Houghton Mifflin Company)
[2]
Sau cuộc
Trưng cầu Dân ư ở phía Nam
vĩ tuyến 17 vào tháng 10 năm 1955
với kết quả là Quốc trưởng
Bảo Đại bị truất phế th́ tân tổng
thống
Ngô Đ́nh Diệm cho nhóm họp Ủy ban
Thảo hiến vào cuối năm 1955 gồm 11 thành
viên để soạn Hiến pháp cho quốc gia cộng
ḥa mới. Sang tháng 3 năm 1956 th́ mở
cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến với 123
đại biểu để hoàn tất công việc soạn thảo
và thông qua bản hiến pháp. Chính Quốc
hội cũng đề cử 15 người lập ra Ủy ban
hiến pháp riêng, chủ tịch là Trần Chánh
Thành [Bộ trưởng bộ Thông Tin] để cùng
hiệp soạn. Tháng 7 năm 1956 th́ Quốc hội
bỏ phiếu thuận và đến
26 tháng 10, sau khi một vài điểm dị
biệt giữa hai ngành lập pháp và hành
pháp được giải quyết, th́ tổng thống kư
văn bản ban hành.(Theo Wikipedia)
[3]
“Trụy thai” là nhóm chử của Linh
mục Kim Định dùng để đánh giá một cách
diễu cợt hệ tư tưởng Duy Dân của ông Lư
Đông A. Thật ra th́ Linh mục viết … nặng
hơn nhiều, ngài dùng nhóm chử “thiên
tài trụy thai” để phê phán toàn bộ
tư tưởng và hành động của cá nhân
vị Thư kư trưởng đảng Duy Dân nầy. Người
viết dùng lại nhóm chử nầy để “trả lại
cho César những ǵ của César”.
[4]
Điều 89 của Hiến Pháp trong mục tu chính
c̣n quy định rằng không được xâm
phạm hay tu sửa điều 3 này. Có nghĩa là
Tổng thống lănh đạo suốt đời như
vua trong chế độ quân chủ vậy.
[5]
Công báo Việt
Nam Cọng Ḥa (số 48 ngày 26-10-56). Phụ
lục trang 2669.
[6]
Vedel, G. Etudes des Constitutions,
tr. 130 (“La nation est une personne
juridique distincte des individus qui
les composent”).
[7]
Bản dịch của nhật báo Tự Do ngày
4-4-1959.
[8]
Dans l’histoire des institutions et des
idées politiques du Vietnam, il sera
difficile de ne pas reconnaitre que le
système de la constitution du 26 Octobre
1956 constitua une regression par
rapport au système politique
traditionnel. Car il a repris de
l’ancien système ce qu’il a le moins
progressiste pour le completer par les
moyens de contrainte les plus modernes.
Ainsi cette notion de Leadership qui
figure dans la traduction officielle de
la Constitution de la République du
Vietnam n’a pas le sens que les
sociologues Américains lui donnent
originalement.
[9]
Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng Pháp nạn,
in Ronéo trong nước năm 1984. Giao Điểm
in lại, 2003, California
[10] Phải đợi
đến sau 1963, khi thành lập Đệ nhị
Cọng ḥa với Hiến pháp ban hành vào
tháng 4 năm 1967, Quốc hội mới có hai
viện như Tổng thống chế kiểu Mỹ. Sau 3
năm xáo trộn v́ sự trổi dậy của nhóm Cần
lao Công giáo, Thượng viện Đệ Nhị Cọng
ḥa nhiệm kỳ 1967-1973 gồm 6 liên danh
đại diện cho đảng phái hoặc khuynh hường
chính trị Công giáo hoặc thân Công giáo
khác nhau : Nông Công Binh (Quân
đội), Bông Lúa (Đại Việt và Cao
Đài), Công Ích và Công Bằng Xă Hội
(Công giáo), Đại Đoàn Kết (Công
giáo), Mặt Trời (Công giáo),
Đoàn Kết Tiến Bộ (Công giáo).
[11] Oan hồn
những người nầy bây giờ không biết có
được nhóm tàn dư Cần Lao Công giáo ở hải
ngoại thắp cho nén hương mỗi lần họ cúng
ông Diệm vào ngày 1 tháng 11 không ? Và
bạn bè, đồng chí, bà con của họ nghĩ ǵ
về những vọng ngôn xảo ngữ của những “sử
gia” hoài Ngô đang sơn phết lại “Ngô
Tổng thống anh minh” để thực hiện 2
chuyện: bóp mép lịch sử và chia rẽ dân
tộc.
[13] Mười tám
người đó là quư ông Lê Ngọc Chấn,
Trần Văn Văn, Trần Văn Đỗ, Trần Văn
Tuyên, Trần Văn Lư, Trần Văn Hương,
Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy
Quát, Nguyễn Tăng Nguyên, Nguyễn Tiến
Hỷ, Lê Quang Luật, Phạm Hữu Chương, Tạ
Chương Phùng, Trần Lê Chất, Lương Trọng
Tường và linh mục Hồ Văn Vui. Điểm đặc
biệt là trong số 18 nhân vật kể trên th́
có đến 10 người là cựu ân nhân, đồng
chí, bạn thân và những Bộ trưởng đă từng
hợp tác với ông Diệm thời ông chưa
có quyền hành hay c̣n gặp khó khăn.
[14] Gồm các
ông Lê Vinh (đảng Duy Dân), Phan Bá Cầm,
Nguyễn Bảo Toàn (Ḥa Hảo), Vũ Hồng
Khanh, Xuân Tùng (Việt Quốc),... cầm
đầu. Ngoài ra c̣n có “Mặt trận Quốc
dân đoàn kết” do văn hào Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam và các ông Phan Khắc
Sửu (Cao Đài), Nguyễn Thành Vinh, Trương
Bảo Sơn (Việt Quốc) lănh đạo... Tất cả
có hàng trăm nhân vật chính trị dân sự
đại diện cho các đảng phái trực tiếp hay
gián tiếp tham dự các cuộc đảo chánh của
Nhảy Dù. “Mặt trận Quốc gia Đoàn kết”
của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
c̣n liên lạc với Đức cha Từ, Đức cha
Hiền, các linh mục như Cha Oánh, Cha
Vui, Cha Lộc, Cha Phiên,...
[15] Học giả
Nguyễn Hiến Lê ghi lại “... khi
tôi thấy cuộc Trưng Cầu Dân ư để lật đổ
Bảo Đại có tính cách rơ ràng là gian
lận: ở Sài G̣n - Chợ Lớn chẳng hạn, kết
quả cho biết có 605.025 người bầu cho
ông Diệm trong khi số cử tri ghi tên chỉ
có 450.000 người và kết quả là ông ta
thắng với tỉ số … 98.2% thuận và 1.1%
nghịch th́ tôi đă đâm ngán. Bịp bợm
trắng trợn như thế th́ không phải là
thông minh được. Nhất là khi hay tin
ông Diệm trước khi nhận chức Thủ tướng
đă quỳ trước mặt Bảo Đại, Hoàng hậu Nam
Phương và vài người chứng kiến, thề sẽ
một mực trung thành với Bảo Đại “duy
tŕ ngai vàng cho Hoàng tử Bảo Long”
mà bây giờ lại lật Bảo Đại như vậy, th́
tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có
người khen ông là có tư cách cao, nhiễm
sâu đạo Khổng. Tôi nghĩ bụng “con người
đó vô sở bất vi”. Quả nhiên sau này,
trong vụ đảo chánh hụt tháng 11 năm
1960, ông lại thất hứa và lường gạt
phe đảo chánh và quốc dân lần nữa.
