Sử gia nô Trần Gia Phụng

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 

 

 Sử gia nô  Trần Gia Phụng

  

 

 

 

 

 Nhận định:      AI TẬP TRUNG QUYỀN LỰC ?

 

1963

Cảnh sát thời chế độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm 1963 đưa tay phân bua với nhóm người biểu t́nh

[(nhưng nhân viên CIA thừa cơ trong những cuộc giằng co ấy mà bắn giết sinh viên học sinh biểu t́nh ở Huế rồi Sàig̣n, khiển cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm trở thành kẻ thù ghê tởm của dân tộc)]

 
     

2008-2009

Những cảnh như thế nầy rất thông thường hằng ngày tại Thiên Đường XHCN

Đàn áp dă man, dân bị đánh ngất xỉu, và c̣n bị bồi tiếp  nhiều đ̣n bằng dùi cui.

Nhiều cảnh tựơng rùng rợn của sự đàn áp dă man tại Đồng Nai, tại Cao nguyên, đánh Mục sư đến trọng thương . . .

 
Dân chúng luôn luôn sống trong sự lo sợ mất nhà mất đất do bọn phường khóm trưng dụng.

Bọn sử gia nô chỉ biết t́m cách phê b́nh bậy bạ, với tất cả luận điệu xuyên tạc chính thể Ngiêu Thuấn Ngô Đ́nh Diệm

Bọn sử gia nô không bao giờ dám so sánh chế độ Nghiêu Thuấn Ngô Đ́nh Diệm và chế độ x́ ke ma túy đĩ điếm Việt Gian Cờ Máu mà chúng gọi là XHCN.

Trong bài "Lư do Cuộc Đảo chánh ngày 1-11-1963"

"Sử gia" Trần Gia Phụng viết về TẬP TRUNG QUYỀN LỰC

Về phía chính phủ, tổng thống Diệm càng ngày càng tập trung quyền lực, chỉ tin dùng những người trong gia đ́nh và trong đảng Cần Lao, không mở rộng thành phần chính phủ. 

Đó là thực tế ? Chính phủ gồm hơn phân nửa người theo Phật giáo, c̣n tất cả lực lượng quân sự đều không do "nhà Ngô" nắm giữ, cho nên họ chết v́ cái lũ phản thùng do CIA trả tiền. Sử gia nô TGP không lương thiện khi cố t́nh "quên" đi những mưu mô của CIA tạo ra giết chóc rồi đổ lỗi lên chính thể NĐD khiến cho dư luận phải hận thù TT Diệm (sử gia cái quái ǵ mà kỳ vậy).

Trong bài "Lư do Cuộc Đảo chánh ngày 1-11-1963"

"Sử gia" Trần Gia Phụng cho rằng "18 nhân sĩ" Miền Nam họp lại là có tầm quan trọng. Nhưng lịch sử đă chứng minh đó là 18 cái bị thịt vô dụng, ḥan ṭan vô dụng chỉ xứng đáng chết rục trong tù của Việt Cộng mà thôi (lịch sử đă chứng minh như vậy). Sau nầy số phận của "18 nhân sĩ" thật thê thảm: Ns nguyễn Văn Chức viết "Riêng dân biểu Trần Văn Tuyên đă phải sống như súc vật  và chết như súc vật trong tù". Bs Phan Huy Quát (Chủ tịch Á Châu Chống Cộng" bị Mỹ bỏ lại) chết tại khám Chí Ḥa vô cùng tang thương !

Sử gia nô Trần Gia Phụng viết

Trong bài tựa đề “Viết cho đúng sự thật” ngày 23-11-2009, ông Lữ Giang đă đề cập đến bài “Lư do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963” của tôi.  Tôi cảm ơn ông Lữ Giang đă viết bài phê b́nh bài viết của tôi, nhưng tôi thành thật thưa với ông, lối viết tự cao và khiêu khích cố hữu của ông chỉ gây thêm mâu thuẫn, chứ chẳng có ích lợi ǵ trong việc trao đổi, học hỏi với nhau.

Sở dĩ tôi nói chuyện học hỏi, v́ có lẽ ông cũng c̣n nhớ trước đây ông đă từng gởi sách qua nhờ tôi hiệu đính những sai lầm căn bản về kiến thức sử học của ông để ông xuất bản.  Nếu lúc đó tôi dùng ngôn ngữ trịch thượng, thiếu lễ độ với ông, th́ chắc chắn chẳng giúp ích ǵ cho ông Lữ Giang cả.  Bây giờ xem như ông hiệu đính bài tôi viết, th́ cũng tốt thôi nhưng với ngôn ngữ từ tốn th́ có lẽ hữu ích hơn.  Suốt đời chúng ta luôn luôn phải học hỏi, và tôi cũng đang khao khát học hỏi đây, ông Lữ Giang. 

Khi viết bài “Lư do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963” th́ Trần Gia Phụng không hề nói ǵ về học hỏi, nhưng khi bị ông Lữ Giang chỉ trích trong bài “Viết cho đúng sự thật”  th́ sử gia nô lại nói đến học hỏi và sự giao tiếp riêng của 2 người [Lữ Giang - Trần Gia Phụng] với nhau. Sự giao tiếp nầy có liên quan ǵ đến bài mà sử gia nô viết cho đại chúng đọc tức bài “Lư do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963”  với ẩn ư mạt sát TT Diệm chết v́ "Tập trung quyền lực" [làm như chưa hề có ai tập trung quyền lực cả] và làm như  tập trung quyền lực  là một đường lối sai lầm, sai lầm cùng với sự không tôn trọng "18 nhân sĩ" (18 tên vô tích sự, chỉ biết làm tay sai cho Mỹ, rồi lại từ chức trao quyền cho bọn thổ phỉ quân đội sát nhân). Hăy xem ngay bây giờ, trong thế kỷ 21 nầy, ngay tại Hoa Kỳ, đảng nào lại không muốn tập trung cả hành pháp, tư pháp, lập pháp vào tay ḿnh ?

Tên sử gia nô Trần Gia Phượng lại c̣n già mồm Một điều tôi muốn nói trước với ông Lữ Giang là tôi chưa bao giờ tự nhận tôi là “sử gia” Các chứng cứ của già mồm là trên các báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, các xướng ngôn viên đều giới thiệu nó là "sử gia" mà nó không bao giờ cải chính. Rơ.

Tôi gọi ông Trần Gia Phụng là sử gia nô v́ lẽ đó (y không phải là sử gia ǵ cả):

- đang học hỏi th́ phải nói là "tôi viết bài nầy để học hỏi" ( việc trao đổi, học hỏi với nhau.). Nhưng lối viết của Trần Gia Phụng là khẳng định chứ không phải nêu ra một nghi vấn (" việc trao đổi, học hỏi với nhau."). Cách nêu ra những lư do (bậy bạ) không phải để học hỏi mà là để  mạ lỵ chính thể Ngô Đinh Diệm, th́ không phải để học hỏi mà nếu y nói là để học hỏi tức là y đă ḷi cái ư đồ lươn lẹo lưu manh.

- không xưng là sử gia th́ phải lập tức căi chính khi được giới thiệu ḿnh là sử gia

chứ đừng lươn lẹo đểu cán khi bị chỉ trích th́ mới nêu ra "học hỏi" và  "không xưng là sử gia".

 

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2009

nhuhungbui@yahoo.ca 

  

 

 

 

 

 Nhận định:    Về bài viết  "Lư do Cuộc Đảo chánh ngày 1-11-1963"

                                                         của "sử gia" Trần Gia Phụng

 

 

Người ta thấy rơ ràng tại Huế vào tháng 5 năm 1963:

- Công giáo treo cờ ngoài đường, nơi nơi

- Phật giáo bị cấm treo cờ (ở ng̣ai khuôn viên các chùa)

- xe tăng có sơn chữ Ngô Đ́nh Khôi phái đi bắn giết người biểu t́nh chống lệnh cấm treo cờ Phật giáo. Sau đó nhiều người biểu t́nh bị một tiếng nổ làm banh xác.

Cho nên những người như "sử gia" Trần Gia Phụng dựa trên các chứng liệu lịch sử rơ ràng như vậy th́ liền kết luận: chính quyền Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị Phật giáo (theo Dụ số 10). Đó là một trong những lư do giật sập chế độ.

Một đứa con nít lên 5 tuổi cũng có thể kết luận như vậy.

Nhưng đó là kết luận của những đứa con nít 5 tuổi và của những người có tŕnh độ như ông "sử gia" Trần Gia Phụng như trong bài viết của ông ta dưới đây.

Người hiểu sâu xa những ngón đ̣n chính trị đanh ác th́ thấy rằng

“Những ngón đ̣n đánh vào Đệ Nhất VNCH rất thâm hiểm và nẩy sinh từ một động lực sắt máu của bọn CIA lưu manh và dă man. (mà cái dă tâm nầy do Trung Cộng xúi bẫy !).

CIA có ảnh hưởng trên ṭa thánh Vatican. Tại đây đă có hồng y bị bắn chết, Vatican vay nợ của bọn Mafia. Ṭa thánh Vatican đă phong chức Hồng y cho hai vị Trịnh văn Căn và Trịnh Như Khuê tại Miền Bắc, c̣n Miền Nam chỉ có chức Tổng giám mục mà thôi. C̣n ghê rợn hơn nữa Vatican tiếp ngoại trưởng dơm Nguyễn Thị B́nh của cái Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ba xạo, c̣n họ từ chối tiếp kiến Tổng thống Nguyễn văn Thiệu để sĩ nhục Miền Nam. Có bao giờ một đứa con nít 5 tuổi suy nghĩ tới cái thâm ư khốn nạn của ṭa thánh La Mă đâu. Cho nên "sử gia" Trần Gia Phụng cũng mù tịt về lư do hành động kỳ thị của Vatican. Họ bắt tay, cái bàn tay nhuốm máu nhân dân Miền Nam trong dịp tết Mậu Thân, chớ họ đâu chịu bắt tay "tên tham nhũng Nguyễn Văn Thiệu !"

Mà tại sao lại có cái xe tăng sơn chữ Ngô Đ́nh Khôi dàn cảnh dị hợm lố bịch mà không ai thấy cái chủ mưu của bọn lưu manh, liên tiếp qua "tự thiêu" của Thượng tọa Thích Quảng Đức, rồi tới vụ lục soát chùa chiền !  Nhiều vụ tự thiêu, mà có ǵ để tự thiêu, tại sao bây giờ 2005-2009 chùa bị cào để xây khách sạn mà không thấy ai tự thiêu ? Tại sao năm 1962 CIA mua cấp tốc 300 ngàn liều LSD ? để làm ǵ? "sử gia"  làm sao biết khoa học, đâu biết LSD để làm ǵ !

Tại sao các b́nh luận gia không biết rằng CIA nằm phục trong các tay chân bộ hạ của Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục để làm bậy, cũng như họ đă sắp xếp cho cán bộ Thích Trí Quang quậy phá VNCH, họ hướng dẫn cho tên nầy trú ngụ an ṭan, trước khi các chùa bị lục sóat, tại dinh cơ của ṭa đại sứ Hoa Kỳ cho đến khi giết được TT Diệm.

"Sử gia" Trần Gia Phụng cho rằng "18 nhân sĩ" Miền Nam họp lại là có tầm quan trọng. Nhưng lịch sử đă chứng minh đó là 18 cái bị thịt vô dụng, ḥan ṭan vô dụng chỉ xứng đáng chết rục trong tù của Việt Cộng mà thôi (lịch sử đă chứng minh như vậy). Nhưng "18 nhân sĩ" th́ ghê gớm quá đối với những đứa con nít 5 tuổi. C̣n họ đích thực chỉ là con rối chính trị mà CIA tạo ra rồi "lancer" làm ra vẻ họ ghê gớm lắm để chỉ trích chế độ Ngô Đ́nh Diệm "không chịu mở rộng chính phủ" cho "18 nhân sĩ" đó có dip tham gia chính quyền. Bằng cớ họ là ruồi nhặng v́ họ bị Hoa Kỳ đá đít văng mất tiêu sau khi xử dụng họ năm ba tháng như gia nô. "18 nhân sĩ" đă làm được cái tṛ trống ǵ cho Miền Nam ? chẳng bao giờ đứa con nít 5 tuổi đặt ra câu hỏi nầy nổi, ông "sử gia" đă cố t́nh không đặt ra hay không biết đặt ra.

Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đă thấy khả năng nô bộc của họ th́ có thèm để ư đâu. Nhưng bọn ấu thơ th́ cứ vin vào cái bóng mờ "18 nhân sĩ" để qui trách chế độ "độc tài" không đếm xỉa tới họ, không mở rộng cho những người nầy tham gia chính quyền !

Nếu sau nầy mà chỉ 1 trong  "18 nhân sĩ" đó làm được một chút ǵ ra hồn, th́ hăy trách cứ chế độ, chứ như quá tŕnh diễn biến sự việc th́ 18 người đó đă làm ô uế danh từ nhân sĩ (vô liêm sĩ th́ đúng hơn khi họ cho Mỹ tha hồ ra vào Miền Nam, mà chính John McCain sau nầy mỉa mai nói rằng Miền Nam không có chính phủ, người Mỹ ra vào không cần visa, điều mà Tổng Thống Diệm rất khắc khe khi ông c̣n sống). "sử gia" Trần Gia Phụng khi đề cập tầm quan trọng của "18 nhân sĩ" đă không biết hổ thẹn là ǵ, đă không biết chủ quyền quốc gia là ǵ! đă không biết là họ không đ̣i người Mỹ vào VN phải có visa. "Sử gia" Trần Gia Phụng nêu ra cái quái thai "18 nhân sĩ" vô tài bất tướng. Cho rằng "18 nhân sĩ" là quan trọng th́ cái tŕnh độ và khuynh hướng gia nô của "sử gia" rất thảm thương. ""sử gia" cho rằng không mở rộng chính phủ là tập trung quyền lực! nó c̣n lập luận gian trá v́ rơ ràng quyền lực mạnh nhất là quân đội không do "nhà Ngô" nắm giữ, mà nằm trọn vẹn trong tay bọn phản thùng (th́ tại sao tên côn đồ nói tập trung quyền lực, sao ngu quá vậy ?, nó ngậm máu phun người th́ lịch sử sẽ điểm mặt nó, dư luận phải nguyền rủa thằng gian trá, những người nạn nhân của CIA của VC của TC phải thấy rơ ở đâu cũng có cái loại đanh ác ghê rợn nầy.)

Sau nầy số phận của "18 nhân sĩ" thật thê thảm: Ns nguyễn Văn Chức viết Riêng dân biểu Trần Văn Tuyên đă phải sống như súc vật  và chết như súc vật trong tù. Bs Phan Huy Quát chết tại khám Chí Ḥa vô cùng tang thương!  

"Sử gia" lại không biết rằng TT Diệm đă bị chúng mưu sát nhiều lần. Việt Cộng gài lại nhiều cán bộ ch́m sâu trong dân chúng. Đó là chủ đích của những vụ phản loạn. Nhất là bọn du học tại Mỹ, đứa nào cũng trở thành phản tặc (kể cả Trần Kim Tuyến, Hùynh văn Lang !).

Một đứa con nít 5 tuổi th́ không hiểu rằng bất cứ người nào đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, th́ khi về thế nào cũng tổ chức đảo chánh, ám sát TT Diệm. Đành rằng chính phủ Ngô Đ́nh Diệm trong hiện t́nh không thấy điều đó, nhưng chúng ta sau 40 năm mà c̣n không thấy th́ không phải tŕnh độ của đứa con nít 5 tuổi, mà là của một người mù, hay do hèn hạ mà thành mù.

Những tiết lộ sau nầy cho thấy mưu mô giết Thượng tọa Thích Quảng Đức là của VC và CIA th́ đáng lư ra "sử gia" Trần Gia Phụng phải có chút lương thiện, liêm sĩ, phải hiểu cái khó khăn của người bị nhiều tổ chức mưu mô lập quỉ kế để hạ sát và nhằm đánh vào uy tín của họ. Bọn lưu manh luôn luôn t́m cách biến người vô tội thành có tội, hạ uy tín của họ để chúng có lư do hạ sát. [ trong 43 năm 1966-2009 tôi là nạn nhân của những mưu mô khốn nạn đó   2008 CHIẾN THẮNG VẼ VANG tại CANADA  ]

Nhưng "sử gia"  đă cố t́nh hạ uy tín của người bị giết, để chứng tỏ "họ đáng chết !" v́ tập trung quyền lực, không thức thời dám không nghe kiến nghị của "18 nhân sĩ" (tṛ hề, chết rục trong tù VC sau nầy).

Đó là thái độ đồng lơa sát nhân, đanh ác và vô lương tâm của một "sử gia" đốn mạt.

Trong lúc TT Diệm bị bọn phản đồ nhận tiền  để hạ sát người đă hy sinh mạng sống

để bảo vệ chủ quyền.

Trong lúc các vụ thương thảo giữa chính quyền và giáo hội Phật giáo diễn tiến tốt đẹp th́: Trần Thiện Khiêm (con bài có chức vị cao nhất của CIA tại VN) đă triệu tập các tướng lănh tại bộ tổng tham mưu, rồi cử một phái đ̣an vào yết kiến TT Diệm và đạo đạt ư kiến là có VC ẩn nấp trong các chùa và xin cho lục sóat. Thái độ của TT Diệm và ông Nhu trở thành cứng rắng với Phật giáo (do sự cố "chứa VC trong chùa") TT Diệm c̣n tưởng các tướng ủng hộ ḿnh, bèn ban hành lệnh giới nghiêm và cho lực lượng Cảnh sát lùng bắt VC tại các chùa (theo lời yêu cầu của các tướng lănh): TT Diệm trúng kế CIA!  Bây giờ Hoa Kỳ có đủ bằng cớ để triệt hạ cái chính thể kỳ thị Phật giáo ! Rơ.

Cái khôi hài của "sử gia" tŕnh độ 5 tuổi là ông ta không biết, không thấy cái gian manh nầy hay cố t́nh làm như không thấy. Đàng nào cái danh xưng "sử gia" cũng nên quăng vào sọt rác, v́ thiếu kiến thức và khả năng suy luận. Một người "thiếu kiến thức và khả năng suy luận" chỉ nên làm cu li cho được việc hơn.

Những ai "lancer" tên nầy "thiếu kiến thức và khả năng suy luận" thật khác nào như "gánh nước cho chó uống" vừa mất công vừa chọc cho chúng chữi.

Càng thấy nhiều phi lư hơn nữa khi ở trong bối cảnh 1950-1960:

- tại các xă ấp Việt Cộng đang luôn luôn ŕnh ṃ thiết lập "ṭa án nhân dân", giết người không cần biết phải trái, nhiều nhân viên xă ấp bị giết (nhờ có ấp chiến lược mà giảm thiểu đi hầu hết những hành động dă man của VC)

- chúng cho nổ banh xác dân chúng biểu t́nh bằng một loại plastic có sức công phá kinh khủng

- c̣n cái quái thai "Hội đồng Tướng lănh" th́ phập ngay các vị trung kiên ái quốc (Đại tá Lê Quang Tung, phó Đề đốc Hồ Tấn Quyền, luôn cả ông Ngô Đ́nh Cẩn sau nầy)

mà tên côn đồ "sử gia" ngu ngốc cho rằng sự tập trung quyền lực là sai lầm !

Có nên chia quyền cho cái hạng người "côn đồ đáng nguyền rủa" đă được  "sử gia" luôn luôn nêu ra để mạ lỵ sự thiếu "khái niệm và thực thi một chế độ dân chủ".

Cũng bởi chia quyền cho bọn du côn đó mà gia đ́nh họ Ngô bị giết. Th́ hăy nh́n lại Hoa Kỳ đi, chúng là lũ dă man, có kém ǵ thời tiền sử đâu. Chúng xúm nhau giết TT Kennedy rồi bao che cho nhau mà bảo là văn minh dân chủ cái ǵ ? Dĩ nhiên TT Kennedy không tập trung quyền lực th́ kết quả ra sao ? Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy có tập trung quyền lực đâu mà cũng bị những con thú tiền sử giết chết !

Nếu không am tường cái tŕnh độ, khả năng giết người của lũ dă man tiền sử, Nếu không am tường cái tham vọng và tinh thần ti tiện của lũ "chính khách muôn đời  bất măn" do thực dân đào tạo ra và bọn "sĩ quan khố xanh khố đỏ" Dương văm Minh, Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, th́ nên câm miệng cho thế hệ trẻ sau nầy khỏi bị đầu độc.

Hoa Kỳ chủ mưu giết chế độ Ngô Đ́nh Diệm 1963,       

giết Miền Nam 1975 th́ đó là "thực thi dân chủ sao ?"

hay do thực thi chủ trương ngu ngốc bao vây Trung Cộng, mà cái chủ trương khật khùng nầy đem lại được cái ǵ ? Bao vây Trung Cộng để làm ǵ trong 58 năm th́ họ không biết !

   Hoa Kỳ Tṛ hề Muôn Năm

Chủ mưu chiến tranh chỉ đem lại lệ thuộc ngoại bang cho kẻ bại lẫn người thắng (những ǵ xảy ra tại VN hôm nay th́ quá rơ), Chính thể Ngô Đ́nh Diệm đă ư thức sâu xa như vậy và đă đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết. Đó là cái giá mà họ chấp nhận trả bằng chính mạng sống của ḿnh. Chính quyền Miền Nam chỉ thương thảo vời Bắc Việt sau khi triệt hạ 75 % tiềm lực của VC tại Nam Phần và 90 % VC tại Trung Phần (theo nhận định của chính VC trong những phát giác của họ sau này). Rơ chưa ?

Chỉ có một kết luận duy nhất:

                         TT Diệm bị hạ sát là do Trung Cộng xúi CIA ngu ngốc thi hành.

Ư Đồ Trung Quốc

Chiến Lược HOA KỲ vn TRUNG QUỐC chính Hoa Kỳ đă nuôi dưỡng VC trong mưu đồ BAO VÂY Trung Cộng

 

Nói tóm lại

như vậy bọn xuyên tạc gia đ́nh họ Ngô là thuộc phe phái nào ? Thú nhận đi.

Trân trọng,

 

Bùi Như Hùng

02-11-2009

 

C̣n cái ngu của "sử gia" Trần Gia Phụng về dụ số 10 th́ xin đọc

 

Dụ số 10

  

 

 

 


 

 

 

 From: Thuan Do <dothuan@sbcglobal.net>
Date: 2009/11/2
Subject: [DDCL] Fw: Bai moi: Ly do dao chanh 1/11/63 [1 Attachment]
To: ThanHuu@yahoogroups.com

Tham vong lam Hong Y Giao Chu cua Tong Giam Muc Ngo Dinh Thuc da gop phan lam xup do nen De Nhat Cong Hoa .
Thuan


 

LƯ DO  CUỘC ĐẢO CHÁNH

NGÀY 1-11-1963

 

                                                                             Trần Gia Phụng

 Cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ngày 1-11-1963 có thể bắt nguồn từ các lư do chính sau đây: tập trung quyền lực, vấn đề tôn giáo và sự can thiệp của Hoa Kỳ.

 

1.-   TẬP TRUNG QUYỀN LỰC  

Sau khi cầm quyền ngày 7-7-1954, chính phủ của thủ tướng Diệm ổn định t́nh h́nh, đánh các đảng phái chính trị ở miền Trung, dẹp vụ B́nh Xuyên, loại lực lượng vơ trang các giáo phái ở miền Nam, tổ chức Trưng cầu dân ư ngày 23-10-1955, truất phế Bảo Đại, tự tuyên bố thành lập nền Cộng Ḥa và tự tuyên bố trở thành tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa.(1)  

Tuy nền Cộng ḥa được phân nhiệm rơ ràng, chính phủ trung ương gồm nhiều bộ trưởng điều hành việc nước, đồng thời tản quyền cho các ṭa đại biểu tại các vùng (Trung nguyên Trung phần, Cao nguyên Trung phần, Miền Đông Nam phần, Miền Tây Nam phần), nhưng ngoài tổng thống Diệm, quyền hành nằm trong tay một số người là các ông bà Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, và một số ít người thân tín.  Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục không chính thức giữ một chức vụ hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tổng thống Diệm, đến các bộ trưởng trong chính phủ và các viên chức địa phương. Lúc đó, dư luận cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài và gia đ́nh trị.  

V́ vậy, chính phủ Diệm càng ngày càng bị phản đối, nổi bật nhất là các vụ: 1) Ngày 26-4-1960, 18 chính khách tên tuổi trong Uỷ Ban Tiến Bộ Và Tự Do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài G̣n, ra kháng thư công khai phản đối chế độ Ngô Đ́nh Diệm độc tài. 2) Ngày 11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông đảo chánh hụt.  3) Ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập.  

Về phía chính phủ, tổng thống Diệm càng ngày càng tập trung quyền lực, chỉ tin dùng những người trong gia đ́nh và trong đảng Cần Lao, không mở rộng thành phần chính phủ.  Chính phủ càng ngày càng trở nên cứng rắn với những thành phần không đồng chính kiến.  Ngày 5-7-1963, Ṭa án Quân sự đặc biệt nhóm họp tại Sài G̣n, bắt đầu xét xử 19 quân nhân và 34 nhân sĩ liên can đến cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960.   Kết quả, ngày 11-7-1963, ṭa tuyên 20 án cấm cố và 14 trường hợp tha bổng.  Hôm sau, ngày 12-7-1963 ṭa xử các quân nhân và nhân sĩ vắng mặt.  Trong số những người được tha bổng, có nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.   

Tuy không bị bắt giam và chỉ bị gọi ra ṭa xét xử, Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử ngày 7-7-1963.  Trước khi quyên sinh, Nhất Linh đă để lại những ḍng tuyệt mệnh như sau:  “Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả.  Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản.  Tôi chống đối sự đó và tự hủy ḿnh cũng như Ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”(1)    

Vụ tự tử của Nguyễn Tường Tam và vụ tự thiêu của thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (tŕnh bày phía dưới), mở đầu một loạt tự thiêu của các tăng ni khác, là những phản kháng công khai mạnh mẽ nhất đối với chế độ của tổng thống Diệm.

 

2.-   DỤ SỐ 10 VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO 

Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại.  Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5 chương, 45 điều.  Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều.(2)  Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi.   

Dụ nầy rơ ràng không công bằng giữa các tôn giáo.  Ngoài đạo Thờ cúng ông bà, người Việt theo các đạo chính: Phật giáo, Nho giáo, Lăo giáo, Ky-Tô giáo, Cao Đài giáo và Phật giáo Ḥa Hảo (PGHH).  Trong các đạo trên đây, tổng số tín đồ Phật giáo, Nho giáo, Lăo giáo, Cao Đài giáo và PGHH chiếm tỷ lệ rất lớn trên tổng dân số Việt Nam, có thể lên đến trên 80% dân số, th́ bị xếp như các hiệp hội, trong khi Ky-Tô giáo với số lượng tín đồ ít, th́ được hứa hẹn một quy chế đặc biệt.  Dầu vậy, do sự uyển chuyển của các nhà cầm quyền thời quốc trưởng Bảo Đại, dụ nầy không được thi hành, nên chưa xảy ra cuộc chống đối mạnh mẽ nào.   

Cần chú ư là sau dụ số 10 ngày 6-8-1950 cho đến đầu thập niên 60, t́nh h́nh tôn giáo Việt Nam thay đổi rất nhiều, nhưng dụ số 10 ngày 6-8-1950 vẫn không được điều chỉnh.  Càng ngày hệ thống tổ chức tín đồ các đạo Phật giáo, Cao Đài giáo và PGHH càng có quy củ.  Riêng Phật giáo, ngày 6-5-1951, các hội Phật học trên toàn cơi Việt Nam họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, thông qua bản điều lệ, nội quy, bầu ban quản trị và suy cử ḥa thượng Thích Tịnh Khiết làm tổng hội chủ.     

Trong thời gian đầu của chế độ VNCH, dụ nầy hầu như không được áp dụng.  Ngày 6-5-1963, hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lư văn pḥng Phủ tổng thống gởi công điện yêu cầu các địa phương không được treo cờ ngoài khuôn viên của chùa,(3) theo đúng tinh thần dụ số 10 ngày 6-8-1950.  Công điện nầy chẳng những làm cho giới Phật tử bất b́nh, mà c̣n làm cho dân chúng nói chung, dù không phải là tín đồ Phật giáo, cũng không bằng ḷng, v́ trước đó trong các dịp lễ Ky-Tô giáo, cờ Ṭa thánh Vatican (màu vàng và trắng) được treo tự do mà không bị chính phủ cấm đoán. 

Trong các đạo trên đây, trên lănh thổ VNCH, Cao Đài giáo và PGHH phát triển mạnh ở các tỉnh miền Nam, thuộc đồng bằng sông Cửu Long; Phật giáo thịnh hành ở các tỉnh miền bắc VNCH, nhất là Huế, nơi có nhiều chùa được thành lập từ thế kỷ 17 trở đi.   

Về phía Ky-Tô giáo, lúc bấy giờ tổng giám mục địa phận Huế là Ngô Đ́nh Thục, anh của tổng thống Diệm.  Ngô Đ́nh Thục thụ phong giám mục tại Huế năm 1938, được cử làm giám mục đầu tiên địa phận Vĩnh Long.  Năm 1961, Ngô Đ́nh Thục được đổi ra làm tổng giám mục tổng giáo phận Huế.  Tính đến năm 1963, ông Thục được thâm niên giám mục 25 năm. 

Lúc đó dư luận cho rằng nhân dịp lễ ngân khánh (25 năm) của ḿnh, tổng giám mục Thục vận động để được Ṭa thánh La Mă phong chức hồng y.(4)  Dư luận nầy c̣n thêm rằng ông Thục tŕnh với Ṭa thánh Vatican rằng số tín đồ trong tổng giáo phận Huế, lúc đó gồm hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, do ông cai quản chiếm 80% dân số khu vực.  Tháng 5-1963, Ṭa thánh cử một phái đoàn điều tra đến Huế, th́ dân chúng Phật tử đang treo cờ mừng Phật đản.  Kết luận sơ khởi của phái đoàn là chỉ có 20% dân chúng địa phận Huế theo Ky-Tô giáo chứ không phải 80%.(5) Vào ngày 7-5-1963, sau khi thăm viếng nhà thờ La Vang (Quảng Trị) và trở về Huế, tổng giám mục Thục nhận thấy dọc đường dân chúng treo nhiều cờ Phật giáo để đón mừng Phật đản (8-5-1963).  Tổng giám mục Thục cho mời viên đại biểu chính phủ tại Trung nguyên Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Ṭa tổng giám mục Huế khiển trách là tại sao ṭa đại biểu chính phủ lại để tín đồ Phật giáo treo cờ ngoài đường, trái với quy định của chính phủ v́ quy định nầy chỉ cho phép treo cờ trong khuôn viên của chùa mà thôi.   

Hồ Đắc Khương gởi khẩn điện về Sài G̣n xin ư kiến.  Điện văn trả lời của phủ tổng thống “xác nhận rằng nghị định cấm treo cờ tôn giáo hay đảng phái bên ngoài khuôn viên và trụ sở vẫn c̣n giá trị”.  Dựa vào công điện nầy, Hồ Đắc Khương “ra lệnh cho chính quyền địa phương tại miền Trung phải triệt hạ cờ Phật giáo”.(CVL, sđd. tr 229.)  Từ đó, bùng nổ cuộc phản đối.  

Tối Phật đản 8-5-1963, khi dân chúng tụ tập ở Đài phát thanh Huế để theo dơi buổi tường thuật Lễ Phật đản ngày hôm đó, một tiếng nổ bùng lên, làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người.  Tin tức về vụ nổ được lan truyền nhanh chóng.  Người ta không biết đích xác ai gây ra vụ nổ.  Chính quyền đổ lỗi cho khủng bố Việt Cộng.  Dân chúng đổ lỗi cho chính quyền Huế ném chất nổ để giải tán đồng bào Phật tử.(6)  Dù ai gây ra vụ nổ, vụ nổ đă  làm cho 8 người thiệt mạng.  Tức th́, làn sóng phản đối chính quyền càng ngày càng dâng cao và càng trở nên bạo động.   

Trước hết, ngày 9-5-1963, tại Sài G̣n, Ủy Ban Liên Phái bảo Vệ Phật Giáo được thành lập, do thượng thọa Thích Tâm Châu làm chủ tịch, Mai Thọ Truyền làm tổng thư kư, văn pḥng đặt tại chùa Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan.  Ủy ban gồm 11 hội đoàn Phật giáo. 

Sau lễ Phật đản, Hồ Đắc Khương, đại biểu chính phủ ở Trung nguyên Trung phần bị thay thế ngày 1-6-1963.   Người được bổ nhiệm đến thay là Nguyễn Xuân Khương, nguyên tổng giám đốc Điền địa.  Nguyễn Văn Đẳng tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, cùng thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Thừa Thiên, bị triệu về đợi lệnh tại bộ Nội vụ ở Sài G̣n. (Đoàn Thêm, sđd. tr.349.)  Một quan chức khác cũng bị thay thế là thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, tư lệnh quân đoàn I, được thay ngày 16-9-1963 bằng một đại tá mới thăng thiếu tướng là Đỗ Cao Trí.  Trong khi đó, Ngày 4-6-1963, tổng thống Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ của chính phủ để nghiên cứu những yêu cầu của Phật giáo, do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu.

 

 

Ngày 11-6-1963, tại thủ đô Sài G̣n, thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở ngă tư đường Phan Đ́nh Phùng và Lê Văn Duyệt, để phản đối chính phủ.  H́nh ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu trong ngọn lửa bập bùng làm rúng động toàn thể dân chúng Việt Nam và dân chúng thế giới.   Sau các cuộc họp giữa Uỷ ban Liên bộ của chính phủ và phái đoàn Uỷ ban Liên phái Phật giáo do thượng tọa Thích Thiện Minh cầm đầu từ 14-6 đến 16-6-1963 , chính phủ Diệm nhượng bộ, đồng ư để Phật tử tự do treo cờ và tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950. 

Ngày 9 và 29-7-1963, bộ Nội vụ liên tiếp ra hai nghị định công nhận cờ Phật giáo và việc treo cờ Phật giáo.  Tuy nhiên, một mặt những cuộc tập họp về phía Phật giáo ở Sài G̣n và ở các địa phương chẳng những bị cản trở, mà một số tín đồ c̣n bị bắt, một mặt chính phủ tổ chức những hội đoàn thân chính phủ, lên tiếng phản đối Phật giáo.  V́ vậy, mâu thuẫn giữa hai bên vẫn chưa được giải quyết.  Chắc chắn mâu thuẫn nầy c̣n bị Việt Cộng lợi dụng nhằm đào sâu hố chia rẽ giữa chính quyền với dân chúng, và giữa các tôn giáo với nhau.

Ngày 1-8-1963, trả lời phỏng vấn của đài CBS (Columbia Broadcasting System, Hoa Kỳ), bà Ngô Đ́nh Nhu tố cáo các lănh tụ Phật giáo đang mưu toan lật đổ chính phủ và tự thiêu chỉ là việc “nướng thịt sư” (barbecue a bonze).(CĐ, nb I-C, sđd. tr. 312.)  Tiếp theo đó, ngày 3-8-1963, khi phát biểu tại lễ măn khóa huấn luyện bán quân sự của đoàn Thanh Nữ Cộng Ḥa, bà Nhu lên án những vụ tranh đấu về tôn giáo.  Lời lẽ của bà Nhu được thân phụ bà là Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, gọi là “thiếu lễ độ” đối với Phật giáo.(Đoàn Thêm, tr. 357.) 

Những ư kiến như trên chẳng những làm cho mối liên lạc giữa chính phủ Diệm với tín đồ Phật giáo càng thêm xấu đi, mà c̣n làm cho cả những người dân b́nh thường cũng bất b́nh với chế độ.  Sau ư kiến của bà Nhu, trong tháng 8-1963, liên tiếp xảy ra nhiều cuộc phản đối chính phủ, trong đó quan trọng nhất là các vụ tư thiêu của các tăng ni Phật giáo.   

Ngày 4-8-1963, tại Phan Thiết (B́nh Thuận), đại đức Thích Nguyên Hương, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, tự thiêu trước dinh tỉnh trưởng.  Khuya 12-8, tại chùa Xá Lợi ở Sài G̣n, nữ sinh Mai Tuyết An, 18 tuổi cầm dao chặt bàn tay trái để phản đối bà Ngô Đ́nh Nhu; máu ra nhiều nhưng tay không đứt.  Ngày 13-8-1963, đại đức Thích Thanh Tuệ, thế danh là Bùi Huy Chương, tự thiêu tại chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên.  Ngày 15-8-1963, ni sư Thích Nữ Diệu Quang, thế danh là Nguyễn Thị Thu, tự thiêu tại Ninh Ḥa (Khánh Ḥa).  Ngày 16-8-1963, thượng tọa Thích Tiêu Diêu, thế danh Đoàn Mễ, tự thiêu ở chùa Từ Đàm, Huế.     

Cũng trong ngày 16-8-1963, tại Huế, theo lệnh của tổng thống Diệm, linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện Đại học Huế, bị giải nhiệm và giáo sư Trần Hữu Thế được cử lên thay.(CVL, tr. 261-263.)  Sự thay đổi nầy khiến cho nhiều khoa trưởng và giáo sư đại học từ chức, và giới sinh viên phẫn nộ mạnh mẽ. 

Dầu càng ngày dân chúng càng phản đối và t́nh h́nh xă hội càng ngày càng xáo trộn, chính phủ Diệm vẫn không nhượng bộ.(7)  Ngày 18-8-1963, mười tướng lănh cao cấp đề nghị với chính phủ là nên ban hành thiết quân luật, để tái lập trật tự.  Dựa vào đề nghị đó, tổng thống Diệm liền quyết định thiết quân luật trên toàn quốc kể từ 0 giờ sáng 21-8-1963.  Quyết định nầy do quyền tổng tham mưu trưởng Quân đội VNCH, trung tướng Trần Văn Đôn, kư tên.    

Điều quan trọng trong vụ thiết quân luật nầy là khoảng nửa giờ sau khi được ban hành, nghĩa là qua sáng 21-8-1963, chính phủ ra lệnh cho ruồng bố chùa chiền trên toàn quốc, bắt hết các tăng ni lănh tụ tranh đấu chống chính phủ.  Riêng tại Sài G̣n, Lực Lượng Đặc Biệt tấn công chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan.  Các lănh tụ Phật giáo đều bị bắt, trừ vài người trốn thoát.  Thượng tọa Thích Trí Quang cũng bị bắt, nhưng sau đó ông trốn được vào Ṭa đại sứ Hoa Kỳ ngày 23-8-1963.(8)  Tân đại sứ Henry Cabot Lodge vừa đến Sài G̣n ngày 22-8-1963. 

Sau vụ tấn công chùa, t́nh h́nh càng thêm rối loạn.  Ngày 21-8-1963, Trần Văn Chương đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ bị chính phủ Diệm băi nhiệm và ngược lại Trần Văn Chương tuyên bố từ chức.  Bà Trần Văn Chương tên thật là Thân Thị Nam Trân từ chức quan sát Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc.  Chiều ngày 22-8-1963, tại Sài G̣n, Vũ Văn Mẫu từ chức ngoại trưởng.   

Lúc đó, bản tin đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA = Voice of America) loan báo rằng quân đội đă tấn công chùa, nên trung tướng Trần Văn Đôn cho mời trung tá Lucien Conein, nhân  viên CIA, đến gặp.  Lúc đó trên danh nghĩa chính thức, Lucien Conein là cố vấn bộ Nội vụ VNCH.  Trong cuộc nói chuyện với Conein vào tối 23-8-1963 tại bộ TTM, tướng Đôn cho biết rằng quân đội không tham gia vào việc đánh phá các chùa mà chính là Cảnh sát đặc biệt của chính phủ.  Khi Conein hỏi “Các tướng lănh Việt Nam có ư định đảo chánh không?”, th́ tướng Đôn dè dặt trả lời “sẽ nói chuyện sau”.(9)  Từ đó, Conein thường liên lạc và ḍ hỏi các tướng lănh Việt Nam. 

Ngày 24-8-1963, tổng thống Diệm cử Trương Công Cừu làm bộ trưởng Ngoại giao thay Vũ Văn Mẫu và cũng trong ngày nầy, chính phủ ra lệnh đóng cửa các trường học ở Sài G̣n, nhưng sinh viên học sinh vẫn tiếp tục phản đối chính phủ. (Các trường học mở cửa lại ngày 4-9-1963.)  Ngày 25-8-1963, khoảng 300 sinh viên học sinh biểu t́nh tại công trường Diên Hồng, trước chợ Bến Thành.  Đoàn biểu t́nh bị đàn áp, một nữ sinh tên là Quách Thị Trang bị bắn chết.  Quách Thi Trang, pháp danh Diệu Nghiêm, khoảng 15 tuổi, nữ sinh tư thục Trường Sơn (Sài G̣n). 

Cũng trước chợ Bến Thành, ngày 5-10-1963, đại đức Thích Quảng Hương, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, tự thiêu để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ Diệm, theo như huyết thư mà đại đức để lại.  Sau Thích Quảng Hương, đại đức Thích Thiện Mỹ, thế danh Hoàng Miều (1940-1963), tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà, Sài G̣n. 

Trên thế giới, ngày 9-8-1963, Cambodia, Ceylon (sau đổi thành Sri Lanka), Nepal đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc (LHQ).  Đại hội đồng LHQ ngày 8-10-1963 quyết định gởi một phái đoàn điều tra đến Việt Nam.  Phái đoàn LHQ đến Sài G̣n ngày 24-10-1963.  Hôm sau, phái đoàn đến gặp tổng thống Diệm và tổ chức họp báo. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 364)  Phái đoàn chưa hoàn tất công việc điều tra, th́ chính phủ Diệm sụp đổ ngày 1-11-1963.

 

3.-   VAI TR̉ CỦA NGƯỜI HOA KỲ 

Không riêng Hoa Kỳ, tất cả các nước bỏ tiền ra viện trợ, đều muốn công cuộc viện trợ đạt hiệu quả và nhất là muốn dựa trên viện trợ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước nhận viện trợ; hướng dẫn hoặc điều khiển đường lối của nước đó theo chủ trương của nước viện trợ.  Ngược lại, những nước nhận viện trợ luôn luôn muốn duy tŕ chủ quyền quốc gia đối với các nước viện trợ, chống lại sự can thiệp của nước chủ viện.

T́nh trạng giữa Hoa Kỳ và VNCH cũng vậy.  Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH để chống cộng, nhưng không phải chống cộng theo đường lối VNCH, mà là chống cộng theo đường lối Hoa Kỳ.  Hoa Kỳ là một cường quốc trên thế giới và Hoa Kỳ muốn giữ thăng bằng ngoại giao với tất cả các nước.  Người Hoa Kỳ nổi tiếng thực dụng, nên chính phủ Hoa Kỳ cũng phải thực dụng theo quyền lợi của tư bản Hoa Kỳ, mới có thể được tái cử.  Từ đó, giữa chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ VNCH xảy ra những mâu thuẫn trong cách thức tiến hành viện trợ và chống cộng. 

Một điểm cần chú ư là dầu Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH, nhưng trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, không phải ai cũng đều ủng hộ tổng thống Diệm.  Những người Mỹ ủng hộ ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm chống cộng hữu hiệu, hoặc chưa t́m ra được một người khác có khả năng hơn ông Diệm để thay thế.  Những người Mỹ chống ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm tham nhũng, đàn áp đối lập, không chống cộng hữu hiệu.  Một điều quan trọng hơn cả đối với người Mỹ, nhưng người Mỹ tránh nói công khai, là ông Diệm không dễ dàng tuân theo đường lối của Mỹ, và ông Diệm bảo vệ chủ quyền quốc gia khá cứng rắn, đến độ bảo thủ,. 

Sau khi lên cầm quyền vào tháng 1-1961, tổng thống John F. Kennedy gởi phó tổng thống Lyndon Johnson sang Việt Nam ngày 11-5-1961.  Trong cuộc hội kiến với phó tổng thống Mỹ, tổng thống Diệm tuyên bố không chấp nhận việc Mỹ gởi quân chiến đấu đến Việt Nam, mà chỉ yêu cầu Mỹ gởi cố vấn sang huấn luyện mà thôi. (Chính Đạo, sđd. I-C, tt. 223-224.)  Sau đó, trong một cuộc tiếp kiến đại sứ Frederick Nolting (đại sứ từ 10-5-1961), khi Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế, tổng thống Diệm trả lời rằng “chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ ”.(10)   

Có tài liệu cho rằng từ năm 1961, Hoa Kỳ muốn thành lập căn cứ không quân và hải quân tại Cam Ranh, nhưng tổng thống Diệm không chấp thuận.(11)  Quả thật, cho đến năm 1964, sau khi tổng thống Diệm bị sát hại, th́ Đệ thất hạm đội của Hoa Kỳ mới đưa được một vài đơn vị vào tiền thám tại đây, và từ 1965 Hoa Kỳ chính thức thành lập căn cứ Hải quân.  Lúc đó, căn cứ nầy kiểm soát hoạt động toàn vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á.      

Tại Hoa Kỳ, khi c̣n tại chức, tổng thống Dwight Eisenhower chủ trương ủng hộ chính phủ hoàng gia Lào, đánh dẹp Pathet Lào, chận đứng các cuộc nổi dậy của cộng sản.  Lên thay Eisenhower, Kennedy thay luôn chính sách về Lào.  Kennedy giao cho Averell Harriman, mưu t́m một giải pháp chính trị để giải quyết chiến tranh ở Lào.  Harriman là phụ tá ngoại trưởng đặc trách Viễn đông (Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs) từ tháng 1 đến tháng 11-1961, và trở thành thứ trưởng Ngoại giao đặc trách về chính trị (Under Secretary of State for Political Affairs).  Harriman vận động triệu tập hội nghị quốc tế tại Genève nhằm trung lập hóa nước Lào.(12)      Hội nghị bắt đầu từ 16-5-1961 đến 23-7-1962, đưa đến hiệp định công nhận Lào là một nước độc lập và trung lập, do hoàng thân Souvanna Phouma làm thủ tướng.   

Hiệp định trung lập nước Lào bị chính phủ Diệm phản đối, v́ chính phủ Diệm lo ngại rằng Lào sẽ không đủ khả năng tự bảo vệ biên giới chống lại sự xâm nhập của cộng sản Việt Nam, tạo cơ hội cho quân Bắc Việt vào đất Lào, để rồi theo đường Trường Sơn, xuống quấy phá Nam Việt.  Lúc đầu, tổng thống Diệm không chịu kư vào bản hiệp định trung lập hóa nước Lào.  Điều nầy làm cho Harriman tức giận và căm ghét tổng thống Diệm.  Tổng thống Kennedy liền gởi thư cho tổng thống Diệm, bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ không trung lập hóa Nam Việt, và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt, để chống cộng sản.  Do áp lực từ phía Hoa Kỳ, tổng thống Diệm đành nhượng bộ, chấp nhận cho ngoại trưởng VNCH kư vào hiệp định nầy. (Mark Moyar, tt. 163-164.) 

Bên cạnh đó, từ giữa năm 1962, chính phủ Hoa Kỳ khá bận tâm về các nguồn tin cho rằng chính phủ Diệm đang ngầm liên lạc với nhà nước cộng sản Hà Nội.  Sự việc nầy bắt đầu vào mùa hè năm 1962, khi cố vấn Ngô Đ́nh Nhu cầm đầu phái đoàn Việt Nam qua Maroc (Morocco), thăm xă giao nước nầy.  Tại đây, ông Nhu gặp Antoine Pinay, lúc đó làm bộ trưởng Phủ tổng thống Pháp.  Pinay đề nghị một cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Hà Nội và Sài G̣n để bàn chuyện hiệp thương Nam Bắc.  Về lại Việt Nam, Ngô Đ́nh Nhu mượn cớ đi săn cọp, đă bí mật gặp tại B́nh Tuy một nhân vật cao cấp của cộng sản là Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị đảng Lao Đông.(13)   

Từ tháng 8-1962, Joseph A. Mendenhall, cố vấn chính trị Ṭa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n, đă đề nghị loại bỏ tổng thống Diệm, vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu và những người trong gia đ́nh ông Diệm, bằng một số nhân vật khác, v́ các ông Diệm Nhu không chịu thay đổi lề lối làm việc dù bị Hoa Kỳ áp lực. (Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tt. 256-257.)  Lề lối làm việc ở đây có nghĩa là chủ trương chính sách của tổng thống VNCH.  Như thế, có nghĩa là người Hoa Kỳ có ư định loại bỏ tổng thống Diệm trước khi xảy ra biến cố Phật giáo vào tháng 5-1963.   

Vào dịp Tết quư măo (25-1-1963), chủ tịch Bắc Việt là Hồ Chí Minh gởi một cành đào tặng tổng thống Nam Việt là Ngô Đ́nh Diệm.  Cành đào nầy được trưng bày trong Pḥng khánh tiết Dinh Độc Lập và trên cành đào có danh thiếp chúc Tết của Hồ Chí Minh.(14)   

Sau khi được đề cử làm ngoại trưởng ngày 24-8-1963, Trương Công Cừu mở cuộc tiếp tân đầu tiên ngày 25-8-1963 nhằm ra mắt ngoại giao đoàn tại Sài G̣n, đồng thời đón tiếp tân đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge.  Trong buổi tiếp tân nầy, cố vấn Ngô Đ́nh Nhu lần thứ nhất gặp Mieczylslaw Maneli, trưởng đoàn Ba Lan (Poland) trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến.  Ngô Đ́nh Nhu c̣n gặp Maneli lần thứ hai tại dinh Gia Long ngày 2-9-1963 bàn việc liên lạc với Hà Nội. (Chính Đạo, sđd. tr. 325 và tr. 339.)   

Chắc chắn t́nh báo Mỹ không bỏ sót chuyện Ngô Đ́nh Nhu liên lạc với cộng sản và chuyện cành đào Hà Nội ở Dinh Độc Lập trong dịp Tết năm 1963.  Để nắm vững t́nh h́nh, cuối tháng 9-1963, tổng thống Kennedy gởi bộ trưởng Quốc pḥng Robert McNamara cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài G̣n.  Ngày 29-9-1963, hai ông gặp tổng thống Diệm.  McNamara nói thẳng với tổng thống Diệm rằng việc đàn áp Phật tử gây trở ngại cho nỗ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đ́nh Nhu.  Tổng thống Diệm tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.   

Trong khi đó, báo chí Hoa Kỳ liên tục chỉ trích chính phủ Diệm, nhất là từ sau biến cố Phật giáo ở Huế (tháng 5-1963) và sau vụ chính phủ Diệm ra lệnh tấn công các chùa (tháng 8-1963).  Dư luận Hoa Kỳ cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài gia đ́nh trị, càng ngày càng mất ḷng dân, càng ngày càng kém hữu hiệu trong việc điều hành đất nước và chống lại du kích cộng sản.(Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tt. 357-361.)  

Năm 1963 là năm trước của năm bầu cử tổng thống Hoa Kỳ (1964).  Dư luận báo chí Hoa Kỳ năm 1963 rất quan trọng, có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử trong năm sau (1964).  Tổng thống Kennedy lo ngại t́nh h́nh Việt Nam ảnh hưởng xấu đến cuộc tái tranh cử của ông vào năm 1964.   

V́ tất cả những lư do trên, chính phủ Kennedy muốn t́m một giải pháp mới, nhằm thay đổi t́nh h́nh tại ViệtNam theo chiều hướng có lợi cho Hoa Kỳ, và có lợi cho sự tái tranh cử của Kennedy.   

 

4.-   MẬT ĐIỆN SỐ 243 NGÀY THỨ BẢY 24-8-1963

 Theo Trần Văn Đôn, nhóm đảo chánh của các ông không cho người Mỹ biết về dự tính đảo chánh. (TVĐ, sđd. tr. 209.)  Tuy nhiên, người Mỹ chẳng những biết việc nầy, mà c̣n yểm trợ việc nầy, v́ cũng Trần Văn Đôn kể rằng nhóm các ông kết nạp được Trần Thiện Khiêm vào tổ chức đảo chánh là nhờ người Mỹ. (TVĐ, sđd. tr. 193.)  Như thế nghĩa là người Hoa Kỳ giữ một vai tṛ quan trọng trong việc đứng làm trung gian liên kết nhân sự cho nhóm dự tính đảo chánh. 

Thật ra, như  đă tŕnh bày ở trên, người Hoa Kỳ đă nghĩ đến việc thay đổi nhà lănh đạo VNCH từ hơn một năm trước qua đề nghị của Joseph Mendenhall, cố vấn chính trị Ṭa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n, trong phiếu tŕnh đề ngày 16-8-1962. 

Sau biến cố Phật giáo ngày 8-5-1963 ở Huế, người đứng đầu Nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc Ṭa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, soạn một kế hoạch khẩn cấp ngày 23-5-1963 về các cách thay đổi chính phủ Diệm.  Sau khi Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngày 11-6-1963, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị ngày 14-6-1963 cho Ṭa đại sứ Sài G̣n xúc tiến kế hoạch thay tổng thống Diệm. 

Ngày 27- 6-1963, tổng thống Kennedy công bố quyết định thay đổi đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.  Thay đổi đại sứ trong lúc t́nh h́nh căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách, nhưng để yên ḷng chính phủ Việt Nam, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu ṭa đại sứ tại Sài G̣n cho tổng thống Diệm biết rằng chính sách của Hoa Kỳ không thay đổi, tiếp tục ủng hộ chính phủ Việt Nam chống cộng sản. (Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tr. 302.)  Tiếp tục ủng hộ công cuộc chống cộng của Việt Nam, không có nghĩa là ủng hộ cá nhân người điều hành chính phủ.  

Ngày 22-8-1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài G̣n và tŕnh uỷ nhiệm thư ngày 26-8-1963.  Trước đó hai ngày, 24-8-1963, Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh của một số tướng lănh. 

Ngày 24-8-1963 là thứ Bảy, tổng thống Kennedy, bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, bộ trưởng Quốc pḥng MacNamara, giám đốc CIA McCone đều đi nghỉ cuối tuần.  Thứ trưởng Ngoại giao George Ball, xử lư thường vụ ngoại trưởng, cùng Harriman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và kư tên mật điện 243 gởi cho Ṭa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n cùng trong ngày 24-8-1963, rồi chuyển cho tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk.  Hai ông nầy đồng ư cho gởi đi.  Nội dung đoạn cuối điện văn rất quan trọng, được dịch như sau: 

Chính phủ Hoa kỳ không thể dung dưỡng t́nh trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu.  Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách. 

Nếu ông [tức đại sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối th́ chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.”(15)   

Bức mật điện số 243 ngày 24-8-1963 trên đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị cho tân đại sứ Cabot Lodge yêu cầu tổng thống Diệm phải loại bỏ cố vấn Nhu.  (Đây là điều mà người Mỹ biết ông Diệm không bao giờ chịu làm.)  Nếu ông Diệm không chấp thuận, th́ loại bỏ luôn ông Diệm.  Nói cách khác, bức mật điện nầy ngầm cho phép đại sứ Lodge, nếu cần, có thể tiến hành đảo chánh, lật đổ tổng thống Diệm.  Cần chú ư: Averell Harriman, người chủ trương trung lập hóa Lào, bị tổng thống Diệm phản đối, là một trong bốn người soạn bản mật điện 243.  Hariman rất căm ghét tổng thống Diệm.  Phải chăng đây là dịp Harriman kiếm cách trả thù, v́ bản mật điện nầy có thể xem là tờ khai tử chế độ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm?

 

KẾT LUẬN 

Trong công cuộc cai trị, về đối nội, chính phủ Diệm chủ trương tập trung quyền lực, bị lên án là  độc tài gia đ́nh trị.  Chính phủ Diệm lại áp dụng một cách cứng rắn luật số 10 năm 1950 từ thời chính phủ Trần Văn Hữu, không công bằng giữa các tôn giáo.  Trong di chúc để lại cho con là vua Minh Mạng năm 1819, vua Gia Long đă dặn: “Không được ngược đăi tôn giáo, v́ đó là nguyên nhân gây rối loạn và đôi khi làm mất nước.”(16)   

Dầu chế độ Ngô Đ́nhDiệm chưa đến mức ngược đăi tôn giáo, nhưng việc thi hành một cách cứng rắn dụ số 10 đă làm bùng lên cuộc đấu tranh của giới Phật giáo, là thành phần chiếm đại đa số dân chúng Việt Nam.  Lúc đó, chắc chắn có nhiều thành phần từ  nhiều phía lợi dụng cuộc phản đối của Phật giáo để phá rối chính phủ Diệm và phá rối VNCH.  Trong khi đó, dù tổng thống Diệm và chính phủ tỏ thiện chí để giải quyết khủng hoảng, th́ vẫn có một số người trong chính quyền thiếu sáng suốt, gây thêm nhiều chia rẽ giữa chính phủ và dân chúng, như những lời tuyên bố của bà Ngô Đ́nh Nhu.  Cứ thế mâu thuẫn giữa hai bên càng ngày càng gay gắt thêm.   

Về đối ngoại, chính phủ Diệm chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ VNCH.  Hai ông Diệm và Nhu lại có sáng kiến ngoại giao trực tiếp với Bắc Việt để giải quyết chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc với nhau, chẳng những làm cho dư luận Việt hoang mang, mà c̣n làm cho chính phủ Mỹ nghi ngờ và bất b́nh, v́ người Mỹ bị hai ông đặt ra ngoài cuộc thương thuyết.   

Người Mỹ không quan tâm đến quyền lợi của người Việt mà chỉ lo lắng cho quyền lợi của Mỹ.  Vấn đề Phật giáo và đối lập chính trị tại Việt Nam chỉ quan trọng đối với người Việt, chứ không quan trọng đối với người Mỹ.  Người Mỹ dựa vào những vấn đề nầy, xúi giục và yểm trợ các tướng lănh đảo chánh lật đổ ông Diệm, v́ quyền lợi của Mỹ và v́ việc tái tranh cử của Kennedy mà thôi.  Sự tiếp tay của Ṭa đại sứ Mỹ và của đại sứ Henry Cabot Lodge đă góp phần quyết định trong sự thành công của cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963.  (Trích: Việt sử đại cương tập 6.) 

TRẦN GIA PHỤNG

(phungtrangia@yahoo.com)

CHÚ THÍCH

1.    Hai câu của cuộc trưng cầu dân ư chỉ hỏi truất phế hay không truất phế Bảo Đại và chấp thuận hay không chấp thuận Ngô Đ́nh Diệm làm quốc trưởng để đặt nền móng dân chủ, chứ không nói đến việc thành lập nền Cộng ḥa và nhất là không nói đến việc chọn Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống.

2.    Nhiều tác giả, Nhất Linh, Người nghệ sĩ - Người chiến sĩ, California: Nxb. Thế Kỷ, 2004, tr. 125.

3.    Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua: Việc từng ngày (1945-1964), Sài G̣n 1966, Xuân Thu California, tái bản không đề năm, tr. 75.(Viết tắt: Đoàn Thêm, sđd. tr.)

4.    Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975 (Tập I-C: 1955-1963), Nxb. Văn Hoá, Houston, 2000, tr. 278. (Viết tắt: Chính Đạo, I-C, sđd. tr.)

5.    Linh mục Cao Văn Luận, Bên gịng lịch sử Việt Nam, 1940-1975, Sacramento: TANTU Research, 1983, tr. 224, tr. 229.  Cần chú ư các điểm:  Cao Văn Luận là người đồng đạo với Ngô Đ́nh Thục và Ngô Đ́nh Diệm.  Lúc đó LM Cao Văn Luận đang làm viện trưởng Viện Đại học Huế.  V́ là linh mục và là viện trưởng Viện Đại học, nên LM Cao Văn Luận có điều kiện để tiếp cận các viên chức hành chánh và biết rơ các tin tức về biến cố nầy. (Viết tắt: CVL, sđd. tr.)

6.    Chính Đạo, Tôn giáo & chính trị, Phật giáo, 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 25.

7.    Có 4 dư luận khác nhau: 1) Dư luận thứ nhất cho rằng thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an, ra lệnh cho lực lượng dưới quyền ném chất nổ để giải tán đồng bào và gây thương vong. 2) Dư luật thứ hai cho rằng Việt cộng lợi dụng sự bất b́nh của dân chúng, cho nổ lựu đạn gây chết người rồi đổ lỗi cho chính quyền, nhằm đẩy cao ḷng bất măn của dân chúng đối với chính quyền. 3) Một ư kiến khác lúc đó cho rằng cả phía chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa lẫn phía du kích cộng sản cũng đều chưa có loại vơ khí gây nổ nầy, nhưng người ta không biết là của ai?  4) Ư kiến cuối cùng cho rằng người Mỹ liên hệ đến vụ nổ nầy. (dư luận cuối cùng nầy, theo Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những ngày cuối cùng của tổng thống Diệm, San Jose: Nxb. Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, in lần thứ hai, 2003, tt. 221-222.)

8.    Theo lời linh mục Cao Văn Luận, sau khi bị giải nhiệm chức viện trưởng Viện Đại học Huế, linh mục vào Sài G̣n và đến gặp giám mục khâm sứ Ṭa thánh La Mă tại Việt Nam.  Ông được giám mục khâm sứ Ṭa thánh La Mă cho biết có lúc ông Diệm theo lời khuyên của Đức giáo hoàng, dự tính băi bỏ những biện pháp cứng rắn đối với Phật giáo.  “Nhưng sau một phiên họp Hội đồng gia tộc thu hẹp không có bà Nhu, ông Cẩn, chỉ có ba người là ông Diệm, ông Nhu và Đức cha Thục, tổng Thống quyết định dùng biện pháp cứng rắn như đă ban hành ngày 21-8-1963.” (trích nguyên văn, L.M. Cao Văn Luận, sđd. tr. 271.)

9.    Theo lời thượng tọa Thích Trí Quang, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, ông bị bắt cùng với một số tăng ni và bị đưa về đồn Rạch Cát. (Trước 1975, Rạch Cát thuộc quận B́nh Chánh, nay thuộc quận B́nh Tân, TpHCM.)  Khi các tu sĩ Nam tông được thả ra, Thích Trí Quang thay áo một tu sĩ Nam tông, đến chùa Pháp Quang (chùa Nam tông) và thừa cơ hội trốn vào ṭa đại sứ Hoa Kỳ lúc đó c̣n ở trên đường Hàm Nghi. (Theo Thích Trí Quang, “Từ Rạch Cát tới ṭa đại sứ”.    

    <http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/27turachcat.html>. (Trích 1-2-2009.)

10.          Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, California: Nxb. Xuân Thu, 1989, tr. 173.(TVĐ, sđd. tr.)

11.          Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, sđd. tr. 532.  Tác giả Hoàng Ngọc Thành trích dẫn Richard Reeves, President Kennedy, Profile of Power, New York: Simon & Schuster, 1993, tr.  651.

12.          Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tr. 478.

13.          Mark Moyar, Triumph Forsaken, the Vietnam War, 1954-1965, Cambridge: Cambridge University Press, 2006, tr. 128. (Viết tắt: Mark Moyar, sđd. tr.)

14.          Theo lời kể của ông Cao Xuân Vỹ, hiện đang sinh sống tại California với ông Minh Vơ. (Minh Vơ, “Ba giờ nghe một nhân chứng”, Đàn Chim Việt, ngày 18-07-2007.)  Lúc đó, ông Cao Xuân Vỹ là tổng giám đốc Thanh Niên, và là phó tổng thủ lănh Thanh Niên Cộng Ḥa. Ngô Đ́nh Nhu là tổng thủ lănh.  Ngoài ra, theo Trần Văn Đôn, sđd. tt.183-184, đầu tháng 2-1963, trung tá Lê Văn Bường, tỉnh trưởng B́nh Tuy dùng xe Dodge 4x4 chở Ngô Đ́nh Nhu đến quận Tánh Linh, tỉnh B́nh Tuy.  Tới điểm hẹn, ông Nhu một ḿnh gặp Phạm Hùng.

15.          Minh Vơ, “Hoa đào và máu đào”, điện báo Đàn Chim Việt, ngày 31-10-2007.  Trong bài nầy, Minh Vơ dẫn chứng tài liệu của Francis X. Winter, The Year of the Hare [Năm con thỏ], Athens: University Georgia Press, 1997, tr. 12.[ Năm Con Thỏ theo người Trung Hoa, tức Năm Con Mèo, ở đây là năm Quư Măo (1963).]  Minh Vơ c̣n cho biết thêm hai nhân chứng:  1) Ông Lê Châu Lộc, tùy viên của tổng thống Diệm, hiện sinh sống ở California, kể lại rằng tự tay ông Lộc đă nhận cành đào đó từ trụ sở Uỷ Hội Quốc tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến (ICC).  2) Ông Quách Ṭng Đức, đổng lư văn pḥng Phủ tổng thống đă xác nhận việc cành đào trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, đăng nhiều báo ở Mỹ.

16.          Xin xem bản dịch điện văn phía dưới.

17.          Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Documents historiques, volume III, Paris: Librairie Orientale et Américaine, Maisonneuve Frères, Éditeurs, 1925, tr. 436.

18.           

BẢN DỊCH ĐIỆN VĂN SỐ 243 NGÀY 24-8-1963

 

"Bộ Ngoại Giao gởi Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n để thi hành ngay lập tức.
Tối Mật. Không được phép phổ biến.
Chỉ đích thân Đại Sứ Lodge mới được phép đọc mà thôi. Đối với CINPAC/POLAD th́ chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc mà thôi.
Theo CAS Sài G̣n 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320, Saigon 316, Saigon 329. [Các con số là những kư hiệu mật mă.]

Bây giờ th́ rơ là hoặc quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hoặc ông Nhu đă lừa họ. Ông Nhu đă lợi dụng t́nh trạng đó để tấn công chùa chiền bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với ông ta, làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới ngỡ lầm rằng quân đội làm. Hơn nữa, cũng thật quá rơ là ông Nhu đă âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy.

Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng t́nh trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.

Nếu ông [tức Đại Sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối th́ chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.

