|
From: Hoang-Nam
<nr_tran@yahoo.com>
Date: 2010/6/16
Kiêu Dân Công Giáo
Thời Ngô Đ́nh Diệm
Kiêu Dân Công Giáo Thời Ngô Đ́nh Diệm
Bài các bạn đang đọc được viết với hai mục
đích có liên quan mật thiết với nhau.
Thứ nhất, để góp ư với
Trần Ngọc Cư,
Ḥa Nguyễn
và
Trần Văn Tích
về bài
Suy Tôn Ngô
Tổng Thống. Thời Đệ Nhất Cộng Ḥa,
trong Buổi Lễ Chào Cờ, bài ca này phải được hát kèm với
Tiếng Gọi Công Dân,
Quốc Ca chính thức do Lưu Hữu Phước
et al sáng tác.
Nó có đoạn như sau:
Toàn dân Việt
Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống,
Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt
Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế
ban phước lành cho người
Thứ hai, để trả lời một
câu hỏi quan trọng mà Dũng Vũ đă đặt ra cho
tôi trên Diễn Đàn Talawas.
Câu hỏi này có liên quan đến nhận định của Sử Gia Tạ Chí Đại
Trường về Khối Người từng làm ṇng cốt cho Chế Độ Ngô Đ́nh
Diệm.
Tôi sẽ đi sâu vào bài
Quốc Ca “Kép”
nói trên, sau khi giải quyết xong thắc mắc do Dũng Vũ nêu
lên về nhận định của nhà viết sử họ Tạ.
Theo Tạ Chí Đại Trường, người từng sống dưới
Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm, đồng bào Công Giáo từ Bắc Di Cư vào
Nam thời đó là một Khối Kiêu Dân. Sau đây là toàn bộ văn
cảnh của nhận định nói trên nơi
trang 457
trong cuốn
Sử Việt,
đọc vài quyển,
được Văn Mới xuất bản tại California năm 2004.
Khi bàn về mối hiểm họa của Cộng Sản Miền Bắc đối với Miền
Nam, Tạ Chí
Đại Trường tự hỏi:
“Làm cách nào
mà một chính quyền Sài G̣n lộn xộn với giáo phái sứ quân,
với giang hồ đạo tặc,
với Công Giáo Di Cư ít nhiều ǵ cũng là Kiêu Dân,
với cả Người Pháp c̣n tham vọng giữ phần đất thuộc địa cuối
cùng… có thể đương cự với cả một nền tảng đe doạ trùng trùng
như thế? Lịch sử ổn định bước đầu của chính quyền đó là một
phối hợp tuyệt vọng của những Người Việt Chống Cộng (một
tập-hợp-từ tiêu cực đúng với thực chất hổ-lốn của nó) chỉ
c̣n một mảnh đất nương thân, và của Người Mĩ đứng nh́n trong
b́nh diện chiến lược quốc tế thấy ḿnh phải chen chân vào.”
V́ họ Tạ là một Sử Gia có uy tín, nên sau khi
đọc câu văn mười hai chữ được nhấn mạnh ở trên vào khoảng
cuối năm 2004, tôi lập tức t́m cách kiểm chứng nó và tôi đă
t́m được sự xác nhận đầu tiên trong hai bài nghiên cứu của
Nguyễn Thế Anh, “L’engagement
politique du Bouddhisme au Sud-Viêt-Nam dans les années 1960”
trong
Alain Forest et al (dir.),
Bouddhismes et Sociétés
Asiatiques: Clergés, Sociétés et Pouvoirs,
L’Harmattan, Paris, 1990, tr. 111-124,
và
“Le Sangha bouddhiste et la société
vietnamienne d’aujourd’hui”, được đăng trên trang
VIET NAM Infos.
Giáo Sư Nguyễn Thế Anh là một Học Giả có tầm
vóc quốc tế, được
đồng nghiệp Á Âu Mỹ
công nhận là một trong những người có thẩm
quyền nhất về lịch sử Việt Nam thời cận đại. Thế nhưng, tôi
cũng ư thức được rằng tôi không thể chỉ dựa vào uy tín của
ông để lượng định mức khả tín của câu văn mười hai chữ nói
trên. Hai bài nghiên cứu của vị cựu viện trưởng viện đại học
Huế và nguyên
Trưởng ban sử học Đại học Văn khoa Sài G̣n
này chỉ là những sử liệu hạng hai. Muốn kiểm chứng một cách
thấu đáo nhận định của Tạ Chí Đại Trường về “Kiêu Dân Công
Giáo” thời Ngô Đ́nh Diệm, tôi phải cố gắng t́m cho ra sử
liệu hạng nhất về vấn đề này. Hai loại sử liệu mà tôi phân
chia ra thành hạng nhất và hạng hai được
Nguyễn Kỳ Phong,
tác giả cuốn
Vũng lầy của Bạch Ốc:
Người Mỹ và Chiến Tranh Việt
Nam 1945-1975,
định nghĩa
một cách tương tự như sau:
“Sử liệu có
hai loại: Primary and Secondary Documents (Tài Liệu Chánh
và Tài Liệu Phụ). Hồi Kư, văn kiện chính thức, Lời Phỏng Vấn
từ nhân chứng, được xếp vào loại Tài Liệu Chánh. Trích Dẫn,
Nghe Nói Lại, hay Sách Biên Khảo của người thứ ba, là Tài
Liệu Phụ. Hai loại tài liệu đó đều được công nhận khi dùng
làm sử liệu viết sách.”
Vốn là mọt sách tu lâu năm trong Tàng Kinh
Các ở Tây Phương, nên qua phần ghi chú trong hai quyển sách
viết về Chiến Tranh Việt Nam, tôi đă t́m thấy hai tài liệu
được h́nh thành trước ngày 8 tháng 5 năm 1963. Chính v́ được
viết ra trước khi Biến Cố Phật Giáo 1963 bùng nổ, nên nội
dung của hai tài liệu này không bị chi phối bởi cuộc tranh
chấp giữa Phong Trào Phật Giáo và Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm. Do
đó, chúng có một mức độ khả tín rất cao. Hai tài liệu nói
trên gồm:
1)
“The
Buddhist Movement in Vietnam and its Difficulties with the
Present Government”, một tài liệu do các nhà biên
khảo Hoa Kỳ hoàn tất vào tháng Tư năm 1961 và hiện đang được
lưu trữ tại VĂN KHố CHIếN TRANH Việt Nam ở Lubbock bên
Texas, và
2)
“L’Église
au Sud-Vietnam”, một phóng sự được đăng trên Tạp Chí
Informations Catholiques
Internationales
vào ngày 15 Mars 1963, từ trang 17 đến trang 26.
Như vậy, câu văn mười hai chữ của Tạ Chí Đại
Trường chẳng những được một chuyên gia hàng đầu trong Ngành
Sử Việt xác nhận (confirmed),
mà c̣n được tăng bổ (corroborated)
bởi hai tài liệu chánh (sử liệu hạng nhất) mà chúng ta có
quyền cho là rất khả tín. Nhờ vậy nên tôi đă có đầy đủ căn
cứ để chấp nhận rằng nhận định ngắn gọn mà Tạ Sử Gia đă đưa
ra về Khối Kiêu Dân Công Giáo thời Ngô Đ́nh Diệm cầm quyền
tại Miền Nam Việt Nam là một nhận định rất khả tín, có thể
giúp chúng ta hiểu được tại sao Ngô Triều đă đánh mất sự ủng
hộ của Người Lương và cuối cùng bị lật đổ.
Sau khi công bố những điều vừa mới được viết
bên trên trong
Mục Phản Hồi ở Diễn Đàn Talawas,
tôi hân hạnh nhận được sự lưu tâm và câu hỏi dưới đây của
độc giả Dũng Vũ:
‘Thưa ông Trần
Lâm,
Ông viết:
“Tôi hoàn toàn không vô t́nh khi dùng 2 chữ “Kiêu Dân”, v́
những sử liệu do tôi đưa lên mạng cho phép tôi suy luận rằng
khái niệm “Kiêu Dân Công Giáo” là một khái niệm có thể giúp
chúng ta hiểu được tại sao Chế Độ Diệm đă đánh mất sự ủng hộ
của Người Lương tại Miền Nam Việt Nam, đưa đến sự sụp đổ của
Chế Độ này… Tôi nói chuyện có bằng chứng hẳn hoi, th́ tại
sao tôi phải sợ ai?”
Xin phép được
hỏi ông: “Kiêu Dân” có nghĩa là ǵ?
Cảm ơn ông…’
Đây là một câu hỏi rất chính đáng, cần được
một sự hồi đáp tường tận. Nếu chúng ta trả lời được câu hỏi
này một cách thỏa đáng th́ có lẽ chúng ta sẽ có thể t́m được
nguyên nhân sâu xa đưa đến sự sụp đổ của Chế Độ Ngô Đ́nh
Diệm. Như đă nói qua ở trên, Chế Độ này c̣n được gọi là Ngô
Triều hay Ngô Trào.
Ngô Trào
Trải qua một cuộc bể dâu
Trông vời cố quận biết đâu là nhà
Khéo oan gia, của phá gia
Này là em ruột, này là em dâu!
Cửa nhà dù tính về sau
Ngh́n năm ai có khen đâu Hoàng Sào!
(Lăng
Nhân Phùng Tất Đắc,
Chơi Chữ)
Tôi không rành chuyện văn chương, nên chỉ dám đoán ṃ rằng
câu
Cửa nhà dù tính về sau
trong bài thơ nói trên ám chỉ việc Ngô Đ́nh Cẩn đă cho xây
một ngôi biệt thự rất nguy nga tráng lệ ở ngoài Huế. Tôi c̣n
nhớ cách đây khoảng 20 năm tôi có đọc trong
Nhật Kư Đỗ Thọ
rằng người ta đă phải đập đồ bát vỡ ra từng mảnh để lát nền
(cho một phần) trong ngôi biệt thự này. Trong những ḍng chữ
dưới đây, tôi sẽ không đập vỡ bất cứ vật ǵ, mà chỉ cố gắng
đi lượm lặt những mảnh sử liệu vụn vặt, rồi sắp xếp chúng
lại thành một bức khảm mosaic, để Dũng Vũ nói riêng và bạn
đọc bốn phương nói chung ít nhiều ǵ cũng thấy được bộ mặt
của Kiêu Dân Công Giáo thời Ngô Đ́nh Diệm.
Kiêu Dân, ngươi là ai?
Thời ḍng họ Ngô Đ́nh “Dĩ Đức Vi Chính” tại
Miền Nam Việt Nam, Kiêu Dân thường là những tín đồ Công Giáo
(Di Cư) dựa vào sự dung túng của kẻ có thế, có quyền để hống
hách ngang ngược, xem thường luật pháp, vi phạm một cách
trắng trợn nhân quyền và dân quyền của người khác, thường là
những Lương Dân vô tội.
Sau đây là vài ví dụ điển h́nh.
1.
Trong suốt ba năm liền, Kiêu Dân đă hằng đêm ném gạch, đá
vào nhà thân nhân vô tội của một chính trị phạm, mà (h́nh
như) không hề bị cơ quan công lực trừng phạt. Xem chứng từ
của Phan Lạc Giang Đông, một cựu Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa và cũng là bào đệ của Phạm Lạc Tuyên, một viên Sĩ
Quan tham gia vào cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11 năm
1960:
“Gia đ́nh tôi kể từ ngày này hoàn toàn không c̣n được yên
nữa. Khu Xứ Đạo Thái Ḥa (Xứ Đạo của đồng bào Bắc Di Cư vào
Nam), mọi người ở lối xóm đă có thái độ khác trước. Mỗi tối,
khoảng từ bảy, tám giờ th́ một số người, không biết từ nhà
nào đă ném gạch, đá lên mái nhà (bằng tole) của gia đ́nh,
ông cụ thân sinh tôi rất buồn và gặp thẳng Linh Mục Xứ Đạo
để nói việc này, song không giải quyết được. Việc họ ném như
thế kéo dài cho đến khi Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ mới chấm
dứt.”[1]
Xin thêm: Xứ Đạo Thái Ḥa, theo lời của Phan
Lạc Giang Đông, nằm ở Ngă Ba Ông Tạ. Là một người sinh ra và
sống những năm đầu đời tại một thị xă hẻo lánh ngoài Vùng II
Chiến Thuật trước khi theo cha mẹ Vượt Biên Tỵ Nạn Cộng Sản,
tôi thật t́nh không biết cái Ngă Ba này nằm ở đâu. Nhưng v́
chúng ta đang bàn về câu văn mười hai chữ của vị Sử Gia họ
Tạ, nên xin ghi luôn chi tiết vui vui bên lề này vào bài.
2.
Tại tỉnh Quảng Ngăi, một vị Linh Mục đă thông đồng với viên
Tỉnh Trưởng trong mưu toan cướp đất của một ngôi chùa tại
một làng trong tỉnh này để xây tượng đài cho Đức Mẹ, đưa đến
sự xung đột giữa Phật Tử ở ngôi làng nói trên và chính quyền
địa phương. Xem
trang 4
trong tài liệu “The Buddhist Movement in Vietnam and its
Difficulties with the Present Government” đă được
đề cập đến ở phần đầu của bài. Xin nhắc lại, v́ tài liệu này
được h́nh thành trước khi cuộc xung đột giữa Phật Giáo và
Chế Độ Diệm bùng nổ, nên nội dung của nó rất đáng tin.
3.
Dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, tín đồ Công Giáo thường được Quân
Đội và cơ quan Thông Tin tiếp tay để tổ chức trên đường phố
Sài G̣n hay Huế những Cuộc Rước Lễ [?] linh đ́nh, gây ra sự
tắc nghẽn giao thông trầm trọng, khiến cho Người Lương phải
gặp nhiều phiên phức trong việc đi lại. Việc này đă khiến
cho Giáo Sư Nguyễn Văn Trung lúc đó phải thốt lên rằng những
người tổ chức các Cuộc Rước Lễ [?] nói trên nghĩ
đường phố
là của riêng của Giáo hội Công Giáo hay sao.[2]
Tuy nhiên, có người vẫn chưa hài ḷng. Khi Phật Tử tiến hành
nghi lễ tại chùa th́ sinh hoạt Tôn Giáo của họ, theo chứng
từ của một tín đồ Công Giáo Việt Nam,
lại bị các
công xa của sở Thông Tin có mang loa phóng thanh đậu ở gần
chùa phá rối.[3]
Chứng từ nói
trên được đăng trong Tạp Chí
Informations Catholiques
Internationales, phát hành vào tháng Ba năm 1963,
cho nên nội
dung của nó không thể bị ảnh hưởng bởi Biến Cố Phật Giáo xảy
ra sau đó. V́ vậy chứng từ này cũng là một sử liệu rất đáng
tin.
4.
Kiêu Dân gây áp lực không cho sách của Nguyễn Hiến Lê được
dùng tại các trường ngoài Miền Trung, tuy sách này đă được
Bộ Thông Tin cho phép phát hành. Sau đây là lời tường thuật
của chính vị cố Học Giả họ Nguyễn:
“Đầu niên khóa
1954-1955, trong chương tŕnh Trung Học Đệ Nhất Cấp có thêm
môn Lịch Sử Thế Giới dạy trong bốn năm. Ông Thiên Giang lúc
đó dạy sử các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung
Bộ Sử Thế Giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học,
khỏi phải chép “cua” (cours). Ông đồng ư. Chúng tôi phân
công: Tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp Đệ Thất và Đệ
Tứ, ông viết hai cuốn giữa cho Đệ Lục và Đệ Ngũ. Chúng tôi
bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn
ra in, năm 1955 in xong trước ḱ tựu trường tháng chín. (…)
Sau một Linh
Mục ở Trung yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết Bộ
Sử đó v́ trong cuốn II viết về Thời Trung Cổ, chúng tôi có
nói đến sự bê bối của một vài Giáo Hoàng. Bộ phái một viên
bí thư có bằng cử nhân lại tiếp xúc với tôi. Ông này nhă
nhặn, khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như
Bộ Sử Pháp của Michelet; rồi nhận rằng sách tôi được Bộ
Thông Tin cho phép in, lại nạp bản rồi th́ không có lí ǵ
tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông báo cho các
trường đừng dùng thôi; cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi
đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả
lời Linh Mục nào đó, c̣n bán th́ tôi cứ bán, không ngại ǵ
cả. Tôi chiều ḷng ông. (…)
Hồi đó Bộ
Lịch Sử Thế Giới của
tôi chỉ c̣n một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết
có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó; trong Nam th́
không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết, tôi không tái bản.
Công Giáo thời đó lên chân như vậy.”[4]
5.
Cũng theo chứng từ của Người Giáo Dân mà chúng ta vừa gặp ở
phần trên, Kiêu Dân đă
lạm dụng
quyền thế để đả kích tín ngưỡng của các học viên Người Lương
phải theo học khóa học Nhân Vị tại Trung Tâm Nhân Vị ở Vĩnh
Long. V́ sợ bị ghi danh vào sổ đen, những nạn nhân này đành
phải chịu đựng trong im lặng, khiến cho các học viên Công
Giáo tại khóa học cũng cảm thấy hổ thẹn trước hành động hống
hách nói trên.[5]
Đây là một điểm cần phải được nhấn mạnh, v́
nó cho ta thấy rơ không phải tín đồ Công Giáo nào tại Miền
Nam cũng là Kiêu Dân khi vùng đất đáng lẽ là tự do này phải
sống dưới sự thống trị của Nhà Ngô. Ngay cả trong hàng giáo
phẩm Công Giáo cũng đă có
những bậc chân tu cố tránh xa Chế Độ Ngô Đ́nh
Diệm để duy tŕ uy tín và
tính chất độc lập của Giáo hội.[6]
Cố Học Giả
Nguyễn Hiến Lê
cho biết: “Ngô Đ́nh Thục ở
Vĩnh Long… tạo ra thuyết Duy linh chống với thuyết Duy vật
của Cộng Sản, bắt công chức nào cũng phải học. Họ chẳng học
được điều ǵ mới cả, chỉ phải nghe mạt sát đạo Phật và đạo
Khổng. Những người theo học đại đa số thờ Phật, đau ḷng mà
không dám căi.”[7]
Phải chăng thái độ kiêu căng và khiêu khích
của một bộ phận quan trọng trong cộng đồng Công Giáo tại
Miền Nam mà chúng ta vừa thấy qua những trường hợp nêu trên
đă là một trong những nguyên nhân chính khiến cho Khối Người
Lương ở phía dưới Vĩ Tuyến 17 ngày càng xa cách Chế Độ Ngô
Đ́nh Diệm, đưa đến sự sụp đổ của nó vào cuối năm 1963?
“Cả
làng xin được rửa tội…”
Do những biến
cố xảy ra trong năm 1963, Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm thường bị
những người chống đối tố cáo là một Chế Độ đă lệ thuộc (quá)
nhiều vào sự hậu thuẫn trung thành của Giáo Dân (Di Cư) và,
v́ vậy, đă dành cho khối người này một sự nâng đỡ đặc biệt.
Nhưng thật ra, không phải đợi đến năm 1963 mới thấy được sự
gắn bó keo sơn giữa (một khối) tín đồ Công Giáo và Nền Cộng
Ḥa Nhân Vị do anh em Tổng Thống Diệm lănh đạo. Quan hệ này
đă nhen nhúm ngay sau khi Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm vượt qua được
giai đoạn phôi thai đầy nguy hiểm. Trong Tạp Chí
International Affairs
phát hành vào tháng 4 năm 1956, J. Donald Lancaster nhận xét:
Tổng Thống Diệm bị hạn chế trong việc thế thiên hành đạo
tại Miền Nam Việt Nam bởi
ḷng trung
thành đối với Tôn Giáo cũng như gia đ́nh của chính ông ta.
Ḷng trung thành nói trên rất có thể đă là
một trong những yếu tố khiến cho Người Lương đột nhiên theo
đạo Công Giáo hàng loạt thời ḍng họ Ngô Đ́nh cầm cân nẩy
mực phía dưới vĩ tuyến 17, một hiện tượng Nguyễn Hiến Lê có
đề cập đến trong hồi kư của ḿnh (trang
121, tập II). Ông kể lại:
“Diệm-Nhu theo chính sách Ba-Đ:
Đảng (Cần Lao), Đạo (Công Giáo) và Địa Phương (Miền Trung).
Chỉ Công Chức nào có đủ Ba Đ mới được tin dùng, cho nên con
số tín đồ Công Giáo tăng vọt lên, nhất là ở Miền Trung; có
Giáo Đường làm lễ rửa tội hằng trăm người một lúc.”
Người nổi tiếng và thành đạt nhất trong Nhóm
Giáo Dân Tân Ṭng này không phải ai khác hơn là một viên Sĩ
Quan gốc Miền Trung tên Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu lập gia
đ́nh với một nữ tín đồ Công Giáo trước khi Ngô Triều được
thiết lập. Nhưng măi đến năm 1958, tức là lúc Triều Đại này
đă “Vững Nền Thịnh Trị”, ông mới để cho Linh Mục Bửu Dưỡng,
một lư thuyết gia quan trọng của Trường Phái Cần Lao Nhân Vị,
rửa tội tại Đà Lạt.
Chính LM Bửu Dưỡng đă cho Tướng Edward Lansdale biết điều
này và nhờ bản báo cáo Lansdale gửi cho Đại Sứ Elsworth
Bunker ngày 20 tháng 4 năm 1968, nên Sử Gia Vũ Ngự Chiêu mới
có thể t́m ra được một chứng liệu thành văn về
Sự “Trở Lại Đạo”
của Nguyễn Văn Thiệu.[8]
Arthur Dommen, một Học Giả có cảm t́nh với họ Ngô, cũng cho
biết vị Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh trong tương lai này không
theo đạo lúc lập gia đ́nh, mà chỉ làm việc này
sau khi chiếc ghế Tổng Thống của Ngô Đ́nh
Diệm đă vững như Bàn Thạch.[9]
Trường hợp Nguyễn Văn Thiệu, như đă nói, chỉ
là trường hợp nổi bật nhất. Hiện tượng Người Lương ồ ạt theo
đạo Công Giáo thời Ngô Đ́nh Diệm mà Nguyễn Hiến Lê kể lại đă
được Tạp Chí
Informations Catholiques
Internationales phát hành ngày 15 tháng 3 năm
1963 xác nhận. Nên xem những con số ngoạn mục được nêu ra
trong đó. Ngoài ra, nhờ Tạp Chí này mà chúng ta c̣n biết
được Đức ông Ngô Đ́nh Thục đă khoe với một đồng nghiệp Người
Pháp rằng ở giáo phận Vĩnh Long đôi khi có đến nguyên cả
làng xin được rửa tội và, ngoài Phi Luật Tân ra,
Nam Việt Nam là quốc gia độc nhất tại Viễn
Đông sẽ phải được ở trên con đường đưa đến sự trở lại đạo
hoàn toàn.[10]
Tuy nhiên,
Informations Catholiques
Internationales cũng cho chúng ta biết,
thái độ đắc thắng do cả Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm
lẫn khối thiểu số Công Giáo phơi bày
đă tạo ra một sự bất măn nhất định trong Khối Người Lương,
một sự bất măn mà Tạp Chí này cho là dễ thấy ngay
tại Sài g̣n cũng như ở các ngôi làng xa xôi
hẻo lánh nhất.[11]
Nhận định nói
trên rất phù hợp với báo cáo mà Đại Sứ Pháp Roger Lalouette
gửi về Paris đúng một năm trước đó.[12]
Lalouette cho biết ngoài Cộng Sản ra, Chế Độ Diệm c̣n phải
đương đầu với sự chống đối của những Thế Lực Phi Cộng Sản:
“Lực lượng chống đối tập họp những Người Ái
Quốc Cấp Tiến, Giới Trưởng Giả Nam Kỳ bị gạt bỏ khỏi những
việc công ích bởi những phần tử Bắc hay Trung vào tị nạn,
những Giáo Phái bị giải giới và bị nghi ngờ và, một cách
tổng quát, tất cả những Người Không Ki-Tô chống lại Thiểu Số
Ki-Tô (10% dân số) đă đặt Tôn Giáo Ki-Tô La Mă lên hàng Quốc
Giáo.
Họ không đ̣i hỏi sự thay đổi trong Chế Độ, mà
là thay đổi cả một Chế Độ.”
Chính nội dung của những tư liệu được h́nh
thành trước Biến Cố Phật Giáo nói trên đă cho phép chúng ta
(tạm) tin lời
Vũ Tài Lục,
người đă từng sống trong thời cai trị của Nhà Ngô, khi vị
Học Giả này khẳng định rằng đến tháng 5 năm 1963 th́ sự kỳ
thị Tôn Giáo dưới Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm (mà ông gọi là Chế Độ
Diệm-Thục để nhấn mạnh vai tṛ của Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục trong đó) đă
đến mức không thể chịu đựng hơn được nữa,
nên Phật Tử đă phải xuống đường để phản đối. Dù sao đi nữa
th́ mối liên hệ nhân quả giữa tệ trạng kỳ thị Tôn Giáo dưới
Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm và Biến Cố Phật Giáo 1963 sẽ được phân
tích một cách tường tận hơn trong một bài khác, đang được
chuẩn bị.
Một hiện tượng thuộc lịch sử?
Ngoài việc kỳ
thị Tôn Giáo, Chế Độ do anh em Ngô Đ́nh Diệm cầm đầu c̣n gây
ra cho Người Dân Miền Nam những bực ḿnh không cần thiết.
Khi bàn đến một tấm h́nh ăn ư của ông ta,
Đoàn Thêm,
một viên chức cao cấp làm việc trong Dinh Độc lập thời Đệ
Nhất Cộng Ḥa, có kể lại:
“Một người bạn
trẻ ở ngoài chính giới đă bảo tôi:
-Coi bộ th́
cũng không đến nỗi nào, nhất là bức ảnh Âu Phục chụp nghiêng
3/4 thấy treo ở nhiều nơi.
Tôi cho biết
là chính ông ưa bức đó hơn cả, nhưng anh ta lại càu nhàu
luôn:
-Chỉ phải cái
rất bực và rồi phát ghét, là cứ phải chào! Sao lại đem in
tṛn giữa Quốc Kỳ để bắt đứng dậy chào khi xem xi nê? Thà
tới chậm, mất hẳn đoạn phim thời sự, c̣n hơn phải ngắm mặt
mũi, bảnh bao mấy cũng bỏ đi!
Tôi không thể chối căi, v́ chính là trường
hợp tôi mỗi khi muốn coi phim…”
Không những Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm làm phiền
người dân, chính cá nhân họ Ngô cũng quấy rầy nhân viên dưới
quyền ông ta. Theo Đoàn Thêm:
“Ông Tổng
Thống luyến tiếc các Biểu Hiệu Quân Chủ, nên tái lập Kim
Khánh của Nhà Nguyễn và công nhận là huy chương cao nhất của
Việt Nam. Ông gây lại không khí Cung Đ́nh, đặt lễ phục gấm
lam khăn đen cho các nhân viên cao cấp, và chỉ nhận chúc Tết
Nguyên Đán vào sớm ngày mồng một. Đă có vài người xin ông
cho chúc vào chiều ngày ba mươi, v́ Tết đầu năm là ngày của
gia đ́nh, theo cổ tục, buổi sáng dành cho Gia Tiên, đa số
c̣n phải đèn nhang cúng vái, hoặc mừng tuổi ông bà cha mẹ.
Ông không nghe, v́ theo ông, xưa kia phải Triều Bái ở Điện
Thái Ḥa hoặc ở Vọng Cung các tỉnh, nghĩ đến Vua rồi mới đến
Nhà, v́ Vua là Nước.
‘Vua ban hồng phước không tốt hơn là chờ người xông đất hay
sao?’
Bởi vậy, cứ
tám giờ mồng một, là hàng trăm người, cả nhân viên, lẫn đại
diện đoàn thể dân chúng, đành phải xúng xính áo khăn vào cầu
ơn trên phù hộ cho ông.
Một công chức
bực quá đă thốt ra một câu chua chát:
-Thôi th́ coi
bái khánh như một công vụ đă được tính vào số lương tháng
rồi!
Có lẽ v́ thế mà
hai tiếng Ngô Triều đă được nói đến ngay từ
1957, chớ không phải từ sau
Cách Mạng 1963, do một Tôn Thất nhà Nguyễn đương làm Giám
Đốc một Nha.”
Chuyện lố lăng nhất mà Chế Độ Nhân vị của
ḍng họ Ngô Đ́nh đă gây ra là việc họ bắt buộc Người Dân
Miền Nam hát bài
Suy Tôn Ngô Tổng Thống
trong Lễ Chào Cờ. Cách đây trên hai mươi năm, tờ
Làng Văn, một
Nguyệt San Chống Cộng hữu danh tại Hải Ngoại, có
đăng trong số 47
một bài mang tên “Sơ Kết Vấn Đề Quốc Ca”, trong đó có chứa
đựng những dữ kiện lư thú về bài hát sùng bái cá nhân nói
trên (Khi đó tôi là một học sinh trung học, c̣n hai năm nữa
mới được thi tú tài, nhưng cũng đă bắt đầu có quan tâm đặc
biệt đến Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm, nên đă cẩn thận cất giữ tờ
báo đó cho đến ngày hôm nay đem ra xài).
Tờ
Làng Văn viết:
“Vấn đề Quốc
Ca đă được mang ra bàn căi tất cả ba lần. Lần thứ nhất do
Quốc Hội Đệ Nhất Cộng-Ḥa năm 1956…
Lần thảo luận
thứ nhất không đưa tới một sự thay đổi nào, v́ có một số đại
diện dân cử v́ ḷng tôn sùng cá nhân, muốn đưa bài
Suy Tôn Ngô Tổng Thống…
ra thay bài
Tiếng Gọi Công Dân…
Cuộc bàn căi để đi t́m một bài hát khác làm Quốc Ca thay cho
bài hát đương thời, với tác giả chính đă đứng về phía CS,
lại biến thành một cuộc tranh chấp giữa tinh thần tôn quân
kiểu mới và khuynh hướng dân chủ tự do. Phe tôn quân không
thắng nổi số đông, mà phe đa số cũng không dám dùng thế lực
của ḿnh để loại bài suy tôn cá nhân. Trong trường hợp đó,
thà giữ nguyên bài cũ c̣n hơn.
Cuối cùng, v́ đoàn kết quốc gia, v́ thể diện
của lănh tụ,
và quan trọng hơn hết, v́ an ninh bản thân,
một giải pháp ch́m xuồng đă được đưa ra, dung hợp cả hai chủ
trương: Giữ lại bài
Tiếng Gọi Công Dân
làm Quốc Ca, và hát kèm bài
Suy Tôn Ngô Tổng Thống
ngay trong Lễ Chào Cờ. Từ đó, 1956, Việt Nam Cộng Ḥa có một
bài Quốc Ca ‘Kép’. T́nh trạng này kéo dài tới 1963 mới chấm
dứt, sau khi Trung Tướng Dương Văn Minh Đảo Chánh thành công,
kết thúc chín năm cai trị của Ngô Triều.”[13]
Trong Mục Phản Hồi trên Diễn Đàn Talawas,
Trần Ngọc Cư
mới đây có lời than phiền về tệ trạng sùng bái cá nhân nói
trên. Nhưng có lẽ là người tuổi đă cao, nên họ Trần không
muốn nhắc đến khả năng đề kháng thụ động của Khối Người
Lương trước sự lố lăng này của Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm và thái
độ kiêu ngạo của tập đoàn Công Giáo Di Cư phía sau lưng nó,
một sự đề kháng được biểu lộ qua câu
Toàn dân Bùi Chu mút cu Ngô
Tổng Thống. Đây là một Sử Liệu Truyền Khẩu mà tôi
được những người lớn tuổi đă từng sống dưới sự thống trị của
Ngô Triều kể lại cho nghe tại Hải Ngoại. Nó rất ăn khớp với
những Sử Liệu Thành Văn mà tôi đă thu thập được và vừa giới
thiệu trong bài này. Do đó, nó rất đáng được ǵn giữ và phổ
biến.
Cách nh́n nói trên không phải là một cách
nh́n được mọi người chấp nhận. Ḥa Nguyễn và Trần Văn Tích
h́nh như muốn tương đối hóa việc làm lố bịch của Chế Độ Ngô
Đ́nh Diệm.
Ḥa Nguyễn
viết: “Nhưng cũng nên “Thông Cảm” những bài hát suy tôn ở
vào cái thời thế giới (thứ ba) thích ca tụng các lănh tụ
“Anh Minh, Vĩ Đại” của họ, như Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông,
Tưởng Giới Thạch, Kim Nhật Thành, Lư Thừa Văng, Sukarno
(được bầu làm Tổng Thống trọn đời).”
Trong Bảng Phong Thần do Hoà Nguyễn nêu ra
không thấy có tên của Jawaharlal Nehru, Thủ Tướng Ấn Độ. Ấn
Độ trong giai đoạn đó cũng là một quốc gia thuộc thế giới
thứ ba, nhưng hoàn toàn không có tệ trạng sùng bái Nehru. Có
lẽ v́ Ấn Độ là một quốc gia dân chủ, nhất là khi so sánh với
Indonesia, Nam, Bắc Hàn, Nam, Bắc Việt Nam, Trung Quốc hay
Đài Loan. Bản chất dân chủ của một Chế Độ không cho phép
chuyện lố bịch nói trên xảy ra.
Hơn nữa, việc sùng bái cá nhân không phải chỉ
xảy ra Tại Thế Giới Thứ Ba. Chuyện này đă xảy ra ngay tại
nước Pháp dưới thời Pétain và cũng đă lan tràn sang Đông
Dương, lúc đó đang nằm dưới sự kiểm soát của
Chế Độ Vichy
do Pétain cầm đầu.
Trần Văn Tích
viết:
“Thời Pháp
thuộc tôi lớn lên ở thành phố Đà Nẵng, lúc bấy giờ có tên
chính thức là Tourane. Học tṛ nhà nước chúng tôi trước khi
sắp hàng vào lớp thường phải đứng nghiêm để hát bài
Maréchal, nous voilà
ca tụng Thống chế Pétain, trong đó có câu “Devant toi, le
sauveur de la France”. Vậy nếu Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm sau
này được xem là “Cứu Đất Nước” v.v… th́ cũng chỉ là một hiện
tượng thuộc lịch sử vào một giai đoạn nhất định.”
Có thể đây là một nhận định chưa hoàn toàn
chính xác. Trước khi Pétain lên chấp chính năm 1940, không
có một chính quyền nào của Đệ Tam Cộng Ḥa lại bắt học sinh
hát bài ca tụng Thủ tướng Clemenceau là cứu tinh của nước
Pháp, tuy không ai phủ nhận công lao rất lớn của ông trong
giai đoạn quyết định cuối Đệ Nhất Thế chiến. Nền Cộng Ḥa
Dân Chủ này đă vinh danh
“le Père-la-Victoire”
bằng một
cách văn minh hơn.
Bởi thế nên việc Chế Độ Vichy do Pétain cầm đầu bắt học sinh
làm chuyện tào lao nói trên có thể được xem như là một triệu
chứng của bản chất bệnh hoạn của Chế Độ này, một Chế Độ
trung gian bản xứ đă tỏ ra rất đắc lực trong việc truy lùng,
bắt giữ và chuyển giao Người Do Thái cho Đức Quốc Xă --việc
làm nhơ nhuốc nhất bên cạnh những việc phản động khác của
Chế Độ Vichy.[14]
Bác sĩ Tích viết tiếp: “Nghĩ lại, nếu Quốc
Ca nước Anh có lời hát “God save the Queen” th́ lời bài “Suy
Tôn Ngô Tổng Thống” có câu “Xin Thượng Đế Ban Phước Lành Cho
Người” có thể được xem là hai hiện tượng lịch sử --như đă
tŕnh bày-- hay chăng?”
Câu hỏi này h́nh như được đặt ra trên những
dữ kiện c̣n thiếu sót. Kể từ khi Vua Henry VIII đọan giao
với Ṭa Thánh La Mă để lập ra
Giáo Hội Anh Giáo,
các vị Quốc Vương hay Nữ Hoàng Anh Quốc không những là
Nguyên Thủ của một Quốc Gia mà c̣n phải đóng vai tṛ Lănh Tụ
của một Tôn Giáo (Supreme
Governor of the Church of England). V́
vậy, cầu nguyện Thượng Đế phù hộ cho Ông Hay Bà Ta là việc
không có ǵ đáng nói. Hơn nữa, bài
God save the Queen
hay
God save the King
có từ Thế Kỷ Thứ 18,[15]
và h́nh như không mang ư nghĩa khẩn cầu cho một cá nhân cụ
thể nào, chẳng hạn Victoria hay Elizabeth II, mà chỉ cầu
mong sự bảo bọc của bề trên đối với ngôi vị Nguyên Thủ của
một Quốc Gia Quân Chủ có truyền thống Ki-Tô lâu đời. Có lẽ
do những lư do nói trên mà bài hát này vẫn c̣n được giữ làm
Quốc Ca Anh Quốc cho đến ngày hôm nay, trong khi Bài Ca Sùng
Bái Ngô Đ́nh Diệm
phải chịu chung số phận với cái Chế Độ đă ép buộc
Người Dân Miền Nam hát nó.
Vậy chúng ta
có thể tạm kết luận rằng những nỗ lực tương đối hóa mà Ḥa
Nguyễn và Trần Văn Tích đă dành cho tệ trạng Sùng Bái Cá
Nhân dưới sự thống trị của Ngô Triều vẫn chưa đủ sức thuyết
phục. Có thể cũng như trong trường hợp của Chế Độ Vichy, tệ
trạng này phản ảnh bản chất kém lành mạnh của Chế Độ Ngô
Đ́nh Diệm. Trong Chế Độ lành mạnh nào mà nhân viên an ninh
có thể áp dụng một chính sách trả thù bỉ ổi đối với Lương
Dân vô tội mà những kẻ lèo lái quốc gia lại không hề hay
biết? Sau Cuộc Đảo Chánh Hụt năm 1960, tay chân của anh em
Ngô Đ́nh Diệm đă xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những
viên Sĩ Quan tham gia vào Biến Cố đó và, ít nhất là trong
trường hợp của Phan Lạc Tuyên, đă bao vây kinh tế cha mẹ,
khiến cho con cái họ bị thất học. Nhưng cả ông Ngô Đ́nh Diệm
lẫn ông Ngô Đ́nh Nhu, theo chứng từ của Trần Ngọc Nhuận, một
Sĩ Quan t́nh báo cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa,
đều không biết đến tội ác động trời này![16]
Phải chăng v́ họ không biết Chế Độ của họ đang bị Côn Đồ Hóa,
nên cuối cùng chính họ đă bị thuộc hạ cũ giết chết bằng một
cách rất Côn Đồ? Chính sách trả thù đối với Đàn Bà, Người
Già và Trẻ Em nói trên đă được kể lại trong: 1)
Trần Ngọc
Nhuận,
Đời Quân Ngũ,
Xuân Thu, 1992, tr. 305-306, và 2)
Phan Lạc
Giang Đông, “Nhớ lại và suy nghĩ”, trong Chính Đạo (chủ biên),
Nh́n Lại Biến Cố
11/11/1960, Văn Hóa, Houston, 1997, tr. 207-231.
Trần Lâm
[1] Nguồn: Phan
Lạc Giang Đông, “Nhớ lại và suy Nghĩ”, trong: Chính Đạo [Vũ
Ngự Chiêu] (chủ biên),
Nh́n lại biến cố 11/11/1960,
Văn hóa, Houston, 1997, tr. 210.
[2]
Informations
Catholiques Internationales,
“L’Église au Sud-Vietnam”, 15 Mars 1963, tr. 21.
[3]
Ibid, tr. 19.
[4]
Tại trang 99 và 100 trong cuốn
Đời viết văn của tôi,
do Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1986.
[5]
Ibid.
[6]
Ibid, tr. 21.
[7]
Hồi kí, Tập II,
Văn Nghệ, California, 1990, trang 120-121.
[8]
Xem: Chính Đạo,
Mậu Thân 68: Thắng hay Bại?,
Văn Hóa, Houston, tái bản lần thứ hai, 1998, tr. 355.
Xem thêm:
Arthur Dommen,
The Indochinese Experience
of the French and the Americans, Indiana
University Press, 2001, tr. 658.
[9] Arthur
Dommen nói rằng Nguyễn Văn Thiệu là đảng viên Đại Việt, c̣n
Vũ Ngự Chiêu th́ cho biết ông ta là Ủy Viên Quân ủy Cần Lao
Nhân Vị Cách Mạng Đảng.
Xem Nguyên Vũ,
Paris Xuân 96,
Văn Hóa, 1997, tr. 87-88.
[10]
Nguyên văn: “C’est
le seul pays d’Extrême-Orient (à part les Philippines) qui
soit en marche vers une conversion totale…”
[11]
Nguyên văn: “Ce
que nous avons appelé, pour faire image, le ‘triomphalisme’
conjugé du régime et de la minorité catholique ne manque pas
de nourrir un certain mécontentement chez les
non-catholiques. Quoique en contradiction avec les
conversions massives dont nous avons parlé plus haut, il est
facilement observable à Saigon comme dans les plus lointains
villages.”
[12]
Báo cáo này đă được Vũ Ngự Chiêu t́m thấy, dịch sang tiếng
Việt và cho in lại trong Chính Đạo,
Việt Nam Niên Biểu
1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Văn Hóa, Houston,
2000, tr. 248-250.
[13]
Bạn đọc bốn phương cần lưu ư đến chi tiết này: Nguyễn Hữu
Nghĩa, Chủ Bút Tờ
Làng Văn, đă bị
một số người hiểu lầm (?) khái niệm
tử năng thừa phụ nghiệp
tố cáo là
con trai của Đại Tướng VC Nguyễn Chí Thanh.
Nhưng nhờ có Bác sĩ Trần Văn Tích, một người có lập trường
chống Cộng rất vững vàng, từng là cộng tác viên cho tờ báo
này, nên tôi mới dám xài những dữ kiện do nó cung cấp về bài
Suy Tôn Ngô Tổng Thống.
[14]
Bạn nào hiếu kỳ muốn biết thêm về nó th́ nên t́m đọc:
Robert Paxton,
Vichy France: Old Guard
and New Order, 1940-1944, Knopf, New York, 1972.
Sau Đệ Nhị Thế chiến, Người Pháp đă cố che giấu sự thật, cố
tương đối hóa những việc làm kém sạch sẽ của Chế Độ này.
Chính nhờ sự đào bới trong văn khố Đức của Paxton, một Sử
Gia Người Mỹ, mà bộ mặt nhơ nhuốc của nó đă bị lột trần
trước công chúng Pháp. Cách đây vài năm, Tạp Chí
Journal of Contemporary
History có đăng một bài nghiên cứu về tầm ảnh
hưởng sâu rộng của ông ta đối với giới sử học Pháp. Tôi đă
đưa bài đó lên mạng, các bạn có thể
đọc nó tại đây.
Thật thú vị khi thấy một Người Mỹ quê ở Virginia giảng cho
mấy ông Tây bà Đầm nghe về quá khứ khá bẩn thỉu của quốc gia
họ. Nhưng dân Phú Lang Sa vẫn c̣n giữ được tinh thần thượng
vơ. Mới đây họ đă
trao tặng cho Paxton huân chương Légion d’honneur
để
bày tỏ ḷng biết ơn đối với công tŕnh nghiên cứu của ông: “Son
œuvre a été controversée à une époque où la France refusait
de regarder son passé en face, même s’il est difficile à
accepter. Grâce à lui on sait que, contrairement à la
légende, Vichy n’a pas été contraint à collaborer à ce point
et que la Révolution nationale de Pétain, son régime
fasciste, n’a pas été imposée par les Allemands.”
[15]
“Like many
aspects of British constitutional life, its official status
derives from custom and use, not from Royal Proclamation or
Act of Parliament.”
[16] Hai anh
em ông Diệm, ông Nhu cầm vận mệnh quốc gia trong tay, mà khi
thủ hạ của họ hại dân vô tội --những người mà họ có bổn phận
bảo vệ-- họ lại hoàn toàn không biết. Điều này khiến chúng
ta phải tự hỏi tại sao họ không biết. Ở một quốc gia văn
minh, nạn nhân có thể dựa vào hệ thống tư pháp độc lập hoặc
hệ thống truyền thông tự do để lưu ư giới hữu trách đến
những tệ trạng mà họ phải gánh chịu. V́ dưới nền Cộng Ḥa
Nhân Vị, hệ thống tư pháp không được độc lập và giới truyền
thông không được tự do nên hai anh em ông Diệm mới có thể
không biết ǵ cả. Việc giới lănh đạo của một quốc gia không
biết dân vô tội bị xâm phạm phi pháp và việc những nạn nhân
này không có cách nào làm cho giới lănh đạo biết được tệ
trạng nói trên thật ra là một bản cáo trạng đối với giới
lănh đạo đó: Họ không biết, v́ bộ máy chính trị của họ là
một bộ máy kém lành mạnh, nếu không muốn nói là bệnh hoạn.
|
Thưa ông Trần Lâm,
ông viết:
“Tôi hoàn toàn không vô t́nh khi dùng 2 chữ “kiêu dân”, v́ những sử liệu do tôi đưa lên mạng cho phép tôi suy luận rằng khái niệm “kiêu dân Công giáo” là một khái niệm có thể giúp chúng ta hiểu được tại sao chế độ Diệm đă đánh mất sự ủng hộ của người Lương tại miền Nam Việt Nam, đưa đến sự sụp đổ của chế độ này. Tôi nói chuyện có bằng chứng hẳn hoi, th́ tại sao tôi phải sợ ai?”.
Xin phép được hỏi ông: “Kiêu dân” có nghĩa là ǵ?
Cảm ơn ông.