|
Giáo
Hoàng Pius XII và
Hồng Y
Francis Spellman Muốn
Dội Bom Nguyên Tử Xuống Việt Nam?
Cécilia Trần Thị Vĩnh Tường
“Can thiệp quân sự” đầu tiên
của người Mỹ năm 1845
Một Nơi Cho Lính
Cuộc Chiến Tranh Dối Trá "Spellman's
War"
Taị sao Pius XII và Spellman
muốn dội bom nguyên tử xuống VN năm 1954?
Taị sao Hoa Kỳ mưốn dội bom
nguyên tử xuống Việt Nam?
Trái bom nguyên tử nào dành cho
VN?
Taị sao nước Mỹ thua?
Giáo Hoàng Paul VI xung trận
“Jamais plus la guerre”
Nụ
hôn ly biệt Spellman-Judas
HY Spellman không nói thay cho
Giáo Hoàng
Câu hỏi của Đại sứ Giovanni
D’Orlandi
Bài viết này nhân dịp nước Nhật
kỷ niệm 65 năm hai quả bom nguyên tử nổ ở
Hiroshima và Nagasaki năm 1945, khiến nhắc tới
một biến cố quan trọng và kinh hăi cách đây 56
năm: bom nguyên tử đă “suưt”dội xuống Việt Nam
năm 1954. Tuy c̣n rất mới, biến cố này dường như
đă rơi vào black hole, khoảng không gian đen
ng̣m trong sách sử và trong trí nhớ người cùng
thời. V́ đă có nhiều triệu người Việt nằm xuống,
v́ c̣n liên quan đến vận mệnh cuả đất nước hàng
trăm năm nữa, v́ không phải chuyện cổ tích hay
khoa học giả tưởng, cần mở lại vài đoạn sử c̣n
rất khuất. Biết
đâu một biến cố khác tương tự như bom nguyên tử
đang dập d́nh trên bầu trời Việt?
Những chi tiết dưới đây, do
những tác giả nước ngoài về một miền đất xa lạ
bên kia bờ biển Thái B́nh Dương đă ảnh hưởng đến
số phận chính họ, gia đ́nh và đất nuớc họ. Những
điều cực kỳ “nhậy cảm” này có thể lần đầu tiên
tiếp cận với độc giả người Việt. Dẫu sự xúc động
tùy theo vị trí - người Việt trong nước/ngoài
nước, người Việt không cộng sản/cộng sản, người
trí thức/trí ngủ, tín đồ Phật giáo/Ki-tô giáo/không
tôn giáo/thờ cúng ông bà, quả phụ tử sĩ/tiểu thơ
thành phố, em bé đánh giày/sinh viên du học…
ngựi viết tin rằng sự thật cần được chia sẻ,
bởi v́ đă cùng nhân loại có với nhau một mẫu số
chung: bấp bênh giữa sinh tồn/huỷ diệt, khi một
bàn tay sẵn sàng bấm nút cho bom nguyên tử trút
xuống một miền đất rực trời bom đạn. Miền đất ấy
có tên Việt Nam.
Là một Ki-tô hữu, người viết
dùng “Ki-tô giáo” thay cho công giáo vốn không
chính danh về số lượng/ư nghĩa. Việt Nam chưa
bao giờ nhận Ki-tô giáo là “quốc giáo”; “công
giáo” là danh từ chung, lạc lơng trong hệ thống
“Christian/Cristiano/Christianus/Cristăo…”, mà
thật ra, Chúa cũng ngỡ ngàng khi biết tôn giáo
ḿnh rao giảng cho dân ḿnh mang tên mới này.
“Can thiệp quân sự” đầu tiên
của người Mỹ năm
1845
…“t́nh cảm quảng đại”của người Mỹ dành cho người
Pháp…
Biến cố
bom nguyên tử 1954 không phải một ngày mà có.
Đó là bản sao một vở kịch hàng trăm năm trước:
biến cố 1845. Cả hai biến cố đều có bóng dáng
đại diện Chúa.
Quân sử Hoa Kỳ (1a) ghi năm:
1845, chiến hạm Hoa Kỳ đầu tiên U.S.S
Constitution trong chuyến hải hành nổi tiếng
“Ṿng Quanh Thế Giới 1844-1846” do thuyền trưởng
“Mad” Jack Percival tức Jack Điên chỉ huy, ghé
Đà Nẵng xin một chỗ chôn cất cho một nhạc sĩ tên
Paul Cook với giá hai đô la. Họ được tiếp đón tử
tế, mọi việc tốt đẹp cho đến khi Jack Điên nhận
được thư cầu cứu (do một dân làng đưa lén) của
giám mục Pháp Dominique Lefevre
bị triều đ́nh Huế giam giữ v́ cùng với nhà
truyền giáo khác âm
mưu lật đổ vua Thiệu Trị (1b). Không buồn
t́m hiểu tại sao ngườ́ Pháp không lo cho giám
mục của họ, Percival bắn ch́m ba thuyền buồm VN
rồi lên bờ bắn tưới vào dân làng khiến 17 đàn
ông đàn bà trẻ con tử thương (có tài liệu ghi
36); c̣ng tay bắt giữ 3 quan quân VN làm con
tin, “đe doạ hành
quyết nếu vị LM công giáo không được giao cho
ông ta”. Điều
lạ lùng, trong khi cuộc giết chóc, cầm tù diễn
ra, nưóc ngọt vẫn được cung cấp đầy đủ và đón
tiếp thân t́nh. Lạ hơn nữa, sau 12 ngày dằng dai
Percival vô tư bỏ đi cũng không màng cứu Lefevre.
Percival báo cáo lên bộ trưởng hải quân Hoa Kỳ,
lư do tấn công v́ “sự
trợ giúp của nước Pháp dành cho Hoa Kỳ trong
buổi lập quốc” và v́
“t́nh cảm quảng đại đă là một
đặc tính nổi bật của Chính Phủ (Hoa Kỳ) chúng ta…một
tín hữu Thiên Chúa Giáo có tính mạng bị lâm nguy
là đủ rồi” (2).

Sau đó tổng thống Mỹ Zachary
Taylor đă gửi thư xin lỗi vua Thiệu Trị có kèm
theo lời…đe doạ, “nếu các thiện chí của Tổng
Thống không được chấp nhận…Hoa Kỳ sẽ bị bắt
buộc phái các chiến thuyền đến để đ̣i hỏi các sự
giải thích thỏa đáng.” Không rơ TT Taylor đ̣i
vua Thiệu Trị giải thích điều ǵ? Nhà báo Peter
Kneisel cách đây vài năm có đến làng Thọ Quang,
băi biển Tiên Sa t́m lại ngôi mộ Cook, người
đồng hương lạc loài, ngạc nhiên thấy cũng đưọc
nhang khói như những ngôi mộ gần đó (3). Hiện
nay khu vực ngôi mộ đă bị san bằng cho nhu cầu
du lịch, thay v́ lập bia ghi chép biến cố/tên
tuổi cho đời sau tỏ tường.
U.S.S Constitution đă về hưu,
hiện neo tại cảng Boston. Bia mộ của Percival ở
Massachusetts/Hoa Kỳ, khắc cẩn thận “52.279
miles Ṿng Quanh Thế Giới”. Không thấy khắc tên
những nạn nhân cuả Percival.
Việt Nam Sử Luợc của Trần Trọng
Kim ghi chép biến cố quan trọng này trong 65 chữ
khác hẳn ghi chép của Hoa Kỳ:
“Qua
năm ất tị (1845) là năm Thiệu Trị thứ năm có một
giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Bấy giờ có
người quản tàu Mỹ Lợi Kiên ở Đà Nẵng xin măi
không được, mới báo tin cho hải quân thiếu tướng
nước Pháp là Cécile biết. Thiếu tướng sai quân
đem chiếc tàu Alemène vào Đà Nẵng lĩnh giám mục
ra.”