Kư tên: Hilsman, Forrestal, Ball, W.Everell Hariman ".

(Trích Internet: "Khui hồ sơ bí mật”, Ngô Kỷ tổng hợp và chuyển ngữ.)

 

 

 

 

 

 

 



Do Thi Thuan
 

 

 

 

 

 

Sau đây là những bằng cớ về họat động của tên cán bộ Sử gia nô Trần Gia Phụng trong hàng ngũ người Việt Quốc Gia (!).

Tên nầy cực kỳ nguy hiểm v́ từ lâu nó đă t́m cách hạ nhục vị anh hùng dân tộc Việt Nam, mà hạ nhục anh hùng dân tộc VN là chủ đích của bọn Đỗng Trác Tàu Cộng nhằm đô hộ VN.

Lư Do Cuộc Đảo Chánh Ngày 1-11-1963

Do chính những câu viết của y trong sự thẩm định "Lư do Cuộc Đảo chánh ngày 1-11-1963" và đối đáp với ông Lữ Giang trong bài

Viết cho đúng sự thật

mà chúng ta nhận chân được y là ai.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2009

nhuhungbui@yahoo.ca  

 

 

 

 <<< Trở về trang chính   Tổng thống NGÔ Đ̀NH DIỆM

 

 

Trả lời của "sử gia" Trần Gia Phụng trả lời bài Viết cho đúng sự thật  của Lữ Giang

VIẾT CHO ĐÚNG SỰ THẬT

Trần Gia Phụng

Trong bài tựa đề “Viết cho đúng sự thật” ngày 23-11-2009, ông Lữ Giang đă đề cập đến bài “Lư do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963” của tôi.  Tôi cảm ơn ông Lữ Giang đă viết bài phê b́nh bài viết của tôi, nhưng tôi thành thật thưa với ông, lối viết tự cao và khiêu khích cố hữu của ông chỉ gây thêm mâu thuẫn, chứ chẳng có ích lợi ǵ trong việc trao đổi, học hỏi với nhau.

Sở dĩ tôi nói chuyện học hỏi, v́ có lẽ ông cũng c̣n nhớ trước đây ông đă từng gởi sách qua nhờ tôi hiệu đính những sai lầm căn bản về kiến thức sử học của ông để ông xuất bản.  Nếu lúc đó tôi dùng ngôn ngữ trịch thượng, thiếu lễ độ với ông, th́ chắc chắn chẳng giúp ích ǵ cho ông Lữ Giang cả.  Bây giờ xem như ông hiệu đính bài tôi viết, th́ cũng tốt thôi nhưng với ngôn ngữ từ tốn th́ có lẽ hữu ích hơn.  Suốt đời chúng ta luôn luôn phải học hỏi, và tôi cũng đang khao khát học hỏi đây, ông Lữ Giang. 

Ông Lữ Giang chống việc chụp mũ “cộng sản” hay “chống cộng”, chống việc chụp mũ “lề trái” hay “lề phải”, nhưng ông Lữ Giang là người chụp mũ tất cả những ai viết trái ư ông là “lề phải”, rồi “phịa sử”, hết người nầy phịa sử đến người khác phịa sử, trong khi ông viết như thế nào, phịa hay không phịa, th́ thiên hạ biết rơ.

Một điều tôi muốn nói trước với ông Lữ Giang là tôi chưa bao giờ tự nhận tôi là “sử gia”.  Trong những lần phỏng vấn trên các đài phát thanh, truyền h́nh hay trên báo, tôi luôn luôn xác nhận tôi là người học sử, nghiên cứu sử và cố gắng viết sử, chứ chưa bao giờ tôi tự nhận tôi là sử gia.  Nếu có báo hay đài truyền thanh hay truyền h́nh gọi tôi là sử gia, th́ đó là quyền của họ, tôi không thể cấm họ được.  Ông Lữ Giang nên lưu ư là nếu tôi viết “phịa sử”, th́ người ta thấy ngay, hiểu ngay và không tử tế với tôi đâu.  Ông Lữ Giang cố gắng viết cho đàng hoàng, nghiêm túc, tự nhiên sẽ có nhiều người gọi ông là “sử gia”.  Ông khỏi phải nhọc công xoi mói.

Bây giờ, tôi xin trả lời từng điểm ông Lữ Giang (LG) đă đưa ra.

1)  Chuyện ải Nam Quan:  Dù ông LG nói lui nói tới theo ư của ông, nhưng ông không thể chối căi rằng ải Nam Quan có hai nghĩa: ải Nam Quan là một cái đèo hay đoạn đường đèo và kiến trúc trên đèo.  Trên đoạn đường đèo đó có hai phần kiến trúc: kiến trúc của Trung Hoa và kiến trúc của Việt Nam.  Ngang qua mặt ải do người Trung Hoa xây trước là ranh giới giữa hai nước.  H́nh ảnh vẫn c̣n đó.  Bây giờ, Trung Cộng đă nuốt luôn công tŕnh kiến trúc của Việt Nam và nuốt luôn đoạn đường đèo đó, thưa ông Lữ Giang.  Nếu ông bảo tôi phịa, th́ xin hỏi ông công tŕnh kiến trúc về phía Việt Nam do người Pháp chụp h́nh c̣n lưu lại, nay nằm ở đâu?

2)  Bài đăng báo:  Bài “Lư do cuộc đảo chánh 1-11-1963” tôi không đăng trên dconline.net (LG viết 2 lần trong bài của LG), mà tôi đăng trên danchimviet online edition.  Xin lưu ư ông LG có hai web site là D.C.V. Online và Danchimviet online edition. Tôi đăng trên Danchimviet online editionDanchimviet online edition cũng không sợ ông đến nỗi như ông nói mà rút bài tôi lại.  V́ bài vở càng ngày càng chồng chất, nên những bài gởi lâu phải vào hồ sơ lưu trữ, nhường chỗ cho bài khác.  Không phải riêng danchimviet online mà báo nào cũng thế.  Bây giờ ông LG cứ vào kho lưu trữ của web site nầy th́ sẽ thấy ngay bài tôi vẫn c̣n đó.  Như vậy, không biết ông LG hấp tấp lộn địa chỉ web site, hay cố t́nh phịa ra để cho oai, v́ người ta sợ bài của LG nên phải cất bài TGP?  Mới nhập đề đă thấy ai phịa rồi?

3)   Ai ban hành dụ số 10?:  Tôi viết: “Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại.”  Ông LG tỏ ra rất hiểu biết về pháp luật, nhưng sau khi nói quanh co một đoạn về Trần Văn Tuyên, ông LG lại viết: “Ông [luật sư Trần Văn Tuyên] đă tŕnh Thủ tướng Trần Văn Hữu phê chuẩn và gởi qua Pháp cho Bảo Đại kư, v́ lúc đó Bảo Đại đang ở Pháp.”  Trước sau ǵ cũng Trần Văn Hữu và B3o Đại.  Vậy tôi viết đúng sự thật hay tôi phịa ra, thưa ông LG?

4)  Ở mô cũng như rứa (từ ngữ của LG):  Ông LG cho rằng: "ông Trần Gia Phụng không hề biết rằng các quốc gia lớn trên thế giới (như Pháp và Mỹ) cũng quy định không khác ǵ Dụ số 10, v́ Dụ số 10 cóp luật về hiệp hội của Pháp.”  Ông nói đúng, tôi không hề biết và cũng không cần biết những điều trên thế giới, v́ biết để làm ǵ?  Tôi chỉ cần biết tại Việt Nam, dưới thời chính phủ Ngô Đ́nh Diệm,  việc treo cờ được quy định như vậy, và được chính quyền Diệm giải thích và thi hành theo cách của chính phủ Diệm, chứ không thi hành theo cách các nước ngoài. 

Giải thích và thi hành của chính phủ Diệm như thế nào th́ cở tuổi chúng ta, ông và tôi ai cũng biết.  Nếu nói đến tài liệu của Đỗ Mậu hay của Vũ Ngự Chiêu ông đều chê, th́ mời ông vào thêm những tài liệu khác của Trần Văn Đôn, Nguyễn Trân, và nhất là tài liệu của linh mục Cao Văn Luận (chương 13: “Chế độ bắt đầu nứt rạn”).  Linh mục Luận là một tu sĩ Ky-Tô giáo, không lẽ lại phịa ra để nói không tốt về ông giám mục và ông tổng thống đồng đạo hay sao?

Sau đây là lời LM Cao Văn Luận nói với đại sứ Nolting ngày 14-5-1963 tại Sàig̣n: "Cách đây chỉ ít tháng, có nhiều cuộc lễ bên Công giáo, như lễ tựu chức của giám mục (Ngô Đ́nh Thục], và các cuộc rước kiệu, bên Công giáo đă treo cờ khắp nơi bên ngoài khuôn viên nhà thờ, sao lúc ấy không có lệnh cấm, và không thi hành  lệnh cấm một cách nghiêm chỉnh.” (L.M. Cao Văn Luận, Bên gịng lịch sử 1940-1975, Sacramento: TanTu Research tái bản, 1983, tr. 233.)  Như thế, trong việc thi hành luật của chính phủ Diệm có khác nhau giữa Công giáo và Phật giáo không, thưa ông LG?  Chính cái khác nhau đó giải thích câu “chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia-Tô…”, chứ cần chi phải giải thích dài ḍng.

5)  Dụ số 10 không quy định việc treo cờ:  Theo ông LG giải thích, dụ số 10 không quy định việc treo cờ mà việc treo cờ được ấn định trong văn kiện bộ Nội vụ năm 1962.  Thưa ông LG, đó là văn kiện nào thế?  Văn kiện đó xuất hiện ngày nào, xin ông LG vui ḷng cho biết để chúng ta cùng vào Công báo Việt Nam Cộng Ḥa t́m lại.  Tôi cũng cần t́m lại để học hỏi thêm.  C̣n tướng Trần Tử Oai là đại diện của chính phủ Diệm, th́ phải nói tốt cho chính phủ Diệm, chứ tướng Oai biết nói ǵ hơn?  Nếu ông LG là luật sư bào chữa, ông luôn luôn phải nói tốt cho thân chủ của ông. Trường hợp tướng Trần Tử Oai, nếu ông Oai nói khác th́ sẽ bị lột lon, cách chức nếu không th́ đi tù. [Tôi xin thêm: Tôi đă bỏ nhiều thời giờ để t́m trong sách Hai mươi năm qua của Đoàn Thêm về văn kiện của bộ Nội vụ năm 1962 mà LG ông nói đến, nhưng tôi không thấy.  Ông LG có gặp trong sách đó th́ xin cho tôi biết.]

Riêng tài liệu mà tôi có, th́ nghị định số 358-BNV/KS ngày 9-7-1963 ấn định thể lệ treo cờ Phật giáo, và nghị định số 396/NV/KS ngày 29-7-1963 áp dụng thể lệ treo cờ cho các môn phái công nhận Phật giáo kỳ.  (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964 việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tt. 254, 256.) Hai nghị định nầy xuất hiện sau biến cố Phật giáo ở Huế và trước khi phái đoàn Phật giáo Thế giới đến Sài G̣n ngày 24-10-1963, nên tướng Trần Tử Oai mới dựa vào đó để trả lời.  Ở đây, ông LG ghi thêm một điểm phịa nữa là văn kiện của bộ Nội vụ kư vào tháng 7-1963 được ông Lữ Giang hóa phép thành năm 1962, để bào chữa cho lập luận của ông.  Ai phịa thế ông Lữ Giang?

6)  Ngụy luận v́ thiếu hiểu biết:  Ông LG viết: “Điều thứ 44 (không phải điều 45 như ông Trần Gia Phụng nói) của Dụ số 10 có quy định: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô và các Hoa kiều Lư sự hội sẽ ấn định sau.”  Căn cứ vào điều luật này, các tăng sĩ Phật giáo đấu tranh và ông Trần Gia Phụng cho rằng Dụ số 10 đă ưu đăi Thiên Chúa Giáo (không nhắc ǵ đến Hoa Kiều Lư Sự Hội)! “ (Ông LG in đậm)

Như đă tŕnh bày ở trên, luật lệ là một việc, giải thích và thi hành là một việc.  Cách giải thích của ông LG dựa vào sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Pháp và Quốc Gia Việt Nam theo Hiệp định Élysée.  Nếu chính phủ Diệm hiểu như vậy, và tỏ ra công b́nh trong việc treo cờ th́ làm ǵ sinh chuyện?  Đàng nầy, chính phủ Diệm hiểu theo cách của chính phủ Diệm:  Đó là “Chế độ đặc biệt” nghĩa là không bị ràng buộc vào dụ số 10 nên như lời LM Cao Văn Luận nói với đại sứ Nolting:  “bên Công giáo đă treo cờ khắp nơi bên ngoài khuôn viên nhà thờ, sao lúc ấy không có lệnh cấm, và không thi hành một lệnh cấm một cách nghiêm chỉnh”.  Trong trường hợp nầy ai là người ngụy luận và thiếu hiểu biết thưa ông LG?  Không lẽ là LM Cao Văn Luận?

7)  Chuyện “Bể tan v́ chế độ đặc biệt” không liên hệ đến bài nầy.

8)  Chuyện giám mục Ngô Đ́nh Thục vận động để dược phong hồng y: Ông LG đưa ra ba điều kiện để được phong hồng y: “1) Nếu lúc đó Toà Thánh Vatican muốn nâng một giáo sĩ Việt Nam lên làm Hồng Y th́ người đó phải là Tổng Giám Mục Hà Nội hay Sài G̣n chứ không phải là Huế.  (2) Số giáo dân được rửa tội hàng năm đều phải ghi vào sổ rửa tội và báo cáo cho Toà Thánh biết, nên ông Diệm không thể muốn bắt ghi bao nhiêu giáo dân cũng được. (3) Việc suy cử một giáo sĩ làm Hồng Y thường dựa vào đề nghị của Hội Đồng Giám Mục và Khâm Sứ Ṭa Thánh chứ không bao giờ dựa vào những chuyện vớ vẫn như thế.

Không ai căi những điều ông LG đưa ra, nhưng đây là những điều kiện để Ṭa thánh Vatican xét phong hồng y; c̣n việc vận động để được phong hồng y là hoàn toàn chuyện khác.  Nguyễn Tất Thành khi đến Paris năm 1911 đâu có đủ điều kiện để vào học trường Thuộc Địa Paris, mà vẫn làm đơn xin nhập học.  Do đó giám mục Thục vận động là một việc, c̣n Ṭa thánh Vatican chấp thuận hay không là việc khác.  Lúc đó, mới xin ông LG mở luật của Ṭa thánh ra. 

Nếu sống trên đời ai cũng thực hiện đúng theo luật lệ th́ làm ǵ có chuyện mà bàn.  Khổ nỗi, có nhiều người xem thường luật lệ, muốn làm theo ư ḿnh mới sinh ra nhiều chuyện.  Mời ông LG hăy đọc câu nói của giám mục Ngô Đ́nh Thục với LM Cao Văn Luận tại Huế ngày 9-5-1963: "Những anh công chức và quân nhân nào mà treo cờ Phật giáo hôm ấy, tôi sẽ cho nó lên Ban Mê Thuột hay Pleiku. C̣n mấy anh “trọc” chùa Từ Đàm nếu cứ lộn xộn th́ sẽ cho đi Côn đảo.”(Cao Văn Luận, sđd. tr. 232.)  Đây là tôi trích nguyên văn lời tường thuật của một linh mục Ky-Tô giáo La Mă chứ không phải là “phịa sử”, thưa ông Lữ Giang.  Ông Ngô Đ́nh Thục quyền uy như  thế th́ chuyện ông vận động để được phong hồng y là chuyện có thể xảy ra.  Giám mục Thục vận động làm hồng y là chuyện dân chúng lúc đó bàn tán xôn xao và một số tài liệu ghi lại.    Ngoài việc vận động để được phong hồng y, trong giới Ky-Tô hữu, ai cũng biết những hoạt động của giám mục Thục.  Có lẽ ông LG không cần nhắc chuyện dài của giám mục Thục bị Đức giáo hoàng treo chén v́ phạm luật sau năm 1975?  Có cần thiết không ông LG?

9)   Viết theo “lề đường bên phải”:  Như trên đă nói, bất cứ ai không viết theo ư ông LG đều bị ông LG chụp cho một cái mũ là “phịa sử”, “lề phải, lề trái”, trong khi chỉ riêng trong phạm vi bài nầy, tôi đă chứng minh ông LG hơn một lần phịa chuyện.

Riêng tôi, tôi học sử và viết lại lịch sử theo những điều tôi hiểu biết và tôi cố gắng tránh thiên vị và quá khích.  Bằng chứng là khi viết về “lư do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963”, tôi viết rằng tổng thống Ngô Đ́nhDiệm chủ trương tập trung quyền lực.  Có người viết e-mail trách tôi là sao không nói ông Diệm độc tài mà lại nói tập trung quyền lực? 

Có thể tôi viết sai v́ sức học kém, v́ ít đọc tài liệu, v́ những tài liệu tôi dùng bị sai, nhưng chắc chắn không phải tôi viết theo lề bên phải hay bên trái.  Dầu sao, tôi vẫn cảm ơn ông Lữ Giang v́ nhờ ông tôi mới có cơ hội viết thêm về một số vấn đề tôi chưa viết.

Có một điều cần nhấn mạnh là cá nhân người nào làm th́ người đó chịu trách nhiệm, đừng v́ cá nhân đó theo tôn giáo nầy hay tôn giáo khác mà đưa vấn đề thành sự đối đầu tôn giáo rất nguy hiểm.  Ví dụ trường hợp tôi viết về chế độ Ngô Đ́nh Diệm, th́ chế độ Diệm có điểm tốt mà cũng có điểm không tốt.  Rủi một điều là cái điểm không tốt nguy hại nhất cho chế độ Diệm chính là vụ treo cờ Phật giáo mà ai đă từng ở miền Trung, nhất là ở Huế và Đà Nẵng đều thấy và biết.  Chuyện nầy cũng được các tác giả Ky-Tô giáo viết lại, ví dụ cụ thể nhất là linh mục Cao Văn Luận.  Từ cái điểm không tốt nầy mới nẩy sinh ra đủ thứ chuyện, làm sụp đổ chế độ Diệm.  Cái điểm không tốt nầy thuộc về trách nhiệm cá nhân hai ông Ngô Đ́nh Thục và Ngô Đ́nh Diệm chứ không liên hệ ǵ đến Ky-Tô giáo cả.  Phải tách bạch rơ ràng như thế để tránh những hiểu lầm đáng tiếc, những chụp mũ vu vơ.

Như thế, tôi đă trả lời ông LG từng điểm một.  Cuối cùng, v́ ông đă dùng một điển tích cũ để kết luận bài của ông, nên tôi cũng xin phép dùng một điển tích cũ để kết luận bài nầy.  Trong Phật pháp, chuyện xưa kể rằng một hôm Đức Phật đến truyền giáo tại một xứ nọ, có một người đàn bà đến dâng lễ lên Đức Phật.  Ngài biết rằng người đàn bà nổi tiếng hỗn láo trong làng, nên Ngài hỏi: "Ngươi biếu cho ta những thứ nầy, nếu ta không nhận th́ ngươi làm ǵ?”  Bà ta trả lời "Nếu ông không nhận th́ tôi đem về.”  Đức Phật ôn tồn bảo: "Lâu nay ngươi hỗn hào chửi rủa người ta, người ta không nhận, vậy người hăy nhận lại đi.” 

Vâng tôi xin tặng ông Lữ Giang câu chuyện nầy để từ nay về sau, ông phê b́nh lịch sự, nghiêm túc, tôi xin tiếp thu, học hỏi.  C̣n nếu với ngôn ngữ như trong bài viết “Viết cho đúng sự thật”, th́ xin ông tự mang về, chứ sẽ tôi không trả lời. 

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 24-11-2009)

 

 <<< Trở về trang chính   Tổng thống NGÔ Đ̀NH DIỆM

 

 

 

   NHẬN ĐỊNH của Ts HỒNG LĨNH

   về bài  Viết cho đúng sự thật  của Lữ Giang

From: Ts Hong Linh <honamtran5@yahoo.fr>
Date: 2009/11/24
Subject: [DDCL] Re : [VN-Politics] Viet cho dung su that

Lữ Giang nói qúa đứng :

 

"Ông Trần Gia Phụng nghiên cứu khá nhiều sử liệu, nhất là cổ sử, nhưng khi tŕnh bày, ông thường cố gắng viết “theo lề đường bên phải”, viết cho “hợp với ḷng dân”, hợp với dư luận ngoài phố hơn là sự thật"  

B́nh luận:

Trí thức của Việt Nam, trước một vấn đề, luôn chạy quanh. Lư do: Họ luôn đặt cái thành công cá nhân của ḿnh trước tất cả. Rồi sinh ra mưu vặt.

Nói chung là mắc bệnh thiếu thẳng thắng ngay với chính ḿnh. Khi sự ngay thẳng đă không cho chính ḿnh, thời cho người khác sẽ c̣n tệ hại hơn.

Cho nên khi bắt tay vào một cái ǵ, trí thức luôn có hậu ư. Cho nên các việc lớn đều hỏng hết. Hỏng v́ những lư do đen tối của cá nhân.  

Hồng Lĩnh    

 

NÓI CHO RƠ VỀ DỤ SỐ 10

Ông Trần Gia Phụng đă viết như sau:

“Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6.8.1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5 chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ  Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều. Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”.

Đây là những chuyện biạ đặt và dựng đứng v́ thiếu hiểu biết về luật pháp và lịch sử.

1.- Ai ban hành Dụ số 10?

Dụ là một đạo luật, chỉ có vua, quốc trưởng hay tổng thống mới có quyền ban hành. Thủ tướng không có quyền. Vậy ai đă ban hành Dụ số 10 ấn định quy chế hiệp hội cho toàn nước Việt Nam?

Dụ số 10 không phải do chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ban hành hay do thực dân Pháp để lại như Giáo Hội Ấn Quang đă xác quyết. Dụ này do Bảo Đại kư tại Vichy, Pháp, ngày 6.8.1950, được đăng vào Công Báo Việt Nam số 33 ngày 19.8.1950.

Dưới thời Pháp thuộc, trên đất nước có nhiều quy chế lập hội khác nhau do chính quyền Nam Triều và chính quyền Pháp ban hành. Tại Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp, và các vùng nhượng địa của Pháp như Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Pḥng, quy chế hiệp hội ấn định do Luật về Hiệp Hội 1901 (Les associations loi 1901) và các văn kiện kế tiếp của Pháp được áp dụng. T́nh trạng này không phù hợp với một quốc gia độc lập và thống nhất nữa.

Theo Luật sư Trần Văn Tuyên kể lại, sau khi chính phủ Nguyễn Phan Long được thiết lập do Sắc Lệnh số 6/QT ngày 21.1.1950 của Quốc Trưởng Bảo Đại, chính phủ này đă quyết định biên soạn một quy chế hiệp hội chung cho cả nước. Nhưng công việc này chưa hoàn tất th́ cuối tháng 4 năm 1950 chính phủ Nguyễn Phan Long bị giải tán. Chính phủ Trần Văn Hữu được thiết lập do Sắc Lệnh số 37/CP ngày 6.5.1950 để thay thế chính phủ Nguyễn Phan Long. Trong chính phủ mới này, Luật sư Trần Văn Tuyên được cử làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông cho biết khi ông làm Bộ Trưởng được ít lâu th́ Phủ Thủ Tướng nhận được dự luật về quy chế lập hội do Bộ Nội Vụ và Bộ Tư Pháp phối hợp soạn thảo và đệ tŕnh. Ông đă xem và thấy đa số các điều khoản chính trong dự luật này đều dựa theo quy chế lập hội của Pháp với một số sửa đổi cho phù hợp với t́nh h́nh tại Việt Nam lúc đó. Ông đă tŕnh Thủ Tứng Trần Văn Hữu phê chuẩn và gởi qua Pháp cho Bảo Đại kư, v́ lúc đó Bảo Đại đang ở Pháp.

Luật về Hiệp Hội 1901 của Pháp vẫn c̣n được áp dụng ở Pháp cho đến ngày nay. C̣n Dụ số 10 ngày 6.8.1950 vẫn được áp dụng tại miền Nam cho đến ngày 30.4.1975 và khi ra hải ngoại, các đoàn thể của người Việt khi soạn nội quy cho các đoàn thể của ḿnh cũng thường phỏng theo Dụ này.

2.- Ở mô cũng như rứa!

Khi phê phán Điều 1 của Dụ số 10 “sắp các tôn giáo, trừ  Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...)” ông Trần Gia Phụng không hề biết rằng các quốc gia lớn trên thế giới (như Pháp và Mỹ) cũng quy định không khác ǵ Dụ số 10, v́ Dụ số 10 cóp luật về hiệp hội của Pháp. Điều 1 của Dụ số 10 đă quy định như sau:

“Hội là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.

“Muốn có hiệu lực th́ hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.”

Rơ ràng là điều 1 của Dụ số 10 đă phỏng theo điều 1 của luật về hiệp hội của Pháp năm 1901:

“L'association est la convention par laquelle deux ou plusieurs personnes mettent en commun d'une façon permanente leurs connaissances ou leur activité dans un but autre que de partager des bénéfices. Elle est régie quant à sa validité, par les principes généraux du droit applicable aux contrats et obligations.”

Ở Mỹ, hầu hết các hiệp hội bất vụ lợi đều được thiết lập v́ lư do tôn giáo, bác ái, văn học, khoa học hay giáo dục.

Luật thuế vụ liên bang của Mỹ [Federal 501(c)(3) Status] đă định danh 5 thứ hiệp hội bất vụ lợi có thể được miễn thuế, đó là các hiệp hội có mục đích bác ái, các tổ chức khoa học (scientific organizations) , các tổ chức giáo dục (educational organizations) , các hiệp hội có mục đích văn học, và các nhóm tôn giáo (religious groups)

Trong bài thuyết pháp trong chương tŕnh “Tiếng Từ Bi” vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài phát thanh Little Saigon ở Orange County, Hoà Thượng Chơn Thành có nói rằng “trong thời Pháp thuộc thực dân Pháp đưa Phật Giáo vào trong cái tṛng của Đạo Dụ số 10 gióng như là một hiệp hội đá banh, hiệp hội đua ngựa, vân vân...” Luận điệu này đă được ông Trần Gia Phụng nhai lại như đă nói trên. Nay qua Mỹ, Hoà Thượng Chơn Thành cũng đưa Phật Giáo vào hội non-profit v́ mục đích tôn giáo để có thể hoạt động hợp pháp và được miễn thuế, nó có khác ǵ hoạt động theo Dụ số 10 ở Việt Nam đâu? Ở mô cũng như rứa. Qua Pháp lại càng gióng hơn.

Thật ra, Giáo Hội cũng chỉ là một hiệp hội, nhưng người Thiên Chúa Giáo gọi là Giáo Hội (Church) v́ đó là chữ được dùng trong Thánh Kinh (Mat. 16,19). Không hiểu năm 1964, khi 11 tổ chức Phật Giáo Việt Nam thành lập một tổ chức Phật Giáo thống nhất, họ cũng dùng chữ Giáo Hội (Church). Vậy chữ Church đó lấy từ đâu?

3.- Dụ số 10 không quy định việc treo cờ

Ông Trần Gia Phụng đă căn cứ vào điều nào trong Dụ số 10 để nói rằng “Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”? Chúng tôi tin chắc khi viết như vậy, “đại sử gia” Trần Gia Phụng chưa bao giờ được đọc bản văn Dụ số 10 nên đă nói bừa. Trong Dụ số 10 không có điều khoản nào quy định như vậy cả.

Năm 1962, Bộ Nội Vụ đă ban hành văn kiện ấn định thể thức treo cờ tại những nơi thờ tự trong những buổi lễ tôn giáo theo sự thỏa thuận của các tôn giáo. Trong buổi thuyết tŕnh cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc điều tra vụ Phật Giáo, Tướng Trần Tử Oai có nhấn mạnh: “Như thế, sự quy định của Chính Phủ về vấn đề treo cờ là chung cho tất cả các tôn giáo không có thiên vị tôn giáo nào.”

4.- Nguỵ luận v́ thiếu hiểu biết

Điều thứ 44 (không phải điều 45 như ông Trần Gia Phụng nói) của Dụ số 10 có quy định: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô và các Hoa kiều Lư sự hội sẽ ấn định sau.”

Căn cứ vào điều luật này, các tăng sĩ Phật giáo đấu tranh và ông Trần Gia Phụng cho rằng Dụ số 10 đă ưu đăi Thiên Chúa Giáo (không nhắc ǵ đến Hoa Kiều Lư Sự Hội)! Đây là một lối nguỵ luận v́ thiếu hiểu biết. Chúng tôi tin chắc rằng các tăng sĩ đấu tranh và “đại sử gia” Trần Gia Phụng chưa bao giờ đọc biên bản h́nh thành Dụ số 10 hay phỏng vấn những người tham gia h́nh thành Dụ số 10 nên đă ngụy luận như vậy.

Theo thỏa Ước Việt – Pháp được kư kết giữa Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol của Pháp tại điện Élysée ngày 8.3.1949 và các hiệp định thi hành thỏa ước này được Quốc Trưởng Bảo Đại và Cao Ủy Pháp Pignon kư ngày 30.12.1949 tại Toà Đô Chánh Sài G̣n, Pháp công nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng, liên hệ ngoại giao riêng, v.v. Tuy nhiên, Khoản I của thỏa ước đă đưa ra một giới hạn như sau:

“Sự cai trị các sắc dân không phải là người Việt Nam... sẽ được cứu xét bằng quy chế riêng… Các quy chế này phải được sự thỏa thuận của Đại Diện Chính Phủ Cộng Hoà Pháp Quốc, vẫn c̣n có trách nhiệm đối với họ.”

Từ năm 1960, khi chưa có vụ Phật Giáo, ông Vũ Quốc Thông, Giáo Sư Đại Học Luật Khoa Sài G̣n, giải thích rằng việc quy định những vấn đề liên quan đến chính sách ngoại giao hay các luật lệ liên quan đến người Pháp và ngoại kiều sinh sống tại Việt Nam, đều phải có sự đồng ư của Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, chính phủ Việt Nam mới được ban hành. Do đó, muốn ban hành các quy chế về các hội truyền giáo của Thiên Chúa Giáo và của Hoa Kiều đang hoạt động tại Việt Nam như Société des Missions Etrangères de Paris, Protestant Mission, Chinese Congregations, v.v..., đều phải có sự đồng ư của Pháp mới ban hành được.

(Vũ Quóc Thông, Việt Nam Tự Do, Chính Thể Cộng Ḥa Nhân Vị, Nguyệt san Quê Hương số 16, ngày 16 tháng 10 năm 1960, tr. 1 - 39 và 247 – 262).

Công Giáo Việt Nam lúc đó đang đặt dưới quyền của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (Société des Missions Eùtrangères de Paris) của Pháp và có một quy chế riêng do Pháp ấn định. Ngày 27.12.1886 Pháp cũng đă chính thức hóa quy chế bang hội của người Hoa tại Việt Nam và đặt dưới sự kiểm soát của Pháp. Theo thỏa ước Élysée, muốn ấn định quy chế của hai tổ chức này, Việt Nam phải tham khảo ư kiến của Pháp trước khi quy định. V́ thế, điều 44 Dụ số 10 phải quy định: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia tô và các Hoa Kiều Lư Sự Hội sẽ ấn định sau.”

Như vậy, một “chế độ đặc biệt” được nói ở đây không phải để ưu đăi Thiên Chúa Giáo và các Hoa Kiều Lư Sự Hội, mà v́ bị kẹt thỏa ước Élysée. Vă lại, lúc đó ngoài Công Giáo ra, đă có tôn giáo nào thành lập Giáo Hội đâu mà nói chuyện ưu đăi hay không ưu đăi?

Điều đáng tiếc là các nhà sư đấu tranh lại vinh vào điều 44 của Dụ số 10 như một nguỵ luận để chống ông Điệm và nay được “đại sử gia” Trần Gia Phụng nhai lại!

Sau này, Bộ Nội Vụ cũng đă soạn một quy chế tôn giáo theo mô thức của Pháp, nhưng khi chính phủ Phan Huy Quát đem ra hỏi ư kiến th́ bị các tôn giáo phản đối mạnh mẽ nên phải dẹp bỏ.

5.- Bể tan v́ “chế độ đặc biệt”

Sau cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963, 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo đă họp tại Chùa Xá Lợi và ngày 4.1.1964 và biểu quyết một Bản Hiến Chương thành lập Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, đưa ra những quy định nằm trên và ngoài luật pháp quốc gia. V́ thế, khi bản Hiến Chương này được tŕnh lên Bộ Nội Vụ, Bộ này đă chiếu Dụ số 10, ban hành Nghị Định số 329-BNV/KS ngày 24.3.1964 cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phép thành lập trong khôn khổ luật lệ hiện hành. Nghị Định này do Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trưởng Nội Vụ kư tên.

Tuy nhiên, khi Tướng Khánh lên làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng kiêm Thủ Tướng, để lấy ḷng Phật Giáo, Tướng Khánh đă kư Sắc Luật số 158-SL/CP ngày 14.5.1964 phê chuẩn Hiến Chương nói trên, ban cho GHPGVNTN một “chế độ đặc biệt” nằm trên và ngoài luật pháp quốc gia. Chính “chế độ đặc biệt” này và những tranh chấp nghiêm trọng và đẩm màu trong nội bộ đă làm GHPGVNTN bể thành Giáo Hội Ấn QuangGiáo Hội Việt Nam Quốc Tự. Chính phủ đă ban hành Sắc Luật số 023/67 ngày 18.7.1967 chuẩn y Hiến Chương ngày 14.3.1967 của Giáo Hội Việt Nam Quốc Tự và thu hồi Hiến Chương của Giáo Hội Ấn Quang khiến Giáo Hội này phải hoạt động ngoài ṿng luật pháp.

Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Giáo Hội Ấn Quang lại bể thành giáo hội quốc doanh và giáo hội không quốc doanh. Ra hải ngoại, giáo hội này lại bể ra thành Giáo Hội Liên Tông và Giáo Hội Ấn Quang. Mới đây, đa số các tổ chức Phật Giáo hải ngoại đă thành lập GHPGVNTN Liên Châu tách ra khỏi GHPGVNTN của Ḥa Thượng Quảng Độ. Điều này cho thấy một “chế độ đặc biệt” là rất tai hại.

Những dẫn chứng trong phần này đă cho thấy ông Trần Gia Phụng là người viết sử rất cẩu thả, không nghiên cứu đến nơi đến chốn trước khi viết, ngay cả Dụ số 10 ông cũng chưa hề đọc mà dám viết về Dụ này!

CHUYỆN GIẢ MẠO SỐ GIÁO DÂN

Ông Trần Gia Phụng dẫn chứng rằng Đức Tổng Giáo Mục Ngô Đ́nh Thục đă ngụy tạo số giáo dân trong tổng giáo phận Huế của ông để vận động làm Hồng Y, đưa tới biến cố Phật Giáo năm 1963. Đây là một chuyện hoàn toàn bịa đặt.

Thật ra, ông Trần Gia Phụng chỉ nhai lại luận điệu của Thích Trí Quang, một thiền sư đại vọng ngữ (nói điều sai quấy) trong thế kỷ 20 của Phật Giáo Việt Nam, đưa tới nhiều nghiệp chướng liên tục và kéo dài.

Trong tập “Tiểu truyện tự ghi” Thích Trí Quang có nói đến nguyên nhân đưa đến biến cố Phật Giáo năm 1963 như sau:

Vatican điều tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô đ́nh Thục, sao mà Phật giáo nhiều quá: Phật đản th́ cờ Phật giáo đầy 2 bên đường từ Huế ra Lavang, kiệu đức mẹ th́ từ Lavang vào Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô đ́nh Diệm bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh ḿnh báo cáo là giáo dân, và Phật đản 2507 (1963) th́ triệt hạ cờ Phật giáo để Vatican thấy dân Huế theo anh ḿnh hết rồi.”

 

Đây là chuyện không không thể xẩy ra được v́ ba lư do chính sau đây:

(1) Nếu lúc đó Toà Thánh Vatican muốn nâng một giáo sĩ Việt Nam lên làm Hồng Y th́ người đó phải là Tổng Giám Mục Hà Nội hay Sài G̣n chứ không phải là Huế.

(2) Số giáo dân được rửa tội hàng năm đều phải ghi vào sổ rửa tội và báo cáo cho Toà Thánh biết, nên ông Diệm không thể muốn bắt ghi bao nhiêu giáo dân cũng được.

(3) Việc suy cử một giáo sĩ làm Hồng Y thường dựa vào đề nghị của Hội Đồng Giám Mục và Khâm Sứ Ṭa Thánh chứ không bao giờ dựa vào những chuyện vớ vẫn như thế.

Những dẫn chứng trong đoạn này cho thấy ông Trần Gia Phụng đă cố ư dựa vào những sự kiện nhảm nhí để viết sử!

VIẾT THEO “LỀ ĐƯỜNG BÊN PHẢI”

Trong bài nói trên, “đại sử gia” Trần Gia Phụng c̣n viết nhiều phịa sử khác, chúng tôi sẽ nói sau. Khi lời cảnh cáo của chúng tôi được gởi qua email, h́nh như bài nói trên của “đại sử gia” Trần Gia Phụng đă được rút ra khỏi nhiều websites, kể cả dcvonline.net.

Thời Xuân Thu, Thôi Trữ sau khi giết vua Tề, ra lệnh cho Thái Sử Bá phải ghi vào sử: “Tề Trang Công bị bạo bệnh mà chết”. Thái Sử Bá ghi: “Năm Ất Hợi, tháng Năm, Thôi Trữ giết vua”. Thôi Trữ nổi giận lôi Thái Sử Bá ra chém.

Thái Sử Bá có 3 người em là Trọng, Thúc và Quí, nối nghiệp nhà làm chức Thái Sử. Trọng thay anh, cũng chép y như thế và bị giết. Thúc kế nhiệm, cũng làm y thế và cùng chung số phận. Đến phiên người em út là Quí, cũng làm không khác ba người anh đă chết. Thôi Trữ hỏi Thái Sử Quí:

- Ba anh của nhà ngươi v́ chép như thế mà đă chết cả, ngươi không sợ chết sao?

Thái Sử Quí trả lời:

- Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử. Nếu làm không đúng chức phận để cầu mạng sống th́ thà chết c̣n hơn.

Không lẽ bây giờ chỉ v́ một hai cái thư phản kháng hay một chiếc xe Van đậu ở bên đường dọa biểu t́nh mà người viết sử và người làm thông tin đă sợ, phải viết theo “lề đường bên phải” sao? Như vậy làm sao đánh thắng Cộng Sản?

Ngồi mát ăn bát vàng, hèn hơn những người đấu tranh ở trong nước nhiều!

Ngày 23.11.2009

Lữ Giang

 

 

from Ts Hong Linh <honamtran5@yahoo.fr>
reply-to DienDanCongLuan@yahoogroups.com

to lugiang2000@vinet.com,
VN-Politics@yahoogroups.com

cc srtuoi@yahoo.com, trinhnguyen55@yahoo.com, DienDanCongLuan@yahoogroups.com, PhoNang@yahoogroups.com, HoiNghi@yahoogroups.com, SGHN_9@yahoogroups.com, diendan_binhluan@yahoogroups.com, VN-Time@yahoogroups.com, ThaoLuan@yahoogroups.com, DienDanTinTuc@yahoogroups.com, NGHILUAN@yahoogroups.com, ....

http://mail.google.com/mail/?hl=fr&shva=1#label/NDD/12527d9abc2e5dce

  

 

 <<< Trở về trang chính   Tổng thống NGÔ Đ̀NH DIỆM

 

 

 <<< Trở về trang chính     ĐẠI CÁO TRẠNG

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage