Nhận Định về Bài Viết ‘Sử Gia’
Trần Gia Phụng:
Lư Do cuộc Đảo chánh 1.11.1963
Lê B́nh
Đề tài thật sự cuốn hút tôi,
v́ tôi nghĩ một nhà nghiên cứu sử như ông viết về một biến
cố đă xảy ra cách đây 46 năm, chắc chắn ông đă có nhiều th́
giờ để nghiên cứu, đối chiếu các tài liệu để đưa ra một nhận
định công tâm, khách quan và khoa học hơn về những biến cố
một thời đă gây ra nhiều tranh căi và vẫn c̣n những âm hưởng
không tốt đẹp đến ngày nay, đặc biệt là giữa đồng bào Công
giáo và Phật Giáo. Nhưng khi đọc xong bài viết của một
người được gọi là sử gia như ông, thú thật với ông, tôi vô
cùng thất vọng, v́ những lư do sau đây:
I. Phương Pháp Sử
1. Ông dùng toàn là những tài
liệu loại hai, tài liệu thứ cấp (secondary sources), nghĩa
là những tài liệu đă được những người khác đọc rồi, cắt xén,
sắp xếp, đẻo gọt theo quan điểm một chiều, nên giá trị khách
quan về sử liệu và khoa học khó có thể chấp nhận. Để dễ hiểu
hơn, tôi xin lỗi, v́ không được lịch sự với ông, khi trích
cách dùng chữ của ông Đinh Từ Thức trả lời cho ông Lữ Phương
trước đây. Ông Thức gọi đó là loại tài liệu Cứt chồn, nghĩa
là giống như con chồn, nó ăn những hạt cà phê, rồi nó ịa
ra và người ta lượm về để xay ra và uống. Lương tâm của
một người viết sử, như ông phải biết, nếu ông đă tự nhận
ḿnh là nhà viết sử, không cho phép ông dùng những tài liệu
kém giá trị, đáng nghi ngờ, mà không kiểm chứng với bản gốc.
Trong khi đó, trong những thập niên gần đây, vô số những tài
liệu mật đă được bạch hoá, th́ ông có vẻ như không bao giờ
biết đến. Điều này đă khiến cho nhăn quan và nhận định của
ông trở nên hạn định và sai lầm chăng?
2. Thứ đến, ông là người viết
sử, nhưng lại cũng có vẻ như không biết những nguyên tắc căn
bản của phương pháp sử học, nghĩa là khi muốn đưa ra một
phán đoán, một nhận định về một sự kiện lịch sử, là phải đặt
nó vào trong bối cảnh lịch sử, chính trị, pháp lư, xă hội
của thời đó mà phê phán.
Ví dụ, muốn phê phán một hành
động của Vua Gia Long, th́ phải đặt nó vào trong khung cảnh
pháp lư, chính trị và xă hội của Việt Nam đầu thế kỷ thứ 19
mà nhận định, chứ không thể dùng quan niệm dân chủ Tây
Phương ngày nay để thẩm định việc làm của thời đó.
Tương tự như vậy, Tổng Thống
Diệm chấp chánh ở Việt Nam trong thời kỳ 1954-1963, đó là
một quốc gia đang trong t́nh trạng chiến tranh, phải đối đẩu
với những cuộc bạo loạn từ bên trong và một cuộc chiến tranh
du kích, phá hoại và khuynh đảo đột nhập từ miền Bắc vào.
Không thể sử dụng những tiêu chuẩn pháp lư của một quốc gia
dân chủ thời b́nh như Hoa Kỳ vào thời điểm đó để phán xét
sinh hoạt chính trị của Chính Quyền Việt Nam lúc bấy giờ. Đó
là việc làm sai lạc đáng chê trách của những nhà báo thiếu
lương thiện như David Halberstam, Neil Sheehan, Malcolm
Browne và của Đại Sứ Cabot Lodge thời đó. Và họ đă thực
hiện những sự việc đó chỉ v́ mục tiêu chính trị nước họ hay
quyền lợi ích kỷ cá nhân của họ. C̣n ông, Trần Gia Phụng,
ông là người viết sử, lương tâm và phương pháp sử, không cho
phép ông lập lại những luận điệu sai lầm tệ hại và ấu trỉ đó.
3. Tệ hại hơn nữa, là ông trưng dẫn những tài liệu của những
người mà chính họ chưa bao giờ đọc những văn kiện đó, như
chú thích số 2, về Đạo Dụ số 10 chẳng hạn. Những người đó đă
bịa đặt ra những điều khoản về Đạo Dụ này, để viết v́ mục
tiêu chính trị có lợi cho đảng phái hay phe nhóm của họ.
Trong những tài liệu này, có những sai lầm căn bản về phương
diện pháp lư, nếu một người có chút kiến thức tối thiểu về
luật học, họ cũng đều nhận ra ngay và không thể chép lại một
cách hồ đồ như vậy. Ông là một người viết sử, hẳn ông đă
hiểu, trách nhiệm của người viết sử là phải phân tích văn
kiện ḿnh trích dẫn, đối chiếu với chứng từ gốc, nếu ḿnh
chưa đủ hiểu biết về chuyên môn, đ̣i buộc ḿnh phải t́m hiểu,
học hỏi thêm, trước khi đưa ra một nhận định công tâm về một
sự kiện lịch sử. Chứ đâu phải chỉ việc cóp nhặt một cách
cẩu thả những lập luận bịa đặt đầy thiên kiến, để rồi đưa ra
những kết luận vô trách nhiệm và bất công như ông đă làm.
4. Nhưng điều tệ hại nhất, là
ông đă hoàn toàn đánh mất sự liêm khiết tối thiểu của người
cầm bút và lương tâm chức nghiệp của một người viết sử. Đó
là việc ông chưa đọc một văn kiện pháp lư, như Đạo Dụ số 10,
mà ông viết như là ông đă đọc rồi, điều nầy thể hiện qua câu
ông viết
Dụ này cũng qui định các tôn
giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ
phượng
Nhưng thực tế, không có
một câu nào trong Đạo Dụ số 10, đề cập đến vấn đề này.
Tôi xin nhắc lại, trách nhiệm tinh thần của người viết sử là
phải nói đúng sự thật về các sự kiện lịch sử, là sự liêm
khiết trí thức, chứ không phải chưa hề đọc mà nói đọc rồi,
nhằm mục đích bóp méo hay xuyên tạc sự thật. Đó là sự
thật đáng trách nhất trong giới trí thức mà chỉ có ông và
ông Chính Đao mới dám làm.
Kế đó, có lẽ để củng cố cho
lập luận thiếu khả tín của ḿnh, ông kê tên một tác giả khá
nổi tiếng như Mark Moyar, để đánh lừa độc giả. Đó là trường
hợp ông đề cập đến việc ông Nhu bí mật gặp gở Phạm Hùng ở
rừng Tánh Linh để bàn việc trung lập hoá Việt Nam… Trong chú
thich số 13, ông ghi rằng theo Mark Moyar, tr. 128.
Nhưng khi tôi giở sách của Moyar ra, đúng trang sách đă
dẫn 128, chẳng thấy có một câu nào viết về sự kiện này.
Tôi nghĩ rằng đây là một sự lương lẹo trí thức khác thêm vào
những gian lận trí thức mà ông đă phạm phải.
Điều này gây cho tôi một cảm
giác thật sự đau buồn. V́ tôi trộm nghĩ trong đời sống
thường nhật, một người ăn cắp của cải vật chất, sẽ bị ṭa án
kết tội là những phạm nhân h́nh sự và rồi dư luận công chúng
lên án và xem thường họ như thế nào? C̣n đối với một nhân
chứng trước toà án, chuyện không có mà nói có, chuyện chưa
đọc mà nói đọc rồi, nếu ṭa khám phá ra, họ sẽ bị ghép vào
tội h́nh sự và bị tống giam. Đối với giới cầm bút và quan
trọng hơn nữa là một nhà viết sử, th́ sự gian lận trí thức
phải được đánh giá như thế nào đây? Ông phải trả lời làm sao
trước học tṛ của ông và trước công luận. Thật sự, tôi không
dám suy nghĩ tiếp. Để ông tự vấn lương tâm của chính ḿnh.
II. Vị trí Của Người Viết
Nhưng trước khi chính thức
đưa ra những nhận định từng điểm một về bài viết của ông,
tôi xin tŕnh bày sơ lược đôi ḍng về gia đ́nh tôi, để tránh
trường hợp, khi các ông không c̣n t́m được lư lẽ để thảo
luận nữa, các ông lại quay ra bảo tôi nhận tiền của đồ đệ
nhà Ngô để phục hận …hay là những tên Việt Cộng bêu xấu
những nhà viết sử quốc gia.
Tôi là một sinh viên mới
đến Mỹ từ năm 1995, mới tốt nghiệp tại Đại Học thuộc
miền Nam California ban Nhăn Văn, được 4 năm, v́ khi đến
định cư tại miền đất này, tôi chỉ hơn 12 tuổi, nên tiếng
Việt của tôi không được khá lắm, c̣n tiếng Anh th́ đến nay
vẫn c̣n tệ hại hơn nữa. Nhưng trong thời gian qua, mỗi ngày
tôi vẫn cố gắng học thêm tiếng Việt và tiếng Anh của tôi. Do
đó, tôi viết bài này chắc chắn có nhiều sai sót, mong được
quí vị thứ lỗi cho.
Trước đây, ông Ngoại tôi sống
ở khu vực Bến Ngự, thành phố Huế, lúc đó, ông tôi chỉ là một
tuỳ phái ở Toà Khâm Sứ vào đầu thập niên 1930, nhưng v́ nghe
danh Cụ Phan Bội Châu, lúc đó cũng bị Pháp bắt an trí ở Bến
Ngự, nên thỉnh thoảng lại đến xin gặp cụ Phan. Ông tôi
nghe cụ Phan khen cụ Diệm đáo để về đức liêm khiết, chính
trực, một ḷng v́ dân v́ nước, đă không màn công danh
phú quí, dám từ chức Thượng Thư Bộ Lại để thách thức cả
chính quyền Thực Dân Pháp thời bấy giờ. Đó là một con người
nghĩa khí hiếm có. Nên sau này, khi cụ Diệm về chấp chánh,
ông tôi cũng là một công chức nhỏ, nhưng lúc nào cũng kính
phục cụ Diệm. Đến năm 1963, biến cố Phật Giáo bùng nổ ở Huế.
Ông tôi theo Đạo Ông Bà, không bao giờ tới chùa. Nhưng bà
ngoại tôi là một Phật Tử thuần thành rất siêng năng đi chùa.
Theo hiểu biết nông cạn của tôi, bà không theo Đạo Phật,
nhưng thực hành theo giáo lư nhà Phật, là ḿnh phải tu thân
theo một con đường Phật dạy tự cứu thoát ḿnh ra khỏi kiếp
luân hồi, để sau này được vào cỏi Niết Bàn. Bà tôi tin
Phật như một ông Trời biết thưởng cho những người sống ngay
lành và phạt những người làm việc ác đức. Và bà thường
đến chùa dâng cúng tiền bạc nơi thùng Phước Sương, để mua
phước đức cho con cháu.
Sau này, tôi nghe mẹ tôi kể
lại, là trong những ngày Mồng Một và Rằm, bà tôi và mẹ tôi
thường lên Chùa Từ Đàm để cúng Phật và nghe thuyết pháp.
Vào những ngày tháng 7 và đầu tháng 8, 1963, bà và mẹ tôi
thường lên Chùa, mỗi đêm, bà thường nghe các thầy bảo hôm
nay trong Đà Nẵng, có nhiều ni cô bị mật vụ của Ngô Đ́nh Cẩn
hảm hiếp và rồi bỏ vào bao bố đem đi thả sông, ngày khác bảo
ở Phan Thiết các Sa Di bị mật vụ tra tấn và bỏ đói đến chết
trong nhà lao… Nghe vậy, về nhà, bà tôi khóc nức nở. Ông
tôi cự nự trách mắng bà tôi. Tổng Thống Diệm là người Nho
Học lấy đức Nhân làm đầu, làm sao lại đi làm những chuyện ác
đức như vậy được. Bà tôi và mẹ tôi không dám căi lại ông
tôi, nhưng vẫn tiếp tục đi chùa.
Rồi đến khi tôi từ giă ông
ngoại tôi để qua Mỹ, Ông tôi dặn ḍ tôi: con lớn lên cố t́m
hiểu dùm cho ông. Làm sao Cụ Diệm, một người hiền đức,
quang minh chính trực như vậy, thế mà chỉ trong ṿng có mấy
tháng trong mùa Hè năm 1963, trở thành một người xấu xa, đê
hèn không thề nào tả hết được… V́ món nợ tinh thần với
ông tôi, nên khi qua Mỹ tôi đă cố gắng đọc sách và t́m hiểu
về biến cố 1963. Từ những lư do đó, nên khi đọc nhan đề bài
viết của ông, tôi mừng khấp khởi, v́ tôi nghĩ rằng đây là
bài viết của một sử gia chắc hẳn phải là những nhận định có
giá trị sâu sắc và công minh về biến cố lịch sử này, để tôi
có thể đem lên cúng trước bàn thờ của ông Ngoại tôi.. Nhưng
kết quả, tôi cảm thấy thất vọng năo nề khi đọc bài viết
của một người được gọi là sử gia như ông.
Theo tôi được biết, Ông đă
tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Sử Địa và là giáo viên sử học,
của một trường trung học cấp 3 nào đó ở Việt Nam. Nên tôi
xin tạm dùng những tiêu chuẩn của phương pháp sử học, để
thẩm định bài viết của ông. Tôi xin lỗi ông trước về sự thất
lễ này.
III. Bối Cảnh Lịch Sử
1. Ngay trong phần mở đầu,
ông đă viết:
Chính phủ của Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm ổn định t́nh h́nh…,tổ chức Trưng cầu dân ư ngày
23-10-1955, truất phế Bảo Đại, tự tuyên bố thành lập nền
Cộng Ḥa và tự tuyên bố trở thành tổng thống đầu tiên của
Việt Nam Cộng Ḥa.(1)
Rồi trong phần chú thích 1,
ông giải thích thêm như sau:
(1) Hai câu của cuộc trưng
cầu dân ư chỉ hỏi truất phế hay không truất phế Bảo Đại và
chấp thuận hay không chấp thuận Ngô Đ́nh Diệm làm quốc
trưởng để đặt nền móng dân chủ, chứ không nói đến việc thành
lập nền cộng ḥa và nhất là không nói đến việc chọn Ngô Đ́nh
Diệm làm tổng thống.
Điều này chứng tỏ ông đă
không đọc kỷ về phiếu Trưng Cầu Dân Ư thời đó, mà chính ông
đă trưng dẫn, hoặc ông không đủ hiểu biết về khía cạnh pháp
lư của vấn đề, hoặc v́ thành kiến ông đă cố t́nh nói sai sự
thật. Tôi xin chép lại câu 2 của phiếu Trưng Cầu Ư Kiến thời
đó mà ông đă trưng dẩn trên đây:
Chấp thuận hay không
chấp thuận Ngô D́nh Diệm làm Quốc Trưởng để đặt nền móng dân
chủ.
Rồi ông viết chứ không nói
đến việc thành lập nền Cộng Ḥa và nhất là không nói đến
việc chọn Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống. Thực sự, tôi không
hiểu ông muốn nói ǵ! Theo một người có chút hiểu biết về
thể chế chính trị dân chủ, hiện nay trên thế giới chỉ có 2
h́nh thức, đó là chế độ đại nghị và chế độ tổng thống. Như
vậy theo ông, thể chế cộng hoà và chế độ tổng thống, không
phải là những cơ cấu dân chủ? Tôi chỉ đặt câu hỏi, để ông tự
t́m câu trả lời khách quan cho ḿnh.
C̣n đối với tôi, cũng như
những người có trí óc b́nh thường khác đều hiểu rằng, khi có
kết quả cuộc Trưng Cầu Dân Ư với đa số áp đảo, gồm 98% số
phiếu bầu cho ông Diệm, nghĩa là toàn dân đă uỷ thác cho ông
nhiệm vụ phải xây dựng nền móng Dân Chủ, th́ ông có quyền
chọn lựa bất cứ một thể chế chính trị dân chủ nào thích hợp
cho hoàn cảnh của đất nước lúc đó để mang lại lợi ích tối đa
cho quốc gia. Đó là việc làm đứng đắn, chính danh, hợp lư và
hợp pháp, v́ đó là theo nguyện vọng mà đa số dân chúng đă ủy
thác cho ông qua cuộc Trưng Cầu Dân Ư.
Ví thế, trong bản Tuyên Cáo
đọc trước quốc dân ngày 26. 10. 1956, ông Ngô Đ́nh Diệm
tuyên bố:
Thể theo nguyện vọng mà
đồng bào đă bày tỏ qua lá phiếu trong cuộc Trưng Cầu Dân Ư,
ngày 23. 10 vừa qua, tôi long trọng tuyên bố Quốc Gia Việt
Nam là một nước Cộng Hoà
Và tiếp theo trong Hiến Ước
tạm thời số 1 cũng ban hành trong ngày 26. 10. 1955, Ông
Diệm đă xác dịnh rơ:
Từ nay, Quốc Trưởng sẽ kiêm nhiệm chức vụ Thủ Tướng,
được gọi là Tổng Thống
Rồi sau đó, vào ngày
4.3.1956, chính phủ đă tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến, để
chọn 123 dân biểu đại diện cho toàn thể đồng bào trên toàn
quốc, để soạn thảo hiến pháp.
Quốc Hội Lập Hiến khai mạc ngày 15. 3. 1956,
Và tiếp theo, ngày 18. 4..
1956, Quốc Hội đề cử Uỷ Ban soạn thảo Hiến Pháp gồm 15 dân
biểu, trong đó có những nhà luật học tên tuổi như Vũ Quốc
Thông, Nguyễn Hữu Châu, Trần Chánh Thành, Hà Như Chi và
Nguyễn Phương Thiệp.
Rồi sau đó, Quốc Hội Lập Hiến
đă bỏ phiếu chung quyết để chấp thuận bản Bản Hiến Pháp cùng
với những điều khoản căn bản như sau:
· Việt Nam là nước Cộng Hoà, Độc
Lập, Thống Nhất, lănh thổ bất khả phân. (điều 1)
· Quốc Hội Dân Cử ngày 4. 3. 1956,
sẽ là Quốc Hội Lập Pháp đầu tiên theo Hiến Pháp VNCH. (điều
95)
· Đương kim Tổng Thống được nhân
dân uỷ nhiệm thiết lập nền dân chủ trong cuộc trưng cầu dân
ư ngày 23. 10. 1955, sẽ là Tổng Thống đầu tiên theo Hiến
Pháp VN CH (điều 96)
· Trong khoá họp thứ nhứt của Quốc
Hội Lập Pháp đầu tiên, đương kim Tổng Thống sẽ chỉ định Phó
Tổng Thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhất định nếu
được Quốc Hội chấp nhận. (điều 97).
Những sự kiện và thủ tục pháp
lư trên đây chứng nhận rằng Ông Diệm đă được toàn dân ủy
thác để xây dựng một nền móng cho cơ chế dân chủ của Việt
Nam. Và để thi hành ư nguyện của toàn dân giao phó, ngày 26.
10. 1955, ông đă long trọng tuyên cáo Việt Nam là một nước
Cộng Ḥa và từ nay Quốc Trưởng sẽ kiêm nhiệm chức vụ Thủ
Tướng được gọi là Tổng Thống. Và 2 điều căn bản trong bản
Tuyên Cáo này, trước đó đă được toàn thể 123 vị dân biểu,
đai diện cho toàn thể đồng bào trên toàn quốc, long trọng
biểu quyết chấp thuận trong bản Hiến Pháp, được Tổng Thống
Diệm chính thức ban hành vào ngày 26. 10. 1956
Như vậy, việc ông Ngô Đ́nh
Diệm thành lập chính thể Cộng Hoà và trở thành Tổng Thống
đầu tiên của Việt Nam là việc làm hợp lư, chính danh, hợp
pháp và hợp hiến. Không biết ông Phụng có thể dẫn chứng
một nguyên tắc nào trong Luật Hiến Pháp và điều khoản nào
trong bản hiến pháp của Đệ I CHVN, cho biết việc làm của ông
Diệm là sai luật, để rồi ông phải đặt những nhận định ngớ
ngẩn như thế. Như vậy đứng về phương diện sử học, ông đă có
2 điểm sai lầm (sai lầm 1 &2)
Xin lỗi ông, người xưa có câu “xấu hay làm tốt, dốt hay
nói chữ.” Khi viết những ḍng chữ này, tôi liên tưởng
đến trường hợp của tướng Đỗ Mậu, trong tác phẩm Việt Nam Máu
Lửa Quê Hương Tôi. Theo thiển nghĩ của tôi, tŕnh độ học
vấn của ông Mậu chưa qua khỏi bậc tiểu học, nên khi đọc Hiến
Pháp Đệ I CHVN, v́ không hiểu nổi thuật ngữ chuyên môn Quốc
Dân, (ở điều 3) và việc biểu quyết thông qua một đạo luật ở
Quốc Hội, (điều 69), nên ông Mậu lên tiếng chê các nhà luật
học tên tuổi mà tôi dẫn chứng ở trên như Gs Vũ Quốc Thông,
Trần Chánh Thành…là không biết luật... Thật là mỉa mai và
nghich lư, một học sinh chưa đổ tiểu học mà đi dạy luật pháp
cho các giáo sư luật học nổi tiếng. Đó là trường hợp hợm
ḿnh đến trơ trẽn, mất tư cách mà không biết xấu hổ của ông
Đỗ Mậu. Và tôi ước mong rằng, ông Phụng không ở trong trường
hợp đó.
2. Tản quyền cho các Đại Biểu
Chính Phủ
Qua phần kế tiếp, ông viết:
Tuy nền Cộng ḥa được phân
nhiệm rơ ràng, chính phủ trung ương gồm nhiều bộ trưởng điều
hành việc nước, đồng thời tản quyền cho các ṭa đại biểu tại
các vùng (Trung nguyên Trung phần, Cao nguyên Trung phần,
Miền Đông Nam phần, Miền Tây Nam phần),
Xin ông đọc lại Hiến Pháp Đệ I Cộng Ḥa, Thiên Thứ Ba về
Tổng Thống, từ điều 30 đến điều 47, có chỗ nào nói về việc
Tổng Thống phải chia quyền cho các ông Đại Biểu Chính Phủ?
Tiếp đến, ông là người viết sử, chắc ông phải biết điều kiện
tiên quyết, trước khi ông Diệm nhận lời mời của Quốc Trưởng
Bảo Đại về nước chấp chánh là phải giao cho Ông toàn quyền
hành động về hành chánh và quân sự.
Tại sao vậy? V́ trước đây
Quốc Trưởng Bảo Đại thường qua mặt Thủ Tướng để ra lệnh trực
tiếp cho các Thủ Hiến. Lúc đó Ông Diệm cần có một chính
quyền mạnh, tập trung quyền hành về trung ương để đối phó
với một t́nh thế vô cùng nghiêm trọng, như Tướng Nguyễn Văn
Hinh, Tổng Tư Lệnh quân đội, đang thách thức quyền hành lănh
đạo của Thủ Tướng, B́nh Xuyên, đang nắm Lưc Lượng Công An &
Cảnh Sát tại Đô Thành, đe doạ trực tiếp Dinh Độc Lập, rồi
Bảy Viễn liên kết với các giáo phái Cao Đài & Hoà Hảo, gởi
tối hậu thư đ̣i hỏi chính phủ phải cải tổ nội các trong ṿng
5 ngày và sau cùng là sự phá rối cùa CS. Lúc đó, Thủ Tướng
Diệm cần phải có một chính phủ trung ương với quyền lực
mạnh, để có thể mang lại trật tự và an ninh cho một vùng đất
loạn lạc sau nhiều năm chiến tranh, để khần cấp định cư cho
gần 1 triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam.. Tiếp đó khi
Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế. Tổng Thống Diệm đă ban
hành Dụ 57a, ngày 24. 10. 1956, băi bỏ các Phần trong cơ cấu
hành chánh Việt Nam và ấn định rơ ràng quyền hạn của các Đại
Biểu Chính Phủ.
Như vậy việc Tổng Thống Diệm
không tản quyền cho các ông đại biểu chinh phủ là việc làm
hợp lư, hợp pháp và phù hợp với thực tại chính trị Miền Nam
lúc đó. Tại sao một sử gia như ông, lại có những câu phê
b́nh về cơ cấu hành chánh của một chính quyền mà lại hoàn
toàn thiếu cơ sở luật học đến tệ hại như vậy (sai lầm 3)
Khi đọc những nhận định của
ông sử gia, tôi có cảm tưởng rơ ràng rằng ông không có chút
kiến thức tối thiểu về luật học, ông lại không cần bận tâm
đọc bản Hiến Pháp của VNCH cũng như bất cứ một văn kiện lập
qui nào cả, nhưng ông rất thích nói về luật pháp. Đó là điều
một người viết sử c̣n chút tư trọng nên tránh. V́ theo tôi,
uy tín của một sử gia được xây dựng trên sự liêm khiết trí
thức và vốn kiến thức uyên thâm của ḿnh, chứ không phải qua
lối khoa trương gian lận về kiến thức. V́ sự gian dối trí
thức thế nào cũng bị bại lộ, lúc đó không những uy tín của
ḿnh, nếu có, sẽ bị sụp đổ thảm hại, mà c̣n thể hiện phẩm
cách thấp kém của ḿnh.
3. Độc Tài & Gia Đ́nh Trị
Rổi ông viết tiếp:
...nhưng ngoài tổng thống
Diệm, quyền hành nằm trong tay một số người là các ông bà
Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, và một số ít người thân tín..
Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục không chính thức giữ một chức vụ
hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến
Tổng Thống Diệm, đến các bộ trưởng trong chính phủ và các
viên chức địa phương. Lúc đó, dư luận cho rằng Tổng Thống
Diệm chủ trương độc tài và gia đ́nh trị.
Trong một đoạn khác ông lại
viết:
Dư luận nầy c̣n thêm rằng ông
Thục tŕnh với Ṭa thánh Vatican rằng số tín đồ trong tổng
giáo phận Huế, lúc đó gồm hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị,
do ông cai quản chiếm 80% dân số khu vực. Tháng 5-1963, Ṭa
thánh cử một phái đoàn điều tra đến Huế, th́ dân chúng Phật
tử đang treo cờ mừng Phật Đản. Kết luận sơ khởi của phái
đoàn là chỉ có 20% dân chúng địa phận Huế theo Ky-Tô giáo
chứ không phải 80
Một nhà viết sử, đối với một
sự kiện xảy ra cách đây hơn 46 năm rồi, không thể viết lúc
đó, dư luận cho rằng, tôi xin nhắc lại, bổn phận của một sử
gia là đủ kiến thức về sự thật và thực tại (factual
knowledge), kế đến là biết đưa ra những nhận định, phán đoán
về giá trị của sự việc (judgments of value). Thưa ông, ngay
cả đến một người kư giả thường họ cũng không thể viết một
cách cẩu thả như vậy được, mà họ thường thêm vào câu như
thế này V́ đây là một tin tức chưa được kiểm chứng, chúng
tôi xin phổ biến sự việc này với tất cả sự dè dặt và thận
trọng thường lệ. V́ nếu viết cẩu thả như ông, họ sẽ bị đưa
ra toà v́ tội vu cáo và mạ lỵ (defamation) người khác. Ông
viết ông Thục tŕnh với Toà Thánh. Ngay điều căn bản này ông
đă viết sai, v́ tôi vừa điện thoại để hỏi một vị giáo sư về
giáo luật của Đại Chủng Viện St. Patrick ở California này.
Linh mục này cho biết, không có nguyên tắc tự đề cử ḿnh
hay tự xin để trở thành giám mục hay hồng y trong Giáo Hội
Công Giáo. Và ngay cả những ứng viên đă được đề cử
(nominated candidate) mà đi vận động thêm cho ḿnh, cũng sẽ
bị loại bỏ (disqualified) ngay.. Như vậy, ông Thục là
một giám mục, là một người đă tốt nghiệp tiến sĩ giáo luật,
ông sẽ không làm chuyện ngớ ngẩn như vậy. Tôi không ngờ một
người viết sử như ông lại viết một cách thiếu trách nhiệm
như vậy.
Thêm vào đó, ông là sử gia
th́ ông phải biết điều tra, thu góp tài liệu từ nhiều phía,
rồi phân tích tổng hợp để đưa ra một nhận định giá trị,
khách quan và vô tư về một sự kiện lịch sử. Ông không thể
trốn chạy trách nhiệm trong việc kết tội, lên án người khác
một cách bất công, thiếu cơ sở, thiếu chứng cớ bằng cách nói
lập lờ, lấp liếm với lối dùng chữ dư luận cho rằng…V́ lương
tâm đạo đức của người viết sử là sự liêm khiết, phán đoán
khách quan, không được bóp méo hay xuyên tạc lịch sử và sử
gia c̣n có trách nhiệm phải nói lên sự thật lịch sử không
những cho những người c̣n sống mà cả cho những người đă
khuất. (sai lầm 4 và 5 )
4. Vấn dề gia đ́nh trị.
V́ phạm vi hạn hẹp của bài
báo, không cho phép tôi tŕnh bày cặn kẽ và chi tiết vấn đề
này. Tôi chỉ nói một cách tổng quát về lời cáo buộc gia đ́nh
trị của họ Ngô. Trước hết, chỉ có ô. Ngô Đinh Nhu là cố vấn
chinh trị chính thức của Tổng Thống Diệm. Ông Ngô Đ́nh Luyện
là Đại Sứ Việt Nam ở Anh Quốc.
C̣n Bà Ngô Đ́nh Nhu, tức là
Trần Lệ Xuân, Dân Biểu Quốc Hội. Bà không có chức vụ và
quyền hành nào trong chính quyền. Ô. Ngô Đinh Cẩn là Cố vấn
các Đoàn Thể Chính Trị Tại Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung
Phần, không phải là một chức vụ trong chính quyền..
Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, trước
là Giám Mục Địa Phận Vĩnh Long, đến tháng 11 năm 1960, là
Tổng Giám Mục Địa Phận Huế. Ông giám mục này không có một
chức vụ nào trong công quyền. Th́ làm sao bảo quyền hành nằm
trong tay những người như Ông Cẩn, bà Nhu hay ông Thục được?
Tôi không muốn bênh vực Tổng
Thống Diệm hay gia đ́nh của ông. Điều đó không đúng với chủ
đích của tôi hôm nay. Tôi chỉ muốn nói với ông khi làm một
phán đoán, phải trưng dẫn chứng cớ, tài liệu, chứ không thể
đơn thuần đưa ra sự kiện mang tính suy diễn, v́ biến cố đó
đă xảy ra cách đây đă 46 năm rồi. Tôi muốn trích dẫn quan
niệm của những người binh vực cho ông Diệm, họ đă đưa ra
chứng cớ, để ông thấy rơ phương pháp của người viết sử cần
phải làm.
Họ vẫn mang tiếng là gia đ́nh trị, bởi v́ các công chức cao
cấp trong ngành hành chánh, các tướng tá lớn nhỏ trong quân
đội không biết tự trọng, chỉ biết nịnh hót, bợ đở, cậy thần
cậy thế mà gây ra nhiều tai tiếng. nếu có trách, phải
trách những hạng người vô liêm sĩ này trước,
Và sau đây, tôi xin trưng dẫn
tài liệu về Tướng Trân Văn Đôn, như là một trường hợp điển
h́nh:
Theo Trung Tá Minh, lúc Trần Văn Đôn đến nhậm chức Tư lệnh
Quân Đoàn I và Quân Khu I, có đến thăm xă giao Ngô Đ́nh Cẩn.
Thăm xă giao th́ cũng được đi, nhưng sau khi thăm xă giao
lại xin chỉ định cho một sĩ quan chánh văn pḥng. Thật là
một sự yêu cầu nhảm nhí, tự ḿnh phủ nhận quyền hành của
ḿnh! Ngô Đ́nh Cẩn đâu phải là Tổng Tham Mưu Trưởng, quản
trị tất cả nhân viên quân đội? Văn Pḥng Tư Lệnh quân khu là
do Tư Lệnh Quân Khu tổ chức, sắp đặt, liên can ǵ đến Ngô
Đ́nh Cẩn mà phải hỏi. Lúc Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm
Đôn ra Huế, có bắt buộc Đôn phải hành động như vậy không?
Chắc chắn là không! V́ đó là vấn đề tiểu tiết, Đôn phải tự
ḿnh lo lấy. Nhưng Đôn đă bợ đỡ Ngô Đ́nh Cẩn không phải chỗ
và không phải lúc. Vô h́nh chung, Đôn đă tự tạo ra rồi
gán cho Ngô Đ́nh Cẩn là gia đ́nh trị. Người đáng phỉ nhổ
trong vụ này là Trần Văn Đôn chứ không phải là Ngô Đ́nh
Cẩn.
Tóm lại, về vấn đề này, tôi
chỉ xin thử đặt câu hỏi, tại sao Tổng Thống Diệm có ô. Nhu
và ô. Luyện trong chính quyền, th́ bảo là Gia đ́nh trị?
Trong khi Tổng Thống John F. Kennedy có em ruột là ô. Robert
Kennedy làm Tổng Trưởng Tư Pháp, ô. Edward Kennedy lọt vào
Thượng Viện từ năm 1962, khi J. F. Kennedy c̣n đang tại
chức. C̣n Tổng Thống Thiệu có anh ruột là ô. Nguyễn Văn
Kiểu, làm đại sứ Đài Bắc, Ông Ngô Khắc Tỉnh, họ hàng thân
tộc của Ông Thiệu làm Tổng trưởng Giáo Dục, và có cháu kêu
bằng Cậu là Hoàng Đức Nhă làm Tổng Trưởng Dân Vận. Không
ai bảo 2 chính quyền này là gia đ́nh trị cả, phải chăng v́
một gia đ́nh là của chính quyền Mỹ, c̣n một chính quyền là
tai sai của Mỹ, nên không bị báo chí Mỹ chỉ trích, nên
các sử gia như ông cũng không bao giờ dám chỉ trích? Tôi
thấy ông là người viết sử mà lại không có lấy một nhận định
khách quan và độc lập, không có một phân tích, một phán đoán
thận trọng và hợp lư, mà chỉ chép lại một cách vô trách
nhiệm những lời kết án vô bằng chứng, đầy thiên kiến và ác ư
của một số kư giả Mỹ thiếu lương tâm chức nghiệp ngày xưa.
Nhiều khi tôi tự hỏi: Hay là ông đă bỏ quên lương tâm chức
nghiệp của người viết sử rồi? (sai lầm 4 &5)
IV. Về 3 Biến Cố Lịch Sử
V́ vậy, chính phủ Diệm càng
ngày càng bị phản đối, nổi bật nhất là các vụ: 1) Ngày
26-4-1960, 18 chính khách tên tuổi trong Uỷ Ban Tiến Bộ Và
Tự Do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài G̣n, ra kháng thư
công khai phản đối chế độ Ngô Đ́nh Diệm độc tài. 2) Ngày
11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông đảo
chánh hụt. 3) Ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và
Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập.
1. Nhóm Trí Thức Caravelle
Tôi cảm thấy rất buồn khi
thấy ở đây, ông chỉ chép lại các sự kiện, không bận tâm t́m
hiểu các nguyên nhân của các sự kiện, không cần t́m hiểu
quan điểm của phía bị ông kết án. Rồi ông vội vă đưa ra
những nhận xét không đứng đắn, thiếu chính xác và không công
b́nh với những người đă khuất, mà ít ra một thời, dù đứng ở
quan điểm nào đi nữa, phải công nhận họ đă góp phần tich cực
trong công cuộc phục hồi độc lập và phát triển quốc gia.
Để có một nhận định khách
quan và vô tư hơn về vấn đề này, chúng ta nên khảo sát sơ
lược các thành tố đă chi phối bối cảnh chính trị Việt Nam
lúc bấy giờ. Đó là CS Bắc Việt, Hoa Kỳ và Chính Phủ VNCH.
· Phía Cộng Sản Bắc Việt
Đầu năm 1959, nhà cầm quyền
Hà Nội đă gia tăng mức độ tiếp tế vào Nam để mở rộng hoạt
động du kích phá hoại trên toàn miền Nam. Đồng thời chính
sách đấu tranh của CS lúc đó là phương châm ba vùng và ba
mặt đấu tranh. Tưởng cũng nên giải thích ở đây CS dùng
ba vùng là vùng rừng núi, nông thôn và đô thị và ba mặt là
mặt trận quân sự, chính trị và binh vận. Riêng tại đô
thị, lúc đó, CS đă mở những chiến dịch đấu tranh chính trị
nguỵ trang dưới những cuộc biểu t́nh như đ̣i giảm học phí
trường tư, tăng lương công nhân viên chức, chấm dứt nạn đuổi
nhà, giải quyết nạn thất nghiệp, miễn thuế lương bổng cho
giáo chức trường tư thục.. nhằm mục đích tạo nên những rối
loạn chính trị tại Saigon, đồng thời CS c̣n chỉ đạo cho
những nhà văn, nhà báo nằm vùng như Thiếu Sơn, Nam Đ́nh, Vũ
Hạnh, Sơn Nam, Lữ Phương… viết báo đả kích những chính sách
của chính phủ, nhằm làm giảm uy tín của chính quyền và khơi
dậy sự bất măn trong dân chúng.
· Phía Hoa Kỳ
Nhưng điều quan trọng hơn
cả, lả khi t́nh h́nh an ninh suy sụp, và sự bất ổn gia tăng,
th́ mâu thuẫn giữa chính phủ Hoa Kỳ và Tổng Thống Diệm càng
trở nên sâu sắc hơn. Thực vậy, như khi Tổng Thống Nixon
sau này nhận xét, các viên chức Hoa Kỳ, đă quan niệm sai lầm
về bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong khi Hoa kỳ
nghĩ rằng cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh cách
mạng. Họ lập luận rằng đây là cuộc chiến tranh do những phần
tử bất măn với cách cai trị độc đoán của chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm nổi dậy chống đối chính quyền miền Nam. Từ đó họ
luôn đ̣i hỏi Tổng Thống Diệm phải mở rộng tự do báo chí, tự
do hội họp và tự do lập các đoản thể, đảng phái chính trị,
tạo điều kiện cho các chính trị gia đối lập tham gia vào nội
các để có thêm hậu thuẫn trong quần chúng. Theo các chuyên
gia này, nếu những điều trên được thực hiện tốt đẹp, th́ dân
chúng cũng như các chính trị gia rất hân hoan, phấn khởi và
hăng hái tham gia cùng chính phú trong công cuộc chống CS,
th́ lúc đó, CS sẽ không c̣n đất sống ở Miền Nam nữa.
Trong khi đó, th́ Tổng
Thống Diệm quan niệm đây là cuộc chiến tranh du kích, phá
hoại, khủng bố, khuynh đảo do Cộng Sản Hà Nội điều động, đột
nhập từ Miền Bắc vào. Không phải là cuộc chiến tranh do
dân chúng Miền Nam bất măn nổi dậy chống chính phủ như người
Mỹ nhận định. Tổng Thổng Diệm cho rằng, không lẽ bây giờ ban
hành tự do báo chí, tự do lập hội, để phe đối lập tự do chỉ
trích chính phủ th́ tự nhiên Cộng Sản ở nông thôn sẽ chạy
vào rừng lẫn trốn hay chạy về Bắc lánh nạn, hay trái lại CS
sẽ có lợi thế xâm nhập, khuấy động và lũng đoạn và phá hoại
dữ dội hơn. Điều quan trọng nhất là làm sao cho người dân ở
thôn quê, chiếm khoảng 80% dân số, được bảo đảm an ninh,
không bị Việt Cộng khủng bố, đêm đêm du kích CS vào nhà,
dùng súng uy hiếp, để thu thóc gạo, tiền bạc, thuốc men và
bắt con em họ đí lính cho CS. Hơn nữa người dân quê, cần
chính phủ tạo cho họ một đời sống đủ ăn, đủ mặc, chống lại
sự bóc lột của chủ đất và một thiểu số có thế lực và giàu có
.
V́ không được Tổng Thống
Diệm chia sẻ quan điểm của ḿnh, người Mỹ lại thi hành một
đường lối khác. Trước hết họ tiếp xúc với các chính trị
gia đối lập như Nguyễn Văn Lực (VNQDĐ), Đặng Văn Sung (ĐV),
Nguyễn Trân, Phan Quang Đán, Phan Huy Quát (ĐV), Lê Quang
Luật, Trần Văn Lư, Lê Ngọc Chấn, các lănh tụ nghiệp đoàn như
Trần quốc Bửu, Đàm Sĩ Hiến, những chính khách miền Nam như
Trần Văn Văn, Bs Trần Văn Đỗ, Trần Văn Hương, Phan Khắc Sửu,
Bs. Nguyễn Lưu Viên, Bs Nguyễn Tăng Nguyên, Bs Hồ Văn
Nhật... Sau đó, họ mớm cho các chính trị gia này viết kiến
nghị lên Tổng Thống Diệm đúng như yêu cầu của họ đă đ̣i hỏi
Tổng Thống Diệm thi hành, mà không được chấp nhận. Đặc biệt
nhất là trong điện văn ngày 16. 3. 1960, thuật lại một cuộc
gặp gỡ giữa đại diện của Toà Đại Sứ Mỹ tại Saigon với Bs. Hồ
Văn Nhựt và ô. Trần Văn Văn… Trong buổi tiếp xúc này, Ông
Văn đă trao cho đại diện của toà Đại Sứ một bản Cương Lĩnh
Chính Trị của Nhóm Đối Lập. Một Quốc Hội Lâm Thời được thành
lập khi chính phủ [Diệm] bị lật đổ, và một Chính Phủ Lâm
Thời (bao gồm danh sách các nhân vật) được thiết lập trong
trường hợp biến cố đó xảy ra, Rất tiếc, là tôi chưa t́m
được những văn bản của ông Văn trao cho Toà Đại Sứ Mỹ
lúc đó để đối chiếu với Bản Thỉnh Nguyện Thư mà Nhóm của
ông Trần Văn Văn đă tŕnh bày tại khách sạn Caravelle vào
ngày 26. 4. 1960, và danh sách chính phủ mà ô. Trần Văn Văn
trao cho Toà Đại Sứ Mỹ có trùng hợp với 18 vị chính trị gia
đối lập trong Nhóm Caravelle ? Ông ngoại tôi kể lại cho
nghe, theo Cụ Vơ Văn Hải, là người thân tín của Tổng Thống
Diệm nói rằng văn pḥng Tổng Thống Phủ đă có đầy đủ bằng
chứng là nhân viên sứ quán Mỹ ở Saigon thời đó đă sửa những
lỗi Anh văn cho bản manifesto này.
V́ hiện nay, chưa có đầy đủ
tài liệu, để biết được những khía cạnh thực của sự kiện lịch
sử này. Nhưng ít ra, chúng ta cũng biết rơ được 2 điều:
· Trước khi ông Văn
công bố Bản Tuyên Ngôn của Nhóm Caravelle,( ngày 26. 4..
1960) Ông Văn đă tiếp xúc cho Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon (ngày
16. 3. 1960)
· Nội dung của Bản Tuyên Ngôn
mà ông Văn công bố hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Toà
Đại Sứ Mỹ lúc đó, là lên án chế độ Diệm độc tài, mở rộng
quyền tự do ngôn luận tự do báo chí, tự do hội họp, tự do
lập hội và mở rộng thành phần nội các v.v.
Trước hết, để có một ư niệm
khách quan hơn, ta thử đặt câu hỏi, về phương diện pháp lư,
Tổng Thống Diệm khi hạn chế các quyền tự do đó, có hợp pháp
hay không?
Ông làm điều đó rất hợp pháp và hợp hiến v́ điều 98 trong
Hiến Pháp có ghi rơ:
Trong nhiệm kỳ Lập Pháp đầu
tiên, Tổng Thống có thể tạm thời đ́nh chỉ sự sử dụng các
quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự
do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đ́nh công để
thoả măn những đích đáng của an toàn chung, trật tự công
cộng và quốc pḥng.
Rồi qua nhiệm kỳ Lập Pháp 2,
ngày 19. 10 .1961 Quốc Hội đă biếu quyết luật số 13/61:
Uỷ quyền cho tổng thống ban
hành những sắc luật về các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia
và điều động các nhân lực cần thiết
Thứ đến, thử hỏi biện pháp
này có phù hợp với thực tại chính trị Việt Nam lúc đó
không? Phải nói ngay rằng, rất phù hợp, v́ lúc đó, CS đang
gây rối, đánh phá chính
quyền trên một trận rộng lớn và toàn diện trong chính sách
đấu tranh ba vùng và ba mặt
như tôi vừa tŕnh bày ở trên.
Khi hiểu được những khái
niệm ở trên, chúng ta nhận thấy rằng những yêu sách của
Nhóm Caravelle là không hợp lư, bất hợp pháp và không
phù hợp với thực tại chính trị Việt Nam thời đó, và vi phạm
vào những biện pháp an ninh quốc gia trong thời chiến, lúc
bấy giờ, v́ không có quốc gia nào trên thế giới, trong t́nh
trạng chiến tranh, lại không hạn chế tối đa những quyền tự
do dân chủ ấy. Thêm vào đó, nếu ngày nay ta có thêm bằng
chứng, những “nhà” được gọi trí thức này, đă cấu kết với Hoà
Kỳ, chỉ v́ tham vọng cá nhân, bè phái… để tạo thêm những rối
loạn cho một đất nước vốn đă bất ổn v́ t́nh trạng chiến
tranh và phá hoại của CS, th́ càng đáng bị lên án hơn nữa.
Đến nỗi, Duncanson, một nhà b́nh luận người Anh cũng đă phải
viết rằng:
Nếu bản kiến nghị này được
đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của một Miền Nam
không bị CS Hà Nội đe doạ tiêu diệt, th́ đó là một yêu sách
đáng được cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất, là khi
cộng quân đă tấn công đến cấp trung đoàn và các vụ sát hại
các viên chức chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày, th́ đó là
một yêu sách nếu không muốn bảo là ngớ ngẫn, th́ ít ra cũng
bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan.
Với những dẩn chứng trên, tôi
nghĩ một người có trí óc b́nh thường cũng hiểu rằng việc làm
của các chính trị gia trong Nhóm Caravelle là việc làm sai
trái, bất hợp pháp và không phù hợp với thực tại chính trị
Miền Nam. Nếu chính quyền có phải đưa họ ra toà, cũng là
điều đương nhiên, v́ họ đă vi phạm luật pháp quốc gia. Nhưng
Tổng Thống Diệm đă không làm điều đó, cho đến khi họ tham
gia vào cuộc bạo loạn có vũ trang nhằm khuynh đảo chính
quyền của nhóm Trung Tá Vương Văn Đông, th́ họ mới bị câu
lưu và đưa ra toà án xét xử một cách công minh, và cuối cùng
đa số những vị này đều được tha bổng…Lấy cơ sở pháp lư và
luận lư nào để bảo Tổng Thống Diệm là độc tài? Xin ông sử
gia dẫn chứng.
2. Rồi vụ Đảo Chánh ngày 11.
11. 60
Theo tài liệu ngày nay tiết
lộ của chính người chủ trương, ta thấy rơ đây chỉ là chủ
trương của một nhóm sĩ quan cấp tá, đầy tham vọng cá nhân,
manh động, không có chủ trương, không có đường lối và được
sự xúi bẩy bởi CIA, chính trung tá Đông đă tiết lộ:
Đầu tháng 10. 1960, trong một
cuộc họp Ls. [Hoàng Cơ] Thuỵ đă cho Hội Đồng biết có một
nhân vật Hoa Kỳ, ông Carver, qua sự giới thiệu của một người
bạn, ông Thuỵ đă liên lạc với ông ta. Mục đích của cuộc liên
lạc [của Carver] là t́m hiểu và khuyến khích giới đối lập
đứng lên chống chế độ với sự ủng hộ của Mỹ, hay ít ra là
thành phần CIA tại Việt Nam
Và sau khi cuộc đảo chánh
thất bại, George Carver, đă dùng phương tiện của Mỹ, đưa
Hoàng Cơ Thuỵ trốn sang Pháp, và chính quyền Việt Nam thời
đó nói rằng họ có bằng chứng về những liên lạc thường xuyên
và mật thiết của những nhân viên của sứ quán Mỹ ở Saigon với
những người mưu sát Ngô Đ́nh Diệm . V́ thế, sau đó Howard C.
Elting và G. Carver đă phải rời khỏi nhiệm sở ở Saigon.
3. Vụ bỏ bom dinh
độc Lập 27.2.1962
Có những sự trùng hợp quá
khác thường để những người nghiên cứu phải suy nghĩ, sau khi
ông Nguyễn Văn Lực (Cha của Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Cử)
được mời qua Mỹ quan sát và sau khi Frank C. Child, một nhân
viên trong Phái Bộ của Đại Học Tiểu Bang Michigan cho Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh trở về Mỹ, th́ chính Frank C. Child
này đă gởi một phúc tŕnh cho Carl Kayson, một thành viên
tham mưu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia vào 5. 10. 1961.
Trong đó Child viết:
Có những nhân vật thông minh
và có khả năng ở Việt Nam có tài lănh đạo và thu hút được
niềm ước vọng của dân chúng- chỉ có một cuộc đảo chánh quân
sự, hay một viên đạn ám sát- là những phương tiện duy nhất
để cho tài lănh đạo này được thực hiện.
(xem thư của Frank C. Child,
trong hồ sơ US policy in Vietnam, Kennedy Library)
Th́ đến ngày 27. 2. 1962, xảy
ra vụ 2 Trung Úy Phi Công là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc
bỏ bom Dinh Độc Lập. Tôi thiển nghĩ đây là những liên hệ
nhân quả của các sự kiện lịch sử đáng được các nhà nghiên
cứu lịch sử t́m hiểu trước khi đưa ra những phê phán một
chiều và thiếu thận trọng như ông đă làm.
C̣n về phương diện luật pháp,
việc dội bom Dinh Độc Lập của Trung Uư Cử và Trung Uư Quốc
là hành động cố sát có dự mưu hay là một vụ ám sát chính
trị. Đối với các quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời
như Pháp, như Anh, (mặc dù trên thực tế Anh quốc là một quốc
gia theo thể chế Quân Chủ Lập Hiến), họ xem ám sát chính trị
là hành động hết sức ghê tởm và toà án thường áp dụng h́nh
phạt tối đa và nặng nề nhất cho hành động sát nhân tệ hại
này, c̣n nặng hơn những vụ án cướp của, giết người. Điều này
thể hiện rơ rệt nhất trong vụ xử án ám sát chính trị dân
biểu Newman, ở Sydney, Úc Châu vào năm 2001.
C̣n đối với đảng phái chính
trị đối lập, mà âm mưu tổ chức vụ ám sát này, th́ chính họ
đă từ bỏ ư nghĩa cao quí và chính danh của một chính đảng
đối lập để trở thành một băng đảng tội phạm hay tổ chức giết
người bất hợp pháp. Th́ làm sao ông bảo là chính quyền cứng
rắn đối với các thành phần đối lập được? V́ chính họ đă tự
biến họ thành những tội phạm h́nh sự, chứ đâu c̣n tư cách
của những chính trị gia đối lập nữa. Nhất là một quốc gia
đang ở trong t́nh trạng chiến tranh phá hoại khiếp hăi của
CS như Việt Nam thời đó, th́ hành động vũ trang bạo loạn của
nhóm sĩ quan cấp tá như Vương Văn Đông và Nhóm Chính Trị Gia
không tưởng, do người Mỹ xúi dục, để gây rối loạn và bất ổn
chính trị và an ninh quốc gia. Rồi lại âm mưu ám sát Tổng
Thống, nhằm tạo nên một t́nh trạng khủng hoảng lănh đạo
trong một đất nước đang cần sự ổn định để chiến đấu chống
Cộng. Đó là những hành động đáng bị lên án và kết tội nặng
nề. Tôi rất đau buồn, khi thấy một người viết sử, có học ở
trường lớp như ông, lại đưa ra những nhận định nghịch lư,
đổi trắng thành đen, đổi đen thành trắng, rồi kết tội những
người hành sử quyền hành một cách hợp pháp, hợp hiến, đáp
ứng nhu cầu của thực tại chính trị của đất nước trong nỗ lực
đem lại sự ổn định cho quốc gia. Rồi ngược lại, ông ca tụng
những người v́ quyền lợi cá nhân, bè nhóm cùng với sự xúi
giục của ngoại bang để gây bất ổn cho đất nước…Không biết
ông đang đứng ở lập trường viết sử nào đây?
Tiếp theo ông viết như sau:
Về phía chính phủ, Tổng
Thống Diệm càng ngày càng tập trung quyền lực, chỉ tin dùng
những người trong gia đ́nh và trong đảng Cần Lao, không mở
rộng thành phần chính phủ.
Tại sao Tổng Thống Diệm phải
làm như vậy? Chính William Colby, Trưởng pḥng CIA
Saigon tiết lộ trong cuốn hồi kư của ông:
Vào năm 1962, trước khi
[Colby] rời Saigon, CIA đă gài người vào cửa trước và cửa
sau
của Dinh Độc Lập cho đến các cộng đồng thôn xă, trong hàng
ngũ chỉ huy tối cao của
quân đội, trong các cấp chỉ huy của các các đơn vị quân đội
cũng như trong giới chính
trị đối lập trên khắp lănh thổ Việt Nam.
(CIA has agents from the
front door to rear door of the Palace to the rural
communities, in the top commanders of military, in the
commanders of units as well as in political oppositions
throughout Vietnam)
Lúc bấy giờ, người Mỹ
đă mua chuộc được cả những người thân cận nhất của tổng
thống Diệm như ô. Vỏ văn Hải , ô. Nguyễn Đ́nh Thuần là
những người được Tổng Thống Diệm tin dùng và cả Bs Trần Kim
Tuyến, một cộng tác viên thân cận của ông Nhu.
Qua những sự kiện trên đây,
ta thấy người Mỹ đă dùng một thủ đoạn vô cùng thâm độc,
nghĩa là họ gài người của họ vào các cơ chế của chính quyền
và mua chuộc các chính khách đối lập. Rồi họ dùng chiêu bài
dân chủ đ̣i buộc Tổng Thống Diệm cải tổ nội các, tản quyền
cho những người của họ có sẵn trong chính quyền, và mở rộng
nội các để họ có thể đưa những chính khách của họ vào trong
chính phủ. Như vậy, nếu Tổng Thống Diệm chấp nhận đ̣i hỏi
của Mỹ mở rộng nội các như ông lập luận, th́ Tổng Thống Diệm
chỉ c̣n là bù nh́n, và Mỹ sẽ là người thực sự điều khiển
chính quyền Việt Nam qua những người tay sai của họ. Chủ
quyền Quốc Gia Việt Nam sẽ đi về đâu? V́ thế, những người
viết sử phải nhận thức uẩn khúc trong hậu trường chính trị
thời đó, để có một cái nh́n đúng đắn, vô tư và công b́nh hơn
với những biến cố lịch sử lúc bấy giờ. Không thể dựa vào lối
lư luận hay nhận định của những kư giả thiếu lương thiện, đă
nhận tiền để biện hộ cho chính sách vừa ăn cướp vừa la làng
cùa Mỹ.
4. Phươnng Cách Nhận Định Vấn
Đề
Để nhận định vấn đề một cách
tổng quát, tôi nghĩ rằng nếu ông có một chút kiến thức căn
bản về khoa chính trị học th́ ông sẽ hiểu rằng, đất nước ta
vào thời kỳ cuối thập biên 50 và đầu thập niên 60 đang trong
t́nh trạng chiến tranh, đặc biệt là cuộc chiến tranh du
kích, khủng bố, phá hoại và khuynh đảo do Cộng sản điều
động. Nói khác đi đây là chiến tranh nguy hiểm nhất, v́ cùng
một lúc nó bao gồm nhiều mặt trận khác nhau như quân sự,
kinh tế, chính trị, văn hoá, xă hội... Trong những trường
hợp như vậy, luật pháp các nước dân chủ đều cho phép chính
quyền ban hành t́nh trạng chiến tranh, t́nh trạng khẩn
trương, hay lệnh thiết quân luật và quốc hội cho phép chính
phủ hạn chế các quyền tự do dân chủ căn bản, như tự do hội
họp, tự do ngôn luận, tự do báo chí tăng cường cho chính phủ
nhiều quyền hành rộng răi hơn.. Ông hăy đọc lại lịch sử để
biết Hoa Kỳ và Gia Nă Đại, để biết trong thế chiến thứ 2,
chính phủ cũng đă ban hành t́nh trạng chiến tranh, họ đă
phải hạn chế những quyền dân chủ căn bản như thế nào.
Trong khoa chính trị học, ông
cũng hiểu rằng khái niệm dân chủ là khái niệm xếp hàng (line
up). Nghĩa là những người có cùng một lư tưởng, một quan
điểm, một lập trường chính trị, kết hợp nhau trong một tổ
chức chính trị gọi là chính đảng, có nội quy, có kỷ luật có
chủ trương, đường hướng chung để hoạt động trong tinh thần
đồng đội (team work) và mục tiêu cuối cùng của một chính
đảng là phải dành được chính quyền qua những sinh hoạt dân
chủ b́nh thường trong việc ứng cử và bầu cử ở các cấp chính
quyền địa phương cũng như trung ương, để đem chính sách,
đường lối kinh bang tế thế mà chính đảng cho là hay nhất của
họ, đem ra thực thi để phát triển quốc gia dân tộc chứ không
phải là dùng binh lực mà khuynh đảo chính quyền hay dội bom
với mưu đồ ám sát một tổng thống đương nhiệm, như các chính
trị gia đối lập đă làm. Đó là những h́nh thức bất hợp pháp
gây hổn loạn trong đời sống chính trị quốc gia, mà không một
thể chế dân chủ tiến bộ nào có thể chấp nhận được.
Từ ư niệm dân chủ xếp hàng
đó, nếu một chính đảng thắng cử qua một cuộc bầu cử dân chủ
và hợp pháp, th́ người lănh đạo của đảng đắc cử, khi thành
lập chính phủ, ông ta chọn những người trong chính đảng của
ông là điều hợp lư, hợp hiến và hợp pháp. Tại sao đ̣i hỏi
ông phải mở rộng thành phần chính phủ để mời các chính khách
đối lập tham gia để thêm hậu thuẫn quần chúng…Nếu bây giờ,
khi ông Obama đắc cử tổng thống, ông phải dành các ghế trong
nội các của ông cho đảng Dân Chủ là điều đương nhiên, không
ai đặt vấn đề. Nếu có người nào đó đ̣i hỏi tổng thống Obama
phải mời người của Đảng Cộng Hoà vào trong nội các, nếu
không sẽ bảo ông là độc tài, chắc chắn ai cũng bảo đ̣i hỏi
đó khá buồn cười, nếu không muốn bảo người đó bị bệnh tâm
thần.
Tại sao có những đ̣i hỏi
nghịch lư và phản dân chủ như vậy có thể tồn tại gần 46 năm
rồi, mà ngày nay những người được gọi là sử gia của người
Việt quốc gia như ông, lại sao chép một cách không ư thức và
không một chút đắn đo, thận trọng. Thật là vô lư!
Ngoài ra, khi phán xét một
chính quyền độc tài hay không độc tài, người viết sử phải
thận trong cứu xét những khía cạnh khác của vấn đề. Tổng
Thống Diệm, ông muốn có một chính quyền mạnh, trung ương tập
quyền, đủ sức bảo vệ chủ quyền và chính nghĩa quốc gia để
thu hút được sự kính nể và ủng hộ của các quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là các quốc gia Á Phi, cho công cuộc chống
Cộng. Khi bảo vệ chủ quyền và chính nghĩa quốc gia là ông đă
thành công trong việc đánh tan luận điệu tuyên truyền xảo
trá của Cộng Sản cho rằng ông Diệm chỉ là bù nh́n của Mỹ..
Về phương diên kinh tế cũng vậy, ông cần một chính phủ mạnh
để hướng dẫn dân chúng trong một nền kinh tế có hoạch định,
có tổ chức để phát triển quốc gia đem lại cuộc sống an cư
lạc nghiệp cho mọi người. Chính v́ vậy, dù trong suốt 9 năm
cầm quyền, phải đối đầu với cuộc chiến tranh du kích, phá
hoại khiếp hăi của CS, Tổng Thống Diệm đă duy tŕ được mức
phát triển kinh tế ổn định và cao nhất so với các quốc gia
Đông Nam Á, trong cùng giai đoạn đó. Về mặt quân sự cũng
vậy, ông cần có những biện pháp cứng rắn, để tập trung dân
chúng vào các ấp chiến lược, để chống lại sự xâm nhập, khủng
bố của cộng sản vào các thôn ấp, để bảo đảm an ninh cho dân
chúng yên ổn làm ăn và thực sự hưởng được những quyền tự do
dân chủ căn bản tại đây. Đó là những biện pháp chế tài bất
đắc dĩ có tính toán, có kế hoạch để phát triển quốc gia, chứ
đâu phải là thứ độc tài để tham nhũng, thối nát, hối lộ để
t́m cách làm giàu cho cá nhân, gia đ́nh hay bè nhóm một cách
bất chính như chính quyền Hà Nội hiện nay.
C̣n đối với các chính khách
đối lập, họ làm bất cứ điều ǵ cũng được ca tụng là đúng, là
hợp lư, ngay cả những hành động bạo loạn, tạo phản bằng vũ
lực, gây rối loạn nghiêm trọng cho nền an ninh trật tự của
đất nước, họ đă vi phạm trầm trọng luật pháp quốc gia trong
thời chiến. Nhưng họ đă được ca tụng, phải chăng, v́ họ đă
làm theo chỉ thị của Mỹ? Nên báo chí Mỹ thời đó khen ngợi
hết ḿnh, nên 46 năm sau, để làm sử gia, ông chẳng cần phải
suy nghĩ ǵ cả, sao chép lại lời ca tụng những người này là
đủ.
Nhưng thưa Ông, một nhà viết sử để được hậu thế kính trọng,
như tôi đă tŕnh bày nhiều lần, phải có đủ hiểu biết về thực
tại và phải có đủ kiến thức để phê phán. Nhưng khi đọc bài
viết của ông từ đầu đến đoạn này, tôi nghĩ ông đă thiếu vắng
hai điều kiện căn bản này. Thật vậy, ông đă không hiểu
biết một tí ǵ về thực tại chính trị Miền Nam thời đó và ông
hoàn toàn không có một học vấn tối thiểu về chính trị học để
phẩm b́nh về sinh hoạt chính trị của một chính quyền hợp
pháp và hợp hiến lúc bấy giờ.
Phải hiểu rằng hiện nay Tân
Gia Ba, là một quốc gia dân chủ tiến bộ, đang trong thời kỳ
thanh b́nh, không có chiến tranh, họ vẫn có những quy định
giới hạn quyền hội họp và tự do báo chí. Nhưng có ai bảo Thủ
Tướng Lư Hiển Long là độc tài đâu? Phải chăng v́ Tổng Thống
Diệm ngày xưa bị báo chí Mỹ chỉ trích một cách bất công,
thiên lệch, th́ ngày nay các nhà viết sử của Người Việt quốc
gia phải rập khuôn theo Mỹ để chỉ trích ông một cách thiếu
công tâm và vô trách nhiệm như vậy, mới được gọi là sử gia
chăng? Hay là kiến thức của ông quá hạn hẹp, không biết được
những nguyên tắc căn bản của thể chế chính trị dân chủ cùng
phương pháp sử học, nên ông mới có những nhận định quàng
xiên và vơ đoán như vậy. (sai lầm 6, 7 &8)
Đến vụ án Nguyễn Tường Tam,
ông nói dù không bị bắt giam và chỉ bị gọi ra toà xét xử,
ông Tam đă quyên sinh và để lại những ḍng tuyệt mệnh… đầy
khí phách hào hùng . Ông là người viết sử, ông không thấy có
ǵ phi lư trong cách xử sự đó sao? Phải chăng, v́ ông Tam sợ
rằng cuộc đời của một lănh tụ cách mạng của ông sẽ hoàn toàn
sụp đổ trong nhục nhă khi phải đối chất với đàn em của ông
như các Ông Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thành Vinh, Trần Tương…
trước Toà Án Quân Sự Đặc Biệt và để bảo toàn chút danh dự
c̣n sót lại của ḿnh, bắt buộc ông phải tự tử? Nhưng trước
giờ chết, ông đă không được thanh thản ra đi, v́ tâm hồn ông
c̣n vướng bận với những hư danh, nên mới viết thư tuyệt mệnh
để tự tâng bốc ḿnh như ông Lê Nguyên Phu, Uỷ Viên Chính Phủ
của Toà Án Quân Sự Đặc Biệt hồi đó đă tiết lộ. ? (sai lầm 9)
V. Đạo Dụ số 10
Chính sách tôn giáo của chính
phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban
hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại.
Tôi rất kinh ngạc và vô cùng
thất vọng khi đọc những nhận xét của ông về đạo dụ số 10.
Tai sao? Tôi không bao giờ dám nghĩ rằng một người tự xưng
là nhà nghiên cứu lịch sử như Ông lại không biết đến liêm
khiết trí thức của người cầm bút, ông không có sự tự trọng
tối thiểu để giữ phẩm cách và lương tâm của người viết sử.
Ngoài ra, ông cũng không có đủ kiến thức căn bản để nhận
định vấn đề như bổn phận của một nhà viết sử đ̣i hỏi. Thực
vậy, v́ sau khi đọc 3 điều ông trưng dẫn về đạo dụ số 10,
tôi thấy không có điều nào đúng cả. Để cho công b́nh, tôi
xin trích từng điều một để cho độc giả thấu triệt được vấn
đề:
1. Ông viết về điều 1 của Đạo
Dụ số 10:
Điều 1 của dụ nầy sắp các
tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội
thể thao, hội đua ngựa…);
Trong khi đó, điều 1 của Đạo
Dụ số 10 viết:
Hội là hiệp ước của hai hay
nhiều người thoả thuận góp kiến thức hay hành lực một cách
liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải phân chia lợi
tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị,
từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.
Muốn có hiệu lực th́ hội nào
cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước
và nghĩa vụ.
2. Ông viết về điều 45 của
Đạo Dụ số 10:
điều 45 của dụ nầy cho biết
sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và
các hội Hoa kiều.
Trong khi đó, điều 45 của Đạo
Dụ số 10 viết:
Dụ này sẽ đăng vào Công Báo
và mang thi hành như quốc pháp.
3. Rồi tiếp theo, ông viết:
Dụ này cũng qui định các tôn
giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ
phượng.
Trong khi đó, Đạo Dụ số 10:
Không có điều khoản nào nói về thể lệ treo cờ
Như vậy, tôi thiển nghĩ, ông
chưa bao giờ đọc Đạo Dụ này, nhưng ông vẫn dùng nó như một
văn kiện pháp lư để buộc tội Tổng Thống Diệm kỳ thị Phật
Giáo. Như vậy, có bao giờ ông tự hỏỉ chính ḿnh, ông c̣n
chút tự trọng và lương tâm của người viết sử nữa không?
Tôi thấy rất ái ngại cho ông,
nếu ông có chút hiểu biết tối thiểu về luật học hay chịu khó
đọc chừng 30 trang sách về thể thức lập hội và công ty trong
Company Law, ông sẽ tránh được những lỗi lầm sơ đẳng như
vậy, v́ không có luật về lập hội nào, qui định những điều
kiện treo cờ vớ vẩn như thế.
Hơn nữa, điểu tối kỵ của
người viết sử là dùng tài liệu thứ cấp (secondary sources),
nghĩa là tài liệu mà người khác đă cắt xén, sắp xếp, đẻo gọt
lại theo quan điểm của họ, người viết sử c̣n có chút liêm
khiết trí thức phải t́m đọc các tài liệu gốc để đọc, để kiểm
chứng, nghiên cứu thận trọng trước khi viết. Trong trường
họp này, khi ông viết về Đạo Dụ số 10 ông đă phạm phải những
lỗi lầm vô cùng tệ hại, v́ người được ông trích dẫn cũng
chưa bao giờ đọc về văn kiện này, đă viết một cách sai lầm
v́ 2 lư do, trước hết họ không có kiến thức căn bản về pháp
lư, và thứ đến, có thể họ đă cố t́nh nói sai sự thật để có
lợi cho mục tiêu chính trị của họ. C̣n ông là người viết sử
trước khi trích dẫn một nhận định lầm lẫn nghiêm trọng như
vậy, ông đă không kiểm chứng lại tài liệu gốc, để có thể đưa
ra một nhận định khoa học và công b́nh hơn. Đằng này, ông đă
chọn một thái độ thiếu liêm khiết, thiếu tư cách đến tệ hại,
là ông có ư định lừa dối độc giả như chính ông đă đọc văn
kiện này. Điều này thể hiện quá rơ qua câu ông viết:
Dụ này cũng qui định các tôn
giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ
phượng
Nhưng trong thực tế, trong
Đạo Dụ này, không có một điều khoản nào nói như vậy. Tôi xin
nhắc lại một điều mà tôi đă viết trước đây, trách nhiệm tinh
thần cao quí của người viết sử là phải nói đúng sự thật về
các sự kiện lịch sử, là sự liêm khiết trí thức, chứ không
phải chưa hề đọc mà nói đọc, nhằm mục đích bóp méo và xuyên
tạc sự thật. Đó là sư gian lận đáng trách nhất trong giới
trí thức mà chỉ có ông và ông Chính Đạo mới dám làm như vậy.
(sai lầm 10, 11 &12)
Để phê b́nh về Dụ số 10, ông
viết:
Dụ nầy rơ ràng không công
bằng giữa các tôn giáo….Trong các đạo trên đây, tổng số tín
đồ Phật giáo, Nho giáo, Lăo giáo, Cao Đài giáo và PGHH chiếm
tỷ lệ rất lớn trên tổng dân số Việt Nam, có thể lên đến trên
80% dân số, th́ bị xếp như các hiệp hội, trong khi Ky-Tô
giáo với số lượng tín đồ ít, th́ được hứa hẹn một quy chế
đặc biệt.
Có lẽ ông muốn viện dẫn điều khoản 44 của Đạo Dụ số 10,
nhưng chưa bao giờ đọc nên trưng dẫn sai thành điều 45 như
trên đă nói. Trước hết, xin trích lại nguyên văn, điều 44 để
ông rơ, sau đó là phần góp ư:
Điều thứ 44 – Chế độ đặc biệt
cho các hội truyên giáo Thiên Chúa và Gia Tô và các Hoa Kiều
Lư Sự Hội sẽ ấn định sau.
Trước tiên, v́ bổn phận và
trách nhiệm của một người viết sử, ông không nên viết: Dụ
nầy rơ ràng không công bằng giữa các tôn giáo. Thật vậy,
trước hết muốn phê b́nh một đạo luật, phải t́m hiểu ư muốn
thực sự của người soạn luật và tại sao họ đă soạn như vậy
hay ít ra ông cũng nên t́m hiều một ư niệm khái quát về luật
học căn bản, trường hợp này là luật hiến pháp để có thể hiểu
vấn đề một cách đầy đủ hơn. Ngược lại, ông là một người viết
sử lại hành sử như một người thiếu hiểu biết, chưa hiểu biết
được sự việc, đă vội vàng thẩm định vấn đề lịch sử một cách
bất công do kiến thức nông cạn của ḿnh hay v́ thiên kiến
chính trị riêng tư của ông. Nhưng cả hai thái độ trên đều
phản khoa học, không khách quan và vô tư như phương pháp sử
đ̣i hỏi. (sai lầm 13)
Thật sự, khi soạn điều khoản
44 trên, các nhà làm luật thời đó, đă phải căn cứ vào điều 1
của Hiệp Ước Việt – Pháp Élysée được kư kết ngày 8.3.1949,
giữa Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol của Pháp, trong
đó, có ấn định trước khi ban hành những điều luật liên quan
đến người Pháp và ngoại kiều sinh sống tại Việt Nam, đều
phải có sự đồng ư của Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, chính phủ
Việt Nam mới được ban hành.. Ngoài ra, v́ giáo hội Công Giáo
Việt Nam lúc đó chưa có tư cách pháp nhân riêng biệt, c̣n
trực thuộc vào Hội Truyền Giáo Ba Lê, (Société des Missions
Etrangères de Paris,) cũng như Hội Thánh Tin Lành và các Hoa
Kiều Lư Sự Hội, v.v..., đều được xem là những hiệp hội ngoại
kiều nên cần phải có sự đồng ư của Pháp mới ban hành được.
Sự việc pháp lư đơn giản như vậy. Thực vậy, Quốc Trưởng Bảo
Đại và ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Khắc Vệ, người đă kư phó
thự vào Đạo Dụ này cùng với Quốc Trưởng, không có một lư do
ǵ để ban hành một đạo dụ bất công giữa các tôn giáo. Nếu
ông chưa tham khảo tài liệu đầy đủ và chưa đủ hiểu biết về
luật học để nhận định vấn đề, tốt hơn ông không nên vội vă
đưa ra những phán đoán sai lạc như vậy. Điều này chỉ thể
hiện sự thiếu tự trọng và phẩm cách của người viết sử mà
thôi.
Rồi ông viết tiếp:
Cần chú ư là sau dụ số 10
ngày 6-8-1950 cho đến đầu thập niên 60, t́nh h́nh tôn giáo
Việt Nam thay đổi rất nhiều, nhưng dụ số 10 ngày 6-8-1950
vẫn không được điều chỉnh.
Ông viết câu này hàm chứa ư
nghĩa lên án chinh quyền Ngô Đ́nh Diệm đă không tu chỉnh
luật pháp để những bất công cho Phật Giáo vẫn tồn tại. Tôi
xin nhắc lại với ông, một người viết sử như ông tại sao lại
đặt một câu hỏi ngớ ngẩn như vậy? Trước khi đặt câu hỏi tại
sao Đạo Dụ số 10 chưa được tu chính, ông phải t́m hiểu về
sáng quyền lập pháp, về thủ tục đề nghị một dự thảo luật,
thủ tục thông qua một dự thảo luật, thủ tục ban hành một đạo
luật… để hiểu rơ vấn đề trước khi đưa ra một nhận xét công
b́nh và đứng đắn về các sự kiện lịch sử. Đằng này, rất tiếc
v́ không có đủ kiến thức về luật học, không có đủ hiểu biết
về thực tại chính trị, lại làm biếng không t́m hiểu vấn đề,
rồi thêm vào đó, không biết tự trọng, ông đă dựa vào kiến
thức giới hạn của ḿnh để đưa ra những lời lên án bất công
và sai lạc. Điều này thực sự đă đi ngược với bổn phận và
lương tâm của một người viết sử. (sai lầm 14)
Trong đoạn kế tiếp, ông viết:
Riêng Phật giáo, ngày
6-5-1951, các hội Phật học trên toàn cơi Việt Nam họp tại
chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam,
thông qua bản điều lệ, nội quy, bầu ban quản trị và suy cử
ḥa thượng Thích Tịnh Khiết làm tổng hội chủ.
Thưa ông, ở đây ông lại viết sai nữa, Theo Cư sĩ Mai Thọ
Truyền, một phật tử trí thức của miền Nam đă tiết lộ:
Ngày 6. 5. 1951, một Đại Hội
Phật Giáo Toàn Quốc đầu tiên, được tổ chức tại Huế với sự
tham dự của 53 tăng sĩ và cư sĩ đại diện cho 3 miền Việt
Nam. Đại hội đă thông qua một số điều khoản nhưng v́ những
chia rẽ Nam Bắc, nên đại hội đă không thành lập được Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam như ư muốn . Sự thật là Phật Giáo
phải đợi đến ngày 1. 4. 1956, dưới thời chính quyền Diệm là
chính quyền mang tiếng đàn áp và kỳ thị Phật Giáo, những
người lănh đạo Phật Giáo mới có thể ngồi lại với nhau và
thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. (sai lầm 15)
Rồi sau đó, ông lại viết về
vấn đề treo cờ:
Ngày 6-5-1963, hai ngày trước
lễ Phật đản, đổng lư văn pḥng Phủ TổngThống gởi công điện
yêu cầu các địa phương không được treo cờ ngoài khuôn viên
của chùa, theo đúng tinh thần dụ số 10 ngày 6-8-1950.
Như đă tŕnh bày trên đây,
không có một điều khoản nào trong Đạo Dụ số 10 nói về việc
treo cờ, nhưng v́ ông chưa bao giờ đọc Dụ này, nên ông cứ
nhắc đi nhắc lại điều lầm lẫn này măi. Tôi xin đề nghị ông
nên đọc Nghị Định số 189-BNV/NA/P5 ngày 12. 5. 1958 và Thông
Tư số 519/B-BNV/NA/ P5 cùng ngày và Nghị Định số
5036/B-BNV/KS ngày 1. 9. 1962 của Bộ Nội Vụ để biết về thể
lệ treo cờ chung cho mọi tôn giáo (sai lầm 16)
Về biến cố Phật Giáo ngày 8.
5, ông viết:
Tối Phật đản 8-5-1963, khi
dân chúng tụ tập ở Đài phát thanh Huế để theo dơi buổi tường
thuật Lễ Phật đản ngày hôm đó, một tiếng nổ bùng lên, làm
thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người. Tin tức về vụ nổ
được lan truyền nhanh chóng. Người ta không biết đích xác ai
gây ra vụ nổ.
Không biết tường thuật như
vậy, ông sử gia có thấy sự bất hợp lư của chính ông không?
Ai cũng hiểu rằng vào năm 1963, hầu như mọi gia đ́nh ở Huế
đều có máy thu thanh. Mấy ai đến trước Đài Phát Thanh Huế
với mục đích theo dơi buổi tường thuật về buổi lễ Phật Đản
ngày hôm đó như ông tŕnh bày?
Thật sự, sáng hôm đó, ngày 8.
5. 1963, là buổi lễ Phật Đản chính thức, được tổ chức ở chùa
Từ Đảm, Thượng Tọa Trí Quang mở đầu buổi lễ bằng một bài
diễn văn phản đối chính phủ cấm treo cờ Phật Giáo quốc tế
trước các đại diện chính quyền như ông Tỉnh Trưởng Nguyễn
Văn Đẳng, Đại Biểu Chính Phủ Hồ Đắc Khương… rồi Thượng Toạ
tiếp theo nói rằng đ̣i hỏi của Phật giáo là chính đáng, xây
dựng, không những có lợi ích cho chính Phật Giáo và các tôn
giáo khác, mà c̣n có lợi cho cả chính phủ…rồi Thượng toạ
tuyên bố sẽ đạo đạt yều cầu lên chính quyền địa phương và
lên Tổng Thống Diệm. Tiếp đó, Thượng toạ Thích Đôn Hậu cử
hành lễ Phật Đản. Sau cùng, mọi người b́nh thường ra về.
Theo đúng lịch tŕnh tối hôm
đó, Phật Tử sẽ đến Chùa Từ Đàm, để nghe thuyết pháp xem pháo
bông và xem rước kiệu hoa bắt đầu vào lúc 7 giờ 30 tối.
Nhưng Thương toạ Thích Trí Quang đột ngột thay đổi chương
tŕnh, bảo mọi người tham dự, đến đường Cầu Trường Tiền , để
đón 20 xe hoa Đà Nẵng ra Huế. Do đó, khi nghe nói là đi xem
xe hoa, đa số các người tham dự là các em thiếu nhi, trong
đó có cả thiếu nhi Công Giáo, đều háo hức.
Khi thấy số người tụ tập
trước Đài Phát Thanh khá đông, như đă tính toán trước là lợi
dụng số đông của quần chúng để áp lực với chính quyền, thầy
Trí Quang, Thiện Minh và một số nhà sư khác nữa đi vào Đài
Phát Thanh yêu cầu ông Giám Đốc Đài Phát Thanh Ngô Ganh,
thay đổi băng về chương tŕnh Phật Đản được thu âm trước đó
một tuần, đă được kiểm duyệt theo đúng luật lệ, bằng cuộn
băng ghi âm hồi sáng, trong đó có bài diễn văn chỉ trích
chính phủ của Thượng toạ Trí Quang. Dĩ nhiên, ông Ngô Ganh
phải từ chối điều đó, v́ đây là đài Phát Thanh Quốc Gia,
không thể phát thanh một cuộn băng chống chính phủ. Các
thương toạ hiện diện lớn tiếng đe doạ, cùng với những tiếng
la ó và phản đối bên ngoài.. Ông Ganh đă khóa cửa lại và gọi
điện thoại cho Ông Tỉnh Trưởng để kêu cứu. Rồi ông Tỉnh
Trưởng đă chỉ thị cho Ông Đặng Sĩ, Phó Tỉnh Trưởng Nội An,
kiêm Tiểu Khu Trưởng, đem cảnh sát và binh sĩ đến để giải
tán đám đông. Rồi một tiếng nổ lớn đă phát ra, khiến 7 em
thiếu nữ từ 12 đến 17 tuổi, và một thanh nữ 19 tuổi chết và
một số khác bị thương. Trong số người chết, có một em là
Công Giáo .
Đă 46 năm sau ngày biến cố
này xảy ra, mà ông đă không kiếm t́m những tài liệu đúng đắn
của những nhân chứng hay tài liệu khả tín để biết về sự thật
này. Ông lại đi sử dụng những tài liệu loại 2 của ông Chánh
Đạo, là người có quá nhiều tai tiếng trong việc dẫn chứng
tài liệu lịch sử.
Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây
là có 3 sự thật cần phải phơi bày là
· Thầy Trí Quang đă đánh lừa
Phật Tử đến đầu cầu Trường Tiền, để đón xe hoa từ Đà Nẵng
ra, chứ không hề kêu gọi tín đồ đến Đài Phát Thanh để biểu
t́nh.
· Khi đến đầu cầu Trường Tiền
tức là trước Đài Phát Thanh, các Phật Tử mà đa số là các em
thiếu nhi và các thanh niên, thanh nữ được thông báo cần ở
lại tranh đấu để chính phủ cho phát thanh chương tŕnh
đặc biệt Phật Đản như thường lệ hằng năm. Chứ họ hoàn toàn
không biết chương tŕnh phát thanh đặc biệt Phật Đản đă
không thực hiện được v́ âm mưu thay đổi cuộn băng ghi âm của
Thầy Trí Quang vào giờ chót.
· Các nạn nhận trong vụ nổ
này toàn là trẻ em dưới 18 tuổi và chỉ có một người 19 tuổi.
Trong đó có một em là người Công Giáo. Như vậy chắc chắn
không phải là những người đến đài phát thanh để theo dơi
chương tŕnh Phật đản như ông nói.
Qua những sự kiện trên đây,
ông là người viết sử đă không cho người đọc được biết rơ
ràng về những chi tiết quan trọng của sự thật này. Không
biết v́ vô t́nh hay cố ư. Nhưng cả 2 thái độ đó đều phản ảnh
sự thiếu lương tâm, bổn phận và trách nhiệm chức nghiệp của
một người viết sử. Và qua những chi tiết này, mọi người đều
nhận thấy Thầy Trí Quang đă hành động với thủ đoạn của một
người làm chính trị, chứ không phải hành xử theo tư cách đạo
đức của một tăng sĩ Phật Giáo chân chính. (sai lầm 17, 18
&19)
Trong một đoạn khác, ông
viết:
Sau các cuộc họp giữa Uỷ ban
Liên bộ của chính phủ và phái đoàn Uỷ ban Liên phái Phật
giáo do thượng tọa Thích Thiện Minh cầm đầu từ 14-6 đến
16-6-1963, chính phủ Diệm nhượng bộ, đồng ư để Phật tử tự do
treo cờ và tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950.
Ở đây, tôi cũng rất ân hận,
để nói rằng, ông viết sử mà không đọc tài liệu, không cần
chứng cớ, chỉ viết theo tin đồn ngoài phố. Đó là thái độ
thiếu nghiêm chỉnh đáng trách của một người viết sử. Thật
vậy, ông đă không đọc Bản Thông Cáo Chung giữa Uỷ Ban Liện
Bộ và Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo, kư ngày 16. 6. 1963. Trong
đó, có ghi rơ điều kiện treo cờ Phật giáo và cờ quốc gia ở
các Chùa, ở nơi khán đài công cộng, trong các cuộc rước kiệu
và sau hết là ở tư gia, chứ không để phật tử tự do treo cờ
như ông nói.
Và Đạo Dụ số 10 vẫn được tiếp tục cho đến khi Quốc Hội biểu
quyết đạo luật mới để thay thế, chậm nhất là đến cuối năm
1963 hay đầu năm 1964. Trong khi chờ đợi Uỷ Ban Liện Bộ sẽ
ra một thông báo yêu cầu chính quyền các cấp đừng áp dụng Dụ
này quá khắt khe với các Hiệp Hội Phật Giáo. chứ không có
việc tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950.
VI. Phái Đoàn Điều Tra Liên
Hiệp Quốc
Trong một đoạn khác ông viết:
Trên thế giới, ngày 9-8-1963,
Cambodia, Ceylon (sau đổi thành Sri Lanka), Nepal đưa vấn đề
Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc (LHQ). Đại hội
đồng LHQ ngày 8-10-1963 quyết định gởi một phái đoàn điều
tra đến Việt Nam. Phái đoàn LHQ đến Sài G̣n ngày 24-10-1963.
Hôm sau, phái đoàn đến gặp tổng thống Diệm và tổ chức họp
báo. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 364) Phái đoàn chưa hoàn tất công
việc điều tra, th́ chính phủ Diệm sụp đổ ngày 1-11-1963.
Trong một đoạn văn ngắn, ông
đă phạm phải 3 lỗi lầm:
· V́ Đại Hội Đồng LHQ không
thể gởi phái đoàn điều tra đến Việt Nam như ông nói, v́ Việt
Nam dưới thời Tổng Thống Diệm là một quốc gia có độc lập và
chủ quyền, LHQ chỉ có thể đến Việt Nam, nếu có lời mời của
Việt Nam hoặc có sự đồng ư của Việt Nam.
Thực tế đă trái ngược với
điều ông đă viết, theo lịch tŕnh Đại Hội Đồng LHQ sẽ thảo
luận để lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền vào ngày 8. 10.
1963, nhưng trước đó 4 ngày, tức ngày 4. 10. 1963, Đại Sứ
Bửu Hội đă chính thức gởi một thông điệp đến Chủ Tịch Đại
Hội Đồng LHQ và Tổng Thư Kư LHQ U Thant, chính thức mời LHQ
gởi một phái đoàn đến điều tra tại Việt Nam. Ngày 8. 10..
1963, Đại Hội Đồng LHQ chấp nhận lời mời của chính phủ Việt
Nam, chấp thuận đ́nh hoăn việc thảo luận Vấn Đề Phật Giáo
cho đến khi nhận được bản Phúc Tŕnh của Uỷ Ban Điều Tra
LHQ.
· Ông nói: Phái đoàn chưa
hoàn tất việc điều tra. Thực tế, phái đoàn đă hoàn tất công
việc điều tra.
· Tiếp đến, không những phái
đoàn đă hoàn tất điều tra, mà c̣n viết một phúc tŕnh về vấn
đề này, dày 323 trang, gồm cả phụ lục, khiến Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ lo sợ phải t́m cách ém nhẹm đi , v́ Đại Sứ Fernando
Volio của Costa Rica, trong Uỷ Ban Điều Tra Sự Thật đă viết:
Lời cáo buộc tại Đại Hội Đồng
LHQ đối với chính quyền Diệm đă không thể tồn tại… với những
bằng chứng thu thập được đă chứng tỏ rằng không hề có vấn đề
kỳ thị tôn giáo hoặc xâm phạm quyền tự do tôn giáo
Và Thượng Nghị Sĩ Thomas J
Dodd , Chủ Tịch Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện Hoa Kỳ, sau khi
đọc bản phúc tŕnh này đă viết:
Theo ư tôi, điều cần phải nói
thêm rằng nhân dân Hoa Kỳ một lần nữa, đă bị một vài tờ báo
thông tin một cách sai lạc về t́nh h́nh quốc ngoại mà nhân
dân Hoa Kỳ hằng lưu tâm đến.
Chúng ta được thông tin rằng
chính phủ Diệm đă có những hành động đàn áp, rằng những tu
sĩ vô tội đă bị thúc đẩy tự thiêu để phản kháng. Ngược lại,
việc đàn áp đă không xảy ra một cách trầm trọng và đó chỉ là
một sự khích động mang màu sắc chính trị.
Uỷ Ban đă không đi sâu vào
động cơ chính trị dẫn đến sự khích động của Phật Giáo. Nhưng
tôi nghĩ rằng câu trả lời cho vấn đề này chính là câu trả
lời của Thượng Toạ Thích Trí Quang người lănh đạo cuộc tranh
đấu (hiện đang tị nạn tại Toà Đại Sứ HoaKỳ ở Saigon) với Cô
Marguerite Higgins: ‘Chúng tôi chỉ có thể dàn xếp với Miền
Bắc sau khi lật đổ Diệm và Nhu’. …
Giờ đây chúng ta lại là nạn
nhân của một sự lừa dối khác, hậu quả là chính phủ của Ông
Ngô Đ́nh Diệm đă bị tiêu diệt và một t́nh trạng rối loạn đă
diễn ra sẽ làm cho việc chống Cộng trở nên khó khăn hơn.
Như vậy, những người viết sử
như ông và những người Phật Giáo tranh đấu đến nay, vẫn cho
là cuộc tranh đấu năm 1963 là v́ vấn đề kỳ thị tôn giáo, th́
chính thượng Toạ Trí Quang công khai xác nhận đó là cuộc
tranh đấu v́ mục tiêu chính trị.. Phải chăng ông và nhóm
người này c̣n bảo hoàng hơn cả ông vua?
Thưa ông Phụng, với tư
cách là một người viết sử, không biết có bao giờ ông tự vấn
lương tâm về những điều ông đă viết sai sự thật này không?
(sai lầm 20, 21 & 22)
Đoạn kế tiếp ông viết:
Sau biến cố Phật giáo ngày
8-5-1963 ở Huế, người đứng đầu Nhóm nghiên cứu Việt Nam
thuộc Ṭa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, soạn một kế hoạch khẩn
cấp ngày 23-5-1963 về các cách thay đổi chính phủ Diệm.
Thưa ông Phụng, ở đây, ông
lại viết sai nữa. Thật vậy, Chalmers B. Wood đă rời Toà Đại
Sứ Mỹ ở Saigon từ tháng 9. 1959 , làm sao có mặt ở Ṭa đại
sứ Hoa Kỳ, để soạn thảo kế hoach khẩn cấp như ông nói. (sai
lầm 23)
VII. Điện Văn 243 ngày 24. 8.
1963
Tôi hết sức kinh ngạc khi đọc
đoạn tường tŕnh này của ông v́ tất cả các sự kiện ông viện
dẫn đều không đúng sự thật. Trước hết, ông viết:
Ngày 24-8-1963, Lodge gởi về
Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra
lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh của một số
tướng lănh.
Thưa ông, khổ quá, sử gia của
tôi lại viết sai nữa, trong ngày 24. 8, Lodge gởi về Hoa
Thịnh Đốn tới 4 điện văn để tố cáo ông Nhu, chứ không phải 1
điện văn như ông nói. Điều này có ghi rơ trên phần đầu của
điện văn 243 ngày 24. 8. 1963 mà chính ông đă trích lại của
Ngô Kỷ, trong chú thích số 18 trong bài viết của ông:
Theo CAS Sài G̣n 0265 báo cáo
về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320, Saigon 316, Saigon
329. [Các con số là những kư hiệu mật mă.]
Nguyên văn tiếng Anh viết như
sau, Re CAS Saigon 0265 reporting General Don’s views.
Saigon 320 Saigon 316 and Saigon 329. Nhưng ông Ngô Kỷ đă
không hiểu về thủ tục viết văn thư hành chánh, nên cho rằng
đây là những kư hiệu mật mă. Sự thực hoàn toàn khác hẳn và
phải được hiểu như sau:
Tham chiếu: Các nguồn tin do
Hoa kỳ kiểm soát (Re CAS là chữ viết tắt của Reference
Controlled American Sources) tại Saigon tường tŕnh về quan
điểm của tướng Đôn, Điện văn 320 của Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon,
Điện văn 316 của Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon, Điện văn 329 của
Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon,
Như vậy, chắc bây giờ ông đă
hiểu. Điện văn 243 ngày 24. 8. 1963 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
thảo ra nhằm trả lời cho Đại Sứ Lodge, căn cứ trên 4 văn
kiện mà Toà Đại Sứ Saigon gởi về cho Toà Bạch Ốc. Nếu là một
người viết sử đứng đắn, thận trọng và có một chút hiểu biết
chuyên môn và quen tham khảo tài liệu, sẽ phát hiện ngay
được những sai lầm của ông Ngô Kỷ, nhưng ông lại không chịu
khó tham khảo các tài liệu gốc, và chỉ thích làm việc dễ
dàng là chọn những tài liệu thứ cấp để đọc, nên mới có những
sai lầm này. Đáng lư, ông phải t́m hiểu rơ những điện văn
này báo cáo như thế nào mà HTD đă gởi điện văn khẩn cấp như
vậy để phúc đáp. Ở đây, ông là người viết sử, lại chọn một
thái độ rất đáng trách, chép lại một cách không cần suy
nghĩ, không buồn kiểm chứng một tài liệu của ông Ngô Kỷ, một
người mà khả năng chuyên môn rất đáng nghi ngờ như tôi vừa
tŕnh bày ở trên. Ngay cả trường hợp của tôi, môt sinh viên
vô danh tiểu tốt, khi làm một bài luận văn ở đại học, giáo
sư của tôi cũng không thể chấp nhận cách làm việc cẩu thả
này. Huống ǵ ông, một nhà viết sử, lại để quên lương tâm
chức nghiệp của ḿnh, làm điều sai trái như vậy.
Để cho độc giả thấy rơ hơn
vấn đề, tôi xin vắn tắt về các điện văn này. Điện văn Saigon
320, thực sự tên đầy đủ của điện văn này là Embtel Saigon
no. 320, (viết tắt của Embassy Telegram) gởi đi từ Saigon
ngày 24. 8.1963 lúc 6 giờ chiều tường tŕnh về cuộc gặp gỡ
giữa Tướng Lê Văn Kim và Rufus Phillips, lúc đó là giám đốc
USOM, đặc trách về Nông Thôn. Điện văn 316 (Embtel 316),
tường tŕnh về cuộc gặp gỡ giữa Paul Kattenburg và Vơ Văn
Hải, gởi đi từ Saigon ngày 24. 8. 1963, không ghi rơ giờ.
Điện Văn 329, trong đó tổng kết tin tức của 3 cuộc gặp gỡ
này cùng cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Đ́nh Thuần và Rufus
Phillips, và nhận định tổng quát về t́nh h́nh chính trị lúc
đó, được gởi đi từ Saigon ngày 24. 8. 1963, lúc 11 giờ
khuya. V́ giới hạn của bài báo không cho phép chúng tôi phân
tích về nội dung của các điện văn này. Tôi chỉ muốn đưa ra ở
đây để cho các nhà viết sử như ông Phụng biết được những
khía cạnh phức tạp của vấn đề cùng cách tra cứu và sử dụng
tài liệu để có thể đưa ra những nhận định khách quan và khoa
học hơn. (sai lầm 24)
Tiếp theo, ông cho rằng:
Thứ trưởng Ngoại giao George
Ball, cùng Harriman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá
ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và kư
tên mật điện 243. rồi chuyển cho tổng thống Kennedy và ngoại
trưởng Rusk. Hai ông nầy đồng ư cho gởi đi.
Tôi không thể tưởng tượng một
nhà viết sử như ông lại không có một chút kiến thức nào về
thể chế chính trị tại Hoa Kỳ, khi ông viết Forrestal là Phụ
Tá Tổng Thống. Một người dân b́nh thường ở Hoa Kỳ cũng thừa
biết rằng, trong cơ chế chính quyền Hoa Kỳ làm ǵ có chức vụ
Phụ Tá Tổng Thống, mà ông là một nhà viết sử lại có kiến
thức quá kém cỏi để viết như vậy. Thực sự, lúc đó, Michael
Forrestal, là phụ tá cho McGeorge Bundy, mà Bundy là Cố Vấn
về An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Kenndy. (sai lầm 25)
C̣n về sự kiện lịch sử này,
sự thật hoàn toàn khác hẳn với điều mà ông vừa tŕnh bày.
Thật vậy, chính George Ball đă tiết lộ: Hilsman và Harriman
đă thảo điện văn này và t́m đến Sân Golf 9 lỗ ở Washington
để gặp Ball và xin chấp thuận văn kiện này trước khi gởi cho
Lodge ở Saigon , v́ lúc đó Ball xử Lư Thường Vụ Ngoại
Trưởng, c̣n Dean Rusk đang ở New York . Ball đă giải thích
rằng, trong những vấn đề thường nhật, ông có thể quyết định
một ḿnh ông. Nhưng đây là vấn đề quan trọng nên ông cần có
sự chấp thuận của Dean Rusk, Ngoại Trưởng, Robert McNamara,
Bộ Trưởng Quốc Pḥng cùng các giới chức quân sự quan trọng
và John McCone, Giám Đốc CIA. Tuy nhiên, vấn đề gặp trở
ngại, là các vị này không có mặt ỏ Hoa Thịnh Đốn vào thời
diểm đó. Tổng Thống Kennedy đang ở Hyannisport , Robert
McNamara đang leo núi ở Grand Tetons , John McCone đang đi
nghỉ ở California và Maxwell Taylor, đang ở một nhà hàng
nào đó ở Hoa Thịnh Đốn . Sau đó, Ball liên lạc với Tổng
Thống Kennedy, Kennedy trả lời, ông chỉ chấp thuận nếu Bộ
Trưởng Quốc Pḥng và Ngoại Trưởng đồng ư. Rồi sau đó, Ball
gọi điện thoại cho Dean Rusk và làm cho Rusk nghĩ rằng
Kennedy đă dồng ư với điện văn này. Nhưng sau này Rusk biết
rằng Kennedy đă nói ‘tôi sẽ chấp thuận điện văn đó, nếu Rusk
và McNamara chấp thuận nó’. Nhung lúc đó, nghĩ rằng sự chấp
thuận của Tổng Thống đă giới hạn quyền tự do hành động của
tôi … và tôi đă đồng ư.
Như vậy, rơ ràng là Ball đă
gọi điện thoại đánh lừa Tổng Thống Kennedy và Ngoại Trưởng
Dean Rusk rồi qua mặt Bộ Trưởng Quốc Pḥng McNamara để
chuyển điện văn này đi, chứ không có việc chuyển điện văn
này đến cho Kennedy và Dean Rusk. Rồi hai ông này đồng ư cho
gởi điện văn ấy đi như ông đă tŕnh bày. (sai lầm 26)
Sự việc chuyển điện văn một
cách gấp rút và không minh bạch này đă khiến Tổng Thống
Kennedy tức giận, và McCone, Maxwell Taylor hậm hực v́ bị
lừa dối. McNamara cũng bất b́nh không kém
Tổng Thống Kennedy sau này đă
nói: Điện văn này đă soạn thảo một cách tồi tệ, và không bao
giờ nên gởi đi vảo thứ Bảy. Sau đó, Kennedy thêm rằng ông
không nên đồng ư với điện văn này nếu không có một cuộc họp
bàn tṛn trong đó McNamara và Taylor có thể tŕnh bày quan
điểm của ḿnh.
VIII. Ngô Đ́nh Nhu và Trung
Lập Hoá Miền Nam
Rồi khi nói về việc ông Ngô
Đ́nh Nhu bí mật điều đ́nh với CS Bắc Việt để Trung Lập Hoá
Miền Nam, ông lại dùng những tài liệu thứ cấp, hay loại hai
(secondary sources), nghĩa là những tài liệu có mức độ khả
tín rất thấp. Ông chép lại những mẫu chuyện của nhà biên
khảo Minh Vơ và của ông Chánh Đạo, thuật lại chuyện Cành Đào
ở Dinh Độc Lập, rồi chuyện đi săn của ông Nhu, rồi chuyện ô.
Nhu gặp Mieczyslaw Maneli… Từ đó các vị này thêu dệt thêm
chuyện ô. Nhu mật đàm với CS Bắc Việt. Nhưng họ đă không đưa
ra được một văn kiện, một chứng từ, một tài liệu nào khả tín
cả. Toàn bộ câu chuyện chỉ là góp nhặt, chắp nối và tưởng
tượng cho thành tuồng, tuồng tích, chẳng có chút giá trị sử
liệu nào cả. Rồi ông đi đến kết luận
Hai ông Diệm và Nhu lại có
sáng kiến ngoại giao trực tiếp với Bắc Việt để giải quyết
chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc với nhau, chẳng những làm
cho dư luận Việt hoang mang, mà c̣n làm cho chính phủ Mỹ
nghi ngờ và bất b́nh, v́ người Mỹ bị hai ông đặt ra ngoài
cuộc thương thuyết.
Ông viết sử mà ông chỉ sử
dụng tài liệu có một phía, ông lo cho người Mỹ không biết âm
mưu này rồi ông lo cho người Mỹ bị hai ông Diệm Nhu loại ra
khỏi cuộc thương thuyết này. Không biết ông suy nghĩ thế
nào, chứ như trí óc nông cạn của tôi, với hệ thống CIA họ
cài dày đặc ở Việt Nam, những chuyện đi đêm như vậy của Ô.
Nhu làm sao họ không biết được? Trái lại, người Mỹ đă dựng
nên chuyện ông Nhu đi đêm với CS Bắc Việt để có lư do thuyết
phục các tướng lănh đảo chánh cũng như để tranh thủ dư luận
tại Hoa Kỳ và dư luận tại các nước Á Phi cho cuộc chính biến
mà họ đang âm mưu thực hiện tại Saigon.
Theo tài liệu mật mà tôi nghĩ
rằng có mức độ đáng tin cậy, có giá trị sử liệu cao được Ts.
Pham Văn Lưu trưng dẫn khi trả lời câu hỏi của tôi trong
buổi hội luận tại Đài Truyền H́nh SBTN ở Westminster vào
ngày 26. 10. 2008 trước đây. Tài liệu như sau:
Theo bản tóm lược về Mục tiêu
của Mỹ trong cuộc chiến tranh VN của Hội Đồng An Ninh Quốc
Gia tháng 9. 1963, lưu trữ tại Thư viện John F. Kennedy.
Trong đó Hội Đồng An Ninh Quốc Gia chỉ thị cho cơ quan CIA:
Nguỵ tạo một tài liệu để liên
kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nhằm làm mất uy tín
của ông ta đối với các tướng lănh
(Fabric a document linking
Nhu with the Democratic Republic of Vietnam thus decrediting
him with the generals)
Và để che giấu vai tṛ chủ
mưu trong cuộc đảo chánh ở Saigon đang tiến hành, Ngoại
Trưởng Dean Rusk đă phải gởi một điện văn số 674 cho Toà Đại
Sứ Mỹ ở Sagion vào ngày 1.11. 1963 lúc 12:04pm giờ Hoa Thịnh
Đốn, (khoảng 0:04 phút ngày 2. 11. 1963 giờ Saigon) chỉ thị:
Nếu cuộc đảo chánh thành
công, sự chấp nhận và hiểu biết về mục tiêu [cuộc đảo chánh]
sẽ gia tăng lớn lao ở đây, nếu các tướng lănh và những cộng
sự viên dân sự của họ tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ và
công khai giải pháp và tường thuật [giải pháp] một trong
những buổi phát thanh rằng Nhu đă mặc cả với Cộng Sản để
phản bội sự nghiệp chống Cộng. Giá trị cao của lập luận này
phải được nhấn mạnh cho các tướng lănh biết trong một cơ hội
sớm nhất.
(if the coup succeeds,
acceptance and understanding of its purpose here will be
greatly increased if generals and their civilian associates
continue to develop strongly and publicly the conclusion
reported in one of their broadcasts that Nhu was dickering
with communists to betray anti-communist cause. High value
of this argument should be emphasised to them at earliest
opportunity. )
Rồi ngày 5. 11. 1963, Tướng
Đính lúc đó là Tổng Trưởng Nội Vụ đă họp báo theo đúng chỉ
thị của Đại Sứ Lodge nói rằng tướng lănh phải đảo chánh v́
Diệm Nhu đă điều đ́nh với CS phản bội lại mục tiêu chống CS
theo đúng chỉ thị của Mỹ.
Vào cuối tháng 7.. 1963, khi
trả lời một cuộc phỏng vấn của kư giả Joseph Alsop về việc
dư luận cho rằng ông Nhu đang điều đ́nh với CS Bắc Việt để
trung lập hoá Miền Nam. Ông Nhu chỉ vào cái ghế mà kư giả
Alsop đang ngồi và nói:
Một giờ trước đây, đại diện
của Bắc Việt cũng ngồi chiếc ghế mà ông đang ngồi đó để điều
đ́nh với tôi.
Nếu ông Nhu quả thực có điều
đ́nh với CS Bắc Việt, th́ đó là một việc tối mật. Ông không
thể công khai nói ra như vậy. Do đó ta có thể suy diễn rằng,
đó là cách thấu cáy với người Mỹ, nếu ông (người Mỹ) làm khó
dễ với tôi quá, tôi sẽ điều đ́nh với Bắc Việt.
Trên đây là phần Ts.. Lưu đă trả lời câu hỏi của tôi trong
buổi hội luận tại Westminster nói trên.
Ngoài ra, tôi cũng xin nói
thêm với ông, v́ ông chỉ đọc lại những tài liệu của ông Đỗ
Mậu và ông Chính Đạo, nên bị họ dẫn dắt sai lầm. Thực sự,
nếu ông đọc chính tác phẩm Mieczyslaw Maneli và ông có chút
b́nh tỉnh và khách quan để thẩm định vấn đề, ông sẽ thấy nhà
cầm quyền Cộng Sản Ba Lan đă sợ ông Nhu dùng Maneli, như một
dụng cụ tuyên truyền không công cho kế hoạch trung lập giả
hiệu của ông Nhu, nên cấm không cho Maneli tiếp xúc với ông
Nhu nữa. Chính Maneli đă thú nhận điều này trong tác phẩm
War of the Vanquished của ông ta khi viết: Chúng tôi khuyên
Ông đừng đến thăm Nhu nữa, Ông ta có thể dùng cuộc viếng
thăm của ông vào những ư đồ khiêu khích. (We advised you
against paying a visit to Nhu. He may use it for provocative
purposes) . Sở dĩ chính quyền CS Ba Lan viết ư đồ khiêu
khích, v́ trước đó, ông Nhu nói vói Maneli rằng ông chống
đối chính sách bành trướng của chủ nghĩa duy vật do Bắc Kinh
và Mạc Tư Khoa lănh đạo..
Hơn nữa, tôi cũng có tài liệu
chứng minh rằng chính Hoa Kỳ đă có ư định điều đ́nh trung
lập hoá Miền Nam, để phản bội Việt Nam Cộng Hoà, chứ không
phải Ông Nhu, như ông và các người được gọi là sử gia Việt
Nam lầm tưởng.
Thực sự, vào khoảng cuối
tháng 7.1962, khi Hội Nghị Geneva về Ai Lao sắp kết thúc,
Tổng Thống Kennedy đă chỉ thị cho Harriman bí mật gặp riêng
các đại biểu của phái đoàn Bắc Việt tại Hội Nghị này để t́m
kiếm những cơ hội thảo luận về vần đề Việt Nam, bao gồm việc
mở rộng một hội nghị bàn về việc trung lập Việt Nam tương tự
như trường hợp Ai Lao. Harriman lúc đó là Trưởng Phái Đoàn
của Hoa Kỳ tại Hội Nghị, đă cùng đi với William Sullivan,
Phó Phái Đoàn đến khách sạn của Phái Đoàn Miến Điện tham dự
hội nghị, ở đây họ đă gặp ngoại trưởng Bắc Việt lúc đó là
Ưng Văn Khiêm và một người phụ tá của ông ta. Nhưng cuộc gặp
gỡ này không đi đến kết quả. Sau này Sullivan thuật lại:
“Chúng tôi hoàn toàn không có lối thoát. Chúng tôi chạm phải
một bức tường bằng đá.” (Hồ sơ Lịch Sử Vấn Đáp, Phỏng vấn
với William Sullivan ngày 5. 8. 1970, tr. 32, Thư Viện John
F. Kennedy).
Những văn kiện trên là những
tài liệu văn khố có mức độ khả tín không thể chối căi được,
chứng tỏ rằng người Mỹ trước đây đă nguỵ tạo tài liệu để gây
nghi ngờ chia rẽ trong chính trường Việt Nam và xúi giục các
tướng lănh làm đảo chánh lật đổ chế độ Đệ I CHVN để xoa dịu
dư luận bất b́nh tại Mỹ cũng như sự suy sụp tinh thần và mất
tin tưởng của các lănh tụ Á Phi vào chính sách ngoại giao
của Mỹ về vụ đảo chánh và ám sát Tổng Thống Diệm.
Điều đáng buồn nhất là ngày
xưa, các tướng lănh đă nghe theo Mỹ, v́ sự ít học hay v́
quyền lợi cá nhân của họ. Đó không phải là điều tôi muốn bàn
ở đây. Trọng tâm tôi muốn nói đến là 46 năm sau ngày biến cố
này xảy ra, mà các người viết sử như các ông cũng chưa nhận
biết đâu là sự thật đâu là nguỵ tạo? Điều này có thể là do
khả năng kém cỏi của ông v́ thiếu t́m ṭi, tham khảo những
văn kiện đầu tay, những tài liệu văn khố (primary sources),
mà chỉ đọc một số rất ít sách báo, những tài liệu thứ cấp
(secondary sources), mà cách nói nôm na cho dễ hiểu là những
tài liệu cứt chồn hoặc giả là v́ thành kiến chính trị, ông
đă đưa ra những nhận định không công b́nh nhằm bóp méo và
xuyên tạc sự thật lịch sử. Cả hai thái độ đó đều là hành
động thiếu hiểu biết, gian lận trí thức, đáng chê cười,
không phản ảnh lương tâm cao quí của người viết sử. (sai lầm
27)
IX. Kết Luận
1. Tóm lại, tôi mới đọc một
bài viết ngắn của ông về cuộc đảo chánh ngày 1. 11. 1963,
tôi cảm thấy đau buồn và thất vọng năo nề, v́ trong bài viết
đó có đến 27 điểm sai lầm về phương pháp viết sử hay nói sai
sự thật và ông chỉ tham khảo có 2 quyển hồi kư. Đó là
hồi kư của Linh Muc Cao Văn Luận và hồi kư của Tướng Trần
Văn Đôn. 8 quyền sách, 3 bài báo, một bài viết của Thầy Trí
Quang, Từ Rạch Cát đến toà Đại Sứ , và cuối cùng là 1 tài
liệu của Ngô Kỷ. Điều đáng nói là trong những thập niên cuối
của thế kỷ 20 rất nhiều tài liệu văn khố đă được bạch hoá,
nên quyển Hồi Kư của Tướng Đôn về biến cố này không c̣n giá
trị nữa, v́ trong đó, Tướng Đôn đă nói sai sự thật quá
nhiều. Nhưng ông đă dùng tài liệu đó một cách hết sức vô tư,
không một chút đắn đo suy nghĩ. Thật đáng tiếc!
2. Trong khi đó, tài liệu văn
khố đă được giải mật liên quan đến biến cố này có khoảng
1352 văn kiện gồm những airgrams, telegrams, memoranda,
minutes và những reports của CIA đang được lưu giữ ở thư
viện John Kennedy ở Boston và ít nhất là 20 Oral History,
ghi âm lại các sự kiện liên quan đến các biến cố này, hiện
lưu trữ tại 2 thư viện Kennedy và Johnson. Ngoài ra, nếu ông
t́m kiếm ở trang mạng của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, ông cũng
sẽ thấy có ít nhất là 23 hồi kư liên quan ít nhiều đến biến
cố này của những nhân vật cao cấp của Hoa Kỳ, Việt Nam và
các cán bộ CS hoạt động tại Miền Nam trước năm 1975 và sau
hết có ít nhất 80 quyến sách bằng tiếng Việt, Anh và Pháp
Văn viết về giai đoạn lich sử này, có thể nhiều hơn nữa
nhưng tôi chưa biết hết. Ngoài ra, c̣n có những tài liệu căn
bản cần phải đọc như bản Hiến Pháp của Đệ I CHVN, Đạo Dụ số
10, cùng những tài liệu khác liên quan đến vấn đề treo cờ,
Thông Cáo Chung giữa Uỷ Ban Liên Bộ và Ủy Ban Liên Phái Phật
Giáo, kư ngày 16. 6. 1963, Phúc Tŕnh Điều Tra của LHQ về
biến cố Phật Giáo vào năm 1963.
3. Hai sự kiện trên đây chứng
tỏ ông chỉ t́m kiếm, tham khảo quá ít trong số rất nhiều tài
liệu liên hệ hiện có, lẽ ra ông cần phải đọc, để hiều biết
những khía cạnh cần thiết của vấn đề nhằm t́m hiểu những sự
thật liên quan đến biến cố lịch sử này. Nói cách khác dễ
hiểu hơn, ông như một người mù, chỉ rờ được cái đuôi và hậu
môn của con voi, rồi kết luận con vật này dài dài và thúi
quá. Tại sao lại thúi? v́ đó là vị trí, chỗ đứng mà tự ông
đă chọn lựa. Thật vậy, v́ ông chỉ chọn những tài liệu nào
bêu xấu, vu cáo hay mạ lỵ nhiều khi rất vô liêm sỉ về chế độ
này để đọc. C̣n những tài liệu nào nói công b́nh, đứng đắn
về chế độ này th́ ông từ chối không đọc. V́ thế, tôi xin lỗi
đă đưa ví dụ không được lịch sự để diễn tả trường hợp của
ông. nhưng đó là sự thật. Nghĩa là ông đă không bận tâm đọc
những ǵ tối thiểu mà ḿnh cần phải đọc, để viết về giai
đoạn lịch sử này, ông lại không có những kiến thức căn bản
về luật học cần thiết để hiểu được hiến pháp, các đạo luật,
sắc lệnh cùng hiểu biết sơ đẳng để đọc và hiểu được đầy đủ
một văn thư hành chánh như điện văn 243 ngày 24. 8. 1963 như
tôi đă tŕnh bày ở trên. Nhưng thái độ tệ hại nhất đối với
một người trí thức, một người nghiên cứu lịch sử là chuyện
gian lận trí thức, chuyện chưa đọc một văn kiện pháp lư
quan trọng liên quan đến sự kiện chính của vấn đề mà nói là
đọc rồi, nhằm bóp méo và xuyên tạc sự thật lịch sử. Ngoài
ra, v́ những hạn chế khả năng của ông về nhiều phương diện,
đáng lẽ bổn phận và trách nhiệm của một người viết sử, đ̣i
hỏi ông phải đi học thêm để hiểu rỏ vấn đề, để có khả năng
đưa ra một nhận định, một phán đoán có giá trị về sự kiện
lich sử.. Đàng này, có lẽ v́ chưa ư thức đầy đủ về lương tâm
và đạo đức của một người viết sử, ông đă hành động một cách
hoàn toàn ngược lại, là lấy kiến thức nông cạn của ḿnh để
thẩm định cả một cơ cấu chính quyền suốt 9 năm mà ông chỉ
hiểu được một phần rất nhỏ trong đó, v́ sự hạn chế về hiểu
biết chuyên môn và sự thiếu đọc sách của ḿnh. Nhưng điều
mỉa mai, ông lại không ngần ngại làm là phán đoán rất chủ
quan, thiên lệch và bất công nhằm mục đích thoá mạ cả chế độ
đó theo một thâm ư riêng tư của ông. Tôi không hiểu rơ
nguyên nhân tại sao ông làm như vậy? Nhưng khi đọc bài viết
của ông, tôi cảm nhận rơ ràng điều ấy. Theo tôi, hành xử như
vậy chỉ chứng tỏ sự thiếu phẩm hạnh cần thiết phải có, của
một người viết sử, chứ không tăng uy tín cho ông chút nào
cả.
4. Rồi đến phương pháp sử, nó
đ̣i buộc người viết sử phải có kiến thức về thực tại, nghĩa
là phải biết thâu góp các tài liệu, các dữ kiện, các nhân
chứng, vật chứng của tất cả các bên liên hệ, sau đó phải
phân tích tổng hợp để t́m ra sự thật, rồi phải đặt nó vào
trong bối cảnh lịch sử lúc nó xảy ra, để phán đoán, để thẩm
định giá trị của sự kiện lịch sử đó. Chứ đâu phải liệt kê
các sự kiện lấy từ quyển sách của Đoàn Thêm, 1945-1964, Việc
Từng Ngày chép lại mà không cần t́m hiểu ǵ cả, rồi vội đưa
ra những lời kết án đầy bất công và vô trách nhiệm như ông
đă làm. Đó là việc làm của những kư giả thiếu lương thiện,
những người được thuê viết mướn thiếu đạo đức, chứ không
phải là cách hành xử của một người viết sử có lương tâm và
đạo đức cao quí.
5. Tiếp đó là vấn đề nguyên
nhân và hậu quả của sự việc, theo cách lập luận của ông và
các tướng lănh trong các quyển hồi kư, chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm là chính quyền độc tài, gia đ́nh trị, đàn áp Phật giáo,
thanh toán các giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo, tiêu diệt đối
lập, tham nhũng, hối lộ, thối nát, bất lực, hẹp ḥi, tàn ác,
thiển cận, ngu dốt và c̣n nhiều điều tệ hại khác nữa…Nhưng
có một điều không ai có thể chối căi được về thành tích của
ông Diệm, trong 9 năm cầm quyền, là đă biến một vùng đất hỗn
loạn triền miên v́ chiến tranh trở thành một quốc gia ổn
định, có kỷ cương và luật pháp. Về chính trị, ông Diệm đă
xây dựng thành công một thể chế chính trị dân chủ, tiến bộ
và đầy hiệu năng, vừa phù hợp với trào lưu chính trị thế
giới, vừa cứng rắn đủ để đáp ứng nhu cầu chính trị của một
quốc gia mới thu hồi độc lập. Về quân sự, đă kiến tạo được
một quân đội có qui củ, có hiệu năng chiến đấu cao, thiết
lập đủ mọi quân binh chủng với trang bị vũ khí tối tân, có
khả năng tác chiến được xếp hàng đầu, so với các quốc gia
Đông Nam Á thời đó và trên chiến trường, đang giành được
những chiến thắng quyết định trên mọi trận địa và gần đạt
đến thắng lợi cuối cùng để tận diệt cuộc chiến tranh du kích
và khuynh đảo của CS. Về kinh tế, mặc dù phải đối đầu với
cuộc chiến tranh, phá hoại khủng khiếp nhất của CS, Việt Nam
đă đạt được một chỉ số phát trển kinh tế nhanh nhất và ổn
định nhất trong vùng.
6. Ngược lại, những tướng
lănh là những người tài ba, trong sạch, và những chính trị
gia đối lập là những nhân vật có viễn kiến chính trị, đầy
tài kinh bang tế thế… và tất cả những khuôn mặt xuất chúng
này đều có cơ hội ít nhất là một lần tham gia vào cơ cấu
chính quyền Việt Nam trong khoảng thời gian 1964-1965, sau
khi ông Diệm bị ám sát. Nhưng có một sự thật hơi khó hiểu,
các vị này đều tài giỏi như vậy, chỉ cầm quyền trong 18
tháng, họ cũng tạo được một ‘thành tích kỳ vĩ nhất trong
lịch sử’, là biến một Việt Nam đang ở trong một t́nh trạng
ồn định chính trị, trên đà chiến thắng du kích quân CS, có
hiệu năng phát triển kinh tế cao, rơi vào t́nh trạng cực kỳ
rối loạn về chính trị, hầu như hoàn toàn tuyệt vọng về quân
sự, khiến người Mỹ chỉ c̣n cách là phải chọn 1 trong 2 giải
pháp, một là chấp nhận bỏ rơi Miền Nam cho CS thôn tính, hai
là phải đem quân đội Mỹ vào trực tiếp tham chiến để bảo vệ
Miền Nam. Không biết ông Phụng có c̣n đủ khách quan và vô
tư của một người viết sử có chút lương thiện, để nhận ra sự
nghịch lư trong lập luận của ḿnh không?
7. Sau hết, tôi cảm thấy ông
lúc nào cũng tự nhận ḿnh là người nghiên cứu lịch sử,
nhưng, không chịu khó tham khảo tài liệu, lại hạn định về
kiến thức, thiếu hiểu biết chuyên môn và không biết sử dụng
phương pháp sử học đúng cách, nhưng điều đáng trách nhất
là thiếu sự liêm khiết trí thức, gian lận trong cách sử dụng
tài liệu, nhưng lại thích phô trương trí thức một cách khéo
léo, để lừa dối độc giả, nhưng lại thiếu thận trọng, thiếu
công tâm trong cách thẩm định vấn đề. Từ những sai lầm
đó, chính ông đă vô t́nh tự hạ ḿnh xuống thành những người
bồi bút, những kẻ đâm thuê chém mướn trên thị trường chữ
nghĩa, để mong sách ḿnh bán chạy hơn hay là mong t́m được
một chút hư danh của một sử gia dỏm. Trong khi đó, lịch sử
và hậu thế chỉ vinh danh những nhà sử học có học vấn uyên
thâm, có lương tâm và đạo đức chức nghiệp cao quí, có khí
phách để nói lên sự thật lịch sử.
Lê B́nh
California 12. 2009
|