|
Quanh Chuyện Cành Đào |
|
Hồ Chí Minh Gởi Vào Nam
|
|
Nguyễn Quang
Duy
Ông Quách Ṭng Đức, Đổng Lư Văn Pḥng Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm xác nhận một Tết Nguyên Đán, một Cành Đào đỏ lộng lẫy được
trưng bày nơi pḥng khánh tiết Dinh Độc lập với tấm thiệp in tặng
của “Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Ḥa Xă Hội Miền Bắc” (Lâm Lễ Trinh, tr.
89). Một số người đă gắn liền “Câu Chuyện Cành Đào” và một vài tin
đồn khác để lư luận ông Diệm và ông Nhu đă: Đi Đêm, Hoà Giải, Ve
Văn, Bắt Tay, Đầu Hàng… hay mắc lừa phe Cộng Sản. Đến đánh mất tín
nhiệm và hậu thuẫn cuả Hoa Kỳ, để dẫn đến Đảo Chánh 1/11/1963. Nhiều
người khác lại cho rằng Miền Nam mất đi một cơ hội Ḥa B́nh, Trung
Lập, không Cộng Sản...
Gần 50 năm qua, không ít người đă tranh luận về đề
tài này. Tháng 3/2003, trên Diễn Đàn Giao Điểm, Nhà Sử Học Vũ Ngự
Chiêu chứng minh việc hai ông Diệm và Nhu ve văn nhằm bắt tay với
Việt Cộng. Th́ chỉ đến tháng 7, cùng trên Diễn Đàn ông Nguyễn Ngọc
Giao lại chứng minh điều trên không đúng sự thật. Cần phải nói là cả
hai lập luận cùng chủ yếu dựa trên Hồi Kư của Mieczyslaw Maneli,
nguyên Trưởng Đoàn Kiểm Soát Đ́nh Chiến Ba Lan.
Sự mâu thuẫn này không phải chỉ xảy ra riêng với các
nhà nghiên cứu gốc Việt. Hầu hết các học giả Tây Phương cũng mắc
chung một hoàn cảnh. Một phần v́ nhăn quan mỗi người mỗi khác,
Maneli chỉ viết lại công việc của ḿnh, không đề cập đến một số việc
chung quanh, sinh ra nhiều câu hỏi để tùy người đọc diễn giải.
Bài viết này
dựa trên một số tài liệu mới từ Đảng Cộng Sản và từ Bộ Ngọai Giao Ba
lan và Liên Sô, cũng như từ phía Việt Nam để làm rơ hơn vấn đề như:
Có thật hai ông Diệm - Nhu muốn thương lượng với Cộng Sản hay không?
Chuyện Cành Đào có thực hay không? Hồ Chí Minh có muốn thương lượng
với Miền Nam hay không?
Thế Giới
Những Năm Đầu 1960.
Khi đă củng cố được quyền hành, Khruschev đề xướng
một chiến lược mới cho toàn khối Cộng Sản. Chiến lược này chủ trương
Sống Chung Ḥa B́nh giữa các nước có chế độ chính trị và xă hội khác
nhau. Theo đó, Liên Sô tập trung vào việc xây dựng kinh tế cho Khối
Cộng Sản, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật mới nhất vào
sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất. Thông
qua tăng trưởng kinh tế, Liên Sô kỳ vọng đủ khả năng để ủng hộ các
nước đang phát triển và ủng hộ các phong trào Cộng Sản trên toàn thế
giới, mở rộng ảnh hưởng của Quốc Tế Cộng Sản.
Phía Trung Cộng không chấp nhận chiến lược trên. Họ
cho rằng Liên Sô sợ chiến tranh với Mỹ, sợ bom nguyên tử cuả Mỹ, đầu
hàng Đế Quốc Mỹ. Theo quan niệm của họ có chiến tranh Cách Mạng Quốc
Tế càng mau thắng lợi, càng sớm tiến đến Thế Giới Đại Đồng.
Phiá Hoa Kỳ, Tổng Thống Kennedy khi ấy vừa đắc cử đă
phải đương đầu với tranh chấp ở Tây Bá Linh (Tây Đức), thất bại
trong cuộc đổ bộ Vịnh Con Heo (Cu Ba), và tính sai trong việc Trung
Lập Hoá Lào. Những thất bại liên tục này đă dẫn đến một Chiến Lược
Chống Cộng thiếu tích cực “Vừa Dọa Vưà Đàm”.
Toà Thánh
Vatican cũng thay đổi chiến lược chấp nhận Sống Chung Ḥa B́nh với
những Người Cộng Sản.
Pháp th́
muốn tạo lại ảnh hưởng ở các quốc gia cựu thuộc địa, vận động cho
giải pháp Trung Lập Hoá Đông Dương. Tranh chấp giữa Liên Sô và Trung
Cộng càng ngày càng căng thẳng. Bắc Việt càng ngày càng nghiêng về
phiá Trung Cộng, chủ trương xử dụng vũ trang để chiếm Miền Nam. Phe
Liên Sô đánh giá một Việt Nam trung lập theo đề nghị của Pháp sẽ có
lợi hơn một Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Cộng (G. K. Magaret tài
liệu số 2 tr. 38).
Ấn Độ khi ấy lại có chiến tranh biên giới với Trung
Cộng. Theo hiệp định đ́nh chiến Genève, Ấn Độ và Ba Lan là hai quốc
gia trong Phái Đoàn Kiểm Soát Đ́nh Chiến tại Việt Nam. Ngoại Trưởng
Ấn M.J. Desai cũng đương kim Chủ Tịch Phái Đoàn.
Theo những
tài liệu mới từ phía Ba Lan, vào tháng 1/1963, Ngoại Trưởng Ba Lan
Adam Rapacki sang thăm Ấn Độ. Ông đă được Thủ Tướng Ấn Jawaharal
Nehru và Ngoại Trưởng Ấn M.J. Desai tiếp đón. Trong cuộc gặp,
Rapacki bàn đến một giải pháp Trung Lập Hoá cả hai Miền Nam Bắc và
tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam. Thủ Tướng Ấn Độ Nehru
cho biết Hoa Kỳ cũng muốn giải quyết những mâu thuẫn ở Việt Nam bằng
giải pháp Trung Lập.
Từ cuộc gặp
trên, Rapacki đă tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ tại Ấn Độ, ông John Kenneth
Galbraith để t́m giải pháp Trung Lập Việt Nam. Trong cuộc họp từ ư
kiến riêng, ông Galbraith đă đề nghị trước tiên hai phía cùng tiến
hành việc ngừng bắn trong ṿng sáu tháng (G. K. Magaret tài liệu số
1 tr. 37). Trong nhật kư công tác ngày 21/1/1963, ông Galbraith xác
nhận việc này. Sau đó đă báo về cho Tổng Thống Kennedy đề nghị của
ḿnh (G. K. Magaret tài liệu số 2 tr. 38).
Như vậy tám tháng trước ngày hai ông Nhu và Maneli
gặp nhau, phiá Hoa Kỳ và Ba Lan đă thảo luận về một giải pháp cho
Việt Nam. Nhưng không biết v́ lư do ǵ đề nghị cuả Đại Sứ Mỹ
Galbraith đă không được tiến hành. Cũng như không hiểu giữa Mỹ và Ba
Lan sau này c̣n có các cuộc gặp gỡ khác hay không?
Maneli Và
Các Cuộc Gặp Gỡ Hai Phía Bắc-Nam.
Cũng theo
những tài liệu mới từ phía Ba Lan, trong trừơng hợp của Maneli, Ba
Lan hoàn toàn không có ư định xen lấn vào nội t́nh Việt Nam. Thượng
cấp Maneli đă chính thức cấm ông ta làm trung gian hay gặp riêng ông
Nhu, ngay cả nếu ông bị áp lực từ phía Bắc Việt. Họ chỉ cho phép ông
ta thực hiện vai tṛ giám sát quốc tế. Phía Ba Lan đă thấy được
Maneli chỉ là một chuyên viên luật, không kinh nghiệm ngọai giao,
thiếu kiến thức và kinh nghiệm chính trị, dễ bị vướng những bẫy ngầm
làm ảnh hưởng đến phía Ba Lan (xem G. K. Magaret).
Tuy vậy, Maneli với bản tính tích cực và phấn đấu,
công việc Giám Sát Quốc Tế th́ lại rất nhàm chán chủ yếu chỉ viết
báo cáo, lại lỡ trớn và ṭ ṃ mới xảy ra câu chuyện gặp gỡ với ông
Nhu. Maneli cho biết các Đại sứ Roger Lalouette (Pháp), D’Orlandi
(Ư), Ram Goburdhun (Ấn độ) và Salvatore D’Asta (Ṭa thánh Vatican)
là những người đă trực tiếp thúc đẩy việc ông gặp gỡ ông Nhu. Gián
tiếp th́ có Đại sứ Anh Hohler.
Do những thúc đẩy từ nhiều phía như đă kể ra, Maneli
đă bay ra Hà Nội để xin ư kiến của phía Liên Sô và đă được Đại sứ
Liên Sô tại Hà Nội đồng ư. Lúc này Ba Lan đang là một chư hầu của
Liên Sô, sự đồng ư của Liên Sô đủ bảo kê cho cuộc gặp gỡ.
Những tài liệu mới phát hiện cũng cho biết Liên Sô
không mấy quan tâm đến việc Maneli muốn làm. Có lẽ cả Ba Lan lẫn
Liên Sô đều đă rơ khi ấy Bắc Việt đă ngă hẳn về phiá Trung Cộng.
Liên Sô chấp nhận cuộc gặp chẳng qua chỉ muốn thu nhặt thêm tin tức
của cả hai phía Bắc và Nam Việt.
Vào tháng
5/1963, ngay khi kế họach liên lạc với ông Nhu được chuyển cho phía
Hà Nội, Maneli đă nhận ngay hồi đáp như sau: “Phạm
văn Đồng xác quyết đề nghị (ngừng bắn và trung lập) của chủ tịch Hồ
chí Minh và tuyên bố của chính phủ (VNDCCH) vẫn c̣n hiệu lực: Chính
phủ nhân dân (VNDCCH) đă sẵn sàng bắt tay thương lượng vào bất cứ
lúc nào, bí mật hay công khai”
(M. Maneli, tr. 121). Sau đó trong lần gặp gỡ Phạm Văn Đồng c̣n khéo
miệng tuyên bố: “Ông
Nhu chắc chắn có khả năng suy nghĩ thực tế, v́ ông đă tốt nghiệp cao
đẳng (lycée) ở Chartres”.
Khi Maneli kể lại chuyện này cho Đại Sứ Pháp ông ta đă phải thốt lên
“quá
thích thú, quá quan trọng”
(M. Maneli, tr. 122).
Ngay sau đó
Maneli đă gặp, và được Xuân Thủy cho biết: “…
đầu tiên là
trao đổi văn hóa và buôn bán (gạo đổi than) trước khi bàn đến chuyện
chính trị”
(G. K. Magaret tài liệu số 16 tr. 59).
Vài ngày sau
Maneli đă nhận được một lời nhắn của Phái Đoàn Ba Lan từ Hà Nội: “Các
đồng chí Vịêt Nam rất mong tất cả chi tiết liên hệ đến việc thu xếp
cho cuộc gặp với Nhu và chi tiết về cuộc gặp gỡ này”
(M. Maneli, tr. 123). Trưởng Đoàn Kiểm Soát Đ́nh Chiến Bắc Việt, Hà
Văn Lâu c̣n gởi cho Maneli một điện tín: “Các
đồng chí lănh đạo đ̣i hỏi thông báo ngay tức th́ những bước tiếp và
mong rằng mọi việc sẽ tiến hành tốt đẹp, trước khi gặp Nhu, đồng chí
cần ghé Hà Nội để thảo luận”
(M. Maneli, tr. 123).
Đầu tháng
7/1963, Maneli trở lại Hà Nội. Lần này, Maneli được gặp Hồ Chí Minh,
Phạm Văn Đồng, Xuân Thuỷ và Ung Văn Khiêm. Trong Hồi Kư, Maneli cho
biết: “Tôi
hỏi Phạm Văn Đồng và Xuân Thuỷ nên làm ǵ nếu Ngô Đ́nh Nhu mời tới
nói chuyện. Họ trả lời ngay lập tức: nhận gặp và lắng nghe. Tôi lại
hỏi họ có muốn tôi nói ǵ (với Nhu). Họ trả lời: ‘Tất cả những ǵ
đồng chí biết về lập trường của chúng tôi trong sự trao đổi và hợp
tác kinh tế và văn hoá (giữa hai miền). Một điều chắc chắc là: Mỹ
phải rút đi. Trên cơ sở chính trị ấy, chúng tôi có thể thương lượng
bất cứ điều ǵ’
”. Maneli hỏi thêm về khả năng một chính phủ liên hiệp ở Miền Nam
hay một h́nh thức Liên Bang Bắc Nam, Phạm Văn Đồng trả lời: “Trên
cơ sở độc lập và chủ quyền của Việt Nam, mọi điều đều có thể thương
lượng. Hiệp định Genève đă đặt ra nền tảng pháp lư và chính trị:
không có căn cứ hay quân đội nước ngoài trên lănh thổ đất nước chúng
tôi. Như thế, chúng tôi có thể đi tới thoả thuận với bất luận người
Việt Nam nào”
(M. Maneli, tr. 127-28).
Khi nhận được dấu hiệu khuyến khích từ Đại Sứ Liên Sô
và biết được sự phấn khởi từ phía Hà Nội, trở vào Sài G̣n, Maneli
báo cho Lalouette và D’Asta biết để thu xếp cuộc gặp với Ngô Đ́nh
Nhu. Trong cuộc tiếp tân chiều ngày 25/8 của Quyền Ngọai Trưởng VNCH
Trương Công Cừu, các ông Lalouette, D’Orlandi, Goburdhun and D’Asta
đă giới thiệu Maneli với ông Nhu. Ông Nhu đă vui vẻ ngỏ lời mời
Maneli thu xếp gặp riêng. Ngay ngày hôm sau văn pḥng của ông Nhu đă
liên lạc và hẹn cuộc gặp vào sáng ngày 2/9/1963.
Trong cuộc
gặp gỡ tại dinh Độc Lập, Maneli cho biết ông Nhu dành cả hai tiếng
đồng hồ nói về chủ nghĩa cần lao nhân vị, chính sách ấp chiến lược,
thành quả cuả Việt Nam Cộng Hoà v.v… Riêng về vấn đề hiệp thương
giữa hai Miền Nam Bắc, Maneli cho biết ông Nhu chỉ có ư như sau: “…Tôi
không chống lại việc đàm phán và hợp tác với miền Bắc, và như ông
biết, nhiều nhà ngoại giao phương Tây đă đề nghị với tôi. Ngay trong
những trận giao tranh tàn ác nhất, người Việt Nam cũng không quên ai
là người Việt, ai là ngoại quốc. Nếu có bắt đầu đối thoại trực tiếp,
th́ có thể tiến tới xích lại gần. Và Uỷ hội quốc tế - cũng như bản
thân ông - sẽ đóng vai tṛ tích cực ở đây…Trong
tương lai gần, tôi không dự liệu điều ǵ dẫn tới nói chuyện trực
tiếp, nhưng sớm muộn có thể sẽ hé ra khả năng…”
(M. Maneli, tr. 146). Như vậy ông Nhu chưa có một ư để đi xa hơn nói
chuyện trực tiếp với lănh đạo Cộng Sản Bắc Việt.
Ngay sau
cuộc họp Maneli đă báo cáo về Ba Lan với một kết luận như sau “Những
tuyên bố thiếu vững chắc của ông Nhu chính là kết qủa của sự bất ổn
và kỳ vọng cây cầu với người Mỹ vẫn chưa bị đốt cháy”
(Magaret K. G. tài liệu số 21, tr. 67).
Phần v́ ṭ
ṃ phần v́ muốn thâu nhặt tin tức, Maneli đă đặt câu hỏi về mối liên
lạc hay đàm phán trực tiếp giữa hai Miền Nam Bắc với ba ông Nhu,
Thủy và Đồng. Xuân Thủy vừa giỡn vừa trả lời: "Có
phải ông thực sự tưởng tượng rằng chúng tôi thương lượng hay đồng ư
với ông Nhu?"
(M.K. Gnoinska, tr. 147). Ông Nhu và ông Đồng th́ cho biết đây chỉ
là những lời đồn đăi: "Ông
Nhu hỏi lại, có phải ông đă chịu thua dư luận? đó chỉ là chuyên đùa"
(M. Maneli, tr. 147) và ông Đồng có cùng chung phản ứng đă hỏi lại "Có
phải đồng chí đă tin vào những câu chuyện như vậy hay không?"
(M. Maneli, tr. 147). Sau 1/11/1963, Phạm Văn Đồng đă giải thích cho
Maneli các nguồn tin từ Tướng Đảo Chánh về các cuộc đàm phán Bắc-Nam
như sau: ”Đó
chỉ là giả dối, phe đảo chánh thông báo tin này chỉ để giải thích lư
do phản lại Diệm”
(G. K. Magaret tài liệu số 21, tr. 67).
Ngay chiều
hôm đó, ông Nhu đă tiếp Đại Sứ Hoa Kỳ Lodge, Đại Sứ Ư D’Orlandi và
Khâm Sứ Ṭa Thánh Vatican D’Asta. Ông Nhu cho biết về cuộc gặp gỡ
với Maneli vào ban sáng. Ông Nhu nói Maneli đă yêu cầu ông chú ư đến
tuyên bố của De Gaulle và Hồ Chí Minh về giải pháp Trung Lập Việt
Nam và tiến hành tổng tuyển cử, rồi hỏi ông Nhu muốn chuyển lời ǵ
cho Phạm Văn Đồng. Ông Nhu trả lời “Chẳng
có ǵ cả”.
Không một dấu hiệu nào cho thấy ông Nhu muốn tiếp tục
quan hệ với Maneli trong vai tṛ “Đi Đêm” với Hà Nội. Cuộc gặp gỡ
tại Dinh Độc Lập cho thấy ông Nhu chỉ muốn chứng minh với Hoa Kỳ
rằng nếu bị Hoa Kỳ bỏ rơi ông ta có khả năng thương lượng trực tiếp
với Bắc Việt. Không như ông tính đây lại chính là bằng chứng duy
nhất để phía Hoa Kỳ lập luận ông Nhu muốn thay đổi chiến lược chống
cộng của Hoa Kỳ.
Ngược lại phía Bắc Việt lại rất mong Maneli đứng ra
làm trung gian. Trước khi xem xét về phía Bắc Việt thật giả ra sao
người viết sẽ phân tích một vài tin đồn khác có liên quan.
Chuyện Đồn
Ngô Đ́nh Nhu Gặp Phạm Hùng.
Ông Cao Xuân
Vỹ
cho biết trong một chuyến đi săn với ông Nhu và Trung Tá Bường (Tỉnh
Trưởng tỉnh B́nh Thuận) tại khu rừng Tánh Linh, tỉnh B́nh Thuận, ông
Nhu đă bí mật tiếp xúc với hai người. Ông Vỹ và Trung Tá Bường cả
hai đều không được tham dự buổi họp. Họ chỉ quan sát từ phiá ngoài,
ông Vỹ chỉ biết ông Nhu ngồi trong lều săn nói chuyện với hai người,
nhưng không biết là ai, v́ lúc đó là ban đêm. Theo ông, có lẽ Trung
Tá Bường biết v́ chịu trách nhiệm an ninh và tổ chức cuộc gặp gỡ (Vĩnh
Phúc, tr. 336).
Ông Quách
Ṭng Đức cho biết: “Chính
ông Nhu có nhắc đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lănh
tại Bộ Quốc pḥng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với
các cán bộ xây dựng Ấp Chiến lược khóa 13”
(Lâm Lễ Trinh tr. 98). Ông Trần Văn Đôn t́m hiểu và biết rơ nhân vật
ông Nhu gặp trong rừng Tánh Linh chính là Phạm Hùng (Trần Văn Đôn
tr. 183).
Thực ra vào năm 1963, Phạm Hùng là Uỷ Viên Bộ Chính
Trị Đảng Lao động Việt Nam, Phó Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hoà. Do đó ông họat động tại Miền Bắc. Trong khi ấy, người lănh
đạo Trung Ương Cục Miền Nam là ông Nguyễn Văn Linh. Năm 1964 Tướng
Cộng Sản Nguyễn Chí Thanh lên thay. Tháng 7 năm 1967, Tướng Thanh
trên đường về Bắc nhận chỉ thị tổng tấn công Mậu Thân bị bom chết
dọc đường. Phía Cộng Sản đưa tin ông Thanh đột ngột qua đời ở Hà Nội
do bị đau tim. Tháng 10 năm 1967, Phạm Hùng mới vào Nam thay thế
Tướng Thanh. Phạm Hùng thuộc phe cánh của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ,
chủ chiến không chấp nhận thương thuyết với Miền Nam. Tin đồn Ngô
Đ́nh Nhu gặp Phạm Hùng đă được cựu Đại Sứ William Colby ghi trong
Hồi Kư của ông. Colby c̣n cẩn thận ghi thêm “Giai
thoại này có thể là chuyện bịa” (xem Nguyễn Ngọc Giao).
Chiếu theo
bản tóm lược về Mục tiêu cuả Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam
của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, tháng 9 năm 1963, nhiệm vụ cuả các
nhân viên Hoa Kỳ là phải: ”…
Ngụy tạo
những tài liệu liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Hà Nội)
làm cho Nhu mất tín nhiệm với các tướng lănh…”
(Phạm Văn Lưu, tr. 246). Ở thời điểm này, ông William Colby đang làm
Vụ Trưởng Vụ Viễn Đông của Cơ Quan T́nh Báo Hoa Kỳ (CIA). Câu chuyện
biết đâu lại do chính Colby bịa rồi cho CIA tung ra trước Ngày Đảo
Chánh.
Sau hơn 35 năm, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngọai vẫn
không chấp nhận mọi liên lạc với nhà cầm quyền Cộng Sản. Người Miền
Nam lúc ấy so ra chỉ chưa đầy 9 năm thoát khỏi Việt Minh. Cá nhân
ông Nhu lại xác nhận có liên lạc với Cộng Sản. Hiểu được như vậy mới
thấy Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ quá sức thâm độc khi đề ra
nhiệm vụ nói trên. Đây chính là ng̣i nổ cho Cuộc Đảo Chính 1/11/1963
và dẫn đến sự hy sinh của anh em ông Diệm.
Trở lại câu chuyện ở rừng Tánh Linh, không thấy ông
Vỹ nhắc đến việc bảo vệ ở phía bên kia, như vậy chỉ có 3 người họp
và 2 người bảo vệ ṿng ngoài. Một cuộc họp như vậy chỉ có thể xảy ra
khi hai bên cùng một phía và phải hết sức tin tưởng nhau. Như vậy có
thể hai người được ông Nhu gặp là Gián Điệp Quốc Gia về trực tiếp
báo cáo t́nh h́nh với ông Nhu.
Chuyện Đồn
Từ Những Người Đi Từ Miền Bắc.
Ông Trần Hùng Văn một nhà báo đi từ Miền Bắc cho biết
ông Nguyễn Tài, nguyên Thứ Trưởng Bộ Công An Bắc Việt, được lệnh vào
Nam để thu xếp cuộc gặp giữa hai ông Ngô Đ́nh Nhu và Phạm Hùng (Vĩnh
Phúc, tr. 339-340). Nguyễn Tài sau khi vào Nam bị quân đội Quốc Gia
bắt. Sau năm 1975 ông lại bị Lê Đức Thọ giam lỏng để điều tra.
Ông Tài có viết Hồi Kư cho biết Lê Đức Thọ đă từng
nói thẳng với ông bị bắt sao không chịu chết đi. Xuyên suốt Hồi Kư
h́nh như Nguyễn Tài vẫn thắc mắc không biết tại sao Lê Đức Thọ lại
đối xử quá nghiệt với ḿnh (một đồng chí trung kiên) như vậy. Câu
trả lời có thể là chính Lê Đức Thọ tung tin Nguyễn Tài làm trung
gian giữa hai ông Nhu và Phạm Hùng. Lê Đức Thọ không ngờ rằng ông
Tài c̣n sống để cho chúng ta biết rằng ông đă được điều động vào Nam
năm 1964. Khi ấy ông Nhu đă về Đất Chúa.
Liên Lạc Để
Kêu Gọi Chiêu Hồi.
Tháng 4/1963, Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ban hành chính
sách Chiêu Hồi. Ông Nhu cũng nhiều lần xác nhận có liên lạc với Việt
Cộng để thuyết phục họ mang quân về hàng (Chính Đạo, tr. 309).
Ông Nguyễn Văn Chức, một Nhân Sỹ tại Canberra, đă kể
cho người viết và rất nhiều đồng hương câu chuyện Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam (MTGPMN) đă có ư định xin hàng. Ông Chức trước đây
ngoài làm cho Đài Gươm Thiêng Ái Quốc, ông c̣n dịch và thẩm định
những tài liệu cuả Cộng Sản. Ông Chức cho biết sau Biến Cố Mậu Thân,
trong một trận phục kích quân đội VNCH đă bắn chết 1 cán bộ, 2 giao
liên và thâu được một tài liệu quan trọng. Theo tài liệu này một số
cán bộ cao cấp cuả MTGPMN đă họp bàn với ư định mang toàn thể MTGPMN
ra hàng. Nhiệm vụ của người cán bộ bị phục kích là mang tài liệu nói
trên đến một số cán bộ cao cấp khác cũng có ư định ra hàng. Cơ quan
t́nh báo Hoa Kỳ cho dịch tài liệu này ra Anh ngữ. Ông Chức được giao
trách nhiệm thẩm định tài liệu. Ông Chức đă kết luận đây là một tài
liệu thực, nhưng không biết Hoa Kỳ có sử dụng tài liệu này hay không?
Xem chủ
trương cuả Hồ Chí Minh về MTGPMN: “Ḿnh
phải đưa Mặt trận Dân tộc Giải Phóng ra. Phải chú ư đến bọn leo nheo,
theo đóm ăn tàn…”
(HCM, BNTS, tập 8, tr. 368). Rồi mới thấy ông Nhu đă nh́n ra tổ chức
này để đề ra chính sách Hồi Chánh. Đến năm 1974, sau 10 năm chính
sách Hồi Chánh được ban hành, đă có trên 200.000 Hồi Chánh Viên.
Nhiều đơn vị Cộng Sản cấp Đại Đội, Tiểu Đoàn đă ra hồi chánh tập thể.
Hồi Chánh là một chính sách nhân đạo và thành công nhất của chính
quyền Quốc Gia, nhưng lại ít hay không được giới sử gia để ư tới.
Sau 1968,
Bắc Việt đă công khai điều động chiến tranh xâm lược Miền Nam. Năm
1975, họ cho quân chính quy trực tiếp vượt Vĩ Tuyến 17, đánh chiếm
Miền Nam, rồi vội vàng giải thể MTGPMN. Nhiều cán bộ MT cao cấp đă
bị bắt, bị quản thúc hay phải trốn tránh ra hải Ngoại. Hà Nội phải
mang cả một guồng máy cầm quyền từ Miền Bắc vào áp đặt lên Miền Nam.
Hy vọng tài liệu về MTGPMN xin hàng sẽ được t́m thấy trong núi hồ sơ
cuả CIA để chúng ta hiểu rơ hơn về tổ chức này.
Hoa Kỳ Quyết
Định Đảo Chánh Ngày 24/8/1963.
Song song
với việc bổ nhiệm Đại Sứ Henry Cabot Lodge, Phe Chủ Chiến Hoa Kỳ M -
W. Averell Harriman, Roger Hilsman, Ball, Getsinger và V. Forrestal,
đă đồng kư một Công Điện mang số 243 chỉ thị cho ông Lodge thực hiện
Cuộc Đảo Chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Đây là loại Công Điện
tối mật cần hành động lập tức (top secret and operation immediate).
Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Mỹ tại Thái B́nh Dương, cũng đă góp ư
kiến vạ việc soạn công điệp này. Công Điện đă được đánh đi khẩn cấp
vào tối Thứ Bảy 24/8/1993. Công Điện ghi rơ: “Chính
phủ Hoa Kỳ không thể để cho Nhu nắm quyền hành trong tay. Chúng ta
sẽ cho Diệm cơ hội để tách rời ra khỏi Nhu và bè đảng của Nhu và
thay vào đó bằng những nhân vật có khả năng trong giới quân nhân và
chính trị có thể t́m được. Tuy nhiên, sau khi dùng mọi nỗ lực mà
Diệm vẫn khước từ và đối kháng, chúng ta sẽ phải đối diện với một
khả thể: chính ông Diệm cũng không thể nào được để tồn tại”
(Nguyễn Kỳ Phong, h́nh Công Điện bià sau sách).
Như vậy việc lật đổ Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă được
quyết định trước ngày Maneli gặp ông Nhu. Tất cả những tin đồn, tin
chính thức, báo cáo chỉ được dựng lên hay thêm bớt nhằm thực hiện
chỉ thị trên.
Tranh Chấp
Giữa Hai Phe Lănh Đạo Cộng Sản Bắc Việt.
Từ những năm đầu 1950, Trung Cộng đă trực tiếp chỉ
đạo chiến tranh, chỉ đạo cuộc chỉnh huấn (một h́nh thức thanh trừng
nội bộ) và cuộc cải cách ruộng đất. Mao Trạch Đông không hề che giấu
ư đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và Đảng Cộng Sản Việt Nam làm công
cụ để bành trướng phong trào Cộng Sản xuống các nước Đông Nam Á. Do
đó không lạ ǵ khi thành phần công khai thân Trung Cộng như Lê Duẩn
(Bí Thư), Lê Đức Thọ (Tổ Chức Đảng), Trần Quốc Hoàn (Công An),
Nguyễn Chí Thanh (Quân Đội)… nắm đa số lănh đạo Miền Bắc. Phe thân
Nga chỉ là thiểu số, họ lại c̣n bị mang tiếng là thiếu tích cực
thống nhất đất nước, không cổ vũ việc “Giải Phóng” Miền Nam.
Về mặt ch́m phe thân Trung Cộng luôn luôn thắng thế,
như Hội nghị lần thứ 15 cuả Trung Ương tháng 1/1959, bí mật ra quyết
định điều động bộ đội Miền Bắc chuyển vũ khí vào Nam, để tiến hành
vơ trang thống nhất đất nước. Hay Nghị Quyết 49/NQ/TVQH, được Quốc
Hội Cộng Sản ban hành ngày 20/6/1961, cho phép bắt giam công dân 3
năm không cần thủ tục tố tụng. Chiếu theo Nghị Quyết này hàng trăm,
cán bộ lănh đạo thân Liên Sô sau này đă bị bắt giam không cần xét xử
và nhiều người đă chết trong tù.
Qua báo Nhân Dân có thể thấy nhiều xung đột xảy ra
công khai giữa hai phe nhóm kể trên. Qua những tài liệu có được,
việc nghiên cứu quá tŕnh xung đột giữa hai nhóm này sẽ giúp chúng
ta hiểu thêm về giai đọan lịch sử này.
Ngày
7/1/1959, trên báo Tin Tức (Liên Sô), Hồ Chí Minh chính thức xác
nhận bản chất đánh thuê của Tập Đoàn Cộng Sản Bắc Việt, (tự ví là
“Bộ Đội Biên Pḥng”): “Như
vậy là ở Đông Nam Châu Á,
chúng
tôi đă đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hoà b́nh toàn thế
giới chống lại chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh”
(HCMTT, tập 8, tr. 258).
Tháng 11/1960, Hồ Chí Minh tham dự “Đại Hội Mạc Tư
Khoa”, đồng ư kư vào Tuyên Bố Chung, đồng thuận với chiến lược thi
đua hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội
khác nhau do Liên Sô đề xướng.
Ngày
2/10/1961, dự phiên họp Bộ Chính Trị, Hồ Chí Minh giải thích lư do
theo Liên Sô như sau: ”…
Miền Nam đối
với Mỹ rất quan trọng. Trước nó nói “Bắc tiến”, nay nó nói “Nam trị”,
nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu Bắc Tiến. Nó sợ ḿnh đánh nó. Địch quân
sự mạnh nhưng chính trị yếu. Ta, chính trị mạnh nhưng quân sự yếu.
Nếu lấy sức độ sức để tiêu hao th́ không lợi. Ta không lấy đấm chọi
đấm mà lấy mưu mẹo diệt nó, trừ bọn ác đi bảo vệ cơ sở, phong trào
dân sẽ lên…”
(HCM, BNTS, tập 8, tr. 150). Chủ trương này được các phe nhóm trong
Đảng Lao Động chấp nhận cho đến khoảng đầu năm 1963.
Ngày
1/1/1962, trên báo Nhân Dân có đăng “Lời chúc Tết đồng bào cả nước”,
trong đó Hồ Chí Minh nhận xét
“… lực lượng
xă hội chủ nghĩa hơn hẳn lực lượng đế quốc, lực lượng hoà b́nh hơn
hẳn lực lượng chiến tranh.”
Và công khai đề nghị: ”Chúng ta luôn
luôn chủ trương rằng: Thống nhất Việt Nam là sự kiện thiêng liêng
cuả toàn dân Việt Nam. Đại diện của hai miền có thể gặp nhau, cùng
nhau bàn bạc, t́m con đường tốt nhất để hoà b́nh thống nhất Tổ quốc,
trên cơ sở độc lập, dân chủ như Hiệp định Giơ-ne-vơ đă quy định”
(HCMTT, tập 9, tr. 272).
Ngày
28/3/1962, để trả lời Phóng Viên báo “Tin Nhanh Hàng Ngày” ở Luân
Đôn (bài này đă được đăng trên báo Nhân Dân), Hồ Chí Minh khống
thiết kêu gọi: “Chính
phủ nước VNDCCH đă nhiều lần đề nghị với chính quyền miền Nam, hai
bên phái đại diện gặp nhau để bàn bạc cách giải quyết theo phương
pháp ḥa b́nh, và vưà rồi, trong bản Tuyên Bố ngày 18-2-1962, chính
phủ nước VNDCCH lại một lần nữa yêu cầu hai chủ tịch và các nước
tham gia Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương nghiên cứu gấp
những biện pháp có hiệu qủa để chấm dứt cuộc vũ trang xâm lược của
đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, nhằm bảo vệ ḥa b́nh cuả Đông
Dương và Đông Nam Á. Việc miền Nam theo chế độ trung lập hay một chế
độ nào khác là do nhân dân miền Nam quyết định…
Chính phủ nước VNDCCH đă từng đề nghị
(Công hàm ngày 22-12-1958) với chính quyền miền Nam b́nh thường hoá
quan hệ giữa hai miền về mặt kinh tế và văn hóa, về việc đi lại và
thư tín giữa hai miền, v.v…”
(HCMTT, tập 9, tr. 319-320).
Ngày
22/7/1962, trả lời Phóng Viên báo Tin Tức và Sự Thật Thanh Niên (Liên
Sô) về đường lối và biện pháp Hồ tuyên bố: “Chúng
tôi luôn luôn chủ trương thống nhất tổ quốc bằng đường lối ḥa b́nh,
luôn luôn đ̣i phải thực hiện đúng đắn Hiệp định Giơ-ne-vờ, đ̣i đế
quốc Mỹ phải chấm dứt can thiệp vào chuyện nội bộ Việt Nam”
(HCM, BNTS, tập 8, tr. 267).
Ngày
6/11/1962, kỷ niệm 45 năm Cách Mạng Tháng 10 Liên Sô, Hồ đă gởi điện
tới Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Sô trong đă nhấn mạnh: “Từ
ngày thành lập Liên Sô luôn luôn thực hiện chính sách ngoại giao ḥa
b́nh và kiên tŕ đấu tranh cho chính sách chung sống ḥa b́nh giữa
các nước có chế độ chính trị khác nhau”
(HCM, BNTS, tập 8, tr. 317).
Ngày 22/1/1963, Chủ Tịch Novotny của Tiệp Khắc
thăm Hà Nội. Ngày 26/1, Hồ Chí Minh và Novotny đă kư một Tuyên Bố
Chung phản ảnh quan điểm của Liên Sô và ca ngợi chung Sống
Hòa Bình là “Chính Sách Đúng Đắn Nhất”. Ngay sau khi Novotny
về nước, xung đột giữa hai phe trong Đảng Lao Động căng thẳng
hơn.
Ngày
17/2/1963, trong một cuộc họp Bộ Chính Trị, Hồ Chí Minh đă phải yêu
cầu “Đoàn Kết Nhất Trí Trong Đảng” trước t́nh h́nh hiện nay. Về vấn
đề Trung Lập, Hồ đă phải giải thích như sau: “Mỹ
bối rối, ḿnh đề xướng trung lập. Đó là thắng lợi của ḿnh. Nói hai
bên đ́nh chiến, ḿnh không đánh, đ́nh chiến ǵ?”
(HCM, BNTS, tập 8, tr. 367).
Kết quả, Ngoại Trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách
nhiệm v́ đă soạn thảo Tuyên Bố Chung và bị thay bằng Xuân Thủy.
Nguyễn Văn Trấn cho biết Hồ Chí Minh đă đọc và sửa lại bản nháp của
Bản Tuyên Bố nhưng làm ngơ, tránh trách nhiệm (NVT, tr. 328). Đây là
lần đầu Hồ Chí Minh bán phe thân Liên Sô để nhập vào hàng ngũ thân
Trung Cộng.
Nhờ đó mới dẫn đến thắng thế đầu tiên của Phe Chủ
Chiến chuẩn bị cho chuyến thăm Hà Nội vào tháng 5/1963 của
Chủ Tịch Trung Cộng, Lưu Thiếu Kỳ. Chuyến thăm này đưa Bắc Việt
đứng hẳn về phía Trung Cộng, Hồ và Lưu Thiếu Kỳ kư một Tuyên Bố
Chung gọi “Chủ Nghĩa Xét Lại” và “Cơ Hội Hữu Khuynh” là đe
dọa chính cho phong trào Cộng Sản Quốc Tế. Trong ṿng chưa
đầy 4 tháng, hai Tuyên Bố Chung phản ảnh hai quan điểm trái ngược,
Hồ đă chuyển hẳn từ nhóm thân Nga sang nhóm thân Tàu.
Cần nhắc lại
vào tháng 7, Maneli gặp Phạm Văn Đồng và Xuân Thủy có cả sự hiện
diện của Hồ Chí Minh. Theo Hồi Kư của Maneli, Hồ chỉ lắng nghe hai
phía và không có ư kiến ǵ. Trong khi Maneli gặp ông Nhu th́ Hồ Chí
Minh đang nghỉ mát tại Quảng Đông, Trung Quốc. Hồ họp riêng với Thủ
Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và đă tuyên bố như sau: “Đừng
nói là phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50
năm cũng phải đánh, đánh cho đến khi thắng lợi hoàn toàn!”
(HCM, BNTS, tập 8, tr. 457). Câu tuyên bố trên chỉ nhái lại khẩu
hiệu: “Đánh
đế quốc, đánh, đánh, đánh, đánh cho đến thắng lợi”
do Mao Trạch Đông đề ra, nhằm biểu lộ chủ trương hiếu chiến và ḷng
trung thành cuả Hồ với Mao.
Cùng lúc ấy, một bài báo của Lê Đức Thọ,
Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương, được in trên báo Nhân Dân. Trong
bài, nói một số đảng viên bị ảnh hưởng của “Chủ Nghĩa Xét
Lại” và vì thế nghi ngờ chiến lược thống nhất đất nước
của Đảng. Bài báo là một bước trong sự chuẩn bị cho Hội
Nghị Trung Ương Lần Thứ 9 tiến hành vào tháng 11 cùng năm.
Ngày
20/10/1963, Hồ Chí Minh tiếp Đoàn Đại Biểu Viện Kiểm Soát Tối Cao
Liên Sô do ông R.A. Rutencô làm Trưởng Đoàn. Hồ tuyên bố: “Để
hoà b́nh giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam hiện nay, chỉ có một
cách là: Đế quốc Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, vấn đề miền Nam
Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự giải quyết lấy, như hiệp định
Giơnevơ đă quy định”
(HCM, BNTS, tr. 471). Tuyên bố này được đăng báo Nhân Dân
24/10/1993, như vậy Hồ đă chính thức từ bỏ chủ trương Sống Chung Ḥa
B́nh cuả Liên Sô.
Tại Hội Nghị Trung Ương Lần Thứ 9, Lê Duẩn và
Lê Đức Thọ đã phê phán chủ trương Sống Chung Hòa Bình và
Hội Nghị kết thúc với Nghị Quyết đẩy mạnh công cuộc đấu
tranh bằng vũ lực ở Miền Nam.
Bùi Công
Trừng đă kể lại cho Nguyễn Văn Trấn như sau:
“
Cái thằng Lê
Đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi, lại lại trong pḥng, như thể đội
trưởng một tổ pháo đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị…
Tao đếm lăo Hồ, đưa tay mấy lần, lần
nào thằng Thọ cũng kịp ngăn: ‘Bác hăy để cho anh em nói mà’...”
(NVT, tr. 328). Phe thân Liên Sô chưa biết họ đă bị Hồ Chí Minh bán
sống nên Lê Đức Thọ mới dám lộng quyền như trên.
Sau Hội Nghị Trung Ương Lần Thứ 9, nhóm Lê Duẩn
tăng cường phê phán “Chủ Nghĩa Xét Lại Hiện Đại” (ám chỉ
chủ trương thi đua hòa bình giữa các nước có chế độ xã
hội khác nhau, mà Liên Sô, Khrushchev, cổ vũ). Trong loạt bài
“Tăng cường mặt trận tư tưởng để củng cố Đảng” của Lê Đức
Thọ, được đăng trên báo Nhân Dân, đă thừa nhận một thiểu số
trong Đảng không đi theo đường lối đã ra. Mặc dù bài báo
không nêu tên cụ thể, nhưng theo các quan sát viên, sự ám chỉ
nhắm đến những người như Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Lê
Liêm, Ung Văn Khiêm… những người đã phát biểu phản đối nhóm
của ông Lê Duẩn - Lê Đức Thọ trong Hội Nghị 9. Lê Đức Thọ
cũng loan báo các đảng viên sẽ phải dự các lớp học tập và
chỉnh huấn để thấm nhuần Nghị Quyết của Hội Nghị Trung
Ương 9.
Tại Hội
Trường Ba Đ́nh, tháng 1/1964, trước các cán bộ cao và trung cấp học
tập Nghị Quyết 9, Trường Chinh tuyên bố: “Đường
lối đối nội và đối ngoại của Đảng ta và Nhà nước ta là thống nhất về
cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của Đảng Cộng Sản và nhà
nước Trung Quốc”
(Nguyễn Minh Cần, tr. 129).
Chiến lược
kinh tế của Liên Sô cũng hoàn toàn thất bại ở Miền Bắc Việt Nam. Qua
tuyên truyền trên báo chí, Miền Bắc luôn luôn đạt kế hoạch Đảng giao.
Qua biên bản Hội Nghị Bộ Chính Trị và qua lời Hồ Chí Minh thực tế
khác xa: “Từ
ngày ḥa b́nh lập lại năm nào cũng thấy có thuận lợi, có khó khăn và
năm nào cũng không đạt kế hoạch. T́nh h́nh mỗi ngày một căng thẳng.
Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể phải giảm bớt một phần xây
dựng để giải quyết vấn đề ăn và mặc cho quần chúng được tốt hơn nữa,
đừng để cho t́nh h́nh đời sống căng thẳng quá”
(HCMBNTS, tập 8, tr. 272). Sau 1975, sự nghèo đói cả tinh thần lẫn
vật chất được giải thích là để Miền Bắc tập trung giải phóng Miền
Nam. Chẳng qua chiến tranh chỉ là cái cớ để Đảng Cộng Sản che dấu
thất bại về xây dựng kinh tế.
Trở Lại
Chuyện Cành Đào.
Ông Cao Xuân Vỹ cũng nhớ là vào Tết Nguyên Đán năm
1963, Hồ Chí Minh đă nhờ Đại Sứ Ấn Độ trong Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế
Đ́nh Chiến chuyển Tết ông Diệm một Cành Đào. Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm chỉ biết khi món quà xuân đă về đến Dinh Độc Lập. Ông Diệm cho
lệnh mở ra thấy có Cành Đào, một Tấm Thiệp Chúc Tết đề đại khái “Chủ
Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà kính tặng, Chúc Tết Tổng Thống
Việt Nam Cộng Hoà” và một lá thơ ông Hồ gởi cho ông Diệm (Vĩnh Phúc,
tr. 336).
Trên báo Con
Ong Tỵ Nạn tại Paris, vào năm 1981, có phổ biến “Bức chúc thư của Hồ
Chí Minh” trong đó có đoạn: “Đầu
năm 1963, hồi đó tôi c̣n chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt chẽ quá,
tôi có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đ́nh Chiến chuyển
vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đ́nh Diệm, kèm
theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân t́nh yêu cầu cụ Ngô cùng
tôi thảo luận trong t́nh anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng
hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo
đường lối riêng của từng người. Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết
trong Nam”.
Rất nhiều người tin đây là Chúc Thư thật với thủ bút cuả Hồ Chí Minh.
Bài viết này không đánh giá bức Chúc Thư là thật hay giả. Nhân vật
Hồ Chí Minh đă tự viết sách tự ca ngợi là Cha Già Dân Tộc th́ c̣n
việc ǵ không dám làm. Nếu là thật, Hồ Chí Minh nên dành nỗi thương
tiếc “cụ Ngô” cho hằng trăm “đồng chí” tin Hồ và thân Liên Sô đă bị
Hồ bỏ rơi chết trong tù hay trong đọa đày lao khổ.
Kết.
Qua bài có thể thấy câu chuyện hai ông Diệm và Nhu
muốn thương lượng với Miền Bắc chỉ là một Thế Cờ (Dọa Mỹ) tính sai
nước. Người Mỹ đă Phản Phé Nước cờ một cách tàn nhẫn lấy lư do trên.
Ngược lại,
trong Cuộc Hội Thảo do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức vào cuối tháng
9/2010 vừa qua, cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger lần đầu tiên
thú nhận “...
Hoa Kỳ thất
bại ở Việt Nam là do chính người Mỹ làm ra...
Nước
Mỹ
muốn thỏa hiệp, Hà Nội muốn chiến thắng”.
Người Mỹ đổ quân vào Việt Nam sau khi ông Diệm đă chết cũng chỉ muốn
Thỏa Hiệp trong thế mạnh nào ngờ đă Sa Lầy tại Việt Nam.
Trong khi đó, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản công khai
chấp nhận làm “Tiền Đồn” Đánh Thuê cho phe Cộng Sản và xung đột để
chọn giữa hai Ông Chủ Liên Sô và Trung Cộng. Cả hai phe đều chủ
trương Thống Nhất Việt Nam. Phe Liên Sô, muốn dùng giải pháp chính
trị thương lượng với Miền Nam. Nếu bắt tay được với Miền Nam là một
thắng lợi lớn của phe này. Phe Trung Quốc th́ chủ trương đánh để
giải phóng Miền Nam và thực hiện chiến lược bành trướng phong trào
Cộng Sản xuống các nước Đông Nam Á.
Cuối bài xin dùng một h́nh ảnh dễ nhớ làm kết luận. Ở
Miền Nam, anh em ông Ngô Đ́nh Diệm bị người Mỹ trói tay chỉ biết la
làng. Từ Miền Bắc, Hồ Chí Minh một tay đưa tặng Cành Đào, tay khác
dấu đằng sau con dao nhọn. Lê Duẩn và Lê Đức Thọ th́ đằng đằng sát
khí “Cầm Gươm Ôm Súng Xông Tới” vượt sang Miền Nam. Ông Chủ Liên Sô,
Khruschev, buồn rầu không biết sao giúp đàn em. Ông Chủ Trung Cộng,
Mao trạch Đông cười toe toét miệng la lớn “Hẩu Hẩu” khen thưởng đàn
em. H́nh ảnh trên cũng bộc lộ Toàn Bộ Cuộc Chiến Bắc-Nam 1954-1975.
Nguyễn Quang
Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi 30/10/2010
Cước-Chú: Tài Liệu Tham Khảo và Trích Dẫn.
Chánh
Đạo, 2004, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, Văn Hoá, Houston, Hoa Kỳ.
Hồ Chí
Minh Biên Niên Tiểu Sử, 1996, Tập 8, Đặng Xuân Kỳ chủ biên, Nhà Xuất
Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.
Hồ Chí
Minh Toàn Tập, 1989, Tập 8 và Tập 9, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội.
Gnoinska K. Magaret, 2005, Poland and Vietnam, 1963: New Evidence on
Secret Communist Diplomacy and the “Maneli Affair”, Working Paper No
45, Cold War International History Project, Woodrow Wilson
International Center for Scholar.
Lâm Lễ
Trinh, 2006, Về Nguồn Sinh Lộ Cho Quê Hương, Thủy Hoa Trang,
California, Hoa Kỳ.
Mieczyslaw Maneli, War of the Vanquished, translated from the Polish
by Maria de Gorgey, Harper & Row, New York, 1971.
Nguyễn
Ngọc Giao, 1963: T́m hiểu cuộc “Đi Đêm” giữa Sài G̣n và Hà Nội, Diễn
Đàn số 131 tháng 7/2003.
Nguyễn
minh Cần, 2001, Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong
Phong Trào Quốc Tế Cộng Sản, Tuổi Xanh xuất bản.
Nguyễn
Tài, Khúc khuỷu đường đời - Mười một năm liên tục đấu tranh để sự
thật và lẽ phải được thừa nhận, talawas
Nguyễn
Kỳ Phong, 2006, Vũng Lầy Bạch Ốc: Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam
1945-1975, Tủ Sách Tiếng Quê Hương, Virginia, Hoa Kỳ.
Nguyễn
văn Trấn, 1995, Viết Cho Mẹ Việt Nam, Văn Nghệ, Hoa Kỳ.
Phạm
Văn Lưu, 1994, Biến Cố Chính Trị Việt Nam Hiện Đại: Ngô Đ́nh Diệm và
Bang Giao Việt Mỹ 1945-1963, Centre for Vietnamse Studies.
Vĩnh
Phúc, 1998, Những Huyền Thoaị và Sự Thật về Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm,
Văn nghệ, California, Hoa Kỳ.
Vũ Ngự
Chiêu, Tướng Dương Văn Minh và Đệ Nhất Cộng Hoà, Diễn Đàn số 127
tháng 3/2003. |