|
Hiến Pháp 26.10.1956 và
Thực Tại Chính Trị Dân Chủ
Miền Nam
Tiến sĩ
Phạm Văn Lưu
Trước đây,
hơn 50 năm, vào đầu năm
1954, Việt Nam đă thực sự
đứng trên bờ vực thẳm của một sự phá sản toàn diện.
Thật vậy, tin Điện Biên Phủ thất thủ không những gây nên một
không khí bi quan tột cùng tại Việt Nam, mà c̣n kéo theo một
cơn lốc chính trị khiếp hải tại nghị trường Ba Lê, khiến
chính phủ Laniel bị sụp đổ. Mandes France được quốc hội tín
nhiệm lên làm thủ tướng với lời hứa hẹn sẽ giải quyết cuộc
chiến tranh Đông Dương trong ṿng 30 ngày, nghĩa là phải
chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. C̣n
Hoa Kỳ, dù trước đó, được
Pháp khẩn khoản yêu cầu can thiệp,
Tổng Thống Eisenhower do dự,
không dám quyết định, sợ mất uy tín v́ viễn tượng vô cùng mờ
mịt cả về quân sự lẫn chính trị tại Việt Nam.
Trước t́nh thế hầu như tuyệt vọng
đó, Ông Diệm đă chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp
chánh. Không một quan sát viên quốc tế nào vào thời đó, dù
lạc quan nhất đi nữa, dám tin rằng chính phủ Diệm có thể tồn
tại hơn 6 tháng. Nhưng như một phép mầu, Ông Diệm đă vượt
qua mọi khó khăn nghiệt ngă, cùng những âm mưu thâm độc đang
vây hăm, muốn nhận ch́m chính phủ của Ông từ trong trứng
nước.
Thật vậy, nhờ một ư chí quật
cường, một năng lực vô song, tài lănh đạo sáng suốt, cùng
một cuộc sống đạo đức cá nhân trong sáng, thánh thiện và một
thành tích chống Pháp và chống Cộng không t́ vết … đă giúp
Ông Diệm thống hợp được ư chí dũng mănh phi thường của toàn
dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước dành độc
lập và tự do cho tổ quốc. Chỉ
trong một thời gian ngắn, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă thực
hiện được nhưng thành tưu đáng kể như sau:
Biến một quân đội lệ thuộc ngoại
bang và t́nh trạng nhiều quận đội trong một quân đội, thành
một quân đội quốc gia độc lập và thống nhất, có tổ chức qui
củ, có kỷ luật, có tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Biến t́nh trạng nhiều quốc gia
trong một quốc gia, do nạn giáo phái hung cứ mỗi nhóm một
phương thành một quốc gia thống nhất, với một cơ chế chính
quyền trung ương vững mạnh, đủ uy lực để huy động mọi tiềm
năng quốc gia vào công cuộc phát triển kinh tế, canh tân xă
hội và kiến tạo một đất nước dân chủ tiến bộ trong ổn định
và thanh b́nh.
Thay đổi một cơ chế chính trị mơ
hồ bằng một định chế chính trị dân chủ tiến bộ, với một bản
hiến pháp, phù hợp với trào lưu chính trị thế giới, vừa đảm
bảo được những quyền tự do cơ bản của mọi công dân, nhưng
cũng vừa đủ mạnh để duy tŕ uy quyền quốc gia, nhằm đối phó
với cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo do Cộng
sản Bắc Việt chủ xướng. Đồng thời, tạo cơ hội để huy động
mọi năng lực để tái thiết đất nước và xây dựng kinh tế thoát
khỏi t́nh trạng nghèo đói và lạc hậu của một quốc gia bị đô
hộ mới thu hồi độc lập.
Nhưng trong tất cả thành quả kể
trên, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă coi trọng và rất tự hào về
việc ban hành Hiến Pháp
26.10.1956, v́ theo Tổng Thống, các quốc gia láng giềng
Á Châu, đă mất ít nhất một vài ba năm mới có thể kiện toàn
cơ chế căn bản của nền dân chủ của họ, c̣n chế độ Việt Nam
Cộng Ḥa chỉ cần một năm đă ban hành được một bản Hiến Pháp
dân chủ và tiến bộ, đồng thời đáp ứng được nhu cầu cấp thiết
của đất nước về mọi phương diện.
H́nh Thành Hiến
Pháp 26.10.1956.
Nếu
cuộc Trưng Cầu
Dân Ư ngày 23.10.1955
là hệ quả của cuộc cách mạng tự phát do Ủy Ban Cách Mạng
Quốc Gia gồm 18 chính đảng và đoàn thể cùng 29 nhân sĩ có uy
tin của miền Nam lúc đó thực hiện (xem
Nhị Lang, trang 287-297)
th́ việc h́nh thành Bản Hiến Pháp đầu tiên của thể chế Cộng
Ḥa Việt Nam lại là thành quả một cuộc tranh đấu lâu dài của
chính vị nguyên thủ quốc gia thời đó. Điều nầy được chính
Ông Diệm xác nhận:
“Cách đây 22 năm, khi tôi có
trách nhiệm quan trọng trong chính quyền, tôi đă đ̣i hỏi
thành lập một Quốc Gia Dân Cử. Nhưng người và hoàn cảnh hồi
đó chống lại ư muốn ấy, nên tôi rời bỏ chính quyền. Ấy vậy,
khai nguyên một chế độ dân chủ, chẳng phải v́ t́nh thế, mà
cũng là việc tôi hằng chủ trương tranh đấu”. (Niên
Giám Quốc Hội Lập Hiến, Sàigon, 1956, tr17)
Tiếp đến Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
đă quan tâm rất nhiều đến tie^'n tŕnh dự thảo Hiến Pháp
26.10.1956. Trong thực tế, bản văn pha'p lư căn bản nầy
không chỉ là sáng quyền duy nhất của Quốc Hội Lập Hiến thời
đó, mà c̣n có sự tham gia chỉ đạo rất tích cực của Tổng
Thống Diệm nữa. Điều nầy đă thể hiện trong thông điệp của
Tổng Thống gởi quốc Hội Lập Hiến trong ngày khai mạc
17.4.1956:
Việt Nam là một
nước Cộng Ḥa độc lập, thống nhất và bất khả phân.
Mỗi người công dân được sinh ra,
đều được tự do và b́nh đẳng trước pháp luật. quốc gia phải
bảo đảm cho họ những điều kiện đồng đều để họ hành xử quyền
lợi của ḿnh và hoàn thành các nhiệm vụ đă được giao phó.
Chính phủ có bổn phận giúp đở và bảo vệ gia đ́nh họ, để họ
có thể phát phát triển một cuộc sống gia đ́nh thuận ḥa. Tất
cả các công dân đều có quyền được hưởng một cuộc sống an
b́nh, với mục tiêu duy nhứt là được làm việc với đồng lương
xứng đáng để có thể tạo nên một sản nghiệp và nhờ đó có thể
đảm bảo cho ḿnh một cuộc sống đầy nhân phẩm và tự do, bảo
đảm cho ḿnh những quyền tự do dân chủ, và tạo cho ḿnh cơ
hội được phát triển đầy đủ bản chất riêng ḿnh. V́ phúc lợi
chung và v́ nền Cộng Ḥa, chống lại những kẻ phá hoại nền
tảng của cuộc sống cộng đồng và của Hiến Pháp.
Chủ quyền quốc
gia thuộc về Quốc Dân.
Quốc Hội Dân Cử được giao phó nhiệm vụ lập
pháp.
Tổng Thống của nền Cộng Ḥa được
bầu ra bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín,
sẽ được ủy thác trách nhiệm hành pháp.
Ṭa án phải được hoàn toàn
độc
lập để có thể đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ được chế
độ cộng ḥa, trật tự, tự do và nền dân chủ.
Một Viện Bảo Hiến cũng phải được
thành lập để có thể giải quyết những tranh chấp có liên quan
đến các luật lệ hiến định.
Các lựu lượng kinh tế phải liên
kết với nhau để hành xử quyền hành của họ bằng cách thiết
lập nên một Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia (Ibid)
Thực tại chính
trị Việt Nam .
Như mọi người đều biết, Hiến Pháp tự nó chỉ
là một văn kiện pháp lư, không thể mang lại tự do dân chủ
cho người dân, nếu chính quyền không thực tâm thi hành những
điều khoản đă được long trọng công bố trong đó. Điều nầy thể
hiện rơ nét trong thực tại chính trị tại các quốc gia cộng
sản. Thực vậy, các quốc gia cộng sản cũng có những bản hiến
pháp rất tiến bộ, qui định rất rơ rệt những quyền tự do căn
bản của mọi công dân. Nhưng trong thực tế, đó là những chế
độ độc tài toàn trị, chính quyền đă thâu tóm mọi quyền hành
và những điều khoản căn bản mà Hiến Pháp đă dành cho người
dân đều bị chính quyền chà đạp một cách thô bạo.
Từ ư nghĩ đó, người viết muốn t́m
hiểu một cách khách quan vô tư về thực tại chính trị Việt
Nam trong việc thực thi văn kiện văn kiện pháp lư căn bản
của chế độ. Đồng thời, cũng xin minh xác ở đây, trong bài
nầy sẽ không đề cập đến nội dung của
Hiến Pháp 26.10.1956, v́
luật sư Hà Như Chi, dân biểu của Quốc Hội Lập Hiến và cũng
là thành viên trong Ủy Ban soạn thảo Hiến Pháp, đă tŕnh bày
khá đầy đủ trong quyển Kỷ Yếu
Ghi Ơn Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, xuất bản tại
California, 2005, dưới nhan đề
Quốc Hội Lập
Hiến và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Ḥa, tr 31-44.
Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm độc tài?
Phần lớn những chính trị gia đối lập với chế
độ Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam, mà người viết được tiếp xúc,
đều cho là Tổng Thống Ngộ Đ́nh Diệm là một người độc tài,
không chấp nhận đối lập, không biết liên kết với đảng phái
quốc gia để tạo thành những liên minh chính trị có qui mộ
lớn để động viên sự ủng hộ của toàn dân, nhằm chống cộng sản
hữu hiệu, như Bs
Nguyễn tôn Hoan,
một lănh tụ
Đảng Đại Việt,
hệ phái Miến nam đă phê b́nh Ông Diệm:
Ông
Diệm lúc đầu là một nhà cách mạng thật sự và đạo đức, tôi đă
cộng tác với Ông trong những thời gian đầu của thập nên
1950. Nhưng đến khi Ông Diệm về nước cầm quyền 1954, Ông
càng ngày càng tỏ ra độc tài không c̣n muốn nghe lời ai nữa,
Ông không muốn chia xẽ quyền hành với các đảng phái quốc gia
khác. Tôi không đồng ư với quan niệm đó và đă rời Việt Nam
để sống lưu vong. (Bs Nguyễn Tôn Hoàn trả lời phỏng vấn
của tác giả, tại San Jose, tháng 7,1986)
Trước đó nhiều năm, khi c̣n giảng
sư Lịch sử Chính Trị Việt Nam Hiện Đại, tại Viện Đại Học
Đalat, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với ông
Vơ Văn Hải, bí thư của Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm, và từ năm 1967-1975, ông cũng là giáo
sư thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục nầy. Khi tôi hỏi về thái
độ của Tổng Thống Ngộ đ́nh Diệm đối với các chính khách đối
lập, ông Hải tiết lộ:
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho rằng
phần lớn các chính khách Việt Nam không có
một kiến thức chính trị thực tiển và không hiểu thực tại
chính trị, kinh tế và xă hội của quốc gia chậm tiến mới thu
hồi độc lập như Việt Nam,
Việt Nam lúc ấy phải đối đầu với hậu quả của
cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 9 năm, trong đó mọi hạ tầng
cơ sở bị tiêu hủy hoàn toàn, cầu cống, đường sá, hệ thống
viễn thông … toàn bộ bị phá sập, cắt đứt. hệ thống ngân hàng
sụp đỗ toàn diện v́ không ai tin tưởng nữa.
Từ đó kinh tế quốc gia đi vào ngỏ cụt đầy tăm tối … Chính
trị th́ vô cùng hỗn loạn, các giáo phái hùng cứ mỗi người
một phương. Ngay tại đô thành Sàigon, lực lượng công an cảnh
sát do B́nh Xuyên nắm giữ, nhiệm vụ chính của họ không phải
bảo vệ an ninh trật tự cho dân chúng, mà để duy tŕ và củng
cố mức thu nhập tài chánh cho các ṣng bạc (Casino), các ổ
điếm và các trung tâm hút thuốc phiện của Bảy Viễn. Quân đội
do các sĩ quan Pháp nắm giữ, lúc nào cũng sẳn sàng thách
thức quyền lực chính phủ, để bảo vệ quyền lợi của thực dân
và tài phiệt Pháp. Thêm vào đó, đất nước bị chia đôi, chính
quyền phải định cư cho gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền
Bắc vào Nam. Mặc dù, theo hiệp định Genève, cuộc chiến đă
kết thúc và cộng sản tập kết ra Bắc, nhưng thực tế họ đă gài
người ở lại để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh du kích,
phá hoại và khuynh đảo mới. Thực dân Pháp, dù tuyên bố trao
trả chủ quyền cho Việt Nam, nhưng trong thực tế vẫn c̣n có
nhiều ư đồ đen tối để duy tŕ đặc quyền, đặc lợi của giới
tài phiệt Pháp tại đây …
đất nước vừa mới thu hồi độc lập, dân chúng
c̣n bỡ ngỡ trước quan niệm tự do dân chủ, dân chúng c̣n
ngheo đói, không đủ ăn đủ mặc. Nếu đem áp dụng những quan
niệm dân chủ lư tưởng của Tây Phương chắc chắn sẽ đưa đến
hỗn loạn.
