Bọn chúng (Đảng CS/VN)
chỉ có cặp mắt ếch
và cặp mắt cá nên dù
có con rắn ḅ ngay
kế bên mà chúng có
thấy ǵ đâu...

Ếch là một loài động
vật lưỡng thê, nghĩa
là sống được cả ở
dưới nước và trên bờ.
Nông dân miền Nam
Việt Nam thường ăn
thịt ếch như là một
nguồn cung cấp chất
đạm (proteine) quan
trọng tương đương
với các loài cá rô,
cá lóc, cá sặc, cá
trê, cá tra, cá rô
phi…Ếch dùng lưỡi
dài của nó để cuốn
bắt các loài côn
trùng nhỏ như ruồi,
muỗi, các loại bọ
rùa, rầy…nhưng người
ta cũn g ngạc nhiên
xiết bao khi thấy
ếch cứ ngồi yên đẻ
bị rắn nuốt trọn,
giống như là con rắn
đă thôi miên được
con ếch, bắt con ếch
ngồi yên cho rắn xơi
mồi (nếu con ếch
dùng đôi chân của nó
mà búng mạnh nhẩy ra
xa th́ có lẽ xác
xuất con rắn bắt
được nó e rằng không
tới 5%).
Các nhà động vật học
đem mổ xẻ mắt của
con ếch, rồi đem
nhuộm th́ họ nhận ra
rằng cặp mắt ếch chỉ
có một loại tế bào
nh́n được những
chuyển động nhanh,
trong khi đó những
tế bào nh́n được
những chuyển động
chậm th́ hoàn toàn
không có : cho nên
con ếch nhận ra được
những côn trùng nhỏ
bay vù vù trước mắt
nó và dùng lưỡi bắt
gọn những con côn
trùng này một cách
tài t́nh. V́ con rắn
ḅ đến con ếch quá
chậm nên con ếch
không nh́n thấy mối
nguy hiểm cận kề đ ể
mà nhẩy tránh cho
nên bị con rắn diệt
gọn.
Các nhà phỏng sinh
học (bionic
technology) đă mô
phỏng cấu trúc của
mắt ếch để chế tạo
ra những camera theo
dơi những chuyển
động nhanh với vận
tốc cao của các phản
lực cơ chiến đấu có
gia tốc gấp 5-6 lần
âm thanh hay các hỏa
tiễn có tốc độ di
chuyển trên 27,000km
/hr (gọi là tốc độ
VŨ TRỤ I) hay các
hỏa tiễn di chuyển
trên 55,000km /hr (gọi
là tốc độ VŨ TRỤ II)
trong ngành kiểm
soát không lưu tại
các phi trường hiện
đại (dĩ nhiên các
chuyên viên điều
hành không lưu có
máy để convert các
chuyển động nhanh
xuống c̣n khoảng 80
h́nh/phút th́ mới
xem được)
Dân gian Việt Nam
mới có câu : “giương
mắt ếch ra mà nh́n”
để chỉ t́nh trạng
một con người nh́n
một vật thể, một sự
kiện mà không thấy
được cái ǵ cả .
Tại sao cá lia thia,
cá cảnh và những cá
nhỏ dưới đáy biển
sâu cỡ 30-40 meters
(là độ sâu mà ánh
sáng xuống tới được)
lại có rất nhiều màu
sắc đẹp đẽ lạ thường
? Đây chỉ là luật bù
trừ của tạo hóa
thiên nhiên ban cho
chúng để mà sinh tồn.
Đại đa số các loài
cá dữ chỉ nh́n thấy
2 màu đen và trắng
mà thôi, cho nên các
loài cá có nhiều màu
sắc đẹp đẽ đă thoát
chết không bị các
loài cá dữ bắt được
v́ các loài cá dữ
không trông thấy
được các loài cá có
màu sắc sặc sỡ th́
làm sao mà săn mồi
bắt chúng được. Con
chó cũng là loại
động vật có đôi mắt
không phân biệt được
màu sắc.
Con người toàn bích
hơn các sinh vật kia
nhiều : người ta
không những thấy
được những chuyển
động nhanh (dĩ nhiên
chỉ là tương đối) mà
cũng nh́n thấy được
cả những chuyển động
chậm nữa (tuy rằng
có phần boring),
người ta cũng nhận
ra được rất nhiều
màu sắc với độ tinh
tế sắc sảo (chả thế
mà chỉ có con người
mới có họa sĩ). Bằng
vào trực giác, ư
niệm và tính toán lư
luận, người ta c̣n
nhận biết được cả
những sự thể hay vật
thể hiện hữu mà mắt
thường không thể
nhận ra được (thí dụ
các hạt lượng tử,
các virus gây bệnh
mà kính hiển vi điện
tử phóng đại đến
500,000 lần mà cũng
không thấy...)

Đó là nói về lĩnh
vực vật chất, c̣n
trong lĩnh vực phi
vật chất th́ sao ?
Trong lĩnh vực phi
vật chất, con người
do tiên kiến cũng có,
do ngộ nhận cũng có,
do ḷng ganh tỵ (hoặc
đ ố kỵ) cũng có,
hoặc do ḷng thiên
vị + vị kỷ cũng có…v..v…khi
nhận xét về người
khác cũng đem cặp
mắt ếch và cặp mắt
cá ra nh́n, nên lời
phê phán mang nhiều
tính chất thiển cận
và lố bịch một cách
sống sượng trơ trẽn
(nói theo kiểu người
Huế là “ăn nói phách
tấu”).
Bọn “tà lọt tay sai”
của nhóm tăng lữ
B́nh Trị Thiên hoạt
động có lợi cho Việt
Cộng lúc nào cũng
xoen xoét mở miệng
ra chê bai phe đối
nghịch là CẦN LAO
CÔNG GIÁO NGÔNG
CUỒNG. Theo sự lư
luận của tôi, chỉ có
ANH HÙNG mới đủ tư
cách luận người khác
ANH HÙNG, và chỉ có
những kẻ NGÔNG CUỒNG
mới có đủ tư cách để
đánh giá người khác
là NGÔNG CUỒNG, do
dó từ bài viết này
trở đi bọn “tà lọt
tay sai” của nhóm
tăng lữ B́nh Trị
Thiên hoạt động có
lợi cho Việt Cộng sẽ
được minh danh là
bọn PHẬT TỬ NGÔNG
CUỒNG.
Bọn PHẬT TỬ NGÔNG
CUỒNG chỉ trích bác
sĩ Trần Kim Tuyến,
nguyên Giám Đốc Sở
Nghiên Cứu Chính Trị
thời đệ nhất Cộng
Ḥa (nhiều người
hiểu là Trùm Mật Vụ
của chế độ Ngô Đ́nh
Diệm) là bất tài chỉ
dựa vào gốc Công
Giáo để làm Trùm Mật
Vụ đàn áp dân lành,
đưa biệt kích nhảy
ra Bắc bao nhiêu là
thất bại bấy nhiêu…
Có một số dữ kiện về
bác sĩ Trần Kim
Tuyến cần được nêu
ra trong bài viết
này để thế hệ hậu
duệ nh́n rơ hơn về
con người bác sĩ
Trần Kim Tuyến (Lời
chú thích của người
viết : tôi không có
ư định chứng minh
bất cứ cái ǵ cho
bọn PHẬT TỬ NGÔNG
CUỒNG v́ bọn chúng
chỉ có cặp mắt ếch
và cặp mắt cá nên dù
có con rắn ḅ ngay
kế bên mà chúng có
thấy ǵ đâu, cũng
như bọn cá d ữ đi
săn mồi chỉ bắt được
cá trắng và cá đen
chứ không bắt được
cá nhiều màu sặc sỡ)
:
1/ Khi di cư vào Nam
năm 1954, thanh niên
Trần Kim Tuyến chưa
đậu văn bằng bác sĩ,
người ta gọi ông là
bác sĩ v́ ông đang
học năm thứ 6 Đại
Học Y Khoa Hà Nội
th́ chính biến 1945
xảy ra rồi ông bị
cuốn theo cơn lốc
chính trị và cơn lốc
chiến tranh khiến
phải bỏ dở việc học.
2/ Là người Công
Giáo, bác sĩ Trần
Kim Tuyến được 2 thủ
lĩnh của khối Công
Giáo chống Cộng
triệt đề là linh mục
Lê Hữu Từ và linh
mục Hoàng Quỳnh tiến
cử để gặp Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm và Cố
vấn Ngô Đ́nh Nhu.
Nếu chỉ là Công Giáo
không thôi th́ làm
sao bác sĩ Trần Kim
Tuyến lại được giữ
một chức vụ rất quan
trọng như Giám Đốc
Sở Nghiên Cứu Chính
Tri ? Tại sao bác sĩ
Tr� �n Kim Tuyến
không xin Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm một
học bổng đi Pháp để
hoàn tất học tŕnh
bác sĩ rồi về mở
Clinique tư nhân như
bác sĩ Trần Đ́nh Đệ
kiếm được nhiều tiền
hơn mà lại đỡ rắc
rối. Hay là học xong
có bằng cấp của Pháp,
về nước có thể làm
Bộ Trưởng Y Tế sướng
hơn rất nhiều. Tại
sao bác sĩ Trần kim
Tuyến lại đi nhận
làm Giám Đốc Sở
Nghiên Cứu Chính Trị,
một chức vụ mà giới
khoa bảng không muốn
dính dáng vào, vừa
không có danh, lại
chẳng có tiền, đó là
chưa kể đến không có
giờ giấc riêng tư
cho riêng ḿnh và
cho gia đ́nh ?
3/ Thời điểm 1954,
1955, 1956 ngành an
ninh t́nh báo của
VNCH phần lớn do
Pháp để lại, thực sự
mà nói không đủ khả
năng để bắt giữ và
vô hiệu hóa các hoạt
động của Việt Cộng (trà
trộn vào những ngư�
�i từ Bắc di cư vào
Nam, nhóm nằm vùng ở
lại miền Nam không
ra Bắc tập kết và
nhất là nhóm cán bộ
cao cấp của Việt
Cộng xâm nhập sau
khi phong trào di cư
chấm dứt…). Nhiệm vụ
của bọn cán bộ Việt
Cộng là gây rối loạn
xáo trộn xă hội miền
Nam để chúng sẽ cướp
được chính quyền
trong cái gọi là
Hiệp Thương Thống
Nhất vào năm 1956.
Tuy nhiên, sau khi
dẹp tan các sứ quân
núp dưới danh nghĩa
các lực lượng giáo
phái vơ trang và tàn
dư của chính quyền
thuộc địa Pháp vào
năm 1955, chính
quyền của Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm đă bắt
giữ được hầu hết các
điệp viên Việt Cộng
xâm nhập từ miền Bắc
cũng như phá tan các
hang ổ và cán bộ
Việt Cộng gài lại,
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm bác bỏ chuyện
Hiệp Thương do Phạm
văn Đồng đề nghị.
Bọn Việt Cộng khô ng
thể kiện chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm ra ṭa
án quốc tế La Hayes
v́ Hiệp Định Geneve
năm 1954 chỉ là thỏa
ước đ́nh chiến giữa
chính phủ Pháp và
chính phủ Việt Nam
Dân Chủ Cộng Ḥa,
chính phủ Việt Nam
Cộng Ḥa không kư
vào bản Hiệp Định
này. Vả lại điều
khoản Hiệp Thương
được kư vào Bản Phụ
Lục của Hiệp Định
Geneve 1954 soạn
thảo từ 2 phía Pháp
và Việt Minh, kư
ngày hôm sau 21
tháng 7 năm 1954 mà
lại không có 4 chữ
kư của đại diện 4
quốc gia bảo trợ là
Anh – Mỹ - Nga-
Trung Cộng.
Bác sĩ Trần Kim
Tuyến có 2 khả năng
mà kẻ thù của ông (bao
gồm Việt Cộng, các
đảng phài chính trị
của miền Nam chống
đối chế độ Ngô Đ́nh
Diệm và một số các
lănh tụ Phật Giáo
miền Trung ) không
được biết , đó là :
A.- Khả năng thứ
nhất : Ông là người
cực k ỳ thông minh,
thông hiểu nhiều
chuyện ngoài lĩnh
vực Y Khoa ẩn dấu
dưới bề ngoài giản
dị khiêm nhường, ăn
nói nhỏ nhẹ, ăn mặc
xuềnh xoàng không se
sua chưng diện – nếu
không muốn nói là
ông có vẻ “nhà quê”,
có vẻ “ruộng” như
ngôn ngữ b́nh dân
bây giờ thường hay
sử dụng. Giai đoạn
đầu của chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm, khi
mà trí thức miền Nam
và trí thức Bắc Kỳ
di cư rất ít ai biết
đến anh em Thủ Tướng
Diệm và cố vấn Nhu,
bác sĩ Tuyến là
người đi tiếp xúc và
chiêu dụ giới trí
thức này ra cộng tác
với chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm. Nhiều
chính trị gia lăo
thành (mà bây giờ đă
qua đời v́ lư do
tuổi tác cao) cho
hay rằng họ đă cảm
thấy họ c̣n “tháp
ngà” nhiều quá ngay
trong lĩnh vực
chuyên môn của họ
khi bác sĩ Tuyến
tŕnh bày đến vấn đề
thời s� � của đất
nước, nhưng họ không
cảm thấy họ bị nghe
lời giảng dạy, và
khi cộng tác với bác
sĩ Tuyến họ cũng
không có cảm giác bị
khống chế hay bị sai
khiến v́ bác sĩ
Tuyến không có tham
vọng chính trị nên
các trí thức này
không sợ bị kèn cựa
trong giới quan
quyền của chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm.
B.- Khả năng thứ hai
: Đây là khả năng
quan trọng, ngay
trong thời chiến
tranh Việt – Pháp
1946 – 1954, bác sĩ
Trần Kim Tuyến đă tổ
chức được mạng lưới
t́nh báo lấy được
tin tức t́nh báo
ngay từ trung ương
của đảng Cộng Sản
Việt Nam. Đầu mối
của mạng lưới này là
viên chức cao cấp
trong ngành t́nh báo
của Việt Cộng (dĩ
nhiên không phải là
người Công Giáo), là
đảng viên nhưng ghét
Cộng Sản, hoạt động
với bác sĩ Tuyến
không v́ tiền bạc,
không v́ gái nê n
rất kín đáo không bị
lộ. Chính v́ khả
năng đặc biệt này mà
Thủ Tướng Ngô Đ́nh
Diệm và Cố Vấn Ngô
Đ́nh Nhu giao cho
ông giữ chức Giám
Đốc Sở Nghiên Cứu
Chính Trị. Chính
mạng lưới t́nh báo
từ ngoài Bắc đă cung
cấp tin tức của các
tay điệp viên xâm
nhập nên Đoàn Công
Tác Mật Vụ Miền
Trung do ông Dương
văn Hiếu đă bắt được
Đại Tá Lê Câu, Mười
Hướng (sau này lên
tới Trung Tướng) và
12 người nữa mà sau
này, vào năm 1964,
Tống Trưởng Nội Vụ
của chính phủ Nguyễn
Khánh là Hà Thúc Kư
đă v́ áp lực của nhà
sư Thích Trí Quang
cũng như nhận tiền
hối lộ của Việt Cộng
mà kư giấy thả những
cán bộ cao cấp của
Việt Cộng ra khỏi
nhà giam. Được Hà
Thúc Kư thả ra,
những cán bộ Việt
Cộng này ngay lập
tức đă trở về Bắc
Việt !!!
V́ chỉ có cặp m� ��t
ếch nên bọn PHẬT TỬ
NGÔNG CUỒNG đă lớn
họng chê bai ông Ngô
Đ́nh Nhu và bác sĩ
Trần kim Tuyến là dở
v́ tốn công tốn của
huấn luyện các chiến
sĩ Biệt Kích nhảy ra
Bắc mà không thành
công ǵ cả, nhưng
nếu động năo một
chút và có con mắt
của một người có
hiểu biết, chúng ta
nên hiểu rằng các
chuyến nhảy ra Bắc
của các chiến sĩ
Biệt Kích mà bị thất
bại là đều có cân
nhắc tính toán kỹ
lưỡng, nói thẳng ra
là ông Ngô Đ́nh Nhu
và bác sĩ Trần Kim
Tuyến đă dùng các
chiến sĩ Biệt Kích
làm mồi nhằm duy tŕ
chức vụ cao cấp của
viên chức t́nh báo
an ninh của Việt
Cộng để đổi lại phía
VNCH chúng ta đă
nhận được những tin
tức để tóm gọn những
cán bộ Việt Cộng xâm
nhập cỡ đại tá Lê
Câu và Mười Hướng (sau
này lên Trung Tướng)
chả hạn (như vậy
cũng c̣n lời chán).
Về công tác thanh
lọc các phần tử nằm
vùng do Việt Cộng
gài lại, chính phủ
của Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă phát
động chương tŕnh
DIỆT TRỪ SỐT RÉT,
đoàn cán bộ của
chương tŕnh diệt
trừ sốt rét đă dùng
thuốc DDT (do Mỹ
viện trợ) để đi khắp
các vùng nông thôn
hẻo lánh xịt thuốc
DDT diệt loăng quăng
, bọ gậy và lắp đất
các ao tù nước đọng
(là nơi trứng muỗi
sinh sôi nẩy nở).
Ngoài ra, đoàn cán
bộ diệt trừ sốt rét
c̣n đảm trách luôn
công tác kiểm kê dân
số và đánh dấu những
nơi khả nghi có thể
dung chứa Việt Cộng
nằm vùng. Đáng lư
chương tŕnh DIỆT
TRỪ SỐT RÉT phải nằm
trong Nha Y Tế Công
Cộng thuộc Bộ Y Tế,
nhưng v́ có công tác
chính trị đi kèm nên
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm đă bổ nhiệm
Thiếu Tướng Trần T�
� Oai phụ trách
chương tŕnh này. (Ghi
chú của người viết :
Năm 1977, trước khi
mở chiến dịch “Đánh
Tư Sản Mại Bản” ,
bọn Việt Cộng đă
dùng lực lượng Thanh
Niên Xung Phong tỏa
ra khắp thành phố
Sài G̣n để xâm nhập
tất cả các gia cư,
nhà kho + vựa…để đặt
bẫy DIỆT CHUỘT !!!
Như vậy, Việt Cộng
copy lại bài học của
chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm nhưng tầm vóc
nhỏ hơn)
Bác sĩ Trần Kim
Tuyến rời Việt Nam
năm 1962 (không rơ
trước hay sau vụ bỏ
bom Dinh Độc Lập của
Đại Úy Phạm Phú Quốc
và Thiếu Úy Nguyễn
Văn Cử) đi làm Tổng
Lănh Sự ở Cairo – Ai
Cập. Sau 1963, không
ai biêt ông ở đâu,
dường như ông có trở
lại Việt Nam v́ một
đàn anh của tôi là
cựu Thiếu Tá Nguyễn
Văn Tăng, năm 1973
làm Trưởng F của Bộ
Chỉ Huy Cảnh Sát
Quốc Gia Vũng Tàu,
nói là có g� �p Bác
Sĩ Trần Kim Tuyến ở
Dalat vào năm 1971.
Tuy nhiên, ngày 29
tháng 4 năm 1975,
điệp viên nhị trùng
Phạm Xuân Ẩn đích
thân đưa bác sĩ Trần
Kim Tuyến rời Sài
G̣n trong hoàn cảnh
dầu sôi lửa bỏng.
Khi tôi vượt biên
đến Thailand năm
1987, qua một chính
khách quen biết và
có họ hàng xa với
bác sĩ Tuyến, tôi
được biết bác sĩ
Tuyến định cư ở Anh
Quốc. Ông qua đời
khoảng năm 1999 –
2000, và không để
lại bất cứ một chứng
tích ǵ trong thời
gian ông tham dự vào
chính trường Việt
Nam Cộng Ḥa cũng
như không bao giờ
tuyên bố hay b́nh
luận ǵ về đệ Nhất
Cộng Ḥa.
Vào những năm đầu
thập niên 1960, sau
khi chính quyền của
Tổng thống Kennedy
lên cầm quyền ở
Washington D.C., rất
nhiều chính khách
Hoa Kỳ đă đến thăm
Sài G̣n, vừa cả công
khai lẫn kín đáo đề
nghị Tổng Th� �ng
Ngô Đ́nh Diệm cho
phép quân đội Mỹ vào
cuộc chiến chống lại
Cộng Sản Băc Việt.
Như mọi người đều
biết, Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm và Cố Vấn
Ngô Đ́nh Nhu cương
quyết chống lại đề
nghị này. Nhưng dưới
nhăn quan chính trị
và t́nh báo, bác sĩ
Trần Kim Tuyến cảm
thấy có một cái ǵ
đó không được b́nh
thường bởi lẽ những
cường quốc như Anh,
Mỹ,Nga, Trung Cộng…thường
dùng chiến tranh ủy
nhiệm (giao cho
người địa phương
đánh lẫn nhau, chỉ
yểm trợ tiền bạc và
vũ khí…) để buôn bán
vũ khí, để gây ảnh
hưởng kinh tế +
chính trị chứ không
khi nào lại dùng
quân đội chính quy
của họ để trực tiếp
tham chiến. Như vậy,
chiêu bài đem quân
đội Mỹ vào miền Nam
Việt Nam chỉ là lư
cớ, chứ mục tiêu
chính là ở chỗ khác.
Từ năm 1955, sau hội
nghị Bandung để
thành lập Khối Phi
Liên Kết do Nehru
của Ấn Độ, Soekarno
của Indonesia, Chu
Ân Lai của Trung
Cộng…khởi xướng,
thủa ban đầu định
làm đối trọng đứng
giữa 2 khối Tư Bản
và khối Cộng Sản,
nhưng càng về sau
Khối Phi Liên Kết
càng nghiêng về phía
Cộng Sản. Điển h́nh
là nước Indonesia,
Đảng Cộng Sản
Indonesia - dưới ảnh
hưởng của Trung Cộng
- hoạt động như một
chính đảng, công
khai kết nạp đảng
viên và bành trướng
lớn mạnh tới tầm mức
số đảng viên đông
đảo đứng hàng thứ ba
ch́ sau Liên Sô và
Trung Cộng (người Mỹ
xếp đảng Cộng Sản
Indonesia lớn nhất
trong thế giới không
Cộng Sản). Bác sĩ
Trần Kim Tuyến phỏng
đoán một ngày nào đó,
Đảng Cộng Sản
Indonesia sẽ cướp
chính quyền rồi sẽ
hợp đồng với Trung
Cộng nhuộm đỏ toàn
vùng Đông Nam Á. V́
vậy, quân đội Mỹ cần
vào Việt Nam để có
chỗ đóng quân và làm
bàn đạp chiến đấu
với đạo quân Quốc Tế
Cộng Sản do Trung
Cộng lănh đạo.
Trong khi Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm và Cố
Vấn Ngô Đ́nh Nhu
cương quyết cản trở
sự tham chiến trực
tiếp của quân đội
Hoa Kỳ vào Việt Nam
th́ chính phủ Mỹ sẽ
bứng bỏ chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm là
điều hiển nhiên sẽ
xảy ra.
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm là người yêu
nước thương dân –
điều đó rất nhiều
người công nhận và
kính phục, ông không
muốn quân đội Mỹ
trực tiếp tham chiến
v́ ông sợ chủ quyền
quốc gia sẽ bị xâm
phạm, chính nghĩa
quốc gia sẽ bị sứt
mẻ và quân đội Mỹ
trực tiếp tham chiến
cũng có nghĩa là
chiến tranh sẽ mở
rộng toàn diện, dân
chúng Việt Nam sẽ
khổ sở. Nhưng ông
thi ển cận và vị kỷ
hơi quá, ông quên
nguyên tắc thứ tư
trong LỤC H̉A của
Phật Giáo (Lợi Ḥa
Đồng Chia), người Mỹ
đánh giá toàn thể
nước Việt Nam (kể cả
2 miền Nam – Bắc)
không đáng giá bằng
Indonesia nên mặc dù
năm 1954 họ đă ửng
hộ ông hết ḿnh, tới
năm 1960 họ đành
phải bứng bỏ chế độ
của ông.
Cá nhân và gia đ́nh
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm không hiểu
những messages của
người Mỹ cho nên đă
nhận được những hậu
quả bi thảm (tương
tự như con ếch bị
con rắn nuốt chửng
v́ không thấy được
những chuyển động
quá chậm của con rắn).
Tôi xin đưa ra những
dẫn chứng như sau :
l)Tiên lễ : người Mỹ
yêu cầu Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm tổ
chức bầu cử cho chức
vụ Tổng Thống ở
nhiệm kỳ 2. Tổng
Thống Diệm tái đắc
cử với trên 80% cử
tr i ủng hộ, nhưng
người Mỹ cho rằng
đây là cuộc bầu cử
bôi bác nền dân chủ
và thiếu công bằng.
Bởi v́ Tổng Thống
Diệm chỉ cho 2 cụ
già trên 80 tuổi ra
ứng cử, đó là 2 nhà
cách mạng : cụ Hồ
Nhật Tân và cụ
Nguyễn Thế Truyền (Ghi
chú của người viết :
tôi đoan chắc là
người Việt hải ngoại
cỡ 70 tuổi trở lên
c̣n không nhớ tên
của 2 ứng cử viên
đối lập với Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm,
huống hồ ǵ những
người dưới 70 tuổi
lại càng mù tịt. Cụ
Hồ Nhật Tân thuộc
phong trào Đông Du
của cụ Phan Bội Châu,
sang Tàu và sang
Nhật Bản du học hồi
1905. Cụ Nguyễn Thế
Truyền thuộc phong
trào Duy Tân của cụ
Phan Chu Trinh, đi
du học bên Pháp và
có vợ là công chúa
vương triều Leopold
cùa nước Bỉ. Bản cáo
trạng Thực Dân Pháp
kư tên Nguyễn Ái
Quốc thực tế do 3
ngư ời viết, đó là
luật sư Phan Văn
Trường, cụ Phan Chu
Trinh và kỹ sư
Nguyễn Thế Truyền.
Về sau Hồ chí Minh
và guồng máy tuyên
truyền của Việt Cộng
nhận vơ và cầm nhầm
Nguyễn Ái Quốc là bí
danh của Hồ chí Minh
!!!). Dân chúng bỏ
phiếu cho Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm v́
thấy 2 cụ Hồ Nhật
Tân và cụ Nguyễn Thế
Truyền già cả lụm
khụm, họ không tin 2
cụ c̣n đủ sáng suốt
để lănh đạo đất nước,
đó là chưa kể 2 cụ
sẵn sàng ra đi sang
thế giới bên kia để
đoàn tụ với các bậc
tiền bối cách mạng
mà không cần thông
báo trước.
Bầu cử không xong,
các nhà trí thức
khoa bảng nhóm họp ở
khách sạn Caravelle
kư tên vào Thỉnh
Nguyện Thư đ̣i hỏi
cải cách chính trị.
Tổng Thống Diệm và
Cố Vấn Nhu phớt lờ
bản Thỉnh Nguyện Thư
này, không chừng 2
ông lại c̣ n cho
rằng đám trí thức
khoa bảng này ư hẳn
muốn apply xin jobs.
Những nhân vật kư
tên trong bản Thỉnh
Nguyện Thư có thể kể
: Phan Khắc Sửu,
Phan Quang Đán,
Nguyễn Tường Tam,
Phan Bá Cầm, Trần
Văn Hương…
2) Hậu binh : cuộc
binh biến ngày 11
tháng 11 năm 1960
chỉ là lời cảnh báo,
chứng cớ là toàn thể
những sĩ quan cầm
đầu cuộc binh biến
này đều chạy thoát
sang Nam Vang bằng
phi cơ C-47 do đại
úy Phan Phụng Tiên
lái. Luật sư Hoàng
Cơ Thụy – một thủ
lănh của Đại Việt
Quan Lại – được xem
là người giật giây
cho cuộc binh biến
này, th́ được đưa ra
khỏi Việt Nam trong
valise ngoại giao
của Ṭa Đại Sứ Pháp
!!! Đại Tá Trần
Thiện Khiêm – Tư
Lệnh Quân Khu 5 dẫn
quân của sư đoàn 21
về Sài G̣n cứu giá
cho Tổng Thống Diệm,
nhưng trước khi xuất
quân, Đại Tá Trần
Thiện Khiêm có gọi
điện thoại hỏi ư
kiến của Trùm CIA (tôi
không nhớ tên của
ông trùm này) th́
được ông trùm này
trả lời là : “Coup
đảo chính này chỉ để
dọa Tổng Thống Diệm
mà thôi, ông cứ đem
quân về Sài G̣n cứu
giá, không sao cả”.
Phía gia đ́nh Tổng
Thống Diệm và khối
Cống Giáo hỉ hả v́
“Thiên Chúa đă che
chở cho Tổng Thống
Diệm”; rồi chính
quyền của ông lại
khắt khe hơn trước,
mật vụ và cảnh sát
lùng bắt các đảng
viên của các đảng
phái chống lại ông
như Việt Nam Quốc
Dân Đảng, Đại Việt
Quốc Dân Đảng, Dân
Xă Đảng…Tất cả những
chính khách kư tên
trong tuyên ngôn
Caravelle đều bị bắt
giam và đưa đi lưu
đày ở đảo Côn Sơn.
Chuyện bắt bớ này đă
đưa tới cuộc oanh
tạc Dinh Độc Lập vào
ngày 27 tháng 2 năm
1962 của 2 phi công
Đại Úy Phạm Phú Quốc
và Thiếu Úy Nguyễn
Văn Cử, v́ thân phụ
của Thiếu Úy Nguyễn
Văn Cử là ông Nguyễn
Văn Lực – một thủ
lănh của Việt Nam
Quốc Dân Đảng vừa
mới bị Mật Vụ bắt.
Cao xạ của Hải Quân
từ Bến Bạch Đằng đă
bắn rơi phi cơ của
Đại Úy Phạm Phú Quốc
và ông nhảy dù ra
ngoài rồi bị bắt ở
gần cầu B́nh Lợi.
Phi cơ của Thiếu Úy
Nguyễn Văn Cử cũng
bị trúng đạn cao xạ,
nhưng ông rán lết
đáp được xuống phi
trường Pochentong ở
Nam Vang xin tỵ nạn
chính trị với chính
phủ Cambodia.
Cuộc oanh tạc này
làm cho một cô con
gái nhỏ của ông bà
Ngô Đ́nh Nhu bị tử
thương, và gia đ́nh
Tổng Thống Diệm cũng
như khối Công Giáo
đă làm lễ “tạ ơn
Thiên Chúa” tại khắp
các nhà thờ trên
toàn quốc. Điều đáng
trách ở đây là chính
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm càng xác tín
vững chắc là Thiên
Chúa đă an vị cho
ông làm “Tổng Thống
muôn năm” cho nên
không nhượng bộ bất
cứ những ǵ mà người
Mỹ khuyến cáo cũng
như yêu cầu. Đó là
lư do người Mỹ sẽ sử
dụng đến phương pháp
có bạo lực để bứng
bỏ chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm, sau khi 2
lá bài “Tiên Lễ” và
“Hậu Binh” không đem
lại kết quả mong
muốn.
Cho tới giờ này
(2010), tất cả những
tác giả bênh vực cho
chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm đều oán trách
và chửi rủa chính
quyền Kennedy đă cố
t́nh hạ bệ chính
quyền của Tổng Thống
Diệm và ra lệnh sát
hại 2 anh em ông Ngô
Đ́nh Diệm và ông Ngô
Đ́nh Nhu, ấy là v́
các tác giả này cũng
lại có đôi mắt ếch
và đôi mắt cá nên họ
không thấy được
những khía cạnh khác.
Tôi xin đưa những
khía cạnh khác như
sau :
1.- Hồng Y Giáo Chủ
Spellman (giữ chức
Tổng Giám Mục địa
phận New York, được
người Công Giáo Hoa
Kỳ coi là Giáo Hoàng
của người Mỹ) là
người đă tiến cử và
giúp đỡ ông Ngô Đ́nh
Diệm trong năm 1953
và 1954 để được
chính quyền Tổng
Thống Eisenhower yểm
trợ về Việt Nam làm
Thủ Tướng (sau đó là
Tổng Thống). Hồng Y
Spellman làm Tổng
Tuyên Úy Công Giáo
của Quân Đội Hoa Kỳ,
nên ông rất có ảnh
hưởng đối với các
giới chức quân nhân
như Đại Tướng
Eisenhower chẳng hạn.
Hồng Y Spellman lại
đă từng làm phép
cưới cho John F.
Kennedy và Edward
Kennedy nên khi John
F. Kennedy đắc cử
trở thành Tổng Thống
Hoa Kỳ năm 1960, uy
thế của Hồng Y
Spellman lại càng
trở nên lớn lao hơn
nữa.
Tổng Thống Kennedy
là Tổng Thống Công
Giáo đầu tiên của
Hoa Kỳ, vậy tại sao
ch ính quyền Kennedy
không ủng hộ chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm
– cũng là đồng đạo
Công Giáo, câu trả
lời gần đúng với sự
thật nhất là “tất cả
v́ quyền lợi của Hoa
Kỳ”. Người Công
Giáo Việt Nam và gia
đ́nh Tổng Thống Diệm
đă có những suy đoán
“trật lất” về Hồng Y
Spellman như sau :
Hồng Y Spellman được
nâng đỡ tối đa của
Giáo Hoàng Pio X,
Hồng Y Spellman cũng
là một cây chi tiền
mạnh bạo cho Ṭa
Thánh Vatican v́
giáo phận New York
là một giáo phận
giàu có nhất của
nước Mỹ. Vậy chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm
được Giáo Hội Công
Giáo ở Vatican ủng
hộ th́ đương nhiên
Hồng Y Spellman và
chính quyền Kennedy
phải ủng hộ chính
quyền của Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm. Thực
tế không phải như
vậy, người Mỹ có câu
: “ Who pay who
command” (dịch ra
tiếng Việt có ngh�
�a là “Ai chi tiền
th́ người đó sẽ chỉ
huy), Hoa Kỳ đang là
một siêu cường nên
chẳng có lư do ǵ
phải vâng lời Ṭa
Thánh ở Vatican. Khi
thấy chính quyền
Kennedy càng ngày
càng muốn thay thế
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm, đích thân Tổng
Giám Mục Ngô Đ́nh
Thục xin qua Mỹ để
được “vận động” với
Hồng Y Spellman,
nhưng đều không nhận
được sự hối âm của
Hồng Y Spellman. Sự
im lặng của Hồng Y
Spellman cũng dễ
hiểu : người Mỹ rất
thực tế họ chỉ muốn
“deal” với kẻ đương
quyền hay có nhiều
triển vọng sắp nắm
quyền, họ không muốn
phí thời giờ để
“deal” với người
“sắp bị thay thế”
(hay sắp …chết !!!)
2.- Chính phủ của
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm cho rằng biến
động tại Huế nhân
ngày Phật Đản năm
1963 là do CIA dàn
dựng và một số tăng
sĩ Ph ật Giáo là do
Việt Cộng giật giây,
điều đó không sai
nhưng chưa đủ. Đó
chỉ là nguyên nhân
gần, nguyên nhân sâu
xa là chính sách quá
thiên vị Công Giáo
và đối xử phân biệt
đối với Phật Giáo,
thí dụ như cấm các
chùa chiền treo cờ
Phật Giáo trong Mùa
Phật Đản, trong khi
các nhà thờ Công
Giáo th́ treo cờ
Giáo Hội La Mă thả
dàn (thậm chí có nơi
c̣n không thèm treo
cờ quốc gia đi kèm).
Tất cả tăng sĩ Phật
Giáo và phật tử
xuống đường biểu
t́nh phản đối sự đối
xử bất công của
chính quyền là điều
có thực, họ chỉ đ̣i
hỏi sự đối xử công
bằng chứ không có ư
định lật đổ chính
quyền. Chính quyền
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm cũng có đôi mắt
ếch và mắt cá nên
cho rằng xuống đường
biểu t́nh của các
tăng sĩ Phật Giáo và
phật tử là gây rối
loạn c ho an ninh
quốc gia và làm mất
uy quyền quốc gia
của chính phủ nên
bắt bớ giam cầm
những người biểu
t́nh; trong khi
những nguyện vọng
của họ th́ không
được chính quyền đáp
ứng. Do đó, càng đàn
áp càng bắt bớ th́
lại càng có nhiều
cuộc xuống đường hơn
trước. Tháng 8/1963,
chính phủ Kennedy
triệu hồi đại sứ
Frederick Nolting về
nước và cử đại sứ
Henry Cabot Lodge
sang thay thế. Ông
này là ứng cử viên
Phó Tổng Thống của
Richard Nixon (đảng
Cộng Ḥa) trong kỳ
tranh cử Tổng Thống
hồi năm 1960 với
liên danh Kennedy –
Johnson (đảng Dân
Chủ), năm 1962 ông
là đại sứ của Hoa Kỳ
tại Liên Hiệp Quốc
khi có vụ rắc rối
hỏa tiễn ở Cuba,
nhưng ông trở nên
khét tiếng v́ là
“chuyên gia đảo
chánh” ở một số nước
Á châu và châu Mỹ La
tinh !!!
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Di� �m và cố vấn Ngô
Đ́nh Nhu có biết
thành tích khét
tiếng của Đại Sứ
Henry Cabot Lodge
không ? Và có hiểu
được lời nhắn khéo
của chính phủ
Kennedy hay không ?
Chắc chắn là biết và
hiểu lời nhắn khéo
của chính phủ Mỹ,
nhưng ông tự cho ông
là người chống Cộng
mạnh mẽ nhất không
ai có thể thay thế
vị trí của ông được
và ông cũng tự cho
rằng sự hiện hữu của
ông sẽ ngăn được
không cho quân đội
Mỹ vào Việt Nam. Khổ
nỗi, chống Cộng mạnh
mẽ nhất không có
nghĩa là chống Cộng
hữu hiệu nhất và
không có sự hiện hữu
của Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm th́ quân
đội Mỹ sẽ vào Việt
Nam nhanh hơn.
Ngày 21 tháng 8 năm
1963, đại sứ Henry
Cabot Lodge đến Sài
G̣n để nhận nhiệm vụ
th́ ngày 20 tháng 8
năm 1963, chính
quyền Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm mở cuộc
Tổng Tấn Công tất cả
các chùa ở Sài G̣n
cũng như mở cuộc Càn
Quét băt giữ một số
lớn các sinh viên,
học sinh phật tử
cũng như các vị tăng
+ ni Phật Giáo, rơ
ràng là để “dằn mặt”
ông đại sứ Henry
Cabot Lodge, tuy
nhiên ông đại sứ
Lodge “tỉnh bơ”
không có vẻ ǵ là
ngán sợ hết cả.
3.- Ḥa Thượng Thích
Quảng Đức tự thiêu
tại ngă tư Phan Đ́nh
Phùng và Lê văn
Duyệt, gần ṭa đại
sứ Cambodia và
trường trung học tư
thục Nguyễn Khuyến
của 2 giáo sư Bùi
Hữu Đột và Bùi Hữu
Sủng, đă gây chấn
động lớn trên dư
luận Hoa Kỳ và dư
luận quốc tế. Cuộc
tự thiêu này diễn ra
công khai trước ống
kính máy quay phim
và máy chụp h́nh của
phóng viên quốc tế,
cho nên Bà Ngô Đ́nh
Nhu có tuyên bố bậy
bạ để “bôi bác” sự
tự thiêu của Ḥa
Thượng Thích Quảng
Đức nhằm “rửa độc ”
dư luận Hoa Kỳ, th́
cũng chẳng có ai tin
bà.
4. Thân phụ và thân
mẫu của Bà Ngô Đ́nh
Nhu là Luật Sư Trần
Văn Chương – đương
kim Đại Sứ Việt Nam
Cộng Ḥa tại Hoa Kỳ,
và Bà Thân Thị Nam
Trân – đương kim
Quan Sát Viên thường
trực của Việt Nam
Cộng Ḥa tại Cơ Quan
Liên Hiệp Quốc, đồng
loạt từ chức để phản
đối chính sách kỳ
thị tôn giáo của
chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm (Ghi chú của
người viết : trước
đó, Ngoại Trưởng Vũ
Văn Mẫu cũng đệ đơn
xin từ chức để đi
hành hương tại Ấn Độ
!!!). Tôi c̣n nhớ là
vào thời điểm đó –
1963, một số tay sai
của chế độ Ngô Đ́nh
Diệm đă phê phán sự
từ chức của 2 Ông Bà
Trần Văn Chương và
Thân Thị Nam Trân là
thái độ của “kẻ ăn
cháo đái bát”. Họ
c̣n dè bỉu là có lẽ
ông bà Trầ n Văn
Chương muốn nắm chức
Thủ Tướng và Phó Thủ
Tướng của chính
quyền mới, nếu chính
phủ Mỹ lật đổ được
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm. Theo sự nhận
xét của riêng tôi,
v́ làm Đại Sứ lâu
năm tại Washington
D.C. và thường xuyên
đi lại New York nên
2 ông bà hiểu rơ
đường lối và chính
sách của chính phủ
Mỹ cũng như chính 2
ông bà được sự nhờ
cậy của Tổng Giám
Mục Ngô Đ́nh Thục để
sang Hoa Kỳ “vận
động” với Hồng Y
Spellman mà Hồng y
Spellman không thèm
trả lời, cho nên 2
ông bà biết rơ kết
cuộc của chế độ Ngô
Đ́nh Diệm sẽ như thế
nào. Khuyên bảo và
cố vấn cho chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm, qua
người con gái là bà
Trần Lệ Xuân và con
rể là ông Ngô Đ́nh
Nhu, không được th́
chuyện xin từ chức
là lẽ đương nhiên.
C̣n lời dè bỉu của
tay sai chế đ ộ càng
trở nên vô nghĩa vô
lư, v́ sau khi chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm bị
sụp đổ, 2 ông bà
Trần Văn Chương
không hề trở lại
Việt Nam để tranh
dành chức Thủ Tướng
của chính phủ mới !!
5.- Ngay sau khi đến
Sài G̣n, Đại Sứ
Lodge đă vận hành
ngay guồng máy đảo
chánh để lật đổ
chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm (tôi không nêu
chi tiết v́ mọi
người đă biết việc
tổ chức đảo chánh
qua các lời kể hoặc
qua các hồi kư của
các tướng lănh trực
tiếp tham dự). Tôi
cũng không biết ai
là người kết nạp sĩ
quan Trần Thiện
Khiêm vào làm việc
cho cơ quan CIA và
làm việc từ lúc nào
(Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm mà không
tự nói ra những điều
này th́ chẳng ai có
thể biết), nhưng
phải công nhận là
người kết nạp phải
là người có mắt tinh
đời và có lẽ rất
giỏi về khoa tư ớng
mệnh học nên CIA
thành công trong vấn
đề t́m ra giải pháp
giải quyết vấn nạn
chính trị tại Việt
Nam. Năm 1960 khi
kéo quân của sư đoàn
21 về Sài G̣n cứu
giá cho Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm, sĩ
quan Trần Thiện
Khiêm mới chỉ mang
cấp bậc Đại Tá, tới
năm 1962 ông được
vinh thăng lên Thiếu
Tướng, măi tới năm
1963 ông mới đảm
trách chức vụ Tham
Mưu Trưởng Liên Quân
ở Bộ Tổng Tham Mưu.
Ông là người rất kín
miệng, không bao giờ
tuyên bố bất cứ một
điều ǵ, chậm chạp
từ từ nắm giữ vị trí
quan trọng trong
quân đội, nhưng
người ngoài kể cả
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm và cố vấn Ngô
Đ́nh Nhu vẫn coi ông
như là một công chức
của Bộ Quốc Pḥng (Cố
vấn Ngô Đ́nh Nhu và
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm chỉ để ư đến
các Tư Lệnh Lữ Đoàn
Dù, Tư Lệnh Lực L
ượng Đặc Biệt, Tư
Lệnh Lữ Đoàn Thủy
Quân Lục Chiến, Tư
Lệnh Không Quân, Tư
Lệnh Hải Quân, các
Tư Lệnh Vùng 3 và
Vùng 4, Các Tư Lệnh
các Sư Đoàn Bộ Binh
đóng chung quanh Sài
G̣n...không ai để ư
đến chức không có
quân trong tay là
chức vụ Tham Mưu
Trưởng Liên Quân).
Do đó khi hay tin
Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm đứng
trong danh sách các
tướng cầm đầu cuộc
đảo chánh ngày 01
tháng 11 năm 1963,
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm và cố vấn Ngô
Đ́nh Nhu bị choáng
váng nặng nề. Có một
điều ít ai được biết,
trong lúc các tướng
lănh họp bàn để
quyết định về số
phận của anh em Tổng
Thống Diệm và cố vấn
Nhu, tất cả các
tướng đều dơ tay
biểu quyết hạ sát
chỉ có một ḿnh
Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm dơ tay
không hạ sát. Đây là
khởi đầu cho những
rắc rối đ� ��n với
Tướng Trần Thiện
Khiêm và cũng là
những rắc rối biến
động cho chính
trường miền Nam Việt
Nam sau khi 2 anh em
ông Diệm và Nhu bị
hạ sát.
6.- Ḷng trung thành
tuyệt đối với Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm
của Đại Tá Lê Quang
Tung và Đại Tá Hồ
Tấn Quyền khiến 2
ông bị giết (Thiếu
Tá Lê Quang Triệu –
em trai của Đại Tá
Lê Quang Trung, bị
giết ở Văn Pḥng Bộ
Tư Lệnh Lực Lượng
Đặc Biệt v́ phe đảo
chánh sợ Thiếu Tá
Triệu thay quyền Đại
Tá Tung điều động
Lực Lượng Đặc Biệt
chống lại phe đảo
chánh). Ở vị thế kẹt,
Đại Tá Cao Văn Viên
– Tư Lệnh Lữ Đoàn
Nhảy Dù – chỉ nói
ông không chống đối
nhưng cũng không ủng
hộ, Trung Tướng
Dương văn Minh,
Thiếu Tướng Lê văn
Kim , Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân…định ra
lệnh hạ sát luôn Đại
Tá C ao Văn Viên,
nhưng Thiếu Tướng
Trần Thiện Khiêm và
Thiếu Tướng Tôn Thất
Đính ngăn cản, nên
Đại Tá Cao văn Viên
chỉ bị cô lập trong
Bộ Tổng Tham Mưu mà
thôi.
7.- Người Công Giáo
và các nhà b́nh luận
bênh vực chế độ Ngô
Đ́nh Diệm kết tội
chính phủ Mỹ ra lệnh
hạ sát 2 anh em ông
Diệm và ông Nhu là
chỉ đúng 50% sự thật
(Ghi chú của người
viết : một văn hào
Âu Châu – mà tôi
không nhớ tên – đă
đưa ra một nhận định
khá chính xác là
“Một nửa ổ bánh ḿ
vẫn là ổ bánh ḿ,
nhưng một nửa sự
thật th́ không phải
là sự thật ”). Khi
rời Washington DC đi
Sài G̣n, chắc chắn
đại sứ Henry Cabot
Lodge đă nắm chắc
phương cách giải
quyết vấn đề của
chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm với nhiều
options đă được dự
trù trước (giống
như Tào Tháo để lại
cẩm nan g cho tướng
Hạ Hầu Đôn để đối
phó với Khổng Minh
và Tôn Quyền, lúc
hữu sự tướng Hạ Hầu
Đôn cứ giở cẩm nang
ra mà áp dụng, kḥi
cần tŕnh báo lôi
thôi mất th́ giờ mà
e rằng không kịp nữa).
Năm 2003, khi tôi
đọc tài liệu đă được
bạch hóa của Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ do
ông Lâm Lễ Trinh sưu
tập và tổng kết
trong bài viết có
tựa đề “Kỷ Niệm 40
Năm Ngày Lật Đô
Chính Phủ Ngô Đ́nh
Diệm” (hay đại loại
gần giống như thế -
v́ tôi không nhớ
chính xác). Câu nói
cuối cùng của đại sứ
Lodge với Tổng Thống
Diệm vào sáng ngày
02 tháng 11 năm 1963
đại để như sau : “….nếu
cần một chỗ để ra đi
xuất ngoại, xin Tổng
Thống cứ gọi cho tôi;
những vấn đề khác
xin đừng gọi !!!”.
Thật là một lời nhắn
rơ ràng, minh bạch
và dễ hiểu không cầu
kỳ bóng bẩy , như
vậy khi Tổng Thống
Diệm gọi vào Bộ Tổng
Tham Mưu th́ các
tướng lănh automatic
sử dụng đến option B
là điều quá tự nhiên
rồi, khỏi cấn thắc
măc ai là người ra
lệnh và cũng không
cần suy tư là kế
hoạch hạ sát Tổng
Thống Diệm và cố vấn
Nhu là do Trung
Tướng Dương văn Minh
hay do Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân nghĩ ra.
8.- Trong không khí
ngột ngạt của các âm
mưu đảo chánh sắp
được tiến hành cũng
như áp lực uất ức
của quần chúng Phật
tử càng ngày càng
lên cao, Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm và cố
vấn Ngô Đ́nh Nhu vẫn
có thể đi một nước
cờ cao để phá vỡ âm
mưu của đại sứ Lodge
vừa giữ được thể
diện của nhà lănh
đạo quốc gia và nhất
là giữ được sinh
mệnh an toàn.; đó là
: Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm lên đài
phát thanh quốc gi a
tuyên bố chính phủ
của ông đă sai lầm
trong thời gian vừa
qua, một mặt ra lệnh
phóng thích tất cả
các tăng ni bị bắt
trong vụ tranh đấu
đ̣i hỏi đối xử công
bằng cho Phật Giáo
cũng như phóng thích
tất cả sinh viên học
sinh và quần chúng
Phật tử dính líu tới
những cuộc xuống
đường biểu t́nh từ
ngày Phật Đản 1963,
đem tàu ra đảo Côn
Sơn rước tất cả
những chính trị gia
đối lập (chú ư :
không trả tự do cho
các phần tử Cộng Sản)
về Sài G̣n để cùng
với chính phủ lập
quốc dân đại hội, tu
chính hay soạn thảo
hiến pháp mới hầu tổ
chức lại một cuộc
bầu cử mới (mà ông
Ngô Đ́nh Diệm không
tái ứng cử). Đó là
một sự trao chuyển
quyền lực chính trị
mà không cần phải
đảo chánh đổ máu,
lúc đó 2 ông Ngô
Đ́nh Diệm và ông Ngô
Đ́nh Nhu có muốn ra
đ i xuất ngoại th́
cũng được ra đi
thoải mái. Tiếc thay,
2 ông không nghĩ ra
được nước cờ này nên
đă bị giết thê thảm,
tôi nói đáng tiếc v́
lẽ ra 2 ông có thể
tránh được.
9.- Sau khi 2 anh
em ông Diệm và ông
Nhu bị giết, trong
cương vị Tham Mưu
Trưởng Liên Quân,
chính Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm (vừa
mới vinh thăng) điều
động Đại Tá Cao văn
Viên (đang bị giam
lỏng trong Bộ Tổng
Tham Mưu) trở lại
nắm giữ Tư Lệnh Lữ
Đoàn Dù. Và thời
gian ngắn sau đó, v́
đă dơ tay biểu quyết
không hạ sát Tổng
Thống Diệm, nên Đại
Tướng Dương văn Minh
ra lệnh cho Trung
Tướng Trần văn Đôn –
quyền Tổng Tham Mưu
Trưởng, cách chức
Tham Mưu Trưởng Liên
Quân của Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm và
bổ nhiệm tướng Trần
Thiện Khiêm ra làm
Tư Lệnh Quân Đoàn
III kiêm Tư Lệnh
Vùng III Chiến Thuật.
Phải thẳng thắn mà
nói rằng Đại Tướng
Dương văn Minh quá
kém cỏi về mặt chính
trị, khi bổ nhiệm
cựu Phó Tổng Thống
Nguyễn Ngọc Thơ làm
Thủ Tướng Chính Phủ
của chính quyền Cách
Mạng, ông đă làm
nhiều người thất
vọng về tài lănh đạo
của ông nhất là giới
tăng sĩ Phật Giáo
vừa mới được ông
giải thoát ra khỏi
nhà tù của chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm,
c̣n giới chính khách
đối lập (vừa mới
được chở về từ đảo
Côn Sơn) th́ thẳng
thắn phê b́nh ông là
không biết dùng
người v́ con người
“thư lại” của Phó
Tổng Thống Nguyễn
Ngọc Thơ không thể
điều khiển một chính
quyền “Cách Mạng”,
nhất là quân đội làm
cuộc đảo chánh để
lật đổ Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm rồi
lại đư a Phó Tổng
Thống của chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm
lên làm Thủ Tướng
Chinh Phủ, th́ rơ
ràng Đại Tướng Dương
văn Minh làm chuyện
“ruồi bu” + nhảm
nhí và vô bổ. Qua
hồi kư của Trung
Tướng Trần văn Đôn,
người ta lại nản
ḷng hơn nữa : làm
tới Đại Tướng Chủ
Tịch Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng mà
chẳng hề ư thức được
“tinh thần trách
nhiệm” và “tinh thần
cách mạng” ǵ hết,
trong lúc các Tướng
hội họp bất kể giờ
giấc hành chánh,
Tướng Dương văn Minh
đến nói nhỏ với
Tướng Trần văn Đôn :
“…toi ở lại thay moi
giải quyết các vấn
đề với các anh em,
moi phải về v́ 5 giờ
chiều là tới giờ moi
ra sân đánh …tennis
!!!”.
Chắc chắn trong các
Tướng lănh được
chính phủ Hoa Kỳ hậu
thuẫn để lật đổ
chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm, chỉ có một ḿn
h Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm là biết
rơ hậu ư của chính
quyền Kennedy, đó là
chính phủ kế nhiệm
của chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm phải chính
thức có văn thư mời
quân đội Hoa Kỳ vào
Việt Nam (như đă đề
cập ở đoạn trên,
quân đội Hoa Kỳ vào
Việt Nam Cộng Ḥa để
chuẩn bị xuất quân
đi Indonesia trong
trường hợp tối cần
thiết, chứ quân đội
Hoa Kỳ vào Việt Nam
Cộng Ḥa không phải
để tiến quân vượt vĩ
tuyến 17 “giải phóng
Bắc Việt” như nhiều
người Việt Nam ngộ
nhận !!!). Nhưng
Tướng Khiêm lại
không thể giải thích
điều đó cho Tướng
Dương văn Minh hiểu.
Trong khi công việc
chính yếu và cần
thiết th́ không làm,
chính quyền mới dưới
sự chỉ đạo của Tướng
Dương văn Minh,
Tướng Mai Hữu Xuân
và Tướng Đỗ Mậu (vừa
mới vinh thăng) lại
lo đi làm chuy� ��n
trả thù cá nhân núp
dưới chiêu bài “
Truy Quét Dư Đảng
Cần Lao và Tay Sai
Ngô Triều” , mà điển
h́nh là cách chức
Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm khỏi vị
trí Tham Mưu Trưởng
Liên Quân và đẩy ra
khỏi Sài G̣n đưa lên
Biên Ḥa làm Tư Lệnh
Quân Đoàn III kiêm
Tư Lệnh Vùng III
Chiến Thuật.
Đây là một sai lầm
lớn của Đại Tướng
Dương Văn Minh và
Trung Tướng Trần Văn
Đôn, v́ tuy không
hiện diện tại Sài
G̣n, Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm lại
có Đại Tá Cao văn
Viên – đương kim Tư
Lệnh Lữ Đoàn Dù –
sẵn sàng trợ giúp.
Cuộc chỉnh lư ngày
30 tháng 01 năm 1964
do Trung Tướng
Nguyễn Khánh – đương
kim Tư Lệnh Quân
Đoàn II và Vùng II
Chiến Thuật, lănh
đạo về mặt biểu kiến,
nhưng mọi người hiểu
là do Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm đạo
diễn và tổ chức v́
không có một đơn vị
nào của Quân Đoàn II
có mặt tại Sài G̣n
vào thời điểm đó, mà
chỉ có duy nhất các
đơn vị của Lữ Đoàn
Dù làm mũi nhọn
chính của cuộc chỉnh
lư (ngay cả các đơn
vị quân đội của Quân
Đoàn III cũng không
có). Cuộc chỉnh lư
ngày 30 tháng 01 năm
1964 thực chất chỉ
là sự trả đũa của
Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm đối với
một số tướng lănh
trong ban lănh đạo
của Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng, để
có chính nghĩa và
chính danh cho cuộc
Chỉnh Lư, Trung
Tướng Trần Thiện
Khiêm tung ra tin
tức kết tội 5 ông
Tướng “mưu toan
Trung Lập Hóa Việt
Nam Cộng Ḥa ” theo
đường lối của chính
phủ Tổng Thống
Charles De Gaulle
của nước Pháp. Trung
Tướng Nguyễn Khánh
đem nhốt 5 ông Tướng
này trong biệt thự
nghỉ mát của Cựu
Hoàng Bảo Đại trên
thành phố Dalat, nên
b� �o chí thời đó
thường gọi là “các
Tướng Dalat” ; đó là
Trung Tướng Trần Văn
Đôn, Trung Tướng Mai
Hữu Xuân, Trung
Tướng Tôn Thất Đính,
Thiếu Tướng Lê văn
Kim, Trung Tướng
Nguyễn văn Vỹ . Về
sau, cũng chẳng có
chứng cớ hữu hiệu
nào để chứng tỏ các
vị Tướng này theo
chủ trương Trung Lập
Hóa của Tướng
Charles De Gaulle.
10.- Rất có nhiều
người thắc mắc là
tại sao Tướng Trần
Thiện Khiêm không tự
ḿnh đứng mũi chịu
sào bước ra ánh sáng
gánh vác trách nhiệm
mà lại chỉ đứng đàng
sau điều khiển và
giật dây người khác
thực hiện mưu đồ của
ông, trong khi ông
thừa bản lănh và mưu
lược để thực hiện
mưu đồ đó. Ông thích
như vậy chăng ? Hay
là lá số tử vi của
ông có sao TUẦN và
sao TRIỆT ở cung
Mệnh lại thêm có sao
PHỤC BINH nên ông
không thể làm l ănh
đạo được chăng ? Hay
là CIA bảo ông không
nên chường mặt ra
hành động v́ chường
mặt ra th́ chỉ có
làm được MỘT mục
tiêu, trong khi đứng
đàng sau th́ có thể
làm được NHIỀU mục
tiêu trong nhiều
thời điểm khác nhau.
Câu trả lời hữu lư
nhất phải do chính
Tướng Trần Thiện
Khiêm tiết lộ, mọi
phỏng đoán của bất
kỳ ai, đều chỉ là
đoán ṃ và rất là
khó thuyết phục đối
với độc giả hậu bối.
11.- Báo chí thời
1963 – 1964 có nêu
thắc mắc là nếu Bác
Sĩ Trần Kim Tuyến
không đi làm Tổng
Lănh Sự ở Cairo, th́
liệu cuộc đảo chánh
ngày 01 tháng 11 năm
1963 có dễ dàng
thành công hay
không ? Tôi lại nêu
thắc mắc ở một điểm
khác : Bác Sĩ Trần
Kim Tuyến đi làm
Tổng Lănh Sự ở Cairo
vào năm 1962 là do
yêu cầu của CIA để
cho Tướng Trần Thiện
Khiêm d ễ bề hành
động ? Hay Bác Sĩ
Tuyến biết là không
thể khuyến cáo Tổng
Thống Diệm và Cố Vấn
Nhu thuận theo yêu
cầu của chính phủ Mỹ
cho nên lánh mặt
khỏi Việt Nam để giữ
an toàn cho bản thân
cũng như duy tŕ
được mạng lưới t́nh
báo ở ngoài Bắc ? (Ghi
chú của người viết :
nếu không lánh mặt
khỏi Việt Nam, th́
số mệnh của Bác Sĩ
Tuyến chắc chắn cũng
giống như số mệnh
của Đại Tá Lê Quang
Tung và Đại Tá Hồ
Tấn Quyền). Về điểm
này, có thể nói Bác
Sĩ Trần Kim Tuyến đă
áp dụng lời dặn ḍ
của Tôn Tử trong
quyển sách “B́nh
Luận Về Nghệ Thuật
Chiến Tranh” , đó là
: “…làm Tướng biết
khéo thua th́ sẽ
được sinh tồn ”.
12.- Khi mời Trung
Tướng Nguyễn Khánh
đứng ra lănh đạo
cuộc chỉnh lư ngày
30 tháng 01 năm
1964, Trung Tướng
Trần Thiệ n Khiêm đă
“deal” với Tướng
Khánh 3 việc :
A/ Tướng Nguyễn
Khánh sẽ lên làm
Quốc Trưởng.
B/ Thủ Tướng Chính
Phủ sẽ là Bác Sĩ
Nguyên Tôn Hoàn – Xứ
Bộ Trưởng Xứ Bộ Miền
Nam của Đại Việt
Quốc Dân Đảng , thời
điểm 1964 đang ở bên
Pháp.
C/ Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm sẽ giữ
chức vụ Quyền Tổng
Tham Mưu Trưởng (thay
thế Trung Tướng Trần
văn Đôn)
( Ghi chú của người
viết : nhiều đảng
viên Đại Việt Quốc
Dân Đảng và người
ngoài Đảng Đại Việt
nghĩ rằng Trung
Tướng Trần Thiện
Khiêm đang giữ chức
Quân Ủy Trung Ương
của Đại Việt “dọn cỗ”
cho “chef” của ḿnh
là Bác Sĩ Nguyễn Tôn
Hoàn làm Thủ Tướng
Chính Phủ, nhưng
theo ư kiến của
riêng tôi, Trung
Tướng Trần Thiện
Khiêm không hoàn
toàn có hảo ư như
vậy. Bác Sĩ Nguyễn
Tôn Hoàn chống đối
với Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm nên từ năm
1954 ông tỵ nạn ở
bên Pháp, về Việt
Nam làm Thủ Tướng
Chính Phủ vào năm
1964 rơ ràng ông
phải trông cậy vào
đàn em ở lại Việt
Nam tức là chính phủ
của Thủ Tướng Nguyễn
Tôn Hoàn trông vào
sự ủng hộ của Tướng
Trần Thiện Khiêm,
cho nên Tướng Trần
Thiện Khiêm sẽ dễ
dàng thuyết phục
được ông kư văn thư
chính thức mời quân
đội Mỹ vào Việt Nam
trực tiếp tham chiến
chống lại quân Cộng
Sản.)
13.- Sau khi cuộc
chỉnh lư hoàn tất,
Đại Tá Cao văn Viên
nói với Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm là
ông không có tham
vọng chính trị và
chỉ muốn là một quân
nhân thuần túy. Tuy
nhiên Trung Tướng
Nguyễn Khánh th́ lại
có quá nhiều tham
vọng và là một người
quỷ quyệt đầy các
đ̣n phép ma giáo.
Trong 3 điều gi ao
ước với Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm,
tướng Nguyễn Khánh
không tuân thủ bất
cứ điều khoản nào cả
:
A. Ông lưu giữ Đại
Tướng Dương văn Minh
trong vai tṛ Quốc
Trưởng (bù nhin).
B. Bản thân Tướng
Nguyễn Khánh th́ giữ
chức Thủ Tướng và
thành lập chính phủ
(có thực quyền hơn
nhiều). Khi ra đón
bác sĩ Nguyễn Tôn
Hoàn từ Pháp về,
Tướng Nguyễn Khánh
“ban đặc ân” cho bác
sĩ Nguyễn Tôn Hoàn
“được “ làm Phó Thủ
Tướng đặc trách Xây
Dựng Nông Thôn. Ở vị
thế “há miệng mắc
quai”, bác sĩ Nguyễn
Tôn Hoàn im lặng rồi
sau đó ông bỏ đi hồi
nào dân chúng không
ai hay biết.!!!
C.- Đối với Trung
Tướng Trần Thiện
Khiêm không những
Tướng Nguyễn Khánh
không cho làm quyền
Tổng Tham Mưu Trưởng
mà lại xuất sự vụ
lệnh bổ nhiệm Tướng
Trần Thiện K hiêm
sang Hoa Kỳ làm Đại
Sứ lưu động (một
h́nh thức được coi
là “Tống ra khỏi
nước cho khuất mắt”)
Tuy nhiều đ̣n phép
ma giáo, nhưng Tướng
Nguyễn Khánh cũng
không có cao kiến
chính trị nào đáng
kể và ông cũng giống
như Tướng Dương văn
Minh ở điểm chẳng hề
hiểu hậu ư của chính
phủ Hoa Kỳ khi hậu
thuẫn các Tướng lật
đổ chế độ Ngô Đ́nh
Diệm. Người ta thấy
Tướng Nguyễn Khánh
vuốt ve khối Công
Giáo, chiều chuộng
khối Phật Giáo để
dân chúng của 2 tôn
giáo lớn này đừng
“làm phiền” đến mưu
đồ làm “lănh tụ ”
của ông. Việc cần
thiết th́ ông không
biết làm, thay vào
đó sai các sĩ quan
thuộc cấp tham khảo
bản Hiến Pháp của
Hoa Kỳ, bản Hiến
Pháp của Đệ Ngũ Cộng
Ḥa Pháp Quốc và
ngay cả bản Hiến
Pháp của Đệ Nhất
Cộng Ḥa Việt Nam �
�ể t́m cách tự tôn
cá nhân Tướng Khánh
lên làm Chủ Tich
Việt Nam Cộng Ḥa (Hiến
Chương này tướng
Nguyễn Khánh cho ra
mắt ở Vũng Tàu, nên
báo chí thời bấy giờ
gọi là Hiến Chương
Vũng Tàu) .
Hiến Chương Vũng Tàu
“chết non” v́ vừa
được công bố th́ cả
nước sôi sục lên
“Chống Độc Tài Quân
Phiệt”. 2 khối Công
Giáo và Phật Giáo
đang ḱnh chống nhau
ở đường phố Sài G̣n
th́ tạm đ́nh chiến
để quay qua chống
Tướng Nguyễn Khánh,
rồi sinh viên học
sinh ồ ạt băi khóa
xuống đường để “biểu
t́nh phản đối”. Trầm
trọng hơn nữa là các
tướng lănh và các sĩ
quan cao cấp đem
binh sĩ về Sài G̣n
để “đảo chánh (hụt)
“ hay chỉ để “biểu
dương lực lượng”,
các sĩ quan “vang
bóng một thời” có
thể kể : Trung Tướng
Dương văn Đức, Thiếu
Tướng Lâm văn Phát,
Đại Tá Phạm Ngọc
Thảo, Đại Tá Bùi
Dinh, Đại Tá Huỳnh
văn Tồn, Đại tá Nhan
Minh Trang, Trung Tá
Lê Hoàng Thao…v…v…
Tướng Nguyễn Khánh
quay qua t́m sự hậu
thuẫn của Ṭa Đại Sứ
Hoa Kỳ th́ được sự
trả lời thẳng thừng
của đại sứ Hoa Kỳ (Thống
Tướng hồi hưu
Maxwell Taylor –
nguyên Chủ Tịch Ban
Tham Mưu Hỗn Hợp
thời Tổng Thống John
F. Kennedy thay thế
đại sứ Henry Cabot
Lodge được về Mỹ an
dưỡng v́ hoàn tất
nhiệm vụ một cách
xuất sắc) là : “ You
làm bậy th́ ráng mà
chịu, tôi đă phản
đối bản Hiến Chương
cả về h́nh thức lẫn
nội dung rồi mà you
vẫn không nghe ”.
Nổi sùng , tướng
Nguyễn Khánh chửi
tục Thống Tướng
Taylor bằng tiếng
Pháp cho sứ giả của
Tướng Taylor là
Lucien Conein – trùm
CIA tại Sài G̣n vào
thời điểm đó. Lucien
Conein l à một người
Mỹ gốc Pháp nên hỏi
tướng Khánh có nên
dịch ra tiếng Anh
nguyên con hay không,
Tướng Khánh bảo cứ
dịch nguyên con, để
cho chắc ăn, Lucien
Conein viết các
tiếng chửi tục của
tướng Khánh vào sổ
tay rồi đưa cho
tướng Khánh confirm,
Tướng Khánh gật đầu.
Xem thế đủ biết ngày
bị buộc phải rời
quyền lực của tướng
Khánh không c̣n bao
xa nữa.
Sau đó chức vụ quyền
Quốc Trưởng VNCH
được trao lại cho Kỹ
Sư Phan Khắc Sửu và
ông Trần văn Hương
được mời làm Thủ
Tướng, và nội các
của Thủ Tướng Trần
văn Hương ra mắt vào
ngày 26 tháng 10 năm
1964. Nhưng Thủ
Tướng Trần văn Hương
xin từ chức vào cuối
tháng giêng năm 1965
và bác sĩ Phan Huy
Quát được mời làm
Thủ Tướng Chính Phủ,
nhậm chức vào ngày
16 tháng 2 năm 1965.
Ba ngày sau (tức là
ngày 19 tháng 2 năm
1965), Thiếu Tướng
Lâm văn Phát và Đại
Tá Phạm Ngọc Thảo
đem binh sĩ về Sài
G̣n nói là “ biếu
dương lực lượng”
nhưng thực chất là
làm áp lực với tân
chính phủ để tống
khứ Tướng Nguyễn
Khánh ra khỏi nước.
Quả nhiên ngày 25
tháng 2 năm 1965,
tướng Khánh lên
đường ra ngoại quốc
sau khi nhận được
văn thư vinh thăng
lên cấp bậc Đại
Tướng – do Quốc
Trưởng Phan Khắc Sửu
ấn kư, đồng thời
cũng nhận được Sự Vụ
Lệnh bổ nhiệm tướng
Nguyễn Khánh làm Đại
Sứ Lưu Động do Thủ
Tướng Phan Huy Quát
kư.
14.- Có dư luận cho
rằng Quân Đội Hoa Kỳ
đố bộ vào Đà Nẵng (rơ
hơn là đổ bộ vào Chu
Lai) trước khi Thủ
Tướng Phan Huy Quát
kư văn thư chính
thức mời quân đội
Hoa Kỳ vào Việt Nam
trực tiếp chống Cộng
(tức là quân đội Hoa
Kỳ đặt Thủ Tư� �ng
Phan Huy Quát trong
t́nh trạng đă rồi).
Nguồn dư luận này
rất đáng tin cậy và
rất hữu lư v́ chỉ
một thời gian ngắn
sau khi quân đội Hoa
Kỳ ồ ạt vào Nam Việt
Nam, ở Indonesia đă
xảy ra biến động lớn
: các sĩ quan “cấp
tiến” ( nói rơ hơn
là các sĩ quan trong
quân đội Indonesia
đă gia nhập Đảng
Cộng Sản Indonesia)
của quân đội
Indonesia đem binh
lính vào thủ đô
Jakarta bắt giữ rồi
sát hại Đại Tướng
Natution – Tổng Tham
Mưu Trưởng Quân Đội
Indonesia cùng một
số lớn các tướng
lănh cao cấp khác
như Tư Lệnh các Quân
Binh Chủng…24 giờ
sau, Thiếu Tướng
Suharto đảo ngược
t́nh h́nh, tất cả
các sĩ quan “cấp
tiến” tham dự cuộc
đảo chánh đều bị xử
bắn theo quân luật
mà không cần phải
đem ra ṭa thụ lư
hay xử án ǵ cả !!!
CIA biết được kế
hoạch đảo chán h của
các sĩ quan “cấp
tiến” trong đó họ bỏ
sót Tướng Suharto –
thời điểm 1965 chỉ
là Tư Lệnh một sư
đoàn bộ binh trong 2
sư đoàn trực thuộc
Quân Khu Thủ Đô
Jakarta. CIA thông
báo cho tướng
Suharto chuẩn bị sẵn
sàng hành động, cho
nên phe đảo chánh
c̣n đang bận truy
bắt các tướng lănh
khác, th́ Thiếu
Tướng Suharto và
binh sĩ dưới quyền
đă băt giữ được toàn
thể các sĩ quan
trong nhóm đảo chánh
này !!! (dĩ nhiên
danh sách người và
địa điểm đều do CIA
cung cấp)
Tướng Suharto và hệ
thống an ninh t́nh
báo của Indonesia đă
ra tay tàn sát tất
cả các đảng viên
Đảng Cộng Sản
Indonesia từ Tổng Bí
Thư Aidit (tôi không
nhớ được last name
của ông Aidit) cho
đến các cán bộ hạ
tầng cơ sở, số người
bị hạ sát được ước
lượng khoảng ½ triệu
người chỉ trong ṿ
ng 1 tuần lễ. Số
người chết được tàu
chở ra biển thả
xuống các vùng có
nhiều cá mập để
tránh bị ô nhiễm
trên mặt đất và nhất
là để xóa sạch các
dấu vết. Người Cộng
Sản thường nêu ra
châm ngôn “Giết lầm
hơn bỏ sót” để biện
minh cho “bạo lực
cách mạng” (kiểu
Cộng Sản), tuy thế
Tướng Suharto và hệ
thống an ninh t́nh
báo của Indonesia
lại áp dụng châm
ngôn này một cách
xuất sắc hơn hẳn 2
đàn anh vĩ đại của
thế giới Cộng Sản là
Liên Sô và Trung
Cộng ! Trong khi thế
giới chưa rơ chuyện
ǵ đă xảy ra tại
Indonesia, các tay
săn tin của các hăng
thông tấn Âu Mỹ -v́
không có mặt thường
xuyên ở Indonesia ,
vội vă xin giấy phép
nhập cảnh vào
Indonesia , tức cười
là khi các phóng
viên Âu Mỹ đến
Indonesia th́ không
thấy cái gọi là dấu
vết tàn sát diệt
chủng ǵ hết (làm
sao thấy được khi
các xác chết bị “cá
mập ” thanh toán gọn
ghẽ !!). Nói nào
ngay, cũng có phóng
viên của hăng thông
tấn Kyodo – Nhật Bản
hiện hữu trong những
ngày biến động nhưng
có một lư do đặc
biệt khiến các phóng
viên của hăng Kyodo
không dám đi ra
ngoài, xa thủ đô
Jakarta. Lư do đặc
biệt này là : hệ
thống an ninh t́nh
báo của Indonesia có
bằng chứng là cán bộ
ngoại giao của Trung
Cộng can dự vào cuộc
đảo chánh của các sĩ
quan “cấp tiến”, cho
nên Tướng Suharto đă
cho binh sĩ bao vây
cô lập Ṭa Đại Sứ,
sau đó ông tuyên bố
đoạn giao với nước
Cộng Ḥa Nhân Dân
Trung Hoa, các nhân
viên Ṭa Đại Sứ Cộng
Ḥa Nhân Dân Trung
Hoa bắt buộc phải
xuống tàu để trở về
lục địa Trung Hoa
trong ṿng 48 giờ.
Bên ngoài, dân chúng
căm ghét người Hoa
v́ l� � do kinh tế
nhiều hơn, nhân dịp
này đă tàn sát những
người Hoa làm ăn
buôn bán giàu có hơn
dân bản xứ. V́ người
Hoa và người Nhật có
nhiều điểm tương
đồng, nên Ṭa Đại Sứ
Nhật tại Jakarta đă
ra thông cáo kêu gọi
người Nhật không nên
ra đường, phải treo
cờ Nhật trước nhà,
các phóng viên người
Nhật phải gằn cờ
Nhật trước ngực và
sau lưng khi đi làm
việc. Thành thử, tuy
có phóng viên Nhật
mà họ lại không dám
đi xa để săn tin,
nên cũng chẳng có
mấy h́nh ảnh được
ghi nhận (nói theo
bài hát của nhạc sĩ
Trần Thiện Thanh là
“có cũng như không”
)
15.- Lá bài sử dụng
Tướng Suharto để đảo
ngược t́nh h́nh tại
Indonesia được giữ
kín hoàn toàn cho
đến phút chót, tuy
nhiên với quan niệm
“an toàn cho các bất
định” (hay có thể
hiểu là chính phủ Mỹ
t� � đặt ḿnh trong
t́nh trạng xấu nhất
– worst case – là
không thể sử dụng
được Tướng Suharto
v́ nhiều lư do khác
nhau không tiên liệu
trước được) cho nên
phải đem “đại quân”
vào Việt Nam pḥng
hờ cho chắc ăn. Khi
Tướng Suharto thành
công trong việc phá
tan Đảng Cộng Sản
Indonesia, th́ Tổng
Thống Johnson lúng
túng không biết làm
sao rút quân về,
phải đợi đến Tổng
Thống Richard Nixon
với “chương tŕnh
Việt Nam Hóa Chiến
Tranh ” từ 1969 tới
1972 mới đem được
binh đội tác chiến
trở về (chỉ giữ lại
các cố vấn quân sự
giống như hồi Tổng
Thống John F.
Kennedy với 16,000
quân nhân làm công
tác cố vấn và huân
luyện). Có 2 sự kiện
đă xảy ra mà rất ít
ai chú ư đến :
15A. Vào thời chiến
tranh Triều Tiên,
sau khi Đại Tướng
Mac Arthur – Tư Lệnh
Quân Đội Liê n Hiệp
Quốc chiến đấu tại
Triều Tiên – quyết
định đổ bộ Inchon,
đă cắt đứt được đại
quân của Kim Nhật
Thành, số tù binh
Bắc Hàn bị bắt tại
Inchon vượt hơn
100,000 người và
quân của Kim Nhật
Thành bị đẩy lui tới
sông Áp Lục (là ranh
giới của Bắc Hàn và
Trung Hoa) , Trung
Cộng huy động hơn 01
triệu “chí nguyện
quân Trung Hoa” do
Nguyên Soái Bành Đức
Hoài chỉ huy kéo
sang Bắc Hàn đẩy lui
quân Liên Hiệp Quốc
từ sông Áp Lục xuống
tận vĩ tuyến 38.
Chiến trận ác liệt
như vậy mà Hoa Kỳ
chỉ sử dụng có
250,000 quân tác
chiến. Trong khi tại
chiến trường Nam
Việt Nam, bộ đội của
Hồ chí Minh và Vơ
Nguyên Giáp vào thời
điểm 1965 có quân số
khoảng 200,000 và
cường độ giao tranh
th́ không ác liệt
bằng thời chiến
tranh Triều Tiên vậy
mà quân đội Hoa Kỳ
hiện diện tại miền
Nam Việt Nam lên tới
hơn ½ triệu người
cộng thêm với quân
đội VNCH và quân đội
của Đại Hàn + Thái
Lan + Úc + Tân Tây
Lan …th́ chẳng lẽ
chính phủ Hoa Kỳ
làm một công việc mà
người Việt Nam gọi
là “ giết gà mà dùng
dao mổ trâu ”hay sao
?
15B. Một tài liệu
của phía Bắc Việt
đưa ra một phần (chủ
đích của phe Lê Duẩn
đưa ra tài liệu này
với mục đích bôi nhọ
thanh danh của Đại
Tướng Vơ nguyên Giáp)
cho biết rằng vào
cuối năm 1964 nhận
được nhiều tin tức
thắng lợi từ chiến
trường miền Nam đưa
về, Bộ Chính Trị
Đảng Lao Động Việt
Nam nhóm họp đặc
biệt để bàn thảo về
công tác “tiếp thu
miền Nam”. Thời điểm
đó cũng có tin đồn
là Mỹ sẽ đem quân
tác chiến chính quy
vào miền Nam (sau sự
kiện chiếc tàu
Maddox của Hải Quân
Mỹ loan báo là bị
tàu của Bắc Việt tấn
công tại Vịnh Bắc
Việt – 20 năm sau
chính phủ Mỹ bạch
hóa hồ sơ vụ tàu
Maddox th́ công luận
mới biết là chính
phủ Johnson tạo dựng
vụ này để có cớ đem
quân vào Việt Nam),
được hỏi ư kiến, Đại
Tướng Vơ nguyên Giáp
trả lời : “nếu Mỹ
đem 10 vạn quân vào
miền Nam th́ chúng
ta khó có cơ hội
chiến thắng”. Chính
Lê Duẩn chê bai Vơ
nguyên Giáp là
“thằng chết dát” (nói
theo giọng miền Nam
th́ là “thằng chết
nhát” ). (Ghi chú
của người viết : ông
Lê Duẩn là người can
đảm hơn Đại Tướng Vỏ
nguyên Giáp v́ ông
ta đă đẩy 3 triệu
thanh niên miền Bắc
vào chỗ chết mà
trong 3 triệu người
chết này, không có
người nào là con
cháu của ông). Điều
đáng nói ở đây là
Đại Tướng Vơ nguyên
Giáp quá ngạc nhiên
khi T ổng Thống
Johnson quyết định
đem tới hơn ½ triệu
quân Mỹ vào miền Nam
Việt Nam, và cho đến
khi chết Tướng Vơ
Nguyên Giáp cũng
chẳng thể hiểu nổi
Tổng Thống Johnson
và chính phủ Mỹ lại
đi làm một chuyện
quá sức là phí phạm
như vậy ! Đại Tướng
Vơ nguyên Giáp là
người có ăn học nhất
trong Bộ Chính Trị
đảng Cộng Sản Việt
Nam, trải qua kinh
nghiệm chiến đấu
trực tiếp với người
Pháp và người Mỹ mà
c̣n không hiểu được
chính phủ Mỹ th́
huống hồ ǵ bọn lănh
đạo i tờ rít khác.
15C. Tất cả những
rắc rối của chính
trường miền Nam sau
cái chết của Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm
và cố vấn Ngô Đ́nh
Nhu trong 2 năm 1964
và 1965 đều do người
Mỹ khéo léo, kín đáo
xúi bẩy các tướng tá
tạm từ bỏ nhiệm vụ
hành quân diệt cộng
để đem binh sĩ về
Sài G̣n tranh dành
quyền hành, là một
cái bẫy đánh lừa
Việt Cộng. Thấy ngon
ăn nên các lănh tụ
Bắc Việt xua bộ đội
vào miền Nam mở các
trận đánh lớn mà
phần thương vong và
thất bại nghiêng về
phía Quân Đội Việt
Nam Cộng Ḥa, khiến
cho dân chúng và
giới chính tri sốt
ruột cảm thấy có nhu
cầu muốn yêu cầu
quân đội Hoa Kỳ vào
miền Nam Việt Nam
giúp đỡ và hỗ trợ.
Sau khi Thủ Tướng
Phan Huy Quát kư văn
thư mời quân đội Hoa
Kỳ vào Nam Việt Nam
th́ mọi cuộc “đảo
chính” (gỉa hay thật),
“biểu dương lực
lượng”…đều không
được ṭa đại sứ Mỹ
ủng hộ, đó là thời
kỳ mà 2 tướng Nguyễn
văn Thiệu và tướng
Nguyễn Cao Kỳ cầm
quyền từ ngày 19
tháng 6 năm 1965 trở
về sau. Thiếu Tướng
Lâm văn Phát đă qua
đời ở miền Nam
California từ vài
năm nay, nhưng khi
ông c̣n sống , có
một số người quen
hỏi ông là lư do nào
mà Thiếu Tướng đem
quân từ vùng 4 về
Sài G̣n “biểu dương
lực lượng” ? Thiếu
Tướng Lâm văn Phát
cho biết người Mỹ
họ yêu cầu ông làm
chuyện đó, rồi họ
bảo ông rút lui th́
ông rút lui, cho nên
ông thản nhiên khi
Tướng Thiệu và Tướng
Kỳ cho ông giải ngũ,
không bi phẫn , tức
giận và xuống tinh
thần như Trung Tướng
Dương văn Đức – cựu
Tư Lệnh Quân Đoàn IV
và vùng IV Chiến
Thuật.
16.- Tới năm 1966,
ngay tại Trung Hoa
Lục Địa biến cố CÁCH
MẠNG VĂN HÓA đột
nhiên bùng nổ, Chủ
Tịch Đảng Cộng Sản
Trung Hoa là Mao
Trạch Đông đă dùng
“Vệ Binh Đỏ” do Tứ
Nhân Bang gốc Thượng
Hải cầm đầu để thanh
trừng phe của Chủ
Tịch Nhà Nước là Lưu
Thiếu Kỳ ( Chú thích
của người viết : Tứ
Nhân Bang là 4 n
gười có tên là Giang
Thanh, Vương Hồng
Văn, Diêu văn Nguyên
và Trương xuân Kiều.
Sau khi hạ thủ được
phe cánh của Lưu
Thiếu Kỳ, măi tới
năm 1971, Mao Trạch
Đông hạ thủ luôn Lâm
Bưu và phe cánh của
Lâm Bưu …)
Người ta vẫn chưa rơ
Mao Trạch Đông căn
cứ vào tin tức nào
để phát động cuộc
Cách Mạng Văn Hóa
nhưng điều rơ ràng
nhất mà mọi người có
thể nhận thấy, đó là
Trung Cộng lo đối
phó với cuộc tranh
chấp quyền lực ngay
tại nội địa Trung
Hoa, nên cấp lănh
đạo của Trung Cộng
phải hủy bỏ chính
sách “xuất khẩu
chiến tranh giải
phóng “ ra khỏi địa
bàn các nước Á Phi
và Châu Mỹ Latinh.
Và nếu các đ̣n phép
và thủ đoạn chính
trị được xem là tṛ
chơi của MA và QUỶ,
th́ người ta cũng có
quyền nghi ngờ là có
bàn tay của CIA dính
líu vào vụ việc này.
Biết đâu chừng ???
Bà Nguyễn văn Thiệu
và bà Trần Thiện
Khiêm nói với các sĩ
quan thân cận là
Tướng Nguyễn văn
Thiệu và Tướng Trần
Thiện Khiêm quen
biết nhau và giao
hảo thân thiện từ
hồi 2 ông c̣n là
Thiếu Úy đóng ở căn
cứ Nà Sản giáp biên
giới Lào trong đầu
thập niên 1950.
Nhưng liệu t́nh thân
đó đủ mạnh để Đại Tá
Nguyễn Văn Thiệu –
Tư Lệnh Sư Đoàn 5
Bộ Binh, nghe theo
lời của Thiếu Tướng
Trần Thiện Khiêm làm
chuyện “động trời”
là đem hết Sư Đoàn 5
về Sài G̣n “đảo
chính” Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm.không
?, tôi nghĩ là KHÔNG.
Suy đoán ra , Đại Tá
Nguyễn Văn Thiệu
chịu sự điều động
của Tướng Trần Thiện
Khiêm trong biến cố
ngày 1 tháng 11 năm
1963 xuất xứ từ một
“giới chức cao cấp”
của Hoa Kỳ (là ai
th́ tôi không biết )
Năm 1969, khi Đại
Tướng Trần Thiện
Khiêm c̣n đang lông
bông ở nước Mỹ, sau
khi đẩy lui được phe
cánh Tướng Nguyễn
Cao Kỳ ra khỏi những
vị trí quyền lực
quan trọng, chả lẽ
Tướng Nguyễn văn
Thiệu “ưu ái” nhớ
đến “ông bạn thâm
t́nh năm xưa” gọi
Tướng Khiêm về Sài
G̣n để “chia xẻ
quyền lực “ ? Chắc
chắn là KHÔNG :
Tướng Nguyễn văn
Thiệu gọi Tướng Trần
Thiện Khiêm về chia
xẻ quyền lực v́
“giới chức cao cấp”
của Hoa Kỳ muốn như
vậy, nếu không,
chính phủ Hoa Kỳ sẽ
rút lại sự ủng hộ
Tướng Nguyễn Văn
Thiệu.
Những dẫn chứng mà
tôi vừa nêu ra là
những sự kiện lịch
sử có thật chứ không
phải là ư kiến phê
phán, những dẫn
chứng đó xác minh
cho người Việt Nam
chúng ta (kể cả ở
hải ngoại và ở trong
nước) rằng Đại T� �ớng
Trần Thiện Khiêm là
người được chính phủ
Hoa Kỳ tin dùng hơn
cả (nhận xét của
người viết bài : Đại
Tướng Trần Thiện
Khiêm xứng đáng với
sự tin dùng đó).
Sau biến cố 30 tháng
4 năm 1975, cựu Đại
Tướng Trần Thiện
Khiêm không xuất
hiện công khai,
không tuyên bố bất
cứ điếu ǵ, không
viết sách để biện
bạch hay thanh minh
bất cứ điều ǵ…vậy
mà cách nay khoảng 2
tháng, ông xuất hiện
trước Đại Hội của
Tập Thể Chiến Sĩ
VNCH và lên Đài
Truyền H́nh SBTN để
cho Việt Dzũng phỏng
vấn (có người c̣n
nói : “Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm mở
miệng chịu nói,
giống như “cóc mở
miệng, ắt là trời
sắp mưa ). Tôi xin
miễn lập lại những
lời “chửi rủa” Tướng
Trần Thiện Khiêm v́
thực ra từ trước tới
nay, Tướng Trần
Thiện Khiêm đâu có
care nhữ ng lời chửi
rủa (ngay cả những
lời khen , Tướng
Trần Thiện Khiêm
cũng không có ư kiến).
Tôi chỉ muốn nói
rằng chính trị là
một lănh vực phi vật
chất, cho nên chúng
ta đừng dùng con mắt
vật chất để luận xét
vấn đề (thêm nữa,
nếu con mắt vật chất
lại là Mắt Ếch và
Mắt Cá th́ thật là
tai hại). Dư luận
báo chí th́ cho rằng
, cựu Thiếu Tướng
Nguyễn Khắc B́nh rủ
rê Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm đi dự
Đại Hội Tập Thể
Chiến Sĩ để tăng uy
thế cho tổ chức này.
Theo ư kiến của
riêng tôi, cựu Đại
Tướng Trần Thiện
Khiêm chủ động muốn
xuất hiện công khai
để gửi những lời
nhắn nhủ cho các
lănh đạo của Việt
Cộng mà chính phủ
Hoa Kỳ muốn truyền
gởi . Tôi đoán cựu
Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm chủ động nhờ
cựu Thiếu Tướng
Nguyễn Khắc B� �nh
giới thiệu ông trước
Đại Hội Tập Thê
Chiến sĩ v́ :
@ Cựu Đại Tướng năm
nay đă 86 tuổi,
người duy nhất c̣n
sống tới ngày hôm
nay, một sĩ quan cao
cấp đă từng dính líu
trực tiếp đến những
biến cố chính trị
quan trọng từ 1960
đến 1975, cho nên
không thê có chuyện
muốn nhảy ra để làm
“lănh tụ” (Ở cái
tuổi gần 90, chưa
nhảy ra được th́ đă
chết v́ lư do tự
nhiên)
@ Cựu Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm không
phải là người muốn
“show off” hay “già
mà c̣n ham vui”
@ Những lời nói của
ông nhắm vào người
trong nước và Ban
Lănh Đạo Đảng Cộng
Sản Việt Nam v́
99.9% người Việt Hải
Ngoại chỉ “đi” Việt
Nam, chứ không thấy
ai “về” ở luôn bên
Việt Nam (tôi xin
dùng định nghĩa ĐI
và VỀ của b́nh luận
gia Đinh Từ Thức ).
Động lực ch� �nh để
nắm giữ quyền lực
chính trị hay thay
đổi quyền lực chính
trị phải là người
trong nước , người
Việt Hải Ngoại chỉ
yểm trợ mà thôi .
@ Người chiến binh
trẻ tuổi nhất của
Việt Nam Cộng Ḥa
vào thời điểm 1975
là 18 tuổi, tức là
sinh năm 1957 ; bây
giờ là năm 2010 sắp
sửa bước qua năm
2011, tức là người
chiến binh trẻ tuổi
nhất bây giờ cũng
được 53 – 54 tuổi,
một lứa tuổi theo
luật hành chánh VNCH
sắp hồi hưu, th́ làm
ǵ có thể bỏ tất cả
để trở về Việt Nam
đấu tranh với Việt
Cộng !!!
@ Những người phản
đối Tướng Trần Thiện
Khiêm cho rằng những
lời tuyên bố của
Tướng Khiêm có vẻ
“cầu ḥa” với Việt
Cộng và muốn hướng
Cộng Đồng Việt Nam
Hải Ngoại “bớt chống
Cộng”. Thực tế,
người Việt Hải Ngoại
biểu t́nh chống Việt
Cộng liên tục suốt
35 năm qua v́ họ căm
thù Việt Cộng đă gây
ra cho chính bản
thân và gia đ́nh họ,
chứ người Việt Hải
Ngoại biểu t́nh
chống Việt Cộng
không nghe lời bất
kỳ ai cả . Thí dụ :
2 cuộc biểu t́nh vĩ
đại của người Việt
Hải Ngoại vào ngày
22 tháng 2 năm 1999
và ngày 26 tháng 2
năm 1999 để chống
tên Trần Trường treo
cờ Việt Cộng và h́nh
ảnh của tên giặc già
Hồ chí Minh, 2 cuộc
biểu t́nh quy tụ mỗi
cuộc khoảng 30 đến
40 ngàn người (có
đài TV Mỹ quay từ
trên trực thăng đàng
hoàng) , tuy địa
điểm biểu t́nh là
thành phố
Westminster của
Orange County nhưng
có cả người Việt ở
San Diego County,
San Bernadino
County, Riverside,
Los Angeles County,
xa xôi như người
Việt ở Sacramento,
San Franscisco, San
Jose…cũng tham dự.
Nên nhớ là tổ chức
Tập Thể Chiế n Sĩ
Việt Nam Cộng Ḥa
măi đến năm 2003 mới
được thành lập.
Với những dẫn chứng
vừa nêu, tôi nghĩ
rằng Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm đă dùng
diễn đàn của tổ chức
Tập Thể Chiến Sĩ
Việt Nam Cộng Ḥa và
dùng buổi phỏng vấn
của Việt Dzũng trên
đài SBTN như là “hộp
thư” để chuyển đạt
những lời nhắn gửi
của chính phủ Mỹ
muốn dùng người Việt
Hải Ngoại chuyển cho
người Việt trong
nước và các đảng
viên đảng cướp Việt
Cộng. Những lời nhắn
gửi thiết thực đó là
:
I.- Siêu cường Hoa
Kỳ đă muốn vào bất
kỳ quốc gia nào v́
quyền lợi thiết thực
của Hoa Kỳ th́ không
có một thế lực nào
có thể ngăn cản nổi.
Năm xưa Hoa Kỳ muốn
đưa quân vào Việt
Nam, Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm và Ṭa
Thánh Vatican chống
lại ư muốn này, kết
quả chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm bị lật đổ
và 2 anh em ông Ngô
Đ́nh Diệm và Ngô
Đ́nh Nhu bị sát hại.
Cận đại, Saddam
Hussein chống đối
việc Hoa Kỳ đem quân
vào Irak mặc dù có
Pháp, Nga , Trung
Cộng và Đức hậu
thuẫn cũng không có
cản được Hành Pháp
Hoa Kỳ ra lệnh xuất
quân, kết quả Saddam
Hussein bị xử tử.
Ngoại trưởng Hillary
Clinton tuyên bố rơ
ràng tại Hà Nội là
Hoa Kỳ bảo vệ quyền
tự do đi lại tại
Biển Đông và Trung
Cộng sử dụng sức
mạnh quân sự và sức
mạnh kinh tế để o ép
các quốc gia Đông
Nam Á là điều Hoa Kỳ
không chấp nhận được.
Như vậy anh chàng
lănh đạo nào của
Việt Cộng muốn đi
theo Trung Cộng để
mà cản trở Hoa Ky
th́ hăy trông gương
Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm và Tổng Thống
Saddam Hussein.
II.- Siêu cường Hoa
Kỳ xét thấy quốc gia
nào không có lợi cho
quyền lợi của Hoa Kỳ
th́ dù có bị khiêu
khích, có bị chọc
phá hay năn nỉ thiết
tha đi nữa, Hoa Kỳ
cũng không thèm vào.
Bắc Hàn (với thủ
lănh Chí Phèo Kim
Chính Nhật )đă bao
lần đe dọa tấn công
Nam Hàn, đă hơn 2
lần nổ thử bom
nguyên tử chỉ để
được nói chuyện tay
đôi với Hoa Kỳ mà
cũng không được đếm
xỉa tới : Hoa Kỳ lập
đi lập lại Bắc Hàn
phải đi họp Hội Nghị
6 Bên vô điều kiện.
Cuba cũng vậy, lúc
th́ làm ḿnh làm
mẩy, lúc th́ năn nỉ
ỉ ôi, nhưng Hoa Kỳ
th́ vẫn kiên quyết
:” c̣n Cộng Sản th́
c̣n cấm vận” (và đă
cấm vận từ 1959 đến
giờ -2010 ). Cả Phi
Châu cũng vậy, tàn
sát diệt chủng, nội
chiến, không có
lương thực con
người chết đói hàng
loạt… nhưng siêu
cường Hoa Kỳ vẫn
làm lơ như đă từng
làm lơ từ trước tới
gi� �.
III.- Siêu cường Hoa
Kỳ có sức mạnh tuyệt
đối “Muốn vô là vô,
Muốn ra là ra” miễn
là quyền lợi của Hoa
Kỳ không bị sứt mẻ
hay nền an ninh của
Hoa Kỳ không bị suy
suyển. Biến cố 30-4-
1975, mấy anh Việt
Cộng cứ khoác lác là
“chiến thắng thần
thánh”, th́ mới đây
Cựu Ngoại Trưởng
Henry Kissinger
tuyên bố : “ Hoa Kỳ
muốn rút chân ra
khỏi Việt Nam nên bỏ
rơi chính phủ Việt
Nam Cộng Ḥa, chứ
QLVNCH không có lỗi
ǵ cả” Nhiều cựu
quân nhân VNCH hể hả
v́ cho rằng
Kissinger đă thú tội
, nhưng chẳng có ai
nghĩ là Kissinger đă
đang “dạy dỗ” bọn
lănh đạo Việt Cộng ,
dập tắt cái hào
quang ảo tưởng mà
bọn Việt Cộng tự gắn
cho chúng, mục đích
của Kissinger cũng
ngầm bảo các anh
lănh đạo Việt Cộng
mà theo Trung Cộng
cản trở Mỹ th́ cũng
bị tiêu diệt mà
thôi, anh nào thuận
theo chính sách của
Hoa Kỳ th́ đất nước
c̣n được Hoa Kỳ viện
trợ, cá nhân và con
cháu trong gia đ́nh
th́ c̣n được qua Mỹ
du học và đầu tư làm
ăn sinh lợi..v…v..
IV.- Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm kêu gọi
người Việt nhất là
giới trẻ góp ư với
Đảng Cộng Sản v́
Đảng Cộng Sản sắp
họp Đại Hội để “họ”
lắng nghe ư
kiến…Theo tôi,
“người Việt nhất là
giới trẻ” là nói
người Việt trong
nước” chứ người Việt
Hải Ngoại có nói th́
bọn lănh đạo của
Việt Cộng đâu có
thèm nghe (bọn Việt
Cộng chỉ thích người
Việt Hải Ngoại gom
tiền đưa cho chúng
tiêu xài chứ không
muốn nghe những lời
đóng góp). C̣n giới
trẻ của người Việt
Hải Ngoại th́ không
rành tiếng Việt th́
biết ǵ mà đóng góp
!!!
Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm muốn nói những
người lănh đạo Việt
Cộng nên nghe theo
sự đ̣i hỏi và yêu
cầu của người dân
trong nước để mà
thay đổi v́ nếu
không thay đổi th́
sẽ đến lúc Đảng Cộng
Sản và tất cả các
đảng viên sẽ nhận
lănh hậu quả như
Đảng Cộng Sản
Indonesia đă nhận
lănh hậu quả hồi năm
1965.
Nếu đồng ư với những
nhận xét của tôi
trong bài viết này,
xin tất cả các quư
thân hữu chuyển gửi
bài viết này đến tất
cả diễn đàn mà quư
thân hữu quen biết.
Ngay cả không đồng
ư, cũng xin viết bài
phản bác trong tinh
thần đứng đắn và
nghiêm chỉnh, nên
tránh những bơi móc
tiểu tiết kiểu xỏ lá
ba que b́nh dân vô
giáo dục để độc giả
khỏi phí th́ giờ vô
bổ.
Trân trọng kính
chào.
San Jose, ngày 22
tháng 11 năm 2010