NHẬN ĐỊNH :    Dưới đây là tài liệu bịa đặt do 1 tên gọi là

                                          "sử gia" gnđđ@cia.us  tiếp tế cho Cờ Máu.

Tài liệu gồm những điều khó tin mà nó cho in thành sách để mạ lỵ.

Tôi minh định rằng

 

Không ai chối căi được là khi làm quan tại Miền Trung thời vua Khải Định, ông Ngô Đ́nh Diệm luôn luôn thanh liêm và thương dân, cho nên khi ông Diệm bị Việt Minh bắt, tại các tỉnh miền Trung dân chúng phản đối, khiến cho Việt Minh phải thả.

 

Nếu ông Diệm tàn ác th́ làm ǵ mà Việt Minh không thanh toán được ông.

Rồi Việt Minh lại bắt ông Diệm ở Huế, đưa ra giam giữ ở Bắc Kỳ, may nhờ được Tổng Giám mục Lê Hữu Từ, cố vấn của Hồ Chí Minh, bảo lănh (cho nên chúng không giết được ông Diệm).

Đọc tài liệu sau đây mới thấu triệt được cái gian manh và ngu dốt của cán bộ Nguyễn Mạnh Quang đến mức độ nào.

Thật vô cùng thảm thương v́ CIA cổ vơ cho "sử gia" nô đánh phá nạn nhân đă bị chúng giết để biện minh cho sự giết người của chúng là đúng.

Trân trọng,  

Bùi Như Hùng

Ngày 20 tháng 10 năm 2010

buinhuhung@hotmail.com

  

 

 

 

Đây là tài liệu bịa đặt để đánh vào uy tín của TT Ngô Đ́nh Diệm

 

 

 

From: Tony Nguyen <linhtaubay@yahoo.com>
To: Hoa Binh <tyvn1975@yahoo.com>; Tu Tran <trantu60@yahoo.com>; Ph Nguy <nguyenphuoc475@yahoo.com>; bờM® ™ (via Multiply) <multiply@multiply.com>; Che Trung Hieu <chetrunghieu@gmail.com>; Che Trung Hieu <chetrunghieu@vnn.vn>; hoi@hoitrinh.com; abc cba <nnl1999@yahoo.com>; Toasoan <sachhiem@nventure.com>; Richard Nguyen <rnguyenl@yahoo.com>; têhát <aphan75@yahoo.com>; Zuyen Hong Tran <vnnvets@gmail.com>; Cong & Xuan <congxuan77@yahoo.com>; Saigon Moi <newsaigonsd@yahoo.com>; tuanphanhn <phanthanhtuan@gmail.com>; Hoang Tuan <hoanganhtuan37@gmail.com>; Hoang Hai Peter <peterhoanghai@gmail.com>; Ngo Minh Hang <Nmh5475@aol.com>; kimthanh luatsu <antamtru@gmail.com>; kim phuong <kimphuong19@yahoo.com>; Kim Oanh Nguyen <kimoanh07@aol.com>; Gop gio <gopgionews@yahoo.com>; Aladin Nguyen <quatloiphong7@yahoo.com>; Bo Vu <luudanset72@yahoo.com>; satan_loves_you@ymail.com; "bao que me <queme@free.fr> michael bui <michaeltrubui@yahoo.com> Bui Trung-Truc <buitrungtruc87@yahoo.fr> Nguoi Thong Tin <bachinkhongba@yahoo.com> Ba Nguyen <batuongnguyen@hotmail.com> BBT <saigononlinenews@gmail.com> BangHoang <hoangraphic2000@yahoo.com> Dang Nguyen Ba <nguyenbadang2007@gmail.com> Ba Dam <tranbadam@yahoo.ca> chi Bao Kiem <baokiem2006@yahoo.com> BacKieu Phong <backieuphong100@yahoo.com> mxhien <mxhien@gmail.com> cuoc le <cle7754@gmail.com> Nguyen Le Nhan Quyen <lnquyen@infomaniak.ch> Le Tran <usabinhthuan@yahoo.com> <lechauvo@att.net> My Linh Le <lethimylinh@gmail.com> Le Minh Ngoc <leminhngoc99@yahoo.com> Le Tran <letran4820@hotmail.com> Quan Le <quanle73@yahoo.coCc: <antamtru@gmail.com>Hoan Vu <namkydicu@yahoo.com> Vietland Staffs <bbtvietland@gmail.com> nhu hung bui <nhuhungbui@yahoo.ca>" <hiephoi.vpef@gmail.com>; francois. ton <francois.ton@free.fr>; hieu ngo <ngochieu43@yahoo.co.uk>; Newel82 Phan <newel82@gmail.com>; phan bich hanh <pbichhanh@yahoo.com>; vuathao@gmail.com; Ms NH Quang <quangpastor@gmail.com>; Viet Linh <Trunglinh67@yahoo.com>; CĂ phĂª tĂ¡Â»âi <caphetoi@gmail.com>; cafe sang vgcs <cafe.sang702@gmail.com>; Nguyen Cao Ky Duyen <nguyen_cao_ky_duyen@yahoo.com>; Reagan Cao <reagancao@yahoo.com>; Duyen Dang Trinh <trinhduyendang@gmail.com>; phuclam_tcn@sbcglobal.net; Phuc Nguyen <phucnguyen200@yahoo.com>; NGUYEN PHUC LIEN Dr <wim-impact.drlien@bluewin.ch>; luu vu <luuvu44@yahoo.com>; Giang Lu <lugiang2003@yahoo.com>; Hoan Vu <namkydicu@yahoo.com>; Bac ky Di cu <backydicu@gmail.com>; Loan Lê <loanle72@yahoo.com>; Binh Vu <bietdongquan65@yahoo.com>; Tony Ngo <lawb4equity@yahoo.com>; Hoai Viet Le <le.hoaiviet@yahoo.com>; dinhviettu@gmail.com; Vinh Chau <vinhchau1943@yahoo.com>; Chau Nguyen <vinhchau1208@yahoo.com>; Nhu Khong <nhu.khong@yahoo.com>; Nhuan Xuan Le <LeChanNhan@yahoo.com>; VietHai Tran <viethai712@yahoo.com>; Viet Si <vietsi2002@yahoo.com>; VietDzung <vietdzung@aol.com>; ly tong <LyTongODen@yahoo.com>; ly vanxuan <lyvanxuan2006@yahoo.de>; lytranlenguyen75@yahoo.com; Ninh Le <ninhvle@gmail.com>; Le Tran <letran4820@hotmail.com>; lethutruc@gmail.com; phamduy@aol.com; “thao vu a” <rev.vuathao@gmail.com>; Vuong Nghia <nghiavuong59@yahoo.com.vn>; Vuong Vu <vdv41@yahoo.com>; an song <songan65@gmail.com>; thegioivihoabinh@gmail.com; Al Hoang <hoangduyhung77584@yahoo.com>; HungViet Bui <hungviet_b@yahoo.com>; nhu hung bui <nhuhungbui@yahoo.ca>; michael bui <michaeltrubui@yahoo.com>; quai vat <quaivat1@gmail.com>; Binh Khanh <bkhanh44@yahoo.com>; dacle@cox.net; AndyPh <anhphgt33@gmail.com>; Ho Cong Tam <hocongtam@gmail.com>; Quan Le <quanle73@yahoo.com>; PETER NGUYEN <uniser@verizon.net>; DAVE THAI <dave.thai@hotmail.com>; Nguyet-San Viet-Nam <nsvietnam@yahoo.com>; diendanviahe@yahoogroups.com; Do Quang <doquangnc@gmail.com>; Anh Van <thacmactienganh@gmail.com>; chetrungquan52@gmail.com; coithienthai1923@yahoo.com; NguoiVietQuocgia <nguoivietquocgia@yahoogroups.com>; Toasoan <sachhiem@nventure.com>; coithienthai1923@yahoo.com; Muoi Do <khonnandomuoi@gmail.com>; coithienthai1923@yahoo.com; Hồ Văn Thuận <huwenshun@gmail.com>; vn-online@googlegroups.com; tinhay <tran.minhtri@laposte.net>; chetrungquan52@gmail.com; david <thuanmac@earthlink.net>; Tamika Ito <daimyo981@yahoo.com>; Hanh <hanhseden@gmail.com>; DAVE THAI <dave.thai@hotmail.com>; vanlang@hotmail.com; Lelytran63@aol.com

Sent: Mon, October 18, 2010 11:51:00 AM
Subject: [diendanviahe] Re: Cato giao tam dai Viet gian Ngo Dinh

 
 

 

NGÔ Đ̀NH DIỆM: CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC

Giao su su hoc Nguyen Manh Quang, USA


 

IX.-  MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN NGƯỢC CỦA ÔNG DIỆM

 

Thông thường, người Việt Nam đều biết rằng:

1.- Đàn ông mà có cặp  mắt “trắng bệch” là hạng người gian tham và ác độc, và những nguời  “vô tu” là hạng người “bất ngh́”,

2.- Bất kỳ người nào có cặp mắt hay “nh́n trộm”, “tṛng trắng nhiều hơn  tṛng đen”, “láo liên” hay “tṛng đen chạy long x̣ng xọc trong tṛng trắng” hoặc mắt “chớp chớp” khi nói chuyện với một người nào, th́ nhiên là người đó là quân lưu manh gian ác, tàn ngược và có bản chất phản trắc.

Ngô Đ́nh Diệm có những  ác tướng thể hiện ra trên diện mạo như “bạch diện vô tu” và cặp mẳt “trắng bệch, tṛng trắng nhiều hơn  tṛng đen” lại hay “nh́n trộm”. Tất nhiên là những ác tính này sẽ biến thành hành động vào những khi có hoàn cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực trong tay. Diệm đă từng hành xử quyền hành trong những năm làm quan với quan thày Pháp và Vatican trong những năm 1922-1933 và hơn chín năm được Liên Minh  Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá tŕnh nắm giữ quyền lực trong tay như vậy, tất nhiền,  những ác tính Da-tô và ác tính bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông ta đă có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện để biến thành không biết bao nhiêu tôi ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam. 

Căn cứ vào sách sử,  ông Ngô Đ́nh Diệm đă phạm tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt Nam bằng những hành động “cơng rắn cắn gà nhà” và bạo ngược đối với nhân dân khi làm quan trong chính quyền bảo hộ Pháp - Vatican trong những năm 1922-1933 và khi được Hoa Kỳ và Vatican cho nắm giữ các chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam trong thời gian 1954-1963 ở miền Nam. Dưới đây là một số  bằng chứng về những hành động tội ác của ông ta:

1.- Khi được bổ nhậm làm tri phủ  ở miền Trung, ông Diệm đă có những hành động tàn ngược và dă man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:

Khi ông làm tri phủ Ḥa Đa đă nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp,  lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dă man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi,  bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực h́nh nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dă man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”[i]

2.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam Việt Nam từ ngày 7/7/1954 cho đến 1 giờ trưa ngày 1/11/1963, Diệm đă cho thi hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực khiến cho hơn 300 ngàn người bị sát hại, cùng với hơn nửa triệu người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dă man. Vấn đề này đă được người viết tŕnh bầy đầy đủ trong nơi các trang 124-133  trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Ḥa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), và sẽ được nói rơ trong mấy chương sách nằm trong Mục XX ở sau.

3.- Ngày 30/11/1961, Diệm đă hí hửng và hồ hởi đồng loă với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lănh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

 

Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đ́nh Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt.  Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ măn.”[ii]

V́ thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:

Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam  và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.[iii] .

Việc làm dă man này  không biết đă sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, và hậu quả của việc làm này cho đến ngày nay vẫn c̣n gây hại cho đất đai, cây cối, mù a màng, sinh vật và nhân dân ta trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay,   chính phủ Việt Nam đă và đang kiện đ̣i chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về hậu quả ghê gớm của việc làm tàn ngược và dă man này, nhưng lại bị những người đồng đạo của ông Diệm chống đối cực lực. Sự kiện này càng chứng minh cho chúng ta thấy rằng một khi đă trở thành tín đồ Da-tô  th́ họ trở thành những phường vong bản, phản dân tộc, mất hết nhân tín và trở thành hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”

Tạm kể ra ba tội ác này cũng đủ cho  chúng ta thấy thằng bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm quả thật là hạng người “thiên cổ tội nhân” đối với dân tộc Việt Nam ta, và đúng là một trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.

 

X.-   NHỮNG THÀNH TÍCH PHẢN TRẮC CỦA NGÔ Đ̀NH DIỆM

 

Trong tiểu mục này, người viết chỉ nói đến ác tính phản trắc của Diệm mà thôi. Ác tính này có thể là theo truyền thống hay ḍng máu di truyền của gia đ́nh họ Ngô.  Do đó, chúng ta cũng nên t́m hiểu xem gia đ́nh Diệm có đặc tính phản trắc này hay không, rồi sau đó sẽ nói đến thành tích phản trắc của chính cá nhân Diệm.  

A.- Về truyền thống gia đ́nh của Diệm, theo tác giả Giuse Phạm Hữu Tạo, chủ bút mang lưới dongduongthoibao.net và cũng là tác giả bài viết Quốc Kỳ Việt Nam đăng trong dongduongthoibao.net,tháng 12/2005, ḍng họ Ngô Đ́nh khởi đầu làm Việt gian bán nước cho cả hai đế quốc Vatican và Pháp từ  đời Ngô Đ́nh Niệm, tức là ông nội của Ngô Đ́nh Diệm. Dưới đây là nguyên văn lời ông Giuse Phạm Hữu Tạo viết:

“Chiến thuyền Pháp bắn phá và tấn chiếm Đà Nẵng vào năm 1858, có số giáo sĩ Tây và giáo dân Việt gian đón tiếp và xúi tấn công dứt điểm Huế. Trong số giáo sĩ có Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu có linh mục Nguyễn Trường Tộ đă cởi áo ḍng theo hầu), linh mục Pellerin, linh mục Huc, Caspar (tên Việt là Lộc có giáo dân Ngô Đ́nh Niệm là cha Ngô đ́nh Khả theo hầu), linh mục Nguyễn Hoàng…..đại quan thuyền trưởng Pháp đă không thấy vài trăm ngàn giáo dân Việt gian đón tiếp theo như những linh mục Tây phúc tŕnh.“[iv]

Đến đời thân phụ của ông Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Khả th́ lại c̣n ghê gớm hơn nữa. Đặc tính ghê gớm này được sách sử ghi lại rơ ràng. Sách Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật ghi lại việc làm ghê gớm của ông Ngô Đ́nh Khả như sau:

Theo tài liệu sử, Ngô Đ́nh Khả được Triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ công lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc Phan Đ́nh Phùng  và đặc biệt là đă đào mả cụ Phan (lấy xác cụ đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc súng để bắn cho tiêu tan  hài cốt cụ Phan: quả thật là một tên đại thần, đại gian đại ác.”[v]

B.- Về những việc làm phản trắc của Diệm.- Những việc làm phản trắc của ông Diệm đối với nhiều người đều được sách sử ghi lại  rơ ràng.  Dưới đây là một số những việc làm phản trắc của ông ta:

1.- Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, tức Bảo ĐạiPhản lại lời thề trung thành với Quốc Trưởng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu khi được bổ nhậm làm thủ tướng với toàn quyền quyết định về cả dân sự lẫn quân sự vào ngày 19/6/1954. Khi về Việt Nam cầm quyền và sau khi đă củng cố xong quyền lực, ông Diệm cho tổ chức ngày Trưng Cầu Dân Ư vào ngày 23/10/1955 để truất phế ông Bảo Đại, người mà chính ông ta đă làm tôi hai lần : (a) những năm tháng trước ngày 12/7/1933 và (b) những năm tháng sau ngày19/6/1954. Ta gọi hành động này là phản thần

2.- "Phản quốc và hại dân” qua những hành động tra tấn các nhà cách mạng chống Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican: Khi được Liên Minh Pháp – Vatican cho làm tri phủ ở Hoa Đa, Diệm đèn cầy sấy hậu môn để lấy khẩu cung hầu tâng công với quan thày Vatican và Pháp như đă kể trên. Trong thời kỳ nắm quyền cai trị miền Nam từ tháng 7 năm 1954 cho đến trưa ngày 1/11/1963,  ông đă phạm những tội ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam như đă nói ở trên. Ta gọi hành động này là phản quốc và người phạm tội phản quốc là Việt gian.

3.- "Phản trắc" và "tráo trở". Trong năm 1933,  ông Diệm có liên hệ đến âm mưu vận động cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne thân Giáo Hội La Mă trở lại Đông Dương để thay thế Toàn Quyền Pierre Pasquier (có tinh thần bất thân thiện với Giáo Hội La Mă). Âm mưu bị bại lộ cho nên mới bị Pháp sa thải. Sau đó,  tới đầu thập niên 1940, ông lại mưu toan liên kết với tín đồ Da-tô Cường Để ở Nhật để chống lại Pháp. Âm mưu này cũng bị bại lộ và bị Pháp bắt giam. V́ thế mới có chuyện Giám-mục Ngô Đ́nh Thục viết lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi Toàn Quyền Jean Decoux xin khoan hồng cho hai người em là Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu. Trong lá thư này, Giám-mục Thục có nói về công trạng đối với Pháp của thân phụ ông ta là Ngô Đ́nh Khả“đă nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu,… chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đ́nh Ohùng chỉ huy…” Những hành động như vậy gọi là phản chủ.

4.-  Phản lại Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đă cưu mang, lo lót chạy chọt cho ông về Việt Nam làm thủ tướng chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng rồi ông lại qua mặt Hoa Kỳ, dồn nỗ lực vào việc tiến hành kế hoạch "Da-tô hóa miền Nam Việt Nam" bằng bạo lực và bằng tất cả các phương tiện của chính quyền. Việc làm đại gian đại ác này hoàn toàn trái với Hiến Pháp Hoa Kỳ (trong đó có điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”), và đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Chính v́ thế mà nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới mới lên án chế độ của ông là chế độ đạo phiệt Da-tô, mới gọi ông là một “Spanish Inquisitor”, và sách sử mới ghi nhận ông là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. V́ bị nhân dân Hoa Kỳ chống đối dữ dội, chính quyền Hoa Kỳ mới ra chỉ thị cho ông phải sửa sai và thay đổi chính sách. Thay v́ phải sửa sai và thay đổi chính sách, ông lại t́m cách bắt tay với chính quyền miền Bắc để bắt chẹt (blackmail) Hoa Kỳ.  Hành động này được gọi là hành động phản chủ.

5.-  Phản lại bạn bè: Các ông Trần Văn lư, Tạ Chương Phùng, Lê Quang Luật, v.v… là những người bạn của ông từ cái thuở ông c̣n long đong với hai bàn tay trắng. Họ đă ủng hộ và hy sinh công lao, th́ giờ cũng như tiền bạc để cưu mang khi ông Diệm c̣n  lận đận. Sau khi lên cầm quyền, ông phản lại những người này nhưa hành động thủ tiêu người con trai của Cụ Tạ Chương Phùng là Tạ Chí Diệp, đối xử rất tệ với cụ Trần Văn Lư, lọai ông Lê Quang Luật ra khỏi chính quyền.[vi] Hành động này gọi là phản bạn.

6.- Phản lại tướng Tŕnh Minh Thế. Ông Diệm cho người thuyết phục ông Tŕnh Minh Thế đem lực lượng Cao Đài vơ trang về hàng. Ông Thế đă nghe theo, về hàng và được gắn lon thiếu tướng.   Sau đó, ông lại ám sát ông Thế. Đây là một trong hành động  phản trắc.

7.- Phản lại  Đại Tá Edward G. Lansdale: Đại Tá Edward G. Lansdale là người được Tổng Thống  Eisenhower cử sang Việt Nam làm cố vấn đặc biệt cho ông Diệm ở Sàig̣n và đă sang Việt Nam trước khi ông Diệm về nước cầm quyền. Vai tṛ và công ơn của Đại Tá Edward G. Lansdale  đối với ông Diệm như một vị sư phụ đối với một đệ tử yêu quư nhất trong truyền thống vơ lâm Trung Hoa. Đại Tá Edward G. Lansdale  đă lo cho ông Diệm đủ mọi thứ, từ miếng ăn, vấn đề an ninh ở trong dinh Độc Lập, lập kế hoạch đưa cả hơn 600 ngàn người Công Giáo Bắc Kỳ vào miền Nam làm lực lượng hậu thuẫn cho ông, ly gián, phá vỡ âm mưu đảo chánh của Tướng Nguyễn Văn Hinh trong những tháng 9-11/1954,  dạy dỗ ông cách ăn nói và hành xử với nhân viên cấp dưới, cách phân biệt những người xu thời nịnh bợ và những người mộc mạc chân thành ủng hộ ông, phải đối đăi tử tế với những người cộng tác chân thành như Tướng Tŕnh Minh Thế, chỉ bảo cho ông biết cung cách hành xử của một vị tổng thống ở một nước dân chủ, v v… Khi địa vị chưa vững, ông đă tỏ ra ngoan ngoăn nghe lời Đại Tá Edward G. Lansdale như một  môn sinh ngoan ngoăn nghe lời vị lương sư chỉ dạy. Nhưng khi chính quyền và địa vị đă củng cố và vững mạnh, những ác tính tiềm ẩn trong con người của ông đă biến thành hành động, cho người ám sát Tướng Thế bất kể ǵ cả lời khuyên dạy của Đại Tá Edward G. Lansdale . Hành động này gọi là phản thày.

8.- Phản lại lời cam kết với quốc dân miền Nam Việt Nam và những người chỉ huy cuộc đảo chánh 11/11/1960. Khi Dinh Độc Lập bị quân đội Nhẩy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại-tá Nguyễn Chánh Thi bao vây ngặt nghèo vào sáng sớm ngày 11/11/1969 và gửi tối hậu thư cho ông phải cải tổ chính quyền,  ông tuyên bố với quốc dân rằng ông “quyết định giải tán chính phủ hiện thời để các tướng lănh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa thành lập chính phủ lâm thời để có thể chiên đấu tiếp tục chống Cộng…”[vii] Nhưng chưa đầy 24 giờ sau, khi viện quân của Đại Tá Trần Thiện Khiêm từ miền Tây kéo về tới Phú Lâm, ông liền trở mặt, xóa bỏ hết những ǵ  ông tuyên bố ngày hôm trước. Đây là hành động phản dân.

9.-  Phản lại lời cam kết vào ngày 16/6/1963 với Phật Giáo. Việc tiến hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực đă làm nẩy sinh phong trào Phật Giáo tranh đấu để đ̣i b́nh quyền về tôn giáo. Dưới áp lực của Hoa Kỳ, ông đă cho thành lập một Ủy Ban Liên Bộ nói chuyện với phái đoàn Liến Phái của Phật Giáo:

Ngày 16/6/1963:  Hai Uỷ Ban Liên Bộ và Liên Phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận, ra một thông cáo chung xác định những điểm đă thỏa hiệp về cách treo cờ Phật Giáo và Quốc Kỳ; xét lại Dụ số 10 về phần quy chế tôn giáo; điều tra về các vụ bắt bớ, và khoan hồng cho những người tranh đấu cho Phật giáo; dành mọi sự dễ dàng cho các hoạt động tôn giáo; trừng trị những nhân viên có lỗi, bồi thường cho các gia đ́nh nạn nhân.”[viii] 

Bản thỏa hiệp vừa kư xong được mấy ngày, ông trở mặt.  Báo chí và đài phát thanh của Sàigon trở giọng mạt sát Phật giáo, cảnh sát và mật vụ vẫn tiến hành những chiến dịch truy lùng bắt giam và tra tấn Phật tử,  học sinh và sinh viên, các truờng học được lệnh đóng cử. Bản thỏa hiệp giữa Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật giáo được kư kết vào ngày 16/6/1963 tại giữa thủ đô Sàig̣n  bị ông Diệm liệng vào xọt rác. Đây là một hành động tráo trở hay phản phé

10.-  Phản lại lời hứa đă hứa với Đại-sứ Frederick Nolting: Việc chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bách hại Phật Giáo khiến cho Hoa Kỳ lo ngại và bị lên án v́ rằng vào năm 1954, chính Hoa Kỳ đă đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền rồi cưu mang chính quyền này kể từ đó. Cũng v́ vậy mà Đại-sứ Hoa Kỳ ở Sàig̣n là ông  Frederick Nolting được lệnh chủ chính quyền Hoa Kỳ đến gặp Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm yêu cầu (đúng ra là ra lệnh cho ông) phải giải quyết vấn đề Phật Giáo cho êm đẹp. Lần nào nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Đại-sứ Nolting cũng được Tổng Thống Diệm hứa rằng sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo theo tinh thần ḥa giải. Tuy là hứa như vậy, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm vẫn vi phạm những điều đă cam kết  trong bản thỏa hiệp mà Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật Giáo đă kư kết vào ngày 16/6/1963. Có thể v́  t́nh trạng này, đầu tháng 8/1963, Đại-sứ Noilting nhận được lệnh bị triệu hồi về Mỹ và chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tại Sàig̣n sẽ được ông Cabot Lodge sang thay thế. Trước ngày 15 tháng 8 năm 1963,  Đại-sứ Frederick Nolting đến Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm để từ biệt về Mỹ và yêu cầu ông Diệm hứa với ông rằng chính quyền ông Diệm không được dùng vũ lực tấn công các chùa chiền của Phật giáo. Tổng Thống Diệm đă long trọng cam kết với ông Noltting rằng ông sẽ không bao giờ tấn công Phật giáo. Được lời cam kết này của ông Diệm, ông Nolting yên trí trở về Hoa Kỳ và dự tính rằng sẽ báo cáo với Tổng Thống Kennedy bằng những lời lẽ bao dung cho anh em ông Diệm. Thế nhưng, trên đường về nước, khi tới Hawaii, ông Nolting được tin các chùa chiền ở trong các thành phố lớn ở Việt Nam bị quân chính phủ tấn công vào đêm ngày 20/8/1963 và ông Nolting đă tỏ ra vô cùng phẫn nộ về hành động phẳn trắc này của ông Diệm. Sự kiện này được sử gia John Newsman, người Hoa Kỳ, ghi nhận như sau:

Ngày 19/7 , ông Diệm lên đài phát thanh nói với đồng bào trong hai phút, bày tỏ ư muốn ḥa giải với phe Phật Giáo, nhưng ông nói với vẻ lạnh lùng và nhân nhượng rất nhỏ nhoi, chỉ vừa đủ làm cho t́nh h́nh dịu bớt. Hậu quả, vào tháng 8,  cuộc đấu tranh của Phật Giáo bộc phát trở lại: Khán giả truyền h́nh Mỹ được nh́n thấy các vụ tự thiêu vào những ngày 5, 15, và 18 (tháng 8) của 7 nhà sư và một ni cô. T́nh h́nh gia tăng đến mức căng thẳng từ giữa tháng 8 tưởng chừng như sắp nổ tung,  qua đến sáng ngày 21/8, “Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn,” và khuya hôm ấy, ông Diệm tuyên bố t́nh trạng thiết quân luật trên toàn lănh thổ và ông Nhu cho Cảnh Sát Chiến Đấu, một thứ Lực Lượng Đặc Biệt của riêng ông, tiến hành cuộc bố ráp các chùa và bắt giữ 1,400 Phật tử. Ông Nhu lợi dụng thiết quân luật để bắt bớ, nhưng che đạy bằng lệnh của các tướng vùng.

Hành động của ông Nhu  rơ ràng đă tạo ra bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ.  Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lên án các cuộc bố ráp các chùa chiền như sau:

“Dựa trên những tin tức từ Sàig̣n, rơ ràng chính phủ VNCH đă dùng những biện pháp đàn áp nghiêm trọng các nhà lănh đạo Phật Giáo Việt Nam. Hành động này tiêu biểu cho sự vi phạm trắng trợn các bảo đảm của chính phủ Việt Nam đă hứa theo đuổi chính sách ḥa giải với Phật Giáo. Hoa Kỳ muốn phàn nàn về  các hành động đàn áp như vậy.”

Ông Nhu cho cắt các đường dây điện thoại của Ṭa Đại Sứ. Các tướng lănh giận dữ đến Ṭa Đại Sứ và hỏi xem Hoa Kỳ có chịu ủng hộ đảo chánh hay không?

Lúc bấy giờ (Frederick) Nolting cùng (Henri Cabot) Lodge và (Roger) Hillsman đang có mặt ở Honululu, cảm thấy choáng váng v́ các biến chuyển ở Sàig̣n. Ông liền đánh điện trách ông Diệm rằng: “Đây là lần đầu tiên Tổng Thống đă tự phản bội với những lời hứa trước mặt tôi.” Hillsman mô tả giây phút Nolting trố mắt nh́n những ḍng chữ từ từ hiện ra trên máy viễn ấn kư như sau:

Tôi nghe có tiếng chửi đổng lúc chúng tôi đọc từng chữ trên máy. Cuộc tấn công được sắp xếp vào  thời gian giữa hai đại sứ cũ và mới thay đổi công việc.Ông Diệm đă cả gan dám bội ước và không dành một hành động nào để cứu văn danh dự cho Hoa Kỳ. Ông ta đă đặt chúng ta trước một chuyện đă rồi mà ông ta biết rơ đă làm tổn thương đến tinh thần thượng vơ và sự công minh của chúng ta,  và ông ta đă có những hành động kiêu căng, ngạo mạn v́ cho rằng chúng ta sẽ phải ngậm đắng nuốt cay như chúng ta đă từng chịu đựng trong quá khứ. Lúc ấy nét đau khổ lộ ra trên khuôn mặt của Nolting.”

Tuy nhiên, lần này Hillsman sẽ cố làm sao để không phải nuốt một viên thuốc đắng nào hết.” [ix]

Đây là một hành động phản bạn v́ rằng ông Đại Sứ Nolting được coi như là một người bạn khá thân với ông Diệm và đă che chở rất nhiều cho ông Diệm khi báo cáo về chính quyền Hoa Kỳ.

Trên đây,  người viết mới liệt kê ra có 10 lần ông Diệm đă có hành động phản trắc. Có thể c̣n có rất nhiều lần phản trắc khác nữa mà người viết không biết.  Với quá nhiều lần phản trắc như vậy, ta có thể nói đặc tính phản trắc của ông Diệm là bẩm sinh và cũng có thể gọi là bản chất. Giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa. V́ khó chừa, cho nên ông Diềm mới có nhiều lần phản trắc như vậy.

Không biết cái bản chất phản trắc này có hiện ra ở chỗ nào trên cơ thể của ông không? Được biết trong truyện Tam Quốc, cái tướng phản trắc của thằng Ngụy Diên hiện ra thành một cái bướu (cục u) ở nửa đầu phía sau, trên gáy của nó.

Nói về thành tích phản trắc của ông Ngô Đ́nh Diệm, sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:

Thái độ bất trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế,  chả trách nào ông Trần Văn Lư, một nhân sĩ Thiên Chúa Giáo miền Trung c̣n biết rơ xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đă lên án nhà Ngô là những kẻ mang mười chữ “bất”: Bất hiếubất trungbất nhânbất nghĩabất tài,bất tríbất côngbất minhbất tín và bất ḥa”.

Hơn ai hết, ông Trần Văn Lư có đủ tư cách để lên án anh em nhà Ngô mang mười chữ “bất”. Ông Diệm với ông Lư từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường, lại là đồng đạo và đồng hương (Trị Thiên), cùng là môn đệ của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lư cùng ở trong Phong Trào Cường Để;  năm 1945, ông Diệm đă cùng sống với ông Lư tại Đà Lạt một tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947-1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng “Giải Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể chế “Quân Chủ Lập Hiến”. Thời làm Thủ Hiến, ông Lư đă từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm họat động chính trị. Ngày ông Diệm mới về cầm quyền,  ông Lư bị Ngô Đ́nh Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông c̣n ở gần nhà ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông Diệm bắt giam v́ đă ở trong nhóm “Caravelle”.[x] 

Quân bất hí ngôn.” Làm vua hay tổng thống hoặc là nhà lănh đạo chính quyền phải “nhất ngôn cử đ́nh”, “lời nói như dao chém đá”, không được nói láo, không được nói chơi,  không được hứa cuội và phản phé với bất cứ người nào. Ấy thế mà ông Ngô Đ́nh Diệm, đường đường là một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam lại nói láo c̣n hơn cả cuội. Là một tổng thống của một nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến mà  bạ đâu ông cũng hứa cuội, cũng nói láo và cũng phản phé. Không những ông chỉ nói láo, hứa cuội và phản phé với người Việt Nam,  mà ông c̣n hứa cuội, nói láo và phản phé với cả nhà ngoại giao đại diện cho Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam. Hành động vô liêm sỉ này của ông đă khiến cho ông Đại Sứ Nolting đă phải “chửi đổng”. Như vậy là ông Tổng Thống Diệm đă làm nhục quốc thể. 

Thuộc từ “cuội” và danh từ “thằng Cuội” dành cho ông thiết tưởng rất đúng nhưng vẫn chưa đủ. Đúng là chỉ đúng với cái tíng gian dối hứa cuội và nói láo của ông ta mà thôi. Chưa đủ là v́ trong con người ông, c̣n có không biết bao nhiêu ác tính ghê tởm gấp ngàn lần ác tính hứa cuội và nói láo. Tất cả những ác tính này đều nằm trong 17 ác tính Da-tô mà người viết đă tŕnh bày ở trên, trong đó có ác tính phản trắc, bạo ngược và hiếu sát là ghê tởm nhất. Đối với những tín đồ Da-tô khác,  ác tính phản trắc, hiếu sát và bạo ngược là ác tính Da-tô, nhân tạo, do chính sách ngu dân và giáo dục nhồi của Giáo Hội La Mă tạo nên. Trái lại, riêng về trường hợp ông Ngô Đ́nh Diệm, như đă tŕnh bày ở trên, những ác tính này là bẩm sinh. Chính v́ vậy mà ông mang trong người không biết bao nhiêu là thứ “phản”: phản thần, phản quốc, phản dân, phản thày, phản chủ, phản bạn,  phản cấp trên, phản những người thuộc cấp. Xin tạm  gọi là “bát phản”. Ác tính “phản” của ông c̣n vượt xa cả ác tính “phản” của nhân vật  Ngụy Diên trong sách Tam Quốc Chí. Vậy th́ ta phải gọi ông ta là “Thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đ́nh Diệm”. 

Đối với Giáo Hội La Mă và xă hội Da-tô, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đ́nh Diệm được coi là mẫu người lư tưởng  và được suy tôn lên là “nhà chí sĩ yêu nước” và “nhà ái quốc” (của Đế Quốc Vatican). Nhưng đối với xă hội Đông Phương,  thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đ́nh Diệm này đă được ghi vào lịch sử là “một tên thiên cổ tội nhân” của dân tộc, và các nhà viết sử ở ngoài xă hội Da-tô cũng đă ghi nhận ông ta là một trong số một tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân lọai.

 

Hết Chương 63

Chú thích
 


[i] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327.

[ii] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

[iii] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171

[iv] Phạm Hữu Tạo. “Quốc Kỳ Việt Nam.” dongduongthoibao.net Tháng 12/2005.

[v] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ,1996), tr 18.

[vi] Xin xem sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Ḥa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 234-326, và phần kết luận ở sau .

[vii] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987), tr. 145.

[viii] Đoàn Thêm, Sđd., tr. 351.

[ix] John Newsman & Trần Ngọc Dung dịch, John F. Kennedy và Chiến Tranh Việt Nam (San Jose, CA: Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1993), tr. 327-329.

[x] Đỗ Mậu, Sđd., tr. 591..

 


 
Subject: Moi ac cam cua nhan dan the gioi

 

Mối Ác Cảm Của Nhân Dân Thế Giới

Đối Với Giáo Hội La Mă

Nguyễn Mạnh Quang

 bản in ¿ trở ra mục lục 02 tháng 4, 2010

 1 

LỜI NÓI ĐẦU

T́nh cờ, người viết thấy trong tờ nhật báo The Tacoma News Tribune số ra ngày 30/1/2010 có bản tin nói về chuyện “Giáo Hoàng gièm pha và phỉ báng cái mối ác cảm càng ngày càng lan rộng đối với đạo Ki-tô.” (Rome: Pope decries growing “aversion to Christianity”). Rồi ngày hôm sau, người viết lại được đọc bài viết “Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo Trên Diễn Đàn Điện Tử” của một giáo dân người Việt. Bài viết này chụp cái mũ “chia rẽ tôn giáo” lên đầu một số tác giả có những bài viết nói lên những sự thật về tính cách huyễn hoặc, phí lư, bịp bợm, loạn luân, loạn dâm, phi nhân, bạo ngược và dă man trong tín lư Ki-tô cũng như về những rặng núi tội ác cúa Giáo Hội La Mă chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Trong số nạn nhân bị chụp “cái mũ” này, có Giáo-sư Trần Chung Ngọc và cá nhân người viết. V́ vậy nhân cơ hội này người viết sẽ tŕnh bày cặn kẽ cho độc giả thấy rơ:

1.- Nguyên nhân đưa việc nhân dân thế giới có mối ác cảm đối với Giáo Hội La Mă,

2.- Nguyên do làm cho mối ác cảm này càng lan rộng và càng mănh liệt.

3.- Khổ nạn của những người nói lên những sự thật về những chủ trương, chính sách và những hành động bất chính, đại gian, đại ác của Giáo Hội La Mă.

4.- Chủ trương cố hữu của Giáo Hội La Mă là kỳ thị, hủy diệt các tôn giáo và các nền văn hóa khác bằng đủ mọi cách. Cho tới ngày nay, chủ trương này vẫn không thay đổi.

5.- Những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mă chống lại nhân loại và dân tộc Việt Nam ta.

Tập sách này chia thành những tiết mục như sau:

 

PHẦN I: Sự h́nh thành và khu rừng tội ác của GHLM

Chương 1: Tại sao nhân dân nhiều nơi trên thế giới lại thù ghét Giáo Hội La Mă?

Chương 2: Nhưng tại sao Ki-tô Do Thái không bị người dân đương thời thù ghét?

Chương 3: Quyền lực đưa Giáo Hội La Mă vào vực thẳm tội ác

Chương 4: Bạo ngược, và loạn luân hơn cả tội ác thường phạm

Chương 5: Quyền lực làm cho nội bộ xâu xé lẫn nhau và phân hóa

Chương 6: Như Chuyện Hà Bá Cưới Vợ

PHẦN II: Sự chống đỡ, chạy tội và nhận vơ

Chương 7: Giáo Hoàng Benedict XVI sỉ nhục những việc chỉ trích đạo Kitô

Chương 8: Cái xấu nhất trong những cái xấu, và cái ác nhất trong những cái ác

Chương 9: GH Benedict XVI nh́n nhận mối ác cảm của nhân dân thế giới

Chương 10: Phản ứng của giáo sĩ và giáo dân

Chương 11: Lấp liếm tội phản quốc: nhận vơ và căi ẩu

Chương 12: Về giáo sư Lê Hữu Mục

Chương 13: Chuyện đạo văn trong đạo Kitô

Chương 14: Ngôn từ quái đản và thói quen nói láo trong đạo Kitô

 

VÀO BÀI

Trước đây, vào cuối thập niên 1950, ông Phạm Văn Sơn đă biên soạn bộ sách Việt Sử Tân Biên (Glendale, CA: Đại Nam) gồm 7 cuốn, trung b́nh mỗi cuốn vào khoảng 470 trang. Tiếp theo, vào năm 1960, ông lại cho xuất bản cuốn Việt Sử Toàn Thư (Glendale, CA: Đại Nam) dày 744 trang. Đọc cả hai tác phẩm này, chúng ta thấy nội dung gần như hoàn toàn giống nhau, chỉ khác có một điểm là cuốn Việt Sử Toàn Thư là một cuốn sử tóm lược, và bộ sách Việt Sử Tân Biên gồm 7 cuốn là một bộ sách lịch sử Việt Nam được biên soạn công phu hơn với nhiều chi tiết hơn. Như vậy, chúng ta có đoán ra được ư muốn của tác giả là cuốn Việt Sử Toàn Thư dùng để dành cho tất cả những người yêu thích lịch sử t́m đọc và có thể tiếp nhận những nét chính trong đó một cách dễ dàng, c̣n bộ Việt Sử Tân Biên là để dành cho các sinh viên ban sử và các nhà nghiên cứu tham khảo.

Chúng ta cũng lại thấy vào năm 1967, sử gia Joseph Buttinger đă hoàn thành bộ sử Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praeger, 1967) gồm 2 quyển, dày 1346 trang. Sau đó, năm 1968, ông lại cho xuất bản cuốn Vietnam: A political History (New York: Frederick A. Praeger, 1967) dày 566 trang. Cả hai tác phẩm này đều có nội dung nói về lịch sử Việt Nam, nhưng cuốn Vietnam: A political History chỉ là một cuốn sử Việt Nam tóm lược, c̣n bộ Vietnam: A Dragon Embattled được tŕnh bày với rất nhiều chi tiết. Như vậy là chủ tâm trong việc biên sọan hai tác phẩm này của sử gia Joseph Buttinger cũng giống như chủ tâm của sử gia Phạm Văn Sơn biên sọan hai tác phẩm Việt Sử Toàn Thư và Việt Sử Tân Biên.

Tương tự như hai nhà viết sử Phạm Văn Sơn và Joseph Buttinger, từ năm 1997, người viết đă tiến hành biên soạn bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mă (chưa biết rơ là dài bao nhiêu trang – Chắc chắn số lượng trang không kém số lượng trang của bộ Việt Sử Tân Biên của ông Phạm Văn Sơn là bao nhiêu). Thế rồi, v́ nhu cầu của thời cuộc, từ đầu năm 2009, người viết lại biên soạn thêm tập sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam, và năm nay (2010), lại biên thêm tập sách này nữa. Cả ba tác phẩm này đều có chủ đề là Giáo Hội La Mă với ư chính là nói (1) về thủ đoạn mượn danh tôn giáo để lừa bịp người đời, và (2) về những hành động chính trị bất minh, bất chính, đai gian, đại ác của Giáo Hội La Mă chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Tuy nhiên, trong ba công tŕnh biên soạn này, mỗi tác phẩm có một số vấn đề được nhấn mạnh. Chủ đích trong việc biên soạn ba tác phẩm khác nhau này của chúng tôi th́ cũng giống như chủ đích như đă nói trên của hai nhà viết sử Phạm Văn Sơn và Joseph Buttinger.

Ngoài chủ đích như trên, tập sách này c̣n có mục đích giúp cho độc giả nh́n thấy rơ hơn về một số vấn đề liên hệ đến những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mă và nh́n thấy rơ giới tu sĩ và con chiên người Việt, nhất là bọn văn nô có mấy điểm đặc biệt là (1) “La Mă hơn cả La Mă” (2) ngoan cố, (3) lươn lẹo, gian manh, quỷ quyệt, xảo trá, (4) viết láo, viết bậy, viết bừa, căi chày, căi cối để chạy tội cho Giáo Hội la Mă và cho bọn con chiên Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp và cho Mỹ từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay.

Hy vọng tập sách nhỏ có thể giúp cho người Việt ở trong nước cũng như ở hải ngọai biết rơ về Giáo Hội La Mă và nếp sống văn hóa trong xă hội con chiên người Việt. Thiết nghĩ rằng, có biết rơ như vậy, th́ mới có thể thẩm định một cách đứng đắn và chính xác lư do TẠI SAO trong quá khứ họ lại cấu kết chặt chẽ với Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp Vatican (trong những năm 1858-1954) cũng như với Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican (1954-1975), và bây giờ, họ vẫn c̣n tiếp tục đánh phá chính quyền và nhân dân ta dài dài từ năm 2001 cho đến nay.

Tiếc rằng, v́ quá bận rộn trong việc tiếp tục đọc và sửa bản bộ sách Lịch Sử Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mă và tập sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam, cho nên người viết không có hoàn cảnh in và phát hành tập sách này. Chúng tôi mong ước cá nhân hay tổ chức nào có khả năng in ấn và phổ biến sâu rộng tập sách này cho nhiều người cùng đọc, đặc biệt nhất là để cho các em học sinh, sinh viên được biết rơ những sự thật lịch sử vốn đă bị bưng bít và bóp méo cho đến ngày 30/4/1975. Quư vị có thể liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ E-mail của Ban Biên Tập sachhiem.net. Chúng tôi chỉ yêu cầu để nguyên văn như bản chính gốc và ghi rơ tên tác giả. Có thế thôi!

Trân trọng và đa tạ,

Nguyễn Mạnh Quang

 

 

PHẦN I

TỔNG LƯỢC SỰ H̀NH THÀNH 
VÀ KHU RỪNG TỘI ÁC CỦA GIÁO HỘI LA MĂ

 

DẪN NHẬP

Đối với những người có lư trí để t́m hiểu sự vật và phân biệt được giữa cái đúng và cái sai, giữa cái thuận lư và cái nghịch lư, giữa nhân ái và bạo ngược, giữa nguyên nhân và hậu quả,  v.v…, th́ cái nền tảng hay căn bản (kinh thánh) của đạo Kitô không khác ǵ bọn người vu hích trong thời tối cổ ở Trung Quốc. Nói về cung cách làm ăn bất chính của bọn người vu hích ở Trung Quốc, sách Nho Giáo viết:

"Phàm người đời đă bị cực khổ mà lại học hành không có, việc hay dở không biết thế nào, tất là phải ch́m đắm vào những điều mê hoặc và tin những việc quái lạ. Vu là người con gái và hích là người con trai làm nghề đồng bóng, tức là bọn đồng cốt thày cúng, thày pháp, v.v... lấy điều cát hung, họa phúc, dùng những phương thuôc huyễn hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem sự thần thánh ma quỉ mà dọa nạt người thường để làm nghề kiếm ăn. Ở nước Tầu, về đời Thượng Cổ, bọn vu hích có thế lực rất mạnh, thậm chí nhà nào cũng thờ quỉ, thờ thần. Cổ thư nói rằng, "dân thần tạp nhụ, gia vi vu sử: Dân với thần lẫn lộn, nhà nào nhà ấy cũng có vu sử." Nhà vua thấy thế mới sai quan định rơ việc thần và việc người để ngăn cấm bọn vu hích làm mê hoặc ḷng người. Thiên Lữ h́nh trong Kinh Thi nói rằng: "Mệnh, Trọng, Lê tuyệt địa thiên thông, vơng hữu giáng cách : Vua sai họ Trọng, họ Lê định điển lễ rơ ràng, để phân biệt việc người việc thần, không cho người ta nói bậy là thế nào thần cũng giáng, hay dùng cách không chính đáng mà cũng cảm cách được đến thần." Đế vương đời trước cho dân mê tín những sự yêu quái, là v́ không hiểu rơ cái chính lư của trời đất, không phân biệt điều thiện điều ác, cứ hay t́m mối họa phúc ở chỗ mơ màng mờ mịt. Vậy nên định rơ việc thờ cúng để chính ḷng người và làm cho rơ đạo thường.

Tuy vậy, ḷng người vẫn bị những vật dục làm mờ tối đi, thành ra thế lực của bọn vu hích càng ngày càng mạnh. Về sau vua phải đặt: "Tư vu chưởng quần vu chi chính lệnh : Quan tư vu cai quản và sai khiến bọn vu nhân" (Chu Lễ : Tư vu). Xem thế biết rằng đạo thánh hiền tuy là công chính, nhưng vẫn không có thế lực bằng cái thuật của bọn vu hích. V́ đạo của thánh hiền chỉ riêng cho những người đi học mà thuật của bọn vu hích th́ lan ra khắp cả bàn dân thiên hạ."[1]

Đọc qua bản văn trên đây, rồi đọc thêm câu chuyện Hà Bá Lấy Vợ (Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc & Từ An Trần Lên Nhân, Cổ Học Tinh Hoa – Quyển Thứ Nhứt (Glendale, CA: Tinh Hoa Miền Nam, tr. 34-35), và đọc thêm kinh thánh Kitô, chúng ta thấy rằng ngay từ thời thượng cổ, ở Đông Phương cũng như ở Tây Phương và ở Trung Đông, tất cả đều có bọn người lưu manh bịa đặt ra những chuyện hoang đường về quyền năng và rất nhiều ác tính của các ác thần trong đó có cả những đ̣i hỏi cực kỳ ngang ngược, và phi lư. Đạo Ki-tô gọi các ác thần này là Chúa Trời, Chúa Cứu Thế, trong khi bọn thày cúng đồng cốt ở trên ven sông Chương Hà ở nước Ngụy, Trung Quốc là thần sông (hà bá).

Dă tâm của họ nói chung là dùng những ác thần này để mê hoặc, lừa bịp và hù dọa người đời hầu thỏa măn những mưu đồ bất chính. Tệ hơn nữa, bọn người lưu manh này luôn mưu đồ cấu kết với cường quyền để cưỡng bách người dân dưới quyền phải tuân thủ những điều chúng bịa đặt ra. Tính cách lưu manh nổi bật nhất trong những điều chúng đ̣i ḥi là phải đóng góp tiền cho chúng thu vơ, và phải lao động không công (làm nô lệ) cho chúng trong những dự án xây cất nơi thờ cúng, và các xí nghiệp kinh doanh của chúng. Việc làm này được chúng ngụy tạo là “phục vụ Chúa” hay “cúng thần”. T́nh trạng này quả thật là một vấn nạn trong xă hội loài người khi mà t́nh trạng dân trí c̣n quá thấp kém và những phát minh khoa học hay những phương pháp luận lư, những triết lư chưa đủ phổ biến hay chưa được tiến đến tột đỉnh để giải quyết tất cả những âu lo của loài người.

Cùng đứng trước vấn nạn như vậy, người dân Đông Phương may mắn có được các bậc đại hiền có khả năng nh́n xa trông rộng, sớm nhận thực được cái mối đại họa này. V́ thế mà họ đă cố gắng t́m ra được những biện pháp giải quyết bằng cách khẳng định rằng (1) đạo đức và tôn giáo là hai phạm trù khác nhau, (2) cần phải phân biệt rơ ràng, và (3) phải đặt tôn giáo dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của chính quyền. Đoạn văn chót trong bản văn nói trên cho chúng ta thấy rơ như vậy. Xin ghi lại đọan văn này để độc giả dễ dàng theo dơi:

“Tuy vậy, ḷng người vẫn bị những vật dục làm mờ tối đi, thành ra thế lực của bọn vu hích càng ngày càng mạnh. Về sau vua phải đặt: "Tư vu chưởng quần vu chi chính lệnh : Quan tư vu cai quản và sai khiến bọn vu nhân" (Chu Lễ: Tư vu). Xem thế biết rằng đạo thánh hiền tuy là công chính, nhưng vẫn không có thế lực bằng cái thuật của bọn vu hích. V́ đạo của thánh hiền chỉ riêng cho những người đi học mà thuật của bọn vu hích th́ lan ra khắp cả bàn dân thiên hạ."

Nói rằng đạo đức và tôn giáo là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt nhau. Vậy hai phạm trù này khác nhau như thế nào?

Xin thưa rằng, đạo đức là những ǵ cực kỳ nhân bản, vô cùng vô tư và hết sức vị tha mà người ta c̣n gọi là “công đạo”. Trái lại, tôn giáo th́ nặng tính cách chủ quan, phi nhân bản, nặng ḷng thiên vị, vị kỷ, lắt léo, lươn lẹo, lố bịch và trịch thượng.

Nhận xét: Từ căn bản này, chúng ta có thể nói rằng, tiêu chuẩn để cho mọi người trong xă hôi Ki tô giáo hành xử và đối đăi với nhau là dựa theo (1) tín lư Ki-tô nặng tính cách phi nhân và bạo ngược, và (2) những lời dạy trịch thượng và bịp bợm của Giáo Hội La Mă, chứ không sống theo nếp sống đạo lư (đúng nghĩa của đạo lư) như ở Đông Phương. V́ thế mà những tín hữu Ki-tô ngoan đạo đă trở thành loại người “lạc lơng, vong bản, mất hết nhân tính, đặc biệt là đối với những người ngoài đạo Ki-tô”. Cung cách hành xử của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cùng nhóm tu sĩ áo đen và đàn cừu non ngoan đạo người Việt ở trong nước cũng như ở hải ngoại ngày nay trong mấy năm gần đây nói lên sự thật này.

V́ đạo đức có những đặc tính vô tư, vô vị lợi và hết sức cao đẹp, cho nên giá trị của nó phải được đặt lên trên giá trị tôn giáo và nếu có xung đột hay mâu thuẫn giữa đạo đức và tôn giáo, th́ tôn giáo phải nhường bước cho đạo đức. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại rơ ràng. Sách The Ageless Chinese viết:

"Sự tách rời đạo đức ra khỏi tôn giáo không phải là không có phúc lợi. Đây là một nét đặc thù của nền văn hóa Trung Hoa. Người Trung Hoa cho rằng các tiêu chuẩn đạo đức quan trọng hơn các tiêu chuẩn tôn giáo. Trong trường hợp có sự xung đột giữa đạo đức và tôn giáo th́ tiêu chuẩn đạo đức phải luôn luôn chiếm phần ưu thế. Người Trung Hoa quan niệm rằng các tiêu chuẩn đạo đức và tôn giáo không cần thiết phải giống nhau, trái lại đôi khi c̣n trái ngược nhau... Trong khi các tiêu chuẩn của một tôn giáo có vẻ kỳ dị đối với một hay với nhiều tôn giáo khác, th́ các tiêu chuẩn đạo đức lại có tính bao quát phổ thông và phải được áp dụng cho tất cả mọi người. Không nên cưỡng bách những người khác phải theo tôn giáo của ḿnh. Đối với hạng người cuồng tín về tôn giáo, làm như vậy (bắt người khác phải theo tôn giáo của ḿnh) th́ được coi là "ngoan đạo", có tinh thần tôn giáo, nhưng chắc chắn là phi luân lư, phi đạo đức. Những người cuồng tín về đạo giáo cương quyết chỉ trích, lên án và hủy diệt tất cả những tôn giáo khác bằng tất cả những phương tiện và biện pháp mà chúng có thể sử dụng được. Đó là một sự suy đồi của xă hội và chúng không đáng được đồng bào của chúng thương xót. Xă hội muốn tồn tại, th́ các tiêu chuẩn đạo đức phải đứng lên trên tất cả các tôn giáo và các tôn giáo phải tuân hành các tiêu chuẩn đạo đức. Một tiêu chuẩn đạo đức như vậy phải được áp dụng để điều hành sự liên hệ giữa các tập thể (như là các giáo phái) cũng như giữa những cá nhân trong một tập thể. Khi đă tách rời đạo đức ra khỏi tôn giáo và coi đạo đức có giá trị cao hơn tôn giáo, người Trung Hoa thoát khỏi cảnh cuồng tín về đạo giáo, thoát khỏi cảnh ngược đăi và khủng bố nhau v́ lư do tôn giáo. Trong khi đó các tôn giáo khác nhau vẫn sống bên nhau một cách hài ḥa nếu so sánh với nhiều quốc gia khác (ở Âu châu).”  [2]

Nhờ đă tách rời tôn giáo ra khỏi đạo đức, đặt đạo đức lên trên tôn giáo và đặt tôn giáo dưới quyền quản lư của chính quyền, cho nên, ở Trung Quốc cũng như ở các quốc gia chịu ảnh hưởng của nền văn minh Khổng Mạnh như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, không hề có chuyện thày cúng, thày tu nhẩy lên bàn độc múa may quay cuồng làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị. Nhờ vậy mà quan thái thú Tây Môn Báo (chính quyền) mới có thể thẳng tay trừng trị bọn đồng bóng và thày cúng ở đất Nghiệp Đô (nằm trên ven sông Chương Hà, thuộc nước Ngụy, Trung Quốc) khi chúng cưỡng bách nhân dân trong vùng hàng năm phải đóng góp tiền bạc cho chúng để t́m kiếm cô dâu và tổ chức lễ cưới vợ cho hà bá ở khúc sông này. Nhờ việc trừng trị này mà kể từ đó cho đến cuối thế kỷ 18, ở Việt Nam nói riêng, và Đông Phương nói chung, bọn thày cúng, đồng bóng hay tu sĩ của bất kỳ tôn giáo nào cũng không thể nhân danh thần thánh hay tôn giáo để đánh phá chính quyền và gây rối trong nhân dân.

Sau này, vào giữa thập niên 1780, do việc Ngụyễn Phúc Ánh nhờ cậy Giám-mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) cầu ngoại viện để cướp ngôi của triều đ́nh Tây Sơn mà bọn tu sĩ Ca-tô mới bắt đầu dùng chiêu bài tôn giáo đặt ra yêu sách này yêu sách nọ đ̣i chính quyền Huế phải thỏa măn, rồi dùng bọn con chiên bản địa làm đạo quân thứ 5 tiếp tay cho Liên Quân Thực Xâm Lược Pháp – Vatican đánh chiếm đất nước ta làm thuôc địa. Kể từ đó, dân ta phải gánh chịu cái thảm họa bọn thày cúng áo đen mượn danh tôn giáo mưu đồ nắm giữ vai tṛ chỉ đạo chính quyền. NẾU không được như ư muốn, th́ chúng quay ra xúi giục con chiên bản địa tập trung gây bạo loạn bằng tṛ hề dựng tượng bà già xề Maria và cắm thập giá bừa băi ở những nơi mà chúng muốn chiếm đọat cho Vatican, rồi kéo nhau đến đó tập trung gây bạo loạn nhưng lại nói là “cầu nguyện” và “hiệp thông cầu nguyện”. Sau ngày đất nước thống nhất, bọn quạ đen và con chiên vong bản đă liên tục diễn tṛ hề này cho đến ngày nay. Khởi đầu là vào tháng 11/1992 quạ đen Nguyễn Văn Lư công bố “Tuyên ngôn 10 điểm về tự do tôn giáo”, rồi sau đó xúi giục con chiên giáo xứ Nguyệt Biều (Thừa Thiên, Huế) tập trung ở ng̣ai khuôn viên nhà thở nổi loạn chống chính quyền và cứ thế tái diễn nhiều lần. Tṛ hề này lại được tái diễn tại cổng vào ṭa nhà công sở ở 142 Phố Nhà Chung Hà Nôi, từ ngày 18/12/2007 kéo dài đến ngày 30/12/008 mới chấm dứt. Rồi sau đó, chúng tiếp tục tái diễn ở nhiều nơi khác như tại Ấp Thái Hà, trụ sở Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội từ ngày 18/8/2008 cho đến ngày 30/8/2008, ở xă An Bằng (Huế) kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến tháng 1/2009, ở Nhà Thờ Tam Ṭa (Hà Tĩnh) trong năm 2009 và gần đây nhất là ở Đồng Chiêm, Hà T́nh, và sau này không biết chúng c̣n diễn cái tṛ ma nớp này ở đâu nữa.

Trong khi đó, người dân Âu Châu và các vùng Cận Đông không được may mắn như người dân Đông Phương, nghĩa là không nh́n thấy rơ cái đại họa do bọn giáo sĩ lưu manh moi tiền thiên hạ và mưu đồ tranh bá đồ vương. V́ thế chúng luôn luôn cấu kết với các bạo quyền địa phương và các đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ để tồn tại, để cùng cố quyền lực và để mở rộng vùng ảnh hưởng.

Nhờ cấu kết với các bạo quyền địa phương và các để quốc thực dân xâm lược, đạo Ki-tô mới có quyền lực. Quyền lực càng lớn và nắm quyền càng lâu th́ tội ác càng nhiều, và lẽ đương nhiên là không thể tránh khỏi việc nạn nhân có mối ác cảm đối với kẻ gây ra tội ác. Đây là luật nhân quả của nhà Phật, đồng thời cũng là quy luật lịch sử và không có biệt lệ nào cả. Đạo Kitô hay Giáo Hội La Mă dù là đă tự phong là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền” cũng không thể thoát khỏi quy luật này được.

(xem Chương 1...)

CHÚ THÍCH


[1] Trần Trọng Kim, Nho Giáo – Tập I (Sàig̣n: Tân Việt, 1952), tr. 45-46. và websiteTHONLINE.comhttp://www.thonline.com/article.cfm?id=271497

[2] Dun J. Li, The Ageless Chinese (New York Charles Scriber's Sons, 1978), tr. 70-71. Nguyên văn: "The separation of ethics from religion, a unique feature of the Chinese culture system, was not without its blessing. In the Chinese mind, ethical standards were more important than religious standards, and in case of conflict between them, the former should always prevail. As the Chinese looked at it, these two standards were not necessarily the same and were sometimes contradictory. While religious standards were peculiar to a certain religion or religions, ethical standards were universal and should be applied to all men. One should not impose his own religious standards upon others who did not belong to his religion. To do so might be regarded as religious from his point of view; certainly it was not ethical. A religious fanatic bent on the condemnation and destruction of all other religions by whatever means he possessed was a social degenerate, deserving no mercy from his fellow men. Above religious beliefs was an ethical standards which all religions must abide by if society were to survive. Such a standard governed the relations between groups of individuals (such as religious sects) as well as individuals themselves. As ethics was separated from religion and was regarded as superior to religion, the Chinese were remarkably free from religious bigotry, and persecution on religious grounds, while not absent altogether, was noticeably mild compared with that of many other countries.”

 

 

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1975 1975 - 2010
 

 

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage