TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
Hà Minh Thảo

 

 

 

TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
Hà Minh Thảo

 

BÀI 1. THỜI GIAN TRƯỚC KHI CHẤP CHÁNH NĂM 1954.

 

 

 

 

« Điều mà tôi cảm thấy hănh diện nhất là được phục vụ bên cạnh Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, được ông thương mến và tin cậy. Lúc đó, tôi chỉ là một sĩ quan mang cấp bực Thiếu tá, đảm nhận một vai tṛ nhỏ bé trong Lữ đoàn Liên minh Pḥng vệ Phủ Tổng thống. Nhờ cơ duyên này, tôi được biết rơ Tổng thống là một người rất đạo đức và liêm chính, lại kèm theo một nếp sống thật giản dị, khiêm nhường. Trong những năm tháng được gần ông, tôi chưa từng thấy ông đ̣i hỏi riêng ǵ cho cá nhân ḿnh, mà chỉ thấy lúc nào ông cũng ưu tư lo cho dân, cho nước. Đối với tôi, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, người khai sáng ra nền Đệ nhất Cộng ḥa, xứng đáng là một vị lănh đạo chân chính, đă có công bảo vệ và đem lại nền độc lập và tự do thực sự cho Miền Nam Việt Nam. Tiếc thay, trước những biến đổi của t́nh h́nh chính trị, qua tham vọng của một số tướng lănh, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă bị thảm sát trong cuộc đảo chính ngày 01.11.1963 Ừ. Đó là những ḍng chữ mà Đại tá Nguyễn Hữu Duệ đă viết trong sách ‘Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm’.

Thật là điều hạnh phúc cho chúng ta, những đồng bào của Tổng thống, được sống trên Quê hương, dưới sự lănh đạo của Người trong hơn 9 năm từ ngày 07.07.1954 đến 01.11.1963.

Nhân ngày Lễ Giỗ lần thứ 48 của vị Sáng lập Nền Cộng ḥa Việt Nam, chúng ta tưởng nhớ Tổng thống đă vị quốc vong thân.

Khi Tổng thống và bào đệ Ngô đ́nh Nhu c̣n yên nghỉ tại nghĩa trang Mạc đỉnh Chi, sáng ngày 01 tháng 11 hàng năm, đông đảo chúng ta đă cùng dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho linh hồn những vị đă qua đời trong biến cố ngày 01.11.1963 tại Vương cung Thánh đường Sài g̣n và, sau đó, tuần hành đến viếng mộ Nhị Vị và đọc kinh.

Chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm (1901–1963) là một chính trị gia lănh đạo quốc dân Việt. Người là Thủ tướng cuối cùng của Quốc gia Việt Nam và là Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng ḥa.

A. GIÁO DỤC BẢN THÂN.

Ngô Đ́nh Diệm chào đời ngày 03.01.1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh, trong một gia đ́nh quan lại theo đạo Công giáo, được chầu tên thánh là Gioan Baotixita.

Lúc c̣n nhỏ, cậu đuợc theo học dưới sự dạy dỗ của Quận Công đức độ và yêu nước Nguyễn Hữu Bài, đang là Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Quan là đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc. Sở dĩ có sự liên hệ gần gũi như vậy là v́ ông Ngô Đ́nh Khôi, anh ông Diệm, cưới con gái ông Nguyễn Hữu Bài.

Ông Diệm theo học tại trường Pellerin Huế. Năm 1913, lúc 12 tuổi, ông thi vào trường Quốc Học Huế, dạy theo chương tŕnh tổng hợp bằng Việt Ngữ và Pháp Ngữ. Đến năm 1917, lúc 16 tuổi, ông đỗ hạng thứ nh́ trong kỳ thi tốt nghiệp Trung Học. V́ tuổi trẻ mà đạt thành tích cao, nên chính quyền thực dân Pháp đề nghị cấp học bổng cho sang Pháp du học, nhưng ông đă từ chối. Do đó, bà mẹ ông Diệm đă có nhận xét: « Trong số các con tôi, anh nào đi du học ngọai quốc về đều có pha lẫn nhiều điều và mang nhiều mâu thuẫn trong người. Nhưng Diệm th́ thuần túy Việt Nam. »

Năm 1918, ông được mời làm giáo sư Trường Quốc Tử Giám, một trường dành riêng cho con cháu các quan trong triều đ́nh. Năm sau, ông đủ tuổi để vào học trường Hậu Bổ, tương tự như Học viện Quốc gia Hành chánh. Trong ba năm học, ông luôn là một sinh viên xuất sắc trong các ngành hành chánh, chính trị, luật pháp và đă tốt nghiệp thủ khoa.

Ông Ngô Đ́nh Diệm chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho giáo và Thiên Chúa giáo. Thực vậy, chính Nho giáo đă hun đúc ông thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực và giáo dục Thiên Chúa Giáo đă đào tạo ông Diệm thành một con người đầy ḷng bác ái, vị tha và công chính.

B. ẢNH HƯỞNG GIA Đ̀NH.

Một đêm mùa thu năm 1885, tại làng Đại Phong, một nhóm người bắt đạo đă phóng hỏa, bằng những ngọn đuốc, nhà nguyện có nóc và tường bằng tre. Gia đ́nh thân phụ ông Ngô Đ́nh Diệm, trong số những người đang kinh nguyện, đă bị chết, trừ bà nội đă thoát khỏi nhờ bóng tối đêm để chạy đi. Điều may khác là khi đó, thân phụ ông Diệm là ông Ngô đ́nh Khả đang học ở Chủng viện Penang (Mă-lai).

Thời đó, phải đợi vài tháng sau, hung tin gần cả gia đ́nh bị tàn sát mới tới Chủng viện Penang, các Cha giáo của ông Khả mới đề nghị ông nên trở về nước và cưới vợ để nối dơi tông đường. Chấp nhận đề nghị trên, ông đă trở lại Việt Nam để phụng dưỡng mẹ đang không phương tiện để sinh sống.

Vào làm việc tại Triều đ́nh, ông được vua Thành Thái ban cử làm Phụ đạo Đại thần và cố vấn cho Vua các vấn đề về Pháp văn và Triết Tây phương… ông được giao việc tổ chức Trường Quốc học với chức Trưởng giáo. Năm 1905, ông được thăng chức Tổng quản Cấm thành, bảo vệ Vua. Năm 1907, khi chính quyền Bảo hộ dưới sự vận động của khâm sứ Ferdinand Lévecque đ̣i truất vua Thành Thái, ông nhất quyết không chịu kư tên vào tờ biểu nên ông bị cất chức. V́ vậy dân gian có câu truyền: « Đày vua không Khả, Đào mả không Bài ». Ngày nay, chúng ta có thể thêm vào câu truyền này ư tưởng « Hại dân không Diệm » cũng không phải là điều quá đáng.

Cuối cùng, ông từ quan và đă về làm ruộng với các con trai. Bà Khả cùng Cô Hiệp (mẹ tương lai của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận) đă vất vả đem cơm nước cho những người thân. Trong hoàn cảnh cơ cực đó, không ai trong gia đ́nh buông lời than trách trước một quyết định ái quốc. Họ vẫn nuôi ư chí ‘làm quan’, sau những kinh nghiệm lao động tay chân và sống cảnh nghèo nàn.

Ông Khả được vua Khải Định phục hàm khi lên ngôi Vua.

Trong thời gian này, ông Khả cưới cô Phạm Thị Thân và có 6 con trai (Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện) và 3 gái (Ngô Đ́nh Thị Giao, Ngô Đ́nh Thị Hiệp và Ngô Đ́nh Thị Hoàng).

- Ông Ngô Đ́nh Khôi, Tổng đốc Quảng Nam từ năm 1930, bị ép về hưu năm 1943 v́ có ư thân Nhật. Con trai duy nhất của ông là Ngô Đ́nh Huân, thư kư và thông ngôn cho viện trưởng Viện văn hóa Nhật tại Sài g̣n. Tháng 03.1945, ông khuyên hoàng đế Bảo Đại đừng thoái vị, trao quyền cho Cộng sản. Ngày 31.08.1945, hai cha con bị Việt Minh bắt và bị hành quyết vài tuần sau đó cùng với ông Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Lại ở rừng Hắc Thú.

C. PHỤC VỤ ĐẤT NƯỚC THỜI NGUYỄN TRIỀU.

Sau khi tốt nghiệp trường Hậu Bổ, năm 1921, ông nhậm chức tri huyện Hương Trà, Hương Thủy và Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Năm 1926, ông được bổ vào chức tri phủ Hải Lăng và thăng lên quản đạo Ninh Thuận. Năm 1930, vừa tṛn 29 tuổi, với thành tích tận tụy phục vụ đồng bào, ông được đề cử làm Tuần Vũ tỉnh B́nh Thuận, Phan Thiết.

Tháng 09.1932, sau thời gian du học tại Pháp trở về nước, Hoàng Đế Bảo Đại quyết định tự ḿnh chấp chính và ban sắc phong 5 Thượng thư mới, trong đó có ông Diệm, trẻ nhất 32 tuổi, được bổ nhiệm Thượng thư Bộ Lại, đứng đầu Nội các, tương đương Thủ tướng ngày nay, và kiêm nhiệm chức Tổng Thư Kư Hội đồng Cải cách Hỗn hợp Pháp-Việt ngày 02.05.1933. Ông đề nghị hai điều với chính quyền bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc kỳ theo Ḥa ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề. Việc thống nhất nhằm buộc chính quyền Bảo hộ Pháp băi bỏ Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ cùng chỉ c̣n một Tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. V́ Toàn Quyền Pasquier không chấp nhận, ông Diệm đệ đơn lên Hoàng Đế Bảo Đại ngày 12.07.1933. Sau đó, ông đi dạy tại trường Thiên Hựu (Providence).

[Nội các, lúc đó, có 6 bộ là: 1. đứng đầu và có quyền trên hết là bộ Lại bộ, tức Nội vụ, ngang quyền Thủ tướng ; 2. bộ Hộ tức Tài chính. 3. Bộ Lễ tức Giáo dục ; 4. Bộ H́nh tức Tư Pháp ; 5. Bộ Binh tức Quốc Pḥng và 6. Bộ Công tức Công chánh. Như vậy, ông Diệm ở tuổi 32 đă đứng đầu nội các gồm các vị thượng thư hầu hết đều hơn ông cả mươi tuổi, như ông Bùi Bằng Đoàn, cha đại tá Việt cộng Bùi Tín, thượng thư bộ H́nh, hơn ông Diệm đúng 20 tuổi.]

D. HOẠT ĐỘNG V̀ NƯỚC CHỐNG PHÁP.

Trong thời gian dạy học, ông Diệm nghiên cứu các sách vở và thường xuyên liên lạc với các vị ái quốc như Cụ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, Cụ Phan Bội Châu và những nhà cách mạng chống Pháp, hiện đang hoạt động tại Nhật Bản và trong nước, để mưu cầu dành Độc Lập và Tự Do cho đất nước.

Năm 1933, ông Diệm vào Sài G̣n tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris để yêu cầu truất phế Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng B́nh. Sau khi Pasquier chết năm 1934, Toàn quyền mới Eugene René Robin đă phục hồi hàm vị cho ông và để ông về dạy tại trường Thiên Hựu (Providence).

Thời kỳ 1934-1944, ông Diệm thành lập và lănh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống Pháp với thành phần đảng viên ṇng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát và lính khố xanh bản xứ tại Trung kỳ. Tháng 07.1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và tổ chức vây bắt ông ở Phủ Cam. Nhờ sự giúp đỡ của hiến binh Nhật, ông thoát nạn về trú tại lănh sự quán Nhật ở Huế. Vài ngày sau, người Nhật đưa ông vào Đà Nẵng rồi dùng phi cơ quân sự chở thẳng vào Sài G̣n trú tại trụ sở hiến binh Nhật. Ông cũng được Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội do hoàng thân Cường Để ủy nhiệm công việc vận động nhân sự ở Trung kỳ để chống Pháp. Khi Vua Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật và mời ông làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng ông từ chối nên ông Trần Trọng Kim được mời thay để lập chính phủ.

Lánh nạn ở Sài g̣n một thời gian, khi Bảo Đại thoái vị và Việt Minh cướp chính quyền, ông Diệm trở lại Huế để thăm mẹ và đă bị Việt Minh bắt tại Tuy Ḥa (Phú Yên). Chúng giải ông ra Hà Nội và bị giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang. Sau đó, ông được trả tự do theo lệnh ân xá của Hồ Chí Minh vào năm 1946 và ông Hồ mời ông giữ chức Bộ trưởng Nội vụ. Nhưng ông Diệm cương quyết khước từ. Ông đă khẳng khái hỏi ông Hồ : « Tại sao ông giết anh tôi? ». Đây là câu hỏi của một người thật can đảm khi trong tay không một tấc sắt, v́ Hồ đang đầy uy quyền và dưới tay hắn có cả một băng nhóm du côn tàn bạo giết người.

Tháng 8 năm 1950, ông Diệm cùng người anh là Đức cha Ngô Đ́nh Thục rời Saigon đi hành hương Rôma và dự Năm Thánh. Trên đường về , ông Diệm ghé qua Đông Kinh, thủ đô Nhật Bản, gặp hoàng thân Cường Để. Tại đây, ông đă tiếp xúc với một số người Mỹ, trong đó có Giáo sư Wesley Fishel. Ông này khuyên ông Diệm nên sang thăm Hoa Kỳ. Trong dịp này, ông Diệm đă ghé thăm các nước Bỉ, Thụy Sĩ, Pháp và sau đó ông sang Hoa Kỳ theo gợi ư của giáo sư Wesley Fishel.

Tại Hoa Kỳ, ông Diệm tạm trú trong nhà Ḍng Mary Knoll, ở Lakewood thuộc tiểu bang New Jersey và ở trường ḍng Ossining tiểu bang New York. Tại đây, ông gặp Đức Hồng y Spellman, người đă giúp ông rất nhiều trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị sau này. Thời gian ở Hoa Kỳ, ông Diệm chú tâm trau giồi Anh Ngữ và được mời đến các trường Đại Học ở miền Đông và miền Trung Tây Hoa Kỳ để diễn thuyết về các vấn đề Việt Nam, Á Châu và hiểm họa Cộng sản.

Tháng 05.1953, theo lời mời của một số chính khách Công giáo có khuynh hướng quốc gia và chống Cộng, ông Diệm bay sang Pháp rồi, sau đó, qua Bỉ trú ngụ tại đan viện Saint–André de Bruges. Tại tu viện ḍng Biển Đức này, ngày 01.01.1954, vị sáng lập nền Cộng ḥa Việt Nam trong tương lai đă tuyên khấn trong bậc oblat với tên ḍng Odilon. Đây là một điều ‘tiên tri’ v́ Thánh Odilon là Bổn mạng những người tị nạn mà chính Tổng thống Diệm đă giúp đem hơn 800 ngàn người di cư từ Miền Bắc vào Nam và an cư lạc nghiệp một cách mỹ măn. Ngoài ra, Thánh Odilon là Linh mục đă bắt đầu cử hành Thánh Lễ Cầu cho các Linh hồn ngày 2 tháng 11 là ngày ông Diệm qua đời năm 1963.

Năm 1954, Ngô Đ́nh Diệm từ Bỉ trở lại Paris sống tại nhà ông Tôn Thất Cẩn (con trai của cụ Thân thần phụ chính Tôn Thất Hân). Tại đây, với sự yểm trợ của Ngô Đ́nh Luyện, Diệm bắt đầu vận động trong giới chính khách Việt sống lưu vong.

Khi c̣n sống cụ Ngô Đ́nh Diệm đă từng nói « tôi tiến hăy tiến theo tôi, tôi lui hăy giết tôi, tôi chết hăy nối chí tôi ». Mang trong người ḍng máu Việt, chúng ta hăy noi gương Người quyết sống đời một ‘người Công giáo tốt và là người Việt luôn mong Tổ Quốc độc lập và đồng bào được tự do, hạnh phúc’.

 

BÀI 2. THỦ TƯỚNG NGÔ Đ̀NH DIỆM.

A. Quốc Trưởng bổ nhiệm Thủ Tướng.

Trong hồi kư ‘Le Dragon d’Annam’ (Con Rồng Việt Nam’, Quốc trưởng Bảo Đại cho thấy ông rất quư trọng ông Ngô Đ́nh Diệm và đă mời ông này lập chính phủ tới 4 lần và ông chỉ nhận 2 lần :

1.- Lần đầu năm 1933, v́ muốn thực hiện chương tŕnh cải cách hầu khôi phục dần chủ quyền Việt Nam, vua Bảo Đại đă đặt Ngô Đ́nh Diệm vào chức vụ thượng thư bộ Lại (Nội Vụ) đứng đầu nội các kiêm tổng thư kư hội đồng hỗn hợp Việt Pháp về ‘Canh Tân’ do nhận thấy : « Tôi cho vời một viên quan tỉnh trẻ tuổi nhất là Ngô Đ́nh Diệm, lúc ấy làm Tuần Vũ tỉnh Phan Thiết, để đảm trách bộ Lại. Diệm năm ấy mới 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh liêm khiết. Đây là một người quốc gia bảo thủ… ». V́ thấy người Pháp không đáp ứng những yêu cầu của ông về canh tân nên chỉ vài tháng sau Ngô Đ́nh Diệm đă từ chức để phản đối, mặc dù nhà vua cố thuyết phục ông nên tiếp tục. Khi bất đắc dĩ phải chấp thuận cho ông từ chức nhà vua bảo ông Diệm: ‘Mong rằng sự ra đi của quan Thượng sẽ mở mắt cho người Pháp’… Lúc đó, Bảo Đại đă chỉ kỳ vọng ở ông Diệm khi viết ‘Ngô Đ́nh Diệm đi rồi, tôi hoàn toàn thất vọng’.

2.- Lần thứ hai và là lần chót ngày 18.06.1954 khi hội nghị Genève đang khai diễn, với viễn ảnh đen tối, nếu không nói là tuyệt vọng, cho giải pháp Bảo Đại và phe quốc gia, Quốc Trưởng lại một lần nữa t́m đến ‘người mà tôi tin cẩn’. Ông đă thuật lại đầu đuôi câu chuyện như sau:

« …Tôi cho vời Ngô Đ́nh Diệm và bảo ông ta:
– Cứ mỗi khi tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông th́ lúc nào cũng từ chối. Nay t́nh thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lănh đạo chính phủ.
– Thưa Hoàng Thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin tŕnh Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đă quyết định. Tôi định đi tu…
– Tôi kính trọng ư định của ông. Nhưng hiện nay tôi kêu gọi đến ḷng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của ḿnh. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.
Sau một hồi yên lặng cuối cùng ông ta đáp:
–Thưa Hoàng Thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó.
Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một pḥng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá tôi bảo ông ta:
– Đây Chúa của ông đây, ông hăy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đă trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn Cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nh́n tôi, sau nh́n lên Thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:
–Tôi xin thề. »

Quốc Trưởng Bảo Đại đă trao cho Ngô Đ́nh Diệm toàn quyền dân sự và quân sự để có thể đối phó với t́nh h́nh cực kỳ khó khăn lúc ấy.
Sau khi hội kiến với các nhân sĩ và chức sắc tôn giáo Việt Nam đang có mặt ở Pháp, kể cả ông Ngô Đ́nh Luyện là bạn học với Bảo Đại từ hồi c̣n nhỏ, Bảo Đại đă triệu Ngô Đ́nh Diệm từ đan viện Saint–André de Bruges (Bỉ) để đến gặp ông ta tại lâu đài Thorenc ở Cannes. Như vậy, việc giao trọng trách cho Ngô Đ́nh Diệm là quyết định riêng của Bảo Đại không có sự tham ư với người Pháp. Chỉ có hội ư với một người Mỹ mà Bảo Đại quen biết và tin tưởng là ông Bedell Smith, một đại diện của Mỹ trong phái đoàn Mỹ ở Genèvre. Hai hôm sau, Bảo Đại thông báo sự bổ nhiệm và giới thiệu ông Ngô Đ́nh Diệm cho Tướng Ely, Cao ủy Pháp tại Việt Nam.

Sau đó, ông Diệm có buổi ra mắt và họp báo tại Hotel Palais d’Orsay (Paris). Trong thời gian lưu lại Pháp, ông Diệm thuê một pḥng ngủ rẻ tiền, không nhà tắm ở Hotel de la Gare, gần khu phố nghèo nàn gần nhà ga xe lửa Austerlitz. Đây cũng là bằng chứng về con người và nhân cách của ông Ngô Diệm.

Ngày 26.06.1954, ông Diệm bay về Sài g̣n, cùng với hoàng thân Bửu Lộc, Thủ tướng xuất nhiệm, để trao lại quyền hành cho ông Diệm.

B. Thủ Tướng nhậm chức.

Tại sân bay Tân Sơn Nhất khi ông Ngô Đ́nh Diệm xuống máy bay- mặc dù có sự chuẩn bị chu đáo của những người ủng hộ ông Diệm- chỉ có khoảng 500 người đón tiếp ông mà phần đông thuộc giới Công giáo và các thành viên Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam.

Một dấu hiệu không mấy tốt cho vị thủ tướng trong hoàn cảnh này. Trong hoàn cảnh cực kỳ bấp bênh và rối loạn bên bờ vực thẳm về chính trị, quân sự, kinh tế và xă hội. Lúc bấy giờ chỉ cần ổn định được t́nh thế th́ đă xứng đáng là một vị cứu tinh rồi.

Chánh phủ Bửu Lộc chỉ bàn giao lại dinh Gia Long và sở Nội dịch với năm bảy chiếc xe cũ kỹ, với một tiểu đội cảnh sát canh gác. Vài hôm sau, Thủ tướng bay ra Hà nội để xem xét t́nh h́nh và tiếp xúc chánh khách miền Bắc để mời tham gia chính phủ và Nội các được tŕnh diện quốc dân đồng bào ngày 07.07.1954. Trong đó, ông Ngô Đ́nh Diệm là Thủ tướng kiêm Tổng trưởng bộ Quốâc pḥng và Nội vụ. Tuy nhiên, ông không có trong tay Quân đội (Tướng Nguyễn văn Hinh, Tham mưu trưởng, nắm giữ) và Công an Cảnh sát do B́nh Xuyên chỉ huy.

C. Những biến cố đáng ghi trong cuối năm 1954.

1.- Tin Điện Biên Phủ

Tin Điện Biên Phủ mất vào ngày 07.05.1954, chẳng những làm thất vọng nhiều người Pháp mà c̣n tạo một bầu không khí tuyệt vọng nơi những người Việt quốc gia, trong đó có Bảo Đại, và cả người Mỹ.

2.- Hội nghị Genève 1954

Hội nghị Genève 1954 được khai mạc ngày 26.04.1954 tại Thành phố Genève (Thụy Sỹ) để bàn về vấn đề khôi phục hoà b́nh tại Triều Tiên và Đông Dương. Nhưng vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 08.05.1954, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận, dưới sự đồng chủ tọa của Anthony Eden (trưởng đoàn Anh) và Viacheslav Molotov (trưởng đoàn Liên bang Xô viết) với các phái đoàn : Pháp, Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa, Lào, Campuchia, Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào được kư bởi đại diện của hai lực lượng quân sự chính có liên quan, là Thiếu tướng Delteil (Pháp) và Tạ Quang Bửu (Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa) có nội dung chính như sau :

- Ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.
- Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. - 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa 2 miền.
- Mỗi bên quản lư lănh thổ Hiệp định chia cho ḿnh cho đến khi tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam.
- Thành lập hai cơ quan kiểm soát: Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến (tiếng Anh: International Control Commission, ICC; tiếng Pháp: Commission Internationale pour la Surveillance et le Contrôle, CISC) gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch và Ban Liên hợp (tiếng Anh: Joint Commission; tiếng Pháp: Commission Mixte) gồm Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

Trưởng đoàn Quốc gia Việt Nam, Trần Văn Đỗ, phản đối sự chia cắt đất nước bất cứ ở đâu và đă không kư vào bản hiệp định. Hoa Kỳ cũng không kư.

Cuối cùng, v́ tranh căi và mặc cả vào buổi chiều ngày 20.07.1954, hiệp ước đ́nh chiến chỉ được soạn thảo xong và kư kết sau 12 giờ đêm, tức qua sáng 21.07.1954, nên đồng hồ ở trụ sở nơi họp vẫn giữ nguyên ở 12 giờ đêm 20.07.1954.

Ngày 21.0-07-54, khi Tổng thống Eisenhower họp báo để giải thích hiệp định Genève cho quốc dân Mỹ, th́ bên ngoài đă có một nhóm sinh viên Việt Nam biểu t́nh lên án các cường quốc chia đôi đất nước của họ.

3.- Cuộc di cư từ Bắc vào Nam.

Trong khi chính phủ Pháp đưa 36,000 quân viễn chinh Pháp vào Nam th́ chính phủ Việt Nam, với sự trợ giúp phương tiện của Hoa kỳ và Pháp, phụ trách việc tiếp đón và t́m nơi tạm trú cho trên 800 ngàn đồng bào di cư từ Bắc vào Nam. Nếu công an và bộ đội cộng sản không ngăn chận bằng vơ lực, th́ số người di cư chắc chắn đă c̣n tăng cao hơn. Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm cho lập phủ Tổng Uỷ Di Cư.

Bản thân chúng tôi nhớ lại, lúc đó, được nghỉ học một thời gian ngắn v́ trường được dùng làm nơi tạm trú và, khi đi học lại, các lớp học phải đón ba nhóm học sinh khác nhau : sáng, trưa và chiều. Tại các nhà thờ, v́ lúc đó chưa thể dâng lễ đồng tế, nên chỉ một Linh mục dâng Thánh Lễ tại bàn thờ chính và, đồng thời, có thể có Linh mục khác dâng Thánh Lễ tại bàn thờ phụ với người giúp lễ bắt buộc.

4.- Đem lại Độc Lập cho Tổ Quốc.

Để cho Toàn Dân được Dân Chủ th́, trước hết, Tổ Quốc phải được Độc Lập tức Chủ quyền Quốc gia phải được ngoại bang tôn trọng và người dân có Tự Do. Khi đó, mỗi Công Dân mới có thể tham gia bầu người đại diện cho ḿnh Lănh đạo Đất Nước. Bởi thế, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm phải tiến hành :

a./ Tiếp thu Dinh Norodom.

Khi từ Pháp về nước, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm cư ngụ và làm việc tại dinh Gia Long như các Thủ tướng tiền nhiệm trong khi Cao ủy Đông dương (Haut-commissaire de France en Indochine đại diện chính phủ Pháp để ‘cai trị’ vùng đất thuộc địa. Trước 1945, chức này có tên là Toàn quyền Đông dương, Gouverneur-général de l'Indochine Française với nhiều quyền hành hơn) ở tại Dinh Norodom, rộng lớn hơn, biểu hiện quyền người Pháp ở Việt Nam. Do đó, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm phải dành cho được nơi này.

Ngày 07.09.1954, Dinh Norodom được bàn giao giữa Cao ủy Pháp, Thống tướng 5 sao Paul Ely, và Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm. Khi đó, quốc kỳ Pháp được hạ xuống và cờ Việt Nam được kéo lên. Thủ tướng Diệm cho đổi tên thành Dinh Độc Lập.

b./ Dành quyền chỉ huy Quân đội.

Ngày Song thất (7 tháng 7) năm 1954, khi Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm thành lập Nội các, giới quan sát chánh trị quốc tế nhận định chánh phủ không thọ quá 6 tháng v́ ông Diệm, tuy kiêm nhiệm Tổng trưởng Quốc pḥng lẫn Nội vụ, nhưng không nắm được Quân đội và Cảnh sát. Các lực lượng này đặt dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng, và ông Lê văn Viễn, tức Bảy Viễn, thủ lănh B́nh Xuyên, đều là đàn em của Tướng Ely, Cao ủy Pháp.

Ngày 09.09.1954, Tướng Hinh dùng đài phát thanh Pháp Á để chỉ trích Thủ tướng và đ̣i cải tổ chánh phủ. Ngày 11.09.1954, Thủ tướng Diệm ra lệnh tướng Hinh phải đi Pháp trong ṿng 24 tiếng, với nhiệm vụ khảo sát tổ chức quân đội Pháp trong ṿng 6 tuần. Tướng Hinh từ chối và phản đối bằng cho một tiểu đội thiết giáp chạy quanh dinh Độc lập và dùng đài phát thanh chống chánh phủ. Tướng Hinh gởi thư yêu cầu sự can thiệp của Bảo Đại.

Ngày 20.09.1954, 9 trên 18 Tổng, Bộ trưởng lo sợ t́nh h́nh, đệ đơn xin từ chức. Nhưng Đại tá Landsdale (CIA) và Toà Đại sứ Hoa kỳ đă giúp ông Diệm giải quyết được cuộc khủng hoảng. Đại sứ Heath nói với tướng Hinh Hoa kỳ sẽ ngưng viện trợ quân sự và Đại tá Landsdale tặng hai vé phi cơ đi Manila cho hai sĩ quan tham mưu của tướng Hinh. Sau đó, Thủ tướng cử tướng Lê văn Tỵ thay tướng Hinh trong chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội.

Sự khó khăn khác lại đến với Thủ tướng Diệm v́ ông từ chối đề nghị của Đại sứ Heath và tướng O’Daniel, trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ, yêu cầu ông giữ tướng Hinh lại trong Quân đội. Do đó, Đại sứ Heath thay đổi thái độ, gửi điện tín về Washington để tố cáo Thủ tướng Diệm bất tài và cần thay đổi. Tuy nhiên, Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Hội đồng an ninh Quốc gia cùng Lưỡng viện Quốc hội lại thấy ông Diệm có thể lănh đạo mặt trận chống Cộng ở Đông nam Á châu, nên bác bỏ đề nghị của đại sứ Heath và Tổng thống gửi tướng Lawton Collins, đặc sứ sang Sài g̣n với thư của Tổng thống Mỹ xác nhận ủng hộ Thủ tướng Diệm và đề nghị thảo luận với ông một chương tŕnh viện trợ kinh tế và quân sự qui mô hơn.

Chuyện lại chẳng may, hai tướng Collins và Ely, Cao ủy Pháp, quen nhau từ Đệ nhị Thế chiến và Ely đă chi phối được Collins. Nên, ngày 08.12.1954, hai ông vào hội kiến Thủ tướng Diệm tại dinh Độc lập và yêu cầu bổ nhiệm ông Phan huy Quát làm Tổng trưởng Quốc pḥng và Bảy Viễn làm Tổng trưởng Nội vụ. Ông Diệm từ chối, tướng Collins nổi giận và đề nghị chính phủ Hoa kỳ đưa Bảo Đại về và ủng hộ Phan huy Quát làm Thủ tướng thay ông Diệm. Nếu không thực hiện được điều này, th́ Mỹ nên rút ra khỏi Việt Nam.

Đọc xong tường tŕnh này, Tổng thống Eisenhower và Bộ trưởng Ngoại giao Foster Dulles thật hoang mang, lưỡng lự. Hai ông mời Thượng nghị sĩ Mike Mansfield (Dân chủ, đối lập) đến ṭa Bạch ốc để hội ư và ông nầy bác thỉnh cầu của tướng Collins v́ Thủ tướng Diệm đang hành động tích cực. Ngày 14.12.1954. Tổng thống Eisenhower chỉ thị cho tướng Collins tiếp tục viện trợ cho Việt Nam và ủng hộ Thủ tướng Diệm.
 

 

 

To: HOATUDO@yahoogroups.com; hoangduocthao@gmail.com; baiantran@yahoo.com; vanthi@free.fr; envirovn@gmail.com; lequelam@hotmail.com; thong.ledinh@gmail.com; hatiennhat@yahoo.com; sfjustice@pacbell.net; sanduyle@sbcglobal.net; taqkhoi29@hotmail.com; ltdoan911@gmail.com; vinh.trang@wanadoo.fr; tranvantich@hotmail.de; dcvapt@aol.com; qdinh2@yahoo.com; khaiqnguyen@yahoo.com; nthuyviet@yahoo.fr; tmyloan@gmail.com
From: tmyloan@gmail.Com
Date: Tue, 1 Nov 2011 07:05:15 +0100
Subject: [HOATUDO] HA MINH THAO :TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM 1

 

 

Xin giới thiệu bài nghiên cứu giá trị.

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2011

buinhuhung@hotmail.com

  

Mỗi một người chúng ta góp lại mà làm nên Lịch Sử

 

 

 

 

 

NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2011

 

 

 

 

 

 

 

 

    

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage