|
BÊN GỈNG LỊCH SỬ 1940 -
1965
» Tác giả:
L.m Cao Văn Luận
» Dịch giả:
» Thể lọai: Hồi kư
37.
Ông Diệm và văn hóa giáo dục
Từ một
quốc gia vừa thoát cảnh chiến tranh, các trường trung tiểu
học c̣n thiếu thốn, ông Diệm đă nỗ lực giải quyết vấn đề
giáo dục, và trong thời gian từ 1955 đến 1958 người ta thấy
các trường trung tiểu học công tư mọc lên khắp nơi. Đại học
Sài G̣n phát triển mạnh mẽ, và đặc biết ông Diệm đă hoàn
toàn đồng ư và tích cực nhúng tay vào việc thành lập Đại học
Huế.
Tại Sài G̣n, ngay từ đầu, nghĩa
là từ 1959, khi đă ổn định t́nh h́nh chính trị, ông Diệm đă
nghĩ đến việc đưa Đại học Sài G̣n lên khu Đại học Thủ Đức.
Ông cũng nghĩ đến việc thành lập Đại học Huế, và trong những
câu chuyện giữa ông Diệm và tôi nhiều lúc ông có nhắc đến dự
cần thiết phải thành lập một Đại học Huế.
Vào ngày mồng 3 Tết năm 1957,
h́nh như cuối tháng giêng năm 1957, theo thường lệ ông Diệm
ra Huế dự lễ giỗ cụ Khả. Tôi đến chào ông tại nhà ông Cẩn,
và ngay đầu câu chuyện ông Diệm nói:
- Này cha, tôi thấy cần phải
thành lập tại Huế một viện Đại học lớn, v́ hai lư do chính.
Thứ nhất là Huế từ trước đă là một trung tâm văn hóa của
nước ta. Ở Huế đă có những truyền thống văn hóa sâu đậm, có
những cơ sở văn hóa lâu đời, như trường Quốc Tử Giám, các
cuộc thi cử Hán học. Dân miền Trung lại hiếu học mà nghèo,
có bao nhiêu thanh niên ưu tú muốn lên Đại học mà không thể
vào Sài G̣n học tiếp. Thứ hai là hiện nay dân chúng xôn xao
đồn đại rằng chính phủ một ngày nào đó có thể bỏ Huế, v́
hiện nay Huế không quan trọng lắm về phương diện chính trị,
kinh tế. Vậy lập Viện Đại học Huế là chứng minh cách cụ thể
với dân chúng, với quốc tế cũng như với bên kia rằng chính
phủ nhất định bảo vệ Huế. Huế chỉ cách vĩ tuyến 17 khoảng
100 cây số, lập ở đây một Đại học lớn chẳng khác nào thách
đố với bọn cộng sản. Nếu bây giờ tôi quyết định lập Đại học
Huế, cha có bằng ḷng giúp tôi không?
Tôi vui mừng thật t́nh. Tôi
cũng đă từng nghĩ như ông Diệm, nhưng tôi lưu ư đến vấn đề
văn hóa và t́nh trạng của dân miền Trung hơn là về các lư do
chính trị.
- Thưa cụ, nếu tôi có thể làm
được việc ǵ để góp công vào việc thành lập một Đại học ở
Huế, th́ cụ có thể tin rằng tôi không ngần ngại chút nào.
Ông Diệm thấy tôi nhận lời th́
có vẻ mừng, gật gù:
- Vậy th́ ít hôm nữa tôi sẽ sai
một phái đoàn ra đây để gặp cha, để thảo luận và nghiên cứu
các chi tiết cụ thể. Hôm đó câu chuyện tại nhà ông Cẩn xoay
quanh việc thành lập Đại học Huế. Trước mặt ông Diệm những
người có mặt tỏ vẻ đồng ư phải thành lập gấp một Đại học tại
Huế.
Tin này đồn ra ngoài, nhất là
trong giới học sinh trung học các năm cuối và giới trí thức,
chính trị ở Huế. Ai cũng tỏ vẻ hân hoan chờ đợi. Nhiều người
đến gặp tôi và thúc giục tôi xúc tiến việc đó nhanh chóng để
làm sao cho đầu niên khóa tới con em họ có thể vào Đại học
ngay tại Huế. Tôi cũng bị lôi cuốn trong bầu không khí phấn
khởi đó.
Khoảng một tháng sau, h́nh như
vào cuối tháng giêng, một phái đoàn từ Sài G̣n ra gặp tôi có
các ông Ngô Đ́nh Nhu, Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Dương Đôn,
Viện trưởng Đại học Sài G̣n Nguyễn Quang Tŕnh và những giáo
sư, chuyên viên khác.
Một cuộc họp được tổ chức tại
ṭa tỉnh Thừa Thiên có tỉnh trưởng và một số trí thức thân
hào nhân sĩ địa phương tham dự. Tôi tŕnh bày với mọi người
những lư do mà ông Diệm đă đưa ra kèm thêm những lư do thực
tế của tôi. Hội nghị thảo luận và đi đến quyết định là v́
những hoàn cảnh đặc biệt, những khó khăn trong ngành giáo
dục, chưa nên làm việc vội vàng hấp tấp quá. Họ nói rằng ở
Huế chỉ nên lập một chi nhánh của Viện Đại học Sài G̣n tùy
thuộc hoàn cảnh vào Viện Đại học Sài G̣n và Bộ Quốc gia giáo
dục. Như vậy Đại học Huế sẽ không thành một đơn vị độc lập
mà chỉ là một số các phân khoa đặt dưới quyền Viện Đại học
Sài G̣n mà thôi. Tôi được cử làm đại diện cho ông Viện
trưởng Viện Đại học Sài G̣n Nguyễn Quang Tŕnh để tổ chức.
Tôi không đồng ư nhưng đành khuất phục trước quyết định của
đa số.
Mấy hôm lưu lại Huế, phái đoàn
đi xem những cơ sở đất đai có thể dùng làm Đại học Huế, như
ṭa Đại biểu chính phủ, khách sạn Morin, ngân hàng Đông
dương vừa được chính phủ mua lại. Phái đoàn về Sài G̣n được
mấy hôm th́ có nghị định thành lập Đại học Huế, nhưng với
các điều khoản đặt Đại học Huế lệ thuộc Viện Đại học Sài
G̣n.
Sau hai tháng hoạt động mỗi
ngày tôi thấy thêm nhiều khó khăn chỉ v́ Huế th́ xa Sài G̣n,
tôi lại không có đủ thẩm quyền quyết định bất cứ việc ǵ mà
phải phúc tŕnh về Viện trưởng Đại học Sài G̣n, về Bộ Quốc
gia giáo dục, rồi lên ông Nhu, ông Diệm. Các thủ tục đó làm
cho công việc chậm trễ, làm cả tôi và những người góp sức
lúc đầu chán nản dần. Tôi vào Sài G̣n tŕnh bày các khó khăn
đó thẳng cho ông Diệm. Tôi nói với ông Diệm rằng ư kiến đầu
của ông Diệm là muốn có một Đại học Huế độc lập, lớn, quan
trọng để thành một chứng minh và thách đố với thế giới và
bên kia, nếu cứ phải chạy quấn trong những thủ tục giấy tờ
rắc rối và những hành lang của giới giáo dục Sài G̣n, th́
không thể đi đến kết quả tốt được. Tôi yêu cầu ông Diệm cho
Đại học Huế qui chế riêng biệt và độc lập, và tôi có quyền
quyết định mọi việc trong phạm vi ích lợi cho Đại học Huế.
Tôi ngỏ ư nếu không được như vậy th́ xin ông Diệm chọn người
khác, và tôi nhận thấy không thể làm việc trong các điều
kiện quá rắc rối như vậy được. Tôi không phải là người có
thể đi ṿng vo qua bao nhiêu hành lang các bộ sở được măi.
Ông Diệm đồng ư:
- Cha yên tâm. Tôi đồng ư với
cha về những điều đó, và sẽ có nghị định thành lập Viện Đại
học Huế tự trị ngay cho cha, và tôi xin mời cha làm Viện
trưởng đầu tiên Viện Đại học Huế.
Tôi trở về Huế ít hôm th́ có
nghị định thành lập Viện Đại học Huế, đồng thời với sắc lệnh
cử tôi làm Viện trưởng.
Bấy giờ tôi xúc tiến nhanh việc
t́m trụ sở, lớp học, địa điểm, đồng thời mời các giáo sư ở
Huế, Sài G̣n và ngoại quốc về hợp tác. Trong giai đoạn đầu
ban giáo sư gồm có mấy người tôi c̣n nhớ là Lê Tuyên, Lê
Khắc Pḥ, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Trường. Vài tháng sau
thêm Lê Thanh Minh Châu và vợ là Tăng Thị Thành Trai.
Ngay niên khóa 1957, Đại học
Huế mở các chứng chỉ dự bị như Năng lực Luật khoa, Văn khoa,
Khoa học. Ngoài ra nhận thấy việc đào tạo giáo sư trung học
và giáo viên tiểu học rất cần thiết cho t́nh trạng phát
triển giáo dục mạnh mẽ hiện nay và tương lai, tôi chú trọng
đặc biệt vào Đại học Sư phạm.
Thấy công việc tạm yên, sau khi
các lớp đầu mở được một vài tháng cuối năm 1957, tôi và Lê
Thanh Minh Châu đi ngoại quốc, với chủ ư nghiên cứu cách
thức tổ chức Đại học đồng thời vận động sự giúp đỡ của các
quốc gia Đồng minh. Trước hết tôi đến Âu châu, rồi sang Mỹ
và Gia Nă Đại.
Tại Mỹ tôi nhận được nhiều sự
giúp đỡ thiết thực và tích cực của một vài tổ chức. Tổ chức
IRC (Intallectual Rescue Commity) giúp đỡ đầu tiên và nhiều
nhất bằng cách cấp cho Đại học Huế một khoảng tiền mặt đủ để
tăng thêm lương cho mỗi giáo sư 5.000 đồng mỗi tháng. Nhờ đó
công việc mời giáo sư giảng dạy tại Đại học Huế được dễ dàng
hơn. Tôi đánh điện về nước báo tin vui, và nói với các anh
em ở nhà dựa theo tiêu chuẩn lương bổng mới mà mời thêm giáo
sư.
Cơ quan thứ hai giúp đỡ quan
trọng cho Đại học Huế là Asia Foundation.
Ngoài những ngân khoản dùng để
xây cất cư xá sinh viên, tổ chức thể thao, cơ quan này c̣n
cấp nhiều học bổng cho các sinh viên Đại học Huế, và nhờ đó
khuyến khích các sinh viên cũng như tăng uy tín cho Đại học
Huế.
Một tổ chức thứ ba tuy nhỏ
nhưng tích cực giúp đỡ Viện Đại học Huế, là tổ chức New Land
Foundation, do giáo sư Burtinguer làm chủ tịch. Ngay trong
lần gặp gỡ đầu, giáo sư đă tỏ ra sốt sắng giúp đỡ, và hứa
giúp mỗi năm 5.000 Mỹ kim tiền mặt, và sau hai năm tổ chức
này tăng lên 7.000 Mỹ kim mỗi năm.
Tôi cũng đến thăm vài Viện Đại
học Hoa Kỳ và ở đây tôi cũng nhận được những sự khuyến khích
nồng hậu của họ. Hầu hết đều hứa hẹn dành cho Đại học Huế
một vài học bổng, và nếu cần ǵ trong khả năng và quyền hạn
của họ th́ tôi cứ liên lạc sau, họ sẽ cố gắng giúp đỡ.
Tôi trở về Sài G̣n và vào gặp
Tổng thống Diệm tŕnh bày kết quả chuyến đi. Tổng thống rất
lưu ư đến Đại học Huế cho nên khi hay tin thêm nhiều tổ chức
có thiện cảm và giúp đỡ cụ thể Đại học Huế ông mừng lắm.
Riêng ông rất tích cực trong việc mở mang Đại học Huế.
Cần đến điều ǵ, tôi thường vào
Sài G̣n tŕnh bày thẳng với ông và trong hầu hết các trường
hợp đều được ông chấp thuận, đôi khi quá mức hy vọng của
tôi. Lúc đầu một vài người đưa ư kiến t́m một khu đất rộng ở
ngoại ô để lập một khu Đại học Huế thật rộng răi xứng đáng.
Tôi thấy ư kiến này có điều hay, nhưng chỉ ngại t́nh h́nh an
ninh không được bảo đảm, sẽ làm hỏng tất cả mọi việc, nên đề
nghị chọn một vài khu đất rộng c̣n trống trong thành phố th́
hơn. Do đó các cơ sở mới của Đại học Huế được xây cất trên
khu đất trống của ṭa Khâm sứ cũ, hoặc trên đất Hồ Đắc Trung
trước ṭa Đại biểu cũ.
Các họa đồ đều do Ngô Viết Thu
vẽ rồi tŕnh thẳng lên ông Diệm duyệt. Tôi nhớ một hôm tôi
về Sài G̣n, ông Diệm đưa tôi xem họa đồ khu cư xá giáo sư do
Ngô Viết Thu vẽ vừa đưa lên. Ngô Viết Thu khi đó cũng có mặt
trong pḥng. Ông Diệm chăm chú nh́n vào họa đồ, rồi hỏi Ngô
Viết Thu:
- Phải có chỗ để phơi quần áo
chớ. Chẳng lẽ bắt người ta phơi quần áo đầu giường sao?
Tôi và Ngô Viết Thu đều có vẻ
ngạc nhiên, v́ không nghĩ ra ông Diệm có thể chú ư đến những
việc nhỏ bé như vậy. Điều này chứng tỏ ông Diệm lưu tâm đến
đại học Huế chừng nào, và cũng chứng tỏ rằng trong nhiều vấn
đề, ông Diệm rất hết sức tỉ mỉ, không hàm hồ như nhiều người
chê trách sau này. Ngô Viết Thu phải sửa sơ lại họa đồ, và
thêm pḥng phơi quần áo cho cư xá giáo sư.
Mỗi lần ra Huế, ông Diệm đều
đến thăm đại học Huế, và bàn thêm với tôi về những cách thức
củng cố và mở mang đại học Huế. Điều này có lúc gây ra đôi
chút đố kỵ từ giới Đại học và giáo dục ở Sài G̣n thời bấy
giờ, mà tôi sẽ tŕnh bày trong việc thành lập đại học Y khoa
Huế.
Hết năm 1958, Viện đại học Huế
có thể gọi là đă trưởng thành về mọi mặt. Các phân khoa hoạt
động đều đặn. Bấy giờ tôi bắt đầu nghĩ đến việc mở thêm đại
học Y khoa, tôi cho rằng đại học Huế có Y khoa th́ mới gọi
là đầy đủ được. Tôi từng đọc những bản thống kê về con số
bác sĩ trên thế giới, th́ thấy rằng tính theo dân số, tỉ lệ
các bác sĩ Việt Nam c̣n lém hơn Phi châu. Ở Việt Nam cứ
30.000 người dân một bác sĩ, trong lúc ở Phi châu, chỉ tr6en
20.000 dân đă có một bác sĩ.
Một t́nh trạng khan hiếm bác sĩ
trong một quốc gia đang mở mang tai hại đến nhiều thế hệ về
sau. Tại nông thôn t́nh trạng khan hiếm bác sĩ càng rơ rệt.
Ở Huế những quận lớn và đông dân cư như Hương Thủy, Cầu Hai
không có được một bác sĩ dân sự nào, mặc dầu có những người
địa phương tốt nghiệp bác sĩ. Các bác sĩ quy tụ cả vào Sài
G̣n và những thành phố lớn. Riêng trong thành phố Huế, con
số bác sĩ dân y và những bác sĩ quân y mở pḥng mạch riêng
ngoài phố cũng không đủ so với dân số Huế.
Tôi đă lưu tâm đến vấn đề khan
hiếm bác sĩ, cán sự y tế từ khi về nước. Tôi c̣n nhớ lúc làm
cha xứ Đan Sa ở Quảng B́nh tôi đă chứng kiến sự khốn khổ của
người dân thiếu hiểu biết y tế, thiếu bác sĩ là như thế nào,
v́ đó ngay từ khi mới mở Đại học Huế, tôi đă cố gắng thêm
những khóa cán sự điều dưỡng và nữ hộ sinh quốc gia.
Nhưng không ai có thể thay thế
được những bác sĩ có khả năng, giàu lương tâm chức nghiệp.
Với tất cả những ưu tư đó, vào
cuối năm 1958, tôi vào Sài G̣n gặp ông Diệm để tŕnh bày về
sự cần thiết phải mở đại học Y khoa Huế. Tôi đưa ra mọi lư
lẽ để thuyết phục ông Diệm.
- Thưa cụ, giữa thời đại văn
minh này, nhiều làng mạc, thôn xóm Việt Nam, nhiều người
Việt Nam vẫn chữa bệnh theo lối đồng bóng phù thủy, cầu
thánh. Người ta đă chỉ trích cái tinh thần mê tín dị đoan
của dân Việt Nam, nhưng không ai chịu bứng cái gốc của sự mê
tín dị đoan đó, là v́ Việt Nam thiếu hiểu biết về vệ sinh y
tế, và thiếu bác sĩ ở nông thôn. Miền Trung vừa nghèo vừa
đông dân cư, t́nh trạng thiếu bác sĩ càng trầm trọng hơn bất
cứ nơi nào khác. Tôi thấy cần phải mở đại học Y khoa Huế để
đào tạo những sinh viên Huế có khả năng và ham thích Y khoa
trở thành những bác sĩ. Hẳn cụ cũng biết hằng năm đại học Y
khoa Sài G̣n chỉ đào tạo được vài chục bác sĩ, trong số đó
một phần đă phải vào ngành quân y. Hằng năm có đến hàng ngàn
sinh viên thi vào Y khoa, nhưng đều bị loại không phải v́ họ
thiếu khả năng, không đúng tiêu chuẩn nhưng chỉ v́ mức thu
nhận của đại học Y khoa Sài G̣n quá ít ỏi. Bây giờ dù có mở
thêm đại học Y khoa Huế chúng ta cũng không sợ thiếu sinh
viên, hay ứ đọng bác sĩ…
Cụ Diệm có vẻ hết sức lưu tâm
đến vấn đề. Cụ đồng ư với những lập luận của tôi, gật gù hứa
hẹn:
- Cha nói đúng. Nước ḿnh thiếu
bác sĩ một cách trầm trọng. Tôi đă lưu ư đến t́nh trạng này
từ lâu, nhưng vấn đề hết sức quan trọng, lại nặng tính cách
chuyên môn quá nhiều nên tôi không thể đơn phương quyết
định được. Tôi hứa với cha sẽ đưa vấn đề ra thảo luận trong
một hội đồng nội các gần nhất. Riêng tôi, hoàn toàn ủng hộ
đề nghị của cha.
Tôi ra về, có vài phần tin
tưởng.
Ba tuần sau chẳng thấy tin tức
ǵ, tôi lại vào Sài G̣n và đến gặp Tổng thống. Tổng thống
cho biết rằng vấn đề đă được đưa ra một hội đồng nội các
cách đây 10 hôm, nhưng các ông bộ trưởng đều bác bỏ, sau khi
tham khảo giới đại học Y khoa Sài G̣n.
- Thưa cụ, họ viện ra những lư
do ǵ để bác bỏ?
- Tôi cũng thấy những lư do họ
đưa ra không vững vàng chi lắm, nhưng nó chứng tỏ rằng họ
không muốn có thêm một đại học Y khoa. Họ nói rằng cả nước
Việt Nam chỉ cần có một đại học Y khoa là đủ lắm rồi.
Tôi bực tức hết sức:
- Thế nào gọi là đủ được, thưa
cụ. Phi châu cứ 20.000 dân đă có một bác sĩ, trong lúc Việt
Nam tự hào có bốn ngàn năm văn hiến, cụ lại đương có dự tính
làm cho nước Việt Nam đóng vai lănh tụ Đông Nam Á mà trên
30.000 dân mới có được một bác sĩ, th́ gọi là đủ làm sao
được. Hơn nữa như cụ hiểu hơn ai hết, các bác sĩ phần lớn
đều quy tụ vào các thành phố lớn, c̣n ở nông thôn có khi
cách hàng chục cây số chưa t́m ra được một bác sĩ. Ngày xưa
dân chúng c̣n chữa trị bằng thuốc bắc, thuốc nam được là nhờ
các cụ đồ nho tham khảo sách Tàu được, nay lớp người đó đă
quy tiên, lớp trẻ lớn lên không hiểu chữ Nho, những thầy
thuốc Bắc ngày nay càng ngày càng suy đồi về nghề nghiệp,
chỉ c̣n giữ được vài phương thuốc gia truyền. Nhiều khi họ
chữa trị bậy bạ, làm hại cho sức khỏe của dân chúng hơn là
làm lợi.
Ông Diệm có vẻ thông cảm với sự
bực tức của tôi, b́nh tĩnh giải thích:
- Ngoài lư do trên đây, họ c̣n
viện lẽ rằng hiện nay số bác sĩ giảng viên Y khoa của Việt
Nam rất thiếu, may lắm vừa đủ cung ứng cho đại học Y khoa
Sài G̣n, mà không thể nào cung ứng thêm cho một đại học Y
khoa thứ hai nào khác. Nếu mở đại học Y khoa Huế, chả lấy
đâu ra bác sĩ giáo sư.
- Thưa cụ, tôi đồng ư là chúng
ta thiếu giáo sư, không những về Y khoa, mà về mọi ngành đại
học khác . Nhưng không lẽ v́ thấy thiếu rồi chúng ta không
làm ǵ cả, không mở đại học kỹ thuật, đại học khoa học v.v…?
Chúng ta phải t́m cách để giải quyết những khó khăn đó.
Chẳng hạn chúng ta có thể yêu cầu những quốc gia Đồng minh
giúp cho chúng ta một số giáo sư Y khoa…
Ông Diệm có vẻ đồng ư hơn với
tôi:
- Cha ngồi chờ một lát tôi gọi
ông Bộ trưởng Quốc gia giáo dục và hỏi qua ư kiến một chút.
Ông Diệm nhấc điện thoại gọi
ông Trần Hữu Thế, lúc bấy giờ vừa thay Nguyễn Dương Đôn làm
Bộ trưởng giáo dục. Chỉ vài phút sau th́ ông Thế vào.
Ông Thế không có thêm ư kiến
mới lạ nào, ngoài những điều đă đưa ra trong hội đồng nội
các mười hôm trước nhằm bác bỏ việc thành lập đại học Y khoa
Huế. Ông Diệm nói:
- Sau khi bàn với cha Luận, tôi
thấy có thể mở đại học Y khoa Huế, và đă quyết định thành
lập đại học Y khoa. Ông Bộ trưởng cho thảo sắc lệnh mai đem
lên tôi kư.
Ba người ngồi lại thảo luận
thêm một chút. Ông Diệm hỏi tôi:
- Bây giờ cha đă có sắc lệnh
rồi, cha làm cách nào mở được đại học Y khoa Huế?
Ông Thế có vẻ cũng muốn hiểu
điều đó. Tôi đă có chủ ư rồi.
- Thưa cụ, hôm nay có sắc lệnh,
không phải là ngày mai có liền một đại học Y khoa. Nhưng sắc
lệnh đó cho tôi một căn bản để hoạt động, kêu gọi các ṭa
Đại sứ, các nước Đồng minh, các Viện đại học Y khoa lớn trên
thế giới giúp đỡ ḿnh, cũng như để có căn bản mời những bác
sĩ giáo sư Việt Nam ở ngoại quốc về nước. Có thể là hôm nay
có sắc lệnh, nhưng năm sau hay lâu hơn nữa mới có thể mở
được. Nhưng nếu hôm nay không có sắc lệnh c̣n nói chi đến
chuyện có một Viện đại học Y khoa Huế.
Ông Diệm và Trần Hữu Thế có vẻ
đồng ư điều đó. Ông Diệm gật đầu:
- Được rồi ngày mai cha sẽ có
sắc lệnh.
Quả thực ngày mai vào pḥng ông
Diệm, tôi đă thấy sắc lệnh thành lập đại học Y khoa Huế để
trên bàn làm việc của ông Diệm. Ông Diệm trịnh trọng cầm sắc
lệnh trao cho tôi, nh́n tôi một lúc lâu:
- Tôi đặt hết tin tưởng vào nơi
cha, nhưng tôi lo sợ cha làm không thành th́ bọn trí thức
Sài G̣n, nhất là giới Y khoa ở đây, chẳng những cười cha mà
c̣n chê tôi nữa. Cầu chúc cha thành công.
- Tôi sẽ cố gắng hết sức ḿnh,
và tin rằng sẽ thành công, nhưng mọi việc c̣n nhờ cụ nhiều
lắm.
Tiễn tôi ra cửa, ông Diệm c̣n
căn dặn:
Những ǵ trong phạm vi khả năng
của tôi, chắc chắn là tôi không từ chối đâu, nhưng tôi thấy
công việc thật là khó khăn.
Đă có sắc lệnh trong tay, tôi
đi gặp các ṭa Đại sứ, phần nhiều được các tham vụ văn hóa
các ṭa Đại sứ này đón tiếp nồng hậu, ghi nhận sự thông báo
và yêu cầu của tôi, và nơi nào cũng hứa sẽ nghiên cứu rồi
t́m cách giúp đỡ sau. Người thứ nhất mà tôi đến t́m gặp là
ông Costler, Phó Giám đốc cơ quan Viện trợ Hoa Kỳ. Ông tỏ vẻ
hiểu biết, cho tôi biết rằng Hoa Kỳ có thể giúp đỡ Việt Nam
rất nhiều về mặt khoa học kỹ thuật nhưng không thể giúp ǵ
cho Y khoa được. Từ ba năm nay Hoa Kỳ cũng rất muốn giúp đỡ
Y khoa Việt Nam phát triển nhưng v́ sự cạnh tranh giữa hai
khuynh hướng Pháp và Mỹ nên đành bó tay.
Tôi hứa với ông là trong đại
học Y khoa Huế tương lai vấn đề cạnh tranh ảnh hưởng giữa
Pháp và Mỹ sẽ không được đặt thành. Ông hứa sẽ nghiên cứu sự
yêu cầu giúp đỡ của tôi và sẽ thông báo kết quả cho tôi sau.
Nơi thứ hai mà tôi t́m đến là
ṭa Đại sứ Pháp.
Ông tham vụ văn hóa ṭa Đại sứ
Pháp trả lời cho tôi biết rằng Pháp hiện đă dốc các nỗ lực
giúp cho đại học Y khoa Sài G̣n, và thấy khó có thể giúp
thêm cho đại học Y khoa Huế, v́ vậy không thể hứa điều ǵ
ngay lúc này, nhưng sẽ nghiên cứu và cho biết sau.
Tôi đến ṭa Đại sứ Tây Đức, và
được ông Đại sứ là ông Von Wenland tiếp cách nồng hậu, niềm
nở. Ông Đại sứ cho biết rằng vấn đề khó khăn, tế nhị v́ ở
Đức quyền các tiểu bang khá lớn, và quy chế tự trị đại học
có tính cách gần như tuyệt đối. Chính phủ liên bang dù muốn
làm việc ǵ cũng phải được sự đồng ư của tiểu bang và của
các Đại học.
Tuy nhiên ông hứa sẽ t́m mọi
cách giúp đỡ tôi trong việc thành lập đại học Y khoa Huế.
Ông cho biết tuần sau ông sẽ cử một cố vấn văn hóa ra Huế
xem xét và nghiên cứu.
Tôi về Huế được một tuần th́
ông bác sĩ Jacob cố vấn văn hóa ṭa Đại sứ Đức ra thăm tôi
và thảo luận về những chi tiết thành lập đại học Y khoa.
Ngoài ra tôi cũng dẫn ông đến quan sát bệnh viện trung ương
Huế.
Lúc tôi trở vào Sài G̣n, ông
hỏi tôi:
- Tôi rất thiện cảm với chương
tŕnh của cha nhưng xin cha cho biết việc đầu tiên mà nước
tôi có thể giúp cha là việc ǵ?
- Tôi đă có sắc lệnh, nhưng
chính tôi cũng chưa biết phải làm ǵ, bắt đầu từ chỗ nào.
Vậy việc đầu tiên và dễ dàng mà tôi yêu cầu ṭa Đại sứ Đức
giúp cho là phái sang đây một giáo sư đứng tuổi, nhiều kinh
nghiệm giảng dạy và tổ chức đại học Y khoa. Ông sẽ sống ở
đây với tôi vài tháng, để quan sát và nghiên cứu rồi phúc
tŕnh về ṭa Đại sứ và về nước Đức, đồng thời ông có thể làm
cố vấn cho tôi.
Bác sĩ Jacob đồng ư, và cho
rằng việc đó có lẽ không khó khăn lắm và sẽ được chấp thuận
dễ dàng.
Hai tháng sau, bác sĩ Krainick,
giáo sư thạc sĩ đứng tuổi, từng giảng dạy tại đại học đường
Y khoa Freiburg, được chính phủ và Bộ ngoại giao Đức phái
đến Huế. Ông lưu lại Huế 2 tháng hơn, làm việc tại bệnh viện
Trung ương Huế và nhận định rằng bệnh viện này đủ điều kiện
cung cấp những phương tiện nghiên cứu cho một đại học Y
khoa.
Ông làm phúc tŕnh lên ṭa Đại
sứ Đức, với đề nghị là Đức nên giúp đỡ Việt Nam thành lập
đại học Y khoa Huế. Các nhận định của ông trong bản phúc
tŕnh hết sức thuận lợi. Ông đề nghị với tôi là sau khi ông
về nước Đức vài tháng, tôi nên sang Đức, đi vận động các
tiểu bang và các Đại học, v́ ông cho tôi biết như Đại sứ Đức
đă nói, quyền các tiểu bang và các đại học ở Đức rất lớn.
Tôi vào Sài G̣n tŕnh bày những
kết quả và đề nghị là có thể xúc tiến ngay công việc xây cất
trường sở. Tôi xin một ngân khoản 5, hay 6 triệu đồng để mở
những cơ sở đầu tiên, chuẩn bị mở lớp thứ nhất vào năm học
tới. Ông Diệm đồng ư nhưng nói rằng hiện nay không c̣n một
ngân khoản nào có thể rút ra được để bỏ vào đại học Y khoa
Huế. Tôi đề nghị cho tôi lấy tiền lời xổ số kiến thiết liên
tiếp 8 kỳ. Ông Diệm đồng ư và số lời 8 kỳ xổ số kiến thiết
được khoảng 6 triệu. Tôi có thể bắt đầu xây cất những cơ sở
đầu tiên ngay.
Công việc được giao cho nhà
thầu, xây theo họa đồ của Ngô Viết Thu. Tôi và Lê Khắc Quyến
đi Đức rồi sang Ba-Lê sau. Đại sứ Việt Nam tại Bonn là Hà
Vĩnh Phương hết sức hăng hái giúp đỡ tôi, đích thân trông
nom việc tổ chức thăm viếng các nơi. Trước hết tôi đến gặp
ông Giám đốc viện trợ hải ngoại, nằm trong Bộ ngoại giao
Đức. Bộ này phụ trách mọi công việc viện trợ ngoại quốc. Ông
này cho biết Bộ ngoại giao và chính phủ Đức đă nhận được
phúc tŕnh của giáo sư Krainick, và hết sức sẵn ḷng giúp đỡ
tôi trong việc thành lập đại học Y khoa Huế, nhưng cho tôi
biết rằng chính phủ liên bang không thể bổ nhiệm các giáo sư
y khoa, v́ các giáo sư Y khoa nằm trong quyền điều động của
các đại học tự trị. Ông khuyên tôi đến thăm các đại học lớn
ở Đức, và thuyết phục các đại học này bảo trợ cho đại học Y
khoa Huế. Ông c̣n cho biết rằng bất cứ giáo sư Y khoa nào
đồng ư sang giảng dạy ở Huế, sẽ được chính phủ trung ương
đài thọ lương bổng và mọi đề nghị của họ về việc trang bị
dụng cụ y khoa sẽ được chính phủ thỏa măn.
Trước hết tôi đi thăm Cologne
và đại học Y khoa ở đó. Tôi được Viện trưởng tiếp đăi niềm
nở, nhưng cho biết rằng đại học Cologne nhỏ bé, lại đă bảo
trợ cho một đại học ở Phi châu, v́ nơi đó là cựu thuộc địa
của Đức, nên chỉ có thể giúp đỡ một cách khiêm tốn là cấp
học bổng cho các bác sĩ Việt Nam nào muốn làm giáo sư.
Tôi sang thăm đại học Tự Do Bá
Linh ở Tây Bá Linh, gặp Viện trưởng và Khoa trưởng Y khoa,
nhưng ở đây họ cũng tŕnh bày các lư do tương tự như ở
Cologne và cũng đề nghị cách giúp đỡ tương tự. Tại
Heidenburg, Stugrat người ta cũng nói tương tự như vậy. Tôi
chỉ c̣n trông cậy vào đại học Freiburg, là nơi giáo sư
Krainick làm giáo sư.
Ở đây tôi được đón tiếp đặc
biệt, v́ đă được giáo sư Krainick về trước mấy tháng vận
động cho. Tôi được hướng dẫn đến gặp Thủ tướng tiểu ban là
ông Keisinger (sau này làm Thủ tướng Tây Đức). Freiburg
thuộc tiểu bang Baden Baden. Ông Keisinger hứa sẽ giúp đỡ
Đại học Y khoa Huế.
Có một chi tiết đáng nhớ là
trong cuộc tiếp xúc chúng tôi nói chuyện qua một thông ngôn,
nhưng sau, trong một buổi tiệc, ông Keisinger nói chuyện
bằng tiếng Pháp và nói rất giỏi. Tôi hỏi lư do th́ được biết
rằng sở dĩ trong cuộc tiếp xúc chính thức, ông sử dụng thông
ngôn là v́ vấn đề nghi lễ, thủ tục.
Tôi đến gặp Tổng Giám Mục
Freiburg, v́ biết rằng ở đây Đức Tổng Giám Mục có ảnh hưởng
lớn trong giới đại học. Tại đại học đường Freiburg có phân
khoa thần học, đều do các linh mục dạy và các linh mục này
đều được Tổng Giám Mục đề cử. Viện trưởng vừa từ chức là một
linh mục, và hiện vẫn c̣n có nhiều ảnh hưởng trong giới đại
học.
Đức Tổng Giám Mục rất thiện cảm
với những nỗ lực của tôi và hứa sẽ hết sức giúp đợ trong
phạm vị khả năng và ảnh hưởng của ngài.
Riêng đại học Y khoa Freiburg
th́ Viện trưởng và Khoa trưởng đồng ư để đại học Y khoa
Freiburg bảo trợ cho đại học Y khoa Huế, trong năm đầu sẽ
cung cấp 3 giáo sư, và để khích lệ giáo sư, những năm giảng
dạy ở Huế cũng vẫn được tính vào thâm niên công vụ như là
dạy ở Freiburg vậy. Ngoài ra đại học Freiburg sẵn sàng huấn
luyện cho các bác sĩ trở thành giáo sư Y khoa.
Tôi có ghé Thụy Sĩ và thăm đại
học Công giáo nhưng không được sự giúp đỡ nào đáng kể.
Như thế chuyến thăm Đức của tôi
có thể coi như thành công. Tôi đi Ba-Lê với ư đĩnh t́m một
bác sĩ giáo sư người Việt Nam có tiếng, có ttài để về làm
khoa trưởng Y khoa đầu tiên của đại học Y khoa Huế. Tôi có
biết bác sĩ Lê Tấn Vĩnh, một giáo sư thạc sĩ nổi tiếng hiện
làm trong pḥng nghiên cứu của giáo sư Lelong tại đại học Y
khoa Ba-Lê. Tôi tŕnh bày với ông mọi dự tính của tôi và cố
gắng thuyết phục ông. Ông Vĩnh đồng ư nhưng cho biết rằng
ông bận những công việc nghiên cứu quan trọng ở Pháp và
không thể mất cơ hội hiện có này, nên chỉ có thể về Việt Nam
mỗi năm 6 tháng mà thôi.
Ông Vĩnh nói rằng muốn cho ông
có thể về nước được th́ tôi phải gặp và thuyết phục giáo sư
Lelong.
Tôi đến gặp giáo sư Lelong,
tŕnh bày mọi việc khẩn khoản mời giáo sư Vĩnh, ông Lelong
tỏ ra hết sức quư mến ông Vĩnh, và cho tôi biết rằng Việt
Nam có một người như ông Vĩnh, nhưng nếu ông Vĩnh từ bỏ
những công cuộc nghiên cứu hiện ông đang theo đuổi th́ chẳng
những thiệt hại cho Việt Nam mà thiệt hại cả cho thế giới.
Tuy nhiên ông cũng đồng ư để cho ông Vĩnh về Việt Nam mỗi
năm sáu tháng.
Tôi về Việt Nam, và vẫn tiếp
tục liên lạc thường xuyên với đại học Freiburg và bác sĩ Lê
Tấn Vĩnh. Vài tháng sau bác sĩ Vĩnh về Huế và giữ chức khoa
trưởng Y khoa đầu tiên. Ngày nay sở dĩ ít ai nhớ đến ông
Vĩnh là v́ ông làm khoa trưởng Y khoa được vài tháng th́ bị
bệnh, phải trở sang Pháp để chữa trị. Thực ra bên trong c̣n
nhiều uẩn khúc, mà tôi ngần ngại không muốn nói ra, sợ làm
mất ḷng một số người. Nhưng tôi thiết nghĩ cần phải nói lên,
để lưu ư những người có trách nhiệm về sau. Quả thực ông
Vĩnh bị bệnh, nhưng đó không phải là nguyên nhân chính buộc
ông từ bỏ đại học Y khoa Huế vĩnh viễn.
Sau mấy tháng làm khoa trưởng,
ông Vĩnh cố gắng hết sức, nhưng gặp phải sự đố kỵ của giới Y
khoa Sài G̣n, làm cho ông buồn bực, chán nản. Ông tưởng rằng
về nước với tất cả thiện chí, ông có thể giúp ích cho nước
nhà, và ít nhất cũng được các đồng nghiệp hiểu cho điều đó,
không ngờ chỉ gặp sự đố kỵ, ghen ghét, tị hiềm. Tính ông
không muốn rơi vào những mưu mô, những vận động đen tối, nên
nhân có bệnh, ông rời Huế và về sau báo tin cho tôi biết ông
quyết định từ chức, yêu cầu tôi chọn người thay thế.
Niên khóa 1959 lớp dự bị Y khoa
đầu tiên của đại học Y khoa Huế khai giảng. Các giáo sư đă
tạm đủ để phụ trách lớp này nhưng trường sở c̣n thiếu nhiều
lắm. 6 triệu tiền lời xổ số kiến thiết chưa đủ vào đâu. Tôi
vào Sài G̣n tŕnh bày cho ông Diệm, và được cấp thêm 10
triệu, nhưng khi tính vào các khoản vẫn thấy thiếu.
Tôi đến gặp ông Seabern, đại sứ
trưởng phái bộ Gia Nă Đại trong Ủy hội kiểm soát đ́nh chiến.
Ông Seabern mừng rỡ cho tôi biết rằng tôi đến thật đúng dịp
may, Gia Nă Đại vừa cấp 30 triệu đồng Việt Nam trong khoản
thặng dư tiền bán lúa mỳ năm nay nhưng chưa sử dụng vào việc
ǵ. Ông cho biết thêm rằng Đức cha Ngô Đ́nh Thục có xin được
cấp ngân khoản đó để dùng vào đại học Đà Lạt, nhưng chính
phủ Gia Nă Đại cho rằng đại học Đà Lạt là một đại học tư
thục Công giáo, nước ông lại là nước vừa Công giáo, vừa Tin
lành, cho nên chính phủ không muốn mắc tiếng là thiên vị tôn
giáo nào. Ông sẵn sàng cấp 25 triệu cho đại học Y khoa Huế
và 6 triệu cho đại học Khoa học để xây một giảng đường lớn.
Tôi cũng muốn nhắc lại là mặc dù từ lúc đầu phái bộ viện trợ
Mỹ hứa giúp đỡ, nhưng trên thực tế măi hai năm sau khi đại
học Y khoa hoạt động, Mỹ mới bắt đầu giúp đỡ, trang bị các
pḥng thí nghiệm và cấp 60 triệu xây cất thêm trường đại học
Sư phạm và trường trung học kiểu mẫu.
Kết thúc phần tŕnh bày sự
thành lập đại học Huế tôi nhận định rằng trong những năm
1957-1962, đại học Huế đă phát triển mạnh và ổn định chính
trị ở Việt Nam làm cho các nước Đồng minh tin tưởng vào
tương lai Việt Nam, nên sẵn sàng giúp đỡ cho Việt Nam mà
không sợ phí.
Yếu tố thứ hai, là ông Diệm đặc
biệt chú ư đến việc thành lập củng cố và phát triển đại học
Huế. Trong phạm vị phương tiện và khả năng của ông, tôi nhận
thấy ông Diệm đă không ngần ngại một việc ǵ để giúp cho đại
học Huế lớn mạnh. Ông có thể sai lầm về chính trị, nhưng
những nỗ lực phát triển văn hóa, điển h́nh là thành lập và
mở mang đại học Huế, th́ tôi thấy cần phải công tâm và nhận
định rằng ông Diệm đă có công đáng kể. Biết bao nhiêu người
quyền hành trong tay đă không làm được như ông Diệm.
Những năm 1956-1961 là những
năm cực thịnh của chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Lúc bấy giờ Việt
cộng chỉ bắt đầu khuấy phá một vài nơi, và phần lớn chỉ là
những sự phá hoại, giật ḿn, đánh lén những đồn bót hẻo lánh.
Tuy nhiên lúc này ông Diệm đă chú ư đến mối đe dọa của cộng
sản, cho nên một mặt ông tung ra phong trào tố cộng, mặt
khác bắt đầu thực hiện kế hoạch ấp chiến lược.
Uy quyền ông Diệm quá lớn nhưng
thuộc hạ chẳng mấy ai là người tài giỏi hay có tư cách vững
chăi, cho nên mọi quyết định ông Diệm đưa ra chẳng bao giờ
có ai cản trở hay can gián.
Chung quanh chiến dịch tố cộng
thời bấy giờ, tôi nhận thấy nhiều lạm dụng, lộng quyền, vu
khống, oan ức.
Nhưng bởi v́ tôi không nắm đầy
đủ mọi sự kiện, lại không có thẩm quyền ǵ, nên không thể
đưa ra ư kiến trái ngược nào với ông Diệm hoặc ông Nhu. Tôi
nghe nói lại một vài nơi ở thôn quê, cách thức tố cộng đă
học đ̣i lối tố khổ, đấu tố của cộng sản.
Các giáo sư trong Viện đại học
Huế, cũng được phân phát những tài liệu học tập tố cộng,
nhưng v́ tôi không đặc biệt quan tâm, cho nên họ cũng hội
họp bàn bạc lấy lệ, không có tính cách bắt buộc ai cả.
============================
BÊN GỈNG LỊCH SỬ 1940 -
1965
Mục lục tác phẩm
1.
Lư do nào
thúc đẩy tôi viết hồi kư?
2. Những cái
mốc trong lịch sử
3. Hy vọng
và tỉnh mộng của người Việt Nam ở Pháp
4. Vua Duy
Tân và Phong Trào “Cờ Tự Trị” tại Pháp
5. Những bí
ẩn từ “Lon” Chuẩn Úy đến “Lon” Đại Tá của ông vua Cách Mạng
6. Trung
thành với mẫu quốc…
7. Cộng sản
Pháp và nền độc lập ở Việt Nam
8. Ba lần
gặp gỡ Hồ Chí Minh
9. Lần gặp
gỡ thứ nhất giữa tôi và cụ Hồ: Số phận người công giáo trong
số phận Việt Nam
10. Cụ Hồ
khuyên tôi: Chú c̣n trẻ, đẹp trai, Không lấy vợ uổng quá
11. Những
hoạt động của Hồ Chí Minh trong ba tháng rưỡi ở Pháp
12. Ngày
Cát-To-Duy-Ê 1946: Cụ Hồ thành Quốc Khách của Pháp
13. Lần thứ
ba, cụ Hồ nói rơ phải đánh Tây nếu…
14. Hồ Chí
Minh yêu cầu tôi viết một lá thơ…
15. Cụ Hồ
đến pḥng ngủ Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp
16. Ngày về
âm thầm
17. Ở Pháp
nghe tiếng vọng Chiến Tranh từ nước nhà
18. Nh́n
cảnh trâu cày mắt rưng lệ
19. Gặp các
cộng sự viên đầu tiên của Ngô Đ́nh Diệm
20. Huế
điêu tàn và buồn thảm
21. Câu
chuyện bên ḷ sưởi năm 1948
22. Bảo Đại:
Con người chán chường và thấm mệt
23. Cha
Houssa, người đưa ông Diệm vào chính trường Mỹ
24. Ngô
Đ́nh Cẩn, người có trí nhớ phi thường
25. Ông Cẩn
nhờ tôi xuất ngoại gặp ông Diệm
26. Gặp lại
cụ Diệm ở Ba-Lê
27. Ông
Diệm tâm sự: Tôi cũng mong về, nhưng Bảo Đại chưa nói chi,
không lẽ ḿnh năn nỉ
28. Cuộc
hội kiến với Nguyễn Đệ
29. Cuộc
hội kiến với một lănh tụ Cộng sản Nguyễn Khắc Viện
30. Chuyến
sang Mỹ đầu tiên
31. Bác sĩ
Phan Quang Đán sẵn sàng hợp tác với cụ Diệm
32. Từ Nữu
Ước trở lại Ba-Lê
33. Ông
Diệm trở vế nước lập chính phủ: 7-7-1954
34. Công
đầu của Tổng thống Diệm: Định cư 1.000.000 người
35. Ông
Diệm đối với B́nh Xuyên và các đảng phái chính trị
36. Thời
thịnh đạt nhất của chế độ Diệm
37. Ông
Diệm và văn hóa giáo dục
38. Chế độ
bắt đầu nứt rạn
39. Chế độ
bị dư luận và Chính quyền Mỹ chống đối
40. Lần gặp
gỡ cuối cùng với Tổng thống Diệm
41. Cơn hấp
hối của chế độ
42. Cuộc
đảo chánh và cái chết của Tổng thống Diệm
43. Tôi trở
lại Huế
44. Những
cơn sóng gió mới
45.
Vĩnh biệt Huế |