C̣n bao nhiêu ghi chép “khác biệt”
như vậy trong ḍng chính sử Việt Nam?
Tại sao các
sử gia VN nhất loạt lên án các vua triều Nguyễn
tàn ác “cấm đạo”, tuyệt đối không hề nói tới
việc tu sĩ ngoại quốc muốn lật đổ nhà vua? Chắc
phải chờ giải đáp của các nhà “Huế học”, sử gia,
học giả và Nguyễn Phước tộc.
Qua biến cố này, nổi bật khía
cạnh tâm linh rất Việt: không đợi các nhà truyền
giáo dạy dỗ, một trong mười điều răn Ki-tô “chôn
xác kẻ chết”, đă ở trong tâm thức người Việt,
hơn thế nữa, “ghi nhớ người đă khuất” dù đó là
ai. Trong khi đó, Ki-tô giáo vào VN cấm tín đồ
không được thờ phụng ông bà tổ tiên, mà họ cho
là ma quỉ.
Một
Nơi Cho Lính Chiến
…
tấm can trường bạn bỏ rụng bên đường
Người Mỹ tốn không biết bao
nhiêu giấy mực về chiến tranh Việt Nam. Đó là
cuộc chiến dai dẳng nhất trong lịch sử chiến
tranh Mỹ, một trận ác chiến của thế kỷ 20, và là
một tổn thất chưa từng có trong lịch sử 200 năm
nước Mỹ: 58.135 tử trận, 2.500 mất tích, 303.616
bị thương, 33.000 tê liệt, 60.000 tự tử, 35.000
dân sự chết, 15.500.000 tấn bom/đạn duợc,
18.000.000 gallons chất độc hóa học, tổng cộng
chiến phí 168 tỷ đô la… Cuộc chiến đầu độc cả
một thế hệ, để lại những vết sẹo không lành, và
vô phương giải thích với mai sau về sự tan biến
hào quang của quân sử Hoa Kỳ
Cuộc chiến nhiều khuất lấp đến
nỗi giải thích nào cũng là ảo, chỉ mỗi cái chết
là thật. Ngay khi đang chiến đấu, họ đă biết có
điều ǵ đó rất sai lầm. Ngày 1-1-1970, thiếu tá
phi công Michael D
O'Donnell, đóng quân ở Dak To, cao nguyên VN,
làm thơ "Save Them
a Place/Một Nơi Cho Lính Chiến". Xin tạm
dịch: “…xin trân
quí bài học v́ sao họ chết. Khi bạn tỉnh ra và
dám nói cuộc chiến này là chuyện điên rồ, hăy
nhớ tới những tấm can trường bạn bỏ rụng bên
đường” (4). Như một lời trối, ba tháng sau,
máy bay O'Donnell gẫy cánh ở chiến trường
Campuchia.
Trong chiến tranh vĩnh viễn
không có thắng/thua, chỉ có người mất/người c̣n.
Điểm chung của quân nhân Nam Việt Nam/Hoa Kỳ
giống nhau: lănh đạo đẩy họ ra chiến trường với
hai tay bị trói quặt ra sau, cuối cùng lănh đaọ
phán “họ đă thua trận”. Bộ đội miền Bắc chết
cũng không đếm đưọc. Có làng trắng xóa chỉ thấy
tuyền một màu tang.
Nhân mùa Vu Lan, người viết xin
gửi vào thinh không ḷng tưởng nhớ đến những tấm
can trựng, “người đi bộ đội/người đi quân đội/người
da trắng mắt xanh”…đă một lần “đi vào chốn tử
sinh, chiến trường quên thân ḿnh”, cả những
mảnh bị “bỏ rụng bên đường”.
Cuộc Chiến Tranh dối trá "Spellman's War"
….VN thuần Ki-tô giáo? …
Hiến pháp Hoa Kỳ không cho lănh
đạo nói dối. Chính phủ Hoa Kỳ riêng thời Hồng y
Spellman (linh mục ḍng Tên) đă dối cử tri những
ǵ để dựng nên chiến tranh VN?
1. 1954: Thuyết Domino ở Á Châu:
giáo hoàng Pius XII/hồng y Spellman/tổng thống
Eisenhower cho rằng phải ngăn chặn cộng sản ở
VN, nếu không các nước khác sẽ đổ. Lư do thật sự
là *Quyền lợi cuả Vatican. ** Tài nguyên thiên
nhiên ở Đông Nam Á (nhất là cao su, thiếc và các
kim loại hiếm quí)
2, Dân Hoa Kỳ không hề biết chỉ
5-10% dân VN là Ki-tô giáo. Họ tưởng VN đă là
thuộc địa Vatican. Đây là một trong những điều
dối trá nhất của Spellman: ngài hoá phép thương
xót khiến từ chính trị gia đến dân chúng đều tin
rằng phải cứu Việt Nam, một nước thuần Ki-tô
giáo như Phi Luật Tân hay mấy nước Trung Mỹ.
Theo website chuacuuthe (5) điều tra dân số
01/04/2009, có gần 6 triệu là Ki-tô giáo trong
tổng số 86.024.600 người, chiếm 7,06% dân số.
Năm 1950-1960 số tín đồ khó vượt hơn 5%.
Chính
sách "Holy Wars for the Preservation of the
Church/Thánh Chiến Ǵữ Ǵn Giáo Hội” không chỉ
đưọc Vatican và Hoa Kỳ áp dụng ở VN, mà lần lượt
El Salvador, Grenada, và Lebanon đều hân hạnh
sắm vai “Lính Của Chúa/Soldiers of Christ”.
3. 1964: biến cố Gulf of
Tonkin/Vịnh Bắc Việt: in hệt vụ “Vơ Khí Tàn Sát
Hàng Loạt” khi tổng thống Bush kiếm cớ xâm chiếm
Irak năm 2001. Ngày 4/8/1964 TT Johnson dựng lên
việc chiến hạm Maddox của Mỹ bị hải quân Bắc
Việt tấn công trong một trận đánh ma. Quốc hội
Mỹ tưởng thật, trong ṿng 2 ngày, nhất loạt
thông qua The Tonkin Gulf Resolution, tỷ số
88-2, cho phép TT Johnson khởi động chiến tranh
không cần tuyên chiến. Nghị Sĩ Wayne Morse/tiểu
bang Oregon và Nghị Sĩ Ernest Gruening/tiểu bang
Alaska phản đối cho rằng "Đây là một bản tuyên
chiến được kư sẵn”. Johnson gửi ngay 200.000
lính Mỹ qua VN, dù ông có nói… đùa với báo chí
“Tôi biết Hải Quân của chúng ta chỉ bắn mấy con
cá mập/For all I know, our Navy was shooting at
whales out there” (6).
Sinh mạng vua-quan-dân người
Việt không bằng mạng một linh mục Pháp. Định
mệnh cả một quốc gia rẻ hơn một câu nói đùa của
tổng thống Hoa Kỳ
Tham vọng của vài người đă dẫn
đến những hậu quả như sau: Vũ khí hoá học phun
lên 3.500.000 mẫu đất, có tác dụng trong 100 năm.
Toàn Đông Dương: người chết 2.221.000 (Việt:
1.921.000, Campuchia: 200.000; Lào: 100.000).
Tổng số bị thương 3.2 triệu. Dân phải rời bỏ nhà
cửa: 14.305.000.
Ngay sau khi kế vị GH Pius XII
năm 1958, GH John XXIII từ chối không tiếp
Spellman, c̣n cấm tuyệt đối không cho Spellman
vào bất cứ pḥng họp nào ở Vatican: GH không
chấp nhận vai tṛ Spellman chỉ đạo Chiến Tranh
Lạnh ở VN. Sự cấm đoán này là tiếng chuông báo
hiệu liên minh Vatican-Washington tan ră, thay
thế bằng Vatican-Moscow.
Tại
sao GH Pius XII và HY Spellman muốn dội bom
nguyên tử xuống VN?
…cứu
Vatican hay cứu Hiệp Sĩ Malta…
Ngày 5-12-1931 Đại Giáo Đựng
Đấng Cứu Thế/Cathedral of Christ the Saviour ở
Moscow - xây dựng trong 40 năm, dùng tới 422 kg
vàng ṛng dát ṿm, biểu tượng tôn giáo/lịch sử/văn
hóa/văn minh dân tộc Nga Sô, kiểu “Mái chùa che
chở hồn dân tộc” của nguời Việt - bị Stalin cho
phá hủy tan tành trong 45 phút. Cộng sản Liên
Sô c̣n phá hủy hàng ngàn nhà thờ, thánh đường,
tu viện. V́ vậy khi cộng sản Liên Sô chiếm thêm
một phần ba Âu Châu, Vatican bẩy vía c̣n ba rưỡi.
Giáo Hoàng Pius và HY Spellman liền yểm trợ thế
lực mạnh nhất lúc đó là Mussolini, phát xít Ư để
chặn cộng sản tàn phá Vatican.
1949 là năm giáo hoàng Pius XII
và Franny như ngồi trên lửa: *Liên Sô thử trái
bom nguyên tử đầu tiên 22 kilotons ngày
29-8-1949 ** Trung Hoa bị cộng sản nhuộm đỏ. Khi
Trung Cộng bắt đầu tuôn vũ khí qua biên ǵới
giúp Việt Minh, nỗi lo sợ của Vatican lên tới
tuyệt đỉnh. Phải chận Trung Cộng lại! Phải chận
Trung Cộng lại! ***Tháng 7/1953: chấm dứt chiến
tranh Triều Tiên, có nghĩa đám “Knights of
Malta”- tước hiệp sĩ trọn đời do giáo hoàng sắc
phong - cần thị trường mới. Cỡ như VN thật…vừa
vặn, xa xa nên khuất mắt trông coi, cái đám da
nâu VN không nhiều bạn bè. Đánh nhau ở chiến
trường lớn, có thể xảy ra Thế Chiến Ba, không
chột cũng què.
Theo Avro Manhattan, “Vietnam…Why
Did We Go?/V́ Sao Chúng Ta Đă Đi Việt Nam” (7)
Ki-tô giáo đă không thành công ở Nhật, Trung
Hoa, Thái Lan. Nếu cộng sản chiếm VN, Vatican sợ
sẽ mất toi 4 thế kỷ truyền đạo ở Việt Nam, cánh
cửa truyền đạo vào Đông Dưong. Kinh nghiệm
truyền giáo ḍng Jesuits từ thời Alexandre de
Rhodes cho thấy người Việt đa số theo Phật giáo
hoặc thờ cúng tổ tiên, không dễ “cải đạo” họ
theo Ki-tô: họ không cần tới Roma. Pháp “bảo trợ”
cho Ki-tô giáo ở VN suốt 80 năm. Nay Pháp đi,
Vatican cần cái dù mới. V́ vậy Vatican thoả hiệp
với Hoa Kỳ, nước duy nhất có lực lượng quân sự
hùng manh có thể đối trọng với Liên Sô để giữ
“thị trựng con chiên” VN.
[Nam tước Avro Manhattan
(1914-1990) sinh tại Ư, kư giả/triết gia/hiệp sĩ/đ́ệp
viên liên quốc gia. Ông được giáo hoàng phong
Hiệp sĩ Malta v́ hành động anh hùng chống Phát
Xít Ư trong thế chiến II. Tác giả hơn 60 cuốn
đuợc dịch sang 40 thứ tiếng, có 10 cuốn đứng đầu
bảng “Sách Bị Vatican Cấm”. Cuốn “Vatican in
World Politics”/1949 tái bản 57 lần (hiện không
c̣n trên Amazon.com, internet chỉ có 4 chapters)
lúc đó là cuốn sách gối đầu giường cho lănh đạo/quốc
gia nào “giữa ba lằn đạn” Liên Sô/Vatican/Hoa Kỳ.
Lưu vong tại nước Anh cho đến lúc chết bí mật
tháng 11/1990 khi vừa hoàn tất cuốn Murder in
Vatican. Tới 76 tuổi mới bị thanh toán,
Manhattan phải có gốc rất lớn nhờ bạn bè vớí
hồng y và là hiệp sĩ tới bốn ḍng]
Tại
sao Mỹ mưốn dội bom nguyên tử xuống Việt Nam?
…Tại
VN là nơi dơ dáy để chết...
Dean Rusk, bộ trưởng bộ ngoại
giao thời Kennedy và Johnson, nói “Nếu
nước Mỹ chặn đuợc Bắc VN bây giờ, mai mốt khỏi
phải oánh ở mặt trận lớn hơn”. W. Baldwin,
một ngườ́ ủng hộ thuyết Domino, nói “VN
là nơi dơ dáy để đánh nhau. Nhưng không có nơi
nào “tử tế” để chết cả. Thà đánh nhau ở VN,
ngưỡng cửa vào Trung Hoa, hơn là phải đánh nhau
ở Hawaii, sân nhà của chúng ta”. Nghe kém
ngoại giao và không tử tế, nhưng ít ra không giả
dối.
Sau thế chiến II, nước Anh/Pháp
đều không muốn mất thuộc điạ. Nước Anh vẫn muốn
Burma, Malaysia, và India. Pháp không chịu nhả
Đông Dương, “nơi cung cấp vô tận gaọ, cao su,
than và sắt, dân t́nh dễ trị, khí hậu ấm áp”. TT
Franklin Roosevelt muốn chấm dứt nạn thuộc điạ
này, ông viết: Có 1.1 tỷ người nâu phải sống
dướí sự thống trị của một nhóm trắng. Có 1.1 tỷ
địch thủ là đ́ều nguy hiểm, nước Mỹ phải giúp họ
độc lập. Roosevelt mất ngày 12-4-1945 khi chưa
hết nhiệm kỳ (có giả thiết cho rằng ông bị ám
sát). Harry Truman, tổng thống đưọc ḍng Jesuits
dựng lên kế vị Roosevelt, thế giới bắt đầu ngửi
mùi bom NAPALM.
Có
bốn lư do Mỹ muốn dội bom nguyên tử ở VN năm
1954.
1.
V́ c̣n… dư bom, quả thứ tư đáng lẽ bỏ ở
mặt trận Tŕều Tiên.
2.
Mặt trận Âu Châu: sau Thế Chiến II, Đức/Ư/Nhật
thua, Mỹ mưốn quân sự hóa Tây Đức. Pháp sợ xanh
lè cả mắt không muốn có láng giềng là một đạo
quân tinh nhuệ/kỷ luật, sở hữu một kho đạn dưọc
của “Hoa Kỳ-Người Ruồi Gieo Máu Lửa”, cho đến
khi Mỹ đồng ư sẽ giúp Pháp duy tŕ thuộc địa ở
Đông Dương. Do đó, trong thời
gian đánh nhau với 100.000 quân Phát Xít Nhật ở
mặt trận Đông Dương, OSS
Mỹ cộng tác/yểm trợ các nhóm kháng chiến
chống Pháp. Khi Mỹ
thắng phe Phát Xít Ư-Đức-Nhật, Truman quay ra
giúp Pháp tàn sát các nhóm kháng chiến này.
3.
Mặt trận Á Châu:
Harry Truman muốn có căn cứ không quân/hải quân
ở châu Á. Knights of Malta/anh em cột chèo với
Vatican, sở hữu những đại công ty sản xuất máy
bay, dụng cụ quốc pḥng khổng lồ - Lockheed,
Boeing, McDonnell-Douglas, Grumman, Ford - cần
chỗ thử vơ khí mới, thanh toán vơ khí cũ.
Từ 1944, Truman và
Eisenhower cung cấp cho Pháp
tổng cộng 3 tỷ đô la (80%
chiến phí), gồm vũ khí cũ c̣n lại từ đệ
nhị thế chiến (máy bay Hellcats, Bearcats,
Corsairs, xe tăng M-24 Chaffee). Từ 1949, Liên
Sô và Mỹ đua nhau cung cấp vũ khí tối tân hơn
cho mặt trận Đông Dương.
Từ 1950 đến 1954, cơ quan MAAG có 350 cố vấn Mỹ
có mặt ở Saigon yểm trợ thực dân Pháp đàn áp
kháng chiến VN. Trong đám này có thiếu tá Edward
Landsdale và
Lucien
Conein, hai tên tuổi gắn liền với sinh mệnh ông
Ngô Đ́nh Diệm.
4.
White Supremacy/Siêu Da Trắng: da trắng là nhất
nên không thể thử bất cứ vũ khí (nói chi tới bom
nguyên tử) ở Moscow, Washington, Berlin, Rome,
London, Paris…nơi cư dân toàn da trắng. Hơn thế,
trong số 10,000 Kights/Dame of Malta, phân nửa
là quí tộc châu Âu dây mơ rễ má từ Nga Hoàng qua
các hoàng tộc châu Âu. Trang web “A Century of
US Militay Interventions” cho thấy trong 130
cuộc “can thiệp quân sự” của Hoa Kỳ từ 1890 đến
1999, chỉ trên dưới 10 địa đ́ểm là châu Âu và
Hoa Kỳ, c̣n tất cả ở Châu Mỹ Latin, Á Châu,
Trung Đông…(8)
Percival đến một xứ sở xa lạ thản nhiên tàn sát
dân làng vô tội chỉ v́ muốn trả ơn nưóc Pháp đă
giúp nưóc Mỹ dành độc lập. Truman nưốt ngay lời
hứa trả độc lập cho VN. Giáo hoàng Paul VI và
Spellman quay ngoắt với anh em ông NĐThục/NĐDiệm.
Người Mỹ trả cho người Pháp, chủ đồn điền cao su
Michelin 600 đô la cho mỗi cây cao su bị bắn hạ,
trả 120 đô la bồi thường cho mạng một đứa trẻ
VN. Tất cả phản ảnh tính Siêu Da Trắng. Những mỹ
từ như thánh ư, bác ái, văn minh, hoà b́nh, b́nh
đẳng, độc lập các dân tộc… là cà rem bằng bọt xà
bông.
Trái bom
nguyên tử nào dành cho VN?
…Trái
thứ tư! Các nhà thần học
bảo rằng Hoa Kỳ mang sứ mệnh…
Đệ Nhị Thế Chiến, cuối tháng
4-1945: Mussolini bị hành quyết, Hitler tự tử
khiến Vatican mất tiêu hai cái dù. Hoa Kỳ và
Liên Sô chạy đua từng ngày chế tạo bom nguyên tử.
Ngày 15-7-1945, Truman được báo là BỐN trái bom
nguyên tử đă hoàn thành, chỉ chờ lệnh tổng thống.
Ngay lập tức, qua hôm sau,
16-7-1945, trái Gadget, 20 kilotons, đươc thử ở
New Mexico/Mỹ, gần nơi quần cư của đám thổ dân/Native
Indian. Đó là “Chiến Dịch Trinity (Trinity: Chúa
ba ngôi: Cha/Con/Thánh Thần). Quái lạ là loài
người, toàn lấy tên Chúa để giết người. C̣n nhớ
những năm 1960 ở Saigon, tuần báo Kịch Ảnh có
loan tin Marlon Brando từ chối giải Oscar phản
đối việc tàn sát dân Native Indian.
Ngày 6 và 9 tháng 8-1945, Truman
nói dối dân Mỹ Hiroshima là một căn cứ quân sự.
Truman đơn phương quyết định dội trái Little
Boy/9,700 pounds uranium xuống Hiroshima và trái
Fat Man/9,000 pounds plutonium xuống Nagasaki.
160.000 ngườ́ chết ngay lập tức. Robert
Oppenheimer, giám đốc Manhattan Project chế tạo
bom nguyên tử (phí tổn tổng cộng 2 tỷ đô la) sau
này nói với Truman “Tổng thống, trong tay tôi có
máu”. Điều cần ghi nhận: tất cả các tướng lănh
Mỹ đứng đầu Hải Lục Không Quân Hoa Kỳ đều thỉnh
cầu Truman đừng dùng bom nguyên tử ở Nhật, kể cả
tướng Mac Arthur, v́ không cần thiết. Có lẽ
không có ai trong họ là Hiệp Sĩ Malta hay có
phần hùn trong mấy đại công ty sản xuất vơ khí.
Nagasaki là cửa ngơ đầu tiên đón nhận đạo Ki-tô
nên có rất nhiều nhà thờ cổ với số tín đồ đông
nhất nước Nhật. Tất cả đều bị thiêu ra tro, biến
thành than bốc hơi trong nháy mắt, đường phố
biến thành “con sông lửa”. Truman không thiết
ǵ dân Nagasaki Ki-tô hay không Ki-tô. Người
Nhật đă bị thí trong cuộc chạy đua bom nguyên tử
giữa Hoa Kỳ và Liên Sô. Không thấy Chúa làm phép
lạ! Trách Chúa cũng oan. Chúa bị ngườ́ La Mă
đóng đinh và người La Mă không gỡ cho Chúa xuống,
dù vẫn kêu tên Chúa thiết tha!
Trái thứ tư, TOAN DÙNG tại VN.
Có thể một cái tên VN rất oai hùng thần thánh
nào đó đă dành sẵn. Từ 1946 đến 1980, Hoa Kỳ đă
15 lần mang bom nguyên tử dọa đối phương như một
vơ khí tâm lư (8).
McGeorge Bundy (1919-1996), bạn
John Kennedy từ hồi 8 tuổi, cố vấn an ninh quốc
gia cho cả hai đời tổng thống John Kennedy và
Lyndon Johnson, thường đưọc ca tụng như một
thiên tài chính trị. Trong cuốn “Lessons in
Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in
Vietnam,” (9) ngoài việc thú nhận “Chúng ta đă
lầm” Bundy c̣n nhắc tới một
điều hết sức
kinh sợ: Năm
1954, khi Paris yêu cầu Mỹ can thiệp, bộ trưởng
ngoại giao Mỹ John F. Dulles sốt sắng đề
nghị với bộ trưởng ngoại giao Pháp Georges
Bidault giúp…hai quả bom nguyên tử, “Two Nuclear
Bombs to Use as They Saw Fit”, nghe êm như “Giúp
Em Đôi Chiếu Em Nằm”. Điều này đă không xảy ra
v́:
1. Tổng thống Eisenhower không
đưọc sự chuẩn thuận của quốc hội Mỹ và sự hậu
thuẫn cuả nước Anh. Ngày 24-4-1954, ngoại trưởng
Anthony Eden trả lời nước Anh không muốn dính
dáng tới chiến tranh Đông Dương;
2. Georges Bidault cũng từ chối
hai quả bom này, lư do: nếu dội lên Điện Biên
Phủ, không chỉ giết lực lượng kháng chiến VN, mà
c̣n giết luôn cả lính Pháp (10).
Biến cố này có ghi trong
Pentagon Papers (11) và hồi kư cuả tổng thống
Eisenhower. Kể từ chiến tranh VN cho đến khi mất
năm 1996, McBundy cố hết sức vận động giải giới
bom nguyên tử để sửa lỗi lầm của ḿnh. Đó là một
nét văn hóa rất Mỹ: công khai nhận lỗi, t́m cách
sửa chữa, không đổ hô cho trời cho chúa hay
duyên kiếp bẽ bàng hay càm ràm đầu thai lầm thế
kỷ.
Vietnam…Why Did We Go? chương 4,
Avro Manhattan viết “Năm
1948, cuộc chạy đua hạt nhân kinh hoàng giữa Mỹ
và Nga bắt đầu. Năm 1949, để tăng cường mặt trận
chống Nga, Pius XII phạt vạ tuyệt thông với bất
kỳ cử tri nào ủng hộ Cộng Sản. Và ngay sau đó
những nhà thần học
Mỹ bảo rằng Hoa Kỳ mang sứ mệnh khi sử dụng
bom nguyên tử.”
Chương 9,
“Dưới thời
Eisenhower, khi anh em nhà Dulles, Spellman và
Pius XII giúp h́nh thành những sách lược của Hoa
Kỳ, quân đội Mỹ định thả từ một đến sáu quả bom
31-kiloton lên những lực lượng Việt nam. Những
quả bom này có sức mạnh ba lần hơn quả bom ném
xuống Hiroshima. Âm mưu sử dụng vũ khí hạt nhân
chống lại Việt nam được bạch hóa trong cuốn đầu
tiên của loạt 17 cuốn lịch sử chính thức về
Chiến tranh Việt nam được xuất bản vào 1984 bởi
Pḥng Quân sử Lục Quân Hoa Kỳ”. Tính rợ theo
Avro Manhattan, sẽ có ít nhất 1.200.000 người
Việt chết cháy ngay lập tức.
Taị
sao Nước Mỹ thua?
…V́
có TV…
Lần đầu tiên chiến tranh VN đưọc
chiếu trên TV. Cảnh VN, mái lá cháy rụi, bom dội
trên giếng nước, trâu ḅ cắm đầu chạy máu mê
ṛng ṛng, chất hóa học bỏ dọc theo sông, hài
nhi vỡ toang đầu phun óc, cố vấn Mỹ mặt non tựa
lá nho mùa xuân, méo sệch dưới lằn đạn Trung
Cộng/Hoa Kỳ/Liên Sô vèo vèo trên đầu. Cảnh Hoa
Kỳ, thương binh rũ nguời trên đôi nạng, Mom/Dad
đón quan tài con giữa hai hàng lính u buồn…Sau
đệ nhị thế ch́ến, người Mỹ đă cố quên chiến
tranh. Phải coi mỗi ngày cảnh bom đạn họ rất
khiếp, nhất là khi họ hiểu ra tiền thuế và máu
xương của con họ xả ra cho Vatican cố giết một
nước nhỏ xíu nghèo nàn c̣n Spellman ngồi nhà rẩy
nước thánh, họ không cho định mệnh mỉm cười với
Spellman nữa.
Lần đầu tiên người Mỹ tự thiêu
để phản đối chiến tranh VN.
Ngày 16-3-1965, Alice Herz, 82 tuổi, người Do
Thái sống sót từ Holocaust, theo đạo Quaker, tự
thiêu ở Detroit. Ngày
2-11-1965, Norman Morrison, 31 tuổi, theo đạo
Quaker, tự thiêu ngay trước văn pḥng McNamara ở
Pentagon/Ngũ Giác Đài. Quaker là một nhánh cuả
Tin Lành quan niệm đơn sơ: anh là người
Ki Tô không có cắt bao qui đầu, th́ tôi là người
Ki-Tô không có rửa tội (12). Ngày 9-11-1965,
Roger LaPorte, 22 tuổi, “Catholic Worker”, tự
thiêu trước trụ sở Liên Hiệp Quốc/New York. Tất
cả để lại thơ “Đây là hành vi tôn giáo…Chết cho
ngướ khác sống… Hăy ngưng dội bom”. Cả nước Mỹ
bàng hoàng, nhợt nhạt chờ đón lời nguyền từ cơi
chết.
Từ trên
lầu ba Pentagon, tướng McNamara đứng chôn chân
nh́n đống lửa vàng hực lem lém nuốt sinh mạng
Morrison. Về sau,
trong hồi kư “In Retrospect: the Tragedy and
Lessons of Vietnam/Thảm Kịch và Bài Học Từ VN”,
ông ghi “Cái chết
cuả Morrison là thảm kịch, cho ông, cho tôi và
cả nước Mỹ. Đó là tiếng gào thét phản đối cuộc
tàn sát cướp đi sinh mạng của biết bao thanh
niên Việt-Mỹ”. Ông thú nhận“We
are wrong, We are terribly wrong/Chúng ta đă lầm,
đă vô cùng lầm lỡ”. Bà quả phụ Morrison viết
thư cảm ơn McNamara đă công nhận chiến tranh VN
là một thảm kịch, một lỗi lầm. Ông gọi cho bà
ngay, cảm tạ đă mở ḷng, nhậm lời ông xin lỗi.
Không kể giới lănh đạo là vua nói dối, một đức
tính của “Ki-tô Hoa Kỳ” là dựa vào ḷng tin cậy
nhau, Ki-tô tiếng Việt có một từ tương đương rất
đẹp, “ḷng lân mẫn”. Bà Morrisson tin McNamara
thành thật xin lỗi, bà viết thư cảm ơn như cách
tự thoát khỏi nỗi gian nan về cái chết thê thảm
của chồng. Một nét văn hoá Mỹ: khi nói lên sự
thật, sẽ được đáp trả bằng khoan dung và hào
hiệp.
“An American Requiem, God, My
Father, and the War that Came Between Us/Kinh
Cầu Hồn cho Nước Mỹ- Thượng Đế, Cha Tôi và Chiến
Tranh Giữa Cha-Con” (13), chủng sinh James
Carroll tu ḍng Paule, đường hoạn lộ sáng hơn
đèn xe lửa, đang chờ cha linh hướng Spellman
phong linh mục. Điều này không ngăn cản Carroll
viết “The Vietnam War began as Spellman’s/Chiến
tranh VN bắt đầu như là của Spellman”.
Carroll biết cha ḿnh,
trung tá t́nh báo đặc trách dội bom VN, cũng
đứng đâu đó trên lầu Pentagon, nh́n ngọn lửa
thiêu đốt Morrisson. Cũng từ đó gia đ́nh Carroll
không bao giờ đuợc như xưa nữa: hai thế hệ tan
tành như ngói. Carroll từ chối ơn kêu gọi:
trả lại
áo linh mục.
Cuộc chiến VN xa xôi phủ màu tang trong gia đ́nh
Mỹ: anh em ly tán, mẹ ôm niềm ân hận, bố con
không nh́n mặt nhau. Cuốn sách đoạt giải
National Book Award for Non-Fiction (1996), giải
thưởng cao quí nhất cuả văn học Mỹ, tuơng tự như
Goncourt của Pháp.
Ngày 11-5-1970, George Winne Jr,
sinh viên 23 tuổi, bố đại uư hải quân, tự thiêu
ở khuôn viên University of California/San Diego,
lưu lại bút tích “In the Name of God, Stop the
War/Nhân Danh Thượng Đế, Ngưng Chiến Tranh”.
Miếng gạch nơi Winne tự thiêu, đưọc đặt làm đài
tưởng niệm phía đông thư viện, nơi linh hồn em
yên nghỉ.
Giáo Hoàng Paul VI xung trận “Jamais plus la
guerre”
…không
là anh em nếu không có ḷng trắc ẩn…
Ǵữa một nước Mỹ tang tóc, đại
ngươn soái “Ba thước gươm, một cỗ nhung yên”
thúc ngựa xông vào ṿng lửa đạn chính là giáo
hoàng Paul VI. Vừa nhậm chức GH tháng 6/1963,
Paul VI chớp mắt thấy tiêu tùng hai tổng thống
Ki-tô Vatican mất công gầy dựng: tháng 11-1963,
TT Ngô Đ́nh Diệm và Kennedy chết thảm trong vũng
máu bởi chính tay người Mỹ. Từ đó, bên tai tiếng
bom rền vang hơn tiếng thánh ca. Giáo Hoàng Paul
VI lo lắng về việc Spellman thủ hai vai một lúc:
hồng y New York và tổng tuyên úy quân đội, khiến
thế giới suưt mấy lần đối diện với thế chiến ba.
GH đă cố nói chuyện với Spellman nhiều lần,
nhưng chỉ nói với hai cái tai điếc đặc.
Ngày 4-10-1965, lần đầu tiên một
giáo hoàng Vatican viếng nước Mỹ vốn là đất của
giáo hội Tin Lành. Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc U
Thant và các viên chức cao cấp trong chính phủ
ra đón GH ở máy bay. Ngoại giao Roma cực kỳ tinh
vi qua mắt được cả thượng đế trên trời lẫn loài
nguời dưới thế: hai đại diện Chúa: Paul VI và
Spellman tươi cười cho cả thế giới chụp h́nh.
Chỉ FBI vất vả: 18.000 nhân viên
ch́m nổi gài kín v́ có mật tin không lành. Người
New York đợi 12 tiếng đồng hồ chỉ để ngó GH từ
xa. Giáo hoàng và hồng y ngồi chiếc limousine
thứ hai. Cảnh sát trưởng New York Vincent
Broderick ngồi chiếc thứ ba. Broderick hết hồn
vía khi xe giáo hoàng chậm lại như mưốn ngưng
trước cửa Foundling Hospital của Spellman. Rất
nhanh, ông nghĩ ngay tới vụ ám sát John Kennedy:
xe chở tổng thống th́nh ĺnh chậm lại vừa đủ
th́ giờ cho sát thủ. Broderick điên cuồng hét
vào máy ra lệnh xe không được ngừng. Ông bấm
nút, 18 ngàn nhân viên lông tóc dựng đứng lấy
hết gân cốt chạy về hướng Paul VI. Trong tích
tắc, Broderick định lao đầu chạy tới xe giáo
hoàng. Nếu GH bị ám sát tại Mỹ, nước Mỹ mang mặt
bột ḿ xuống địa ngục ráo. Về sau, khi bị nạo
sát ván, tài xế FBI mếu máo cho biết Spellman
c̣n ra lệnh ngưng vài phút để Giáo Hoàng thấy
hết vẻ hoành tráng cơ ngơi ngài. Broderick không
bị Spellman mắng nhanh nhẩu đoảng là may. Ngài
ngồi trên cả những âm mưu ám sát nên tỉnh bơ làm
sái lộ tŕnh. Ngài hầm hơi GH qua thăm Liên Hiệp
Quốc, không phải vinh danh ngài nên vớt vát cho
dân chúng thấy Spellman ngồi cạnh giáo hoàng.
Spelllman đón Giáo hoàng vô cùng
trọng thể ở pḥng bầu dục St. Patrick. Thiên
thần vén mây rót ánh sáng từ những chóa đèn pha
lê toả trên trần cao vút, giá mỗi cái 100.000 đô
la. Thánh ca réo như thác Niagara. Chén đĩa
toàn vàng bạc. Phụ nữ rón rén mặc toàn đen
choàng khăn ren kín đáo như bà phước. Cả một
rừng thượng lưu Ki-tô nưóc Mỹ tốn bao nhiêu tiền
mới được một chỗ ngồi xa xa, nơi áo choàng giáo
hoàng không chạm tới. So với St. Patrick pḥng
làm việc cuả GH ở Vatican cũ kỹ như cái trạn
bát. Khi chào từ giă đi gặp riêng tổng thống
Johnson tại khách sạn Waldorf-Astoria, GH nhă
nhặn từ chối Spellman đi theo làm thông dịch
khiến mặt Spellman tím lịm như trái sim. Người
khách danh dự phải đến trụ sở Liên Hiệp Quốc
trước GH 30 phút là bà quả phụ Jackie Kennedy.
Bài diễn văn lịch sử dài 3354-chữ, GH Paul VI
dùng tiếng Pháp. Mảnh dẻ như cây sậy Pascal
trong cơn gió cuồng bay, Paul VI dứt khoát:
Jamais plus la guerre! Jamais plus la guerre!
Chiến tranh!! Không!! Không bao giờ nữa!!..Chỉ
hoà b́nh mới soi sáng định mệnh nhân loại …Nếu
muốn là anh em, hăy bỏ khí giới xuống…Yêu người
sao được khi lăm lăm vũ khí trong tay! sẽ không
là anh em nếu không có ḷng trắc ẩn…”
Lời tuyên bố bung ra như bom 30
kilotons. Người thông dịch toát mồ hôi, cà lăm
không tin ở tai ḿnh. 116 đại biểu các quốc gia
nồng nhiệt đứng dậy hoan hô, trừ đại biểu
Albanie tẩy chay. Buổi tối tại Yankee Stadium
trước 90.000 người, diễn văn 1460-chữ bằng
tiếng Anh, Paul VI nhắc “Peace/ḥa b́nh” tới 28
lần, như những thông điệp sau này của Đức DaLai
LaMa. Đức Lê Lợi, xong chiến tranh chống quân
Minh, cũng trả kiếm cho rùa thần. Không cần chữ
nghĩa dài ḍng, bài học để lại đời sau vẫn đúng
như ngàn năm trước: mài gươm cho sắc đánh giặc
ngoài, xong việc binh đao, phải coi dân là
trọng.
“Hỡi anh em! Ta có ba điều gửi lục địa trẻ trung
rạng rỡ này: Hăy yêu hoà b́nh! Hăy phục vụ ḥa
b́nh! Ta mang tặng hồng y Spellman phiến đá cậy
từ đền thờ Saint Peter’s Basilica ở Roma, hồng y
hăy v́ danh Chúa xây dựng một giáo hội cho tương
lai, trong Đức Tin và Đức Mến”
Một trăm triệu người khắp thế
giới nghe thông điệp của vị chủ chăn Vatican qua
TV. Người Mỹ vỡ toang đón niềm vui.
Cả nước Mỹ mềm
môi say thánh ư như say rưọu nho.
Mừng nhất là các bà mẹ héo hon sửa soạn cho con
đăng lính đi VN hay qua Canada trốn lính, trong
đó có mẹ của James Carroll. Chỉ vài ngày sau,
100.000 người khắp nước Mỹ nhảy múa mở đầu
“Phong Trào Hoà B́nh.” Thu xếp lại bản đồ thế
giới, thông điệp cuả giáo hoàng rất rơ: Vatican
muốn chiến tranh VN chấm dứt, nếu không, không
“đi” với Hoa Kỳ nữa.
Các quốc gia đang lâm chiến nhẩy
tango trên than hồng. KGB, CIA, MI6 vồ lấy hai
bài diễn văn, kính hiển vi xét từng dấu phẩy dấu
chấm. Washington bí mật cho loan tin “Giáo hoàng
không biết ngài nói ǵ”. Sự thật thế nào? 1. GH
biết/không biết trận chiến toàn cầu đều là con
cờ cuả đế quốc vô h́nh Knights of Malta: bao giờ
đạt chỉ tiêu sản xuất bom đạn mới ngưng chiến
được 2. GH đă có mật ước với một trong hai (hoặc
cả hai) siêu cường Liên Sô/Hoa Kỳ? 3. GH Paul
VI vẫn được coi là có khuynh hướng cộng sản. Khi
c̣n là bộ trưởng ngoaị giao Vatican, ông đă từ
chối chiếc mũ hồng y GH Pius XII ban, thà nhận
một nhỉệm sở xa xôi với chức giám mục khiêm
nhường, để phản đối chính sách thân Phát Xít của
GH Pius XII. Giáo hoàng Paul VI mang niềm bí ẩn
ấy về cơi thiên đàng và chỉ nói riêng với Chúa,
vị hôn phu 2000 tuổi.

Giáo hoàng và hồng y trưóc nhà thờ St. Patrick
Nụ
hôn ly biệt Spellman-Judas
…chưa
bao giờ bẽ bàng thế...
Nguyên soái Paul VI xuất chiêu
xong lập tức tra gươm cuốn nhung y trở về Roma
làm giáo hoàng tiếp 13 năm ôi thôi là sóng gió.
Nhưng Giáo Hoàng Tươi Cười/Smiling Pope, tức
John Paul I lên kế vị, chỉ ở ngôi đúng 33 ngày
(26-8-1978 đến 28-9-1978), bị ám sát chết ngay
trên giuờng ngủ trong điện Vatican, đèn đọc sách
c̣n sáng, trên tay c̣n cầm bài diễn văn sẽ đọc
ngày mai, cất chức Giáo Hoàng Đen. Vatican từ
chối không cho giải phẫu tử thi theo đúng luật
của nước Ư. Mới chỉ 3 tuần lễ trưóc, ngày
5-9-1978, giám mục Nikodim của giáo hội Chính
Thống Liên-sô, sang Vatican dự lễ Giáo Hoàng
Tươi Cười nhậm chức, ngă quị dưói chân giáo
hoàng. Thi thể của hai vị có những dấu hiệu hệt
nhau. Dư luận cho rằng Nikodim đă cầm nhầm ly cà
phê dọn lên cho Giáo Hoàng Tươi Cười (Murder in
Vatican, chapter 23)
Chúa ôi! Làm giáo hoàng có sung
sướng ǵ đâu. Bà quản bắt ne bắt nẹt. Ăn phải có
người nếm. Bếp của giáo hoàng như một pháo đài.
Buồn miệng muốn ăn cái kẹo cũng không được. Lính
gác lởn vởn xung quanh. Đi xe gắn kiếng-chống-đạn.
Ngủ nướng thêm 15 phút là có báo động om ṣm “GH
bị ám sát”. Mang trong tim màu nhiệm đức tin.
Mang trên đầu niềm hănh diện của giống da trắng.
Mang trên vai gánh nặng tội lỗi ngàn năm cuả
giáo hội. Đối diện với cả trăm vụ kiện thưa, từ
cướp vàng dấu tiền nạn nhân chiến tranh đ̣́ bồi
thường đến sờ mó trẻ em. Giáo dân tưởng ngài
rảnh rỗi, ̣n ỷ mách cáo đ̣i thánh ư phân xử trăm
điều. Chỉ một ḿnh ngài biết sau ánh hào quang
nơi bàn thờ cung thánh là băo tố điạ ngục trần
gian. Chỉ ngày mai thức dậy mới biết chưa bị
KGB, CIA, Giáo Hoàng Đen ám sát. Cây thánh giá
Chúa trao quá nặng! Theo chân Chúa trên đồi
Golgotha c̣n có Mẹ Maria và cô Magdalena. Giáo
hoàng đơn độc một ḿnh.
Spellman
có cúi đầu nhận lănh “Chín tầng gươm
báu trao tay”?
Dỡn chơi! Lên
xe tiễn nhau đi, chưa bao giờ bẽ bàng thế. Giữa
hai hàng lính danh dự nhung phục sáng choang,
Spellman
qú hôn lên
nhẫn GH nụ hôn ly biệt đắng như pha nọc rắn. Khung
cảnh như trong phim: dáng cao như tài tử Anthony
Perkins, áo choàng bay trong gió; đôi giầy da
mầu đỏ ngừng trên bực thang chót; Giáo Hoàng
Trắng quay lại dang tay đầy kịch tính chúc phúc
nước Mỹ lần cuối. Cả nước Mỹ thổn thức cứ như
một bầy trinh nữ ngây thơ. Một bà cụ nhất định
qú cầu nguyện cho đến khi vị giáo hoàng 68 tuổi
về Roma b́nh yên. Lúc đó chưa có hàng giáo phẩm
VN tỵ nạn ở Mỹ, nếu không th́ tiếng kinh cầu
vang rền khắp 9 ngàn tầng trời chứ không bỡn.
Giáo hoàng nh́n Spellman tạm biệt. Lửa trong đáy
mắt tung tóe như hai mảnh thiên thạch cắt nhau
trên không gian. Hồng y 76 tuổi, khuỵu chân
chào kính giáo hoàng lần nữa, sầu như chưa sầu
thế bao ǵ̣. Ngài lảo đảo như sắp ngă, thiếu
điều muốn nấc nh́n theo máy bay khuất trong mây.
Cận vệ phải đưa tay cho ngài vịn. Vừa về tới St.
Patrick, Spellman hầm hầm trẹo quai hàm vứt ngay
Đức Tin Đức Mến lẫn phiến đá Roma vào thùng rác,
dù bằng bạc cũng vẫn là thùng rác.
Với Franny, chỉ GH Pius XII biết dùng quyền lực,
các
GH
khác bán chưối bán pizza cũng không nên thân.
Ôm mối hận bị sỉ nhục trước công chúng cho đến
cuối đời, Spellman cắt đứt liên hệ với GH
Paul VI, tiếp tục ra lệnh cho Johnson dội
bom, thí quân vào một trận chiến vô đạo.
Sau chuyến đi cuả GH Paul VI, màu sắc ngoại giao
Roma rơ nét: liên lạc trực tiếp với Hà Nội và
Trung Quốc. Hồng y Igino Eugenio liên lạc với
đại diện VN ở Âu châu. Hồng y Paolo Bertoli qua
trung gian người Pháp làm việc với Saigon và Hà
Nội. Đại diện Vatican ở Cambodia tiếp xúc với
Việt-Cộng. Học giả, luật gia, sử gia, hàng giáo
phẩm, nhân viên ngoại giao… đổ xô về Roma. GH
và ông Hồ Chí Minh trực tiếp trao đổi thư từ.
Thời gian này ở miền Nam VN, chính phủ quân sự/dân
sự thi nhau đổ. Uỷ Ban Lănh Đạo Quốc Gia (6-1965
đến1967), hai nhân vật chính là ông Nguyễn Văn
Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, không rơ VNCH vẫn duy
tŕ liên lạc ngoại giao với Roma không. Đoạn sử
này của cả hai miền Nam-Bắc VN h́nh như c̣n ch́m
trong bóng tối.
Spelllman phản ứng ra sao trước những “điệp
vụ”này? Thiệp giáng sinh 1965 gửi Vatican, ảnh
chụp Spellman đứng trưóc máy bay chiến đấu với
hai quân nhân. Dư luận Nam VN không dám đụng tới
GH Paul VI, McNamara, McBundy, phản chiến thượng
hảo hạng. Trong khi ghét oan cái đám phản chiến
tốt đen Jane Fonda, John Kerry. Thật ra Kerry có
đi lính, không thể gọi phản chiến. Ngướ Việt vỗ
tay trên xác chết người Việt mấy chục năm nay mà
không biết (hay không dám) chỉ đích danh kẻ mang
chiến tranh choàng lên cổ người Việt là HY
Spellman. Có đọc một nhận xét từ người ngoại
quốc “Nguời Việt khi không đánh ngoại xâm th́
chúng nó đánh nhau”.
Chúng nó đánh nhau!
Một tâm thức chắc chắn được t́nh báo các nước
đối tác nghiên cứu/khai thác, khi cần áp dụng
với giá rẻ mạt hay hứa hẹn tầm phào là tạo ngay
đuơc chia rẽ, hỗn loạn. Lời thề kinh hăi cuả
ḍng Jesuits/ḍng Tên gặp đất tốt, khỏi bón phân
phiếc chi hết… “Con đă được đào tạo để lẳng
lặng gieo mầm mống tị hiềm và thù ghét giữa cộng
đồng, địa phương, quốc gia đang ḥa b́nh, và
khích bác chúng gây đổ máu, lôi kéo chúng giao
chiến với nhau, và gây ra khởi loạn hay nội
chiến ở các quốc gia…”(14)
Hồng Y Spellman không nói thay cho Giáo Hoàng
…Điều ǵ đó dường như tan vỡ nơi
đức hồng y…
Ngày
23-12-1966, dự lễ Giáng Sinh với lính Mỹ ở VN,
Spellman tuyên bố “Lính
Mỹ chiến đấu để tự vệ, bảo vệ, và cứu rỗi, không
chỉ nưóc Mỹ, mà cả nền văn minh nữa./…defense,
protection, and salvation not only for our
country, but…of civilization itself”.
Hôm sau Vatican lên tiếng tức th́
“Đó không phải quan điểm của ṭa thánh, HY
Spellman không nói thay cho giáo hoàng”.
Tờ
New York Times, tờ The Nation, tờ công giáo
CommonWealth nhất loạt lên tiếng
gay gắt công
kích Spellman.
Năm 1967, một số cựu quân nhân
tuần hành khắp nước Mỹ, ngồi xe lăn hay đi nạng,
vứt bỏ huy chương. Một số lên tiếng xin lỗi
người Việt, hy vọng ngày nào họ sẽ trở lại xây
dựng nơi họ đă phá tan nát. Nhóm này ngày càng
lớn và
lập nên
Vietnam Veterans Against
the War
ngay tại New York.
Không giống những vị chủ chăn
khác phải cân nhắc hoặc ít ra phải giả bộ cân
nhắc hay Điêu Thuyền khóc mếu chút đỉnh,
Spellman không hề nao núng khi bị chỉ trích là
sát nhân. Ngài cũng chẳng xem TV. Chủ nhật
22/1/1967, trước nhà thờ St. Patrick, 25.000
người phẫn nộ “Bắt Spellman Đi Lính, Liệng Ổng
Ra Mặt Trận, Ngưng Ngay Cuộc Chiến Spellman”
khiến ngài phải ngưng ngang xương thánh lễ.
Ngài bắt đầu xuống tinh thần và uống khá nhiều
ruợu. Không điều ǵ làm con tim vui trở lại.
Mớ bạn học cũ ỏ
Fordham
University lọm khọm đến hát cho ngài nghe mấy
bài thời chủng sinh, ngài cũng gắt om lên.
“Something seemed to have broken in the
Cardinal/Điều ǵ đó dường như tan vỡ nơi đức
hồng y”, John Cooney trong “The American Pope”
trang 399 ghi như thế. Ngồi măi trên ngai, đũng
quần cũng phải ṃn chứ.
Khi tổng thống Johnson bắt
McNamara phải từ nhiệm ngày 29-11-1967 - v́ tội
dám hỏi “chiến tranh VN có đạo lư không và phải
ngưng dội bom”- Spellman thật sự chới với.
Nhưng hai ngày sau, ngài vẫn hùng dũng tuyên bố
cuối tháng sẽ đi VN ăn tết giáng sinh với lính
Mỹ. Lần này Chúa có vẻ hơi hoảng, qua hôm sau
Chúa lật đật cất ngài đi đoàn tụ gia đ́nh với GH
Pius XII ngày 2-12-1967 bằng chuyến bay Air
Thiên Đàng, non-stop, thuyền-ra-cửa-biển luôn.
Ngài đi, không mang theo thảm Ba-Tư và chén dĩa
vàng, cũng không kịp thưởng thức tấm poster
Edward Sorel vẽ, có tên "Pass the Lord, and
Praise the Ammunition”, đại diện Chúa mặt phụng
phịu quạu cọ, “rao giảng” Tin Mừng bằng súng gắn
lưỡi lê. Poster đến tay báo chí, vừa vặn
Spellman “băng hà” sau nhiều trận tai biến mạch
máu năo. Ngài hưởng 78 mùa xuân, mùa nào cũng
đánh nhau mệt nghỉ.
Đám ma ngài xứng đáng là “đám
táng cá voi”. Sau khi ngài mất, Vatican cũng như
báo chí Hoa Kỳ cố quên như không hề có một hồng
y Spellman trên cơi đời, dù ngài để lại nhiều
trường ốc đồ sộ. Vatican dập d́nh phong thánh
cho GH Pius XII cho đỡ mất mặt, nhưng không bao
giờ nhắc tới tên Francis Joseph Cardinal
Spellman, SJ.
Hồi thanh niên ngài có mần thơ.
Giờ đây trên lối thiên đàng, giá ngài dừng tay
ngắt vài nhánh oải hương cho ḷng dịu dàng và
viết hồi kư “Tâm Tư Hồng Y Giáo Chủ Spellman”
thế nào cũng thâu thêm một mớ tiền âm phủ uống
cà phê, nếu ngài bán giá nơi nới một chút cho
lính, lúc nào cũng nghèo. Ít ra họ cũng xứng
đáng đưọc biết họ chết v́ ai.
Câu
hỏi của Đại sứ Giovanni D’Orlandi
….Hoa
ngày mai đều nằm trong hạt ngày hôm nay…
Đại sứ Giovanni D’Orlandi/Italy
tại Saigon từ 1962-1968, bồi hồi ghi trong nhật
kư (15):
“Trong
20 năm, số bom trải ở VN là bẩy triệu tấn, nhiều
hơn cả bom thả trong đệ nhị Thế Chiến, trên một
mảnh đất lớn hơn xứ Italy chút xíu, sáu mươi
ngàn lính Mỹ và sáu trăm ngàn lính Việt Nam tử
trận, ba triệu người chết…”
“Nếu phí tổn chiến tranh tính theo đầu
người được chia đều, mỗi gia đ́nh VN đều có một
căn nhà có vườn, một tủ lạnh và một TV”
“Khi 200,000 người Ki-tô di cư từ Bắc vào
Nam, mỗi người đuợc vài nắm gạo và vài cái chăn.
Số lớn tiền viện trợ chạy trở lại nước Mỹ, qua
Switzerland hay Hongkong”
Không phê b́nh luận tội ai hết,
chỉ cần vài con số, đại sứ D’Orlandi ném vào
lịch sử Việt Nam và lương tâm Việt Nam một câu
hỏi bỏ ngỏ “Gây nên chiến tranh quốc gia/cộng
sản tại VN, ai là người hưởng lợi”??
Ở đâu đó, thiên đàng/điạ ngục,
hai chiến binh vĩ đại Pius XII và Spellman -
người duy nhất thắng trận - đội ṿng nguyệt quế
kết bằng đầu lâu, có thể đang bầy một tṛ chơi
mới cho trăm năm tới, lại cần thêm dăm cái lưng
cong.
Đọc trên
tienve.org một câu hay tuyệt “Không Phải Đêm
Dài Nào Cũng Chấm Dứt Bằng Ánh B́nh Minh”. Chừng
nào c̣n thiếu vắng những trả lời minh bạch.
Amen! Xin Được Như Nguyền
Cécilia Trần Thị
Vĩnh-Tường (Mùa Vu Lan 2010)
Chú thích
(1) a. http://www.vvaw.org/about/warhistory.php
b. http://timelinesdb.com/listevents.php?subjid=72&title=Vietnam
(2) http://www.gio-o.com/NgoBacJBalestier.html
(3 http://www.tinmoi.vn/Da-Nang-canh-cua-bien-Dong-04144027.html
(4 http://www.rileystjames.com/MGWED.HTM
(5) http://www.chuacuuthe.com/?p=8427
(6)
http://www.awesomestories.com/history/pentagon-papers/the-truth-about-tonkin
http://my.opera.com/PANWENFANGHUI/blog/bi-n-c-v-nh-b-c-vi-t-8-1964-ph-n-v
(7) http://www.reformation.org/vietnam.html
http://sachhiem.net/LICHSU/AVRO/AVRO_01.php
- dịch giả Trần Thanh Lưu
(8) http://www.officeoftheamericas.org/images/pdf/usmilitaryinterventions.pdf
(9) http://www.nybooks.com/articles/archives/2010/jun/10/mac-bundy-said-he-was-all-wrong/
(10)
http://findarticles.com/p/articles/mi_m1141/is_29_43/ai_n19360865/?tag=content;col1
(11)
http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent6.htm
(12) Nguyễn
Đức Hiệp, “Khoa
Học và Tôn giáo”
http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=1310&Itemid=31
(13) Carroll, James
- “An American Requiem, God, My Father, and the
War that Came Between Us”, (Houghton Mifflin Co,
Boston-New York. 1996),
trang
164.
|