|
I. CẦN LAO LÀ G̀?
Từ-ngữ
“Cần
Lao”
là do tay sai thực-dân
Pháp
bộ-hạ của Quốc-Xă
Đức đặt ra.
Nguyên Thống-Chế
Philippe Pétain
của
Pháp
(một anh-hùng trận-mạc từ thời Đệ Nhất Thế-Chiến), sau khi
quân
Pháp
bị
quân Quốc-Xă
Đức
đánh
bại tại mặt trận vào tháng 6 năm
1940,
đă được quốc-hội Pháp
bầu
làm Quốc-Trưởng, để đối-phó với t́nh-h́nh Quốc-Xă
Đức
đang
tiến chiếm thủ-đô
Paris.
Nhưng ông lại đầu hàng Đức,
tự biến chính-quyền của ḿnh thành bù-nh́n cho Quốc-Xă
Đức
của
Adolf
Hitler
(Phe
Pétain
tự-hào là nhờ có ông đứng ra hợp-tác với
Đức,
thủ-đô
Paris
của
Pháp
mới khỏi bị phi pháo tan-tành).
Chế-độ Pétain
sửa đổi khẩu-hiệu của Cộng-Ḥa Pháp-Quốc (République
Française) nguyên là
“Tự Do
‒
B́nh Đẳng
‒
Bác Ái”
(Liberté
‒
Égalité
‒
Fraternité) thành ra
“Cần
Lao
‒
Gia Đ́nh
‒
Tổ Quốc”
(Travail
‒
Famille
‒
Patrie).
Tiếng
Pháp
“Travail”
(tiếng Anh
là Labor) được bồi bút dịch ra tiếng Việt là
“Cần Lao”
(thay v́
“Lao
Động”).
Cần
Lao
là khẩu-hiệu số 1 trong chương-tŕnh
“Cách-Mạng
Quốc-Gia”
(Révolution Nationale) của
Pétain.
Do đó,
“Cần
Lao”
là một từ-ngữ Việt
do
thực-dân
Pháp
nô-lệ của Quốc-Xă
Đức
đặt ra.
Tại
Việt-Nam,
bọn đồ-đệ văn-hóa của thực-dân
Pháp
nô-lệ Đức
đă có sáng-kiến bắt-buộc mọi người đi xem xi-nê đều phải
đứng nghiêm chào cờ, chiêm-ngưỡng ảnh của Thống-Chế
Pétain,
trong lúc nhạc trỗi bài
“suy
tôn”
ông ta, trước khi phim được chiếu lên. Thanh-niên,
sinh-viên, và học-sinh đều phải học thuộc ḷng mấy bài thơ
phổ nhạc ca-tụng Pétain,
tỉ như:
Debout, belle jeunesse! Voici l'heure d'agir
Et voici la promesse de
toujours obéir!
(Thanh-niên, hăy đứng lên! Đây là giờ hành-động!
Và đây là lời hứa: hăy luôn luôn
vâng lời
!)
Sinh-viên học-sinh mỗi khi hội-họp, diễn-hành, phải hát các
bài hát ấy. Công-chức, dân-chúng nói chung, phải học-tập
các
“huấn-từ (lời nói)”
của
Pétain,
cũng như phải thuộc ḷng bài thơ Đường-luật tiếng
Việt
ca-tụng Pétain
như sau:
Con thuyền nguy-biến lúc
phong-ba
Đứng mũi chịu sào rước Cụ ra
Thời-thế dở-dang trăm nỗi khó
Giang-sơn trông-cậy một ông già
Tám tuần đầu bạc pha sương tuyết
Một tấm ḷng son nặng quốc-gia
“Lời
nói Ma San”
ghi chép đó
Đọc th́ phải hiểu, hỡi dân ta!
“Lời nói Ma San”
(“Les
Paroles du Maréchal”)
là những lời huấn-thị và hiểu-dụ của Thống-Chế
Pétain
(mà thực-dân vong-quốc
Pháp
muốn sánh với
“Khổng-Tử viết”),
và Sở Thông-Tin Pháp
in
thành từng tập sách nhỏ phổ-biến khắp nơi, với mục-đích
khuyến-dụ mọi người hăy luyện đức“vâng
lời”
- chỉ vâng lời
của
Thống-Chế
Pháp
tay sai của Quốc-Xă Đức
mà thôi.
Phe nhóm họ Ngô
đă chọn dùng một từ-ngữ con đẻ của thực-dân cháu chắt của
đế-quốc Quốc-Xă Đức,
để gọi giới tinh-hoa của phe nhóm
họ Ngô là
“Đảng
Cần Lao”
(“Cần
Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng”),
cũng như rập khuôn chương-tŕnh
“Révolution Nationale”
của Pháp-gian mà lập ra
“Phong
Trào Cách Mạng Quốc Gia”
dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Ḥa!
Họ cũng học đ̣i
“suy
tôn”
lănh-tụ, từ chào cờ, chiêm-ngưỡng ảnh, trỗi nhạc tán-dương
“Pháp-gian”
Pétain,
đến tuyên-truyền học-tập tuân lời Thống-Chế ngụy trước kia,
biến thành lớp-lang chào cờ, chiêm-ngưỡng ảnh lănh-tụ, trỗi
nhạc ca-tụng, đồng-ca suy-tôn, và học-tập
“đạo-đức cách-mạng”
của Ngô Chí-Sĩ
(rồi Ngô Tổng-Thống)
sau này. (Riêng về bài hát
“Suy
tôn Ngô Tổng Thống”
th́ có 2 bài khác nhau, một của
Miền Nam,
một của Miền Trung;
nên khi có các nhân-vật Miền
Nam
ra
Huế
“chầu Cậu”
(Ngô Đ́nh Cẩn),
hát chung với các “đồng-chí”
Miền Trung,
th́ cả hai phe rán hát thật to, lấn át lẫn nhau để mong được
“Cậu”
chú ư, tạo ra cảnh
“trống đánh xuôi,
kèn thổi ngược”
lộn-xộn vô cùng).
Như thế tức là
“bài-trừ
tàn-tích thực-dân”
mà lại
“noi
gương thực-dân”.
II. GIẤY KHAI SINH CỦA ĐẢNG
CẦN LAO
(tài-liệu của
Chính Đạo trong “Việt
Nam Niên Biểu” Tập
B)
III. ĐẢNG CẦN LAO TRƯỚC CÔNG
LUẬN
Theo kư-giả
TÚ GÀN
(Lữ Giang,
Nguyễn Cần):
“...
Các tài liệu đă được giải mă gần đây cho thấy dưới thời
Đệ Nhất Cộng Ḥa, chính Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ đă khuyến cáo và hướng
dẫn chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
truất phế Bảo Đại “một
cách hợp pháp” và thành lập một
chế độc đảng như Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới
Thạch ở Đài Loan
để chống Cộng hữu hiệu. Ông
Ngô Đ́nh Nhu đă cho lâp
một đảng tương tự như thế và lấy tên là
Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng.
Bản dự thảo Diều Lệ của đảng này đă được dịch ra tiếng
Anh và gởi cho Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ xem trước khi
đưa ra áp dụng. Nhưng v́ hoàn cảnh của
Việt Nam lúc đó đang ở
trong cái thế “trên đe dưới búa” và “năm
cha bảy mệ”, nên ông Nhu
không thể tổ chức một đảng mạnh như Trung Hoa Quốc Dân
Đảng của Tưởng Giới Thạch,
thành ra
đầu voi đuôi chuột!...
.”
(Trích từ bài
viết
“Lại
chuyện Anh Hai”
của Tú Gàn
‒
Lu Giang <lugiang2003@yahoo.com>)
“...
(Dược sĩ)
Nguyễn Cao Thăng
được giao cho
đứng tên sang lại hăng dược phẩm OPV của
Pháp
và làm chủ hăng này. Đây là một
cơ sở kinh tài quan
trọng của Đảng Cần Lao”
(Trích từ email nhan
đề
“Những
Bí Ẩn Đằng Sau”
của Lữ Giang
<lugiang2003@yahoo.com>
phổ-biến trên diễn-dàn liên-mạng ngày
Thu, 13 Mar 2008 09:57:04 -0700 PDT)
“...
Tướng
Lansdale,
người cố vấn h́nh thành các toán chiến đấu
dân sự cho miền Nam,
rất thắc mắc về chuyện lập cái chế độ độc
đảng này. Nhưng ông
Reinhardt,
Đại Sứ Hoa Kỳ
tại Việt Nam Cộng Ḥa
(1955 – 1957), đă nhỏ nhẹ nói với Tướng
Lansdale:
“một quyết
định về chính sách của Hoa Kỳ
đă được định rồi
(a U.S. policy decision had been made)”.
Về sau, trong bản phúc tŕnh ngày 17.1.1961,
Tướng Lansdale
có ghi rơ: “Đảng
Cần Lao
không phải là ư kiến của
nhà Ngô;
“trước tiên nó
được đề xướng bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ”
để loại bỏ cộng
sản ra khỏi đất nước (the CLP was
not their idea;
“it was
originally promoted by the U.S. State
Department”
to rid the country of communists).
Đại Sứ
Elbridge Durbrow, người thay thế Đại
Sứ Reinhardt,
cũng đă mô tả rơ:
“Tổ chức
Cần Lao đă gần
như theo mô thức
của một đảng Cộng Sản, với các chi
bộ, cán bộ, v.v., và cũng
có thể so sánh
với Quốc Dân Đảng của Trung Hoa.”
Nhưng ông
Diệm,
ông Nhu
và
ông Cẩn
không có khả
năng xây dựng tại miền Nam một đảng
giống Trung Hoa Quốc Dân Đảng được.
Trái lại,
một số tay chân
bộ hạ đă lợi dụng tổ chức này để
lộng hành
và tranh giành
nhau quyền lợi...
gây xáo trộn
trong quân đội...
.”
(Trích từ
bài viết “Trả lại
sự thật cho lịch sử”
‒
Saigon nhỏ ngày 26.10.2007)
Theo Luật-Sư
HOÀNG DUY
HÙNG
(nhà
hoạt-động chính-trị, cộng-đồng):
“...
Đảng Cần Lao vừa mới được
thành-lập và nó vẫn c̣n quá non
trẻ so với các đảng quốc-gia
khác như
Đại Việt và
Quốc-Dân
Đảng. Các đảng ấy đă có
một quá-tŕnh dài hoạt-động
cách-mạng rồi, nhiều người trong
họ đă hy-sinh cho chính-nghĩa và
nền độc-lập của tổ-quốc. Các
đảng ấy không có may-mắn cầm nắm
quyền-lực trong chính-phủ; do
đó, họ không thể phát-triển
hoạt-động của họ dễ-dàng như
Đảng
Cần-Lao; và, đương-nhiên,
nếu các lănh-tụ
Đảng
Cần-Lao không đối-xử với
họ một cách khôn-ngoan và
tế-nhị, th́ sự bất-măn sẽ nổ
bùng dễ-dàng. Thí-dụ, vào năm
1959,
bác-sĩ
Phan Quang Đán và ông
Nguyễn
Trân đă được dân bầu vào
Quốc Hội với tỷ-lệ phiếu đạt
được rất lớn. V́ một lư-do nào
đó, Nhu
và vợ ông ấy đă cố gắng loại-trừ
hai nhân-vật này ra khỏi
chính-quyền. Từ đó, không có bao
nhiêu đảng-viên của các
đảng-phái quốc-gia khác muốn
hợp-tác với chính-quyền
Diệm.
Diệm
bổ-nhiệm bác-sĩ
Trần Kim
Tuyến làm Giám-Đốc Sở
Nghiên-Cứu Chính-Trị và
Xă-Hội. Trong thực-tế, sở này là
một cơ-quan t́nh-báo nhắm
mục-đích giúp
Diệm
và Đảng
Cần-Lao củng-cố thế-lực trong
chính-quyền. Đối với
nhiều người, cơ-quan t́nh-báo
này là một sở “khủng-bố”,
v́ đă
lạm-quyền bắt-bớ và giam-cầm
người dân mà không buộc tội
ǵ cả. Nhiều
lănh-tụ chính-trị đă bị cơ-quan
t́nh-báo này bắt-bớ và bí-mật
giam-cầm suốt nhiều năm trời,
tỉ như Hà
Thúc Kư, là Thủ-Lănh của
Đại-Việt
Cách-Mạng-Đảng,
Phạm Thái,
là một trong các lănh-tụ của
Việt-Nam
Quốc-Dân-Đảng. Các
lănh-tụ chính-trị khác th́ bị
bí-mật thủ-tiêu, như
trong trường-hợp ông
Nguyễn Bảo
Toàn. Cảnh-trạng đó càng
thảm-hại hơn, khi, vào ngày 6
tháng 5 năm
1959,
Tổng-Thống
Diệm ban-hành một loạt
các đạo Luật gọi là
Luật 10/59
cho phép
bắt
giam bất cứ kẻ nào bị nghi là
cộng-sản mà không cần thủ-tục
chính-thức buộc tội. Các
đạo luật này đă gây
bất-b́nh cho các nhà hoạt-động
nhân-quyền khắp nơi trên
thế-giới. Dựa vào các đạo
luật này, một số đảng-viên
Đảng
Cần-Lao cũng đă
trả thù
các kẻ thù của ḿnh bằng
cách giản-dị
cáo
buộc họ là “nghi-can cộng-sản”. Hẳn
là, trong nhiều trường-hợp,
cộng-sản đă đứng đằng sau giựt
dây và khích-động quần-chúng,
đặc-biệt là Phật-Tử, đứng lên
chống-đối chính-quyền
Diệm,
do tính cứng-rắn của ông cũng
như do các
hành-động bất-lương của đám
thuộc-hạ của ông.
Đảng Cần
Lao là ṇng cốt của
chính-quyền
Diệm. Đảng
này mới được thành-lập. Nó chưa
có đủ th́-giờ để đào-tạo và
thử-nghiệm đảng-viên. V́ đảng là
đảng cầm quyền nên
nhiều
người xin vào đảng v́ quyền-lợi
cá-nhân hơn là v́ lư-tưởng.
Họ luôn luôn
nịnh-hót
Diệm
để được
Diệm
tin-cậy
và tín-cẩn, họ
bịt mắt
không cho
Diệm
thấy biết tính-chất thật-sự
của nhiều sự-kiện để có
quyết-định đúng-đắn. V́
kết-quả này, sau khi Tổng-Thống
Diệm
chết đi, đảng đă chấm dứt
hoạt-động... .”
(Trích và phỏng dịch từ “A
Common Quest For Vietnam's
Future, a brief of Vietnam
War, the First and Second
Republic of Vietnam”
[Cùng
T́m Tương Lai cho Việt Nam,
tóm lược Chiến Tranh Việt
Nam, hai nền Đệ-Nhất và
Đệ-Nhị Cộng-Ḥa]
của
Hoàng
Duy Hùng)
Theo Giáo-Sư
CAO THẾ DUNG
(nhà văn, nhà
hoạt-động chính-trị):
...
“Về
Quân đội, một sai
lầm khác của chế độ
Miền Nam
là đă đem đảng Cần
Lao vào Quân Đội...
.
... Khi
một cấp ủy Hạ sĩ
quan Đảng ủy trong
đơn vị chỉ đạo cấp
Tá th́ quân đội tất
bị xáo trộn, mất tôn
thống quân giai.
Hơn nữa, đảng chỉ là
đảng chính quyền nên
đảng trở thành nấc
thang công danh cho
một số thành phần cơ
hội.
Từ đầu năm 1957, đă
có bất măn trong
quân đội, một phần
lớn do sự hiện diện
của đảng Cần Lao với
một Quân Ủy gồm 6
người mà cả 6 người
đều không có kinh
nghiệm trong quân
đội...
.
Tuy nhiên,
một số sĩ quan, nhất
là cấp Tá muốn tiến
thân đă vào đảng tạo
nên t́nh trạng kéo
bè kéo cánh trong
quân đội, kết quả
lại thành thứ “gian
nhân hiệp đảng”
dưới thời
Nguyễn Văn Châu
làm Giám Đốc Tâm Lư
Chiến, cấp Trung Tá
làm Quân Ủy Trưởng
(sau 1963,
Châu
theo Cộng Sản hoạt
động trong Hội Việt
Kiều yêu nước ở
Paris)...
.
... Gia nhập
đảng
Cần Lao
dưới chế độ như
Việt Nam Cộng Ḥa
không có ǵ đáng
trách hay là điều
đáng hổ thẹn hoặc là
điều không tốt song,
cái cung cách và ư
đồ của người gia
nhập đảng... mới là
điều đáng xấu hổ.
Đảng chỉ c̣n
là thứ đảng “lên
lon”. Thật vậy,
nhờ ở trong đảng và
biết luồn cúi tâng
bốc
nên một
Thái Quang Hoàng
đầu năm 1954 là Đại
úy, năm 1956 đă là
Thiếu tướng, năm
1958, Trung tướng.
Lê Quang Tung
xuất thân khóa 4 Thủ
Đức, đầu năm 1963 đă
lên Đại tá, 8 năm
lên 6 cấp...
Trần Ngọc Tám,
đầu năm 1954 là Đại
úy, đầu năm 1958 đă
là Thiếu tướng chỉ
nhờ có chân trong
đảng và là con tinh
thần của Giám mục
Ngô Đ́nh Thục.
Trong khi
Đại tá
Linh Quang Viên,
cựu đảng viên
Việt Nam Quốc Dân
Đảng,
giáo quan trường Lục
Quân
Yên Bái
(1945-1946), Đại tá
từ đầu năm 1954, Tư
lệnh Đệ IV Quân Khu,
đeo lon Đại tá cho
đến sau đảo chính
1963. Nhiều người
bạn cùng khóa với
tác giả đeo lon
Trung úy 9 năm; Đại
tá
Nguyễn văn Thành,
khóa I Nam
Định,
Trung đoàn trưởng
Trung đoàn 6
‒
Sư đoàn 2 từ năm
1959, không vào đảng
Cần Lao nên đeo lon
Đại úy 9 năm, 7 năm
làm Trung đoàn
trưởng và kể cả
thành phần ưu tú
nhiệt t́nh ủng hộ
chế độ như Đại úy
Khiếu Hữu Diêu,
Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 3 Nhảy
Dù... trong khi chỉ
một thiểu số (rất
ít)
thăng cấp quá nhanh
dù không bao giờ đi
đánh trận hoặc lại
là sĩ quan thiếu khả
năng.
... Tiếng
súng đảo chính
11.11.1960
vừa nổ th́ cột trụ
của chế độ đă bỏ
trốn như trường hợp
Nguyễn Văn Châu,
Quân ủy Trưởng
Đảng Cần Lao
trong Quân Đội chạy
trốn vào nhà ḍng
Chúa Cứu Thế đường
Kỳ Đồng.
Tổng Giám Đốc Cảnh
Sát Công An, tướng
Nguyễn Văn Là
bỏ trốn sớm nhất đến
trưa 12.11.60 mới
vao Dinh tŕnh diện
Tổng Thống... .
...
Từ lúc tổ chức
đảng Cần Lao
trong quân đội, cái
lễ binh cách đă mất.
Một
Nguyễn Văn Châu,
cấp Trung tá, môt
con người
rất tầm thường mà
làm đến
Quân Ủy Trưởng Quân
Ủy Trung Ương
trong
Quân Đội th́ đây
là nghịch thường
trong khi quân đội
Cộng Sản Bắc Việt,
Quân Ủy Trưởng là
một Đại tướng, Chủ
nhiệm Tổng Cục Chính
Trị là một Thượng
tướng, cả hai đều là
Ủy viên Bộ Chính
Trị... .”
(Trích từ cuốn sách
“Việt
Nam Ba Mươi Năm Máu
Lửa”
của
Cao Thế Dung,
xuất bản tại
Hoa Kỳ
năm 1991 – trang
528-534)
Theo Tướng Mỹ
Edward G. Lansdale
(Cố-vấn,
đỡ đầu cho nhân-vật
Ngô Đ́nh Diệm):
... “Càng
ngày càng có nhiều
người đă đến t́m tôi
để xin can thiệp, v́
thân nhân của họ bị
các
đảng viên Cần Lao
vơ trang đầy ḿnh
nửa đêm tới gơ cửa
và bắt đi.
Thân nhân của những
người này là viên
chức của chính phủ,
không thích vô đảng
phái phục vụ cá
nhân, đă tử chối
không tham gia đảng
Cần Lao.
Các nhân viên chánh
quyền đểu bị ép phải
gia nhập đảng Cần
Lao. Đảng Cần
Lao được tổ chức mau
chóng trong mọi cơ
quan dân sự và quân
sự... .
... Nếu
đảng Cần Lao
được ông
Nhu tổ chức
như một cơ cấu chính
trị bí mật khắp
trong chính phủ,
dùng Công An Mật do
ông
Nhu kiểm soát
để
loại trừ đối lập,
th́
đảng Cần Lao
sẽ khiến cho các
đảng phái quốc gia
khác rút vào phạm vi
hoạt động bí mật để
khỏi bị tiêu diệt...
.”
(Trích từ cuốn sách
“Tôi
làm quân sư cho Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm”,
do LT dịch sang
tiếng
Việt, ấn hành
tại
Hoa Kỳ năm
1972 – trang 235-36)
Theo Ông
NGUYỄN VĂN MINH
(Cụu đại uư biệt
phái văn pḥng Cố
Vấn
Ngô Đ́nh Cẩn):
... “Đến
đầu năm 1954
Đảng bắt đầu phát
triển mạnh, đặc biệt
là
trong hàng ngũ Quân
Đội tại miền Trung.
Cố Trung Tá
Nguyễn Văn Châu,
khi ấy là
Trung Úy
thuộc Pḥng Quân Nhu
Quân Khu II, người
được Linh Mục
Lê Sương Huệ
tiến cử làm liên lạc
viên cho ông
Ngô Đ́nh Diệm,
thời gian ông bị ông
Hồ chí Minh
quản thúc tại Hà Nội
(1946),
được ông
Ngô Đ́nh Cẩn, với
tư cách
Bí Thư của Đảng,
giao nhiệm vụ tổ
chức đảng trong Quân
Đội.
Đảng được tổ chức
theo hệ thống, trên
hết là Trung Ương
Đảng, kế đến là:
Phía Dân Sự: Liên
Khu, Khu, Tỉnh, Quận
và Chi Bộ.
Phía Quân Sự: Quân
Ủy, Khu, Sư, Liên
Chi, Chi Bộ và Tổ.
Phía Quân Sự, một
cuộc họp Đại Biểu
Đảng trong
toàn quân
được tổ chức tại
Nha Trang vào
hạ bán niên
1955, do
Trung Tá
Đỗ Mậu khi ấy
là Chỉ Huy Trưởng
Phân Khu Duyên Hải
phụ trách. Tại Đại
Hội này, một Quân Ủy
đă được thành lập
với tên gọi là
Quân Ủy Lê Lợi.
Đại Hội cũng bầu ra
Ban Chấp Hành đầu
tiên của Quân Ủy Lê
Lợi với Bí Thư là
Tướng
Lê Văn Nghiêm,
bí danh Minh Sơn.
Ông
Ngô Đ́nh Nhu,
từ
Sài G̣n ra dự
buổi họp bế mạc với
tư cách
Tổng Bí Thư,
chấp nhận thành phần
Ban Chấp Hành Quân
Ủy và chứng kiến lễ
huyết thệ tuyệt đối
trung thành với Lănh
Tụ
Ngô Đ́nh Diệm
và Đảng của tất cả
các đảng viên tham
dự cuộc họp.
Năm 1957, khi Tổng
Thống
Ngô Đ́nh Diệm
ra lệnh cấm mọi
sinh hoạt chính trị
trong Quân Đội,
Quân Ủy Đảng Cần
Lao đă được ngụy
trang dưới bí số B5
(Ban
5).
THỰC TRẠNG:
Trong những năm đầu
(1954-1960)
đảng sinh hoạt đều
đặn, nội dung sinh
hoạt tương đối có
chất lượng về các
mặt xây dựng cán bộ,
cơ sở đảng và chính
quyền. Nhưng từ năm
1961, sinh
hoạt của đảng mỗi
ngày mỗi
lỏng lẻo,
rời rạc. Sở
dĩ xảy ra t́nh trạng
này là v́:
1. Từ khi được
thành lập đến khi
nắm được chính quyền
là một thời gian quá
ngắn. Hầu hết
cán bộ, đảng viên
chưa học hỏi kinh
nghiệm sinh hoạt
đảng phái, chưa từng
trải những khó khăn,
gian nguy trong
tranh đấu.
2. Ngay sau khi
Lănh Tụ
Ngô Đ́nh Diệm
vừa nắm chính quyền,
các vị lănh đạo cũng
như cán bộ, đảng
viên mọi cấp đă bị
công tác đối phó với
những khó khăn thời
cuộc cuốn hút hết
thời gian. Công tác
huấn luyện, đào tạo
cán bộ
không được thực hiện
đúng quy định và yêu
cầu.
3. Trong thời gian
t́nh h́nh đất nước
nổi lên quá nhiều
khó khăn
(1954-1956), một
phần chi phối bởi
nhu cầu đối phó với
t́nh h́nh, phần khác
cũng do một số cán
bộ mắc bệnh
chủ quan,
thiếu thận trọng.
Nên
việc kết nạp đảng
viên thường căn cứ
vào cấp bậc, chức vụ
hoặc t́nh cảm mà bỏ
qua nguyên tắc điều
tra lập trường, thử
thách đạo đức
trong một thời gian
cần thiết, trước khi
chính thức kết nạp.
T́nh trạng
kết nạp đảng viên lệ
thuộc vào t́nh h́nh
và phần nào thiếu
thận trọng trên đây
đă tạo cơ hội cho
một số
bọn ‘’thời cơ chủ
nghĩa’’ lọt được vào
đảng với mục đích
bảo vệ quyền lợi cá
nhân hơn là lư tưởng.
Sau khi lọt được vào
Đảng, để củng cố uy
thế, mưu lợi cá
nhân, nhóm này
thường khoa trương
‘’nhăn hiệu’’ Cần
Lao và để tỏ
ra là một đảng viên
trung thành, họ hay
có
những hành động
thiếu ư thức đối với
các đảng phái khác
và những người có tư
tưởng không đồng
nhất với chính
quyền. Hành động của
nhóm người này cộng
với tác phong của
chú ngựa chở sắc
phong Thành Hoàng về
làng của một vài cán
bộ được Tổng Thống
Diệm
tín nhiệm, đă góp
phần không nhỏ vào
việc tạo ra nguyên
nhân làm cho một số
người bất măn với
chế độ. Đồng
thời làm cho người
bàng quan lầm tưởng
rằng Tổng Thống
Diệm dùng
Đảng Cần Lao
khống chế chính
quyền. V́ thực ra,
tuy được tôn là Lănh
Tụ của Đảng, nhưng
ông
Diệm
hoàn toàn không biết
ǵ đến Đảng Cần Lao.
Từ ngày đầu trong
cuộc đời tranh đấu
của ông, ông luôn
giữ lập trường phải
đứng trên các đảng
phái để đoàn kết
được toàn lực quốc
gia. Ông không dành
một đặc quyền nào
cho đảng viên
Đảng Cần Lao.
Chính v́ thế mà số
đảng viên vào đảng
v́ lợi và danh đă
trở lại giết ông v́
ông không thỏa măn
sự thèm khát danh và
lợi của họ.
4. Thêm vào những
yếu tố trên đây,
lệnh
cấm mọi sinh hoạt
chính trị trong Quân
Đội của Tổng
Thống
Diệm đă ảnh
hưởng quá mạnh trên
các tổ chức và sinh
hoạt của đảng. Do
lệnh này (1957),
Phong Trào Cách Mạng
Quốc Gia
trong Quân Đội phải
giải tán, các cơ sở
sinh hoạt
Đảng Cần Lao
ở mọi cấp trong Quân
Đội
đều phải ngụy
trang.
Vin vào t́nh trạng
này, nhiều cơ sở
đảng đă dần dần lơ
là hẳn với nhiệm vụ
sinh hoạt bồi dưỡng
tinh thần cán bộ.
Riêng về
t́nh trạng phân hóa
của
Đảng Cần Lao
tại
miền Nam, có
dư luận cho rằng ông
Ngô Đ́nh Cẩn
gây ra t́nh trạng
này. V́ muốn
mở rộng ảnh hưởng
vào
miền Nam, ông
Cẩn đă lập
một Đảng Cần Lao
riêng chống lại Đảng
Cần Lao của ông Nhu.
Sở dĩ có dư luận này
là v́ vào khoảng năm
1958-1959,
ông
Cẩn có chấp
thuận cho ông
Phan Ngọc Các
tổ chức thâu nhận
đảng viên cho
Đảng Cần Lao
tại
miền Nam.
Nhưng không phải để
chống lại ông
Nhu. Đó là
điều tôi biết chắc
chắn. V́ khi ông
Cẩn sai tôi
đưa ông
Phan Ngọc Các
đến giới thiệu với
các ông
Mai Ngọc Dược
Tỉnh Trưởng Long An,
Trương Hữu Diệp
Tỉnh Trưởng Mỹ Tho, Lương
Duy Ủy Tỉnh
Trưởng Vĩnh B́nh, là
những đảng viên
Cần Lao được
chuyển từ
miền Trung
vào, ông đă căn dặn
tôi lưu ư các vị này
rằng, các cơ sở ông
Phan Ngọc Các
tổ chức được, đều
phải sinh hoạt trong
hệ thống Tỉnh Đảng
Bộ địa phương. Khi
đă được sự chấp
thuận của ông
Cẩn và được
giới thiệu với một
số địa phương rồi,
ông
Các tự xưng
là đại diện cho ông
Cẩn tại
miền Nam làm
nhiều việc tai tiếng
cho ông
Cẩn và chế độ.
Đó chỉ là hậu quả
của phương pháp làm
việc NGĂN CÁCH của
ông
Cẩn, v́
không ai kiểm soát
được ông
Các
để ngăn chận những
hành động bất chính
của ông ta.
Trước t́nh trạng
trên đây của
Đảng Cần Lao,
đầu tháng 7.
1961, ông
Ngô Đ́nh Nhu
ra
Huế ở lại
mười ngày. Sau đó,
tôi được biết có kế
hoạch tổng cải tổ và
thành lập một
Đảng Cần Lao
mới, cấp tiến và
chặt chẽ hơn. Tại
miền Trung và Cao
Nguyên Trung Phần,
đă tiến hành ngay
cuộc rà soát lại
t́nh trạng nội bộ
Đảng, để sẵn sàng
thực hiện kế hoạch.
Nhưng rồi t́nh h́nh
biến chuyển quá
nhanh,
kế hoạch này đă
không thực hiện được...
.”
(Trích từ cuốn sách
“Ḍng
họ Ngô Đ́nh, Ước Mơ
Chưa Đạt” của
Nguyễn Văn Minh)
LÊ XUÂN NHUẬN
|