Trong hoàn cảnh đó, mà Bs
Nguyễn Tôn Hoàn và Ks Phan Khắc Sữu
..
đ̣i phải áp dụng chế độ Dân Chủ Đại Nghị của
Đệ Tam Cộng Ḥa Pháp Quốc,
để đem hứng khởi lại cho người dân và cổ vũ cho mọi chính
đảng tham gia vào mặt trận chính trị quốc gia nhằm đối đầu
với cộng sản và thực dân …
Theo Ông Diệm, các cụ không theo
dơi những biến chuyển chính trị trên thế giới, đặc biệt các
quốc gia Á Phi, sau khi thu hồi độc lập, họ cần phải có một
chính quyền mạnh để có thể thực hiện các cuộc canh tân khẩn
cấp về chính trị và kinh tế, để có thể bắt kịp đà tiến hóa
của thế giới sau nhiều năm bị kèm hảm trong sự chậm tiến
dưới chế độ thực dân đô hộ. Và ngay quan niệm
Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng ḥa Pháp
Quốc, đă lỗi thời ngay cả ở nước Pháp,
một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời nhất thế giới
nầy, v́ nó gây nên quá nhiều bất ổn chính trị, có khi trong
một tháng mà phải thay đổi chính phủ đến 2 lần, có khi chính
phủ tồn tại có 3 ngày là sụp đỗ … thử hỏi, một người có chút
công tâm, một chút nhận thức về thực tế chính trị đất nước
và chiều hướng phát triển kinh tế chính trị tại các quốc gia
Á Phi, sau thế chiến thứ 2 … có thể chấp nhận quan điểm dân
chủ của cụ
Hoàn, cụ Sữu
… không?
Ông Diệm khẳng định, v́ quyền lợi tối thượng
của quốc dân và tổ quốc, Ông không thể chấp nhận quan điểm
nầy.
Nhưng bất hạnh cho cá nhân Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm và có thể cho toàn thể miền Nam không
ngừng ở đó. Ngày
27.1.1960,
Cộng sản lợi dụng dịp Tết Nguyên Đán, bất ngờ tấn công vào
Trăng Sụp, thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt Miên, với
quân số cấp trung đoàn. Điều nầy chứng tỏ mức độ xâm nhập,
phá hoại và khuynh đảo của cộng sản Bắc Việt đă đến độ nguy
hiểm cho sự tồn vong của Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong chính t́nh h́nh đó,
thật là khó hiểu và đầy mĩa mai, tháng 4 năm
1960, 18 chính kách tên tuổi của miền Nam họp tại khách sạn
Caravelle,
đưa ra một kiến nghị đ̣i Tổng Thống Diệm mở rộng chính phủ,
thực thi những quyền tự do căn bản trong Hiến Pháp như quyền
tự do báo chí, tự do hội họp … thật là đầy bí ẩn, khi đát
nước đang ở trong t́nh trạng khẩn trương của chiến tranh,
các cụ lại đi đ̣i hỏi thực thi những điều tự do quá lư tưởng
và không thực tế nầy.
Đến nỗi, một nhà b́nh luận
người Anh có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam,
Ducanson đă nhận xét mà
người viết có thể tóm lược như sau:
"Nếu bản kiến nghị nầy được đưa
ra trong điều kiện chính trị ổn định của một miền Nam không
bị cộng sản Hà Nội đe dọa tiêu diệt, th́ đó là yêu sách đáng
được cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất, là khi cộng
quân đă tấn công cấp trung đoàn và các vụ sát hại các viên
chức chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày,
th́ đó là những yêu sách nếu
không muốn bảo là ngớ ngẫn, th́ ít ra cũng bắt nguồn từ sự
thiếu khôn ngoan." (Ducanson, Denis J.. Government and
Revolution in Vietnam, 1968)
Dù vậy, nhưng biến cố nầy sau khi
được nhà báo thiên tả như Jean Lacouture viết những bài
tường thuật trên báo Le Monde tại Paris đă kết án chính
quyền của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là độc tài, không thực
thi nghiêm chỉnh Hiến Pháp và không được sự ủng hộ của đa số
chính khách đối lập trong việc theo đuổi chính sách chỉ đạo
cuộc chiến tranh chống Cọng tại Việt Nam. Điều nầy đă làm
xấu đi h́nh ảnh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tại chính
trường Hoa Thịnh Đốn.
Tiếp đến, một biến cố quân sự
khác, đó là cuộc
đảo chánh
11-11-1960 do Trung Tá Vương Văn Đông chủ xướng. Ông Đông là
một sĩ quan thân Pháp, bất măn với chính quyền Ông Diệm,
kết hợp với một số sĩ quan gốc Bắc cũng bất măn như ông, v́
cho rằng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị địa phương, chỉ
thích sử dụng người miền Trung (Đại Tá Phạm Văn Liễu đàm
luận với tác giả tại California, 7-1986). Do đó, các sĩ quan
nầy chủ động một cuộc đảo chánh quân sự một cách vội vă và
thiếu tổ chức, chứ không có một hậu thuẩn chính trị nào đáng
kể. Về phương diện chính trị, ông Đông có liên lạc với luật
sư Hoàng Cơ Thụy, một người có họ hàng với ông, như là người
phụ trách bộ phận chính trị của cuộc đảo chánh, nhưng ông
Thụy không có liên lạc hay nối kết hoặc được sự ủng hộ của
một chính đảng nào. (xem Vương Văn Đông, Binh Biến
11-11-1960, Phụ Nữ Diễn Đàn, Virginia, số 106 tháng 11/1992,
tr 41-42). Chỉ khi Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, người tham gia
đảo chánh vào giờ chót, cho mời nhà văn
Nguyễn Tường Tam, kỷ sư Phan Khắc Sữu, v́
không nắm vững t́nh thế lúc đó, nên các cụ ủng hộ cuộc đảo
chánh vào giờ chót,
và sau này, các cụ đă gặp khá nhiều hệ lụy phiền phức với
chính quyền. Trong khi luật sư Thụy, v́ được CIA móc nối và
khuyến khích thực hiện cuộc binh biến nầy từ trước, nên sau
khi sự việc bất thành, CIA đă đưa vị luật sư nầy rời khỏi
Việt Nam một cách an toàn.
Rồi ngày
20.12..1960, Cộng sản Bắc Việt chính thức
khai sinh Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam để phát động cuộc xâm
lăng vơ lực thôn tính Miền Nam.
Ba
sự kiện trên đây, đối với người viết, xảy ra hoàn toàn riêng
rẽ, không có một liên hệ hỗ tương, nhân quả hay luận lư nào
với nhau. Nhưng đối với dư luận, nhất là tại Hoa Kỳ, họ
cho rằng ba biến cố nầy đă có một liên hệ nhân quả mật thiết,
nghĩa là chính quyền Diệm độc tài, đàn áp đối lập, hạn chế
những quyền tự do căn bản …, xa rời quần chúng, khiến đa số
chán ghét chế dộ Diệm nên đă có
những thành phần trí thức bất măn như nhóm
Caravelle
đ̣i hỏi cải cách chính trị, nhóm sĩ
quan nhảy dù thực hiện đảo chánh quân sự và sau khi những nỗ
lực nầy thất bại, những thành phần đối lập nầy, không c̣n
phương cách nào khác hơn,
đă phải nối kết lại với nhau
dựng nên Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, hoàn toàn độc lập với
Hà Nội, xử dụng vơ lực để chống lại chính phủ Miền Nam..
Điều thiếu may mắn nữa cho Ông Diệm và cũng cho Miền Nam, là
quan điểm nầy lại được một chuyên gia rất có uy tín về Việt
nam là G. Kahin, giáo sư của Địa Học nổi tiếng Cornell và
cũng là cố vấn của Tổng Thống Kennedy về Việt Nam sau nầy
nhiệt t́nh ủng hộ. (xem Kahin George, Intervention, 1986).
Từ những
nguyên nhân sâu xa đó, uy tín của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
trong chính giới Hoa Kỳ ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đến
nổi, cuối năm 1961, những nhà làm chính sách tại ṭa Bạch Ốc
đă có lúc nghĩ đến việc ám sát Tổng Thống Ngô Đ́nh diệm,
nhằm thay đổi cơ chế lănh đạo của Miền Nam.
Trong thời gian đó, chỉ có chính
quyền Úc có một cái nh́n sâu sắc và thực tiển hơn về vấn đề
xây dựng dân chủ và đường lối chính trị cứng rắn của Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm trong chủ trương theo đuổi cuộc chiến
tranh chống Cộng, Ngoại Trưởng
R. G. Casey của Úc đă nhận xét:
"Hai
sự việc cần được mọi người ghi nhớ khi muốn chỉ trích chính
quyền Việt Nam . Thứ nhứt, Việt Nam đang ở tuyến đầu của
cuộc chiến tranh lạnh. Chính phủ quốc gia đó, không thể để
một khe hở nào cho đối phương khai thác. Một kẻ hở nào cũng
sẽ cựuc kỳ nguy hiểm, không những cho Việt nam mà c̣n cho cả
tự do của Đông Nam A` Châu nữa. Thứ hai,
sự thực hiện dân chủ trên b́nh
diện quốc gia là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam
và cần phải có thời gian để phát triển các định chế, các
truyền thống, các tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ
theo đường hướng xây dựng và có trách nhiệm". (Richard
Lindhelm, Vietnam, the First five years Ann Arbor, Michigan,
1959, tr 344)
Quan Niệm Dân
Chủ Việt Nam và Hoa Kỳ.
Sai Lầm của Mỹ
Điều khá khôi hài, khi quan
niệm dân chủ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và của Tổng Thống
Kennedy đều bắt đầu bằng hai chữ T. Đó là Dân Chủ Thành và
Tín của Ông Diệm trong khi Dân Chủ của Kennedy là dân chủ
thực tiển. Thật vậy, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm luôn luôn chủ
trương rằng đời sống dân chủ nói cho cùng … chính là việc
đem áp dụng các giá trị thành và tín vào cuộc sống hằng ngày
một cách thật hoàn hảo. Trong khi đó, các giới chức của
chính quyền Hoa Kỳ chủ trương dân chủ thực tiển, nghĩa là
dân chủ phải thực tế, từ ngữ tự do dân chủ, chủ quyền quốc
gia và công pháp quốc tế, chỉ một ư nghĩa vô cùng tương đối
và tùy tiện, nhắm phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ thời đó
đă khẳng định rằng, v́ quyền lợi của nước Mỹ, không những họ
có quyền mà c̣n có trách nhiệm để thay đổi cơ chế lănh đạo
Miền Nam lúc bấy giờ. Cũng như ngày nay, Hoa Kỳ chỉ đặt nhân
quyền, tự do tôn giáo … với chính quyền Hà Nội, khi người Mỹ
c̣n muốn mặc cả về những điều kiện kinh tế và thương mại cho
giới tư bản Mỹ, nhưng khi những yêu sách nầy của Mỹ được Hà
Nội thỏa măn, th́ những vấn đề nhân quyền … của Việt Nam
chắc chắn sẽ không c̣n được chính quyền Hoa Kỳ đề cập đến
nữa. Đó là những thực tại chính trị khá phủ phàng nhưng rất
thực tế của nước Mỹ và cũng là nan đề trong việc thực thi
dân chủ tại Miền Nam của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm mà người
viết sẽ tŕnh bày một cách chi tiết trong phần dưới đây.
Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị,
‘Chia để Trị’
Tổng Thống Ngộ đ́nh Diệm
thường tâm sự với các cộng sự viên thân tín:
Người Mỹ không có
khả năng phân biệt được thế nào là uy quyền quốc gia và chủ
quyền dân tộc với lối cai trị độc tài … V́ truyền thống xă
hội Việt Nam, bối cảnh chính trị và lịch sử của đất nước,
đ̣i buộc các nhà lănh đạo Việt Nam phải chú trọng đến việc
nâng cao chủ quyền quốc gia (Ngô Đ́nh Luyện đàm luận với tác
giả tại Ba Lê, tháng 9,1986).
Thật vậy, xuyên
qua lịch sử Việt Nam, quốc gia nầy đă bị người Trung Hoa cai
trị gần một ngàn năm và hơn 80 năm bị người Pháp đô hộ.
Những người thống trị ngoại bang nầy đă áp dụng một chính
sách chia để trị nhằm chia rẽ Việt Nam và kiềm hảm quần
chúng trong cảnh thất học, nghèo đói và chậm tiến. Cũng theo
Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm, chính sách nầy đă để lại những hậu
quả vô cùng nghiêm trọng cho xă hội Việt Nam trên nhiều b́nh
diện khác nhau:
Trước hết là t́nh
trạng phân hóa. Điều nầy thể hiện khá rơ rệt trong lịch sử
đất nước chúng ta. Sauk hi Ngô Quyền dành độc lập cho tổ
quốc và chấm dứt thời kỳ lệ thuộc vào phương Bắc, đất nước
chúng ta đă phải trăi qua thời kỳ Thập Nhị sứ quân. Và đến
thế kỷ thứ 15, dân tộc nầy phải sống trong cảnh Nam Bắc Phân
Tranh gần 100 năm. Dưới thời Pháp đô hộ, chính quyền thức
dân đă chia Việt Nam thành 3 miền khác nhau: Bắc Kỳ, Trung
Kỳ và Nam Kỳ và được đặt dưới những chế độ chính trị khác
nhau:
Thật vậy, trên
nguyên tắc, Bắc Kỳ và Trung Kỳ được đặt dưới chế độ Bảo Hộ
(Protectorate) , nhưng trong thực tế, cách thức cai trị ở
Bắc kỳ và Trung Kỳ cũng khác nhau. Ở Bắc Kỳ, người Pháp đ̣i
buộc Triều Đ́nh Huế ủy quyền cho một viên chức Pháp gọi là
Thống Sứ để đại diện Hoàng Đế Việt Nam điều hành công việc
hành chánh tại miền đất nầy. Trong khi Trung Kỳ thuộc thẩm
quyền của các Vua Triều Nguyễn, cai trị dân chúng dưới sự
chỉ đạo của Khâm Sứ Pháp tại Huế. C̣n Nam Kỳ được đặt dưới
chế độ thuộc đia (colony) hoàn toàn do người Pháp cai trị.
Người dân sống từ vùng nầy sang vùng khác; ví dụ như Bắc Kỳ
vào Nam Kỳ, phải xin giấy thông hành (passport) giống như
người từ quốc gia sang quốc gia khác vậy. Rồi vào thập niên
1950, người Pháp đặt Cao Nguyên Trung Phần dưới một thể chế
cai trị đặc biệt được mênh danh là Hoàng Triều Cương Thổ. Và
tiếp theo, người Pháp cũng cắt một số tỉnh miền Dông và miền
Tây Nam Kỳ đặt dưới quyền cai trị riêng của hai giáo phái
Cao Đài và Ḥa Hảo.
Áp dụng biện pháp
cai trị đó, người Pháp nhằm mục đích tạo t́nh trạng phân hóa
giữa người Việt và làm ung thối tiềm năng đấu tranh dành độc
lập của dân tộc. Theo ông Ngô Đ́nh Luyện, khi về nước cầm
quyền, Ông Diệm đă phải đối dầu với t́nh trang chia rẽ trầm
trọng. Do đó, chính phủ không c̣n cách nào khác hơn là tập
trung quyền hành để thống nhất uy quyền quốc gia, nhằm xây
dựng độc lập cho dân tộc, phát triển kinh tế, cải tạo xă hội
và ngăn cản âm mưu khuynh đảo của cộng sản.
Ngoài ra, để dễ
dàng duy tŕ chế độ thực dân, người Pháp đă kiềm chế dân tộc
Việt Nam trong cảnh thất học. Họ đă hạn chế việc xuất bản
sách báo và kiểm soát gắt gao việc mở trường dạy học. Trong
thực tế, chính quyền thực dân chỉ mở một số ít các trường
học nhằm đào tạo một số công chức cấp thấp để phục vụ cho
guống máy cai trị của họ tại Đông dương. Chủ ư của họ là tạo
nên một giới thư ali5 thụ động, thiếu trách nhiệm, chỉ biết
vâng lệnh và không biết tự t́m cách giải quyết các vấn đề.
Do đó, khi thu hồi độc lập, chính quyền trung ương đă phải
giải quyết tất cả mọi vấn đề trên toàn quốc. Theo ông Ngộ
Đ́nh Luyện, trong nội các của Ông Diệm năm 1955, chỉ có 2
đến 3 tổng trưởng là dám nhận lănh trách nhiệm để điều hành
các công việc thuộc phạm vi quyền hạn của họ. C̣n những
người c̣n lại, v́ sợ trách nhiệm hoặc không đủ hiểu biết
chuyên môn để giải quyết các vấn đề khó khăn; do đó, đă t́m
mọi cách để tránh né và chuyển gánh nặng hành chánh của họ
lên vai Tổng Thống Diệm. Chính v́ t́nh trạng nầy, vào những
năm sau cùng của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa, Tổng Thống Diệm đă
phải gởi hang núi hồ sơ cho ông Ngô đ́nh Nhu, người cố vấn
thân tín nhất của Tổng Thống để giải quyết. Đó là lư do giải
thích tại sao hằng ngày Tổng Thống Diệm đă phải làm việc hết
sức cực nhọc từ 5 giờ sáng đến nửa khuya và đôi khi đến 1 hy
2 giờ sáng ngày hôm sau.
Như điều tai hại
cho Tổng Thống Diệm, là những người cộng sự viên thiếu tinh
thần trách nhiệm nầy, thường bí mật phàn nàn với cố vấn Mỹ,
là Tổng Thống Diệm không biết ủy quyền cho các thuộc cấp,
muốn tập trung tất cả quyền hành vào trong tay ḿnh, cho nên
đă tạo nên nhiều sai lầm nghiêm trọng. (Theo Ngô Đ́nh Luyện,
đàm luận với tác giả). Chính v́ vậy, mà Hilsman, Thứ Trưởng
Ngoại Giao, Đặc Trách Viễn Đông Sự Vụ, khi quan sát t́nh
h́nh Việt Nam vào đầu năm 1963, đă kết luận:
Dù có biện hộ hay
né` tránh thế nào đi nữa, vấn đề cuối cùng vẫn là nơi Ông
Diệm.
(Xem Hilsman, To Move A
Nation, tr 460)
Phương Cách Thực Thi Dân Chủ.
Đối với Tổng
Thống Diệm, dân chủ kiểu Mỹ là một sản phẩm xa xỉ hoàn toàn
không thích hợp với một quốc gia chậm tiến như Việt Nam .
Cũng theo Ông, xă hội Việt Nam, đa số dân chúng hơn 80% sống
ở thôn quê, c̣n đói nghèo, thất học, không có an ninh, luôn
bị du kích Cộng sản đe dọa; th́ những tự do ngôn luận, tự do
báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử chẳng có ư nghĩa ǵ cả
đối với họ. Điều mà dân chúng ở nông thôn mong muốn là một
chính quyền mạnh mẽ, đủ để bảo đảm an ninh cho họ chống lại
sự khủng bố của Việt Cộng. Hằng đếm, du kích Cộng sản dùng
sung hăm dọa để thu thóc gạo, cưởng bách con em họ phải tham
gia hang ngũ cán binh Việt Cộng. Ngoài ra, dân quê cần chính
quyền tạo cho họ một đời sống đủ ăn, đủ mặc chống lại sự bóc
lột của chủ đất, và của một thiểu số có thế lực và giàu có.
Rồi từ đó, họ có đủ phương tiện gởi con em họ đến trường học,
hấp thụ được một nền giáo dục căn bản, đủ kiến thức chính
trị cần thiết. Lúc đó, người dân quê sẽ biết xử dụng quyền
tự do căn bản của họ, để thực sự tham gia các cuộc bầu cử và
ứng cử nhằm ngăn chận những người địa chủ và một thiểu số
giàu có, lợi dụng sự nghèo đói và thất học của họ đă khai
thác và bóc lột họ.
Lư thuyết của
Tổng Thống Diệm đă được áp dụng vào thực tế qua những chương
tŕnh sau đây:
Chương tŕnh cải
cách ruộng đất, được mệnh danh là chương Tŕnh Người Cày Có
Ruộng trong đó chính phủ mua đất của các địa chủ phát cho
người nghèo.
Chương Tŕnh Dinh
Điề, chính phủ đă thực hiện một công cuộc di dân từ các làng
xă dân cư đông đúc và nghèo khổ; ở đó dân không đủ đất để
cày hoặc đất đai quá cằn cổi, đến những vùng đất đai trù phú
hơn ở Cao Nguyên để khẩn hoang lập nghiệp. Trong thời gian
đầu, chính phủ giúp cho dân chúng đầy đủ các vật dụng để xây
cất nhà cửa, các nông cụ canh tác. Đồng thời, chính phủ cũng
cung cấp đầy đủ lương thực và quần áo để sống trong ṿng 6
tháng đầu tiên để chờ đợi mùa màng sinh hoa lợi.
Chương tŕnh Khu
Trù Mật, chính phủ đă chọn một số địa điểm ở thôn quê, để
xây dựng các cơ sở với những tiện nghi của thành phố như lập
nhà máy điện, đào gieng61 nước được trang bị máy bom tối
tân, xây bệnh viện, trường học .. để dân chúng nông thôn
hưởng thụ những tiện ích của đời sống văn minh.
Chương tŕnh Ấp
Chiến Lược. Đây là chương tŕnh rất quan trọng nằm trong
sách lược của quốc gia nhằm chống lại cuộc chiến tranh
khuynh đảo do chính quyền Hà Nội chủ xướng.
Qua chương tŕnh
nầy, chính quyền địa phương đă thực hiện một cuộc thanh lọc
để loại trừ những thành phần cộng sản nằm vùng ra khỏi dân
chúng. Sau đó, chính quyen62 đoàn ngũ hóa dân chúng thành
những tổ chức chiến đấu để chống lại sự khủng bố của cộng
sản. (…)
Về phương diện
kinh tế, mỗi ấp đă trở thành một đơn vị phát triển kinh tế
tự túc. Thật vậy, lúc đầu với một máy sản xuất gạch ngói có
tính cách tiểu công nghệ do chính phủ giúp đở, với lối làm
việc vầnn công và đổi công, chẳng bao lâu trong ấp, tất cả
các nhà tranh được thay thế bằng các nhà gạch với mái ngói
khang trang với vườn cây ăn trái tốt tươi và xinh đẹp.
Về phương diện
chính trị, mỗi ấp tự bầu lên một ban trị sự để điều hành mọi
công việc trong ấp. đây là phương cách hữu hiệu và thực tiễn
để người dân quê có thể tiếp tục xử dụng những quyền tự do
dân chủ căn bản để bầu người đại diện của ḿnh vào cơ cấu
hành chánh xă ấp.
Theo Tổng Thống
Diệm, đây là cách thực hiện dân chủ hiệu quả nhất của một
quốc gia chậm tiến đang phải đối phó với cuộc chiến tranh
phá hoại và khủng bố do Cộng sản điều động từ bên ngoài. Nói
một cách khác, đây là cách phát triển dân chủ từ hạ tầng cơ
sở đến thượng tầng kiến trúc của quốc Gia. Chỉ trong cơ cấu
nầy, người dân quê cô thế và thất học mới thật sự được thụ
hưởng những quyên tự do căn bản của con người. Cũng theo
Tổng Thống Diệm, phương cách chính trị phù hợp với truyền
thống dân chủ ngàn xưa của dân tộc Việt. Đó là người dân
được quyến quyết định mọi việc trong làng, phép vua thua lệ
làng. Và thượng tầng, vẫn được duy tŕ được uy quyền tối
thượng của quốc Gia.
Tổng Thống Diệm
cũng thường nói với cộng sự viên thân tín như sau:
Nếu đem áp dụng
một cách cứng ngắt kiểu dân chủ Mỹ vào Việt Nam, không những
không đem lại lợi ích cho Quốc Gia, mà c̣n tạo thêm cho một
thiểu số giàu có bóc lột những người dân nghèo thất học,
giúp phương tiện cho những chính trị gia cơ hội, xu thời và
những thành phần thân Cộng ở các thành phố dùng các phương
tiện truyền thông để chỉ trích chính phủ, gây thêm rối loạn
trong một quốc gia cần sự ổn định, để theo đuổi cuộc chiến
tranh sống c̣n chống lại âm mưu khuynh đảo của Cộng sản. (Vơ
Văn Hải, đàm luận với tác giả, tại Đalat, 1973)
(c̣n tiếp)
-Sai Lầm của Mỹ
-Dân Chủ Theo Lối Mỹ
-Nhầm Lẫn Chết Người
Trong khi đó, những nhân vật trí thức cấp
tiến của Bộ Ngoại Giao Mỹ, Harriman, Hilsman, đă không hiểu
được bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam nên đă có những
nhận định và chính sách sai lầm khi theo đuổi cuộc chiến
tranh chống Cộng. Sau nầy, Tổng Thống Nixon đă phân tích
điều đó trong tác phẩm No More
Vietnam của ông. Ông cho rằng các chuyên gia của
chính quyền Kennedy thời đó đă lầm lẫn cho
rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh cách
mạng. Trong khi đó, thực tế, đó là cuộc chiến tranh du kích,
phá hoại, khủng bố, đột nhập từ bên ngoài do Cộng sản Hà Nội
điều động.
Chính v́ vậy, những chuyên
gia nầy luôn luôn đ̣i hỏi phải mở rộng tự do báo chí, tự do
hội họp và lập các đoàn thể, tạo điều kiện cho các chính trị
gia đối lập tham gia vào nội các để có thêm hậu thuẩn trong
quần chúng. (xem Nixon, op.cit., 1982)
Đây là những điề
kiện mà theo Tướng Taylor của Mỹ nhận xét, ngay chính nước
Mỹ cũng không thể áp dụng được trong thời chiến tranh như
Thế Chiến Thứ Hai chẳng hạn. Và ngày nay, sau khi cuộc chiến
tranh Việt Nam chấm dứt, thực tế càng cho thấy một cách rơ
ràng hơn của các cố vấn chính trị của Tổng Thống Kennedy.
Thật vậy, Miền Nam đă mất, không phải v́ Cộng sản thành công
trong việc kêu gọi dân chúng nổi dậy lật đổ chính quyền như
sách lược khuynh đảo trong chiến tranh cách mạng do cộng sản
chủ xướng. Nhưng thực tế, Miền Nam đă sụp đổ v́ Cộng sản đă
xử dụng thiết giáp, chiến xa, đại pháo và quân đội chính quy
tiến vào Dinh Độc Lập, nghĩa là những phương tiện của một
cuộc chiến tranh qui ước đột nhập từ ngoài vào, phối hợp với
những hoạt động du kích phá hoại từ bên trong.
Chính v́ thế,
Tổng Thống Diệm đă than thở:
Chúng ta có một người bạn quí giúp đở tiền
bạc nhưng không hiểu chi cả về chuyện Việt nam.
(Nguyễn
Văn Châu, 1989, tr.228)
Trong khi đó,
ông Nhu cũng thường tâm sự
với cộng sự viên thân cận của ông như sau:
Mỹ có thói quen bắt buộc các đồng minh phải
rập khuôn như họ … nhưng ở Mỹ khác, ở Á Châu nầy khác …
Trong một quốc gia ḥa b́nh th́ lại hoàn toàn khác với một
quốc gia đang có chiến tranh. Tổng Thống kennedy khuyến cáo
Việt Nam cải tổ cơ chế dân chủ có nghĩa là phỏng theo phong
cách sinh hoạt chính trị xă hội Mỹ . .. Ông cha chúng tôi đă
có nhiều kinh nghiệm chia rẽ, nạn kỳ thị và phe phái … Nếu ở
Việt Nam áp dụng dân chủ như Mỹ th́ chỉ đi đến t́nh trạng
hổn loạn. Mà Việt Nam th́ không thể chấp nhận được t́nh
trạng hổn loạn giữa lúc đang có chiến tranh.
(Bs trần Kim Tuyến, đàm luận với tác giả, Cambridge, tháng
9, 1986)
Có lẽ một cách
tổng quát phải nói rằng, đối với quan niệm Dân Chủ Tây
Phương và tinh thần quản trị khoa học của Mỹ, lề lối làm
việc của Tổng Thống Diệm không thể chấp nhận được và Tổng
Thống Diệm quả là nhà độc tài v́ Ông ta không biết cách ủy
nhiệm quyền hành và phân quyền trong guồng máy cai trị quốc
gia.
Tuy nhiên, trong thực tại chính
trị Việt Nam, có lẽ cũng là một sai lầm nếu nghĩ rằng những
phương pháp đem lại kết quả tốt ở Phương Tây, nó cũng sẽ đạt
được những thành tích như vậy, khi đem áp dụng ở Phương Đông.
Và
những nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn càng
không thể tránh được những lỗi lầm nghiêm trọng, khi họ quá
tự phụ về những hiểu biết của họ, nhưng trong thực tế, họ
rất nghèo nàn trong kiến thức về văn minh và lịch sử Việt
nam.
Dân Chủ Theo Lối Mỹ
Có một sự thật hết sức mĩa mai, các viên chức thuộc Bộ Ngoại
Giao Mỹ luôn luôn đ̣i hỏi Tổng Thống mở rộng tự do, đề cao
dân chủ pháp trị cho phép những đảng phái tham gia vào nội
các, nhằm lôi cuốn sự ủng hộ của quần chúng về phía chính
quyền. Đồng thời, chính họ lại là những người bất chấp cả
những nguyên tắc căn bản của công pháp quốc tế, bí mật xử
dụng quyền lực của Mỹ để lật đổ chính quyền Ông Diệm.
Thật vậy, từ năm
1954, những nhà làm chính sách của Mỹ tại Bộ Ngoại Giao nghĩ
rằng họ có quyền thay đổi chính phủ Việt nam, nếu quyền lợi
của nước Mỹ đ̣i hỏi như vậy. William C.Gibbons đă phân tích
chính sách đó như sau:
Từ lúc khai sinh ra chính quyền
Diệm vào năm 1954, nhiều nhà làm chính sách Mỹ đă cho rằng,
trong những trường hợp nhất định nào đó, Mỹ quốc không những
có quyền mà c̣n có trách nhiệm đem đến một sự thay đổi tại
Việt nam. Đường lối nầy cũng khá phổ biến trong việc bang
giao cũa Mỹ đối với chính quyền của những quốc gia khác trên
thế giới, mà ở đó quyền lợi của Hoa Kỳ đ̣i hỏi những hành
động như thế. Và để theo đuổi triết lư nầy,
Hoa Kỳ
đă sắp đặt và hổ trợ những cuộc
đảo chánh tại Ba Tư và
Guatamala để thay thế những nhà lănh đạo của những chính
phủ của các nước đó, bằng những người lănh đạo do Hoa Kỳ
chọn lựa.
(xem
William C.Gibbons,
quyển II, 1961-1964, tr
140-141)
Một sự thật khác cũng khá ngộ
nghĩnh,
các viên chức dân sự có học thức tại Bộ Ngoại
Giao Mỹ thường tỏ ra thái độ bảo thủ, thực dân, khinh thường
chủ quyền của các dân tộc khác.
Trong khi đó, các tướng lănh và các nhà quân sự tại Bộ Quốc
Pḥng lại là những người có đầu óc tiến bộ, ôn ḥa, biết
kính trọng chủ quyền cùa các quốc gia khác và lại am hiểu
t́nh h́nh Việt Nam một cách sâu rộng hơn. Thật vậy, khi điều
trần trước quốc Hội Mỹ, Thượng Nghị Sị Church đặt câu hỏi,
liệu Mỹ có thể xử dụng áp lực buộc Ông Diệm phải thay đổi
chính sách không? Tổng Trưởng Quốc Pḥng Mỹ MacNamara trả
lời:
Vâng, việc
xử dụng áp lực nằm trong khả năng của chúng ta. Nhưng việc
bảo đảm để [Diệm] hành động phù hợp với những điều khuyến
cáo của chúng ta, nó vượt ra ngoài khả năng của chúng ta.
Đây là một chính quyền độc lập và tôi nghĩ rằng thật không
thích hợp để chúng ta cho rằng, đó là một thuộc địa [của
chúng ta].
(xem Gibbons, op.ct., tr.192)
Trong khi đó
Tướng Taylor
cũng đă xét một cách chính xác
về tài lănh đạo của Tổng Thống Diệm, khi ông phát biểu
trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thương Viện Mỹ vào ngày
8.10.1963:
Chúng ta
cần một người cứng rắn để lănh đạo quốc gia nầy, chúng ta
cần một nhà độc tài trong thời gian chiến tranh và chúng ta
đang có nhân vật đó. Quốc gia nầy đang trải qua một cuộc nội
chiến và tôi nghĩ rằng cố gắng áp đặt những điều mà chúng ta
gọi là những tiêu chuẩn dân chủ b́nh thường đối với chính
quyền nầy là một điều không thực tế.
(Ibid.)
Nhầm lẫn chết người
Nhưng sự khác biệt quan trọng hơn hết là
những lư do thầm kín bắt nguồn từ quyền lợi của hai quốc gia.
Đối với Tổng Thống Diệm, con người đă hy sinh
cả cuộc đời của Ông để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền
của Quốc Gia. Đối với Ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất,
không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác bất cứ điều
ǵ.
Đối với Ông,
nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam
, th́ chủ quyền Quốc Gia bị xâm phạm, chính nghĩa của cuộc
tranh đấu chống Cộng cũng mất…
Do đó, dù có nhận bao nhiêu viện trợ của Mỹ đi nữa Miền Nam
sẽ thua Cộng sản. Bài học của thực dân Pháp tại Việt Nam
1946-1954 đă cho thấy điều đó. Ông Diệm đă thẳng thắn bày tỏ
quan điểm đó cho Đại Sứ Nolthing biết:
Việt Nam không muốn trở thành một xứ bảo hộ [của
Mỹ]
( Viet Nam does not want to be a protectorate)
Xa hơn nữa, một
nhà nho như Ông Diệm được đào tạo theo một hệ thống giáo dục
đặt nặng trên những giá trị đạo đức cá nhân và gia đ́nh theo
quan niệm của Khổng Tử và Ông cũng hấp thụ quan niệm dân chủ
cổ điển và lư tưởng Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques
Rousseau … từ thế kỷ 19 của Pháp. Do đó, Ông Diệm rất khó
hiểu được thực tế chính trị văn
minh nước Mỹ, một nên văn minh chú trọng đến những quyền lợi
kinh tế vật chất và thực tiễn của đời sống. Tổng Thống
Diệm đă lầm lẫn khi nghĩ rằng dù có những bất đồng quan điểm
với những nhà làm chính sách Mỹ, nhưng v́ sự nghiệp đấu
tranh cho Tự Do Dân Chủ và chống Cộng chung của hai Quốc Gia,
Hoa Kỳ là đồng minh mà Ông có thể dựa vào lúc chung cuộc.
Nhưng đây chính
là sự lầm lẫn hết sức nghiêm trọng có lẽ đă dẫn đến cái chết
của Tổng Thống Diệm. V́ cho đến lúc chết, Ông Diệm vẫn không
tin rằng chính Tổng Thống Kennedy đă chính thức chấp thuận
một cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của Ông. Trong thực tế, nếu
Ông Diệm biết cuộc đảo chính do người Mỹ sắp đặt, Ông ta
nghĩ rằng đó chỉ là một số nhân viên trong chính quyền Mỹ và
những nhân viên CIA chống Diệm mà thôi.
Thật vậy, chính
Tổng Thống Diệm cho đến 10 giờ sáng ngày 1.11.1963, vẫn c̣n
tin rằng chỉ có CIA Mỹ nhúng tay vào vụ đảo chánh, cho nên
Ông đă phàn nàn với Đại Sứ Lodge về âm mưu đó:
Tôi biết sẽ có một cuộc đảo chánh xảy ra,
nhưng tôi không biết ai sẽ thực hiện.
I know there is
going to be a coup, but I don’t know who is going to do it.
(Điện văn của Ṭa Đại Sứ Sài
G̣n số 841 ngày 1.10.1963)
Lodge c̣n long
trọng trả lời Tổng Thống Diệm:
Ngài có thể an tâm, nếu có bất cứ người Mỹ nào có hành động
sai trái nầy, tôi sẽ trục xuất họ ra khỏi nước nầy.
(You can be sure
if any American committed an impropriety, I [would] snd him
out of the country. (Ibid.)
Trong khi đó,
Tổng Thống Diệm đă không thể nào hiểu được rằng, chính Tổng
Thống Kennedy, nhà lănh đạo chính quyền nước Mỹ, một quốc
gia thượng tôn pháp luật và dân chủ, đă chính thức chấp nhận
cuộc đảo chánh để ám hại Ông.
Tóm lại,
sau khi duyệt xét lại những liên hệ ngoại giao giữa Mỹ và
Việt Nam , cùng những khác biệt quan điểm dân chủ giữa Tổng
Thống Diệm và chính quyền Kennedy ta thấy những đổ vỡ khó có
thể tránh được. Và viên đạn mà các tướng lănh Việt Nam quyết
định bắn vào đầu Tổng Thống Diệm và Ông Nhu, cố vấn của Ông
vào ngày 2.11.1963 đă là một sáng kiến của người Mỹ,
được lưu trử trong tài liệu Hội
đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ từ năm 1961, mặc dù đă được bôi
xóa một cách cẩn thận. Thật vậy, trong bản lược thuật ngày
5.10.1961 gởi cho Carl Kaysen, một thành viên trong ban Tham
Mưu của Hội Đồng An Ninh Quốc
Gia, Frank C.Child, một cựu nhân viên trong Phái Bộ Viện
Trợ của Đại Học Tiểu Bang Michigan tại Việt Nam , đă viết:
Chỉ có một cuộc đảo chánh quân sự - hay là một viên đạn ám
sát – mới thay thế quyền lănh đạo tại Việt Nam .
Từ những dữ kiện nầy cho thấy
một số giới chức tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă chuẩn bị cho
cuộc đảo chánh và có ư định tiến hành một cuộc ám sát Tổng
Thống Diệm từ lâu.
Và cuộc đảo chánh
ngày 1.11.1963 bắt nguồn từ những lư do sâu xa, đó là khác
biệt giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, giữa quan niệm về Dân
Chủ Tự Do, những định chế chính trị và hoàn cảnh xă hội của
Quốc Gia phát triển kỷ nghệ và một Quốc Gia chậm tiến, cộng
thêm với sự hiểu biết về bản tính cá nhân và mâu thuẩn quyền
lợi quốc gia đă khiến nhà lănh đạo của nước Mỹ phải chính
thức quyết định một cuộc đảo chánh lật đổ vị lănh đạo của
một quốc gia gọi là Đồng Minh
với họ.
Có lẽ các lănh
đạo Hoa Kỳ đă không hiểu rơ hay không đánh giá đúng mức tầm
quan trọng của những khác biệt đó cho nên sau khi đă lật đổ
Tổng Thống Diệm, lập lên được những chính phủ quân nhân như
họ mong muốn, họ vẫn thất bại không đem đến sự ổn định và
dân chủ cho dân chúng Miền Nam. Có lẽ cũng chính v́ lư do đó,
mà với phương tiện chiến tranh hết sức qui mô và tối tân của
một siêu cường bậc nhất trên thế giới, họ đă thua cuộc chiến
tranh tại phần đất nghèo nàn và nhỏ bé như Việt Nam .
Tiến sĩ Phạm Văn Lưu
Melbuorne 10.2006 |