|
CHÍNH
ĐỀ VIỆT NAM
Phạm
B́nh Thuận, Ph.D
‘’HY VỌNG
có hai nữ tử xinh đẹp, tên của họ là ‘SỰ NỔI GIẬN’ và ‘L̉NG CAN
ĐẢM’: Nổi Giận trước cảnh huống đang diễn ra trước mắt và Can Đảm để
chân nhận rằng cảnh huống này không tiếp tục được nữa’’.
St.
Augustine
Những Bài
học Thực Tiễn Vượt Thời Gian nhằm Định Hướng Hành Tŕnh cho DânTộc
qua Phân Tích và Suy Luận từ Thực Tế Lịch Sử của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh
Nhu
Chẳng phải bắt
nguồn từ một cảm xúc hoài cổ lăng mạn, càng không phải là một động
cử thời thượng nhằm khơi lên tính hiếu kỳ nhất thời của người đọc,
nhưng từ một thúc bách đơn giản thâm sâu khiến chúng tôi viết lên
những ḍng này, như một cố gắng phủi bớt lớp bụi mờ thời gian, nhằm
tŕnh bày những nét óng ả trân quư bàng bạc ẩn tàng trên từng trang
giấy của công tŕnh nghiên cứu này.
Đây là công
tŕnh biên khảo của ông Ngô Đ́nh Nhu được hoàn tất vào những năm đầu
của thập niên 60. Mặc dù bị vùi lấp dưới gịng thời gian gần một
phân nửa thế kỷ, do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, nhưng Bộ
Tài Liệu này vẫn giữ được những giá trị nguyên thủy của những suy
luận không thể chối căi được.
Điều va động
mạnh nhất vào tư duy của người đọc là những tiên liệu chính xác của
tác giả về các diễn biến lịch sử trên thế giới trong nửa thế kỷ vừa
qua, dựa trên phương pháp phân tích từ ‘’vị trí thực tế lịch sử’’.
Đây cũng chính là phương pháp phân tích được sử dụng rất rộng răi
bởi các cố vấn chính trị hiện đại trên chính trường Hoa Kỳ, tiêu
biểu là Karl Rove.
Xin đơn cử một
vài ví dụ từ phân tích của tác giả:
‘’Như vậy,
thuyết cộng sản đối với Nga chỉ là một phương tiện và ngày nào mục
đích đă đạt được, phương tiện sẽ không c̣n giá trị nữa.
Các biến cố
hiện tại ở Âu Mỹ chứng tỏ rằng Nga sắp đến lúc bỏ phương tiện cộng
sản và trở về với xă hội Tây phương.
Những sự
tiếp xúc của Ṭa Thánh La Mă với các lănh tụ Giáo Hội Nga là một
trong những cố gắng để đưa Nga Sô về xă hội Tây phương.
Và ngày đó
sự tranh chấp quyết liệt giữa cộng sản và Tư Bản, như ngày nay, sẽ
tự tiêu và nhường chỗ cho một cuộc tranh chấp khác quyết liệt hơn
hiện nay đă bắt đầu thành h́nh giữa khối Trung Cộng và khối Âu Mỹ’’.
(trang 29)
Điều va động
tư duy kế đến là kỹ năng vận dụng của tác giả từ các bài học trong
lịch sử, có khi từ hàng trăm năm trước, mà áp dụng vào các chính
sách và chiến thuật đương thời của quốc gia. Một ví dụ điển h́nh là
Quốc Sách Ấp Chiến Lược: Từ khái niệm, lược đồ cho đến kỹ thuật và
phương tiện: Đê hào đắp bằng đất, lũy nhiều tầng dựng lên bằng tre
chẻ, chông bằng tre vót nhọn, là được chiết xuất từ binh kế chống
Trung Hoa ngoại xâm của Lư Thường Kiệt.
Sau cùng, sự
va động thâm trầm nhưng lan tỏa và bao trùm suốt mọi mạch văn trong
toàn hệ tư tưởng của Bộ Tài Liệu là ư chí sắt thép (một mất một c̣n)
chống Tàu cộng bành trướng. Tác giả đă vẽ lên một viễn ảnh đen tối
nếu Miền Nam rơi vào tay Bắc Việt, th́ sự kiện Tàu cộng xâm chiếm
Việt Nam chỉ c̣n là vấn đề thời gian. Điều này càng ngày càng được
minh chứng rơ ràng qua những biến chuyển tại Việt Nam được phô bày
trong những ngày gần đây: Văn kiện do ông Thủ Tướng Phạm văn Đồng kư
nhằm công nhận Hoàng Trường Sa thuộc về Trung Cộng, và các sự kiện
liên quan đến vấn đề nhường đất tại biên giới: Ải Nam Quan, Thác Bản
Giốc...
Cũng từ lư do
đó mà tác giả đặc biệt ngưỡng mộ hai Vị Đại Anh Hùng Dân Tộc là Lư
Thường Kiệt và Nguyễn Huệ do ư chí của Hai Vị nhằm đột phá năo
trạng thuộc quốc của Tàu đă bám rễ trong cấp lănh đạo Việt Nam, trải
dài hàng ngàn năm trong lịch sử Đất Nước.
Trong khung
cảnh eo hẹp của đoản văn thô thiển này, chúng tôi cố gắng cô đọng tư
tưởng của tác giả và giữ ǵn phấn khí nồng cốt của những mạch văn
chính. Chúng tôi ước mong mỗi một đọc giả đều có cơ hội tiếp cận với
toàn bộ bản văn để tạo sự giao lưu những phản hồi sau dó, nhằm bồi
đắp và phong phú hóa kinh nghiệm học hỏi này.
Nhận thấy hầu
hết mọi phương pháp phân tích từ công tŕnh nghiên cứu này vẫn có
thể được tham khảo để áp dụng vào các hoàn cảnh cụ thể của Đất Nước
trong t́nh h́nh hiện nay, chúng tôi trân trọng giới thiệu Bộ Tài
Liệu này như là một phương thế nhằm trao đổi, học hỏi và chiết xuất
các phương án cho tương lai.
A. Bố cục
của Bộ Tài Liệu:
Để dễ dàng cho
người đọc chúng tôi xin tŕnh bày Mục Lục tóm lược ở đây:
MỤC-LỤC
Bối Cảnh của
Vấn Đề
Phần I:
Nhận Định về Thế Giới
Phần II:
Vị Trí của Việt Nam trong Khung Cảnh vừa Tŕnh Bày
Phần III:
Điều Kiện Nội Bộ
Phần IV:
Một Lập Trường Thích Hợp Với các Nhận Xét Trên
ĐỂ KẾT LUẬN:
Trụ mà không trụ.
B. Những
Phác Họa Thô Sơ:
Vị Trí của
Tác Giả:
Đây là định
điểm mấu chốt cho toàn bộ tư tưởng trong ‘’Chính Đề Việt Nam’’. Tác
giả muốn khẳng định ngay từ phút ban đầu:
‘’Vị
trí thứ nhứt là một vị trí lúc nào tác giả cũng sẽ
đứng vào để nh́n tất cả các vấn đề tŕnh bày: Đó là vị trí thực tế
lịch sử. Bởi v́ thực tế lịch sử không có thể phủ nhận được. Và trên
nền tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc khoa học mà suy luận không
sợ phạm vào những lỗi lầm căn bản. Vị trí thứ hai là
vị trí không bao giờ tác giả dám đứng vào để nh́n bất cứ vấn đề nào
được tŕnh bày: Đó là vị trí triết lư, tôn giáo, và lư thuyết là
những lănh vực mà sự đối chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể
kéo dài vô cùng tận. Bất cứ trong lănh vực nào của đời sống của cộng
đồng: Chính trị, văn hóa, và kinh tế, sự nhận xét phân tách và suy
luận của tác giả đều căn cứ trên những sự kiện lịch sử và để một bên
tất cả các lư thuyết’’. (trang 22)
Chính v́ thế
mà tác giả đă can đảm xác định rằng: ‘’Bởi v́ mấy trăm trang dưới
đây là một tài liệu nghiên cứu sự kiện thực tế của
lịch sử. Mà thấy được thực trạng của vấn đề, biết ḿnh và
biết chung quanh ḿnh là một yếu tố quyết định cho sự thắng
lợi.
Chính v́ lập
trường nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử, cho nên tự ti mặc cảm
tuyệt nhiên không có, khi nhận xét rằng Việt Nam là một quốc gia nhỏ
và yếu. Nhỏ và yếu v́ dân số, v́ kinh tế kém mở mang, và v́ sự góp
phần vào văn minh nhân loại. Và chính là khi chúng ta dám nh́n thẳng
vào thực trạng của dân tộc, chúng ta mới đủ điều kiện đưa dân tộc
vượt lên’’. (trang 23)
Và sau đây là
một xác quyết táo bạo của tác giả:
‘’Và cũng
v́ lư do trên mà tài liệu này không đề cập đến bốn ngàn năm văn hiến
của dân tộc, lại chỉ nói đến một ngàn năm lịch sử. Cũng như trên
làm nư vậy không phải v́ tự ti mặc cảm. Những ǵ trong lịch sử của
chúng ta chỉ có một ngàn năm sau này mới có đủ tài liệu đích xác để
làm nền tảng cho suy luận’’. (trang 24)
Dẫn Nhập:
Bối Cảnh của Vấn Đề:
‘’Nước Việt
Nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lănh thổ, nhỏ về kinh tế
kém phát triển, và nhỏ về sự góp phần của chúng ta vào văn minh nhân
loại.
Trong suốt
phần lịch sử nhân loại mà chúng ta được biết tới ngày nay, số phận
của các quốc gia nhỏ, từ xa vẫn không thay đổi. Lúc nào các quốc
gia nhỏ cũng phải bị chi phối bởi những trận phong ba băo táp vô
trách nhiệm do các nước lớn gây ra. Và lúc nào cũng sống dưới sự đe
dọa liên tục của một cuộc ngoại xâm.
Từ ngày lập
quốc, hơn một ngàn năm lịch sử đă chứng minh rằng Việt Nam chúng ta
không thoát ra ngoài vận mạng thông thường đó. Hết phải chống Bắc,
rồi phải chống Tây, rồi lại phải chống Bắc. Liên tục và lúc này hơn
lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa dân tộc Việt Nam’’. (trang 9)
Nhận định này
vẫn hoàn toàn chính xác cho t́nh h́nh Đất Nước hiện nay.
Hiểm họa ngoại
xâm của Tàu cộng bành trướng là vấn đề nhức nhối nhất hiện nay cho
mỗi một công dân có ư thức, trong nước cũng như ở hải ngoại. Thể
lực bành trướng của Tàu cộng đang hoành hành trên Đất Nước chúng
ta.
Thế lực này
ngày càng nguy hiểm và cực kỳ tinh vi và đă đạt đến địa vị thống trị
trong bộ máy cai trị toàn dân.
Từ chiêu bài
cộng sản quốc tế và ẩn núp dưới mọi lớp áo của chủ nghĩa giải phóng
dân tộc qua mỗi giai đoạn, họ đă triệt để lợi dụng xương máu, nhiệt
huyết và ḷng dũng cảm của bao nhiêu thế hệ thanh niên Việt Nam nhằm
thống lĩnh toàn cơi Đất Nước.
Qua thời gian,
Tàu cộng bành trướng đă thành công trong việc tập trung quyền hành
tuyệt đối vào một bộ máy cai trị, đó là bộ chính trị của đảng cộng
sản Việt Nam.
Ngày nay, bộ
máy cai trị này bao gồm mười bốn quan thái thú tuyệt phẩm mang danh
hiệu ủy viên bộ chính trị trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Họ nắm
mọi quyền sinh sát trong tay và tận hưởng mọi đặc quyền đặc lợi của
quốc gia. Nhưng họ phải tuyệt đối thỏa măn các yêu sách bành trướng
của Tàu cộng.
Từ bộ chính
trị trung ương này, như h́nh hài của một con bạch tuộc, các cánh tay
ṿi hút vươn ra khắp mọi miền Đất Nước, qua hệ thống với danh xưng
đảng ủy: Từ thành phố đến thôn quê, từ trung ương đến mỗi địa
phương.
Đây là hệ
thống quyền lực tối cao nhất bao trùm mọi miền Đất Nước, mọi cơ chế
Nhà Nước khác chỉ là bộ áo ngoại vi nhằm làm trơn tru nhịp nhàng các
động cử của đảng xuất phát từ trung ương.
Ngoài tác dụng
bùng nhùng hành chính cố ư để che đậy và luồn lách cho đảng, các cơ
chế Nhà Nước c̣n có vai tṛ hứng đỡ sức ép từ quần chúng nhân dân
trong những trường hợp cấp thiết.
Khái quát như
thế để chúng ta thấy rằng trong thâm sâu, đảng cộng sản Việt Nam qua
đầu máy bộ chính trị trung ương ngày càng tỏ lộ rơ ràng là một công
cụ tinh vi xuất sắc phục vụ đắc lực cho thế lực Tàu cộng bành
trướng.
Trong t́nh
h́nh hiện nay của Đất Nước, khi chúng ta nói tới ‘’thế lực ngoại
xâm’’ hay ‘’thế lực Tàu cộng bành trướng’’ th́ đảng cộng sản Việt
Nam với bộ mặt và danh ưng bộ chính trị trung ương cùng với hệ
thống đảng ủy là một bộ phận của thế lực này.
Trong chiêu
sách dùng người bản quốc cai trị người bản quốc để phục vụ kế hoạch
bành trướng, Tàu cộng đă thành công lớn tại Việt Nam nhờ vào sự phối
hợp của đảng cộng sản Việt Nam. Điều này không khó để nhận ra. Lịch
sử đă cung cấp các văn kiện quan yếu đó, như quyết định của ông Thủ
Tướng Phạm văn Đồng công nhận lănh hải 12 hải lư của Tàu cộng để
nhường biển và các Quần Đảo Hoàng-Trường Sa và việc cắm lại các cột
mốc biên giới vừa qua nhằm nhường đất cho Tầu cộng. Nên lưu ư, đây
chỉ mới là giai đoạn đầu của một kế hoạch lớn sẽ được dần hồi triển
khai qua từng thời kỳ.
Hiểu như thế
th́ việc phân tích và giới thiệu công tŕnh nghiên cứu ‘’Chính Đề
Việt Nam’’ lại có ư nghĩa thực dụng sâu sắc rộng lớn.
Tác giả của Bộ
Tài Liệu tiếp tục:
‘’Để duy tŕ
ách thống trị của ḿnh, các cường quốc xâm lăng thường áp dụng, đối
với các dân tộc bị trị, nhiều biện pháp, tuy có khác nhau về h́nh
thức, nhưng chung qui vẫn thuộc hai loại chính.
* Ngăn ngừa
không để cho các quyền lợi kinh tế thuộc vào tay người bản xứ.
* Kiềm hảm
không để cho dân trí phát triển.
Các loại biện
pháp thứ nhứt nhằm mục đích tiêu diệt tất cả các phương tiện vật
chất của người bị trị.
Các loại biện
pháp thứ hai nhằm mục đích tiêu diệt những người có khả năng sử dụng
các phương tiện vật chất trên, nghĩa là các nhà lănh đạo xứng danh.
Đối với các
dân tộc bị trị hai loại biện pháp trên đều có những hậu quả vô cùng
thảm khốc. Tuy nhiên, nếu không có phương tiện của ḿnh th́ c̣n có
thể t́m phương tiện khác, chớ nêu không có người lănh đạo, th́ dù có
phương tiện cũng không xử dụng được.
V́ vậy cho
nên, đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa hay đă mất, th́
phương pháp hữu hiệu nhứt và điều kiện thiết yếu nhứt để chống lại
ngoại xâm là nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo.
Trong thực
tế, nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo có nghĩa là tạo hoàn cảnh
thuận lợi để cho cái tinh túy của tập thể hun đúc nên thiểu số lănh
đạo xứng danh’’ (trang 10)
Như thế, theo
tác giả, vấn đề tuyệt đối quan yếu (không thể không có) là nuôi
dưỡng và phát triền sự lănh đạo.
Và như thế nào
là thiểu số lănh đạo xưng danh ?
Vai tṛ tối
cần của thiểu số lănh đạo và sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng.
Tác giả giới
thiệu khái niệm thăng bằng động tiến giữa ‘’thiểu số lănh đạo, và
‘’đa số chịu lănh đạo’’ như sau:
‘’Trong
toàn bộ của cộng đồng, gồm có thiểu số lănh đạo cộng đồng và đại đa
số chịu sự lănh đạo. Cộng đồng lành mạnh khi nào, giữa thiểu số lănh
đạo và đa số chịu sự lănh đạo, sự thông cảm chạy đều, dẫn dắt đến
một sự phối hợp hữu hiệu trong mọi công cuộc của cộng đồng
(trang 10)
Thiểu số lănh
đạo xứng danh phải bao gồm những ngời có đạo đức (Nhân), có đủ khả
năng vật chất, lư trí và tinh thần (Dũng và Lược) để ứng phó với các
t́nh thế, và phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của tập thể
(trí). Trí nghĩa là thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng
đồng, và v́ sự thấu triệt vấn đề chỉ có thể thực hiện bằng cách suy
tầm, khảo cứu, phân tích, lĩnh hội, quan sát và tổng kết những tài
liệu bên ngoài liên quan đến vấn đề. Không có tài liệu bên ngoài th́
một bộ óc dù thông minh xuất chúng, cũng không làm sao hiểu đợc vấn
đề’’. (trang 10)
Như thế,
chúng ta có thể rút ra được ba luận điểm:
1.- Việt Nam
của chúng ta là một nước nhỏ và yếu lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe
dọa.
2.- Trong công
cuộc chống ngoại xâm, một khí giới hữu hiệu nhứt là phát triển lănh
đạo.
