CUỐI CÙNG, DƯƠNG
VĂN HIẾU LÊN TIẾNG
Sự tịnh khẩu từ 1963 cho đến nay của ông
Dương Văn Hiếu, nguyên Trưởng đoàn Công tác
Đặc biệt Miền Trung thời Đệ nhứt Cọng hoà
Việt Nam, là một cuộc hành tŕnh xuyên sa
mạc dài trên bốn thập niên. Tác giả bài này
đă liên lạc lại được với ông Hiếu hiện định
cư tại San Jose, Californie. « Con người
biết quá nhiều, L’homme qui en savait trop »
và từng bị gán biệt danh «Hùm Xám của Chế độ»
đă chấp nhận trả lời nhiều câu hỏi của chúng
tôi liên hệ đến một giai đoạn chính trị cực
kỳ sôi động trong cuộc chiến tranh t́nh báo
chống Bắc Việt từ 1954 cho đến tháng
11.1963. Sau vụ đảo chính lật đổ Tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm, ông Hiếu bị Hội đồng Quân Dân
Cách mạng điều tra, đưa ra Côn đảo với một
số nhân vật khác của Chính phủ củ và được
trả tự do năm 1964.
Đêm
28.4.1975, ông rời Việt Nam với đứa con trai đầu
ḷng trên một chiếc tàu Hải quân VN cùng với
Trung tướng Nguyễn Văn Là, cựu Tổng Giám đốc
Công An. Năm 1989, gia đ́nh gồm có vợ và tám
người con sau qua đoàn tụ với ông tại Hoa kỳ.
Ông Dương Văn
Hiếu nay 81 tuổi, sức khoẻ không dồi dào như
trước nhưng trí nhớ c̣n sắc bén khi nhắc đến kư
ức xa xưa. Ông giới hạn hoàn toàn sự giao thiệp
bên ngoài về mặt chính trị và đă từ chối mọi đề
nghị phỏng vấn của báo chí. Sau đây là những
điểm chính có thể tiết lộ trong cuộc nói chuyên
có ghi âm giữa ông Dương Văn Hiếu (DVH) và tác
giả (LLT) :
LLT:
Xin ông vui ḷng cho biết sơ lược, nếu được,
những năm niên thiếu của ông và trường hợp nào
ông tham gia ngành công an và được bổ nhiệm vào
chức vụ Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung
(ĐCTĐMT). Chức vụ chót của ông trước trước cuộc
đảo chính 1.11.1963 là ǵ ?
DVH : Tôi sanh ra tại Hà Nam, Bắc Việt, trong
một gia đ́nh trung lưu làm ăn thành công.Tôi học
tại trường trung học Louis Pasteur và Thăng
Long, Hà Nội. Vừa lấy xong bằng diplôme
d’Eùtudes primaires supérieures vào năm
1944-1945 th́ Nhựt đảo chính Pháp. Tôi lập gia
đ́nh năm 1948, bố vợ tôi là bác sĩ Nguyễn Văn
Tam từng phục vụ trong Liên khu 5 và cọng tác
với Đức cha Lê Hữu Từ ở Phát Diệm. Sau Hiệp định
Genève năm 1954, tôi được cụ Vơ Như Nguyện, Giám
đốc Công an Trung Phần, để ư trong một buổi học
tập chính trị mà tôi là thuyết tŕnh viên (về đề
tài Điện Biên Phủ). Ông tuyển tôi vào ngành công
an. Giữa 1957, tôi giữ chức Trưởng ban Khai thác
Nha CA-CS Trung nguyên Trung phần. Khi ông
Nguyễn Chử, một lănh tụ Quốc Dân Đảng, thay thế
cụ Nguyện, tôi trở thành Trưởng ty Công an Tỉnh
Thừa Thiên và Đô thị Huế. Nhờ phá vở được trong
ṿng hai năm hệ thống điệp báo Cộng sản Khu 5 và
mở rộng hoạt động ra đến các tỉnh Quảng trị,
Quảng Ngải, B́nh Thuận, Qui Nhơn..v..v.., tôi
được ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Đ́nh Cẩn
và Đại biểâu Chính phủ Miền Trung Hồ Đắc Khương
giới thiệu nhiệt t́nh với Tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm. Giữa 1957, tôi được bổ nhiệm Trưởng Đoàn
Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐBMT) để làm
việc tại Sàig̣n vào dầu năm 1958. Chủ đích của
Đoàn là thi hành chính sách của Cố vấn Ngô Đ́nh
Cẩn mệnh danh « Chiêu mời (sau đổi thành Cải tạo)
và Xử dụng các cán bộ cựu kháng chiến ». Lúc đó
tôi đă gia nhập đảng Cần Lao.Sau vụ đảo chính
hụt của Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông và Phan
Quang Đán ngày 11.11.1960, tôi làm Phụ tá cho
Tổng Giám đốc Công an Nguyễn Văn Y, c̣n ông
Nguyễn Văn Hay th́ giữ chức Phó Tổng giám đốc
Công an.(Vợ ông Hay là một người em bà con của
tướng Dương Văn Minh)
LLT: Có
phải cùng một lúc, ba sĩ quan Cần Lao Nguyễn
Văn Châu, Phạm Thư Đường và Lê Quang Tung cũng
được đưa vào Nam. Châu trong chức Giám đốc Nha
Chiến tranh Tâm lư, Bộ Quốc pḥng; Đường, Phụ tá
cho Trần Kim Tuyến, Sở Nghiên Cứu Xă hội Chính
trị (SNCCTXH); và Tung, cầm đầu Lực lượng Đặc
biệt? Ngoài ra, c̣n có Phan Ngọc Các, hoạt động
cho cánh Cần Lao Ngô Đ́nh Cẩn. Đoàn CTĐBMT đặt
trụ sở tại đâu? có bao nhiêu nhân viên? chi phí
họat động do cơ quan nào trang trải?
DVH: ĐCTĐBMT có trách vụ lo về t́nh báo chiến
lược và phản gián, không liên hệ đến ba sĩ quan
vừa kể và Phan Ngọc Các. Trụ sở của Đoàn đặt tại
trại Lê Văn Duyệt, Sàig̣n, gần Quân khu Thủ đô.
Dưới quyền tôi, có tám nhân viên và hai thơ kư
đánh máy. Chi phí hoạt động (lương bổng, đồ ăn,
feuille de route.v.v...) do Pḥng Hành chính của
Phụ tá Nguyễn Thành tại Tổng Nha Công an cấp v́
trên giấy tờ, tôi và các nhân viên được coi như
vẫn thuộc Ty Công an Thừa Thiên. Đôi khi Đoàn
cũng nhận được sự trợ giúp của Chánh Văn Pḥng
Đặc biệt Vơ Văn Hải, với tiền lấy từ Quỷ đen của
Tổng thống. Số tiền này không hệ trọng, chỉ có
tính cách nâng đở tinh thần. Riêng cá nhân tôi
không được cấp một nhà chức vụ. Tôi có mua một
công xá gần nhà bí thơ Trần Sử ở khu Công Lư,
Sàig̣n. Đoàn không nhận một ngân khoản nào đến
từ ông Ngô Đ́nh Cẩn.
LLT: Xin
ông cho biết vài chi tiết hệ trọng trong hồ sơ
Vũ Ngọc Nha (từng tự xưng là cố vấn của TT Diệm)
và Huỳnh Văn Trọng (cố vấn của Tổng thống Thiệu)
DVH : Nhạ không bao giờ làm cố vấn cho TT Diệm.
ĐCTĐBMT đă bắt y thời Đệ nhứt Cọng Ḥa như một
cán bộ CS tép riu, một tiểu công chức tại Bộ
Công Chánh. Nhạ mang nhiều tên khác: Vũ Đ́nh
Long,Hai Long, Ông Giáo, Thầy Bốn..v..v.. C̣n
Trọng th́ bị dính trong vu mệnh danh « Gián điệp
Pháp ở Nhà hàng Morin Huế ». Y đă trốn thoát qua
Nam Vang. Sau 1963,trở về Sàig̣n, y được Nhạ bố
trí vào Dinh Độc lập. Chính Tổng trưởng Nội vụ
Hà Thúc Kư đă thả Nhạ sau 1963. Nhạ tái hoạt
động với cụm t́nh báo A 22 trong đó có Trọng và
Lê Hữu Thúy tự Thắng. Linh mục Hoàng Quỳnh giới
thiệu Nhạ cho Trần Ngọc Nhuận, cha sở nhà thờ
Phú Nhuận, bạn thân của vợ chồng Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu.
LLT: ĐCTĐBMT có xử dụng «hầm» P42 – được báo
giới ngoại quốc mô tả là « địa ngục trần gian»-
để tra vấn các tù nhân hay không ?
DVH: P42 là một biệt thự thuộc Bộ Canh nông nằm
bên trong Sở Thú, Jardin botanique Sàig̣n, dùng
để nhốt một số can phạm chính trị đặc biệt. Đoàn
chúng tôi không xử dụng v́ có trại Lê Văn Duyệt
rồi.
LLT: Trong công tác, ông phúc tŕnh cho ai?
Tổng thống? Ông Nhu hay ông Cẩn? Ông có trao
đổi tin tức, tài liệu ǵ với cơ quan CIA hay
không? Mối giao hảo công vụ giữa ĐCTĐBMT và Tổng
Nha Công An, Sở NCXHCT của Trần Kim Tuyến, Tổng
Nha An ninh Bộ Quốc pḥng (Đổ Mậu) và Lê Quang
Tung ra sao?
DVH: Tôi làm việc gần ông Nhu hơn. Khi có chuyện
hệ trọng cần hỏi thêm, Tổng thống gọi tôi vào
Dinh. Tôi chỉ gởi bản sao một vài phúc tŕnh cho
ông Cẩn. Trong những ngày cuối cùng trước đảo
chính 1963, tôi bị ông Cẩn hiểu lầm “nhức đầu”.
Ông Nguyễn Văn Minh, bí thơ ông Cẩn, và Trung tá
Phạm Thư Đường, chánh văn pḥng Cố vấn Nhu cũng
ở trong hoàn cảnh đó.
Tôi không
bao giờ liên lạc với CIA. Tuy nhiên, sau vụ đảo
chính 1.11.1963, bị Cách Mạng giam tại Chí Hoà,
tôi mới được biết rằng
tên Phan
Khanh, phụ tá cho tôi, chiụ
trách nhiệm về operations, được CIA móc nối.
Khanh do ông Cẩn giới thiệu với tôi “v́ biết vơ”.
Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tổng Giám đốc Công An cũng
như Trần Kim Tuyến (SNCCTXH), Lê Quang Tung (Lực
lượng Đặïc biệt) và Đổ Mậu (An ninh Quân đội)
không ưa tôi. Vợ ông Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn
Lương và bà Thiếu tướng Nguyễn Văn Là (tiền
nhiệm ông Y tại Công An) đều không thích bà
Tuyến v́ tranh dành địa vị bên cạnh bà Nhu nên
ảnh hưởng đến các ông chồng. Tôi tránh xen vào
mê hồn trận này.
Riêng về Đổ Mậu, ông hận tôi v́ ĐCTĐBMT đă phát
hiện và bắt Thiếu úy Lê Hữu Thúy, một điệp viên
VC được ông đặt làm Trưởng pḥng An ninh tại Nha
An ninh Quân đội.
LLT:
Phương pháp làm việc của ĐCTĐBMT có ǵ mới lạ?
Hiệu quả công tác của Đoàn ra sao? Phản ứng của
phiá CS Bắc Việt như thế nào?
DVH: Sau đây tóm tắc vài đặc điểm của Chính sách
Cải tạo (đi đôi với việc thành lập Lực Lượng Vơ
Trang Nhân Dân}: Trong các nhà tù không song sắt,
Công an Mật vụ ăn, ở,học tập, chơi và sinh hoạt
chung với cán bộ Việt cộng sa lưới. Các Toán
trưởng thu thập những tờ khai báo của những cán
bộ này nạp cho Ban cải tạo hay Ban nghiên cứu.
Chúng tôi không bắt công khai mà tổ chức bắt bí
mật; giữ kín hoàn toàn những trường hợp đầu hàng
hay hợp tác; Đoàn chúng tôi đă tạo nên một màng
lưới phục kích, bao vây các cán bộ từ chính
đường giây giao liên và cơ sở củ mà Cách mạng đă
dày công tổ chức. Thay v́ hỏi cung thông thường,
chúng tôi áp dụng phương thức mạn đàm, trao đổi,
tranh luận, khai thông tư tưởng, cởi mở với đối
tượng. Nếu cần, mua chuộc, dụ dỗ chuyển hướng.
Đối với những cán bộ CS ngoan cố, chúng tôi xử
dụng tập thể CS cải tạo để khuyên nhủ lôi cuốn
hoặc, theo đường lối “xa luân chiến”, giải
thích chính sách chuyển hướng, tranh luận áp đảo
các thắc mắc, phản ứng của người bị bắt…v..v..V́
thời lượng buổi nói chuyện hôm nay giới hạn nên
chúng tôi mong trở lại vấn đề phức tạp này trong
một dịp khác.
Để trả lời phần hai câu hỏi của Luật sư, ít nữa
4 quyển sách tịch thu được trong chiến khu VC
cho thấy chúng rất e sợ
“chính
sách mới lạ, kỳ diệu và nguy hiểm”
do ĐCTĐBMT áp dụng. Bốn quyển ấy mang tên “Đoàn
Mật vụ của Ngô Đ́nh Cẩn (tác giả Văn Phan),
Đường Thời Đại (tác giả Đặng Đ́nh Loan), Cuộc
chiến tranh đặc biệt (hồi kư của Đinh Thị Vân)
và Bội phản hay Chân chính (tiểu thuyết hồi kư
của Dư Văn Chất}. Với chính sách này, Đoàn chúng
tôi bắt gọn được - vào hạ bán niên 1958 - hai
màng lưới T́nh báo Chiến lược và Quân báo CS từ
Bến Hải vào đến Sàig̣n.
Trong tài liệu mệnh danh “Thư vào Nam” của Tổng
bí thơ Lê Duẫn gởi tháng 7.1962 cho Nguyễn Văn
Linh tức Mười Cúc, khi ấy Xứ ûy Nam bộ, có đọan
viết: “Đă
có lúc ở Nam Bộ cũng như ở khu 5 (Miền Trung),
t́nh h́nh khó khăn đến mức tưởng như Cách mạnh
không thể duy tŕ và phát triển được.”
LLT: V́ sao (Nha sĩ dỏm và Play boy) Phan Ngọc
Các, đại diện Cần Lao cho ông N Đ Cẩn tại Miền
Nam, bị bắt? Ai bắt?
DVH: Cố vấn Nhu ra lệnh cho Lê Quang Tung bắt v́
Các làm tiền thương gia Hoa kiều Chợ Lớn, Các
tuyển nạp đảng viên Cần Lao lung tung. Ông Cẩn
rất bất mản về chuyện Các bị bắt và bảo tôi thưa
lại với ông Nhu phóng thích Các. Tung là người
của ông Cẩn.Tôi có cảm nghĩ Tung và Tuyến theo
dơi tôi c̣n (Nguyễn Văn) Y th́ đố kỵ tôi.
LLT: Thái Trắng (tức Lê Văn Thái, qua đời tại
San Diego) và Thái Đen (tức Nguyễn Như Thái,
biệt danh Đại tá Thanh Tùng) có làm việc cho ông
hay không?
DVH: Chỉ có Thái Đen cọng tác với tôi. Thái
Trắng làm việc với Tuyến, y là bà con vợ trước (Đặng
Tuyết Mai) của Nguyễn Cao Kỳ. Không biết tại sao
Thái Đen lại mang biêt danh “Đại tá Thanh Tùng”
v́ y không bao giờ có chân trong Quân đôi hay
đồng hoá sĩ quan. Y phụ tá cho tôi về mặt hành
chính, bị Toà lên án khổ sai chung thân, bị đưa
ra Côn đảo về tội “bắt người trái phép” và được
thả ra trước tôi. Thời Đệ nhị Cọng Hoà, h́nh như
Nguyễn Ngọc Loan có xử dụng đương sự.
LLT: Ông
có thể cho biết tên và chức vụ của vài cán bộ
cao cấp Việt Cộng bị ĐCTĐBMT bắt giữ?
DVH: Có thể cho biết hai tên:
A -Trần Quốc Hương tự Mười Hương, Ủy viên Trung
ương Đảng, người chỉ huy màng lưới T́nh báo
Chiến lược của Hà Nội tại Miền Nam. Y bị bắt lối
năm 1958. Chính tôi đă đưa Hương ra Huế gặp bí
mật hai ông Nhu và Cẩn ở Thuận An, trên một
chuyến máy bay đặc biệt do Thiếu tá Nguyễn Cao
Kỳ lái. Hương được Hội đồng Cách Mạng trả tự do
tháng 5.1964.
b- Đại tá Cộng Sản Lê Câu đă giúp tôi khám phá
ra Phạm Bá Lương, Công cán ûy viên của Bộ trưởng
Ngoại giao Vũ Văn Mẩu.
Lương ăn trộm
và chuyển cho Hà Nội toàn bản chính kế hoạch
kinh tế Staley-Vũ Quốc
Thúc.Tôi gài bẩy bắt Lương khi y
lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhứt để đi
Thái Lan v́ công vụ. Ông Mẩu không hay biết lư
do.
LLT: Ông
biết ǵ về đại tá Phạm Ngọc Thảo?
DVH: Trong phạm vi trách nhiệm phản gián, tôi có
theo dơi Phạm Ngọc Thảo. Tôi biết Thảo được Đức
cha Thục giới thiệu vào Bảo An và Thảo có liên
hệ chính trị với bác sỉ Tuyến trong những năm
tháng chót trước cuộc binh biến 1.11.1963. H́nh
như Thảo có tŕnh với Tổng thống Diệm rằng Đoàn
Công tác của chúng tôi bám sát y. Tôi có dịp
thưa với Tổng thống nên lưu ư đến Thảo v́ Thảo
có bà con làm việc cho Bắc Việt trong chức vụ hệ
trọng. Tổng thống có vẻ suy tư và nói: tại sao
không khai thác kinh nghiệm của Thảo trong lănh
vực ấp chiến lược và khu trù mật?
.
LLT: Khi xảy ra những biến động Phật giáo tại
Huế năm 1963 th́ ông ở đâu? Có trách vụ ǵ? Xin
cho biết vài ư kiến về cuộc khủng hoảng Phật
giáo.
DVH: Lúc đó tôi công tác ở Sàig̣n, tôi không
liên hệ trực tiếp đến vụ Phật giáo. Tôi nhớ: Một
hôm tôi vào tŕnh việc trong Dinh (Độc Lập),
Tổng thống than phiên rằng cụ vưà kinh lư khu
Dinh điền Vị Thanh về, đi ngang một ngôi chùa,
thấy cờ Phật giáo treo trên cột cao giữa sân
chuà, c̣n Quốc kỳ th́ bắng giấy, nhỏ cở bàn tay,
dán trên trụ cột ngoài cổng, không ra thể thống
ǵ cả. Khi về, Tổng thống có mời Đức Khâm Mạng
Toà Thánh và ông Mai Thọ Truyền (một trong hai
Phó Hội chủ Tổng Hội Phất giáo) vô cho biết t́nh
trạng và yêu cầu lưu ư các giáo dân phải tôn
trọng Quốc kỳ theo thể thức được Chính phủ quy
định. Hai vị vừa kể hứa lưu ư giáo dân. Sau đó
Tổng thống có ra lệnh miệng cho ông Đổng lư Văn
pḥng Quách Ṭng Đức gởi công điện nhắc các Tỉnh.
Không biết v́ sao ông Đức để đến ngày chót trước
Lễ Phật Đản 8.5.1963 mới gởi công điện.Tổng
thống có kêu ông Đức vô hỏi, ông Đức xin từ chức,
Tổng thống nói: công chuyện đổ bể như thế, xin
thôi có ích chi?
Ngoài ra, lúc bị giam chung với tôi sau ngày
1.11.1963, Thiếu tá Đặng Sỉ, Tiểu khu trưởng
kiêm Phó Tỉnh trưởng Thưà Thiên, nói với tôi
rằng ông bị oan v́ đưọc Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư
lệnh Quân đoàn 1, Vùng 1 Chiến thuật, cho phép
ông chiều ngày 8.5.1963, trước Đài Phát thanh
Huế, dùng lưụ đạn hơi để giải tán biểu t́nh.
Không biết “bàn tay bí mật” nào đă vung một trái
lưu đạn chiến đấu gây thiệt mạng cho 8 em bé và
thương tích cho nhiều người khác. Sĩ bị Toà phạt
khổ sai chung thân.
Thượng tọa Trí Quang, làm việc cho CS, đóng vai
tṛ hàng đầu trong vụ Phật giáo, lợi dụng mối
giao hảo tốt với Cố vấn Cẩn. Sau 1975, tướng
Nghiêm không bị làm khó v́ đi đêm với Bắc Việt
từ trước. Cũng như bác sĩ Lê Khắc Quyến, giám
đốc Bênh viện Huế.Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục
hành động nóng nảy , Cố vấn Cẩn bị bó tay.
LLT:Chuyện ǵ đă xảy ra cho Ông sau ngày đảo
chính 1.11.1963 ?
DVH: Tôi bị bắt cùng với hai phụ tá là
Nguyễn
Tư Thái (tức Thái Đen} và Phan Khanh. Ủy
ban Điều tra tội ác - do một chính khách Hoà Hảo
chủ tọa - thẩm vấn tôi về những tố cáo làm tiền,
bắt người và thủ tiêu đối lập. Tôi c̣n nhớ bà
góa phụ Đinh Xuân Quảng, vợ của một cựu Bộ
trưởng thời Bảo Đại, thưa tôi đă tra khảo bà.
Không có bằng chứng cụ thể. Tại Tổng Nha Công
an, Tống Đ́nh Bắc thay tôi. Y và Trần Bá Thành
nắm trong tay nhật kư memories của tôi. Thành
nằm vùng cho CS. Nếu tôi có giết bất cứ ai th́
chắc chắn Tướng (Mai Hữu) Xuân đă “làm thịt”
tôi rồi. Chính y cũng đă nói với tôi như vậy.
Tuy nhiên, Toà án Cách mạng, do một Thẩm phán
dân sự chủ toạ, (trong đó đại tá Dương Hiếu
Nghĩa là một thành viên}, đă xử tôi khổ sai
chung thân về tội “bắt người trái phép”. Trong
vụ tảo thanh các chùa Phật ở Sàig̣n, chính Cảnh
sát Đô thành của Giám đốc Trần Văn Tư đă bắt các
sư sải. Đoàn CTĐBMT đâu có nhân viên để làm
chuyện đó.
Trong các phiên xữ khác, Ṭa phạt từ tù đến khổ
sai các ông Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Y,Trần
Văn Tư, Hà Như Chi, Nguyễn Lương, Ngô Trọng Hiếu,
Cao Xuân Vỷ, Bùi Dzinh..v..v..
Vợ tôi đă phải bán đôi bông tai 80.000 đồng và
vay một số tiền khác để trả thù lao 100.000 đồng
cho luật sư Vương Văn Bắc.
LLT: Trong trường hợp nào ông và các nhân vật
chế độ củ được tự do? V́ sao? Riêng về ông, sau
đó, có bị nhà chức trách làm kḥ dễ ǵ hay không?
DVH: Không nhớ rỏ ngày tháng nào năm 1964, một
buổi sáng, Chính phủ cho ba chiếc máy bay Dakota
DC3 ra Côn sơn chở tất cả tội nhân (lối 30, 40
người) về Sàig̣n và chúng tôi được phóng thích.
Một thời gian ngắn sau, tôi dược giấy đ̣i của
Công an, trung tá Nguyễn Mậu dẫn tôi đến tŕnh
diện với Tổng giám đốc Nguyễn Văn Hai. Tướng Hai
đưa tôi bằng xe jeep đến Bộ Nội vụ tŕnh diện
với tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Khiêm tiếp tôi
nhă nhặn và “khuyên” tôi nên thủ phận làm ăn.
Đây là một lời cảnh cáo rất rỏ. Để nuôi sống gia
đ́nh, mỗi ngày tôi đi mua Âu dược của các Viện
bào chế, đóng thùng gởi ra Đà nẳng gởi bán tại
Tiệm thuốc của dược sĩ Hà Thị Tiểu Hương. Một
hôm, năm 1968, thời Tổng thống Thiệu,
Thái Đen
(tưc Nguyễn Tư Thái, một cọng sự viên củ
trong ĐCTĐBMT), đến khoe với tôi rằng y “làm
việc cho Toà Đạïi sứ Hoa ky’.Bất thần, lối một
tuần sau, có giấy đ̣i tôi đến tŕnh diện tại Phủ
Đặc ủy Trung ương T́nh báo, bến Bạch Đằng. Nơi
đây, Đặc ủy trưởng Nguyễn Khắc B́nh đề nghị tôi
hợp tác với Pḥng Nghiên cứu về T́nh báo. Tôi
xin vài ngày suy nghĩ. Tôi đến thỉnh ư Đức cha
Nguyễn Văn B́nh. Ngài khuyên tôi nên nhận để
tránh mọi phiền toái. Tôi trả lời với tướng B́nh
tôi nhận, với điều kiện trả lại nhà cửa của tôi
bị tich thâu oan và bạch hoá hồ sơ của tôi bị
bôi bẩn trong một buổi họp báo. Ông B́nh cho
biết việc này cần có quyết định của Quốc hội và
đ̣i hỏi thời gian. Vài bửa sau, Tướng B́nh sai
một sĩ quan cầm đến nhà tôi 40.000 đồng, nóí là
giúp tôi trong cơn túng bấn. Để thoát mọi phiền
nhiểu, tôi đành nhận cọng tác với Phủ. Tôi được
cấp một văn pḥng và một thơ kư đánh máy. Mỗi
tháng tôi có phận sự đúc kết những tài liệu t́nh
báo từ các Quân khu và viết bản phân tích tŕnh
thượng cấp: Một việc làm chán phèo! Tôi biết đây
là một h́nh thức “giam lơng” và theo dơi tôi. Có
một hôm, một người xưng tên Nguyễn Văn Canh đến
văn pḥng để xin phỏng vấn và lấy tài liệu soạn
thảo luận án Tiến sĩ Luật. Một thời gian sau,
tôi không đến làm việc nữa. Rồi Chính phủ Miền
nam sụp đổ.
(Giai đọan Dương Văn Hiếu “bị cầm chân” tại Cục
Trung ương T́nh báo được tướng Nguyễn Khắc B́nh,
hiện ở San Jose, xác nhận.)
LLT: Một số nhân vật đối kháng như Nguyễn Bảo
Toàn, Tạ Chí Diệp và Vũ Tam Anh bị Đệ nhứt Cọng
hoà thủ tiêu. Ông có thể cho biết cơ quan nào
chiụ trách nhiệm? Do lệnh của ai?
DVH: ĐCTĐBMT không liên hệ. Chúng tôi không có
trách nhiệm truy nả các phần tử đối lập. Sau
1975, một số sử liệu cho biết chính thẩm sát
viên Khưu Văn Hai và đồng bọn trong Ban Cảnh sát
Đặc biệt thuộc Tổng Nha Công An của đại tá Y đă
giết N B Toàn và T C Diệp. Về Vũ Tam Anh, có thể
là do tổ chức của Lê Quang Tung. Tôi không nghĩ
Tổng thống Diệm đă ra lệnh v́ ông đă từ chối đưa
ra Toà Hà Minh Trí là người ám sát hụt ông ở Ban
Mê Thuột và ông cũng đă nhẹ tay với phi công
Phạm Phú Quốc, người dội bom Dinh Độc Lập với
Nguyễn Văn Cử.
LLT: Ông biết ǵ về sự bội phản của Phó Tổng
thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh
Thuần và Trần Kim Tuyến.
DVH: Tôi nhớ có lần tôi phúc tŕnh với Tổng
thống tin đồn về Huê kiều Chợ Lớn mua licenses
tại Bộ Kinh tế, Cụ nghe, trầm ngâm,không nói ǵ.
Qua ông Thuần, CIA nắm hết tin tức về nội t́nh
Chính phủ. Cụ có vẻ rất mến và tin tưởng ông
Thuần. Về Bs Tuyến th́ vào cuối 1962, ông Tuyến
hoàn toàn thất sủng, không c̣n quyền ǵ, thay
thế bởi đại tá Phạm Thư Đường. Bà Nhu rất ghét
ông bà Tuyến.
LLT: Ông
nghĩ sao về tin ông Nhu có qua Paris điều đ́nh
với De Gaulle về chuyện trung lập hoá Việt Nam
và gặp Xứ ủy Miền Nam, Ủy viên Bộ chính trị Bắc
Việt Phạm Hùng tại rừng Tánh Linh, Long Khánh,
để thương thuyết?
DVH: Tôi có nghe những tin ấy. Cá nhân tôi nghĩ
chỉ đó là tin đồn. Một người quốc gia quyết liệt
như Tổng thống Diệm không thể bắt tay với Cộng
sản bất luận dưới h́nh thức nào v́ Hiến pháp VN
công khai phủ nhận Xă hội Chủ nghĩa và đặc biệt,
v́ Cộng sản đă giết dă man anh và cháu của Tổng
thống. Đ̣n hiệp thương Nam-Bắc do ông Cố vấn Nhu
tung ra có thể là một cách bắt bí Hoa kỳ. Không
ngờ CIA đă biết rỏ nội vụ. Ông Nhu đă chui vảo
cái bẩy do chính ông giăng ra.
LLT: Nh́n lui lại, ông nghĩ rằng thời Đệ nhứt
Cọng hoà, đảng Cần Lao có thực lực trong quần
chúng hay không? Việc đem tổ chức Cần lao vào
Quân đội có lợi hay hại? Ông Nhu và ông Cẩn có
hoàn toàn đồng ư với nhau về cách tổ chức và
lănh đạo đảng Cần Lao hay không?
DVH: Về mặt lư thuyết, Cần Lao dựa vào chủ nghĩa
Nhân vị được ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu nghiên cứu
kỷ. Đảng Cần Lao, tiếc thay, thiếu một chính
sách tuyển lựa, huấn luyện và xử dụng cán bộ hữu
hiệu. Ngoài ra, c̣n vấn đề kỷ luật. Đa số đảng
viên được chọn trong thành phần công chức có
quyền và địa vị. Đảng không đi sâu vào đại chúng
ở thành thị, đặc biệt ở nông thôn. Các khoá tu
nghiệp về chủ thuyết Nhân vị do Đức cha Ngô Đ́nh
Thục tổ chức tại Vĩnh Long không đào sâu và giải
quyết vấn đề. Tôi có dịp thuyết tŕnh về đề tài
này trong một phiên học tập về Ap Chiến lược ở
Suối Lồ Ồ năm 1962. Sau đó, tôi có thỉnh cầu ông
Nhu, với tư cách Tổng Bí thơ Cần Lao, ban huấn
lệnh nhưng không thấy ông nói ǵ. Câu chuyện bỏ
qua!
Ông Cẩn ít nặng về lư thuyết hơn ông Nhu. Ông
Cẩn có vẻ chú trọng hơn về vấn đề cán bộ, thực
tế hơn. Trong nội bộ Cần Lao cũng có nhiều nhóm:
nhóm Bắc, nhóm Trung (của ông Cẩn), nhóm Trần
Quốc Bửu (Tổng Liên Đoàn Lao Công), nhóm Tinh
Thần (Nguyễn Tăng Nguyên), nhóm Nam kỳ Bộ (Huỳnh
Văn Lang), nhóm Hà Đức Minh-Trần Văn Trai..
Không thống nhứt. Ít khi thấy Tổng thống nhắc
đến đảng Cần Lao.
Tổng
thống để ư đến Phong trào Cách Mạng Quốc gia.
Cân Lao không có Ban Chấp hành Trung ương. Chỉ
có Văn pḥng Tổng Bí Thứ (ông Nhu) gồm có 5
Pḥng trực thuộc.
Tôi không nghĩ đem Cân Lao vào Quân đội hoàn
toàn có lợi. Các tướng lănh đóng vai tṛ cốt cán
trong cuộc chính biến 1.11.1963 phần đông là
đảng viên Cần Lao được Tổng thống tin dùng và bị
Hoa kỳ mua chuộc.
LLT: Về mặt t́nh báo, ĐCTĐBMT của ông, SNGCTXH
của Tuyến, LLĐB của Lê Quang Tung và Nha An ninh
Quân đội của Đổ Mậu có dẩm chân với nhau hay
không? Ông biết ǵ về giấc mơ của Trần Kim Tuyến
- sau 1960 - cầm đầu một Bộ An Ninh thống nhất
về một mối các cơ quan cảnh sát, t́nh báo chiến
lược và phản gián quốc nộâi và quốc ngoại (gồm
luôn Bộ Nội vụ)? V́ Tổng thống Diệm từ chối đề
nghị này nên ông Tuyến bất mản và làm phản.
DVH: Tôi nghĩ: không trùng đụng, không dẫm chân.
Đoàn Công tác của chúng tôi, thật vậy, lo về
phản gián, chống Cộng. Sở ông Tuyến chú trọng
đến vấn đề t́nh báo nội an, đối lập trong xứ. Cơ
quan của Đổ Mậu phụ trách những ǵ liên hệ đến
an ninh của Quân đội c̣n Lực lượng của Tung, gồm
có một Trung đoàn, th́ có trách vụ bảo vệ Tổng
thống và các công thự. Tuy nhiên, trong những
năm chót, Tung vượt quá quyền hạn của ḿnh. Các
cơ quan.không phối hợp chặt chẻ.
Tôi không biết ǵ về vấn đề Bộ An
ninh nêu trên. Trong giai đọan chót, Tổng thống,
Đức Cha và hai ông Nhu, Cẩn không đồng nhứt tư
tưởng, đặc biệt trong vụ khủng hoảng Phật giáo.
Tổng Giám mục Thục xen vào việc treo cờ càng làm
t́nh h́nh thêm rối ben. Mỹ quyết tâm lật đổ ông
Diệm, thủ tiêu ông Nhu. V́ thế cuộc binh biến
thành công. Đất nước phiêu lưu vào hổn loạn.
Thủy Hoa Trang
Californie
LÂM LỄ TRINH
|