Quanh Chuyện
Cành Đào Hồ
Chí Minh Gởi
Vào Nam
.
Nguyễn Quang
Duy
Ông Quách
Ṭng Đức,
Đổng Lư Văn
Pḥng Tổng
Thống Ngô
Đ́nh Diệm
xác nhận một
Tết Nguyên
Đán, một
cành đào đỏ
lộng lẫy
được trưng
bày nơi
pḥng khánh
tiết Dinh
Độc lập với
tấm thiệp in
tặng của
“Chủ tịch
Nhà nước
Cộng ḥa Xă
hội Miền Bắc”
(Lâm lệ
Trinh, trang
89). Một số
người đă gắn
liền câu
chuyện cành
đào và một
vài tin đồn
khác để lư
luận ông
Diệm và ông
Nhu đă đi
đêm, hoà
giải, ve văn,
bắt tay, đầu
hàng, … hay
mắc lừa phe
cộng sản.
Đến đánh mất
tín nhiệm và
hậu thuẫn
cuả Hoa Kỳ,
để dẫn đến
đảo chánh
1-11-1963.
Nhiều người
khác lại cho
rằng miền
Nam mất đi
một cơ hội
ḥa b́nh,
trung lập,
không cộng
sản, ...
Gần 50 năm
qua, không
ít người đă
tranh luận
về đề tài
này. Tháng
3-2003, trên
diễn đàn
Giao Điểm,
nhà sử học
Vũ Ngự Chiêu
chứng minh
việc hai ông
Diệm và Nhu
ve văn nhằm
bắt tay với
Việt cộng.
Th́ chỉ đến
tháng 7,
cùng trên
diễn đàn ông
Nguyễn Ngọc
Giao lại
chứng minh
điều trên
không đúng
sự thật. Cần
phải nói là
cả hai lập
luận cùng
chủ yếu dựa
trên hồi kư
của
Mieczyslaw
Maneli,
nguyên
Trưởng Đoàn
Kiểm Soát
Đ́nh Chiến
Ba Lan.
Sự mâu thuẫn
này không
phải chỉ xảy
ra riêng với
các nhà
nghiên cứu
gốc Việt.
Hầu hết các
học giả Tây
Phương cũng
mắc chung
một hoàn
cảnh. Một
phần v́ nhăn
quan mỗi
người mỗi
khác, Maneli
chỉ viết lại
công việc
của ḿnh,
không đề cập
đến một số
việc chung
quanh, sinh
ra nhiều câu
hỏi để tùy
người đọc
diễn giải.
Bài viết này
dựa trên một
số tài liệu
mới từ Đảng
Cộng Sản và
từ Bộ Ngọai
Giao Ba lan
và Liên Sô,
cũng như từ
phía Việt
Nam để làm
rơ hơn vấn
đề như: Có
thật hai ông
Diệm – Nhu
muốn thương
lượng với
cộng sản hay
không ?
Chuyện cành
đào có thực
hay không ?
Hồ chí Minh
có muốn
thương lượng
với miền Nam
hay không ?
Thế Giới
Những Năm
Đầu 1960.
Khi đă củng
cố được
quyền hành,
Khruschev đề
xướng một
chiến lược
mới cho toàn
khối cộng
sản. Chiến
lược này chủ
trương chung
sống ḥa
b́nh giữa
các nước có
chế độ chính
trị và xă
hội khác
nhau. Theo
đó, Liên Sô
tập trung
vào việc xây
dựng kinh tế
cho khối
cộng sản, áp
dụng những
thành tựu
khoa học và
kỹ thuật mới
nhất vào sản
xuất, tăng
năng suất
lao động,
tăng sản
lượng sản
xuất. Thông
qua tăng
trưởng kinh
tế, Liên Sô
kỳ vọng đủ
khả năng để
ủng hộ các
nước đang
phát triển
và ủng hộ
các phong
trào cộng
sản trên
ṭan thế
giới, mở
rộng ảnh
hưởng của
Quốc Tế Cộng
Sản.
Phía Trung
cộng không
chấp nhận
chiến lược
trên. Họ cho
rằng Liên Sô
sợ chiến
tranh với Mỹ,
sợ bom
nguyên tử
cuả Mỹ, đầu
hàng đế quốc
Mỹ. Theo
quan niệm
của họ có
chiến tranh
cách mạng
quốc tế càng
mau thắng
lợi, càng
sớm tiến đến
thế giới đại
đồng.
Phiá Hoa Kỳ,
tổng thống
Kennedy khi
ấy vừa đắc
cử đă phải
đương đầu
với tranh
chấp ở Tây
Bá Linh (Tây
Đức), thất
bại trong
cuộc đổ bộ
Vịnh Con Heo
(Cu Ba), và
tính sai
trong việc
trung lập
hoá Lào.
Những thất
bại liên tục
này đă dẫn
đến một
chiến lược
chống cộng
thiếu tích
cực “vừa dọa
vưà đàm”.
Toà thánh
Vatican cũng
thay đổi
chiến lược
chấp nhận
chung sống
ḥa b́nh với
những người
cộng sản.
Pháp th́
muốn tạo lại
ảnh hưởng ở
các quốc gia
cựu thuộc
địa, vận
động cho
giải pháp
trung lập
hoá Đông
Dương. Tranh
chấp giữa
Liên Sô và
Trung cộng
càng ngày
càng căng
thẳng. Bắc
Việt càng
ngày càng
nghiêng về
phiá Trung
cộng, chủ
trương xử
dụng vũ
trang để
chiếm miền
Nam . Phe
Liên Sô đánh
giá một Việt
Nam trung
lập theo đề
nghị của
Pháp sẽ có
lợi hơn một
Việt Nam bị
lệ thuộc vào
Trung cộng.
(G. K.
Magaret tài
liệu số 2
trang 38)
Ấn Độ khi ấy
lại có chiến
tranh biên
giới với
Trung Cộng.
Theo hiệp
định đ́nh
chiến Genève,
Ấn Độ và Ba
Lan là hai
quốc gia
trong Phái
Đoàn Kiểm
Soát Đ́nh
Chiến tại
Việt Nam.
Ngoại trưởng
Ấn M.J.
Desai cũng
đương kim
chủ tịch
Phái Đoàn.
Theo những
tài liệu mới
từ phía Ba
Lan, vào
tháng
1-1963,
Ngoại trưởng
Ba Lan Adam
Rapacki sang
thăm Ấn Độ.
Ông đă được
Thủ Tướng Ấn
Jawaharal
Nehru và
Ngoại trưởng
Ấn M.J.
Desai tiếp
đón. Trong
cuộc gặp,
Rapacki bàn
đến một giải
pháp trung
lập hoá cả
hai miền Nam
Bắc và tổ
chức tổng
tuyển cử để
thống nhất
Việt Nam .
Thủ Tướng Ấn
Độ Nehru cho
biết Hoa Kỳ
cũng muốn
giải quyết
những mâu
thuẫn ở Việt
Nam bằng
giải pháp
trung lập.
Từ cuộc gặp
trên,
Rapacki đă
tiếp xúc với
Đại Sứ Mỹ
tại Ấn Độ,
ông John
Kenneth
Galbraith để
t́m giải
pháp trung
lập Việt Nam
. Trong cuộc
họp từ ư
kiến riêng,
ông
Galbraith đă
đề nghị
trước tiên
hai phía
cùng tiến
hành việc
ngừng bắn
trong ṿng
sáu tháng.
(G. K.
Magaret tài
liệu số 1
trang 37).
Trong nhật
kư công tác
ngày
21-1-1963,
ông
Galbraith
xác nhận
việc này.
Sau đó đă
báo về cho
Tổng thống
Kennedy đề
nghị của
ḿnh. (G. K.
Magaret tài
liệu số 2
trang 38)
Như vậy tám
tháng trước
ngày hai ông
Nhu và
Maneli gặp
nhau, phiá
Hoa kỳ và Ba
Lan đă thảo
luận về một
giải pháp
cho Việt Nam
. Nhưng
không biết
v́ lư do ǵ
đề nghị cuả
Đại Sứ Mỹ
Galbraith đă
không được
tiến hành.
Cũng như
không hiểu
giữa Mỹ và
Ba Lan sau
này c̣n có
các cuộc gặp
gỡ khác hay
không ?
Maneli và
các cuộc gặp
gỡ hai phía
Bắc Nam
Cũng theo
những tài
liệu mới từ
phía Ba Lan,
trong trừơng
hợp của
Maneli, Ba
Lan hoàn
toàn không
có ư định
xen lấn vào
nội t́nh
Việt Nam.
Thượng cấp
Maneli đă
chính thức
cấm ông ta
làm trung
gian hay gặp
riêng ông
Nhu, ngay cả
nếu ông bị
áp lực từ
phía Bắc
Việt. Họ chỉ
cho phép ông
ta thực hiện
vai tṛ giám
sát quốc tế.
Phía Ba Lan
đă thấy được
Maneli chỉ
là một
chuyên viên
luật, không
kinh nghiệm
ngọai giao,
thiếu kiến
thức và kinh
nghiệm chính
trị, dễ bị
vướng những
bẫy ngầm làm
ảnh hưởng
đến phía Ba
Lan. (xem G.
K. Magaret)
Tuy vậy,
Maneli với
bản tính tính
cực và phấn đấu, công
việc giám
sát quốc tế
th́ lại rất
nhàm chán
chủ yếu chỉ
viết báo cáo,
lại lỡ trớn và ṭ
ṃ mới xảy
ra câu
chuyện gặp
gỡ với ông
Nhu. Maneli
cho biết các
Đại sứ Roger
Lalouette (Pháp),
d’Orlandi
(Ư), Ram
Goburdhun (Ấn
độ) và
Salvatore
d’Asta (Ṭa
thánh
Vatican) là
những người
đă trực tiếp
thúc đẩy
việc ông gặp
gỡ ông Nhu.
Gián tiếp
th́ có Đại
sứ Anh
Hohler. .
Do những
thúc đẩy từ
nhiều phía
như đă kể ra,
Maneli đă
bay ra Hà
Nội để xin ư
kiến của
phía Liên Sô
và đă được Đại
sứ Liên Sô
tại Hà Nội
đồng ư. Lúc
này Ba Lan
đang là một
chư hầu của
Liên Sô, sự
đồng ư của
Liên Sô đủ
bảo kê cho
cuộc gặp gỡ.
Những tài
liệu mới
phát hiện
cũng cho
biết Liên Sô
không mấy
quan tâm đến
việc Maneli
muốn làm. Có
lẽ cả Ba Lan
lẫn Liên Sô
đều đă rơ
khi ấy Bắc
Việt đă ngă
hẳn về phiá
Trung Cộng.
Liên Sô chấp
nhận cuộc
gặp chẳng
qua chỉ muốn
thu nhặt
thêm tin tức
của cả hai
phía Bắc và
Nam Việt.
Vào tháng
5-1963, ngay
khi kế họach
liên lạc với
ông Nhu được
chuyển cho
phía Hà Nội,
Maneli đă
nhận ngay
hồi đáp như
sau: “Phạm
văn Đồng xác
quyết đề
nghị (ngừng
bắn và trung
lập) của chủ
tịch Hồ chí
Minh và
tuyên bố của
chính phủ (VNDCCH)
vẫn c̣n hiệu
lực: Chính
phủ nhân dân
(VNDCCH) đă
sẵn sàng bắt
tay thương
lượng vào
bất cứ lúc
nào, bí mật
hay công
khai.”
(M. Maneli,
trang 121).
Sau đó trong
lần gặp gỡ
Phạm văn
Đồng c̣n
khéo miệng
tuyên bố: “Ông
Nhu chắc
chắn có khả
năng suy
nghĩ thực tế,
v́ ông đă
tốt nghiệp
cao đẳng (lycée)
ở Chartres” Khi
Maneli kể
lại chuyện
này cho Đại
sứ Pháp ông
ta đă phải
thốt lên “quá
thích thú,
quá quan
trọng”
(M. Maneli,
trang 122).
Ngay sau đó
Maneli đă
gặp, và được
Xuân Thủy
cho biết: “…
đầu tiên là
trao đổi văn
hóa và buôn
bán (gạo đổi
than) trước
khi bàn đến
chuyện chính
trị” (G.
K. Magaret
tài liệu số
16 trang
59).
Vài ngày sau
Maneli đă
nhận được
một lời nhắn
của phái
đ̣an Ba Lan
từ Hà Nội: “Các
đồng chí
Vịêt Nam rất
mong tất cả
chi tiết
liên hệ đến
việc thu xếp
cho cuộc gặp
với Nhu và
chi tiết về
cuộc gặp gỡ
này” (M.
Maneli,
trang 123).
Trưởng đ̣an
Kiểm Soát
Đ́nh Chiến
Bắc Việt, Hà
văn Lâu c̣n
gởi cho
Maneli một
điện tín : “Các
đồng chí
lănh đạo đ̣i
hỏi thông
báo ngay tức
th́ những
bước tiếp và
mong rằng
mọi việc sẽ
tiến hành
tốt đẹp,
trước khi
gặp Nhu,
đồng chí cần
ghé Hà Nội
để thảo luận”
(M. Maneli,
trang 123).
Đầu tháng
7-1963,
Maneli trở
lại Hà Nội.
Lần này,
Maneli được
gặp Hồ chí
Minh, Phạm
Văn Đồng,
Xuân Thuỷ và
Ung văn
Khiêm. Trong
hồi kư,
Maneli cho
biết: “Tôi
hỏi Phạm Văn
Đồng và Xuân
Thuỷ nên làm
ǵ nếu Ngô
Đ́nh Nhu mời
tới nói
chuyện. Họ
trả lời ngay
lập tức :
nhận gặp và
lắng nghe.
Tôi lại hỏi
họ có muốn
tôi nói ǵ (với
Nhu). Họ trả
lời : ‘Tất
cả những ǵ
đồng chí
biết về lập
trường của
chúng tôi
trong sự
trao đổi và
hợp tác kinh
tế và văn
hoá (giữa
hai miền).
Một điều
chắc chắc là:
Mỹ phải rút
đi. Trên cơ
sở chính trị
ấy, chúng
tôi có thể
thương lượng
bất cứ điều
ǵ’ ”.
Maneli hỏi
thêm về khả
năng một
chính phủ
liên hiệp ở
miền Nam hay
một h́nh
thức liên
bang Bắc Nam
, Phạm văn
Đồng trả lời:
“Trên
cơ sở độc
lập và chủ
quyền của
Việt Nam ,
mọi điều đều
có thể
thương lượng.
Hiệp định
Genève đă
đặt ra nền
tảng pháp lư
và chính trị:
không có căn
cứ hay quân
đội nước
ngoài trên
lănh thổ đất
nước chúng
tôi. Như thế,
chúng tôi có
thể đi tới
thoả thuận
với bất luận
người Việt
Nam nào.”
(M. Maneli,
trang
127-28).
Khi nhận
được dấu
hiệu khuyến
khích từ Đại
sứ Liên Sô
và biết được
sự phấn khởi
từ phía Hà
Nội, trở vào
Sài G̣n,
Maneli báo
cho
Lalouette và
d’Asta biết
để thu xếp
cuộc gặp với
Ngô Đ́nh
Nhu. Trong
cuộc tiếp
tân chiều
ngày 25-8
của Quyền
Ngọai Trưởng
VNCH Trương
Công Cừu,
các ông
Lalouette,
d’Orlandi,
Goburdhun
and d’Asta
đă giới
thiệu Maneli
với ông Nhu.
Ông Nhu đă
vui vẻ ngỏ
lời mời
Maneli thu
xếp gặp
riêng. Ngay
ngày hôm sau
văn pḥng
của ông Nhu
đă liên lạc
và hẹn cuộc
gặp vào sáng
ngày
2-9-1963.
Trong cuộc
gặp gỡ tại
dinh Độc Lập,
Maneli cho
biết ông Nhu
dành cả hai
tiếng đồng
hồ nói về
chủ nghĩa
cần lao nhân
vị, chính
sách ấp
chiến lược,
thành quả
cuả Việt Nam
Cộng Hoà .v.v…
Riêng về vấn
đề hiệp
thương giữa
hai miền
Nam-Bắc,
Maneli cho
biết ông Nhu
chỉ có ư như
sau: “…Tôi
không chống
lại việc đàm
phán và hợp
tác với miền
Bắc, và như
ông biết,
nhiều nhà
ngoại giao
phương Tây
đă đề nghị
với tôi.
Ngay trong
những trận
giao tranh
tàn ác nhất,
người Việt
Nam cũng
không quên
ai là người
Việt, ai là
ngoại quốc.
Nếu có bắt
đầu đối
thoại trực
tiếp, th́ có
thể tiến tới
xích lại gần.
Và Uỷ hội
quốc tế -
cũng như bản
thân ông -
sẽ đóng vai
tṛ tích cực
ở đây…Trong
tương lai
gần, tôi
không dự
liệu điều ǵ
dẫn tới nói
chuyện trực
tiếp, nhưng
sớm muộn có
thể sẽ hé ra
khả năng…”
(M. Maneli,
trang 146)
Như vậy ông
Nhu chưa có
một ư để đi
xa hơn nói
chuyện trực
tiếp với
lănh đạo
cộng sản Bắc
Việt.
Ngay sau
cuộc họp
Maneli đă
báo cáo về
Ba Lan với
một kết luận
như sau “Những
tuyên bố
thiếu vững
chắc của ông
Nhu chính là
kết qủa của
sự bất ổn và
kỳ vọng cây
cầu với
người Mỹ vẫn
chưa bị đốt
cháy”. (Magaret
K. G. tài
liệu số 21,
trang 67)
Phần v́ ṭ
ṃ phần v́
muốn thâu
nhặt tin tức,
Maneli đă đặt
câu hỏi về
mối liên lạc
hay đàm phán
trực tiếp
giữa hai
miền Nam-Bắc
với ba ông
Nhu, Thủy và Đồng.
Xuân Thủy
vừa giỡn vừa
trả lời : "Có
phải ông
thực sự
tưởng tượng
rằng chúng
tôi thương
lượng hay
đồng ư với
ông Nhu?"
(M.K.
Gnoinska,
trang 147)
Ông Nhu và
ông Đồng th́
cho biết đây
chỉ là những
lời đồn đăi:
"Ông
Nhu hỏi lại,
có phải ông
đă chịu thua
dư luận? đó
chỉ là
chuyên đùa"
(Maneli,
trang 147)
và ông Đồng
có cùng
chung phản
ứng đă hỏi
lại "Có
phải đồng
chí đă tin
vào những
câu chuyện
như vậy hay
không ?"
(Maneli,
trang 147)
Sau
1/11/1963,
Phạm văn
Đồng đă giải
thích cho
Maneli các
nguồn tin từ
tướng đảo
chánh về các
cuộc đàm
phán Bắc Nam
như sau : ”Đó
chỉ là giả
dối, phe đảo
chánh thông
báo tin này
chỉ để giải
thích lư do
phản lại
Diệm”.
(G. K.
Magaret tài
liệu số 21,
trang 67)
Ngay chiều
hôm đó, ông
Nhu đă tiếp
Đại sứ Hoa
kỳ Lodge,
Đại sứ Ư
d’Orlandi và
Khâm sứ ṭa
thánh
Vatican
d’Asta. Ông
Nhu cho biết
về cuộc gặp
gỡ với
Maneli vào
ban sáng.
Ông Nhu nói
Maneli đă
yêu cầu ông
chú ư đến
tuyên bố của
De Gaulle và
Hồ Chí Minh
về giải pháp
trung lập
Việt Nam và
tiến hành
tổng tuyển
cử, rồi hỏi
ông Nhu muốn
chuyển lời
ǵ cho Phạm
Văn Đồng.
Ông Nhu trả
lời “Chẳng
có ǵ cả.”
Không một
dấu hiệu nào
cho thấy ông
Nhu muốn
tiếp tục
quan hệ với
Maneli trong
vai tṛ “đi
đêm” với Hà
Nội. Cuộc
gặp gỡ tại
Dinh Độc Lập
cho thấy ông
Nhu chỉ muốn
chứng minh
với Hoa Kỳ
rằng nếu bị
Hoa Kỳ bỏ
rơi ông ta
có khả năng
thương lượng
trực tiếp
với Bắc Việt.
Không như
ông tính đây
lại chính là
bằng chứng
duy nhất để
phía Hoa Kỳ
lập luận ông
Nhu muốn
thay đổi
chiến lược
chống cộng
của Hoa Kỳ.
Ngược lại
phía Bắc
Việt lại rất
mong Maneli
đứng ra làm
trung gian.
Trước khi
xem xét về
phía Bắc
Việt thật
giả ra sao
người viết
sẽ phân tích
một vài tin
đồn khác có
liên quan.
Chuyện đồn
Ngô Đ́nh Nhu
gặp Phạm
Hùng
Ông Cao Văn
Vỹ cho biết
trong một
chuyến đi
săn với ông
Nhu và trung
tá Bường (tỉnh
trưởng tỉnh
B́nh Thuận)
tại khu rừng
Tánh Linh,
tỉnh B́nh
Thuận, ông
Nhu đă bí
mật tiếp xúc
với hai
người. Ông
Vỹ và trung
tá Bường cả
hai đều
không được
tham dự buổi
họp. Họ chỉ
quan sát từ
phiá ngoài,
ông Vỹ chỉ
biết ông Nhu
ngồi trong
lều săn nói
chuyện với
hai người,
nhưng không
biết là ai,
v́ lúc đó là
ban đêm.
Theo ông, có
lẽ trung tá
Bường biết
v́ chịu
trách nhiệm
an ninh và
tổ chức cuộc
gặp gỡ. (Vĩnh
Phúc, trang
336)
Ông Quách
Ṭng Đức cho
biết: “Chính
ông Nhu có
nhắc đến
chuyện này
trong vài
phiên nhóm
với tướng
lănh tại Bộ
Quốc pḥng
và ngày
23.7.1963
tại suối Lồ
Ồ khi nóí
chuyện với
các cán bộ
xây dựng Ấp
Chiến lược
khóa 13.”
(Lâm lệ
Trinh trang
98) Ông Trần
văn Đôn t́m
hiểu và biết
rơ nhân vật
ông Nhu gặp
trong rừng
Tánh Linh
chính là
Phạm Hùng (Trần
văn Đôn
trang 183)
Thực ra vào
năm 1963,
Phạm Hùng là
uỷ viên Bộ
chính trị
Đảng Lao
động Việt
Nam, phó thủ
tướng chính
phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng
hoà. Do đó
ông họat
động tại
miền Bắc.
Trong khi ấy,
người lănh
đạo Trung
ương cục
miền Nam là
ông Nguyễn
Văn Linh.
Năm 1964
tướng Cộng
sản Nguyễn
Chí Thanh
lên thay.
Tháng 7 năm
1967, tướng
Thanh trên
đường về Bắc
nhận chỉ thị
tổng tấn
công Mậu
Thân bị bom
chết dọc
đường. Phía
cộng sản đưa
tin ông
Thanh đột
ngột qua đời
ở Hà Nội do
bị đau tim.
Tháng 10 năm
1967, Phạm
Hùng mới vào
Nam thay thế
tướng Thanh.
Phạm Hùng
thuộc phe
cánh của Lê
Duẩn và Lê
Đức Thọ,
chủ chiến
không chấp
nhận thương
thuyết với
miền Nam .
Tin đồn Ngô
đ́nh Nhu gặp
Phạm Hùng đă
được cựu đại
sứ William
Colby ghi
trong hồi kư
của ông.
Colby c̣n
cẩn thận ghi
thêm “Giai
thoại này có
thể là
chuyện bịa
” (xem
Nguyễn Ngọc
Giao)
Chiếu theo
bản tóm lược
về Mục tiêu
cuả Hoa kỳ
trong cuộc
chiến tranh
Việt Nam của
Hội Đồng An
Ninh Quốc
Gia, tháng 9
năm 1963,
nhiệm vụ cuả
các nhân
viên Hoa Kỳ
là phải :”…
Ngụy tạo
những tài
liệu liên
kết Nhu với
Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà
(Hà Nội) làm
cho Nhu mất
tín nhiệm
với các
tướng lănh…”
(Phạm Văn
Lưu, trang
246) Ở thời
điểm này,
ông William
Colby đang
làm vụ
trưởng Vụ
Viễn Đông
của Cơ Quan
T́nh Báo Hoa
Kỳ (CIA).
Câu chuyện
biết đâu lại
do chính
Colby bịa
rồi cho CIA
tung ra
trước ngày
đảo chánh.
Sau hơn 35
năm, Cộng
Đồng Người
Việt Hải
Ngọai vẫn
không chấp
nhận mọi
liên lạc với
nhà cầm
quyền cộng
sản. Người
miền Nam lúc
ấy so ra chỉ
chưa đầy 9
năm thoát
khỏi Việt
Minh. Cá
nhân ông Nhu
lại xác nhận
có liên lạc
với cộng sản.
Hiểu được
như vậy mới
thấy Hội
Đồng An Ninh
Quốc Gia Hoa
Kỳ quá sức
thâm độc khi
đề ra nhiệm
vụ nói trên.
Đây chính là
ng̣i nổ cho
cuộc đảo
chính
1/11/1963 và
dẫn đến sự
hy sinh của
anh em ông
Diệm.
Trở lại câu
chuyện ở
rừng Tánh
Linh, không
thấy ông Vỹ
nhắc đến
việc bảo vệ
ở phía bên
kia, như vậy
chỉ có 3
người họp và
2 người bảo
vệ ṿng
ngoài. Một
cuộc họp như
vậy chỉ có
thể xảy ra
khi hai bên
cùng một
phía và phải
hết sức tin
tưởng nhau.
Như vậy có
thể hai
người được
ông Nhu gặp
là gián điệp
Quốc gia về
trực tiếp
báo cáo t́nh
h́nh với ông
Nhu.
Chuyện đồn
từ những
người đi từ
miền Bắc
Ông Trần
Hùng Văn một
nhà báo đi
từ miền Bắc
cho biết ông
Nguyễn Tài,
nguyên Thứ
trưởng Bộ
Công An Bắc
Việt, được
lệnh vào Nam
để thu xếp
cuộc gặp
giữa hai ông
Ngô đ́nh Nhu
và Phạm Hùng.
(Vĩnh Phúc,
trang
339-340)
Nguyễn Tài
sau khi vào
Nam bị quân
đội Quốc Gia
bắt. Sau năm
1975 ông lại
bị Lê Đức
Thọ giam
lỏng để điều
tra.
Ông Tài có
viết hồi kư
cho biết Lê
Đức Thọ đă
từng nói
thẳng với
ông bị bắt
sao không
chịu chết đi.
Xuyên suốt
hồi kư h́nh
như Nguyễn
Tài vẫn thắc
mắc không
biết tại sao
Lê Đức Thọ
lại đối xử
quá nghiệt
với ḿnh (một
đồng chí
trung kiên)
như vậy. Câu
trả lời có
thể là chính
Lê Đức Thọ
tung tin
Nguyễn Tài
làm trung
gian giữa
hai ông Nhu
và Phạm Hùng.
Lê Đức Thọ
không ngờ
rằng ông Tài
c̣n sống để
cho chúng ta
biết rằng
ông đă được
điều động
vào Nam năm
1964. Khi ấy
ông Nhu đă
về đất Chúa.
Liên lạc để
kêu gọi
chiêu hồi
Tháng
4-1963, Việt
Nam Cộng Hoà
(VNCH) ban
hành chính
sách Chiêu
Hồi. Ông Nhu
cũng nhiều
lần xác nhận
có liên lạc
với Việt
Cộng để
thuyết phục
họ mang quân
về hàng. (Chính
Đạo, trang
309)
Ông Nguyễn
văn Chức,
một nhân sỹ
tại Canberra
, đă kể cho
người viết
và rất nhiều
đồng hương
câu chuyện
Mặt Trận
Giải Phóng
Miền Nam (MTGPMN)
đă có ư định
xin hàng.
Ông Chức
trước đây
ngoài làm
cho Đài Gươm
Thiêng Ái
Quốc, ông
c̣n dịch và
thẩm định
những tài
liệu cuả
cộng sản.
Ông Chức cho
biết sau
Biến Cố Mậu
Thân, trong
một trận
phục kích
quân đội
VNCH đă bắn
chết 1 cán
bộ, 2 giao
liên và thâu
được một tài
liệu quan
trọng. Theo
tài liệu này
một số cán
bộ cao cấp
cuả MTGPMN
đă họp bàn
với ư định
mang toàn
thể MTGPMN
ra hàng.
Nhiệm vụ của
người cán bộ
bị phục kích
là mang tài
liệu nói
trên đến một
số cán bộ
cao cấp khác
cũng có ư
định ra hàng.
Cơ quan t́nh
báo Hoa Kỳ
cho dịch tài
liệu này ra
Anh ngữ. Ông
chức được
giao trách
nhiệm thẩm
định tài
liệu. Ông
chức đă kết
luận đây là
một tài liệu
thực, nhưng
không biết
Hoa kỳ có sử
dụng tài
liệu này hay
không ?
Xem chủ
trương cuả
Hồ chí Minh
về MTGPMN: “Ḿnh
phải đưa Mặt
trận Dân tộc
Giải Phóng
ra. Phải chú
ư đến bọn
leo nheo,
theo đóm ăn
tàn…”(HCM,
BNTS, tập 8,
trang 368)
Rồi mới thấy
ông Nhu đă
nh́n ra tổ
chức này để
đề ra chính
sách Hồi
Chánh. Đến
năm 1974,
sau 10 năm
chính sách
Hồi Chánh
được ban
hành, đă có
trên 200.000
hồi chánh
viên. Nhiều
đơn vị cộng
sản cấp đại
đội, tiểu
đoàn đă ra
hồi chánh
tập thể. Hồi
Chánh là một
chính sách
nhân đạo và
thành công
nhất của
chính quyền
Quốc Gia,
nhưng lại ít
hay không
được giới sử
gia để ư
tới.
Sau 1968,
Bắc Việt đă
công khai
điều động
chiến tranh
xâm lược
miền Nam .
Năm 1975, họ
cho quân
chính quy
trực tiếp
vượt vĩ
tuyến 17,
đánh chiếm
miền Nam ,
rồi vội vàng
giải thể
MTGPMN.
Nhiều cán bộ
MT cao cấp
đă bị bắt,
bị quản thúc
hay phải
trốn tránh
ra hải ngoại.
Hà Nội phải
mang cả một
guồng máy
cầm quyền từ
miền Bắc vào
áp đặt lên
miền Nam .
Hy vọng tài
liệu về
MTGPMN xin
hàng sẽ được
t́m thấy
trong núi hồ
sơ cuả CIA
để chúng ta
hiểu rơ hơn
về tổ chức
này.
Hoa kỳ quyết
định đảo
chánh ngày
24-8-1963
Song song
với việc bổ
nhiệm Đại Sứ
Henry Cabot
Lodge, phe
chủ chiến
Hoa kỳ M -
W. Averell
Harriman,
Roger
Hilsman,
Ball,
Getsinger
và V.
Forrestal,
đă đồng kư
một công
điện mang số
243 chỉ thị
cho ông
Lodge thực
hiện cuộc
đảo chánh
lật đổ chính
phủ Ngô Đ́nh
Diệm. Đây là
loại công
điện tối mật
cần hành
động lập tức
(top secret
and
operation
immediate).
Đô Đốc Harry
Felt, Tư
Lệnh Mỹ tại
Thái B́nh
Dương, cũng
đă góp ư
kiến vạ
việc soạn
công điệp
này. Công
điện đă được
đánh đi khẩn
cấp vào tối
thứ bảy
24-8-1993.
Công điện
ghi rơ: “Chính
phủ Hoa Kỳ
không thể để
cho Nhu nắm
quyền hành
trong tay.
Chúng ta sẽ
cho Diệm cơ
hội để tách
rời ra khỏi
Nhu và bè
đảng của Nhu
và thay vào
đó bằng
những nhân
vật có khả
năng trong
giới quân
nhân và
chính trị có
thể t́m được.
Tuy nhiên,
sau khi dùng
mọi nỗ lực
mà Diệm vẫn
khước từ và
đối kháng,
chúng ta sẽ
phải đối
diện với một
khả thể:
chính ông
Diệm cũng
không thể
nào được để
tồn tại.”
(Nguyễn kỳ
Phong, h́nh
công điện
bià sau
sách)
Như vậy việc
lật đổ Chính
phủ Ngô đ́nh
Diệm đă được
quyết định
trước ngày
Maneli gặp
ông Nhu. Tất
cả những tin
đồn, tin
chính thức,
báo cáo chỉ
được dựng
lên hay thêm
bớt nhằm
thực hiện
chỉ thị trên.
Tranh chấp
giữa hai phe
lănh đạo
Cộng sản Bắc
Việt
Từ những năm
đầu 1950,
Trung Cộng
đă trực tiếp
chỉ đạo
chiến tranh,
chỉ đạo cuộc
chỉnh huấn (một
h́nh thức
thanh trừng
nội bộ) và
cuộc cải
cách ruộng
đất. Mao
Trạch Đông
không hề che
giấu ư đồ
dùng Đông
Dương làm
bàn đạp và
đảng Cộng
sản Việt Nam
làm công cụ
để bành
trướng phong
trào Cộng
sản xuống
các nước
Đông Nam Á.
Do đó không
lạ ǵ khi
thành phần
công khai
thân Trung
Cộng như Lê
Duẩn (bí thư),
Lê Đức Thọ (Tổ
Chức Đảng),
Trần Quốc
Hoàn (Công
An), Nguyễn
chí Thanh (Quân
Đội), … nắm
đa số lănh
đạo miền Bắc.
Phe thân
Nga chỉ là
thiểu số, họ
lại c̣n bị
mang tiếng
là thiếu
tích cực
thống nhất
đất nước,
không cổ vũ
việc “giải
phóng” miền
Nam .
Về mặt ch́m
phe thân
Trung Cộng
luôn luôn
thắng thế,
như Hội nghị
lần thứ 15
cuả Trung
Ương tháng
1-1959, bí
mật ra quyết
định điều
động bộ đội
miền Bắc
chuyển vũ
khí vào Nam,
để tiến hành
vơ trang
thống nhất
đất nước.
Hay Nghị
Quyết 49/NQ/TVQH,
được Quốc
Hội Cộng Sản
ban hành
ngày
20-6-1961,
cho phép bắt
giam công
dân 3 năm
không cần
thủ tục tố
tụng. Chiếu
theo Nghị
Quyết này
hàng trăm,
cán bộ lănh
đạo thân
Liên Sô sau
này đă bị
bắt giam
không cần
xét xử và
nhiều người
đă chết
trong tù.
Qua báo Nhân
Dân có thể
thấy nhiều
xung đột xảy
ra công khai
giữa hai phe
nhóm kể trên.
Qua những
tài liệu có
được, việc
nghiên cứu
quá tŕnh
xung đột
giữa hai
nhóm này sẽ
giúp chúng
ta hiểu thêm
về giai đọan
lịch sử
này.
Ngày
7-1-1959,
trên báo Tin
Tức (Liên Sô),
Hồ chí Minh
chính thức
xác nhận bản
chất đánh
thuê của tập
đoàn Cộng
sản Bắc Việt,
(tự ví là
“bộ đội biên
pḥng”): “Như
vậy là ở
Đông Nam
Châu Á,
chúng tôi đă
đứng ở tiền
đồn
của mặt trận
dân chủ và
hoà b́nh
toàn thế
giới chống
lại chủ
nghĩa đế
quốc và
chiến tranh.”
(HCMTT, tập
8, trang
258)
Tháng
11-1960, Hồ
chí Minh
tham dự “Đại
Hội Mạc Tư
Khoa”, đồng
ư kư vào
Tuyên Bố
chung, đồng
thuận với
chiến lược
thi đua hòa
bình giữa
các nước
có chế độ
chính trị và
xã hội
khác nhau
do Liên Sô
đề xướng.
Ngày
2-10-1961,
dự phiên họp
Bộ Chính trị,
Hồ chí Minh
giải thích
lư do theo
Liên Sô như
sau:”…
Miền Nam đối
với Mỹ rất
quan trọng.
Trước nó nói
“Bắc tiến”,
nay nó nói
“Nam trị”,
nhưng vẫn
không từ bỏ
âm mưu Bắc
Tiến. Nó sợ
ḿnh đánh nó.
Địch quân sự
mạnh nhưng
chính trị
yếu. Ta,
chính trị
mạnh nhưng
quân sự yếu.
Nếu lấy sức
độ sức để
tiêu hao th́
không lợi.
Ta không lấy
đấm chọi đấm
mà lấy mưu
mẹo diệt nó,
trừ bọn ác
đi bảo vệ cơ
sở, phong
trào dân sẽ
lên…” (HCM,
BNTS, tập 8,
trang 150)
Chủ trương
này được các
phe nhóm
trong đảng
Lao Động
chấp nhận
cho đến
khoảng đầu
năm 1963.
Ngày
1-1-1962,
trên báo
Nhân Dân có
đăng “Lời
chúc tết
đồng bào cả
nước”, trong
đó Hồ chí
Minh nhận
xét
“… lực lượng
xă hội chủ
nghĩa hơn
hẳn lực
lượng đế
quốc, lực
lượng hoà
b́nh hơn hẳn
lực lượng
chiến tranh.”
Và công khai
đề nghị : ”Chúng
ta luôn luôn
chủ trương
rằng: Thống
nhất Việt
Nam là sự
kiện thiêng
liêng cuả
toàn dân
Việt Nam .
Đại diện của
hai miền có
thể gặp nhau,
cùng nhau
bàn bạc, t́m
con đường
tốt nhất để
hoà b́nh
thống nhất
Tổ quốc,
trên cơ sở
độc lập, dân
chủ như Hiệp
định
Giơ-ne-vơ đă
quy định.”
(HCMTT, tập
9, trang
272)
Ngày
28-3-1962,
để trả lời
phóng viên
báo “Tin
Nhanh Hàng
Ngày” ở Luân
Đôn (bài này
đă được đăng
trên báo
Nhân Dân),
Hồ chí Minh
khống thiết
kêu gọi : “Chính
phủ nước
VNDCCH đă
nhiều lần đề
nghị với
chính quyền
miền Nam,
hai bên phái
đại diện gặp
nhau để bàn
bạc cách
giải quyết
theo phương
pháp ḥa
b́nh, và vưà
rồi, trong
bản Tuyên Bố
ngày
18-2-1962,
chính phủ
nước VNDCCH
lại một lần
nữa yêu cầu
hai chủ tịch
và các nước
tham gia
Hiệp nghị
Giơ-ne-vơ
năm 1954 về
Đông Dương
nghiên cứu
gấp những
biện pháp có
hiệu qủa để
chấm dứt
cuộc vũ
trang xâm
lược của đế
quốc Mỹ vào
miền Nam
Việt Nam,
nhằm bảo vệ
ḥa b́nh cuả
Đông Dương
và Đông Nam
Á. Việc miền
Nam theo chế
độ trung lập
hay một chế
độ nào khác
là do nhân
dân miền Nam
quyết định…
Chính phủ
nước VNDCCH
đă từng đề
nghị (Công
hàm ngày
22-12-1958)
với chính
quyền miền
Nam b́nh
thường hoá
quan hệ giữa
hai miền về
mặt kinh tế
và văn hóa,
về việc đi
lại và thư
tín giữa hai
miền, v.v…”
(HCMTT, tập
9, trang
319-320)
Ngày
22-7-1962,
trả lời
phóng viên
báo Tin Tức
và Sự Thật
Thanh Niên (Liên
Sô) về đường
lối và biện
pháp Hồ
tuyên bố : “Chúng
tôi luôn
luôn chủ
trương thống
nhất tổ quốc
bằng đường
lối ḥa b́nh,
luôn luôn
đ̣i phải
thực hiện
đúng đắn
Hiệp định
Giơ-ne-vờ,
đ̣i đế quốc
Mỹ phải chấm
dứt can
thiệp vào
chuyện nội
bộ Việt Nam”.
(HCM, BNTS,
tập 8, trang
267)
Ngày
6-11-1962,
kỷ niệm 45
năm Cách
mạng tháng
10 Liên Sô,
Hồ đă gởi
điện tới Bí
thư Đảng
Cộng Sản
Liên Sô
trong đă
nhấn mạnh :
“Từ
ngày thành
lập Liên Sô
luôn luôn
thực hiện
chính sách
ngoại giao
ḥa b́nh và
kiên tŕ đấu
tranh cho
chính sách
chung sống
ḥa b́nh
giữa các
nước có chế
độ chính trị
khác nhau.”
(HCM, BNTS,
tập 8, trang
317)
Ngày
22-1-1963,
chủ tịch
Novotny của
Tiệp Khắc
thăm Hà
Nội. Ngày
26-1, Hồ chí
Minh và
Novotny đă
kư một
Tuyên Bố
Chung phản
ánh quan
điểm của
Liên Sô và
ca ngợi
chung sống
hòa bình
là “chính
sách đúng
đắn nhất.”
Ngay sau khi
Novotny về
nước, xung
đột giữa
hai phe
trong đảng
Lao Động
căng thẳng
hơn.
Ngày
17-2-1963,
trong một
cuộc họp Bộ
Chính Trị,
Hồ chí Minh
đă phải yêu
cầu “đoàn
kết nhất trí
trong đảng”
trước t́nh
h́nh hiện
nay. Về vấn
đề trung lập,
Hồ đă phải
gỉai thích
như sau: “Mỹ
bối rối,
ḿnh đề
xướng trung
lập. Đó là
thắng lợi
của ḿnh.
Nói hai bên
đ́nh chiến,
ḿnh không
đánh, đ́nh
chiến ǵ?”
(HCM, BNTS,
tập 8, trang
367)
Kết quả,
Ngoại
trưởng Ung
Văn Khiêm
bị quy
trách
nhiệm v́ đă
soạn thảo
Tuyên Bố
Chung và
bị thay
bằng Xuân
Thủy.
Nguyễn văn
Trấn cho
biết Hồ chí
Minh đă đọc
và sửa lại
bản nháp của
bản Tuyên Bố
nhưng làm
ngơ, tránh
trách nhiệm
(NVT, trang
328). Đây là
lần đầu Hồ
chí Minh bán
phe thân
Liên Sô để
nhập vào
hàng ngũ
thân Trung
Cộng.
Nhờ đó mới
dẫn đến
thắng thế
đầu tiên của
phe chủ
chiến chuẩn
bị cho
chuyến thăm
Hà Nội vào
tháng
5-1963 của
Chủ tịch
Trung Cộng,
Lưu Thiếu
Kỳ. Chuyến
thăm này đưa
Bắc Việt
đứng hẳn về
phía Trung
Cộng, Hồ và
Lưu Thiếu Kỳ
kư một Tuyên
Bố chung
gọi “chủ
nghĩa xét
lại” và
“cơ hội
hữu khuynh”
là đe dọa
chính cho
phong trào
Cộng sản
Quốc tế.
Trong ṿng
chưa đầy 4
tháng, hai
Tuyên Bố
Chung phản
ảnh hai quan
điểm trái
ngược, Hồ đă
chuyển hẳn
từ nhóm thân
Nga sang
nhóm thân
Tàu.
Cần nhắc lại
vào tháng 7,
Maneli gặp
Phạm văn
Đồng và Xuân
Thủy có cả
sự hiện diện
của Hồ chí
Minh. Theo
Hồi kư của
Maneli, Hồ
chỉ lắng
nghe hai
phía và
không có ư
kiến ǵ.
Trong khi
Maneli gặp
ông Nhu th́
Hồ chí Minh
đang nghỉ
mát tại
Quảng Đông,
Trung Quốc.
Hồ họp riêng
với Thủ
tướng Trung
Cộng Chu Ân
Lai và đă
tuyên bố như
sau: “Đừng
nói là phải
đánh 5 năm,
10 năm, dù
có 20 năm,
30 năm, thậm
chí 50 năm
cũng phải
đánh, đánh
cho đến khi
thắng lợi
hoàn toàn!”.
(HCM, BNTS,
tập 8, trang
457) Câu
tuyên bố
trên chỉ
nhái lại
khẩu hiệu: “Đánh
đế quốc,
đánh, đánh,
đánh, đánh
cho đến
thắng lợi”
do Mao Trạch
Đông đề ra,
nhằm biểu lộ
chủ trương
hiếu chiến
và ḷng
trung thành
cuả Hồ với
Mao.
Cùng lúc ấy,
một bài
báo của Lê
Đức Thọ,
Trưởng ban
Tổ chức
Trung ương,
được in
trên báo
Nhân Dân.
Trong bài,
nói một số
đảng viên
bị ảnh
hưởng của
“chủ nghĩa
xét lại”
và vì thế
nghi ngờ
chiến lược
thống nhất
đất nước
của đảng.
Bài báo là
một bước
trong sự
chuẩn bị
cho Hội
nghị Trung
ương lần
thứ 9 tiến
hành vào
tháng 11
cùng năm.
Ngày
20-10-1963,
Hồ chí Minh
tiếp đoàn
Đại biểu
viện kiểm
soát tối cao
Liên Sô do
ông
R.A.Rutencô
làm trưởng
đoàn. Hồ
tuyên bố: “Để
hoà b́nh
giải quyết
vấn đề miền
Nam Việt Nam
hiện nay,
chỉ có một
cách là: Đế
quốc Mỹ phải
rút khỏi
miền Nam
Việt Nam,
vấn đề miền
Nam Việt Nam
phải do nhân
dân Việt Nam
tự gỉai
quyết lấy,
như hiệp
định Giơnevơ
đă quy định”.
(HCM, BNTS,
trang 471)
Tuyên bố này
được đăng
báo Nhân Dân
24-10-1993,
như vậy Hồ
đă chính
thức từ bỏ
chủ trương
chung sống
hoà b́nh cuả
Liên Sô.
Tại Hội
nghị Trung
ương lần
thứ 9, Lê
Duẩn và Lê
Đức Thọ đã
phê phán
chủ trương
chung sống
hòa bình
và hội
nghị kết
thúc với
nghị quyết
đẩy mạnh
công cuộc
đấu tranh
bằng vũ
lực ở
miền Nam.
Bùi Công
Trừng đă kể
lại cho
Nguyễn văn
Trấn như sau
: “ Cái
thằng Lê Đức
Thọ trước
giờ họp, nó
đi đi, lại
lại trong
pḥng, như
thể đội
trưởng một
tổ pháo đi
kiểm tra đốc
thúc pháo
binh chuẩn
bị…
Tao đếm lăo
Hồ, đưa tay
mấy lần, lần
nào thằng
Thọ cũng kịp
ngăn : ‘Bác
hăy để cho
anh em nói
mà’...”
(NVT, trang
328) Phe
thân Liên Sô
chưa biết họ
đă bị Hồ chí
Minh bán
sống nên Lê
Đức Thọ mới
dám lộng
quyền như
trên.
Sau Hội
nghị Trung
Ương lần thứ
9, nhóm Lê
Duẩn tăng
cường phê
phán “chủ
nghĩa xét
lại hiện
đại” (ám
chỉ chủ
trương thi
đua hòa
bình giữa
các nước
có chế độ
xã hội
khác nhau,
mà Liên Sô,
Khrushchev,
cổ vũ).
Trong loạt
bài “Tăng
cường mặt
trận tư
tưởng để
củng cố
Đảng” của
Lê Đức Thọ,
được đăng
trên báo
Nhân Dân, đă
thừa nhận
một thiểu
số trong
đảng không
đi theo
đường lối
đã ra. Mặc
dù bài
báo không
nêu tên cụ
thể, nhưng
theo các
quan sát
viên, sự
ám chỉ
nhắm đến
những
người như
Bùi Công
Trừng,
Dương Bạch
Mai, Lê Liêm,
Ung Văn
Khiêm…những
người đã
phát biểu
phản đối
nhóm của
ông Lê Duẩn
– Lê Đức Thọ
trong Hội
nghị 9. Lê
Đức Thọ
cũng loan
báo các
đảng viên
sẽ phải dự
các lớp
học tập và
chỉnh huấn
để thấm
nhuần nghị
quyết của
Hội nghị
Trung Ương
9.
Tại hội
trường Ba
Đ́nh, tháng
1-1964,
trước các
cán bộ cao
và trung cấp
học tập nghị
quyết 9,
Trường Chinh
tuyên bố : “Đường
lối đối nội
và đối ngoại
của Đảng ta
và Nhà nước
ta là thống
nhất về cơ
bản với
đường lối
đối ngoại và
đối nội của
Đảng Cộng
Sản và nhà
nước Trung
Quốc.” (Nguyễn
minh Cần,
trang 129)
Chiến lược
kinh tế của
Liên Sô cũng
hoàn toàn
thất bại ở
miền Bắc
Việt Nam .
Qua tuyên
truyền trên
báo chí,
miền Bắc
luôn luôn
đạt kế hoạch
đảng giao.
Qua biên bản
Hội Nghị Bộ
Chính Trị và
qua lời Hồ
chí Minh
thực tế khác
xa : “Từ
ngày ḥa
b́nh lập lại
năm nào cũng
thấy có
thuận lợi,
có khó khăn
và
năm nào cũng
không đạt kế
hoạch.
T́nh h́nh
mỗi ngày một
căng thẳng.
Ta phải tính
cách nào,
nếu cần có
thể phải
giảm bớt một
phần xây
dựng để giải
quyết vấn đề
ăn và mặc
cho quần
chúng được
tốt hơn nữa,
đừng để cho
t́nh h́nh
đời sống
căng thẳng
quá.” (HCMBNTS,
tập 8, trang
272) Sau
1975, sự
nghèo đói cả
tinh thần
lẫn vật chất
được giải
thích là để
miền Bắc tập
trung giải
phóng miền
Nam . Chẳng
qua chiến
tranh chỉ là
cái cớ để
đảng Cộng
sản che dấu
thất bại về
xây dựng
kinh tế.
Trở lại
chuyện cành
đào
Ông Cao Xuân
Vỹ cũng nhớ
là vào tết
nguyên đán
năm 1963, Hồ
chí Minh đă
nhờ Đại sứ
Ấn Độ trong
Ủy Hội Kiểm
Soát Quốc Tế
Đ́nh Chiến
chuyển tết
ông Diệm một
cành đào.
Tổng thống
Ngô đ́nh
Diệm chỉ
biết khi món
quà xuân đă
về đến Dinh
Độc Lập. Ông
Diệm cho
lệnh mở ra
thấy có cành
đào, một tấm
thiệp chúc
tết đề đại
khái “Chủ
tịch nước
Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà
kính tặng,
chúc tết
Tổng Thống
Việt Nam
Cộng Hoà” và
một lá thơ
ông Hồ gởi
cho ông Diệm.
(Vĩnh Phúc,
trang 336)
Trên báo Con
Ong Tỵ Nạn
tại Paris,
vào năm
1981, có phổ
biến “Bức
chúc thư của
Hồ chí Minh”
trong đó có
đoạn: “Đầu
năm 1963,
hồi đó tôi
c̣n chưa bị
bọn quanh
tôi bao vây
chặt chẽ quá,
tôi có nhờ
mấy nhân
viên Ủy Hội
Kiểm Soát
Quốc Tế Đ́nh
Chiến chuyển
vào Nam bộ
hai cành đào
lớn rất đẹp
để tặng cụ
Ngô đ́nh
Diệm,
kèm theo một
bức thư,
trong thư đó,
tôi có chân
t́nh yêu cầu
cụ Ngô cùng
tôi thảo
luận trong
t́nh anh em,
để hai bên
cùng lo cho
dân chúng
hai miền,
trên căn bản
thi đua làm
cho dân giàu,
nước mạnh,
theo đường
lối riêng
của từng
người.
Truyện này
lộ ra, làm
cụ Ngô bị
giết trong
Nam .”
Rất nhiều
người tin
đây là chúc
thư thật với
thủ bút cuả
Hồ chí Minh.
Bài viết này
không đánh
giá bức chúc
thư là thật
hay giả.
Nhân vật Hồ
chí Minh đă
tự viết sách
tự ca ngợi
là cha già
dân tộc th́
c̣n việc ǵ
không dám
làm. Nếu là
thật, Hồ chí
Minh nên
dành nỗi
thương tiếc
“cụ Ngô” cho
hằng trăm
“đồng chí”
tin Hồ và
thân Liên Sô
đă bị Hồ bỏ
rơi chết
trong tù hay
trong đọa
đày lao khổ.
Kết
Qua bài có
thể thấy câu
chuyện hai
ông Diệm và
Nhu muốn
thương lượng
với miền Bắc
chỉ là một
thế cờ (dọa
Mỹ) tính sai
nước. Người
Mỹ đă phản
phé nước cờ
một cách tàn
nhẫn lấy lư
do trên.
Ngược lại
trong cuộc
hội thảo do
Bộ Ngoại
giao Hoa Kỳ
tổ chức vào
cuối tháng
9/2010 vừa
qua, cựu
ngoại trưởng
Hoa Kỳ Henry
Kissinger
lần đầu tiên
thú nhận
“...
Hoa Kỳ thất
bại ở Việt
Nam là do
chính người
Mỹ làm ra,...
Nước Mỹ muốn
thỏa hiệp,
Hà Nội muốn
chiến thắng.”
Người Mỹ đổ
quân vào
Việt Nam sau
khi ông Diệm
đă chết cũng
chỉ muốn
thảo hiệp
trong thế
mạnh nào ngờ
đă sa lầy
tại Việt Nam
.
Trong khi đó,
Hồ chí Minh
và đảng cộng
sản công
khai chấp
nhận làm
“tiền đồn”
đánh thuê
cho phe cộng
sản và xung
đột để chọn
giữa hai ông
chủ Liên Sô
và Trung
Cộng. Cả hai
phe đều chủ
trương thống
nhất Việt
Nam. Phe
Liên Sô,
muốn dùng
giải pháp
chính trị
thương lượng
với miền Nam
. Nếu bắt
tay được với
miền Nam là
một thắng
lợi lớn của
phe này. Phe
Trung Quốc
th́ chủ
trương đánh
để giải
phóng miền
Nam và thực
hiện chiến
lược
bành trướng
phong trào
Cộng sản
xuống các
nước Đông
Nam Á.
Cuối bàn xin
dùng một
h́nh ảnh dễ
nhớ làm kết
luận. Ở miền
Nam , anh em
ông Ngô Đ́nh
Diệm bị
người Mỹ
trói tay chỉ
biết la làng.
Từ miền Bắc,
Hồ chí Minh
một tay đưa
tặng cành
đào, tay
khác dấu
đằng sau con
dao nhọn. Lê
Duẩn và Lê
Đức Thọ th́
đằng đằng
sát khí “cầm
gươm ôm súng
xông tới”
vượt sang
miền Nam .
Ông chủ Liên
Sô,
Khruschev,
buồn rầu
không biết
sao gíup đàn
em. Ông chủ
Trung Cộng,
Mao trạch
Đông cười
toe toét
miệng la lớn
“hẩu hẩu”
khen thưởng
đàn em. H́nh
ảnh trên
cũng bộc lộ
toàn bộ cuộc
chiến Bắc –
Nam
1954-75.
Nguyễn Quang
Duy
Melbourne,
Úc Đại Lợi
30/10/2010
Tài Liệu
Tham Khảo và
Trích Dẫn:
Chánh Đạo,
2004,
Cuộc Thánh
Chiến Chống
Cộng,
Văn Hoá,
Houston, Hoa
Kỳ.
Hồ Chí Minh
Biên Niên
Tiểu Sử,
1996, Tập 8,
Đặng Xuân Kỳ
chủ biên,
Nhà Xuất Bản
Chính Trị
Quốc Gia, Hà
Nội.
Hồ Chí Minh
Toàn Tập,
1989, Tập 8
và Tập 9,
Nhà xuất bản
Sự Thật, Hà
Nội.
Gnoinska K.
Magaret,
2005,
Poland and
Vietnam ,
1963: New
Evidence on
Secret
Communist
Diplomacy
and the
“Maneli
Affair”,
Working
Paper No 45,
Cold War
International
History
Project,
Woodrow
Wilson
International
Center for
Scholar.
Lâm Lệ
Trinh, 2006,
Về Nguồn
Sinh Lộ Cho
Quê Hương,
Thủy Hoa
Trang ,
California ,
Hoa Kỳ.
Mieczyslaw
Maneli,
War of the
Vanquished,
translated
from the
Polish by
Maria de
Gorgey,
Harper &
Row, New
York , 1971.
Nguyễn Ngọc
Giao, 1963 :
T́m hiểu
cuộc “ đi
đêm ”giữa
Sài G̣n và
Hà Nội,
Diễn Đàn số
131 tháng
7.2003.
Nguyễn minh
Cần, 2001,
Đảng Cộng
Sản Việt Nam
Qua Những
Biến Động
Trong Phong
Trào Quốc Tế
Cộng Sản,
Tuổi Xanh
xuất bản.
Nguyễn Tài,
Khúc khuỷu
đường đời -
Mười một năm
liên tục đấu
tranh để sự
thật và lẽ
phải được
thừa nhận,
talawas
Nguyễn Kỳ
Phong, 2006,
Vũng Lầy
Bạch Ốc:
Người Mỹ và
Chiến Tranh
Việt Nam
1945-1975,
Tủ Sách
Tiếng Quê
Hương,
Virginia,
Hoa Kỳ.
Nguyễn văn
Trấn, 1995,
Viết Cho Mẹ
Việt Nam,
Văn Nghệ,
Hoa Kỳ.
Phạm Văn Lưu,
1994, Biến
Cố Chính Trị
Việt Nam
Hiện Đại:
Ngô Đ́nh
Diệm và Bang
Giao Việt Mỹ
1945-1963,
Centre for
Vietnamse
Studies.
Vĩnh Phúc,
1998,
Những Huyền
Thoaị và Sự
Thật về Chế
Độ Ngô Đ́nh
Diệm, Văn
nghệ,
California ,
Hoa Kỳ.
Vũ Ngự Chiêu,
Tướng Dương
Văn Minh và
Đệ Nhất Cộng
Hoà ,
Diễn Đàn số
127 tháng
3.2003.