From:
Thuan Do
<dothuan@sbcglobal.net>
Date: 2009/11/2
Subject: [DDCL] Fw: Bai moi: Ly do dao chanh 1/11/63 [1
Attachment]
To:
ThanHuu@yahoogroups.comTham vong
lam Hong Y Giao Chu cua Tong Giam Muc Ngo Dinh Thuc da gop
phan lam xup do nen De Nhat Cong Hoa .
Thuan
LƯ DO CUỘC ĐẢO
CHÁNH
NGÀY 1-11-1963
Trần Gia Phụng
Cuộc đảo
chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ngày 1-11-1963 có thể
bắt nguồn từ các lư do chính sau đây: tập trung quyền lực,
vấn đề tôn giáo và sự can thiệp của Hoa Kỳ.
1.- TẬP
TRUNG QUYỀN LỰC
Sau khi
cầm quyền ngày 7-7-1954, chính phủ của thủ tướng Diệm ổn
định t́nh h́nh, đánh các đảng phái chính trị ở miền Trung,
dẹp vụ B́nh Xuyên, loại lực lượng vơ trang các giáo phái ở
miền Nam, tổ chức Trưng cầu dân ư ngày 23-10-1955, truất phế
Bảo Đại, tự tuyên bố thành lập nền Cộng Ḥa và tự tuyên bố
trở thành tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa.(1)
Tuy nền
Cộng ḥa được phân nhiệm rơ ràng, chính phủ trung ương gồm
nhiều bộ trưởng điều hành việc nước, đồng thời tản quyền cho
các ṭa đại biểu tại các vùng (Trung nguyên Trung phần, Cao
nguyên Trung phần, Miền Đông Nam phần, Miền Tây Nam phần),
nhưng ngoài tổng thống Diệm, quyền hành nằm trong tay một số
người là các ông bà Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, và một số ít
người thân tín. Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục không chính
thức giữ một chức vụ hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh
hưởng rất lớn đến tổng thống Diệm, đến các bộ trưởng trong
chính phủ và các viên chức địa phương. Lúc đó, dư luận cho
rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài và gia đ́nh trị.
V́ vậy,
chính phủ Diệm càng ngày càng bị phản đối, nổi bật nhất là
các vụ: 1) Ngày 26-4-1960, 18 chính khách tên tuổi trong Uỷ
Ban Tiến Bộ Và Tự Do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài G̣n,
ra kháng thư công khai phản đối chế độ Ngô Đ́nh Diệm độc tài.
2) Ngày 11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông
đảo chánh hụt. 3) Ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn
Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập.
Về phía
chính phủ, tổng thống Diệm càng ngày càng tập trung quyền
lực, chỉ tin dùng những người trong gia đ́nh và trong đảng
Cần Lao, không mở rộng thành phần chính phủ. Chính phủ càng
ngày càng trở nên cứng rắn với những thành phần không đồng
chính kiến. Ngày 5-7-1963, Ṭa án Quân sự đặc biệt nhóm họp
tại Sài G̣n, bắt đầu xét xử 19 quân nhân và 34 nhân sĩ liên
can đến cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960. Kết quả, ngày
11-7-1963, ṭa tuyên 20 án cấm cố và 14 trường hợp tha bổng.
Hôm sau, ngày 12-7-1963 ṭa xử các quân nhân và nhân sĩ vắng
mặt. Trong số những người được tha bổng, có nhà văn Nhất
Linh Nguyễn Tường Tam.
Tuy không
bị bắt giam và chỉ bị gọi ra ṭa xét xử, Nguyễn Tường Tam
uống thuốc độc tự tử ngày 7-7-1963. Trước khi quyên sinh,
Nhất Linh đă để lại những ḍng tuyệt mệnh như sau: “Đời
tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và
xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng
sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và
tự hủy ḿnh cũng như Ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để
cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”(1)
Vụ tự tử
của Nguyễn Tường Tam và vụ tự thiêu của thượng tọa Thích
Quảng Đức ngày 11-6-1963 (tŕnh bày phía dưới), mở đầu một
loạt tự thiêu của các tăng ni khác, là những phản kháng công
khai mạnh mẽ nhất đối với chế độ của tổng thống Diệm.
2.- DỤ
SỐ 10 VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
Chính sách
tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ
Trần Văn Hữu ban hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng
Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5
chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ
Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội
đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn
định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các
hội Hoa kiều.(2) Dụ
nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ
trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà
thôi.
Dụ nầy rơ
ràng không công bằng giữa các tôn giáo. Ngoài đạo Thờ cúng
ông bà, người Việt theo các đạo chính: Phật giáo, Nho giáo,
Lăo giáo, Ky-Tô giáo, Cao Đài giáo và Phật giáo Ḥa Hảo (PGHH).
Trong các đạo trên đây, tổng số tín đồ Phật giáo, Nho giáo,
Lăo giáo, Cao Đài giáo và PGHH chiếm tỷ lệ rất lớn trên tổng
dân số Việt Nam, có thể lên đến trên 80% dân số, th́ bị xếp
như các hiệp hội, trong khi Ky-Tô giáo với số lượng tín đồ
ít, th́ được hứa hẹn một quy chế đặc biệt. Dầu vậy, do sự
uyển chuyển của các nhà cầm quyền thời quốc trưởng Bảo Đại,
dụ nầy không được thi hành, nên chưa xảy ra cuộc chống đối
mạnh mẽ nào.
Cần chú ư
là sau dụ số 10 ngày 6-8-1950 cho đến đầu thập niên 60, t́nh
h́nh tôn giáo Việt Nam thay đổi rất nhiều, nhưng dụ số 10
ngày 6-8-1950 vẫn không được điều chỉnh. Càng ngày hệ thống
tổ chức tín đồ các đạo Phật giáo, Cao Đài giáo và PGHH càng
có quy củ. Riêng Phật giáo, ngày 6-5-1951, các hội Phật học
trên toàn cơi Việt Nam họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập
Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, thông qua bản điều lệ, nội quy,
bầu ban quản trị và suy cử ḥa thượng Thích Tịnh Khiết làm
tổng hội chủ.
Trong thời
gian đầu của chế độ VNCH, dụ nầy hầu như không được áp dụng.
Ngày 6-5-1963, hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lư văn pḥng
Phủ tổng thống gởi công điện yêu cầu các địa phương không
được treo cờ ngoài khuôn viên của chùa,(3)
theo đúng tinh thần dụ số 10 ngày 6-8-1950. Công điện nầy
chẳng những làm cho giới Phật tử bất b́nh, mà c̣n làm cho
dân chúng nói chung, dù không phải là tín đồ Phật giáo, cũng
không bằng ḷng, v́ trước đó trong các dịp lễ Ky-Tô giáo, cờ
Ṭa thánh Vatican (màu vàng và trắng) được treo tự do mà
không bị chính phủ cấm đoán.
Trong các
đạo trên đây, trên lănh thổ VNCH, Cao Đài giáo và PGHH phát
triển mạnh ở các tỉnh miền Nam, thuộc đồng bằng sông Cửu
Long; Phật giáo thịnh hành ở các tỉnh miền bắc VNCH, nhất là
Huế, nơi có nhiều chùa được thành lập từ thế kỷ 17 trở đi.
Về phía
Ky-Tô giáo, lúc bấy giờ tổng giám mục địa phận Huế là Ngô
Đ́nh Thục, anh của tổng thống Diệm. Ngô Đ́nh Thục thụ phong
giám mục tại Huế năm 1938, được cử làm giám mục đầu tiên địa
phận Vĩnh Long. Năm 1961, Ngô Đ́nh Thục được đổi ra làm
tổng giám mục tổng giáo phận Huế. Tính đến năm 1963, ông
Thục được thâm niên giám mục 25 năm.
Lúc đó dư
luận cho rằng nhân dịp lễ ngân khánh (25 năm) của ḿnh, tổng
giám mục Thục vận động để được Ṭa thánh La Mă phong chức
hồng y.(4) Dư luận
nầy c̣n thêm rằng ông Thục tŕnh với Ṭa thánh Vatican rằng
số tín đồ trong tổng giáo phận Huế, lúc đó gồm hai tỉnh Thừa
Thiên và Quảng Trị, do ông cai quản chiếm 80% dân số khu vực.
Tháng 5-1963, Ṭa thánh cử một phái đoàn điều tra đến Huế,
th́ dân chúng Phật tử đang treo cờ mừng Phật đản. Kết luận
sơ khởi của phái đoàn là chỉ có 20% dân chúng địa phận Huế
theo Ky-Tô giáo chứ không phải 80%.(5)
Vào ngày 7-5-1963, sau khi thăm viếng nhà thờ La Vang (Quảng
Trị) và trở về Huế, tổng giám mục Thục nhận thấy dọc đường
dân chúng treo nhiều cờ Phật giáo để đón mừng Phật đản
(8-5-1963). Tổng giám mục Thục cho mời viên đại biểu chính
phủ tại Trung nguyên Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Ṭa
tổng giám mục Huế khiển trách là tại sao ṭa đại biểu chính
phủ lại để tín đồ Phật giáo treo cờ ngoài đường, trái với
quy định của chính phủ v́ quy định nầy chỉ cho phép treo cờ
trong khuôn viên của chùa mà thôi.
Hồ Đắc
Khương gởi khẩn điện về Sài G̣n xin ư kiến. Điện văn trả
lời của phủ tổng thống “xác
nhận rằng nghị định cấm treo cờ tôn giáo hay đảng phái bên
ngoài khuôn viên và trụ sở vẫn c̣n giá trị”. Dựa vào
công điện nầy, Hồ Đắc Khương “ra
lệnh cho chính quyền địa phương tại miền Trung phải triệt hạ
cờ Phật giáo”.(CVL, sđd.
tr 229.) Từ đó, bùng nổ cuộc phản đối.
Tối Phật
đản 8-5-1963, khi dân chúng tụ tập ở Đài phát thanh Huế để
theo dơi buổi tường thuật Lễ Phật đản ngày hôm đó, một tiếng
nổ bùng lên, làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người.
Tin tức về vụ nổ được lan truyền nhanh chóng. Người ta
không biết đích xác ai gây ra vụ nổ. Chính quyền đổ lỗi cho
khủng bố Việt Cộng. Dân chúng đổ lỗi cho chính quyền Huế
ném chất nổ để giải tán đồng bào Phật tử.(6)
Dù ai gây ra vụ nổ, vụ nổ đă làm cho 8 người thiệt mạng.
Tức th́, làn sóng phản đối chính quyền càng ngày càng dâng
cao và càng trở nên bạo động.
Trước hết,
ngày 9-5-1963, tại Sài G̣n, Ủy Ban Liên Phái bảo Vệ Phật
Giáo được thành lập, do thượng thọa Thích Tâm Châu làm chủ
tịch, Mai Thọ Truyền làm tổng thư kư, văn pḥng đặt tại chùa
Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Ủy ban gồm 11 hội
đoàn Phật giáo.
Sau lễ
Phật đản, Hồ Đắc Khương, đại biểu chính phủ ở Trung nguyên
Trung phần bị thay thế ngày 1-6-1963. Người được bổ nhiệm
đến thay là Nguyễn Xuân Khương, nguyên tổng giám đốc Điền
địa. Nguyễn Văn Đẳng tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, cùng
thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Thừa Thiên, bị
triệu về đợi lệnh tại bộ Nội vụ ở Sài G̣n. (Đoàn Thêm,
sđd. tr.349.) Một quan
chức khác cũng bị thay thế là thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, tư
lệnh quân đoàn I, được thay ngày 16-9-1963 bằng một đại tá
mới thăng thiếu tướng là Đỗ Cao Trí. Trong khi đó, Ngày
4-6-1963, tổng thống Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ của chính
phủ để nghiên cứu những yêu cầu của Phật giáo, do phó tổng
thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu.
![]()
Ngày
11-6-1963, tại thủ đô Sài G̣n, thượng tọa Thích Quảng Đức tự
thiêu ở ngă tư đường Phan Đ́nh Phùng và Lê Văn Duyệt, để
phản đối chính phủ. H́nh ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu trong
ngọn lửa bập bùng làm rúng động toàn thể dân chúng Việt Nam
và dân chúng thế giới. Sau các cuộc họp giữa Uỷ ban Liên
bộ của chính phủ và phái đoàn Uỷ ban Liên phái Phật giáo do
thượng tọa Thích Thiện Minh cầm đầu từ 14-6 đến 16-6-1963 ,
chính phủ Diệm nhượng bộ, đồng ư để Phật tử tự do treo cờ và
tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950.
Ngày 9 và
29-7-1963, bộ Nội vụ liên tiếp ra hai nghị định công nhận cờ
Phật giáo và việc treo cờ Phật giáo. Tuy nhiên, một mặt
những cuộc tập họp về phía Phật giáo ở Sài G̣n và ở các địa
phương chẳng những bị cản trở, mà một số tín đồ c̣n bị bắt,
một mặt chính phủ tổ chức những hội đoàn thân chính phủ, lên
tiếng phản đối Phật giáo. V́ vậy, mâu thuẫn giữa hai bên
vẫn chưa được giải quyết. Chắc chắn mâu thuẫn nầy c̣n bị
Việt Cộng lợi dụng nhằm đào sâu hố chia rẽ giữa chính quyền
với dân chúng, và giữa các tôn giáo với nhau.
Ngày
1-8-1963, trả lời phỏng vấn của đài CBS (Columbia
Broadcasting System, Hoa Kỳ), bà Ngô Đ́nh Nhu tố cáo các
lănh tụ Phật giáo đang mưu toan lật đổ chính phủ và tự thiêu
chỉ là việc “nướng thịt sư”
(barbecue a bonze).(CĐ, nb
I-C, sđd. tr. 312.) Tiếp
theo đó, ngày 3-8-1963, khi phát biểu tại lễ măn khóa huấn
luyện bán quân sự của đoàn Thanh Nữ Cộng Ḥa, bà Nhu lên án
những vụ tranh đấu về tôn giáo. Lời lẽ của bà Nhu được thân
phụ bà là Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, gọi
là “thiếu lễ độ” đối với
Phật giáo.(Đoàn Thêm, tr. 357.)
Những ư
kiến như trên chẳng những làm cho mối liên lạc giữa chính
phủ Diệm với tín đồ Phật giáo càng thêm xấu đi, mà c̣n làm
cho cả những người dân b́nh thường cũng bất b́nh với chế độ.
Sau ư kiến của bà Nhu, trong tháng 8-1963, liên tiếp xảy ra
nhiều cuộc phản đối chính phủ, trong đó quan trọng nhất là
các vụ tư thiêu của các tăng ni Phật giáo.
Ngày
4-8-1963, tại Phan Thiết (B́nh Thuận), đại đức Thích Nguyên
Hương, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, tự thiêu trước dinh tỉnh
trưởng. Khuya 12-8, tại chùa Xá Lợi ở Sài G̣n, nữ sinh Mai
Tuyết An, 18 tuổi cầm dao chặt bàn tay trái để phản đối bà
Ngô Đ́nh Nhu; máu ra nhiều nhưng tay không đứt. Ngày
13-8-1963, đại đức Thích Thanh Tuệ, thế danh là Bùi Huy
Chương, tự thiêu tại chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên.
Ngày 15-8-1963, ni sư Thích Nữ Diệu Quang, thế danh là
Nguyễn Thị Thu, tự thiêu tại Ninh Ḥa (Khánh Ḥa). Ngày
16-8-1963, thượng tọa Thích Tiêu Diêu, thế danh Đoàn Mễ, tự
thiêu ở chùa Từ Đàm, Huế.
Cũng trong
ngày 16-8-1963, tại Huế, theo lệnh của tổng thống Diệm, linh
mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện Đại học Huế, bị giải
nhiệm và giáo sư Trần Hữu Thế được cử lên thay.(CVL, tr.
261-263.) Sự thay đổi nầy khiến cho nhiều khoa trưởng và
giáo sư đại học từ chức, và giới sinh viên phẫn nộ mạnh mẽ.
Dầu càng
ngày dân chúng càng phản đối và t́nh h́nh xă hội càng ngày
càng xáo trộn, chính phủ Diệm vẫn không nhượng bộ.(7)
Ngày 18-8-1963, mười tướng lănh cao cấp đề nghị với chính
phủ là nên ban hành thiết quân luật, để tái lập trật tự.
Dựa vào đề nghị đó, tổng thống Diệm liền quyết định thiết
quân luật trên toàn quốc kể từ 0 giờ sáng 21-8-1963. Quyết
định nầy do quyền tổng tham mưu trưởng Quân đội VNCH, trung
tướng Trần Văn Đôn, kư tên.
Điều quan
trọng trong vụ thiết quân luật nầy là khoảng nửa giờ sau khi
được ban hành, nghĩa là qua sáng 21-8-1963, chính phủ ra
lệnh cho ruồng bố chùa chiền trên toàn quốc, bắt hết các
tăng ni lănh tụ tranh đấu chống chính phủ. Riêng tại Sài
G̣n, Lực Lượng Đặc Biệt tấn công chùa Xá Lợi trên đường Bà
Huyện Thanh Quan. Các lănh tụ Phật giáo đều bị bắt, trừ vài
người trốn thoát. Thượng tọa Thích Trí Quang cũng bị bắt,
nhưng sau đó ông trốn được vào Ṭa đại sứ Hoa Kỳ ngày
23-8-1963.(8) Tân
đại sứ Henry Cabot Lodge vừa đến Sài G̣n ngày 22-8-1963.
Sau vụ tấn
công chùa, t́nh h́nh càng thêm rối loạn. Ngày 21-8-1963,
Trần Văn Chương đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ bị chính phủ Diệm
băi nhiệm và ngược lại Trần Văn Chương tuyên bố từ chức. Bà
Trần Văn Chương tên thật là Thân Thị Nam Trân từ chức quan
sát Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Chiều ngày 22-8-1963, tại
Sài G̣n, Vũ Văn Mẫu từ chức ngoại trưởng.
Lúc đó,
bản tin đài Tiếng Nói Hoa Kỳ
(VOA = Voice of America) loan báo rằng quân đội đă tấn công
chùa, nên trung tướng Trần Văn Đôn cho mời trung tá Lucien
Conein, nhân viên CIA, đến gặp. Lúc đó trên danh nghĩa
chính thức, Lucien Conein là cố vấn bộ Nội vụ VNCH. Trong
cuộc nói chuyện với Conein vào tối 23-8-1963 tại bộ TTM,
tướng Đôn cho biết rằng quân đội không tham gia vào việc
đánh phá các chùa mà chính là Cảnh sát đặc biệt của chính
phủ. Khi Conein hỏi “Các
tướng lănh Việt
Nam có ư
định đảo chánh không?”,
th́ tướng Đôn dè dặt trả lời “sẽ
nói chuyện sau”.(9)
Từ đó, Conein thường liên lạc và ḍ hỏi các tướng lănh Việt
Nam.
Ngày
24-8-1963, tổng thống Diệm cử Trương Công Cừu làm bộ trưởng
Ngoại giao thay Vũ Văn Mẫu và cũng trong ngày nầy, chính phủ
ra lệnh đóng cửa các trường học ở Sài G̣n, nhưng sinh viên
học sinh vẫn tiếp tục phản đối chính phủ. (Các trường học mở
cửa lại ngày 4-9-1963.) Ngày 25-8-1963, khoảng 300 sinh
viên học sinh biểu t́nh tại công trường Diên Hồng, trước chợ
Bến Thành. Đoàn biểu t́nh bị đàn áp, một nữ sinh tên là
Quách Thị Trang bị bắn chết. Quách Thi Trang, pháp danh
Diệu Nghiêm, khoảng 15 tuổi, nữ sinh tư thục Trường Sơn (Sài
G̣n).
Cũng trước
chợ Bến Thành, ngày 5-10-1963, đại đức Thích Quảng Hương,
thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, tự thiêu để phản đối chính sách kỳ
thị tôn giáo của chính phủ Diệm, theo như huyết thư mà đại
đức để lại. Sau Thích Quảng Hương, đại đức Thích Thiện Mỹ,
thế danh Hoàng Miều (1940-1963), tự thiêu trước nhà thờ Đức
Bà, Sài G̣n.
Trên thế
giới, ngày 9-8-1963, Cambodia, Ceylon (sau đổi thành Sri
Lanka), Nepal đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Liên
Hiệp Quốc (LHQ). Đại hội đồng LHQ ngày 8-10-1963 quyết định
gởi một phái đoàn điều tra đến Việt Nam. Phái đoàn LHQ đến
Sài G̣n ngày 24-10-1963. Hôm sau, phái đoàn đến gặp tổng
thống Diệm và tổ chức họp báo. (Đoàn Thêm,
sđd. tr. 364) Phái đoàn
chưa hoàn tất công việc điều tra, th́ chính phủ Diệm sụp đổ
ngày 1-11-1963.
3.- VAI
TR̉ CỦA NGƯỜI HOA KỲ
Không
riêng Hoa Kỳ, tất cả các nước bỏ tiền ra viện trợ, đều muốn
công cuộc viện trợ đạt hiệu quả và nhất là muốn dựa trên
viện trợ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước nhận
viện trợ; hướng dẫn hoặc điều khiển đường lối của nước đó
theo chủ trương của nước viện trợ. Ngược lại, những nước
nhận viện trợ luôn luôn muốn duy tŕ chủ quyền quốc gia đối
với các nước viện trợ, chống lại sự can thiệp của nước chủ
viện.
T́nh trạng
giữa Hoa Kỳ và VNCH cũng vậy. Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH để
chống cộng, nhưng không phải chống cộng theo đường lối
VNCH, mà là chống cộng theo đường lối Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là
một cường quốc trên thế giới và Hoa Kỳ muốn giữ thăng bằng
ngoại giao với tất cả các nước. Người Hoa Kỳ nổi tiếng thực
dụng, nên chính phủ Hoa Kỳ cũng phải thực dụng theo quyền
lợi của tư bản Hoa Kỳ, mới có thể được tái cử. Từ đó, giữa
chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ VNCH xảy ra những mâu thuẫn
trong cách thức tiến hành viện trợ và chống cộng.
Một điểm
cần chú ư là dầu Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH, nhưng
trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, không phải ai cũng đều ủng
hộ tổng thống Diệm. Những người Mỹ ủng hộ ông Diệm cho
rằng chính phủ Diệm chống cộng hữu hiệu, hoặc chưa t́m ra
được một người khác có khả năng hơn ông Diệm để thay thế. Những
người Mỹ chống ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm tham nhũng,
đàn áp đối lập, không chống cộng hữu hiệu. Một điều quan
trọng hơn cả đối với người Mỹ, nhưng người Mỹ tránh nói
công khai, là ông Diệm không dễ dàng tuân theo đường
lối của Mỹ, và ông Diệm bảo vệ chủ quyền quốc gia khá
cứng rắn, đến độ bảo thủ,.
Sau khi
lên cầm quyền vào tháng 1-1961, tổng thống John F. Kennedy
gởi phó tổng thống Lyndon Johnson sang Việt Nam ngày
11-5-1961. Trong cuộc hội kiến với phó tổng thống Mỹ, tổng
thống Diệm tuyên bố không chấp nhận việc Mỹ gởi quân chiến
đấu đến Việt Nam, mà chỉ yêu cầu Mỹ gởi cố vấn sang huấn
luyện mà thôi. (Chính Đạo, sđd.
I-C, tt. 223-224.) Sau đó, trong một cuộc tiếp kiến đại sứ
Frederick Nolting (đại sứ từ 10-5-1961), khi Nolting đề nghị
để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về chính trị, quân sự
và kinh tế, tổng thống Diệm trả lời rằng “chúng
tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ ”.(10)
Có tài
liệu cho rằng từ năm 1961, Hoa Kỳ muốn thành lập căn cứ
không quân và hải quân tại Cam Ranh, nhưng tổng thống Diệm
không chấp thuận.(11)
Quả thật, cho đến năm 1964, sau khi tổng thống Diệm bị sát
hại, th́ Đệ thất hạm đội của Hoa Kỳ mới đưa được một vài đơn
vị vào tiền thám tại đây, và từ 1965 Hoa Kỳ chính thức thành
lập căn cứ Hải quân. Lúc đó, căn cứ nầy kiểm soát hoạt động
toàn vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á.
Tại Hoa Kỳ,
khi c̣n tại chức, tổng thống Dwight Eisenhower chủ trương
ủng hộ chính phủ hoàng gia Lào, đánh dẹp Pathet Lào, chận
đứng các cuộc nổi dậy của cộng sản. Lên thay Eisenhower,
Kennedy thay luôn chính sách về Lào. Kennedy giao cho
Averell Harriman, mưu t́m một giải pháp chính trị để giải
quyết chiến tranh ở Lào. Harriman là phụ tá ngoại trưởng
đặc trách Viễn đông (Assistant Secretary of State for Far
Eastern Affairs) từ tháng 1 đến tháng 11-1961, và trở thành
thứ trưởng Ngoại giao đặc trách về chính trị (Under
Secretary of State for Political Affairs). Harriman vận
động triệu tập hội nghị quốc tế tại Genève nhằm trung lập
hóa nước Lào.(12)
Hội nghị bắt đầu từ 16-5-1961 đến 23-7-1962, đưa đến hiệp
định công nhận Lào là một nước độc lập và trung lập, do
hoàng thân Souvanna Phouma làm thủ tướng.
Hiệp định
trung lập nước Lào bị chính phủ Diệm phản đối, v́ chính phủ
Diệm lo ngại rằng Lào sẽ không đủ khả năng tự bảo vệ biên
giới chống lại sự xâm nhập của cộng sản Việt Nam, tạo cơ hội
cho quân Bắc Việt vào đất Lào, để rồi theo đường Trường Sơn,
xuống quấy phá Nam Việt. Lúc đầu, tổng thống Diệm không
chịu kư vào bản hiệp định trung lập hóa nước Lào. Điều nầy
làm cho Harriman tức giận và căm ghét tổng thống Diệm. Tổng
thống Kennedy liền gởi thư cho tổng thống Diệm, bảo đảm rằng
Hoa Kỳ sẽ không trung lập hóa Nam Việt, và Hoa Kỳ sẽ tiếp
tục viện trợ cho Nam Việt, để chống cộng sản. Do áp lực từ
phía Hoa Kỳ, tổng thống Diệm đành nhượng bộ, chấp nhận cho
ngoại trưởng VNCH kư vào hiệp định nầy. (Mark Moyar, tt.
163-164.)
Bên cạnh
đó, từ giữa năm 1962, chính phủ Hoa Kỳ khá bận tâm về các
nguồn tin cho rằng chính phủ Diệm đang ngầm liên lạc
với nhà nước cộng sản Hà Nội. Sự việc nầy bắt đầu vào
mùa hè năm 1962, khi cố vấn Ngô Đ́nh Nhu cầm đầu phái đoàn
Việt Nam qua Maroc (Morocco), thăm xă giao nước nầy. Tại
đây, ông Nhu gặp Antoine Pinay, lúc đó làm bộ trưởng Phủ
tổng thống Pháp. Pinay đề nghị một cuộc gặp gỡ cấp cao giữa
Hà Nội và Sài G̣n để bàn chuyện hiệp thương Nam Bắc. Về lại
Việt Nam, Ngô Đ́nh Nhu mượn cớ đi săn cọp, đă bí mật gặp tại
B́nh Tuy một nhân vật cao cấp của cộng sản là Phạm Hùng, ủy
viên Bộ chính trị đảng Lao Đông.(13)
Từ tháng
8-1962, Joseph A. Mendenhall, cố vấn chính trị Ṭa đại sứ
Hoa Kỳ tại Sài G̣n, đă đề nghị loại bỏ tổng thống Diệm, vợ
chồng Ngô Đ́nh Nhu và những người trong gia đ́nh ông Diệm,
bằng một số nhân vật khác, v́ các ông Diệm Nhu không chịu
thay đổi lề lối làm việc dù bị Hoa Kỳ áp lực. (Chính Đạo, nb.
I-C, sđd. tt. 256-257.)
Lề lối làm việc ở đây có nghĩa là chủ trương chính sách của
tổng thống VNCH. Như thế, có nghĩa là người Hoa Kỳ có ư
định loại bỏ tổng thống Diệm trước khi xảy ra biến cố
Phật giáo vào tháng 5-1963.
Vào dịp
Tết quư măo (25-1-1963), chủ tịch Bắc Việt là Hồ Chí Minh
gởi một cành đào tặng tổng thống
Nam Việt
là Ngô Đ́nh Diệm.
Cành đào nầy được trưng bày trong Pḥng khánh tiết Dinh Độc
Lập và trên cành đào có danh thiếp chúc Tết của Hồ Chí Minh.(14)
Sau khi
được đề cử làm ngoại trưởng ngày 24-8-1963, Trương Công Cừu
mở cuộc tiếp tân đầu tiên ngày 25-8-1963 nhằm ra mắt ngoại
giao đoàn tại Sài G̣n, đồng thời đón tiếp tân đại sứ Hoa Kỳ
Henry Cabot Lodge. Trong buổi tiếp tân nầy, cố vấn Ngô Đ́nh
Nhu lần thứ nhất gặp Mieczylslaw Maneli, trưởng đoàn Ba Lan
(Poland) trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến. Ngô
Đ́nh Nhu c̣n gặp Maneli lần thứ hai tại dinh Gia Long ngày
2-9-1963 bàn việc liên lạc với Hà Nội. (Chính Đạo,
sđd. tr. 325 và tr. 339.)
Chắc chắn
t́nh báo Mỹ không bỏ sót chuyện Ngô Đ́nh Nhu liên lạc với
cộng sản và chuyện cành đào Hà Nội ở Dinh Độc Lập trong dịp
Tết năm 1963. Để nắm vững t́nh h́nh, cuối tháng 9-1963,
tổng thống Kennedy gởi bộ trưởng Quốc pḥng Robert McNamara
cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài G̣n. Ngày 29-9-1963, hai
ông gặp tổng thống Diệm. McNamara nói thẳng với tổng thống
Diệm rằng việc đàn áp Phật tử gây trở ngại cho nỗ lực chống
cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đ́nh Nhu.
Tổng thống Diệm tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.
Trong khi
đó, báo chí Hoa Kỳ liên tục chỉ trích chính phủ Diệm, nhất
là từ sau biến cố Phật giáo ở Huế (tháng 5-1963) và sau vụ
chính phủ Diệm ra lệnh tấn công các chùa (tháng 8-1963). Dư
luận Hoa Kỳ cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài gia
đ́nh trị, càng ngày càng mất ḷng dân, càng ngày càng kém
hữu hiệu trong việc điều hành đất nước và chống lại du kích
cộng sản.(Chính Đạo, nb. I-C,
sđd. tt. 357-361.)
Năm 1963
là năm trước của năm bầu cử tổng thống Hoa Kỳ (1964). Dư
luận báo chí Hoa Kỳ năm 1963 rất quan trọng, có thể ảnh
hưởng đến kết quả bầu cử trong năm sau (1964). Tổng thống
Kennedy lo ngại t́nh h́nh Việt Nam ảnh hưởng xấu đến cuộc
tái tranh cử của ông vào năm 1964.
V́ tất cả
những lư do trên, chính phủ Kennedy muốn t́m một giải pháp
mới, nhằm thay đổi t́nh h́nh tại ViệtNam theo chiều hướng có
lợi cho Hoa Kỳ, và có lợi cho sự tái tranh cử của Kennedy.
4.- MẬT ĐIỆN SỐ 243 NGÀY THỨ BẢY 24-8-1963
Theo Trần
Văn Đôn, nhóm đảo chánh của các ông không cho người Mỹ biết
về dự tính đảo chánh. (TVĐ,
sđd. tr. 209.) Tuy nhiên, người Mỹ chẳng những biết
việc nầy, mà c̣n yểm trợ việc nầy, v́ cũng Trần Văn Đôn kể
rằng nhóm các ông kết nạp được Trần Thiện Khiêm vào tổ chức
đảo chánh là nhờ người Mỹ. (TVĐ,
sđd. tr. 193.) Như thế
nghĩa là người Hoa Kỳ giữ một vai tṛ quan trọng trong việc
đứng làm trung gian liên kết nhân sự cho nhóm dự tính đảo
chánh.
Thật ra,
như đă tŕnh bày ở trên, người Hoa Kỳ đă nghĩ đến việc thay
đổi nhà lănh đạo VNCH từ hơn một năm trước qua đề nghị của
Joseph Mendenhall, cố vấn chính trị Ṭa đại sứ Hoa Kỳ tại
Sài G̣n, trong phiếu tŕnh đề ngày 16-8-1962.
Sau biến
cố Phật giáo ngày 8-5-1963 ở Huế, người đứng đầu Nhóm nghiên
cứu Việt Nam thuộc Ṭa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, soạn một kế
hoạch khẩn cấp ngày 23-5-1963 về các cách thay đổi chính phủ
Diệm. Sau khi Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngày 11-6-1963,
bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị ngày 14-6-1963 cho Ṭa đại sứ
Sài G̣n xúc tiến kế hoạch thay tổng thống Diệm.
Ngày 27-
6-1963, tổng thống Kennedy công bố quyết định thay đổi đại
sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thay đổi đại sứ trong lúc t́nh h́nh
căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách, nhưng để yên
ḷng chính phủ Việt Nam, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu ṭa
đại sứ tại Sài G̣n cho tổng thống Diệm biết rằng chính sách
của Hoa Kỳ không thay đổi, tiếp tục ủng hộ chính phủ Việt
Nam chống cộng sản. (Chính Đạo, nb. I-C,
sđd. tr. 302.) Tiếp tục
ủng hộ công cuộc chống cộng của Việt Nam, không có nghĩa là
ủng hộ cá nhân người điều hành chính phủ.
Ngày
22-8-1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài G̣n và tŕnh
uỷ nhiệm thư ngày 26-8-1963. Trước đó hai ngày, 24-8-1963,
Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu
là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh
của một số tướng lănh.
Ngày
24-8-1963 là thứ Bảy, tổng thống Kennedy, bộ trưởng Ngoại
giao Dean Rusk, bộ trưởng Quốc pḥng MacNamara, giám đốc CIA
McCone đều đi nghỉ cuối tuần. Thứ trưởng Ngoại giao George
Ball, xử lư thường vụ ngoại trưởng, cùng Harriman (thứ
trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal
(phụ tá tổng thống) đồng soạn và kư tên mật điện 243 gởi cho
Ṭa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n cùng trong ngày 24-8-1963, rồi
chuyển cho tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk. Hai ông
nầy đồng ư cho gởi đi. Nội dung đoạn cuối điện văn rất quan
trọng, được dịch như sau:
“Chính
phủ Hoa kỳ không thể dung dưỡng t́nh trạng mà quyền hành lại
nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các
thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và
các chính trị gia có tư cách.
“
Nếu ông [tức đại sứ Lodge]
cố gắng hết sức, nhưng ông
Diệm vẫn ngoan cố và từ chối th́ chúng ta phải đối đầu với
một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng
không thể tồn tại được.”(15)
Bức mật
điện số 243 ngày 24-8-1963 trên đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
chỉ thị cho tân đại sứ Cabot Lodge yêu cầu tổng thống Diệm
phải loại bỏ cố vấn Nhu. (Đây là điều mà người Mỹ biết ông
Diệm không bao giờ chịu làm.) Nếu ông Diệm không chấp thuận,
th́ loại bỏ luôn ông Diệm. Nói cách khác, bức mật
điện nầy ngầm cho phép đại sứ Lodge, nếu cần, có thể tiến
hành đảo chánh, lật đổ tổng thống Diệm. Cần chú ư: Averell
Harriman, người chủ trương trung lập hóa Lào, bị tổng thống
Diệm phản đối, là một trong bốn người soạn bản mật điện
243. Hariman rất căm ghét tổng thống Diệm. Phải chăng đây
là dịp Harriman kiếm cách trả thù, v́ bản mật điện nầy có
thể xem là tờ khai tử chế độ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm?
KẾT LUẬN
Trong công
cuộc cai trị, về đối nội, chính phủ Diệm chủ trương tập
trung quyền lực, bị lên án là độc tài gia đ́nh trị. Chính
phủ Diệm lại áp dụng một cách cứng rắn luật số 10 năm 1950
từ thời chính phủ Trần Văn Hữu, không công bằng giữa các tôn
giáo. Trong di chúc để lại cho con là vua Minh Mạng năm
1819, vua Gia Long đă dặn: “Không
được ngược đăi tôn giáo, v́ đó là nguyên nhân gây rối loạn
và đôi khi làm mất nước.”(16)
Dầu chế độ
Ngô Đ́nhDiệm chưa đến mức ngược đăi tôn giáo, nhưng việc thi
hành một cách cứng rắn dụ số 10 đă làm bùng lên cuộc đấu
tranh của giới Phật giáo, là thành phần chiếm đại đa số dân
chúng Việt Nam. Lúc đó, chắc chắn có nhiều thành phần từ nhiều
phía lợi dụng cuộc phản đối của Phật giáo để phá rối chính
phủ Diệm và phá rối VNCH. Trong khi đó, dù tổng thống Diệm
và chính phủ tỏ thiện chí để giải quyết khủng hoảng, th́ vẫn
có một số người trong chính quyền thiếu sáng suốt, gây thêm
nhiều chia rẽ giữa chính phủ và dân chúng, như những lời
tuyên bố của bà Ngô Đ́nh Nhu. Cứ thế mâu thuẫn giữa hai bên
càng ngày càng gay gắt thêm.
Về đối
ngoại, chính phủ Diệm chủ trương độc lập với người Mỹ, trong
khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ VNCH. Hai ông Diệm và
Nhu lại có sáng kiến ngoại giao trực tiếp với Bắc Việt để
giải quyết chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc với nhau, chẳng
những làm cho dư luận Việt hoang mang, mà c̣n làm cho chính
phủ Mỹ nghi ngờ và bất b́nh, v́ người Mỹ bị hai ông đặt ra
ngoài cuộc thương thuyết.
Người Mỹ
không quan tâm đến quyền lợi của người Việt mà chỉ lo lắng
cho quyền lợi của Mỹ. Vấn đề Phật giáo và đối lập chính trị
tại Việt Nam chỉ quan trọng đối với
người Việt, chứ không
quan trọng đối với
người Mỹ. Người Mỹ dựa vào những vấn đề nầy, xúi giục và
yểm trợ các tướng lănh đảo chánh lật đổ ông Diệm, v́ quyền
lợi của Mỹ và v́ việc tái tranh cử của Kennedy mà thôi. Sự
tiếp tay của Ṭa đại sứ Mỹ và của đại sứ Henry Cabot Lodge
đă góp phần quyết định trong sự thành công của cuộc đảo
chánh ngày 1-11-1963. (Trích:
Việt sử đại cương tập 6.)
TRẦN GIA
PHỤNG
(phungtrangia@yahoo.com)
CHÚ THÍCH
1.
Hai câu của cuộc trưng cầu dân ư chỉ hỏi truất phế
hay không truất phế Bảo Đại và chấp thuận hay không chấp
thuận Ngô Đ́nh Diệm làm quốc trưởng để đặt nền móng dân chủ,
chứ không nói đến việc thành lập nền Cộng ḥa và nhất là
không nói đến việc chọn Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống.
2.
Nhiều tác giả, Nhất
Linh, Người nghệ sĩ - Người chiến sĩ, California: Nxb.
Thế Kỷ, 2004, tr. 125.
3.
Đoàn Thêm, Hai mươi năm
qua: Việc từng ngày (1945-1964), Sài G̣n 1966, Xuân Thu
California, tái bản không đề năm, tr. 75.(Viết tắt: Đoàn
Thêm, sđd. tr.)
4.
Chính Đạo, Việt
Nam niên
biểu 1939-1975
(Tập I-C: 1955-1963), Nxb. Văn Hoá, Houston, 2000, tr. 278.
(Viết tắt: Chính Đạo, I-C, sđd.
tr.)
5.
Linh mục Cao Văn Luận,
Bên gịng lịch sử Việt Nam, 1940-1975, Sacramento: TANTU
Research, 1983, tr. 224, tr. 229. Cần chú ư các điểm: Cao
Văn Luận là người đồng đạo với Ngô Đ́nh Thục và Ngô Đ́nh
Diệm. Lúc đó LM Cao Văn Luận đang làm viện trưởng Viện Đại
học Huế. V́ là linh mục và là viện trưởng Viện Đại học, nên
LM Cao Văn Luận có điều kiện để tiếp cận các viên chức hành
chánh và biết rơ các tin tức về biến cố nầy. (Viết tắt: CVL,
sđd. tr.)
6.
Chính Đạo, Tôn giáo &
chính trị, Phật giáo, 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa,
1997, tr. 25.
7.
Có 4 dư luận khác nhau: 1) Dư luận thứ nhất cho rằng
thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an, ra lệnh cho lực
lượng dưới quyền ném chất nổ để giải tán đồng bào và gây
thương vong. 2) Dư luật thứ hai cho rằng Việt cộng lợi dụng
sự bất b́nh của dân chúng, cho nổ lựu đạn gây chết người rồi
đổ lỗi cho chính quyền, nhằm đẩy cao ḷng bất măn của dân
chúng đối với chính quyền. 3) Một ư kiến khác lúc đó cho
rằng cả phía chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa lẫn phía du kích
cộng sản cũng đều chưa có loại vơ khí gây nổ nầy, nhưng
người ta không biết là của ai? 4) Ư kiến cuối cùng cho rằng
người Mỹ liên hệ đến vụ nổ nầy. (dư luận cuối cùng nầy, theo
Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức,
Những ngày cuối cùng của tổng
thống Diệm, San Jose: Nxb. Quang Vinh & Kim Loan & Quang
Hiếu, in lần thứ hai, 2003, tt. 221-222.)
8.
Theo lời linh mục Cao Văn Luận, sau khi bị giải nhiệm
chức viện trưởng Viện Đại học Huế, linh mục vào Sài G̣n và
đến gặp giám mục khâm sứ Ṭa thánh La Mă tại Việt Nam. Ông
được giám mục khâm sứ Ṭa thánh La Mă cho biết có lúc ông
Diệm theo lời khuyên của Đức giáo hoàng, dự tính băi bỏ
những biện pháp cứng rắn đối với Phật giáo. “Nhưng
sau một phiên họp Hội đồng gia tộc thu hẹp không có bà Nhu,
ông Cẩn, chỉ có ba người là ông Diệm, ông Nhu và Đức cha
Thục, tổng Thống quyết định dùng biện pháp cứng rắn như đă
ban hành ngày
21-8-1963.”
(trích nguyên văn, L.M. Cao Văn Luận,
sđd. tr. 271.)
9.
Theo lời thượng tọa Thích Trí Quang, khi chùa Xá Lợi
bị tấn công, ông bị bắt cùng với một số tăng ni và bị đưa về
đồn Rạch Cát. (Trước 1975, Rạch Cát thuộc quận B́nh Chánh,
nay thuộc quận B́nh Tân, TpHCM.) Khi các tu sĩ Nam tông
được thả ra, Thích Trí Quang thay áo một tu sĩ Nam tông, đến
chùa Pháp Quang (chùa Nam tông) và thừa cơ hội trốn vào ṭa
đại sứ Hoa Kỳ lúc đó c̣n ở trên đường Hàm Nghi. (Theo Thích
Trí Quang, “Từ Rạch Cát tới ṭa đại sứ”.
<http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/27turachcat.html>.
(Trích 1-2-2009.)
10.
Trần Văn Đôn, Việt
Nam nhân
chứng,
California: Nxb. Xuân Thu, 1989, tr. 173.(TVĐ,
sđd. tr.)
11.
Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức,
sđd. tr. 532. Tác giả
Hoàng Ngọc Thành trích dẫn Richard Reeves,
President Kennedy, Profile of
Power, New York: Simon & Schuster, 1993, tr. 651.
12.
Nguyễn Trân, Công và
tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu,
1992, tr. 478.
13.
Mark Moyar, Triumph
Forsaken, the Vietnam War, 1954-1965, Cambridge:
Cambridge University Press, 2006, tr. 128. (Viết tắt: Mark
Moyar, sđd. tr.)
14.
Theo lời kể của ông Cao Xuân Vỹ, hiện đang sinh sống
tại California với ông Minh Vơ. (Minh Vơ, “Ba giờ nghe một
nhân chứng”, Đàn Chim Việt,
ngày 18-07-2007.) Lúc đó, ông Cao Xuân Vỹ là tổng giám đốc
Thanh Niên, và là phó tổng thủ lănh Thanh Niên Cộng Ḥa. Ngô
Đ́nh Nhu là tổng thủ lănh. Ngoài ra, theo Trần Văn Đôn,
sđd. tt.183-184, đầu tháng
2-1963, trung tá Lê Văn Bường, tỉnh trưởng B́nh Tuy dùng xe
Dodge 4x4 chở Ngô Đ́nh Nhu đến quận Tánh Linh, tỉnh B́nh Tuy.
Tới điểm hẹn, ông Nhu một ḿnh gặp Phạm Hùng.
15.
Minh Vơ, “Hoa đào và máu đào”, điện báo
Đàn Chim Việt, ngày
31-10-2007. Trong bài nầy, Minh Vơ dẫn chứng tài liệu của
Francis X. Winter, The Year of
the Hare [Năm con thỏ], Athens: University Georgia
Press, 1997, tr. 12.[ Năm Con Thỏ theo người Trung Hoa, tức
Năm Con Mèo, ở đây là năm Quư Măo (1963).] Minh Vơ c̣n cho
biết thêm hai nhân chứng: 1) Ông Lê Châu Lộc, tùy viên của
tổng thống Diệm, hiện sinh sống ở California, kể lại rằng tự
tay ông Lộc đă nhận cành đào đó từ trụ sở Uỷ Hội Quốc tế
Kiểm Soát Đ́nh Chiến (ICC). 2) Ông Quách Ṭng Đức, đổng lư
văn pḥng Phủ tổng thống đă xác nhận việc cành đào trong
cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, đăng nhiều báo ở Mỹ.
16.
Xin xem bản dịch điện văn phía dưới.
17.
Adrien Launay, Histoire
de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Documents
historiques, volume III, Paris: Librairie Orientale et
Américaine, Maisonneuve Frères, Éditeurs, 1925, tr. 436.
18.
BẢN DỊCH
ĐIỆN VĂN SỐ 243 NGÀY 24-8-1963
"Bộ Ngoại
Giao gởi Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n để thi hành ngay lập tức.
Tối Mật. Không được phép phổ biến.
Chỉ đích thân Đại Sứ Lodge mới được phép đọc mà thôi. Đối
với CINPAC/POLAD th́ chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc mà thôi.
Theo CAS Sài G̣n 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn;
Saigon 320, Saigon 316, Saigon 329. [Các con số là những kư
hiệu mật mă.]
Bây giờ
th́ rơ là hoặc quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hoặc
ông Nhu đă lừa họ. Ông Nhu đă lợi dụng t́nh trạng đó để tấn
công chùa chiền bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại
Tá Tung trung thành với ông ta, làm cho nhân dân Việt Nam và
thế giới ngỡ lầm rằng quân đội làm. Hơn nữa, cũng thật quá
rơ là ông Nhu đă âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy.
Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng t́nh trạng mà quyền
hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông
Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội
tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.
Nếu ông [tức Đại Sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm
vẫn ngoan cố và từ chối th́ chúng ta phải đối đầu với một
điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không
thể tồn tại được.
Kư tên: Hilsman, Forrestal, Ball, W.Everell Hariman ".
(Trích
Internet: "Khui hồ sơ bí mật”, Ngô Kỷ tổng hợp và chuyển
ngữ.)
![]()

Do Thi Thuan
|