Ngày 12 tháng đó, ông long trọng tuyên
bố sẽ giải tán nội các, thành lập một
chính thể chuyển tiếp mở rộng nội các
cho các tướng và các nhà cách mạng độc
lập hợp tác “Quốc dân cứ b́nh tĩnh và
tin ở ḷng ái quốc và thương dân vô cùng
của Tổng thống”, nhưng khi đạo quân
trung thành của ông về kịp Sài G̣n, đánh
bật phe đảo chánh th́ ông nuốt lời
hứa, không thay đổi nội các mà c̣n đàn
áp dữ dội những người ngây thơ tin ở ông...”
– (Nguyễn Hiến Lê, Con Đường Thiên Lư,
Văn Nghệ, Hoa Kỳ, tr. 201-203).
[16] Vị Linh
mục tên Vàng nầy, vào năm 1960, c̣n nỗi
tiếng về chuyện xúi dục con chiên Nhà
thờ Phú Cam đ̣i lại chùa Thiên Mụ ở Huế
với lời giải thích quái đản rằng chùa
Thiên Mụ là nơi “Mẹ của Trời”,
tức Đức Mẹ Maria, giáng trần nên phải
trả chùa nầy lại cho Công giáo ! –
(Tâm Đức, Như Áng Mây Bay, USA
2010, trang 230.)
[17] Điều 1
của đạo dụ số 10 liệt mọi tôn giáo (trừ
Công giáo) vào loại hiệp hội thường như
đua ngựa, đá banh,... Điều 7 cho phép
chính quyền từ chối không cấp giấy phép
hoạt động, hoặc cấp rồi mà vẫn có thể
rút lại không cần phải nói lư do. Điều
10 và 12 cho phép bất cứ nhân viên hành
pháp hay tư pháp nào cũng có quyền kiểm
soát các hiệp hội tôn giáo. Điều 14 và
28 giới hạn tài sản của một tôn giáo ở
mức nào đó mà thôi, và dĩ nhiên điều
số 44 dành một chế độ đặc biệt sẽ
quy định sau cho các Hội Truyền Giáo
Thiên Chúa Giáo nhưng sau 9 năm cầm
quyến, chính phủ Diệm cũng chẳng bao giờ
quy định. – (Kiêm Đạt, Lịch Sử Tranh
Đấu của Phật Giáo Việt Nam,
tr.132)
[18] “Từ 7
giờ sáng ngày 2-11-1963, khi đài phát
thanh Sài G̣n báo tin dinh Gia Long bị
quân đội chiếm th́ già trẻ lớn bé lũ
lượt kéo nhau đi xem. Lời ḥ reo, tiếng
cười vang với sắc diện tươi vui của mọi
người chứng tỏ sự giải thoát gông cùm
kềm kẹp của độc tài đă bóp nghẹt ḷng
dân trong chín năm trời đăng đẳng”
(Bác sĩ Dương Tấn Tươi, Cười - Nguyên
nhân và Thực chất , Sài G̣n 1968,
tr.44 ). C̣n thi sĩ Đông Hồ th́:“Nỗi
ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị
vùi dập một cách tàn nhẫn bất công trong
9 năm trời, một sớm được giải thoát,
được cởi mở, mà phản ứng chỉ có chứng ấy
th́ tưởng quần chúng nhân dân Việt Nam
năm 1963 này cũng đă tỏ ra hiền lành
nhiều lắm, và cũng đă biết tự hạn chế,
tự biết kềm hăm sức giận dữ hung hăn của
ḿnh rồi đó.” (Nguyễn Hiến Lê,
Tôi Tập Viết Tiếng Việt, 1988, tr.
21).
[19] Doăn Quốc
Sỹ, Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở
Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài
G̣n, 1965. Đăng lại trên Tạp chí Việt
Nam Hải Ngoại (của Luật sư Đinh
Thạch Bích) số 8 ngày 15-9-1977, San
Diego, Hoa Kỳ.
Những bài về Ngô Đ́nh Diệm
|