|
Ngô Triều Qua Thơ Văn
[Tháng Mười Một, Chợt Nhớ Vài Bài Thơ Về Chế
Độ Ngô Đ́nh Diệm]
Ngô Đ́nh Diệm
đă chết gần nữa Thế Kỷ nhưng tương lai của
Con Chiên
Ngô
Đ́nh Diệm, dưới bàn tay phù thủy của Vatican, th́ vẫn c̣n
nhiều hứa hẹn. Thật vậy, ư đồ của Vatican là:
Về mặt
Đạo,
Diệm sẽ được nhào nặn vẽ vời để bôm lên thành một
Thánh Tử Đạo
Công
Giáo Việt Nam như các “thánh” phản quốc đă từng được Giáo
Hoàng Gioan Phaolồ II hối hả và ồ ạt, thâu ngắn mọi thủ tục,
bất chấp sự thực lịch sử, bôm lên 117 Con Chiên Tây Ta chỉ
trong một năm 1988. Hành động gấp rút nầy là để cứu nguy và
hà hơi tiếp sức cho cái Giáo Hội Việt Nam, lúc đó, đang bị
tơi tả trong nước và tan tác ngoài nước. C̣n trường hợp
“Thánh Tử Đạo” Diệm tương lai, là để tô son trét phấn cho
cái tội gần 400 năm theo Tây phản quốc của lịch sử Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam.
Về mặt
Đời,
Diệm sẽ được rửa mặt và đánh bóng để làm một
Biểu Tượng
Chính Trị
hầu xây dựng lực lượng Công Giáo và tập họp các Lực Lượng
Chính Trị Vệ Tinh (loại “Đối Kháng” trong nước hay “Liên Tôn
Chống Cộng” ngoài nước) để bây giờ th́ t́m cách thanh toán
thế lực đương quyền tại Hà Nội, và tương lai th́ lại thiết
lập một Chế Độ “Diệm
Không Diệm”
để Công Giáo Hóa Nhân Dân Việt Nam.
“Tương lai”
hai vế
Đạo - Đời
đó phù hợp hoàn toàn với sách lược bành trướng Đạo Công Giáo
tại Á châu đă được Huấn Thị trong Tông Huấn “Giáo Hội tại Á
châu” (Ecclesia
in Asia
--John Paul 2, New Delhi, 1999). Đồng thời, h́nh ảnh tương
lai đó cũng sẽ nuôi dưỡng và khích động được đám Con Chiên
Việt Nam ở Hải Ngoại đang chao đảo trước t́nh trạng mục ră
và thoái trào của Giáo Hội Công Giáo trên toàn Thế Giới mà
cao điểm là đại biến cố hơn
5.000
Linh Mục sách nhiễu t́nh dục gần
10.000
Nạn Nhân ấu dâm trên
26
Quốc Gia kéo dài trên nữa thế kỹ! [1].
Đó là ư đồ Tôn Giáo và thế cờ Chính Trị của
Vatican mà ai tinh mắt một chút th́ đều biết.
V́ thế nên từ
gần 10 năm nay, tại Hải Ngoại, ta thấy một Phong Trào “Tâm
Lư Chiến”
mà các Linh Mục th́ Xảo Ngôn Về Văn Hóa (như “Ông Trời”
trong Tín Ngưỡng và Phong Tục Việt Nam vốn là h́nh ảnh… Chúa
Trời trong Cựu Ước!; hay Nguyễn Du được gợi hứng từ Kinh
Thánh để sáng tác Truyện Kiều…); c̣n các Con Chiên loại Lâm
Lễ Trinh, Nguyễn Văn Lục, Tú Gàn Nguyễn Cần, Cao Thế Dung,
Tôn Thất Thiện, và đám lau nhau mới nổi như Chu Tất Tiến,
Minh Vơ, Nguyễn Lư Tưởng… th́ Pha Chế Tài Liệu, Ngụy Trang
Nhân Chứng để Xuyên Tạc và Viết Lại Lịch Sử Thời Đệ Nhất
Cộng Ḥa. Phong Trào nầy, dĩ nhiên, chỉ huy động được các
Con Chiên múa may ng̣i viết mà thôi, c̣n những thành phần
khác của dân tộc th́ tuyệt đại đa số chẳng ai thèm tham dự
vào cái Màn Phịa Sử Bất Lương nầy cả.
