Suy nghĩ về ngày 01-11-1963
Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm:
“Nhắm mắt bắt chước nước
ngoài khác ǵ nhận trước sự bảo
hộ của ngoại bang.”
(Bài 1)
Vơ Phương
Trong
cuộc chiến đấu chống Đế Quốc Đỏ
Nga-Tàu, tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm có cùng chung mục tiêu với
Hoa Kỳ là ngăn chận làn sóng CS
từ phương Bắc tràn xuống phía
Nam trong vùng Đông Nam Á Châu ,
nhưng cụ Diệm không hoàn toàn
chấp nhận sách lược của Hoa Kỳ.
Ngài có đường lối riêng để chỉ
đạo cuộc chiến ở Nam Việt-Nam.
Ngay từ những năm sau Hiệp Định
Geneva 1954, với Quốc sách Ấp
Chiến Lược (sau chương tŕnh Khu
Trù Mật/Ấp Dinh Điền) được xem
là một đơn vị hành chánh nhỏ
nhất của chính quyền miền Nam
dùng để chống du kích quân VC.
Trong đó, chủ trương
Tam túc:
tự
túc về tư tưởng; tự túc về tổ
chức và tiếp liệu; tự túc về kỹ
thuật. Về tư tưởng, có thể
được hiểu theo ư nghĩa ‘Nhân Vị’,
nghĩa là mỗi con người sinh ra
đă có sẵn một vị trí xứng đáng
trong sinh hoạt xă hội. V́ thế,
cần phải tôn trọng sự tự do suy
tư của mỗi cá nhân trong công
việc, có mối liên hệ chặt chẽ
đến phúc lợi chung của toàn xă
hội, bao gồm cả các nguyên tắc
về lănh đạo, chỉ huy trong ư
thức tự chủ và dân chủ. Trong
tinh thần đó, tổng thống Diệm đă
dứt khoát không để bất kỳ một
ngoại bang nào, chen vào nội bộ,
giành quyền quyết định trong các
vai tṛ lănh đạo, chỉ huy từ
trung ương đến địa phương. Chính
người Việt Nam phải chủ động
hành sử quyền hạn đó của ḿnh.
Nếu nh́n về cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp,
vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái
Học đă khẳng định
‘không thành công, cũng thành
nhân’, th́ trong cuộc đối
đầu với thực dân Pháp và CSVN nô
lệ Nga-Tàu, chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm
cũng khẳng định
‘hoặc có tất cả hoặc không’
(tout
ou non/all or nothing),
chứ
không chấp nhận ‘hư vị’.
Chính v́ không chấp nhận ‘hư vị’,
và v́ những đ̣i hỏi về chủ quyền
quốc gia của nhà yêu nước họ Ngô
không được người Pháp quan tâm,
cho nên ngài đă từ chức Thượng
Thư Bộ Lại (tuơng đương chức Thủ
Tướng) dưới triều vua Bảo Đại.
Sau đó, ngài cũng đă từ chối
chức Bộ Trưởng Nội Vụ do Hồ Chí
Minh mời gọi v́ ngài không ưa CS
và cũng v́ chính Hồ C. Minh đă
giết anh của ngài là cụ Ngô Đ́nh
Khôi. Chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm chỉ
chấp nhận làm điều có ích thực
sự cho quốc gia, có lợi thực sự
cho dân tộc, và chỉ bắt chước
người khác một cách có chọn lọc.
Hơn nữa, đối với tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm, chủ quyền Quốc Gia là
tối thượng, cho nên tổng thống
Diệm đă tuyên bố với kư giả Mỹ,
bà Marguerite Higgins rằng:
“Nhắm
mắt bắt chước nước ngoài khác ǵ
nhận trước sự bảo hộ của ngoại
bang.”
Sau Hiệp Định
Geneva 1954, khi là
đồng minh của Mỹ, tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm biết ơn sự yểm trợ
của họ, nhưng cụ đă thẳng thừng
tuyên bố
‘Việt Nam không phải là xứ bảo
hộ của Mỹ’. Chính v́ lập
trường Dân Tộc cứng rắn, cho nên
không phải chỉ có Cộng Sản căm
ghét tổng thống Diệm, mà cả Thực
dân Pháp lẫn ‘đồng
minh’ Hoa Kỳ cũng t́m cách
ám hại ngài, v́ ngài đă
“cứng đầu” không chịu làm
theo ư muốn của họ. Tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm có thể hy sinh
tánh mạng, chứ nhất quyết
“không muốn bị coi như bù nh́n
hay tay sai của Mỹ” .
Trong khi đó, Hồ
Chí Minh có thể làm tay sai cho
bất cứ ai. Hắn ta đă từng làm
tay sai cho OSS (tiền thân CIA)
của Mỹ, tay sai của Pháp, tay
sai của Nga và của Tàu. Hắn ta
cũng đă khẳng định:
“Tôi không có tư tưởng nào ngoài
tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê-Nin”.
Lời khẳng định của của họ Hồ thể
hiện rơ tinh thần yếu hèn, óc nô
lệ ngoại bang. Trong lịch sử dân
tộc, có lẽ Hồ Chí Minh là người
duy nhất có tư tưởng đê hèn,
đáng hổ thẹn:
“Thà ngửi cứt thằng Tây ít lâu,
c̣n hơn suốt đời ăn cứt thằng
Tàu".
[Plutôt
flairer un peu la crotte des
Francais que manger toute notre
vie celle des Chinois
– Paul Mus,
"Vietnam, Sociologie d'une
guerre",
Paris, Seuil, p. 185]. Đúng
là lư luận và tư tưởng xuất phát
từ bộ óc của một tên bồi tàu cho
thực dân. Lời tuyên bố trên c̣n
có ư lường gạt để chữa thẹn khi
hắn ta bị dân chúng phản đối
việc kư Hiệp Định Sơ Bộ
6-3-1946, rước Pháp trở lại
Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Mục đích nhờ
Pháp hậu thuẫn và công nhận vai
tṛ lănh đạo Việt Minh của hắn
và sẽ tiến tới vị trí
“cha già dân tộc” sau này.
Đồng thời mượn tay Thực dân Pháp
tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia,
nại cớ là các đảng phái Quốc Gia
phá hoại Hiệp Định Sơ Bộ (v́ các
đảng phái Quốc Gia không chấp
nhận Hiệp Định Sơ Bộ nhục nhă
này). Xong xuôi, hắn ta quay trở
lại nhờ Tàu đánh Pháp
(1946-1954), tạo ra 9 năm kháng
chiến chống Pháp, mà thực ra
không cần thiết, v́ nước ta đă
lấy lại chủ quyền từ tay Nhật (với
chính phủ Bảo Đại và Trần Trọng
Kim) chứ không phải từ tay Pháp.
Từ đó, Hồ Chí Minh và đồng bọn
đă ‘ăn kít’ Tàu cho đến bây
giờ.* * *
Vào đầu thập niên
1960, ở Nam Việt Nam, v́ lầm
tưởng rằng chính sách ngoại giao
‘kẻ cả’ của ḿnh sẽ dễ dàng
thành công trên đường chống CS,
cho nên tổng thống Mỹ John F.
Kennedy đă ngạo mạn, coi thường
chính sách của tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm. Ông Kennedy đă để
thuộc cấp lộng hành, vượt quá
phạm vi quyền hạn của một ‘đồng
minh’; t́m cách
loại bỏ cố vấn chính trị Ngô
Đ́nh Nhu, bào đệ của tổng
thống
và
nếu cần th́ loại bỏ cả tổng
thống Diệm “cứng đầu” ra
khỏi chính trường. Chủ trương
“Diem must go” của chính
quyền Kennedy với hy vọng khi
thay đổi người lănh đạo, th́ cục
diện Việt Nam sẽ có cơ hội tốt
hơn, v́ họ cho rằng tổng thống
Diệm không có khả năng chống
Cộng. Đối với Tổng Thống Diệm,
dù là loại bỏ bất cứ ai ra khỏi
chính quyền của cụ, mà không do
chính cụ định đoạt, đều xúc phạm
trầm trọng đến uy quyền quốc gia.
Về phía chánh quyền Kennedy, v́
nóng ḷng muốn loại bỏ tổng
thống Diệm, nhưng lại muốn che
giấu bàn tay tội lỗi của ḿnh,
cho nên đă tung tiền ra, thuê
mướn đám “tướng tá phản loạn”
hiếu
danh ham
lợi, thảm sát tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm và cố vấn chính
trị của ngài là bào đệ Ngô Đ́nh
Nhu vào sáng ngày 02-11-1963.
Anh em tổng thống
Diệm bị hạ sát sáng ngày
02-11-1963, th́ ngay trong buổi
chiều hôm đó, nữ kư giả
Marguerite Higgins, người thường
bám sát tổng thống Diêm để viết
báo, đă hỏi Roger Hilsman, Phụ
tá Bộ trưởng Ngoại giao đặc
trách Đông Á vụ, một người trong
nhóm chủ mưu giết tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm và ông cố vấn chính
trị Ngô Đ́nh Nhu, rằng:
“Bàn
tay ông đă nhuốm máu, ông thấy
thế nào?” Hilsman
lạnh lùng trả lời:
“Ồ
Maggie, thôi mà. Cách mạng th́
phải gian khổ. Máu đổ thịt rơi.”
(sách
Bàn Tay Hoa Kỳ Cái Chết Ông Diệm,
trang 285, chuyển
ngữ của Vũ Văn Ninh&Trần Ngọc
Dung, nguyên tác của nữ tiến sĩ
Ellen J. Hammer).
Thế nhưng chính
quyền Kennedy đă lầm to! Liên
tục nhiều năm sau khi anh em
tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị giết,
cục diện chính trường và chiến
trường miền Nam đă chẳng thay
đổi tốt hơn mà c̣n dẫn đến nhiều
hệ luỵ xấu hơn, cho cả Việt Nam
Cộng Ḥa và Mỹ. Khi đề cập đến
t́nh h́nh này, giáo sư Sử học
Hoàng Ngọc Thành, trong cuốn
‘Công và Tội Của Chủ Tịch Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam
1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt
Nam’, trang 606, đă viết:
“T́nh
h́nh miền Nam trở nên hỗn loạn,
các tín đồ Phật Giáo và Thiên
Chúa Giáo xung đột với nhau trên
các đường của các thành phố
lớn,
các đồng chí cộng sản thừa dịp
xúi giục xung đột, gây hỗn loạn
thêm nữa. Vụ đảo chánh của
Nguyễn Khánh mở màn cho 5 vụ đảo
chánh kế tiếp và chỉ trong năm
1964, miền Nam có đến 7 chính
phủ. Trước t́nh trạng như vậy,
ngay cả thứ trưởng Harriman, một
trong những nhân vật tích cực
chủ trương lật đổ tt NĐD trước
kia, cũng phải thốt ra rằng
thời ông Diệm khá
hơn nhiều.”
Sách đă dẫn ở
trên, trang 607&608
tác giả Hoàng Ngọc Thành cho
biết thêm:
“Sự
kiện chính quyền John F. Kennedy
mưu đồ đảo chánh kiểu thực dân
và gây ra sự ám sát một nguyên
thủ đồng minh là một sự phản bội
đáng trách và dẫn đến việc Hoa
Kỳ tham chiến tại Việt Nam.
Trái lại khi gặp
gỡ cựu bộ trưởng quốc pḥng Mỹ
McNamara trong một hội thảo rút
các bài học về trận chiến tranh
trong tháng 11-1995, đại tướng
Vơ Nguyên giáp và một số đồng
chí thời chiến của ông đă lập
luận rằng chính sách của chính
quyền John F. Kennedy về Việt
Nam đă sai lầm đưa đến thất bại.
Ngô Đ́nh Diệm, theo họ, là một
người quốc gia, ông không bao
giờ cho phép người Mỹ nắm quyền
chỉ đạo trận chiến tranh, đưa cả
Hoa Kỳ và đồng minh Sài G̣n
không may đến sự bại trận tốn
kém. Vậy vụ đảo chánh lật đổ
Diệm năm 1963 là sự kết thúc sớm
và đáng ngạc nhiên nhiều về sự
can thiệp của Hoa kỳ tại Việt
Nam.”
Sự thể đă quá rơ
ràng, cuộc
“cách mạng 01-11-1963” ở Nam
Việt-Nam không phải do “đám
tướng tá phản loạn” tự ḿnh chủ
mưu, tự ḿnh hành động mà do
chính quyền Kennedy ‘organised’,
‘set in motion’, ‘sponsored’,
‘encouraged’. Nếu Mỹ không ‘organised’,
không ‘set in motion’, không
‘encouraged’ và không
‘sponsored’ th́ chắc chắn đám
phản loạn không dám hành động.
Cho nên, nếu t́m đến ư nghĩa
thực của sự kiện 01-11-1963, th́
đây chỉ là một vụ mưu sát và cố
sát mang tính chất h́nh sự do
ngoại bang núp trong vỏ bọc
‘ngoại giao’ chủ mưu và bỏ tiền
ra thuê mướn đám tướng tá phản
loạn thực hiện, chứ không phải
là cuộc Cách Mạng theo đúng
nghĩa của nó. Do đó, câu trả lời
của Hilsman đối với câu hỏi của
bà Higgins ở trên, hoàn toàn sai
trái, đầy ư nghĩa nguỵ biện, bẩn
thỉu và dă man trong vai tṛ
đồng minh đối với Việt Nam
Cộng Ḥa. Không ai có thể chấp
nhận được câu trả lời ngang
ngược đầy máu của Roger Hilsman.
Xét về hành động
của phe cánh ngoại giao Hilsman,
Harriman, Cabot Lodge, tuy dă
man, dơ bẩn, nhưng nếu xét về
quyền lợi của nước Mỹ, th́ họ
chỉ đáng trách chứ không đáng
nguyền rủa. Riêng đám tướng tá
phản loạn chỉ nhắm vào danh và
lợi cá nhân, chia chác nhau 3
triệu đồng tiền Việt Nam Cộng
Ḥa (tương đương 40 ngàn
dollars), số tiền mà chính quyền
Kennedy thuê để giết người, mới
thực sự đáng ghê tởm và đáng
nguyền rủa.
Nh́n tổng quát về
quá khứ, đám phản loạn sau cái
gọi là “cách mạng 01-11-1963” đă
chẳng có một đường lối ‘cách
mạng’ nào, ngoài việc thả cán hộ
VC như Mười Hương, Lê Câu, v.v…;
giết kẻ thù của VC như ông Phan
Quang Đông, là người đă có công
rất lớn trong tổ chức biệt kích
của Việt Nam Cộng Ḥa; phá bỏ
thành quả Ấp Chiến Lược của cụ
Diệm mà VC rất e ngại; đám phản
loạn chỉ biết ngồi nh́n quân
đồng minh tự ư ồ ạt tiến vào
miền Nam như chốn không người,
rồi lại ồ ạt rút lui.
Sau hơn 10 năm
kịch chiến không thành công,
cuối cùng phải tuyên bố đầu hàng
giặc Cộng vào trưa ngày
30-4-1975; đưa đến thảm họa 3
triệu người thương vong, quê
hương bị tàn phá trầm trọng,
hàng trăm ngàn người chết trên
đường vượt biên, vượt biển, hàng
trăm ngàn người khác bị đưa vào
các trại lao tù khổ sai của VC,
hàng ngàn cặp vợ chồng tan nát
v́ thủ đoạn cướp vợ cướp con tù
cải tạo, hàng vạn gia đ́nh ly
tán, hàng ngàn người không nơi
nương tựa sau khi trở về từ vùng
“kinh tế mới”. Như thế th́
việc lật đổ Tổng Thống Diệm chỉ
có một ư nghĩa duy nhất là thay
cái ‘tốt’ đă có sẵn bằng cái
‘xấu’ vào ngày 2-11-1963; rồi
đến 30-4-75 đảng giặc Đỏ lại
thay cái ‘xấu’ bằng cái ‘tồi tệ’.
Thực tế đă cho thấy, cái
‘tồi tệ’ cứ tiếp diễn măi cho
đến ngày nay. Rơ ràng, đối với
người dân miền Nam, chẳng có ư
nghĩa ǵ là ‘cách mạng’ sau 2
lần ‘thay ngôi đổi chủ’, mà chỉ
có ‘cách mạng’ riêng cho đảng
Mafia ở Hanoi mà thôi. Dĩ nhiên,
không ai phủ nhận, miền Nam sau
ngày 2-11-1963, tuy quyền tự chủ
trên chiến trường bị giới hạn v́
quan niệm ‘người nào chi tiền
nhiều, người ấy chỉ huy’, nhưng
tự do/dân chủ vẫn c̣n được duy
tŕ cho đến khi giặc Đỏ tràn vào
Saigon.
Tài liệu c̣n cho
biết thêm, kể từ khi ông
Ellsworth Bunker được cử làm đại
sứ Hoa Kỳ tại Saigon năm 1967
“với
nhiệm vụ bí mật, chuẩn bị việc
rút quân chiến đấu ra khỏi miền
Nam Việt Nam”
(sách
Cuộc
Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ, trang 27,
chuyển ngữ Nguyễn Văn Hùng,
nguyên tác Stephen B.Young);
không hề thấy một sách lược độc
lập, tự chủ nào của Saigon được
tuyên bố, khả dĩ thay thế những
lỗ hổng, một khi quân
đồng minh rút khỏi miền Nam
Việt Nam. Chính v́ không biết rơ
ư định của
đồng minh, không có viễn
kiến chính trị, không có khả
năng tiên liệu bất trắc, chỉ
trông chờ
đồng minh viện trợ,
bật đèn xanh lúc nào làm lúc
đó, nên đám tướng tá phản loạn
đă không tránh khỏi thất bại vào
trưa ngày 30-4-1975. Khi thất
bại th́ đám này sẵn sàng đào tẩu
hoặc đầu hàng giặc, mặc kệ thuộc
cấp và dân t́nh ra sao th́ ra.
Khi c̣n chức quyền, đám phản
loạn không nghĩ được điều căn
bản là: chẳng có một đồng minh
nào có thể tốt bụng đến độ viện
trợ cho không, lại c̣n hy sinh
xương máu, tốn công, tốn của để
lo cho sự an nguy của đồng bào,
Tổ Quốc của người dân nước khác.
V́ biết trước
điều đó, tổng thống Diệm t́m
cách bớt dần lệ thuộc vào ‘viện
trợ’ Mỹ, từng bước tiến tới tự
lực tự cường, mới hy vọng mang
chủ quyền thực sự về cho dân tộc,
và như thế mới vô hiệu hóa được
cái loa tuyên truyền láo khoét
“chống Mỹ cứu nước”của giặc Cộng.
Nhưng đang thực hiện th́ bị phản
bội. Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đă tiên
liệu, nếu miền Nam rơi vào tay
giặc Cộng Hanoi, th́ cả nước sẽ
rơi vào tay giặc Tàu. Thật vậy,
ngày nay cứ nh́n thái độ hung
hăng của giặc Tàu trên Biển Đông
th́ thấy rơ, trước đây nó đă tận
t́nh giúp đỡ đảng giặc đỏ ở
Hanoi “đánh Tây đuổi Mỹ” cũng
chỉ v́ dă tâm, âm mưu cướp đất,
cướp biển của Tổ Quốc Việt Nam.
Đảng giặc đỏ ở Hanoi đă không
nh́n thấy điều hệ trọng đó mà
chỉ thấy quyền lợi riêng của
đảng! Và với sự giúp sức đắc lực
của các quan thái thú Tàu biết
nói tiếng Việt ở Hanoi, giặc Tàu
đă thực hiện thành công ư đồ đó.
Mặc dầu lũ Vẹm cứ lớn tiếng
tuyên truyền về “tinh thần quốc
tế vô sản”, nhưng đến nay mới
thấy rơ hơn, chẳng có “tinh thần
quốc tế vô sản” nào cả, mà chỉ
có quyền lợi của Đảng Giặc Tàu
liên kết với Đảng Giặc Đỏ Hanoi
để chia phần, để bán tài nguyên,
để phá nát lănh thổ và biên
cương của tiền nhân ta để lại.
Xét về quyền lợi
của Mỹ, cho dù
chính quyền Kennedy có cho
rằng chính sách chống CS của
Tổng Thống Diệm kém hữu hiệu, có
thể ảnh hưởng xấu đến kế hoạch
của họ ở Á Châu đi nữa, th́ họ
cũng không thể ngang nhiên chà
đạp lên Hiến Pháp Việt Nam Cộng
Ḥa -- một nước có chủ quyền và
đang là
đồng minh của Hoa kỳ -- thay
đổi nhân sự, thay đổi cơ chế
lănh đạo theo ư riêng của họ
được. Nếu đám phản loạn nghĩ
được điều sơ đẳng này, th́ đất
nước đă không loạn, cục diện
Việt Nam đă khá hơn, dân miền
Nam đă không rơi vào thảm cảnh
‘quốc phá gia vong’.
Phải nói, ngay cả
khi, nếu cho rằng Tổng Thống
Diệm có lỗi đi nữa, th́ quyền
quyết định về số phận cụ Diệm là
quyền của toàn dân miền Nam. Cụ
phải được đưa ra ṭa án, nhận
phán quyết của ṭa án, chứ không
phải phán quyết của của Kennedy,
Harriman, Hilsman, hay Cabot
Loge và lũ đồ tể người Việt đâm
thuê giết mướn. Nên nhớ rằng:
sau ngày chia đôi đất nước
20-7-1954, Hoa Kỳ tự ư công nhận
Chính Quyền của Thủ Tướng Diệm
là
đồng minh, tự ư chuyển viện
trợ từ tay Pháp sang tay Việt
Nam Cộng Ḥa, chỉ sau khi thủ
tướng Diệm chiến thắng B́nh
Xuyên vào năm 1955. Chính quyền
Mỹ hành động như thế không v́
quyền lợi của dân tộc Việt Nam,
lại càng không v́ quyền lợi của
thủ tướng Diệm. Mà đó là v́
quyền lợi chung của toàn thể
‘Thế Giới Tự Do’ trong vùng Đông
Nam Châu Á, trong đó có miền Nam
Việt-Nam. Quyền lợi đó, lúc ấy,
phù hợp với quyền lợi của Mỹ vào
giai đoạn cuộc
‘chiến tranh lạnh’ với Cộng
Sản Nga đang tiếp diễn. Đến khi
không cần thiết phải hợp tác nữa
th́ miền Nam Việt-Nam cũng chỉ
là con số không to tướng đối với
chính quyền Mỹ.
Thực sự th́ đám
chóp bu chủ mưu lật đổ tổng
thống Diệm như: T.T. Kennedy,
Thứ trưởng Ngoại giao Averell
Harriman, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại
giao đặc trách Đông Á vụ Roger
Hilsman, Đại sứ Cabot Lodge,
v.v… không hề có một chút kinh
nghiệm nào, khả dĩ đấu tranh hữu
hiệu chống CS Hanoi, con đẻ của
Nga-Tàu vào thời điểm ấy, mà họ
chỉ thích dùng vũ khí và đạn
dược để giải quyết vấn đề. Họ đă
chẳng hiểu ǵ về “bản chất của
cuộc chiến”. Bằng chứng là sau
khi đám tướng tá tồi bại hạ sát
tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và cố
vấn chính trị Ngo Đ́nh Nhu, t́nh
h́nh chính trị miền Nam đă trở
nên rối ren liên tục như đă nêu
trên, làm mồi cho VC lợi dụng.
Ngoài ra, c̣n phải kể thêm, kinh
tế lệ thuộc vào viện trợ Mỹ
nhiều hơn, đời sống xă hội miền
Nam khó khăn hơn, lương bổng của
lính và công chức ít oi hơn, vợ
con lính sống khổ hơn, chiến
trường đă trở nên sôi động hơn,
phụ nữ đi bán ‘bar’ nhiều hơn;
trên chiến trường máu đổ thịt
rơi nhiều hơn, ở cả hai miền Nam
- Bắc từ 1965 (mà trước kia chỉ
xảy ra ở miền Nam, sau này v́ kế
hoạch đánh bom Hanoi bằng không
quân Mỹ đă làm dân cả hai miền
Nam-Bắc khốn đốn, nhưng sau cùng
th́ Hanoi vẫn thắng). T́nh h́nh
này có lợi cho xảo kế tuyên
truyền
“chống Mỹ cứu nước” của
Hanoi nhiều hơn. Từ đó, nó lấy
cớ xua quân vào miền Nam nhiều
hơn.
Tạo
ra t́nh h́nh đó, chính quyền Mỹ
và đám tướng tá phản loạn đă vô
t́nh khuếch đại cái loa tuyên
truyền
“chống Mỹ cứu nước” giùm cho
Hanoi trên chính trường quốc tế.
Qua âm thanh khuếch đại đó, thế
giới đă nhầm lẫn, ngay cả dân
chúng Mỹ cũng đă nhầm lẫn hơn là
nh́n thấy thực tế dân sinh của
cả 2 miền Nam Bắc Việt-Nam. Qua
bức màn sắt, truyền thông báo
chí thế giới không thể nh́n thấy
“đại hùng binh” Nga-Tàu và các
nưóc CS khác đang trá h́nh, đứng
đàng sau hậu trường chính trị
Hanoi. Mà chỉ nh́n thấy thực
trạng ở miền Nam. V́ nhầm lẫn,
cho nên cộng đồng thế giới đă
không c̣n thiện cảm với miền Nam
như thời tổng thống Diệm cầm
quyền nữa; họ tưởng chính quyền
nền đệ nhị Cộng Ḥa chỉ là một
thứ tay sai của Mỹ, nhưng không
hoàn toàn đúng như vậy. Nương
theo lợi điểm đó, Hanoi không
thèm nói chuyện với Saigon. Tổng
thống Thiệu đ̣i ngồi ngang hàng
với Hànoi ở bàn hội nghị mà
không được, nó không thèm đếm
xỉa đến, mà nó chỉ nói chuyện
với Hoa Kỳ. Lúc đó, Saigon chỉ
được phép nói chuyện với tay sai
của Hanoi là Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam. Ḥa đàm Paris (4 bên)
năm 1973, do Henry Kissinger và
Lê Đ. Thọ đạo diễn, là liều
thuốc tự tử mà chính quyền
Saigon bị bắt buộc phải uống.
Do đó, toàn dân ta mới phải gánh
chịu đại thảm họa ‘nước mất nhà
tan’ vào trưa ngày 30-4-1975,
một sự kiện đau thương nhất
trong lịch sử dân tộc. Ngược lại,
giặc Tàu là người đă thủ đắc lợi
lộc nhiều nhất sau khi miền Nam
VN rơi vào tay đảng Mafia ở
Hanoi.
Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm, cố vấn
chính trị Ngô Đ́nh Nhu, ông Ngô
Đ́nh Cẩn là các nạn nhân trực
tiếp của
đồng minh
phản bội và
tay sai phản loạn. Cả 3 ông
đă hiểu thấu đáo bản chất của CS
Hanoi chỉ là một lũ tay sai của
QTCS đệ Tam, hiếu chiến, nhiều
lươn lẹo. Những người theo CS,
theo nhận định của ông Ngô Đ́nh
Cẩn, phần đông bị bắt buộc hoặc
chỉ v́ bị lầm lẫn qua xảo thuật
tuyên truyền bịp bợm của Hanoi.
Họ cần phải được thuyết phục,
chiêu hồi bằng chính nghĩa, cần
phải đưa họ về với dân tộc bằng
con đường ḥa b́nh nữa, chứ
không thể chỉ đơn thuần bằng nhà
tù hay biện pháp quân sự. Chính
sách
“Chiêu Mời Và Sử Dụng Những
Người Kháng Chiến Cũ”
do
ông Cẩn đề ra đă đạt thành quả
mỹ măn. Xin nêu một vài chứng
minh, trích nguyên văn
trong cuốn
‘Ḍng Họ Ngô Đ́nh Ước Mơ Chưa
Đạt’, trang 99,
tác
giả Nguyễn Văn Minh, Hoàng
Nguyên xuất bản, tái bản lần thứ
tư tháng 7-2004:
“Lê
Phước Thưởng, tỉnh uỷ viên Tỉnh
Đảng bộ Thừa Thiên đă bị bắt.
(Lê
Phước Thưởng một người cựu kháng
chiến
cảm phục ông Cẩn
đến độ, sau 30-4-75, ở trong tù
cải tạo luôn luôn sẵn sàng đánh
lộn với người nào nói xấu ông
Cẩn hoặc Đoàn Công Tác Đặc Biệt
Miền Trung. Người từng chứng
kiến những vụ đánh lộn của Lê
Phước Thưởng là cựu Tr T. Lê
Thiện Phước ở tù chung với
Thưởng)”.
Cùng
trang 99 nêu trên:
“Nguyễn Đ́nh Chơn, Thành ủy viên
Thành ủy Huế là người đầu tiên
thực tâm chuyển hướng đă được
trả cấp bậc Thiếu tá Cảnh sát,
làm Trưởng ty Cảnh sát Đặc Biệt
Gia Định cho đến ngày 30-4-1975,
đi tù cải tạo và hiện đă định cư
tại Hoa Kỳ theo diện H.O.”
Số cán bộ VC hoạt động ở
miền Nam vĩ tuyến 17 càng ngày
càng cạn dần thấy rơ, mới chỉ
sau 2 năm chính sách ‘Chiêu Mời’
của ông Cẩn đề ra.
Bài 2)
Tổng thống Diệm
cũng hiểu cả các tổ chức, các
phe phái trong hoàn cảnh xă hội
hỗn loạn, nhiều xu hướng chính
trị phức tạp “thập nhị sứ quân”
ở miền Nam do Thực Dân Pháp và
Cộng Sản để lại. Đặc biệt là cụ
Diệm biết rất rơ các nhu cầu
thiết yếu của đời sống nông dân
(chiếm 80% dân số Việt Nam) ở
vùng quê và vùng núi là những an
toàn khu của Việt Cộng cần phải
vô hiệu hóa. Cho nên chỉ trong
ṿng 2 năm sau Hiệp Định Geneva
(1955-1957), với ngân quỹ trống
rỗng, với binh lực vá víu, nhưng
chính quyền tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm không những đă chiến thắng
đám tay sai Thực Dân Pháp, mà
c̣n chiến thắng CS ở Nam Việt
Nam, rất vẻ vang, dẫn đến cải
tiến sâu rộng toàn bộ xă hội
miền Nam, mà trước đó, tưởng
chừng như không một ai có thể
thực hiện nổi. V́ thế mà tổng
thống Mỹ Dweight D. Eisenhower
đă gọi tổng thống Ngô Đ́nh Diệm
là người có phép lạ (A Miracle
Man) trong công cuộc ổn định
miền Nam Việt Nam. Tổng thống
Diệm được mời đến thăm nước Mỹ
trong Tháng Năm 1957, đă được
tổng thống Eisenhower ra tận
chân cầu thang máy bay nghênh
đón rất trọng thể. Ngài cũng
nhận được 10 ngàn đô-la cho giải
thưởng chống Cộng
Magsaysay sau đó, và ngài đă
tặng hết số tiền này cho Đức Lạt
Lai Lạt-Ma của Tây Tạng. Nhưng
đối với tổng thống Diệm, đó
không phải là hào quang. Cái hào
quang mà cụ Diệm t́m kiếm đă từ
20 năm về trước, đó chính là:
chủ
quyền của dân tộc và nền an sinh
hạnh phúc của toàn dân.
Căn cứ vào thành
quả trên, có thể nói tổng thống
Diệm là người hiểu rơ mánh khoé
của đảng giặc Đỏ, hiểu rơ thực
dân Pháp, hiểu rơ ‘đồng minh’
Hoa Kỳ, nhưng cụ đă lầm lẫn khi
tin dùng một lũ
tay sai
phản loạn. Tổng thống Diệm
cũng đă coi thường cái chết của
chính cụ và các bào đệ, chỉ v́
ngài quan niệm
“quân đội để bảo vệ Tổ Quốc chứ
không để bảo vệ Tổng Thống.”
Tổng thống Diệm đă
tôn trọng quân đội, nhưng
khốn nỗi, trong đám chóp bu quân
đội lúc ấy, có một số người “bất
tài vô đức” lại được tổng thống
tin cẩn, chỉ nghĩ đến danh
và lợi nhất thời, dơ bẩn,
phản phúc, không tôn trọng hiến
pháp, không nh́n xa trông rộng,
con nhái bén muốn to bằng con ḅ,
nên mới dẫn đến ngày “găy súng”
30-4-1975, đưa cả nước vào ṿng
nô lệ giặc Tàu.
Đành rằng sự yểm
trợ của Mỹ cho Saigon -- ở vào
giai đoạn khó khăn bước đầu khai
sinh nền đê nhất Cộng Ḥa ở Nam
Việt-Nam -- là cần thiết. Nhưng
cách yểm trợ của họ đă thiếu
khôn khéo nếu đem so với cách
yểm trợ của Nga-Tàu cho Hanoi.
Tổng thống Diệm đă hiểu rất rơ
cái ‘thế đứng’ của Việt Nam trên
trường Quốc Tế lúc ấy rất khó
khăn. Cụ muốn tách rời sự yểm
trợ của Mỹ ở miền Nam và khuyến
dụ Hanoi cũng tách rời sự yểm
trợ của Nga-Tàu ở miền Bắc để
tránh binh đao cho toàn dân, qua
6 bước phát triển giao lưu:
1) Cho
dân 2 miền trao đổi thư tín. 2)
Cho dân qua lại tự do. 3) Cho
dân 2 bên tự do lựa chọn nơi
định cư. 4) Trao đổi kinh tế. 5)
Hiệp thương. 6) Tổng tuyển cử.
Tiến tŕnh đó
chỉ là đề nghị sẽ được tham khảo,
nghiên cứu kỹ càng, và trước khi
thi hành phải được quốc hội phê
chuẩn. Tổng thống Diệm tin tưởng
vào thế mạnh của miền Nam về
kinh tế, chính trị và ngoại giao
trong thời điểm lúc bấy giờ
(1956-1962) để có thể nói chuyện
với Hanoi. Vẫn biết, vượt qua
được 6 bước giao lưu đó là một
điều cực kỳ nguy hiểm và cực kỳ
khó khăn cho cả 2 phía người
Việt. Rất tiếc, tuy việc lớn
không thành, nhưng phải công
nhận, đó là sáng kiến táo bạo
của một người yêu nước thương
dân hết ḷng, mà chỉ có cụ Diệm
mới dám nghĩ, dám thực hiện.
Tổng thống Diệm không muốn nh́n
người dân của ḿnh lâm cảnh binh
đao, làm mồi cho các xung đột
quốc tế. Thật đáng thương tiếc
một người yêu dân yêu nước nồng
nàn! Tổng thống và các bào đệ đă
chết v́ chính sáng kiến yêu nước
của ḿnh! Lại c̣n bị vu oan giá
họa là “đâm sau lưng chiến sĩ”.
Những người kém
hiểu biết, hoặc đần độn, hoặc v́
định kiến sai lầm, thoạt nh́n sự
kiện ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu gặp
Phạm Hùng ở Tánh Linh, đă hồ đồ
kết luận ngay rằng tổng thống
Diệm “đâm sau lưng chiến sĩ”. Họ
cần phải hiểu rằng, trong bất kỳ
cuộc chiến tranh nào, từ cổ chí
kim, cũng đều phải kết hợp giữa
đấu tranh chính trị với quân sự
mới hy vọng chiến thắng. Đó là
chuyện thường t́nh. Kissinger đă
đi đêm nhiều lần với Tàu Cộng v́
biết Tàu Cộng là cha đẻ của Cộng
đảng Hanoi, trong khi quân Mỹ
đang chiến đấu ở Việt Nam. Tổng
thống Thiệu cũng đă từng đ̣i nói
chuyện ngang hàng với Hanoi ở
bàn hội nghị mà không được.
Kennedy và Khrushchev vẫn phải
nói chuyện với nhau giữa lúc
cuộc chiến tranh lạnh đang tiếp
diễn. Mới đây, ông Hamid Karzai,
tổng thống Afghanistan có ư muốn
nói chuyện với thủ lănh phiến
loạn Taliban trong khi quân của
ông c̣n đang lâm chiến với quân
Taliban. Thử hỏi, những người
này có “đâm sau lưng chiến sĩ
không”? Hơn nữa ông cố vấn Ngô
Đ́nh Nhu đă cho Cabot biết là
ông sẽ nói chuyện với Hanoi;
‘danh chính ngôn thuận’ như thế
th́ sao lại gọi là “đâm sau lưng
chiến sĩ”? Việt Nam Cộng Ḥa có
chủ quyền, đương nhiên muốn nói
chuyện với ai th́ nói. Vả lại,
việc ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu nói
chuyện với Phạm Hùng mới chỉ là
bước đầu, chưa thể thành h́nh
trong một sớm một chiều. Mọi
việc, nếu 2 bên thỏa thuận cùng
ngồi vào bàn hội nghị, th́ qua
bàn hội nghị này sẽ c̣n tốn một
thời gian lâu dài, có quốc tế
chứng kiến. Như thế, th́ dù có
muốn “đâm sau lưng chiến sĩ”
cũng không đâm được. Dĩ nhiên,
kết quả hội đàm c̣n tuỳ thuộc
vào tài năng đấu lư, chiêu dụ,
áp lực của mỗi phía. Ai biết
trước được kết quả sẽ ra sao.
Như mọi người đă
thấy, sau khi tổng thống Diệm và
các bào đệ bị thảm sát, hơn 10
năm liên tục chiến tranh với các
trận đánh nảy lửa, với số bom
đạn sử dụng được biết là c̣n hơn
thế chiến II , đă gây thương
vong cho 3 triệu người Việt, và
58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ, quê
hương bị tàn phá, kết quả miền
Nam vẫn bị “bể dĩa”. Trước khi
“bể dĩa” cũng vẫn phải đi qua
ḥa đàm, nhưng ḥa đàm ở thế yếu,
chứ đâu được ở thế mạnh như thời
cố vấn chính trị Ngô Đ́nh Nhu
đưa sáng kiến với Phạm Hùng.
Đáng trách nhất là 3 tên: Cabot
Lodge, Harriman và Hilsman đă
chẳng hiểu một tí ǵ về CSVN và
những nét đặc thù của chiến
tranh Việt Nam. Họ không hiểu rơ
bản chất của cuộc chiến họ đang
đeo đuổi là một cuộc chiến tranh
“ư thức hệ giữa CS và Tư Bản”,
nhưng họ cần phải hiểu thấu
đáo hơn nữa về cuộc chiến này là
một bên, miền Nam VN bảo vệ nền
Tự Do Dân Chủ phôi thai vừa mới
lấy lại từ tay Thực dân Pháp.
Quan trọng và khó khăn là c̣n
phải lo chống lại một thứ vũ khí
tuyên truyền rất tinh vi xảo
quyệt, có khả năng thu hút quần
chúng các xứ nghèo rất mạnh của
Đệ Tam QTCS. C̣n bên kia, miền
Bắc là con đẻ của Đệ Tam QTCS
rất thạo nghề tuyên truyền xảo
trá, quyết tâm
“đánh Mỹ giùm cho Nga-Tàu đến
người Việt Nam cuối cùng”.
Sự hiện diện quá đông đảo của
quân đội Mỹ lúc ấy, theo tổng
thống Diệm là một điều tối kỵ.
Cũng không thể chỉ đơn thuần
giải quyết bằng bom đạn mà có
thể thành công được. Và rơ ràng
là đă không thành công. Họ cũng
không hiểu nổi những khó khăn,
đầy phức tạp trong xă hội miền
Nam sau khi dân chúng miền Nam
vừa mới thoát khỏi nanh vuốt
nham hiểm của thực dân Pháp và
CS. Những khó khăn chồng chất về
mọi mặt, đ̣i hỏi nhiều thời gian
để ổn định, không thể gấp rút
được.
Với 9 năm
cầm quyền của tổng thống Diệm,
là một thời gian quá ngắn, không
đủ để có thể biến một miền Nam
VN đầy dẫy tệ đoan xă hội, nhân
tâm chia rẽ trầm trọng -- v́ đă
chịu ảnh hưởng lâu dài của cả 3
chế độ: Phong Kiến, Thực Dân,
Cộng Sản với 3 chính sách ‘ngu
dân’ sâu đậm -- để trở thành một
nước có thể chế Tự Do, Dân Chủ
theo kiểu Tây Âu hoặc Hoa Kỳ, là
một việc bất khả thi. Nhưng
chính việc bất khả thi này đă
trở thành một trong những nguyên
nhân mà bọn phản bội và phản
loạn dựa vào, biện minh cho việc
lật đổ chính quyền của tổng
thống Diệm.
Giáo sư Sử học,
ông Howard Jones tác giả cuốn
‘Death Of A Generation’, trang
97&98, đă nêu ra sự so
sánh giữa Mă Lai và Nam Việt-Nam
có cùng nhiệm vụ chống CS nhưng
rất khác nhau về ṇi giống, về
hoàn cảnh xă hội và về hoàn cảnh
địa dư như sau:
“Lemnitzer’s
analysis reinforced Taylor’s
feelings. The joint chiefs’chair
recognized the advisability of
using countersurgency tactics
where applicable. But despite
the similateries between the
British experiences in Malaya
and the situation in South
Vietnam, the
differences were so striking
that the latter required
military action. The rebels in
Malaya had been denied a safe
haven in neighboring Thailand;
the Vietcong enjoyed that
privilege in both Lao and
Cambodia. The racial features of
the Chinese insurgents in Malaya
had distinguished them from the
native populace; the Vietcong
were not discernible from South
Vietnam loyalists. Food war
scare in Malaya but plentiful in
Vietnam, meaning that the
Vietcong had ample supplies. The
most important differences,
however, lay in leadership and
field perfomance: The British
had commanded well-trained
Commenwealth troops, whereas the
ARVN forces suffered from
inadequate training and low
morale that became evident in
their poor fighting record.
Despite all these British
advantages, it took twelve years
to squelch an insurgency in
Malaya that was considerably
weaker than the one led by
Vietcong.”
Lược dịch:
Phân tích của ông
Lemnitzer đă tăng cường cho cảm
nghĩ của tướng Taylor. Vị tham
mưu trưởng nhắc nhở lời cảnh báo
về việc sử dụng chiến thuật
chống nổi dậy, có thể được áp
dụng. Mặc dầu có những điểm
tương tự giữa kinh nghiệm của
người Anh ở Mă-Lai với hoàn cảnh
ở Nam Việt-Nam, nhưng những khác
biệt đă thuyết phục được điều
sau cùng là phải có hành động
quân sự. Quân du kích ở Mă-Lai
không có nơi an toàn trong đất
láng giềng Thái-Lan; trong khi
Việt Cộng có đặc quyền này ở cả
hai nước Lào và Cambodia. Đặc
điểm về ṇi giống của quân nổi
dậy người Tàu ở Mă-Lai có những
khác biệt với quần chúng bẩm
sinh ở địa phương; trong khi
Việt Cộng lại không có ǵ để
phân biệt với dân chúng thuần
tuư Nam Việt-Nam. Thực phẩm dùng
cho chiến tranh trong đất Mă-Lai
thật đáng ngại, nhưng lại đầy
dẫy ở Việt-Nam, có nghĩa là Việt
Cộng được tiếp tế thực phẩm đầy
đủ. Tuy nhiên, điểm khác biệt
quan trọng hơn cả là sự lănh đạo
chỉ huy và đặt kế hoạch: Người
Anh đă chỉ huy một quân đội đại
chúng, được huấn luyện kỹ càng,
trong khi quân đội Nam Việt-Nam
lại không được huấn luyện tương
ứng và tinh thần thấp kém, nghèo
nàn, đă được ghi nhận trong
chiến đấu. Mặc dầu người Anh
có những lợi điểm như vừa kể,
mà cũng phải mất mười hai năm
mới đè bẹp được quân nổi dậy ở
Mă-Lai mới là điều yếu kém đáng
được xem xét hơn là cái mà Việt
Cộng đă chỉ đạo.
Nội dung trích
đoạn trên có thể chưa hoàn toàn
đúng, nhưng phần lớn đă phản ánh
những tiêu điểm khách quan, làm
nổi bật về thời gian, và về
nhiều ưu thế sẵn có của Mă Lai
mà Nam Việt-Nam không có. Thế mà
Mă Lai cũng đă phải mất 12 năm
mới đè bẹp được CS. Điều quan
trọng là phương pháp
chống CS ở mỗi nước. Sự so sánh
rất sát với thực trạng của 2
nước trong thập niên 1960.
Nếu dùng công tâm
để nhận xét, không ai phủ nhận,
trong 9 năm cầm quyền của tổng
thống Diệm có một số nhỏ nhược
điểm. Tuy những nhược điểm đó
không phải là đường lối chính
sách do tổng thống Diệm đề ra,
mà chỉ do cấp thừa hành phạm
phải, hoặc một vài lề lối cũ
chưa kịp sửa đổi, nhưng đă bị
phe phái chống đối, đám bất măn
và đặc biệt là CS chen vào khai
thác, lợi dụng, thổi phồng, vu
khống. Chỉ v́ quyền lợi phe phái
nhỏ nhen, mà những người này đă
cố t́nh bỏ qua những ưu điểm rất
lớn về chủ quyền kinh tế, chính
trị, văn hóa, xă hội, y tế, giáo
dục, v.v…mà cụ Diệm đă đạt được
cả về phẩm và lượng trong thời
gian 9 năm cầm quyền; chẳng hạn
như trong sách ‘Ngô
Đ́nh Diệm Và Chính Nghĩa Dân Tộc’,
trang 219, tác giả Minh Vơ
cho biết:
“…ṭa đại sứ ở
Saigon lúc ấy là 81, gần gấp đôi
số nước có bang giao với Hanoi.
Trong khi Hanoi không đủ gạo ăn
th́ Saigon xuất cảng, từ 70,000
tấn vào năm 1955 đă tăng lên đến
340,000 tấn xuất cảng vào năm
1962. Số lượng gia súc như heo,
gà, vịt xuất cảng trong năm 1961
đă trị giá gần 140 triệu đồng (vào
khoảng 4 triệu Đô-la, tính theo
giá chính thức là 35 Đồng một Đô-la).
Và c̣n nhiều ưu điểm khác không
kể xiết”.
Cùng trang 219, ở
một đoạn khác, ông Minh Vơ
cho biết thêm:
“…tác
giả Hồ Sỹ Khuê, một người vốn
chê ông Diệm là độc tài và kỳ
thị tôn giáo, thậm chí đàn áp
Phật Giáo. Ông Hồ Sỹ Khuê nói về
cảnh thanh b́nh phồn thịnh ấy
như sau. –Đây tôi đọc từ cuốn
sách đồ sộ của ông nhan đề Hồ
Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong
đó có nhiều câu đại loại như thế
này: ‘nông thôn không c̣n bần cố
nông. Thành thị cũng không bao
giờ c̣n gọi là vô sản được…’
‘Tài xế tắc xi nhưng trưa đến
không kể khách,
nằm gác chân xem báo. Đạp xích
lô nhưng mỗi chiều ngồi nhậu
nhẹt lai rai bàn chuyện thời
cuộc với xóm giềng. Những cảnh
như thế xóa sạch mọi đẳng cấp…’”
Như thế, chỉ nói
riêng về dân sinh th́ miền Nam
cũng đă hơn hẳn miền Bắc với
thời gian lâu hơn nhưng tồi tệ
hơn, và luôn bị che khuất bởi
bức màn sắt rất kiên cố. Ngoài
ra, cũng c̣n nhiều ưu điểm khác
đáng chú ư, mà ngay cả kẻ thù
cũng không thể phủ nhận là: các
hạ tầng cơ sở của Cộng đảng ở
miền Nam dưới thời tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm đă bị tiêu diệt
nặng nề, gần như bị phá sản
không thể cứu văn. Cũng theo
sđd ở trên của tác giả Minh Vơ
trang 140, phần chú thích cho
biết:
Nguyễn
văn Linh đă nói với nhà báo thân
cộng Neil Sheehan các cơ sở hạ
tầng bị phá vỡ là 75%.
C̣n theo Văn Tiến
Dũng viết trên giấy trắng mực
đen th́ 90% cán binh CS ở miền
Nam đă bị tiêu diệt, 60.000 chỉ
c̣n 5,000 và đă phải thừa nhận:
hy vọng chiến thắng rất mong
manh (xem
After The War Was Over của
Neil và xem
Về
cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu
Nước của Văn Tiến Dũng, chú
thích trang 16).
Không biết sau
ngày 2-11-1963, các cơ sở VC này
ra sao. Chúng có hồi sinh được
hay không? Nhưng các trận đánh
lớn đă đưa miền Nam vào bàn hội
nghị Paris 1973 ở thế yếu. Thật
đáng tiếc, những thành quả to
lớn về mọi mặt của tổng thống
Diệm vừa nêu trên, nền đệ nhị
Cộng Ḥa đă không đủ bản lănh để
nối dài thêm nữa. Có rất nhiều
nguyên do mà theo tiến sĩ, giáo
sư sử học
Mark
Moyar, tác giả cuốn
Triumph Forsaken, th́:
“Nhiều
cá nhân giữ những địa vị trong
chính quyền trong thời hậu Diệm,
đích thực, thiếu các đức tính
cần thiết của một nhà lănh đạo,
và chẳng ai có tài bằng Ngô Đ́nh
Diệm.”
Nhưng ông không cho đó
là vấn đề quan trọng mà:
“chính
là sự loại trừ một số người
trong giới thượng lưu ra khỏi
chính phủ và sự thao túng của
phong trào Phật Giáo trong việc
vận dụng các nhà lănh đạo chính
phủ. Kể từ tháng 11 năm 1963 về
sau những lănh tụ hàng đầu ở Sài
G̣n không ngừng lập đi lập lại
việc loại trừ những người có tài
đáng kể, hoặc v́ những người này
đă trung thành với ông Diệm,
hoặc v́ những lănh tụ đó bị áp
lực từ nhóm Phật Giáo tranh đấu…”
(trang 334, sđd, Minh
Vơ).
Đây là một sự kỳ
thị thật đáng trách xuất phát từ
óc bè phái nhỏ nhen. Khi nhắc
đến ‘nhóm Phật Giáo tranh đấu’
là nhắc đến tên Thích Trí Quang,
một người mặc áo thày tu để làm
loạn. Qua nhiều tài liệu chưa
phân định chính xác, hắn có là
đảng viên CS hay không. Nhưng dù
hắn có là đảng viên CS nằm vùng,
trá h́nh dưới áo thày tu hay
không đi nữa th́ thực tế hắn
cũng đă lợi dụng chiếc áo cà sa
để làm loạn, góp sức gây sụp đổ
cả 2 nền đệ nhất và đệ nhị Cộng
Ḥa ở Nam Việt-Nam. Hắn chỉ
ngưng làm loạn sau ngày 30-4-75.
Nhưng sau 30-4-75 nhiều người
mới vỡ lẽ giặc Cộng mới chính là
là kẻ thù của Phật Giáo và các
tôn giáo khác, th́ hắn lại im
hơi lặng tiếng, không làm loạn
cũng không ‘tranh đấu’ nữa. Điều
đó cho thấy ở 2 giai đoạn trước,
hắn ‘tranh đấu’ không v́
‘Pháp nạn’ mà v́ mục tiêu
chính trị. Cũng có thể là v́
bản chất hèn, hắn biết rơ ở 2
chế độ trước không ai làm ǵ hắn,
nhưng dưới chế độ giặc Cộng cầm
quyền chuyên nghề sử dụng luật
rừng, nếu làm loạn th́ hắn có
thể bị cầm tù hoặc bị giết. Vào
thời đệ nhất Cộng Ḥa, hắn đă
xin vào núp trong ṭa đại sứ Mỹ
ở Saigon và được Cabot Lodge che
chở v́ đây cũng là con bài rất
tốt giúp cho phe cánh của Cabot
lật đổ tổng thống Diệm. Sang đến
đệ nhị Cộng Ḥa, khi hắn đang
‘tranh đấu’ th́ bị tướng Nguyễn
Ngọc Loan bắt ở Huế đưa về Đà
Nẵng bằng trực thăng. Theo lời
kể lại không rơ thực hư, th́ hắn
đă quỳ lạy trước tướng Loan như
tế sao, v́ biết tướng Loan là
‘người dám nói dám làm’ dám đá
hắn xuống khỏi trực thăng.
Bên cạnh tên hèn
Thích Trí Quang c̣n có một tên
hèn khác là Dương Văn Minh. Trên
tờ
Hải Ngoại Nhân Văn, Số 2 - Tháng
8 Năm 1997,
chủ biên Hồ Công Tâm, trang 41,
có đăng bài viết tựa đề:
“Lại
tên vô-lại Dương Văn Minh”,
tác giả bài viết, luật sư Nguyễn
Văn Chức, cựu nghị sĩ quốc hội
Việt Nam Cộng Ḥa. Trong một
đoạn của bài viết này, luật sư
Chức đă mô tả ông Minh như sau:
“Tŕnh
độ học vấn của Dương Văn Minh đă
thấp, nhân cách của y c̣n thấp
hơn. Liêm sỉ của một tướng lănh,
th́ lại quá tệ. Ai cũng biết
trong vụ đảo chính 1963, y đă ra
lệnh ám sát Tổng thống Diệm trên
chiếc xe tăng từ nhà thờ Cha Tam
về Tổng Tham Mưu, rạng ngày mùng
2 tháng 11. Nhưng sau này y chối.
Chẳng những chối mà c̣n đổ lỗi
cho người khác. Trong cuốn Our
Endless Wars, tướng Trần Văn Đôn,
linh hồn của cuộc đảo chính, đă
phải bực ḿnh…”
Năm 1997, nhân
dịp kỷ niệm ngày 30-4, Dương Văn
Minh tuyên bố sẽ về Việt Nam để
góp phần xây dựng đất nước. Luật
sư Nguyễn Văn Chức nhận định:
“Người ta hiểu
rằng, trước khi tuyên bố như vậy,
y đă được Việt Cộng cho phép về
Việt Nam. Người ta cũng hiểu
rằng y đă được Việt Cộng cho
phép về Việt Nam để xây dựng
nước Việt Nam dưới sự lănh đạo
của Việt Cộng.
Năm 1963, hèn hạ,
phản bội và làm tay sai.
12 năm sau, năm
1975, làm tay sai, hèn hạ và
phản bội.
22 năm sau, năm
1997, lại phản bội, làm tay sai
và hèn hạ.
Suốt đời phản bội.
Suốt đời làm tay sai.
Suốt đời hèn hạ.
Suốt đời háo danh.
Suốt đời đần độn.
Đó là Dương Văn Minh.”
Bây giờ nh́n về
quá khứ, thành phần cam chịu
nhiều thiệt tḥi nhất, nhưng hy
sinh nhiều nhất là các chiến sĩ
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Suốt
20 năm (1954-1975) chiến đấu
chống CS không ngừng nghỉ. Không
ai có thể phủ nhận được thiện
chí và công lao to lớn của họ
dành cho Tổ Quốc và đồng bào. Họ
đă bảo vệ nền dân chủ/tự do c̣n
non trẻ cho miền Nam Việt-Nam
cho đến khi không c̣n sức để bảo
vệ. Nhiều chiến sĩ đă từ giă
người thân, âm thầm lên đường và
âm thầm gục ngă. Nhiều chiến sĩ
đă bị tù mà không có tội sau
ngày 30-4-1975. Ngày nay vẫn c̣n
nhiều chiến sĩ bị tàn phế, bị bỏ
quên sau chiến cuộc. Tất cả, họ
là những người đă chiến đấu hết
sức cho tự do/ dân chủ, nhưng
cuối cùng họ vẫn không được
hưởng tự do/dân chủ trên chính
quê hương ḿnh.
Đă 47 năm qua,
bây giờ nhắc lại ngày 01-11-1963
là nhắc lại một thời điểm lịch
sử đen tối, mở màn cho một thời
điểm đen tối hơn: ngày
30-4-1975. Ngày này sẽ c̣n kéo
dài, chưa biết đến bao giờ mới
chấm dứt. V́ lẽ, với óc nô lệ
giặc Tàu, đảng giặc đỏ ở Hanoi
vẫn nhẫn tâm, tiếp tục cai trị
dân bằng bạo lực, bằng cờ máu
búa liềm. Cha đẻ của cờ máu búa
liềm, nước Nga đă vĩnh biệt nó
từ 20 năm nay, nhưng khốn nỗi,
nó vẫn c̣n in đậm nét trong đầu
năo các quan thái thú Tàu biết
nói tiếng Việt ở Hanoi. Có lẽ,
sẽ c̣n lâu người dân Việt Nam
mới nh́n thấy ánh sáng Tự Do,
Dân Chủ, v́ giặc đỏ không bao
giờ ‘tiêu hóa’ nổi ư nghĩa sâu
xa của câu nói:
“Nhắm mắt bắt chước nước ngoài
khác ǵ nhận trước sự bảo hộ của
ngoại bang.”
Sách
tham khảo:
-Bàn
Tay Hoa Kỳ Và Cái Chết Ông Diệm,
nguyên
tác Ellen J. Hammer, chuyển ngử
Vũ Văn Ninh&Trần Ngọc Dung.
-Cuộc
Chiến Thằng Bỏ Lỡ theo các chứng
liệu về Chiến Tranh Việt Nam của
cựu Đại Sứ Mỹ Ellsworth Bunker,
nguyên
tác Stephen B. Young, chuyển ngữ
Nguyễn Vạn Hùng.
-Death Of A Generation
của
Howard Jones.
-Ngô
Đ́nh Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc
cuả
Minh Vơ.
-Ḍng
Họ Ngô Đ́nh Ước Mơ Chưa Đạt
của
Nguyễn Văn Minh.
-Công
Và Tội của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng Sản Việt Nam
1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt
Nam
cùa
Hoàng Ngọc Thành.
San Jose 29-10-2010
Vơ Phương
|