|
Những bí ẩn đằng sau các cuộc thánh
chiến tại VN
»
Tác giả:
Lữ
Giang
7. Chương IV ( tt): CUỘC THÁNH
CHIẾN THỨ HAI: Đ̉I NỢ MÁU, DIỆT
THIÊN CHÚA GIÁO, NGỤY HOÀ VÀ CƯỚP
CHÍNH QUYỀN

Thời kỳ ba năm sau khi chế độ
Ngô Đ́nh Diệm bị cơ quan t́nh báo
CIA tổ chức lật đổ, từ 1964 - 1966,
thường được gọi là "ba năm xáo
trộn", ba năm kinh hoàng của
miền Nam VN...Trong
thời kỳ này có lúc gần như không c̣n
là chính quyền nữa, nhóm Phật Giáo
miền Trung phát xuất từ chùa Từ Đàm
ở Huế, hành động dưới danh nghĩa Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, rồi Lực
Lượng Tranh Thủ Cách Mạng, đă đứng
trên và đứng ngoài luật pháp, nắm
quyền sinh sát trong tay, muốn bắt
ai cứ bắt, muốn phá chỗ nào cứ phá,
muốn đốt nơi nào cứ đốt, muốn giết
ai cứ ám sát, tự tung tự tác trong
cơ quan công quyền, nơi trường học,
trên các đường phố... Tổ chức này đă
bắt cả Tỉnh Trưởng Quảng Nam và Quận
Trưởng Ḥa Vang đem đi giam v́ không
chịu theo phe của họ.
Nhóm Phật Giáo miền Trung này
tin tưởng rằng một khi họ đă lật đổ
được Chế độ Ngô Đ́nh Diệm, một chế
độ đang vững mạnh tại miền Nam, th́
họ có thể làm bất cứ cái ǵ họ muốn
và không một chính quyền nào dám
cưỡng lại họ. Say men chiến thắng,
nhóm này đă đưa ra nhiều yêu sách
buộc chính quyền phải thực hiện ngay.
Trước hết là đ̣i một "quy chế đặc
biệt" cho Phật Giáo, rồi đến đ̣i
"diệt dư đảng Cần Lao Thiên Chúa
Giáo", đ̣i đưa các nhân vật Phật
Giáo lên nắm chính quyền, đ̣i cả
những điều mà Bắc Việt và Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam vẫn nhai đi nhai
lại trên đài phát thanh hàng ngày :
Quân đội miền Nam và Hoa kỳ phải đơn
phương ngưng chiến, Mỹ rút, thành
lập chính phủ liên hiệp, trung lập
và không liên kết, v.v. Khi những
đ̣i hỏi phiêu lưu đó không được thỏa
măn, họ phát động thánh chiến vừa
bằng chiến tranh chính trị, vừa bằng
bạo động và quân sự để cướp chính
quyền. Cuộc thánh chiến này dữ dội
gấp 10 lần cuộc thánh chiến chống
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, đưa tới
những hậu quả bi thảm cho cả Phật
Giáo lẫn đất nước đến nỗi các "sử
gia" Phật Giáo ít ai dám mô tả lại
đầy đủ. Tất cả chỉ lẩn quẩn xung
quanh cuộc thánh chiến thứ nhất. Sau
đây là một số diễn biến của cuộc
thánh chiến bi thảm này. Riêng phần
thánh chiến để đ̣i một "quy chế
đặc biệt" cho Phật Giáo, chúng
tôi sẽ đề cập trong phần nói về cuộc
nội chiến.
MỘT BIẾN CỐ BẤT NGỜ
Khi tiếng reo mừng chiến thắng của
Phật Giáo về biến cố ngày 1.11.1963
chưa dứt th́ bỗng nhiên một biến cố
mới đă xẩy ra. Tướng Nguyễn Chánh
Thi, lúc đó là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn
I, đă kể lại rằng, sau một thời gian
sắp đặt kỹ lưỡng, ngày 29.1.1964 ông
cùng với Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh
Quân Đoàn I và Bộ Tham Mưu Quân Đoàn
I vào Saig̣n hợp với Thiếu Tướng
Dương Văn Đức làm cuộc "chỉnh lư"
lật đổ nhóm tướng lănh đă làm cuộc
đảo chính ngày 1.11.1963. Cuộc "chỉnh
lư" thành công một cách quá dễ dàng,
không tốn một viên đạn nào. Tướng
Thi nhận định rằng phải có sự ủng hộ
của Hoa Kỳ, Tướng Khánh mới dám hành
động như vậy. Ông cho biết chính
Lucien Conein đă bay ra Huế gặp
Tướng Nguyễn Khánh trước lễ Giáng
Sinh năm 1963.
Tướng Nguyễn Khánh đă lên đài phát
thanh tuyên bố lư do của cuộc "chỉnh
lư" như sau:
"Từ ba tháng nay, t́nh h́nh suy
sụp về mọi mặt, chính quyền tỏ ra
bất lực và phản cách mạng, một số
người chạy theo thực dân và CS, nên
một lần nữa Quân Đội lại phải can
thiệp".
Các nhà b́nh luận nhận xét rằng Hoa
Kỳ đă để cho Tướng Nguyễn Khánh làm
cuộc đảo chánh thứ hai này v́ các lư
do sau đây:
Lư do thứ nhất là các tướng làm cuộc
đảo chánh ngày 1.11.1963 chỉ có khả
năng loại trừ chế độ Ngô Đ́nh Diệm
chứ không có khả năng cầm quyền. Lư
do thứ hai, Hoa Kỳ lo sợ nhóm Phật
Giáo miền Trung là một nhóm có lập
trường chính trị không rơ ràng, có
nhiều tham vọng và bị CS lũng đoạn,
có thể dựa vào các tướng lănh thân
họ để gây rối loạn và đưa miền Nam
vào một hướng đi khác. Vậy cần phải
loại bỏ các tướng làm cuộc đảo chánh
ngày 1.11.1963 và giao quyền hành
lại cho một nhóm khác có khả năm cầm
quyền và có thái độ thân Mỹ hơn. Tài
liệu do Ngũ Giác Đài công bố cho
biết sau khi cuộc "chỉnh lư" hoàn
tất, Đại Sứ Cabot Lodge đă gởi về
Washington một bản báo cáo nói rằng
khuynh hướng theo chủ trương trung
lập của hai tướng Lê Văn Kim và Trần
Văn Đôn chưa rơ rệt, nhưng một khi
họ đă củng cố được một chính phủ
vững mạnh, có lẽ họ sẽ tán thành
thành giải pháp trung lập của Pháp.
Đại Sứ Cabot Lodge cho biết chính
Đại Sứ Ư Di Orlandi, một người sáng
suốt nhất ở đây, đă lưu ư hai Tướng
Đôn và Kim vẫn c̣n giữ quốc tịch
Pháp, từng là phụ tá của Thống Chế
De Lattre và hoạt động đắc lực cho
Sở Mật Thám (Service Secret) của
Pháp trong quá khứ, cho nên dư luận
về chủ trương trung lập hóa miền Nam
VN có thể đúng. Ông viết tiếp:
"Sau hết, tại nước này hiện nay,
ít khi có chuyện một cuộc bầu cử là
một phương cách hữu hiệu, thích hợp
để hoàn tất một vấn đề quan trọng.
Để làm những chuyện quan trọng ở đây,
phương pháp truyền thống là xử dụng
sức mạnh có kế hoạch, có suy nghĩ kỹ
càng. Điều mà Tướng Khánh đă làm
không làm cho người VN ngạc nhiên
... Tuy nhiên, một số người VN đă
nói với các nhân viên trong bộ tham
mưu của tôi rằng ông Minh là người
tốt, thay thế ông ta là tội nghiệp."
"Vấn đề thiết thực phải đặt ra là
Tướng Khánh có khả năng không ? Liệu
ông ta có đáp ứng được một số hành
động góp phần vào nỗ lực chống cộng
hay không ? Cho đến nay, có bằng
chứng cho thấy ông ta có khả năng,
ông ta không cho một sự chậm trễ nào
...
"Nếu Tướng Khánh có khả năng th́
việc ông lên cầm quyền có thể đem
lại cho đất nước này một Bộ Tư Lệnh
chỉ có một người duy nhất thay v́
một Hội Đồng Quân Nhân. Chúng
ta đă có những điều chúng ta
cần ở VN."
Hành động của cơ quan t́nh báo Hoa
Kỳ đă làm nhiều chính khách và nhân
viên chính phủ Hoa Kỳ ngạc nhiên. Họ
tỏ ra nghi ngờ những lời tố giác của
Tướng Khánh. Nhưng trong tháng 3 năm
1964, Tổng Thống Johnson đă gởi cho
Đại Sứ Cabot Lodge một chỉ thị nói
rơ "Phải đánh đổ ư tưởng trung
lập hóa ở bất cứ nơi nào nó tḥ cái
đầu dơ dáy của nó ra." Ông yêu
cầu Đại Sứ Lodge chuyển mối quan tâm
đó đến Tướng Khánh và hỏi ư kiến
Tướng Khánh về một kế hoạch chung để
chấm dứt ư tưởng trung lập hóa này
tại Saigon cũng như ở Washington và
Paris.
Quan điểm nêu trên của ông Cabot
Lodge rất quan trọng, nó cho thấy
quan niệm của Hoa Kỳ về một chính
quyền cần có tại miền Nam VN. Chính
quyền đó không có nơi tay các tướng
lănh làm cuộc đảo chánh ngày
1.11.1963 nên Hoa Kỳ đă đi t́m nơi
một số tướng lănh khác. Tướng Khánh
là người được chọn trước tiên.
Trước biến cố bất ngờ ngày 30.1.1964
do Tướng Khánh tạo nên, các nhà lănh
tụ Phật Giáo đă đi từ ngơ ngác đến
lo âu, không biết phải phản ứng như
thế nào. Nhưng khi thấy thái độ ḥa
hoăn và mị dân của Tướng Khánh, họ
lại tiếp tục lấn lên.
TIỄN ĐƯA MỘT "ÂN NHÂN"
Khi biến cố chỉnh lư" ngày 30.1.1964
chưa hết gây bàng hoàng trong hàng
ngũ nhóm Phật Giáo đấu tranh th́ họ
lại phải tiễn đưa một người "ân nhân"
của Phật Giáo ra đi. Không biết đây
là điềm lành hay điềm không lành.
Ngày 23.6.1964 Đại Sứ Cabot Lodge
tuyên bố từ chức. Ngày 28.6.1964,
ông mặc áo gấm màu xanh có h́nh chữ
Thọ và chít khăn xếp theo y phục cổ
truyền VN, rời phi trường Tân Sơn
Nhứt. Ra tiễn Đại Sứ, có cả hàng
ngàn tăng ni và Phật tử cầm cờ Việt,
Mỹ vừa vẫy vừa hoan hô náo nhiệt.
Các tăng ni và Phật tử hôm đó không
thể biết được rằng người mà họ đang
hoan hô nồng nhiệt, sau này sẽ trở
lại chỉ huy chôn vùi phong trào đấu
tranh của Phật Giáo. Trước khi lên
máy bay, Đại Sứ Cabot Lodge đă nói
với các kư giả: "Khi từ giă VN,
tôi chỉ ân hận có một điều là không
cứu sống được ông Diệm". Không
ai tin được câu nói đó của một nhà
ngoại giao đầy thủ đoạn như ông.
Tướng Dương Văn Minh đă kể lại rằng
trước khi làm đảo chánh để lật đổ
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, Đại Sứ
Cabot Lodge đă nói với ông: "Nếu để
ông Diệm lưu vong th́ bất cứ một Đại
Tá nào cũng có thể đảo hành để đưa
ông Diệm về". Tuy nhiên, lời tuyên
bố của Đại sứ Lodge trước khi rời VN
đă làm nhóm Phật Giáo đấu tranh khó
chịu. Sau này, nhật báo Chánh Đạo
của Phật Giáo đă viện câu đó để chỉ
trích chính sách của Hoa Kỳ trong
việc để cho Tướng Nguyễn Cao Kỳ đánh
tan cuộc nổi loạn của Phật Giáo miền
Trung.
Tướng Maxwell D. Taylor đă được cử
làm Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Cộng Ḥa
thay ông Cabot Lodge.
Đ̉I NỢ MÁU
Trong bộ VN Phật Giáo Sử Luận,
Nguyễn Lang, tức Ḥa Thượng Thích
Nhất Hạnh, đă nhận xét về "Số phận
không may của Tổng Thống và ông Cố
Vấn " như sau :
"Sự hạ sát Tổng thống Diệm và ông
cố vấn Nhu là một điều đáng tiếc
trong cuộc Cách Mạng 1.11.1963. Dù
có ra lệnh hay không ra lệnh, các
tướng trong Hội Đồng Quân Lực cũng
chịu trách nhiệm về không thực hành
được lời hứa bảo đảm được tính mệnh
hai người. Cái chết của họ đă kéo
theo cái chết của hai vị thiếu tá
Nhung và Nghĩa. Nhưng đă hết đâu.
Oan oan tương báo, biết bao giờ cho
sợi dây oan được cắt đứt?"(12)
Cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu không phải
là "một điều đáng tiếc" như Hoà
Thượng Nhất Hạnh đă viết. Đây mới
chỉ màn đầu của chiến dịch đ̣i nợ
máu. Nhóm Phật Giáo cực đoan và
Thượng Tọa Thích Trí Quang bắn tiếng
cho các tướng lănh biết :
- Những người sau đây phải đền tội :
Ngô Đ́nh Cẩn, Phan Quang Đông, Đặng
Sĩ, Dương Văn Hiếu, Hoàng Trọng Bá,
Nguyễn Thiện Dzai và Nguyễn Tư Thái.
- Các "dư đảng Cần Lao" phải rời
khỏi các chức vụ và các vị trí then
chốt trong chính quyền. Dư đảng Cần
Lao ở đây được hiểu là những người
theo Thiên Chúa Giáo và khi nói "diệt
dư đảng Cần Lao" th́ phải hiểu là
diệt Thiên Chúa Giáo và các phần tử
không đồng chủ trương của nhóm Phật
Giáo cực đoan miền Trung.
- Các nhân vật Phật Giáo được mệnh
danh là "các tướng cách mạng" (như
Dương Văn Minh, Tôn Thất Đính, Đỗ
Mậu, Nguyễn Chánh Thi...) phải nắm
các địa vị then chốt trong chính
quyền, v.v...
Những đ̣i hỏi này được lặp đi lặp
lại thường xuyên trên các báo chí
Phật Giáo, trong các cuộc biểu t́nh
và tuyên ngôn tuyên cáo của nhóm
Thượng Tọa Thích Trí Quang và Vơ
Đ́nh Cường. Nhưng Tướng Dương Văn
Minh do dự. Ông hiểu rằng những
chuyện đó không thể làm được. Sau vụ
hành quyết một cách rất dă man Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh
Nhu do lệnh trực tiếp của Lucien
Conein truyền cho ông và Tướng Mai
Hữu Xuân thi hành, đă có nhiều sự
bất b́nh trong hàng ngũ của các
tướng lănh v́ họ không được có tiếng
nói trong biến cố quan trọng đó.
Nhiều tướng đă coi việc hạ sát này
là một hành động quá đáng và không
cần thiết. Trung Tướng Trần Văn Đôn,
người lănh đạo quân đội trong cuộc
đảo chánh, đă chỉ trích tướng Dương
Văn Minh về việc không thông báo cho
ông biết lệnh của Cabot Lodge và
Lucien Conein. Do đó, Tướng Dương
Văn Minh đă không dám đáp ứng các
đ̣i hỏi của Thượng Tọa Thích Trí
Quang.
Không may cho các nạn nhân là ngày
30.1.1964 Tướng Nguyễn Khánh đă làm
một cuộc "chỉnh lư" lật đổ các tướng
đảo chánh. Tướng Nguyễn Khánh vốn là
một người được Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm nâng đỡ đặc biệt và không tham
gia vào cuộc đảo chánh ngày
1.11.1963 nên bị Phật Giáo liệt vào
loại "Tướng Cần Lao". Sau khi nắm
được chính quyền, ông đă t́m mọi
cách chứng minh cho Phật Giáo thấy
ông không bênh vực "dư đảng Cần
Lao". Công việc đầu tiên mà ông nhận
thấy cần phải làm là đưa các "dư
đảng Cần Lao" ra xét xử.
Trước hết, Tướng Nguyễn Khánh đă chỉ
thị cho ông Nguyễn Văn Mầu, Bộ
Trưởng Tư Pháp, phải nghiên cứu cách
nào để có thể tuyên án tử h́nh ông
Ngô Đ́nh Cẩn và những người liên hệ.
Sau khi nghiên cứu, Bộ Tư Pháp thấy
rằng nếu áp dụng bộ Hoàng Việt H́nh
Luật th́ không thể tuyên án tử h́nh
những tội vớ vẩn như bắt người trái
phép, đả thương, bức tử, tống tiền
v.v. Vậy chỉ c̣n một cách là làm một
đạo luật mới quy một số hành vi của
các nhân vật chế độ cũ vào các tội
cố sát, lũng đoạn nền kinh tế quốc
gia và dự liệu các quy định mới này
có hiệu lực hồi tố
(retroactive effect). Một nguyên tắc
căn bản của h́nh luật là luật h́nh
chỉ áp dụng cho các hành vi xẩy ra
kể từ ngày ban hành luật chớ không
áp dụng cho các hành vi xẩy ra trước
ngày đó. Sự quy định như trên là
trái với nguyên tắc căn bản của h́nh
luật. Nhưng "cách mạng" không cần
phải tuân theo một nguyên tắc nào cả!
Bộ Tư Pháp đă làm đúng theo yêu cầu
của Tướng Khánh. Sắc Luật số 4164
ngày 18.2.1964 thiết lập Ṭa án Cách
Mạng được ban hành, trong đó có điều
khoản dự liệu luật này có hiệu lực
hồi tố. Sau đó, Tướng Nguyễn Khánh
đă ra lệnh bắt giữ và điều tra tất
cả những người bị các Tỉnh Hội Phật
Giáo tố cáo là "dư đảng Cần lao". Số
người bị câu lưu lên đến 267 người.
Tướng Khánh cho đưa ngay những người
có tên trong danh sách mà Thượng Tọa
Thích Trí Quang đ̣i nợ máu ra trước
Ṭa án Cách Mạng.
Vụ Phan Quang Đông
Ngày 26.3.1964, Ṭa án Cách Mạng họp
ở Huế để xét xử Phan Quang Đông về
các tội cố sát, bắt giam trái phép,
sách thủ tiền tài và lũng đoạn kinh
tế. Các tội phạm này liên hệ đến 19
nạn nhân trong thời gian từ
26.10.1955 đến 1.11.1963. Nhưng vụ
quan trọng nhất là vụ khách sạn
Morin ở Huế.
Năm 1957, Phan Quang Đông, nhân viên
của Sở Nghiên Cứu Chính Trị, đặc
trách miền Trung, thấy ông Nguyễn
Văn Yến, một tiểu thương và ông
Nguyễn Phương, một nhà thầu khoán,
không có tài sản bao nhiêu nhưng đă
đứng ra mua lại toàn bộ khách sạn
Morin của Pháp, một khách sạn lớn
nhất nh́ Huế lúc đó, liền cho mở
cuộc điều tra. V́ các đương sự không
chứng minh được nguồn gốc tài sản đă
bỏ ra để mua khách sạn Morin, và có
một số bằng chứng cho thấy các đương
sự liên hệ đến các nhân viên t́nh
báo của Pháp, nên Phan Quang Đông đă
bắt để điều tra về tội hoạt động
gián điệp Pháp. Khi cuộc điều tra
đang tiến hành th́ Nguyễn Phương
nhảy lầu tự sát.
Đầu năm 1963, gia đ́nh các nạn nhân
làm đơn xin tái xét, nhờ Đức Tổng
Giám Mục Ngô Đ́nh Thục chuyển cho
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Tổng Thống
đă phê lên đơn ra lệnh cho Đại Tá Đỗ
Mậu, Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội,
điều tra lại nội vụ. Đại Tá Đỗ Mậu
rất sợ Ngô Đ́nh Cẩn, không dám đích
thân ra Huế mở cuộc điều tra, nên đă
bán cái cho đàn em là Đại úy Phạm Bá
Thích, Trưởng Ty An Ninh Quân Đội ở
Huế. Nhận được chỉ thị của Đại Tá
Mậu, Đại úy Thích không biết phải
thi hành cách nào, v́ cấp bực và
chức vụ của anh quá nhỏ, không đủ uy
thế để điều tra vụ quan trọng này.
Đại úy Thích t́m Đại úy Nguyễn Văn
Minh, sĩ quan phụ trách về an ninh
của ông Ngô Đ́nh Cẩn, để nhờ giúp đỡ.
Đại úy Minh dẫn Đại úy Thích vào gặp
ông Ngô Đ́nh Cẩn. Sau khi xem bút
phê của Tổng Thống Diệm, ông Ngô
Đ́nh Cẩn bảo Đại úy Thích cứ mở cuộc
điều tra một cách vô tư v́ đây là
lệnh của Tổng Thống. Ông cũng bảo
Phan Quang Đông phải cung cấp tất cả
những tài liệu mà Đại úy Thích cần.
Chúng tôi không có cơ hội được xem
phúc tŕnh điều tra của Đại úy Thích,
nhưng được biết bản phúc tŕnh kết
luận rằng việc bắt giam những người
liên hệ đến vụ Morin là có căn cứ.
Đại Tá Đỗ Mậu đă nhận được bản phúc
tŕnh và đệ tŕnh lên Tổng Thống
Diệm. Sau đó người ta không thấy phủ
Tổng Thống nhắc đến vụ này nữa. Điều
mà nhiều người đă phàn nàn là sự
trốn tránh trách nhiệm của Đại Tá Đỗ
Mậu trong việc điều tra nội vụ. Mặc
dầu đă có bút phê của Tổng Thống,
Đại Tá Đỗ Mậu đă cố tránh né trách
nhiệm v́ sợ phương hại đến địa vị
của ông. Nếu ông đích thân lănh
trách nhiệm th́ nội vụ sẽ sáng tỏ
hơn.
Dầu sao, khi Tướng Nguyễn Khánh đă
chỉ thị làm một đạo luật vi phạm
nguyên tắc căn bản của h́nh luật để
xử tử h́nh Phan Quang Đông và qua sự
kết án Phan Quang Đông, xử tử h́nh
Ngô Đ́nh Cẩn để thỏa măn đ̣i hỏi của
nhóm Phật Giáo cực đoan miền Trung,
th́ mọi sự tranh luận về pháp lư và
bằng chứng của tội phạm đều vô ích.
Ngày 28.3.1964 ṭa đă tuyên án Phan
Quang Đông tử h́nh, tịch thu tài sản
và bồi thường cho các nạn nhân 18
triệu.
Vụ Ngô Đ́nh Cẩn
Sáng thứ bảy, ngày 2.11.1963, sau
khi nghe tin ông Diệm và ông Nhu đă
bị giết, ông Ngô Đ́nh Cẩn liền bí
mật qua Ḍng Chúa Cứu Thế để lánh
nạn. Ông được sắp xếp cho ở một
pḥng nhỏ phía trên lầu. Ngoài những
người thân cận ra, không ai biết
chuyện này. Sáng Chúa Nhật
3.11.1963, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh
Quân Đoàn I, bay ra Huế và đi t́m
Đại úy Nguyễn Văn Minh, phụ trách về
an ninh của ông Ngô Đ́nh Cẩn, yêu
cầu Đại úy Minh thông báo cho ông
Cẩn biết thế nào cũng sẽ có lục xét
nhà, nếu c̣n tài sản ǵ cứ giao cho
ông giữ giúp. Thiếu Tướng Trí bảo
Đại úy Minh thưa với ông Cẩn rằng
Cậu đừng lo lắng ǵ cả. Thiếu Tướng
sẽ bảo đảm tính mệnh của Cậu, không
đứa nào dám động đến Cậu đâu. Đại úy
Minh đem nội vụ tŕnh ông Ngô Đ́nh
Cẩn. Ông Ngô Đ́nh Cẩn cho gọi Tướng
Đỗ Cao Trí vào. Sau khi hai người
nói chuyện chừng 15 phút th́ ông Cẩn
gọi Đại úy Minh và bảo về nhà lấy
tất cả mọi thứ dưới sập giường đem
đến ông. Đại úy Minh trở về nhà ông
Cẩn và t́m dưới sập giường th́ thấy
một bao bố nặng chừng 8 kư, không
biết là thứ ǵ, và một cái cặp nhỏ.
Đại úy Minh đem tất cả đến cho ông
Cẩn th́ ông Cẩn giao ngay cho Tướng
Đỗ Cao Trí. Chính Tướng Đỗ Cao Trí
đă tự tay xách cái bao bố và chiếc
cặp ra cất vào trong xe rồi quay lại
hỏi Đại úy Minh muốn đi đơn vị nào.
Đại úy Minh xin về Trường Vơ Bị Đà
Lạt như đă có Sự vụ Lệnh trước khi
có cuộc đảo chánh. Tướng Trí nói
rằng chưa thuận tiện v́ t́nh h́nh
đang lộn xộn. Sau đó Tướng Trí ra
máy bay về Đà Nẵng. Ngày hôm sau,
Đại úy Minh nhận được công điện phải
vào Quân Đoàn I tŕnh diện gấp trong
24 tiếng đồng hồ, nếu không tŕnh
diện sẽ bị báo cáo đào ngũ. Đại uư
Minh định đi đường bộ vào Đà Nẵng,
nhưng ông Mullen, Phó Tổng Lănh Sự
Hoa Kỳ tại Huế, ngăn cản v́ sợ Đại
úy Minh có thể bị ám sát trên đường
vào Đà Nẵng để thủ tiêu nhân chứng.
Ông Muller đă cho một chiếc L.19 đến
chở Đại úy Minh đi Đà Nẵng.
Khi hay tin ông Cẩn đang ở trong
Ḍng Chúa Cứu Thế, ông Elble, Tổng
Lănh Sự Hoa Kỳ tại Huế, đă đề nghị
ông Cẩn vào tỵ nạn trong Ṭa Lănh Sự
Mỹ. Ông Elble nói rằng Hoa Kỳ có thể
cho ông Cẩn tỵ nạn như đă cho Thích
Trí Quang trước đây. Ông Cẩn trả lời
rằng ông chỉ đi nếu Ṭa Lănh Sự cho
mẹ già của ông cùng đi theo, nhưng
ông Elble nói ông không được lệnh
cho bà cụ trú ẩn. Ít ngày sau, Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng cho máy bay
ra đưa ông Ngô Đ́nh Cẩn vào giam ở
khám Chí Ḥa, Saigon.
Ngày 14.4.1964, Ṭa án Cách Mạng họp
tại Saigon để xét xử Ngô Đ́nh Cẩn về
các tội như đă truy tố Phan Quang
Đông, trừ tội bức sát Nguyễn Phương,
v́ cho rằng ông Ngô Đ́nh Cẩn đă ra
lệnh cho Phan Quang Đông bắt vụ
Morin. Ông Ngô Đ́nh Cẩn khai trước
ṭa như sau : "Tôi quân sự không
biết, hành chánh không biết, học tầm
thường, làm sao ra lệnh cho ai?".
Trong khi Ṭa án Cách Mạng xét xử
ông Ngô Đ́nh Cẩn, Tướng Nguyễn Khánh
đă ra Huế gặp và xin được gặp Bà
Nguyễn Văn Ấm, nhũ danh là Ngô Thị
Nho, thân mẫu của Đức Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận và là chị ruột của
ông Ngô Đ́nh Cẩn. Theo lời bà Nguyễn
Văn Ấm kể lại cho một số linh mục và
thân thuộc nghe th́ Tướng Nguyễn
Khánh đă đ̣i bà đưa cho ông ta 300
triệu đồng, ông ta sẽ tha ông Ngô
Đ́nh Cẩn. Bà Ấm trả lời rằng bà
không làm ǵ có một số tiền to lớn
như vậy.
Tướng Khánh là một tay đánh x́ phé
chuyên nghiệp, mỗi lần đến đánh phé
ở nhà ông Huỳnh Hữu Nghĩa, Bộ Trưởng
Lao Động, thường mang theo khoảng
200.000$. Nguyễn Khánh biết Tướng Đỗ
Cao Trí đă lấy của ông Cẩn khoảng 8
kư vàng và một ít tiền mặt, nhưng
nghĩ rằng ông Cẩn trước khi ra đi
thế nào cũng có gởi cho bà Ấm một số
tài sản quan trọng nên định lùa ván
chót. Bà Ấm thừa biết nếu có 300
triệu đưa ra th́ Tướng Khánh vẫn ra
lệnh giết Ngô Đ́nh Cẩn, để củng cố
địa vị chính trị của ḿnh.
Mặc dầu không xuất tŕnh được bằng
chứng cho thấy ông Ngô Đ́nh Cẩn đă
chỉ thị cho Phan Quang Đông trong vụ
Morin, ngày 22.4.1964 ṭa vẫn theo
lệnh của Tướng Khánh tuyên án tử
h́nh Ngô Đ́nh Cẩn, tịch thu tài sản
và liên đới với Phan quang Đông bồi
thường cho các nạn nhân.
Ngày 9.5.1964, Phan Quang Đông đă bị
xử bắn tại sân vận động Huế giữa
những tiếng reo ḥ của Phật tử. Sau
đó đoàn người đi xem xử bắn biến
thành đoàn biểu t́nh yêu cầu Tướng
Nguyễn Khánh đưa Ngô Đ́nh Cẩn ra xử
bắn tại Huế như Phan Quang Đông.
Đoàn biểu t́nh không hay biết rằng
trong khi Phan Quang Đông bị xử bắn
ở Huế th́ Ngô Đ́nh Cẩn cũng đă bị xử
bắn tại khám Chí Hoà, Sai gon, cùng
một ngày.
Vụ Đặng Sĩ
Ngày 2.6.1964, Ṭa án Cách Mạng họp
tại Sai g̣n để xử vụ Thiếu Tá Đặng
Sĩ, Phó Tỉnh Trưởng Nội An kiêm Tiểu
Khu Trưởng Thừa Thiên, người đă được
lệnh dẹp cuộc biểu t́nh của Phật tử
tại Huế vào tối 8.5.1963. Thiếu Tá
Đặng Sĩ bị tố cáo về tội cố sát.
Luật Sư Nguyễn Khắc Tân, người biện
hộ cho Đặng Sĩ, cho chúng tôi biết
theo Bản Cáo Trạng của Công Tố Viện
và hiện trạng hồ sơ, Đặng Sĩ không
có tội ǵ cả (xem phần Thánh Chiến
I). Tuy nhiên, đây là một vụ án
chính trị, nếu không có một áp lực
đối nghịch, Tướng Khánh sẽ ra lệnh
cho ṭa án tuyên án tử h́nh Đặng Sĩ
và đem xử bắn như Phan Quang Đông.
Chúng tôi liền cho phổ biến rộng răi
Bản Cáo Trạng trên báo chí với dụng
ư cho mọi người thấy Thiếu Tá Đặng
Sĩ không có trách nhiệm trong vụ gây
ra những sự chết chóc trong đêm
8.5.1963. Hầu hết các báo đă đăng
nguyên văn hay một phần bản cáo
trạng, chỉ trừ các báo Phật Giáo là
viết theo luận điệu của Thượng Tọa
Thích Trí Quang và yêu cầu ṭa tuyên
một bản án "thích đáng".
Trước sự lộng hành của Thượng Tọa
Thích Trí Quang và nhóm Phật Giáo
cực đoan miền Trung cũng như sự
nhượng bộ một cách phi lư của Tướng
Nguyễn Khánh, Khối Công Dân Công
Giáo đă được thành lập để đối phó.
Ngày 7.6.1964 Khối Công Dân Công
Giáo đă tổ chức một cuộc biểu t́nh
lớn, có khoảng 100.000 người tham dự
tại công trường Lam Sơn trước trụ sở
Ouốc Hội ở Saigon. Đoàn biểu t́nh
đứng kéo dài đến chợ Bến Thành.
Trong cuộc biểu t́nh người ta thấy
có các biểu ngữ : "Lột mặt nạ bọn
lợi dụng Cách Mạng để đàn áp Công
Giáo", "Mỵ dân là phản bội Dân Chủ",
"ủng hộ cuộc đấu tranh của Công Giáo
miền Trung"... Thỉnh thoảng có một
vài biểu ngữ "Cabot Lodge cút đi"
được đưa lên. Chính nhờ cuộc biểu
t́nh này Đặng Sĩ mới được cứu thoát.
Vụ Nguyễn Văn Y
Cũng trong ngày 8.6.1964, sau khi
tuyên án Đặng Sĩ, ṭa xử vụ Đại Tá
Nguyễn Văn Y, Đặc ủy Trung ương T́nh
Báo kiêm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc
Gia và 13 người khác liên quan đến
sự mất tích của một số nhân vật đối
lập dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Tuy
không t́m ra được bằng chứng buộc
tội, ngày 18.6.1964, ṭa đă tuyên án
4 người khổ sai chung thân và tha
bổng 9 người.
Vụ Dương Văn Hiếu
Ngày 23.6.1964, Ṭa án Cách Mạng tại
Saig̣n lại xét xử vụ Dương Văn Hiếu,
Tư Lệnh Cảnh Sát Đặc Biệt và các
cộng sự viên là Nguyễn Thiện Dzai,
Nguyễn Tư Thái và Phan Khanh.
Ông Ngô Văn Hiếu là người phụ trách
công tác phản gián để t́m bắt các
cán bộ CS nằm vùng tại miền Nam VN.
Năm 1958, nhân một cuộc hành quân
tại Quảng Ngăi, Trung Đoàn 4 của Sư
Đoàn I đă phát hiện một thùng tài
liệu bí mật của VC chôn giấu, liền
báo tin cho cơ quan mật vụ của Bác
Sĩ Trần Kim Tuyến biết. ông Dương
Văn Hiếu được cử ra nghiên cứu th́
thấy đây là một tài liệu ghi mật mă
của VC. ông Dương Văn Hiếu liền cho
làm bản sao và sau đó đem chôn lại
chỗ cũ rồi cho pháo binh bắn vào để
phá các dấu vết đào bới. Nhờ vậy VC
không nghi ngờ các khóa mật mă của
họ đă bị khám phá. Dùng các khoá mật
mă bắt được, Đoàn Công Tác Đặc Biệt
Miền Trung của ông Dương Văn Hiếu đă
giải mă hàng trăm văn kiện liên lạc
giữa VC và phát hiện được hàng trăm
cán bộ cao cấp nằm vùng của VC từ
Quảng Trị đến Saigon. Trong các nhân
viên cao cấp của VC bị bắt, người ta
thấy có Cao Đăng Chiếm, Huỳnh Văn
Trọng, Trần Ngọc Hiền, v.v. Sau khi
chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, các
cán bộ CS nằm vùng đă đưa nhiều hồ
sơ cho Thượng Tọa Thích Trí Quang và
Vơ Đ́nh Cường, tố cáo Đoàn Công Tác
Đặc Biệt Miền Trung bắt giam người
trái phép, trong đó có vụ lớn nhất
là vụ Nguyễn Văn Đạt ở Huế. Các lănh
tụ Phật Giáo chùa Từ Đàm vẫn quả
quyết Nguyễn Văn Đạt đă bị bắt oan,
nhưng hồ sơ t́nh báo cho thấy Nguyễn
Văn Đạt là Bí Thư Tỉnh ủy Thừa Thiên
của VC. Có nhiều các bộ hoạt động
dưới quyền của Nguyễn Văn Đạt khi bị
bắt cũng đă xác nhận vậy. Nguyễn Văn
Đạt Đạt đă làm tờ tự thú và xin trở
về với chính phủ VN Cộng Ḥa. Về sau,
bệnh sốt rét của Nguyễn Văn Đạt tái
phát nặng, cơ quan an ninh đă cho
Nguyễn Văn Đạt trở về với gia đ́nh
và giúp cho phương tiện cứu chữa.
Mặc dầu có nhiều tài liệu dẫn chứng
các hồ sơ do các tăng sĩ chùa Từ Đàm
đưa ra tố cáo về việc bắt giam trái
phép đều liên hệ đến các đặc công CS
nằm vùng, ngày 25.6.1964, ṭa đă
tuyên án Dương Văn Hiếu, Nguyễn
Thiện Dzai, Nguyễn Tư Thái khổ sai
chung thân và Phan Khanh 10 năm khổ
sai.
Hậu quả của bản án này là các nhân
viên an ninh ở miền Trung không dám
bắt các cán bộ VC nằm vùng hoạt động
trong các tổ chức Phật Giáo nữa, nên
t́nh h́nh miền Trung rối loạn liên
tục. Đây là chủ đích mà Thượng Tọa
Thích Trí Quang và Vơ Đ́nh Cường
nhắm đạt tới.
Các nhân viên t́nh báo cao cấp nói
rằng Thượng Tọa Thích Trí Quang
cương quyết loại trừ tất cả những
nhân chứng biết rơ và nắm trong tay
hồ sơ hoạt động cho CS của ông và
của nhóm đặc công VC nằm vùng ở miền
Trung. Những người có tên trong danh
sách đ̣i nợ máu của ông đều là những
nhân chứng về sự liên hệ giữa ông
với VC, trong đó Ngô Đ́nh Cẩn và
Phan Quang Đông là hai người biết
nhiều chi tiết nhất. Tuy nhân chứng
bị sát hại, cơ quan t́nh báo VN Cộng
Ḥa và CIA đă lưu trữ đầy đủ hồ sơ
hoạt động của nhóm này.
Chủ trương đ̣i nợ máu và "diệt dư
đảng Cần Lao" là chủ trương của Đảng
CS đưa ra nhắm loại trừ các phần tử
chống Cộng, Thượng Toạ Thích Trí
Quang chỉ là người thừa hành. Chúng
ta hăy nghe VC viết về chiến dịch
này:
"Hoạt động của ta từ sau hồi Diệm
đổ diễn ra mạnh mẽ, đă kết hợp tiến
công quân sự với nổi dậy của quần
chúng trên cả ba vùng, từ rừng núi
đến đồng bằng, thành phố, tới giới
tuyến giáp ranh vùng sâu."
"Trên cơ sở phong trào đấu tranh
quần chúng, công tác xây dựng thực
lực cách mạng cũng phát triển mạnh:
ở Thừa Thiên cơ sở chính trị đă tăng
40% so với năm 1962, phong trào
thanh niên ra vùng giải phóng tham
gia cách mạng ngày một nhiều.
"Phong trào đấu tranh chính trị
phát triển mạnh, nổi lên là những
cuộc đấu tranh của sinh viên, học
sinh và nhân dân lao động đ̣i trừng
trị những tên ác ôn đầu sỏ có nợ máu
như tên Đỗ Cao Trí, đ̣i hạ bệ tên
Nguyễn Quang Trung, tỉnh trưởng
Quảng Trị. Cuộc đấu tranh đ̣i xử tội
tên Ngô Đ́nh Cẩn và Phan Quang Đông
có tới 5 vạn người tham gia. Nguyễn
Khánh ra Huế bị quần chúng la ó, ném
guốc, dép phải bỏ về Saig̣n".(13)
Đây là những thành quả mà VC coi là
đă thu hoạch được tại Quảng Trị, Huế
và Thừa Thiên.
Sau khi vụ Phật Giáo miền Trung bị
dẹp tan vào tháng 6 năm 1966, uy lực
của Thượng Tọa Thích Trí Quang không
c̣n nữa, chính phủ đă kư Sắc Lệnh
ngày 31.10.1966 giảm án khổ sai của
các đương sự xuống c̣n 5 năm khổ sai
rồi qua năm 1967 trả tự do tất cả.
THANH TOÁN CÔNG GIÁO VÀ CÁC ĐẢNG
PHÁI CHỐNG CỘNG DƯỚI DANH NGHĨA DIỆT
TRỪ "DƯ ĐẢNG CẦN LAO"
Sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ,
Thượng Tọa Thích Trí Quang cho lập
ngay Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc,
phát xuất từ Huế, để tiếp tục cuộc
đấu tranh. Như chúng tôi đă nói ở
nước, mục tiêu chiến lược của ông
không phải là chống đàn áp Phật Giáo.
Chống đàn áp Phật Giáo chỉ là mục
tiêu chiến thuật. Do đó, khi mục
tiêu chiến thuật này được thỏa măn,
ông tạo mục tiêu mới ngay để xách
động Phật tử đấu tranh. Mục tiêu
chiến thuật mới đó là "diệt dư đảng
Cần Lao". Được coi là "dư đảng Cần
Lao" tất cả mọi người theo Thiên
Chúa Giáo và các tổ chức chống hay
không đồng quan điểm với ông. Về sau,
các khẩu hiệu của nhóm Phật Giáo cực
đoan miền Trung đă ghi rơ "diệt dư
đảng Cần Lao Thiên Chúa Giáo." Phải
diệt xong Công Giáo và các đảng phái
quốc gia chống Cộng mới có thể cướp
chính quyền, v́ đây là hai đối thủ
có thể ngăn cản hoặc phá vỡ kế hoạch
tiến công của ông. V́ thế, mới ra
quân, ông và Vơ Đ́nh Cường đă chỉ
thị cho Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
chĩa mũi dùi thẳng vào Công Giáo và
các đảng phái quốc gia. Thượng Tọa
Thích Trí Quang không lường trước
được phản ứng của phía Công Giáo,
các đảng phái quốc gia và các Phật
tử chân chính, nhất là các tông phái
miền Bắc hay miền Nam.
Tạo lư do mới
Để tạo lư do xách động Phật tử đứng
lên diệt "dư đảng Cần Lao Thiên Chúa
Giáo", ngày 3.8.1964 Thượng Tọa
Thích thiện Minh dẫn một phái đoàn
Phật tử đến gặp Tướng Nguyễn Khánh,
đưa hồ sơ tố cáo tại các địa phương
"dư đảng Cần Lao" đang đàn áp Phật
Giáo ở Quảng Nam và Đà Nẵng: Bắt bớ
Phật tử ở Duy Xuyên, đốt nhà ở Tuy
Phước, sát hại Phật tử ở An Thạch
v.v. Sau khi điều tra, ban điều tra
thấy rằng những người bị bắt đều là
cán bộ CS nằm vùng tổ chức phá rối.
Đánh phá các cơ sở Công Giáo
Áp đảo được các chính quyền địa
phương, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
tại miền Trung quay mũi dùi tấn công
thẳng vào Công Giáo. Các nhân viên
Công Giáo trong các cơ quan công
quyền bị phân biệt đối xử. Nhiều
người bị bắt, bị cất chức hay bị đổi
đi xa. Các giáo xứ thường bị khiêu
khích và đe đoạ. Khi nhận thấy nhóm
Phật Giáo cực đoan miền Trung quá
lộng hành, các giáo xứ đă liên kết
để t́m cách đối phó.
Ngày 26.8.1964, Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc bất thần cho lệnh tấn công
hai giáo xứ Thanh Bồ và Đức Lợi ở Đà
Nẵng, đốt sạch nhà cửa, giết 11
người và gây thương tích cho 42
người. Khi tôi ra Đà Nẵng quan sát
tại chỗ th́ thấy quang cảnh giống
như một băi tha ma. Nhà thờ và tượng
ảnh bị đập nát, những cột nhà đen
nám chơ vơ giữa đống tro tàn...
Tướng Nguyễn Chánh Thi tuyên bố chỉ
cứu trợ chứ không chịu bồi thường
thiệt hại cho các nạn nhân, viện lư
do vụ thiệt hại đó không phải lỗi
của chính quyền. ông cho điều tra
qua loa về nguyên nhân xẩy ra nội vụ,
không quy trách hay truy tố ai, rồi
cho xếp luôn hồ sơ. Người điều khiển
cuộc đốt phá này là Hà Xuân Kỳ và
Phan Xuân Huy. Nhờ vụ chỉ huy đốt
phá này, về sau Phan Xuân Huy được
Phật Giáo đưa ra làm Dân Biểu đơn vị
Đà Nẵng. Cũng trong ngày đó, các
giáo xứ tại Quy nhơn cũng bị đánh
phá nặng nề, nhưng các tự vệ Công
Giáo đă kháng cự được.
Được tin cầu cứu từ Đà Nẵng và Quy
Nhơn, ngày 27.8.1964, khoảng 2.000
giáo dân các giáo xứ di cư đă đến
bao vây Bộ Tổng Tham Mưu ở Saig̣n
đ̣i gặp Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng,
yêu cầu giải quyết vụ Đà Nẵng và Quy
Nhơn, đ̣i phải có biện pháp đối với
các tổ chức thân Cộng đang gây rối.
Cuộc xô xát với binh sĩ xẩy ra, có 4
người bị bắn chết và 11 người bị
thương. Một toán khác đến đài phát
thanh Saig̣n yêu cầu đọc bản Tuyên
Ngôn chống Cộng và chống trung lập.
Tại đây lại có một cuộc xô xát với
học sinh trường Nguyễn Trường Tộ.
Ṭa Tổng Giám Mục Saig̣n và Viện Hóa
Đạo phải ra thông cáo yêu cầu các
tín đồ giữ b́nh tĩnh và giữ ḥa khí.
Ngày 28.8.1964, Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc vây trường Công Giáo Nguyễn
Bá Ṭng, vào đập phá nhà in của
trường, đốt phá ṭa báo Xây Dựng do
linh mục Nguyễn Quang Lăm làm chủ
nhiệm. Thanh niên các xứ Bùi Phát,
Nghĩa Ḥa, Tân Sa Châu và Xóm mới
hay tin kéo đến giải vây. Cuộc xô
xát giữa hai bên rất ác liệt. Lực
lượng Nhảy dù được huy động tới để
giải vây đă phải nổ súng. Kết quả có
2 người chết và 48 người bị thương
phải vào bệnh viện. Hai xác thanh
niên bị chết do tấn công vào trường
Công Giáo Nguyễn Bá Ṭng được đem về
quàn tại Viện Hóa Đạo để làm lễ cầu
siêu!
Trong cuốn Bạch Thư công bố ngày
31.12.1993, Hoà Thượng Thích Tâm
Châu nói: "Trong khi đang tiến
hành các việc, bỗng nhiên, Tướng
Nguyễn Khánh cho tín đồ Thiên Chúa
Giáo vùng Saigon Biên Ḥa biểu t́nh
vào Saigon, suưt xẩy ra cuộc tàn sát
đẫm máu." Đây là một nhân định
hoàn toàn sai lầm. Khối Công Dân
Công Giáo đă ra lệnh biểu t́nh và
phản ứng mạnh là do được điện cầu
cứu từ Đà Nẵng cho biết hai giáo xứ
Thanh Bồ và Đức Lợi đă bị Hội Đồng
Nhân Dân Cứu quốc thiêu rụi và sau
đó Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc lại
đập phá trường Nguyễn Bá Ṭng và đốt
ṭa báo Xây Dựng của Linh mục Nguyễn
Quang Lăm ở Saigon. Trong lúc chính
quyền tỏ ra bất lực, không cách ǵ
hơn là cho Hội Đồng Nhân Dân cứu
Quốc một bài học để đừng tự tung tự
tác nữa.
Ngày 29.8.1964 Viện Hóa Đạo tại
Saig̣n ra thông cáo tuyên bố từ nay
không chịu trách nhiệm về các vụ bạo
động. Nguyện vọng của Phật Giáo đă
được thỏa măn, các cuộc vận động
chấm dứt. Thông cáo của Thượng Tọa
Thích Tâm Châu bị Thượng Tọa Thích
Trí Quang và các Phật tử ở Huế phản
ứng mạnh mẽ, nên ngày 1.9.1964,
Thượng Tọa Thích Tâm châu lại ra một
thông cáo khác yêu cầu chính phủ
phải dứt hoạt với "các nhóm người
phá hoại của chế độ cũ". Yêu cầu
chính phủ đừng chụp mũ các Phật tử
tranh đấu là du đăng để bắt bớ.
Thượng Tọa dọa nếu đến ngày
27.10.1964 không giải quyết, sẽ cho
lệnh băi thị và băi khóa.
Để đáp lại, ngày 8.9.1964, Linh mục
Hoàng Quỳnh, Chủ tịch Khối Công Dân
Công Giáo, gởi cho Tướng Nguyễn
Khánh một thư ngỏ yêu cầu chính phủ
quan tâm đến các vụ tấn công các cơ
sở Công Giáo trong những ngày vừa
qua, yêu cầu điều tra và giải quyết
một cách vô tư các vụ tấn công các
giáo xứ ở Đà Nẵng và Quy Nhơn. Nếu
chính phủ không văn hồi được an ninh
th́ các giáo xứ Công Giáo bắt buộc
phải tổ chức tự vệ và không chịu
trách nhiệm về những hậu quả.
Ngày 21.9.1964 Hội Đồng Nhân Dân Cứu
Quốc cho lệnh tấn công đài phát
thanh Quy Nhơn và lùng bắt dư đảng
Cần Lao. Ngày 27.9.1964, Thượng Tọa
Thích Trí Quang và Vơ Đ́nh Cường ra
lệnh mở các cuộc lùng bắt dư đảng
Cần Lao tại Huế và các tỉnh Trung
Phần.
Ngày 25.9.1964, Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc tại Sàig̣n hô hoán lên rằng
dư đảng Cần Lao đang thuê ḷ rèn Lâm
Hiệp Thành ở Xóm Củi rèn hàng ngàn
con dao để chống cách mạng. Nhưng
sau đó, Phái Đoàn Viện Trợ Hoa Kỳ ra
thông cáo nói rơ số dao đó do Phái
Đoàn đặt để cung cấp cho Phủ B́nh
Định và Phát Triển phát cho nông dân
chớ không phải của dư đảng Cần Lao !
Khi các giáo xứ Công Giáo tại miền
Trung và chung quanh Saig̣n đă tự
động vơ trang tự vệ và sẵn sàng ứng
chiến th́ Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
không thể lộng hành như trước được.
Qua các trận đối đầu trên, người
Công Giáo thấy rằng với sự lộng hành
của nhóm Phật Giáo cực đoan miền
Trung, không thể chờ đợi chính quyền,
phải phản ứng mạnh mẽ, không tương
nhượng, mới có thể tồn tại được.
Tương nhượng trong trường hợp này sẽ
bị hiểu lầm là khiếp sợ và khuyến
khích thêm sự lộng hành. Nhóm thân
Cộng như Lư Chánh Trung, Nguyễn Đ́nh
Đầu, Nguyễn Văn Trung, Trương Bá Cần...
đă phản đối chủ trương đó, nhưng nếu
nghe họ chắc chắn đă bị thảm bại.
Vụ Linh mục Cao Văn Luận
Đối với Thượng Tọa Thích Trí Quang,
có một cái gai ông muốn nhổ ngay từ
đầu, đó là Linh mục Cao Văn Luận,
Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, nhưng
không dám nhổ ngay v́ Linh mục Cao
Văn Luận có công rất lớn trong việc
xây dựng Viện Đại Học Huế, ông lại
được hầu hết các giáo sư và sinh
viên Đại Học Huế yêu chuộng v́ tính
t́nh ḥa nhă, có tinh thần phục vụ
tích cực và bất vụ lợi... Trong thời
gian Phật Giáo chống chế độ Ngô Đ́nh
Diệm, ông không đứng về chính phủ.
Nhưng sự hiện diện của ông lúc này
gây trở ngại cho cuộc đấu tranh cướp
chính quyền mà Thượng Tọa Thích trí
Quang đang phát động, v́ ông không
bằng ḷng cho đưa chính trị vào đại
học. Ngoài ra, Thượng Tọa Thích Trí
Quang không muốn có một người Công
Giáo nắm địa vị quan trọng trong
Viện Đại Học Huế, nhất là khi người
đó là một linh mục. Viện Đại Học Huế
phải trở thành của Phật Giáo. V́
thế, khi đă làm chủ được t́nh h́nh ở
Huế và đa số các tỉnh miền Trung,
Thượng Tọa Thích Trí Quang liền ra
lệnh cho các giáo sư thuộc phe ông
trong Viện Đại Học Huế dứt điểm vụ
này. Trước hết, nhóm này cho xuất
bản tờ tuần báo Lập trường để triển
khai chủ trương của nhóm, cổ vơ cho
đường lối của Thượng Tọa Thích Trí
Quang và công khai chống chính phủ.
Ngày 18.9.1964, một số giáo sư và
sinh viên họp tại Viện Đại Học Huế,
yêu cầu Linh mục Cao Văn Luận từ
chức để khỏi trở ngại cho chiến dịch
bài trừ Cần Lao của Hội Đồng Nhân
Dân Cứu Quốc. Giáo sư Lư Chánh Trung
đă mô tả và nhận xét về vụ này trong
bài "Loạn để trị" đăng trong tạp chí
T́m Hiểu số 2 tháng 10 năm 1964.
Giáo sư Lư Chánh Trung là một phần
tử thân Cộng đă ủng hộ Phật Giáo
trong cuộc tranh đấu chống chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm, nhưng nay thấy cảnh
trái mắt nói trên, ông đă viết như
sau :
"Một nhóm Giáo chức Đại Học họp
lại, đánh điện tín là ông Viện
Trưởng phải từ chức, v́ sự hiện diện
của ông "không cần thiết nữa." Rồi
người ta thấy Bộ Giáo Dục chấp nhận
ngay sự từ chức đó, rồi ông Thủ
Tướng bổ dụng ngay chính ông Tổng
Trưởng Giáo Dục kiêm nhiệm chức Hiệu
Trưởng viện Đại Học Huế. Ôi, con rùa
hành chánh sao bỗng nhưng lại đi
nhanh thế!"
Các sinh viên Đại Học Huế không đồng
ư quan điểm của một số giáo sư nói
trên, đă làm kiến nghị phản đối. Một
giáo sư đại diện cho phe Phật Giáo
đấu tranh đă trả lời rằng Cha Luận
giống như một "ung thư" phải cắt đi
để khỏi làm tê liệt thân thể. Giáo
sư Lư Chánh Trung đă nói về cái "ung
thư" đó như sau:
"Cái "ung thư" Cao văn Luận đă
mọc từ trong bào thai của viện Đại
Học Huế. Nó đă khai sinh và làm cho
trưởng thành bào thai đó. Cái "ung
thư" đó đă lê cái thân già đi khắp
cùng trái đất, xin tiền, kiếm người,
khẩn khoản mới mọc từng người về
giúp Viện Đại Học Huế, không phân
biệt chính kiến, địa phương, tôn
giáo. Và kết quả sau 7 năm trời xem
cũng "được" lắm chứ. Cái trường Y
Khoa của Bác Sĩ Quyến, nếu không có
niềm tin tưởng, cái gan ĺ và công
vận động của Cha Luận, làm sao thành
h́nh?"
Sau khi nói về những bất măn của
nhiều giới, giáo sư Lư Chánh Trung
viết tiếp :
"Thật ra các anh đă "cách chức"
Cha Luận v́ Cha không đồng ư với các
anh về mặt chính trị. Như vậy Viện
Đại Học Huế đă biến thành một đảng
chính trị rồi đó. Và ai không đồng ư
với các anh đều là "ung thư" phải mổ
phăng đi cho..."dễ làm việc" có phải
vậy không?"
"Các anh đ̣i hỏi dân chủ. Đ̣i hỏi
dân chủ bằng cách bắt đầu độc tài,
độc đoán; bắt đầu khệnh khạng, huênh
hoang; bắt đầu làm chủ nhân chân lư,
"xếp ṣng cách mạng".(14)
Tại Saig̣n, ngày 27.9.1964, "Lực
Lượng Sinh Viên Học Sinh bảo vệ Giáo
Dục thuần túy" tập họp và biểu t́nh
trước Viện Hóa Đạo yêu cầu "đưa
chính trị ra khỏi học đường". Hội
Đồng Chỉ Đạo Sinh Viên Học Sinh
Saig̣n họp ra quyết nghị chống việc
các tổ chức chính trị xen lấn vào
học đường và lôi cuốn sinh viên học
sinh vào các cuộc phiêu lưu chính
trị. Các tổ chức này đều bị phe
tranh đấu tố cáo là tay sai của "dư
đảng Cần Lao".
Đánh tất cả những ai không đồng chủ
trương.
Sau khi Tướng Nguyễn Chánh Thi bị
cất chức Tư lệnh Vùng I v́ dung
dưỡng các phong trào ngụy ḥa và sự
lộng hành của nhóm Phật Giáo cực
đoan miền Trung, Thượng Tọa Thích
Trí Quang và Vơ Đ́nh Cường thấy thế
dựa bị mất, đă mở cuộc phản công Hội
Đồng Quân Lực và tiến tới cướp chính
quyền. Trong cuộc chiến này, Thượng
Tọa Thích Trí Quang không dung tha
bất cứ tổ chức nào mà ông coi là
"phản động", không đứng về phe của
ông.
Về phía các đảng phái, người ta thấy
chỉ có nhóm VN Quốc Dân Đảng thuộc
hệ phái Nguyễn Tường Tam do Nguyễn
Tường Hiếu lănh đạo đă theo phe Phật
Giáo cực đoan Miền Trung, c̣n đa số
các đảng phái khác hoặc đứng ngoài
cuộc chiến hoặc chống lại. Về phía
báo chí, ngoại trừ một vài tờ báo
của Phật Giáo, hầu hết các báo không
đồng ư với đường lối của Thích Trí
Quang. Các tông phái Phật Giáo miền
Nam rút ra khỏi phe tranh đấu như
Hội Phật Học Nam Việt, Tổng Giáo Hội
Phật Giáo VN... Ngay cả các tăng sĩ
miền Bắc trong Viện Hóa Đạo cũng
thường xuyên phản kháng các quyết
định của ông. Trước t́nh trạng này,
Thượng Tọa Thích Trí Quang không
những không xét lại đường lối mà c̣n
ra lệnh mở cuộc tấn công vào bất cứ
tổ chức hay cơ quan nào không chấp
nhận chủ trương của ông.
Ngày 6.4.1966, Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng đến đập phá ṭa soạn nhật
báo Sống của Chu Tử, đốt mấy chiếc
xe đậu phía trước và tố cáo báo này
là tay sai của dư đảng Cần Lao. Ngày
8.4.1966 Nghiệp Đoàn Kư Giả ra thông
cáo phản đối việc đốt phá ṭa báo
Sống.
Ngày 9.4.1966, VN Quốc Dân Đảng Đà
Nẵng đă ra thông cáo tố cáo Lực
Lượng đă phá trụ sở của họ và bắt đi
các đảng viên.
Ngày 10.4.1966, Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng Đà Nẵng có trang bị súng
tiểu liên và lựu đạn đă đến vây đánh
giáo xứ Tam Ṭa, nhưng bị phản công
mănh liệt nên đành rút lui. Ngày
28.4.1966, Lực Lượng ném lựu đạn vào
nhà cha sở xứ Tam Ṭa.
Ngày 16.4.1966, vào sáng sớm, ông
Chu Tử tức Chu Văn B́nh, chủ bút
nhật báo Sống, vừa ra khỏi nhà th́
bị mấy người đi xe gắn máy bắn nhiều
phát. Ngày 17.4.1966, nhiều tổ chức
và đoàn thể lên án vụ ám sát Chu Tử,
trong số này người ta thấy các giáo
sư và sinh viên trường Đại Học Luật
khoa Saig̣n, Tổng Hội Sinh Viên
Saig̣n và Đà Lạt, các luật sư, các
nhà văn và nhà báo, v.v.
Ngày 21.4.1966, VN Quốc Dân Đảng họp
tại Toà Đô Chánh Saig̣n tố cáo các
vụ đàn áp các đảng viên tại Đà Nẵng,
chê trách chính quyền bất lực và
quyết định tự vệ bằng vơ lực. Cũng
trong ngày này Quốc Dân Đảng Quảng
Ngăi biểu t́nh chống khủng bố và bạo
động.
Ngày 22.4.1966, Tỉnh Bộ Đại Việt
Quảng Trị lên tiếng phản đối Lực
Lượng đă khủng bố các đảng viên của
họ.
Ngày 24.4.1966, giáo dân Công Giáo
tại Saig̣n, Thủ Đức và Đà Nẵng biểu
t́nh chống khủng bố và bạo động, tố
cáo chính phủ nhu nhược và đả đảo
Cabot Lodge.
Ngày 27.4.1966, Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng ám sát ông Phan Thuyết, Bí
Thư Quốc Dân Đảng Đà Nẵng. Giáo dân
Đà Nẵng lại tập trung biểu t́nh ở
Thanh B́nh phản đối các vụ khủng bố
và bạo động của Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng.
Ngày 2.5.1966, trong khi các đảng
viên Quốc Dân Đảng và thanh niên làm
lễ truy điệu ông Phan Thuyết bị ám
sát th́ tại Đà Nẵng, đám tang của
ông Phan Thuyết bị các thành phần
của Lực Lượng đi xe jeep xả súng bắn
làm cho 2 người bị thương nặng. Đồng
bào Công Giáo ở Quy Nhơn và Hóc Môn
biểu t́nh chống Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng.
Ngày 7.5.1966 Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng ra lệnh cấm bán ở Huế và
Đà Nẵng các nhật báo Chính Luận, Tự
Do, Thời Luận và Tiền Tuyến v́ cho
rằng các báo này là của dư đảng Cần
Lao. Kư giả Hà Thế Ruyệt của báo
Quật Khởi đến săn tin trước Viện Hóa
Đạo đă bị rượt đánh bị thương.
Ngày 14.5.1966 tại Saig̣n, Lực Lượng
Tranh Thủ Cách mạng đă ám sát ông
Nguyễn Chữ, một đảng viên VN Quốc
Dân Đảng, người đă lên tiếng tố cáo
các vụ bắt bớ đảng viên và phá trụ
sở của Đảng tại Đà Nẵng.
Ngày 26.5.1966, Sinh Viên Tô Lai
Chánh, Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên
Saig̣n bị Lực Lượng Tranh Thủ Cách
Mạng bắt cóc. Sinh viên Tô Lai Chánh
và Tổng Hội Sinh Viên quyết định
không tham gia vào cuộc nổi loạn của
Phật Giáo miền Trung nên bị Thượng
Tọa Thích Thiện Minh tố cáo đă ăn
tiền của chính phủ. Sinh viên Tô Lai
Chánh và một số sinh viên đă tuyệt
thực phản đối và yêu cầu Thượng Tọa
Thích Thiện Minh chứng minh điều ông
đă tuyên bố. Sau đó sinh viên Tô Lai
Chánh đă bị bắt cóc. Các sinh viên
và nhiều đoàn thể lên tiếng phản đối
vụ bắt cóc này. Đến ngày 30.5.1966
sinh viên TÔ Lai Chánh mới được thả
ra.
Đến giai đoạn này, Thượng Tọa Thích
Trí Quang đă khai chiến với các tông
phái Phật Giáo khác không đi theo
đường lối và chủ trương của ông.
Ngày 29.5.1966, ông Mai Thọ Truyền,
Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt,
phải viết văn thư yêu cầu Ṭa Đô
Chánh Saig̣n cho nhân viên công lực
đến bảo vệ chùa Xá Lợi. Ngày
2.4.1966, trong cuộc biểu t́nh trước
đài phát thanh Saig̣n, Lực Lượng của
Thích Trí Quang hô to "Đả đảo
Thích Tâm Châu" và "Hoan hô
Hồ Chí Minh". Ngày 3.6.1966,
Thượng Tọa Thích Trí Quang công khai
lên án Chính sách ôn ḥa của Thượng
Tọa Thích Tâm Châu khiến Thượng Tọa
này và Thượng Tọa Thích Hộ Giác tức
giận tuyên bố từ bỏ các chức trong
Viện Hóa Đạo. Thượng Tọa Thích Tâm
Châu đă phải ra Vũng Tàu hay vào
Trung Tâm Nhu Đạo ở Quang Trung trốn
v́ sợ bị ám sát.
Về phương thức chống đối, chúng ta
thấy nhóm Phật Giáo cực đoan miền
Trung đă đi từ chụp mũ "dư đảng Cần
lao" đến tố cáo là "tay sai chính
quyền", rồi khủng bố, bắt giam, bắt
cóc, ám sát, chiếm cơ quan công
quyền, v.v. Không một phương tiện
nào có thể xử dụng được mà nhóm này
không xử dụng. Nhưng rồi cuộc đấu
tranh của nhóm Phật Giáo cực đoan
miền Trung ngày càng bị dân chúng
chán ghét và lên án. Lực Lượng Tranh
Thủ Cách Mạng của Thượng Tọa Thích
Trí Quang trở nên rối loạn, không
c̣n kiểm soát được, đă mở đường cho
chính quyền thanh toán.
CƯỚP CHÍNH QUYỀN
Sau khi đă thỏa măn tiếng kêu đ̣i nợ
máu của nhóm Thượng Tọa Thích Trí
Quang và Vơ Đ́nh Cường, Tướng Nguyễn
Khánh nghĩ đến việc củng cố địa vị.
Hiến chương Vũng Tàu
Vốn là một quân nhân thuần túy,
Tướng Nguyễn Khánh không có kinh
nghiệm về chính trị và nhất là không
biết ǵ đến thủ đoạn và chiêu bài
của CS, nên lầm tưởng rằng đưa những
người mà Thích Trí Quang đ̣i nợ máu
ra xử bắn hay phạt tù nặng là có thể
lấy được ḷng của nhóm Phật giáo
miền Trung. Tướng Khánh không hiểu
rằng "diệt dư đảng Cần Lao" chỉ là
một mục tiêu biểu kiến, một chiêu
bài để kích động quần chúng. Mục
tiêu tối hậu vẫn là cướp chính quyền
tại miền Nam VN. V́ thế, sau khi đưa
Ngô Đ́nh Cẩn và Phan Quang Đông ra
xử bắn và tuyên phạt khổ sai các
thành phần bị đ̣i nợ máu trong danh
sách của Thượng Tọa Thích Trí Quang,
ông tưởng rằng ông đă được Phật Giáo
ủng hộ nên thừa thắng xông lên và
kết quả thật thật là thảm hại.
Ngày 16.8.1966, Tướng Nguyễn Khánh
cho triệu tập Hội Đồng Quân Đội Cách
Mạng tại Vũng Tàu để công bố một bản
Hiến Chương mới. Theo Hiến Chương
này, sẽ có một Quốc Hội Lâm Thời gồm
100 hội viên dân sự và 50 hội viên
quân sự do Hội Đồng Quân Đội Cách
Mạng chỉ định. Hội Đồng Quân Đội
Cách Mạng vẫn là cơ quan quyền lực
tối cao. Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng
cũng đă chỉ định Tướng Nguyễn Khánh
làm Chủ Tịch VN Cộng Ḥa.
Nhiều người vẫn tin rằng tác giả của
bản Hiến Chương nói trên là Luật sư
Nghiêm Xuân Hồng, Bộ Trưởng Phủ Thủ
Tướng của chính phủ Nguyễn Khánh.
ông Nghiêm Xuân Hồng là một luật sư
có tư cách đàng hoàng, được nhiều
người yêu mến, nhưng về phương diện
chính trị, ông được xếp vào loại
những nhà lập thuyết, hoạch định
đường lối và chính sách theo "luận"
chứ không theo các sự kiện thực tế
nên không thực hiện được. Nhiều
người đọc cách hành văn và ư tưởng
trong bản tuyên bố do Tướng Nguyễn
Khánh đọc tại California năm 1990
đều tin rằng bài đó cũng do Luật sư
Nghiêm Xuân Hồng soạn. Đồng bào khó
biết được người soạn và người đọc
bản tuyên bố đó muốn nói cái ǵ, v́
nó mang màu sắc của một triết thuyết
mờ mờ ảo ảo hơn là một đường lối
chính trị.
Hiến Chương vừa được công bố th́ tất
cả mọi giới trong nước đều lên tiếng
chống đối. Các đảng Đại Việt (Nguyễn
Tôn Hoàn), Dân Chủ Xă Hội (Trương
Bảo Sơn) và Quốc Dân Đảng (biệt bộ
Nguyễn Tường Tam) lên tiếng công
kích trước nhất, sau đó là Tổng Hội
Sinh Viên Saig̣n và khối Công Giáo.
Tướng Nguyễn Khánh nh́n lại nhóm
Phật Giáo đấu tranh ở miền Trung th́
nhóm này cũng chống đối luôn. Sinh
viên Saig̣n là giới làm áp lực mạnh
nhất đ̣i Tướng Nguyễn Khánh phải thu
hồi Hiến Chương và thành lập một chế
độ dân chủ.
Ngày 26.8.1964, nghĩa là chỉ 10 ngày
sau ngày ban hành Hiến Chương Vũng
Tàu, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng
phải tuyên bố thu hồi Hiến Chương và
thiết lập các cơ chế dân chủ. Quân
đội trở về cương vị quân sự. Tạm
thời thành lập Ban Lănh Đạo Lâm Thời
Quốc Gia và Quân Lực gồm Tam Đầu Chế
: Dương Văn Minh - Trần Thiện Khiêm
- Nguyễn Khánh. Chính phủ Nguyễn
Khánh tiếp tục đảm nhiệm chức vụ
nhưng phải tổ chức Quốc Dân Đại Hội
ṿng 2 tháng.
Không c̣n chính phủ
Lợi dụng cơ hội này, Thượng Tọa
Thích Trí Quang tuyên bố không chấp
nhận cơ chế tạm thời nói trên và hô
hào loại bỏ Chế độ độc tài quân
phiệt. Các cuộc bạo động trở nên dữ
dội hơn. Miền Trung gần như không
c̣n chính phủ nữa. Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc do Thượng Tọa Thích Trí
Quang điều động đă nổi loạn khắp nơi
và làm chủ t́nh thế ở các tỉnh miền
Trung, thay chính quyền cai trị.
Ngày 3.9.1964, Tướng Dương Văn Minh
và Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh
phải bay ra Huế trấn an phong trào
Phật Giáo. Lúc đó Lư Chánh Trung đă
viết bài "Loạn để Trị" đăng trên tờ
T́m Hiểu số 2 tháng 10 năm 1964 mô
tả giai đoạn này như sau :
"V́ rằng từ mấy tháng nay, nhất
là từ cái ngày Hiến Chương Ô Cấp
"thành tích duy nhất của ông Khánh
sau ngày chỉnh lư" bị đập đổ, người
dân miền Nam đă nếm được cái thú vị
của tự do. Tự do xuống đường, tự do
đập lộn, chém giết, nói láo, bêu
xấu. Muốn ǵ cứ việc xuống đường.
Xuống đường là thắng Hoan hô dân
chủ. Thật không có cái chính quyền
nào nhiều "thiện chí" bằng cái chính
quyền này : xun xoe chạy từ nhóm này
đến khối kia, vuốt ve hứa hẹn để làm
vừa ḷng tất cả mọi người.
"Nhưng tội thay, không làm vừa
ḷng ai cả.
"Nhưng c̣n chính quyền nữa đâu mà
nói ! Ai cầm quyền hiện nay tại miền
Nam? Người Mỹ trả lời : ông Nguyễn
Khánh, rồi "Ban Lănh Đạo Lâm Thời
Quốc Gia và Quân Lực". Dưới Ban Lănh
Đạo Lâm Thời có một chính phủ "xử lư
thường vụ" trong hai tháng (chỉ c̣n
một). Trong chính phủ này, có một
ông Phó Thủ Tướng đă bôn đào, 2 ông
Tổng trưởng đă chấp nhận từ chức.
Dưới nữa ta có các Tổng Giám Đốc,
Giám Đốc, Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng
v.v... Tất cả guồng máy hành chánh
vẫn nằm đó, công chức cuối tháng vẫn
lănh lương đều đều. Nhưng chính
quyền, ôi chính quyền, mi ở nơi nao?
"Ở Huế có cái Hội Đồng Nhân Dân
Cách Mạng (rồi cứu quốc) mà thành
phần chủ yếu là một số giáo sư đại
học. Hội đồng này đă cực lực phủ
nhận tam đầu chế Minh-Khánh-Khiêm.
Thế rồi người ta thấy ông Minh và
ông Oánh lẽo đẽo ra Huế để "thỉnh ư"
Hội Đồng đó. Hội Đồng thương thuyết
tay ngang với Chính Phủ. Tại nhiều
Tỉnh miền Trung, những Hội Đồng
tương tự được thiết lập và người ta
đă chứng kiến những tấn bi hài kịch
của những người "dư đảng Cần Lao",
đến đầu thú nơi ông Tỉnh th́ được
ông Tỉnh gởi qua Hội Đồng, đến Hội
Đồng th́ được trả về ông Tỉnh.
"Thế th́ ai cầm quyền trên đất
nước này ? Và dựa vào đâu những cái
Hội Đồng đó dám tự xưng là "nhân
dân"? Dân nào mà cử các ông ấy?"(15)
Chính trong thời gian khủng hoảng
nói trên, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
do Thượng Tọa Thích Trí Quang điều
động đă thiêu rụi hai giáo xứ Thanh
Bồ và Đức Lợi ở miền Trung, tấn công
các cơ sở ấn loát và báo chí của
Công Giáo tại Saig̣n. Nếu không có
sự đối kháng của Khối Công Dân Công
Giáo và các tổ chức Công Giáo tự vệ
được thành lập tại mỗi giáo xứ, sự
thiệt hại sẽ không lường được.
Lá bài Trần Văn Hương
Ngày 8.9.1964, Tướng Nguyễn Khánh
ban hành Quyết Định số 7/BLĐQGQ
thành lập Thượng Hội Đồng Quốc Gia
với nhiệm vụ soạn thảo Hiến Chương,
triệu tập Quốc Dân Đại Hội, tổ chức
các cơ cấu quốc gia, cố vấn cho
chính phủ và Ban Lănh Đạo Quốc Gia
Lâm Thời Quân Lực. Thượng Hội Đồng
này gồm đại diện của các tôn giáo và
một số nhân sĩ. Về phía Phật Giáo
người ta thấy có Mai Thọ Truyền, Ngô
Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Nguyễn Xuân
Chữ, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Đ́nh Luyện
và Tôn Thất Hanh.
Sau đó, Tướng Nguyễn Khánh nghĩ ngay
đến Giáo sư Trần Văn Hương, một
người mà ông tin rằng có thể giúp
ông ổn định t́nh thế v́ các lư do
sau đây: Giáo sư Trần Văn Hương là
người Nam, rất thanh liêm, đă từng
vào tù ra khám v́ chống chế độ Ngô
Đ́nh Diệm. ông được người miền Nam
và các tổ chức Phật Giáo miền Nam
ủng hộ. ông là người rất cương
quyết, không nhượng bộ những hành
động phi pháp và bạo động làm mất
trật tự công cộng. Như đa số những
người Nam, ông không đồng ư đường
lối đấu tranh của Thượng Tọa Thích
Trí Quang. Dùng ông, những người
miền Nam sẽ chống lại cuộc đấu tranh
của nhóm Phật Giáo miền Trung.
Ngày 9.9.1964, Giáo Sư Trần Văn
Hương được cử làm Đô Trưởng Saig̣n
thay thế Thiếu Tướng Dương Ngọc Lắm.
Tuy là Đô Trưởng nhưng ông được xếp
ngang hàng Tổng Trưởng.
Ngày 13.9.1964, Trung Tướng Dương
Văn Đức và Thiếu Tướng Lâm Văn Phát
kéo quân về Saig̣n-Gia Định chiếm
đóng một số cơ sở quan trọng như đài
phát thanh, Phủ Thủ Tướng ... rồi
lên tiếng đả kích Tướng Nguyễn Khánh
hèn nhát và mị dân. Tường Đức nhân
danh "Hội Đồng Quân Dân Cứu Quốc"
tuyên bố văn hồi trật tự đă bị phá
hoại và uy quyền quốc gia đă bị miệt
thị. Tướng Đức nói không có đảo
chánh, chỉ biểu dương lực lượng.
Ngày 19.9.1964, Tướng Đức và các sĩ
quan theo Tướng Đức bị cất chức. Các
Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở miền
Trung lại lộng hành hơn.
Ngày 20.10.1964 Hiến Chương Lâm Thời
được ban hành. Theo Hiến Chương này
Quốc Dân Đại Hội có quyền lập pháp
và cử Quốc Trưởng. Thủ Tướng do Quốc
Trưởng chọn và Quốc Dân Đại Hội chấp
thuận.
Ngày 24.10.1964, Thượng Hội Đồng
Quốc Gia tuyển nhiệm ông Phan Khắc
Sửu làm Quốc Trưởng VN Cộng Ḥa theo
Hiến Chương ngày 10.10.1964. Tướng
Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức Thủ
Tướng và từ giă chính quyền trở về
quân đội. Ngày 31.10.1964, Giáo Sư
Trần Văn Hương được cử giữ chức Thủ
Tướng.
Sau khi Thủ Tướng Trần Văn Hương lập
chính phủ và công bố chương tŕnh
hoạt động, các sinh viên tổ chức hội
thảo đ̣i phải hành động mạnh, không
chấp nhận chính phủ "chuyên viên".
Do sự đ̣i hỏi của mọi giới, ngày
13.11.1964, Thủ Tướng Trần Văn Hương
tuyên bố trước Thượng Hội Đồng Quốc
Gia rằng chính phủ phải tái lập uy
quyền quốc gia, tách rời chính trị
và tôn giáo, đưa tôn giáo ra khỏi
chánh trị. Lệnh dẹp các cuộc biểu
t́nh và nổi loạn được ban hành ngay
sau đó. Tướng Nguyễn Khánh được cử
làm Tổng Tư Lệnh Quân Đội.
Để đối phó với thái độ cứng rắn của
Thủ Tướng Trần Văn Hương, Thượng Tọa
Thích Trí Quang ra lệnh cho Hội Đồng
Nhân Dân Cứu Quốc biểu t́nh khắp nơi
đả đảo chính phủ Trần Văn Hương.
Ngày 24.11.1964, Thượng Tọa Thích
Tâm Châu gởi văn thư yêu cầu Thượng
Hội Đồng Quốc Gia có thái độ đối với
Thủ Tướng Trần Văn Hương. ông Hương
lại ra lệnh đóng cửa các trường học
cho đến khi có lệnh mới và tuyên bố
không lùi bước và sẽ dùng mọi cách
để tái lập trật tự. Có 228 người
biểu t́nh và gây rối bị bắt.
Ngày 29.11.1964, Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc tổ chức đưa đám tang học
sinh Lê Văn Ngọc bị chết trong cuộc
biểu t́nh ngày 25.11.1964. Cảnh sát
khám thấy chiếc xe NDG.228 trong
đoàn hộ tang có chở vơ khí liền bắt
giam một số người. Các cuộc biểu
t́nh và băi khoá được tổ chức liên
tục, chính phủ ra lệnh đàn áp thẳng
tay. Các Thượng Tọa Tâm Châu, Trí
Quang, Pháp Tri, Thiện Hoa và Hộ
Giác lại bắt đầu tuyệt thực. Viện
Hóa Đạo đóng cửa ngưng hoạt động.
Tuy đă giao quyền cho chính quyền
dân sự, ngày 18.12.1964 Nguyễn Khánh
lại cho thành lập Hội Đồng Quân Lực
và ngày 20.12.1964 Hội Đồng này
tuyên bố bất tín nhiệm và giải tán
Thượng Hội Đồng Quốc Gia v́ cho rằng
Thượng Hội đồng bị một số tướng lănh
có óc bè phái mua chuộc, gây chia rẽ
hàng ngũ quốc gia. Một số thành viên
của Thượng Hội Đồng đă bị lưu giữ.
Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và chính
phủ Trần Văn Hương vẫn được tín
nhiệm.
Tướng Trần Văn Đôn kể lại rằng khi
đến Đà Lạt, Tướng Nguyễn Khánh đă
than phiền về Thượng Hội Đồng Gia.
ông nói Thượng Hội Đồng gồm các tay
chân thân tín của Dương Văn Minh,
những người này chống lại tất cả
những quyết định của ông. ông sẽ về
Sai g̣n làm đảo chánh để bắt tất cả
"những tên phản động" đó. Quả thật,
Thượng Hội Đồng gồm nhiều đại diện
của phe Thích Trí Quang như Lê Khắc
Quyến, Ngô Gia Hy, Tôn Thất Hanh,
Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Đ́nh Luyện,
Hồ Đắc Thắng..., phe này luôn t́m
cách quấy phá chính phủ Trần Văn
Hương nên chính phủ này không làm ǵ
được.
Bị xát xà pḥng
Nh́n thấy cảnh Thượng Hội Đồng Quốc
Gia bị thanh toán như trở bàn tay,
ngày 20.12.1964 đại sứ Hoa Kỳ lúc đó
là Tướng Maxwell Taylor đă mời Tướng
Nguyễn Khánh và một số tướng trẻ đến
ăn cơm tối tại nhà Tướng
Westmoreland để "xát xà pḥng".
Trong bữa tiệc này, về phía VN người
ta thấy có các tướng Nguyễn Khánh,
Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ,
Nguyễn Chánh Thi và Chung Tấn Cang.
Về phía Mỹ có Đại Sứ Maxwell D.
Taylor và phụ tá của ông là U.
Alexis Johnson. Tướng Taylor đă nói
với các tường VN: "Đêm nay, tại nhà
của Tướng Westmoreland, tôi nói rơ
do các anh rằng Hoa Kỳ không c̣n
muốn dung thứ cho những âm mưu gây
ra t́nh trạng bất ổn nữa." Tướng
Taylor tỏ ra khó chịu về việc bắt
giữ các thành viên của Thượng Hội
Đồng mà không hề hỏi ư kiến của ông
ta. ông nói nếu t́nh trạng này kéo
dài, Hoa Kỳ phải nghĩ đến việc cắt
viện trợ.
Bắt chước Ngô Đ́nh Nhu ?
Tướng Nguyễn Khánh đă tỏ ra tức giận
về những lời nói bộc trực của Tướng
Taylor. Ngày hôm sau ông tuyên bố
với báo chí: "Thà thanh bạch trong
độc lập c̣n hơn tủi nhục trong nô lệ
ngoại bang." Sau đó Tướng Khánh ra
lệnh phóng thích vợ của Huỳnh Tấn
Phát, một lănh tụ cao cấp của Mặt
Trận Giải Phóng Ḿên Nam, rồi gởi
cho Huỳnh Tấn Phát một bức thư đề
nghị liên hiệp. Ngày 28.1.1965,
Huỳnh Tấn Phát phúc đáp thư của
Nguyễn Khánh, ca tụng Nguyễn Khánh
có tinh thần bất khuất, không chịu
áp lực của đế quốc và thực dân và đề
nghị Nguyễn Khánh cùng các bạn của
ông tham gia Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam. Nguyễn Khánh ngây thơ về
chính trị đến mức không hiểu được
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là
công cụ của Hà Nội và Huỳnh Tấn Phát
chỉ là một tên hữu danh vô thực
trong Mặt Trận, làm sao quyết định
được việc ông đề nghị? Cho đến nay,
Tướng Khánh vẫn cho rằng nếu lúc đó
ông không bị lật đổ, "Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam đă về với ḿnh và đă
có ḥa b́nh lâu rồi"! Nguyễn Khánh
muốn làm một Ngô Đ́nh Nhu, nhưng tư
thế và tầm vóc của ông quá nhỏ bé
nên Bắc Việt không muốn nói chuyện.
Luồn gió bẻ măng
Lợi dụng sự căng thẳng giữa Tướng
Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ, Hà Nội đă
chỉ thị các đặc công CS nằm vùng tấn
công thẳng vào Hoa Kỳ và thành lập
các tổ chức ngụy h lệnh cho Hội Đồng
Nhân Dân Cứu Quốc hành động. Ngày
22.1.1965, đoàn biểu t́nh kéo tới
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở đường Hàm Nghi,
đưa cao các biểu ngữ "Hăy để cho dân
tộc VN tự quyết" và đả đảo Hoa Kỳ
can thiệp vào nội bộ VN. Sau đó,
đoàn biểu t́nh kéo tới đập phá thư
viện Lincoln ở góc đường Lê Lợi và
Nguyễn Huệ, trước Ṭa Đô Chánh
Saig̣n. Khoảng 100 người bị bắt. Thủ
Tướng Trần Văn Hương phải xin lỗi
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ và đọc một bài
hiệu triệu quốc dân ư thức trách
nhiệm trước t́nh thế, tránh bạo động
và lên án "lũ lưu manh cạo đầu
rồi mặc sắc phục tăng ni..." và
"những tṛ khỉ của chúng".
Ngày 23.1.1965, Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc kéo tới Pḥng Thông Tin Hoa
Kỳ ở Huế ném đá rồi đốt thư viện với
khoảng 5.000 cuốn sách. ông Phó Lănh
Sự Hoa Kỳ tới định chữa cháy th́ bị
ném đá phải bỏ chạy. Sinh viên đặt
rào cản trước các phân khoa đại học
không cho sinh viên vào học. T́nh
h́nh ngày càng rối loạn hơn.
Quân Đội quay trở lại
Ngày 27.1.1965, Hội Đồng Quân Lực ra
tuyên cáo nói rằng Quân Đội đă trao
quyền cho lại cho một chánh quyền
dân sự, nhưng t́nh thế ngày càng rối
ren hơn nên Quân Đội buộc ḷng phải
đứng ra lănh trách nhiệm lịch sử.
Hội Đồng uỷ nhiệm cho Tướng Nguyễn
Khánh giải quyết các cuộc khủng
hoảng và tổ chức Quốc Dân Đại Hội.
Được tin Quốc Dân Đại Hội được thành
lập, khối Phật Giáo tỏ vẻ phấn khởi.
Nhóm Thượng Tọa Thích Trí Quang tin
rằng nếu tổ chức Quốc Dân Đại Hội,
phe của ông sẽ nắm đa số và quyết
định mọi đường lối của quốc gia.
Viện Hoá Đạo đưa ra ngay một thông
cáo tuyên bố ngưng các cuộc tranh
đấu và ra lệnh trở lại sinh hoạt
b́nh thường. Các lănh tụ Phật Giáo
tự động chấm dứt tuyệt thực.
Hôm 28.1.1965, Hội Đồng Quân Lực ban
hành quyết định lưu nhiệm Quốc
Trưởng Phan Khắc Sửu và cử Phó Thủ
Tướng Nguyễn Xuân Oánh quyền Thủ
Tướng.
Thượng Tọa Thích Trí Quang họp báo
phân trần: Phật Giáo không muốn
chính quyền dung thứ những phần tử
xấu thuộc chế độ cũ và đừng coi Phật
Giáo là CS. Phật Giáo không chống Mỹ
nhưng VN không muốn bị hiểu lầm.
ông muốn tỏ thái độ ḥa dịu để dành
nỗ lực đạt thắng lợi tại Quốc Dân
Đại Hội.
Bất thần không quân Mỹ ném bom miền
Bắc ngày 7.2.1965 và những ngày kế
tiếp. Hành động đột biến này của Mỹ
là yếu tố thứ hai khiến Thích Trí
Quang phải ngưng tranh đấu để xét
xem những diễn biến mới của t́nh thế
và đợi chỉ thị.
Ngày 15.2.1965, Tướng Nguyễn Khánh,
nhân danh Hội Đồng Quân Lực, ban
hành quyết định tuyển ông Phan Khắc
Sửu làm Quốc Trưởng và Bác Sĩ Phan
Huy Quát làm Thủ tướng. Chiều hôm đó
Thủ Tướng tŕnh diện thành phần
chính phủ, trong đó Trần Quang Thuận
làm Bộ Trưởng Xă Hội, Bùi Diễm làm
Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng... Chính phủ
này được coi là chính phủ Phật Giáo,
nên Thượng Tọa Thích Trí Quang không
chống chính phủ nữa.
Ngày 19.2.1965, Đại Tá Phạm Ngọc
Thảo, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và
Nguyễn Bảo Kiếm tổ chức đảo chánh
dưới danh nghĩa Lực Lượng Bảo Vệ Dân
Tộc, đ̣i Nguyễn Khánh từ chức trao
chính quyền lại cho dân sự. Cuộc đảo
chánh bất thành. Thượng Tọa Thích
Tâm Châu lên đài phát thanh kêu gọi
Phật tử ủng hộ Hội Đồng Quân Lực.
Tướng Nguyễn Chánh Thi cho rằng cuộc
đảo chánh này do Đại Sứ Maxwell D.
Taylor xúi biểu.
Kể từ khi Tướng Nguyễn Khánh chống
lại Đại Sứ Taylor, các tướng lănh
nhận thấy phải thay Tướng Khánh mới
được Hoa Kỳ ủng hộ, nhưng chưa có cơ
hội. Nhân dịp có đảo chánh, Tướng
Khánh đang lẩn tránh ở Ba Xuyên, Hội
Đồng Quân Lực họp và quyết định cử
Trung Tướng Trần Văn Minh làm Tổng
Tư Lệnh Quân Đội thay Tướng Nguyễn
Khánh và bổ nhiệm Tướng Nguyễn Khánh
làm Đại Sứ Lưu Động.
Mở mặt trận mới : ngụy ḥa
Khi đă có một chính phủ Phật Giáo,
Thượng Tọa Thích Trí Quang không
chống chính phủ nữa mà mở mặt trận
mới: đ̣i Mỹ ngưng chiến tranh.
Chiến dịch này nhắm chống lại Hoa Kỳ
ném bom Bắc Việt và mở rộng hành
quân ở miền Nam.
Ngày 27.2.1965, Thượng Tọa Thích
Quảng Liên, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ
Giáo Dục, tuyên bố thành lập Phong
Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh và Phong Trào
Dân Tộc Tự Quyết, yêu cầu chấm dứt
chiến tranh VN và rút quân đội Hoa
Kỳ khỏi miền Nam VN.
Nhận diện đây là một tổ chức ngụy
ḥa do các cán bộ CS nằm vùng giựt
dây, các đảng phái quốc gia và các
đoàn thể tôn giáo đă phản ứng mạnh
mẽ, yêu cầu chính phủ Phan Huy Quát
có thái độ dứt khoát đối với các tổ
chức ngụy ḥa. Ngày 1.3.1965, chính
phủ Phan Huy Quát vội vàng tuyên bố
: Chỉ nói chuyện ḥa b́nh khi CS
chấm dứt xâm lăng. VN Cộng Ḥa cương
quyết chống lại sự xâm lăng của CS
để bảo vệ tự do. Ngày hôm sau, Ngũ
Giác Đài tuyên bố tiếp tục ném bom
Bắc Việt để ngăn chặn sự xâm lăng
của Bắc Việt. Tại VN, chính phủ VN
và Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ra một thông
cáo chung giải thích rằng phải oanh
tạc các cơ sở quân sự ở Bắc Việt v́
các cơ sở này yểm trợ cho cuộc xâm
lăng miền Nam.
Mặc cho những lời giải thích trên,
chiến dịch của Phật Giáo đ̣i ḥa
b́nh vẫn được đẩy mạnh, các truyền
đơn ngụy ḥa được rải khắp nơi. Khi
chiến dịch này lên cao độ, đă có
những cuộc tự thiêu để đ̣i ḥa b́nh:
Thích Giác Thành tự thiêu sau Viện
Hóa Đạo v́ thấy cảnh tang tóc của
chiến tranh, Ni cô Thích Huệ Thiên
đổ xăng vào người toan tự thiêu tại
chùa Từ Vân, Gia Định, nhưng được
cứu thoát. Ni cô cho biết muốn tự
thiêu v́ thấy những đau khổ do chiến
tranh gây ra v.v.
Phong trào Bảo Vệ Ḥa B́nh đă gây
khó khăn cho chính phủ Phan Huy
Quát. ông phải ra lệnh cho Tổng Nha
Cảnh Sát có biện pháp mạnh. Ngày
5.3.1965, Tổng Nha Cảnh Sát ra thông
cáo cho đồng bào biết phong trào
ngụy ḥa do VC giựt giây, tuy có
nhiều tên khác nhau, nhưng cùng một
mục tiêu : làm suy yếu tinh thần
chống Cộng của quân dân miền Nam và
gây mâu thuẫn trong hàng ngũ quốc
gia. Sau đây là những tên khác nhau
của tổ chức này : Ủy Ban Vận Động
Ḥa B́nh, Phong Trào Dân Tộc Tự
Quyết, Lực Lượng Tranh thủ Cách
Mạng, Lực Lượng Học Sinh Chống Chiến
Tranh, Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh
Hạnh Phúc Dân Tộc v.v. Điều chắc
chắn là Thượng Tọa Thích Trí Quang
đă thành lập Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng, c̣n Thượng Tọa Thích
Quảng Liên thành lập Phong Trào Bảo
Vệ Ḥa B́nh Hạnh Phúc Dân Tộc.
V́ phản ứng của dư luận rất mạnh mẽ,
ngày 11.3.1965, Viện Hóa Đạo phải ra
thông cáo tuyên bố : Ủy Ban Vận Động
Ḥa B́nh do Thượng Tọa Thích Quảng
Liên thành lập với tư cách cá nhân,
không liên quan ǵ đến Viện Hóa Đạo.
Dựa vào thông cáo này, Bộ Nội Vụ
công bố danh sách 358 người đă kư
tên vào kiến nghị của Ủy Ban Vận
Động Ḥa B́nh: 3 luật sư, 5 bác sĩ
và dược sĩ, 5 kỹ sư, 11 kư giả, 20
giáo viên, 22 công chức, 64 buôn
bán, 78 lao động, 24 sinh viên, 77
học sinh v.v. Ngày 17.3.1965, Thượng
Tọa Thích Quảng Liên tuyên bố từ
chức Chủ Tịch Phong Trào. Cảnh sát
liền được lệnh bắt một số nhân vật
quan trọng trong các tổ chức nguỵ
ḥa.
Ngày 19.3.1965, ba người thuộc Phong
Trào Bảo Vệ Hoà B́nh bị trục xuất ra
miền Bắc qua cầu Hiền Lương: Bác sĩ
thú y Phạm Văn Huyến, Giáo sư Tôn
Thất Dương Kỵ và kư giả Cao Minh
Chiếm.
Dù đă có hành động biểu diễn như
vậy, người ta thấy các tổ chức ngụy
ḥa vẫn tiếp tục hoạt động. Một Khối
Quốc Gia Chống Cộng đă được thành
lập. Khối này gồm đại diện Cao Đài,
Phật Giáo Ḥa Hảo, Công Giáo và Tổng
Giáo Hội Phật Giáo hợp thành. Ngày
2.6.1965, do Trung Tướng Nguyễn
Thành Phương hướng dẫn, Khối đă đến
gặp Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu yêu
cầu phải thành lập một chính phủ
quốc gia chống Cộng và chống trung
lập thật sự, giải tán chính phủ Phan
Huy Quát v́ có nhiều thành phần thân
cộng trong chính phủ đă bảo trợ cho
các tổ chức ngụy ḥa. Một Ủy Ban
Liên Tôn mới thành lập lại ra thông
cáo tố cáo chính phủ Phan Huy Quát
âm mưu ban hành một quy chế hạn chế
quyền tự do tôn giáo.
Phong trào chống chính phủ Phan Huy
Quát nổi lên khắp nơi. Trước t́nh
thế này, Tổng Nha Cảnh Sát phải ra
một thông cáo yêu cầu tất cả những
người đă kư tên trong kiến nghị của
Ủy Ban Vận Động Ḥa B́nh phải ra
tŕnh diện. Không chịu nổi áp lực,
ngày 11.6.1965, Quốc Trưởng Phan
Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát
đều từ chức, trao quyền lại cho Quân
Đội. Các tướng lănh thành lập Ủy Ban
Lănh Đạo Quốc Gia, ban hành Hiến ước
mới và cử Tướng Nguyễn Cao Kỳ thành
lập chính phủ.
Ngày 24.8.1965, chính phủ Nguyễn Cao
Kỳ đưa các thành phần của Ủy Ban Bảo
Vệ Ḥa B́nh và Phong Trào Dân Tộc Tự
Quyết ra trước Ṭa án Quân sự Mặt
Trận xét xử. Những bằng chứng cho
thấy nhóm này đă hoạt động cho CS
được đưa ra trước ṭa. Kết quả ṭa
tuyên phạt 3 người khổ sai hữu hạn,
12 người bị án tù treo và tha bổng 6
người. Nhưng Thượng Tọa Thích Quảng
Liên không bị truy tố!
Khi t́nh h́nh chính trị tại miền Nam
tiến tới giai đoạn khủng hoảng trầm
trọng, Phật Giáo miền Trung đang đẩy
mạnh chiến dịch ngụy ḥa và bài Mỹ,
chính phủ Hoa Kỳ đă cử ông Cabot
Lodge trở lại làm Đại Sứ tại VN Cộng
Ḥa thay thế Tướng Maxwell D.
Taylor. ông đến tŕnh ủy nhiệm thư
và nhận chức ngày 25.8.1965. Các nhà
b́nh luận chính trị hiểu rằng sứ
mạng của ông lần này không phải là
để "cứu Phật Giáo" như lần trước, mà
là để thanh toán con bài tôn giáo mà
Hoa Kỳ đă lỡ dựng lên để làm chiêu
bài lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm năm
1963. Số phận của con bài Phật Giáo
miền Trung đă được định đoạt từ hôm
nay.
Ngày 20.10.1965, ông Edgar Hoover,
Giám Đốc Cơ Quan T́nh Báo Hoa Kỳ
tuyên bố CS đang xúi giục biểu t́nh
chống chánh sách Mỹ tại VN và gia
tăng các hoạt động phản chiến.
Bằng chứng về hoạt động của CS dưới
danh nghĩa các phong trào đ̣i ḥa
b́nh ngụy tạo quá rơ ràng khiến
Thượng Tọa Thích Trí Quang không
chối căi được. ông đành chịu im
tiếng để cho chính phủ Nguyễn Cao Kỳ
hành động. Nhưng ông chuẩn bị và chờ
cơ hội để mở một cuộc tấn công mới
nhằm cướp chính quyền.
Ng̣i thuốc súng
Khi bị đánh tại miền Nam, nhóm Phật
Giáo cực đoan quay về hoạt động tại
Vùng Một v́ nơi đây có Tướng Nguyễn
Chánh Thi che chở cho họ.
Qua việc chính phủ Phan Huy Quát bị
lật đổ và các phong trào ngụy ḥa bị
dẹp tan, nhóm Thượng Tọa Thích Trí
Quang nhận ra rằng các tôn giáo và
các đảng phái quốc gia là những lực
lượng có thể phá vỡ các kế hoạch của
ông, nên khi phát động thánh chiến
trở lại, trước tiên ông phải cho tấn
công ngay vào các tổ chức này dưới
danh nghĩa "diệt dư đảng Cần Lao".
Các tông phái Phật Giáo miền Bắc và
miền Nam tách dần ra khỏi Giáo Hội
là một thiệt hại lớn, làm cho lực
lượng đấu tranh yếu hẳn đi. Để bù
đắp lại, nhóm này đă cố gắng củng cố
lại lực lượng ở các tỉnh miền Trung,
nhất là trong hàng ngũ sinh viên và
quân nhân. Vơ Đ́nh Cường biến các
Khuôn Bộ Phật Giáo thành những Chi
Bộ Phật Giáo giống hệt như tổ chức
của Đảng CS.
Đại Tá Nguyễn Chánh Thi lưu vong mới
trở về được hai tháng th́ được bổ
nhiệm làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn dưới
quyền của Tướng Nguyễn Khánh. Ông
nhận chức ngày 14.12.1964. Chính
trong hoàn cảnh này ông đă hợp tác
với Tướng Nguyễn Khánh làm cuộc
"chỉnh lư" ngày 30.1.1964.
Ngày 14.11.1964 Tướng Nguyễn Chánh
Thi đă được Tướng Nguyễn Khánh cử
làm Tư Lệnh Vùng I thay Tướng Tôn
Thất Xứng. Tướng Dương Văn Minh cũng
như Tướng Nguyễn Khánh đều hiểu rơ
tính ngang bướng của Tướng Nguyễn
Chánh Thi nên muốn đẩy ông đi một
vùng xa xôi cho êm chuyện. Vả lại,
miền Trung là vùng của Thượng Tọa
Thích Trí Quang, một người hay sinh
sự. Phải có một tướng ngang bướng
như Tướng Thi mới ứng phó được.
Nhưng khi nắm được Tư Lệnh Vùng I
kiêm Đại Biểu Chính Phủ tại Miền
Trung, Tướng Thi đă dựa vào lực
lượng Phật Giáo tại đây để củng cố
tư thế và địa vị, c̣n Thích Trí
Quang dựa vào Tướng Thi để tổ chức
các cơ cấu địa phương, triển khai
phong trào ngụy ḥa và bài Mỹ dưới
mọi h́nh thức. Sự liên kết này đă
làm các tướng lănh VN và Hoa Kỳ bực
ḿnh.
.Tướng Thi kể lâu rằng Rib Robinson,
trùm CIA thời đó, đă đến gặp ông tại
văn pḥng và báo cho ông biết đă có
sự hiểu sai về vai tṛ của Mỹ ở VN
nên nhiều chuyện đáng tiếc đă xẩy
ra. Rib Robinson đă nói thẳng với
ông những "ghi nhận" của Hoa Kỳ như
sau:
- Tinh thần "chống Mỹ" mỗi ngày
mỗi rơ rệt, cụ thể là phản đối Hội
Nghị Honolulu.
- Khuyến khích dân chúng miền Trung
không hợp tác với chính phủ trung
ương Saig̣n.
- Nhiều lần không tuân hành lệnh
Saig̣n một cách bướng bỉnh.
Tướng Thi nói rằng ông không chấp
nhận bất cứ ai bỏ tiền ra giúp rồi
cư xử như quan thầy.(16)
Không thể kéo dài t́nh trạng trên,
ngày 11.3./966 Hội Đồng Tướng Lănh
và Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia đă họp 5
tiếng đồng hồ liên tục tại Bộ Tổng
Tham Mưu và công bố cho tướng Nguyễn
Chánh Thi nghỉ phép đi chữa bệnh mũi
tại Hoa Kỳ. Đại Tướng Westmoreland
viết cho Tướng Thi một văn thư nói
sẵn sàng dành cho ông những phương
tiện để đến Hoa Kỳ kiểm tra sức
khỏe. Ngày 13.3.1966, Hội Đồng Tướng
Lănh lại tái họp bỏ phiếu với 32
thăm thuận và 4 thăm trắng cho Tướng
Nguyễn Chánh Thi nghỉ việc. Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Chuân, Tư Lệnh Sư
Đoàn I, được cử làm Tư lệnh Vùng I
thay thế Tướng Thi.
Khi thấy một con gà quan trọng của
Phật Giáo bị loại ra khỏi chính
trường, Hội Đồng Viện Hóa Đạo họp
khẩn cấp và công bố lập trường 4
điểm :
- Các tướng lănh có công với cuộc
cách mạng phải được trở lại quân
đội.
- Các tướng lănh trở về cương vị
quân sự.
- Lập chính phủ đoàn kết.
- Bầu cử quốc hội.
Mục tiêu thật sự của bản tuyên bố
này là đ̣i hỏi phải đưa các tướng
Phật Giáo trở lại chính quyền. Các
cuộc biểu t́nh lại được phát động để
yêu cầu thỏa măn nguyện vọng của
Phật Giáo.
Nhưng nhân lễ nhận chức Thị Trưởng
Đà Lạt của bà Nguyễn Thị Hậu vào
ngày 19.3.1966, Tướng Nguyễn Cao Kỳ
tuyên bố các cuộc xuống đường hay
đ́nh công băi thị chẳng ảnh hưởng ǵ
chính phủ cả. Để đáp lại sự thách đố
này, Thượng Tọa Thích Trí Quang và
Vơ Đ́nh Cường ra lệnh đ́nh công và
băi thị khắp các tỉnh miền Trung,
nhất là ở Huế và Đà nẵng. Sinh viên
và học sinh ở Huế biểu t́nh chống
Mỹ. Ṭa Lănh Sự và các cơ quan của
Mỹ tại Huế phải đóng cửa để đề pḥng
các vụ phá phách.
Ngày 14.3.1966, Đại Tá Sam Wilson và
ông Ted Britton đến hỏi Tướng Thi
rằng nếu đưa ông trở về lại Đà Nẵng,
có thể ổn định t́nh h́nh được không.
Tướng Thi trả lời ông không dám hứa.
Ngày 15.3.1966, hai Đại Tá Phạm Văn
Liễu và Nguyễn Ngọc Loan đưa Tướng
Thi ra Đà Nẵng. Ông kêu gọi đồng bào
b́nh tĩnh nhưng Thượng Tọa Thích Trí
Quang và Vơ Đ́nh Cường không để ư
chuyện đó. Vụ cất chức Tướng Nguyễn
Chánh Thi chỉ là một cái cớ để phát
động đấu tranh trở lại mà thôi, mục
tiêu chính vẫn là tiến tới nắm chính
quyền bằng áp lực hay bằng quân sự.
Ngày 25.3.1966, Tướng Nguyễn Cao Kỳ
tuyên bố các vụ lộn xộn miền Trung
gây trở ngại cho việc tiếp tế cho
dân chúng và vận tải quân nhu. Sau
đó ông lại tuyên bố sẽ dùng biện
pháp mạnh để đối phó nếu các vụ lộn
xộn tràn lan. Tướng Kỳ cho biết 8
quân nhân tham gia biểu t́nh đă bị
thuyên chuyển.
Ngày 27.3.1966, trong khi 20.000
người biểu t́nh tại Huế, Linh mục
Hoàng Quỳnh, đại diện Khối Công Dân
Công Giáo đă đ̣i hỏi phải lập chính
phủ dân sự nhưng không muốn có bạo
động. Ông cho rằng tổng tuyển cử
ngay lúc này chưa thuận lợi. Phật
Giáo Ḥa Hảo, một số đảng phái chính
trị và tổ chức sinh viên tại Saig̣n
ra tuyên bố muốn tiến tới một chế độ
dân chủ nhưng chống lại các vụ gây
xáo trộn.
Mặc cho những lời tuyên bố và phản
kháng nói trên, phong trào chống Mỹ
được đẩy mạnh cùng một lúc ở Huế và
Saig̣n. Tại Huế cũng như tại Saig̣n,
người ta thấy các đoàn biểu t́nh đưa
cao những biểu ngữ: "Down with US
Obstruction", "We want
Independence", "Nước VN của
Người VN", "Người Mỹ gây rối
cho Nhân Dân VN", v.v. Thượng
Tọa Thích Trí Quang cho rằng hai
Tướng Thiệu và Kỳ dám chống lại Phật
Giáo là do có Mỹ đứng đằng sau nên
phải chống Mỹ.
Ngày 5.4.1966, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
tuyên bố mong muốn các vụ lộn xộn
tại VN phải sớm giải quyết. Các lănh
tụ tôn giáo và chính trị nên hội ư
với nhau để sớm có Hiến Pháp dân
chủ. Hoa Kỳ không can thiệp vào các
vấn đề nội bộ của VN. Mọi giải pháp
đều do người Việt tự quyết định.
Phối hợp chiến tranh chính trị với
chiến tranh quân sự.
Tại Huế và Đà Nẵng, Thượng Tọa Thích
Trí Quang và Vơ Đ́nh Cường đă phối
hợp với một số cán bộ VC nằm vùng,
các chính khách hoạt đầu và một số
Phật tử cực đoan làm nồng cốt chỉ
huy và thúc đẩy cuộc nổi loạn cướp
chính quyền, trong số này người ta
thấy có Vơ Đ́nh Cường (cán bộ CS),
Nguyễn Trực (cán bộ CS), Hoàng Phủ
Ngọc Phan (cán bộ CS), Hoàng Phủ
Ngọc Tường (cán bộ CS), Tống Hồ Cầm
(cán bộ CS), Bùi Hữu Giao, Nguyễn
Tường Hiếu (VN Quốc Dân Đảng hệ phái
Nguyễn Tường Tam), Thái Đ́nh Quang,
Thái Doăn Trinh, Hoàng Phúc, Hoàng
Thị Như Mai, Lê Văn Hảo (hiện ở
Pháp), Hoàng Ngọc Giàu (cán bộ CS),
Lê Tuyên (hiện ở Virginia), Ngô Văn
Bằng (hiện ở Mỹ), Ngô Kha (cán bộ
CS), Hà Xuân Kỳ (cán bộ CS), Tống
Nhạn, Phan Xuân Huy, Nguyễn Đức
Nghị, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Văn Hàm
(cán bộ CS), Tư Đồ Minh, Nguyễn Văn
Mẫn, Bửu Tôn v.v. Mọi kế hoạch hành
động đều do Vơ Đ́nh Cường và Nguyễn
Trực soạn thảo theo chỉ thị và hướng
dẫn của Lê Tự Đồng, Bí Thư Khu ủy và
Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế của
VC.
Ngày 1.4.1966, Trung Tướng Phan Xuân
Chiểu đă ra Huế để dàn xếp các vụ
lộn xộn th́ bị Thượng Tọa Thích Trí
Quang ra lệnh bắt giữ làm con tin,
không cho trở về Saig̣n. Tướng Thi
kể lại rằng chính ông đă can thiệp
để Tướng Chiểu được thả ra. Sau đó,
các lực lượng quân đội theo phe
Thích Trí Quang đứng lên cướp chính
quyền ở Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam,
hô hào dân chúng vơ trang chống
Thiệu Kỳ. Tại Quảng Trị và Quảng
Ngăi, quân đội c̣n giữ được.
Ngày 2.4.1966, Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng cho vây Đài Phát Thanh
Saig̣n, hô khẩu hiệu "Đả đảo
Thích Tâm Châu" và "Hoan hô
Hồ Chí Minh".
Ngày 3.4.1966, Tướng Nguyễn Cao Kỳ
họp báo tuyên bố coi như Huế và Đà
Nẵng đă mất vào tay CS. Bác sĩ
Nguyễn Văn Mẫn, Thị Trưởng Đà Nẵng,
đă ra lệnh đ́nh công băi thị để
chống chính quyền trung ương và dùng
công quỹ tổ chức biểu t́nh. Chiến
dịch bài Mỹ được phát động để ly
gián giữa VN Cộng Ḥa và Đồng Minh
nhằm cô lập VN Cộng Ḥa. Tướng Kỳ
cho biết sẽ đưa quân đội đến giải
phóng Đà Nẵng.
Đại Tá Đàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt
Khu Quảng Đà đứng hẳn về phía Thích
Trí Quang. Ông huấn luyện quân sự,
cấp vũ khí cho các thanh niên Phật
tử và tổ chức họ thành những đơn vị
chiến đấu. Một số binh sĩ theo ông
đă bỏ ngũ gia nhập lực lượng này.
Nhưng Đại Tá Đàm Quang Yêu là một sĩ
quan có tŕnh độ kiến thức quá thấp,
tính t́nh lại nông nổi, nóng nảy và
cộc cằn nên không đủ khả năng làm
được việc lớn và không đoán trước
trước được những hậu quả của việc
ông đang làm.
Hoa Kỳ ra lệnh tản cư các cơ quan
của Hoa Kỳ ra khỏi thị xă Đà Nẵng.
Đại Tá Đàm Quang Yêu cho thiết lập
các công sự chiến đấu ở các chùa tại
Đà Nẵng và hô hào dân chúng dùng mọi
phương tiện để chống lại quân đội
Thiệu-Kỳ. Trong lúc đó, Tướng Kỳ ban
hành quyết định cất chức Bác Sĩ
Nguyễn Văn Mẫn và cử Trung Tá Mă
Sanh Nhơn, Tỉnh Trưởng B́nh Long,
làm Thị Trưởng Đà Nẵng.
Ngày 5.4.1966, Tướng Nguyễn Cao Kỳ
đích thân dẫn hai tiểu đoàn ra Đà
Nẵng hội đàm với Thiếu Tướng Chuân
và lên tiếng kêu gọi đồng bào hợp
tác với chính phủ. Khi Tướng Kỳ lui
về Saig̣n th́ các tiểu đoàn dù được
chuyển tạm vào căn cứ Chu Lai của
Hoa Kỳ ở Quảng Tín, gần sát Đà Nẵng.
Bác Sĩ Nguyễn Văn Mẫn và khoảng 400
binh sĩ đă kéo đến lập một căn cứ
pḥng thủ tại chùa Phổ Đà. Khi máy
bay lượn trên thành phố rải truyền
đơn kêu gọi đồng bào hợp tác với
chính phủ để diệt trừ các cuộc nổi
loạn do CS giựt dây th́ chuông các
chùa Phổ Đà, Tỉnh Hội, Vĩnh Hội,
Phật Học, Phổ Thiên, Giảng Đường, Vu
Lan.. được khua lên inh ỏi. Sau đó
là tiếng trống, thùng thiếc, phèng
la, mơ.. kêu vang cả thành phố.
Trong lúc t́nh h́nh Đà Nẵng căng
thẳng th́ Thượng toạ Thích Tâm Châu
tuyên bố trước 10.000 Phật tử rằng
ông vẫn chủ trương tiếp tục đấu
tranh ôn ḥa và đ̣i trong 3 tháng
phải có chính phủ dân cử và Quốc
Hội. Ông sẵn sàng lănh những viên
đạn của những Phật tử quá khích. Một
cuộc thương lượng giữa chính phủ và
Viện Hóa Đạo được xúc tiến nhanh
chóng và có kết quả. Ngày 7.4.1966,
Thượng Tọa Thích Tâm Châu kêu gọi
Phật tử ngưng các cuộc đấu tranh
bằng vơ lực ở miền Trung. Để đổi
lại, chính phủ hứa sẽ không bắt bớ
những người đă đấu tranh vơ trang và
rút quân ra khỏi Đà Nẵng. Đại Hội
Phật Giáo Thế Giới đang họp tại Tích
Lan đă lên tiếng ủng hộ lập trường
của Thượng Tọa Thích Tâm Châu. Ngày
9.5.1966, Ḥa Thượng Tổng Thư Kư
Giáo Hội Tăng Già Tích Lan đă gởi
cho Thượng Tọa Thích Tâm Châu một
văn thư khen ngợi và tỏ ư hoan hỷ
khi biết Thượng Tọa đă tránh được
cho Phật Giáo một cuộc chiến tranh
với chính phủ. Nhưng việc này đă làm
cho Thượng Tọa Thích Trí Quang và Vơ
Đ́nh Cường nổi giận. Thượng Tọa
Thích Trí Quang công khai chỉ trích
Viện Hóa Đạo và tuyên bố không chấp
nhận kết quả do Viện Hóa Đạo công
bố, đ̣i bộ ba Thiệu-Kỳ-Có phải ra
đi.
Ngày 8.4.1966, Thượng Tọa Thích
Thiện Minh tuyên bố lập "Ủy Ban
Tranh Đấu chống Chính Phủ" v́ các
tướng lănh, nhất là tướng Nguyễn Văn
Thiệu, đă không giữ lời cam kết.
Phật Giáo sẽ chống đến cùng, dù phải
đổ máu. Khi Thích Thiện Minh công
khai tuyên chiến với chính quyền th́
Thượng Tọa Thích Trí Quang tuyên bố
ngược lại. Ông kêu gọi Phật tử tạm
ngưng các cuộc đấu tranh ở Huế và Đà
Nẵng để đợi chính quyền giữ lời hứa.
Lời kêu gọi này đă làm Thượng Tọa
Thích Thiện Minh bực tức vô cùng.
Giữa Thượng Tọa Thích Trí Quang và
Thích Thiện Minh không bao giờ có sự
đồng ư với nhau, khi trống đánh xuôi
th́ kèn thổi ngược. Thượng Tọa Thích
Trí Quang lo sợ Thượng Tọa Thích
Thiện Minh sẽ cướp công đầu sau khi
cuộc tranh đấu đem lại thắng lợi nên
t́m cách gạt tất cả các tổ chức của
Thích Thiện Minh ra một bên. Mặc cho
những chỉ thị ngược lại của Thượng
Tọa Thích Trí Quang, ngày 19 và
20.4.1966, Thượng Tọa Thích Thiện
Minh mở các cuộc thuyết pháp liên
tục và tuyên bố Phật Giáo đang bị
khiêu khích, có thể có đảo chánh
trong tuần tới, trừ khi chính phủ
chấm dứt mọi hành động chống đối
Phật Giáo.
Ngày 9.4.1966, Tướng Tôn Thất Đính
được cử làm Tư Lệnh Vùng I thay thế
Tướng Nguyễn Văn Chuân. Hai tướng
Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đă
năn nỉ Tướng Tôn Thất Đính giải
quyết giúp vụ miền Trung v́ tin rằng
Tôn Thất Đính cũng là một con gà của
Phật Giáo, có thể làm công việc đó
được Nhưng khi đến Huế, Tướng Đính
lại theo phe Thích Trí Quang và chửi
hai tướng Thiệu-Kỳ giữa ba quân.
Ngày 17.4.1966, Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng bắt giữ ông Nguyễn Hữu
Chi, Tỉnh Trưởng Quảng Nam và ông
Quận Trưởng Ḥa Vang cùng một số
người được coi là thân chính phủ
Nguyễn Cao Kỳ. Tại Đà Lạt, Lực Lượng
bắt giữ Đại úy Quân Vụ Thị Trấn, đốt
quân xa và đuổi đánh quân cảnh. Quân
đội phải nổ súng.
Khi thấy nhóm Phật Giáo cực đoan quá
lộng hành, Khối Công Dân Công Giáo
và các tổ chức đảng phái đă lên
tiếng phản đối một cách mạnh mẽ.
Thượng Tọa Thích Liễu Minh thuyết
pháp tại Viện Hóa Đạo, khen ngợi
thiện chí của chính quyền và yêu cầu
Phật tử ngưng các cuộc bạo động,
ngưng đ̣i ḥa b́nh v́ chưa đúng lúc.
Khối Công Dân Công Giáo biểu t́nh ở
Đà Nẵng, Thủ Đức và Saig̣n chống các
cuộc bạo loạn ở miền Trung, tố cáo
chính phủ nhu nhược và đả đảo Đại Sứ
Cabot Lodge. Tổng Hội Sinh Viên
Saig̣n lập Ủy Ban Bảo Vệ Tổ Quốc và
Dân Quyền, chống lại các vụ lộng
quyền tại các tỉnh miền Trung.
Ngày 21.5.1966, Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng cho tung ra tại Huế, Đà
Nẵng và Saig̣n một loạt truyền đơn
thăm ḍ. Truyền đơn kêu gọi đưa
Thượng Tọa Thích Trí Quang ra làm
Quốc Trưởng và Trần Quang Thuận làm
Thủ Tướng. Truyền đơn này cho thấy
rơ mục tiêu và tham vọng của nhóm
bạo động. Các cuộc náo loạn tại Huế,
Đà Nẵng và Đà Lạt vẫn tiếp tục.
Báo chí Mỹ mở chiến dịch ca tụng
Thượng Tọa Thích Trí Quang như là
một lănh tụ chính trị lỗi lạc của
VN, có thể trở thành Quốc Trưởng.
Mục tiêu của chiến dịch này nhằm
thúc đẩy các lực lượng đấu tranh vơ
trang tiến xa hơn một chút nữa, gây
náo loạn và bất măn trong quần chúng
để Tướng Kỳ có lư do xử dụng quân
đội đánh dẹp. Cả Thượng Tọa Thích
Trí Quang lẫn Vơ Đ́nh Cường đều
không ư thức được chiến dịch thâm
hiểm đó, đă thừa thắng xông lên. Đại
Tá Đàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt Khu
Quảng Đà, một đệ tử của Thượng Tọa
Thích Trí Quang, đă phối hợp các lực
lượng Phật tử do ông huấn luyện và
các binh sĩ đào ngũ thành những đơn
vị chiến đấu, chiếm thành phố Đà
Nẵng, biến hai chùa Tỉnh Hội và Phổ
Đà thành hai căn cứ vơ trang chống
chính phủ. Ở Huế, lực lượng quân sự
do Bửu Tôn thành lập đă thu nạp được
một số binh sĩ và thanh niên Phật tử
lên đến hai tiểu đoàn. Bửu Tôn là
Huynh Trưởng Gia Đ́nh Phật Tử ở Huế,
không biết ǵ về quân sự nhưng được
Thượng Tọa Thích Trí Quang và Vơ
Đ́nh Cường tin cậy nên giao cho chỉ
huy lực lượng vơ trang. Lực lượng
này làm chủ t́nh h́nh ở Huế, ban
hành mọi mệnh lệnh và muốn bắt giam
ai cũng được. Bửu Tôn đă nhiều lần
đem quân tấn công các giáo xứ Công
Giáo tại quận Phú Vang v́ cho rằng
các giáo xứ đó thân chính quyền. Các
giáo xứ này phải tổ chức tự vệ v́
Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, Sư Đoàn
Trưởng Sư Đoàn I và Trung tá Trần
Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên
kiêm Thị Trưởng Huế, không dám động
đến lực lượng của Bửu Tôn. Tướng
Nhuận chỉ cho một tiểu đoàn của Sư
Đoàn I vào Huế để bảo vệ các cơ sở
của Hoa Kỳ.
Cũng như ở Huế, các giáo xứ Công
Giáo tại Đà Nẵng tự động vơ trang để
tự vệ v́ chính quyền đă nằm trong
tay Lượng Tranh Thủ Cách Mạng. Lực
Lượng này đă nhiều mở cuộc tấn công
giáo xứ Tam Ṭa trong thành phố Đà
Nẵng nhưng bị đẩy lui. Thỉnh thoảng
lại xẩy ra các cuộc giao tranh trên
đường phố giữa lực lượng của Thượng
Tọa Thích Trí Quang và các toán tự
vệ Công Giáo. Các toán tự vệ này mở
rộng pḥng tuyến ra các đường Thống
Nhất, Quang Trung, Nguyễn Hoàng,
Trần Cao Vân, Khải Định, Gia Long,
Đống Đa.. để bảo vệ các giáo xứ
Thạch Gián, Tam Toà, Thanh B́nh,
Thanh Bồ và Đức Lợi. Đường dọc theo
biển đều do các tự vệ Công Giáo tuần
tra nên rất an toàn. Thỉnh thoảng
các toán tự vệ Công Giáo phải mở thế
công để áp đảo tinh thần làm cho lực
lượng của Thượng Tọa Thích Trí Quang
không dám bung ra xa, nhờ vậy giáo
dân sống an toàn. Kinh nghiệm cho
thấy, để đối phó với các nhóm cực
đoan này, chỉ có thế công mới ngăn
chặn được. Phải làm cho họ thấy rằng
đường phố không phải là của họ, muốn
làm ǵ th́ làm.
Ngày 30.4.1966, Đại Sứ Cabot Lodge
tuyên bố trở về Mỹ thảo luận về t́nh
h́nh VN. Các nhà b́nh luận tại
Saig̣n viết rằng khi một Đại Sứ Hoa
Kỳ tuyên bố như vậy th́ phải coi như
số phận của phong trào Phật Giáo
miền Trung đă được quyết định. Sau
khi ra lệnh cho các tướng lănh VN
đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm, Đại Sứ Cabot Lodge cũng tuyên
bố giống hệt như vậy.
Ngày 15.5.1966, trong khi Cảnh Sát
mở cuộc lục soát các trung tâm xuất
phát những vụ náo loạn ở Saig̣n như
trụ sở Thanh Niên Phật Tử, Tổng Liên
Đoàn Lao Động... Tổng Thống Thiệu
thông báo các cuộc hành quân tái lập
an ninh và trật tự ở Đà Nẵng đang
được tiến hành. Thiếu Tướng Huỳnh
Văn Cao được cử thay thế Thiếu Tướng
Tôn Thất Đính làm Tư Lệnh Quân Đoàn
I.
Nghe tin Tướng Huỳnh Văn Cao được cử
làm Tư Lệnh Vùng I, phe Phật Giáo
miền Trung phản ứng mạnh mẽ v́ tướng
Huỳnh Văn Cao vừa là người Công Giáo
vừa là tay chân thân tín của Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm. Đây là một
thành phần đang bị Thượng Tọa Thích
Trí Quang t́m diệt. V́ thế, khi đến
nhận chức tại Đà Nẵng, người ta thấy
không có chỗ nào an toàn cho Tướng
Huỳnh Văn Cao cư ngụ cả. Ngày
17.5.1966, khi Tướng Huỳnh Văn Cao
lên máy bay Hoa Kỳ đi thị sát Quân
Đoàn I th́ Thiếu úy Nguyễn Trọng
Thức nằm trong lực lượng đấu tranh
của Phật Giáo đă xả súng bắn nhưng
không trúng. Xạ thủ trực thăng Hoa
Kỳ đă dùng đại liên bắn lại khiến
Nguyễn Trọng Thức chết tại chỗ và 6
binh sĩ khác trong lực lượng đấu
tranh bị thương.
Khi Tướng Huỳnh Văn Cao trở lại
Saig̣n, tôi đến ngay để phỏng vấn
ông về t́nh h́nh miền Trung. Ông cho
biết nếu không có các Cố Vấn Mỹ
trong Quân Đoàn đi sát hai bên ông,
ông đă bị các binh sĩ thuộc phe
tranh đấu ám sát Những ngày ở Đà
Nẵng ông phải tá túc trong căn cứ
của Hoa Kỳ và đi quan sát bằng trực
thăng của Hoa Kỳ. Ông tiết lộ thêm
rằng Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng
Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, đang chỉ
huy các đơn vị Cảnh Sát Dă Chiến
đánh chiếm các vị trí trong thành
phố Đà Nẵng, cũng có lần định ám sát
ông. Sau một cuộc trao đổi, Tướng
Loan đă chắp tay vái ông hai vái như
một lời xin lỗi trước khi hành động
nhưng nhờ các cố vấn Hoa Kỳ che chở
nên sự việc đă không xẩy ra. Lúc đó
Tướng Cao không cho chúng tôi biết
lư tại sao có vụ mưu sát của Tướng
Loan, nhưng sau này t́m hiểu thêm,
chúng tôi được biết rằng sở dĩ có vụ
mưu sát này là Tướng Cao không chấp
hành thượng lệnh. Hai Tướng Nguyễn
Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đưa Tướng
Cao ra Đà Nẵng là để chống lại lực
lượng Phật Giáo chớ không phải
thương lượng, trong khi đó Tướng Cao
lại chủ trương thương lượng để ngưng
chiến. Tướng Kỳ muốn chấm ngay vai
tṛ của Tướng Cao để đưa một tướng
khác đến.
Trong vụ này, chúng tôi thấy Tướng
Huỳnh Văn Cao có hai lầm lẫn lớn khi
nhận đi làm Tư Lệnh Vùng I. Lầm lẫn
thứ nhất là không nhận ra dụng ư của
hai tướng Thiệu-Kỳ. Hoa Kỳ đang cố
t́nh gài cho phong trào Phật Giáo
miền Trung đi quá trớn rồi diệt chứ
không muốn thương lượng dây dưa.
Thương lượng với nhóm này chỉ mang
hậu họa, v́ bất cứ lúc nào họ cũng
có thể đưa ra mục tiêu mới để nói
ngược và làm ngược lại một cách dễ
dàng. Cách tốt nhất là thanh toán
dứt điểm. Ông không muốn đánh mà chỉ
muốn đàm, tức đă đi ngược lại chủ
trương của cả hai tướng Thiệu-Kỳ và
Hoa Kỳ. Lầm lẫn thứ hai là ông tin
tưởng ông có thể thương lượng được
với nhóm Phật Giáo cực đoan miền
Trung. Ông không ư thức được rằng
Thượng Tọa Thích Trí Quang và Vơ
Đ́nh Cường đều là những thành phần
Phật Giáo cực đoan, không bao giờ
chấp nhận nói chuyện với ông v́ ông
vừa là người Công Giáo, vừa là tay
chân thân tín của Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm. Ông thuộc vào loại dư
đảng Cần Lao gộc đang bị Thượng Tọa
Thích Trí Quang t́m diệt, làm sao có
thể nói chuyện với nhau được? Nếu
cần một người đi thương lượng, chắc
chắn hai tướng Thiệu và Kỳ đă không
dùng ông. Ông được trở về Saig̣n an
toàn là cả một sự may mắn.
Xác chết của Thiếu úy Nguyễn Trọng
Thức đă được đưa về Huế và được rước
đi trên đường phố để kích động Phật
tử và binh sĩ chống chính phủ và
nhất là chống Tướng Công Giáo Huỳnh
Văn Cao.
Năm tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến
được chở bằng phi cơ ra Đà Nẵng đă
mở cuộc hành quân chớp nhoáng tái
chiếm thành phố Đà Nẵng, đài phát
thanh và làm chủ t́nh thế. Lực Lượng
Phật Giáo rút về đóng trong hai chùa
Tỉnh Hội và Phổ Đà. Một đơn vị Thủy
Quân Lục Chiến kẻo tới vây Chùa Phổ
Đà, đ̣i thả 17 binh sĩ bị bắt. 14
binh sĩ được trả về với đầy đủ vơ
khí.
Thích Trí Quang kêu cứu Hoa Kỳ!
Khi t́nh h́nh bắt đầu nguy ngập,
ngày 15.5.1966, từ Huế, Thượng Tọa
Thích Trí Quang đă gởi một điện văn
nhờ Tổng Thống Johnson can thiệp.
Ông vẫn tin rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ
Phật Giáo như đă ủng hộ trong thời
kỳ chống chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.
Trong điện văn này ông kêu gọi
"Chính phủ Hoa Kỳ cần t́m cách ngăn
chặn cuộc đàn áp Phật Giáo VN". Ngày
17.5.1966, Tổng Thống Johnson đă
tuyên bố với báo chí rằng ông và
chính phủ Hoa Kỳ sẽ ủng hộ quân đội
VN Cộng Ḥa để quân đội này có vai
tṛ trọng yếu trong chính phủ tương
lai. Ông kêu gọi Quân Lực VN Cộng
Ḥa chấm dứt nhanh chóng các vụ các
vụ xâu xé nội bộ để chống cộng và
thực hiện dân chủ. Sau đó Ngoại
Trưởng Dean Rush đă thông báo cho
Thượng Tọa Thích Trí Quang biết Hoa
Kỳ không thể can dự vào các vấn đề
thuộc chủ quyền của VN và cũng không
nhúng tay vào các vụ đàn áp đối lập
của Tướng Kỳ. Ông khuyên nên tập
trung mọi nỗ lực vào việc chống
Cộng.
Ngày 20.5.1966 Thượng Tọa Thích Trí
Quang lại lên tiếng kêu gọi Tổng
Thống Johnson can thiệp gấp. Ông yêu
cầu Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có
hành động, nếu không sẽ cho Lực
Lượng Tranh Thủ Cách Mạng phá phi
trường Đà Nẵng. Không nghe Hoa Kỳ
trả lời ǵ, ngày 22.5.1966 ông ra
lệnh cho Lực Lượng bắn phá phi
trường Đà Nẵng. Một phi cơ Hoa Kỳ bị
hư hại và một số binh sĩ Hoa Kỳ bị
thương. Nhiều phi cơ Mỹ phải bay đến
các căn cứ khác. Các căn cứ quân sự
Mỹ được lệnh nổ súng nếu bị tấn
công.
Dùng áp lực quân sự không có kết
quả, ngày 25.5.1966, Thượng Tọa
Thích Trí Quang lại lên tiếng yêu
cầu Tổng Thống Johnson và Quốc Hội
Hoa Kỳ ngưng yểm trợ cho chính phủ
Nguyễn Cao Kỳ!
Đà Nẵng được giải thoát
Tướng Dư Quốc Đống đă được phái đến
Đà Nẵng để chỉ huy chiếm lại thành
phố. Ngày 18.5.1966, Tướng Nguyễn
Cao Kỳ đă yêu cầu Viện Hóa Đạo kêu
gọi các tăng sĩ ở Đà Nẵng đừng chứa
chấp các lực lượng đấu tranh trong
chùa hoặc rời khỏi hai chùa Tỉnh Hội
và Phổ Đà gấp.
Ngày 20.5.1966, chính phủ Nguyễn Cao
Kỳ ra lệnh cho các tướng Nguyễn
Chánh Thi và Tôn Thất Đính phải ra
tŕnh diện đồng thời đ̣i hỏi Chuẩn
Tướng Phan Xuân Nhuận, Tư Lệnh Sư
Đoàn I, phải dứt khoát tư tưởng,
không thể đứng giữa được.
Ngày 22.5.1966 cuộc tấn công vào hai
chùa Tỉnh Hội và Phổ Đà bắt đầu. Chỉ
trong một thời gian ngắn, khoảng 600
binh sĩ và thanh niên Phật tử tử thủ
ở chùa Phổ Đà và các vùng lân cận đă
ra đầu hàng, 30 nhà báo bị bắt giữ
làm con tin đă được giải phóng. Tại
chùa Tỉnh Hội, các binh sĩ và thanh
niên Phật tử cũng chịu buông súng, 4
phóng viên của hai hăng thông tấn
UPI và AP đă được giải thoát. Hơn
1.000 khẩu súng các loại được t́m
thấy trong chùa Tỉnh Hội và 30 xác
chết đă śnh thối. Bác Sĩ Nguyễn Văn
Mẫn bị bắt đưa vào Saig̣n. Báo cáo
sơ khởi cho biết đă có 76 người
chết. Thiếu Tướng Tôn Thất Đính theo
một số tàn quân chạy ra Huế.
Huế kháng cự vô vọng
Thanh toán xong Đà Nẵng, lực lượng
Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến tiến
ra Đà Nẵng bằng đường bộ qua đèo Hải
Vân. Lực lượng của Bửu Tôn phục kích
hai bên quốc lộ 1. Bửu Tôn cho thành
lập một Tiểu Đoàn Quyết Tử lấy tên
là Tiểu Đoàn Nguyễn Trọng Thức để cố
thủ ở Huế. Trung Tá Trần Văn Khoa
đem chừng 1.000 quân trung thành với
chính phủ về đóng ở Quận Hương Thủy.
Nhưng khi các đơn vị Nhảy Dù và Thủy
Quân Lục Chiến tiến vào Huế th́ Tiểu
Đoàn Quyết Tử bỏ súng chạy. Quân Đội
chiếm thành phố Huế một cách dễ
dàng.
Ngày 31.5.1966, Tướng Hoàng Xuân Lăm
được cử làm Tư Lệnh Vùng I thay thế
Tướng Huỳnh Văn Cao. Trung tá Trần
Văn Khoa đem quân về lại Huế, công
bố lệnh giới nghiêm và yêu cầu Lực
Lượng Tranh Thủ của Thượng Tọa Thích
Trí Quang đem vũ khí đến nạp. Bửu
Tôn đầu hàng và đem 520 vơ khí các
loại ra giao nạp. An ninh tại Huế đă
được tái lập. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I
rút khỏi Huế.
Lá bài chót : cho bàn thờ xuống
đường
Khi mặt trận quân sự hoàn toàn thất
bại, ngày 6.6.1966 Thượng Tọa Thích
Trí Quang ra lệnh cho Phật tử đem
bàn thờ xuống đường và phát động
chiến dịch tự thiêu. Ni cô Thích Nữ
Thanh Quang tự thiêu ở chùa Diệu Đế
(Huế), cô Hồ Thị Châu tự thiêu ở
Viện Hóa Đạo, nữ sinh Nguyễn Thị Vân
tự thiêu ở chùa Thành Nội (Huế), Ni
cô Thích Nữ Bảo Luân tự thiêu ở Viện
Hóa Đạo, một em học sinh 15 tuổi tự
thiêu ở Qụảng Trị v.v. Thượng Tọa
Thích Trí Quang tin rằng Quân Đội
không dám đụng đến bàn thờ và chiến
dịch tự thiêu sẽ làm thế giới rúng
động như năm 1963, nhưng ông lầm.
Tướng Kỳ đă ra lệnh cho Cảnh Sát Dă
Chiến và Thuỷ Quân Lục Chiến xúc tất
cả bàn thờ ở Huế cũng như Saig̣n.
Ngày 3.6.1966, phát ngôn viên của
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Saig̣n lên
tiếng xác định : Đang có chiến dịch
bạo động và tự thiêu nhằm áp lực
chính phủ Hoa Kỳ can thiệp vào nội
bộ VN, nhưng chính phủ Hoa Kỳ vẫn
tiếp tục giữ thái độ bất can thiệp
như cũ.
Xử dụng tất cả mọi phương thức vẫn
không đem lại kết quả, Thượng Tọa
Thích Trí Quang đành ngồi tuyệt
thực. Trong khi đó, Thượng Tọa Thích
Tâm Châu dẫn một Ủy Ban Phật Giáo
mới thành lập gồm 6 người đến Dinh
Gia Long gặp Ủy Ban Lănh Đạo Quốc
Gia để thương thuyết. Ông yêu cầu
Phật tử ngưng các cuộc đấu tranh để
cùng chính quyền tổ chức các cơ cấu
dân chủ, nhưng hai Thượng Tọa Thích
Thiện Minh và Thích Trí Quang đều
phản đối. Ngày 17.6.1966, An Ninh
Quân Đội đă bắt vợ của Giáo Sư Lê
Tuyên cùng một sinh viên tranh đấu ở
Huế và đưa Thượng Tọa Thích Trí
Quang lên máy bay về Saig̣n cho ở
Bệnh Viện Duy Tân của Bác Sĩ Nguyễn
Duy Tài để chữa bệnh và bảo vệ. Ngày
22.6.1966, Giáo Sư Lê Tuyên ra tŕnh
diện và bị bắt đưa vào Saig̣n.
Kết quả cuộc tái chiếm Huế : 7 binh
sĩ bị thương, tạm giữ 190 quân nhân
ly khai, 109 công chức và 35 cảnh
sát tham gia Lượng Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng.
Tướng Nguyễn Chánh Thi cho biết
trong cuộc đánh chiếm Đà Nẵng và Huế
nói trên đă có tất cả 242 người vừa
chết bị thương.
Ngày 26.6.1966 Thượng Tọa Thích Trí
Quang "tuân lệnh của Đức Tăng Thống"
đă ngưng tuyệt thực.
Ngày 27.6.1966 Tướng Nguyễn Cao Kỳ
họp báo tại Huế nói : "Công nhận
được làm vua thua làm giặc nhưng
không công nhận được làm vua, thua
th́ ḥa".
Giáo sư Lê Tuyên bị bắt tại Huế ngày
21.6.1966, đă tuyên bố trong cuộc
họp báo ngày 24.6.1966 tại Saig̣n
rằng Thượng Tọa Thích Trí Quang mới
là người chủ động, ông chỉ là người
thừa hành mà thôi.
Một vụ truy tố và xét xử kỳ lạ
Măi đến 19.12.1967, khi Giáo Hội
Phật Giáo VN Thống Nhất đă bị bể ra
làm hai, nội bộ tranh chấp nhau,
không c̣n khả năng quấy phá nữa, vụ
nổi loạn tại miền Trung mới được đưa
ra xét xử trước Ṭa án Quân Sự Mặt
Trận Biệt Khu Thủ Đô và Vùng III
Chiến Thuật. Có tất cả 26 bị cáo
được đưa ra ṭa, trong đó có Đại Tá
Đàm Quang Yêu, Đại Tá Nguyễn Văn Mô
và Bác Sĩ Nguyễn Văn Mẫn và Giáo Sư
Lê Tuyên. Các bị cáo bị truy tố về
tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội
phản nghịch chiếu theo các điều luật
sau đây :
- Điều 4 đoạn 1 Dụ số 47 ngày
21.8.1956.
- Điều 1 đoạn và điều 11 Luật số
10/59 ngày 6.5.1959.
- Điều 59-60 Bộ H́nh Luật Canh Cải.
Hồ sơ nội vụ và bản cáo trạng cho
thấy tội phạm của các bị cáo đă quá
hiển nhiên, không có ǵ phải tranh
luận. Các luật sư chỉ căi chày căi
cối giúp vui cho phiên ṭa mà thôi.
Chúng ta hăy nghe Luật Sư Vơ Văn
Quan kể lại chuyện ông biện hộ cho
Bác Sĩ Nguyễn Văn Mẫn:
"Tôi vô khám Chí Ḥa tiếp xúc với
bác sĩ Mẫn sau khi đă xem hồ sơ tại
Pḥng Lục Sự của Ṭa Quân sự ở bến
Bạch Đằng. Tôi không được quen với
bác sĩ Mẫn và trong vụ này tôi liên
lạc với Thượng Tọa Trí Quang nhiều
hơn là với ông, nên tôi không c̣n
nhớ h́nh dáng của bác sĩ Mẫn. Một
chuyện đặc biệt này tôi c̣n nhớ rơ.
Lần đó, bác sĩ Mẫn rất dè dặt trong
khi bàn luận với tôi. Tôi nói với
ông rằng phương pháp làm việc của
tôi là nhờ thân chủ làm một tờ
mémoire kể đầy đủ chi tiết về những
sự kiện đă xảy ra và những lư lẽ mà
thân chủ muốn tôi căn cứ vào để biện
hộ. Như vậy tôi có tài liệu cần
thiết để nghiên cứu và thảo luận với
thân chủ về chiến thuật sẽ cùng nhau
xử dụng trước Ṭa. Bác sĩ Mẫn dè dặt
bảo tôi ông cần suy nghĩ có nên làm
một tờ tŕnh bày trường hợp của ông
để giao cho tôi hay không. Tôi thông
cảm rằng đối với ông dầu sao tôi
cũng chỉ là một người lạ, một luật
sư không phải do ông hay người nhà
của ông chọn, tức nhiên ông ngần
ngại không dám tiết lộ những bí mật
của ông. Ông đồng ư để rồi bàn việc
này lại với "Thầy".
Tôi điện thoại đến nhà Giao (tôi
không biết số điện thoại của Thượng
Tọa, dầu biết, tôi cũng không gọi
tới v́ chắc chắn điện thoại bị công
an nghe lén). Tôi nhờ Giao thuật
chuyện này lại với Thượng Tọa. Mấy
hôm sau, Giao đem đưa cho tôi lá thư
gởi cho bác sĩ Mẫn, vắn tắt có mấy
chữ:
"Anh Mẫn,
Làm mémoire đi.
Ông già."
Nét chữ cũng rắn rỏi như cái mệnh
lệnh. Chừng đó tôi mới biết rằng
trong giới thuộc hạ của ông tiếng
lóng để ám chỉ ông là "Ông Già".
Tôi trở vô khám Chí Ḥa đưa lá
thư-cái mệnh lệnh- đó là (cho?) bác
sĩ Mẫn. Ông liền hẹn tôi hôm sau sẽ
có tờ mémoire ngay. Ông già oai
thật!
"Phiên Ṭa xử các bị can trong vụ
gọi là biến động miền Trung này cũng
rất náo nhiệt, phóng viên quốc nội
và quốc tế đều theo dơi khá đông.
Một diễn tiến tôi c̣n nhớ là Thượng
Tọa Trí Quang nhờ tôi đưa một văn
thơ của ông cho ông Chánh Thẩm. Để
chắc chắn rằng nội dung văn thơ ấy
được phổ biến, nên trước khi trao,
tôi lớn tiếng đọc trước Ṭa. Trong
thơ, Thượng Tọa tuyên bố sẵn sàng ra
Ṭa khai rơ về những việc đă xảy ra
tại miền Trung và đảm nhận tất cả
trách nhiệm v́ chính ông lănh đạo
cuộc tranh đấu ấy.
Dĩ nhiên Ṭa không mời Thượng Tọa
Trí Quang ra làm nhân chứng để ông
không dùng phiên Ṭa làm diễn đàn
chánh trị. C̣n truy tố ông, nếu "họ"
dám th́ đă làm từ lâu.
Dầu sao, tôi cũng xử dụng lời lẽ
trong văn thơ đó trong sự biện hộ
của tôi.
Được Ṭa trao lời, tôi tŕnh bày
đại khái như sau.
Điều hiển nhiên là các bị can tranh
đấu đ̣i phải thành lập Quốc Hội Lập
Hiến, Quốc Hội này thảo Hiến Pháp
làm nền tảng pháp lư cho các cơ quan
lănh đạo quốc gia thành h́nh sau một
cuộc bầu cử. Không ai có thể bảo
rằng đ̣i hỏi ấy là yêu sách không
chánh đáng, bất hợp pháp. Chính
những người t́m cách lẩn tránh,
không chịu đáp ứng sự đ̣i hỏi ấy,
mới là người hành động bất
chánh...
Nếu đó là một cái tội th́ tại sao
Thượng Tọa Thích Trí Quang, người
lănh đạo sự tranh đấu ấy, người đă
gởi văn thư xác nhận phân minh trước
Quí Ṭa rằng ông lănh đạo sự tranh
đấu, lại không bị truy tố?
Người lănh đạo, kẻ chủ mưu không
bị truy tố th́ tại sao những người
chỉ có đi theo sự lănh đạo ấy lại bị
truy tố?
Tôi xin Quí Ṭa tha bổng các bị can."(17)
Những điều Luật Sư Vơ Văn Quan nêu
ra để biện hộ như mục tiêu tranh đấu
là chánh đáng hay tại sao không truy
tố người chủ mưu... đều không phải
là những yếu tố luật định có thể gỡ
tội hay giảm khinh cho các bị cáo.
Tướng Lê Quang Vinh bị Ṭa án Quân
Sự tuyên phạt tử h́nh ngày 4.7.1956
cũng đă bị truy tố và xét xử về các
tội tương tự. Nhưng ai cũng biết
rằng Ṭa án Quân Sự Mặt Trận là một
toà án chính trị, không xử theo luật
mà xử theo lệnh nên Luật sư Vơ Quan
mới đưa chính trị vào pháp đ́nh để
giỡn chơi với toà. Kết quả, ngày
22.12.1967, sau khi nghị án, Ṭa
tuyên phạt hai Đại Tá 10 năm khổ
sai, một sĩ quan và Bác Sĩ Mẫn 10
năm tù ở, 21 bị cáo được tha bổng.
Chỉ ít lâu sau Bác Sĩ Mẫn và sĩ quan
nói trên được ân xá, nhưng không thể
trở lại binh nghiệp nữa.
VC KIỂM ĐIỂM THÀNH QUẢ
Khi cuộc nổi loạn của Phật Giáo miền
Trung do Thượng Tọa Thích Trí Quang
và Vơ Đ́nh Cường trực tiếp lănh đạo
từ 1964-1966 đă bị đánh bại, Khu ủy
và Quân Khu Trị-Thiên-Huế đă làm một
bản kiểm điểm về những thành quả thu
được và những khuyết điểm đưa đến
thất bại. Tài liệu này được in trong
cuốn "Chiến trường Trị-Thiên-Huế
Trong Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước
Toàn Thắng" do Ban Tổng Kết
Chiến Tranh Chiến Trường
Trị-Thiên-Huế biên soạn, nhà xuất
bản Thuận Hóa ở Huế xuất bản năm
1985.
Những thắng lợi thu được
Bản kiểm điểm đă mở đầu bằng phần
nhận định tổng quát như sau:
"Thắng lợi của cuộc đồng khởi
cuối năm 1964 và đầu năm 1965 đă
giáng một đ̣n nặng nề vào quốc sách
"ấp chiến lược" của địch đánh dấu
một sự thất bại trong chiến tranh
đặc biệt của đế quốc Mỹ ở
Trị-Thiên-Huế".
Về phần thắng lợi trong chiến dịch
chống Mỹ, Thiệu-Kỳ và đ̣i ḥa b́nh
của Thượng Tọa Thích Trí Quang và Vơ
Đ́nh Cường, bản tường thuật viết như
sau:
"Ở thành phố Huế, dấy lên một
phong trào đấu tranh chống Mỹ của
quần chúng khá sôi nổi và quyết
liệt, cùng với phong trào ly khai
của Sư Đoàn 1 ngụy. Phong trào đă
kéo dài trong 3 tháng 4, 5, 6-1966.
Quần chúng xuống đường đ̣i ḥa b́nh,
chống chiến tranh với khẩu hiệu đ̣i
lật đổ Thiệu Kỳ. Cả Huế vùng lên,
học sinh băi khóa, tiểu thương băi
chợ, công chức băi việc, quần chúng
tổ chức tuần lễ tẩy chay quân Mỹ.
Cuộc đấu tranh đă h́nh thành một mặt
trận rộng răi, thành phong trào liên
minh hành động có tính chất bạo lực
chống Mỹ và tay sai giữa nhân
dân lao động và Sư Đoàn 1 ngụy, đ̣i
ly khai khỏi ngụy quyền Saig̣n. Sinh
viên Huế lập đội sinh viên quyết tử,
học sinh lập đội xung kích, giáo
chức tổ chức lực lượng chống đàn áp.
Hàng trăm sinh viên được điều động
đi học quân sự, các chị tiểu thương
chợ Đông Ba, nữ sinh Đồng Khánh đi
làm cứu thương tiếp tế cho quyết tử
quân v. v...
Nguyên nhân thất bại
Sau khi nêu lên những thắng lợi thu
được, bản kiểm điểm nói về nguyên
nhân cuộc đấu tranh của Phật Giáo
miền Trung đi đến thất bại như sau :
"Trong tháng 5-1966 cả thành phố
Huế hầu như hỗn loạn, ngụy quân ngụy
quyền bị tê liệt. Nhưng do tương
quan lực lượng không cân xứng và sự
lănh đạo trực tiếp của ta chưa đủ
mạnh, địch đưa quân đến đàn áp khốc
liệt và d́m phong trào vào bể máu.
Các đơn vị ly khai đầu hàng, lực
lượng Phật Giáo tan ră, cơ sở của ta
trong phong trào một số bị bắt, một
số rút vào bí mật Phong trào kéo dài
được 96 ngày".
"Trong cán bộ lănh đạo một thời
gian dài có tư tưởng hữu khuynh rất
nặng. Do tư tưởng hữu khuynh nên
trong lănh đạo thiếu tinh thần tấn
công mạnh mẽ và liên tục, chưa mạnh
dạn phát động chiến tranh nhân dân,
giành thắng lợi từng bước, và một
khi đă dành được thắng lợi th́ lập
tức củng cố thắng lợi và tiếp tục
tiến công địch, đập tan mọi phương
sách đối phó của chúng, kiên quyết
đưa phong trào tiến lên".(18)
Xét về nguyên nhân thất bại, phần
thứ nhất bản kiểm điểm nói đúng,
nhưng phần thứ hai có tính cách
cường điệu. Với lực lượng Quân Lực
VN Cộng Ḥa thời đó, không một tổ
chức chiến tranh nhân dân nào do các
Khu ủy phát động có thể tồn tại
được, nhất là khi cuộc chiến tranh
đó bị đa số lên án. Lúc đầu Vơ Đ́nh
Cường và Thích Trí Quang lấy "dư
đảng Cần Lao Thiên Chúa Giáo" làm
chiêu bài kích động Phật tử, nhưng
về sau chính chiêu bài đó lại trở
thành một đối lực không vượt qua
được. Chiến tranh nhân dân bao giờ
cũng chỉ là phương tiện phá rối hay
tạo điều kiện cho một biến cố xẩy
ra. Coi chiến tranh đó như một yếu
tố quyết định thắng lợi là sai lầm.
Đến đây, nhóm Phật Giáo cực đoan
miền Trung không chối căi được rằng
phong trào tranh đấu của Phật Giáo
từ 1963 đến 1966 không phải do CS
chỉ đạo. Chính Khu ủy Trị-Thiên-Huế
của VC đă công khai xác nhận điều
đó. Mục tiêu tranh đấu là mục tiêu
của VC. Phương thức tranh đấu là
phương thức của VC. Một số đông đảo
các cán bộ VC đă nằm trong phong
trào để chỉ huy. Như vậy không có
chuyện chụp mũ nhóm Phật Giáo miền
Trung cực đoan là tay sai của CS.
"Moi tuổi con mèo, sinh đêm 29
tết, số sung sướng nhàn hạ, thường
được người khác làm sẵn cỗ cho ḿnh
hưởng!"
Tướng Dương Văn Minh thường nói với
bạn bè như vậy. Nhưng cái cỗ sau
cùng thiên hạ mới soạn xong, ông
chưa kịp ngồi vào bàn th́ đă bị đá
hất tung lên.
Cuốn "30 tháng 4" của VC xuất bản
năm 1985 cho biết toàn bộ tham mưu
của Dương Văn Minh do khối Phật Giáo
Ấn Quang đưa vào đều là cán bộ CS
nằm vùng gồm Trương Lộc, Hoàng Thái
Nguyên, Nguyễn Ngọc Thạch, Hoàng
Phương Minh, Kỳ Nhân, Cung Văn...
Tất cả nhóm này họp thành "Bộ biên
tập bí mật" của tờ Điện Tín, do Hà
Bá Cang, tức Đinh Bá Thi (Đại sứ Hà
Nội tại LHQ sau này) chỉ huy, đặt
trực thuộc Ban An Ninh T4. Nhóm này
đă liên lạc với phái đoàn VC trong
trại Davit và thúc Dương Văn Minh
đầu hàng.
|