Nhận định:

   

 

  Từ những lời khai gian "chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đàn áp Phật Giáo" 

Cho đến sau nầy lũ gian càng ngày càng lún ssaau vào tội ác, nhân dân Hoa Kỳ đă trở thành chó lợn mà họ không hay !

Ṭa đại sứ Mỹ luôn luôn hành động lưu manh điếm đàng và dă man chó má đê tiện: Đó la bản chất tiềm ẩn đích thực của Hoa Kỳ. 

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmil.com

  

Chúng ta chỉ có một phương châm: Nhân đạo trong t́nh thương bác ái

 

 

 

 

 

 

Chuyện Quan Thái Thú

Lữ Giang

Trong một cuốn băng của Toà Bạch Ốc ghi cuộc nói chuyện giữa Tổng Thống Kennedy và Đại Sứ Henry Cabot Lodge ngày 4.11.1963, Tổng Tổng Kennedy đă tuyên bố ông chịu trách nhiệm cá nhân về cái chết của ông Diệm và nói thêm rằng ông Lodge có khuynh hướng loại bỏ ông Diệm khỏi chức vụ. Ông Lodge đă bênh vực cho vai tṛ của ḿnh. Ông nói:

“Các hành động của chúng ta không phải là ‘thực dân’ và khi bà Nhu kết án tôi hành động giống Toàn Quyền Đông Dương, điều đó không nói lên sự thật”.

Hồi đó báo chí ở Sài G̣n thường công khai gọi ông là “Quan Thái Thú”.

Sử chép rằng Hán Vũ Đế (156 – 87 trước công nguyên) thấy nước ta chưa biết văn hóa, sai các quan Thái Thú sang cai trị phải dạy bảo. Trong số ấy có ba người nổi tiếng: Tích Quang, Thái Thú quận Giao Chỉ, mở trường học, dậy dân biết lễ nghĩa; Nhâm Diên, Thái Thú quận Cửu Chân, xây trường học, dạy dân luân lư, phép giá thú, sinh con biết họ và ṇi giống; và Sĩ Nhiếp, Thái Thú Giao Châu, mở học đường, giảng Kinh truyện, được suy tôn là Nam Bang học tổ. Như vậy là nước ta bắt đầu học chữ Hán và Nho giáo từ thời Bắc thuộc.

Henry Cabot Lodge, có quyền lực vô giới hạn. Ngoài bất chấp lệnh của Thổng Thống Mỹ, c̣n lưu manh xảo trá hơn các quan Thái Thú của Tàu ngày xưa nhiều.

MỘT ÂM MƯU THÂM ĐỘC

Để gài Washington vào kế họach giết ông Ngô Đ́nh Cẩn, lúc 9 giờ ngày 3.11.1963, Ṭa Lănh Sự Mỹ ở Huế đă gởi về Bộ Ngoại Giao một công điện nói rằng đă t́m thấy mồ chôn tập thể, hầm vũ khí và tài liệu Việt Cộng chôn trong khu nhà ông Cẩn. Hậu quả của chuyện này là có nhiều ngàn người đă đến bao vây nhà ông Cẩn và muốn tấn công. Từ những sự kiện trên, Ṭa Lănh Sự Huế nói rằng việc cấp nơi trú ẩn cho ông Cẩn “là điều thất nhân tâm ở đây, và có thể đưa đến hậu quả nghiêm trọng đe dọa tư thế, tài sản và sinh mạng người Mỹ ở Huế.”

Nghe các báo cáo này, Tướng Harkins, Chỉ Huy Trưởng Viện Trợ Quân Sự tại Việt Nam rất ngạc nhiên. Ông đă hỏi lại Tướng Trần Văn Đôn rồi lúc 5 giờ 17 phút chiều 5.11.1963, ông đă gởi cho Tướng Taylor, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, một công điện cho biết ông có hỏi Tướng Đôn về trường hợp ông Ngô Đ́nh Cẩn, Đôn nói rằng các đơn vị Quân Đoàn I đang bảo vệ ông ta và Đôn đang xem xét việc đưa ông ta vào Sài G̣n để bảo vệ an toàn. Tướng Harkin có hỏi Tướng Đôn về các mộ được báo cáo t́m thấy trong vùng nhà ông Cẩn, Tướng Đôn cười và nói nó không liên hệ ǵ đến việc ông Cẩn làm cả. Tướng Đôn nói ông biết ông Cẩn rất rơ, và khi làm Tư Lệnh Quân Khu I, ông đă đến thăm ông Cẩn nhiều lần. Ông biết những ngôi mộ đó ở đâu và nó đă có ở đó trong nhiều năm. Những ngôi mộ đó thuộc về những gia đ́nh sống trong vùng xung quanh trước khi khu đó trở thành nơi cư trú của ông Cẩn.

[FRUS 1961 – 1963. Volume IV, tr. 569 – 570].

Thế nhưng, sau khi ông Johnson mới lên làm Tổng Thống thay thế Kennedy, ông Lodge đă về tŕnh diện và tiếp tục báo cáo bố lếu bố láo.

Trong cuộc họp lúc 3 giờ chiều ngày 24.11.1963 tại Executive Office Building ở Washington, có sự hiện diện của Tổng Thống Johnson, Đại Sứ Cabot Lodge đă báo cáo về t́nh h́nh Việt Nam rất tốt đẹp sau ngày đảo chánh. Tiếp theo, ông nói ông muốn gặp Đức Giáo Hoàng vào ngày thứ tư (bỏ một đoạn không được giải mă) v́ ông thấy phong trào chống Kitô giáo ở Việt Nam đang lên.

Mặc dầu Tướng Harkins đă kiểm chứng và cho biết báo cáo của Ṭa Lănh Sự Huế là báo cáo láo, ông Lodge vẫn nói rằng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục đă dính vào những vụ ngược đăi liên quan đến việc giam giữ một số lớn người, trong đó có ba linh mục Công Giáo. C̣n ông Cẩn cũng đă dính vào những hoạt động khác nhau trong việc ngược đăi và hành quyết những cá nhân, và trong khu vườn của ḿnh, Cẩn có một khu đất chôn các nạn nhân của ḿnh.

Biên bản ghi rằng những lời của ông Lodge đầy vẽ lạc quan, hy vọng, và tạo cho Tổng Thống cảm tưởng rằng chúng ta đang trên đường chiến thắng. Tổng Thống Johnson nghe xong đă nói rằng “the Ambassador was the Number One man” (Ông Đại Sứ là Người Số Một)!

[FRUS 1961-1963. Volume IV, tr. 635-637]

Khi trở lại Việt Nam, ông chỉ đạo Tướng Khiêm và Tướng Khánh làm “chỉnh lư” loại nhóm Dương Văn Minh, và ra lệnh cho Tướng Nguyễn Khánh ban hành một đạo luật đặc biệt để giết ông Cẩn!

MUỐN LẬP CHẾ ĐỘ BẢO HỘ!

Mặc dầu báo cáo ngon lành như đă nói trên, khi “giặc thầy chùa” và Đại Việt nổi lên chống đối Nguyễn Khánh gây ra các chính biến liên tục, Đại Sứ Lodge đă nói với Bộ Ngoại Giao rằng phải làm cho Nam Việt Nam từ bỏ độc lập và đặt dưới chế độ bảo hộ của Hoa Kỳ để đem lại sự ổn định của chính phủ. Nếu không th́ hoặc là tăng cường sự can thiệp về quân sự của Hoa Kỳ, hoặc là Mỹ bỏ Miền Nam hoàn toàn.

[South Vietnam be made to relinquish its independence, and it be made a protectorate of the United States so as to bring governmental stability. The alternatives, he warned, were either increased military involvement by the U.S., or else total abandonment of South Vietnam by America].

Khi “giặc thầy chùa” lên đến cao điểm, làm cho t́nh h́nh bất ổn hoàn toàn, ông nói con đường duy nhất để báo vệ các chương tŕnh b́nh định của Nam Việt Nam là thành lập một nước theo chế độ cảnh sát trị từ ở Nam Việt Nam gióng như chế độ Hồ Chí Minh (a police state out of South Viet Nam similar to the Ho Chi Minh regime).

Nói tóm lại, những ǵ ông Lodge đưa ra để biện minh cho việc phải lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, đều được ông đ̣i hỏi phải áp dụng lại sau khi chế độ này sụp đổ và c̣n đ̣i hỏi phải làm mạnh hơn.

William Averell Harriman lúc đầu chỉ là Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ (1961-1963), sau lên làm Thứ Trưởng Ngoại Giao về Chính Trị Sự Vụ (1963-1965), nhưng nhiều người gọi ông là Bộ Trưởng Thuộc Địa, v́ ông đă hành xử như Miền Nam Việt Nam là một xứ thuộc địa của Mỹ. Chính ông đă quyết định và chỉ đạo việc lật đổ và giết ông Diệm, vượt lên trên quyền hành của Tổng Thống Kennedy. Đại Sứ Cabot Lodge và Lucien Conein chỉ là cấp thừa hành của ông ta. Tuy nhiên, sau khi lật đổ và giết ông Diệm, nh́n thấy một miền Nam tan nát, ông đă nh́n nhận:

“As you look back on it, Diem was better than the chaotic condition which followed him”.

(Khi bạn nh́n lại nó, Diệm tốt hơn t́nh trạng hổn loạn theo sau ông ta.)

[Averell Harriman Oral History, JFK1]

ÉM NHẸM PHÚC TRÍNH LHQ

Ngoài việc lật đổ và giết gia đ́nh họ Ngô, Cabot Lodge c̣n làm một chuyện mờ ám khác là t́m cách ém nhẹm phúc tŕnh của Phái Đoàn LHQ điều tra về vụ Phật Giáo Việt Nam v́ nó phô bày những sự dối trá do chính phủ Hoa Kỳ đă toa rập với phong trào đấu tranh của Phật Giáo Việt Nam tạo dựng ra để đánh lừa dư luận thế giới.

Như chúng ta đă biết, chính Đại Sứ Cabot Lodge đă nhờ ông Senerat Gunewardene, Đại Sứ Tích Lan ở Liên Hiệp Quốc, một người bạn thân của Cabot Lodge khi ông c̣n làm Đại Sứ tại Liên Hiệp Quốc, đứng ra vận động các nước Á Phi đưa ra một bản tuyên bố lên án chế độ Ngô Đ́nh Diệm đàn áp Phật Giáo. Đây là nguyên nhân khiến LHQ phải cử một phái đoàn đến Việt Nam điều tra. Kết quả, phái đoàn đă khám phá ra nhiều sự gian dối do CIA và nhóm Phật Giáo đấu tranh đă tạo dựng ra để đánh gục chế độ Ngô Đ́nh Diệm. V́ thế, Đại Sứ Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phải t́m cách ém nhẹm bản phúc tŕnh của phái đoàn này.

Cuộc điều tra kéo dài trong hai tuần lễ. Khi phái đoàn đang điều tra th́ cuộc đảo chánh xẩy ra, nhưng phái đoàn vẫn làm báo cáo và đệ tŕnh lên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bản phúc tŕnh đă được phổ biến tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc ngày 9.12.1963. Ngày 20.12.1963, Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica đă nói với hăng thông tấn NCWC như sau:

Cảm tưởng của riêng tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật Giáo trên căn bản tôn giáo. Những khai báo về phương diện này thường là nghe nói, và tŕnh bày một cách mơ hồ và tổng quát.

“Mỗi khi một nhân chứng cố gắng t́m một bằng chứng cụ thể nào để tŕnh Phái Đoàn, rốt cục sự kiện chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay cá nhân. Căn cứ trên bằng chứng, chính quyền không có chủ trương chính sách chống Phật Giáo v́ lư do tôn giáo.”

Thấy nội dung bản phúc tŕnh nói lên những sự thật bất lợi, Đại Sứ Cabot Lodge đă vận động để bản phúc tŕnh này đừng được đưa ra thảo luận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đă tŕnh với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ rằng “sự công khai hóa những điều mà phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ở Saigon gồm những người đă phục vụ dưới thời ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn căi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp tố cáo chính phủ Hoa Kỳ đính líu vào cuộc đảo chánh.”

Do sự vận động khéo léo của Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Gunewardene, trưởng phái đoàn điều tra, đă đề nghị xếp luôn hồ sơ vụ này.

MỘT NGHỊ SĨ CÓ LƯƠNG TÂM

Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd, Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện Hoa Kỳ, cũng đă đọc và khám phá ra những gian dối do CIA phối hợp với nhóm Phật Giáo đấu tranh và báo chí dựng lên để đánh lừa dư luận thế giới. Ông đă hỏi lại một số nhân vật trong phái đoàn điều tra, rồi viết một văn thư dề ngày 17.2.1964 gởi cho ông James Easland, Chủ Tịch Tiểu Ban Nội An của Thượng Viện, yêu cầu in bản phúc tŕnh này ra và gởi cho các nghị sĩ biết. Sau đây là những đoạn chính của văn thư này:

“Vào đầu tháng 9 năm qua, lúc cuộc khủng khoảng Phật Giáo đạt cao điểm, 16 chính phủ chuyển đến Đại Hội Liên Hiệp Quốc một tuyên bố nói rằng Chính Phủ Việt Nam phạm tội “trầm trọng vi phạm nhân quyền”. Đáp lại lời buộc tội này, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm mời Liên Hiệp Quốc gởi một phái đoàn điều tra đến Việt Nam, và cam kết rằng Chính Phủ ông sẽ hoàn toàn hợp tác với phái đoàn này. Đại Hội quyết định chấp nhận lời mời này và ngày 11 tháng 10 một phái đoàn điều tra đă được lập, gồm có những đại diện của Afghanistan, Brazil, Costa Rica, Dahomey, Morocco, Ceylon, và Nepal.

“Phúc Tŕnh của Phái Đoàn về Việt Nam, tuy được in phát trong Liên Hiệp Quốc ngày 9 tháng 12, chỉ được phổ biến rất hạn chế cho báo chí. Thật ra, nó hầu như không được báo chí biết ǵ đến trong hơn hai tuần sau ngày nó được công bố, đến khi vài b́nh luận gia tháo vát nắm được chuyện này.

“Theo tôi, bản phúc tŕnh này hết sức quan trọng nên tôi đề nghị Tiểu Ban Nội An cho ấn hành nó để phân phát cho các Thượng Nghị Sĩ để họ biết về việc này.

“Tuy rằng bản phúc tŕnh này chủ yếu chỉ tŕnh bày dữ kiện - lời khai của nhân chứng và tài liệu, không đưa ra kết luận chính thức của Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc, tôi tin rằng bất cứ người khách quan nào có đọc nó cũng phải kết luận rằng những báo cáo về [chính quyền] khủng bố Phật Giáo một cách quy mô, quá lắm chỉ là một sự thổi phồng quá mức, và ít lắm là tuyên truyền bẩn thỉu và gian lận.”

Tiếp đến, ông đă nhắc lại lời của Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica mà chúng tôi đă trích dẫn ở trên. Ông viết tiếp:

“Được đích thân đọc bản phúc tŕnh của Liên Hiệp Quốc, những tuyên bố đó đă làm cho tôi xúc động, và khiến tôi gọi Đại Sứ Volio để thảo luận những lời tuyên bố của ông ta chi tiết hơn...

“Đại sứ nói rằng sau hai tuần điều tra ráo riết tại Việt Nam, ông đi đến kết luận là những lời buộc tội chế độ Diệm tại Liên Hiệp Quốc không có căn bản, không chấp nhận được; ông nghĩ rằng những bằng cớ chất đống không cho thấy rằng có sự kỳ thị về tôn giáo hay xâm phạm tự do tôn giáo...

“Phái Đoàn nói rơ rằng họ đă được phỏng vấn một số lănh đạo và thanh niên Phật Giáo mà người ta đă báo cáo là bị giết. Phái Đoàn không t́m thấy bằng chứng nào xác nhận những báo cáo đă được công bố nói rằng có những vị sư đă bị liệng từ trên các tầng lầu trong vụ Chùa Xá Lợi bị đột kích."

Trong phần kết luận, ông đă lên án báo chí Hoa Kỳ khá nặng nề:

“Tóm tắt, theo ư tôi, một lần nữa nhân dân Hoa Kỳ đă bị một số báo chí của họ lừa dối trầm trọng về một t́nh h́nh quốc ngoại có tính chất cốt tử đối với họ...

“Nay chúng ta lại là nạn nhân của một tṛ lừa dối khác, mà hậu quả là Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă bị tiêu diệt, gây ra một t́nh trạng hỗn loạn sẽ làm cho cho sự ngăn chận Cọng Sản chiếm quyền khó khăn hơn.

"Quốc Hội, cũng như nhân dân Hoa Kỳ, lệ thuộc báo chí về tin tức. Ngay cả các nhân viên Chính Phủ cũng rất bị ảnh hưởng bởi những ǵ mà họ đọc trong báo tuy rằng họ có những nguồn tin tức đặc biệt. Cho nên nói rằng báo chí có vai tṛ đặt ra chính sách là rất đúng nghĩa.

“Tôi tin rằng các nhà báo sẽ làm một việc rất hữu ích nếu họ tự đặt vài câu hỏi về điểm: làm sao mà những tờ báo lớn của nước Mỹ có thể lừa dối chúng ta trầm trọng như thế trong những t́nh trạng nêu trên.”

Ông mong rằng “tất cả các thành viên của Thượng Viện sẽ t́m được th́ giơ để đọc bản phúc tŕnh này và suy ngẫm về về những hàm ư của nó”.

Mặc dầu có lời cảnh cáo của Thượng Nghị sĩ Thomas Dodd, bản phúc tŕnh của phái đoàn Liên Hiệp Quốc vẫn không được in ra và phổ biến cho mọi người biết.

Chúng tôi đă dịch xong bản phúc tŕnh này, dày khoảng 1000 trang, gồm cả bản dịch bằng tiếng Việt lẫn nguyên văn bản chính bằng tiếng Anh, để đưa ra ánh sáng những sự thật đă bị dấu diếm rất kỷ trong suốt 47 năm qua. Chúng tôi mong rằng, nhờ đọc tài liệu này, các thế hệ tới của thế giới, nhất là của Việt Nam và Hoa Kỳ, sẽ biết rơ hơn đâu là sự thật.

PHỊA SỬ ĐĂ BỊ LỘT MẶT NẠ

Trong 47 năm qua, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và CIA đă nhiều lần vẽ lại lịch sử để tạm thời che đậy những chính sách thô bạo của Hoa Kỳ. Đúng như Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd đă nói, giới truyền thông và một số sử gia cũng đă toa rập với Bộ Ngoại Giao và CIA để làm chuyện đó.

Phía Việt Nam, phe Phật Giáo đấu tranh dĩ nhiên là phải dùng phịa sử để che đậy những sai lầm của họ, đưa Phật Giáo và Miền Nam vào những ngày đen tối và cuối cùng Miền Nam bị mất. Từ những cao tăng như Thích Trí Quang, Thích Đức Nhuận, Thích Nhất Hạnh... đến các thành phần cắc ké như Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Thanh, Đỗ Mậu, Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Mạnh Quang, Lê Cung (Tiến sĩ sử ở Huế!)... đều viết phịa sử hay viết sử “theo lề đường bên phải”.

Cũng có người Mỹ đă viết phịa sử kinh hoàng không khác ǵ người Việt, chẳng hạn như cuốn  “The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem & JFK” do Bradley S.O’leary & Edward Lee sáng chế, xuất bản năm 2000. Trong cuốn này, hai tác giả đă chứng minh rằng ông Diệm và ông Nhu buôn thuốc phiện lậu nên bị Tổng Thống Kennedy ra lệnh giết, sau đó Mafia Mỹ đă hợp tác với tập đoàn bạch phiến Pháp và chính quyền Nam Việt Nam giết Tổng Thống Kennedy!

Dĩ nhiên, dư luận Mỹ chẳng ai quan tâm ǵ đến loại sách viết nhảm nhí như vậy, nhưng “phe ta” mừng như vớ được của, vội dịch ra tiếng Việt, in thành sách, phổ biến trên thị trường và trên internet, có Trần Chung Ngọc tŕnh trọng giới thiệu... Nhưng rồi nó cũng chỉ nằm trong thùng rác.

Hiện nay, ngoài những đống tài liệu do văn khố Mỹ tiết lộ, các sử gia và học giả đă khám phá ra nhiều bằng chứng cho thấy Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, CIA và một số cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đă ngụy tạo nhiều sự kiện để thực hiện biến cố ngày 1.11.1963, đưa miền Nam Việt Nam vào những ngày đen tối. Sau đây là một số sách đă công bố những tài liệu này:

“Our Vietnam Nightmare” của Marguerite Higgins; “A Death in November, America in Vietnam 1963” của Ellen J.Hammer; “The Year of the Hare, American in Vietnam, January 25, 1963 February 15, 1964” của Francois Xavier Winters; “Lodge in Vietnam, A Patriot Abroad” của Anne Blair, “The Dark Side of Camelot” của Seymour M. Hersch. Đặc biệt, cuốn “Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965” của Mark Moyar, được Minh Vơ dịch là “Chiến thắng bị bỏ lỡ”, c̣n Giáo Sư Tôn Thất Thiện đề nghị dịch là "Thắng lớn không chịu, để bị bại nhục nhă: Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam, 1954-1965". Đây là một cuốn sách của một giáo sư trẻ (sinh năm 1971), không liên hệ ǵ đến chiến tranh Việt Nam, đă sưu tầm và cung cấp cho chúng ta rất nhiều tài liệu hữu ích chưa từng biết đến trước đây. Tuy nhiên, người Mỹ vẫn c̣n biết quá ít về biến cố Phật Giáo tại Nam Việt Nam, nên các học giả và sử gia Việt Nam phải làm sáng tỏ thêm vấn đề này.

Ngày 24.6.1964, Đại Sứ Cabot Lodge đă mặc áo gấm, chít khăn xếp, rời Việt Nam. Tại phi trường Tân Sơn Nhứt, hàng ngàn tăng ni Phật tử đă tiển đưa một “người ân nhân” đă “cứu Phật Giáo” trong bùi ngùi và luyến tiếc.

Ngày 25.8.1965, “người ân nhân” này đă quay trở lại Việt Nam, nhưng không phải để “cứu Phật Giáo”, mà để bật đèn xanh cho chính phủ Nguyễn Cao Kỳ thanh toán các cuộc nổi loạn của Phật Giáo. Sau đó, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đứng về phía Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đó là một “thành tích” lớn của Quan Thái Thú Lodge ở Nam Việt Nam.

Ngày 2.11.2010

Lữ Giang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2010

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage