Kẻ phản bội 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 

 

 Xin chào bạn đến với e-ThongLuan

Đăng ngày 15/10/2009 lúc 00:00:00 EDT
Đề tài: Nh́n Lại Ḿnh
Nh́n Lại ḾnhPhotobucket - Video and Image Hosting

Kẻ phản bội
Lữ Giang

“…Chúng ta có thể quên đi hay bỏ qua quá khứ để xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, nhưng sự thật và lịch sử không thể thay đổi được. Thế nhưng, trong những năm gần đây, có một số người đang cố gắng sửa lại lịch sử VNCH…”

Chúng ta có thể quên đi hay bỏ qua quá khứ để xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, nhưng sự thật và lịch sử không thể thay đổi được. Thế nhưng, trong những năm gần đây, có một số người đang cố gắng sửa lại lịch sử VNCH!

Hôm 5.10.2009, lễ chào quốc kỳ hàng tháng tại Tượng Đài Chiến Sĩ ở Westminster, California, đă được tổ chức với khoảng 200 người tới dự. Sau đó, lễ này được biến thành lễ tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu! Đại Tá Phạm Văn Thuần, trưởng ban tổ chức, đă đứng lên phát biểu: “Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng là vị Tổng Tư Lệnh của Quân Lực VNCH. Ông đă là một chiến sĩ quốc gia cả đời phục vụ cho đất nước và dân tộc. Nay tưởng niệm đến người chiến sĩ kiên cường chống Cộng Sản này, chúng ta cùng cầu mong cho cố tổng thống được an nghỉ đời đời trên cơi vĩnh hằng”. Nhiều quan khách tham dự đă lên bày tỏ ḷng ngưỡng mộ tinh thần “kiên quyết chống Cộng” của ông Thiệu. Đại Tá Thuần cho biết sang năm sẽ phối hợp cùng nhiều đoàn thể để tổ chức lễ tưởng niệm rộng lớn và trang trọng hơn.

Tiếp theo, một lễ tưởng niệm thứ hai đă diễn ra tại nhà hàng Regent West ở Santa Anna, cũng tại California, với sự tham dự của bà Nguyễn Thị Mai Anh, 80 tuổi, phu nhân của cựu Tổng Thống Thiệu, đến từ Boston, Massachusetts. Ông Đoàn Thanh Liêm, Trưởng Ban Tổ Chức, đă đưa bà Thiệu duyệt qua 2 hàng nữ quân quân danh dự dàn chào. Dân biểu tiểu bang California Trần Thái Văn đă trao cho bà Thiệu “Bằng Tưởng Niệm”!

Ông Hoàng Đức Nhă, người thân cận của ông Thiệu, cũng từ Massachusetts đến, ca ngợi cố Tổng Thống “đă đương đầu với Kissenger và các chính khách Hoa Kỳ cấu kết với cộng sản Tàu, CSBV bắt buộc VNCH phải kư vào Hiệp Định Ba Lê ngày 27.3. 1973”.

Năm 2008, lễ tưởng niệm này đă được tổ chức tại Best Western Falls Church Inc., Virginia.

Suy tôn bọn “ác ôn côn đồ”?

Với những sự kiện trên, rơ ràng là có một nhóm đang âm mưu “phục hồi” địa vị của ông Thiệu, muốn ông đứng ngang hàng với vị thế của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mặc dầu các tài lịch sử được tiết lộ trong thời gian gần đây cho thấy ông Thiệu là một tay sai chính của CIA trong kế hoạch làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Diệm, sau đó được CIA đưa lên lănh đạo miền Nam để giúp nhóm tư bản quốc pḥng Mỹ đưa quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam và thực hiện mục tiêu của họ. Thực hiện xong, họ bỏ miền Nam lại cho ông Thiệu quay cuồng với những hành động điên rồ khiến miền Nam bị mất một cách nhanh chóng, khoảng 94.000 chiến sĩ VNCH phải chịu cảnh lao tù cay nghiệt của Cộng Sản, gần 3 triệu người phải bỏ nước ra đi, và toàn dân miền Nam phải sống trong cảnh điêu linh.

Nhóm tay sai của CIA Mỹ làm đảo chánh và giết ông Diệm, trong đó Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu đóng vai tṛ chủ chốt, đă bị Tổng Thống Johnson gọi là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddam bunch of thugs). Nay một số người lại mưu toan tôn một tên “ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” đă làm sụp đổ của miền Nam Việt Nam lên làm anh hùng! Đó là một sự nhục nhă đối với VNCH.

Chúng tôi biết có rất nhiều người lúc c̣n VNCH đă mang ơn ông Thiệu, nên họ nghĩ rằng phải làm “một cái ǵ đó” cho ông ta. Nhưng họ không thể làm sỉ nhục VNCH được. Đại văn hào Voltaire đă từng nói: “Ta cần sự lễ kính đối với người sống; đối với người chết, chỉ cần sự thật”.

Chúng tôi đă viết khá nhiều bài nói về sự phản bội của ông Thiệu và trách nhiệm nặng nề của ông trong việc làm mất miền Nam Việt Nam. Với nhiều sự kiện mới, trong bài này, chúng tôi sẽ chứng minh rơ hơn ông Thiệu là một kẻ phản bội Tổng Thống Diệm và tổ quốc, làm tay sai cho CIA lật đổ ông Diệm và đưa miền Nam vào những ngày đen tối. Trong bài sau, chúng tôi sẽ chứng minh sự yếu kém cả về chính trị lẫn quân sự và sự độc đoán ngu xuẩn của ông Thiệu đă làm mất miền Nam Việt Nam một cách nhanh chóng.

Khi CIA vào đảng Cần Lao

Đại khái, ông Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5.4.1923 tại Ninh Thuận. Từ 1948 – 1949, ông theo học khóa sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ Quan Đập Đá ở Huế cùng với Nguyễn Hữu Có, Hoàng Xuân Lăm, Đặng Văn Quang..., và đă tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Uư.

Năm 1951, qua sự mai mối của thân phụ của Chuẩn Tướng Lê Văn Tư, ông Nguyễn Văn Thiệu theo đạo Công Giáo để lấy cô Nguyễn Thị Mai Anh ở Mỹ Tho, con một gia đ́nh công giáo danh giá. Khi theo đạo, Nguyễn Văn Thiệu lấy tên thành là Martino. Cô Mai Anh sinh năm 1930, học trường bà phước ở Mỹ Tho. Lễ kết hôn được tổ chức vào ngày 18.7.1951. Hai ông bà có 4 người con.

Sau khi ông Diệm về chấp chánh, Trung Tá Thiệu rất được ông Nhu tín nhiệm. Ông đă được cho đi học Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại Command and General Staff College ở Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, khóa 1957 – 1958 với Trần Thiện Khiêm.

Năm 1959 Trung Tá Thiệu lại được đi tu nghiệp tại Okinawa, Nhật Bản, và năm 1960 trở lại Hoa Kỳ học về vơ khí mới ở Fort Bliss.

