Những lời thú
nhận
Lữ Giang
Cuốn
“Tâm tư Tổng Thống Thiệu”
của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đến
nay vẫn c̣n gây nhiều tranh luận
trên báo chí cũng như trên mạng
lưới toàn cầu.
Trong hai bài
trước chúng tôi đă đứng trên tầm
nh́n chiến lược để tŕnh bày cho
ông Hưng cũng như độc giả thấy
Tổng Thống Thiệu lănh đạo quốc
gia nhưng không biết Đồng Minh
làm ǵ và địch làm ǵ, cứ hành
động theo suy nghĩ chủ quan của
ḿnh nên đă đưa miền Nam tới sụp
đổ.
Trong bài này,
chúng tôi sẽ nêu lên một số cố
gắng của ông Hưng để biện hộ cho
Tổng Thống Thiệu, và cho độc giả
thấy các bằng chứng được ông
Hưng đưa ra để biện minh lại là
những lời thú nhận!
BIỆN MINH VỤ ĐẢO
CHÁNH 1963
Ông Hưng kể lại
rằng dạo đó (1963) ông Thiệu
đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 5 đóng
tại Biên Hoà. Đại Tướng Dương
Văn Minh kêu ông về Sài G̣n và
yêu cầu ông tham gia đảo chánh.
Tướng Minh nói rằng nếu ông Điệm
c̣n làm Tổng Thống th́ Mỹ sẽ cắt
giảm viện trợ cho quân đội. Ông
Thiệu đồng ư với điều kiện không
được hạ sát hai anh em ông
Diệm-Nhu. Bà Thiệu có kể lại
rằng khi ông Diệm từ nhà thờ Cha
Tam gọi về Bộ Tổng Tham Mưu,
chính ông Thiệu đă xin đi đón,
“v́ Sư đoàn 5 ở gần Chợ Lớn nhất”,
nhưng ông Minh trả lời: “Mày
khỏi phải đi, tao đă có người
rồi.”
Vấn đề ông Thiệu
tham gia cuộc đảo chánh lật đổ
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm năm 1963
đă được chúng tôi đă tŕnh bày
trong nhiều bài, nhất là bài “Kẻ
phản bội” được phổ biến
ngày 12.10.2009 (xem
motgoctroi.com) . Chúng tôi
không tin câu chuyện Tổng Thống
Thiệu kể lại với ông Hưng nói
trên là đúng sự thật v́ các lư
do sau đây:
Lư do thứ nhất: Tướng
Dương Văn Minh biết rất rơ Đại
Tá Thiệu là “con cưng” của ông
Diệm và ông Nhu, rất được tin
cậy và được đưa từ Huế về nắm Sư
Đoàn 5 ở Biên Ḥa để bảo vệ thủ
đô, tức bảo vệ chế độ, nên chẳng
bao giờ dám hé môi về chuyện đảo
chánh với ông Thiệu.
Không một báo cáo
nào của CIA cho biết chính Tướng
Minh đă thuyết phục Đại Tá Thiệu
làm đảo chánh. Trái lại, trong
bản tường tŕnh để ngày
29.10.1963 đánh giá kế hoạch đảo
chánh và lực lượng của mỗi bên,
Hilsman, Phụ Tá Bộ Ngoại Giao về
Viễn Đông Vụ, cho biết:
“Sư Đoàn 5 ở Biên Ḥa, cách Sài
G̣n khoảng 20 dặm. Tất cả ủng hộ
đảo chánh” (FRUS, 1961 –
1963, Volume IV, tr. 475 - 476.
Document 237).
Đại Tá Thiệu đă
được CIA kết nạp khi đi du học ở
Mỹ và khi về đă xin gia nhập
Đảng Cần Lao để được ông Nhu tin
tưởng và giao cho làm Tư Lệnh Sư
Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5, và ông đă
làm nội ứng cho CIA. Vây chỉ có
CIA mới có thể ra lệnh cho Đại
Tá Thiệu tham gia đảo chánh với
nhiều hứa hẹn. Tướng Minh không
bao giờ dám. Ông Thiệu tham
quyền nên đă phản bội ông Diệm
và phản bội tổ quốc.
Lư do thứ hai: Ông
Thiệu cho rằng ông tham gia đảo
chánh lật đổ ông Diệm v́ sợ Mỹ
giảm bớt viện trợ quân sự. Lư do
này không thể biện minh được:
Nếu mỗi lần Mỹ doạ giảm viện trợ
là các tướng lănh phải đứng lên
lật đổ chính phủ th́ c̣n ǵ là
chủ quyền quốc gia, c̣n ǵ là
đất nước?
Lư do thứ ba: Ông Thiệu
dựa vào đâu để biết khi làm đảo
chánh, tướng Minh sẽ hạ sát ông
Diệm và ông Nhu, nên đă đặt điều
kiện với tướng Minh là không
được giết hai ông mới tham gia
đảo chánh? Ông cũng không cho
biết tướng Minh có chấp nhận
điều kiện của ông hay không,
nhưng khi ông đồng ư tham gia có
nghĩa là tướng Minh đă chấp nhận.
Thế th́ tại sao khi tướng Minh
giết hai ông, ông không có phản
ứng nào?
Thật ra, việc
giết ông Diệm và ông Nhu là do
lệnh từ Washington. Không có
lệnh từ Washington, chẳng ai dám
đụng đến chân lông của ông Diệm
và ông Nhu. Ông William R.
Corson, một nhân viên CIA cao
cấp tại Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài
G̣n năm 1963, được Tổng Thống
Kennedy ra lệnh điều tra xem
việc ǵ đă xẩy ra và ai có trách
nhiệm trong việc giết ông Diệm
và ông Nhu, ông ta đă cho biết
như sau:
“Mọi chỉ thị từ Averell
Harriman... Các lệnh đưa đến cái
chết của ông Diệm và bào đệ của
ông ta phát xuất từ Harriman và
được phụ tá quân sự của Henry
Cabot Lodge thực hiện.”
(Joseph J.
Trento, “The Secret History of
the CIA”, Carrrol & Graf
Publishers, New York, 2005, p.
334).
Tướng Minh chỉ là
người thi hành lệnh của Harriman
qua Cabot Lodge và Lucien Conein.
Tóm lại, những
lời biện minh của ông Thiệu về
việc tham gia cuộc đảo chánh năm
1963 là những lời chạy tội vùng
về, không thể chấp nhận được.
CHUYỆN RÚT KHỎI QKII VÀ QKI
Đọc những đoạn
ông Nguyễn Tiến Hưng viết về
lệnh của Tổng Thống Thiệu rút
quân khỏi Quân Khu II và Quân
Khu I và đổ lỗi cho Tướng Phạm
Văn Phú và Tướng Ngô Quang
Trưởng, chúng tôi nhận thấy ông
Hưng biết rất ít về quân sự, về
các diễn biến đă xẩy v́ không có
kế hoạch rút quân được soạn thảo
chu đáo, nhất là t́nh trạng
hoảng loạn (panic) do lệnh của
Tổng Thống Thiệu gây ra, v.v.
Chúng tôi xin
nhắc lại, sau khi Mỹ giảm số
quân viện cho QLVNCH xuống c̣n
700 triệu, Tổng Thống Thiệu đă
quyết định chỉ giữ phần đất từ
Tuy Hoà trở vào và giao cho
Trung Tướng Đặng Văn Quang và
Chuẩn Tướng Ted Sarong (một
tướng chống du kích người Úc)
lập kế hoạch h́nh thành một
pḥng tuyến mới từ Tuy Hoà đến
Tây Ninh để pḥng thủ. Kế hoạch
này được Thổng Thống Thiệu gọi
là chiến lược mới
“Đầu bé đít to”. Sau đó,
nhân khi Ban Mê Thuột bị thất
thủ, Tổng Thống Thiệu đă ra lệnh
rút khỏi Quân Khu II rồi Quân
Khu I, đưa quân về lập pḥng
tuyến ở Tuy Hoà. Cuộc rút quân
không theo binh pháp nào nên
đoàn quân bị tan ră, và miền Nam
bị sụp đổ.
1.- Rút khỏi Quân
Khu II
Ông Hưng cho biết
Tổng Thống Thiệu cứ nhắc đi nhắc
lại:
“Tôi ra hai chứ không phải một
lệnh: đó là thứ nhất, rút quân
khỏi Pleiku để tái chiếm Ban Mê
Thuột, và thứ hai, Bộ Tổng Tham
Mưu ‘theo dơi và giám sát’
(suivre et surveiller) cuộc
triệt thoái này.”
(tr. 57).
Đây là một lối
giải thích không thể chấp nhận
được. Thứ nhất, Bộ Tổng Tham Mưu
chẳng những đă theo dơi và giám
sát việc rút quân trên đường số
7 mà c̣n yểm trợ tối đa, nhưng
khi đoàn quân bị đặt vào t́nh
trạng hoảng loạn v́ lệnh rút
quân bất khả thi, BTTM cũng
đành bó tay. Thứ hai, một khi đă
rút quân về Tuy Hoà, cho dù
thành công, cũng không thể trở
lại Cao Nguyên được chứ đừng nói
trở lại Ban Mê Thuột.
Lúc đó, VNCH có
hai con đường chính để giao
thông giữa Trung Phần và Cao
Nguyên, đó là quốc lộ số 19 nối
liền B́nh Định với Pleiku và
quốc lộ số 21 nối liền Nha Trang
với Ban Mê Thuột.
- Trước khi đánh
Ban Mê Thuột, Cộng quân đă cho
Trung Đoàn 95-B phong tỏa con
đường số 19, đóng chốt ở đèo An
Khê và đèo Mang Yang, và Trung
Đoàn 25 phong tỏa quốc lộ 21,
đóng chốt ở đèo Chu Cúc.
- Tỉnh lộ 7 nối
liền Tuy Hoà với Pleiku bị bỏ
hoang từ 1954, được lệnh sửa lại
để tháo chạy khỏi Pleiku. Trong
cơn hoảng loạn, đoàn quân đă bị
sư đoàn 320 của Cộng quân truy
đuổi và tan rả. Sư đoàn này đă
đóng chốt ở đèo Tu Na, Phú Bổn.
- Con đường từ
Quảng Đức đến Ban Mê Thuột đă bị
Sư Đoàn F-10 của Cộng quân phong
tỏa sau khi truy đưổi tàn quân
của Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 23
VNCH chạy khỏi Ban Mê Thuột.
Nh́n vào địa thế
và t́nh trạng của Cao Nguyên như
đă nói trên, không một nhà quân
sự chuyên nghiệp nào dám nghĩ
đến “di tản chiến thuật” từ Cao
Nguyên về Tuy Hoà rồi quay lại
tái chiếm Ban Mê Thuột.
Muốn trở lại Cao
Nguyên hay tái chiếm Ban Mê
Thuột, QLVNCH phải phá vở những
cái chốt nói trên. Với lực lượng
c̣n lại lúc đó, QLVNCH không thể
làm chuyện đó được. Sư Đoàn Dù
đă thất bại khi phá chốt Thường
Đức ở nam Đà Nẵng năm 1974 và bị
tổn thất đến 50%.
Tóm lại, lời biện
minh nói trên của ông Thiệu
chứng tỏ hoặc ông không có ư
niệm chính xác về quân sự hoặc
ông chỉ nói ṿng vo để biện hộ
cho quyết định sai lầm của ḿnh
mà thôi.
2.- Rút khỏi Quân
Khu I
Trong chương 3,
ông Hưng đă kể lại khá tỉ mỉ
những tranh luận giữa Tổng Thống
Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng
về việc giữ hay rút khỏi Quân
Khu I. Ở đây, ông Hưng phải nhớ
rằng mục tiêu cuối cùng của Tổng
Thống Thiệu là rút quân khỏi
Quân Khu II và Quân Khu I để về
lập pḥng tuyến tại Tuy Hoà.
Lệnh giữ ba “đầu cầu” (enclaves)
(Huế, Đà Nẵng, Chu Lai) rồi lại
chỉ giữ một “đầu cầu” (Đà Nẵng)
chỉ là tṛ chơi gian trá của
Tổng Thống Thiệu nhắm gài cho
Tướng Trưởng phải chịu trách
nhiệm khi xẩy ra sự thất bại
trong việc rút quân.
Ở Huế, v́ không
c̣n vận chuyển bằng đường bộ
được, ngày 25.3.1975 Tướng Tưởng
quyết định cho Thủy Quân Lục
Chiến rút ra cửa Thuận An, c̣n
Sư Đoàn 1, Biệt Động Quân và Địa
Phương Quân xuống cửa Tư Hiền.
Tàu Hải Quân sẽ đến đón hai đoàn
quân này. Tuy nhiên, trên đường
tháo chạy, cả hai đoàn quân vừa
bị pháo kích vừa bị địch truy
đuổi, nên tan rả, chỉ khoảng 1/3
về tới Đà Nẵng.
T́nh trạng Đà
Nẵng lại trở nên rối loạn. Tổng
Thống Thiệu không có một quyết
định dứt khoát nào về việc giữ
hay rút khỏi Đà Nẵng mà để cho
Tướng Trưởng tùy nghi quyết
định. Khi t́nh h́nh Đà Nẵng
không c̣n kiểm soát được, Tướng
Tưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng. Ngày
29.3.1975 Đà Nẵng bị thất thủ.
Thật ra, lệnh của
ông Thiệu ra lệnh rút khỏi Quân
Khu II hay Quân Khu I đều
bất
khả thi, và đă đẩy đoàn quân vào
t́nh trạng hoảng loạn (panic).
Khi đoàn quân đă bị đặt vào t́nh
trạng hoảng loạn, không phải chỉ
Tướng Phú hay Tướng Trưởng, bất
cứ người cầm quân nào cũng không
c̣n chỉ huy được.
NƯỚC ĐĂ ĐẾN TRÔN
VẪN CHƯA BIẾT!
Ở Chương 11, ông
Hưng kể lại sau khi từ chức, ông
Thiệu đă cố vấn cho Tổng Thống
Hương và Chủ Tịch Thượng Viện
Lắm hai điểm, thứ nhất là trong
bất cứ hoàn cảnh nào cũng cứ
phải theo hiến pháp VNCH, và
điểm thứ hai là chớ có trao
quyền cho Tướng Minh. Ông Thiệu
nói:
“Ông Minh rất
nguy hiểm nên dù chức Thủ tướng
th́ cũng không nên đề cử, v́ sau
đó ông Minh sẽ vận động lên chức
Tổng Thống rồi thành lập chính
phủ liên hiệp với MTGP.” Bởi vậy
“nên chọn Tướng Đôn làm Thủ
tướng để ‘neutralizer’ (vô hiệu
hoá) Tướng Minh.” (tr. 220 –
221).
Miền Nam sắp mất,
Mỹ kéo ông Thiệu xuống và đưa
Tướng Minh lên để đầu hàng,
nhưng ông Thiệu không hay biết
ǵ hết!
Tôi nhớ lại, hôm
29.3.1975, khi Đà Nẵng vừa thất
thủ, tôi đă liên lạc với một
tham vụ ngoại giao ở Toà Đại Sứ
Mỹ, người thường liên lạc với
tôi để xin tin tức, và hỏi ông
t́nh trạng có c̣n cách nào cứu
văn được không. Ông nói: “Chỉ có
B52 mới ngăn được đoàn quân của
địch, nhưng B52 không c̣n”. Ông
bảo tôi chuẩn bị đi.
Sáng hôm sau tôi
vào Thượng Viện, người đầu tiên
chận tôi lại là Thượng Nghị Sĩ
La Thành Nghệ, một đại thương
gia tại Sài G̣n. Ông kéo tôi vô
pḥng và hỏi: “Anh thấy t́nh
h́nh như thế nào?” Tôi chỉ lặp
lại lời viên tham vụ ngoại giao
nói trên. Ông ta nói ngay:
“Đúng rồi! Tôi thấy các ngân
hàng và công ty Mỹ ở đây đă thu
xếp để đi... Như vậy là Mỹ bỏ
miền Nam rồi!”
Chiều hôm đó cậu
Hoàng Kim Lân, con Thượng Nghị
Sĩ Hoàng Kim Quy, đến năm nỉ tôi
nói với ông già mua cho cậu ta
một giấy thông hành để đi. Tôi
vào nhà ông Hoàng Kim Quy ở góc
đường Hàm Nghi và Công Lư. Tôi
thấy ông đang thu dọn giấy tờ.
Ông bảo tôi ngồi xuống và nói:
“Chúng nó sắp vô rồi, chúng nó
sẽ cướp của ḿnh hết. Nhưng tôi
quá già nên không thể đi
được...”. Ông chỉ cái
hộp biscuit trên bàn và nói:
“Tôi lấy ra đây ít vàng và đem
đi gởi, khi ḿnh bị bắt c̣n có
cái để ăn, không biết người ta
có cướp của ḿnh luôn không!”
Tôi nói chuyện cho Hoàng Kim Lân
đi, lúc đầu ông ta cự nự, nhưng
sau ông cũng đồng ư và nói để
ông lo liệu. Hai ngày sau ông
cho tôi biết đă mua được
Passport cho thằng Lân rồi. Tôi
hỏi ông bao nhiêu, ông nói đưa
cho Tướng Đặng Văn Quang hai
triệu!
Th́ ra đầu tháng
4/1975 các thương gia ở Sài G̣n
đă biết Mỹ sắp bỏ miền Nam,
nhưng đến ngày 21.4.1975, Tổng
Thống Thiệu vẫn chưa biết ǵ
hết, vẫn nói chuyện hoang đường!
NH̀N NHẬN BẢN CHẤT ÔNG THIỆU
Dầu sao, trong
cuốn “Tâm
tư Tổng Thống Thiệu” trong
nhiều đoạn, ông Hưng cũng đă
thừa nhận một số bản chất của
con người Nguyễn Văn Thiệu và
chính những bản chất này đă
khiến ông Thiệu làm mất nước.
Ông Hưng cho
biết, về những quyết định quan
trọng, ông Thiệu hay hỏi ư kiến
những người khác, nhưng rồi suy
nghĩ và làm quyết định một ḿnh.
Khi người cố vấn cho ông lại là
người ông không tin th́ ông lại
làm quyết định ngược lại với lời
cố vấn. Chính ông đă nói:
“Tôi luôn là người quyết định.
Luôn luôn như vậy. Tôi có thể
nghe người khác gợi ư một quyết
định, nhưng rồi làm quyết định
ngược lại.”
(tr. 373).
Ở những đoạn tiếp
theo, ông Hưng viết như sau:
Tướng Viên cũng
nhận xét rằng
“ông Thiệu theo đường lối ‘độc tài dân chủ’, vơ ngoài dân chủ
nhưng bên trong chi phối cả
ngành lập pháp và tư pháp.”
(tr. 376).
TT Thiệu thường
suy gẩm rồi lo lắng, và lo lắng
một ḿnh. Thí dụ như sau Hiệp
Định Paris th́ ông hết sức lo
lắng và
đă nghĩ tới việc thu hẹp lănh
thổ nhưng trăn trở về hậu quả
một quyết định như vậy... nên
ông vẫn giữ kín, không bàn bạc
với ai. Đến lúc nước tới chân
rồi mới chạy, nhưng khi chạy th́
đă trể rồi” (tr. 377).
Ngoại Trưởng
Vương Văn Bắc sau này kể lại
rằng TT Thiệu
“Ít khi nào cho lệnh rơ ràng,
trực tiếp. Ông ta hay gợi ư mơ
hồ, như “anh liệu lấy mà làm.”
Ra khỏi pḥng rồi ḿnh chẳng bao
giờ rơ ông ta có đứng đàng sau
những ǵ đă quyết định hay
không.” (tr. 378).
Chúng tôi có thể
tóm lược lại một số đặc tính của
ông Thiệu như sau: Độc đoán
nhưng thiếu hiểu biết và kinh
nghiệm cả về chính trị lẫn quân
sự, không có tầm nh́n chiến
lược, lại làm việc thiếu khoa
học, v.v.
Những hiện tượng
này đều do người Pháp và người
Mỹ để lại. Các nhà phân tích
ngoại quốc đă nhận xét đúng:
Trong chiến tranh Việt Nam,
người Pháp và người Mỹ đă thay
nhau lănh đạo cả về chính trị
lẫn quân sự, người Việt chỉ “ăn
theo”, nên các nhà lănh đạo miền
Nam không có tầm nh́n chiến
lược.
Ông Thiệu đă lănh đạo quốc gia
mà như chỉ huy một đại đội đi
hành quân!
Những người lănh
đạo Đảng CSVN như Đỗ Muời, Lê
Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức
Mạnh... chắc chắn không có tŕnh
độ văn hoá cao hơn ông Thiệu,
nhưng họ đă cầm quyền được 56
năm v́ họ làm việc theo nguyên
tắc
“tập thể lănh đạo, cá nhân phụ
trách”. Các nước không
cộng sản không theo nguyên tắc
đó, nhưng theo một nguyên tắc mà
người lănh đạo nào cũng phải
biết, đó là
“Lănh đạo không có nghĩa là ḿnh
luôn đúng. Lănh đạo có nghĩa là
lắng nghe các ư kiến và chọn ư
kiến đúng nhất.”
Ông
Thiệu không biết nguyên tắc đó
nên không biết dùng cái khôn của
người khác. Ông đọc mọi báo cáo
của các cấp tŕnh lên, thảo luận
và bàn hỏi với nhiều người,
nhưng không chọn ư kiến đúng
nhất mà quyết định theo những
suy nghĩ chủ quan của ḿnh.
Ông Thiệu lại là
người thiếu tự tin, không tin
vào những kết quả tốt do quyết
định của ḿnh đem lại, nên luôn
t́m cách đổ trách nhiệm cho
người khác khi xẩy ra sự thất
bại.
NHỮNG HỐI TIẾC VỚ VẪN
Về “mật ước” giữa
Tổng Thống Nixon và Tổng Thống
Thiệu, ông Hưng có nhận định:
“Giả như TT Thiệu có được những
cố vấn hiểu biết rơ những diễn
tiến hiến định của Hoa Kỳ
(comstitutional process) là
“Thượng Viện cố vấn và ưng thuận
(advice and consent), và cả hai
viện Quốc Hội mới có quyền về
chiến tranh (war power) th́ có
thể ông đă hành động khác rồi,
không chỉ tin tưởng vào cam kết
của Tổng Thống Hoa Kỳ mà phải
vận động Quốc Hội Mỹ trên căn
bản những cam kết này. Nếu như
Quốc Hội VNCH được biết và khai
thác những văn kiện này với Quốc
Hội Hoa Kỳ th́ không thể nào họ
có thể ngang nhiên cắt hết viện
trợ cho VNCH một cách quá đơn
giản như họ đă làm.” (tr. 378).
Ông Hưng đă ở Mỹ
rất lâu nhưng lại không hiểu
nhiều về cơ cấu chính trường Mỹ.
Ở đất nước này, vận động hậu
trường (lobby) mới là chính. Các
“diễn tiến hiến định” mà ông nói
đến chỉ là phần phụ. Tuy nhiên,
trong vụ Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam,
mọi cuộc vận động hậu trường đều
vô ích, v́ “ván đă đóng thuyền”
và lịch sử đă sang trang.
Tôi nhớ vào đầu
năn 1975, ông Thiệu có nhờ
Thượng Viện VNCH lập một phái
đoàn qua Mỹ vận động Quốc Hội Mỹ
tiếp tục viện trợ cho miền Nam.
Phái đoàn này do Thượng Nghị Sĩ
Nguyễn Văn Thành, Chủ Tịch Ủy
Ban Tài Chánh Thượng Viện cầm
đầu. Khi về, phái đoàn đă đến
tŕnh bày tại một cuộc họp giới
hạn ở Dinh Độc Lập do Tướng Đặng
Văn Quang chủ tọa. Tôi có được
vào ngồi nghe. Phái đoàn tŕnh
bày đại khái rằng
các dân
biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ khuyên ta
nên t́m cách để tự tồn tại và
chờ thời cơ. Trong hiện tại họ
không thể làm ǵ được. Phải đợi
khi t́nh h́nh đổi thay, họ mới
có thể giúp.
Đây là những lời
khuyên rất quan trọng, nhưng ông
Thiệu chẳng quan tâm ǵ. Ông chỉ
muốn biết có thêm viện trợ hay
không mà thôi!
Ông Hưng có nhắc
lại rằng trước khi lên chức Tổng
Thống, ông Nixon đă tuyên bố:
“Cuộc chiến ở
Việt Nam là một sự đương đầu –
chẳng phải là giữa Việt Nam Cộng
Hoà và Việt Cộng hay giữa Hoa Kỳ
và Việt Cộng – mà chính là giữa
Hoa Kỳ và Trung Cộng.”
Ông Hưng đặt câu
hỏi:
“Như vậy những thành công ở miền
Nam cũng chỉ là để phục vụ cho
chiến lược của Hoa Kỳ đối với
Trung Cộng?” (tr. 301)
Câu hỏi của ông
Hưng thật vớ vẫn! Đến hôm nay
ông Hưng mới biết chuyện đó sao?
Từ lâu, ai cũng biết Mỹ yểm trợ
VNCH, yểm trợ Đài Loan và yểm
trợ Nam Hàn để biến những nước
này thành công cụ đối phó với
Trung Cộng. Đây là chuyện hiển
nhiên, không c̣n phải tranh luận.
Vấn đề phải tranh luận là
tại
sao Mỹ không bỏ Đài Loan, không
có Nam Hàn mà bỏ VNCH?
Ở Chương 15, ông
Hưng cho rằng Kissinger
“Cứ đổ cho miền Nam bất lực là
xong chuyện”. Nhưng nếu
ông Hưng đọc kỹ những bản phân
tích về việc Tổng Thống Thiệu
bất thần can thiệp và phá vở kế
hoạch hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ
Lào năm 1971, gây tổn thất lớn
cho quân đội Mỹ cũng như quân
đội VNCH, ông Hưng mới thấy
chính phủ Mỹ đă thất vọng về
cách lănh đạo của Tổng Thống
Thiệu như thế nào. Đây là một kế
hoạch đă được Quân Lực Hoa Kỳ và
QLVNCH phối hợp thành lập rất
công phu, nhưng ông Thiệu đă làm
hỏng.
Sự
thiếu khả năng (incompetence)
của nhà lănh đạo VNCH
mà Kissinger đă đề cập tới phát
xuất từ vụ này.
Việc Tổng Thống
Thiệu điều khiển cuộc chiến sau
Hiệp Định Paris không theo binh
pháp nào làm miền Nam bị sụp đổ
một cách nhanh chóng đă chứng
minh sự thiếu khả năng của ông
Thiệu là thật sự chứ không phải
do Kissinger
“đổ cho”
Khi thấy VNCH
không thể chận đứng được sự bành
trướng của Trung Cộng, Hoa Kỳ
quyết định xoá bàn rồi dùng
CHXHCNVN thay thế VNCH. Đây là
công việc đang được Hoa Kỳ tiến
hành. Chính sách của nước lớn là
như thế. Họ thấy điều ǵ có lợi
cho nước họ là họ làm. Nước nhỏ
“Khôn th́ sống, bống th́ chết”.
Để kết luận,
chúng tôi xin nói với ông Hưng
và những người c̣n mang tâm
trạng như ông Hưng:
Khi đa
số các bí mật lịch sử đă được
bạch hoá, giai đoạn ca tụng và
bênh vực lănh tụ đă hết. Chúng
ta đang đi vào giai đoạn làm
sáng tỏ lịch sử.
Ngày 15.6.2010
Lữ Giang
Kẻ phản bội