Như chúng tôi từng đã nói, trong cuộc chiến Việt Nam, sự
“đồng minh” giữa đảng CSVN và đảng CSTQ cũng như sự “đồng minh” giữa VNCH và Hoa
Kỳ đều mang nhiều chương bi thảm. Những chương bi thảm trong quan hệ Việt -
Trung đã được mô tả khá rõ nét trong tập “Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung
Quốc Trong 30 Năm Qua” do Bộ Ngoại Giao Hà Hội xuất bản năm 1979. Trái lại,
những chương bi thảm trong quan hệ Việt – Mỹ chỉ được giải mã dần qua thời
gian.
Mới đây, hôm 23.6.2009, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) Hoa Kỳ
đã công bố những cuốn băng ghi âm dài hơn 150 giờ về các cuộc đối thoại của cựu
Tổng thống Nixon, trong đó ông chỉ trích giới truyền thông và Quốc hội Hoa Kỳ đã
hủy hoại những nỗ lực cứu vãn cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đặc biệt, để ép buộc
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải ký vào hiệp định ngưng chiến do Mỹ và Hà Nội
soạn thảo, ông nói nếu ông Thiệu không chịu ký, ông sẵn sàng "cắt đầu y nếu cần
thiết" (cut off his head if necessary). Ông đã yêu cầu Ngoại Trưởng Kissinger
nói với Tổng Thống Thiệu rằng Quốc Hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Sài Gòn không đồng
ý với kết quả hòa đàm.
Thật ra, đây chỉ là phần thứ hai của bộ tài liệu
nói về kế hoạch tiến tới chấm dứt chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Phần thứ nhất
đã được Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archive) của Hoa Kỳ công bố
ngày 26.5.2006 gồm 2.100 bản văn (memoranda) dài 28.000 trang mang tên “The
Kissinger Transcripts: A Verbatim Record of U.S. Diplomacy, 1969-1977” (Bản
chép lời của Kissinger: Một hồ sơ đúng nguyên văn của ngành Ngoại Giao Hoa Kỳ,
1969 – 1977). Tài liệu này đã được chúng tôi tóm lược và phân tích trong bài
“Chuyện hồ sơ Kissinger” phổ biến ngày 16.6.2006.
Những chương bi thảm về
quan hệ Việt – Mỹ không phải mới khởi sự từ khi Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh
Việt Nam mà khởi sự từ khi Mỹ quyết định nhảy vào Đông Dương thay Pháp, nhất là
kể từ thời kỳ Tổng Thống Kennedy trở đi. Vụ Tổng Thống Nixon đòi “cắt đầu” Tổng
Thống Thiệu cũng chỉ là một sự tái diễn những gì đã xẩy ra trước đó. Phải nhìn
lại những diễn biến lịch sử này chúng ta mới có thể rút ra được những bài học
lịch sử.
BỘ THUỘC ĐỊA VÀ TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG
Ngày xưa,
người Pháp đến đô hộ miền Nam và “bảo hộ” miền Bắc và Miền Trung Việt Nam đều có
ký hiệp ước với Triều Đình Huế. Đến năm 1887, Pháp kết hợp Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam
Kỳ và Cao Miên lại thành Liên Bang Đông Dương (Union Indochinoise) do một
Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur Général de l’Indochine) ở Hà Nội cai
trị và đặt dưới quyền của Bộ Thuộc Địa (Minstère des Colonies).
Tuy chính phủ Mỹ không hề ký với các chính phủ Việt Nam một hiệp ước nào
về quyền “đô hộ” hay “bảo hộ” như chính phủ Pháp trước đây, nhưng Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ đã tự động biến thành Bộ Thuộc Địa để áp đặt mọi chính sách và đường lối
của Hoa Kỳ lên trên miền Nam và một vài Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã tự coi mình như
Toàn Quyền Đông Dương hay Cao Ủy Mỹ tại Đông Dương, thường được người Việt gọi
là “Quan Thái Thú” . Trạm CIA (CIA Station) tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn
đã hoạt động gióng hệt Sở Mật Thám hay Sở Liêm Phóng Đông Dương
(Service de Sureté Généralle de l’Indochine) của Pháp ngày xưa! Các Lãnh Sự Mỹ ở
tỉnh cũng đóng vai trò của các Công Sứ Pháp.
Dưới thời Tổng Thống
Eisenhower, ông Elbridge Durbrow khi làm Đại Sứ Mỹ tại VNCH (1957 –
1960), đã tự coi mình là Toàn Quyền Đông Dương, buộc Tổng Thống Ngô Đình Diệm
phải thi hành các chỉ đạo của ông mới được nhận viện trợ. Nhưng Washington không
đồng ý với nhiều chủ trương và cách thức hành động của ông, nên ông chưa làm gì
được thì đến cuối năm 1960 ông đã bị thay thế vì có liên hệ đến cuộc đảo chánh
ngày 11.11.1960.
Đến thời Tổng Thống Kennedy, Averell W. Harriman,
đã trở thành một con người có thế lực nhất ở Washington vì được Tổng Thống
Kennedy tin cậy nhất, mặc dầu ông ta chỉ là Phụ Tá Ngoại Giao về Đông Nam Á Sự
Vụ và sau đó trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách về Chính Trị Sự Vụ. Ông
nghiễn nhiên trở thành Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ khi Tổng Thống Kennedy quyết định
“trung lập hóa” Lào để giải quyết cuộc chiến Việt Nam và giao cho
ông thi hành quyết định này. Khi giải pháp “trung lập hóa” Lào bị thất bại thê
thảm, ông quyết định lật đổ ông Diệm và đề nghị Tổng Thống Kennedy đưa ông
Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn làm Toàn Quyền Đông Dương để thực hiện chủ
trương này.
Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, miền Nam gần như
không còn chủ quyền nữa.
Sau đây là những sự kiện chính có thể giúp chúng
ta hiểu rõ chính sách của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam hơn.
BỘ
TRƯỞNG THUỘC ĐỊA HARRIMAN
Trước khi nhận chức Tổng Thống, ngày
19.1.1961 ông Kennedy đã họp với Tổng Thống Eisenhower để nghe trình bày vấn đề
Đông Dương. Tổng Thông Eisenhower nói rằng Lào là mấu chốt của toàn bộ khu
vực Đông Nam Á. Nếu Lào sụp đổ, cả khu vực sẽ sụp đổ. Nhưng sau khi nhận
chức Tỗng Thống, ông Kennedy đã hành động theo cảm tính. Ông nói ông không muốn
là kẻ thừa kế chính sách Đông Nam Á của Tổng Thống Eisenhower. Ông thích một
giải pháp ngoại giao hơn là quân sự. Ông ra lệnh cho Harriman tìm cách “trung
lập hoá” Lào bằng mọi giá với sự tin tưởng rằng sau khi Lào trở thành trung lập,
Cộng Sản Bắc Việt sẽ không còn đường xâm nhập miền Nam nữa!
Ngày
16.5.1961 Hội Nghị Quốc Tế Giải Quyết Vấn Đề Lào được tổ chức tại
Genève.
1.- Cãi lộn với ông Ngô Đình Nhu
Tháng 7 năm 1961,
hoàng tử nước Moroco là Moulay Hassan lên ngôi kế vị cha, được gọi là Hoàng Đế
Hassan II. Nhân dịp này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cử ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn
Chính Trị của Tổng Thống, đại diện chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đi dự lễ đăng
quang này với mục đích tạo cơ hội cho ông ghé Genève thảo luận với ông Harriman
về vấn đề trung lập Lào. Ông Nhu đã ghé qua Pháp rồi cũng Giáo sư Bửu Hội đến
Rabat dự lễ. Sau đó ông trở lại Pháp rồi cùng ông Cao Xuân Vỹ và người con gái
là cô Ngô Đình Lệ Thủy đền Genève gặp Harriman đang tham dự hội nghị trung lập
Lào tại đây.
Ông Cao Xuân Vỹ tường thuật lại rằng, theo chương trình,
ông Harriman chỉ chịu tiếp ông Nhu trong vòng nửa tiếng. Ông Vỹ và cô Ngô Đình
Lệ Thủy không được tham dự. Nhưng cuộc nói chuyện đã kéo dài đến 3 tiếng đồng
hồ. Khi Harriman tiển ông Nhu đi ra cửa phòng, ông thấy mặt hại người đều hầm
hầm. Sau đó, ông Nhu có than phiền với ông Vỹ: “Thằng cha này chẳng hiểu
gì hết!” . Ông Vỹ hiểu rằng Harriman không chịu bỏ chủ trương trung lập
hóa Lào. Trong buổi ăn tối, ông Nhu đã tiết lộ hai điểm rất quan trọng nói lên
sự ngạo mạn của Harriman:
Điểm thứ nhất: Harriman cho rằng Việt Nam
chưa bằng California, thế mà người Mỹ còn mua California được, miền Nam Việt Nam
không nghĩa lý gì!
Điểm thứ hai: Harriman khẳng định rằng vấn đề Lào
là vấn đề riêng giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Lào, vấn đề này không liên hệ gì
đến VNCH. Chính phủ VNCH cứ lo vấn đề Việt Nam đi, đừng can thiếp vào vấn đề
Lào.
Ông Nhu trả lời rằng vấn đề Lào liên quan đến sự tồn vong của Miền
Nam Việt Nam nên chính phủ Miền Nam phải quan tâm, nhưng Harriman gạt
đi.
2.- Đe doạ Tổng Thống Diệm
Vì có sự bất đồng giữa
Harriman và ông Ngô Đình Nhu, ông Diệm đã rút phái đoàn VNCH khỏi hội nghị
Genève. Trung tuần tháng 9 năm 1961, Harriman phải đích thân đến Sài Gòn để thảo
luận với các viên chức Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm về giải pháp trung lập
hoá Lào. Một cuộc họp đã diễn ra ngày 20.9.1961 tại một căn phòng nhỏ tại Dinh
Gia Long. Ông Diệm trình bày qua một thông dịch viên. Ông giải thích cho
Harriman một cách thẳng thắn tại sao ông không tin tưởng Cộng Sản sẽ thi hành
hiệp ước sau khi đã ký. Tuy nhiên, Harriman đã không thèm nghe và nhắm mắt lại.
Ông xem ra đang ngủ. Ông Diệm chú ý đến thái độ này và hơi bực mình, nhưng vẫn
tiếp tục độc thoại.
Đại Sứ Nolting ngồi gần Harriman trên một cái sofa,
nhận thấy rằng ông ta đang trải qua một giấc mơ dài và mệt mỏi. Ông cố gắng làm
cho ông ta chú ý. Cuối cùng, Harriman gắt gỏng:
“Thưa Tổng Thống, tôi
có “cảm nghiệm tường tận” (fingertips feeling) rằng Liên Sô sẽ thi hành các
thỏa ước này và làm cho những người khác tuân theo thỏa ước đó. Tôi không
thể đưa ra cho ngài bất cứ bảo đảo nào, nhưng có một điều rõ ràng là: nếu
ngài không ký hiệp ước này, ngài sẽ mất hết viện trợ. Ngài phải chọn.”
Sau đó, Harriman trở lại Genève.
Ngày 22.6.1962, chính
phủ liên hiệp Lào được thành lập gồm 3 chính đảng: trung lập 7 ghế, phe Phoumi 4
ghế, phe Pathet Lào 4 ghế và 4 ghế dành cho những người không thuộc đảng phái
nào. Đây là chính phủ liên hiệp thứ hai của Lào.
Ngày 23.7.1962, Hiệp Ước
Hòa Bình tại Lào đã được ký kết. Có 14 quốc gia đứng ra bảo đảm sự trung lập của
Lào. Các cố vấn quân sự của Hoa Kỳ được lệnh rút ra khỏi Lào. Nhưng sau đó,
7.000 quân của CSBV chẳng những không rút lui mà còn tăng cường thêm. Họ đã xử
dụng một cách tự do con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để xâm nhập vào miền
Nam, Mỹ phải can thiệp trở lại.
3.- Quyết định lật đổ ông
Diệm
Ông Frederick Nolting, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa,
ghi rõ trong cuốn “From Trust to Tragedy” như sau:
“Âm mưu
“trung lập hóa” Lào của ông ta (Harriman) là một sự thất bại thê thảm, và sự
thù nghịch ngày càng gia tăng của ông với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và gia đình
của ông ta, trở thành một yếu tố chủ yếu trong việc lật đổ ông Diệm. Tuy
nhiên, thanh thế và ảnh hưởng của Harriman ở Washington lớn đến nổi trở thành
quyết định trong các hành động cốt yếu mà chính phủ chúng ta đã thực hiện trong
năm 1963.”
4.- Nhìn vào việc người
Trong cuốn hồi ký
mang tên “The memoirs of Richard Nixon” , Tổng Tống Nixon có kể lại rằng
khi đến Pakistan, ông gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống
Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm:
“Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay
từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á
Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết
điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.”
Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà
lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải
trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin
cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.”
Mặc dầu biết như vận, sau này ông Nixon cũng làm gióng hệt chính phủ
Kennedy.
5.- Kennedy quay ngược lại và bị giết
Sau khi lật
đổ và giết ông Diệm, Tổng Thống Kennedy không còn tin tưởng vào cuộc chiến thắng
tại miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp báo ngày 14.11.1963, Tổng Thống hỏi:
“Bạn có chào thua tại miền Nam Việt Nam không?” Rồi ông tự trả lời câu
hỏi của chính mình: “Chương trình quan trọng nhất, dĩ nhiên là cho nền an
ninh của chúng ta, nhưng tôi không muốn Hoa Kỳ đưa quân tác chiến sang đó.”
Sau đó ông nói: “Giờ đây mục tiêu của chúng ta là đưa quân nhân
Hoa Kỳ về nước, cho phép Việt Nam tự duy trì lấy nước mình như là một quốc gia
độc lập.”
Trong khi đó, các thế lực tư bản đứng đàng sau đang
làm mọi cách để mở rộng chiến tranh và đổ quân vào Việt Nam. Vì thế, Tổng Thống
Kennedy đã bị giết ngày 23.11.1963 tại Dallas.
BỘ TRƯỞNG THUỘC ĐỊA
KISSINGER
1.- Những lời tiên đoán
Chúng tôi xin nhắc
lại, trong công điện gởi cho Bộ Ngoại Giao lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ
Cabot Lodge có kể lại lời ông Ngô Đình Nhu đã nói với ông như
sau:
“Tôi báo động về những gì sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra
đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ
lực chiến tranh.”
(I am alarmed by what's going on in the Armed
Forces. If I leave, the Armed Forces will take over the government. 'Ces
grenouillards' (which I translate as "these schemers" or 'these contrivers') of
the CIA and USIS will sabotage the war effort.)
Trong công điện gởi Bộ
Ngoại Giao lúc 6 giờ 39 phút chiều 29.10.1963, Đại Sừ Lodge trình rằng chiều
25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã nói với
viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lãnh dự định làm đảo chánh trong vòng
10 ngày. Theo ông biết, các tướng lãnh không tiếp xúc với các nhà lãnh đạo dân
sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ý định của các Tướng Lãnh.
“Ông ta coi đa số các Tướng Lãnh không gì khác lơn là các trung sĩ được
Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” (He consider majority of
Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms)... Theo
ông ta, các Tướng Lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính
phủ.
Những lời tiên đoán này đã trở thành hiện thực. Trong tác phẩm
“President Kennedy, Profile of Power”, sử gia Richard Reeves đã ghi lại tình
trạng tại miền Nam sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ và các tướng lãnh Việt
Nam lên nằm chính quyền như sau:
“Người Mỹ, vì các mục tiêu thực
tế, đã cai quản đất nước. Các tướng lãnh Việt Nam cười trước các máy quay
phim, nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ Washington, thủ đô mới của
miền Nam Việt Nam. Họ chờ đợi những mệnh lệnh mà ông Diệm từ chối, sẵn sàng
bắt đầu công việc thắng cuộc chiến! ”
Một số tướng lãnh miền Nam
đã tự nguyện làm lính Khố Xanh (Gardes Indigènes) hay lính Khố Đỏ
(Tirailleurs) cho Mỹ. Sự mất chủ quyền lên đến cao điểm khi người Mỹ đưa hai
nhân viên CIA của họ là Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Trần Thiện Khiêm lên năm
chính quyền và cho nhân viên CIA thứ ba là Tướng Đặng Văn Quang ở cạnh Tổng
Thống Thiệu để theo dõi. Tướng này trở thành chuyên viên “kinh tài” cho Tổng
Thống Thiệu. Từ đó, người Mỹ đã tự quyết định lấy số phận của miền Nam Việt
Nam.
2.- “Việt Nam hoá” chiến tranh
Vì không tìm thấy được
thắng lợi một cách dễ dàng và nhanh chóng sau khi giết ông Diệm và đổ quân vào
Việt Nam như người Mỹ tưởng, kể từ đầu năm 1968, Hoa Kỳ bắt đầu cố gằng làm tiêu
hao lực lượng của Cộng quân và “Việt Nam hoá” chiến tranh để rút
lui. Việc Hà Nội lập kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân là một cơ hội tốt để Hoa Kỳ
làm tiêu hao lực lượng của địch.
Các tài liệu cho thấy cả chính phủ VNCH
lẫn Hoa Kỳ đã nhận được khá nhiều tin tức về Việt Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết
Mậu Thân. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ biết rất rõ Hà Nội sẽ chiếm thành phố Huế
và dùng nơi đây làm thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nên Mỹ đã tương
kế tựu kế, lập kế hoạch để tiêu diệt toàn bộ lực lượng này.
Trước Tết
khoảng hai tuần, quân đội Hoa Kỳ đã ra lệnh cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ di chuyển từ
An Khê, Bình Định, ra Vùng I Chiến Thuật, được nói là để tiếp viện cho mặt trận
Khe Sanh, nhưng khi ra tới Huế, sư đoàn này được lệnh dừng lại và đóng ở Phú
Bài, phía đông nam thành phố Huế. Sư Đoàn Dù của VNCH cũng được Hoa Kỳ yêu cầu
tăng viện cho Vùng I một Chiến Đoàn. Vì thế, trước Tết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù đã
gởi ra Vùng I Tiểu Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 9. Đến mồng 2 Tết gởi thêm Tiểu Đoàn 7.
Ba tiểu đoàn này đã mai phục ở vùng Sịa để chờ tấn công vào thành phố Huế. Nhờ
vậy, khoảng 7.500 Cộng quân chiếm thành phố Huế đã bị tiêu diệt hơn phân
nữa.
Trong khi đó, Tổng Thống Thiệu cũng được báo tin khá đầy đủ về Việt
Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng ông không tin chuyện đó có thể xẩy
ra, nên ông không ra lệnh ứng chiến và đã đi Mỹ Tho ăn Tết ở quê vợ!
Sau
trận Mậu Thân, tháng 5 năm 1970, Hoa Kỳ phối hợp với Quân Lực VNCH mở các cuộc
hành quân qua Cam-bốt phá hủy hậu cần rất lớn của Sư Đoàn 7 của Cộng quân nằm
cách biên giới Việt – Miên khoảng 5 cây số, tịch thu nhiều vũ khí và 300 xe cộ
các loại. Nhưng khi mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Lào vào tháng 2/1971, cho
Sư Đoàn Dù tiến chiếm mật khu 604 của Cộng quân nằm gần thành phố Tchépone của
Lào, dụ 5 sư doàn Cộng quân đang lảng vảng trong vùng này nhập cuộc để tiêu diệt
thì bị thất bại nặng vì Tổng Thống Thiệu bất thần nhảy vào phá vỡ kế hoạch hành
quân, làm Quân Lực Mỹ và VNCH bị tổn thương rất nặng. Washington điên
lên.
3.- Quyết định bỏ miền Nam
Qua cuộc hành quân nói
trên. Người Mỹ nhận ra rằng “các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân
phục Tướng Lãnh” không đủ khả năng tiếp tục điều khiển cuộc chiến sau
khi Mỹ rút, cho dù được viện trợ tối đa. Vì thế, Tổng Thống Nixon đã quyết định
bỏ miền Nam và phái Bộ Trưởng Thuộc Địa Kissiger qua Trung Quốc thương lượng để
giao miền Nam cho Trung quốc.
Vào tháng 8 năm 2004, nhân kỷ niệm 30 năm
ngày Tổng Thống Nixon từ chức (9.8.1974 đến 9.8.2004) Miller Center of Public
Affairs thuộc Đại Học Virgina đã cho công bố băng ghi âm các cuộc nói chuyện
giữa Nixon và Kissinger. Tài liệu này cho biết mặc dầu đang mở cuộc oanh tạc Bắc
Việt trong suốt mùa xuân và mùa hè 1972, Tổng Thống Nixon kết luận rằng Hoa Kỳ
ủng hộ việc “Nam Việt Nam có thể không bao giờ còn tồn tại dù bất cứ cách
nào.” (South Vietnam probably can never even survive
anyway).
Tổng Thống Nixon đã hỏi Kissinger rằng “chúng ta có thể có
một chính sách ngoại giao sống còn (a viable foreign policy) nếu một năm kể từ
bây giờ hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam? Đó thật là
vấn đề.”
Kissinger trả lời: “Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ,
Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam, chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao
sống còn nếu coi điều đó như là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt
Nam (if it's the result of South Vietnamese incompetence.)
Trái
lại, trong cuộc nói chuyện với Thủ Tướng Chu Ân Lai ngày 20/6/1972 tại Bắc Kinh,
khi Chu Ân Lai nói Trung quốc sẽ không nói chuyện với Hoa Kỳ chừng nào Hoa Kỳ
chưa lật đổ chế độ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Kissinger trả
lời:
“Chúng tôi đã không làm việc đó dù rất trân trọng quan hệ giữa
hai nước chúng ta. Then chốt quan hệ giữa chúng ta là để mọi sự diễn biến một
cách hòa bình, chứ không phải là hành động thiếu danh dự. Nếu chúng tôi
có thể phản bội một đồng minh này thì chúng tôi cũng có thể phản bội các đồng
minh khác, và còn ai tin chúng tôi nữa? ”
Như vậy, trong cách
nhìn và lý luận của Kissinger, Hoa Kỳ có thể bỏ miền Nam vì đó là “là kết quả
của sự bất tài của người Nam Việt Nam” , còn Hoa Kỳ không thể bỏ Đài Loan
được.
4.- Áp lực VNCH ký Hiệp Định Paris
Một cuộc hòa đàm
để chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Paris kể từ năm 1968. Trong
cuốn “Viet-Nam, Pourquoi les Etats-Unis ont-ils perdu la guerre” (Việt
Nam, Tại sao Hoa Kỳ đã thất trận), ông Nguyễn Phú Đức, Cố Vấn Đặc Biệt của Tổng
Thống Thiệu về Đối Ngoại, đã viết:
“Cuối cuộc họp, khi chúng tôi ở một
mình với nhau, Kissinger muốn biết cảm nghĩ của tôi về bản dự thảo Hiệp Định,
tôi nói với ông về lập trường của Chính Phủ Việt Nam trên hai vấn đề chính -
rút quân lực của Bắc Việt, và không có chính phủ liên hiệp tại Nam Việt
Nam - vẫn không thay đổi. Ông ta lưu ý tôi đó là những vấn đề nghiêm trọng.
Tôi cách nghĩa cho ông ta rằng đó là vấn đề sinh tử của Nam Việt Nam... Tôi
thẫm định rằng Hiệp Định này, với những từ ngữ của nó hiện tại, sẽ đưa đến sự
sụp đổ của Nam Việt Nam. ” (trang 361)
Ngày 18.10.1972 Kissinger
đã bay đến Saigon để làm áp lực buộc Tổng Thống Thiệu phải đồng ý nội dung bản
dự thảo nầy, với hy vọng sẽ mang bản dự thảo đó ra Hà Nội ngày 24.10.1972 để Thủ
Tướng Phạm Văn Đồng ký tắt vào. Nhưng Kissinger đã thất bại. Chỉ trong một thời
gian ngắn, phía Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện ra đến 23 điểm cần phải điều
chỉnh. Kissinger chỉ đồng ý điều chỉnh 16 điểm không quan trọng mà thôi. Số còn
lại phải để nguyên. Cuộc đối thoại trở nên gay cấn về hai điểm then chốt là việc
chấp nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam Việt Nam và việc thành lập một
Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp giống như một chính phủ liên hiệp. VNCH coi đây là một
cách bán đứng miền Nam Việt Nam cho Hà Nội nên cương quyết chống lại.
Thất bại với VNCH, Tổng Thống Nixon và Kissinger quay lại làm áp lực với
Hà Nội. Kissinger đưa ra một bản dự thảo mới, yêu cầu Hà Hội tái thảo luận,
nhưng Hà Nội từ chối. Tổng Thống Nixon liền gởi cho Hà Nội một thông điệp nói
rằng nếu Hà Nội không chấp nhận thảo luận một cách nghiêm chỉnh thì sau 72 tiếng
đồng hồ nữa Hoa Kỳ sẽ ném bom trở lại từ vĩ tuyến 20 trở lên. Ngày 18.2.1972,
khi thời hạn này chấm dứt, hàng loạt B.52 đã bay đến ném bom xuống các căn cứ
quân sự ở Hãi Phòng và Hà Nội. Đây là những khu vực chưa hề là mục tiêu đánh phá
từ trước.
Cùng lúc đó, Tướng Haig được cử đến Saigon với sứ mạng vừa hứa
hẹn vừa đe dọa. Trong thông điệp trao cho Tổng Thống Thiệu ngày 14.11.1972, Tổng
Thống Nixon có cam kết:
“Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng nếu Hà
Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp Định nầy thì tôi cương quyết sẽ
có hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt. ”
Nhưng Tướng Haig cũng
không quên lặp lại lời đe dọa của Washington rằng nếu Tổng Thống Thiệu không
chấp nhận bản dự thảo hiệp định mới, Hoa Kỳ sẽ cắt hết việt trợ và ký một hiệp
định riêng với Bắc Việt.
Tổng Thống Thiệu thừa biết Bắc Việt cố giữ lại
điều khoản không rút quân để khi Hoa Kỳ rút hết, họ sẽ mở cuộc tấn công trở lại,
nhưng bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi Mỹ muốn đem quân
vào, Tổng Thống Thiệu đã tự trấn an bằng những lời cam kết của Tổng Thống Nixon
mà Tướng Haig mới chuyển đến, kèm thêm một số quân dụng được tiếp tế khẩn cấp
qua chương trình Enhance và Enhance Plus, đã ra lệnh cho ký kết bản Hiệp Định
Paris ngày 27.1.1973, một bản hiệp định mà ông thấy có quá nhiều điểm thất
lợi.
KHÔNG CẦN BIẾT ĐỒNG MINH VÀ ĐỊCH
Sau khi buộc VNCH ký
Hiệp Định Paris xong, ngày 29.6.1973 Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết dự luật cấm các
hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á. Dự luật nầy đã được
lưỡng Viện thông qua ngày 21.9.1973. Đến ngày 12.10.1973, lưỡng Viện Hoa Kỳ lại
thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra
ngoại quốc. Đến đây, VNCH phải hiểu ngay rằng Quân Đội Mỹ sẽ không trở lại Đông
Dương nữa và VNCH phải tìm một giải pháp khác để sinh tồn. Nhưng điều đáng tiếc
là Tổng Thống Thiệu đã không hiểu như thế!
Tổng Thống Thiệu có tướng mạo
khá phương phi, nhưng lại có cái đầu đặc, biết rất ít về chính trị lẫn quân sự,
thường hành động theo cảm tính và sự độc đoán của mình, KHÔNG CẦN BIẾT ĐỒNG MINH
VÀ ĐỊCH ĐANG LÀM GÌ. Ông đúng là một “trung sĩ được Pháp huấn luyện trong
quân phục Tướng Lãnh” như ông Trần Trung Dung đã nói với Đại Sứ Cabot
Lodge.
Mỗi lần xẩy ra biến cố gì, ông đều có bảo cấp dưới nghiên cứu và
đề nghị giải pháp, nhưng sau khi liếc qua phúc trình của cấp dưới, ông xếp vào
đống hồ sơ rồi hành động theo những cảm nghĩ nông cạn của mình.
Người
Việt chống cộng thường nhắc đi nhắc lại một câu nói của Tổng Thống Thiệu:
"Đừng nghe những gì Công Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản
làm". Tuy dạy người khác như vậy, nhưng ông không bao giờ chịu “nhìn kỹ
những gì Cộng Sản làm”.
Sau khi ký Hiệp Định Paris, trong khi Hà Nội
quyết định làm lại con đường 14, gọi là con đường Đông Trường Sơn, để đưa quân
vào Phứóc Long và Bình Long rồi đánh thẳng xuống Sài Gòn năm 1976, bỏ qua các
tỉnh miền Trung, Tổng Thống Thiệu lại hô hào “cải tổ hành chánh”
để được lòng dân và thắng Cộng Sản! Ông bắt các công chức cao cấp đi dự
một khoá huấn luyện ở Vũng Tàu và đưa Hoàng Đức Nhã xuống giảng về luân lý giáo
khoa thư lớp đồng ấu! Tôi nhờ khi bước lên diễn đàn, Hoàng Đức Nhã đã đưa tay
chỉ lên trời và nói: “Tôi đi guốc trong bụng tên Võ Nguyên Giáp!”
Chẳng những không quan tâm đến các khuyến cáo của cơ quan DAO,
Tổng Thống Thiệu còn quyết định bỏ Phước Long “để xem Mỹ nó làm gì”
, tức xem Hoa Kỳ có “hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt”
như Tổng Thống Nixon đã hứa không!
Khi viện trợ quân sự bị cắt
dần, Tổng Thống Thiệu không nghĩ phải tìm một giải pháp chính trị mà cho rằng Mỹ
cho 2 tỷ, ta giữ cả miền Nam. Mỹ rút xuống còn 700 triệu, ta chỉ giữ một phần
lãnh thổ thôi. Ông làm như miền Nam là của Mỹ, ông chỉ là người làm công hay
lính đánh thuê. Ông cho mời Chuẩn Tướng Ted Sarong, một chuyên viên du
kích chiến của Úc, hợp tác với Tướng Đặng Văn Quang, một tay chuyên đi làm tiền,
lập kế hoạch bỏ Vùng I và Vùng II và thiết lập một phòng tuyến mới từ Tây Ninh
đến Nha Trang, gọi là kế hoạch “Đầu Bé Đít To” , để giữ phần đất
còn lại! Kế hoạch này đã bị phê phán nặng nề, nhưng ông vẫn cho thi hành, làm
mất miền Nam nhanh chóng.
LẤY THÚNG ÚP VOI
Mặc dầu các tài
liệu bí mật về chiến tranh Việt Nam đã được Hoa Kỳ cho tiết lộ gần hết, một số
người Việt chống Cộng vẫn chủ trương đừng nhắc đến những chuyện bi thảm này và
chỉ nên nói đến những thất bại của Cộng Sản. Họ muốn lấy thúng úp voi, mặc dầu
không thể làm được.
Điều quan trọng không phải là “lấy thúng úp voi”.
Điều quan trọng là phải rút kinh nghiệm lịch sử để tìm ra một hướng đi mới giải
phóng dân tộc.
(Ngày 30.6.2009)