Hai luận điệu của đám “Sử Gia” Hoài Ngô nầy
thường dùng là:
1.- Phong Trào
Phật Giáo Chống Diệm là do Cộng Sản lănh đạo, c̣n Tướng Lănh
lật đổ Diệm là tay sai của CIA, cả hai phối hợp với nhau để
giết ông Diệm v́ ông Diệm bào vệ quyền tự quyết chống lại
Mỹ. Đây là một luận điệu vừa Phi Lịch Sử vừa… Ngu! Ông Diệm
đă được Mỹ “Bồng” về, kinh viện quân viện đổ vào Miền Nam
như thác cho Diệm làm “Con Cờ” xây dựng Tiền Đồn Chống Cộng.
Đến lúc v́ độc tài thối nát nên bất lực không đóng nỗi vai
tṛ “Con Cờ” nữa, lại Phản Chủ bắt tay với kẻ thù Cộng Sản
nên bị Chủ dẹp đi, th́ đó là thân phận đương nhiên của kẻ,
từ đầu, đă chịu nhận làm “Con Cờ” cho Ngoại Bang. “Tự Quyết”
chổ nào, càng nói càng thêm nhục!
Thật ra th́ Mỹ
không dẹp cũng không được v́ Nhân Dân Miền Nam Chống Cộng,
trong đó có Phật Giáo, muốn như thế. Đó là tất cả cái
Dynamique
của Chính Trị Miền Nam trong 4 năm 1960, 1961, 1962 và 1963.
Không có ḷng công phẩn cuồn cuộn của Toàn Quân Toàn Dân
Miền Nam, th́ chẳng CIA nào, chẳng Cộng Sản nào, chẳng Phật
Giáo nào
Một Ḿnh
lật đổ được “Triều Đ́nh” Diệm-Nhu-Cẩn với 1 Đảng Cần Lao sắt
đá, 6 Cơ Quan Công An Mật Vụ tàn bạo, 4 Đoàn Thể quần chúng,
và 1 Giáo Hội Công Giáo thiên la địa vơng cả. Chỉ trong 8
năm cầm quyền (1955-1963) mà đă 7 lần bị phe Cùng Chiến
Tuyến chống đối [2],
nghĩa là hầu
như năm nào cũng có chống đối,
th́ đủ biết dù có Mỹ và Vatican sau lưng, Diệm đă chết trong
ḷng Quân Dân Miền Nam từ lâu rồi. Nói như Nhà Văn Doăn Quốc
Sỹ: Mỹ
chỉ đến để lượm cái xác của Diệm
[3] mà thôi…
dù có Mỹ và
Vatican sau lưng, Diệm đă chết trong ḷng Quân Dân Miền Nam
từ lâu rồi.
2.- V́ lật đổ
ông Diệm cho nên… mất nước vào tay Cộng Sản! Làm như ông
Diệm bị đổ năm 1963 th́ đến năm 1965 đă phải “Tháng
Tư Găy Súng”
rồi. Tương quan
Nhân - Quả
dĩ
nhiên là có nhưng sự kiện lật đổ Diệm, sau 12 năm dài và
phức tạp (1963-1975), không phải là Cái “Nhân”
chính yếu và duy nhất dẫn đến sự sụp đổ của Miền Nam vào năm
1975. Ta biết rằng Đệ Nhị Cộng Ḥa kéo dài được những 12 năm
thăng trầm, vậy th́ “Mất Nước” chủ yếu là tại v́ những yếu
tố ǵ khác trong 12 năm dài đó chứ không thể giản lược quy
về chỉ
một
nguyên nhân “Lật Đổ Ông Diệm” từ hơn một thập kỹ trước như
nhóm Hoài Ngô gian xảo ngụy biện. Ngược lại là khác, nếu ông
Diệm c̣n tại vị th́ Miền Nam đă tiêu tùng ngay sau khi Ngô
Đ́nh Nhu lén lút Quân Dân Miền Nam (và đạp lên Hiến Pháp
Nhân Vị Chống Cộng 1956) để đi đêm với “Đồng Chí” Phạm Hùng
từ năm 1963 rồi!
Nhưng khổ một nỗi là hai điều ngụy biện đó
vẫn có người nghe v́ ở Hải Ngoại không phải ai cũng chịu khó
nghiên cứu, biết cách t́m ṭi và thâm hiểu tài liệu, và nhất
là chịu suy nghĩ. Đă thế, tuyệt đại đa số các Cơ Sở Truyền
Thông đều do Công Giáo không chế, tạo thành một bệ phóng để
tung Hỏa Mù Lịch Sử đầu độc người đọc. Ngoài ra, những cái
gọi là “Nghiên Cứu Lịch Sử” nầy bao giờ cũng được bảo chứng
bằng những Con Dấu “Chống Cộng” to tổ bố và vài Cái Nón Cối
phât phơ trên đầu để uy hiếp những ai “dám” Phản Biện lại
họ.
Tuy nhiên, nỗ lực Bất Lương Chính Trị và Mạo
Hóa Lịch Sử đó của Vatican dù có thuyết phục được một số
người nào đó trong một khoảng thời gian nào đó, th́ cũng
không thay đổi được lịch sử, và nhất là không thay đổi được
bản án mà dân tộc đă dành cho Chế Độ Diệm. Nhân Chứng Lịch
Sử và Vong Linh những Nạn Nhân của Chế Độ Diệm, cả Quốc Gia
lẫn Cộng Sản, c̣n nằm trên bàn thờ hương khói hầu như khắp
Miền Nam (cũ). Số lượng tài liệu cả bằng việt ngữ và ngoại
ngữ, trong cũng như ngoài nước, c̣n tràn đầy ra đấy…
Đặc biệt, có
một mảng tài liệu mà người viết cho rằng có giá trị Trung
Thực và Lâu Bền nhất, đó là thơ văn và phong dao truyền tụng
trong dân chúng. Những tài liệu nầy th́
Trung Thực
v́ mô tả sự kiện có thực ngay thời điểm vừa xảy ra, và
Lâu Bền
v́ được Nhân Dân chấp nhận có đăi lọc, rồi học thuộc ḷng mà
truyền khẩu vượt thời gian từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
Người viết bài viết nầy đă trên 60 tuổi, hiện
ở Mỹ, chỉ căn cứ trên trí nhớ của ḿnh và vài người bạn cùng
trang lứa, cọng thêm cái tủ sách việt ngữ của người con rễ,
mà hôm nay cũng có thể ghi lại được một số bài thơ và câu vè
“Không Bao Giờ Quên” về Chế Độ Diệm, để gửi đến Vatican với
lời khuyên đừng “xía” vô chuyện của dân tộc Việt Nam nữa.
Gần 400 năm đào tạo Con Chiên Việt Nam cúi đầu làm Đạo Quân
Thứ Năm cho Giặc Ngoại Xâm chưa đủ sao?
= * =
Văn Hóa Nào Đă
Tạo Nên Con Người Chính Trị Ngô Đ́nh Diệm.
Con người ông
Diệm là tổng hợp của ba chiều kích văn hóa: Văn Hóa Phong
Kiến Tống Nho, Văn Hóa Công Giáo Thời Trung Cổ, và Văn Hóa
Tây Thuộc Địa, trong đó ứng xử chính trị của “Ông Quan” Ngô
Đ́nh Diệm là phần thể hiện rơ nét nhất ba thuộc tính nầy. V́
vậy mà khi nói đến Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm th́ người Việt Nam
gọi ngay bằng hai chử “Ngô
Triều”.
Ông Diệm lớn lên và được đào tạo bởi những
Quan Lại già nua lạc hậu không theo kịp với dân trí mỗi ngày
một tiến bộ, và đa số những vị quan này là những nịnh thần
tham nhũng, làm tay sai cho Pháp. Bài thơ của Cụ Nghè Ngô
Đức Kế dưới đây đủ nói lên cái tư cách “Cu Li” của lớp Quan
Lại áo măo xênh xang nầy:
“Cu
li đành phận chớ ra oai,
Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài.
Quân chủ cờ bay vui trước mắt,
Dân quyền trống đánh chán bên tai.
Bài, Liêm giảo hiểm khoe tài trí
Huề, Thụ thông minh gọi bất tài.
Cấm hết công môn tiền hối lộ,
Ngoài ra
Tiềm Để mặc ḷng ai.”
[4]
“Bài, Liêm,
Huề, Thụ” là tên bốn vị Thượng Thư mà Bài là ông Nguyễn Hữu
Bài,
người đỡ đầu cho ông Diệm;
và Huề là ông Thân Trọng Huề,
ông ngoại của
bà Ngô Đ́nh Nhu.
Trong cái môi
trường “Giảo
Hiểm”,
“Bất
Tài”,
“Công
Môn Tiền Hối Lộ”
đó mà anh em gịng họ Ngô Đ́nh lại thăng quan tiến chức vượt
bực (Trong Chế Độ phẩm trật Phong Kiến phức tạp và nặng nề
đó mà ông Diệm mới 33 tuổi đă làm “Thượng Thư Đầu Triều”,
tương đương với Thủ Tướng) th́ hẵn phải nhờ một lư do đặc
biệt nào đó. Lư do đặc biệt đó đă được Giới Quan Trường
đương thời thú vị làm thơ “Làm Quan Nam Triều” chế giễu “Vây
Cánh Ngô Đ́nh” như sau:
“Lênh
đênh chiếc bách buổi ba đào,
Chèo lái xem chừng khó biết bao.
Tôi tớ mấy người dâng lễ hậu,
Quan thầy mấy kẻ nặng hầu bao.
Chật trong bể hoạn thêm ḿnh nữa,
Theo hết rừng “Hàn” biết kiếp nao.
Vây cánh Ngô Đ́nh ghê gớm thật,
Mềm lưng
dẻo gối chóng lên cao.”
[5]
“Vây Cánh Ngô Đ́nh” chủ yếu gồm những ai? Gồm
Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, Thân Trọng Huề… mà Con Đường
Hoạn Lộ là những bước Làm Tay Sai Đắc Lực cho hai thế lực là
Bộ Máy Thực Dân Đô Hộ Pháp và Hội Truyền Giáo Hải Ngoại
Paris (MEP: Société des Missions Etrangères de Paris).
Bản Chất Chế
Độ Diệm.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, đường Công Lư th́
đi một chiều, đường Tự Do th́ cấm xe xích lô, xe đạp, c̣n
cổng chính của Ṭa Án th́ bị đóng kín, thường dân phải đi
cổng bên, nên thời đó có câu truyền tụng lúc đầu c̣n ở Sài
G̣n nhưng sau lan ra khắp nước, rằng:
“Công
Lư một chiều
Tự Do hạn chế
Ṭa án đi
cổng hậu”
[6]
để mô tả nền độc tài và xă hội bất công của
Chế Độ lúc đó, một Chế Độ tuy gọi là “Cộng Ḥa” với Tam
Quyền Phân Lập, nhưng thực tế là do một Gia Đ́nh Phong Kiến
và Cuồng Tín Thao Túng Mọi Định Chế và Sinh Hoạt của Quốc
Gia. V́ thế mà từ đầu năm 1961, dân chúng Miền Trung đă âm
thầm viết thành Bản Án Lịch Sử để lại cho hậu thế đời đời
qua hai câu ca dao truyền miệng về bốn nhân vật trụ cột của
Gia Đ́nh đó:
“Nhà
Ngô có bốn gian hung;
Diệm
ngu, Nhu ác, Cẩn khùng, Thục điên.”
Bản chất của Chế Độ và Chân Tướng của Cấp
Lănh Đạo lại càng hiện rơ hơn vào tháng 2 năm 1962 trong và
sau khi Dinh Độc Lập của anh em Ngô Đ́nh Diệm bị 2 Phi Công
Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử oanh tạc. Ông Nguyễn Đôn Dư,
bút hiệu Quỳ Ưu, ở Thừa Thiên đă ví sự kiện nầy như t́nh
trạng “Cháy Nhà Ra Mặt Chuột” và đă bí mật phổ biến bài thơ
sau đây trong ṿng bạn bè:
“Đục
khoét xưa rày núp ở đâu?
Cháy nhà thấy chuột chạy lao nhao
Dương oai bà Hỏa vừa lên mái
Khiếp vía ông Thiên vội ló đầu
Rường cột ră rời phơi mặt địa
Cống chù quay quắt chổng hàm râu
Tai bay vạ gió đà ra rứa
Chĩnh
nếp ḍm vô đă sạch làu.”
[7]
Rồi đến mùa Hè năm 1963, sau 9 năm kềm kẹp
Nhân Dân Miền Nam và đẩy đại bộ phận quần chúng vào ṿng tay
“Mặt Trận Giải Phóng”, đồng thời làm tiêu hao sinh lực Quốc
Gia, Gia Đ́nh Ngô Đ́nh phóng tay đàn áp Phật Giáo và định
dứt điểm Tôn Giáo nầy, ít nhất là trên nước Việt Nam, với kế
hoạch Nước Lũ đêm 20 tháng 8. Ngày 22 tháng 8, với tư cách
là Ngoại Trưởng của chính phủ Diệm, ông Vũ Văn Mẫu cạo trọc
đầu và sau đó từ chức Ngoại Trưởng để phản đối “Nhà Ngô”.
“Cảm phục khí
phách và phong độ kẻ sĩ Vũ Văn Mẫu, ông Hoàng Đại Sâm (tức
Thi Sĩ Hoàng Hoa Trang), một nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại
Giao, bèn nhờ bạn là ông Vơ Khắc Văn viết cho mấy chữ Hán để
khắc vào bức hoành phi tặng cho vị chỉ huy khả kính của ḿnh.
Ông Văn bèn viết bốn chữ: “Ngoại
Vật Hoàn Giao”,
vừa có chữ của Nhà Phật, vừa có chữ “Ngoại Giao”, vừa nói
lên được ư nghĩa thâm thúy của một hành động đầy triết lư
sâu sắc.
Sau khi viết
cho bạn bốn chữ để tặng vị Bộ Trưởng v́ chính nghĩa mà “Cạo
Đầu Từ Quan”, Vơ Khắc Văn cảm xúc trước một biến cố vừa đau
thương vừa chua chát bèn làm một bài thơ, ghi lại một sự
kiện lịch sử có tính cách “Giai Thoại Làng Nho” hầu lên án
“Ngô Triều” để làm gương cho hậu thế. Bài thơ “Tranh Thời Sự
1963”
này may
mắn được một bạn thân của ông Vơ Khắc Văn hiện ở Hải Ngoại
c̣n nhớ, viết lại rồi gởi cho tôi để hiện diện trong tập Hồi
Kư này:
“Chín
năm bốn bận tráo quân bài,
Lừa lọc toàn tay dễ khiến sai,
Hót Cụ: Thuần Lương mồm bép xép,
Ôm Bà: Hiếu Nghĩa miệng lai rai,
Vỹ đem hiến Cố màu xanh trẻ,
Khương ước dâng Cha áo đỏ dài,
Riêng Mẫu cạo đầu, Tâm bị bắt,
Hỏi
hàng khanh tướng đến phiên ai?”
Bài thơ nhằm
mô tả và đánh giá bản chất của Chế Độ qua những nhân sự tay
sai mà trong chín năm cầm quyền, nào là cụ Diệm, nào là bà
Nhu, nào là Cố Vấn Nhu, nào là cha Thục, dù có muốn tráo trở
quân bài th́ cũng chỉ dùng toàn những tay “Dễ Khiến Sai” như
các Bộ Trưởng Nguyễn Đ́nh
Thuần,
Bùi Văn
Lương,
Ngô Trọng
Hiếu,
Huỳnh Hữu
Nghĩa.
Cũng bị liệt vào “Hạng Lừa Lọc” là Cao Xuân Vỹ, Tổng Giám
đốc Thanh Niên Cộng Ḥa áo xanh, và Nguyễn Xuân
Khương,
Đại Biểu Chính Phủ Trung Việt đă quyết liệt đàn áp Phật Giáo
để Cha Thục được mặc áo Hồng Y màu đỏ. Trong hàng Khanh
Tướng sạch dơ lẫn lộn đó chỉ c̣n ông Vũ Văn
Mẫu
là khí tiết từ chức và Bác Sĩ Phạm Biểu
Tâm,
Khoa Trưởng Đại Học Y Khoa Sài G̣n, công phẫn chống đối nên
bị Mật Vụ “Nhà Ngô” bắt. [8]
Tội Ác Của Chế
Độ Công An Trị Ngô Đ́nh Diệm.
Nói đến Chế Độ
Ngô Đ́nh Diệm là nói đến Chế Độ
Gia Đ́nh Trị,
Chế Độ
Công Giáo Trị.
Và dĩ nhiên,
Công An Trị.
Ở ngoài Trung, Ngô Đ́nh Cẩn có cho tân trang chín Cái Hầm
chứa vũ khí của Quân Đội Nhật dưới đất ở ngoại ô thành phố
Huế để nhốt Tù Chính Trị, nhốt Phật Tử và những kẻ mà Cẩn
định làm tiền. Ái Huyên, một Nữ Sinh Đồng Khánh Huế, Nạn
Nhân của Cẩn, trong khi bị giam ở Chín Hầm đă sáng tác bài
thơ:
“Trước
phong cảnh hữu t́nh ai có biết,
Rằng nơi đây địa ngục trần gian,
Nơi chứa chấp một Chế Độ bạo tàn,
Và cạnh đấy là cung vàng điện ngọc.
Du khách hỡi! Dừng lại đây nghe tiếng khóc,
Của oan hồn tử sĩ chết đau thương,
Những nấm mồ vô chủ suốt đêm trường,
Như quằn quại theo từng cơn gió buốt!
Trên nệm ấm kẻ bạo tàn đâu có biết,
Bao thân người chui rúc dưới tanh
hôi,
Và nghe hồn
khóc kể măi không thôi!”
[9]
[Fig.1 Di tích Hầm Số 2 (nơi giam Tù Chính
Trị đối lập) trong hệ thống “Chín Hầm” của Ngô Đ́nh Cẩn tại
Huế]
Nhà Ngục “Chín Hầm” đó của Ngô Đ́nh Cẩn ghê
rợn đến nỗi trong bài thơ “Vịnh Chuồng Cọp”, một Ẩn Sĩ ở Huế
đă tặng cho ông Cẩn một hỗn danh để lưu truyền lại cho hậu
thế:
“Một
kiếp tàn hung Hùm Xám đó,
Muôn
dân ghê rợn ác ôn này!”
[10]
Trong khi đó th́ tại Sài G̣n, gần Sở Thú Đô
Thành, Ngô Đ́nh Nhu cho xây Trại Giam “P.42” để tra khảo
những thành phần Quốc Gia đối lập với Chế Độ. Một trong
những người đó là cụ Trần Văn Hương, một trí thức “Uy Vũ Bất
Năng Khuất” của Miền Nam, và sau nầy là Tổng Thống một tuần
(từ 21 đến 28/4/1975), đă từng cùng với 17 Nhân Sĩ khác kư
Bản Tuyên Bố “Caravelle” để phản đối Chế Độ Diệm.
Ngồi trong tù, mỗi lần hồi phục được một chút
tàn lực sau những lần Thẩm Vấn và Tra Tấn, cụ Hương thường
làm thơ “Ngồi Tù Một Lũ” để giết th́ giờ.
“Này
anh, này cụ, này là chú,
Lóc cóc vào đây ngồi một lũ,
Những tưởng buồn như chó mất nhà,
Nào ngờ vui quá bàn xôm tụ,
Thân này dẫu vướng chốn lao lung,
Nỗi ấy vẫn ghi trong phế phủ,
Xuống chó lên voi lắm chuyện đời,
Xưa
nay diễn biết bao nhiệm vụ.”
[11]
Và hăy nghe bài “P.42 - Sở Thú” cụ Hương tả
cảnh Nhà Ngục “P.42” để thấy Chế Độ Diệm đă đày đọa người
Quốc Gia như thế nào:
“Danh
đồn khét tiếng đă từng nghe,
P.42 đúng thiệt nè!
Điện tụ, b́nh quay kêu ới ới,
Xà bông nước đổ, nuốt the the,
Tra đi tra lại kinh chưa hả?
Khai tới khai lui mệt quá hè.
Cụ, Cố, Cậu trù, Ma trổ ngón,
Thân tù dưới búa lại trên đe.”
[12]
(Ghi
Chú: Cụ
là ông Diệm,
Cố
là ông Nhu,
Cậu
là ông Cẩn, trù là trù yểm,
Ma
trổ ngón
là bọn Mật Vụ Cần Lao trổ tài tra tấn).
Bài
Hịch Hài Tội Chế Độ.
Năm 1960, khi Binh Chủng Nhăy Dù tiến hành
Cuộc Binh Biến tại Sài G̣n để định lật đổ Chế Độ Diệm th́
trong hàng ngũ của họ có sự tham gia của một số đảng viên
của các Đảng Phái Quốc Gia yêu nước, nhất là các đảng có gốc
gác tại Miền Trung.
“Tại Quảng Nam, Một Cán Bộ cấp cao của Việt
Quốc là ông Duy Nghĩa đă làm sẵn Bài Hịch để khi cướp được
Chính Quyền th́ sẽ tung ra kêu gọi toàn dân đứng lên cứu
nước, nhưng chẳng may Cuộc Đảo Chánh bất thành, Bài Hịch bị
chôn vùi trong bóng tối của bí mật cho măi đến sau ngày
1/11/1963, Bài Hịch mới được phổ biến. Tôi được một đồng chí
của ông Duy Nghĩa là ông Lê Nguyên Long (Fresno, Hoa Kỳ)
trao lại cho một bản sao của Bài Hịch này, xin ghi lại đây
như một sử liệu để lưu truyền:
“Hăy
đứng lên, đứng lên như vũ băo,
Răng nghiến
răng, tay nắm chặt, vung tràn,
Mắt long lên, hùng khí ngập không gian,
Cho điếng lạnh thứ tham tàn Cẩn,
Diệm.
Vạn cánh tay giờ đây cùng tuốt kiếm,
Để ḷe lên Chính nghĩa của non sông,
Để ḷe lên t́nh đoàn kết nhiệt nồng,
Muôn màu sắc Quốc Gia non nước Việt.
Hỡi những ai, những con người khí tiết,
Đang trong tù hay đau khổ trùm chăn,
Hay khuất thân sống tạm bợ nhục nhằn,
Hăy đứng dậy giờ vinh quang lâm trận!
Như thác đổ, mưa nguồn, chớp sấm,
Như đảo điên một vũ trụ hôm nay,
Hớp men nồng cách mạng máu cuồng say:
Xưa “Sát đát” ngày nay ta “Sát địch”.
Hỡi muôn tim lặng nghe lời truyền hịch:
Nước diệt vong v́ Cộng Sản bạo tàn,
Nước nguy vong v́ lũ Diệm tham gian,
Gây nghiêng ngửa cơ đồ tuy nửa mảnh.
Muôn tim, muôn tim cùng nhau sát cánh,
Đạp phăng phăng chướng ngại lũ sài
lang,
Để cùng nhau trong cách mạng huy hoàng,
Cùng xây dựng một chánh quyền “V́
Dân tộc”,
Một “Chính quyền Công bộc”
Với
“Tự do, Dân chủ” được nêu cao.”
[13]
Nhiệm Ư Thiên
Chúa.
Ông Diệm và
những người đồng đạo của ông tin rằng mọi sự trên đời đều do
Chúa định đoạt. Nhưng khi gặp những sự kiện cực kỳ vô lư
không thể giải thích được (như v́ sao Chúa ḷng lành mà lại
tạo ra dịch hạch giết hàng vạn người, hoặc tại sao Giáo
Hoàng có Chúa Thánh Thần che chở mà vẫn phải di hành bằng xe
Pop Moble bọc thép chống đạn…) th́ họ cho rằng đó là
Ư Muốn Mầu
Nhiệm
của Thiên Chúa, loài người không thể hiểu được. V́ vậy mà
cuối những bài diễn văn chính thức gửi Quốc Dân Đồng Bào,
bất chấp 93% dân chúng không tin vào Chúa, ông Diệm vẫn luôn
luôn kết thúc bằng câu “Xin
Thượng Đế ban phước lành cho chúng ta”.
Nhưng mặc bao
nhiêu cầu xin của chính ông và đồng đạo, cuối cùng ông vẫn
chết thê thảm đúng Luật Nhân - Quả. Biết sẽ chết như thế là
“Nhiệm
ư của Thiên Chúa”
nhưng trước đó ông vẫn căi lời Chúa của ông với lời trối
trăn cho tàn dư của ông rằng “nếu
tôi chết th́ trả thù cho tôi”.
Một “Nhiệm Ư Thiên Chúa” khác là sau Ngày
Cách Mạng 1/11/1963, một trong các biểu tượng của Chế Độ là
tượng Hai Bà Trưng ở bến Bạch Đằng tại Sài G̣n đă bị sinh
viên và dân chúng kép đổ sập. Đây là bức tượng tạc Hai Bà
nhưng từ khuôn mặt cho đến vóc dáng th́ lại giống như Bà Nhu
và con gái Ngô Đ́nh Lệ Thủy. Bà Nhu là Đệ Nhất Phu Nhân, là
Thủ Lănh Lực Lượng Phụ Nữ Bán Quân Sự, là Chủ Tịch Phong
Trào Phụ Nữ Liên Đới, và nhất là vợ ông Cố Vấn thét ra lữa
trong Dinh Độc Lập… nên bà nghĩ bà và con gái nếu không hơn
th́ cũng bằng hai bà Trưng Trắc Trưng Nhị khởi nghĩa chống
Quân Hán và dẹp yên 65 thành ở đất Lĩnh Nam, nên bà đáng
được dựng tượng cho Nhân Dân Miền Nam tôn thờ.
[Fig.2&3
Tượng “Hai Bà Trưng” tạc theo khuôn mặt và vóc dáng hai mẹ
con Bà Nhu nên bị sinh viên kéo sập và phần cái đầu bị dân
chúng chở đi bêu xấu trên đường phố Sài G̣n]
Trước hành động kiêu căng vô văn hóa đó của
bà Nhu, Nhà Thơ Đông Hồ đă có bài thơ “Tượng Ai Đâu Phải
Tượng Bà Trưng” như sau:
“Tượng
ai đâu phải tượng bà Trưng
Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng
Đón gió lại qua người ưỡn ẹo
Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng
Khuynh thành mặt đó y con ả,
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!
Chót vót đứng cao càng ngă nặng
Có ngày găy cổ đứt ngang lưng.
Đây một h́nh xưa nhục nước non
Thay hai h́nh
mới đứng thon von
Ḿnh ni lông xát lưng eo thắt
Ngực xú chiêng nâng vú nở tṛn.
Tưởng đứng hiên ngang em với chị
Hóa ra d́u dắt mẹ cùng con
Ḍng sông Bến Nghé, ḍng sông Hát
Lưu
xú lưu phương tiếng để c̣n.”
[14]
Ngoài ra, khi
nh́n Gia Đ́nh Họ Ngô tán gia bại sản để tiếng xấu muôn đời (không
biết có do ư Chúa không), Nhà Văn lăo thành Lăng Nhân Phùng
Tất Đắc đă ví von anh em ông Diệm, từ
Em Ruột
đến
Em Dâu,
như Giặc “Hoàng Sào”, một đám Giặc Cỏ ở tỉnh Sơn Đông cuối
Đời Nhà Đường bên Tàu.
Ngô
Trào
“Trải
qua một cuộc bể dâu,
Trông vời cố quận biết đâu là nhà?
Khéo oan gia, của phá gia,
Này là em ruột này là em dâu!
Cửa nhà dù tính về sau,
Ngh́n năm ai có khen đâu Hoàng Sào!”
[15]
V́ là một loại Hoàng Sào nên dù ông Diệm không chết trong
ngày Chế Độ ông bị lật đổ th́ ông cũng đă chết trong ḷng
dân tộc từ lâu rồi.
Cái chết của
ông Diệm là một sự sụp đổ thê thảm của
danh phận phẩm
giá.
Thê thảm đến độ Học Giả Lăng Nhân Phùng Tất Đắc và Nhân Sĩ
Hoàng Trọng Thược đă phải ghi vào sách sử lời lên án năm Anh
Em “Nhà Ngô” bằng những câu thơ “Ngh́n Năm Bia Miệng” để lại
muôn đời.
“Vùi
nông đôi nấm giữa đêm sâu,
Mười thước sau chùa đủ bể dâu.
Ba cỗ quan tài bốn lỗ huyệt,
Năm thằng Trời đánh một con Mầu.
Mới vừa Hăm Sáu c̣n nguyên thủ,
Mà đến Mồng Hai đă vỡ đầu.
Bảy Tám thu trường Ngô với Đĩ,
Ngô
th́ chín rụng Đĩ chơi đâu?”
[16]
(Ghi Chú: “Năm
thằng”
là các ông Thục, Diệm, Nhu, Cẩn, và Luyện. Và “con
Mầu”
là Trần thị Lệ Xuân, tức bà Nhu)
= * =
Chép và đọc lại mấy bài thơ trên để thấy một
khi dân tộc đă lên tiếng, rằng:
“Nhà
Ngô có bốn gian hung;
Diệm
ngu, Nhu ác, Cẩn khùng, Thục điên.”
Và:
“Nước
nguy vong v́ lũ Diệm tham gian,
Gây
nghiêng ngửa cơ đồ tuy nửa mảnh.”
Vậy th́, nỗ lực của đám tàn dư Hoài Ngô tại
Hải Ngoại, càng theo lệnh Vatican đánh Tráo Lịch Sử th́ càng
làm rơ thêm căn tính Nô Lệ Phi Dân Tộc của họ mà thôi. Thật
tội nghiệp!
Phùng Quân 10/2010 |