Cuối năm 1960, ông Thiệu trở về Việt Nam và được thăng lên Đại Tá rồi được giao giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng Dương Văn Minh với nhiệm vụ theo dơi Tướng Minh v́ Tướng này mới bị khám phá đang có liên lạc với Việt Cộng.

Năm 1962, có lẽ do sự sắp xếp của CIA, Đại Tá Thiệu đă xin gia nhập Đảng Cần Lao để được ông Nhu tin tưởng hơn. Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt và là Quân Uỷ Trưởng của Đảng Cần Lao, nhưng lại thiếu sự bén nhạy về an ninh và t́nh báo, đă đón nhận Đại Tá Thiệu “một cách hoan hỷ”!

Trong kế hoạch xây dựng Ấp Chiến Lược, Đại Tá Thiệu đă có đóng góp nhiều ư kiến rất xuất sắc nên được ông Nhu khen ngợi. Sau đó, Đại Tá Thiệu được cử đi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế.

Đầu năm 1963, khi thấy t́nh h́nh ở Sài G̣n lộn xộn, theo đề nghị của ông Nhu, Tổng Thống Diệm đă đưa Đại Tá Thiệu từ Huế về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và Vùng 32 Chiến Thuật đóng ở Biên Ḥa, thay thế Đại Tá Nguyễn Đức Thắng. Đây là lư do đă khiến Đại Tá Thắng bất măn. V́ thế, khi được phe đảo chánh móc nối, Đại Tá Thắng nhận lời ngay. Đại Tá Thiệu được ông Nhu trao nhiệm vụ giải cứu thủ đô khi có đảo chánh. Ông Nhu không hề biết Đại Tá Thiệu là người của CIA.

Lực lượng dùng đảo chánh

Sở dĩ các viên chức Hoa Kỳ phụ trách công tác vận động và tổ chức đảo chánh đă chú ư đến Tướng Khiêm, Tướng Khánh và Đại Tá Thiệu v́ đây là ba nhân vật đang được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Cả Tướng Khánh lẫn Tướng Khiêm đă giải cứu ông Diệm trong cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960, c̣n Đại Tá Thiệu là “con cưng” của ông Nhu.

Tướng Khánh lúc đó đang làm Tư Lệnh Quân Đoàn II ở Pleiku, không thể chỉ huy cuộc đảo chánh được, nhưng ông có uy tín, có thể móc nối với các tướng khác.

Ngày 6.12.1962, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă kư Sắc Lệnh thăng Đại Tá Khiêm lên Thiếu Tướng và giao cho giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân thay thế Tướng Nguyễn Khánh vừa được cử đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn II. Ông Diệm có vẻ tin Tướng Khiêm hơn Tướng Khánh.

Trong tài liệu Contacts with Vietnamese Generals (Tiếp xúc với các tướng Việt Nam) do CIA công bố sau này nói rất rơ Tướng Khánh và Tướng Khiêm là “agents” của CIA.

CIA thấy rằng không lực lượng nào đang đóng tại Sài G̣n đủ khả năng chống lại Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống và Lực Lượng Đặc Biệt của ông Diệm. V́ thế, CIA đă quyết định dùng Sư Đoàn 5 của Đại Tá Thiệu làm lực lương chính. Ông Nhu không thể ngờ Đại Tá Thiệu có thể phản bội ḿnh.

Trong công điện ngày 22.10.1963 gởi cho Phụ Tá Trưởng Pḥng T́nh Báo thuộc Bộ Quốc Pḥng, ông Jones, Tùy Viên Quân Sự tại Việt Nam, đă báo cáo rằng có ít nhất 4 tướng lănh và 6 đại tá tham gia đảo chánh, trong đó có Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5. (FRUSS, 1961 – 1863, Volume IV, tr. 419 - 420. Document 206).

Lúc 9 giờ 21 phút tối 29.10.1963 Trung Ương CIA ở Washington đă gởi cho Trạm CIA tại Sài G̣n một công điện nói về tương quan lực chung quanh Sài G̣n đă nói rơ Sư Đoàn 5 ở Biên Ḥa, về phía bắc, có 9.200 quân, do Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy, được tướng Đôn xác nhận toàn bộ sư đoàn này theo phe đảo chánh (Don’s claim of whole divison). Báo cáo do Hilsman soạn thảo ngày 29.10.1963 cũng đă xác định về sự tham gia đảo chánh của toàn bộ Sư Đoàn 5 ở Biên Ḥa, cách Sài G̣n khoảng 20 dặm như sau: “Tất cả theo đảo chánh”. (All with coup).

Kế hoạch hành quân

Theo kế hoạch đảo chánh được tiết lộ về sau, ngoài Sư Đoàn 5 của Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, nhóm đảo chánh đă quyết định dùng hai tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến do Thiếu Tá Nguyễn Bá Liên (cháu Đỗ Mậu), Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến chỉ huy làm lực lượng xung kích, Trung Đoàn 1 Thiết Giáp ở G̣ Vấp bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu và yểm trợ Thuỷ Quân Lục Chiến chiếm Dinh Gia Long, và khoảng 16.000 tân binh quân dịch ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung do Tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy chiếm một số cơ sở phụ trong đô thành Sài G̣n.

Theo sự sắp xếp của CIA, Trung Tướng Tướng Dương Văn Minh sẽ đứng ra thành lập và làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (với sứ mạng giết ông Diệm và ông Nhu), Tướng Trần Văn Đôn là Phó Chủ Tịch; Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm thành lập kế hoạch hành quân và chỉ huy cuộc hành quân; Tướng Lê Văn Kim phụ trách soạn thảo các văn kiện sẽ được công bố, v.v.

Trước ngày đảo chánh, hai tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến do Thiếu Tá Nguyễn Bá Liên chỉ huy gồm có Tiểu Đoàn 1 của Đại Uư Trần Văn Nhựt và Tiểu Đoàn 4 của Đại Uư Lê Minh Hằng, được lệnh mở cuộc hành quân giả đánh vào núi Thị Văi ở Ba Rịa, rồi bất thần quay về chiếm Tổng Nha Công An Cảnh Sát, đài Phát Thanh Sài G̣n và tấn công vào Dinh Gia Long.

Trung Đoàn 1 Thiết Giáp ở G̣ Vấp do Đại Uư Dương Hiếu Nghĩa chỉ huy, được phân công như sau: Chi Đoàn 1/1 Chiến Xa M24 do Đại Uư Bùi Văn Ngăi chỉ huy, yểm trợ chiếm Thành Cộng Ḥa và Dinh Gia Long. Hai Chi Đoàn Thiết Vận Xa M113 là 4/1 do Đại Uư Trần Văn Thoàn chỉ huy và 5/1 do Trung Uư Nguyễn Văn Tỷ (thay Đại Uư Hà Mai Việt) chỉ huy, sẽ phối hợp với hai Chi Đoàn Thám Thính M114 là 2/1 và 3/1 bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

Lực lượng của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung chiếm phi trường Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu và Đài Phát Thanh Quân Đội ở Quang Trung.

Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đưa Sư Đoàn 5 bao vây Sài G̣n và sẽ tiến vào thủ đô khi các lực lượng ở bên trong bắt đầu khai chiến.

Đánh lừa ông Diệm

Vấn đề quan trọng là làm sao đưa Lực Lược Đặc Biệt ra khỏi Thủ Đô và chuyển Sư Đoàn 5 vào mà không bị nghi ngờ ǵ cả. Do đó, một tuần trước ngày đảo chánh, Tướng Trần Văn Đôn đă vào tŕnh Tổng Thống Diệm rằng các tin t́nh báo cho biết một số đơn vị Việt Cộng đă xâm nhập vào vùng ven đô. Đặc biệt tại khu Hố Ḅ ở Củ Chi, Gia Định, phía Tây và Tây Bắc Sài G̣n. Tại đây, Việt Cộng đă thiết lập một vùng Tam Giác Sắt với hệ thống mật khu ṿng đai như Hố Ḅ, Bời Lời và Long Nguyên. Việt Cộng đă sử dụng Hố Ḅ làm địa bàn liên lạc. Tướng Đôn xin Tổng Thống cho sử dụng Lực Lượng Đặc Biệt và Sư Đoàn 5 để mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng. Tổng Thống đồng ư.

Được sự chấp thuận của Tổng Thống Diệm, Tướng Đôn đă ra lệnh cho Đại Tá Lê Quang Tung cho lập kế hoạch hành quân đưa Lực Lượng đi tảo thanh vùng Hố Ḅ, c̣n Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu lập kế hoạch hành quân vùng ven đô.

Được lệnh, Đại Tá Thiệu đă ra lệnh cho Thiếu Tá Lộ Công Danh, Trưởng Pḥng 3 Sư Đoàn 5, lập kế hoạch hành quân. Kế hoạch này được đặt tên là “Kế Hoạch Hành Quân Rừng Sát”. Theo kế hoạch, Trung Đoàn 7 sẽ về đóng tại Hàng Xanh, Trung Đoàn 8 đóng tại cầu B́nh Lợi và Trung Đoàn 9 đóng ở cầu Bến Lức. Đây là lực lượng chính của quân đảo chánh.

Ngày 31.10.1963, Tổng Thống Diệm đă kư Sự Vụ Lệnh cho phép mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng ở khu Hố Ḅ. Ông Diệm đă trúng kế CIA!

Có Sự Vụ Lệnh này, Tướng Đính đă ra lệnh cho Đại Tá Lê Quang Tung sử dụng Lực Lượng Đặc Biệt mở cuộc hành quân giải tỏa khu Hồ Ḅ, đưa Lực Lượng này ra khỏi Thủ Đô. Mật lệnh giữa Quân Đoàn III và Lực Lượng Đặc Biệt là Bravo I. Trong khi đó Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu được lệnh đưa Sư Đoàn 5 về Sài G̣n để mở “cuộc hành quân ven đô”. Nhưng Đại Tá Thiệu chỉ được đem quân vào Thủ Đô để tấn công Dinh Gia Long khi có mật lệnh Bravo II. (Tôn Thất Đính, 20 năm binh nghiệp. Tuần báo Chánh Đạo, San Jose, 1998, tr. 437)

Nhiều người không hiểu mật lệnh Bravo I và Bravo II là ǵ, đă cho rằng Bravo I là cuộc đảo chánh giả do ông Nhu dự tính thực hiện, sau đó làm Bravo II để bắt các thành phần định đảo chánh. Sự thật không phải như vậy, Tướng Đính đă xác nhận Bravo I và Bravo II là kế hoạch hành quân đánh lừa ông Diệm như đă nói trên.

Phá thế gọng ḱm của ông Nhu

Để bảo vệ thủ đô, ông Nhu giao cho Quân Đoàn III chỉ huy luôn Sư Đoàn 7 ở Định Tường và cử Đại Tá Lâm Văn Phát làm tư lệnh sư đoàn này thay Đại Tá Bùi Đ́nh Đạm. Ông Nhu nghĩ rằng Sư Đoàn 5 giữ phía Bắc và Sư Đoàn 7 giữ phía Nam sẽ tạo thành một “thế gọng kềm Nam – Bắc” bảo vệ thủ đô khi có nguy biến. Đại Tá Phát được lệnh phải đến tŕnh diện Quân Đoàn III vào ngày 30 hay 31.10.1963 và đến nhận chức ở Mỹ Tho vào ngày 1.11.1963. Nhưng khi đến tŕnh diện ở Quân Đoàn III, Đại Tá Phát đă bị nhóm thuộc đơn vị tham mưu do Đại Tá Nguyễn Hữu Có chỉ huy, bí mật giữ lại tại Quân Đoàn III trước khi Trung Tá Nguyễn Khắc B́nh tố cáo với ông Nhu rằng Đại Tá Có rủ rê ông tham gia đảo chánh.

Tướng Trần Văn Đôn cho biết thêm:

Tối ngày 31 tháng 10, sau khi dùng cơm ở nhà hàng Trung Hoa với Tướng Weede, Tham Mưu Trưởng của Tướng Hatkins, ông có ghé thăm Tướng Đính tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III vào lúc 11 giờ 30 và nói quyết định của ông đưa Đại Tá Nguyễn Hữu Có xuống làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 kể từ ngày 1.11.1963. Trưa 1.11.1963, Tướng Đính gọi điện yêu cầu Tướng Trần Văn Đôn ra lệnh cho Đại Tá Đạm bàn giao Sư Đoàn 7 cho Đại Tá Có. Tướng Đôn đă ra lệnh ngay.

Như vậy, cái “thế gọng ḱm Nam – Bắc” mà ông Nhu quyết định thành lập để bảo vệ Thủ Đô đă bị biến thành cái gọng ḱm đánh sập chế độ. Ông Nhu không hề hay biết ǵ về chuyện này.

Cầm chân ông Diệm và ông Nhu

Đại Sứ Lodge tuy tuyên số sẽ về Washington ngày 31.10.1963 để báo cáo t́nh h́nh, nhưng ông không về v́ giờ đảo chánh đă đến, ông không muốn giao quyền chỉ đạo cuộc đảo chánh cho Tướng Harkins như Washington đă khuyến cáo, v́ Tướng Harkins không muốn có cuộc đảo chánh. Đô Đốc Harry D. Felt, Tư Lệnh Thái B́nh Dương, đột nhiên đă đến thăm Sài G̣n vào chiều 31.10.1963, được đưa vào Dinh Gia Long gặp ông Diệm lúc 10 giờ sáng ngày 1.11.1963 để cầm chân ông Diệm cho các tướng lănh hành động. Trong khi đó, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5, sẽ đến Dinh Gia Long vào cùng lúc đó, giả vờ báo cáo về t́nh h́nh với ông Nhu để cầm chân ông Nhu.

1.- Ông Lodge và Đô Đốc Felt đến cầm chân ông Diệm

Mặc dầu hôm 1.11.1963 là ngày Lễ Chư Thánh, một ngày nghỉ, Đại Sứ Lodge đă dẫn Đô Đốc Felt vào Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm. Theo ông Lodge, ông Diệm vẫn độc thoại về những ǵ đă nói với Bộ Trưởng McNamara, Tướng Taylor, Tướng Harkins và ông hôm 29.9.1963. Sau đó, ông Diệm nói thêm những điều sau đây với sự thẳng thắn không b́nh thường:

(a) CIA đă đầu độc bầu không khí bằng cách đưa ra tin đồn về những cuộc đảo chánh chống lại ông ta.

(b) Kế hoạch rút lui viện trợ của Chính Phủ Hoa Kỳ phương hại đến nỗ lực chiến tranh.

(c) Chính Phủ Hoa Kỳ đă hoàn toàn sai lầm khi rút trợ cấp cho Lực Lượng Đặc Biệt.

Cuộc tranh luận kéo dài từ 10 giờ đến 11 giờ 15 sáng.

2.- Đại Tá Thiệu đến cầm chân ông Nhu.

Ông Cao Xuân Vỹ cho biết, khoảng 10 giờ sáng ngày 1.1.1963, trong khi Đại Sứ Lodge dẫn Đô Đốc Felt vào thăm ông Diệm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5, đến gặp ông Nhu. Cuộc nói chuyện kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông có hỏi ông Nhu có chuyện ǵ không. Ông Nhu trả lời rằng t́nh h́nh đều yên ổn. Đại Tá Thiệu cho biết Sư Đoàn 5 đang mở cuộc hành quân ven đô để tảo thanh Việt Cộng. Ông Nhu tỏ ra yên tâm khi để cho Lực Lượng Đặc Biệt rời khỏi Sài G̣n, v́ đă có Sư Đoàn 5 của Đại Tá Thiệu “bảo vệ” thủ đô!

Trong khi đó, tối hôm 31.10.1963, Đại Tá Thiệu đă cho Trung Đoàn 7 do Thiếu Tá Vũ Ngọc Tuấn làm Trung Đoàn Trưởng, từ Ngă Ba Tam Hiệp, Biên Ḥa, tiến theo xa lộ Biên Ḥa đến đóng ở ngă ba đi Vũng Tàu. Trung Đoàn 8 do Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư làm Trung Đoàn Trưởng, từ Bến Cát, B́nh Dương, về đóng ở Lái Thiêu. Riêng Trung Đoàn 9 do Thiếu Tá Ṿng Đồng Phóng làm Trung Đoàn Trưởng, gặp khó khăn hơn v́ phải đợi một tiểu đoàn giao khu Hố Ḅ lại cho Lực Lượng Đặc Biệt đến thay thế mới rút ra quốc lộ 22 (Tây Ninh – Sài G̣n), kết hợp với một tiểu đoàn khác từ Tây Ninh đến đóng ở vùng G̣ Dầu. Tất cả chuẩn bị tiến về Sài G̣n.

Hai cuộc gặp gỡ “cầm chân” nói trên đă khiến các cấp chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ Sài G̣n không thể báo tin cho ông Diệm biết họ được mời đến họp tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Đúng 1 giờ trưa, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho một số đơn vị của cả ba trung đoàn thuộc Sư Đoàn 5 di chuyển về Sài G̣n, một phần đóng ở ngă tư Hàng Xanh, một phần đóng ở cầu B́nh Lợi và một phần đóng ở Phú Lâm để ngăn chận quân cứu viện từ ngoài tiến về giải cứu Sài G̣n.

Vai tṛ của Sư đoàn 5

Ông Cao Xuân Vỹ, Tổng Giám Đốc Thanh Niên, cho biết lúc 1 giờ 30, khi nghe tiếng súng bắt đầu nổ ran tại một vài nơi ở Sài G̣n, ông đă gọi cho ông Ngô Đ́nh Nhu tại Dinh Gia Long để hỏi thăm tin tức. Ông Nhu bảo ông Vỹ đi quanh một ṿng xem t́nh h́nh như thế nào. Ông Vỹ lái xe đi một ṿng rồi vào báo tin cho ông Nhu biết t́nh h́nh vẫn yên tĩnh. Ông Nhu hỏi: “Chúng nó lấy lực lượng đâu để đảo chánh?” Ông Nhu nhắc lại sáng nay Đại Tá Thiệu mới đến đây nói chuyện và báo cáo t́nh h́nh vẫn yên tĩnh!

V́ thành Cộng Ḥa được pḥng thủ khá kiên cố nên Tiều đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến và Thiết Giáp không thể chọc thủng được. Tướng Trần Văn Đôn ra lệnh cho Đại Tá Thiệu đưa Sư Đoàn 5 tấn công vào Thành Cộng Ḥa, nhưng Đại Tá Thiệu trả lời chưa chuyển quân tới Sài G̣n được, mặc dầu lúc đó Trung Đoàn 7 đang có mặt trên xa lộ Biên Ḥa. Đại Tá Thiệu muốn xem t́nh h́nh như thế nào rồi mới quyết định hành động.

Buổi chiều, bản doanh của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 5 và một bộ phận chỉ huy của Trung Đoàn 7 đă được đưa vào đặt tại Trường Đại Học Sư Phạm ở đường Cộng Ḥa. Một phần của lực lượng Trung Đoàn 7 đă tiến vào chiếm giữ một số vị trí đă định ở thủ đô.

Cho đến giữa đêm mồng 1 rạng ngày 2.11.1963, Tiểu Đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến của Đại Uư Trần Văn Nhựt và Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù từ Trung Tâm Vạn Kiếp đến, vẫn không phá vỡ được Thành Cộng Ḥa. Đại Uư Bùi Nguơn Ngăi chỉ huy Chi đoàn 1/1 Chiến Xa M24 tiến lên khai chiến với Liên Binh Pḥng Vệ ở Thành Cộng Hoà th́ bị bắn tử thương ngay trong chiến xa. Cái chết của Đại Uư Ngăi ngay trong chiến xa đă khiến các chi đoàn chiến xa tham gia đảo chánh phải chùng lại.

Sau cái chết của Đại Uư Ngăi, Tướng Đôn lại ra lệnh cho Đại Tá Thiệu phải cho Sư Đoàn 5 tấn công ngay. Không thể tŕ hoăn được nữa, Đại Tá Thiệu đă ra lệnh cho Trung Đoàn 7 do Thiếu Tá Vũ Ngọc Tuấn chỉ huy, Đại Đội 5 Thám Báo và một pháo đội hổn hợp mở cuộc tấn công yểm trợ. Với sự yểm trợ của Sư Đoàn 5, lực lượng đảo chánh vẫn không chiếm được Thành Cộng Ḥa.

Tướng Tôn Thất Đính cho Tướng Đôn biết Đại Tá Lâm Văn Phát t́nh nguyện chỉ huy cuộc tấn công vào Thành Cộng Hoà. Tướng Đôn hứa sẽ thăng Đại Tá Lâm Văn Phát lên Thiếu Tướng nếu Đại Tá Phát thanh toán xong Thành Cộng Hoà. Nhưng sau đó không nghe tin ǵ về việc Đại Tá Phát tấn công vào Thành Cộng Hoà. Có lẽ Đại Tá Thiệu không chịu trao quân.

Tướng Đôn ra lệnh Tiều Đoàn 4 Thuỷ Quân Lục Chiến của Đại Uư Lê Hằng Minh bao vây Dinh Gia Long, và hứa sẽ cho lực lượng của Sư Đoàn 5 và chiến xa đến yểm trợ sau khi chiếm xong Thành Cộng Hoà.

Lúc 3 giờ sáng ngày 2.11.1963, sau khi vừa chiếm xong Thành Cộng Hoà, Tướng Đôn ra lệnh cho Đại Tá Thiệu tấn công vào Dinh Gia Long.

Mặc dầu trong Dinh Gia Long chỉ có một Đại Đội Cận Vệ do Thiếu Tá Huỳnh Văn Lạc chỉ huy, nhưng việc tấn công Dinh Gia Long không dễ dàng v́ tại đây có những công sự chiến đấu rất vũng chắc. Vả lại, c̣n nhiều đại đội bộ binh và chi đội thiết giáp của Liên Binh Pḥng Vệ đang đóng tại Dinh Độc Lập, Vườn Tao Đàn và Sở Thú. Họ chưa có hành động nào v́ phải chờ lệnh của Tổng Thống Diệm. Tướng Đôn ra lệnh cho Tướng Đính phải thanh toán Dinh Gia Long trước khi hừng sáng, nhưng đến 4 giờ 30 sáng 2.11.1963, Tướng Đính cho biết Thiết Giáp của quân đảo chánh ở ngoài và Thiết Giáp bảo vệ Dinh Gia Long không muốn đánh nhau. Tướng Đính ra lệnh cho Đại Tá Thiệu phải chiếm được Dinh Gia Long trước 6 giờ sáng.

Bỗng nhiên, lúc 5 giờ 15 sáng 2.11.1963, Tổng Thống Diệm đă ra lệnh cho Liên Binh Pḥng Vệ buông súng, sau đó ông và ông Nhu rời khỏi nhà Mă Tuyên để đi vào nhà thờ Cha Tam.

Chiều 3.2.1963, chính Tướng Trần Thiện Khiêm đă đích thân đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 ở Biên Hoà gắn lon Thiếu Tướng cho Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu.

Trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johnson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johson có kể lại với Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthy:

Ngài nhớ, lúc đầu họ nói với tôi về Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. V́ thế, chúng ta đă giết ông ta. Tất cả chúng ta đă họp lại với nhau và sử dụng một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa (a goddam bunch of thug) để hạ sát ông ta. Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị [ở Miền Nam Việt Nam] từ lúc đó”.

Trong bài tới, chúng tôi sẽ tŕnh bày tiếp Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm tay sai cho CIA đă làm mất miền Nam như thế nào.

Lữ Giang
(Ngày 12.10.2009)

© Thông Luận 2009


 

 

Bịt miệng lịch sử ?


Lữ Giang

“… Không lẽ ngày nay chúng ta phải “suy tôn” và “tưởng niệm” những người như thế sao? …”

 

Sau 30.4.1975 nhiều người Việt ở miền Nam thường nhắc đi nhắc lại câu nói sau đây của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được coi như là một thứ chân lư: "Đừng nghe những ǵ Cộng sản nói, mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản làm!".

Điều đáng tiếc là khi dạy người khác như vậy, chính ông Thiệu lại không biết “nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản làm” và “Đồng Minh” làm, cứ hành động theo cảm tính và sự suy nghĩ nông cạn của ḿnh, để miền Nam bị mất một cách quá tức tưởi! Ngay cả khi Kissinger qua Trung Quốc “bàn giao” miền Nam cho Mao Trạch Đông, ông cũng không hề “ngửi thấy” được ǵ hết!

Một số người cho rằng miền Nam mất là do Mỹ bỏ. Nhưng vấn đề được đặt ra là tại sao Mỹ không bỏ Đài Loan hay Đại Hàn mà bỏ VNCH? Nghe đoạn băng ghi lại cuộc nói chuyện giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn Kissinger vào ngày 3.8.1972, chúng ta mới hiểu được các nhà lănh đạo Mỹ đă nghĩ như thế nào khi quyết định bỏ miền Nam. Tất cả có thể được rút gọn lại trong một chữ mà Kissinger đă dùng: “Incompetence” (Sự bất lực)!

Thật ra, hai chữ “Corruption and Incompetence” đă được người Mỹ dùng khá nhiều trong các bài nhận định về cơ cấu chính quyền miền Nam.

VNCH có một quân đội rất thiện chiến và anh dũng, có tinh thần chống cộng rất cao, được trang bị bằng những vơ khí tối tân..., nhưng lại có một cấp lănh đạo quốc gia quá yếu kém về cả chính trị lẫn quân sự, nên đă để mất miền Nam.

Trong bài trước chúng tôi đă đưa ra những tài liệu với nhiều chi tiết chứng minh Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu và Sư Đoàn 5 do ông chỉ huy là lực lượng chính được CIA dùng để lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đưa miền Nam vào những ngày đen tối. Có thể nói, không có Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu và Sư Đoàn 5, CIA không thể tổ chức được cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.

Lấy nón cối úp lịch sử

Người Việt có câu tục ngữ “Lấy thúng úp voi”, tức cố che giấu một chuyện không thể che giấu được. Ca dao cũng có câu:

Cha đời lấy thúng úp voi,
Úp qua, úp lại cũng ḷi cái đuôi.

Mặc dầu vậy, hiện nay có nhiều người c̣n hành động khôi hài hơn, đó là “lấy nón cối úp lịch sử” hay “lấy nón cối úp sự thật”!

Trong 34 năm qua, thỉnh thoảng Bộ Ngoại Giao và cơ quan CIA của Mỹ đă cho giải mă dần những tài liệu mật liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, số tài liệu này hiện nay đă lên đến trên nửa triệu trang. Ngoài ra, các cuộc khảo cứu của các học giả và các sử gia cũng đă khám phá ra rất nhiều sự kiện lịch sử mới liên quan đến cuộc chiến này. Những tài liệu đó đă giúp chúng ta nh́n lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam một cách chính xác hơn. Tuy nhiên, nhiều người không chịu nghiên cứu, không đọc tài liệu, cứ suy nghĩ và lập luận theo cảm tính và cảm t́nh cá nhân, bất chấp lịch sử đă thật sự diễn biến như thế nào.

Chúng tôi đă nhiều lần nói rằng cuộc chiến Việt Nam là “những chương bi thảm” đối với cả VNCH lẫn đảng CSVN, v́ thế cả hai bên đều rất ghét sự thật lịch sử, và cả hai bên đều chủ trương phải viết lịch sử “theo lề đường bên phải” để che đậy những sai lầm và bảo vệ những huyền thoại đă được tạo ra. Đảng CSVN c̣n đưa cả huyền thoại vào sách giáo khoa để đánh lừa giới trẻ!

Ngày 24.7.2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đă ban hành Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg về các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN). Mục đích chính của quyết định này là ngăn chận các nhà nghiên cứu nói lên các quan điểm của ḿnh liên quan đến các vấn đề “nhạy cảm”, bị coi là không phù hợp với quan điểm của chế độ. Quyết định này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15.9.2009.

Điều 2 của quyết định quy định rằng các ư kiến phản biện "không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ". Điều 4 yêu cầu "rà soát lại các tổ chức KH&CN do cá nhân đă thành lập để hướng dẫn đăng kư lại hoạt động".

Để chống lại quyết định “bịt miệng” này, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (Institutes of Development Studies, viết tắt là IDS), đă quyết định “tự giải thể” và một số cá nhân trong tập thể này đă đưa ra những lời phát biểu chống đối quyết định 97.

Hôm 14.10.2009, Văn Pḥng Chính Phủ đă họp và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đă yêu cầu xử lư "những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân" thuộc IDS. Văn Pḥng này cho rằng Viện ISD đă nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước".

Ở hải ngoại, tuy không có “Đảng lănh đạo và Nhà Nước quản lư”, không có công an nhân dân... như ở trong nước, nhưng một số người, nhất là nhóm tự coi ḿnh là “công an nhân dân chống cộng”, lúc nào cũng đ̣i hỏi các nhà chính trị và các cơ quan truyền thông Việt ngữ phải “đi theo lề đường bên phải”, không được nói hay viết những ǵ bị họ coi là “không có lợi cho việc chống cộng” hay “không có lợi cho VNCH”, mặc dầu đó là những sự thật không thể chối căi được. Nói một cách khác, họ muốn áp dụng tại hải ngoại một chế độ rập khuôn như chế độ toàn trị ở trong nước, một chế độ mà gần như ngày nào họ cũng đưa lên Internet hàng ngàn bài để chửi rủa đủ 36 kiểu!

Ở trong nước, những ai bất tuân, sẽ bị nhà cầm quyền dùng bạo lực để “bịt miệng”. Đây là một h́nh thức răn đe, ngăn cản không cho các nhà đấu tranh vượt ra khỏi “lề đường bên phải”. Tuy nhiên, bất chấp những sự răn đe, nhiều nhà đấu tranh vẫn tiếp tục nói lên lẽ phải, nói lên sự thật, bênh vực cho công lư, tranh đấu cho tự do dân chủ.

Ở hải ngoại, nhóm “công an nhân dân chống cộng” không thể xử dụng bạo lực như nhà cầm quyền CSVN, v́ đây là nước Mỹ chứ không phải VNCH nối dài. Họ cũng không đủ khả năng để phản biện theo phương pháp khoa học. Thường họ chỉ nêu lên những phản biện vớ vẩn như: Tài liệu do CIA giải mă hay tác giả (như Liên Thành) công bố là tài liệu giả, đáng nghi ngờ... Tại sao nó có được những tài liệu đó? Không lẽ khi ra khỏi nước công an để cho nó mang đi hay sao? Làm sao nó có thể nhớ đúng từng chi tiết như vậy, v.v. Nhưng biện pháp phản biện cố hữu vẫn là NÓN CỐI! Cứ căi không lại là tung NÓN CỐI.

Nh́n lại, chúng ta thấy những nỗ lực của nhà cầm quyền CSVN cũng như NHÓM SỢ SỰ THẬT ở hải ngoại đều là những nỗ lực vô vọng. Tài liệu lịch sử được tàng trữ trong các thư viện và văn khố trên khắp thế giới, dù có nhập cảng hàng ngàn tấn nón cối của Việt Cộng c̣n lại, cũng không thể phủ lấp được. Vả lại, những người muốn che giấu sự thật cần biết rằng khoảng 10 hay 20 năm nữa, khi thế hệ của chiến tranh Việt Nam qua đi, BẠO LỰC và NÓN CỐI sẽ không c̣n, lúc đó ai sẽ nối tiếp “sự nghiệp” bịt miệng lịch sử của họ?

Ngày nay, hệ thống mạng lưới toàn cầu đă đi tới được những nơi hẻo lánh nhất của trái đất. Do đó, tin tức không c̣n bị thu nhỏ ở từng địa phương. Một bài được phóng lên từ Loan Lư, Thừa Thiên, hay từ Westminster, California, chỉ vài phút sau đă đến được với cộng đồng người Việt và cơ quan truyền thông Việt ngữ trên khắp thế giới. Công an nhân dân ở Lăng Cô hay công an chống cộng ở Bolsa không c̣n có thể bịt miệng được.

Émile François Zola nói: “La vérité est en marche, rien ne peut plus l’arrêter”. (Sự thật đang tiến bước, không có ǵ có thể làm cho nó ngưng lại được). C̣n đại thi hào Johann Wolfgang von Goethe nhấn mạnh: “Tôi thích một sự thật có hại hơn một sự sai lầm có lợi. Sự thật chữa được cái hại nó có thể gây ra”.

”Thù lao” làm đảo chính

Sau khi bài “Kẻ phản bội” được phổ biến, nhiều người đă gọi điện thoại cho chúng tôi yêu cầu làm sáng tỏ về số tiền mà CIA đă trả cho nhóm làm đảo chánh. Chúng tôi xin nói rơ:

Số tiền 3.000.000 đồng (42.000 USD) được Lucien Conein đưa cho Tướng Trần Văn Đôn được chia như thế nào, Tướng Trần Văn Đôn đă ghi rơ trong Phiếu Đệ Tŕnh ngày 14.8.1971 (xem phụ đính của cuốn Việt Nam Nhân Chứng), như: Tướng Trần Thiện Khiêm 500.000$, Tướng Tôn Thất Đính 600.000$, Tướng Lê Nguyên Khang 100.000$, Tướng Nguyễn Văn Thiệu 50.000$, Đại Tá Trần Ngọc Huyến 100.000$, Thiếu Tá Phan Ḥa Hiệp 100.000$ và Đại Uư Đào Ngọc Diệp 100.000$. Tổng Cộng 1.550.000$. Số c̣n lại là 1.450.000$ được chia riêng cho các tướng Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Trần Ngọc Tám, Nguyễn Khánh và Đỗ Cao Trí.

Tướng Trần Văn Đôn gọi số tiền này là “thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1.11.1963”.

Không thể dựa vào sự phân chia số tiền “thù lao” nói trên để xét định ai “có công” lớn, ai “có công” nhỏ trong việc làm đảo chánh lật đổ và giết ông Diệm, v́ ngoài số tiền “thù lao” này ra, các tướng lănh đạo cuộc đảo chánh và những người liên hệ đă được lănh một số thù lao khác nữa. Tài liệu "Check-List of Possible U.S. Actions in Case of Coup," (Danh sách về những hành động Hoa Kỳ có thể làm trong trường hợp có đảo chánh) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 25.10.1963 cho biết như sau về số tiền cung cấp cho nhóm đảo chánh:

“Mendenhall also compiles a set of options the Kennedy administration can take in support of a coup aimed at the Diem government. Note that he mentions providing money or other "inducements" to Vietnamese to join in the plot. The CIA would actually provide $42,000 to the coup plotters during the coup itself (other amounts in support are not known)”. (Xin tạm dịch: “Mendenhall cũng đă hoàn thành một danh sách về những sự lựa chọn mà chính quyền Kennedy có thể thực hiện để yểm trợ cho một cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Cần lưu ư ông ta có đề cập đến vấn đề cung cấp tiền bạc hay “các sự xui khiến” (inducements) khác cho người Việt Nam tham dự vào âm mưu. Hiện tại, CIA phải cung cấp 42.000 USD cho những người âm mưu đảo chánh trong thời gian cuộc đảo chánh xẩy ra (những số tiền yểm trợ khác không được biết).” (JFKL: Roger Hilsman Papers, Country File, box 4, folder: Vietnam 10/6/63-10/31/63)

Ngoài ra, vài ngày trước cuộc đảo chánh, Đại Sứ Lodge đă đề nghị Washington sử dụng một số tiền khác của CIA để đấm mơm (buy off) sự chống đối ngấm ngầm.

Sau đó, trong công điện gởi cho Đại Sứ Cabot Lodge ngày 30.10.1963, tức trước đảo chánh một ngày, ông McGeorge Bundy, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Kennedy, đă viết:

“Về phần những lời yêu cầu của các tướng, họ có thể cần tiền vào giờ chót để mua chuộc những kẻ chống đối ngấm ngầm. Trong phạm vi mà những số tiền đó có thể được chuyển một cách kín đáo, tôi tin rằng chúng ta có thể cung cấp cho họ miễn là chúng ta được thuyết phục rằng cuộc đảo chánh đă được dự trù sẽ được tổ chức một cách hoàn hảo để có cơ may thành công.” (FRUS 1961 – 1963, Volume IV, tr. 487).

Với những tài liệu được tiết lộ đă dẫn, chúng ta có thể tin rằng số tiền CIA đă cung cấp cho nhóm tướng lănh làm đảo chánh chắc chăn lớn hơn số tiền “thù lao” nói trên nhiều, nhưng không thể biết được số tiền đó là bao nhiêu v́ CIA đă sử dụng quỹ mật, không ghi vào sổ sách nên không thể biết rơ được. Ngay trong tài liệu cũng đă ghi rơ “những số tiền yểm trợ khác không được biết”. (FRUSS 1964 – 1968, Volum I, tr. 381).

Tranh nhau “chiến lợi phẩm”

Sau cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963, ông Vơ Văn Hải, chánh văn pḥng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, có làm ngay một báo cáo cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạnh về tài sản của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm c̣n lại trong Dinh Gia Long. Sáng ngày 3.11.1963, Tướng Dương Văn Minh đă kư giấy ra lệnh cho Đại Uư Đặng Văn Hoa, chánh văn pḥng của Tướng Đôn, đến Dinh Gia Long gặp ông Vơ Văn Hải và ông Quách Ṭng Đức, Đổng Lư Văn Pḥng Phủ Tổng Thống, để nhận hồ sơ và tiền bạc c̣n lại trong Phủ Tổng Thống. Ông Vơ Văn Hải đă bàn giao cho Đại Uư Đặng Văn Hoa 2.390.000$ và 6.297 USD trước sự chứng kiến của ông Quách Ṭng Đức.

Theo Tướng Trần Văn Đôn, số tiền 2.390.000$ ông đă dùng để chi tiêu các việc cần thiết và “giúp đỡ các anh em binh sĩ” (?). C̣n số tiền 6.297 USD, ông đă đưa cho Tướng Dương Văn Minh 6.000 USD, số c̣n lại ông giao cho Tướng Trần Thiện Khiêm khi Tướng Khiêm đi công tác Đại Hàn vào cuối tháng 12 năm 1963. (Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng. Xuân Thu, California 1989, tr. 242).

Một nguồn tin nói rằng Tổng Thống Diệm có gởi ở ḍng Chúa Cứu Thế 10.000.000$ Việt Nam thuộc quỹ mật của Phủ Tổng Tống. Số tiền này được gởi với mục đích khi có chính biến, có thể dùng để tạm thời nuôi Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống và Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh liền cho Tướng Trần Văn Minh đến lấy lại. Khi nhận tiền, Tướng Trần Văn Minh có làm biên nhận đàng hoàng.

Nhưng Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, lúc đó là Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống, cho biết ông Vơ Văn Hải có kể lại với ông rằng ông Diệm cho ông biết khi về hưu ông sẽ về Huế sống với bà cụ cố. Nếu cụ cố chết sẽ vào tu ở Ḍng Chúa Cứu Thế. V́ thế, lương và phụ cấp của cụ đều gởi cho cha Toán là quản lư của nhà Ḍng. Số tiền đă gởi cho cha Toán là hai triệu tám trăm ngàn (hay ba triệu, ông không c̣n nhớ rơ). Sau cuộc đảo chánh, theo lời khai của ông Vơ Văn Hải, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đă cho Tướng Trần Văn Minh đến gặp cha Toán để lấy, v́ Tướng Trần Văn Minh là người Công Giáo và có quen biết với cha Toán.

Sau khi giao số tiền cho Tướng Trần Văn Minh, cha Toán sợ bị liên lụy nên đă lên Tây Ninh rối trốn qua Cambodia, từ đó ông đi qua Pháp. (Nguyễn Hữu Duệ, Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. San Diego, California, 2003, tr. 21 – 22).

Số tiền này cũng không được nộp vào ngân khố. Không biết các tướng đă chia chác với nhau như thế nào.

Ngày 26.5.1964, Đại Sứ Cabot Lodge có gởi cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ một văn thư, trong đó có đoạn tŕnh như sau:

“Tướng Khánh nói với tôi ngày 25 tháng 5 rằng khi ông Diệm bị bắn ông ta có trong tay một cái cặp chứa một triệu đô la ‘loại tiền lớn nhất’. Khánh nói rằng Tướng Minh đă lấy cái cặp đó và chưa bao giờ giao nộp. Khánh nói thêm rằng cũng trong thời gian đó, Tướng Minh đă chiếm đoạt 40 kg vàng thoi.

“Tôi khuyên Khánh không nên công bố chuyện đó ra cho dân chúng biết để khỏi làm giảm sự tin tưởng của dân chúng ở đó vào các tướng lănh. Ông ta hy vọng Tướng Minh sẽ ra đi một cách thầm lặng.” (FRUSS 1964 – 1968, Volum I, tr. 381)

Thượng cấp khen rồi nguyền rủa

Tướng Trần Văn Đôn kể lại: lúc 4 giờ chiều ngày 3.1.1963, khi Tướng Đôn và Tướng Kim đến Toà Đại Sứ Mỹ báo cáo kết quả của cuộc đảo chánh, Đại Sứ Cabot Lodge ra đón từ ngoài đường và nói bằng tiếng Pháp:

“C’est formidable! C’est magnifique!” (Thật phi thường! Thật tuyệt vời!) (Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng. Xuân Thu, California, Hoa Kỳ 1989, tr. 288).

Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, khi t́nh h́nh miền Nam suy sụp, Tổng Thống Johnson đă lên tiếng nguyền rủa quyết định của nhóm đảo chánh và các tay sai.

Trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, cho biết vào ngày 1.2.1966, Tổng Thống Lyndon B. Johnson đă nói chuyện bằng điện thoại với Thượng Nghị Sĩ Eugene McCathy như sau:

Johnson: ... But they started with me on Diem, you remember...
McCathy: Yeah.
Johnson: [That] he was corrupt and he ought to be killed. So we killed him. We all got together AND GOT A GODDAM BUNCH OF THUGS and we went in and assassinated him. Now, we've really had no political stability since then.
(Johnson: ... Nhưng ngài nhớ, lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm.
MacCarthy: Có chứ.
Johnson: (Rằng) ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. V́ thế, chúng ta đă giết ông ta. Tất cả chúng ta đă họp lại với nhau VÀ SỬ DỤNG MỘT BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ ĐÁNG NGUYỀN RỦA để hạ sát ông ta. Bây giờ, chúng ta thật sự không có sự ổn định chính trị [ở Miền Nam Việt Nam] từ lúc đó”.)

“Bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” mà Tổng Thống Johnson nói ở đây là những ai?

Theo công điện ngày 27.8.963 của Trạm CIA Sài G̣n gởi CIA trung ương, Uỷ Ban các Tướng Lănh (Committee of Generals) tổ chức đảo chánh do Tương Dương Văn Minh cầm đầu gồm các tướng sau sau đây: Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim, Nguyễn Khánh và Nguyễn Ngọc Lễ. Các tướng này đă họp và quyết định cuộc đảo chánh sẽ xẩy ra trong ṿng một tuần lễ. Tướng Trần Văn Đôn cũng là một thành viên của Uỷ Ban, nhưng không đến họp v́ bị theo dơi. Tướng Trần Tử Oai không phải là thành viên của Uỷ Ban, nhưng đồng ư hợp tác. (FRUSS 1961 – 1963, Volume III, tr.653 – 654)

Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đă nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến và Đại Tá Nguyễn Khương.

Trong thực tế, những người sau đây đă tham gia trực tiếp vào cuộc đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu..., và sau đó Tướng Nguyễn Khánh nhảy vào nối tiếp.

Làm mất chủ quyền quốc gia

Chúng tôi nhắc lại, trong công điện gởi cho Bộ Ngoại Giao lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge có kể lại lời ông Ngô Đ́nh Nhu đă nói với ông như sau:

“Tôi báo động về những ǵ sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh”. (“I am alarmed by what's going on in the Armed Forces. If I leave, the Armed Forces will take over the government. 'Ces grenouillards' (which I translate as "these schemers" or 'these contrivers') of the CIA and USIS will sabotage the war effort.” ) (FRUS, Volume IV, tr. 131. Document 72).

Sau đó, trong công điện gởi Bộ Ngoại Giao lúc 6 giờ 39 phút chiều 29.10.1963, Đại Sứ Lodge tŕnh rằng: chiều 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng, đă nói với viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lănh dự định làm đảo chánh trong ṿng 10 ngày. Theo ông biết các tướng lănh không tiếp xúc với các nhà lănh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ư định của các Tướng Lănh:

“Ông ta coi đa số các Tướng Lănh không ǵ khác lơn là các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lănh” (He considers majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms) (FRUS, Volume IV, tr. 457 – 458. Document 229).

Những lời tiên đoán này đă trở thành hiện thực! Khả năng quá yếu kém của các tướng được CIA thuê làm đảo chánh đă làm miền Nam suy sụp một cách nhanh chóng. Trong cuốn hồi kư In Retrospect xuất bản năm 1995, ông McNamara, Bộ Trưởng Quốc Pḥng, có ghi lại như sau:

“Miền Nam bây giờ thiếu hẳn bất cứ truyền thống đoàn kết quốc gia nào. Thay vào đó, những sự hận thù tôn giáo, các phe phái chính trị, cảnh sát tham nhũng xâu xé nhau, và chưa hết, sự bành trướng của chiến tranh du kích quấy rối được người láng giềng miền Bắc yểm trợ... Chỉ trong ṿng có 90 ngày của chính quyền Johnson mà thay đổi đến hai chính phủ, và rồi trong ṿng chín tháng kế tiếp đă có đến bốn chính phủ”. (Robert S. McNamara, In Retrospect, tr. 100 – 101)

Tháng 12 năm 1963, ông McNamara đă đến Sài G̣n nghiên cứu t́nh h́nh. Theo tờ New York Times, ông mô tả t́nh h́nh của miền Nam là "laden with gloom" (Nặng trĩu bóng đen)!

Từ một t́nh trạng suy sụp như vậy, người Mỹ đă nhảy vào và nắm luôn chủ quyền tại miền Nam.

Trong tác phẩm President Kennedy, Profile of Power, sử gia Richard Reeves đă ghi lại t́nh trạng tại miền Nam sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ và các tướng lănh Việt Nam lên nằm chính quyền như sau:

“Người Mỹ, v́ các mục tiêu thực tế, đă cai quản đất nước. Các tướng lănh Việt Nam cười trước các máy quay phim, nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ Washington, thủ đô mới của miền Nam Việt Nam. Họ chờ đợi những mệnh lệnh mà ông Diệm từ chối, sẵn sàng bắt đầu công việc thắng cuộc chiến!” (Richard Reeves, President Kennedy, Profile of Power. Touchstone, New York 1994, tr. 651).

Cũng có nhận định tương tự, trong cuốn The Vietnam War, 1945 – 1990, Marilin B. Young nói rằng ông Diệm đă làm hỏng chính sách của Hoa Kỳ về phương diện chiến thuật nên được Hoa Kỳ thay thế bằng một nhóm tướng lănh. Khác với ông Diệm, họ lệ thuộc vào Hoa Kỳ và v́ thế sẵn sàng theo những lời cố vấn của Hoa Kỳ không cần tranh luận. (Marilin B. Young, The Vietnam War, 1945 – 1990. HarperCollins, New York, 1991, tr. 104).

Một số tài liệu được dẫn chứng nói trên cũng đủ cho thấy một số sĩ quan cao cấp của VNCH đă nhận chỉ thị và tiền từ CIA để làm “cách mạng” với hậu quả là làm mất chủ quyền quốc gia, đưa đất nước vào những ngày đen tối và sau đó làm mất miền Nam. Không lẽ ngày nay chúng ta phải “suy tôn” và “tưởng niệm” những người như thế sao?

Lữ Giang
19.10.2009

© Thông Luận 2009

 

 

 

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage