|
Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm và
Đệ
I VNCH sai lầm tự diệt
v́ dung dưỡng Gián điệp Việt
Cộng nằm vùng,
nhưng lại triệt hạ 3 tiềm lực
chống Cộng vô giá ở Miền Nam !
Trích trong " Việt Nam Ba Mươi Năm
Máu Lửa "
của
GS. Cao Thế Dung xuất bản tại Hoa
Kỳ 1991
( từ trang 480 => 497 )
.....................................................................................
Bộ Quốc Pḥng do Trần Trung
Dung, Bộ trưởng Phụ Tá, chủ
trương tổ chức " đốt lon Pháp "
là một sai lầm, một hành động "
trẻ con ". Hậu quả là đă gây nên
một " tai họa ngoại giao " :
Pháp đoạn tuyệt mọi liên hệ về
t́nh báo với chính phủ VNCH.
Hàng trăm cán bộ t́nh báo của
Cộng sản xâm nhập vào cả An Ninh
Quân Đội, Báo Chí, Cảnh Sát Công
An và kể cả đảng Cần Lao do hậu
quả Pháp đă đem tất cả hồ sơ mật
về nước.
Điển h́nh như nhóm Đông Nam Á Vụ
của Cộng sản về đấu thú Pháp ở
Hà Nội năm 1952. Pháp dùng làm
gián điệp đôi; năm 1955 nhóm này
đă len lỏi vào nhiều lănh vực
hoạt động ở Miền Nam, vào cả
ngành an ninh t́nh báo của chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm. Điển h́nh như
nhóm Ca Dao, nhóm Phan Nghị ( Kư
giả ) và nhiều nhóm khác trong
đó có Phạm Xuân Ẩn- lúc ấy c̣n
là một cán bộ cấp
thấp nhưng đă là nhân viên t́nh
báo 2 mang làm cho Pḥng Nh́
Pháp từ năm 1950.
Cử Nguyễn Ngọc Lễ
làm Tổng Giám Đốc Công An là một
sai lầm khác tai hại nghiêm
trọng. Lễ xuất thân hạ sĩ quan
Binh đoàn Pháp, bản chất vơ biền
và lỗ măng. Lễ không biết ǵ về
t́nh báo. Lúc Lễ về tiếp nhận
Tổng Nha th́ bao nhiêu hồ sơ mật
đă biến mất, một trong mấy tay
lành nghề t́nh báo th́ Lễ không
dùng,
Bùi văn Nhu vốn là " con cưng "
của Mật Thám và Pḥng Nh́ Pháp,
Nhu được Cộng Sản khéo léo móc
nối từ năm 1956 dưới thời Nguyễn
Ngọc Lễ. Những tay giỏi nghề từ
Miền Bắc vào Nam th́ bị đẩy đi
tỉnh xa hoặc không được dùng.
Một lỗ hổng lớn
trong ngành an ninh t́nh báo từ
lúc Lễ làm Tổng Giám Đốc kéo dài
cho đến thời Phạm Xuân Chiểu,
một tướng lănh duy nhất người
Bắc thuộc Quốc Dân Đảng, có học,
con cháu lớp Văn Thân Cách Mạng,
nhưng ông tướng này không chuyên
nghề trong lúc mặt trận t́nh báo
phải là ưu tiên hàng đầu.
T́nh báo Cộng sản xâm nhập từ
lỗ hổng to lớn trong suốt 3, 4
năm. Đầu năo của Ngân Hàng
Việt Nam lại là một ổ t́nh báo
Cộng sản, một tay kế toán thân
tín của Nguyễn Cao Thăng là t́nh
báo Cộng sản, 2 tên "nội dịch"
trong văn pḥng " Cố Vấn chỉ
đạoMiền Trung Ngô Đ́nh Cẩn lại
là t́nh báo sau được đồng hóa
làm trung sĩ Địa Phương Quân rồi
biệt phái làm cho tướng Lê Văn
Nghiêm lúc ông Nghiêm làm Tư
lệnh Quân Khu I.
Hệ thống phát hành sách báo
trước Genève 54, Pḥng Nh́ Pháp
kiểm soát khá chặt chẽ nhờ "
nghệ thuật " phóng tài hóa thu
nhân tâm nhưng đầu năm 1955,
những tay Cộng sản làm " chỉ
điểm 2 mang " cho Pháp, được
rảnh tay và họ thực sự nắm ngành
phát hành cũng như ngành cải
lương, từ soạn giả đến anh kéo
màn sân khấu.
Mặt trận t́nh báo đă mở ra từ
sau Genève 54, chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm đă bất lực mặt trận
này cho đến 2,3 năm sau. Chính
v́ vậy, chính quyền đă không
biết rơ những ai với cái đuôi
dài sau nhóm Nguyễn Hữu Thọ, Mă
thị Chu, Huỳnh Tấn Phát và
Nguyễn văn Hiếu. lẽ tự nhiên cái
đuôi sau mấy tay mặt nổi này mới
quan trọng.
Huỳnh văn Trọng trước hết là một
đảng viên Việt Nam Quớc Dân Đảng
gia nhập Đảng năm 1945 tại Hà
Nội, sau bỏ Đảng và làm cho
Pḥng Phản Gián Pháp từ năm
1950. Cuối năm 1954, Trọng ở lại
Sài G̣n, Cộng sản móc nối với
Trọng vào thời gian này cũng như
Đinh văn Đệ, Trần Ngọc Châu,
Phạm Ngọc Thảo, đều là dân
t́nh báo được Cộng sản cài vào
chính quyền Miền Nam một cách
tinh vi. Theo giới t́nh báo, sau
Genève 54, Cộng sản đă để lại ở
Sài G̣n 50 triệu ( hối suất lúc
ấy là 35 đồng ăn một Mỹ kim ) để
tiếp tục gây dựng cơ sở kinh tài
để kinh tài nuôi t́nh báo. V́
sai lầm của Việt Nam Cộng Ḥa đă
không thu dụng được giới chỉ
điểm 2 mang và chuyên viên t́nh
báo của Pḥng Nh́ Pháp nên Cộng
sản nhờ sẳn tiền đă kết nạp được
giới này. Cộng sản không kết nạp
vào Đảng mà đem vào các cơ sở
kinh doanh của tư nhân và Đảng
qua " tư nhân " góp vốn như hăng
tàu chuyên chở Nguyễn văn Bửu và
kể cả OPV của Nguyễn Cao Thăng
sau này, nhất là cơ sở kinh
doanh của nhóm Nguyễn Trung
Thành và Ngân Hàng Việt Nam mà
Nguyễn văn Diệp là điển h́nh.
Diệp đă từng cộng tác với Pháp
trước 1954 đồng thời hoạt động
cho Cộng sản .
Một sai lầm khác
nghiêm trọng của chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm là làm mất đi 3 tiềm
lực chống Cộng vô giá : Ở Miền
Trung, Việt Nam Quốc Dân Đảng
cầm súng chống lại chính quyền;
ở Miền Nam, Cao Đài một phần bất
hợp tác rút ra bưng trong hoàn
cảnh bất đắc dĩ phải hợp tác với
Cộng sản, một phần quan trọng
khác, chủ lực là lực lượng Cao
Đài Liên Minh Tŕnh Minh Thế tuy
đă về hợp tác với chính quyền
nhưng từ đầu năm 1956, lực lượng
này bị phân tán và đem ra Miền
Trung, cuối cùng tan ră cả một
binh đoàn thiện chiến về lối
đánh du kích, đă quen với vùng
rừng núi Tây Ninh ; ở miền Tây,
lực lượng Ḥa Hảo Lê Quang Vinh
bị quân chính phủ đánh tan. ngày
13.4.1956, Liên Đoàn Bảo An Trần
Quốc Tuấn bắt được Ba Cụt, được
thưởng 1 triệu đồng; gần ba
tháng sau, ngày 6.7.1956 toàn
lên án tử h́nh Ba Cụt .
Vị tướng 32 tuổi đầy mưu trí và
yêu nước này đă bị hành
quyết vào ngày 13.7.1956, gây
nên sự căm phẩn sâu xa trong tập
thể gần 3 triệu tín đồ Ḥa Hảo ở
Miền Tây.
Chính quyền có
thể loại Trần văn Soái, Lâm
Thành Nguyên,
nhưng loại lực lượng Ḥa Hảo Lê
Quang Vinh không những là sai
lầm nghiêm trọng mà c̣n là một
tội đối với lịch sử.
Riêng lực lượng Ḥa Hảo Nguyễn
Giác Ngộ được coi là một lực
lượng quốc gia thuần túy chống
cả Pháp lẫn Cộng, có kỷ luật
nghiêm minh, với trên 2000 quân
đă quen với địa h́nh địa vật
Miền Tây và lối đánh du kích và
chống du kích th́ cũng như lực
lượng Tŕnh Minh Thế, bị phân
tán đem ra Miền Trung, cuối cùng
bị tan ră. Nếu chính quyền duy
tŕ được hai lực lượng này th́
t́nh trạng ở Miền Tây và Miền
Đông đă không bị du kích Cộng
sản tái hoạt động làm ung thối
ngay giữa năm 1957 là năm cực
thịnh của chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Mất lực lượng vơ trang Tŕnh
Minh Thế là một thiệt hại to lớn;
với trên 2500 quân, năm 1952,
lực lượng yêu nước này đă mở
rộng địa bàn hoạt động khắp Miền
Đông và lan tới Miền Tây, phát
triển lối đánh du kích và đặc
công. Lúc nghe tin tướng
Thế bị bắn chết tại trận, theo
Lansdale , người đang ngồi nói
chuyện với ông Diệm , th́ ông
Thủ tướng bàng hoàng và chảy
nước mắt.
Lansdale nói với Shaplen :
"
Đây là lần duy nhất mà tôi thấy
ông bộc lộ t́nh cảm ".
Nhưng chỉ một năm sau, lực lượng
của tướng Thế bị chia cắt, đẩy
ra khỏi Miền Đông và đưa
lên Cao nguyên hoặc ra giới
tuyến.
Miền Trung đen tối hơn,
lực lượng Đại Việt vơ trang ly
khai ở Ba ḷng .
Quảng Nam, Quảng Ngăi là hai
tỉnh với trên 2000 đảng viên
Việt Nam Quốc Dân Đảng vơ trang
lại ly khai, lập chiến
khu chống lại chính quyền. Năm
1956, Việt Nam Quốc Dân Đảng trở
về hợp tác, tuy nhiên, chỉ một
thời gian ngắn lại bị chính
quyền đàn áp. Qua phong trào
nhân dân tố Cộng, chính đảng
viên Việt Nam Quốc Dân Đảng lại
bị phong trào này chụp mũ là
Cộng sản.
Thật vậy, phong trào tố Cộng từ
năm 1956 đă trở thành đen tối ở
Miền Trung. Hàng vạn người bị
bắt nhưng đa số là
lương dân vô tội, hoặc
đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng
hoặc bị trả thù cá nhân.
Phong trào tố
Cộng trở thành cơn bảo tố ở nông
thôn nhất là từ Phú Yên trở ra.
Sau 10 tháng phát động phong
trào, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm
tuyên bố là đă đưa về với chính
nghĩa Quốc Gia được 100 ngàn cựu
cán bộ Việt Minh và đă tiêu diệt
được ảnh hưởng của Cộng sản
trong 9 năm trước.
Thực tế không phải vậy. Cán bộ
Cộng sản đă len lỏi vào phong
trào và xâm nhập ngay từ văn
pḥng Bộ trưởng Thông Tin Trần
Chánh Thành để lèo lái phong
trào tố Cộng, mô phỏng y như
cách thức Cộng sản tố địa chủ và
trí phú ở Miền Bắc.
Tổng thư kư Bộ Thông Tin
là cán bộ Cộng sản nằm vùng, tức
Trần Thúc Linh,
sau này với cái dù thẩm phán,
Trần Thúc Linh tiếp tục hoạt
động cho Cộng sản cho đến năm
1975. Do đó, phong trào tố Cộng
với kết quả trái ngược hẳn lại,
chỉ đẩy lương dân về phía Cộng
sản, giới Quốc Gia th́ trở thành
thù địch của chính quyền. Điển
h́nh như ở Phú Yên, hàng trăm
người thuộc Đại Việt Quốc Dân
Đảng đă bị bắt bị tra tấn và
giam cầm, các em và cháu của
lănh tụ Trương Tử Anh đă bị đánh
đập tàn tệ, bị bỏ tù chung với
Cộng sản đến sau năm 1963.
Năm 1957, Cộng
sản vẫn c̣n yếu, nên dù nổ lực
thế nào Cộng sản vẫn không gây
được một phong trào nhân dân
đứng lên đ̣i Tổng tuyển cử sau
khi Ngô Đ́nh Diệm bác bỏ. Trước
đây nông thôn chỉ biết có Hồ Chí
Minh, nay th́ Ngô Đ́nh Diệm thay
thế và triệt để chống Cộng. Háng
trăm ngàn cán bộ Việt Minh đă
thực tâm hồi chánh và cộng tác
với chính quyền
song từ phong trào chống Cộng
lại loại bỏ các thành phần đảng
phái Quốc Gia, Cao Đài, Ḥa Hảo.
Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm mất
quần chúng ở cả nông thôn lẫn
thành thị. Hàng trăm đảng viên
Đại Việt, Duy Dân, Việt Nam Quốc
Dân Đảng đă bị đem nhốt chung
với Cộng sản, hồ sơ cá nhân biến
thành hồ sơ Cộng sản trong khi
một số cán bộ Cộng sản trá h́nh
đầu thú lại được trọng dụng và
chính thành phần này đă " chỉ
điểm " cho chính quyền bắt lương
dân hay giới quốc gia chống Cộng
mà chúng chụp mũ cho là Cộng sản.
Từ năm 1957, những Phạm Ngọc
Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Cao Dao đă
thành cong trong công tác nằm
vùng trong ngành t́nh báo của
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm từ cơ
sở thượng tầng đến tỉnh và quận.
Sai lần nghiêm trọng khác của
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm là
ngày 5.10.1955, nghe lời tướng
Cao Đài Nguyễn Thành Phương, đă
đem quân xâm nhập Ṭa Thánh Cao
Đài Tây Ninh tước khí giới đạo
Hộ Vệ Quân của Hộ Pháp Phạm Công
Tắc, lại cho báo chí của chính
quyền và kể cả đài phát thanh
bôi nhọ Phạm Công Tắc như một
người dâm ô, Việt gian tay sai
Pháp. Hộ Pháp Phạm Công Tắc phải
lưu vong qua Nam Vang, ít nhất
3 hệ phái lớn của Cao Đài đă
liên minh với Cộng sản trong
giai đoạn CÙNG ĐƯỜNG mà theo
Douglas Pike th́ 10 trong 11
giáo phái đă theo Cộng sản, chỉ
c̣n một hệ phái cộng tác với
chính quyền để bảo vệ Ṭa Thánh
Tây Ninh.
Chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă
dùng luật pháp và Ṭa án để trị
dân và đặc biệt dùng Ṭa án để
chống Cộng sản song chính lại là
cách làm cho Cộng sản tạo được
cơ hội tuyên truyền và lấy ḷng
dân trong khi đối với các đảng
phái đối lập th́ Ṭa án lại trở
thành công cụ đàn áp
" đập đổ những kẻ chống đối chế
độ bất cứ bằng h́nh thức nào.
C̣n các cơ quan ngôn luận dù có
muốn vươn ḿnh lên để nói tiếng
nói tự do cũng không được. Họ
bị ràng buộc mọi mặt .
Muốn sống th́ phải chiều ư nhà
cầm quyền ( Hồi kư Trần Tương ).
Muốn chống Cộng th́ phải
làm y như Cộng, đó là chủ trương
hết sức sai lầm của Bộ Thông Tin
dưới thời Trần Chánh Thành và
Trần Thúc Linh.
Suy tôn Ngô Tổng Thống như kiểu
Cộng sản suy tôn Bác Hồ
đă làm cho ông Tổng Thống trở
thành h́nh ảnh nhàm chán.
Giai đoạn
1946-1952, nghĩa là trước vụ
Cộng sản đấu tố, Hồ Chí Minh đă
rất thành công khi đi vào ḷng
quần chúng ở mọi giới, nhất là
giới trẻ. Ông Hồ đi vào quần
chúng bằng hai chử " Bác Hồ ",
đơn giản với đôi dép quai râu,
chiếc quần nâu rộng ống, nhiều
khi xắn cao qúa gối..
Ông Diệm đă không thành công khi
đi vào quần chúng, nhất là quần
chúng nông thôn, với một bộ đồ
lớn trắng tinh, tay cầm chiếc
ba-tông hoặc ngồi trong xe lướt
nhanh trên đường phố trống vắng
với từng đoàn xe hộ tống. Đường
Công Lư có lúc phải gián đoạn 3,
4 giờ để dẹp đường chờ đoàn xe
Tổng Thống từ Tân Sơn Nhất về
Dinh.
Đầu năm 1957,
Cộng sản bắt đầu phản công bằng
chiến dịch ám sát các viên
chức xă ấp và cựu kháng chiến
trở về hợp tác với chính quyền .
Con số chính quyền qua Bộ Thông
Tin đưa ra vào dịp kỷ niệm lễ
Song Thất 7.7.1954 là 42.760
người đă bị Cộng sản ám sát, thủ
tiêu dưới nhiều h́nh thức khác
sau Hiệp Định Genève, song đây
là con số không có bằng cớ khả
tín. Ước lượng từ một tỉnh tân
lập như Kiến Phong th́ con số
cán bộ xă ấp và cựu kháng chiến
bị Cộng sản sát hại đă lên rất
cao. Hàng trăm điệp viên hữu
hạng của Cộng sản từ Bắc được
gửi vào Nam sau Hiệp Định Genève.
Số điệp viên này thuộc Pḥng
Đông Nam Á Vụ và Phản Gián, hầu
hết đă có kinh nghiệm hoạt động
nội thành, chia nhau xâm nhập
qua nhiều đường giây thuộc nhiều
lănh vực. Phan Nghị th́ hành
nghề kư giả sau len lỏi vào làm
cho tờ Ngôn Luận và Chính Luận (
sau 1963 ); Vũ Ngọc Nhạ len lỏi
vào Công Giáo phía Linh Mục
Hoàng Quỳnh; Nguyễn văn Lương,
giáo viên tư thục ở Nam Định là
kẻ đă móc nối Vũ Hânh ( 1964 )
cùng Vũ Hạnh xuất bản tạp chí
Tin Văn và sau bí mật cộng tác
với Thế Nguyên, tạp chí Tŕnh
Bày . Cao Dao nối kết với Phạm
Xuân Ẩn ...
Về t́nh báo, cao
cấp nhất cài trong chính quyền
th́ trao cho Phạm Ngọc Thảo với
một ám số đặc biệt và luôn luôn
thay đổi.
Phạm Ngọc Thảo bây giờ đă về đầu
thú chính quyền Ngô Đ́nh Diệm
cùng với nhóm Kiều Công Cung và
được Giám Mục Ngô Đ́nh Thục đỡ
đầu v́ Thảo và Cung là Công giáo
thuộc địa phận Vĩnh Long. Thảo
được đồng hóa với cấp Trung Tá
và làm việc trực tiếp với văn
pḥng Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh
Nhu...
Vào giữa năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ
quyết định thành lập Bộ Tư Lệnh
Miền Đông, khởi đầu với 4 đại
đội, một đại đội đặc công với 75
đội viên; Liên đại đội C-1000
hoạt động tại Tây Ninh, nơi
không c̣n bóng dáng Cao Đài nên
lực lượng Miền " tự tung tự tác
". Bộ Tư Lệnh Miền thành lập khu
B tức Dương Minh Châu thuộc tỉnh
Tây Ninh, chiến khu A từ Mă Đà
đến Bù Cháp, Thủ Dầu Một. Ngày
10-8-1958, Liên đại đội tỉnh Tây
Ninh ( từ đây gọi là Việt Cộng )
tấn công quận Dầu Tiếng. Theo
tài liệu của Việt Cộng, trận này
" diệt 200 tên, bắt 30 tên, thu
200 súng tự động, sau đó đánh
lui một tiểu đoàn đến tiếp viện
cho Dầu Tiếng ".
Theo tài liệu Việt Nam Cộng Ḥa
( từ đây gọi là Nam Việt Nam ),
" quận Dầu Tiếng tuy bị đánh bất
ngờ trong lúc cả nước đang thanh
b́nh song đă chống trả kịch liệt
với quân số 67 Bảo An và Dân Vệ,
Việt Cộng để lại 17 xác. Cuộc
truy lùng vào mấy ngày kế tiếp,
bắt được 4 cán binh Việt Cộng bị
thương nằm điều trị trong ba nhà
phu đồn điền cao su.
Ngày 20-10-1958, đại đội đặc
công Việt Cộng từ chiến khu D
tấn công trụ sở phái bộ Quân Sự
Mỹ ( MAAG ) ở Biên Ḥa, mở màn
cho các trận đặc công kế tiếp.
Biệt Động Đội và Đặc Công là
binh chủng thuần phục của Việt
Minh trước đây. Thời nhà Trần
kháng Mông Cổ có
du quân mà Binh thư Trần
Hưng Đạo đă đề cập. Đây là thứ
quân biệt kích đặc biệt đánh
trong ḷng địch. Trần Hưng Đạo
lại lập đạo
phẫn quân ( lính quyết tử
) tuyển trong các hàng tội đồ
xin lập công chuộc tội. C̣n Việt
Cộng th́ tuyển lớp thanh niên
thuộc gia đ́nh tử sĩ hay có nợ
máu với phe Quốc Gia trước đây.
Du Quân và
Phẫn Quân của nhà Trần
đánh hậu tuyến địch theo lối
hiệp đồng quyết tử. Cách đánh
của biệt động đội thành và đặc
công Việt Cộng cũng y như
Du Quân và
Phẫn Quân của nhà Trần.
Binh pháp truyền thống của Việt
Nam bao giờ cũng t́m ra cách đối
kháng lại ưu thế của địch. Vơ
thuật Việt Nam với Hầu quyền
( tức loài hầu dùng sở trường
hai tay, hai chân và sự thông
minh của nó mà địch lại Hổ quyền,
địch lại sức mạnh của cọp beo )
từ 36 thế biến ra
72 thế, đó là đối pháp của Binh
Thư trong phép nẫm nhất, một mà
cự đông, hai mươi, ba mươi. Nam
Việt Nam th́ không t́m ra được
đối pháp và đối sách nên trong
suốt cuộc chiến, đặc công và
biệt động đội là ưu thế của Việt
Cộng cũng như DU QUÂN và PHẪN
QUÂN là ưu thế của Trần Hưng Đạo
diệt quân Mông.
Cao Thế Dung |