Sự Thiên vị Thiên Chúa giáo về Phương diện Pháp lư
Văn kiện pháp lư cơ bản trong một quốc gia là Hiến pháp. Hiến pháp qui định các quyền và nghĩa vụ của công dân, cũng như tổ chức bộ máy chính quyền trong nước, hiến pháp phải được tôn trọng triệt để. Luật pháp nào vi phạm vào hiến pháp sẽ bị coi là vi hiến và không có giá trị trên phương diện pháp lư.
Lần lượt trong đoạn này, sẽ xét hai vấn đề:
- Hiến pháp 1956 của nền Đệ nhất Cộng ḥa có thiên vị Thiên Chúa giáo không?
- Luật pháp thông thường của nền Đệ nhất Cộng ḥa có ưu đăi Thiên Chúa giáo không?
A – Hiến Pháp 1956 và sự thiên vị
Hiến pháp 1956 do Quốc hội biểu quyết ngày 20/10/1956 được Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành ngày 26/10/1956, thành lập nền Đệ nhất Cộng ḥa. Hiến pháp 26/10/1956 gồm 98 điều, chia làm 8 thiên. Thiên thứ hai qui định về “Quyền lợi và nhiệm vụ của người dân” theo tinh thần bản tuyên ngôn nhân quyền quốc tế của tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Điều 17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đă được giáo sư Bửu Hội chiếu dẫn trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để chứng minh rằng tại Việt Nam … không có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như sau: “Mọi người dân đều có tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo và tự do truyền giáo, miễn là xử dụng quyền ấy không trái với luân lư và thuần phong mỹ tục.” Hiến pháp 26/10/1956 như vậy đă minh thị công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng và b́nh đẵng giữa các tôn giáo.
Tuy nhiên trong phần “Mở đầu” của Hiến pháp, đă có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên Chúa giáo khá rơ rệt như sau:
“Ư thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn con người toàn diện....”
Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956 đă đề cập đến “sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa” [chứ không phải trước dân tộc], tức là trước Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các tôn giáo khác.
Đoạn văn này đă đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo. Vô t́nh hay cố ư, đoạn văn này đă tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đăi đặc biệt tại Việt Nam v́ Hiến pháp 1956 nói rơ là nhằm mục dích hoàn thành sứ mạng trước Chúa tức là Đấng Tạo hóa đă tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo như Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đă chép.
Sự thiên vị này cũng không có ǵ lạ v́ chính em Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Nhu, giữ chức “cố vấn chính trị” bên cạnh tổng thống cũng như là một dân biểu đắc cử tại quận Vạn Ninh, Ninh Ḥa (tỉnh Khánh Ḥa) với tư cách ứng cử viên của đảng Cần Lao.
Vợ Ngô Đ́nh Nhu là Trần Lệ Xuân cũng trúng cử dân biểu tại đơn vị 1 (các quận Gio Linh, Trung Lương , Cam Lộ và Hương Hóa - tỉnh Quăng Trị). Ngoài ra hầu hết các dân biểu khác đều là bộ hạ của gia đ́nh họ Ngô.
Do đó lời mở đầu của Hiến pháp năm 1956 đă phản ảnh một sự thiên vị đối với Thiên Chúa giáo là điều không có ǵ lạ, nhất là sự thiên vị này chỉ được đề cập đến trên một b́nh diện lư thuyết, không có những hậu quả như Dụ số 10, biệt đăi Thiên Chúa giáo về phương diện thực tế.
B. - Dụ số 10 và sự ưu đăi
Trong nền luật pháp thông thường của nền Đệ nhất Cộng ḥa, Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 là bản văn pháp luật đă bị dư luận chỉ trích rất nhiều, v́ đă minh thị dành cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đăi và đồng hóa các tôn giáo khác, trong đó có Phật giáo, vào các hiệp hội mà sự thành lập cũng như các sinh hoạt khác phải tuân theo một sự quy định chặt chẽ. Sự hủy bỏ Dụ số 10 này là một trong năm đ̣i hỏi của Phật giáo sau vụ triệt hạ cờ Phật giáo tại Huế.
Dụ số 10 này đă được Bảo Đại ban hành từ ngày 6/8/1950 để quy định thể lệ lập hiệp hội (Association). Tại sao sự quy định này đă được áp cho tất cả các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng? Tại sao Ngô Đ́nh Diệm không sửa đổi sự quy định ấy?
Các nét chính của của Dụ số 10:
Như vậy chính Bộ trưởng bộ Nội vụ cũng xác nhận rằng trước năm 1963, trong thực tế, Dụ số 10 không áp dụng cho các chùa chiền và Phật giáo. Danh sách hội viên không được kê khai đầy đủ và bộ Nội Vụ cũng bỏ ngơ không bắt buộc phải gửi các danh sách đến chính quyền.
Sự thực như đă nêu rơ trên đây, đem áp dụng Dụ số 10 cho Phật giáo là một việc làm trái với mục đích và sự quy định của nhà làm luật 1950. Hơn nữa nếu quả Dụ số 10 có một phạm vi áp dụng dẫn đến sự đối đăi các tôn giáo một cách bất b́nh đẵng, th́ Dụ số 10 vi hiến, trái với điều 17 của Hiến pháp 1956 dự liệu sự tự do tín ngưỡng mà chúng ta đă phân tách.
Thiếu tướng Trần Tử Oai, đại diện của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, thuyết tŕnh về vấn đề Phật giáo trước phái đoàn Liên Hiệp Quốc, cũng đă đề cập đến Dụ số 10 và một quan điểm tương tự như Bộ trưởng Bộ Nội vụ: ....“Trong thực tế, chính phủ không áp dụng triệt để Dụ số 10.”:Sự thực, việc áp dụng Dụ số 10 cho Phật giáo, dù là một sự áp dụng lỏng lẻo, cũng là một sai lầm v́ Phật giáo cũng là một tôn giáo, không phải là một hiệp hội. Sở dĩ Dụ số 10 được đem thi hành cho Phật giáo chỉ v́ chính phủ muốn kiểm soát Phật giáo.
Không những trên phương diện hiến pháp và pháp luật, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đă ưu đăi Thiên Chúa giáo, thái độ này c̣n được phản ảnh trong nhiều hành động khác.
Vũ Văn Mẫu
[Trích từ “Sáu tháng Pháp nạn”]