|
Những
ngày cuối
cùng của
Đệ
I Cộng
ḥa (II)
Trần Giao Thủy
Liên Hiệp Quốc (LHQ), Khủng hoảng Phật giáo và những ngày
cuối cùng của Đệ I Cộng ḥa
25/10/1963 – Hành động
Cuộc họp giữa Conein và Đôn trong hai ngày 23 và 24 tháng 10
cho thấy âm mưu đảo chánh Diệm đă mạnh trở lại như hồi cuối
tháng Tám. Sự đột nhập hàng ngũ của nhóm (đảo chánh) Trần
Kim Tuyến – trong đó Phạm Ngọc Thảo, một t́nh báo của Cộng
sản Bắc Việt, là thành phần lănh đạo – cho biết nhóm này sẽ
tấn công Dinh (Gia Long) ngay khi có đủ đạn dược và cơ giới.
Ngày 24 tháng 10, điện tín về Washington như bươm bướm đến
khi Thảo liên lạc với (cơ sở CIA) và nói là không có chương
tŕnh hành sự nào sắp xảy ra hết. Cơ sở t́nh báo CIA tại Sài
G̣n c̣n xác định rơ Trung tá Không quân Nguyễn Cao Kỳ, người
mà nhóm đảo chánh Thảo–Lang (Huỳnh Văn Lang) trông cậy vào
để có yểm trợ không lực, c̣n đang nhậu với sĩ quan Mỹ lúc
3:00 giờ chiều.
Cùng lúc Toà Bạch ốc, Cố vấn An ninh Quốc gia McGeorge
Bundy, quan tâm đến sự thích hợp về vai tṛ của Conein trong
cuộc đảo chánh. Lodge chia sẻ quan tâm đó nhưng nói không có
người thích hợp hơn thay thế. Lodge cũng trấn an Bundy về
việc đây (cuộc đảo chánh) có thể là một đ̣n nhử của Ngô Đ́nh
Nhu v́ các tướng lănh đảo chánh có vẻ có thiện ư với Hoa Kỳ.
Đồng thời CIA sẵn sàng loạn vai tṛ Conein bất cứ khi nào v́
lợi ích quốc gia. Trung ương CIA muốn thâu băng những cuộc
họp của Conein với nhóm tướng đảo chánh nhưng Smith cho là
không được v́ hai lẽ. Một là không có máy thu âm nào nhỏ đủ
để kín đáo thu âm; hai là nếu cuộn băng bị lộ th́ nó sẽ là
bằng chứng có sự hợp tác của Mỹ trong cuộc đảo chánh. Smith
cũng như Lodge không tin là Nhu có thể dùng Đôn, đừng nói ǵ
đến Big Minh, làm con độn trong ván cờ.
Kennedy và toà Bạch ốc rất quan tâm và không muốn đứng sau
một cuộc đảo chánh có khả năng thất bại. Một trong những mưu
toan đảo chánh loại này là toan tính của nhóm Phạm Ngọc Thảo
– Huỳnh Văn Lang. Ngày 25 tháng Mười, Huỳnh Văn Lang tiếp
tục báo cho CIA hay những cố gắng hết sức của Thảo để vận
động thêm và giữ đồng minh đă có, chẳng hạn như tướng Khiêm,
người mà Lang cho là quá nhút nhát. Huỳnh Văn Lang cho hay
Thảo đă đem được một đơn vị xe tăng từ Đồng bằng sông Cửu
Long về Sài G̣n. Báo cáo của Lang c̣n nói đến những trùng
lắp về nhân sự giữa các phe nhóm đảo chánh. Thí dụ, Trần Kim
Tuyến, xếp Cần lao, đang lưu vong đă đưa lực lượng về cho
Thảo toàn quyền sử dụng. Lang c̣n tuyên bố rằng Lực lượng An
ninh Quân đội đang đánh hoả mù với anh em Tổng thống Diệm
bằng cách đưa thông tin sai lạc về những hoạt động đảo chánh.
Trong khi những nhóm đảo chánh lên kế hoạh th́ ông Nhu cũng
vẽ trận đồ riêng của ḿnh. Nhu ra lệnh cho Đính cho các đơn
vị ven đô tấn công vào Sài G̣n. Cuộc đảo chánh giả này sẽ có
cả những tấn công kiểu quân khủng bố vào các căn cứ của Mỹ.
Khi đó quân đội trung thành dưới sự chỉ huy của Nhu và Đính
sẽ dẹp tan phiến loạn. Như thế Chính phủ Mỹ sẽ thấy loạn
quân chỉ là một nhóm vô chính phủ và sẽ ủng hộ đường lối
cứng rắn của chế độ với Phật tử.
|
 |
|
Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Quân Đoàn 3
kiêm Tư Lệnh Vùng 3 Chiến Thuật kiêm Tổng Trấn
Sài G̣n Gia Định, họp báo tại Ṭa Đô chánh để
bảo vệ lập trường của Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
trong thời kỳ thiết quân luật (9/1963)
Nguồn: LIFE
|
Nhóm tướng đảo chánh xui Đính xin ghế Bộ trưởng bộ Nội vụ
như món quà thưởng cho vụ tấn công chùa chiền hồi tháng Tám;
dĩ nhiên như họ chờ đợi, Tổng thống Diệm không chấp thuận.
Tự ái bị tổn thương, Đính gia nhập nhóm đảo chánh trước khi
Nhu lên kế hoạch đảo chánh và khủng bố giả. Mưu mô của Nhu
như thế đă hỏng ngay từ trứng nước.
(Thomas L. Ahern Jr., CIA and The House of Ngo, p.
201-3)
27/10/1963 – Những chuẩn bị sau cùng
Đôn và Lodge gặp nhau tại phi trường Tân Sơn Nhất trước khi
Đại sứ Mỹ cùng Tổng thống Diệm ra họp ở Dalat. Tại đây Lodge
xác nhận Conein là “hàng thật” của Mỹ. Đôn nhấn mạnh cuộc
đảo chánh sẽ hoàn toàn do người Việt Nam kiểm soát và từ
chối không cho Lodge biết khi nào cuộc đảo chánh bắt đầu.
Lodge yêu cầu được báo tin thường xuyên và hỏi khi nào sẽ
nhận được toàn bộ dự án đảo chánh. Lodge báo cáo về
Washington cho hay chỉ có Lodge và Smith mới có thể có thông
tin về vụ đảo chánh trong những ngày sắp đến.
(Thomas L. Ahern Jr., CIA and The House of Ngo, p.
203)
28/10/1963 – Vài giờ sau khi một nhà sư tự thiêu chết
ở Sài G̣n, toán công tác của Liên Hiệp Quốc điều tra những
khiếu nại của Phật tử chống Chính phủ bắt đầu một hành tŕnh
tự chọn. Nhóm bảy người của LHQ không chứng kiến sự kiện này.
(TNYT).
Tuyên phố của phái đoàn LHQ tại Sài G̣n ngày 26 tháng 10,
1093
(Bản văn sau đây do phái đoàn t́m hiểu thực tế của LHQ gởi
đi từ Sài G̣n).
Phái đoàn t́m hiểu thực tế của LHQ về những cáo buộc vi phạm
nhân quyền của Chính phủ tại Việt Nam với cộng đồng Phật tử,
đặt bản doanh tại khách sạn Majestic ở Sài G̣n vào ngày thứ
Bảy, 26 tháng 10, 1963, và đưa ra bản tuyên bố sau đây:
“Phái đoàn mời tất cả mọi người có quan tâm đến trước phái
đoàn nhận thực và phái đoàn cũng nhận lời khai bằng văn bản.
Mọi người muốn đến nhận thực với phái đoàn cần liên lạc với
Thư kư trưởng của phái đoàn tại pḥng 104, khách sạn
Majestic.”
Vào Chủ nhật, 27 tháng Mười, phái đoàn đếng viếng chùa Ấn
Quang để gặp gỡ với chức sắc Phật giáo và Liên hiệp Uỷ ban
Phật giáo tinh khiết. Phái đoàn phỏng vấn nhiều người trong
đó có: Sư bà Diệu Huệ, mẹ của quan sát viên của Việt Nam
Cộng hoà tại LHQ (Bửu Hội); và Thích Tịnh Khiết, Chủ tịch
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Chuyến viếng thăm chùa Ấn Quang hôm 25 tháng Mười đă bị huỷ
bỏ.
Chương tŕnh sắp đến của phái đoàn vẫn c̣n trong ṿng thảo
luận.
(UN
Press Services, Office of Public Information, UN, N.Y.,
Thông cáo báo chí GA/2862) Conein và Đôn lại gặp
nhau tại pḥng nha sĩ
ở
phố Sài G̣n. Đôn nhấn
mạnh với Conein mọi
liên lạc khác về tiến
tŕnh đảo chánh phải chấm
dứt ngay. Không hiểu
Đôn nói những liên lạc
khác
là liên lạc giữa Mỹ
với ai, Conein lại
hỏi Đôn về việc
cung cấp thông tin. Và tự
ư, Conein đă yêu cầu Đôn cung cấp
chương
tŕnh hành động
để Lodge nghiên cứu
trước khi về lại
Washington vào ngày 31 tháng Mười. Đôn cho Conein biết một số
tŕnh tự tiến quân trong cuộc đảo chánh nhưng
nhất định chỉ
cho Mỹ biết kế
hoạch khi đến lúc
‒ chứ không phải
48 giờ như
đă hứa trước.
Tướng Đôn chỉ có thể
báo cho Mỹ biết trước
2 giờ. Hai ngày tới
sẽ không có chuyện
ǵ xẩy ra nhưng
Conein nên ngồi nhà đợi, bắt
đầu từ chiều
30 tháng Mười.
Conein và Đôn đồng ư siết chặt an ninh về mặt liên lạc, sẽ
dùng người thay thế để truyền tin – tuỳ viên của Đôn và một
nhân viên CIA cấp nhỏ ở gần nhà Conein – và máy vô tuyến để
giảm bớt việc nhân vật chính phải gặp mặt nhau. Nếu phải gặp,
sẽ đến chỗ hẹn định trước, tránh gặp nhau ở nhà riêng và văn
pḥng của đương sự.
Dù đă có sự đồng ư với Conein về những liên lạc không được
phép, Tướng Đôn cũng không thể ngăn cản được những bước mon
men đến gần Conein. Đối tượng của những cố gắng liên lạc này
hoàn toàn là nhân viên CIA, những người đă thiết lập hệ
thống liên lạc từ lâu với phe đối lập không cộng sản ở miền
Nam. Hôm 28 tháng Mười, một chính khách thuộc Đảng Đại Việt,
Bùi Diễm (trong giai đoạn này Bùi Diễn chưa giữ vai tṛ ǵ ở
chính trường miền Nam; ông là nhà báo [Saigon Post], nhà sản
xuất phim ảnh [“Chúng tôi muốn sống”]), liên lạc với
cơ sở để ḍ hỏi về vai tṛ của Conein, nhân viên CIA xác
định vai tṛ chính yếu của Conein. Bùi Diễm trả lời bằng
cách tuyên bố ḿnh có thể là một đại diện khác có liên lạc
với nhóm tướng đảo chánh. Một người cơ hội khác là Bác sĩ
Đặng Văn Sung (một đảng viên khác của Đại Việt), bỏ cả buổi
tối hôm sau mô tả với một nhân viên CIA khác là ông và các
đồng chí đă h́nh dung cơ chế chính phủ mới và vai tṛ của họ
trong đó ra sao.
(Thomas L. Ahern Jr., CIA and The House of Ngo, p.
204)
29/10/1963 – Chủ tịch phái đoàn LHQ t́m hiểu thực tế
tại Nam Việt Nam công bố chương tŕnh làm việc.
Chủ tịch phái đoàn LHQ t́m hiểu thực tế tại Nam Việt Nam,
Abdul Rahman Pahzwak của Afghanistan, tuyên bố với báo giới
hôm nay như sau:
“Như quư vị biết, mục đích công tác của phái đoàn LHQ này,
có mặt tại đây do lời mời của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà,
là để xác minh những dữ kiện về t́nh h́nh được cáo buộc là
vi phạm nhân quyền của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà trong
quan hệ với cộng đồng Phật tử của quốc gia này. Điều này, do
đó, là vấn đề duy nhất chúng tôi quan tâm đến, và để hoàn
tất công tác, chúng tôi sẽ nghe tuyên bố của mọi phía của
vấn đề và cho tất cả mọi phía cơ hội được (chúng tôi) nghe.
“Do đó chúng tôi sẽ nhận kháng thư và phỏng vấn tất cả nhân
chứng muốn đến tŕnh bày. Thực vậy, tôi đă tuyên bố việc này
của phái đoàn ngay khi mới đến phi cảng sáng thứ Năm, và kể
tứ lúc đó phái đoàn đă gởi một lời mời đến tất cả mọi phía
liên hệ, như sau: ‘phái đoàn mời tất cả mọi người quan
tâm đế đưa lời khai trước phái đoàn, và cũng nhận kháng thư
bằng văn bản.’
“Khi mới đến, Chính phủ VNCH đề nghị với chúng tôi một
chương tŕnh làm việc. Chương tŕnh đề nghị này đă được (chúng
tôi) thảo luận với Chính phủ. Chúng tôi đă công bố với quư
vị một phần chương tŕnh làm việc mà chúng tôi đă đồng ư.
Nay chúng tôi ở vị trí có thể công bố chương tŕnh đă định
đến chiều ngày 31 tháng Mười, như sau đây: ‘Thứ Ba ngày 29,
buổi chiều, phỏng vấn nhân chứng từ 18giờ 00. Thứ Tư ngày
30, một phần phái đoàn gồm các Đại sứ Ahmed, Gunerwardene,
và Volio đi Huế vào lúc 07 giờ 35. Phân chính của phái đoàns
ở tại Sài G̣n phỏng vấn nhân chứng. Thứ Năm ngày 31, phái
đoàn tiếp tục phỏng vấn. 10 giờ 20, phái đoàn từ Huế trở về,
Buổi chiều, tiếp tục phỏng vấn nhân chứng và đi thăm viếng
bệnh viện Đô Thành.’
“Tôi cũng xin thưa với quư vị đă có sự thoả thuận với Chính
phủ VNCH để phái đoàn tự do phỏng vấn tất cả mọi nhân chứng
có liên quan đến vấn đề Phật giáo đă được mời đến, và chính
phủ đă hợp tác giúp t́m nhân chứng và đưa họ đến với phái
đoàn.
“Cũng đă có sự thoả thuận để phái đoàn tự do gặp gỡ tất cả
mọi nhân vật tôn giáo phái đoàn muốn phỏng vấn, cũng như tất
cả thường dân có liên quan đến vấn đề Phật giáo, kể cả những
người đang bị giam giữ. Chính phủ (VNCH) cũng tuyên bố để
phái đoàn gặp những ngưỡi lănh đạo của các đảng phái chính
trị đối lập (với chính phủ) là đi ngược nguyên tắc chủ quyền
của Việt Nam.
“Hôm qua, phái đoàn đă phỏng vấn sinh viên học sinh tại trại
thanh niên Lê Văn Duyệt và sáng nay phái đoàn đi thăm Trung
tâm Thẩm vấn tại trại giam của Nha Tổng Giám Đốc Cảnh Sát
Quốc Gia, và phỏng vấn một số tu sĩ mà phái đoàn đă yêu cầu
được gặp.
“Về thời gian chúng tôi công tác ở đây, điều này chưa quyết
định được v́ không thể xếp đặt thời gian trước khi chưa ước
chừng được thời lượng cần có để hoàn thành sứ mạng của chúng
tôi.
(UN Press Services, Office of Public Information, UN, N.Y.,
Thông cáo báo chí GA/2864).
Ở Washington, Trưởng cơ sở CIA ở Viễn Đông, William Colby,
báo cáo với Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) về tiến tŕnh
của cuộc đả chính. Thẩm định của Colby cho rằng lực lượng
hai phe chống và theo Diệm tương đương nhau đă khiến cho các
phụ tá của Kennedy tiếp tục tranh căi về việc nên hay không
ủng hộ cuộc đảo chánh.
McNamara (BT Quốc pḥng), Taylor (Tư lệnh Liên Quân), và
McCone (Giám đốc CIA) cho rằng lật đổ Diệm là việc làm có
nhiều rủi ro. McCone lập lại lời tiên đoán, cuộc đảo chánh
này sẽ đưa đến những cuộc đảo chánh khác, kết quả sẽ là một
t́nh h́nh chính trị rối loạn.
Tổng thống Kennedy đ̣i thêm thông tin về tương quan lực
lượng và quan điểm của Lodge với toán hoạt động ở Sài G̣n.
Cùng đêm CIA báo cáo về cuộc họp với Bùi Diễm và Đặng Văn
Sung, Cố vấn An ninh Quốc gia McGeorge Bundy điện về Sài G̣n,
“báo cáo đă được cấp chỉ huy tối cao xem xét rất cẩn thận”
và Washington không tin rằng “những dự án đă tiết lộ hiện
nay cho thấy rơ ràng viễn cảnh đạt được kết quả nhanh chóng.”
Lodge phải bàn chương tŕnh hành động với Tướng Harkins để
có cái nh́n chung kể cả ư kiến của Quyền trưởng cơ sở CIA
Saigon, David Smith.
(Thomas L. Ahern Jr., CIA and The House of Ngo, p.
204-5)
30/10/1963 – Phái đoàn LHQ phỏng vấn nhân chứng Phật
giáo trong tù. (TNYT).
Trả lời, Lodge không phản đối việc chia sẻ thông tin với
Harkins, nhưng kháng cự mănh liệt đề nghị của Kennedy để
Harkins thay ḿnh trong gian vắng mặt. Lodge nghĩ rằng làm
như thế, “có thể là không c̣n hy vọng ǵ để có sự thay đổi
chính phủ ở đây.” Dẫn chứng bằng một số chi tiết về tiến
tŕnh đảo chánh mà cơ sở CIA vừa báo cáo, Lodge tin rằng
cuộc đảo chánh sẽ thành công.
Nghi ngờ của Lodge về khả năng điều hợp cuộc đảo chánh của
Harkins phần nào có cơ sở dự vào điện tín trong cùng ngày 30
tháng Mười Harkins đă gởi cho Maxwell Taylor. Trong đó
Harkins nói ông hiểu vai tṛ tổ chức của Đôn trong cuộc đảo
chánh nhưng không hiểu tại sao các tướng lănh đảo chánh chỉ
nói chuyện với Conein mà không nói chuyện với ḿnh. Trước đó,
vào buổi chiều, đă xem và không đồng ư với nội dung trả lời
của Lodge với Bundy, Harkins gởi điện cho Taylor chống lại
việc Mỹ tham dự vào cuộc đảo chánh nếu không có chứng minh,
hơn những ǵ ông đă biết, là cuộc đảo chánh sẽ thành công.
Trong khi đó Smith đang làm việc theo yêu cầu của Trợ lư Phó
Giám đốc CIA, Richard Helms, để có một nhận định độc lập về
viễn ảnh về sự thành công của cuộc đảo chánh. Tránh tiên
đoán kết quả cuộc đảo chánh, Smith trả lời (Helms) rằng Diệm
khó mà thắng được VC trong “tương lai gần” và chế độ của ông
ấy “không có khả năng tồn tại.”
Trong khi T́nh báo Trung ương và cơ sở CIA ở Sài G̣n cố gắng
nhận diện hai bên, phe phù nhà Ngô và phe theo đảo chánh, để
lượng định sức lực cả hai, Bundy đă dùng cổng truyền thông
của CIA để bác bỏ việc Lodge phản đối Harkins làm quyền Chỉ
huy trưởng của Mỹ (khi Lodge vắng mặt). Bundy cũng không
thừa nhận đánh giá của Lodge là Mỹ không có khả năng chận
một cuộc đảo chánh không có viễn ảnh thành công. Bundy ra
chỉ thị cho Lodge phải tham khảo với Harkins và Smith để
hướng dẫn nhân viên trong việc liên lạc với các nhóm đảo
chánh. Lodge trả lời cộc lốc, “Cảm ơn những chỉ thị sắc sảo
của ông. Sẽ cố gắng hết sức để thi hành.”
(Thomas L. Ahern Jr., CIA and The House of Ngo, p.
205-6)
31/10/1963 – Căng thẳng vào giờ cuối
Ở Washington, William Colby cố gắng đưa một giải pháp kế
thừa không đổ máu. Ông ta viết cho Gíam đốc T́nh báo Trung
ương (John McCone) đề nghị đưa Ngô Đ́nh Nhu vào vị trí của
anh ông (Tổng thống Nam Việt Nam). Colby không đưa một lư do
đặc biệt nào ông nghĩ là Nhu sẽ cởi mở hơn – đồng thuận
trong giới chức Hoa Kỳ cho rằng Nhu là lư do của sự không
khoan nhượng của Diệm – và tỉ mỉ liệt kê những điểm yếu của
Nhu. Đó là tính “phát-xít”, h́nh thức phóng đại (“potemkin
village”) của đoàn Thanh niên Cộng hoà, và một điểm yếu khác
Nhu thường vấp phải đó không phân biệt giữa việc xác định
mục đích và đạt được mục đích. Nhưng Nhu là “một người cương
quyết, có định hướng và có thể là người thừa kế có hiệu quả”
với nhược điểm lớn nhất – h́nh ảnh, tai tiếng không thuận
lợi với quần chúng – và chúng ta nên giúp ông ta cải thiện.
Dĩ nhiên Colby không đưa đề nghị táo bạo như thế mà lại
không tin là sẽ được cứu xét. Nhưng Colby đă từng phải đối
phó với sự chán ghét Nhu rất phổ biến ở Bộ Ngoại giao. Bản
khuyết điểm của Nhu mà Colby liệt kê đă thừa nhận một số cơ
sở cho sự kiện trên. Và Colby cũng hiểu rằng đề nghị này
ngầm phủ nhận đ̣i hỏi hạ bệ Nhu như trong bức điện tín tháng
Tám của Washington châm ng̣i cho âm mưu chống Diệm.
|
 |
|
Trung Tướng (3 sao) Tôn Thất Đính, trong phe
tướng đảo chánh Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và giết
hai ông Diệm và Nhu (11/1963)
Nguồn: LIFE
|
Khi cuộc chuẩn bị đảo chánh đă đến điểm gần như không thể
trở ngược lại nữa, những yếu tố này, cộng với thời điểm lên
tiếng, không c̣n ngờ ǵ, đă giải thích tại sao đề nghị của
Colby không được ủng hộ. Tướng Khiêm vừa huỷ lời hứa hỗ trợ
thiết giáp cho Phạm Ngọc Thảo, và Thảo đang cố gắng thay thế
bằng một đơn vị thiết giáp khác thuộc phe Trần Kim Tuyến.
Thảo không ngờ người liên lạc giữa Thảo và chỉ huy đơn vị
thiết giáp này làm việc với cơ sở. Nhóm đảo chánh vẫn án
binh bất động, cơ sở CIA ở Sài G̣n chỉ có thể theo dơi t́nh
h́nh. Trong lúc chờ đợi, Conein suy nghĩ lại lời của Lodge
nói rằng nếu không có chuyện ǵ xẩy ra (không có đảo chánh)
và nếu Lodge thực sự quay về Washington, th́ ông sẽ dàn xếp
để Conein sẽ không c̣n làm việc với chính phủ Mỹ thêm một
ngày nào nữa.
(Thomas L. Ahern Jr., CIA and The House of Ngo, p.
206-7) |