Nhân ngày 1 tháng 11,

nói chuyện…Huế và Ngô gia

 

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

 

 

Vài lời trần t́nh:
 Người ta thường hay viết sử một cách… méo mó nhưng vẫn cứ tưởng ḿnh là Tư Mă Thiên. Tôi chưa từng đọc môt bài viết nào viết một cách vô tư về… Ngô triều. Viết “triều” cũng là có định kiến rồi đấy.
 Ông Ngô Đ́nh Khả và các con của ông, kể cả con dâu cũng có cái tốt cái xấu, cũng yêu Nước hơn yêu Chúa hay yêu Chúa hơn yêu Nước, thậm chí yêu Quyền lực hơn cả yêu Nước hay yêu Chúa, điều ấy tùy từng người, tôi sẽ kể sau để độc giả xem xét lấy.
 Cái yêu và cái ghét, thiếu vô tư là v́ người ta nh́n sự việc theo cái lăng kính chủ quan, yêu ghét của ḿnh. Có người ghét gia đ́nh họ Ngô thậm tệ, cho rằng cái ǵ họ cũng xấu hết. Nó vậy nghe sao đươc?! Có người lại đ̣i phong thánh cho ông Ngô Đ́nh Diệm, như thế là “bôi lọ” ḷng yêu nước của ông Diệm, cũng sai luôn. Ông Diệm có phải là người “thừa sai” đâu? Nói cho cùng, họ nh́n gia đ́nh họ Ngô theo cái “lăng kính tôn giáo cực đoan”, đạo Phật cũng như đạo Chúa, thành ra, dù ông Phật hay ông Chúa, khi nghe họ nói “Cũng buồn trên thánh giá” như một câu thơ của Phạm Văn B́nh.
 Cách viết của tôi là tránh, không làm cho Phật hay Chúa “buồn”, có nghĩa là tôi muốn làm vui những ai có ḷng trung thực. Trung thực với lịch sử, đă đành, mà cũng trung thực với chính ḿnh.

 Tôi nghĩ rằng tôi sẽ được độc giả thông cảm. 

Ngô gia ở xứ sở của vua quan 

            Xin đừng lầm với Ngô Gia, trong văn học sử thường gọi là Ngô Gia Văn Phái, là ḍng họ Ngô Thời (Ngô Thời Nhiệm, Ngô Thời Sĩ) ngoài Bắc.

            Vậy tôi nói Ngô gia là gia đ́nh họ Ngô, hay Ngô Đ́nh ở Huế, từ Ngô Đ́nh Khả, tới Ngô Đ́nh Cẩn, tuy ông Cẩn không phải là con út Ngô gia nầy. Tuy nhiên, người Huế, người ta biết tới “cậu” th́ nhiều, không mấy ai biết tới ông Ngô Đ́nh Luyện. Có khi người ta c̣n lầm, tưởng ông Cẩn là con út, nên không ít người gọi ông Cẩn là “ông Cố trầu”, hoặc “Cậu út trầu”. Cố có nghĩa là cố vấn, thời ông Ngô Đ́nh Diệm, trước khi “đức cha” Ngô Đ́nh Thục về nắm quyền cai trị miền Trung, về cả hai mặt đạo và đời th́ người ta gọi cái chức của ông Cẩn là “Cố vấn Chỉ đạo miền Trung”. Văn pḥng của ông có bảng hiệu màu trắng chữ xanh biển, nằm đối diện với nhà thờ Phú Cam ghi là “Văn Pḥng Cố Vấn Chỉ Đạo.”

            Ở Huế, xứ vua quan ngày xưa th́ trong cung có vua, vùng chung quanh nội và ngoại thành th́ có dinh phủ của các ông hoàng (hoàng gia, bà con xa gần với vua) hoặc các quan lớn, không có phủ, nhưng có dinh. Phủ, như phủ Ba Cửa ở Vĩ Dạ th́ lớn lắm, thuộc các ông hoàng con vua Minh Mạng truyền xuống. Phủ Hoài Đức, gần Ngự Viên, trên đường Gia Hội, cũng lớn không kém. Phủ Hoài Đức của quan, không phải của hoàng gia, thuộc tổ tiên ông Trần Chánh Thành.

            Quan có nhiều ḍng họ lớn. Lớn vừa có nghĩa là làm quan lớn, có khi tới đầu triều, tức đứng đầu triều đ́nh, chỉ sau vua, cũng có nghĩa là con cháu đông, cả đàn cả đống.

            Nhiều ḍng họ làm quan nhiều đời. Ví dụ ḍng quan ngự sử Phan Đ́nh Phùng. Ḍng họ nầy gốc ở Hà Tĩnh, suốt 12 đời liền nhau, đời nào cũng có người đổ đại khoa, tức là đổ tiến sĩ hoặc ít ra cũng cử nhân. Nhà ông ở Đông Thái, La Sơn, Hà Tĩnh là một xóm riêng, toàn người trong họ, cùng mặc một thứ áo đen, người ta gọi là “ô y hang” theo ư bài thơ của Lưu Vũ Tích bên Tầu (xem chú thích 1)

            Trước 1975, ḍng họ Phan Đ́nh nầy chỉ c̣n vài gia đ́nh lẻ tẻ, không nổi tiếng ǵ lắm. Không lư ḍng họ nầy tàn tạ theo chế độ nhà Nguyễn khi Tây đô hộ nước ta rồi chăng?

            Riêng ông Phan Đ́nh Phùng, nổi tiếng một số việc. Ông là người chẳng sợ cường quyền. Khi c̣n trẻ, sau khi đậu “Đ́nh Nguyên Tiến Sĩ”, tức là đậu tiến sĩ khi vào thi đ́nh - Đ́nh là sân, sân vua. Vua trực tiếp đứng ra hỏi bài - ông được bổ làm tri huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh B́nh. Bấy giờ có ông cố đạo Sáu (thường gọi là linh mục Trần Lục, người xây dựng nhà thờ Phát Diệm) có tiếng ức hiếp lương dân, bị ông bắt dánh đ̣n. Việc thưa vô tới Huế, triều đ́nh khiển trách ông, gọi về Huế, nhưng lại sung chức Ngự Sử Đô Sát Viện. Ông điều tra, phát hiện nhiều việc làm sai trái của giới quan trường nên bọn tham quan nầy sợ ông một phép.

            Khi Tự Đức mất, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm việc phế lập vua. Ông chống lại nên bị cách chức đuổi về. Khi vua Hàm Nghi xuất bôn chạy ra Quảng B́nh xuống chiếu Cần Vương, ông hưởng ứng lập đồn chống giặc ở núi Vụ Quang, sau bị bệnh kiết lỵ mà chết. Nguyễn Thân (nội tổ một ca sĩ nổi danh ở Saigon trước 1975), cùng Ngô Đ́nh Khả (? - Xin xem phần sau) lấy xác đốt thành than, trộn với thuốc súng, bắn xuống sông La cho mất dấu tích. 

            Ḍng dơi vua quan ở Huế đông vô số. Có thể kể sơ lược như sau:

            Ḍng Nguyễn Phúc …. tức ḍng vua, gốc gác từ bên… Tầu, vùng sông Dương Tử. có lẽ không chịu đồng hóa với người Hán (như Tôn Văn) nên ḍng nầy di cư xuống lưu vực sông Nhị, sau dời về Thanh Hóa. Mấy chữ “Gia Miêu, ngoại trang, Thanh Hóa” là nói tới gốc gác 9 chúa 13 vua triều Nguyễn.

Ḍng Nguyễn Khoa… tổ tiên tướng Nguyễn Khoa Nam gốc gác ở làng Trạm Bạc, tỉnh Hải Dương,

Ḍng Thân Trọng… (Như các ông Thân Trọng Huề, Thân Trọng Thuận, quê ở làng An Lỗ, huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên.

Ḍng Hồ Đắc… như Hồ Đắc Trung, làng An Truyền, huyện Phú Vang, Thừa Thiên. Tục gọi là làng Chuồn, nổi tiếng nhiều món ăn ngon và tranh, liễn. Họ Hồ Đắc… nầy có 5 cô dâu là công chúa nhà Nguyễn

 Ḍng Trần Tiễn… người làng Minh Hương (làng của người Minh, bên Tầu). Tổ tiên chạy trốn qua Việt Nam khi nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh.

Ḍng Nguyễn Tri, như Nguyễn Tri Phương, người làng Chí Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Ḍng Hà Thúc… như Hà Thúc Kư, quê ở làng La Chữ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Trương Như… như Trương Như Cương, quê ở làng Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thửa Thiên, đại thần ba triều Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, tố giác việc chiêu mộ nữ binh của vua Thành Thái (Theo Tôn thất B́nh). Lúc ấy ông Cương làm Thượng Thư bộ Lại, cầm đầu Viện Cơ Mật, báo cáo với Khâm Sứ Pháp nhằm lật đổ vua Thành Thái để đưa con rể ḿnh là Bửu Đảo (Khải Định) lên làm vua. 

Cũng có người cho rằng bấy giờ con gái của Nguyễn Thân là Đệ nhất giai phi của vua Thành Thái, cô nầy tham gia đội Nữ Binh của nhà vua, tập đánh gươm và bị thương tích. Nguyễn Thân vào đại nội thăm con và biết việc thành lập nữ binh nầy, bèn báo cáo cho Tây. 

            C̣n nữa…

            Theo ông Vũ Ngự Chiêu trong “Các Vua Cuối Nhà Nguyễn”, tập 2, th́:

“Nguyễn Hữu Độ, thuộc một ḍng dơi theo đạo Ki-tô từ thời Bá Đa Lộc, được giao chức Kinh Lược Bắc kỳ, gia phong tước Quận Công, đứng đầu ‘tứ trụ triều đ́nh’: con gái được cất nhắc lên hàng nhị giai (hoàng quư phi) của Đồng Khánh, con trai được truy tặng quan tước, một nhà vinh hiển cho tới lúc chết v́ ung thư bao tử vào ngày 18/12/1888”

            “Nguyễn Thân, gốc Quảng Ngăi, được lănh ấn “Khâm mạng Đại thần” để đánh dẹp các phong trào Cần Vương ở Quảng Nam và B́nh Định, rất nhiều lần vào sinh ra tử cho quyền lợi Đại Pháp.” (Sách đd).

“Hoàng Cao Khải, gốc Hà Tĩnh, được cất nhắc từ tri huyện Hà Nội lên tuần phủ Hưng Yên để đánh dẹp chiến khu Băi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.” (sách đd).

“Cao Xuân Dục là kẻ rất hăng hái, nhiệt t́nh dẹp “giặc” Cần Vương ở vùng Hà Nội.” (sách đd).

Nhiều ḍng họ làm quan đến mấy đời, ai ai cũng làm quan lớn nhỏ, ở công ốc, công thự, nên vua Tự Đức mới nói câu:

“Thân Thân, Hà Hà, thiên hạ vô gia,

Hà Hà, Thân Thân, thiên hạ vô dân”

Nghĩa là thiên hạ mà họ Thân, họ Hà cả th́ thiên hạ không c̣n dân (làm quan hết). Thiên hạ không c̣n nhà, ở nhà quan hết.

Thi đậu, ra làm quan, sung sướng một đời nên nhiều người muốn thi đậu, v́ vậy có ai nói là người Huế trọng khoa bảng th́ cũng chẳng có chi lạ cả.

Cũng từ tâm lư đó nên người ta tôn trọng và sợ sệt các nhà quan, từ ông bà huyện, ông bà phủ, ông tuần (vũ) ông bà án (sát) lên cho tới quan tổng (đốc), quan thượng (thư), v.v…

 

Ngô Đ́nh Khả là ai?

Gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Khả, tư dinh nằm trên đường Phú Cam, sau nầy đặt tên là Nguyễn Trường Tộ, gần nhà thờ Phú Cam, thuộc hàng thế gia vọng tộc. Nhưng ông Ngô Đ́nh Khả là ai?

Ông Ngô Đ́nh Khả, tên thánh là Micae (h́nh như ông nầy là thánh tổ binh chủng Dù quân đội Việt Nam Cộng Ḥa), con ông Ngô Đ́nh Niệm, có nơi gọi là con ông Ngô Đ́nh Dinh, tên thánh là Giacôbê.

Quê quán ông Ngô Đ́nh Khả là làn An Xá, tổng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh. Gốc chính của cha mẹ ông Ngô Đ́nh Khả là ở huyện Xuân Dục, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng B́nh, sau mới dời về Đại Phong.

Ở Huế, những người cố cựu, biết cha mẹ ông Ngô Đ́nh Khả không phải là dân ở trên đất liền mà người của sông nước, tức là thuộc vạn đ̣. Người dân vạn đ̣ thường làm nghề chài lưới, hoặc đưa đ̣ ngang hay đ̣ dọc. Dân chúng vạn đ̣ nghèo khổ, thường dễ bị các ông cha cố rao giảng, rửa tội để t́m kiếm một đời sống khấm khá hơn. Về sau, khi khá giả, cha mẹ ông Ngô Đ́nh Khả bèn bỏ vạn đ̣, lên lập nghiệp trên đất liền thuộc tổng Đại Phong. Tuy nhiên, muốn chối bỏ cái gốc vạn đ̣ của ḿnh, tài liệu thường chỉ thấy ghi quê ở Đại Phong.

Điều nầy cũng lạ. Trong Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim kể: “ông Mạc Đăng Dung, làm nghề đánh cá ở đất Hải Dương” th́ có ai chê cười ǵ đâu! Lịch sử có phê phán là phê phán việc ông tự trói ḿnh lên hàng quân Tầu ở ải Nam Quan và dâng đất Năm Động cho Tầu chứ có ai b́nh phẩm ǵ về việc “làm nghề đánh cá ở đất Hải Dương?”

Có một chi tiết lư thú như thế nầy: Quê ông Ngô Đ́nh Khả, như ghi ở trên là làng An Xá, tổng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh. Quê ông Vơ Nguyên Giáp, (thực ra, trong khai sinh đi học ở Huế là Vơ Giáp, không có chữ “Nguyên”. Tiếng nầy mới thêm sau nầy, khi theo Cộng Sản) cũng thuộc làng An Xá, xă Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy. Hai ông nầy người cùng tổng Đại Phong, nhưng có người cho rằng hai người ở hai bên sông Kiến Giang, là một nhánh của sông Nhật Lệ.

Sau hiệp định Genève 1954, ông Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống ở miền Nam vĩ tuyến 17, sợ dân chúng ở quê hai ông nầy “Hướng về miền Nam”, Cộng Sản Bắc Việt cố gắng xây dựng “hợp tác xă nông nghiệp Đại Phong” thành một xă kiểu mẫu, thu nhập cao, xă viên có đời sống sung túc. Tuy nhiên, cho tới khi chiếm miền Nam xong, th́ xă viên hợp tác xă Đại Phong vẫn khố rách áo ôm, vẫn mong đi Nam để được “Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng.” 

Năm 1890, ông Ngô Đ́nh Khả sinh sống và làm việc ở Huế.

Gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Khả chỉ mới theo đạo từ đời thân phụ ông mà thôi. Các đời trước thuộc người Lương (Lương dân) để phân biệt với người có Đạo (là đạo Thiên Chúa). Gia đ́nh nầy trọng chữ hiếu, nên vẫn thờ ông bà, nhưng thờ ở chùa Từ Đàm, không thờ ma ở trong nhà đươc. Đến ngày kỵ giỗ, không làm lễ cúng ma ở nhà, gia đ́nh họ Ngô nầy nhờ chùa Từ Đàm cúng giùm. V́ vậy, ông Ngô Đ́nh Cẩn rất trọng thầy Trí Quang. Mỗi lần các bộ trưởng từ Saigon ra hay tướng tá tới “hầu cậu”, “cậu” vẫn mặc quần lụa, ở trần, cầm cái quạt giấy quạt xành xạch mà đón khách. C̣n khi nghe thầy Trí Quang tới th́ cậu mặc áo đàng hoàng chớ không phơi cái bụng trần cho thầy Trí Quang thấy. Khi ông Cẩn làm cố vấn chỉ đạo, việc ở chùa (Phật giáo) “cậu” nhờ ông Trí Quang sắp xếp giùm, coi như giao trách nhiệm cho thầy Trí Quang, khi có việc ǵ cần thiết lắm, phải xin “cậu”, ông Trí Quang gặp trực tiếp. Những việc thông thường th́ ông Trí Quang nhờ ông NVH, giám đốc…., đệ tử của thầy mà cũng là đệ tử của “cậu” tŕnh bày giúp với “cậu”.

Khi c̣n nhỏ, ông Ngô Đ́nh Khả thường đi theo giúp lễ cho ông linh mục Tây ở họ đạo Mỹ Duyệt Hạ, cũng huyện Lệ Thủy và được tiếng là đứa trẻ ngoan đạo.

Nhằm đào tạo cán bộ tôn giáo người địa phương, ông Ngô Đ́nh Khả được ông cố đạo Gaspar ở Kim Long (tên Việt là cha Lộc) cho theo học tại chủng viện Pénang ở Mă Lai.

Học xong, trở về nước ông được cử dạy môn triết học tại Đại Chủng viện giáo phận Huế, cũng để thử thách chọn chức linh mục.

Xui là “ơn kêu gọi” không đến với ông, trong khi học tṛ ông có nhiều người đă được thụ phong. Không biết lư do tại sao, trong danh sách những người giám mục Gaspar chọn làm linh mục, không có tên ông. Biết điều đó, ông buồn t́nh từ bỏ giấc mơ làm linh mục, trở về sống đời một giáo dân b́nh thường tại Huế chứ không về quê cũ ở Quảng B́nh.

Bấy giờ linh mục họ đạo Phú Cam tên là Allys giới thiệu ông dịch thuật các tài liệu tiếng La Tinh và tiếng Pháp, nhờ đó, ông có chút tiền bạc, sống đỡ qua ngày. Khi đó, ông đă 30 tuổi.

Năm 1885 (Ất Dậu), ngày 23 tháng năm âm lịch, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đánh úp quân Pháp ở Huế nhưng thất bại. Tôn Thất Thuyết rước xa giá chạy ra Quảng Trị.

Vua Hàm Nghi xuất bôn rồi, Pháp chọn ông Chánh Mông đưa lên làm vua, tức vua Đồng Khánh.

Cùng năm đó, không biết có Tây “giới thiệu” hay không, ông Ngô Đ́nh Khả được vua Đồng Khánh chọn giữ chức An Phủ Sứ Quảng B́nh, lo việc b́nh định và chiêu an dân chúng, dưới quyền của đại tá người Pháp tên là Duvillier.

Việc nầy không tốt lành ǵ cho ông Ngô Đ́nh Khả. Bấy giờ vua Hàm Nghi chạy ra Quảng B́nh, xuống chiếu cần vương, kêu gọi dân chúng nổi lên giúp vua chống Pháp th́ ông Ngô Đ́nh Khả đi ngược lại, cùng với Pháp đánh dẹp nghĩa quân.

Có người cho rằng khi Nguyễn Thân đem quân ra Đồng Hới đánh vào Vụ Quang là căn cứ kháng chiến của ông Phan Đ́nh Phùng. Khi Nguyễn Thân chiếm được Vụ Quang th́ ông Phan Đ́nh Phùng qua đời đă được 12 ngày. T́m được mộ Phan Đ́nh Phùng, Nguyễn Thân cho đốt thành tro, trộn với thuốc súng bắn xuống sông La. Năm nầy là năm 1895.

Có tài liệu viết rằng việc làm của Nguyễn Thân có sự góp sức của ông Ngô Đ́nh Khả. Nói như thế là không đúng v́…

Ông Ngô Đ́nh Khả có ra Quảng B́nh làm An phủ Sứ do sự chọn lựa của vua Đồng Khánh, có hợp tác với đại tá Duvillier đánh dẹp nghĩa quân, nhưng sau đó ông được vua Đồng Khánh gọi về Huế làm tổng chỉ huy binh đội của triều đ́nh. Được 4 tháng, ông xin nghỉ, về chăm sóc cho mẹ già. Sau khi mẹ ông qua đời, ông không trở lại làm việc ǵ nữa cả.

Tính ra, ông có làm việc ở kinh với vua Đồng Khánh, sau nghỉ hẵn mà vua Đồng Khánh th́ làm vua đến năm 1889 th́ qua đời, có đâu hợp tác với Nguyễn Thân trong vụ đốt xác ông Phan Đ́nh Phùng vào năm 1895 (6 năm sau). Có lẽ người ta có định kiến và muốn bôi lọ ông trong vụ đốt xác ông Phan Đ́nh Phùng đó thôi!? 

Trong suốt thời gian vừa nói trên, ông Ngô Đ́nh Khả là người không gặp thời. Làm linh mục không được, ra Quảng B́nh làm an phủ sứ chỉ là một chức quan nhỏ, thực chất là làm thông ngôn, tay sai cho Tây, Tây biểu ǵ làm đó, về kinh làm tổng chỉ huy quân đội triều đ́nh nhưng bấy giờ, triều đ́nh đă thua Tây, phần lớn binh lính đều bị giải tán, chỉ c̣n một đám lính canh gác đại nội mà thôi. 

Vua Thành Thái nối ngôi vua Đồng Khánh, ngồi ở ngôi từ 1889 đến 1907.

Năm 1889, khi vua Đồng Khánh qua đời, con vua Đồng Khánh mới 3 tuổi, không lên ngôi được. Triều đ́nh Huế làm tờ tŕnh xin ư kiến của Khâm sứ Trung Kỳ là Rheinart.

Bấy giờ ông Diệp Văn Cương đang làm thông ngôn cho Khâm sứ Pháp. Vợ ông Cương là một bà công chúa, vua Thành Thái gọi bằng cô (o). Vă lại, ông Cương cũng thương người anh vợ là vua Dục Đức, mới lên làm vua được 3 ngày th́ bị Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, đổi di chiếu, truất phế, đem giết đi, nên ông Cương đă dịch khác lời tŕnh của Viện Cơ Mật, để ông Bửu Lân mới mười tuổi, lên ngôi là vua Thành Thái.

Vua Thành Thái là người có tư tưởng tiến bộ, muốn canh tân nước nhà theo kiểu Âu Tây, nhưng lại rất ghét người Pháp.

Sau khi thôi làm chức tổng binh dưới triều Đồng Khánh, ông Ngô Đ́nh Khả được Pháp gọi làm thông ngôn cho ṭa Khâm Sứ. Ông được người Pháp tin cậy hơn các thông ngôn khác v́ ông có đạo Thiên Chúa, không có quan hệ ǵ với hoàng tộc, nên được chọn làm Trưởng Pḥng Thông Sự, sau đó Khâm sứ chuyển ông qua làm việc với triều đ́nh Huế bởi v́ viên Khâm Sứ không tin các quan ở Nam Triều.

Ông Ngô Đ́nh Khả cũng là người có văn hóa Âu Tây, lại biết cả chữ Nho nên rất dễ gần gủi với vua, được vua Thanh Thái tin dùng.

Việc mở trường Quốc Học, theo nhiều người biết, không phải là sáng kiến của ông Ngô Đ́nh Khả mà chính là ư kiến của vua Thành Thái, một ông vua lúc bấy giờ đă biết cắt tóc ngắn, mặc áo quần Tây, lái xe hơi và du thuyền trên sông Hương. Ông Ngô Đ́nh Khả được lệnh vua Thành Thái can thiệp với Pháp, xử dụng trại lính thủy cũ của triều đ́nh để mở trường Quốc Học là trường dạy chữ Quốc Ngữ và chữ Tây cho các quan, các ấm sinh, những người sắp ra làm quan. Các quan Nam triều buộc ḷng phải giao thiệp với người Pháp. Học ở đó xong, họ không cần phải có thông ngôn.

Hồi đó, học ở trường Quốc Học không phải là điều vinh dự ǵ mà lại là điều nhục nhă. Bấy giờ dân chúng chưa có óc canh tân, chưa hiểu văn minh Tây phương, cứ cho hễ đi học chữ Tây là theo Tây, là phản lại vua, là chống lại đất nước… Người đi học chữ Tây, chữ Quốc ngữ, tự thấy xấu hổ. V́ muốn ra làm quan, v́ lệnh vua nên họ mới phải đi học mà thôi.

Có hai điểm giống nhau giữa ông Ngô Đ́nh Khả và vua Thành Thái: Chuộng Tây học và muốn canh tân nước nhà theo Âu Tây. V́ vậy, sau khi lập trường Quốc Học, ông Ngô Đ́nh Khả làm Chưởng giáo (Hiệu trưởng), ông c̣n được vua Thành Thái phong Thái Thường Tự Khanh (hàm Chánh Tam phẩm), giữ chức Thương Biện ở Viện Cơ Mật, thay vua giao tiếp với khâm sứ. Hai năm sau, ông Ngô Đ́nh Khả được vua phong Thượng Thư Phụ đạo Đại thần. Năm 1902 th́ thăng hàm Hiệp Tá Đại Học Sĩ. Năm 1905, Ngô Đ́nh Khả lại được vua thăng chức Tổng Quản Cấm Thành, bảo vệ vua Thành Thái.

Năm 1907, khâm sứ Lévecque vận động với chính quyền Pháp đề nghị truất ngôi vua Thành Thái. Lấy cớ vua Thành Thái bị bệnh tâm thần, (thực ra là v́ việc lập đội nữ binh), biểu các đại thần kư thỉnh nguyện thư yêu cầu Viện Cơ Mật và chính phủ Bảo Hộ (Pháp) truất ngôi vua và đày sang Châu Phi.

Nói cho đúng, ông Ngô Đ́nh Khả kư vào kiến nghị truất ngôi vua làm sao được?

Xem lại một quá tŕnh từ khi học ở Penang bên Mă Lai về, ông Ngô Đ́nh Khả được giáo hội La Mă cũng như thực dân Pháp cho ông ta cái ǵ?

Trong danh sách những người được chọn làm linh mục của ông cố đạo Gaspar, tức cố Lộc, người cho ông Ngô Đ́nh Khả đi học ở Mă Lai, lại không có tên ông. Tại sao vậy? Không nghe nói ông Ngô Đ́nh Khả có tính t́nh xấu, tại sao không cho làm linh mục? Có ǵ đây mà ông Ngô Đ́nh Khả không c̣n được giáo hội La Mă đoái thương tới nữa? Nhưng rơ ràng, ông Ngô Đ́nh Khả không được giáo hội chiếu cố. Ông sống khó khăn, ít được ưu đăi cho măi tới khi ông Bửu Lân lên ngôi, tức vua Thành Thái. Vua Thành Thái là người biệt đăi ông Ngô Đ́nh Khả, dù vẫn biết ông Ngô Đ́nh Khả là người Khâm Sứ Tây đưa qua “canh chừng” bên cạnh vua. Dưới triều vua Thành Thái, ông Ngô Đ́nh Khả lên như diều. Đó không phải là cái ơn tri ngộ của vua ban cho ông sao?

Nói về mặt cá nhân, vua Thành Thái mất ngôi là ông Ngô Đ́nh Khả mất đi một chỗ dựa tốt.

Nói về mặt ơn nghĩa, ông Ngô Đ́nh Khả chịu ơn vua Thành Thái rất dày.

V́ vậy, nếu ông Ngô Đ́nh Khả không chịu kư vào đơn xin truất ngôi vua Thành Thái cũng là điều dễ hiểu, cần chi phải nói ngược, nói xuôi rằng ông Ngô Đ́nh Khả có chịu kư vào đơn xin truất ngôi vua Thành Thái. Có người, ai cũng có một chút lương tâm, xưa gọi là “Nhứt điểm lương tâm”, nhứt là với người ḿnh đă chịu ơn.

Về riêng tư, giữa vua Thành Thái và ông Ngô Đ́nh Khả có vài điều nhỏ nhặt, nhưng nói lên được t́nh nghĩa vua tôi.

Ông Ngô Đ́nh Khả, sau khi phục vụ vua Thành Thái, có tiền xây nhà nhưng không xây được cái cổng. Vua Thành Thái đến thăm, thấy vậy, bèn xuất tiền cho ông Ngô Đ́nh Khả xây thêm cái cổng nhà. V́ vậy, về sau, khi ông Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống, xây dựng, sửa sang nhà cửa, nhưng cái cổng cũ, ông Ngô Đ́nh Cẩn chỉ tu bổ chứ h́nh dáng cổng cũ vẫn để nguyên. Ấy là ông Cẩn muốn giữa lại một kỷ niệm “vua ban” cho gia đ́nh ông.

Theo những ǵ tôi tŕnh bày ở trên, việc ông Ngô Đ́nh Khả không kư vào đơn xin truất ngôi vua là dễ hiểu.  Truất ngôi vua, cũng chính là ông Ngô Đ́nh Khả tự truất bỏ chính ḿnh.

Với lại bấy giờ, Khâm sứ Pháp Trung Kỳ Levecque là người theo hội Tam Điểm (Masonry - Freemasonry) là hội có lập trường chống Ḍng Tên (Jesus) rất mănh liệt. Ông Ngô Đ́nh Khả là con chiên ngoan đạo Thiên Chúa, không bị Levecque ghét làm sao được!?

Vua Thành Thái lại là người lén đưa ấn vàng cho ông Cường Để trốn sang Nhựt, cầu viện Nhựt giúp đỡ, và ủng hộ Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bội Châu. Có lần vua Thành Thái lén ra tới Thanh Hóa, bị Tây bắt lại, đem về Huế. Bọn Tây cho rằng ông lén ra Bắc để sang Nhựt theo Cường Để. Sự gần gủi và cất nhắc lên chức cao của vua Thành Thái đối với ông Ngô Đ́nh Khả làm cho người Pháp càng thêm không tin tưởng ông Ngô Đ́nh Khả nữa. Sự mâu thuẫn đó cũng là lư do khiến ông Ngô Đ́nh Khả không kư vào đề nghị xin truất ngôi vua.

Sau biến cố truất ngôi vua, ông Ngô Đ́nh Khả bị giáng 3 cấp và cho về hưu non. Ông sống tại Phú Cam, Huế, không tham gia việc chính sự nữa, và mất năm 1923.

Sau khi Khải Định lên ngôi, nhà vua có xét lại trường hợp ông Ngô Đ́nh Khả, cho phục hồi phẩm trật, và truy lănh lương bỗng 12 năm bị huyền chức (1907- 1919). Gia đ́nh ông Ngô Đ́nh khả mới bớt cảnh túng thiếu.

Người ta chê anh em họ Ngô ở điểm nầy: Gia đ́nh họ Ngô mang ơn cha (Khải Định) nhưng lại truất ngôi con (Bảo Đại) 23 tháng 10 năm 1956, trưng cầu dân ư. Vậy là thiếu thủy chung.

Việc ấy, sẽ nói ở bài sau, khi nói về các con ông Ngô Đ́nh Khả.

Ông Ngô Đ́nh Khả lấy vợ lần thứ nhất với Madelêna Chĩu, bà này qua đời, lấy vợ lần nữa (năm 1889) với Anna Phạm Thị Thân.

Ông có tất cả 8 người con, trong đó có 6 trai:

Ngô Đ́nh Khôi (cựu Tổng đốc),

Ngô Đ́nh Thục (Giám mục),

Ngô Đ́nh Diệm (cựu Tổng thống),

Ngô Đ́nh Nhu (cựu cố vấn),

Ngô Đ́nh Cẩn (Cố vấn)

Ngô Đ́nh Luyện (kỹ sư, cựu thanh tra hoả xa),

Ngô Đ́nh Cẩn;

có 4 người đều “bất đắc kỳ tử”;

Hai người con gái: Ngô Thị Giao (thân mẫu Giám mục Nguyễn Văn Thuận)

và Ngô Thị Hiệp (nhạc mẫu cựu Bộ trưởng Quốc pḥng Trần Trung Dung thời Ngô Đ́nh Diệm).  

hoànglonghải

 

            (1) Ô Y hạng
Nguyên tác: Lưu Vũ Tích

Chu Tước kiều biên dă thảo hoa,
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà.
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,
Phi nhập tầm thường bách tính gia.

Chú thích:

Ô Y nghĩa là áo đen. Xưa đời nhà Tấn trung hưng, họ Vương, họ Tạ là hai nhà quyền quư vinh hiển nơi đó, các con em đều mặc áo đen, nhân vậy mới có tên Ô Y. 

Bản dịch của Tản Đà 

Ngơ Ô Y

Bên cầu Chu Tước cỏ hoa,
Ô Y đầu ngơ, bóng tà tịch dương
Én xưa nhà Tạ, nhà Vương
Lạc loài đến chốn tầm thường dân gia.

Trong bài thơ “Đêm Thu Nghe Quạ Kêu” của Quách Tấn, ở câu đầu, ông ta viết: “Từ Ô Y Hạng rủ rê sang.” Ô Y Hạng của Quách Tấn cũng có ư nghĩa như trên.

From: BangTam Tran <tranbangtam50@gmail.com>
Date: 2009/11/27
Subject: [HUYET-HOA] Nhân ngày 1 tháng 11, nói chuyện…Huế và Ngô gia
To: huyethoa@yahoogroups.com

 

 <<< Trở về trang chính   Tổng thống NGÔ Đ̀NH DIỆM

 <<< Trở về trang chính     ĐẠI CÁO TRẠNG

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage