|
CÔNG DÂN ÁO GẤM
Lê Tử Hùng
1971
HỒI
ĐÓ, TÁM NĂM QUA…
TỰA
Tháng
8.63, t́nh h́nh căng thẳng, ngột ngạt, các phóng viên các
báo được đặt trong hoàn cảnh ‘’báo động’’, thường trực sẵn
sàng làm nhiệm vụ săn tin bất cứ lúc nào. Anh em ít có dịp
họp nhau bù khú trong quán cà-phê như trước, v́ ai cũng tất
tưởi ngược xuôi, chỉ gặp nhau trong Chùa Xá Lợi, im lặng ra
dấu chào nhau. Những tin tức quan trọng hồi đó đều liên quan
tới sự chống đối nhà Ngô, không tờ báo nào xuất bản ở Sài
G̣n dám đăng tải, trừ khi giản lược tới mức tối đa, đến mức
sai lạc thành vô nghĩa. Nhưng, anh em vẫn cố gắng săn tin,
để thỏa măn tự ái nghề nghiệp.
Cái
tin ông H. Cabot Lodge qua Việt Nam, thay thế chức vụ Đại Sứ
Hoa Kỳ của ông F. Nolting, anh em đều biết, anh em cũng đều
được nghe nói ông Lodge là một thứ ‘’chuyên viên khuynh
đảo’’ một tay ‘’thợ’’ tài t́nh về đảo chánh lật đổ chế độ.
V́ vậy
anh em đều nóng ḷng chờ đợi ông Lodge tới Việt Nam. Tất
nhiên v́ vấn đề an ninh, ông ta sẽ tới Sài G̣n thật bất ngờ.
Tất cả sẽ được giữ bí mật cho tới khi ông tŕnh Ủy Nhiện Thư
lên Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Trong
không khí nặng nề của Sài G̣n đặt trong t́nh trạng thiết
quân luật dưới quyền Tổng Trấn của Thiếu Tướng Tôn Thất
Đính, không ai bảo ai, anh em phóng viên đều coi anh nào đón
được ông Lodge khi ông vừa tới Phi Trường Tân Sơn Nhứt là
tay ‘’bảnh’’, ăn trùm anh em.
Anh em
phóng viên hồi đó, bây giờ phần đông đều có một tờ báo trong
tay để thao túng, như các anh Việt Định Phương, Dương Hà,
Trương Hồng Sơn hay cũng là kư giả có ảnh hưởng lớn với báo
chí như các anh Từ Chung, Anh Quân, Phan Nghị, Hồ Nam, Tô
Văn, Cát Hữu…
Khoảng
từ 20.8.1963, tin ông Lodge tới Việt Nam đă thành chắc chắn.
Ngày giờ ông tới Sài G̣n được giới hạn trong ṿng 3, 4 ngày.
Anh em
phóng viên đành bỏ hết mọi công việc ngày đêm luẩn quẩn
trước cơ quan Thông Tin Hoa Kỳ ở gần Rạp Ciné Rex, để ḍ la,
theo dơi t́nh h́nh động tĩnh.
Rút
cuộc, tất cả đều phải chào thua anh Hồ Nam, người đă kiên
gan chờ đợi cả đêm 21.8.1963, để quá giang xe hơi của Sở
Thông Tin Hoa Kỳ, có mặt tại Phi Trường Tân Sơn Nhất khi ông
Lodge tới vào lúc rạng ngày 22 tháng 8 năm 1963.
Tuy
chỉ được nghe ‘’ké’’ những lời tuyên bố của ông Lodge, chứ
không hề phỏng vấn ông ta được câu nào, anh Hồ Nam vẫn là kư
giả Việt Nam độc nhất có mặt trong cuộc họp báo ngắn ngủi
của viên Tân Đại Sứ Hoa Kỳ hồi đó ở Phi Trường Tân Sơn Nhất.
Anh em không thể không khâm phục người đồng nghiệp ‘’láu táu
một cách ́ ạch rắc rối’’ đó.
Anh em
đă không lầm về sự có mặt quan trọng của ông Lodge trên đất
nước này. Đúng như sự dự đoán chung, cuộc đảo chánh ông Diệm
đă xảy ra.
Vai
tṛ của ông Lodge trong cuộc đảo chánh 1.11.1963 dù chưa thể
xác nhận vị trí thất chính xác, nhưng ai cũng biết đó là vai
tṛ chủ động, khá quan trọng, có tính cách quyết định, tuy
ông luôn luôn phủ nhận bằng những lời lẽ khôn khéo.
Những
Tướng lănh chủ chốt trong cuộc đảo chánh 1.11.63 ấy cũng đều
phủ nhận vai tṛ của Hoa Kỳ nói chung, của ông Lodge nói
riêng trong việc lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa, nhưng dư
luận khắp nơi mà cụ thể là một cuốn sách mang tựa đề ‘’Ông
Đại Sứ’’ lại xác nhận sự ‘’xía vô’’ của Hoa Kỳ, qua nhân vật
Lodge, vào t́nh h́nh Việt Nam từ năm 63.
Không
hiểu vô t́nh hay cố ư, đối với một người như ông Lodge, th́
chắc chắn đến 99 phần trăm là cố ư, ông Lodge trong dịp rời
chức vụ Đại Sứ nhiệm kỳ thứ nhất, đă tuyên bố với báo chí
‘’điều ông đáng tiếc hơn cả là không ngăn cản được cái chết
của Tổng Thống Diệm’’.
Tuyên
bố như vậy là xác nhận.
Ông
xác nhận những ǵ th́ chưa được tŕnh bày rơ ràng.
Dựa
vào các tài liệu, các bằng chứng, những lời kể lại của
người ‘’trong cuộc’’, Lê Tử Hùng đă ghi chép một cách khách
quan những trang sử cận đại trong cuốn sách mang tựa đề
‘’Công Dân Áo Gấm Henry Cabot Lodge’’.
Được
Lê Tử Hùng cậy nhờ viết ít trang mở đầu cho cuốn sách của
anh, tôi, trong tư cách người làm báo, nhắc lại ở trên ít
nét đơn giản về liên hệ nghề nghiệp và t́nh h́nh trong thời
gian vai tṛ Cabot Lodge chuẩn bị xuất hiện trên sân khấu
chánh trị miền Nam này.
Sài
G̣n, 5.1971
HOÀNG
ANH TUẤN
LỜI
TÁC GIẢ
Năm
1954, Hiệp Định Genène ra đời ngày 20 tháng 7. Ông Diệm từ
Hoa Kỳ qua Pháp rồi về Nam Việt Nam lập nội các theo lời mời
của Quốc Trưởng Bảo Đại. Mặc dù Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm về
nước trước ngày hội nghị Genève, nhưng ông không thể cưỡng
nổi t́nh h́nh mà các cường quốc Pháp, Mỹ, Anh, Nga, Trung
Cộng đă quyết định chia cắt Việt Nam ra thành hai phần: Miền
Bắc thuộc cộng sản, miền Nam thuộc quyền Quốc Gia. Người
Pháp được coi là thất bại ở Việt Nam với mặt trận Điện Biên
Phủ, nơi chôn mồ giặc Pháp ở Thượng Du Tây Nam Bắc Bộ. Lúc
bấy giờ ảnh hưởng của người Hoa Kỳ không mấy sâu rộng ở Việt
Nam. Song người Mỹ đang chủ tâm hất ảnh hưởng người Pháp
(Thực dân) trên Bán Đảo Đông Dương. Bằng chứng Tổng Thống
Hoa Kỳ Eisenhower cảnh cáo nước Pháp về chiến cuộc Đông
Dương. Cho nên Hoa Kỳ không thực tâm viện trợ sâu rộng kinh
phí cho Pháp giải quyết chiến trận bằng quân sự.
Lá bài
Ngô Đ́nh Diệm là bước đầu ảnh hưởng Hoa Kỳ du nhập vào Nam
Việt Nam. V́ ông Ngô Đ́nh Diệm là nhân vật thân Hoa Kỳ và
quốc gia này ủng hộ triệt để hầu khuất phục t́nh trạng vừa
ngưng chiến tại Nam Việt Nam.
Khi
ông Diệm về nước nắm chức Thủ Tướng th́ ông Rheinart thay
Đại Sứ Donald Heat là Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Để gây
thêm hậu thuẫn cho Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm và mở rộng ảnh
hưởng lớn tại Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ liền cử ông
Elbridge Durbrow thay thế Rheinart giữ chức Đại Sứ bên cạnh
chính phủ Diệm.
Song
song với chính trị, quân sự Mỹ cũng hoạt động để hợp với
t́nh thế. Từ Tướng O’Daniel huấn luyện chỉ huy phái đoàn
quân sự đầu tiên ở Việt Nam đến Tướng Lionel McGarr rồi
Tướng Samuel T. William. Cuối nữa Tướng Paul Harkins Tư Lệnh
Quân Sự Mỹ, kế đó nhường lại cho Westmoreland. Lúc đó người
Mỹ đă quá quen thuộc và nếm mùi với Việt Nam đậm đà lắm rồi.
Vị Đại
Sứ Hoa Kỳ Elbrige Durbrow là người có công củng cố chiếc ghế
Thủ Tướng. Vị Đại Sứ này đă hậu thuẫn cho Thủ Tướng Diệm.
Chống
lại những phe phái thân Pháp như Nguyễn Văn Hinh, Trần Văn
Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Lê Văn Viễn, Phan Văn Giáo v.v…Và cũng
vị Đại Sứ này khuyến cáo với ông Diệm và ông Nhu nên lật đổ
chế độ quân chủ để thay vào đó chế độ Cộng Ḥa.
Sau
khi t́nh h́nh khá ổn định, ngày 8.5.1961, sau vụ đảo chánh
hụt 11.11.1960, Đại Sứ Elbridge Durbrow ra đi để tân Đại Sứ
Frederich Nolting đến Sài G̣n với một kế hoạch mới của người
Hoa Kỳ.
Từ
ngày Nolting giữ chức Đại Sứ tại Việt Nam t́nh h́nh xoay
chiều rơ rệt. Nội bộ Việt Nam Cộng Ḥa yên tĩnh nhưng việt
cộng bắt đầu khuấy rối ở các Tỉnh miền Trung dọc theo dăy
núi Trường Sơn và miền Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Đại Sứ
Nolting là một nhân vật rất được ḷng chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Và ngược lại, chế độ Ngô Đ́nh Diệm trọng đăi Nolting hết
ḷng. Nguyên nhân này làm cho ông Nolting nhận định chế độ
một chiều mà cá Cơ Quan T́nh Báo Mỹ không đồng quan điểm.
Tuy
nhiên những vị Đại Sứ trên không nổi tiếng bằng Đại Sứ Henry
Cabot Lodge (thay thế Nolting) trong những ngày lật đổ chế
độ Ngô Đ́nh Diệm.
Ông
Lodge đă hai lần giữ chức Đại Sứ trong khúc quanh lịch sử
sóng gió Nam Việt Nam (trước và sau đảo chánh 1.11.1963). Và
ông ta đă trở thành công dân danh dự dưới thời Tướng Nguyễn
Khánh. Ông Lodge rời Việt Nam lần cuối cùng ngày 23.6.1964
với nghi thức tiễn đưa chưa hề xảy ra trong lịch sử ngoại
giao đoàn Việt Nam. Ông Lodge đă mặc quốc phục Việt Nam với
áo dài khăn đóng chít trên đầu.
Từ đó
ông Lodge được danh hiệu CÔNG DÂN ÁO GẤM.
Công
dân áo gấm Lodge đi vào lịch sử Việt Nam với nhiều thủ đoạn
khuynh đảo, vắt chanh bỏ vỏ Chính khách Tướng lănh. Công dân
áo gấm Lodge khuất phục cố Tổng Thống Diệm bất thành nên
phải đồng ư lật đổ bằng quân sự. Ông Lodge đă phủ nhận các
tiền nhiệm của các Đại Sứ Rheinart, Elbrow, Nolting để mở ra
một thời đại đen tối Việt Nam dưới bàn tay của Hoa Kỳ.
Lê Tử Hùng
CHUYÊN VIÊN THỜI CUỘC
Đại
Sứ Lodge đến Sài G̣n Ngày 22.8.1963 thay thế Đại Sứ Nolting
bị Hoa Thịnh Đốn triệu về Mỹ v́ lư do ủng hộ một chế độ dị
biệt tôn giáo, chà đạp tín ngưỡng, nhân quyền và ông Nolting
đă đem lại những bản phúc tŕnh gửi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với
sự bênh vực chế độ Sài G̣n quá đáng.
Ông
Henry Cabot Lodge đến Sài G̣n với lời nói đầu tiên cùng các
kư giả trong và ngoài nước tại pḥng khách danh dự Tân Sơn
Nhất: ‘’Tôi không muốn phát biểu ư kiến ǵ trong lúc này về
t́nh h́nh Việt Nam’’, một câu ngắn, đầy bí mật của những
người thâm hiểm hành động trước khi nói.
Đó là
một lối khôn ngoan của Nhà Ngoại Giao sắp nhận lănh nhiệm vụ
ở xứ người trong một t́nh thế nóng bỏng, khó khăn. Sự dè dặt
của ông Lodge đă cho thấy tầm quan trọng của nhân vật này
khi Hoa Thịnh Đốn hầu như tuyển chọn đưa đến Nam Việt Nam
đối phó với chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
T́nh
h́nh Sài G̣n trước ngày ông Lodge đến Nam Việt Nam đă nghiêm
trọng lắm rồi. Những vụ tự thiêu của Phật Giáo, dẫn đầu là
Thượng Tọa Thích Quảng Đức đă làm xúc động nhân dân thế
giới, nhất là những quốc gia mộ đạo Phật trong Vùng Á
Châu.
Trước
một ngày ông Lodge đặt chân lên giải đất Nam Việt Nam, nghĩa
là ngày 21.8.1963, Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu xuống tóc
phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo.
Phía
Quân Đội, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính được cử giữ chức Tổng
Trấn Đô Thành Sài G̣n Gia Định và có nhiệm vụ thi hành lệnh
giới nghiêm. Dân chúng bị cấm đi lại ban đêm từ 9 giờ tối
đến 5 giờ sáng.
Ngày
Đại Sứ Lodge đến Sài G̣n cũng là ngày biến động khá lớn. Ở
Hoa Thịnh Đốn, Luật Sư Trần Văn Chương từ chức Đại Sứ Việt
Nam tại Hoa Kỳ. Trong đêm hôm ấy, Cảnh Sát chiến đấu hành
quân vào các Chùa chiền.
Sáng
ngày 23.8.1963 chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cho báo chí dân chúng
biết là bắt được một số vũ khí trong Chùa Therevada ở Đường
Trương Minh Giảng và Chùa Xá Lợi.
Trong
24 giờ đặt chân đến đất Nam Việt Nam, Đại Sứ Lodge đă thấy
hốc hác trước nhiều vấn đề phải giải quyết. Cho nên sự vội
vàng ở pḥng khách danh dự Phi Trường Tân Sơn Nhất đă làm
cho các quan sát viên quốc tế theo dơi hành động của Lodge
mà chính phủ Hoa Kỳ Kenedy giao phó.
Đại Sứ
Lodge đến Sài G̣n với một câu tuyên bố, tuy không hằn học,
nhưng ở đó cũng bộc lộ được sự quyết liệt của ông đă bước
hẳn vào thời cuộc Nam Việt Nam.
Ông
Lodge lên xe về Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ trên Đường Hàm Nghi ngay
lúc đó. Người ta tính với kim đồng hồ th́ Đại Sứ Lodge vỏn
vẹn dừng lại pḥng khách danh dự Phi Trường Tân Sơn Nhất
khoảng trên dưới 10 phút.
Đại Sứ
Lodge bắt tay vào việc ngay từ giờ phút đó. Những ǵ của
Nolting để lại, Lodge đều duyệt qua tất cả. Ông gọi các cộng
sự viên mới cũng như cũ vào tŕnh diện và yêu cầu điều tra
phúc tŕnh rơ ràng cho ông rơ về các vụ tự thiêu và cuộc
lùng bố chùa chiền trước kia.
Đại Sứ
Lodge cũng chuẩn bị tŕnh Ủy Nhiệm Thư lên Tổng Thống Diệm
càng chóng càng tốt. Hôm sau v́ vụ chính quyền loan tin bắt
được vũ khí trong các Chùa, Đại Sứ Lodge liên lạc với Giám
Đốc nghi lễ Phủ Tổng Thống xin tŕnh Ủy Nhiệm Thư trong nội
nhật. Cơ quan này trả lời sẽ xét lại khi tŕnh lên Tổng
Thống Diệm.
Nhưng
rồi Phủ Tổng Thống im hơi lặng tiếng. Đại Sứ Lodge biết ngay
là Phủ Tổng Thống đang làm trở ngại ông ở bước đầu với cốt ư
dằn mặt. V́ thế trong những ngày kế tiếp ông Lodge chưa hoạt
động được bên ngoài. Mặc dầu ông đă được Tổng Thống Diệm và
ông Ngô Đ́nh Nhu tiếp kiến qua lối xă giao nghi lễ của một
vị Tân Đại Sứ.
Ngày
26.8.1963 (4 ngày sau đến Sài G̣n) ông Lodge tŕnh Ủy Nhiệm
Thư lên Tổng Thống Diệm để trở thành Đại Sứ chính thức của
chính phủ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.
Trong
4 ngày qua, ông Lodge tỏ thái độ mềm dẻo với chính phủ Diệm.
Nhưng sau lễ tŕnh Ủy Nhiệm Thư, Đại Sứ Lodge đă có thái độ
khuyến cáo chính phủ Diệm trong lúc ông và Tổng Thống Diệm
hàn huyên ở pḥng khách.
Đại Sứ
Lodge yêu cầu Tổng Thống Diệm ngừng ngay việc đàn áp Phật
Giáo, thực thi thực t́nh nguyện vọng của đoàn thể này, đồng
thời mở rộng chính phủ và đưa ông bà Ngô Đ́nh Nhu ra ngoại
quốc một thời gian.
Tổng
Thống Diệm nghe ông Lodge nói thế th́ mặt mày đỏ gay. Ông
Diệm phủ nhận chính quyền đàn áp Phật Giáo đồ. Và nguyện
vọng Phật Giáo đă chính tay ông ấn kư. Như vậy với chức vụ
Tổng Thống, ông đă lùi một bước cho nguyện vọng đó thỏa
đáng, nhưng Phật Giáo đă kiếm cách này cách nọ gây rối với
chính quyền.
Tổng
Thống Diệm yêu cầu Đại Sứ Lodge đừng nhúng tay sâu vào nội
bộ Việt Nam bằng lối áp lực, như yêu cầu đưa Ngô Đ́nh Nhu ra
nước ngoài. Anh em chúng tôi không tham quyền cố vị, nhưng
làm như thế chủ quyền quốc gia chúng tôi sẽ mất hết.
Sự
chống đối, ương ngạnh của Tổng Thống Diệm như vậy đă làm cho
ông Lodge khó chịu. Thế là buổi gặp gỡ sau lễ tŕnh Ủy Nhiệm
Thư của ông Lodge với Tổng Thống Diệm đă bắt đầu đào hố sâu
ngăn cách.
Thật
sự trong lúc bấy giờ, Đại Sứ Lodge mong muốn ḿnh là một
‘’chuyên viên nắn bóp thời cuộc’’ mà thôi. Ông Lodge cố
thuyết phục Tổng Thống Diệm để thay đổi t́nh trạng hỗn độn
đang chờ sẵn mà chỉ có lợi cho cộng sản.
Nhưng
ông Lodge không ngờ Tổng Thống Diệm cứng rắn và dường như
bất cần vị đại diện của chính phủ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.
Có thể nói rằng đây là lần đầu tiên chuyên viên ḥa giải
Lodge gặp một vị Tổng Thống địa phương chịu viện trợ lớn của
Hoa Kỳ mà lại ương ngạnh với vị Đại Sứ của quốc gia đưa viện
trợ đến.
Tự ái
của ‘’một Quốc Gia khổng lồ’’ ăn sâu vào trí ông Lodge. Và
ông đă không chịu đựng được lối ‘’trịch thượng’’ của Tổng
Thống Diệm. Đại Sứ Lodge ra về, ḷng không mấy thanh thản,
nếu không muốn nói một sự mất cảm t́nh đang lan rộng, xâm
chiếm trí óc ông.
Những
vụ tự thiêu của Sư Săi nối tiếp dù đă có sự hiện diện của
ông Lodge ở Sài G̣n. Một vị tu hành tự thiêu ngay trước cửa
Nhà Thờ Đức Bà làm xôn xao thêm. Đại Sứ Lodge thân hành đi
xem xét vụ này.
Ông
Lodge đă chứng kiến nhân viên công lực dập tắt ngọn lửa tự
thiêu đó. Thi thể nạn nhân được xe cảnh sát đưa đi khỏi vùng
địa điểm đốt liền. Đồng bào hiếu kỳ đứng xem rất đông, Cảnh
Sát chiến đấu giải tán mau chóng.
Kế
tiếp những ngày sau, Đại Sứ Lodge xin được Tổng Thống Diệm
tiếp kiến. Trong buổi gặp mặt này rất căng thẳng. Tổng Thống
Diệm lại yêu cầu Đại Sứ Lodge đừng nhúng tay vào nội bộ Việt
Nam. Hoa Kỳ giải tỏa cúp viện trợ cho Lực Lượng Đặc Biệt.
Nếu
Hoa Kỳ c̣n tiếp tục hành động như vậy sẽ mang tai họa cộng
sản. Ông Lodge trả lời với Tổng Thống Diệm là viện trợ của
Hoa Kỳ để chống cộng sản chứ không phải để đàn áp tôn giáo,
nhân quyền, tín ngưỡng.
Tổng
Thống Diệm không bằng ḷng cử chỉ của Đại Sứ Lodge như vậy.
Ông nói với Đại Sứ Lodge rằng, nhân dân ủng hộ tôi, bầu tôi
làm Tổng Thống th́ không có lư do ǵ để đầu hàng một đoàn
thể có ngoại bang và cộng sản giật dây.
Đại Sứ
Lodge hỏi ngược lại Tổng Thống Diệm t́nh trạng như thế này
th́ trong bao lâu Tổng Thống mới thắng được chiến tranh cộng
sản ? Tổng Thống Diệm đáp: Hai ba năm nữa, nếu Hoa Kỳ canh
tân vũ khí cho tôi. Người Mỹ đứng đắn đứng vào cương vị Cố
Vấn cho các cấp chỉ huy Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa.
Đại Sứ
Lodge lắc đầu, tỏ vẻ không tin tưởng lời nói của Tổng Thống
Diệm. Đại Sứ Lodge nói với Tổng Thống tôi hết sức xúc động
chứng kiến một cảnh tự thiêu của một Sư Săi ở trước Nhà Thờ
Đức Bà.
Tổng
Thống Diệm trả lời ông Lodge là Tổng Thống là người Việt Nam
th́ xúc động gấp hàng trăm lần ông Đại Sứ. Nhưng đứng cương
vị của một Tổng Thống và uy quyền quốc gia, Tổng Thống không
c̣n hành động ǵ hơn. Ông đă thấy chính phủ nhượng bộ rồi
chưa ?
Đại Sứ
Lodge bị câu hỏi ngược bất ngờ. Nhưng ông Lodge cũng trả lời
ngay chính quyền không thực tâm giải quyết về Phật Giáo.
T́nh
trạng dằng do giữa Tổng Thống Diệm và ông Đại Sứ Lodge kéo
dài măi. Những cuộc gặp gỡ ở Dinh Gia Long trở nên lạnh nhạt
giữa hai nhân vật trong một thời kỳ khủng hoảng. Những đ̣i
hỏi của ông Lodge, Tổng Thống Diệm cho là quá đáng. Trái lại
ông Lodge th́ nghĩ rắng công lao của Hoa Kỳ, tốn công tốn
tiền, hao ṃn sinh mạng chỉ v́ uy quyền của Tổng Thống Diệm
và ông Nhu khuynh đảo.
Ư nghĩ
của một người Hoa Kỳ như ông Lodge th́ Nam Việt Nam bị chính
quyền độc tài ngự trị.
Và ông
nghiêng hẳn về phía Phật Giáo để chống đối lại chính quyền
mà ông được phúc tŕnh báo cáo là ‘’gia đ́nh trị’’.
Ngày
21.9.1963, Tổng Thống Diệm cứng rắn thêm với hai chuyên viên
thời cuộc Đại Sứ Henry Cabot Lodge. Có thể nói rằng kể từ
ngày tŕnh Ủy Nhiệm Thư (26.8.1963), Đại Sứ Lodge chưa thành
quả một công việc nhỏ nào về ḥa giải với chính phủ Diệm cả.
Tại
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ, nhân viên bắt đầu chia ra thành hai nhóm
rơ rệt: Nhóm thứ nhất do viên Phó Đại Sứ (người của Nolting
để lại) cầm đầu ủng hộ chế độ Diệm, và nhóm thứ hai gồm
những nhân viên trung cấp khuyến cáo Đại Sứ Lodge lật đổ
chính phủ Diệm. Lúc này ông Lodge c̣n giữ lập trường lừng
khừng. Nhưng đến ngày 6 Quân Nhân Mỹ bị việt cộng giết trong
cuộc hành quân ở phía Nam Thị Xă Đà Nẵng th́ lập trường của
Lodge bắt đầu xoay chiều.
Sự
xoay chiều này rơ rệt, khi Tổng Thống Diệm thất lời hứa
không dự buổi tiễn đưa linh cữu 6 Quân Nhân vị giết về Mỹ ở
Phi Trường quân sự Tân Sơn Nhất.
Sau
buổi lễ này trở về Đại Sứ Lodge đánh điện xin Hoa Thịnh Đốn
Bộ Ngoại Giao thế vị Phó Đại Sứ tại Sài G̣n của cựu Đại Sứ
Nolting để lại. Hoa Thịnh Đốn chấp nhận ngay. V́ chính phủ
Hoa Kỳ muốn ông Lodge có ‘’Jeu d'équipe’’ sẽ lật đổ chính
quyền Diệm.
Chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm đă mặc nhiên đặt cái cầy trước con trâu
để lũng đoạn tinh thần Đại Sứ Lodge. Vị Tân Đại Sứ Hoa Kỳ đă
gặp một chính phủ có thực lực uy quyền và không theo lệnh
của Hoa Kỳ như ông đă quá mơ tưởng trước khi đặt chân đến
Sài G̣n.
Vào
thời bấy giờ ông Lodge là nhân vật lớn của Hoa Kỳ. Ông Lodge
là bạn của cố Tổng Thống Kenedy. Hai người dinh quán ở
Boston. Tại đây có hai gia đ́nh nổi tiếng là Kenedy và
Lodge.
Ông
Lodge đă từng là ‘’Đại Sứ bí mật ḥa giải’’ tại nước Cộng
Ḥa Saint Dominique khi Tổng Thống độc tài của xứ Trung Mỹ
Raphael Trujillo bị ám sát tại Thủ Đô San Domingo ngày
31.5.19…
Đại Sứ
Lodge đă thành công rực rỡ ở Saint Domingo với chính sách
Hoa Kỳ loại ảnh hưởng thân cộng sản Cuba ở quốc gia này.
Từ đó
Đại Sứ Lodge được nổi tiếng cáo già chính trị về các cuộc
xáo trộn của quốc gia chịu ảnh hưởng viện trợ. Và cũng từ đó
Lodge là nhân vật pḥng hờ của chính phủ Hoa Kỳ chực chờ gửi
đến những quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng Mỹ mà lại
chống chính sách Mỹ.
Thời
kỳ Phật Giáo dưới chính quyền Ngô Đ́nh Diệm được coi là t́nh
thế nghiêm trọng cờ Nam Việt Nam. Đại Sứ Nolting không
khuyến cáo chế độ đàn áp Phật Giáo mà c̣n bênh vực chế độ
này.
Chính
phủ Hoa Kỳ gửi Henry Cabot Lodge đến giữ chức Đại Sứ tại Sài
G̣n.
Khi
nghe tin Lodge đến thay Nolting, tiếng đồn đă gán cho ông
Lodge là chuyên viên đảo chánh.
Và
người ta tiên liệu thế nào cũng có đảo chánh nhưng không
biết thành hay bại với chế độ vững như trụ đồng Ngô Đ́nh
Diệm.
Những
cuộc bố ráp Chùa chiền, bắt bớ các Nhà Sư, Đại Sứ Henry
Cabot Lodge cảm thấy chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă phủ nhận
những lời khuyến cáo của ông hầu ổn định t́nh h́nh. Khuyến
cáo của Đại Sứ Lodge không ngoài mục đích yêu cầu Tổng Thống
Diệm nhượng bộ Phật Giáo.
Chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm một mực nói rằng nguyện vọng 5 điểm của
Ủy Ban Liên Phái đă được thỏa măn th́ không có lư do ǵ Ṭa
Đại Sứ Hoa Kỳ lại chấp chứa hai Nhà Sư lánh nạn.
Như
vậy chứng tỏ Ngài Đại Sứ đă tỏ thái độ chống lại chính
quyền. Đó là một điều tối kỵ không thể nào dung nạp một đại
diện ngoại giao đoàn có hành động như vậy trên lănh thổ quốc
qia địa phương.
Đại Sứ
Lodge từ chối về việc trả lại hai Nhà Sư, trong đó có Thượng
Tọa Thích Trí Quang. Ông Lodge tŕnh bày là bảo vệ nhân
quyền, tôn giáo dị biệt ở Nam Việt Nam.
Ông
không muốn thấy cảnh hai Nhà Sư này bị đánh đập hoặc bị giết
hoặc bị chụp mũ cộng sản khi trao trả lại cho chính quyền
Việt Nam. Hơn nữa hai vị sư lánh nạn ở Ṭa Đại Sứ là theo
lời yêu cầu của họ. Như vậy Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ không đi ra
ngoài luật lệ quốc tế về ngoại giao đoàn trong lănh vực dân
địa phương tỵ nạn chính trị.
Tổng
Thống Diệm cùng với ông Đại Sứ Lodge đă to tiếng trong pḥng
khách tại Dinh Gia Long. Bên ngoài các sĩ quan tùy tùng của
Tổng Thống Diệm đă nghe thấy sự ồn ào ở bên trong. Tiếng nói
bằng Pháp ngữ của Tổng Thống Diệm hầu như át tiếng của Đại
Sứ Lodge.
Sau đó
người ta thấy cánh cửa mở rộng. Đại Sứ Lodge lùi ra ngoài,
mặt đỏ gay, bắt tay Tổng Thống Diệm để cáo biệt và xin Tổng
Thống sẽ yết kiến trở lại khi thấy cần thiết.
Tổng
Thống Diệm không tiễn đưa ông Lodge ra bậc tam cấp như
thường lệ. Đại Sứ âm thầm ra xe. Ông ta bước nhanh, lưng hơi
khom ra xe về thẳng Ṭa Đại Sứ ở Đường Hàm Nghi. Đó là buổi
tiếp kiến ngày 30.8.1963.
Qua
ngày hôm sau, Đại Sứ Lodge xin Tổng Thống Diệm vào tŕnh bày
nốt công việc mà hôm qua dường như Tổng Thống nóng giận nên
không đi đến kết quả.
Bộ
Nghi Lễ từ chối, viện lẽ hôm nay 31.8.1963 Tổng Thống bận
rộn đi kinh lư. Luôn tiện xin mời ông Đại Sứ tháp tùng. Đại
Sứ Lodge lại từ chối ngược lại. Và ông cho biết Văn Pḥng
Tổng Thống không báo trước nên ông không kịp chuẩn bị.
Tổng
Thống Diệm không đi kinh lư như viên chức Nghi Lễ đă nói. V́
trong thời gian đó một vị Tổng Thống khôn ngoan như ông Ngô
Đ́nh Diệm không thể rời Thủ Đô Sài G̣n được. Nhiều công việc
phải giải quyết, nhiều công việc để đề pḥng. Và cố nhiên
ông Ngô Đ́nh Nhu không để cho ông Diệm đi kinh lư xa. V́ ông
Ngô Đ́nh Nhi đang tổ chức đảo chánh giả qua hai Chiến Dịch
Bravo I và Bravo II.
Hai
Chiến Dịch này nhằm lấy uy thế Quân Đội trị lại Quân Đội với
mục đích thanh lọc hàng ngũ. Đồng thời gây thêm uy tín của
Tổng Thống Diệm đứng trước t́nh trạng nổi loạn của Phật Giáo
mà ông Nhu cho rằng cộng sản ẩn núp ở bên trong giật dây.
Nhưng
việc làm của ông Nhu Cơ Quan CIA đă nắm vững vấn đề. Ông Đại
Sứ Lodge đă được tường tŕnh rơ ràng. Nên lúc đó Đại Sứ
Lodge đă cho nhiều chuyên viên trung cấp tiếp xúc với Tướng
Trần Văn Đôn người đă gặp ông Lodge để xin hậu thuẫn làm đảo
chánh chế độ Diệm.
Cho
nên việc từ chối tháp tùng Tổng Thống Diệm đi kinh lư là
điểm vô t́nh chia rẽ thật sự giữa vị Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n
và chính phủ.
Đúng
như vậy Tổng Thống Diệm không rời Thủ Đô Sài G̣n. Ông đă đi
thăm một ngôi Chùa Phật Giáo ở Phú Nhuận. Việc thăm viếng
này có tính cách chính trị, ru ngủ Phật Giáo và để chứng tỏ
chính quyền rất quan tâm đến những vị Sư Săi của tôn giáo
này.
Thành
kiến của ông Lodge qua Phật Giáo đối với Tổng Thống Diệm
càng lúc càng khuếch tán. Tân Đại Sứ Lodge tự đặt vấn đề
thanh toán chế độ Diệm nhanh chóng.
Bản
phúc tŕnh đầu tiên của ông Lodge gửi về Hoa Kỳ cho chính
phủ Kenedy đă nhấn mạnh rằng chế độ Ngô Đ́nh Diệm quả t́nh
đàn áp Phật Giáo, chống lại những khuyến cáo cấp thời của
Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n. Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là
Ngô Đ́nh Nhu đă thúc đẩy Tổng Thống Diệm hành động như thế.
Trong
khi đó, thượng tuần tháng 10.1963, Bà Ngô Đ́nh Nhu tới Ba Lê
giải độc bị sinh viên đả đảo quyết liệt. T́nh h́nh Sài G̣n
chín muồi, xin Hoa Thịnh Đốn ‘’cải tổ’’ Sài G̣n có bộ mặt
mới.
Chính
phủ Kenedy trả lời Lodge tùy nghi hành động cho việc lật đổ
chế độ Diệm được trọn vẹn mà dư luận quốc tế không gán cho
Hoa Kỳ nhúng tay vào nội bộ Nam Việt Nam.
Đại Sứ
Lodge nhận được điện văn đó giữa trung tuần tháng 10 năm
1963. Thế là Lodge nhúng tay vào tổ chức đảo chánh.
MẦM
MỐNG ĐẢO CHÁNH
Ṭa
Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣a đă thu nhập được tin có Đảo Chánh
trước khi Lodge đến nhận chức Đại Sứ. Tuy nhiên tin này vẫn
vô căn cứ. Và Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ hết sức dè dặt.
Cuối
tháng 9.1963 lần đầu tiên Đại Sứ Lodge gặp một nhân vật
Tướng lănh Việt Nam Cộng Ḥa trong buổi lễ tiễn linh cữu 6
Quân Nhân Mỹ tử nạn đầu tiên về cố quốc. Vị Tướng lănh này
đại diện Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đến dự lễ. Vị Tướng đó
là Trung Tướng Trần Văn Đôn, quyền Tham Mưu Trưởng Liên Quân
kiêm Tư Lệnh Lục Quân.
Trong
buổi lễ gặp gỡ giữa ông Lodge và Tướng Trần Văn Đôn hầu như
không đạt được kết quả. Đại Sứ Lodge ‘’quá giữ lời’’ với
Tướng Trần Văn Đôn Điều đó dễ hiểu v́ Tướng Trần Văn Đôn
đang là người thân tín của chế độ. Đại Sứ Lodge đă dè dặt
theo dơi với vị Tướng quyền Tham Mưu Trưởng này.
Tướng
Trần Văn Đôn tŕnh bày với Lodge kế hoạch đảo chánh. Một số
lớn Quân Nhân, Sĩ Quan, Tướng lănh đă hưởng ứng. Mong người
Mỹ đứng vai tṛ hậu thuẫn chính trị hoặc làm trọng tài mà
thôi.
Đại Sứ
Lodge từ chối với Tướng Trần Văn Đôn về một cuộc đảo chánh
có tính cách hạ bệ Tổng Thống Diệm như thế. V́ làm như thế
t́nh h́nh thêm khẩn trương, khủng hoảng chính trị lớn lao.
Tướng
Trần Văn Đôn yêu cầu Đại Sứ Lodge suy nghĩ lại và ông sẽ
liên lạc với Ṭa Đại Sứ Mỹ. Đại Sứ Lodge nghe Tướng Trần Văn
Đôn nói thế th́ trả lời: Tôi sẽ phái người đến gặp ông sau.
Sau
cuộc chia tay với Tướng Trần Văn Đôn, Đại Sứ Lodge cảm thấy
khó khăn hành động lật chế độ Diệm. Tướng Trần Văn Đôn đă
làm cho ông Lodge hồ nghi là một cạm bẫy có thể đến với
Lodge.
Hôm
sau Đại Sứ Lodge đến Bộ Tư Lệnh Quân Sự Hoa Kỳ trên Đường
Trần Hưng Đạo để gặp Tướng Paul Harkins.
Đại Sứ
Lodge hỏi Tướng Harkins về Tướng Trần Văn Đôn Tướng Harkins
không cho Tướng Trần Văn Đôn là người có tài chỉ huy quân
sự. Ông ta chỉ có một bộ vó bề ngoài lẫm liệt mà thôi.
Và
Tướng Harkins cũng cho Lodge biết hầu hết các Tướng lănh
Việt Nam do người Pháp đào tạo, họ đi lính lâu năm lên đến
hàng Tướng chứ không có chiến lược chiến thuật ǵ cả. Nếu
ông Đại Sứ đảo chánh chế độ Diệm chỉ có Tướng Trần Thiện
Khiêm làm được. Song trở ngại lớn lao là các Tướng lănh đều
là thân tín của Tổng Thống Diệm. Ngay cả Tướng Trần Thiện
Khiêm cũng thế.
Ông
Lodge hỏi Harkins liệu Tướng Trần Văn Đôn thực tâm đảo chánh
không ? Paul Harkins dè dặt trả lời, chắc phải v́ ông ta vừa
mất Tư Lệnh Quân Đoàn I, chức quyền Tham Mưu Trưởng không cố
định nên Trần Văn Đôn đă bất măn.
Ông
Lodge nghe Paul Harkins tŕnh bày như thế th́ mở cờ trong
ḷng. Lodge nói: Ta cần Trần Văn Đôn trong giai đoạn này để
lôi cuốn các cấp sĩ quan trẻ tuổi gia nhập đảo chánh.
Từ hôm
đó trở về sau, Đại Sứ Lodge cho những viên cấp CIA tiếp xúc
với Trần Văn Đôn để thâu thập kế hoạch.
Trong
khi đó Tổng Thống Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu hầu như không
quan tâm đến những cuộc tiếp kiến vô bổ với Đại Sứ Henry
Cabot Lodge. Tư tưởng của hai bên càng ngày càng xa cách rơ
ràng. Nhưng Tổng Thống Diệm cố hàn gắn đổ vỡ đó bằng cách
mời Đại Sứ Lodge đến dùng cơm thân mật vào những buổi trưa
hoặc buổi tối khi hai người đàm đạo quá giờ.
Nhưng
trong những bữa ăn đó tẻ nhạt, xă giao và không ai muốn đả
động đến t́nh h́nh chính trị. Có lẽ giữa hai người không
muốn làm bữa ăn mất ngon qua sự chống đối lẫn nhau.
Riêng
về Đại Sứ Lodge đến Dinh Gia Long để hiểu thêm thái độ của
Tổng Thống Diệm.
Ông
Tổng Thống vẫn chủ quan, nắm được Quân Đội và nhân dân. Đại
Sứ Mỹ không thể lung lạc ông bằng mọi thủ đoạn được. Ông
Lodge cho rằng, thái độ đó sẽ đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn mà
do ông giữ vai tṛ thúc đẩy, then chốt ở Sài G̣n.
Chuyên
viên đảo chánh Henry Cabot Lodge đă lộ h́nh mà Tổng Thống
Diệm không hay biết. Qua những xă giao Ngoại Giao Đoàn của
Lodge, Tổng Thống Diệm ngỡ rằng vị Đại Sứ Hoa Kỳ đă lùi bước
trước lập trường của chính quyền đối với Phật Giáo và cương
vị của người Mỹ tại Việt Nam.
Chính
phủ Hoa Kỳ Kenedy theo phúc tŕnh Lodge không giải tỏa viện
trợ đă cắt từ thượng tuần tháng 9.1963 của Lực Lượng Đặc
Biệt và Cảnh Sát chiến đấu. Chính phủ Diệm rất nao núng về
việc này. Song ông Ngô Đ́nh Nhu kêu gọi Quân Đội, nhân viên
chính phủ thực thi kế hoạch tự túc và tổ chức tổ tam tam hầu
tiết kiệm ngân quỹ.
Trong
thời gian đó, nhiều cấp chỉ huy Quân Đội trên toàn quốc đă
báo động với trung ương là chiến trường thiếu đạn dược đánh
việt cộng.
Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm đă tŕnh bày với Đại Sứ Lodge về sự sống
c̣n của Đông Nam Á nhất là Việt Nam đang bấp bênh nếu chính
phủ Hoa Kỳ cắt viện trợ như thế. Hậu quả đó là do chính sách
sai lầm của người Mỹ ở Việt Nam.
Ông
Lodge với bản báo cáo tin chiến sự trong ngày trên toàn quốc
đang cầm trên tay, tŕnh với Tổng Thống Diệm: Thưa Tổng
Thống, từ chiến trường và ở hậu phương, toàn dân toàn quân
đều xuống tinh thần.
Tôi
biết việt cộng đang gia tăng, nguy hiểm cho quốc gia này,
song chính phủ của chúng tôi viện trợ để chống cộng, chứ
không phải súng đạn đó dùng để đàn áp một tôn giáo.
Tôi
thiết tha yêu cầu triệt thoái binh chủng. Lực Lượng Đặc Biệt
ra khỏi Thủ Đô Sài G̣n để cho họ có cơ hội đánh cộng sản hơn
là đàn áp Phật Giáo.
Tổng
Thống Diệm mặt đỏ gay, vẻ tức giận hiện rơ. Tổng Thống Diệm
nói: Lực Lượng Đặc Biệt giữ ǵn An Ninh Thủ Đô, không đàn áp
ai cả. Ông Đại Sứ có thấy Quân Đội đă khám phá một số vũ khí
trong hai ngôi chùa lớn ở Sài G̣n trong ngày 31.8.1963 không
?
Đại Sứ
đáp: Vũ khí t́m ra ở chùa chiền là một ‘’chiến thuật’’ của
chính quyền. Điều đó dù thật đi nữa th́ với Phong Trào Phật
Giáo như vậy, dân chúng vận tự nghĩ, chính quyền vu khống.
Chúng tôi mong ước ông bà Ngô Đ́nh Nhu rời khỏi Nam Việt Nam
càng chóng càng tốt. Đồng thời Tổng Thống cố gắng giải ḥa
với Phật Giáo.
Tổng
Thống Diệm nói: Những đ̣i hỏi của ông Đại Sứ cùng chính phủ
Mỹ quá đáng. Và rơ ràng đă chi phối vào nội bộ chính phủ của
chúng tôi.
Ông
Ngô Đ́nh Nhu là em của tôi, không ai có quyền bắt buộc ông
ta rời bỏ quê hương này. Người bắt buộc ông Nhu rời Việt Nam
là người Mỹ th́ đó là một điều quá phi lư. Luôn tiện đây tôi
tiết lộ cùng ông Đại Sứ là ông Nhu dự định sẽ rời Sài G̣n
trước ngày Quốc Khánh 26.10 sắp tới. Ông Nhu đă chán chính
trị lắm rồi. Ông ấy đi, tôi mất một người cộng sự viên đắc
lực.
Nhưng
dự định đó nay đă tiêu tan theo mây khói. Ông Nhu đă quyết
định ở lại vài ông ta mặc cảm người Hoa Kỳ ‘’dám’’ đuổi ông
ta trên đất nước này.
Đại Sứ
Lodge hết sức ngạc nhiên những tiết lộ của Tổng Thống Diệm.
Đại Sứ Lodge tŕnh bày thêm: Chúng tôi không nghĩ như những
lời của Tổng Thống vừa nói, song sự ra đi của ông Nhu cần
thiết cho giai đoạn này. Chúng tôi nghĩ rằng Tổng Thống và
ông Nhu xét kỹ điều kiện đó.
Tổng
Thống Diệm vốn chủ quan với Quân Đội, nhân dân ủng hộ ông
nên những lời của Lodge hầu như có tính cách hăm dọa. Thành
ra Tổng Thống cương quyết chống ngược lại với chính phủ Hoa
Kỳ.
Trong
lúc đó ông Ngô Đ́nh Nhu cho Tổng Thống Diệm biết, tiền tồn
kho và vũ khí c̣n lại, chính phủ đứng vững ít nhất là sáu
tháng để t́m một viện trợ khác thay thế viện trợ Mỹ.
Đồng
thời ông Nhu đang vận động một số mại bản Chợ Lớn cho chính
phủ vay một số tiền lớn để trang trải kinh phí trong thời
gian khủng hoảng viện trợ.
Kế
hoạch của ông Nhu có cẻ mù mờ, không mấy tin tưởng. Tuy
nhiên Tổng Thống Diệm cũng tạm gọi là một sáng kiến đáng
thực hiện trong lúc đó.
Sự
liên hệ giữa cá nhân ông Lodge và Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
cũng như giữa Ṭa Đại Sứ Mỹ và chính quyền Diệm được phân
chia hẳn vào đầu thượng tuần tháng 10.1963.
Đại Sứ
Lodge mỗi khi rời Dinh Gia Long đều mang theo sự tức tối,
hậm hực trong ḷng. Nhân viên thân cận Tổng Thống Diệm đă
chứng kiến những cảnh ấy từ ngày ông Lodge trở thành vị Đại
Sứ chính thức ở Sài G̣n.
Thật
sự chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă nao núng lắm rồi. Bên ngoài,
Phật Giáo đấu tranh quyết liệt. Bên trong, viện trợ Mỹ gián
đoạn. Và chính quyền Diệm đă gặp một vị Đại Sứ Hoa Kỳ có
thành kiến với chế độ.
Tổng
Thống Diệm đă bày tỏ nỗi khó khăn với ông Ngô Đ́nh Nhu. Lúc
bấy giờ tính t́nh ông Nhu thay đổi đột ngột. Cái trầm tư mặc
tưởng của ông Nhu dính liền cuộc đời ông ta. Nhưng với thái
độ ông Lodge như thế, nên cái trầm tư mặc tưởng đó trở thành
quá khích ngấm ngầm.
Ông
Nhu tŕnh bày với Tổng Thống Diệm: Chúng ta phải làm một cái
ǵ cho người Mỹ mất mặt. Người Mỹ mà ông Nhu nói là không ai
khác tân Đại Sứ Henry Cabot Lodge.
Kế
hoạch Lodge làm mất uy tín của Lodge là chính quyền đảo
chánh.
Một
lối đảo chánh ngụy tạo gây thanh thế cho chế độ. Đảo chánh
của chính quyền sẽ mang đến nhiều mối lợi: Thanh lọc hàng
ngũ Quân Đội, gây tiếng vang quốc tế là chế độ vẫn c̣n được
quân và dân tuyệt đối ủng hộ. Sau cùng là người Mỹ sáng mắt
về uy lực của chính phủ Diệm.
Đảo
chánh ông Nhu được lập thành 2 giai đoạn: Bravo I và Bravo
II. Bravo I do Lực Lượng Đặc Biệt và Cảnh Sát Chiến Đấu cùng
một vài đơn vị Bộ Binh tấn công các yếu điểm của chính quyền
trong Thủ Đô. Tấn công mănh liệt vào Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng
Vệ Tổng Thống Phủ.
Như
vậy là Bravo I được coi là quân chính phủ đảo chánh quân
chính. Nếu những phần tử Quân Đội nhất là cấp Tướng lănh ủng
hộ đảo chánh lật đổ chế độ Diệm th́ những phần tử đó được
coi là phản bội, khi Bravo I thành công.
Nếu
các cấp chỉ huy Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ đầu hành
nhanh chóng, nghĩa là không chống lại đảo chánh th́ cũng bị
kết tội phản chế độ.
Bravo
II được mô tả về phía đảo chánh không thành công. Quân Đội
chống đảo chánh quyết liệt để củng cố chế độ Diệm th́ một
điều đáng mừng. Và người Mỹ không c̣n phương tiện nào lật đổ
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Tóm
lại, Bravo I và Bravo II thất bại hay thành công, chế độ Ngô
Đ́nh Diệm vẫn thu vào mối lợi trong tay.
Tổng
Thống Diệm rất bằng ḷng kế hoạch đảo chánh giả của ông Nhu.
Song vốn nhân từ, đạo đức, ông Diệm đă tưởng tượng đến cảnh
máu đổ. Và ông không quên nhắc nhở ông Nhu điều đó. Nhưng
ông Nhu tŕnh bày rằng, chính trị muôn mặt như thế. Hơn nữa,
t́nh trạng trước thái độ của ông Lodge, chúng ta không thể
làm điều ǵ khác được.
Chính
v́ Bravo I và Bravo II đă đưa đẩy chế độ Diệm sụp đổ và mang
theo cái chất cho ông Diệm và ông Nhu. Nói như thế v́ bấy
giờ tin đồn đảo chánh lan rộng trong Quân Đội, nhân dân như
một câu ca dao truyền khẩu.
Nha
Tổng Giám Đốc Cảnh Sát, Nha An Ninh Quân Đội, Phủ Đặc Ủy
Trung Ương T́nh Báo và ngay cả Sở Nghiên Cứu Chính Trị đang
tung người đi t́m đầu tơ mối chỉ của một cuộc đảo chánh lật
đổ chế độ. Nhưng tuyệt nhiên các cấp thừa hành chỉ nghi
tiếng đồn mà không hay biết phe phái nào sẽ đứng dậy đảo
chánh.
Trong
lúc đó, thật sự một số Tướng lănh đă hội họp kín, dựa theo
Phật Giáo lật đổ chế độ Diệm mà Tổng Thống Diệm và ông Nhu
chẳng hề hay biết. Nguyên nhân chỉ v́ ông Nhu chủ quan.
Ông ta
cho rằng tin đồn đảo chánh là do Bravo I và Bravo II mà ra,
chứ không ai dám đi vào vết xe đổ của ngày 11.11.1960 nữa.
Ông Nhu suy nghĩ như vậy, vô t́nh bỏ ngỏ cho các Tướng lănh
âm mưu quyết liệt lật đổ Tổng Thống Diệm.
Ngay
cả Bà Nhu sau cuộc giải độc được coi là buổi ra mắt cuối
cùng với sinh viên Mỹ vào đầu tháng 10 năm 1963 vẫn chỉ
trích chính sách Mỹ tại Nam Việt Nam.
Và khi
đảo chánh 1.11.63 bùng nổ, bà Nhu rất mực b́nh tĩnh v́ bà ta
nghĩ rằng đó là kế hoạch Bravo I và Bravo II của ông Nhu.
Cho nên bà tuyên bố, đảo chánh th́ đảo chánh, chế độ Diệm
hăy c̣n tồn tại.
Bravo
I và Bravo II là một thủ đoạn chính trị bao quát cả chiến
lược lẫn chiến thuật. Cách Mạng 1.11.1963 không sớm nổ súng
th́ Bravo I và Bravo II được tưởng tượng là một cuộc thanh
trừng đổ máu với những bằng chứng hiển nhiên mà một số Tướng
lănh, chánh khách mắc bẫy ông Ngô Đ́nh Nhu.
Riêng
về Đại Sứ Lodge sẽ không biết tính toán thế nào với chế độ
Diệm. Chắc chắn rằng vị Tân Đại Sứ này cũng bị lừa trong hai
chiến dịch Bravo I và Bravo II mà chính quyền tạo thành đảo
chánh giả.
Ông
Lodge sẽ điên đầu, đành phải lững lờ, mất uy tín với cái đảo
chánh mà ông ta đang âm thầm nhúng tay vào với các Tướng
lănh. Đồng thời, ông Nhu, ông Diệm viện cớ ông Lodge đă xúi
giục một số sĩ quan cao cấp lật đổ chế độ mà trục xuất ông
ta.
Nhưng
số trời không chiều ḷng ông Ngô Đ́nh Nhu. Mệnh trời không
cho ông Nhu hành động với mưu đồ tham vọng làm cho một số
sinh linh binh sĩ ngă gục. Ông Nhu đă không thực hiện được
Bravo I và Bravo II.
Tất cả
đều muộn màng đối với cách mạng 1.11.1963. Đại Sứ Lodge đă
tiến trước ông Nhu một bước, một bước chính trị trong t́nh
thế sôi bỏng là ngàn dặm xa thẳm.
Trong
thế cuộc bùng nổ cách mạng công lật đổ chế độ Diệm, Đại Sứ
Lodge là người then chốt, là bàn tay đang nhấc từng con cờ
trên b́nh diện của một cuộc xóa bỏ dấu vết của chế độ Diệm.
Cho
nên sau ngày 1.11.1963, Lodge hiên ngang dạo phố Sài G̣n. Đó
cũng là một h́nh thức ra mắt quần chúng trong một thế đứng
được gọi là b́nh dân, phổ thông của ngài Đại Sứ.
Trước
đảo chánh 1.11.1963 ngày gặp gỡ đầu tiên một vài Tướng lănh
Việt Nam, Đại Sứ Lodge không mấy tin tưởng sẽ lật đổ chế độ
Diệm nhanh chóng được. Quan niệm của Lodge phải túc số những
cấp lănh đạo then chốt. Đơn phương một Tướng Trần Văn Đôn
hoặc Lê Văn Kim không hợp với cá tính của ‘’người đám đông’’
như Đại Sứ Lodge.
Người
Mỹ rất thích tập đoàn làm việc. Một cá nhân, một đơn vị
không thể thành công ở Hoa Kỳ. Cho nên ở Hoa Kỳ chung quanh
một vị Tổng Thống được bao bọc một số lớn phụ trách nhiều
lănh vực. Lắm lúc một vị Tổng Thống tuyên bố, dân chúng cho
là dấu kín vấn đề hơn là một Nghị Sĩ Dân Biểu.
Cho
nên Đại Sứ Lodge yêu cầu Tướng Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim
hợp sức cùng một số lớn Tướng lănh th́ Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ mới
làm hậu thuẫn. Và Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam sẽ yêu cầu
chính phủ Hoa Kỳ công nhận chế độ mới ngay khi đảo chánh
thành công.
Tướng
Trần Văn Đôn đă tiên liệu điều đó. Tướng Trần Văn Đôn khó
hiểu rơ về cá tính những người Mỹ ‘’giàu có’’ và ‘’xấu xí’’
nên ông ta đă đưa cho ông Lodge một danh sách hầu hết các
Tướng lănh tham gia đại cuộc.
Sau đó
Đại Sứ Lodge đ̣i hỏi Tướng Trần Văn Đôn về chiến thuật và
chiến lược trong cuộc lật đổ chế độ Diệm. Tướng Trần Văn Đôn
tŕnh bày cặn kẽ những nhịp đổ quân binh chủng tiến vào Thủ
Đô Sài G̣n bằng ba mũi dùi chính. Từ xa lộ vào. Từ mạn Long
An lên. Từ các đường chính ở Tây Ninh xuống. Án ngữ ở Sài
G̣n không cần thiết v́ Hải Quân đă lo liệu.
Những
đơn vị tham gia đều không đeo phù hiệu, kể cả quân xa, thiết
vận xa. Ở Thủ Đức và Tổng Tham Mưu đặt một số đại bác 105
ly, súng cối đẻ xả láng với Dinh Gia Long nếu t́nh h́nh quân
đảo chánh không thanh toán vài mục tiêu yếu điểm của chế độ
Diệm, nhất là Thành Cộng Ḥa tọa lạc trên Đường Thống Nhất.
Ông
Lodge chấp thuận những điều Tướng Trần Văn Đôn đều hữu hiệu.
Nhưng ông Lodge vẫn hỏi lại Đại Tướng Paul Harkins lần cuối
cùng. Tuy nhiên hầu như Tướng Paul Harkins không có ư kiến
và muốn đổ trách nhiệm cho Lodge hành động. Có lẽ Harkins
khá thiên về chế độ Diệm mà không tin tưởng các Tướng Tá
Việt Nam mà ông quan niệm là những người thừa hưởng huấn
luyện của thực dân Pháp để lại.
Đại
Tướng Paul Harkins đă làm cho Lodge không mấy bằng ḷng về
thái độ lừng khừng đó. Cũng từ đấy, Lodge quan niệm Harkins
cùng một quan điểm với cựu Đại Sứ Nolting về hành xử trước
chế độ Diệm. Nghĩa là Nolting và Harkins ủng hộ sự tồn tại
của chế độ Diệm tại Nam Việt Nam.
Sau
khi tường tận kế hoạch của Tướng Trần Văn Đôn hành quân vào
Thủ Đô Sài G̣n, Đại Sứ Lodge có hỏi về Tướng Trần Thiện
Khiêm, Tướng Trần Văn Đôn quả quyết vị Tướng này nhiệt t́nh
tham gia đảo chánh. Nhưng về việc bầu thủ lănh Quân Đội th́
chưa thành h́nh. Tướng Trần Văn Đôn cho biết sẽ mở một phiên
họp bí mật của Tướng lănh để bầu vị Chủ Tịch. Và đảo chánh
sẽ lấy tên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đứng đầu là một vị
Tướng lănh Chủ Tịch.
Hội
Đồng này hoàn toàn là Quân Nhân, không cho chính khách tham
gia v́ kinh nghiệm găy đổ của ngày 1.11.1960. Nếu có mặt các
chính khách dân sự th́ vai tṛ đảo chánh không được giữ bí
mật hoàn toàn.
Buổi
gặp mặt cuối cùng này để đi vào chi tiết, Đại Sứ Lodge thỏa
măn. Song ông ta đ̣i hỏi, Hội Đồng Tướng lănh không được
giết một vị Bộ Trưởng nào. Cá nhân Tổng Thống Diệm phải được
bảo đảm an toàn rồi đưa ra ngoại quốc.
Đồng
thời ông Lodge cho biết là ông lánh mặt các vị Tướng lănh để
khỏi bị Mật Vụ chính phủ theo dơi. V́ Tổng Thống Diệm đă kết
tội Lodge nhúng tay vào nội bộ chính phủ Nam Việt Nam, vi
phạm thuần túy phạm vi qui ước ngoại giao đoàn quốc tế. Tuy
nhiên các nhân viên thừa hành Đại Sứ Lodge được lệnh ông ta
liên lạc với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.
Ông
Lodge rất nóng ḷng biết được lư lịch tiểu sử của vị Chủ
Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Nhưng măi đến thượng tuần
tháng 10 năm 1963 vị Chủ Tịch đó chưa được đặt vào ghế ngồi.
Trong
lúc đó bên giới Tướng lănh Việt Nam mỗi ngày mỗi thu hút
nhiều sĩ quan tham gia đảo chánh cùng ba nhóm đảo chánh:
Trần Văn Đôn, Đỗ Mậu, Trần Kim Tuyến đă kết hợp với nhau
rồi.
Song
t́m một vị Tướng lănh cao niên đầy uy tín. Một vài vị trong
nhóm Đỗ Mậu đề nghị Tướng Lê Văn Nghiêm, nhưng ông Tướng này
từ chối v́ lo sợ. Sau đó đề nghị Tướng Trần Thiện Khiêm
nhưng ông này cho rằng ḿnh chưa đủ tài sức. Tuy nhiên Trần
Thiện Khiêm đoan kết sẽ là rường cột cuộc đảo chánh.
Sau
cùng Tướng Trần Văn Đôn tiến cử ông Dương Văn Minh. Các cấp
Tướng lănh đều đồng ư. Lúc đó cuốn lịch trên tường đă điểm
thời gian trung tuần tháng 10 năm 1963.
Thật
sự, trong bí mật, Tướng Dương Văn Minh không biểu lộ lập
trường dứt khoát khi một số Tướng lănh yêu cầu ông tham gia
đảo chánh. Ban đầu ông Dương Văn Minh từ chối. Sự từ chối
này đều dễ hiểu v́ lúc bấy giờ thanh thế của chế độ Diệm rất
mạnh mẽ.
Nhưng
về sau nghe Tướng Trần Văn Đôn cho biết là Ṭa Đại Sứ Mỹ đă
ủng hộ đảo chánh. Họ sẽ làm hậu thuẫn cho các Tướng lănh.
Tướng Dương Văn Minh thấy danh sách rất nhiều Tướng lănh, sĩ
quan cao cấp then chốt của chế độ Diệm tham gia, lại có
người Mỹ yểm trợ, nên ông tham gia. Và chính Tướng Trần
Thiện Khiêm chấp nhận cho Tướng Dương Văn Minh hưởng ứng và
yêu cầu vị Tướng này giữ chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng.
Trung
tuần tháng 10 năm 1963, Đại Sứ Henry Cabot Lodge được phúc
tŕnh rơ về danh tánh, lư lịch của vị Chủ Tịch Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng. Trong bản phúc tŕnh đó được ghi nhận một
vài điểm chính cuộc đời binh nghiệp rực rỡ của Tướng Dương
Văn Minh.
Vị
Tướng này được mô tả là anh hùng Quân Đội trong các Chiến
Dịch Rừng Sát, Thoại Ngọc Hầu, Hoàng Diệu, và tảo thanh
phiến loạn Ba Cụt vào những năm đầu của thể chế Ngô Đ́nh
Diệm nắm giữ ở Nam Việt Nam.
Tướng
Dương Văn Minh được coi là vị Tướng cao tuổi nhất là thâm
niên quân vụ. Trong bản phúc tŕnh c̣n nhấn mạnh về thành
tích chống Pháp và từng bị Pháp bắt, tra tấn đến thương
tích, lập trường chính trị trong bản phúc tŕnh đó không mấy
rơ rệt. Song các nhân viên hữu trách Ṭa Đại Sứ Mỹ và CIA
quả quyết rằng Tướng Dương Văn Minh đi theo chiều hướng thân
Mỹ.
Đại Sứ
Lodge đọc bản phúc tŕnh ấy nhiều lần và tỏ vẻ lo ngại, một
thể chế Quân Nhân lănh đạo trong giai đoạn giao thời.
Những
biến cố đảo chánh xảy ra đầu tiên trong một quốc gia bị kềm
kẹp lâu năm thường hay bị xáo trộn liên tiếp. Nguyên nhân
chỉ v́ cấp lănh đạo mới không có chính trị, kinh nghiệm.
Bằng chứng hiển nhiên là việc hạ bệ Tổng Thống Lư Thừa Văn ở
Đại Hàn Dân Quốc. Phái Quân Nhân ở nước này lên cầm đầu và
mở màn cho những khủng hoảng liên tiếp.
Đại Sứ
Lodge là chuyên viên đảo chánh, bóp méo thời cuộc của Hoa Kỳ
đối với các quốc gia chậm tiến chịu ảnh hưởng lớn lao vào
viện trợ Mỹ. Ông Lodge là chuyên viên bí mật họp cùng ông
Bunker điều giải khủng hoảng ở Saint Dominique, một quốc gia
Châu Mỹ ở La Tinh.
Ông
Lodge đă thành công. V́ thế ông được cử đến Việt Nam trong
một t́nh thế nghiêm trọng do nhân dân Phật Giáo khuấy động,
đồng thời đối với một chính phủ ‘’cứng đầu’’ Ngô Đ́nh Diệm
đang ‘’phủ nhận’’ công lao và tiền bạc của người Mỹ ở xứ
này.
Chủ
Tịch Hội Đồng Quân Nhân đảo chánh Dương Văn Minh dưới mắt
Lodge chưa hẳn đầy đủ của một cấp lănh đạo, lănh tụ. Song
Lodge phải chấp nhận v́ mỗi ngày chính sách chế độ Diệm hầu
như tách khỏi đường lối của Hoa Kỳ không những ở Việt Nam và
cả Đông Nam Á nữa.
Hoa Kỳ
không muốn t́nh trạng của chế độ Diệm sẽ là bước mở đầu gây
ảnh hưởng tai hại cho những quốc gia láng giềng Việt Nam như
Lào, Thái Lan đối với nước Mỹ sau này. Hơn nữa đứng sau
Tướng Dương Văn Minh là một số Tướng hỗ trợ.
Tuy
rằng xác nhận có 2 vị Chỉ Huy Quân Đoàn hưởng ứng, đó là
Quân Đoàn I và Quân Đoàn III. Tuy nhiên sự hưởng ứng này c̣n
mù mờ, v́ Hội Đồng Tướng lănh cho Lodge biết là Tướng Đỗ Cao
Trí ở Vùng I yêu cầu giữ bí mật đối với các Tướng lănh Trung
Ương là có sự ủng hộ của ông ta. C̣n Tư Lệnh Quân Đoàn III
kiêm Tổng Trấn Sài G̣n-Chợ Lớn-Gia Định, Tướng Tôn Thất Đính
đang ở trong giai đoạn thuyết phục và chắc chắn sẽ thành
công. Về Quân Đoàn III và Quân Đoàn IV là những Tướng quá
thân với Tổng Thống Diệm, nên khó ḷng thuyết phục. Song Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng sẽ phong tỏa chặt chẽ, đồng thời bí
mật quản thúc các Tướng này để chận nút kéo quân về Thủ Đô.
Đại Sứ
Lodge đang đứng trước mọi thứ phức tạp. Phức tạp đó từ giới
Quân Nhân đến đảng phái chính trị tại miền Nam. Nhờ ở cá
tính người Mỹ tin ở tập đoàn lănh đạo, nên Lodge cảm thấy
một số đông Tướng lănh Trung Ương đoàn kết lại như thế với
sự hỗ tương Phật Giáo th́ sẽ thành công.
Lodge
nẩy sinh ‘’kế hoạch giai đoạn’’ trong trí. Một kế hoạch dụng
nhân và thử thách cho những tên tuổi lănh tụ khi chế độ Diệm
cáo chung. Cho nên Lodge quyết định, hỗ trợ bí mật trong một
trang sử mới tại Nam Việt Nam.
Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng sau những cuộc họp bầu Chủ Tịch
xong xuôi đă báo cho Ṭa Đại Sứ Mỹ là ngày X, giờ Y sẽ nổ
súng. Ngày và giờ đó định vào 9 giờ sáng ngày 26 tháng 10
năm 1963, tức là ngày Lễ Quốc Khánh. Lúc bấy giờ Tướng Trần
Văn Đôn và Đại Tá Đỗ Mậu đă thuyết phục được Tướng Tôn Thất
Đính và đặt vị Tướng này điều khiển hành quân chuyển vận
trong việc binh sĩ vào Thủ Đô.
Trước
ngày và giờ Y, Tướng Tôn Thất Đính yết kiến Tổng Thống Diệm
xin đưa thiết vận xa vào Thủ Đô trấn giữ an ninh cho ngày
Quốc Khánh v́ nghe phong phanh đảo chánh, Tổng Thống Diệm
bằng ḷng ngay.
Trong
lúc đó Đại Tá Đỗ Mậu, quyền Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội
cũng báo cáo t́nh h́nh chung quanh Thủ Đô yên tĩnh. Việt
cộng hầu như ngưng hoạt động.
Bản
lượng độ t́nh h́nh đó một phần nào nguyên nhân khiến Tổng
Thống Diệm bằng ḷng cho Tướng Đính đưa một số binh sĩ và xe
tăng, thiết giáp xâm nhập Thủ Đô Sài G̣n với lư do chính
đáng. Nhưng Tổng Thống Diệm có ngờ đâu đă mắc bẫy các Tướng
lănh âm mưu đảo chánh.
Về
phía Phật Giáo, sau ngày Thượng Tọa Trí Quang lánh nạn tại
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ, Đại Sứ Lodge cho người liên lạc rất chặt
chẽ với tôn giáo này, nhất là vị lănh sự Hoa Kỳ ở Huế với
Chùa Từ Đàm. Người Mỹ chú trọng nổi lửa Phật Giáo ở Huế rất
kỹ lưỡng nơi mà trung tâm điểm quần chúng đa số là Phật Giáo
đồ và có tinh thần bất khuất lật đổ chế độ Diệm.
Chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm không nói trắng trợn với Đại Sứ Lodge là
người Mỹ đang cổ súy Phật Giáo chống chính phủ, song Tổng
Thống Diệm nói với Đại Sứ Lodge là Ṭa Đại Sứ thờ ơ với
chính phủ th́ chẳng khác nào ủng hộ Phật Giáo.
Ông
Lodge lại trả lời: Chúng tôi không nhúng vào nội bộ chính
quyền miền Nam. Chúng tôi cắt viện trợ v́ chính quyền coi
lời khuyến cáo của Hoa Thịnh Đốn không ra ǵ cả. Tổng Thống
Diệm cho Lodge biết là chính sách Hoa Kỳ đang sai lầm, dân
tộc chúng tôi sẽ áp dụng chính sách khắc khổ để bảo vệ quê
hương.
Phật
Giáo mỗi ngày mỗi làm dữ với những phát động biểu t́nh,
tuyệt thực. Báo chí trong và ngoài nước không được phép vào
ra các chùa chiền gặp các vị tu hành. Các Thông Tín Viên Âu
Mỹ thuộc vùng Đông Nam Á đổ xô đến Việt Nam đông đảo.
Chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm cảnh cáo các kư giả ngoại quốc với nhiều
lời lẽ hăm dọa trục xuất, nếu họ viết những bài có ư bôi nhọ
chính quyền. Chế độ Ngô Đ́nh Diệm nhấn mạnh rằng, đối với kỷ
luật Quốc Tế tường thuật trung thực, chính quyền lấy đó làm
vinh dự, và nếu kư giả nào mạ lỵ, hỗ trợ Phật Giáo, công
kích cá nhân những nhân vật miền Nam th́ bị đuổi ra khỏi
nước. Chính quyền không muốn tại xứ này xảy ra thêm một
trường hợp Francois Sully (I). Kư giả Francois Sully đă bị
trục xuất trong giai đoạn Phật Giáo đấu tranh. Chính quyền
Diệm gán cho Sully về tội tường thuật không đứng đắn t́nh
h́nh Việt Nam. Sự thật, Sully bị trục xuất là do Bà Cố Vấn
Ngô Đ́nh Nhu. Bà Nhu giận và ghét Sully lắm. Bà ta đă yêu
cầu ông Nhu và ông Diệm đuổi Sully ra khỏi nước v́ cho hắn
lưu trú không có lợi khi t́nh h́nh Phật Giáo bùng nổ.
Francois Sully rời Việt Nam đến Hồng Kông làm Thông Tín Viên
Đông Nam Á. Sau cách mạng 1.11.1963 vài tuần, Francois Sully
lại được phép nhập nội Việt Nam khi đó chế độ Diệm sụp đổ
hoàn toàn.
Đại Sứ
Lodge đă tŕnh với Tổng Thống Diệm chính quyền áp dụng những
đường lối đàn áp kư giả, Thông Tín Viên của các Hăng Thông
Tấn ngoại quốc. Chính quyền Diệm phủ nhận điều đó. Chính
Tổng Thống Diệm và ông Nhu bác bỏ lời của Đại Sứ Lodge. Và
Tổng Thống Diệm bảo rằng, kư giả ngoại quốc đă có thành kiến
hiềm khích anh em, gia đ́nh Tổng Thống và luôn cả chế độ.
Chế độ này không cần đến họ trong việc Thông Tin Thông tức
nữa. Chính quyền sẽ đạt lời yêu cầu đến ông U Thant mời một
phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến Nam Việt Nam điều tra về vụ gọi
là đàn áp Phật Giáo.
Đại Sứ
Lodge thầm nghĩ rằng chế độ Diệm thật sự đàn áp Phật Giáo
nên ông lấy làm bằng ḷng mà nói, Tổng Thống và ông Cố Vấn
mời Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc đến xứ này là hợp lư, hợp t́nh.
Đại Sứ Lodge nói như vậy v́ ông chắc chắn rằng với sự vô tư
đối với Quốc Tế, Phái Đoàn điều tra chắc chắn sẽ kết tội chế
độ Diệm kỳ thị tôn giáo.
Tuy
thế, việc làm riêng tư của người Mỹ vẫn diễn tiến đều đặn
trong việc xóa tan chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Chính
phủ Kennedy đă quyết như vậy th́ Lodge phải thực thi cấp
tốc.
Đảng
Dân Chủ ở Mỹ cầm quyền đă làm mất lợi cho chính quyền Diệm ở
Nam Việt Nam. Tổng Thống Kennedy với đa số ghế Đảng Dân Chủ
ở Lưỡng Viện Quốc Hội đă thúc đẩy Hoa Kỳ thay đổi một chính
sách hầu Nam Việt Nam có một bộ mặt mới. Bộ mặt mới hẳn
nhiên theo quan niệm của Hoa Kỳ là không làm chấn động dư
luận thế giới về Nam Việt Nam đang đàn áp Phật Giáo.
Người
Mỹ đă như thế, Đại Sứ Trần Văn Chương là vị Đại Sứ lâu năm ở
Hoa Kỳ và lại có t́nh thông gia với gia đ́nh Tổng Thống Diệm
đột ngột từ chức. Ngay trên đất Mỹ, ông Trần Văn Chương tỏ
rơ thái độ chống chế độ Diệm làm cho chánh phủ và nhân dân
Hoa Kỳ cảm thấy rằng không c̣n tiếc nuối duy tŕ chế độ Diệm
tại Nam Việt Nam.
Trong
lúc đó, sự nhờ cậy của chế độ Diệm qua trung gian với Đức
Hồng Y Spellman thuyết phục vị Tổng Thống Công Giáo Kennedy.
Song
Đức Hồng Y Spellman đă thất bại v́ chính quyền Kennedy cho
rằng quần chúng Việt Nam không c̣n tin tưởng ở chế độ cũ mèm
Ngô Đ́nh Diệm nữa. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị tôn giáo
làm cho t́nh h́nh Việt Nam bệ rạc và t́nh trạng này c̣n kéo
dài, chẳng mấy chốc việt cộng thắng thế mà uy tín Hoa Kỳ sẽ
mất tan trong thế giới tự do.
Đại Sứ
Lodge đầu dây mối nhợ qua những bản phúc tŕnh được coi là
chính xác từ Việt Nam gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là những
thúc giục cấp bách kết thúc chế độ Diệm.
Cố
nhiên với một chuyên viên đảo chánh lỗi lạc, một chính khách
uy tín đang lên, Tổng Thống Kennedy đồng ư và ra lệnh cho
Lodge tranh thủ thời gian thanh toán chế độ Diệm ngay tức
thời.
Trong
một phiên họp khoáng đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, những quốc
gia sùng đạo Phật đă yêu cầu ghi vào nghị tŕnh vấn đề chính
phủ Diệm kỳ thị tôn giáo ở Nam Việt Nam. Rất nhiều các đại
diện quan sát viên ở Hội Đồng này cho rằng Hoa Kỳ phải chịu
hoàn toàn trách nhiệm về vấn đề đó tại Việt Nam. Người Mỹ
vốn qui tắc, qui luật, họ không muốn ở diễn đàn quốc tế này
là nơi các đại diện mọi quốc gia nhắm mũi dùi vào chính sách
Hoa Kỳ.
Và nếu
bị tấn công th́ Hoa Kỳ mất uy tín, các nước cộng sản sẽ thừa
cơ hội tố khổ trên diễn đàn mạnh mẽ đối với chính phủ non
ngày non tháng Kennedy.
Nhiều
dồn dập chất đống cho chính quyền Đảng Dân Chủ kennedy trong
những tháng đầu cướp được quyền Tổng Thống mà Đảng Cộng Ḥa
đă giữ trong nhiều năm qua.
Cho
nên Lodge được cử làm Đại Sứ tại Sài G̣n để giải quyết trọn
vẹn vấn đề. Vấn đề này không ngoài lật đổ chế độ Diệm đă
đứng vững trong 9 năm tại Nam Việt Nam.
Sứ
mạng của Lodge không dễ dàng như quan niệm của tư bản Hoa Kỳ
đối với các quốc gia chậm tiến v́ ngài Đại Sứ đă gặp một vị
Tổng Thống ương ngạnh Ngô Đ́nh Diệm mà bên trong ông Cố Vấn
Ngô Đ́nh Nhu làm linh hồn cho chế độ Sài G̣n.
Đại Sứ
Lodge là một người Mỹ lănh sứ mạng chinh phục chứ không phải
bị khuất phục. Với một quốc gia lănh đạo thế giới tự do như
nước Mỹ th́ ngài Đại Sứ Lodge luôn luôn có thái độ ‘’người
khổng lồ’’.
Lodge
đến Sài G̣n gặp phải một vị Tổng Thống đă coi ‘’người khổng
lồ’’ đó là h́nh nộm. Ngài Đại Sứ, công dân áo gấm dưới thời
Nguyễn Khánh đă tự ái nổi dậy. Thành kiến với một quốc gia
chậm tiến chịu áp lực viện trợ Mỹ là tay sai làm cho người
Đại Sứ đụng trở lực lớn.
Dị
đồng cá tính giữa Âu-Á, sự mặc cảm bị đè nén, Tổng Thống
Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu đă có thái độ gây hấn với Lodge.
Gây hấn bất đồng ư kiến với Lodge tức là chống đối chính phủ
Hoa Kỳ, phụ ḷng công của tiền bạc của người Mỹ viện trợ cho
chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Người
Hoa Kỳ quá thực tế, máy móc nên đă ví các quốc gia đồng minh
như một cái máy nổ. Người Mỹ chỉ cần vặn nút là chuyển động
theo ư muốn. Tổng Thống Diệm không muốn lệ thuộc trong guồng
máy đó.
Ṭa
Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n không tin tưởng đường lối hành động
của chế độ đối với Phật Giáo th́ Tổng Thống Diệm không thể
để mất uy tín riêng biệt cho người Hoa Kỳ thao túng ở xứ
này.
Đại Sứ
Lodge là một chuyên viên ngoại giao kiên nhẫn. Ông vẫn đợi
chờ từ hạ tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 10.1963. Tổng
Thống Diệm thay đổi thái độ mà người Hoa Kỳ cho rằng hợp với
một quốc gia phần đông là Phật Tử.
Trung
tuần tháng 10.1963 Đại Sứ Lodge hoàn toàn thất vọng với Tổng
Thống Diệm. Đại Sứ Lodge có cảm tưởng Tổng Thống Diệm quá
thủ cựu độc tài, không chịu uyển chuyển theo t́nh thế chính
trị xoay chiều toàn cơi Nam Việt Nam.
Đại Sứ
Lodge kiên nhẫn như thế v́ ngài Đại Sứ là một tín đồ Đạo
Zen. Người ta đồn đăi triết lư Đạo Zen ăn sâu vào tâm tính
ông Lodge. Trong cuốn L’Ambassadeur của Văn Sĩ Moris West
người Úc Đại Lợi mô tả Lodge đă từng tới tham thiền với một
Nhà Hiền Triết Zen ở miền Bắc Đông Kinh. Điều này đúng chăng
?
Nếu
Lodge quả thật là một người tham Thiền Đạo Zen th́ rất đúng
hẳn tâm tính trầm lặng của ông ta. Có thể ảnh hưởng Zen nên
Lodge đến Việt Nam mà không lật đổ chế độ Diệm ngay mà ông
phải t́m một chân lư sự thật. Và ông đang t́m cách dung ḥa
với cá tính Á Đông ảnh hưởng Khổng Mạnh chấp chứa ở con
người Tổng Thống Diệm. Nhưng Lodge khá nhầm lẫn.
Tư
tưởng của Tổng Thống Diệm là xuất cứ trên hoạn lộ rồi mới
hưởng nhàn ở nơi yên tĩnh. C̣n vốn của Zen đă t́m nơi vắng
vẻ, thiên nặng về trầm tư mặc tưởng đào luyện tâm t́nh. Cho
nên hai con đường Lodge và Diệm chia thành lối. Thêm vào đó
quan niệm Đông và Tây không bao giờ gặp nhau.
Cho
nên Lodge đă chờ đợi. Chờ đợi trong chủ quan của một người
Mỹ ngoại giao thông thạo nếp sống thấm nhuần tư tướng Á
Đông.
Nhưng
cái thông thạo của Lodge là lư thuyết qua một thứ triết học
của Nhật Bản.
Đó là
đi t́m chân lư Zen. V́ vậy Lodge hoàn toàn lệch lạc về tính
Tổng Thống Diệm. Ngài Đại Sứ đă mơ tưởng đến một cuộc đàm
trà về triết lư Đạo Zen trước một ảnh hướng nặng nề Khổng
Mạnh trong bối cảnh sửa soạn đảo chánh của Lodge. Tổng Thống
Diệm đặt Lodge vào con đường cùng. Con đường cùng đó, Lodge
đứng trước trở ngại dồn ép. Ngay sau buổi lễ tŕnh Ủy Nhiệm
Thư, Lodge đă thấy như thế.
Tổng
Thống Diệm không mấy ưa thích khi ngài Đại Sứ tŕnh bày cuộc
nổi dậy của Phật Giáo đồ. Tổng Thống nói với Lodge rằng,
chắc rằng tôi hiểu thấu triệt Phật Giáo hơn ngài Đại Sứ,
ngài cứ yên tâm cho chính phủ làm việc.
Cố
nhiên Lodge không bằng ḷng. Lodge là người nghiên cứu Đạo
Zen. Đạo Zen là một phần nào nằm trong triết lư Đạo Phật.
Lodge say mê Zen. Tin tưởng ở Zen là đường thoát thân, đem
sự trầm tĩnh thuyết phục kẻ đối diện.
Với
Tổng Thống Diệm không coi Lodge là một Tô Tần, một tín đồ
của Zen. Ngài Đại Sứ đến đây để nuốt chửng chính sách nhà
cầm quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Từ
những điểm bất đồng tiềm tàng trong tư tưởng đến dáng điệu
của một ngài Đại Sứ Mỹ vội vàng đến Sài G̣n và yêu cầu cấp
bách tŕnh Ủy Nhiệm Thư. Hành động đó là muốn ăn thua đủ với
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rồi.
Vô
t́nh Tổng Thống Diệm đưa lên bàn cân giữa ông cựu Đại Sứ
Nolting và tân Đại Sứ Henry Cabot Lodge. Theo ông Diệm th́
Nolting mới xứng đáng một nhà ngoại giao. Một vị Ngoại Giao
Đoàn xử sự đúng với câu ở ống th́ dài, ở bầu th́ tṛn. C̣n
Lodge bước chân đến Sài G̣n với bề ngoài hoàn toàn người Mỹ
trầm lặng.
Nhưng
Tổng Thống Diệm lượng được cái trầm lặng đó. Cái trầm lặng
nguy hiểm nhất của kẻ hành động rồi nói sau. Và người Mỹ
trầm lặng chẳng khác ǵ ‘’người Mỹ xấu xí’’ đang chập chờn
trước một thể chế được coi là chà đạp tôn giáo.
Tổng
Thống Diệm vốn là người coi mặt bắt h́nh dung. Nói nôm na là
Tổng Thống Diệm chú trọng đến tướng người đối diện. Nên
trong cuộc tiếp kiến đầu tiên tại Dinh Gia Long, Tổng Thống
Diệm đă chú ư đến cách ăn nói dáng điệu của Lodge rất kỹ.
Khi Lodge ra về Tổng Thống Diệm đă nói với ông Cố Vấn Ngô
Đ́nh Nhu rằng, Lodge là hạng người dữ, thủ đoạn vô cùng.
Tổng
Thống Diệm thấy dáng đi của Lodge vai và lưng cong, dáng
điệu của sư tử vồ mồi. Ông Nhu nghe Tổng Thống Diệm nói vậy
th́ mỉm cười. Nụ cười gắng gượng, khô khan nếu ai nh́n thấy
sẽ cho rằng, đó là cái cười kiêu ngạo, khinh mạn. Nhưng
những nhân viên Tổng Thống Phủ nghĩ rằng, ông Nhu cố gắng
một nụ cười như thế không phải là dễ dàng trong cuộc đời ông
ta. Hơn nữa ông Nhu cười là cho Lodge chứ không phải cười
cho Tổng Thống Diệm. Cho nên ở bước đầu cuộc hội kiến ông
Nhu đă thấy chế độ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ nhưng lại cách xa
ngài Tân Đại Sứ.
Một
người Mỹ như Lodge tự hào nhiều phương diện. Một người Mỹ
như Lodge sâu sắc ở trong một tập đoàn mà ông ta đă chọn lựa
sau khi Nolting rời Việt Nam. Lodge là người Đảng Cộng Ḥa
lại được Đảng Dân Chủ và Tổng Thống Kennedy cử đến nhậm chức
Đại Sứ tại Việt Nam trong một t́nh h́nh được coi là nghiêm
trọng, khủng hoảng chính trị nội bộ. Như thế Lodge không tự
hào cái uy tín của ḿnh sao được.
V́
những tự hào cá nhân, tự hào ngoại giao tột đỉnh, tự hào là
chuyên viên ḥa giải, ngài Đại Sứ quyết liệt khuyến cáo Tổng
Thống Diệm ngay buổi hội kiến đầu tiên.
Một
người như Tổng Thống Diệm với sự Cố Vấn của ông em Ngô Đ́nh
Nhu đă mất cảm t́nh với ngài Tân Đại Sứ Mỹ vừa chân ướt chân
ráo đến Sài G̣n. Tổng Thống Diệm cho hành động của Lodge quá
hấp tấp, chưa thấu triệt vấn đề Phật Giáo. Ngài Đại Sứ chỉ
đọc trên giấy tờ, báo chí và nghe vào tai những dư luận khi
c̣n trên lănh thổ Hoa Kỳ.
Ư nghĩ
tiên đoán của Tổng Thống Diệm rất đúng. Trước khi đến Sài
G̣n, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă cung cấp cho Lodge hàng chục
xấp tài liệu về Việt Nam, trong đó có ghi rơ không những
biến động Phật Giáo mà c̣n có những cá tính của Tổng Thống
Diệm, ông Ngô Đ́nh Nhu, các Bộ trưởng, chính khách có máu
mặt và các Tướng lănh Quân Lực Việt Nam.
Tuy
nhiên Lodge không mấy chú trọng đến nhân sự chung quanh Tổng
Thống Diệm. Lodge quanh quẩn trong hai nhân vật: Tổng Thống
Diệm, ông Ngô Đ́nh Nhu mà thôi.
Cho
nên khi đến Sài G̣n t́nh h́nh phức tạp giữa chính quyền và
Quân Đội, Đại Sứ Lodge phải nhờ cậy đến Đại Tướng Paul
Harkins qua sự t́m hiểu mau chóng về các Tướng lănh Việt
Nam. Khi gặp Tướng Trần Văn Đôn trong thâm tâm Lodge rất
bằng ḷng cái uy phong bề ngoài của vị Tướng Quyền Tham Mưu
Trưởng Liên Quân này. Đó là một điều làm Lodge ngạc nhiên
đầu tiên. Lodge ngỡ rằng với vóc dáng người Việt Nam chắc
rằng các Tướng lănh không lấy ǵ làm lẫm liệt.
V́ thế
Lodge mất cảm t́nh với anh em Tổng Thống Diệm nhưng ông lại
có cảm t́nh với Tướng lănh và Quân Đội.
Đó là
một phần bé nhỏ. Lodge đồng ư làm hậu thuẫn cho các cấp Quân
Đội nào v́ Phật Giáo đảo chánh chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Tổng
Thống Diệm được sự hỗ trợ của Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu hầu như đă
bất cần sự có mặt của ông Lodge kể từ ngày ông Đại Sứ
Nolting bị triệu hồi, chấm dứt nhiệm vụ tại Việt Nam.
Đó là
những ngày rắc rối của chế độ Diệm vào trung tuần tháng
7.1963 với Phật Giáo đồ ở Huế rồi lan tràn các Tỉnh miền
Trung, Trung Nguyên Trung Phần và cuối cùng ngay tại Thủ Đô
Sài G̣n.
Trong
khi đó chính quyền mới Kennedy không muốn kéo dài chiến
tranh ở Việt Nam nữa. Tổng Thống Kennedy trong thời kỳ vận
động tranh cử đă hứa với quần chúng Mỹ sẽ chấm dứt chiến
tranh tại Việt Nam nếu ông được dồn phiếu để đắc cử.
Đồng
thời Tổng Thống Kennedy muốn thắng lợi tại Việt Nam để đền
bù mối thất bại trong cuộc đổ bộ Cuba đă làm uy tín Đảng Dân
Chủ xuống thấp và làm các Thượng Nghị Sĩ chỉ trích quyết
liệt tại diễn đàn Thượng Viện.
Tổng
Thống Kennedy vốn tin tưởng lực lượng quân sự Mỹ, nên CIA đă
huấn luyện một số biệt kích của những người Cuba lưu vong
đang sống ở Florida để cướp chính quyền cộng sản. Fidel
Castro, nhưng thất bại làm cho trùm CIA Dulles từ chức.
Đối
với Việt Nam, Tổng Thống Kennedy yêu cầu Tổng Thống Diệm cho
Quân Lực Mỹ đến Việt Nam thanh toán việt cộng v́ giới Cố Vấn
Mỹ tại Sài G̣n không c̣n thích hợp chế độ chiến tranh đang
mỗi ngày mỗi cao.
Tổng
Thống Diệm đă từ chối. Tổng Thống Kennedy đă không muốn một
quốc gia chịu viện trợ lớn lao lại phản đối chính sách quân
sự của Mỹ về chiến tranh.
Nên
Lodge đến Sài G̣n đă một công hai việc. Hỗ trợ Phật Giáo và
mở chương tŕnh quân Mỹ đến Việt Nam.
Nội bộ
nước Mỹ ảnh hưởng phần lớn cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm, nhất là
khi đảng Cộng Ḥa với anh hùng nước Mỹ Tổng Thống Eisenhower
hết nhiệm kỳ để lại con ‘’gà ṇi’’ Nixon tranh ghế Tổng
Thống với Kennedy. Ông Nixon thất bại.
Đảng
Dân Chủ lên cầm quyền, có thể nói rằng đă xa lạ đầu tiên với
chế độ Ngô Đ́nh Diệm trong suốt 9 năm. Lúc đó người ta đă
đặt câu hỏi Tổng Thống Kennedy có c̣n ủng hộ Tổng Thống Diệm
như Tổng Thống Eisenhower không ?
Những
thay đổi lớn lao ở Hoa Kỳ như thế, song ông Cố Vấn Ngô Đ́nh
Nhu vấn an Tổng Thống Diệm không nên quan tâm đến t́nh h́nh
nội bộ nước Mỹ. Tổng Thống Diệm cho ông Ngô Đ́nh Nhu là
đúng. V́ dầu sao Hoa Kỳ phải ủng hộ Tổng Thống, một chế độ
được nhân dân ủng hộ triệt để và Dân Chủ hoặc Cộng Ḥa ở Mỹ
đều là một.
Chủ
quan của ông Nhu không phải là vô lư. Ông đă đặt nền tảng
nhân dân Việt Nam đối với lănh tụ Diệm là khí giới sắc bén
trước sự thay đổi chính trị ở Hoa Kỳ khi Tổng Thống Kennedy
lên nắm quyền ở Ṭa Bạch Cung.
Nhân
dân hậu thẫn Tổng Thống Diệm th́ việc ông Tân Đại Sứ Lodge
đến Sài G̣n không nghĩa lư ǵ cả. Dù ông Lodge dựa vào Phật
Giáo đấu tranh để khuyến cáo chính quyền th́ ông Nhu, một Cố
Vấn chính trị sẽ ra tay.
Thật
vậy, ngày ông Lodge đến Sài G̣n, trong đêm đó, ông Nhu ra
lệnh Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung, Cảnh Sát
chiến đấu phong tỏa các chùa chiền, bắt bớ các Sư Săi vào
những nơi giam bí mật ở Tổng Nha Cảnh Sát, Trại Lê Văn Duyệt
và ngôi hầm bí mật ở sở thú mà người ta gọi ám số ngôi hầm
này là P.42.
Trên
toàn cơi Nam Việt Nam đều xảy ra t́nh trạng này. Ở Huế, một
số Sư Săi, công chức bị giam ở Năm Căn, một ngôi hầm dự trữ
đạn dược của Quân Đội Nhật trong Thế Chiến Thứ II.
Ở Sài
G̣n sau khi bắt xong các Sư Săi, Chùa chiền vắng ngắt. Ông
Ngô Đ́nh Nhu đă tung một số Nhà Sư vào các Chùa lớn như Xá
Lợi ngồi tụng kinh gơ mơ. Những vị Sư này là Mật Vụ trá h́nh
thành kẻ tu hành.
Khi
Chùa Xá Lợi được giải tỏa 50% tín đồ, Phật Tử đến cúng bái
Đức Thế Tôn đă gặp mấy vị Sư này. Ban đầu người ta ngỡ là
những vị tu hành này ở các Tỉnh đưa về Thủ Đô để thay thế
vào những Thượng Tọa, Đại Đức đă bị chính quyền bắt giữ.
Nhưng các Phật Tử thấy các Sư Săi này không thuộc kinh kệ.
Tay chân các vị Sư này lại thô kệch. Lễ vật cúng mới dâng
Đức Phật hồi sáng, đến chiều đă thấy các Sư Săi ăn hết. Các
Phật Tử bắt đầu nghi ngờ. Và cũng từ đó tiếng đồn ở Chùa Xá
Lợi đều là sư giả của Mật Vụ trá h́nh.
Khi
phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc đến Sài G̣n, một vị Thượng
Tọa Miến Điện đă không quan tâm các vụ đàn áp. Vị Thượng Tọa
này khi tháp tùng phái đoàn đến Chùa Xá Lợi, ông chỉ hỏi các
vị Sư Chùa này về Đạo pháp kinh kệ.
Cố
nhiên các vị Sư Săi giả này không biết ǵ cả.
Vị
Thượng Tọa này c̣n ‘’khám’’ ḷng bàn tay một ông Sư Chùa Xá
Lợi. Khi thấy bàn tay vị Sư này đầy những mụn chai, vị
Thượng Tọa Miến Điện biết ngay vị Sư này là người hành nghề
nặng nhọc tay chân chứ không phải tu hành.
Đại Sứ
Lodge do cơ quan CIA cung cấp đă biết trước một số Mật Vụ
của ông Ngô Đ́nh Nhu trá h́nh thành các vị Sư ở các ngôi
chùa lớn trong Thủ Đô Sài G̣n trước khi Phái Đoàn Liên Hiệp
Quốc đến Việt Nam, cho nên Lodge gài bẫy cho chế độ Diệm
càng sa lầy bằng cách để tự do phái đoàn điều tra được thăm
viếng nhiều Chùa chiền và những nơi giam giữ các vị Thượng
Tọa, Đại Đức. Ban đầu Tổng Thống Diệm chấp nhận hoàn toàn do
sự điều tra trung thực của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc v́ Tổng
Thống Diệm tin tưởng rằng chế độ không hề dị biệt tôn giáo.
Trong
khi đó ông Ngô Đ́nh Nhu hợp tay cùng Mật Vụ, vạch sẵn chương
tŕnh lôi kéo phái đoàn điều tra một cách rất khoa học theo
đường lối của ông ta.
Trước
khi Phái Đoàn đến Tổng Nha Cảnh Sát, Trại Lê Văn Duyệt, An
Dưỡng Địa, Mật Vụ quét dọn sạch sẽ, yêu cầu các Sư Săi mặc
áo quần tươm tất. Trong ngày đó những phương tiện vật chất
như ăn uống đều đầy đủ mong mua chuộc ḷng Sư Săi và lừa
gạt được phái đoàn điều tra. Mật Vụ c̣n tổ chức chỉ định
những câu hỏi phái đoàn điều đề ra.
Về
phía Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc được chế độ o bế đến mức tối
đa. Mật Vụ của ông Nhu bao trùm cả nhà hàng Majestic, nơi
Phái Đoàn điều tra lưu ngụ.
Tổng
Thống Diệm tiếp đăi Phái Đoàn rất nồng hậu mà nhân viên Phủ
Tổng Thống cảm thấy rằng trong 9 năm qua chưa có một đoàn
ngoại quốc nào được trọng đăi như thế. Dưới mắt các quan sát
viên trong nước và quốc tế thời bấy giờ có cảm tưởng Phái
Đoàn Điều Tra đă làm việc cho có lệ mà thôi.
Tuy
nhiên ông Ngô Đ́nh Nhu vẫn cho Mật Vụ canh chừng đường đi
nước bước của các Thượng Tọa Miến Điện và Tích Lan. Mật Vụ
c̣n mua chuộc Phái Đoàn bằng cách dâng hiến một số gái đẹp
cho các nhân viên điều tra trong những đêm thâu canh vắng.
Theo
một cựu nhân viên Mật Vụ th́ đây là một cái bẫy gài Phái
Đoàn điều tra vào thế bí, nếu Phái Đoàn này phúc tŕnh bản
điều tra không theo chiều hướng của chế độ.
Mật Vụ
đă chụp h́nh quay phim các cuộc trăng gió của từng cá nhân
trong Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc. Một số ảnh được
phóng lớn cỡ Carte Postale về h́nh vị điều tra Tích Lan và
Miến Điện đang dở tṛ dâm đăng, hết sức tồi tệ. Số h́nh này
được gửi về Sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống, Tổng Nha
Cảnh Sát, Trung Ương T́nh Báo và Nha An Ninh Quân Đội.
Cuộc
ăn chơi của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc tại Sài G̣n đă lọt vào
tay mật vụ với bằng chứng cụ thể, không chối căi mà phái
đoàn không hề hay biết.
Khí
giới ấy Mật Vụ của chế độ định tung ra cho phái đoàn khi sửa
soạn rời Việt Nam, kết thúc cuộc điều tra trước khi tường
tŕnh ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc U Thant.
Những
Nhà Sư giả đội lốt tu hành bị khám phá dễ dàng. Lúc đầu
khách thập phương đến cúng bái ở Chùa Xá Lợi không tin tưởng
điều này là sự thật.
Măi
đến khi một Nhà Sư bị dân chúng vây đánh ở gần Chùa Xá Lợi
th́ công chuyện mới đổ bể. Mật vụ của ông Ngô Đ́nh Nhu liền
bí mật gọi các tên đội lốt Sư trở về các Nhiệm Sở. Tuy nhiên
lúc bấy giờ CIA đă hợp lực với Quân Đội quyết định lật đổ
Diệm nên tiếng đồn các Sư giả ở các Chùa vẫn vọng vào quần
chúng. V́ thế một số lớn Chùa chiền trong Thủ Đô chẳng có
khách thập phương đến cúng dường Tam Bảo.
Phái
Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc vẫn tiếp tục điều tra với những
cuộc thăm viếng. Nhưng phái đoàn này trông vẻ ăn chơi, nhàn
tản cho đến ngày đảo chánh bất thần bùng nổ. Phái Đoàn điều
tra Liên Hiệp Quốc chứng kiến cuộc đảo chánh và vụ điều tra
coi như hủy bỏ.
Về sau
này bản phúc tŕnh của Phái Đoàn này lên Tổng Thư Kư Liên
Hiệp Quốc về vụ đàn áp Phật Giáo rất đơn sơ. Và xác nhận ở
Việt Nam dưới thời Tổng Thống Diệm có dị đồng tôn giao.
Tuy
nhiên, bản phúc tŕnh đó không được thế giới chú ư. Có lẽ v́
chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă cáo chung th́ bản điều tra ấy không
c̣n giá trị tồn tại nữa.
ĐẠI
SỨ LODGE VÀ CON HỔ GIẤY HOA KỲ
Kể từ
ngày thế giới chia ra hai chủ thuyết rơ rệt: Tự do và cộng
sản th́ Hoa Kỳ bị phe cộng sản liệt vào hạng con hổ giấy Tự
Do. Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Trung Cộng tranh chấp
với Hoa Kỳ ở quốc gia này mănh liệt. Cả hai bên đều gia tăng
quân số, vũ khí, hầu đem đến thắng lợi. Hoa Kỳ đă tung một
lực lượng quân sự đáng kể, nhưng Trung Cộng vẫn liệt Hoa Kỳ
vào hạng ‘’hổ giấy thế giới tự do’’.
Đại Sứ
Lodge đến Sài G̣n với uy lực lớn lao, nhưng dưới mắt ông Ngô
Đ́nh Nhu, nh́n Lodge cũng là thứ hổ giấy Hoa Kỳ. Bằng chứng
qua lần gặp gỡ Tổng Thống Diệm ngài Tân Đại Sứ Lodge đều
thất bại trước những sự phản đối của chính quyền Việt Nam về
việc người Mỹ đang nhúng tay vào nội bộ dân bản xứ. Ông Ngô
Đ́nh Nhu nghiên cứu kỹ càng bằng máy thu băng những cuộc đối
thoại giữa Tổng Thống Diệm và ngài Đại Sứ Henry Cabot Lodge.
Ông Nhu tin tưởng chế độ sẽ thắng chuyên viên ngoại giao
Lodge một cách hợp lư và hợp t́nh.
Nhưng
ông Nhu chủ quan và nhầm lẫn khá nhiều về con người của Tân
Đại Sứ Henry Cabot Lodge. Đại Sứ Lodge mang vào thân với sự
tự tôn của người đi ‘’chinh phục’’. Cho nên khi một vị Tổng
Thống địa phương bất đồng ư kiến, coi lời khuyến cáo của
Lodge không ra ǵ th́ ngài Đại Sứ không dung tha được.
Lodge
sẽ hành động với mọi uy lực trong tay, lật đổ chính quyền
ương ngạnh đó bằng được. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm với chính
sách được gọi là ‘’xả láng’’ phản bội viện trợ Mỹ th́ không
c̣n lư do ǵ để lănh đạo một quốc gia chậm tiến đứng trước
nanh vuốt cộng sản.
Người
Đạo Zen được phong làm con hổ giấy trong tập đoàn lănh đạo
Hoa Kỳ, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đă tỏ ra con người phong độ
chính trị nhưng không lộ hẳn ở mặt ngoài.
Ông
Ngô Đ́nh Nhu đă hời hợt với người Mỹ Lodge thấu triệt Zen mà
đi đến chỗ thất bại oan uổng. Và người ta nghĩ rằng Lodge đă
làm cho cuộc đời ông Nhu tiêu tan kéo theo Tổng Thống 9 năm
Ngô Đ́nh Diệm.
Con hổ
giấy Lodge biết cử động trong biến t́nh Phật Giáo đă làm cho
quần chúng, Chính khách Việt Nam không c̣n khinh khi con cọp
giấy Hoa Kỳ nữa.
Năm
1954 ông Diệm, ông Nhu dựa vào thế lực của Hoa Kỳ bao nhiêu
th́ những năm cuối cùng của chế độ, hầu như muốn tránh khỏi
ảnh hưởng Hoa Kỳ. Thái độ này khá kiêu ngạo khi ông Nhu hoàn
thành một số Ấp Chiến Lược trên toàn quốc.
Thắng
lợi về Ấp Chiến Lược làm cho cộng sản la hoảng và tuyên
truyền rằng: Mỹ Diệm tập trung dân chúng trong Ấp Chiến Lược
là những trại tù vĩ đại ở Việt Nam. Ông Ngô Đ́nh Nhu am hiểu
chiến thuật, chiến lược của cộng sản. Cho nên khi bị phía
bên kia chỉ trích chính sách Ấp Chiến Lược, ông Ngô Đ́nh Nhu
sung sướng coi đó là thành công to lớn.
Theo
kinh nghiệm của những người đă sống và chống đối cộng sản
đều hiểu rằng, những ǵ Nam Việt Nam gây trở lực cho việt
cộng th́ bị đài phát thanh Hà Nội, đài bí mật Giải Phóng
Miền Nam chỉ trích quyết liệt. Ấp Chiến Lược lại c̣n phá rối
hạ tầng cơ sở thôn quê mà việt cộng thường lấy làm căn bản.
Nên việt cộng rối rít đả phá Ấp Chiến Lược về kế hoạch lâu
dài.
Người
Mỹ bên cạnh chính phủ Ngô Đ́nh Diệm như chuyên viên điệp báo
Đại Tá Lansdale, phải công nhận ông Ngô Đ́nh Nhu thành công
rất lớn trong việc b́nh đ́nh nông thôn và chế độ đang đứng
vững ở hạ tầng cơ sở.
Nhưng
ở Hoa Thịnh Đốn, thu thập qua tin các Thông Tín Viên, Thông
Tấn Xă, nhất là tuần báo nổi danh News Week lại chỉ trích Ấp
Chiến Lược. Những cơ quan này cho rằng ông Nhu rập theo
khuôn khổ kế hoạch của Sir Thompson, một chuyên gia du kích
người Anh đă thắng lợi ở chiến trướng Mă Lai Á. Hoa Thịnh
Đốn không coi Ấp Chiến Lược là sáng kiến của ông Nhu và ngay
cả thuyết Nhân Vị, người Mỹ cũng cho là mơ hồ trong Thế Giới
Tự Do Tư Bản.
Tân
Đại Sứ Lodge là đơn vị đứng trong tập đoàn điều khiển chính
sách Mỹ từ Hoa Thịnh Đốn đến, đến để mang theo sự coi thường
ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh Nhu bên cạnh Tổng Thống Diệm.
Cho
nên Lodge chỉ gặp ông Nhu một lần cùng bàn bạc, thảo luận
giữa ba người, Tổng Thống Diệm, ông Nhu và ngài Đại Sứ. Ông
Lodge cho rằng Nhu là một chính trị gia lư tưởng chứ không
thực tế trên cơi đời một ngày một biến chuyển muôn mặt này.
Một
lần duy nhất đó mà thôi, rồi những cuộc thảo luận kế tiếp
Lodge gặp riêng Tổng Thống Diệm. Những lần gặp như thế này,
dù ở Tổng Thống Diệm giữ vững lập trường từ việc nổi loạn
Phật Giáo đến việc Hoa Thịnh Đốn yêu cầu cho Quân Lực Mỹ đổ
bộ lên Nam Việt Nam. Ông Diệm tự chối, viện cớ chính quyền
không thể lùi bước có hại cho uy lực như thế được. Thái độ
Tổng Thống Diệm như vậy, nghĩa là cứng rắn, đương đầu với
ngài Đại Sứ. Song Lodge nhận xét trong những buổi đàm luận,
Tổng Thống Diệm trông vẻ cô đơn v́ lối lập luận của ông một
chiều. Một chiều đó chắc chắn đă sửa soạn trong những ngày
hôm trước qua sự bí mật của ông Nhu thúc đẩy Tổng Thống
Diệm. V́ vậy lắm lúc Tổng Thống Diệm lúng túng khi ông Lodge
hỏi một điểm ngoài cuộc thảo luận. Như thế để chứng tỏ,
thiếu ông Nhu bên cạnh, Tổng Thống Diệm đă lộ hẳn sự lạc
lỏng.
Đại Sứ
Lodge mà ông Nhu quan niệm là con hổ giấy đă đánh đúng vào
yếu huyệt của ông Diệm, nên ông Nhu bị gạt ra ngoài ṿng
những cuộc thảo luận. Một phần nào dữ kiện này, Nhu cay cú
với Tân Đại Sứ Lodge.
V́ sự
cay cú đó ông Nhu đă mất khôn, đẩy Tổng Thống Diệm vào con
đường được gọi là: ‘’chống Mỹ’’. Cho nên cuộc cách mạng
1.11.1963 bùng nổ chẳng có ǵ lạ đối với các chính trị gia
trong và ngoài nước đang theo dơi biến chuyển t́nh h́nh lúc
bấy giờ.
Ông
Nhu thất bại v́ không nghĩ đến con hổ giấy Hoa Kỳ Lodge có
tư tưởng. C̣n phía Trung Cộng gán cho Hoa Kỳ là con hổ giấy
là chiến thuật tuyên truyền vững ḷng các quốc gia chậm
tiến. Hơn nữa, Trung Cộng đứng ngoài ṿng ảnh hưởng ngoại
giao, kinh tế với Hoa Kỳ nên dễ dàng gán cái xấu cho đối thủ
để nâng cao địa vị của ḿnh.
C̣n
Nam Việt Nam đứng vững hay không đều do người Mỹ. Ông Diệm
trở thành Tổng Thống cũng do người Mỹ và bị chết cũng do
người Mỹ mà ông Nhu lẫn ông Diệm không lượng được tầm quan
trọng đó mà muốn ỡm ờ chống hổ giấy Hoa Kỳ.
Ông
Nhu và Tổng Thống Diệm tin tưởng dầu sao đi nữa, người Mỹ
(chính phủ Kennedy) cũng phải áp dụng chính sách ủng hộ
chính quyền miền Nam như dưới thời Đảng Cộng Ḥa Eisenhower.
Lập trường của Hoa Kỳ phải tiên quyết như vậy v́ chính quyền
Diệm đă có thể đứng vững mạnh trong 9 năm qua. Bằng chứng cụ
thể thấy rơ th́ không v́ lư do Phật Giáo gây rối loạn mà
người Mỹ lại bạo gan phá bĩnh công lao trong 9 năm giúp đỡ
tận t́nh chế độ vững mạnh tại Sài G̣n.
Về
việc Lodge đến Sài G̣n cũng như Hoa Kỳ đột ngột triệu hồi
Đại Sứ Nolting, các quan sát viên Nam Việt Nam tiên đoán Hoa
Kỳ đang thay đổi thái độ với chính quyền Diệm.
Ông Cố
Vấn Ngô Đ́nh Nhu linh hồn của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa, không
nhận định đó là một mối nguy cơ mà lại nghĩ rằng, Hoa Kỳ
đang dằn mặt chính quyền miền Nam phải nhượng bộ những đ̣i
hỏi của người Mỹ.
Trong
khi đó dư luận quần chúng nghĩ rằng, Đại Sứ Lodge thay thế
Đại Sứ Nolting v́ chế độ Ngô Đ́nh Diệm đàn áp Phật Giáo.
Ông
Lodge cho chỉ thị của chính phủ Hoa Kỳ khuyến cáo Tổng Thống
Diệm hầu xóa tan khủng hoảng nội bộ nếu ông Diệm, ông Nhu
nhận định t́nh h́nh đang trên bờ vực thẳm qua nhiều khía
cạnh, nhưng thật ra, ngoài cuộc rối loạn Phật Giáo, ngài Đại
Sứ Lodge đến Sài G̣n với nhiều mục địch hầu như bắt buộc
Tổng Thống cải tổ mở rộng chính phủ với nhiều tầng lớp chính
khách đối lập tham dự, đồng thời nên chấp nhận một vài Tướng
lănh tham gia nội các để quân b́nh thế đứng của chính quyền.
Ngoài ra, người Mỹ mong mỏi Tổng Thống Diệm gạt bỏ những
phần tử liên hệ đến ḍng họ Ngô Đ́nh Diệm ra ngoài chính
quyền. Nhất là ông bà Ngô Đ́nh Nhu đang làm mưa làm gió trên
chính trường Nam Việt Nam. Cuối cùng, người Mỹ không muốn
duy tŕ các Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ đă có từ lâu nữa và thay
thế vào đó một số Quân Lực rơ rệt. Nói rơ ràng hơn Quân Đội
Mỹ sẽ đến Nam Việt Nam chiến đấu hơn là Cố Vấn. Có như vậy
mới chấm dứt chiến tranh mau chóng mà không tiêu hao lực
lượng.
Như
vậy, dựa trên cao trào Phật Giáo đấu tranh, người Mỹ đ̣i hỏi
điều kiện mới với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. V́ vậy, Tân Đại
Sứ Lodge thay thế cựu Đại Sứ Nolting không phải đơn phương
về vấn đề khủng hoảng Phật Giáo mà thôi như dưới mắt quần
chúng Việt Nam sống trong biến động lịch sử 1.11.1963.
Chuyên
viên Lodge lănh sứ mạng nặng nề đến Nam Việt Nam. Chính phủ
Hoa Kỳ và ngay cả Lodge đặt tin tưởng sẽ thắng lợi hoàn
toàn. Cái kiêu ngạo của Hoa Kỳ cũng như cá nhân của ngài Đại
Sứ Lodge là thế đấy.
Tự tôn
một quốc gia giàu mạnh, nhiều nhân sự lỗi lạc, người Mỹ
nhúng tay vào nội bộ các dân tộc đồng minh địa phương. Hành
động của Hoa Kỳ nhiều khi cũng đem vào mối lợi như các vụ
Indonésia và gần đây là Cambodge.
Nhưng
có những vụ thất bại chua cay như Cuba, Cộng Ḥa Á Rập (thời
Nasser), Kuweit (xứ dầu hỏa Địa Trung Hải) và chính biến
1.11.1963 được coi trong những chính sách sai lầm, thất bại
đó.
Tuy
nhiên, mỗi lần thất bại như thế, dân chúng, Quốc Hội Hoa Kỳ
náo loạn phản đối th́ chính phủ lại đổ lỗi cho những hoạt
động CIA. Và cái tầm quan trọng của sự thất bại đó lắng
xuống để mưu đồ một trận đánh gián điệp mới.
Cho
nên Nam Việt Nam trong mùa Hạ 1963, chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm đang đứng trước nanh vuốt Hoa Kỳ mà ngài Đại Sứ làm
tiêu biểu bước chân đến Sài G̣n với không khí nặng nề, im
tiếng.
Ngài
Đại Sứ Lodge mở đầu những cuộc hội đàm với Tổng Thống Diệm
có tính cách nghi lễ của một vị Đại Sứ vừa nhậm chức. Chủ
đích Hoa Thịnh Đốn và Lodge đă định sẵn trước khi ông ta đến
Sài G̣n.
Kế
hoạch của Lodge đối với chế độ Diệm gồm hai giai đoạn: Bắt
đầu khuyến cáo, thuyết phục bằng miệng theo lối Tô Tần, nếu
thất bại sẽ chuyển qua giai đoạn hai, lật đổ chính quyền
Diệm bất cứ bằng giá nào.
Lúc
bấy giờ Lodge chú ư đến các chính khách đối lập và những
đoàn thể hoạt động bán chính thức lộ mặt chống chính quyền.
Đó là các ông Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Tuyên
và nhóm trí thức được mệnh danh là Caravella (nhóm này họp
mặt ở khách sạn Caravella ra bản tuyên cáo tỏ ư chống chế
độ).
Riêng
hai ông Phan Khắc Sửu và Phan Quang Đán được dân chúng ủng
hộ triệt để trong vụ bầu cử vào Quốc Hội. Nhưng chế độ Diệm
viện cớ vi phạm luật bầu cử nên bị loại.
V́ sự
sai lầm của chế độ trong trường hợp này đă vô t́nh làm nổi
tiếng hai vị chính khách này. Măi đến sau cách mạng
1.11.1963 thành công, dân chúng mới hiểu được tài năng của
hai vị này trên chính trường miền Nam.
Ngài
Đại Sứ Lodge không thuyết phục được Tổng Thống Diệm. Chỉ c̣n
một đường đảo chánh. Tuy nhiên thượng tuần tháng 10, Đại Sứ
Lodge vẫn c̣n lừng khừng chưa gọi ǵ là ra tay hành động.
Nhưng
thật sự Đại Sứ Lodge hầu như khuyến khích những cuộc biểu
t́nh của Phật Giáo khắp mọi nơi trên toàn cơi Nam Việt Nam.
Những lănh sự Mỹ ở các Tỉnh, Đại Sứ Lodge triệu hồi về Sài
G̣n hội họp thường xuyên.
Đại Sứ
Lodge chỉ thị cho những vị này đứng ngoài những cuộc biểu
t́nh đó và không một lời nào xây dựng hoặc chỉ trích các
chính quyền địa phương. Hành động này phải được lộ hẳn ra
ngoài mặt chi dân chúng thấy rơ.
Ông
Lodge có thái độ như vậy không khác ǵ đốc thúc Phật Giáo
làm dữ để ngài Đại Sứ dễ ăn nói với Tổng Thống Diệm đứng
trước t́nh h́nh rối loạn.
Đại Sứ
Lodge trong khoảng thời gian này chưa có ư định vào Quân Đội
Việt Nam lật đổ chế độ. Ngài Đại Sứ chủ trương một cuộc cách
mạng nhân dân đứng lên đảo chánh mới mạnh mẽ để Tổng Thống
Diệm thấy rằng đồng bào đă xa lánh vị Tổng Thống của họ.
Về
phía Quân Đội sẽ tiếp ứng vào phút chót khi thấy t́nh h́nh
chín muồi, Đại Sứ Lodge mong mỏi như vậy v́ người Hoa Kỳ dè
dặt về một chế độ Quân Nhân thành h́nh, nếu để các Tướng
lănh khởi xướng cách mạng. Kinh nghiệm này đă xảy ra ở Đại
Hàn khi người Mỹ xúi giục Quân Đội nước này hạ bệ chế độ
Tổng Thống Lư Thừa Văn. Tiếp theo đó Đại Hàn khủng hoảng
chính trị và những Tướng lănh tranh quyền nhau.
Tại
Việt Nam, người Mỹ Cabot Lodge tránh vết xe sa lầy đó. Song
đến tháng 10.1963, Phật Giáo đồ tiếp tục tự thiêu, xuống
đường. Phía chính quyền bắt bớ giam cầm. T́nh h́nh náo động
vô cùng nhưng chính quyền vẫn thắng thế, dư luận quốc tế lên
án chính quyền miền Nam chà đạp tôn giáo nhân quyền. Sự lên
án đó kết tội Hoa Kỳ phải gánh lấy hậu quả, trách nhiệm hoàn
toàn.
Người
Mỹ chuyên viên bóp méo, sửa sai thời cuộc Henry Cabot Lodge
gấp rút thanh toán chế độ Diệm v́ diễn đàn Liên Hiệp Quốc
sắp họp phiên khoáng đại.
Dư
luận ngoài hành lang Liên Hiệp Quốc là các quốc gia Phật
Giáo sẽ biểu quyết yêu cầu các đại biểu ghi vào chương tŕnh
bàn luận về chính quyền miền Nam đàn áp tôn giáo. Cố nhiên
khi ghi vào nghị tŕnh phiên họp th́ Hoa Kỳ sẽ bị chỉ trích
nhiều nhất. Và mất ảnh hưởng với các quốc gia đă có cảm t́nh
với Hoa Kỳ từ trước.
T́nh
trạng như thế, nên khi những bản phúc tŕnh của CIA ở Sài
G̣n đệ tŕnh Đại Sứ Lodge là một số Tướng lănh Việt Nam đứng
lên làm đảo chánh.
Đại Sứ
Lodge buông xuôi sự suy tính hầu cướp thời gian cho uy tín
ràng buộc của người Mỹ tại Nam Việt Nam.
Đại Sứ
Lodge chấp nhận một cuộc đảo chánh do Quân Đội đứng đầu,
ngài Đại Sứ vội vàng như vậy v́ thấy biến động Phật Giáo đă
sâu rộng mà không đi đến đâu.
Nếu cứ
dựa vào Phật Giáo qua ngày tháng th́ e rằng phong trào này
sẽ mỏi mệt và tàn rụi. Nếu biến động tàn rụi, chính quyền
Diệm sẽ hống hách và coi thường Đại Sứ Lodge cùng cả người
Hoa Kỳ lôi cuốn theo.
Đại Sứ
Lodge chứng tỏ cá nhân ông cùng với sự liên đới chánh phủ
của ông không phải là thứ hổ giấy trong Thế Giới Tự Do đứng
trước tập đoàn cộng sản quốc tế. Dù người ta nghĩ rằng Hoa
Kỳ là một con hổ giấy th́ con hổ giấy ấy có tầm lực cho
người bàng quang chú ư với ḷng sợ sệt.
Nhưng
trong giai đoạn thời bấy giờ, Đại Sứ Lodge tỏ thái độ đó
nhằm vào chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và riêng cá nhân ông Nhu
nhiều hơn cả. Cho nên cá nhân Lodge tiềm tàng sự ngông
nghênh của một vị Đại Sứ vĩ đại đến một quốc gia đang ‘’được
ơn’’ viện trợ lớn lao của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ.
Đại Sứ
Lodge tự ái chính trị, nhắm mũi dùi vào ông Ngô Đ́nh Nhu mà
ngài Đại Sứ cho rằng ông em của Tổng Thống Diệm đang dẫn dắt
chế độ đến con đường cùng, gẫy đổ. Sự găy đổ, nguyên nhân
coi thường chính sách khuyến cáo của tập đoàn chính phủ
Kennedy, một chính phủ được coi là đối thủ trẻ trung với
cộng sản trong lịch sử nước Mỹ.
Trong
đó ông Lodge bảo thủ uy tín cá nhân nhiều hơn cả. Lodge đă
không tuyên bố một lời nào về sự chống đối địa phương. Tư
phong đó là một sự dồn ép tâm lư của một hạng người lăo
thành về chính trị.
Ông
Ngô Đ́nh Nhu bị cúp viện trợ trang trải cho Lực Lượng Đặc
Biệt. Lodge cho rằng lực lượng này đối với người Mỹ, là
phụng sự riêng tư cho ông Nhu. Quân Đội phục vụ cho một cá
nhân, chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận được.
Chính
phủ Mỹ bỏ qua những ngân sách thâm lủng về Ấp Chiến Lược mà
dư luận Hoa Kỳ cho rằng bao nhiêu tiền bạc của chính sách
đó, lọt vào túi riêng vợ chồng ông Nhu.
Theo
một số người liên quan đến Chính Sách Ấp Chiến Lược cho rằng
những lời khuyến cáo của Đại Sứ Lodge rất đúng. Lỗi lầm này
không phải ông Nhu, nhưng v́ các cấp dưới tham nhũng, nên số
tiền xây dựng Ấp Chiến Lược bị mất mát rất lớn.
Dưới
mắt người dân hồi bấy giờ đối với Ấp Chiến Lược rất thờ ơ.
Trên toàn quốc nhiều nhất là khoảng 10 đến 15 Ấp được coi là
hoàn hảo, đúng nghĩa, đúng thực lực. Những ấp kiên cố này
phần nhiều nằm ở Vùng Cao Nguyên Trung Phần. C̣n số lớn các
Ấp khác xây dựng có tính cách tượng trưng.
Từ bên
ngoài nh́n vào thấy rất đầy đủ. Nhưng nh́n kỹ mới rơ rằng
yếu đuối vô cùng. Những hàng rào tre vót nhọn cắm xuống bùn
mỏng manh không thể tưởng tượng được. Có nhiều Ấp sau nửa
tháng xây dựng đă thấy hư hỏng.
Những
nhân vật hữu trách Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam ông Nhu thường
khoe khoang hữu hiệu Chính Sách Ấp Chiến Lược. Ông Nhu hướng
dẫn đi xem xét vài ấp tiêu biểu.
Cố
nhiên những Ấp này ở cửa Vùng Cao Nguyên, Kiến Ḥa, Khu Trù
Mật Vị Thanh. Người Mỹ thấy những ấp này đều nghĩ rằng trên
toàn quốc đều như vậy cả.
Tuy
nhiên Đại Sứ Lodge không quan tâm đến. Lodge lại cho rằng
Nhu là con người ‘’lừa đảo’’ người Mỹ. Lodge không thể chấp
nhận được.
V́ thế
Lodge coi thường Ấp Chiến Lược đến nỗi không cần khuyến cáo
tân chế độ sau ngày 1.11.1963 đừng phá đổ chương tŕnh.
Thật
ra Ấp Chiến Lược trong kế hoạch rất tốt đẹp và hữu dụng với
chiến tranh du kích cộng sản. Nhưng ông Nhu quá thiên nặng
về lư thuyết mà bỏ rơi mất thực tế, thực trạng để cho người
ta gán cho vợ chồng ông đă tham nhũng một số lớn Mỹ kim
trong chương tŕnh này.
Quan
điểm của Đại Sứ Lodge đối với chế độ Ngô Đ́nh Diệm đi đến
chỗ ‘’vạch lá t́m sâu’’ những khuyết điểm. Người Mỹ có nếp
sống thực tế, phân minh, nên họ rất mực thước về vấn đề tiền
bạc.
Tiền
bạc này là số tiền khổng lồ viện trợ cho Nam Việt Nam trong
9 năm chế độ Diệm cầm quyền. Số tiền đó người Mỹ cho rằng đă
mất mát cho một chính thể gia đ́nh trị mà ông Nhu đứng đầu
chứ không phải Tổng Thống Diệm.
Đại Sứ
Lodge khuyến cáo, thuyết phục Tổng Thống Diệm nhưng đó là
những lời nhắn nhủ đến ông Ngô Đ́nh Nhu. Ông Nhu không thể
cưỡng được người Mỹ mà ngài Đại Sứ đang đại diện tại Sài
G̣n. Những hành động của ông Nhu, Đại Sứ Lodge cho Tổng
Thống Diệm biết là Ṭa Đại Sứ Mỹ đều thông suốt. Những lời
nói mập mờ này, Tổng Thống Diệm không hiểu ông Lodge đ̣i hỏi
điều kiện ǵ ? Một người đạo đức như ông Diệm rất ghét những
điều ám muội như vậy. Cho nên Tổng Thống giận lắm.
Mặt đỏ
gay, những câu nói Pháp Ngữ ngập ngừng lúng túng. Đó là thói
quen của ông khi không bằng ḷng điều ǵ.
Cố
nhiên, sau cuộc hội đàm không bổ ích với Đại Sứ Lodge, Tổng
Thống thường gọi ‘’chú Nhu’’ để mổ xẻ về ngài Đại Sứ.
Riêng
ông Nhu hiểu hơn ai hết. Ngài Đại Sứ đang dằn mặt ông Nhu cố
xoay chiều chính sách Mỹ ở Nam Việt Nam. Ông Nhu đang lo
lắng, suy nghĩ, bộ mặt chảy dài ngàn năm càng thêm kéo dài
đối với h́nh thù khó chịu.
Những
việc làm của ông đă bị CIA theo dơi. Những lời của Đại Sứ
Lodge nói với Tổng Thống Diệm rất rơ ràng không đến nỗi mờ
ám như Tổng Thống Diệm đang thờ ơ.
Ông
Nhu tự kiểm điểm bản thân trong giây lát. Ông đâm ra nghi
ngờ mọi người chung quanh công tác với ông. Sở Nghiên Cứu
Chính Trị Phủ Tổng Thống với nhiều bộ mặt lần lượt hiện rơ
trong tâm trí ông Ngô Đ́nh Nhu.
Ông
Nhu tự hỏi ai đă tiết lộ bí mật của ông. Những bí mật đó là
những cuộc tiếp xúc thầm kín giữa ông Cố Vấn với các đại
diện Ba Lan bên cạnh Ủy Hội Quốc Tế tại Sài G̣n. Ông Nhu
đang dụ định mở cuộc tiếp xúc với Hà Nội như trường hợp
‘’Hiệp thương Bắc Nam’’ mà chế độ miền Bắc đă khởi xướng vào
năm 1956. Theo giới thông thạo bên cạnh Sở Nghiên Cứu Chính
Trị Phủ Tổng Thống th́ ông Nhu đă từng gặp đại diện việt
cộng ở rừng Trảng Bom và Tây Ninh.
Công
việc đang tiến hành th́ vụ Phật Giáo bùng nổ vào mùa Hạ 1963
nên bị tŕ hoăn và Hà Nội thay đổi thái độ chính trị chế độ
Diệm ở miền Nam. Ngược lại thời gian 1956, khi Hà Nội đ̣i
hỏi ‘’Hiệp Thương’’ Hoa Kỳ phá bĩnh lời yêu cầu đó qua chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm đang thời kỳ thịnh vượng.
Lúc
bấy giờ chính quyền Diệm đ̣i hỏi Hà Nội phải giảm quân số
xuống 2/3 ngang hàng với Việt Nam Cộng Ḥa mới nói đến Hiệp
Thương Nam Bắc.
Trong
giai đoạn này miền Bắc đang khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
Ḥa b́nh vừa mới văn hồi, miền Bắc đ̣i hỏi nhiều cố gắng xây
dựng. Tuy nhiên họ vẫn chú trọng đến huấn luyện quân sự ngày
đêm và tăng quân số. Quân lính Bắc Việt vào khoảng 150 ngàn
người tại hàng.
Miền
Nam, chính quyền Diệm được coi là mới mẻ. Số quân lính Pháp
chuyển qua chủ lực quân c̣n yếu kém, hỗm tạp không mấy hoàn
hảo và thiện chiến. Ngoại trừ vài Tiểu Đoàn Nhảy Dù người
Nùng Thượng Du Bắc Việt mà ông Diệm cho đó là ṇng cốt chủ
lực quân Việt Nam Cộng Ḥa. Trong hàng quân Việt Nam Cộng
Ḥa vào khoảng 40 đến 45 ngàn người.
Sự
chênh lệch rơ ràng như thế, song Hoa Kỳ tin tưởng Tổng Thống
Diệm đang được ḷng dân và đang đường đi lên đến thành công.
Hơn nữa, Hoa Kỳ vững tin vào những Cố Vấn Mỹ đến Việt Nam
huấn luyện đạo binh Việt Nam Cộng Ḥa từ hỗn tạp chiến thuật
của Pháp để lại tiến đến tinh nhuệ Quân Đội.
Chính
quyền Nam Việt Nam cấp bách tăng cường, huấn luyện quân số.
Trường Vơ Bị Đà Lạt và Trường Sĩ Quan Thủ Đức tiếp tục thâu
nhận sinh viên để đào tạo cấp lănh đạo Quân Đội trọng đại.
Khóa
12 Vơ Bị Đà Lạt là khóa đầu tiên xuất thân dưới chế độ Ngô
Đ́nh Diệm kể từ ngày Hiệp Định Genève ra đời. Tổng Thống
Diệm đích thân chủ tọa lễ măn khóa và đặt tên là Cộng Ḥa.
Đang ở
thế vững mạnh, tiến bộ của Việt Nam Cộng Ḥa, người Mỹ phá
rối hiệp thương và thúc giục Nam Việt Nam gửi gián điệp ra
Bắc phá nền kinh tế, quân sự Hà Nội. Những đội gián điệp này
nằm trong Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung.
Những
toán Lực Lượng Đặc Biệt đó c̣n được gọi là Biệt Kích xâm
nhập. Lúc bấy giờ thỉnh thoảng dân chúng được nghe tin những
cơ sở quân sự, cầu cống, đường sá ở miền Bắc bị phá hoại.
Chính
quyền miền Bắc kết tội là ‘’bọn phản động’’ gián điệp đang
âm mưu tê liệt nhà nước. Các cuộc phá hoại này cố nhiên do
chính phủ Diệm và người Hoa Kỳ tổ chức tung người ra Bắc lập
chiến khu, mặt trận du kích chống cộng sản.
Tuy
nhiên, những công tác này dưới thời Ngô Đ́nh Diệm dấu kín để
tránh sự tuyên truyền quốc tế do miền Bắc tung ra. Măi đến
cuối năm 1958 bước sang mùa Hạ 1959, miền Bắc tung tin trên
đài phát thanh Hà Nội là quân đội nhà nước vừa bắn hạ 1 máy
bay DAKOTA ở mạn Thái B́nh, Ninh B́nh. Chiếc máy bay này
không mang cờ, không mang số, ḿnh phi cơ sơn màu đen để
thực hiện phi vụ trong đêm. Đội phi pháo đă hạ phi cơ vào
khoảng từ 2 giờ đến 3 giờ sáng.
Phi
hành đoàn gồm 2 Sĩ Quan Quân Đội miền Nam và một sĩ quan
người Mỹ. Xác chiếc phi cơ đem về Hà Nội trưng bày cho dân
chúng xem và kết tội ‘’Mỹ Diệm’’ vi phạm miền trời đất Bắc.
Trong
2 Phi Công sĩ quan, một người bị Bắc Việt đưa lên đài phát
thanh phát biểu cảm tưởng. Và cố nhiên cộng sản bắt buộc anh
ta kết tội chính quyền ‘’ngụy miền Nam’’. C̣n viên Phi Công
kia không nghe nói đến.
Vị Phi
Công không được nói đến tên là Trung Úy T. về sau Phi Hành
Đoàn này ra ṭa án Bắc Việt và bị kết án tù. Số phận của
Trung Úy T. đến những năm sau cùng của chế độ Ngô Đ́nh Diệm
cũng không biết sống chết như thế nào.
Theo
những người của chế độ cũ (Ngô Đ́nh Diệm) kể lại th́ việc
xâm nhập miền Bắc lúc bấy giờ tổ chức rất qui mô và hoàn
hảo. Chính quyền Diệm đă đặt được nhiều cơ sở bí mật trên
miền Thượng Du, Trung Du dọc theo biên giới Lào-Việt,
Hoa-Việt. Thế đứng của các tổ biệt kích rất vững. Có toán
thả ra Bắc từ 12 đến 30 người đă trở lại miền Nam rất an
toàn.
Những
người thả dù đó phần nhiều là người Nùng và họ được xâm nhập
vào quê quán của chính họ. Tất cả đều hoạt động về đêm.
Chính
quyền miền Nam cấp đủ giấy tờ giả của miền Bắc cho họ để dễ
dàng di chuyển. Cũng có nhiều toán biệt kích vùng Phát Diệm,
Bùi Chu và được các họ đạo Công Giáo che chở bằng cách dấu
trong các Nhà Thờ. Đặc biệt một toán 30 người xâm nhập vùng
Bến Hải vào đến Huyện Lệ Thủy (Quảng B́nh) nơi quê hương
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Người Trưởng Toán này đă trở
lại miền Nam ba tháng sau.
Anh ta
làm một bản báo cáo rất kỹ, với nhiều trang giấy đệ tŕnh
Đại Tá Tung về t́nh h́nh quê hương Tổng Thống. Bản tường
tŕnh này được xây dựng do sự yêu cầu của Tổng Thống và ông
Ngô Đ́nh Nhu. Nhưng về sau này không hiểu thái độ của Tổng
Thống Diệm thế nào ? V́ không thấy tiết lộ ǵ cả.
Măi
đến đời Tướng Khánh có sự Bắc phạt với bề ngoài rầm rộ cho
dân chúng lên tinh thần. Tuy nhiên, trong giới t́nh báo cho
rằng việc đó chẳng có ǵ mới mẻ, v́ chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm đă từng làm trong âm thầm.
Bắc
phạt dưới thời Nguyễn Khánh, Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ
dẫn đầu phi vụ Skyraider. Đây là một việc làm dễ dàng đối
với Tướng Kỳ. V́ đời Ngô Đ́nh Diệm chính ông là người phi
công xâm nhập đất Bắc nhiều lần. Trong vụ Bắc Việt hạ một
phi cơ đă viết ở trên là bạn đồng hành với Tướng Kỳ (hồi đó
ông mang cấp bậc Trung Tá).
Trung
Tá Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu 2 phi cơ Dakota thả biệt kích ra
Bắc. Chính ông lái một chiếc, c̣n chiếc kia là Trung Úy T.
(tự là T. râu) cầm đầu. Mỗi chiếc chở từ 15 đến 20 lính
người Nùng được huấn luyện ở Long Thành rất kỹ càng trong 6
tháng.
Hai
phi cơ không mang số cất cánh ngoài 1 giờ sáng ở Tân Sơn
Nhất. Theo đường bay từ bờ biển Vịnh Bắc Việt xâm nhập nội
địa miền Bắc. Theo các nhân viên t́nh báo lúc bấy giờ đă có
mặt trong buổi tiễn đưa kể rằng, tinh thần lính Nùng rất
cao. Nghĩa là họ không sợ sệt ǵ cả. Họ trang bị khí giới
tối tân. Mỗi một anh lính ngoài súng đạn máy móc chung quanh
giây nịt lưng của họ mang theo rất nhiều rượu đế và bia.
Trông họ dắt vào lưng những thứ ấy rất buồn cười.
Và
trước khi thi hành công tác, gia đ́nh họ không được biết.
Gia đ́nh họ được lănh một số tiền lớn và 12 tháng lương, nên
cá nhân mỗi người lính cảm tử này rất yên chí.
Máy
bay của Trung Tá Kỳ và Trung Úy T. vào nội địa Bắc Việt rất
dễ dàng. Hai viên Phi Công này bay rất cao. Khoảng 4 giờ
sáng th́ thả xong Quân Biệt Kích xuống miền Trung Du.
Công
tác hoàn thành mỹ măn, nhưng trên con đường về bị lộ mục
tiêu nên máy bay Trung Úy T. bị đạn, chính vị sĩ quan này đă
báo cho Trung Tá Kỳ rằng: ‘’Trung Tá, tôi bị bắn rồi’’.
Phi cơ
mất đường bay. Trung Tá Kỳ nói vài câu trấn tĩnh Trung Úy T.
rồi bay lên cao hầu quan sát bạn đồng hành nhưng trong đêm
tối không thấy ǵ cả. Trung Tá Kỳ vội vàng lên cao nữa để
tránh cao xạ và t́m đường trở về Nam Việt Nam.
Những
cuộc thả Biệt Kích ra Bắc bị khám phá từ đó. Song những
chuyến bay gây cơ sở cho Biệt Kích Quân gây rối miền Bắc vẫn
được tổ chức đều đặn bằng cách Hoa Kỳ tung ra loại phi cơ
thám thính U2, không người lái và có người lái trên không
phận Bắc Việt.
Loại
phi cơ thám thính, chụp h́nh này bay với độ cao, mắt trần
không thể thấy được. Hoa Kỳ đă sử dụng dưới đời Ngô Đ́nh
Diệm trong công tác gián điệp miền Bắc. Phi cơ U2 đă thành
công lớn lao trong việc chụp h́nh các đồn binh và các dàn
phi pháo Bắc Việt.
Chính
Đại Tá Lê Quang Tung là một sĩ quan trong Bộ Tham Mưu Lực
Lượng Đặc Biệt của ông đă ra Hạm Đội Thứ 7 quan sát loại phi
cơ U2. Kể từ ngày có U2 hoạt động, những chuyến bay thả biệt
kích trên lănh thổ Bắc Việt tránh được cao xạ. Và cũng kể từ
đó không c̣n nghe Bắc Việt loan truyền trên Đài Phát Thanh
Hà Nội là bắn hạ thêm máy bay Dakota nữa.
Hoạt
động của U2 trôi chảy đến năm 1959 th́ Nga Sô phát giác loại
phi cơ này. Nga Sô nhờ máy radar cực mạnh đặt theo biên giới
Thổ Nhĩ Kỳ và Nga Sô. Máy radar hoạt động đêm ngày ở biên
giới này v́ vào thời đó, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu nước
Mỹ đặt nhiều hỏa tiễn Hawk bảo vệ xứ này trước sự đe dọa của
Nga Sô. Khi U2 từ một căn cứ quân Thổ Nhĩ Kỳ xâm nhập lănh
thổ Nga Sô thám thính th́ bị bắn hạ. Viên Phi Công điều
khiển máy bay này là Đại Tá Power nhảy dù với độ cao kinh
khủng và bị Nga Sô bắt giữ cầm tù. Hai tháng sau trên diễn
đàn Liên Hiệp Quốc, Thủ Tướng Nga Sô Khrouchev tháo giầy cầm
tay đập lên bàn phản đối hành động gián điệp của Hoa Kỳ. Các
Quan Sát Viên theo dơi hoạt động Liên Hiệp Quốc cho rằng
hành động của Thủ Tướng Nga làm hoen ố cơ quan ḥa b́nh này
và đă xảy ra lần đầu tiên trong lịch sử Liên Hiệp Quốc.
Măi
đến đời Kennedy, Viên Phi Công Đại Tá Power mới được Nga Sô
phóng thích trong một cuộc trao đổi viên Đại Tá gián điệp
người Nga bị bắt tại Nữu Ước. Cuộc trao đổi này được diễm ra
về đêm giữa Tây Đức và Đông Đức.
Hiện
nay Đại Tá Power đă giải ngũ. Ông là một trong những phi
công lănh lương cao nhất của Hăng Pan-Am. Nhiệm vụ của Power
là bay thử những chiếc phi cơ vừa mới hoàn thành, trước khi
sử dụng trên đường bay thương mại quốc tế.
Nga Sô
hạ được U2, Bắc Việt đề cao cảnh giác, nghi ngờ rằng Hoa Kỳ
cũng đang sử dụng loại máy bay này trên lănh thổ miền Bắc.
Thật thế, một năm sau, Bắc Việt la hoảng. Hoa Kỳ vi phạm chủ
quyền nền trời Bắc bằng phi cơ không người lái.
Thỉnh
thoảng Hà Nội tuyên bố bắn được loại phi cơ này mà Bắc Việt
gọi là phi cơ không người lái. Từ đó U2 không c̣n là loại
phi cơ bí mật đối với chiến trường gián điệp. Song Hoa Kỳ đă
tung ra một bộ óc gián điệp làm điên đầu thế giới cộng sản
một thời.
U2 là
một tên gián điệp điện tử cuối cùng để bước sang một kỷ
nguyên mới vệ tinh nhân tạo gián điệp mà hiện nay Hoa Kỳ và
Nga Sô đang sử dụng.
Lực
Lượng Đặc Biệt do ông Ngô Đ́nh Nhu tổ chức, Đại Tá Lê Quang
Tung điều khiển đă được Hoa Kỳ hỗ trợ như thế. Nên ông Nhu
bận tâm phát triển Lực Lượng này.
ayebaTung deoaPhát triển
đến độ ông Nhu dùng binh chủng này làm ṇng cốt bên cạnh chế
độ Ngô Đ́nh Diệm.
Và khi
Phật Giáo nổi loạn, ông Nhu dùng lính Lực Lượng Đặc Biệt
thao túng Thủ Đô Sài G̣n làm sai nguyên tắc nhiệm vụ của
những người lính này. Người Hoa Kỳ không bằng ḷng như vậy.
Nói
đúng nghĩa Lực Lượng Đặc Biệt dưới thời Ngô Đ́nh Diệm chưa
đúng hẳn là một lực lượng mạnh. Nhưng phải nói rằng một tổ
chức quy củ, nguy hiểm cho chính quyền Bắc Việt. Bên ngoài,
người ta cho rằng ông Nhu và Đại Tá Lê Quang Tung là ṇng
cốt, thật ra Lực Lượng Đặc Biệt này bị ràng buộc vào sự tổ
chức của số lớn sĩ quan Cố Vấn Hoa Kỳ.
Ban
đầu, Lực Lượng Đặc Biệt tuyển dụng những quân chính quy dù
nguyên quán ở miền Bắc. Nhưng chỉ tuyển chọn một số ít làm
căn bản mà thôi. C̣n lại, Cố Vấn Hoa Kỳ yêu cầu Đại Tá Tung
thâu nhận dân sự để huấn luyện.
Cho
nên, phần lớn Lực Lượng Đặc Biệt được gọi với danh từ bán
quân sự. Những người lính được coi là Dân Sự Chiến Đấu.
Người Mỹ gọi tắt là CIDG. Vào thời đó, thỉnh thoảng người ta
thấy một vài ông lính với vận phục lạ lùng thả bộ trên đường
phố với bộ đồ dơi đen, trên ngực dính huy hiệu đầu lâu có
hai xương gác chéo phía dưới trắng hếu. Đó là lính Lực Lượng
Đặc Biệt.
Lực
Lượng Đặc Biệt của ông Ngô Đ́nh Nhu có hai loại. Loại thứ
nhất là đi Bắc, và loại thứ hai ở nội địa. Những người lính
đi Bắc được huấn luyện ở Long Thành. Trong thời gian huấn
luyện, được tiếp xúc với gia đ́nh. Nhưng đến giai đoạn sắp
hết và chuẩn bị công tác th́ mọi cuộc tiếp xúc với bên ngoài
bị gián đoạn. Họ được đối đăi sung sướng, muốn ǵ được nấy.
Mỗi
tuần được xuống hồ tắm Quân Đội Lido (Gia Định) bơi lội một
lần. Mọi sự di chuyển ra khỏi Long Thành đầu dùng xe bít
bùng (loại xe chở tù nhân ở Khám Chí Ḥa). Trong thời gian
này, người ta gọi những lính đi Bắc vào ‘’nhà điên’’. Danh
từ này đặt ra một cách đứng đắn trong trại huấn luyện Long
Thành.
Ngôi
nhà điên là dăy pḥng phong tỏa có biên giới cho những lính
đi Bắc trú ngụ. Khu vực này cấm chỉ những người qua lại.
Thỉnh thoảng người ta thấy rất nhiều đoàn văn nghệ với đầy
đủ ca sĩ nổi tiếng đến dăy nhà điên tŕnh diễn cho lính đi
Bắc thưởng thức.
Vào
thời gian đó, khu nhà điên rất nhộn, những tiếng la hét,
cười nói vang dậy hầu như mất trật tự. Theo một số nghệ sĩ
cho biết th́ số lính này đều cạo trọc, đầu nhẵn bóng, trông
bướng bỉnh vô cùng. Nhiều khi làm trở ngại cuộc tŕnh diễn,
nhưng vị trại trưởng vẫn thả lỏng cho họ.
Đó là
điều ngạc nhiên hết sức đối với nhóm nghệ sĩ đến tŕnh diễn
ở một đồn binh quân sự. Nhưng họ không ngờ đám lính đó sắp
thi hành những công tác nguy hiểm. Vị trại trưởng đă vấn an
với nghệ sĩ và yêu cầu hết sức tha thiết là đừng làm mất
ḷng đám lính mà bên ngoài rơ ràng ‘’ô hợp’’.
Người
Mỹ đóng vai tṛ tuyển dụng binh sĩ và trả lương cho mỗi
người lính đặc biệt. Sĩ quan Việt Nam bên cạnh chỉ lo về thủ
tục giấy tờ mà thôi. V́ vậy những lính Lực Lượng Đặc Biệt
này thường gọi ḿnh là ‘’lính đánh thuê’’ (Mercenaire). Một
danh từ hài hước phủ phàng.
Những
sai lầm cỏn con của người Mỹ như thế, nên một số lính dân sự
chiến đấu này ở trong hàng ngũ một thời gian hoặc sau khi
vào nhà điên đă trốn đi biệt tích.
Trường
hợp này gọi là trốn chứ không phải đào ngũ v́ Lực Lượng Đặc
Biệt là thứ nửa quân sự, nửa dân sự. Số tiền lương mỗi người
lính Đặc Biệt rất cao. Nghĩa là gấp 3 người lính Việt Nam
Cộng Ḥa dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Những
Trại Lực Lượng Đặc Biệt binh sĩ chia thành từng toán 9 người
Việt và Cố Vấn Mỹ. Ba người Mỹ này không phân định cấp bực
rơ ràng, nghĩa là có Toán 2 Sĩ Quan và một Hạ Sĩ Quan. Có
Toán hoàn toàn 3 Hạ Sĩ Quan.
Trong
3 người Mỹ này, một làm Cố Vấn Trưởng, một làm Cố Vấn Phó và
người cuối cùng trông coi về máy truyền tin khi hành quân
xâm nhập ngoại địa Việt Nam Cộng Ḥa. Về phía 9 người Việt
Nam gồm có: Một sĩ quan từ cấp Chuẩn Úy đến Đại Úy Trưởng
Toán, một Trung Sĩ hoặc Thượng Sĩ làm Phó Toán. Các người
c̣n lại là Dân Sự Chiến Đấu.
Dười
thời Ngô Đ́nh Diệm, Lực Lượng Đặc Biệt đă dùng một số ít
tiểu liên AR16 và tiểu liên SK Thụy Điển. Có nhiều Toán lại
dùng vũ khí AK47 đă lấy được của việt cộng. Mỗi Toán Lực
Lượng Đặc Biệt đều lấy tên mỗi Tiểu Bang Hoa Kỳ. Vào thời
bấy giờ, toán nổi tiếng nhất là Toán Texas, Kansas, Oregon.
Những
tổ chức Lực Lượng Đặc Biệt tổ chức qui mô, vững chắc như
vậy. Song hầu hết lệ thuộc vào ngân sách của người Mỹ chi
tiêu. Đây là một khoảng tiền không nằm trong hệ thống viện
trợ Mỹ, mà là một ngân sách riêng biệt của CIA. Cho nên số
lượng không đạt được tiêu chuẩn nhất định.
V́
những nguyên nhân đó, trước ngày cách mạng 1.11.1963, người
Mỹ đe dọa cắt tiềin chi dụng Lực Lượng Đặc Biệt làm cho ông
Ngô Đ́nh Nhu điên đầu v́ việc trả lương cho đơn vị này. Ông
Nhu phải lấy một số tiền lớn trong ngân sách quốc gia mà
trang trải. Nên việc tài chánh của chính phủ được coi là
thâm lủng không biết làm sao hàn gắn được. Ông Ngô Đ́nh Nhu
gắng gượng với đường lối, c̣n nước c̣n tát, phản đối Đại Sứ
Lodge về hành động ‘’đưa con bỏ chợ’’ của người Mỹ.
Đại Sứ
Lodge chẳng quan tâm đến lời khuyến cáo của ông Nhu mà c̣n
nói rằng, ông lo lắng sự thiếu thốn đạn dược, lương hướng sẽ
đưa đến cuộc nổi loạn của Lực Lượng Đặc Biệt.
Ông
Nhu tức giận Đại Sứ Lodge đến tột độ, nhưng lại tránh mặt
ngài Đại Sứ. Ông Nhu ngấm ngầm nhắn nhủ Đại Sứ Lodge qua
Tổng Thống Diệm là người Mỹ chịu trách nhiệm với Thế Giới Tự
Do nếu miền Nam lọt vào tay cộng sản. Tuy nhiên Đại Sứ Lodge
không mấy quan tâm đến lời đe dọa viển vông đó, trong trí
ông đă có kế hoạch san bằng chế độ Diệm cấp tốc rồi.
Nói
đến Lực Lượng Đặc Biệt thời Đệ Nhất Cộng Ḥa là mối ràng
buộc duy nhất, ngoài viện trợ giữa chính quyền và người Hoa
Kỳ. Người Mỹ rất muốn nhúng tay vào việc điều khiển Quân Lực
Việt Nam. Nhưng Tổng Thống Diệm đă hạn chế và chỉ chấp thuận
Cố Vấn mà thôi. Riêng Lực Lượng Đặc Biệt người Mỹ đă thao
túng mọi việc, mọi ngành trong cơ quan này.
Sự
vững mạnh và công hiệu của đơn vị này đă làm cho ông Ngô
Đ́nh Nhu không đặt vấn đề tương quan Mỹ-Việt. V́ ông Nhu
thấy cái lợi rơ ràng mà những toán xâm nhập đă gặt hái trên
đất Bắc, gây rối chính quyền Hà Nội.
Nên
Hoa Kỳ không chấp nhận Hiệp Thương Bắc Nam, ông Nhu lẫn ông
Diệm đều cho là hữu lư trên b́nh diện quân sự, kinh tế Nam
Việt Nam trên đường phát triển.
Thế
đứng đang lên. Hà Nội yêu cầu được ‘’nói chuyện’’ với miền
Nam. Miền Nam từ chối rồi đến năm 1960 Nam Việt Nam trở
thành mặt trận du kích cộng sản. Nội bộ lủng củng từ vụ đảo
chánh hụt 11.11.1960 đến các đoàn thể, chánh khách kết tội
chế độ Diệm gia đ́nh trị, độc tài. Báo chí Mỹ khai thác
triệt để các tin đó và dần dần chế độ đó bước vào con đường
cùng. Và con đường cùng đó, Quân Đội khai thác thành ngày
cách mạng 1.11.1963.
Từ Lực
Lượng Đặc Biệt đến Hiệp Thương Nam Bắc, người Hoa Kỳ không
tiên liệu đến sự đứng vững của một chế độ. Một chế độ được
coi là vững mạnh rồi cũng chế độ đó người Hoa Kỳ kết tội,
thanh toán v́ độc tài.
Dưới
ánh mặt trời Nam Việt Nam, bàn tay sắt bọc nhung của Đại Sứ
Lodge đă thi hành kế hoạch ấy. Lực Lượng Đặc Biệt với mối
hoài băo của ông Nhu trong việc chống cộng. Cũng lực lượng
đó phong tỏa Chùa chiền tại Thủ Đô Sài G̣n, ông Nhu hănh
diện về lực lượng đó bao nhiêu th́ cũng lực lượng đó đưa ông
đến cái chết đau đớn nhất.
Và
người chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt, Đại Tá Lê Quang Tung, dư
luận cho rằng đă bị giết trong ngày cách mạng 1.11.1963.
Nhưng đâu là sự thật ? Cái chết của Đại Tá Lê Quang Tung
hoàn toàn bí mật.
V́ thi
thể của ông đến giờ phút này vẫn chưa t́m được. Chúng tôi sẽ
bàn đến Đại Tá Lê Quang Tung trong một vài chương sắp đến để
biết ông ta sống hay chết.
LODGE VỚI TIÊNG SÚNG CÁCH MẠNG
Lúc
13g30 Ngày 1.11.1963, Tiếng súng cách mạng bắt đầu nổ vang
trong Thủ Đô Sài G̣n. Ngài Đại Sứ b́nh tâm ngồi ở bàn giấy
Ṭa Đại Sứ chờ đợi những phúc tŕnh, báo cáo về diễn biến
bên ngoài. Gương mặt ngài Đại Sứ trông mệt mỏi của một người
thiếu ngủ. Một viên chức Ṭa Đại Sứ cho biết kể từ ngày đến
Việt Nam, Lodge đă làm việc mỗi ngày trên 20 tiếng đồng hồ.
Kể từ
sáng 1.11.1963 đến giờ đảo chánh, Đại Sứ Lodge không c̣n
liên lạc với Phủ Tổng Thống nữa. Hơn nữa, trong ngày này là
Lễ Các Thánh, Đại Sứ Lodge viện lẽ Tổng Thống Diệm là người
mộ đạo th́ rất bận về lễ nghi Công Giáo.
Trong
khi đó Đô Đốc Felt, Tư Lệnh Mỹ tại Thái B́nh Dương có mặt
tại Sài G̣n và Đại Sứ Lodge đă mở tiệc khoản đăi ông ta từ
tối hôm trước tại Tư Dinh. Cố nhiên Đại Sứ Lodge đă cho Đô
Đốc Felt biết rơ cuộc lật đổ Tổng Thống Diệm sẽ khởi đầu vào
buổi trưa trong ngày Lễ Các Thánh.
Đô Đốc
Felt là người rất có cảm t́nh với cá nhân Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm. Trong thâm tâm, Felt không muốn có một cuộc Cách
Mạng Quân Đội như vậy. Dù rằng ông đă chứng kiến tận mắt,
tận cỗ những cuộc náo động của Phật Giáo trên Đường Phố Sài
G̣n.
Đô Đốc
Felt không mấy đặt tầm quan trọng của đoàn thể này có thể
làm rung chuyển chế độ Diệm. Đại Sứ Lodge cho Felt biết tuy
lật đổ Tổng Thống Diệm nhưng cá nhân Tổng Thống vẫn đượoc
bảo đảm.
Lật đổ
này nhằm vào chế độ, thanh lọc các phần tử chống lại chính
sách Hoa Kỳ mà dẫn đầu là ông Ngô Đ́nh Nhu. Luôn tiện chứng
minh cho Tổng Thống Diệm hiểu rơ, quần chúng đă rời ông ta
quá xa v́ chế độ đă cũ mèm, không tiến bộ.
Đô Đốc
Felt nghe Lodge tŕnh bày như thế th́ tin chắc rằng tánh
mạng Tổng Thống Diệm được bảo đảm hoàn toàn. Và ông cũng
đồng ư rằng chính sách Mỹ tại Việt Nam đă xoay chiều v́ chế
độ Diệm đă đụng chạm đoàn thể Phật Giáo mà quần chúng chiếm
đa số 2/3.
Cảm
t́nh tiêng với Tổng Thống Diệm, Đô Đốc Felt lại là một nhân
sự trong tập đoàn Mỹ thi hành chính sách Hoa Thịnh Đốn ở
Đông Nam Á.
Nên,
v́ quyền lợi nước Mỹ, ông phải nhúng tay vào kế hoạch đảo
chánh của Đại Sứ địa phương Henry Cabot Lodge. Có thể nói
rằng, đó là việc ngoài ư muốn của viên Tư Lệnh Hải Quân Đô
Đốc Felt.
Sáng
ngày 1.11.1963, lúc 9 giờ 30, Đô Đốc Felt vào Dinh Gia Long
yết kiến Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Trong cuộc đàm luận thân
mật, Đô Đốc Felt chúc tụng Tổng Thống Diệm và xác nhận chính
sách Mỹ ủng hộ Việt Nam. Đô Đốc Felt rất vui vẻ kính trọng
Tổng Thống Diệm như những lần trước ông ta đến quan sát t́nh
h́nh Nam Việt Nam.
Tổng
Thống Diệm đă than thở với Đô Đốc Felt về người Mỹ không
thực tâm đối với chính phủ trong các vụ biến động Phật Giáo.
Ông
Diệm tŕnh bày về uy quyền chính phủ, sự nhượng bộ những
điểm Hội Đồng Liên Phái Phật Giáo đ̣i hỏi. Ông Diệm nói
nhiều nhất về lá Cờ Quốc Gia và lá Cờ Phật Giáo.
Đô Đốc
Felt nghe rất chăm chú và vấn an luôn miệng sự ủng hộ chánh
phủ tuyệt đối. Những nhân viên thân cận Tổng Thống Diệm thấy
cuộc mạn đàm rất lạc quan.
Nhưng
sau những ngày cách mạng thành công, những người này ngó lại
cuộc hội đàm đó th́ cho rằng lúc đó Đô Đốc Felt trông ngượng
ngập và thoáng vẻ buồn. Họ cũng không ngờ dáng điệu đó là Đô
Đốc Felt đang lo ngại cho Tổng Thống Diệm.
Cuộc
thăm viếng Dinh Gia Long sáng ngày 1.11.1963 của Đô Đốc Felt
được coi là nhân vật mà Tổng Thống Diệm tiếp kiến cuối cùng
trong 9 năm tại vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam. Có
hai giả thuyết về sự yết kiến của Đô Đốc Felt.
Giả
thuyết thứ nhất là do sự dàn xếp của Đại Sứ Lodge, để Đô Đốc
Felt ḍ la t́nh h́nh Dinh Gia Long. Sau khi nói chuyện với
Tổng Thống Diệm, Đô Đốc Felt cho ông Lodge biết là Tổng
Thống Diệm không hề biết ǵ về cuộc đảo chánh sắp khởi sự
vài tiếng đồng hồ sau.
Tổng
Thống Diệm vẫn cứng rắn, tin tưởng ở ư chí của ông. Nói như
thế để biết rằng, ông Diệm lúc nào cũng lạc quan về quần
chúng đa số đứng về phía chính quyền mà cá nhân ông Diệm là
tiêu biểu.
Giả
thuyết thứ hai là cuộc thăm viếng của Đô Đốc Felt có tính
cách t́nh cảm thân thiết ngưỡng mộ riêng tư. Đô Đốc Felt
muốn gặp ông Diệm một lần cuối trước khi ông ta mất hẳn
chiếc ghế Tổng Thống.
Trong
vấn đề yết kiến xă giao của Đô Đốc Felt, sau ngày cách mạng,
các quan sát viên cho đó là sự bày tṛ của Đại Sứ Lodge. Đại
Sứ Lodge thâm ư gài bẫy Đô Đốc Felt vào cuộc chính biến miền
Nam mà Lodge là người chủ mưu. Đô Đốc Felt là một nhà quân
sự không mấy cao vọng.
Ông
đặt vấn đề thắng cộng sản ở Đông Nam Á lên làm hàng đầu hơn
là thao túng chính trị tại các chính phủ địa phương. Cho nên
Đô Đốc Felt đứng ngoài ṿng chính biến nội bộ Nam Việt Nam.
V́ vậy, sau khi yết kiến Tổng Thống Diệm, Đô Đốc Felt hủy bỏ
các cuộc thăm viếng binh sĩ theo thường lệ. Ông vội vàng lên
máy bay về Hạm Đội Thứ Bảy trên đường đến Hạ Uy Di.
Lúc
bấy giờ người ta cho rằng Đô Đốc Felt lẳng lặng rời Việt Nam
ra Hạm Đội Thứ Bảy trên Thái B́nh Dương là để huy động lực
lượng này canh chừng bờ bể Nam Việt Nam trong khi nội bộ
trên đất liền của chính phủ Sài G̣n sẽ kéo dài cuộc hỗn loạn
và khủng hoảng chính trị lâu dài. Điều này có thể sác thực
v́ Đô Đốc Felt trở lại Bộ Tư Lệnh hầu đối phó với việt cộng
lợi dụng cơ hội Việt Nam Cộng Ḥa rối ren để tấn công.
Đại Sứ
Felt rời Việt Nam để lại nhiều chi tiết vui mừng cho Đại Sứ
Lodge. Chắc chắn ông Diệm và ông Nhu không hay biết một mảy
may nào về đảo chánh sắp bùng nổ. Ông Lodge thấy rơ sự thành
công và chính quyền Diệm bất chợt bị lật đổ.
Sự lật
đổ đó chẳng qua không đi theo lời khuyến cáo của Đại Sứ
Lodge trước thảm trạng do những nhà tu hành Phật Giáo bạo
động bằng phương pháp tự thiêu.
Những
cuộc tiếp xúc giữa Lodge và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
được coi như gián đoạn hẳn kể từ buổi sáng tinh sương
1.11.1963. Những dự trù, xếp đặt đă xong xuôi từ hôm
26.10.1963, chỉ c̣n đợi cơ hội thuận tiện thi hành.
Đại Sứ
Lodge gián đoạn liên lạc với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
vào ngày Lễ Các Thánh là một hành động ném đá dấu tay. Đó là
việc trừ bị dư luận quốc tế gán cho Hoa Kỳ khuynh đảo chính
phủ miền Nam.
Và Đại
Sứ Lodge cũng pḥng ngừa đến sự thất bại mà tiếng tăm Hoa Kỳ
không bị chỉ trích của chính phủ.
Giờ
hành động điểm. Lúc 13g30 Văn Pḥng Tư Lệnh Lực Lượng Đặc
Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung trú đóng bên cạnh vận động
Trường Quân Đội Tiểu Đoàn 2 Truyền Tin do Đại Úy Đỗ Như Luân
và Đại Úy Chu Văn Trung chỉ huy tấn công và chiếm đóng. Một
số đông quân chính qui và dân sự chiến đấu của lực lượng này
đầu hàng. Trong khi đó, Đại Tá Lê Quang Tung bị Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng gạt vào Tổng Tham Mưu họp ngày cuối tuần
và bị quản thúc tại đó.
Một
phút sau, vài phát súng lẻ tẻ ở mạn Đường Trần Hưng Đạo,
Đường Vơ Tành Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia bị quân đảo chánh
chiếm giữ. Tiếp theo đó, nền trời Thủ Đô, chung quanh Dinh
Tổng Thống nặc mùi thuốc súng. Thành Cộng Ḥa bị phong tỏa.
Đài Phát Thanh Sài G̣n bị quân đảo chánh rầm rộ từ mạn xa lộ
Biên Ḥa uy hiếp.
14 giờ
ngày 1.11.1963, Đài Phát Thanh bị Thủy Quân Lục Chiến do
Thiếu Tá Nguyễn Bá Liên cầm đầu bốn tiểu đoàn dân công đầu
tiên lên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đă chiếm Đài Phát
Thanh.
Những
bản hùng ca của tiếng nói Thủy Quân Lục Chiến phát thanh
trên làn sóng ngắn và làn sóng dài trên toàn quốc.
Đài
Phát Thanh, cơ quan đầu năo tuyên truyền đă bị quân đảo
chánh cướp được th́ chế độ coi như nguy nan. Bốn Vùng Chiến
Thuật, nhất là các Tư Lệnh Quân Đoàn bắt được làn sóng điện
Đài Sài G̣n, nghe tiếng nói của Quân Cách Mạng, không chóng
th́ chầy, họ phải hưởng ứng v́ coi như chế độ Diệm đă bị lật
đổ hoàn toàn.
Trên
thực tế, tại Sài G̣n, Thủy Quân Lục Chiến cướp được Đài Phát
Thanh, song t́nh h́nh chưa lấy ǵ làm ngă ngũ. Dinh Gia
Long, Thành Cộng Ḥa của quân Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống
Phủ đang chuẩn bị bố trí phản công.
Đại Sứ
Lodge được tin báo cáo quân đảo chánh lấy được Đài Phát
Thanh, kêu gọi Tổng Thống Diệm đầu hàng. Và Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng chuẩn bị phi cơ đưa Tổng Thống ra ngoại quốc.
Đại Sứ Lodge toại nguyện v́ phía Tướng lănh đă thực thi đúng
như lời giao ước của người Mỹ đối với cá nhân, gia đ́nh Tổng
Thống Diệm.
Đến
14g15 Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ xuất quân một phần nhỏ ra khỏi
Thành Cộng Ḥa với nhiều thiết vận xa yểm trợ. Số quân lính
này tiến về mặt Sở Thú theo lộ tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm uy
hiếp lên mạn cầu xa lộ Phan Thanh Giản bên cạnh Đài Phát
Thanh Sài G̣n.
Thiết
vận xa, quân lính đảo chánh thấy vậy dừng lại phía ngoài xa
lộ. Trước Đài Phát Thanh, 4 chiếc thiết vận xa án ngữ. Liên
Binh Pḥng Vệ cứ tiến tới măi và hai bên nổ súng. Quân đảo
chánh do một sĩ quan cấp Úy Thủy Quân Lục Chiến bắt máy
phóng thanh nói rằng Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ làm
phản Tổng Thống, chúng tôi về đây bảo vệ Thủ Đô. Vị Chỉ Huy
Liên Binh Pḥng Vệ được lệnh giải tỏa Đài Phát Thanh bất cứ
giá nào để trả lời anh em đă bị lừa gạt, chúng ta đều ủng hộ
Tổng Thống Diệm cả.
Đừng
bị mắc lừa. Tiếng qua lời lại, cuối cùng hai bên án binh bất
động. Đài Phát Thanh yên lặng không c̣n nghe tiếng súng nữa.
Hai vị sĩ quan hai bên đến gặp nhau, bắt tay chuyện tṛ vui
vẻ.
Kết
cuộc, Thủy Quân Lục Chiến, chiến xa, lùi ra ngoài, trao trả
Đài Phát Thanh cho Liên Binh Pḥng Vệ. Nhưng từ đó Đài Phát
Thanh im lặng những bài b́nh luận, chỉ phát thanh nhạc hùng.
V́ Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ c̣n phải đợi lệnh.
Tổng
Thống Diệm và ông Nhu được tin đă chiếm lại Đài Phát Thanh
th́ bắt đầu khinh lực lượng đảo chánh. Tổng Thống Diệm lạc
quan hơn ai hết và đợi chờ sự đối phó thêm lên của ông Nhu
trước t́nh h́nh được coi là thuận lợi.
Những
lời hăm dọa Tổng Thống phải đầu hàng, ra ngoại quốc không
c̣n vương vấn trong trí ông ta nữa. Chính các sĩ quan thân
cận bên Tổng Thống Diệm cũng rất lạc quan.
V́
cướp lại được Đài Phát Thanh là cú ‘’phản pháo’’ đầu tiên để
đo lường lực lượng đảo chánh, họ tin tưởng Tổng Thống Diệm
sẽ thắng cuộc đảo chánh thứ hai này kể từ ngày 11.11.1960.
Khi
được loan báo Đài Phát Thanh Sài G̣n bị ‘’quân phản loạn’’
chiếm, Tổng Thống Diệm giận bao nhiêu th́ khi quân chính phủ
chiếm lại th́ trông chiều ông vui hẳn lên bấy nhiêu. Riêng
về Đại Sứ Lodge, bắt đầu e ngại sự thất bại sẽ đến không c̣n
xa nữa. Đại Sứ Lodge đốc thúc một số nhân viên trung cấp Ṭa
Đại Sứ Hoa Kỳ liên lạc thẳng với Tổng Tham Mưu, nơi Bản
Doanh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.
Lúc
bấy giờ mọi việc trong Ṭa Đại Sứ Mỹ đều ngưng lại hầu để
dồn tất cả cho từng giây phút biến cố đảo chánh chế độ Diệm.
Ủy viên liên lạc ngoại giao của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
nói chuyện với Ṭa Đại Sứ Mỹ là trong vài phút đồng hồ nữa,
quân cách mạng sẽ mở cuộc tấn công, chiếm cho kỳ được Đài
Phát Thanh trở lại, Ṭa Đại Sứ cho biết Đại Sứ Lodge yêu cầu
thanh toán gấp rút biến động, dù phải bị tiêu hao vật chất
và nhân sự.
Sự
thúc giục của Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ đă thành quả. Đến 15 giờ,
quân đảo chánh chiếm hoàn toàn Đài Phát Thanh Sài G̣n trong
lần thứ hai. Thủy Quân Lục Chiến phát thanh rằng: ‘’Thủy
quân Lục chiến Việt Nam đứng lên lật đổ chế độ Diệm và đứng
sau lưng Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Trung Tướng Dương
Văn Minh làm Chủ Tịch’’.
Qua
đến 15g30, quân đảo chánh uy hiếp thật sự Thành Cộng Ḥa của
Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ. Trong khi đó Đại Sứ Lodge
gọi giây nói cho Tổng Thống Diệm và điện đàm giữa hai người
trong ṿng 4 phút đồng hồ. Nội dung cuộc điện đàm này là Đại
Sứ Lodge mong mỏi được bảo đảm tính mạng cho Tổng Thống rời
khỏi Dinh Gia Long lánh nạn tại Ṭa Đại Sứ Mỹ, Đại Sứ Lodge
sẽ thân chinh vào Dinh Gia Long đưa Tổng Thống ra ngoài.
Tổng
Thống Diệm đă từ chối trong sự căm tức. Đại Sứ Lodge thuyết
phục thêm, xong Tổng Thống Diệm cám ơn và dằn ống nói xuống
giá. Từ giờ phút đó trở đi, Tổng Thống Diệm cảm thấy nguy
hiểm, nên ông xuống trú ẩn trong ngôi hầm bí mật được cất
xây dưới đất sâu ở sau Dinh Gia Long.
Thành
Cộng Ḥa vẫn nổ rền tiếng súng giữa sự tranh chấp hai bên
quân lính, ủng hộ và lật đổ chế độ Diệm. Lúc đó 16 giờ, hai
chiếc máy bay Skyraider lượn trên nền trời Phủ Tổng Thống và
Thành Cộng Ḥa.
Hai
chiếc phóng pháo này đảo vài ṿng và bắn 2 quả Rocket xuống
Thành Cộng Ḥa. Đó là mở màn của Binh Chủng Không Quân ủng
hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và tăng thêm tinh thần cho
quân đảo chánh gấp rút thanh toán mục tiêu.
Sau
những lời đe dọa của Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Cuộc Hành
Quân Thủ Đô Sài G̣n thông báo với Tổng Thống Diệm là nếu
không đầu hàng, Tướng Đính sẽ ra lệnh cho Trung Úy Phi Công
Phạm Phú Quốc thả bom san bằng Dinh Gia Long. Hiện Trung Úy
Quốc đang sửa soạn máy bay cất cánh, nếu Tổng Thống Diệm,
ông Nhu c̣n ngoan cố.
Đến
17g15, Đại Sứ Lodge liên lạc với Tổng Thống Diệm thêm một
lần nữa với luận điệu cũ. Tổng Thống Diệm không trả lời mà
chỉ thị cho Sĩ Quan Tùy Viên cho ông Đại Sứ biết, Tổng Thống
bận rộn.
Theo
Tổng Thống Diệm và ông Nhu th́ hành động của Đại Sứ Lodge
muốn gài bẫy để hạ bệ chế độ nhanh chóng. Sự lánh nạn tại
Ṭa Đại Sứ Mỹ không c̣n bảo đảm theo tính chất quốc tế nữa.
Người
Mỹ đă nhúng tay vào nội bộ chính phủ th́ việc đến lánh nạn
bên cạnh Lodge là một sự ươn hèn. Tổng Thống Diệm là người
tự ái và uy lực, chủ quyền, nên ông không thể chấp nhận lối
ngoại giao của Lodge được.
Người
Mỹ Henry Cabot Lodge đến giờ đảo chánh mới lường được thủ
đoạn gian hùng mà trước đó vào tháng 8.1963 Tổng Thống Diệm
và ông Ngô Đ́nh Nhu coi thường để tách rời chính sách đè nén
của Hoa Kỳ với chính quyền Nam Việt Nam.
Đại Sứ
Lodge đă đánh ván bài Pocker xả láng với chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm. Ngài Đại Sứ che dấu một con cờ gian lận với lịch
sử Việt Nam sau này. Sự che dấu đó bằng lối nhân đạo ‘’bảo
đảm tính mạng’’ và chứa chấp Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm trong
Ṭa Đại Sứ Mỹ.
Sự
tháo cáy âm thầm của Lodge bị lộ hẳn ra ngoài làm cho Tổng
Thống Diệm e dè. V́ thế, ông Nhu từ chối sự bảo đảm của
Lodge được coi lè vẻ vang trong đời chính trị của hai ông ở
xứ này.
Không
đến Ṭa Đại Sứ Mỹ, gạt phăng những ư kiến vào giờ đảo chánh
của Lodge, Tổng Thống Diệm và ông Nhu đă hành động hợp lư.
Về phía Lodge thất bại thêm một lần nữa đối với Tổng Thống
Diệm. Thâm ư của Lodge muốn ‘’chiêu hàng’’ Tổng Thống Diệm
về Ṭa Đại Sứ là ru ngủ quần chúng Việt Nam qua sự độ lượng,
khoan dung của người Mỹ. Đồng thời dằn mặt Tổng Thống Diệm
về sự ương ngạnh, nên hậu quả mới đến mức này. Tổng Thống
Diệm và ông Nhu đă tiên liệu được điều đó, nên không muốn
thấy bộ mặt ‘’phách lối’’ của nhà chính trị lăo thành Lodge.
Tổng
Thống Diệm tin tưởng, mơ ước quần chúng ở sau lưng ông th́
việc lánh ở Ṭa Đại Sứ Mỹ là điều sỉ nhục đối với vị Nguyên
Thủ Quốc Gia, Tổng Thống Diệm là người ‘’Tôi tiến, tiến theo
tôi, tôi lùi, hăy giết tôi, tôi chết hăy trả thù cho tôi…’’
Cho
nên kết luận rằng từ ngày đến Việt Nam trong chính thể Diệm
cho đến khi chính thể này gục ngă, ngài Đại Sứ Lodge vẫn
thất bại trước hai ông Nhu và ông Diệm.
Tổng
Thống Diệm và ông Nhu đă chọn đường rời Dinh Gia Long khi
Thành Cộng Ḥa sắp bị đảo chánh chiếm giữ. Ông Diệm và ông
Nhu thoát khỏi Dinh Gia Long vào hồi 19g15 ngày 1.11.1963
(Đọc những bí mật cách mạng 1.11.1963 đă đăng tải và sắp
xuất bản thành sách).
Với cơ
quan CIA đang tung hoành, theo sát t́nh h́nh đảo chánh nhưng
không thể khám phá ra được nơi trú ẩn của Tổng Thống Diệm,
như vậy ngài Đại Sứ lại thất bại thêm một lần nữa với Tổng
Thống Diệm, dù Tổng Thống ở vào t́nh trạng bôn đào thất
sủng.
TRỞ
THÀNH CÔNG DÂN ÁO GẤM
Ngày
2.11.1963, Lúc 9 giờ sáng, dân chúng toàn cơi Nam Việt Nam
được Đài Phát Thanh Sài G̣n loan báo ‘’Tổng Thống Diệm và
ông Nhu tự tử’’.
Những
người ủng hộ chế độ cũ, cũng như các người oán thù chế độ
đều ngỡ ngàng về hai cái chết nhanh chóng như thế. Và chẳng
mấy chốc ai ai cũng muốn t́m hiểu cái chết của Tổng Thống
Diệm như thế nào ? Đâu là sự thật ?
Về
phía Ṭa Đại Sứ Mỹ im lặng, không một thông cáo, b́nh luận
về cái chết đầy bí ẩn của anh em Tổng Thống Diệm. Các kư giả
trong và ngoài nước sốt nóng về đề tài đó. Nhưng bức màn bí
mật vẫn phủ kín ở Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và ngay cả
Đại Sứ chuyên viên đảo chánh Henry Cabot Lodge.
Cũng
sáng ngày 2.11.1963, dân chúng Sài G̣n được thấy sự xuất
hiện của ngài Đại Sứ trên Đường Tự Do và Lê Lợi. Nét mặt
ngài Đại Sứ tươi hẳn lên. Ông thả bộ trên vỉa hè như một kẻ
chiến thắng đă hoàn toàn thư thả sau trách nhiệm đè nặng
trên vai từ hai tháng qua ở Sài G̣n. Các nhiếp ảnh viên báo
chí đă chụp được một tấm h́nh Lodge đang hỏi han tṛ chuyện
với một thiếu nữ trên đường phố.
Thái
độ ra mắt tự nhiên đă thu hút quần chúng Việt Nam một phần
nào. Song cái chết của Tổng Thống Diệm đă làm cho người dân
nh́n Lodge với sự hiếu kỳ ở kích thước đa mưu, túc kế của vị
chuyên viên thời cuộc.
Trong
lúc đó tại Hoa Kỳ, bà góa phụ Ngô Đ́nh Nhu tuyên bố với báo
chí ‘’ông Diệm, ông Nhu không thể tự tử được. Đạo Công Giáo
không cho phép hủy hoại thân thể. Chính phủ Hoa Thịnh Đốn và
Ṭa Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n phải chịu trách nhiệm về cái chết
đó’’.
Lời
tuyên bố của góa phụ Ngô Đ́nh Nhu đă làm cho quần chúng Phật
Tử Việt Nam đi t́m sự thật cái chết của Tổng Thống Diệm. Và
cố nhiên, ở t́nh thế ban đầu, người ta cho Ṭa Đại Sứ Mỹ đă
quyết định với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng giết ông Diệm,
ông Nhu.
Đến
giữa trưa ngày 2.11.1963, dân chúng Sài G̣n quả quyết rằng
Tổng Thống Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu bị ám hại. Dư luận đồng
bào Công Giáo phẫn uất, nhất là các Họ Đạo ở Hố Nai và các
Họ Đạo trên toàn quốc thuộc dân chúng Bắc Việt di cư vào Nam
từ năm 1954.
Sôi
nổi, bàn tán về cái chết của Tổng Thống Diệm mỗi lúc càng
lan rộng. Những nghi vấn, huyền thoại chung quanh cái chết
đó mà hầu như trách nhiệm những cá nhân, đoàn thể, người Mỹ
đều từ chối, không đưa ra ánh sáng sự thật ấy.
Chế độ
Ngô Đ́nh Diệm hoàn toàn sụp đổ, cá nhân Tổng Thống Diệm trở
về với cát bụi mây ngàn. Người thiên cổ không thể cất tiếng
nói vào đời lần thứ hai. Song uy tín, tiếng tăm của Tổng
Thống Diệm chết rồi vẫn làm cho người Mỹ (Henry Cabot Lodge)
và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng phải nể nang.
Người
ta thử hỏi, tại sao cao trào cách mạng 1.11.1963 không phổ
biến một thông cáo chính thức, minh bạch về cái chết của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ? Nếu các giới cách mạng cùng Ṭa
Đại Sứ Mỹ đưa ra cái chết đó một cách chính xác th́ chắc
rằng dân chúng không đến phải đi t́m để làm trọng đại về một
cái chết của vị Tổng Thống bị cách mạng nhân dân và Quân Đội
lật đổ.
Những
im lặng nặng nề, những sự dấu diếm ấy đă giảm tư cách, uy
thế của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và mất đi chứ Tín trong
hậu trướng chính trị mà người Mỹ thường được dân chúng đề
cập tới.
Đại Sứ
Lodge là con hổ vồ được xác người tiều phu Ngô Đ́nh Diệm
(chặt gỗ xây dựng căn nhà chế độ). Ông ta hănh diện đứng về
phía đám đông Phật Giáo, thanh toán một chế độ ương ngạnh
với chính phủ Mỹ.
Tiếp
sau những khủng hoảng chính trị, những vụ xuống đường liên
tiếp, bày thêm cảnh hỗn độn như cảnh đói năm Dần lúc Nhật
lan tràn trên toàn cơi Đông Dương.
Trước
t́nh thế hiểm nghèo đó, chế độ Ngô Đ́nh Diệm lại được quật
mồ để so sánh với cách mạng đương thời. Chẳng mấy chốc hào
quang cách mạng là chiếc bánh vẽ, một ảo tưởng kinh hoàng
trong lịch sử cận đại Việt Nam.
Ngài
Đại Sứ Lodge không ngờ công chuyện đổ vỡ tai hại như thế.
Ông thúc đẩy Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập chính
phủ dân sự. Đồng thời nhúng tay bí mật vào một cuộc đảo
chánh mới được gọi là chỉnh lư.
Cuộc
chỉnh lư này do Tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh cầm
đầu (đă đăng tải vụ Bốn Tướng Đà Lạt và sắp xuất bản thành
sách trong năm 1971).
Sau
cuộc chỉnh lư 31.1.1964 lằn xe đổ nát chính trị kéo dài măi.
Phía người Mỹ bắt đầu rục rịch thay đổi nhân sự từ Bộ Tư
Lệnh đến Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n.
Ngày
18.6.1964, Tướng Paul Harkins, Tư Lệnh Quân Đoàn Mỹ tại Việt
Nam trở về Mỹ hưu trí. Viên phụ tá của ông là Tướng Williams
Westmoreland lên thay thế. Tướng Westy hoạch định chương
tŕnh đánh mạnh và đánh dữ với cộng sản.
Ông
yêu cầu Hoa Thịnh Đốn vạch chương tŕnh đổ bộ Quân Đội Mỹ
lên Việt Nam.
Tướng
Westy viện lẽ, quân số đông đúc là điều cần thiết đánh bại
cộng sản.
Ngày
24.6.1964, Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson chính thức cử Tướng
Maxwell Taylor thay thế Henry Cabot Lodge chức vụ Đại Sứ tại
Việt Nam, một số đồng bào Phật Tử sinh viên, nhân vật ngoại
giao đoàn và Thủ Tướng chính phủ Nguyễn Khánh tiễn đưa.
Tại
pḥng khách danh dự Phi Trường Tân Sơn Nhất, Nguyễn Khánh đă
trao tặng Lodge khăn đen, áo dài, tượng trưng quốc phục Việt
Nam. Lodge đă mặc vào, lên máy bay hô khẩu hiệu: ‘’Việt Nam
muôn năm’’ trước khi cửa phi cơ đóng chặt lại, đưa Lodge trở
về nước Mỹ.
Thế là
nhiệm vụ của một Đại Sứ, chuyên viên đảo chánh đă chấm dứt.
Lodge đến Nam Việt Nam trong t́nh h́nh sôi sục giữa chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm và Phật Giáo, ngài Đại Sứ đă bóp nắn
thời cuộc. Nhưng thời cuộc đó cũng không sáng sủa mà c̣n tệ
hại khi chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cáo chung. Cho nên khi ông
Nixon đắc cử Tổng Thống nước Mỹ năm 1968 đă ngụ ư rằng,
người Mỹ hạ bệ và giết Tổng Thống Diệm là một điểm hoen ố
trên đường ngoại giao ở Đông Nam Á Châu, nơi mà Tổng Thống
Diệm là lănh tụ chống cộng sản đến cùng.
Lê Tử
Hùng
Tiểu sử:
CÔNG DÂN ÁO GẤM VIỆT NAM
‘’Henry Cabot Lodge’’
Đại Sứ
Henry Cabot Lodge sinh ngày 5 tháng 7 năm 1902, tại Nahant
Massachusetts. Tốt nghiệp Đại Học Trường Harvard. Năm 1924
cộng tác với các báo The Boston Transcrip và The New York
Herald Tribune.
Đắc cử
hai nhiệm kỳ tại Cơ Quan Lập Pháp Massachusetts. Năm
1933-1936 đánh bại James M. Curley vào Thượng Viện Hoa Kỳ.
Đă từng phục vụ ở Lục Quân trong Thế Chiến Thứ 2. Tái đắc cử
Thượng Viện và lại từ chức khỏi Thượng Viện để trở lại Lục
Quân. Được ân thưởng huy chương Bronze star (sao đồng),
Croix de Guerre (Pháp) cùng các huy chương khác. Sau đó lại
đắc cử vào Thượng Viện năm 1946. Ông ta có ảnh hưởng lớn
trong việc thuyết phục Tướng Eisenhower ra ứng cử Tổng Thống
và đứng ra làm Giám Đốc tranh cử cho ông này.
Mất
ghế Thượng Viện năm 1950 vào tay John F. Kennedy. Năm 1953
Đại Sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc. Năm 1960 ứng cử viên Tổng
Thống của Đảng Cộng Ḥa. Đại Sứ tại Nam Việt Nam vào tháng 8
năm 1963 đến tháng 7 năm 1964. Rồi trở lại xứ này tái giữ
chức Đại Sứ từ tháng 8 năm 1965 đến 1967.
Đại Sứ
lưu động của Hoa Kỳ 1967-1968. Đại Sứ tại Cộng Ḥa Liên Bang
Đức 1968-1969. Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết tại Hội Đàm Ba
Lê về Việt Nam từ tháng giêng đến tháng chạp 1969.
Hiện
nay (1971) là Đặc Sứ của Tổng Thống Nixon tại Ṭa Thánh
Vatican.
(Theo
tài liệu mật Ngũ Giác Đài)
ĐỒNG NAI
XUẤT BẢN, TỔNG PHÁT HÀNH SÁCH BÁO T̉AN QUỐC
270 Đường Đề Thám 270
Sài G̣n
CÔNG DÂN ÁO GẤM, In tại
Nhà In NẮNG MỚI, 45 Bùi Viện, Sài G̣n,
ĐT 20050, Giấy Phép
xuất bản số 2822 BTT-PHNT ngày 20.6.1971 |