3.- Trong công
cuộc phát triển lănh đạo, điều kiện thiết yếu cần đợc thỏa măn là:
Thiểu số lănh
đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
Đa số chịu
lănh đạo và vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
Điều kiện
thiết yếu để thực hiện sự tự giác đóng góp như vậy là đa số chịu sự
lănh đạo phải ư thức cộng đồng và hiểu biết vấn đề cần phải giải
quyết của cộng đồng. Có như vậy thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh
đạo mới phối hợp điều ḥa và tạo cho cộng đồng sinh lực cần thiết để
vượt qua các thử thách quyết hệt đang đợi chờ.
Những lư lẽ để
chứng minh sự kiện này lại nằm trong một ngàn năm lịch sử của dân
tộc Việt chống lại Trung Hoa.
‘’Kinh nghiệm
lịch sử của chúng ta chứng tỏ rằng, rốt cuộc lại, không phải ngoại
giao, cũng không phải quân lực đă giúp cho chúng ta mấy lần đánh bại
các cuộc xâm lăng của Trung Hoa và mấy lần quật khởi sự thống trị ác
nghiệt của họ.
Chúng ta đă
đánh bại quân xâm lăng và quật đổ ách thống trị v́ chúng ta có người
lănh đạo và ư thức quốc gia được hun đúc và nuôi dưỡng cũng như vấn
đề của quốc gia được giải thích sâu rộng trong đa số chịu lănh
đạo’’.
Theo tác giả,
chỉ có sự tôn trọng tinh thần dân chủ mới và phát huy sự hiểu biết
của đa số chịu lănh đạo đối với vấn đề cần phải giải quyết của quốc
gia là vũ khí bén nhạy nhất để chống ngoại xâm.
Sức mạnh
của sóng và gió
Tác giả nhận
đinh rằng mănh lực của lư thuyết tranh đấu là sóng, rất dễ thấy,
nhưng người ta không nh́n thấy công tŕnh nghiên cứu thực tế lịch sử
làm hậu thuẫn cho mănh lực đó, cũng như nh́n thấy mănh lực của lượn
sóng mà không nh́n thấy sức mạnh của gió tạo ra lượn sóng.
Đây là điều
phải trở nên tâm đắc và trọng tâm học hỏi cho mỗi cá nhân và tập thể
của cộng đồng trong mỗi một phương hớng dấn thân.
Tín ngưỡng
Tác giả nhận
định rằng tín ngưỡng là một tín hiệu tập hợp hữu hiệu. Các chế độ
cộng sản đàn áp tôn giáo chính v́ khả năng qui tụ nói trên, lúc nào
cũng đe dọa sự độc quyền lănh đạo cộng đồng mà theo họ nhứt thiết
phải dành cho đảng cộng sản. Tín ngưỡng sẽ trở thành lợi khí chống
lại cộng sản trong hai trường hợp:
- Khi bị cộng
sản đàn áp.
- Khi khả năng
qui tụ của tín ngưỡng được sử dụng trong công cuộc giải quyết các
vấn đề do thực trạng xă hội tạo ra.
Như thế th́,
nếu muốn cho chủ trương cộng sản thất bại, th́ phải làm hai việc:
- T́m hiểu rơ
thực trạng của vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
- Có một giải
pháp khác để thay thế cho giải pháp cộng sản.
Lư thuyết
tranh đấu
Tác giả nhận
định rằng các lư thuyết đưa ra làm lư thuyết tranh đấu để chống lại
chủ nghĩa cộng sản đă có nhiều. Và hiện nay vẫn c̣n có người đang đi
t́m một lư thuyết khác nữa với tác dụng trên. Mỗi lư thuyết có một
số người tin tưởng, nhứt quyết trung thành với lư thuyết của nhóm
ḿnh và thành thật hay miễn cưỡng bảo vệ lư thuyết đó. Thành ra khối
người theo chủ trương Quốc Gia chia năm xẻ bảy làm cho sinh lực
chống lại kẻ địch c̣n yếu hơn là lúc không có lư thuyết !
Thật là
không có ǵ làm cho người cộng sản vui sướng bằng t́nh trạng đó. Và
họ chỉ ước mong khối quốc gia tạo ra thêm nhiều lư thuyết tương tư.
PHẦN I
NHẬN ĐỊNH
VỀ THẾ GlỚl
Lĩnh vực chính trị
Thế
giới lúc bấy giờ chia làm Ba Khối: Khối Tây Phương, Khối Hồi Giáo và
Khối cộng sản.
Lĩnh vực
văn hóa
Trước tiên là
khối Âu Mỹ gồm các nước ở Âu Châu, kể cả Nga Sô và các nước Đông Âu
thuộc Nga. Các nước ở Bắc và Nam Mỹ và những quốc gia do người Âu
lập ra ở Úc Châu, Tân Tây Lan và Nam Phi. Khối này gồm các nước
thuộc vào xă hội Tây phương thừa hưởng văn hóa Hy Lạp và La Mă khi
xưa và văn hóa Gia Tô sau này.
Khối thứ hai
gồm các quốc gia Ả Rập ở từ vùng cận Đông đến Hồi Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ,
Soudan, Ai Cập và các quốc gia Bắc Phi Châu. Khối này lập thành xă
hội Hồi Giáo thừa hưởng văn hóa Hồi Giáo.
Khối thứ ba
gồm các quốc gia ở phía Đông Đại lục Âu Á: Nhật Bổn, Đại Hàn, Trung
Hoa và Việt Nam, lập thành xă hội Đông Á thừa hưởng văn hóa xưa của
Trung Hoa.
Khối thứ tư
gồm Ấn Độ và ngoài các nước nhỏ phụ cận Ấn Độ phía Bắc, Miến Điện,
Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Mă Lai và Nam Dương. Lập thành xă hội Ấn Độ
thừa hưởng văn hóa Ấn Độ.
Và sau hết
Khối Hắc Phi gồm các quốc gia mới xuất hiện ở Phi Châu lập thành xă
hội Hắc Phi có một văn hóa phôi thai.
Lĩnh vực
khoa học kỹ thuật
Trên lĩnh vực
khoa học và kỹ thuật th́ các khối chính trị văn hóa nói trên tự
nhiên biến mất, và lại hiện ra một hiện trạng thống nhất bất ngờ.
Tất cả các quốc gia trên đều theo đuổi một khoa học, khoa học Tây
phương (đều áp dụng một kỹ thuật) kỷ thuật Tây phương, dù kỹ thuật
đó thuộc về lĩnh vực chính trị, hay quân sự, hay giáo dục hay sản
xuất, hay kinh tế, hay kỹ nghệ, hay vận tải và giao thông.
Văn minh
Tây phương chinh phục thế giới.
Sau một thời
kỳ bị chế ngự bởi văn minh Hồi Giáo, văn minh Tây phương phát triển
một cách hùng mạnh. Nền văn minh này tự tạo cho ḿnh một sinh lực
dồi dào nhờ thừa hưởng được văn hóa Hy Lạp và La Mă xây dựng trên
những căn bản lư trí chính xác và nhờ ở Kinh Thánh Gia Tô gieo cho
quần chúng một đức tin mănh liệt.
Tác giả nhận
định rằng:
- Văn minh Tây
phương đă chinh phục thế giới, và đă chinh phục bằng khoa học kỹ
thuật.
- Các quốc gia
nào muốn tồn tại đều phải khắc phục khoa học Tây phương và kỹ thuật
Tây phương.
Nhưng muốn
khắc phục được khoa học Tây phương và kỹ thuật Tây phương, trước
tiên phải khắc phục lối suy luận của Tây phương đặt trên căn bản
chính xác về lư trí. Và sau đó khắc phục những tập quán trong đời
sống hằng ngày khả dĩ nuôi dưỡng và duy tŕ lối suy luận trên.
V́ vậy cho
nên, ngày nay trên thế giới vấn đề Tây phương hóa là một vấn đề
thiết yếu cho các quốc gia muốn tồn tại.
Và đó cũng là
một vấn đề thiết yếu cho nước Việt Nam.
Cộng Sản ở
Tây phương.
Cuối thế kỷ
19, Tây phương phát minh những kỹ thuật sản xuất kỹ nghệ. Karl Max,
triết học gia và kinh tế gia, người Đức gốc Do Thái, sống ở Anh,
nhận thấy rằng tất cả các tệ đoan lúc bấy giờ do ở chỗ các cơ cấu
của xă hội Tây phương không c̣n thích nghi với những lực lượng sản
xuất mới do các phát minh kỹ thuật mang đến. Do đó ông Karl Max đề
nghị một kiểu xă hội mới xây dựng trên những căn bản mới để cho phù
hợp với các phương tiện sản xuất mới. Ông chủ trương thành lập xă
hội mới bằng một cuộc cách mạng toàn diện.
Như vậy, ở Tây
phương, thuyết cộng sản là một phương thuốc của Tây phương đề nghị
để chữa căn bệnh cho xă hội Tây phương trong một giai đoạn phát
triển cam go.
Về sau các nhà
lănh đạo Tây phương lại t́m được nhiều phương thuốc khác, nhờ đó mà
xă hội Tây phương chẳng những trở nên lành mạnh mà c̣n phát triển
mạnh bạo hơn, như chúng ta thấy ngày nay. Do đó mà hiện nay, thuyết
cộng sản đă mất rất nhiều sinh lực trong xă hội Tây phương và trong
một ngày gần đây sẽ không c̣n nữa. (trang 27 & 28)
Cộng Sản ở
Nga.
Các nhà lănh
đạo Nga, theo chiến thuật cổ truyền, đang nỗ lực hấp thụ các kỹ
thuật mới của Tây phương. Nhưng lần này ngoài các kỹ thuật vật chất
họ lại thâu nhận thêm thuyết cộng sản. V́ hai lư do:
Họ muốn gấp
rút bắt kịp Tây Âu bằng cách tổ chức trước Tây phương một xă hội mới
và biến các nước Tây Âu thành những đồng minh nội tuyến trong ḷng
địch rất quí báu cho Nga trong cuộc tranh chấp hằng mấy thế kỷ với
Tây Âu.
Cộng Sản ở
Á Châu
Sở dĩ ngày nay
thuyết cộng sản hoành hành được ở Á Châu là v́ chính Tây phương đă
tạo hoàn cảnh cho nó nẩy nở và chính Tây phương đă đưa nó vào. Sau
khi thảm bại trước lực lượng chinh phục của Tây phương, các quốc gia
ở Á Châu đều lần lượt bị biến thành thuộc địa hay bán thuộc địa.
Các quốc gia Á
Châu dùng thuyết cộng sản như là một phương tiện để đánh kẻ xâm lăng
và một phương pháp phát triển.
PHẦN II
VỊ TRÍ CỦA
VIỆT NAM TRONG KHUNG CẢNH
THẾ GIỚI
VỪA TR̀NH BÀY
Theo tác giả,
vị trí quốc tế hiện tại của Việt Nam do các điểm dưới đây minh định:
Việt Nam là một nước nhỏ và kém mở mang thuộc xă hội Đông Á và lúc
bấy giờ Việt Nam vừa thoát khỏi ách thực dân và đang cần phải Tây
phương hóa bảo vệ độc lập và để phát triển đời sống kinh tế hầu xây
dựng hạnh phúc cho nhân dân.
Việt Nam là
một nước nhỏ và kém mở mang v́ những lư do sau đây:
- Thiếu kỹ
thuật và phương tiện kỹ thuật sản xuất.
- Do đó lợi
tức quốc gia thấp kém.
- Do đó mức
sống của toàn dân thấp và thiếu.
- Sự mưu sống
hằng ngày chiếm hết thời gian và năng lực, đời sống văn hóa không mở
mang.
- Sự sáng tác
kém giá tri và sự góp phần vào văn minh của nhân loại không có.
Việt Nam
thuộc xă hội Đông Á.
Xă hội Đông Á
gồm có các nước Đài Loan, Nhật Bổn, Triều Tiên và Việt Nam bao quanh
đại lục Trung Hoa.
Trong hơn sáu
ngàn năm lịch sử, các quốc gia trong xă hội này đều đă tiến hóa từ
nền văn minh phát sinh trong đất Hán và lấy Hán tự làm nền tảng và
phương tiện cho sự phát triển trong các lănh vực.
Hậu quả của
thuộc địa Pháp
Khi thực dân
Pháp rời khỏi Việt Nam, do đường lối đế quốc khắc nghiệt của Pháp,
Việt Nam lâm cảnh thiếu hụt người lănh đạo chính trị xứng danh v́
những lư do sau:
Những kiến
thức và kinh nghiệm của họ đều rời rạc và vặt vạnh v́ như câu tục
ngữ thường nói, họ không nh́n thấy rừng mà chỉ nh́n thấy từng gốc
cây. Phụ trách từng gốc cây th́ được, nhưng không phụ trách toàn thể
khu rừng được và thêm vào đó là một tâm lư vô trách nhiệm.
Nhiều loại
phản ứng
Nhật Bản: Óc
sáng suốt và phi thường của những nhà lănh đạo Nhật Bản lúc ấy đă
cấp thời t́m ra những giải pháp này: Học kỹ thuật của địch thủ để
thắng địch thủ, chế ngự kỹ thuật của địch thủ để thắng địch thủ. Các
sự kiện trên đây là nguồn gốc của cuộc cách mạng duy tân của Nhật
thời Minh Trị.
Nước Nhật đă
thành công trong công cuộc Tây phương hóa để chống lại người Tây
phương. Độc lập vẫn c̣n, chủ quyền vẫn nguyên, người Nhật cũng như
ngời Nga đă hoàn toàn chủ động công cuộc Tây phương hóa của họ. V́
vậy cho nên, không lúc nào có sự gián đoạn trong việc diễn tiến của
lịch sử của họ.
Trung Hoa và
Thái Lan cũng bị sự tấn công của Tây phương như Nhật Bản. Nhưng các
nhà lănh đạo lại lựa chọn thái độ bảo vệ trạng thái điều ḥa của nền
văn minh cũ. Tuy nhiên chủ quyền trong hai quốc gia trên không hoàn
toàn mất nên xă hội của họ không bị tan ră và không hề bị gián đoạn
trong sự lănh đạo.
Việt Nam: Sau
cuộc chiến bại, nước Việt Nam bị chiếm làm thuộc địa. Chủ quyền bị
mất hẳn, việc lèo lái con thuyền của chúng ta không c̣n ở trong tay
của chúng ta nữa. Và sự kiện ấy đă xảy ra, v́, trong một giai đoạn
quyết liệt của lịch sử dân tộc, chúng ta đă gặp phải một lớp người
lănh đạo thiếu sáng suốt và thiếu thiết thực, kiêu căng và không
thức thời, không chịu phóng tầm mắt mà nh́n vào vấn đề thiết thực
của dân tộc, tự giam hăm trí óc trong những quan niệm chật hẹp về
quyền bính và triều đại.
Hậu quả
tai hại nhất mà thời kỳ Tây thuộc đă để lại cho chúng ta là sự tan
ră của xă hội Việt Nam và sự gián đoạn trong việc lănh đạo quốc gia.
Lănh đạo
quốc gia gián đoạn.
Tác giả nhận
định rằng: Sức mạnh của nước Anh hay nước Mỹ bắt nguồn trước hết từ
chỗ hai quốc gia này đă thực hiện được việc liên tục lănh đạo quốc
gia trong gần 200 năm. Một nhà lănh đạo Anh, ngày nay bước lên nắm
chính quyền, là tức khắc sau lưng ḿnh có 400 năm kinh nghiệm và văn
khố làm hậu thuẫn.
Trên phơng
diện này, và với thời gian qua, cách mạng năm 1789 của Pháp, mang
đến nhiều cuộc xáo trộn trong xă hội Pháp, là một biến cố có hại
nhiều hơn có lợi cho quốc gia Pháp.
Nước Nga sau
cuộc cách mạng 1917 đă thành công trong cuộc phát triển dân tộc và
duy tân xă hội. Nhưng họ phải trả bằng một giá rất đắt và phải sau
hơn ba mươi năm, mới chế ngự được các chấn động do sự gián đoạn về
lănh đạo gây nên.
Từ đó, tác giả
kết luận rằng: Sự lănh đạo quốc gia liên tục quyết định tŕnh độ
thăng tiến của quốc gia.
Điều kiện
của một sự lănh đạo liên tục.
Tác giả minh
định ba điều kiện căn bản:
- Không bao
giờ thay đổi được tư tưởng của người lănh đạo trong lúc họ đang hành
động.
- Người lănh
đạo dù tài ba đến đâu cũng có lúc cần phải được thay đổi, v́ tư
tưởng không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế.
- Sự lănh đạo
quốc gia liên tục một khi được bảo đảm, di sản dĩ văng của quốc gia
càng thêm phong phú, và quốc gia càng giàu người lănh đạo.
V́ những lư do
trên, nên một chế độ độc tài, mà bản chất là dựa, trước hết, trên
nguyên tắc không thay đổi người lănh đạo, không thể phù hợp với thực
tế. Và không phù hợp với thực tế là không thực hiện được sự lănh đạo
quốc gia liên tục.
Việt Nam
đang cần phải Tây phương hóa để phát triển dân tộc.
Tác giả dùng
ví dụ thất bại của Ấn Độ từ thời Gandhi do không Tây phương hóa toàn
diện nên xă hội Ấn Độ đến nay vẫn c̣n chậm tiến. Ngược lại, Nhật Bản
do chính sách Tây phương hóa toàn bộ đến mức độ cao nên đă thành
công trong việc biến nước Nhật thành cường quốc.
Điều quan
trọng là sau khi thâu thập được kỹ thuật th́ các quốc gia phải tiến
đến tŕnh độ thâu thập khả năng sáng tạo kỹ thuật như trường hợp của
Nhật...
Tác giả khẳng
định rằng: Chỉ khi nào các chuyên viên của chúng ta, sau khi đă hấp
thụ được các kỹ thuật và khoa học của ngành ḿnh, lại ư thức rơ rệt
rằng, chỉ vừa bước đi qua một giai đoạn sơ khởi, và c̣n cần phải nỗ
lực để đoạt đến chỗ chế ngự được khả năng sáng tạo trong ngành của
ḿnh, th́ lúc bấy giờ cuộc Tây phương hóa của chúng ta mới đi đúng
đường và có hy vọng thành công.
Nghĩa là
phải học cho được cái bí quyết của
người Tây phương đă giúp cho họ đẻ ra khoa học và kỹ thuật.
Đặc tính
của văn minh Tây phương.
Tác giả luôn
luôn đề cao các đặc tỉnh bất di bất dịch của văn minh Tây phương, đó
là: Chính xác về lư trí, ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức. Và
chính nhờ có những đặc tính này, mà nền văn minh Tây phương đă sáng
tạo ra khoa học. Nhưng chính người Tây phương đă thừa hưởng những
đặc tính đó của văn minh Hy Lạp và La Mă. Chính xác về lư trí, ngăn
nắp và minh bạch trong tổ chức đă nằm sẵn trong lối kiến trúc câu
văn của Hy Lạp cũng như của La Mă.
Tưởng nên nhắc
lại một lần nữa rằng người Tây phương không phải chỉ ngăn nắp, minh
bạch trong tổ chức và chính xác về lư trí riêng trong lĩnh vực khoa
học mà thôi. Họ đă ngăn nắp, minh bạch tổ chức và chính xác về lư
trí trong câu văn, lời nói, hành động và đời sống hàng ngày. Trải
qua nhiều thế kỷ các đức tính ấy đă được hun đúc thành tinh thần kỹ
thuật Tây phương.
Tác giả đề cao
vai tṛ của người phụ nữ một cách rất hợp lư khi viện dẫn đến vị trí
của họ trong gia đ́nh: Chúng ta phải ngăn nắp, minh bạch trong tổ
chức và chính xác về lư trí trong tất cả các lĩnh vực của đời sống.
Nghĩa là ngăn nắp, minh bạch trong tổ chức và chính xác về lư trí
phải chi phối tất cả hoạt động của chúng ta, trong gia đ́nh cũng như
ngoài gia đ́nh, từ phạm v́ sinh hoạt thông thường đến những phát
triển cao nhất của lư trí. Do đó, vai tṛ của mỗi người đều quan
trọng, và do đó, vai tṛ của các người đàn bà trong gia đ́nh vô cùng
mật thiết với sự phát triển dân tộc.
Tác giả cũng
viễn tượng đến phấn khí trùng điệp của đại cuộc: Một công cuộc phát
triển dân tộc vĩ đại đến tầm mức ấy, hùng mạnh như nớc hải triều
đang lên, hấp dẫn và lôi cuốn mọi người, v́ đó là lẽ sống của dân
tộc.
Công cuộc này
đặt trọng tâm vào đại chúng và dồn nỗ lực về nông thôn nơi tập trung
đa số nhân lực và tài sản của quốc gia.
Tôn giáo và
công cuộc phát triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa.
Tác giả suy
luận từ hai loại giáo lư khác nhau mà các tôn giáo có mức độ tham
gia khác nhau:
Loại thứ nhất
gồm Gia Tô Giáo và Hồi Giáo, là các giáo lư công nhận đời sống ở thế
gian này là sự thật và t́m cách giải quyết các vấn đề của nhân loại
ngay trong cơi đời này.
Loại thứ hai
gồm Phật Giáo, Lăo Giáo và Ấn Độ Giáo, là các giáo lư phủ nhận đời
sống ở thế gian này, không t́m cách giải quyết các vấn đề của nhận
loại trong đời sống ở thế gian này và chỉ chú trọng đến đời sống ở
thế giới bên kia.
Phát triển
dân tộc và tôn giáo Việt Nam.
Nước Việt Nam,
theo truyền thống văn hóa, nằm trong xă hội Trung Hoa và chịu ảnh
hởng văn hóa của Tàu. Về phương diện tôn giáo, Phật Giáo và Lăo
Giáo đă ăn sâu vào đại chúng. Nhưng, cũng như ở Trung Hoa, sự phủ
nhận đời sống hiện tại của hai giáo lư này đă được luân lư xă hội
của Khổng Mạnh quân b́nh. Nhờ đó mà có thể nói rằng quần chúng Việt
Nam sẵn sàng tham gia một công cuộc phát triển dân tộc. Theo sự kiện
phân tích trên đây thiểu số tín đồ Thiên Chúa Giáo, sẽ đóng góp một
sự tham gia tích cực vào công cuộc phát triển dân tộc.
Lẽ thứ hai là
ngay trong Phật Giáo cũng có hai thái độ. Thái độ xuất thế, để t́m
sự cứu rỗi cho bản thân, không phải trong đời sống này mà cho đời
sống bên kia thế giới. Thái độ nhập thế, để t́m cách cứu độ chúng
sanh ngay trong cơi đời này.
Hai cơ hội
phát triển.
Tác giả đă
viện dẫn các luận điểm chí lư như sau:
Cơ hội thứ
nhất.
Vào khoảng các
năm 30 của thế kỷ 19, sự phát triển và bành trướng của cường quốc Âu
Châu đă lên đến một mức độ tối cao.
Năm 1842 người
Anh gây chiến tranh Nha Phiến ở Trung Hoa và mở màn cho một cuộc
tổng tấn công vào xă hội Đông Á. Sự dung vơ lực để mở Hải Cảng Uraga
của Nhật năm 1853 của Đại Tá Hải Quân Mỹ Perry và cuộc pháo kích Đà
Nẵng năm 1856 của chiến thuyền Catinat của Pháp đều là những sự kiện
đồng thời và do một nguyên nhân sanh ra.
Nguy cơ tuy
lớn lao thật, nhưng, đồng thời, lại là một cơ hội để Tây phương hóa,
phát triển dân tộc. Bởi v́, sự bành trướng mạnh mẽ của hai Đế quốc
Anh và Pháp, vừa là một nguồn mâu thuẫn giữa, một bên, hai đế quốc
lớn, một bên, các quốc gia khác ở Tây phương.
Hoàn cảnh nội
bộ của Việt Nam lại càng bi đát hơn nữa. Sau một cuộc nội chiến, tàn
khốc và tiêu hao, kéo dài từ năm 1620 đến năm 1802, Nhà Nguyễn vừa
thống nhất quốc gia được bốn mươi năm, th́ họa xâm lăng Tây phương
lại ồ ạt kéo đến. Những điều kiện chủ quan, như trên đă tŕnh bày,
quốc gia Việt Nam hoàn toàn không có.
Cơ hội thứ
hai
Gần một thế kỷ
sau, mâu thuẫn nội bộ giữa các cường quốc Tây phương lại bộc phát
lên một cách dữ dội và dẫn dắt đến hai cuộc thế giới chiến tranh mà
chúng ta đều biết. Chiến tranh chưa chấm dứt, sự tranh chấp, giữa
hai quốc gia đă chiến thắng trong trận thế chiến hai, nay lănh đạo
hai khối chính trị trên thế giới, đă tạo ra cho các quốc gia, bị Tây
phương xâm chiếm, một cơ hội duy nhất để tranh giành độc lập và phát
triển dân tộc.
Do đó, thuyết
cộng sản, một sản phẩm của Tây phương, đă đương nhiên biến thành một
lợi khí, trong tay của Nga Sô, để đánh lại Tây phương trên hai mặt,
trong và ngoài.
Tuy nhiên, các
nhà lănh đạo Tây phương đă đủ già tay ấn để dẫn dắt xă hội Tây
phương vượt qua được các cơn sóng gió. Sự phát triển, vẫn hùng mạnh,
trong xă hội Tây phương hiện nay, chứng minh rằng xă hội này, đă
vượt qua cơn khủng hoảng và đă xây dựng được những cơ cấu xă hội
thích nghi với các lực lượng sản xuất mới, mà không cần phải áp dụng
phương thuốc cộng sản.
Và như thế
trong một thế giới gồm nhiều cường quốc, như thế giới hiện tại, nếu
loại mâu thuẫn này chấm đứt, th́ thế nào giữa các cường quốc cũng
nảy sinh ra những loại mâu thuẫn khác. V́ vậy cho nên, miễn là thiểu
số lănh đạo xứng danh của chúng ta c̣n, là chúng ta c̣n cơ hội phát
triển. Cơ hội phát triển của chúng ta khác với cơ hội phát triển của
các khối lớn, như Trung Hoa hay Ấn Độ, là ở chỗ đó.
ĐIỀU KIỆN
NỘI BỘ.
Liên lạc với
Trung Hoa.
Tác giả nhấn
mạnh sự kiện then chốt này và những lỗi lầm trong quá khứ cũng như
đề nghị các biện pháp chống ngoại xâm như sau:
Từ khi lập
quốc, năm 939, đến khi bị sự tấn công của Tây phương và biến thành
một thuộc địa của đế quốc Pháp, hai sự kiện hoàn toàn chi phối chín
trăm năm lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Hai sự kiện đó
là sự liên lạc với Trung Hoa và công cuộc Nam tiến.
Từ năm 972,
sau khi đă nh́n nhận độc lập của Việt Nam rồi, lúc nào Trung Hoa
cũng nghĩ rằng đă mất một phần lănh thổ quốc gia, và lúc nào cũng
khai thác mọi cơ hội đưa đến, để thâu hồi phần đất mà Trung Hoa xem
như là của họ. Bên kia, Việt Nam lúc nào cũng nỗ lực mang xương máu
ra để bảo vệ nền độc lập của ḿnh.
Ngay năm 981,
nghĩa là vừa ba năm sau khi đă nh́n nhận độc lập của Việt Nam, Tống
triều thừa lúc nội chính Việt Nam có biến, gởi sang Việt Nam hai đạo
quân, do đường thủy và đường bộ, để đặt lại nền thống trị của Trung
Hoa.
Trung Hoa,
suốt gần một ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà
Trung Hoa coi như bị tạm mất.
Chính sách này
do một điều kiện địa dư và kinh tế ấn định: Lưu vực sông Hồng Hà là
đường thoát ra biển thiên nhiên của các Tỉnh Tây Nam của Trung Hoa,
và ngược lại cũng là con đường xâm nhập cho các đạo quân chinh phục
vào nội địa Trung Hoa. Đă như vậy th́, ngay bây giờ, ư định của
Trung Cộng vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải hết nước Việt Nam,
th́ ít ra cũng Bắc phần.
Xem thế đủ
biết rằng, đối với dân tộc chúng ta họa xâm lăng là một mối đe dọa
thường xuyên. Bởi v́ họa xâm lăng, do vị trí địa dư của chúng
ta vào t́nh trạng nội bộ của chúng ta mà ra, và bao giờ hai yếu tố
đó chưa thay đổi được th́ họa xâm lăng vẫn c̣n.
Tâm lư
thuộc quốc.
Họa xâm lăng
đe dọa dân tộc chúng ta đến nỗi, trong suốt một ngàn năm lịch sử từ
ngày lập quốc, trở thành một ám ảnh cho tất cả các nhà lănh đạo của
chúng ta. Và do đó mà lịch sử ngoại giao của chúng ta lúc nào cũng
bị chi phối bởi một tâm lư thuộc quốc.
Hai lần Lư
Thường Kiệt và Nguyễn Huệ t́m cách đả phá không khí lệ thuộc đỏ.
Nhưng mặc dầu những chiến công lừng lẫy và tài ngoại giao rất khéo,
hai nhà lănh đạo trứ danh của dân tộc vẫn phải khuất phục trước thực
tế.
Một câu hỏi mà
chúng ta không thể tránh được: Chúng ta là một dân tộc ở sát bờ
biển, nhưng sao nghệ thuật vượt biển của chúng ta không phát triển ?
Nếu chính sách ngoại giao của chúng ta phong phủ hơn, và không bó
hẹp vào một đường lối duy nhất, có lẽ sự bành trướng của dân tộc
chúng ta, đă sớm phát ra nhiều ngơ, và sinh lực của chúng ta không
phải chỉ dồn vào mỗi một công cuộc Nam tiến hiệu hơn.
Sự bành trướng
của chúng ta đă thâu hẹp lại và chỉ theo có một chiều, bỏ hẳn cửa
biển bao la đáng lư ra phải là cái cửa sống cho chúng ta.
Chính sách
chống ngoại xâm.
Những sự thần
phục và triều cống chỉ là những biện pháp hoăn binh. Và vấn đề chống
ngoại xâm chưa bao giờ được các triều đại Việt Nam đặt thành một
chính sách đương nhiên và nguyên tắc, đối với một nước nhỏ, như nước
chúng ta. V́ thế cho nên, những biện pháp cần được áp dụng, như biện
pháp ngoại giao, đă không hề được sử dụng khi Tây phương xâm chiếm
nước ta.
Tuy nhiên biện
pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của
chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và
phát huy ư thức quốc gia và dân tộc. Đồng thời, áp dụng một chính
sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lănh đạo, để cho vấn đề
lănh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.
Những ư chí
quật cường đó đến cao độ, mà không người lănh đạo th́ cũng không làm
ǵ được đối với kẻ xâm lăng. V́ vậy cho nên, đồng thời với những
biện pháp quần chúng nói trên, cần phải áp dụng những biện pháp giáo
dục, làm cho mỗi người dân đều quen biết với vấn đề lănh đạo, và
điều này c̣n chính yếu hơn nữa, làm cho số người thấu triệt vấn đề
lănh đạo quốc gia càng đông bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Bởi v́, có
như thế, những người lănh đạo mới không bao giờ bị tiêu diệt hết
được. Tiêu diệt người lănh đạo là mục đích đầu tiên và chính yếu
của các quốc xâm lăng.
Bản chất của
một chính thể chuyên chế và độc tài là giữ độc quyền lănh đạo quốc
gia cho một người hay một số rất ít người, để cho sự thấu triệt các
vấn đề căn băn của quốc gia trở thành, trong tay họ, những lợi khí
sắc bén, để củng cố địa vị của người cầm quyền.
Riêng về dân
tộc chúng ta, chắc chắn rằng sự kháng cự của chúng ta đối với sự xâm
lăng của Tây phương sẽ mănh liệt hơn bội phần nếu trước đó, Nhà
Nguyễn, thay v́ lên án tất cả những người bàn về quốc sự đă nuôi
dưỡng được tinh thần tự do và độc lập của mỗi người và phát huy ư
thức quốc gia và dân tộc trong nhân dân.
Ngược lại, mấy
lần dân tộc thắng được ngoại xâm, từ nhà Trần đánh đuổi Mông Cổ, đến
Nhà Lê đánh quân Minh và Quang Trung chiến thắng Măn Thanh, đều nhờ
ở chỗ các nhà lănh đạo đă khêu gợi được ư chí tự do và độc lập của
toàn dân.
Nếu bây giờ
chúng ta chưa có ư thức rơ rệt chính thể ấy phải như thế nào, th́
ngay bây giờ chúng ta có thể quan niệm được rằng chính thể đó không
thể là một chính thể chuyên chế hay độc tài được. Đó là một thái độ
rất rơ rệt.
V́ sao mà
trong 900 năm, chúng ta đi dọc theo bờ biển từ Bắc chí Nam, mà không
lúc nào chúng ta bị sự quyến rũ của trùng dương, đến mức vượt biển
t́m đất sống ?
Qua luận điểm
này tác giả xác quyết vai tṛ tối quan trọng của ba triệu Người Việt
hải ngoại đang sinh sống khắp mọi nước trên thế giới. Chúng ta sẽ
bàn về vai tṛ đặc biệt của khối đồng bào hải ngoại đối với vận mệnh
dân tộc trong một tài liệu riêng.
Cơ sở hạ
tầng vô tổ chức.
Phần lớn đất
mới chiếm cứ, trên đó dân cư thưa thớt, tổ chức xă hội chưa có, tập
quán cổ truyền của dân tộc chưa cố định trong đời sống thường ngày
của dân chúng, ư thức quê hương xứ sở chưa ăn rễ vào khung cảnh mới,
là một nhược điểm trên thân thể quốc gia, về phương diện quốc pḥng.
Đó là những nơi mà kẻ xâm lăng đánh vào trước hết, bởi v́ họ cũng ư
thức rằng, sức kháng cự của một lớp dân chúng chưa mọc rễ vào địa
phương chắc chắn sẽ không đảng kể.
V́ vậy mà,
miền Nam dưới Triều Nguyễn, đă trở thành một vùng hiểm địa cho toàn
lănh thổ.
Những cái
vốn của lịch sử
Dưới thời
Pháp thuộc, chúng ta phải trải qua một quá tŕnh Tây phương hóa bắt
buộc chỉ có lợi cho thực dân Pháp. Sau khi người Pháp ra đi th́ xă
hội của ta cũng tan ră. Thêm vào đó là sự gián đoạn trong vấn đề
lănh đạo quốc gia.
Quan niệm quét
sạch tàn tích trước, để xây dựng tương lai là một quan niệm ấu trĩ
của quần chúng, không được huấn luyện về ư thức chính trị. Không
người lănh đạo nào, kể cả những người cách mạng cuồng nhiệt nhất, có
quyền nuôi một ư tưởng như vậy. Bởi v́ không có một hành động nào mà
sát hại một dân tộc bằng hành động quét sạch tàn tích trước để xây
dựng tương lai, v́ như thế có nghĩa là không bao giờ chúng ta xây
dựng được một kho tàng kinh nghiệm để làm hậu thuẫn cho sự lănh đạo
quốc gia.
Vấn đề
chính cho dân tộc là vấn đề phát triển.
Như chúng ta
đă biết, vấn đề thiết yếu mà dân tộc chúng ta cần phải giải quyết
trong giai đoạn này là công cuộc phát triển dân tộc bằng cách Tây
phương hóa.
Các nhà lănh
đạo miến Bắc, khi tự đặt ḿnh vào sự chi phối của Trung Cộng, đă đặt
chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu
có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của
chúng ta, mà lại c̣n đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.
Sở dĩ, tới
ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành
h́nh, là v́ hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn
tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa
chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị
Bắc Việt thôn tính, th́ sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một
vấn đề thời gian.
Ba nhược
điểm:
Tác giả phác
thảo một cuộc kiểm tra về các nhược điểm cho vấn đề phát triển dân
tộc:
Một là dân số
tương đối ít: Cái vốn nhân lực của chúng ta cũng là đáng kể.
Nhược điểm thứ
hai là thiếu tính khí. Bản tính của người Việt Nam cần cù và chịu
khó, và bẩm chất rất là thông minh. Sự khiếm khuyết về tính khí
không phải là một trở lực bởi v́ đó là một đức tính mà giáo dục có
thể đào tạo được, trong khi khiếu thông minh là một thiên tính. Sự
khiếm khuyết về tính khí do nhiều nguyên nhân lịch sử gây ra, trong
số đó có những yếu tố mà chúng ta đă nhắc đến trong đoạn trên đây về
vấn đề Nam tiến của dân tộc.
Nhược điểm thứ
ba của cái vốn nhân lực của chúng ta là sự vô tổ chức do thiếu tinh
thần sống tập thể là hậu quả của cuộc Nam tiến. Đó là một nhược điểm
vô cùng tai hại, bởi v́ tập thể quốc gia cần đ̣i hỏi ở người dân một
tinh thần tập thể mà không ai hun đúc cho họ trong mấy thế kỷ.
Tính cách
thiết yếu của các tổ chức quần chúng.
Không có tổ
chức quần chúng việc lănh đạo quốc gia không làm sao thực hiện được.
Nhân dân không biết hướng mà đi và người lănh đạo không làm sao
hướng dẫn quần chúng được.
Tổ chức quần
chúng là một tổ chức gồm những người làm cùng một nghề, hoặc cùng
làm việc chung tại một vị trí, hoặc những ngời cùng đeo đuổi một
mục đích xă hội, văn hóa hay thể thao, hoặc những người cùng một
quyền lợi kinh tế.
Vấn Đề Kinh
Tế:
Tác giả bàn
đến vấn đề tài nguyên, tăng lợi tức đầu người và việc đóng góp trang
bị kỹ nghệ.
Lại tâm lư
thuộc quốc.
Tâm lư thuộc
quốc bắt nguồn từ hai sự kiện. Tương quan lănh thổ và dân số giữa
hai quốc gia là một nguyên nhân tự ty mặc cảm. Sự lệ thuộc của Việt
Nam đối với văn hóa Tàu là một lư do khác. Tương quan lănh
thổ và dân số là hai điều kiện vật chất hiển nhiên khó thay đổi
được. Tuy nhiên, trong khung cảnh chính trị của thế giới ngày nay,
sự bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa không c̣n nằm trong khuôn
khổ xưa nữa và không c̣n là một sự kiện chỉ liên quan đến hai quốc
gia.
Như thế th́,
nếu chúng ta có một sự lănh đạo sáng suốt để bảo đảm công cuộc phát
triển dân tộc, th́ cơ hội, đương nhiên sẽ đến với chúng ta để giải
quyết một vấn đề đă đặt ra cho dân tộc từ một ngàn năm nay, và hai
lần Lư Thường Kiệt và Nguyễn Huệ đă cố t́m giải pháp: Cởi bỏ cho dân
tộc tâm lư thuộc quốc đối với Trung Hoa.
Tuy nhiên, các
nhà lănh đạo cộng sản Bắc Việt không tỏ ra ư thức tính cách quan
trọng của cơ hội này.
PHẦN IV
MỘT LẬP
TRƯỜNG THÍCH HỢP VỚI CÁC NHẬN XÉT TRÊN
Vấn đề lănh
đạo
Bộ máy lănh
đạo của một quốc gia được ấn định bởi chính thể lựa chọn. Sự lựa
chọn chính thể lại tùy thuộc ở quan niệm về vấn đề lănh đạo. Khối
cộng sản và khối Tự Do, ngày nay khác nhau, trên phương diện h́nh
thức, ở chỗ một bên chủ trương chính thể độc tài đảng trị, một bên
chính thể Dân Chủ Pháp Trị
Quan niệm
lănh đạo.
Lănh đạo là
duy tŕ trạng thái thăng bằng động tiến giữa quyền lợi ngắn hạn cá
nhân của các phần tử của cộng đồng và quyền lợi dài hạn của cộng
đồng. Sự phát triển của cộng đồng sẽ được bảo đảm nếu những nỗ lực
duy tŕ trạng thái thăng bằng động tiến thành công.
Áp lực bành
trướng của từ phương Bắc sẽ măi măi đè nặng và ḱm hăm sự phát triển
của dân tộc cho tới ngày nào mà chúng ta, như Lư Thường Kiệt và
Nguyễn Huệ đă nuôi ư chí, tiêu diệt được sự đe dọa xâm lăng của
Trung Hoa.
Tác dụng
của lư thuyết Cộng Sản.
Tác giả đă
biện luận mạnh mẽ như sau:
Trong t́nh thế
chính trị chúng ta đang mục kích, sự qui phục thuyết cộng sản của
các nhà lănh đạo Bắc Việt, tự nó là một sự thần phục Trung Cộng, như
các triều đại xưa của chúng ta thần phục Trung Hoa. Và sự thống trị
bằng lư thuyết của Trung Cộng đối với Bắc Việt ngày nay, nếu không
có các trở lực quốc tế, sẽ bội phần ác nghiệt hơn các sự thống trị
mà nước Tàu đă dành cho chúng ta từ gần một ngàn năm.
T́nh thế ngày
nay là một cơ hội duy nhất để cho chúng ta thực hiện ư chí, của Lư
Thường Kiệt và Nguyễn Huệ, cởi cái ách tâm lư thuộc quốc cho dân
tộc. Nếu chúng ta lỡ cơ hội, sự lệ thuộc của dân tộc đối với Trung
Hoa sẽ kéo dài nhiều ngàn năm nữa và cái khối Trung Hoa vĩ đại, của
các lănh tụ cộng sản, sẽ mang đến cho dân tộc cái họa diệt vong. Và
sự qui phục thuyết cộng sản sẽ đương nhiên dọn đường cho dân tộc
Việt Nam lệ thuộc văn hóa mới của Trung Cộng, bởi v́ các nhà lănh
đạo cộng sản Bắc Việt đă chấp nhận một sự lệ thuộc tư tưởng.
Bộ máy lănh
đạo.
Tác giả đề
nghị một mô thức bao gồm ba điều kiện dưới đây để bảo đảm sự điều
hành thiết thực và ngắn hạn của bộ máy lănh đạo.
- Phải bảo đảm
một sự lănh đạo quốc gia mở rộng, mục đích đào tạo nhiều người lănh
đạo.
-
Phải bảo đảm sự kiểm soát người cầm quyền.
- Phải bảo đảm
sự hữu hiệu của chính quyền.
Áp dụng vào
Việt Nam.
Tác giả đề
nghị hệ thống lưỡng đảng và một Thượng Hội Đồng Quốc Gia, gồm những
người có công trạng với tổ quốc và thấu triệt các vấn đề lănh đạo
quốc gia, mà số lượng sẽ phù hợp với hoàn cảnh.
Hai đảng chính
trị có nhiệm vụ mở rộng vấn đề lănh đạo và đào tạo nhiều người lănh
đạo.
Dưới bộ máy
lănh đạo, có bộ máy hành chính, bộ máy quân sự và bộ máy tổ chức
quần chúng. Bộ máy lănh đạo là cái năo, bộ máy hành chính và bộ máy
quân sự là chân tay, và bộ máy tổ chức quần chúng là cái vận tống để
đưa bộ mảy lănh đạo đến nhân dân và đưa nhân dân đến bộ máy lănh
đạo.
Các tổ chức
quần chúng công nhân và nông dân.
Ở trên các tổ
chức nghiệp đoàn và các tổ chức họp tác xă một bậc, về tính cách
tinh vi của tổ chức và kỹ thuật chuyên môn khá cao, mà sự điều khiển
các tổ chức này sẽ đ̣i hỏi, có các tổ chức hỗ tương bảo hiểm. Bảo
hiểm về bệnh hoạn, bảo hiểm về tai nạn lao động, bảo hiểm về trâu
ḅ, bảo hiểm về sinh sản và về già cả. Tất cả các tổ chức tương hỗ
bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ trên nhiều phương diện và bằng nhiều
h́nh thức quyền lợi cá nhân của các phần tử của tập thể, đồng thời
phát huy tinh thần tập thể của cá nhân.
Tác giả đă
đề ra mọi kế hoạch bao quát cho hầu hết mọi sinh hoạt của quốc gia:
Giáo dục quần
chúng.
Các chương
tŕnh giáo dục quần chúng là những khí cụ cần thiết và hữu hiệu để
hậu thuẫn cho công cuộc Tây phương hóa ăn sâu và lan rộng trong dân
chúng, như chúng ta đă biết.
Nghiệp đoàn
Tây phương.
Tổ chức nghiệp
đoàn là một yếu tố quân b́nh quan trọng trong bộ máy quốc gia.
Tổ chức quần
chúng nông thôn.
Các tổ chức
quần chúng quan trọng nhất của chúng ta về số lượng là các tổ chức
quần chúng nông thôn. Theo số ước lượng, quần chúng nông thôn của
chúng ta chiếm một bách phân từ 70 đến 80 phần trăm dân số.
Lĩnh vực kinh
tế-Quyền sở hữu.
Trong tất cả
các yếu tố, xác nhận quyền lợi cá nhân của các phần tử trong một tập
thể, th́ quyền sở hữu là bảo đảm hữu hiệu và cụ thể nhất cho tự do
cá nhân.
Điền địa.
Kỹ nghệ.
1.- Giới hạn
bằng cách quốc hữu hóa những kỹ nghệ trực tiếp liên quan đến quốc
pḥng, và những kỹ nghệ thiết yếu cho đời sống hằng ngày của đa số
nhân dân.
Lĩnh vực văn
hóa.
Văn minh Tây
phương và Đặc tính Dần tộc
Phần hấp
thụ.
Kỹ thuật Tây
phương.
Kỹ thuật Tây
phương là một lề lối, đến với vấn đề t́m
hiểu vấn đề giải quyết vấn đề và
tổ chức vấn đề, mà tinh thần chính xác của văn
minh Tây phương đă sáng tạo. Như thế th́, trong công cuộc thu thập
kỹ thuật Tây phương, có hai công tác chính rất là rơ rệt. Một mặt
thâu nhận kỹ thuật Tây phương trong mọi lĩnh vực. Một mặt phổ biến
các kỹ thuật đă thâu nhận ra đại chúng.
Vấn đề chuyển
ngữ.
Công việc
phiên dịch các loại tài liệu ngoại quốc sang Việt ngữ vẫn là một
công tác tối quan trọng. C̣n có một lư do khác, thuộc về phạm vi
chính trị, bắt buộc chúng ta phải thay thế Pháp ngữ bằng Anh ngữ
trong vị trí ưu tiên ngoại ngữ ở nước ta v́ Anh ngữ là ngoại ngữ
thông dụng nhất trên thế giới.
Vượt qua các
sáng tạo của kỹ thuật Tây phương.
Tác giả luôn
nhắc lại một nguyên tắc cố định:
Chính xác về
lư trí.
Ngăn nắp và
minh bạch trong tổ chức.
Các tiêu chuẩn
giá trị.
Tác giả nhắc
đến sự toàn cầu hoá qua tiêu chuẩn cộng đồng nhân loại.
Thực luyện
tính khí.
Tiêu chuẩn giá
trị đă có rồi, tính khí sẽ có cơ hội nảy nở. Đó là nhiệm vụ của tổ
chức giáo dục chính danh và tổ chức giáo dục quần chúng.
Giáo dục quần
chúng.
Kỹ thuật khoa
học ngày nay đă cung cấp cho chúng ta những phương tiện giáo dục
quần chúng hữu hiệu và mănh liệt. Theo thứ tự thời gian phát minh,
chúng ta có thể kể: Sách báo, phim ảnh, vô tuyến truyền thanh, vô
tuyến truyền h́nh...
Tất cả đều là
những dụng cụ sắc bén trong vấn đề giáo dục quần chúng.
KẾT LUẬN
TRỤ MÀ
KHÔNG TRỤ.
Tác giả đă kết
luận Bộ Tài Liệu bằng một giáo huấn thâm thúy:
PHẬT dạy ‘’TRỤ
MÀ KHÔNG TRỤ’’. Thâm ư cao siêu của lời dạy trên bao trùm khắp vũ
trụ. Sự tiến hóa của nhân loại đều căn cứ trên nguyên tắc nằm trong
lời dạy trên. Có trụ mới có vi trí để mà tiến. Nhưng khi vị trí đă
mất tác dụng, mà vẫn cứ cố bám để trụ vào đó th́ mọi tiến hóa lại
chấm dứt, và những kết quả đă thu hoạch được lại có thể bị mất.
Phải trụ vào
cho đúng lúc mới tiến được. Và phải không trụ vào cho đúng lúc mới
bảo đảm được vừa những thắng lợi đă chiếm, vừa con đường tiến cho
tương lai.
Trong t́nh
h́nh chính trị thế giới hiện nay và trong tŕnh độ tiến hóa của nhân
loại hiện nay, các vấn đề của dân tộc Việt Nam, trong thời kỳ này
chỉ có thê t́m được một giải đáp nếu chúng ta trụ vào vi
trí dân tộc.
Vị trí dân tộc
mà chúng ta quan niệm là một vị trí dân tộc nằm trong khung cảnh thế
giới, với tất cả các dây liên hệ tinh thần và vật chất cần phải có.
Các nhà lănh
đạo cộng sản ở miền Bắc đă trụ vào lư thuyết cộng sản trong thời kỳ
tranh giành độc lập. Nhưng chúng ta cũng đă phân tích các lư do v́
sao sự tiếp tục trụ đóng vào phương tiện cộng sản hiện nay, là một
lối bế tắc cho sự nghiệp tiến hóa của dân tộc.
Nếu chúng ta
không thức tỉnh th́ một trong những nạn nhân đầu tiên của sự bành
trướng nói trên sẽ là chúng ta. Chi tưởng tượng đến viễn cảnh đó
cũng đủ cho chúng ta khủng khiếp.
Chúng tôi mong
mỏi những phác thảo thô sơ trên đây đóng góp một phần nhỏ để gợi lên
một đề nghị:
Kính xin
các bậc thức giả để tâm h́nh thành một bộ phận học hỏi và nghiên cứu
để đề xuất đường hướng đào tạo thiểu số lănh đạo xứng danh cho cộng
đồng người Việt hải ngoại và đồng bào quốc nội cho tương lai.
Trân trọng,
Phạm B́nh
Thuận, Ph.D.
CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM:
MỘT
VIÊN NGỌC QUƯ TRONG KHO TÀNG TƯ TƯỞNG,
MỘT
ĐÓNG GÓP LỚN VỀ SOI SÁNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
GS Tôn Thất Thiện
I
Từ lúc tôi
bắt đầu suy tư về t́nh trạng Việt Nam, vào những năm cuối giai đoạn
Trung Học, 1942-1944, rồi qua những năm học hỏi, sưu tầm, giảng dạy
ở Đai Học, từ năm 1947 cho đến nay, 2009, đă 85 tuổi, hưu trí được
liệt vào hạng bố lăo, tôi không ngớt suy tư, sưu tầm, nghiên cứu,
t́m hiểu về vấn đề canh tân, cải tiến Việt Nam để đưa dân tộc ra
khỏi t́nh trạng chậm tiến, khổ cực được dàn ra hàng ngày trước mặt
mọi người.
Danh từ ‘’canh
tân’’ rất thông dụng trong thời Nho Học c̣n thịnh, nay được thay
thế bằng những danh từ mới như: ‘’phát triển’’, ‘’hiện đại hóa’’….Sự
thay đổi danh từ không làm thay đổi vấn đề căn bản của rất nhiều
nước Á, Phi, Nam Mỹ Châu, trong đó có Việt Nam, là những nước ở t́nh
trạng chậm tiến. ‘’Chậm tiến’’ là dẫm chân, thua xa về đời sống yên
ổn, sung túc so với dân các nước Tây Phương, và so với t́nh trạng
khoa học kỹ thuật của nhân loại trong giai đoạn hiện đại. Cho nên
‘’canh tân’’ cũng có nghĩa là ‘’Tây phương hóa’’ và ‘’hiện đại
hóa’’.
Tôi đă được
học hỏi ở những Đại Học có tiếng là đứng hàng đầu thế giới về các
môn Chính Trị, Kinh Tế, Xă Hội Học, tôi đă đọc rất nhiều sách, báo,
về vấn đề phát triển, tôi đă dành rất nhiều th́ giờ quan sát, suy tư
về vấn đề, và cũng đạt được một số nhận xét có thể coi là chính xác,
nhưng tôi không măn nguyện, trí tôi vẫn không yên, v́ tôi chưa thấy
thật rơ ràng và toàn bộ giải pháp dẫn đến sự phát triển mà tôi mong
muốn. Điều này cũng có nghĩa là tôi chưa t́m ra được một cách tiếp
cận hiệu nghiệm để thấy con đường đó. Măi đến năm 2004 tôi mới được
cái may mắn này.
Năm 2004
là năm tôi được nghe nói đến, rồi được đọc, tác phẩm Chính Đề
Việt Nam.
Trong trường
hợp nào tôi đă được cái may mắn đó, tôi đă kể lại trong Đặc San
về Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đ́nh Diêm năm 2004. Trong bài này
tôi sẽ nhắm vào những điểm sau đây:
1.- Nói lên
phản ứng của tôi sau khi đọc hết tác phẩm này, trong tư thế là một
học giả đă để nhiều th́ giờ, nhiều công và tâm trí vào việc t́m hiểu
vấn đề.
2.- Bàn về một số khía cạnh
nhưng không phân tách, nhận xét về toàn bộ của tác phẩm, môt điều
vượt khung cảnh của bài, thay vào đó, phần Phụ Bản đăng nguyên văn
chương đầu ‘’Bối cảnh của vấn đề’’ và chương cuối ‘’Kết luận: Trụ mà
không trụ’’ để giúp các độc giả không có đủ th́ giờ, hoặc không quen
với lối hành văn lập luận trừu tượng, hoặc không có được tác phẩm
trong tay, để đọc toàn bộ tác phẩm, ít nhứt có một ư niệm khá rơ
ràng về những khía cạnh của vấn đề được các tác giả bàn đến, và tóm
tắt, họ chủ trương ǵ ?
II
Đọc xong
Chính Đề Việt Nam, tôi thấy ngay tầm quan trọng của tác phẩm và
tôi đă đề xướng tái bản nó. Nhưng, lúc đó, vấn đề gặp một số trở
ngại về danh tánh của tác giả. Trong phần ‘’Phụ Giải về tái bản
Chính Đề Việt Nam’’ trong Đặc San năm 2007, tôi có nói
rằng ai là tác giả của tác phẩm cũng không quan trọng. Điều quan
trọng là phổ biến rộng răi một công tŕnh đóng góp rất lớn của những
người lănh đạo Cộng Ḥa Việt Nam Đệ I vào sự soi sáng vấn đề phát
triển Việt Nam, để những ai cứu xét vấn đề có thêm dữ kiện để suy
ngẫm. May thay, nay những trở ngại đó không c̣n nữa và tác phẩm đă
được tái bản (dưới h́nh thức một tài liệu học tập nội bộ của những
người thuộc Đệ Nhất Cộng Ḥa, đúng như tác dụng nguyên thủy của nó).
Ở đây, tôi xin
mở một dấu ngoặc để đính chính một điểm: trong ‘’Phụ Giải’’ tôi đă
nói lầm rằng Ông Lê Văn Đồng đă là Bộ Trưởng Bộ Canh Nông năm 1957
thật ra, Ông là Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Lao Động, mà Bộ Trưởng là Ông
Huỳnh Hữu Nghĩa. Hai ông này đều thuộc nhóm thân hữu của ông Ngô
Đ́nh Nhu. Nhân tiện cũng để ghi nhận rằng theo ‘’Lời Trần T́nh’’
trong tái bản, tài liệu xuất bản năm 1964 ở Việt Nam được tái bản
tại Hoa Kỳ năm 1988 ‘’do một nhóm thân hữu đă cùng sát cánh bên nhau
trong nhiều năm, trong ấy phải kể các ông Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng,
Phan Xứng, Đỗ La Lam, và một số thân hữu khác’’, và ‘’dù gặp muôn
vàn khó khăn, nhóm chủ trương quyết định ấn hành tài liệu này nhằm
khởi động sức phấn đấu của dân tộc trong giai đoạn cấp bách hiện
nay’’. Và để nói rơ và lớn lên một điều rất đúng đă được dân chúng
Miền Nam truyền miệng rộng răi vào khoảng năm 2007: (trong khi ‘’Xă
Hội Chủ Nghĩa’’ đă chết nhưng chưa chôn) th́ ‘’Việt Nam Cộng Ḥa đă
chôn nhưng chưa chết’’….
Đúng vậy.
Với
sự phổ biến rộng răi của tác phẩm Chính Đề Việt Nam, những
tư tưởng, suy luận trong đó, và nhứt là phương pháp tiếp cận đưa đến
những giải pháp rất hay được tŕnh bày trong đó, uy tín của chế độ
Đệ Nhất Cộng Ḥa và sự đóng góp của những nhà lănh đạo của chế độ sẽ
được công nhận. Đối với các nhà lănh đạo chính trị và những nhà
nghiên cứu về vấn đề chậm tiến của các quốc gia thuộc vế khối gọi là
‘’Đệ Tam Thế Giới’’, tác phẩm này sẽ được coi như là một tác phẩm
hết sức độc đáo, một đóng góp lớn, một viên ngọc quư trong kho
tàng tư tưởng của nhân loại. Ở đây tưởng nên nhắc đến những
người đóng góp lớn nhứt vào công tŕnh này.
‘’Lời Trần
T́nh’’ trong tái bản của tác phẩm tiết lộ:
‘’Tập tài liệu
bạn có trong tay là kết tụ những nghiên cứu và phân tích dựa trên
kinh nghiệm lịch sử của Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu
cùng một số Phụ Tá thân cận nhằm giúp những
Cán Bộ Quốc Gia nắm vững con đường phát triển dân tộc…‘’Một phần
những đề tài này đă được thảo luận trong hàng ngũ cán bộ lănh đạo
dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa,…nhất là công cuộc xây dựng tầng lớp lănh
đạo có đủ khả năng gánh vác trọng trách trong giai đọan mới cần
nhiều thời gian chuẩn bị, nên lược đồ xây dựng cho tương lai dân tộc
bị gián đoạn từ đó…một số chiến hữu trung kiên đă cho in tập tài
liệu này, nhưng t́nh h́nh chính trị bất ổn, và chính quyền quân sự
lúc đó đang bị nhiều áp lực từ nhiều phía, v́ vậy tập tài liệu quí
hiếm này bị coi là di sản của ‘’chế độ cũ’’
nên ‘’bị chôn vùi và quên lăng.’’
Nhưng tác phẩm
Chính Đề Việt Nam đă không bị quên lăng. Nó xuất
hiện lại, và sự xuất hiện ấy là một nhắc nhở rằng Chế Độ Việt Nam
Cộng Ḥa, qua thời gian, tuy đă bị chôn vùi, nhưng vẫn chưa chết.
Ngày nay nó lại tỏ ra vẫn c̣n sống mạnh và được hănh diện thấy những
cống hiến lớn của nó cho xứ sở được càng ngày càng nhiều người ghi
nhận và thẳng thắn công nhận. Trong đó, sự đóng góp về cách tiếp cận
và đề xướng một giải pháp thích nghi và hữu hiệu vào vấn đề phát
triển các quốc gia chậm tiến là một biểu chứng cụ thể.
III
Sau khi đọc
xong Chính Đề Việt Nam, phản ứng đầu tiên của tôi là:
‘’Trời! Sao ḿnh không được biết đến tài liệu này sớm hơn! Tất cả
những ǵ ḿnh t́m kiếm đều có trong đó. Ḿnh đă mất gần 50 năm
(1960-2007) t́m kiếm những ǵ mà đă có người Việt Nam đă viết lên
rồi’’. Và chắc chắn đây cũng là trường hợp của rất nhiều người Việt
Nam khác. Nói chung, Việt Nam đă mất đi 50 năm quư báu. Một phần
không nhỏ v́ những cuộc xáo trộn năm 1963 và những năm tiếp theo.
Những tư tưởng chứa đựng trong Chính Đề Việt Nam chưa được
phổ biến và áp dụng th́ chế độ Cộng Ḥa Đệ I bị lật đổ, với những
hậu quả rất tai hại cho sự phát triển của Dân Tộc Việt Nam.
Trong tư cách
là một học giả chuyên nghiên cứu về vấn đề phát triển các quốc gia
châm tiến, tôi không ngần ngại quả quyết rằng Chính Đề Việt Nam
là tài liệu xuất sắc nhứt mà tôi đă được đọc trong suốt thời gian
gần 70 năm qua. Không những nó sẽ giúp cho những người liên hệ với
vấn đề phát triển các quốc gia chậm tiến thấy rơ tại sao các chương
tŕnh kế hoạch viện trợ các quốc gia này đă thất bại, mà c̣n cung
cấp cho họ một lối tiếp cận có nhiều triển vọng thành công hơn.
Riêng về Việt Nam, nó là tài liệu đầu tiên mà tôi được biết đến chỉ
rơ con đường dẫn Việt Nam ra khỏi t́nh trạng bi đát của hơn 100 năm
qua. Tác phẩm đă đặt đúng vấn đề và đă soi chiếu ánh sáng vào những
yếu tố then chốt và riêng biệt của các quốc gia chậm tiến, và phân
tách tường tận những yếu tố đó. Phần khác, tác phẩm cũng khảo xét
t́nh trạng các quốc gia lớn đă thực nghiệm những chương tŕnh phát
triển, như Nga, Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ, hoặc những quốc gia tương tự
Việt Nam, và đưa ra những nhận xét rất hữu ích cho người Việt. Riêng
về Nga, Trung Hoa, và Việt Nam những kết luận của Tùng Phong đưa ra
lúc soạn tài liệu này, vào khoảng những năm 1957-1960, ngày nay,
2009, có thể nói là tiên tri.
Những điều
trên đây, từ điểm quan sát 2009 nh́n lui, tôi thấy rơ, v́ đó
là những điều tôi đă được nghe, đọc, thấy, suy ngẫm, từ những năm
1949-1952, lúc tôi học ở Trường L.S.E. (London School of
Economics). Trường này được coi là lớn hạng nhất của Liên Hiệp Anh
(Commonwealth). Tuy mang tên ngắn gọn là L.S.E., nhưng tên đúng của
nó là ‘’London School of Economics and Political Science’’. Thực ra,
nó được coi là một trường chuyên về Xă Hội Học. Dù sao Kinh
Tế/Economics cũng là môn chính trong chương tŕnh giảng dạy của nó.
Do đó nó chú tâm về môn ‘’Economic Development’’ (Phát triển Kinh
Tế) là một điều tự nhiên. Sự chú tâm này phản ảnh những lo âu của
các giới chính trị kinh tế Tây phương trong những năm đầu sau Chiến
Tranh Thế Giới II, phải đương đầu với vấn đề tái thiết và lập lại ổn
định, và với những đ̣i hỏi cải thiện gấp rút đời sống của các quốc
gia Á, Phi, Nam Mỹ. Thêm vào đó lại khởi phát một cuộc tranh chấp
giữa Hoa Kỳ và Nga Sô trong một chiến tranh lạnh bao trùm thế giới.
Hậu quả của
những chuyển biến trên đây là thế giới cần một sự phát triển kinh
tế quy mô và nhanh chóng. Lúc đó, chỉ Hoa Kỳ có khả năng trợ giúp
các quốc gia khác đồng minh đương nhiên v́ đồng chế độ, hoặc thuộc
khối ‘’không liên kết’’ cần lôi kéo về phía ḿnh v́ Hoa Kỳ là quốc
gia duy nhất không bi tàn phá, kinh tế phát triển vượt bực để phục
vụ nhu cầu không những của ḿnh, mà của toàn thể khối Đồng Minh.
Phần khác, Hoa Kỳ cũng cần duy tŕ sản xuất kinh tế để tránh những
xáo trộn do một cuộc giảm sút kinh tế lớn gây ra.
V́ những
lư do nêu trên, các Đại Học, các học giả trứ danh về kinh tế học,
các chuyên gia kinh tế, các giới kinh tế-tài chánh, các giới truyền
thông, chính trị gia, nhất là ở Hoa Kỳ, đổ xô vào việc nghiên cứu,
bàn luận, đề xuất lư thuyết về phát triển. Các Chính Phủ Hoa Kỳ đưa
ra những chương tŕnh ngoại viện lớn, các kế hoạch này được Quốc Hội
thông qua dễ dàng và được dân chúng ủng hộ rộng răi.
Có hai loại
ngoại viện:
1.- Viện
trợ các quốc gia đồng minh cũ, thuộc Tây Âu.
2.- Các quốc
gia chậm tiến, hoặc thuộc ảnh hưởng Hoa Kỳ, hoặc ‘’không liên kết’’.
Loại đầu là Chương Tŕnh Marshall, loại thứ hai là ‘’Point IV’’ Điểm
thứ tư, được gọi như vậy v́ đó là điểm thứ tư trong môt bài diễn văn
lớn của Tổng Thống Truman năm 1947 tuyên bố quyết tâm Hoa Kỳ trợ
giúp các quốc gia chậm tiến.
Chương tŕnh
Marshall không quan hệ ǵ đến các nước chậm tiến v́ nó nhằm trợ giúp
các quốc gia Tây Âu tái thiết, không thuộc về lănh vực phát triển,
nên không bàn đến ở đây. Chương tŕnh ‘’Point IV’’ Điểm thứ 4, trái
lại, không những nói lên quyết tâm Hoa Kỳ trợ giúp các quốc gia chậm
tiến phát triển, cung cấp phương tiện dồi dào, mà vạch ra cả một lư
thuyết, và các phương thức thực hành cuộc phát triển này.
Những điều
chứa đựng trong ‘’Point IV’’ Điểm IV của Tổng Thống Truman này là
thâu tóm quan điểm của những tư tưởng gia Hoa Kỳ về vấn đề phát
triển. Theo quan niệm này, lư do chính của sự chậm tiến của các quốc
gia chậm tiến là họ thiếu vốn và ‘’know how’’ (kỹ thuật). Nếu các
quốc gia này được cung cấp dồi dào cho không, hay cho vay nhẹ lăi
vốn, và kỹ thuật qua các chương tŕnh cung cấp chuyên viên, huấn
luyện người bản xứ tại chỗ hay trong các Trường Đại Học Hoa Kỳ th́
trong một thời gian ngắn, họ sẽ phát triển, trở nên giàu có, không
bị cộng sản quyến dỗ nữa. Qua thực nghiệm sau mấy chục năm áp
dụng, nó tỏ ra không hiệu nghiệm, không đạt được mục đích. V́ sai
lầm.
Trước hết
là về thực chất của vấn đề. Như Tùng Phong nhấn mạnh và nhắc đi
nhắc lại rất nhiều lần, muốn giải quyết một vấn đề, phải thấu
triệt vấn đề đó. Vấn đề Việt Nam là một vấn đề liên quan đến
cộng đồng và lănh đạo Việt Nam: ‘’…các biến cố xảy ra ở Việt Nam từ
hơn hai mươi năm nay [1940-1960] là một ví dụ cụ thể minh xác tính
cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề cộng đồng cần phải giải quyết
đối với đa số lănh đạo….’’
‘’Đối
tượng của quyển sách nầy là t́m xem vấn đề cần phải giải quyết của
cộng-đồng Quốc-Gia Việt Nam trong thời kỳ nầy là vấn đề ǵ’’
(Chính Đề Việt Nam, trang 42). Và tác giả đă giải thích tường tận,
chi tiết, vấn đề sống c̣n của Việt Nam, trong hoàn cảnh đặc biệt của
Việt Nam, là phát triển để thoát khỏi t́nh trạng thua kém về khoa
học kỹ thuật bằng một cuộc Tây phương hóa, ‘’không e dè, không rụt
rè, không ngần ngại’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 76). Cuộc Tây phương
hóa đó là ‘’một cuộc Tây phương hóa tự ư muốn, do đó, có đường hướng
và có mục đích’’. Nó cũng phải là một cuộc Tây phương hóa toàn diện…
nghĩa là trên lĩnh vực quân sự, chính trị, xă hội, và theo đó kinh
tế và văn hóa’’ (Chính Đề Việt Nam, trang144)
Về mục đích
của công cuộc Tây phương hóa, Tùng Phong viết: ‘’Chúng ta sẽ chủ
động cuộc Tây phương hóa nầy và sẽ đưa nó đến một mức độ đủ cao để
xă hội chúng ta t́m được những tiêu chuẩn giá trị mới khả dĩ tạo cho
nó một trạng thái điều ḥa mới’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 137) Câu
ngắn ngủi này chứa đựng những ư niệm căn bản rất độc đáo của tác
phẩm. Các ư niệm này sẽ được bàn đến trong phần dưới đây: ‘’Tây
phương hóa, ‘’chủ động’’, ‘’mức độ cao’’, ‘’tiêu chuẩn giá trị
mới’’, ‘’trạng thái điều ḥa’’…Cần nhấn mạnh rằng tác phẩm đề cập
đến nhiều ư niệm độc đáo khác, nhưng không thể bàn trong bài này v́
quá nhiều.
Vấn đề
cần được đặt trong bối cảnh riêng biệt của nó. Việt Nam có ba bối
cảnh:
1.- T́nh h́nh
chính trị thế giới.
2.- Các nước
trong thế giới đang ứng phó với một thử thách tương tự.
3.- Các Quốc
Gia thuộc về một khối văn hóa với Việt Nam: Các nước láng giềng ở
Đông Á và Đông Nam Á (Chính Đề Việt Nam, trang 43).
Cuối cùng
là phương thức nghiên cứu. Về điểm này, tính chất vô tư và khoa học
của công tŕnh nghiên cứu cần được bảo đảm, nên tác giả Tùng Phong
đă cương quyết chọn vị trí lịch sử, v́ ‘’thực tế lịch sử không có
thể phủ nhận được. Và trên nền tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc
khoa học mà suy luận không sợ phạm vào những lỗi lầm căn bản’’. Tác
giả cũng nhấn mạnh rằng không bao giờ tác giả đứng vào các vị trí
triết lư, tôn giáo, và lư thuyết v́ ‘’đó là những lĩnh vực mà sự đối
chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể kéo dài vô cùng tận’’.
Bất cứ trong lănh vực nào (chính trị, văn hóa và kinh tế) ‘’sự nhận
xét phân tách và suy luận của tác giả đều căn cứ trên những sự kiện
lịch sử và để một bên các lư thuyết...để tránh tất cả những sự biện
luận không thiết thực và do đó không thích hợp với mục đích của
quyển sách’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 45-46).
IV
Cách tiếp cận
nêu trên cần thiết để bảo đảm sự lựa chọn những giải pháp thích nghi
cho việc thực hiện những mục đích mong muốn. Những mục đích này minh
định do vị trí của Việt Nam trong thế giới ngày nay, vừa trong lănh
vực địa dư, vừa trong lănh vực tiến hóa chung của nhân loại. Cùng
với những điều kiện nội bộ riêng cho Việt Nam, các điểm này chi phối
mọi đường lối chính trị của chúng ta ‘’ít lắm là vài thế kỷ’’ (Chính
Đề Việt Nam, trang 68).
Những mục đích
tùy thuộc vị trí quốc tế hiện tại của Việt Nam do các điểm sau đây
minh định:
1.- Việt Nam
là một nước nhỏ kém mở mang.
2.- Theo
truyền thống văn hóa, Việt Nam thuộc vào xă hội Đông Á.
3.- Việt Nam
thuộc vào khối các nước Á Châu vừa thoát khỏi ách thực dân Đế quốc.
4.- Việt Nam
phải cần Tây phương hóa như tất cả các nước không thuộc khối Tây
phương để:
a.- Tồn tại,
bảo vệ độc lập.
b.- Phát
triển đời sống kinh tế hầu xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. (Chính
Đề Việt Nam, trang 68)
Trong nhăn
quan của Tùng Phong, trong hai mục đích này, ‘’Độc lập không
phải là mục đích chính’’. Phải độc lập v́ độc lập là ‘’điều kiện
tiên quyết và thiết yếu khẩn thiết để thực hiện cho được cuộc Tây
phương hóa…Có độc lập, chúng ta mới chủ động được vận mạng của chúng
ta và lănh đạo được cuộc Tây phương hóa mà sự thành hay bại quyết
định tương lai của chúng ta trong mấy thế kỷ sắp tới đây’’
(Chính Đề Việt Nam, trang. 158).
Vấn đề chính
của Dân Tộc Việt Nam là vấn đề phát triển, và cuộc phát triển đó
thực hiện qua một cuộc Tây phương hóa. Sự thành bại của cuộc Tây
phương hóa này quyết định tương lai của Việt Nam, không những gần,
mà trong mấy thế kỷ sắp đến. Cho nên vấn đề được bàn đến trong
Chính Đề Việt Nam là vấn đề phát triển Tây phương hóa. Vấn đề
độc lâp được bàn đến, và rất chi tiết, như là một vấn đề dính liền
với nguy cơ tái lệ thuộc Trung Hoa nếu Việt Nam chọn con đường cộng
sản trong công cuộc phát triển.
Theo Tùng
Phong ‘’công cuộc phát triển Dân Tộc bằng cách Tây phương hóa là một
công cuộc liên hệ đến sự sống c̣n của Dân Tộc…một sự kiện lịch sử dĩ
nhiên, không thể tránh được, và ngoài công cuộc phát triển ấy ra,
Dân Tộc chúng ta không c̣n một lối thoát thứ hai’’ (Chính Đề Việt
Nam, trang 134-35).
Kháí niệm
‘’Tây phương hóa’’ là khái niệm then chốt của tác phẩm này nên chúng
ta cần minh định nghĩa của danh từ và nội dung của khái niệm để
tránh ngộ nhận. Danh từ ‘’Tây phương hóa’’, ‘’Westernization’’
(theo Anh văn), hay ‘’Occidentalisation’’ (theo Pháp văn) là một
danh từ thông dụng trong giới học giả và báo chí Tây phương trong
những năm trước 1950. Nhưng các giới chính trị, trí thức Á Đông, đặc
biệt là Ấn Độ và Trung Hoa, chống việc sử dụng danh từ này v́ họ cho
rằng nếu Á Đông thua kém Tây phương về kỹ thuật khoa học họ lại hơn
Tây phương về phương diện triết lư, tinh thần, và nếu họ muốn kỹ
nghệ hóa họ không muốn mang luôn văn hóa Tây phương. Do đó, một danh
từ khác, trung lập hơn, được dùng. Đó là ‘’hiện đại hóa’’. Cho nên,
trong bài này, ‘’Tây phương hóa’’ nên hiểu là ‘’hiện đại hóa’’. Thật
ra, danh từ này rất sát nghĩa khái niệm ‘’Tây phương hóa’’ của Tùng
Phong.
‘’Tây phương
hóa’’, theo Tùng Phong, là thế nào ?
‘’Tây phương
hóa là việc thâu nhận các kỹ thuật, lối suy luận và nhiều tập quán
của Âu-Mỹ, không làm cho chúng ta mất được bản chất của Dân
Tộc...Bản Chất Dân Tộc chúng ta sẽ bộc lộ ra trong các sáng tạo của
chúng ta, và phương pháp sáng tạo của chúng ta, khi nào chúng ta đă
chủ động được các phương tiện và phương pháp sáng tạo Tây phương. Và
đây là mục đích chính của công cuộc Tây phương hóa mà chúng ta đang
theo đuổi…chúng ta cần phải dốc hết nỗ lực vào công cuộc ấy, không e
dè, không rụt rè, không ngần ngại’’ (Chính Đề Việt Nam, trang76).
Hai điểm then
chốt trong ư niệm trên là ta phải chủ động công cuộc Tây phương hóa,
và phải đi đến mức sáng tạo. Cuộc Tây phương hóa này phải là một
cuộc Tây phương hóa tự ư, không ép buộc, v́ ‘’nếu
chúng ta không tự ư Tây phương hóa, th́ trước hết ta sẽ mất chủ
quyền định đoạt vận mạng của Dân Tộc chúng ta. Sau đó cuộc Tây
phương hóa vẫn sẽ thực hiện đối với chúng ta, nhưng không phải chúng
ta lănh đạo và hướng dẫn. Một cuộc Tây phương hóa không được hướng
dẫn sẽ mang đến sự tan ră của xă hội chúng ta…Như vậy, giữa hai thái
độ tự ư Tây phương hóa và bắt buộc Tây phương hóa thế nào cũng phải
lựa chọn thái độ tự ư Tây phương hóa’’ (Chính Đề Việt Nam, trang
166).
Điểm thứ hai,
đi đến mức sáng tạo, một mức cao, cũng là một đặc điểm của cuộc Tây
phương hóa mà Tùng Phong chủ trương. Theo ông, ‘’công cuộc Tây
phương hóa chỉ hữu hiệu khi nào thực hiện đúng đến mức độ cao’’
(Chính Đề Việt Nam, trang 153).
Thế nào
là ‘’mức độ cao ?’’ Ông ta giải thích:
‘’Tây phương
hóa đến mức độ cao có nghĩa là Tây phương hóa đến khi nào chúng ta
chế ngự được khả năng sáng tạo khoa học của Tây phương. Cho đến khi
nào chưa ra khỏi giai đoạn hấp thụ khoa học và kỹ thuật Tây phương,
th́ chúng ta vẫn chưa thoát lên đến mức độ cao. Chỉ khi nào chúng ta
sử dụng được, chẳng những là khoa học và kỹ thuật Tây phương, mà lại
c̣n cả phương tiện sáng tạo khoa học và kỹ thuật, th́ chúng ta mới
đạt đến mức độ đủ cao trong công cuôc Tây phương hóa…Chỉ khi nào các
chuyên viên của chúng ta, sau khi hấp thụ được các kỹ thuật và khoa
học của ngành ḿnh, lại ư thức rơ rệt rằng chỉ vừa bước đi qua một
giai đoạn sơ khởi, và c̣n cần nỗ lực để đạt đến chỗ chế ngự được khả
năng sáng tạo trong ngành của ḿnh, th́ lúc bấy giờ cuộc Tây phương
hóa của chúng ta mới đi đúng đường và có hy vọng thành công’’ (Chính
Đề Việt Nam, trang 172)
‘’Chế ngự khả
năng sáng tạo’’ là một ư niệm trừu tượng, tế nhị, có thể gây hiểu
lầm rằng ‘’Tây phương hóa’’ đồng nghĩa với làm mất ‘’bản sắc Dân
Tộc’’. Chúng ta sẽ bàn về vấn đề này ở đoạn sau. Ở đây cần nhấn mạnh
rằng Tùng Phong rất ư thức điều này, nên ông ta đă đưa ra những giải
thích rất chi tiết và rơ ràng. Ông viết:
‘’Một cuộc Tây
phương hóa, đến mức độ cao, chỉ thực hiện được khi nào sự hấp thụ kỹ
thuật Tây phương được thành tựu đến mức độ người hấp thụ chế ngự kỹ
thuật đó, để đến phiên ḿnh sáng tạo. Và muốn chế ngự được kỹ thuật
đó, trước tiên phải thấu triệt được những nguyên lư của khả năng
sáng tạo và luyện được cách sử dụng khả năng đó’’ (Chính Đề Việt
Nam, trang. 463-464).
Có một quan
niệm thông thường cho rằng Tây phương mạnh nhờ khoa học của họ,
và nếu chúng ta học được khoa học của họ th́ chúng ta cũng mạnh
như họ. Nhưng, thật ra, nếu chúng ta học được khoa học của Tây
phương th́ chúng ta cũng chưa mạnh bằng Tây phương. Bởi v́: ‘’khoa
học cũng như tất cả các sáng tạo của Tây phương là những hiện tượng
nh́n thấy được của kỹ thuật Tây phương, chớ chưa phải là kỹ thuật
của Tây phương. Các sáng tạo kỹ thuật là sóng, nhưng chính kỹ thuật
mới là gió. ‘’Kỹ thuật Tây phương đẻ ra khoa học, chớ không phải
khoa học đẻ ra kỹ thuật. Như vậy th́ sự thâu thập khoa học chưa đủ
để giúp cho người thâu thập chế ngự được kỹ thuật Tây phương’’.
(Chính Đề Việt Nam, trang 463-464)
Vậy nguyên do
của khả năng sáng tạo của kỹ thuật Tây phương là cái ǵ ?
Tùng Phong cho
rằng câu hỏi này ‘’vô cùng quan trọng cho công cuộc Tây phương
hóa’’. Có trả lời được, chúng ta mới thỏa măn được một điều kiện của
công cuộc Tây phương hóa đến mức đô đủ cao. Điều kiện thứ hai là
thực hiện được những điểm mà câu hỏi sẽ nêu lên: (Chính Đề Việt Nam,
trang 463-464)
Và giải đáp
mà Tùng Phong đưa ra là một giải đáp có thể nói là độc đáo, mới,
mà riêng tôi, xin thú thực là chưa hề được nghe nói đến: Kỹ thuật
Tây phương hùng mạnh nhờ hai đức tính, xin nhấn mạnh đức tính, vô
cùng quư báu:
1.- Chính xác
về lư trí.
2.- Ngăn nắp
và minh bạch trong tổ chức.
Tùng Phong
nhấn mạnh rằng hai đức tính này là hai đức tính của văn minh cổ Hy
Lạp và La Mă. Nó là nguồn sinh lực của kỹ thuật Tây phương. Nó có
trước mọi phát minh khoa học và đă phát sinh ra khoa học. Và nó phải
có nếu ta muốn đạt đến mức độ sáng tạo như Tây phương. Một sự thu
thập khoa học Tây phương dù có mười phần kết quả cũng vẫn chưa giúp
cho ta chế ngự được kỹ thuật Tây phương. ‘’Một công cuộc Tây phương
hóa chỉ chú trọng vào sự thu thập khoa học Tây phương sẽ măi măi là
một cuộc Tây phương hóa không đúng mức, và cộng đồng nào chỉ nhắm
vào mục đích thu thập khoa học Tây phương th́, măi măi, sẽ lệ thuộc
vào các sáng tạo kỹ thuật của Tây phương, và không khi nào lên đến
mức độ sáng tạo như Tây phương’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 468).
Vấn đề đă
trở nên rất rơ: Nếu chúng ta muốn chế ngự được kỹ thuật Tây phương
chúng ta phải rèn luyện để có được hai đức tính:
1.- Chính xác
về lư trí.
2.- Ngăn nắp
và minh bạch trong tổ chức.
Muốn rèn luyện
hai đức tính trên đây, ‘’chúng ta phải chỉnh đốn đời sống hằng ngày
cho ngăn nắp và minh bạch, và ngôn ngữ của chúng ta cũng phải được
chỉnh đốn cho ngăn nắp và minh bạch...đời sống hằng ngày của chúng
ta, và ngôn ngữ hằng ngày của chúng ta sẽ trở thành những dụng cụ
sắc bén để giúp cho chúng ta rèn luyện chính xác về lư trí và ngăn
nắp và minh bạch trong tổ chức. Và ngôn ngữ đă chỉnh đốn lại trở
thành một khí cụ suy luận để chúng ta soi thấu vũ trụ vật chất và vũ
trụ tinh thần’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 468).
Về vấn đề Tây
phương hóa có làm mất bản sắc Dân Tộc, ‘’mất quốc hồn quốc túy’’ hay
không, Tùng Phong nói:
‘’Các Dân Tộc
Tây phương đều sử dụng một kỹ thuật và tôn sùng một khoa học như
nhau. Tất cả đều có một lối suy luận lấy sự chính xác của lư trí làm
nền tảng. Và tất cả đều sống trong một khuôn khổ minh chiết như nhau
sự sinh sống và ăn mặc đều như nhau thế mà họ vẫn khác nhau trong
sáng tác. Như vậy là bản chất Dân Tộc họ vẫn giữ…Biết như thế rồi
chúng ta mới thấy tánh cách vô ích của sự nơm nớp lo sợ mất quốc hồn
và quốc túy…’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 76)
Phần khác, ‘’…
nếu thực sự một cuộc Tây phương hóa tự ư và có lănh đạo không làm
tan ră xă hội lại có thể làm mất bản chất Dân Tộc, th́ chúng ta có
thể quả quyết rằng một cuộc Tây phương hóa bắt buôc và không hướng
dẫn, [không làm] tan ră xă hội, chắc chắn sẽ làm mất mười lần hơn
bản chất Dân Tộc của chúng ta.’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 166)
V
Trong những
trang trên đây, ta thấy tác giả đề cập rất nhiều đến những danh từ
như: ‘’xă hội’’, ‘’nỗ lực’’, ‘’rèn luyện’’, ‘’chế ngự’’,
‘’chỉnh đốn’’, ‘’đức tính’’, ‘’lư trí’’, ‘’suy luận’’…Đây
là những danh từ mang ư niệm trừu tượng thuộc về lănh vực văn hóa.
Điều này nói lên sự khác biệt căn bản của lối tiếp cận vấn đề của
Tùng Phong với lối tiếp cận kinh tế, thống kê, chính trị của những
học giả, chuyên gia chủ trương Point IV-Điểm 4 về vấn đề phát triển.
Lối tiếp cận của Tùng Phong là một lối tiếp cận chú tâm
vào các khía cạnh xă hội và tâm lư, nghĩa là văn hóa.
Đây là một lối tiếp cận đ̣i hỏi môt sự thấu triệt hoàn cảnh và tâm
lư của dân tộc muốn phát triển, một điều rất khó khăn và đ̣i hỏi nơi
người nghiên cứu, cũng như nơi người thực hành, những kiến thức rất
sâu rộng, và một khả năng dùng linh tính mà tâm lư học gọi là
‘’introspection’’, một khả năng mà người ngoại quốc không có, mà ít
người bản xứ dùng đến trong việc nghiên cứu v́ cho rằng nó ‘’không
khoa học’’. Nhưng, nếu phối hợp với kỹ thuật ở mức độ cao, như đă
tŕnh bày ở trên, nó là lối tiếp cận hữu hiệu nhất, và đưa đến sự
phát giác những giải pháp độc đáo và thích nghi nhứt, như ta sẽ thấy
dưới đây.
Mục tiêu của
Tây Phương hóa là phát triển, và như đă nói ở trên, phát triển để có
điều kiện bảo đảm sự tồn tại và độc lập, và xây dựng hạnh phúc cho
nhân dân. Công cuộc chính của phát triển là xây dựng lại xă hội Việt
Nam sau 80 năm thống trị của người Pháp.
Cuộc thống
trị đó đă để lại một di sản mà ngay nay dân Việt đang c̣n phải mang
những hậu quả rất tai hại: Ba gánh nặng nhứt là:
1.- Một công
cuộc hóa Tây phương bắt buộc.
2.- Một xă hội
tan ră.
3.- Một
sự gián đoạn trong vấn đề lănh đạo.
Công cuộc Tây
phương hóa bắt buộc làm cho chúng ta mất tin tưởng vào các giá trị
tiêu chuẩn cũ, và miễn cưỡng thâu thâp nền văn minh mới. Vận mạng
của chúng ta không phải do chúng nắm. V́ vậy, cuộc Tây phương hóa mà
chúng ta phải chịu đựng từ môt thế kỷ nay là một cuộc Tây phương hóa
bắt buộc, không mục đích, không được hướng dẫn’’. Dân chúng bị lôi
cuốn vào một phong trào Tây phương hóa, ‘’mà không hiểu Tây phương
hóa để làm ǵ, Tây phương hóa đến mức nào là đủ, và Tây phương hóa
sao là đúng’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 268).
T́nh trạng
trên đây đă dẫn dắt đến sự tan ră của xă hội của chúng ta. Các
giá trị tiêu chuẩn cũ đă mất hết hiệu lực, mà các tiêu chuẩn mới
th́ không có. Do đó, tín hiệu tập hợp các phần tử đă mất.
‘’Đó là một điều vô cùng bất hạnh’’ v́ chính là lúc này, lúc ta
cần nhiều nỗ lực liên tục của toàn dân và nhiều hy sinh lớn lao của
mọi người, ‘’sự có một tín hiệu tập hợp vô cùng cần thiết để toàn
dân trông vào và tin tưởng, mới có đủ nghị lực mà cung cấp cố gắng
trong một hoàn cảnh khổ hạnh’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 268)
Về vấn đề lănh
đạo, chúng ta đă lâm vào một sự gián đoạn lănh đạo ‘’đến một tŕnh
độ trầm trọng nhứt’’. Sự chuyển quyền không thực hiện được giữa lớp
người trước và lớp người sau. Các bí mật [bí quyết] Quốc gia và bí
mật [bí quyết] lănh đạo đều mất. Thuật lănh đạo không truyển lại
được. Người lănh đạo không có đủ, di sản dĩ văng không bảo tồn được,
văn khố thất lạc và bị cướp bóc. (Chính Đề Việt Nam, trang 268) Đặc
biệt là sự thiếu hụt lănh đạo này có môt ảnh hưởng tai hại: Sự điều
ḥa giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo để bảo đảm một
trạng thái thăng bằng cần thiết cho sự ổn định và tiến lên của xă
hội không c̣n nữa.
Tái lập
sự thăng bằng này là nhiệm vụ chính trong công cuộc phát triển,
và nó được Tùng Phong cứu xét rất tường tận. Những tư tưởng rất mới
mẻ, độc đáo và sáng suốt về vấn đề này là những đóng góp lớn vào sự
soi sáng vấn đề phát triển của các nước chậm tiến.
Theo nhận xét,
rất đúng, của Tùng Phong, xă hội gồm hai khối: Thiểu số lănh đạo, và
đa số chịu lănh đạo. Xă hội nào cũng có mâu thuẫn nội bộ, giữa những
nhu cầu cá nhân và những nhu cầu của cộng đồng, giữa những nhu cầu
ngằn hạn và những nhu cầu dài hạn của cộng đồng, giữa những mức độ
đóng góp hy sinh mà lănh đạo thấy cần và đa số chịu lănh đạo chịu
chấp nhận…Những mâu thuẫn này phải được điều ḥa th́ xă hội mới ổn
định và tiến được. Tùng Phong đă phân tách vấn đề một cách chi tiết
như sau:
‘’Một cộng
đồng trong toàn bộ gồm nhiều phần tử cá nhân hợp thành, chia làm hai
khối, thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo. Thiểu số lănh đạo có
trách nhiệm với vận mạng của cộng đồng.
Cộng đồng có
tồn tại mới bảo đảm được phát triển của cá nhân. Cộng đồng tồn tại
nhờ cố gắng và hy sinh của cá nhân, t́nh nguyện hay cưỡng bách, đóng
góp. Nhưng lư do của cuộc sống là sự thoả măn ước vọng của cá nhân.
Nói một cách
khác lư do của cuộc sống là lư do cá nhân. Mà điều kiện của cuộc
sống là điều kiện cộng đồng. V́ thế cho nên, ngay trong bản chất đă
có sự mâu thuẫn giữa quyền lợi của cộng đồng và quyền lợi của cá
nhân trong cộng đồng. Một mâu thuẫn như thế thuộc vào loại mâu thuẫn
lúc nào cũng có ở trong nội tâm của mọi phối hợp sáng tạo giữa hai
lực lượng tương phản.
Cứu cánh của
sự lănh đạo là thực hiện một trạng thái điều ḥa tuyệt đối giữa hai
h́nh thức của một sự thăng bằng đồng tiến, nghĩa là hai lực lượng
tương phản sẽ dựa nhau và kích thích nhau để tiến, th́ toàn thể cộng
đồng sẽ tiến triển. Nếu sự điều ḥa được thực hiện dưới h́nh thức
một sự thăng bằng tỉnh chỉ, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ
đóng khung và kềm giữ nhau, toàn thể cộng đồng sẽ mất đà tiến và trở
thành trụ đóng. Nếu sự điều ḥa không được thực hiện, cộng đồng sẽ
tan vỡ’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 18)
Những mâu
thuẫn giữa hai quyền lợi cá nhân và cộng đồng có khi nặng, khi nhẹ.
Trong những thời kỳ b́nh thường, cộng đồng không đứng trước một thử
thách khó khăn, và không đ̣i hỏi sự đóng góp nhiều của cá nhân.
Nhưng cũng có những thời kỳ mà cộng đồng phải đương đầu với một cuộc
thử thách nghiêm trọng, và sự sống c̣n của cộng đồng đ̣i hỏi nhưng
sự đóng góp to tát. Ngoài sự bảo vệ trật tự xă hội c̣n phải quy tụ
những phương tiện vật chất và nhân sự vượt quá thông thường để đưa
cộng đồng lướt qua các trở lực.
Sự mâu thuẫn
khi nào cũng có. Nhưng trong trường hợp trầm trọng, trạng thái điều
ḥa rất khó thực hiện, sự tan vỡ của cộng đồng có thể đến bất cứ lúc
nào, và trong thực tế, nó trở thành một vấn đề cho lănh đạo v́ ‘’sự
mâu thuẫn giữa hai quyền lợi cộng đồng và cá nhân sẽ biến h́nh thành
sự mâu thuẫn giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo, v́ đa số
lănh đạo, nhân danh cộng đồng đ̣i hỏi sự đóng góp của đa số chịu
lănh đạo’’ (Chính Đề Việt Nam, trang19)
Sự mâu thuẫn
càng ác liệt nếu đại đa số không có ư thức cộng đồng và không hiểu
biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Trường hợp này dễ xảy
ra trong các cộng đồng nghèo nàn về vật chất và ấu trĩ trong tổ
chức. Đa số chịu lănh đạo không được cộng đồng bảo đảm cho những cần
thiết tối thiểu và sơ đẳng nên không có lư do tâm lư để biết đến
cộng đồng, và măi bận tâm giải quyết các vấn đề của đời sống hàng
ngày, không có th́ giờ để hiểu biết vấn đề của cộng đồng.
Ở đây ta thấy
rơ tầm quan trọng của lănh đạo và sự tham gia tự ư của đại đa số.
Trong thời kỳ b́nh thường có thể cưỡng bách đại đa số tôn trọng luật
lệ của cộng đồng. Nhưng trong thời kỳ thử thách, uy tín vững chắc
của một lănh tụ, hay sự cưỡng bách bằng vơ lực không thay thế được
sự đóng góp có ư thức vào nhu cầu của cộng đồng. Điều kiện thiết yếu
để thực hiện sự tự giác đóng góp như vậy là ‘’đa số chịu lănh đạo
phải ư thức cộng đồng và hiểu biết vấn đề cần giải quyết cần phải
giải quyết của cộng đồng’’. Và có như vậy thiểu số lănh đạo và đa số
chịu lănh đạo mới ‘’điều ḥa và tạo cho cộng đồng sinh lực cần thiết
để vượt qua các thử thách quyết liệt đang đợi chờ’’. (Chính Đề Việt
Nam, trang 20)
Cần nhấn mạnh
ở đây rằng sự đa số chịu lănh đạo cũng phải ư thức vấn đề của công
đồng rất quan trọng v́ như vậy nó mở rộng địa bàn xoay xở của thiểu
số lănh đạo cho họ tránh được nhiều lỗi lầm chiến thuật do sự tranh
đấu gay go gây ra. Nhờ đó mà sự phối hợp giữa thiểu số lănh đạo và
đa số chịu lănh đạo sẽ không sứt mẻ, và của các quyết định chiến
thuật không mất hữu hiệu.
Qua những điều
vừa tŕnh bày ở trên, ta thấy Tùng Phong coi vấn đề lănh đạo
là chính yếu, và, thực ra, Chính Đề Việt Nam là một tài
liệu được soạn đặc biệt như là một tài liệu học tập để huấn luyện
cán bộ cao cấp của chế độ về nghệ thuật trở thành những người ‘’lănh
đạo xứng danh’’. Tuy nhiên, như ta đă thấy, tài liệu này có một tầm
quan trọng vượt xa không những chế độ Cộng Ḥa I, mà ngay cả Việt
Nam: Nó có giá trị một tài liệu học tập quư báu cho cán bộ các nước
chậm tiến muốn hiện đại hóa.
Những nhận xét
trên đây cho thấy rằng, đối với người lănh đạo ‘’xứng danh’’, các
vấn đề tổ chức và giáo dục quần chúng cũng rất hệ trong. Nó cũng
được Tùng Phong soi sáng, nhưng ta không thể bàn đến trong khung
khổ của bài này.
Vấn đề then
chốt kế tiếp cần được soi sáng, sau khi đă được thấy rơ vấn đề chính
của Việt Nam, lối tiếp cận hữu hiệu, và một giải pháp thích nghi để
giải quyết vấn đề, là vấn đề lựa chọn dụng cụ để thực hiện giải
pháp đó: Vấn đề ‘’khung cảnh chính trị’’.
VI
Vấn đề ‘’khung
cảnh chính trị’’ là vấn đề t́m cho Việt Nam ‘’một
chính thể thích nghi cho Dân Tộc’’. Chính thể đó ‘’không
phải định đoạt do một sự lựa chọn căn cứ trên những lư thuyết chính
trị hay là những nguyên nhân triết lư, mà sẽ được quy định một cách
rơ rệt bởi hoàn cảnh địa dư và lịch sử của chúng ta, cùng với tŕnh
độ phát triển của Dân Tộc…’’ Đặt vấn đề như vây là xét vấn đề phát
triển từ góc độ địa lư chính trị và văn hóa, một lối tiếp cận vấn đề
phát triển mới và độc đáo.
Một điều độc
đáo và mới nữa là trong sự t́m một con đường thích nghi cho sự phát
triển Việt Nam, Tùng Phong chú tâm vào nguy cơ Việt Nam bị xâm lăng,
và đặc biệt nguy cơ bị lệ thuộc Trung Hoa. Trong sự cứu xét kỹ vấn
đề này ông đă đưa ra những cảnh báo có tính cách tiên tri, v́ tuy
đưa ra cách đây 50 năm, ngày nay nó đang xảy ra ngay dưới mắt chúng
ta.
Tùng Phong đặt
sự phân tách vấn đề trên hai dữ kiện:
1.- Hoàn cảnh
địa dư lịch sử của Việt Nam.
2.- T́nh trạng
nội bộ của Việt Nam.
Ngay trong
trang mở đầu của tác phẩm, ông đă đặt vấn đề như sau:
‘’Việt Nam là
một nước nhỏ về dân số, về lănh thổ, về kinh tế kém phát triển, về
phần đóng góp vào văn minh nhân loại. Cho nên lúc nào cũng bị các
nước lớn chi phối, lúc nào cũng sống dưới sự đe dọa liên tục của
ngoại xâm, và ‘’và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa
Dân Tộc Việt Nam’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 13) Ở một đoạn dưới
Tùng Phong cảnh báo: ‘’bao giờ yếu tố đó chưa thay đổi th́ họa xâm
lăng vẫn c̣n’’.(Chính Đề Việt Nam, trang 236).
Nói đến ‘’địa
dư’’ là nói đến sự kiện Việt Nam nằm sát biên giới Trung Hoa. Nói
đến ‘’t́nh trạng nội bộ của chúng ta’’ là nói đến t́nh trạng Bắc
Việt đă chọn con đường cộng sản, nghĩa là chế độ độc tài đảng trị
như Trung Hoa.
Phương
pháp độc tài đảng trị là một phương pháp hấp dẫn đối với nhiều người
lănh đạo khi có một chương tŕnh vĩ đại cần được thực hiện trong một
thời gian ngắn v́ nó dưạ trên căn bản chặt hết các dây liên hệ của
từng cá nhân bất cứ dưới h́nh thức gia đ́nh, xă hội, tôn giáo và văn
hóa, và thay vào đó bằng những liên hệ duy nhứt với một đảng chính
trị duy nhứt nắm chính quyền. Nó biến mỗi cá nhân thành ra một bộ
phận rất dễ sai khiến, dễ uốn nắn của bộ máy khổng lồ nhiều khả năng
nhưng cũng dễ sử dụng trong tay người lănh đạo. (Chính Đề Việt Nam,
trang 302-04)
Nhưng, về phần
miền Nam th́ Tùng Phong quả quyết: Nếu bây giờ chúng ta chưa có ư
thức rơ rệt chính thể ấy phải thế nào, th́ ngay bây giờ chúng ta có
thể quan niệm được rằng ‘’chính thể đó không thể là một chính thể
chuyên chế hay độc tài được. Đó là một thái độ rất rơ rệt’’ (Chính
Đề Việt Nam, trang 244-245).
Lư do của
thái độ dứt khoát trên đây là một chế độ độc tài đảng trị không thể
đưa đến một trạng thái điều ḥa mới trong đó tiêu chuẩn mới sống
chung với tiêu chuẩn cũ, ‘’v́ [nó] phủ nhận quyền tư hữu, bài trừ
tôn giáo, vân vân, đă nhân danh quyền lợi của cộng đồng mà bóp chết
cá nhân, do đó tiêu diệt trạng thái thăng bằng động tiến căn bản
trong một cộng đồng, giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi cộng đồng.
Trạng thái thăng bằng biến mất, v́ hai lực lượng tương phản không
c̣n để tạo ra một cuộc phối hợp sáng tạo. Sinh lực sáng tạo không có
th́ sự tiến hóa trong tương lai của cộng đồng không bảo đảm’’ (Chính
Đề Việt Nam, trang 305).
Không có một
quốc gia Tây phương nào thực hiện phát triển bằng độc tài đảng trị.
Ngay cả Nga Sô cũng phải từ bỏ chế độ đó và trở về với những
giá trị tiêu chuẩn có tính cách di sản của nhân loại. Bài học của
Nga Sô chứng minh rằng phương pháp độc tài đảng trị cộng sản không
thế nào bảo đảm được sự thành công của một công cuộc phát triển Dân
Tộc toàn diện. Nó đ̣i hỏi phải thay thế các giá trị tiêu chuẩn, và
đả phá tận nền tảng Mác-Lê. Lănh đạo Nga Sô không muốn vậy, nhưng
‘’thực tế lịch sử đă dồn họ vào cái thế không làm sao không thay đổi
được’’. Điều nhận xét nay được đưa ra năm 1960, 40 năm trước khi
khối cộng sản tan ră, và Liên Bang Nga Sô và đảng cộng sản liên sô
bị giải thể…
Trong bối cảnh
trên đây, câu hỏi được đặt ra là: Sau khi độc lập đă khai phục, Dân
Tộc chuyển qua giai đoạn phát triển, đường lối cộng sản c̣n thích
hợp hay không ? Giải đáp cho câu hỏi này liên quan đến sự bang giao
giữa Trung Hoa và Việt Nam.
Về phía Trung
Hoa, Tùng Phong nhận xét:
‘’Trong quá
khứ, ngay những lúc ta chiến thắng Trung Quốc, các nhà lănh đạo Việt
Nam cũng khôn ngoan ḥa thuận với Trung Quốc và tự đặt ḿnh vào
chế độ thuộc quốc. Nhưng điều mà Trung Quốc muốn không phải là Việt
Nam chỉ thần phục và triều cống Trung Hoa, suốt thời gian gần một
ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà Trung Hoa
coi như tạm mất’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 235)
Tùng Phong
nhắc lại rằng trong 900 năm (939-1840) Trung Hoa đă bảy lần toan
chiếm Việt Nam.
‘’Một hành
động liên tục như vậy nhứt định có nghĩa là tất cả các triều đại
Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách, đặt nền thống trị trên lănh
thổ Việt Nam. Chính sách này do một điều kiện địa dư và kinh
tế định: Lưu vực sông Hồng Hà là đường thoát ra biển thiên nhiên của
các Tỉnh Tây Nam của Trung Hoa. Đă như vậy, ngay từ bây giờ [1960],
ư định của Trung Hoa vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải hết nước
Việt Nam, th́ ít ra cũng Bắc phần…’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 235)
Thế c̣n
dữ kiện Trung Cộng ủng hộ viện trợ cho Việt Nam, và đặc biệt đă giúp
Việt Nam thắng trong trận Điện Biên Phủ ? Tùng Phong giải thích:
Trung Cộng đă viện trợ cho Bắc Việt v́ trong hoàn cảnh phát triển
nghiêm khắc của họ, họ phải nỗ lực vận động một mặt trận đồng minh
thế giới làm hậu thuẫn cho chương tŕnh phát triển của họ. Vả lại ta
phải tự hỏi: Họ đă giúp khí giới kỹ thuật và phương tiện cho Việt
Nam chiến thắng v́ họ thân Việt Nam hay v́ họ bài Mỹ, và khi viện
trợ như vậy họ coi Việt Nam là một đồng chí cộng sản hay là một phần
đất cũ xưa kia, và nay sắp gần được gồm thâu vào lănh thổ của họ
?(Chính Đề Việt Nam, trang 235)
Với cuộc phát
triển đang thực hiện ‘’nước Tàu của Mao Trạch Đông c̣n cần dùng con
đường ra biển ‘’hơn cả các triều đại trước đây của Trung Hoa’’.
Viện trợ cho Bắc Việt, trên quan điểm đó, là để dành quyền sử dụng
con đường ra biển ‘’khi thời cơ đến’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 29).
Cho nên ‘’Đối với Dân Tộc Việt Nam, Trung Hoa của Mao trạch Đông,
cũng như của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa
truyền kiếp’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 286).
Những nhận xét
trên đây được đưa ra vào khoảng năm 1960. Ngày nay, 50 năm sau,
trong bối cảnh Trung Hoa cưỡng chiếm các Đảo Trường Sa, Hoàng Sa,
Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hải phận Vịnh Bắc Việt, v.v…,nó nói lên
sự sáng suốt của những người lănh đạo Cộng Ḥa Đệ I, và sự thất
thiệt lớn lao cho xứ sở do sự mất những người lănh đạo này do những
biến cố năm 1963 gây nên.
VII
Những điều vừa
tŕnh bày trên đây cho phép trả lời một cách dứt khoát câu hỏi: Ngày
nay, đường lối cộng sản c̣n thích hợp không ? Giải đáp là: Không.
Không nhưng đúng cho thời gian 1960, mà hiện nay 2009, lại c̣n đúng
hơn nữa. Nhưng điều quan trọng là ta phải hiểu cho thật rơ: Tại sao,
như Tùng Phong giải thích dưới đây.
Chủ trương
cộng sản chẳng những không giải quyết được vấn đề của Quốc Gia Việt
Nam trong thời kỳ này [1960] của cộng đồng, mà lại ‘’sẽ đưa Dân Tộc
vào một con đường đen tối cho nhiều thế hệ tương lai’’ (Chính Đề
Việt Nam, trang 27) và ‘’sự gắn liền vận mạng của chúng ta vào vận
mạng Trung Cộng là một hành động di hại cho Dân Tộc’’ (Chính Đề Việt
Nam, trang 290).
Tùng Phong
nhận xét: Mối liên hệ giữa cộng sản Việt Nam với Trung Quốc làm
‘’tái hiện dũng mănh’’, sau một trăm năm vắng mặt, ‘’kư ức thời kỳ
thống trị tàn khốc của Tàu đối với chúng ta’’, và cảnh báo:
‘’Các nhà lănh
đạo miền Bắc, khi tự đặt ḿnh vào sự chi phối của Trung Cộng, đă đặt
ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có
hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng
ta, mà c̣n đe dọa sự tồn tại của Dân Tộc…’’
‘’Sở dĩ ngày
nay [1960], sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành
h́nh, là v́ hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn
tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa
chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt Nam bị
Bắc Việt thôn tính, th́ sự thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời
gian’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 301).
Ngày nay, năm
2009, những cảnh báo trên đây không c̣n là cảnh báo nữa, mà đă thành
hiện thực: Sự thôn tính Nam Việt bởi Bắc Việt đă mở đường cho Trung
Quốc thôn tính toàn Việt Nam.
Tùng Phong
viết: ‘’các nhà lănh đạo phía Bắc vẫn chưa nhận thức được nguy
cơ đang đe dọa Dân Tộc và những ngày đen tối của chúng ta vẫn c̣n
tiếp tục’’ v́ ‘’những người lănh đạo này đang c̣n say mê thuyết cộng
sản và đương nhiên đưa nó lên hàng một chân lư’’ trong khi Nga Sô và
Trung Cộng chỉ coi nó là một phương tiện. Đưa một phương tiện của
ngựi lên làm chân lư của ḿnh là mặc nhiên hạ ḿnh xuống thấp hơn
một bực đối với các lănh tụ cộng sản quốc tế, ‘’và tự biến ḿnh
thành một thứ nô lệ trí thức cho người sai khiến’’. V́ vậy cho nên,
trong nhiều hành động chính trị của các nhà lănh đạo phía Bắc ‘’lư
thuyết được để lên trên quyền lợi Dân Tộc’’ (Chính Đề Việt Nam,
trang 290).
V́ sự lệ thuộc
về lư thuyết, các lănh đạo cộng sản Việt Nam đă hy sinh quyền lợi
Dân Tộc Việt Nam cho quyến lợi của Dân Tộc Trung Hoa. Nếu đặt quyền
lợi của Dân Tộc trên hết, ‘’th́ không có lư do ǵ để binh vực sự gắn
liền vận mạng công cuộc phát triển của chúng ta với vận mạng công
cuộc phát triển của Trung Cộng’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 338).
Tùng Phong
nói: ‘’sự gắn liền vận mạng của chúng ta vào vận mạng Trung Cộng là
một hành động di hại cho Dân Tộc’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 290)
Sự áp dụng các phương pháp huy động nhân lực Trung Cộng vào trường
hợp Việt Nam, mặc dầu hoàn cảnh phát triển của chúng ta không hề đ̣i
hỏi những phương tiện như vậy, là ‘’làm sống lại tâm lư thuộc quốc
gần như đă chết trong thế kỷ, của những người tự ty mặc cảm trước
‘’Trung Hoa vĩ đại’’, lúc nào cũng xem Việt Nam là ‘’một Trung Hoa
con con’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 342). Nếu Trung Hoa diễn tuồng
trên sân khấu 100 m2, Việt Nam cũng phải diễn cùng một
tấn tuồng trên 1 m2 . ‘’Ngày nay, v́ nước Tàu thi hành
phương pháp độc tài đảng trị kinh khủng một cách rộng lớn, th́ Bắc
Việt cũng phải thi hành phương pháp độc tài đảng trị kinh khủng một
cách nho nhỏ’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 342)
Sự quy phục
thuyết cộng sản ‘’sẽ đương nhiên biến sự đe dọa thống trị của nước
Tàu đối với Việt Nam thành thực tế…’’, các nhà lănh đạo cộng sản áp
dụng phương pháp độc tài đảng trị ở Việt Nam ‘’sẽ đương nhiên tạo
điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng xâm chiếm Việt Nam’’ v́ phương
pháp đó ‘’sẽ suy nhược hóa sức đề kháng của Dân Tộc đối với kẻ xâm
lăng’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 373).
‘’Trong t́nh
thế chính trị chúng ta được mục kích, sự quy phục thuyết cộng sản
của các nhà lănh đạo Bắc Việt tự nó là một sự thần phục Trung Cộng,
như các triều đại xưa của chúng ta thần phục Trung Hoa…’’ (Chính Đề
Việt Nam, trang 374).
‘’Sự quy phục
lư thuyết cộng sản sẽ đương nhiên gắn liền vận mạng công cuộc phát
triển Dân Tộc chúng ta vào vận mạng công cuộc phát triển của Trung
Hoa…Như vậy có nghĩa là ‘’chúng ta tự ư bỏ công cuộc phát triển của
chúng ta’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 374)
Sự lệ thuộc
trên đây là một lệ thuộc nặng nề của Việt Nam đối với văn hóa Tàu.
Từ ngày lập
quốc, cách đây hơn một ngàn năm, sự chi phối của Trung Hoa đối với
Việt Nam nặng nề đến đỗi tâm lư thuộc quốc bao trùm mọi lĩnh vực
của đời sống của Dân Tộc.
Tâm lư này
xuất phát từ hai sự kiện: Tự ty mặc cảm đối với ‘’Trung Hoa
vĩ đại’’, và sự lệ thuộc của ta đối với văn hóa Tàu. Những lời ca
tụng ‘’Trung Hoa vĩ đại’’ của miền Bắc, những điệu âm thanh Trung
Cộng của đài phát thanh Hà Nội, những điệu vũ nữ ḥa b́nh, và những
y phục theo Tàu đều là ‘’những biểu lộ thiết thực của một sự lệ
thuộc văn hóa càng ngày càng sâu đậm của miền Bắc đối với Trung
Cộng’’ bởi v́ ‘’các nhà lănh đạo miền Bắc đă chấp nhận một sự lệ
thuộc tư tưởng’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 375).
Mà cũng
v́ lệ thuộc chủ nghĩa cộng sản mà cuộc chiến đấu dành độc lập của
chúng ta tiêu hao bao sinh lực Dân Tộc, mà xảy ra t́nh trạng chia
đôi đất nước, mà chiến tranh tàn phá cái vốn nhân lực và tài nguyên
của chúng từ hai mươi năm nay. (Chính Đề Việt Nam, trang 376). Từ
mười năm nay [1954] Bắc Việt chưa thực hiện được những mục tiêu đáng
kể, trong khi các thực hiện của Nam Việt đều bị du kích quân Bắc
Việt phá hoại. Bao nhiêu sinh lực của Dân Tộc đă bị phí phạm.
Tùng Phong
nhận xét rằng: ‘’Chưa có một triệu chứng nào chứng tỏ rằng các nhà
lănh đạo miền Bắc hiện nay đă nhận thức những điều kiện trên. Thư
lại chính trị miền Bắc vẫn c̣n đang ca tụng như những chân lư những
giá trị tiêu chuẩn và giai đoạn mà Nga Sô đă bỏ’’ (Chính Đề Việt
Nam, trang 287). Và cũng v́ các lư do trên đây, Tùng Phong nói,
‘’chúng ta có thể quả quyết rằng các nhà lănh đạo phía Bắc chưa nhận
thức nguy cơ đang đe dọa Dân Tộc, và những ngày đen tối của chúng ta
vẫn c̣n tiếp tục’’ (Chính Đề Việt Nam, trang 217).
Những nhận xét
và cảnh báo trên đây là những nhận xét và cảnh báo thốt ra năm 1960.
Những ǵ xảy ra từ 1975 chứng tỏ rằng t́nh h́nh càng ngày càng trầm
trọng hơn thêm, và lại c̣n đen tối hơn là Tùng Phong đă dự đoán.
Ngày nay 2009, Trung Hoa không những đe dọa sự tồn tại của Việt Nam,
mà đang thực sự thôn tính Việt Nam. Nhân danh xă hội chủ nghĩa và
cách mạng thế giới cộng sản Trung Hoa đă cỡi lưng cộng sản Việt Nam
bành trướng ách thống trị của Trung Hoa qua vĩ tuyến 17, bao luôn
Cao Nguyên Nam Phần, xuống tận Cà Mau.
Năm 1960, Tùng
Phong c̣n hy vọng rằng ‘’sự tồn tại miền Nam là một bảo đảm cho Dân
Tộc thoát khỏi ách thống trị Trung Cộng, vừa là bảo đảm cho cơ hội
phát triển của chúng ta, và vừa là một lối thoát cho các nhà lănh
đạo Bắc Việt khi họ ư thức nguy cơ họ đang tạo cho Dân Tộc…sự mất
c̣n của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự
mất c̣n trong tương lai của Dân Tộc’’. (Chính Đề Việt Nam, trang
301-302).
Không may cho
Dân Tộc Việt Nam, hy vọng lớn trên đây đă không thành. Cuộc đảo
chánh tháng 11, năm 1963, và những sự xáo trộn nó gây ra, tạo ra một
t́nh trạng miền Nam vô chính phủ, vô lănh đạo, sinh lực sút giảm,
đồng thời những xáo trộn do những lực lượng phản chiến Hoa Kỳ áp lực
chính phủ Mỹ phải bỏ rơi Việt Nam, tạo ra một t́nh trạng hỗn loạn,
suy sụp, tạo điều kiện cho cộng sản chiến thắng và thôn tính miền
Nam. Đặc biệt là lúc đó, họ càng tin là họ đă đúng đường. Nhưng,
ngày nay, sau những ǵ đă xảy ra từ lúc cộng sản xâm chiếm miến Nam,
càng ngày càng rơ rằng những ǵ Tùng Phong nói lên trên đây trong
Chính Đề Việt Nam là đúng: Sự mất c̣n của miền Nam là một
bảo đảm cho Dân Tộc thoát khỏi ách thống trị Trung Cộng, vừa là lối
thoát cho các nhà lănh đạo Bắc Việt khi họ ư thức nguy cơ họ đang
tạo cho Dân Tộc…
Điều vừa nêu
lên giúp làm sáng tỏ một vấn đề đă làm dư luận bàn tán nhiều năm
1963, và trong thờ́ gian qua, vẫn c̣n được nhiều người đề cập đến.
Năm 1963 có những tin đồn rằng ông Ngô Đ́nh Nhu (Tùng Phong) liên
lạc với cộng sản. Điều này nay đă được những người thân cận xác
nhận. Nhưng điều quan trọng nhất (để làm ǵ) th́ ngoài ông Nhu ra,
không ai biết ông Nhu và những người bên kia bàn ǵ với nhau.
Nay ông Nhu đă mất, điều này vẩn chưa được soi sáng v́ không
có, và không c̣n nhân chứng, trừ anh Cao Xuân Vỹ, mà chính anh Cao
Xuân Vỹ cũng không được biết.
Nay,
chỉ c̣n tôi là người nhân
chứng duy nhứt. Nhưng tôi chỉ làm nhân chứng những điều sau đây
do chính ông Nhu đă tiết lộ trong một cuộc họp báo với kư giả ngoại
quốc vào cuối tháng 9 năm 1963. Tôi là thông dịch viên trong
buổi họp báo đó, (xin xem h́nh kèm) và tôi đă nghe và thông dịch hai
điều sau đây:
1.-
Ông đă tiếp Trần Độ ngay ‘’trong pḥng này’’, văn pḥng của
ông, nơi mà ông đang tiếp các kư giả.
2.-
Trần Độ có hỏi ông: ‘’Nếu chúng tôi buông súng th́ Việt Nam sẽ thế
nào ?’’
Như vậy nghĩa
là:
1.-
Ông Nhu đă có tiếp xúc với phía cộng sản.
2.-
Ông Nhu đă có đề cập đến vấn đề phía cộng sản ngưng chiến.
Với những
lư luận ǵ ? Nay Chính Đề Việt Nam -ta
nên nhớ rằng tác phẩm này được hoàn tất vào năm 1962 cho phép ta
nghĩ rằng Ông Nhu đă nói với phía bên kia như sau:
1.-
Chuyên chế độc tài đảng trị không thể chấp nhận được, và khư khư ôm
lấy thuyết cộng sản, như các nhà lănh đạo miền Bắc đang làm, là sai,
v́ nó không thich nghi với hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam và không
giải quyết được vấn đề phát triển hiện đại hóa của Dân Tôc Việt Nam
được.
2.- Áp
dụng thuyết cộng sản là thần phục Trung Hoa, tái lập sự lệ thuôc của
Dân Tộc Việt Nam đối với Trung Hoa như dưới các triều xưa, và tạo
điều kiện cho Trung Hoa xâm chiếm Việt Nam.
3.- Sự tồn tại của miền Nam
là một lối thoát cho lănh đạo miền Bắc khỏi mang tiếng là đă hy sinh
quyền lợi của Dân Tôc Việt Nam, và phục vụ quyền lợi Trung Hoa.
Như ta đă
thấy ở đoạn trên, Ông Nhu than phiền rằng các nhà lănh đạo miền
Bắc đă mù quáng không chịu bỏ thuyết cộng sản, vẫn cho đó là chân
lư, nhất quyết ‘’trụ’’ với giải pháp độc tài đảng trị, và quy phục
Trung Cộng.
Đó là năm
1962. Bây giờ, năm 2009, t́nh trạng lại trầm trọng và khẩn trương
hơn. Và không biết bao giờ lại mới có cơ hội, và một sự lănh đạo
sáng suốt để bảo đảm công cuộc phát triển để giải quyết vấn đề đặt
ra cho Dân Tộc Việt Nam từ một ngàn năm: ‘’cởi bỏ cho Dân Tộc tâm lư
thuộc quốc đối với Trung Hoa’’, như Lư ThườngKiệt và Nguyễn Huệ đă
làm. (Chính Đề Việt Nam, trang 342)
Dù sao, ngày
nay, với Chính Đề Việt Nam, lối tiếp cận và giải pháp đă
có, ngoài hai điều kiện vừa nêu trên, chỉ cần một điều kiện căn bản
hơn cả, mà Tùng Phong đưa ra trong phần kết thúc tác phẩm. Đó là:
‘’Trong t́nh
h́nh chính trị thế gới hiện nay, và trong tŕnh độ tiến hóa của nhân
loại hiện nay, các vấn đề Dân Tộc Việt Nam, trong thời kỳ này, chỉ
có thể t́m ra được một giải đáp nếu chúng ta trụ vào vị trí
Dân Tộc’’. (Chính Đề Việt Nam, trang 503)
Và Tùng Phong
kết luận vói một lời nhắc và hai lời kêu gọi.
Lời nhắc đề
cập đến một thực tế mà ta không thể phủ nhận được. Đó là dưới áp lực
của nhân khẩu, Trung Hoa phải bành trướng. Sự bành trướng này đă mở
màn. ‘’Nếu chúng ta không thức tỉnh th́ một trong những nạn nhân đầu
tiên của sự bành trướng nói trên sẽ là chúng ta. Chỉ tưởng tượng đến
viễn ảnh đó cũng đủ làm cho chúng ta khủng khiếp’’.
Và hai lời kêu
gọi, một lời hướng về miền Nam, và một lời hướng về miền Bắc:
1.-
‘’công cuộc chống sự xâm lăng của miền Bắc không lúc nào khẩn thiết
cho cộng đồng Dân Tộc Việt Nam bằng trong lúc này hết.
2.-
Chúng ta mong mỏi các nhà lănh đạo miền Bắc kịp thời nhận định đă
đến lúc, v́ sự tiến hóa của Dân Tộc, không nên tiếp tục sự trụ đóng
vào phương tiện cộng sản nữa’’.
(Chính Đề Việt Nam, trang 505-506)
Ngày nay, miền
Nam không c̣n nữa, mà Tùng Phong cũng không c̣n nữa, nhưng lời nhắc
và những lời kêu gọi trên lại c̣n thích hợp hơn lúc nào hết.
Viết cho
Đặc San
Vào dịp
Lễ Tưởng Niệm Tống Thống Ngô Đ́nh Diệm
Tháng 11, năm
2009
(Độc giả nào muốn có để đọc toàn bộ tác phẩm,
Xin liên lạc với Anh Đỗ Như Điện
405 Ranger Road, Fallbrook, CA 92028-8482
E-Mail:
donhudien@yahoo.comĐịa chỉ email này đang
được bảo vệ khỏi chương tŕnh thư rác, bạn cần bật Javascript để xem
nó
DT: 858-337.7049)
Tài
liệu gồm
22 469 chữ |