|
Chuyện Quan Thái
Thú
Lữ Giang
Trong một cuốn băng của Toà Bạch
Ốc ghi cuộc nói chuyện giữa Tổng
Thống Kennedy và Đại Sứ Henry
Cabot Lodge ngày 4.11.1963, Tổng
Tổng Kennedy đă tuyên bố ông
chịu trách nhiệm cá nhân về cái
chết của ông Diệm và nói thêm
rằng ông Lodge có khuynh hướng
loại bỏ ông Diệm khỏi chức vụ.
Ông Lodge đă bênh vực cho vai
tṛ của ḿnh. Ông nói:
“Các hành động của chúng ta
không phải là ‘thực dân’ và khi
bà Nhu kết án tôi hành động
giống Toàn Quyền Đông Dương,
điều đó không nói lên sự thật”.
Hồi đó báo chí ở Sài G̣n thường
công khai gọi ông là
“Quan Thái
Thú”.
Sử chép rằng Hán Vũ Đế (156 – 87
trước công nguyên) thấy nước ta
chưa biết văn hóa, sai các quan
Thái Thú sang cai trị phải dạy
bảo. Trong số ấy có ba người nổi
tiếng: Tích Quang, Thái Thú quận
Giao Chỉ, mở trường học, dậy dân
biết lễ nghĩa; Nhâm Diên, Thái
Thú quận Cửu Chân, xây trường
học, dạy dân luân lư, phép giá
thú, sinh con biết họ và ṇi
giống; và Sĩ Nhiếp, Thái Thú
Giao Châu, mở học đường, giảng
Kinh truyện, được suy tôn là Nam
Bang học tổ. Như vậy là nước ta
bắt đầu học chữ Hán và Nho giáo
từ thời Bắc thuộc.
Henry Cabot Lodge, có quyền lực
vô giới hạn. Ngoài bất chấp lệnh
của Thổng Thống Mỹ, c̣n lưu manh
xảo trá hơn các quan Thái Thú
của Tàu ngày xưa nhiều.
MỘT ÂM MƯU THÂM ĐỘC
Để gài Washington vào kế họach
giết ông Ngô Đ́nh Cẩn, lúc 9 giờ
ngày 3.11.1963, Ṭa Lănh Sự Mỹ ở
Huế đă gởi về Bộ Ngoại Giao một
công điện nói rằng đă t́m thấy
mồ chôn tập thể, hầm vũ khí và
tài liệu Việt Cộng chôn trong
khu nhà ông Cẩn. Hậu quả của
chuyện này là có nhiều ngàn
người đă đến bao vây nhà ông Cẩn
và muốn tấn công. Từ những sự
kiện trên, Ṭa Lănh Sự Huế nói
rằng việc cấp nơi trú ẩn cho ông
Cẩn
“là điều thất nhân tâm ở đây, và
có thể đưa đến hậu quả nghiêm
trọng đe dọa tư thế, tài sản và
sinh mạng người Mỹ ở Huế.”
Nghe các báo cáo này, Tướng
Harkins, Chỉ Huy Trưởng Viện Trợ
Quân Sự tại Việt Nam rất ngạc
nhiên. Ông đă hỏi lại Tướng Trần
Văn Đôn rồi lúc 5 giờ 17 phút
chiều 5.11.1963, ông đă gởi cho
Tướng Taylor, Tham Mưu Trưởng
Liên Quân, một công điện cho
biết ông có hỏi Tướng Đôn về
trường hợp ông Ngô Đ́nh Cẩn, Đôn
nói rằng các đơn vị Quân Đoàn I
đang bảo vệ ông ta và Đôn đang
xem xét việc đưa ông ta vào Sài
G̣n để bảo vệ an toàn. Tướng
Harkin có hỏi Tướng Đôn về các
mộ được báo cáo t́m thấy trong
vùng nhà ông Cẩn, Tướng Đôn cười
và nói nó không liên hệ ǵ đến
việc ông Cẩn làm cả. Tướng Đôn
nói ông biết ông Cẩn rất rơ, và
khi làm Tư Lệnh Quân Khu I, ông
đă đến thăm ông Cẩn nhiều lần.
Ông biết những ngôi mộ đó ở đâu
và nó đă có ở đó trong nhiều
năm. Những ngôi mộ đó thuộc về
những gia đ́nh sống trong vùng
xung quanh trước khi khu đó trở
thành nơi cư trú của ông Cẩn.
[FRUS 1961 – 1963. Volume IV,
tr. 569 – 570].
Thế nhưng, sau khi ông Johnson
mới lên làm Tổng Thống thay thế
Kennedy, ông Lodge đă về tŕnh
diện và tiếp tục báo cáo bố lếu
bố láo.
Trong cuộc họp lúc 3 giờ chiều
ngày 24.11.1963 tại Executive
Office Building ở Washington, có
sự hiện diện của Tổng Thống
Johnson, Đại Sứ Cabot Lodge đă
báo cáo về t́nh h́nh Việt Nam
rất tốt đẹp sau ngày đảo chánh.
Tiếp theo, ông nói ông muốn gặp
Đức Giáo Hoàng vào ngày thứ tư
(bỏ một đoạn không được giải mă)
v́ ông thấy phong trào chống
Kitô giáo ở Việt Nam đang lên.
Mặc dầu Tướng Harkins đă kiểm
chứng và cho biết báo cáo của
Ṭa Lănh Sự Huế là báo cáo láo,
ông Lodge vẫn nói rằng Giám Mục
Ngô Đ́nh Thục đă dính vào những
vụ ngược đăi liên quan đến việc
giam giữ một số lớn người, trong
đó có ba linh mục Công Giáo. C̣n
ông Cẩn cũng đă dính vào những
hoạt động khác nhau trong việc
ngược đăi và hành quyết những cá
nhân, và trong khu vườn của
ḿnh, Cẩn có một khu đất chôn
các nạn nhân của ḿnh.
Biên bản ghi rằng những lời của
ông Lodge đầy vẽ lạc quan, hy
vọng, và tạo cho Tổng Thống cảm
tưởng rằng chúng ta đang trên
đường chiến thắng. Tổng Thống
Johnson nghe xong đă nói rằng
“the
Ambassador was the Number One
man” (Ông Đại Sứ là
Người Số Một)!
[FRUS 1961-1963. Volume IV, tr.
635-637]
Khi trở lại Việt Nam, ông chỉ
đạo Tướng Khiêm và Tướng Khánh
làm “chỉnh lư” loại nhóm Dương
Văn Minh, và ra lệnh cho Tướng
Nguyễn Khánh ban hành một đạo
luật đặc biệt để giết ông Cẩn!
MUỐN LẬP CHẾ ĐỘ BẢO HỘ!
Mặc dầu báo cáo ngon lành như đă
nói trên, khi “giặc thầy chùa”
và Đại Việt nổi lên chống đối
Nguyễn Khánh gây ra các chính
biến liên tục, Đại Sứ Lodge đă
nói với Bộ Ngoại Giao rằng
phải làm
cho Nam Việt Nam từ bỏ độc lập
và đặt dưới chế độ bảo hộ của
Hoa Kỳ để đem lại sự ổn định của
chính phủ. Nếu không th́ hoặc là
tăng cường sự can thiệp về quân
sự của Hoa Kỳ, hoặc là Mỹ bỏ
Miền Nam hoàn toàn.
[South Vietnam be made to
relinquish its independence, and
it be made a protectorate of the
United States so as to bring
governmental stability. The
alternatives, he warned, were
either increased military
involvement by the U.S., or else
total abandonment of South
Vietnam by America].
Khi “giặc thầy chùa” lên đến cao
điểm, làm cho t́nh h́nh bất ổn
hoàn toàn, ông nói con đường duy
nhất để báo vệ các chương tŕnh
b́nh định của Nam Việt Nam là
thành lập
một nước theo chế độ cảnh sát
trị từ ở Nam Việt Nam gióng như
chế độ Hồ Chí Minh
(a police state out of South
Viet Nam similar to the Ho Chi
Minh regime).
Nói tóm lại, những ǵ ông Lodge
đưa ra để biện minh cho việc
phải lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm,
đều được ông đ̣i hỏi phải áp
dụng lại sau khi chế độ này sụp
đổ và c̣n đ̣i hỏi phải làm mạnh
hơn.
William Averell Harriman lúc đầu
chỉ là Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại
Giao về Viễn Đông Sự Vụ
(1961-1963), sau lên làm Thứ
Trưởng Ngoại Giao về Chính Trị
Sự Vụ (1963-1965), nhưng nhiều
người gọi ông là
Bộ Trưởng
Thuộc Địa, v́
ông đă hành xử như Miền Nam Việt
Nam là một xứ thuộc địa của Mỹ.
Chính ông đă quyết định và chỉ
đạo việc lật đổ và giết ông Diệm,
vượt lên trên quyền hành của
Tổng Thống Kennedy. Đại Sứ Cabot
Lodge và Lucien Conein chỉ là
cấp thừa hành của ông ta. Tuy
nhiên, sau khi lật đổ và giết
ông Diệm, nh́n thấy một miền Nam
tan nát, ông đă nh́n nhận:
“As you look back on it, Diem
was better than the chaotic
condition which followed him”.
(Khi bạn nh́n lại nó, Diệm tốt
hơn t́nh trạng hổn loạn theo sau
ông ta.)
[Averell Harriman Oral History,
JFK1]
ÉM NHẸM PHÚC TRÍNH LHQ
Ngoài việc lật đổ và giết gia
đ́nh họ Ngô, Cabot Lodge c̣n làm
một chuyện mờ ám khác là t́m
cách ém nhẹm phúc tŕnh của Phái
Đoàn LHQ điều tra về vụ Phật
Giáo Việt Nam v́ nó phô bày
những sự dối trá do chính phủ
Hoa Kỳ đă toa rập với phong trào
đấu tranh của Phật Giáo Việt Nam
tạo dựng ra để đánh lừa dư luận
thế giới.
Như chúng ta đă biết, chính Đại
Sứ Cabot Lodge đă nhờ ông
Senerat Gunewardene, Đại Sứ Tích
Lan ở Liên Hiệp Quốc, một người
bạn thân của Cabot Lodge khi ông
c̣n làm Đại Sứ tại Liên Hiệp
Quốc, đứng ra vận động các nước
Á Phi đưa ra một bản tuyên bố
lên án chế độ Ngô Đ́nh Diệm đàn
áp Phật Giáo. Đây là nguyên nhân
khiến LHQ phải cử một phái đoàn
đến Việt Nam điều tra. Kết quả,
phái đoàn đă khám phá ra nhiều
sự gian dối do CIA và nhóm Phật
Giáo đấu tranh đă tạo dựng ra để
đánh gục chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
V́ thế, Đại Sứ Cabot Lodge và Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ phải t́m cách
ém nhẹm bản phúc tŕnh của phái
đoàn này.
Cuộc điều tra kéo dài trong hai
tuần lễ. Khi phái đoàn đang điều
tra th́ cuộc đảo chánh xẩy ra,
nhưng phái đoàn vẫn làm báo cáo
và đệ tŕnh lên Đại Hội Đồng
Liên Hiệp Quốc. Bản phúc tŕnh
đă được phổ biến tại diễn đàn
Liên Hiệp Quốc ngày 9.12.1963.
Ngày 20.12.1963, Đại Sứ Fernando
Volio Jimenez của Costa Rica đă
nói với hăng thông tấn NCWC như
sau:
“Cảm
tưởng của riêng tôi là không có
chính sách kỳ thị, áp bức hay
khủng bố đối với Phật Giáo trên
căn bản tôn giáo.
Những khai báo về phương diện
này thường là nghe nói, và tŕnh
bày một cách mơ hồ và tổng quát.
“Mỗi khi một nhân chứng cố gắng
t́m một bằng chứng cụ thể nào để
tŕnh Phái Đoàn, rốt cục sự kiện
chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay cá
nhân.
Căn cứ
trên bằng chứng, chính quyền
không có chủ trương chính sách
chống Phật Giáo v́ lư do tôn
giáo.”
Thấy nội dung bản phúc tŕnh nói
lên những sự thật bất lợi, Đại
Sứ Cabot Lodge đă vận động để
bản phúc tŕnh này đừng được đưa
ra thảo luận tại Đại Hội Đồng
Liên Hiệp Quốc.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc
đă tŕnh với Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ rằng
“sự công khai hóa những điều mà
phái đoàn điều tra Liên Hiệp
Quốc phát hiện được sẽ gây lúng
túng cho chế độ mới ở Saigon gồm
những người đă phục vụ dưới thời
ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn
căi công khai có thể cho thấy
rằng chế độ mới này cũng chẳng
kém độc tài hơn chế độ cũ và cho
Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp
tố cáo chính phủ Hoa Kỳ đính líu
vào cuộc đảo chánh.”
Do sự vận động khéo léo của
Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ, ông Gunewardene, trưởng phái
đoàn điều tra, đă đề nghị xếp
luôn hồ sơ vụ này.
MỘT NGHỊ SĨ CÓ LƯƠNG TÂM
Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd, Chủ
Tịch Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện
Hoa Kỳ, cũng đă đọc và khám phá
ra những gian dối do CIA phối
hợp với nhóm Phật Giáo đấu tranh
và báo chí dựng lên để đánh lừa
dư luận thế giới. Ông đă hỏi lại
một số nhân vật trong phái đoàn
điều tra, rồi viết một văn thư
dề ngày 17.2.1964 gởi cho ông
James Easland, Chủ Tịch Tiểu Ban
Nội An của Thượng Viện, yêu cầu
in bản phúc tŕnh này ra và gởi
cho các nghị sĩ biết. Sau đây là
những đoạn chính của văn thư này:
“Vào đầu tháng 9 năm qua, lúc
cuộc khủng khoảng Phật Giáo đạt
cao điểm, 16 chính phủ chuyển
đến Đại Hội Liên Hiệp Quốc một
tuyên bố nói rằng Chính Phủ Việt
Nam phạm tội “trầm trọng vi phạm
nhân quyền”. Đáp lại lời buộc
tội này, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm
mời Liên Hiệp Quốc gởi một phái
đoàn điều tra đến Việt Nam, và
cam kết rằng Chính Phủ ông sẽ
hoàn toàn hợp tác với phái đoàn
này. Đại Hội quyết định chấp
nhận lời mời này và ngày 11
tháng 10 một phái đoàn điều tra
đă được lập, gồm có những đại
diện của Afghanistan, Brazil,
Costa Rica, Dahomey, Morocco,
Ceylon, và Nepal.
“Phúc Tŕnh của Phái Đoàn về
Việt Nam, tuy được in phát trong
Liên Hiệp Quốc ngày 9 tháng 12,
chỉ được phổ biến rất hạn chế
cho báo chí. Thật ra, nó hầu như
không được báo chí biết ǵ đến
trong hơn hai tuần sau ngày nó
được công bố, đến khi vài b́nh
luận gia tháo vát nắm được
chuyện này.
“Theo tôi, bản phúc tŕnh này
hết sức quan trọng nên tôi đề
nghị Tiểu Ban Nội An cho ấn hành
nó để phân phát cho các Thượng
Nghị Sĩ để họ biết về việc này.
“Tuy rằng bản phúc tŕnh này chủ
yếu chỉ tŕnh bày dữ kiện - lời
khai của nhân chứng và tài liệu,
không đưa ra kết luận chính thức
của Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc,
tôi tin rằng bất cứ người khách
quan nào có đọc nó cũng phải kết
luận rằng những báo cáo về [chính
quyền] khủng bố Phật Giáo một
cách quy mô,
quá lắm
chỉ là một sự thổi phồng quá mức,
và ít lắm là tuyên truyền bẩn
thỉu và gian lận.”
Tiếp đến, ông đă nhắc lại lời
của Đại Sứ Fernando Volio
Jimenez của Costa Rica mà chúng
tôi đă trích dẫn ở trên. Ông
viết tiếp:
“Được đích thân đọc bản phúc
tŕnh của Liên Hiệp Quốc, những
tuyên bố đó đă làm cho tôi xúc
động, và khiến tôi gọi Đại Sứ
Volio để thảo luận những lời
tuyên bố của ông ta chi tiết
hơn...
“Đại sứ nói rằng sau hai tuần
điều tra ráo riết tại Việt Nam,
ông đi đến kết luận là
những lời
buộc tội chế độ Diệm tại Liên
Hiệp Quốc không có căn bản,
không chấp nhận được; ông nghĩ
rằng những bằng cớ chất đống
không cho thấy rằng có sự kỳ thị
về tôn giáo hay xâm phạm tự do
tôn giáo...
“Phái Đoàn nói rơ rằng họ đă
được phỏng vấn một số lănh đạo
và thanh niên Phật Giáo mà người
ta đă báo cáo là bị giết.
Phái Đoàn
không t́m thấy bằng chứng nào
xác nhận những báo cáo đă được
công bố nói rằng có những vị sư
đă bị liệng từ trên các tầng lầu
trong vụ Chùa Xá Lợi bị đột
kích."
Trong phần kết luận, ông đă lên
án báo chí Hoa Kỳ khá nặng nề:
“Tóm tắt, theo ư tôi,
một lần nữa nhân dân Hoa Kỳ đă
bị một số báo chí của họ lừa dối
trầm trọng về một t́nh h́nh quốc
ngoại có tính chất cốt tử đối
với họ...
“Nay chúng ta lại là nạn nhân
của một tṛ lừa dối khác, mà hậu
quả là Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm
đă bị tiêu diệt, gây ra một t́nh
trạng hỗn loạn sẽ làm cho cho sự
ngăn chận Cọng Sản chiếm quyền
khó khăn hơn.
"Quốc
Hội, cũng như nhân dân Hoa Kỳ,
lệ thuộc báo chí về tin tức.
Ngay cả các nhân viên Chính Phủ
cũng rất bị ảnh hưởng bởi những
ǵ mà họ đọc trong báo tuy rằng
họ có những nguồn tin tức đặc
biệt. Cho nên nói rằng báo chí
có vai tṛ đặt ra chính sách là
rất đúng nghĩa.
“Tôi tin rằng các nhà báo sẽ làm
một việc rất hữu ích nếu họ tự
đặt vài câu hỏi về điểm:
làm sao mà
những tờ báo lớn của nước Mỹ có
thể lừa dối chúng ta trầm trọng
như thế trong những t́nh trạng
nêu trên.”
Ông mong rằng
“tất cả các thành viên của
Thượng Viện sẽ t́m được th́ giơ
để đọc bản phúc tŕnh này và suy
ngẫm về về những hàm ư của nó”.
Mặc dầu có lời cảnh cáo của
Thượng Nghị sĩ Thomas Dodd, bản
phúc tŕnh của phái đoàn Liên
Hiệp Quốc vẫn không được in ra
và phổ biến cho mọi người biết.
Chúng tôi đă dịch xong bản phúc
tŕnh này, dày khoảng 1000
trang, gồm cả bản dịch bằng
tiếng Việt lẫn nguyên văn bản
chính bằng tiếng Anh, để đưa ra
ánh sáng những sự thật đă bị dấu
diếm rất kỷ trong suốt 47 năm
qua. Chúng tôi mong rằng, nhờ
đọc tài liệu này, các thế hệ tới
của thế giới, nhất là của Việt
Nam và Hoa Kỳ, sẽ biết rơ hơn
đâu là sự thật.
PHỊA SỬ ĐĂ BỊ LỘT MẶT NẠ
Trong 47 năm qua, Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ và CIA đă nhiều lần vẽ
lại lịch sử để tạm thời che đậy
những chính sách thô bạo của Hoa
Kỳ. Đúng như Thượng Nghị Sĩ
Thomas Dodd đă nói, giới truyền
thông và một số sử gia cũng đă
toa rập với Bộ Ngoại Giao và CIA
để làm chuyện đó.
Phía Việt Nam, phe Phật Giáo đấu
tranh dĩ nhiên là phải dùng phịa
sử để che đậy những sai lầm của
họ, đưa Phật Giáo và Miền Nam
vào những ngày đen tối và cuối
cùng Miền Nam bị mất. Từ những
cao tăng như Thích Trí Quang,
Thích Đức Nhuận, Thích Nhất Hạnh...
đến các thành phần cắc ké như
Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Thanh,
Đỗ Mậu, Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn
Mạnh Quang, Lê Cung (Tiến sĩ sử
ở Huế!)... đều viết phịa sử hay
viết sử “theo lề đường bên phải”.
Cũng có người Mỹ đă viết phịa sử
kinh hoàng không khác ǵ người
Việt, chẳng hạn như cuốn
“The Deaths of the Cold War
Kings: The Assassinations of
Diem & JFK” do Bradley
S.O’leary & Edward Lee sáng chế,
xuất bản năm 2000. Trong cuốn
này, hai tác giả đă chứng minh
rằng ông Diệm và ông Nhu buôn
thuốc phiện lậu nên bị Tổng
Thống Kennedy ra lệnh giết, sau
đó Mafia Mỹ đă hợp tác với tập
đoàn bạch phiến Pháp và chính
quyền Nam Việt Nam giết Tổng
Thống Kennedy!
Dĩ nhiên, dư luận Mỹ chẳng ai
quan tâm ǵ đến loại sách viết
nhảm nhí như vậy, nhưng “phe ta”
mừng như vớ được của, vội dịch
ra tiếng Việt, in thành sách,
phổ biến trên thị trường và trên
internet, có Trần Chung Ngọc
tŕnh trọng giới thiệu... Nhưng
rồi nó cũng chỉ nằm trong thùng
rác.
Hiện nay, ngoài những đống tài
liệu do văn khố Mỹ tiết lộ, các
sử gia và học giả đă khám phá ra
nhiều bằng chứng cho thấy Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ, CIA và một số
cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đă
ngụy tạo nhiều sự kiện để thực
hiện biến cố ngày 1.11.1963, đưa
miền Nam Việt Nam vào những ngày
đen tối. Sau đây là một số sách
đă công bố những tài liệu này:
“Our Vietnam Nightmare” của
Marguerite Higgins; “A
Death in November, America in
Vietnam 1963” của Ellen
J.Hammer;
“The Year of the Hare, American
in Vietnam, January 25, 1963
February 15, 1964” của
Francois Xavier Winters;
“Lodge in Vietnam, A Patriot
Abroad” của Anne Blair,
“The Dark Side of Camelot”
của Seymour M. Hersch. Đặc biệt,
cuốn
“Triumph
Forsaken: The Vietnam War,
1954-1965”
của Mark Moyar, được Minh Vơ
dịch là
“Chiến thắng bị bỏ lỡ”, c̣n
Giáo Sư Tôn Thất Thiện đề nghị
dịch là
"Thắng lớn không chịu, để bị bại
nhục nhă: Hoa Kỳ trong cuộc
chiến Việt Nam, 1954-1965".
Đây là một cuốn sách của một
giáo sư trẻ (sinh năm 1971),
không liên hệ ǵ đến chiến tranh
Việt Nam, đă sưu tầm và cung cấp
cho chúng ta rất nhiều tài liệu
hữu ích chưa từng biết đến trước
đây. Tuy nhiên, người Mỹ vẫn c̣n
biết quá ít về biến cố Phật Giáo
tại Nam Việt Nam, nên các học
giả và sử gia Việt Nam phải làm
sáng tỏ thêm vấn đề này.
Ngày 24.6.1964, Đại Sứ Cabot
Lodge đă mặc áo gấm, chít khăn
xếp, rời Việt Nam. Tại phi
trường Tân Sơn Nhứt, hàng ngàn
tăng ni Phật tử đă tiển đưa một
“người ân nhân” đă “cứu Phật
Giáo” trong bùi ngùi và luyến
tiếc.
Ngày 25.8.1965, “người ân nhân”
này đă quay trở lại Việt Nam,
nhưng không phải để “cứu Phật
Giáo”, mà để bật đèn xanh cho
chính phủ Nguyễn Cao Kỳ thanh
toán các cuộc nổi loạn của Phật
Giáo. Sau đó, Giáo Hội Phật Giáo
Ấn Quang đứng về phía Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam. Đó là một
“thành tích” lớn của Quan Thái
Thú Lodge ở Nam Việt Nam.
Ngày 2.11.2010
Lữ Giang
|