|
Tôi, Phạm Bá Hoa, xin phép tác giả Trần Ngọc
Giang. V́ có nhiều bạn chuyển đến tôi bài
viết của tác giả, kèm theo câu tóm tắt chung
là “muốn tôi cho biết ư kiến”....Lúc
đầu, tôi có trả lời rất vắn tắt riêng cho 4
bạn, nhưng v́ càng nhiều bạn chuyển bài này
đến tôi và muốn biêt ư kiến, nên tôi thấy
cần tŕnh bày chi tiết thêm vào từng đoạn
thích hợp trong bài viết của tác giả để tiện
trả lời chung. Vào đầu bài:
|
|
 |
“Cơn Lốc Rối Loạn Đệ Nhất Đệ Nhị Cộng Ḥa
Việt Nam”, tác giả có y như “trần t́nh”
với người đọc với ḍng chữ “… sau nhiều
lần suy nghĩ, trăn trở vẫn phải cầm viết hầu
phơi bày một sự thật để phần nào giúp các sử
gia sau này có những sự kiện quan trọng đưa
vào ḍng định mệnh của Lịch Sử Việt Nam”.
Cũng v́ vậy, một lần nữa, tôi xin phép tác
giả để viết lại những lệnh mà tôi nhận,
những việc mà tôi làm, những ǵ mà mắt tôi
thấy trực tiếp, tai tôi nghe trực tiếp, cùng
nét nh́n của tôi từ những điều đó và từ
những ḍng chữ của tác giả, c̣n đánh giá như
thế nào xin tùy quí vi hữu, quí độc giả.
Xin thưa, trong cuộc đảo chánh 1/11/1963,
tôi là Đại Úy chánh văn pḥng Tham Mưu
Trưởng Liên Quân. Trong bài này, phần chữ
nghiêng tôi viết và save dưới dạng pdf.
* * *
Kể từ biến cố lịch sử năm 1975 đến nay đă có
nhiều sách báo, đoàn thể, tôn giáo cũng như
hầu hết đồng bào Việt Nam đều quy trách
những nhà lănh tụ miền Nam như Tổng thống
Diệm, tuớng Minh, Đôn, Thiệu, Kỳ v.v… đều là
những người đă một phần chịu trách nhiệm để
Cộng sản thôn tính miền Nam. Sự quy trách
này trên b́nh diện chính trị, truyền thông
đương nhiên không ai phủ nhận, nhưng trên
phương diện lịch sử th́ thật là phiến diện.
Do đó tiện giả sau nhiều lần suy nghĩ, trăn
trở vẫn phải cầm cây viết hầu phơi bày một
sự thật để phần nào giúp các sử gia sau này
có những sự kiện quan trọng đưa vào ḍng
định mệnh của Lịch sử Việt Nam.
Ngược dốc thời gian năm 1958, Đại tá Trần
Thiện Khiêm là một trong những sĩ quan được
Tổng thống Diệm ưa thích v́ vậy Đại tá Khiêm
đă được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 4BB. Thời
gian này Đại tá Khiêm có hai người bạn thân
nhất là Đại tá Nguyễn Khánh và Trung tá
Nguyễn Văn Thiệu, bất cứ cuối tuần nào , Đại
tá Khiêm đều lái xe đến thăm Đại tá Khánh
tại đồn điền trà J’Ring, sau đó 2 người kéo
lên Đà Lạt thăm Trung tá Thiệu đương là Chỉ
huy trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Tôi không biết Thiếu Tướng Khiêm thân với
Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu từ lúc nào, mà tôi
chỉ biết – theo lời của bà Trần Thiện Khiêm
– Đại Tướng Khiêm, Đại Tướng Nguyễn Khánh,
và Đại Tướng Cao Văn Viên, thân nhau khi 3
vị cùng là Đại Úy và cùng chiến đấu trong
quân đội Liên Hiệp Pháp tại mặt trận Na Sản
trên đất Lào
Năm 1960 trong vụ đảo chánh do Trung tá
Vương Văn Đông cầm đầu bị thất bại, bởi Đại
tá Khiêm Tư lệnh SĐ 21BB từ miền Tây kéo về
giải cứu Tổng thống Diệm, và kể từ đó Đại tá
Khiêm được Tổng thống Diệm tín cẩn tuyệt đối,
thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm Tham
mưu trưởng Liên quân Quân lực Việt Nam Cộng
Ḥa.
(1) Sau khi Đại Tá Nguyễn Chánh Thi thất bại
cuộc đảo chánh 11/11/1960, Đại Tá Khiêm gọi
tôi đến gặp ông tại Bộ TTM – lúc ấy tôi đang
học lớp tham mưu tại trường đại học quân sự
đồn trú trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo,
tức Bộ TTM. Trước khi đi học, tôi là Trưởng
Ban Hành Quân Pḥng 3/SĐ21BB- Đại Tá Khiêm
chỉ nói: “Ông Khánh sẽ cho di chuyển trường
đại học lên Đà Lạt. Phần chú, măn khóa là
chú về lại Pḥng 3 SĐ, tôi có việc cho chú”.
Ngày hôm sau, Đại Tá Khiêm trở về Quân Khu 5
đồn trú tại Cần Thơ, ông vẫn kiêm nhiệm Tư
Lệnh SĐ21BB đồn trú tại Sa Đéc. Tháng
4/1962, giải thể các Quân Khu, các Quân Đoàn
Sư Đoàn được trao thêm nhận trách nhiệm an
ninh lănh thổ với danh xưng kèm theo là Vùng
Chiến Thuật, Khu Chiến Thuật, Đại Tá Khiêm
vẫn là Tư Lệnh SĐ21BB/Khu Chiến Thuật Hậu
Giang, và SĐ21BB di chuyển từ Sa Đéc sang
Cần Thơ. Ngày 6/12/1962, Đại Tá Khiêm thăng
cấp Thiếu Tướng, được cử giữ chức Tham Mưu
Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu, và ông
nhận chức ngày 17/12/1962. Lúc ấy tôi Đại Úy
chánh văn pḥng Tư Lệnh SĐ21BB, tôi cũng
được lệnh thuyên chuyển đến bộ TTM, và Thiếu
Tướng Khiêm cử tôi giữ chức chánh văn pḥng
TMT Liên Quân cũng từ ngày ấy (17/12/1962).
Danh xưng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa mới sử
dụng từ 1/4/1964 thời Trung Tướng Nguyễn
Khánh, sau văn kiện hệ thống hóa “QLVNCH gồm:
Hải Quân, Không Quân, Lục Quân, Địa Phương
Quân & Nghĩa Quân” (2) Trong cuộc sống nhất
là trong sinh hoạt chính trị, tôi không tin
là có sự “tín cẩn tuyệt đồi”, v́ thật ra
không có ǵ tuyệt đối trong đời sống chúng
ta cả.
Sau khi nắm chức vụ trên và nhất là được sự
tin tưởng của Tổng thống, Thiếu tướng Khiêm
đă đề cử Trung tá Thiệu làm Tư lệnh Sư đoàn
5BB và Thiếu tướng Khánh làm Tư lệnh vùng 2
Chiến thuật. Tóm lại tất cả các chức vụ quan
trọng trong Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa vào
thới điểm này nếu có sự đề bạt của Thiếu
tướng Khiêm chắc chắn sẽ được Tổng thống
Diệm chấp thuận, ngoài ra TT Khiêm hơn hẳn
các tướng lănh khác là được cả ông Cố vấn
Ngô Đ́nh Nhu mến phục. Bởi vậy tiếng nói của
Thiếu tướng Khiêm với hai nhân vật then chốt
của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa có một tác dụng gần
như tuyệt đối, các tướng lănh và tư lệnh
quân binh chủng trong QLVNCH biết như vậy
nên mọi lệnh của TT Khiêm, Tham mưu trưởng
Liên quân đưa ra đều được thi hành đầy đủ,
chính xác.
(1) Thiếu Tướng Khánh bàn giao chức vụ Tham
Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu cho Thiếu Tướng
Khiêm trước khi ông đi Pleiku nhận chức Tư
Lệnh Quân Đoàn 2/Vùng 2 Chiến Thuật. Như vậy,
tôi nghĩ, không phải Thiếu Tướng Khiêm đề cử
Thiếu Tướng Khánh sau khi Thiếu Tướng Khiêm
nhận chức. Chức TMT Liên Quân là chức vụ mới
thiết lập và Thiếu Tướng Khiêm là người đầu
tiên nhân chức vụ này. (2) Có phải Thiếu
Tướng Khiêm đề cử Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu
giữ chức Tư Lệnh SĐ5BB hay không, điều này
tôi không biết. (3) Các đơn vị thi hành lệnh
của Bộ TTM ngang qua TMT Liên Quân kư thừa
lệnh Tổng Tham Mưu Trưởng là hành động b́nh
thường trong quân đội.
Từ trước tới nay đă có nhiều sử gia và nhân
vật chính trị đề cập đến cuộc đảo chánh ngày
1-11-63 nhưng nhiều sự kiện vẫn c̣n thiếu
sót và không chính xác v́ chưa ai nêu đúng
nhân vật chủ chốt, hầu hết đều cho rằng các
tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn
Kim, Tôn Thất Đính là những nhân tố chính.
Nhưng mặt trái bên trong hậu trường th́
không phải vậy, Trung tướng Đôn mặc dù là
Quyền Tổng Tham mưu trưởng nhưng không được
các Tư lệnh quân binh chủng tin tưởng, Tướng
Minh không có thực lực trong tay c̣n lại
Tướng Đính chỉ trong phạm vi Tổng trấn Sài
G̣n mà thôi.
Đầu tháng 3/2007 trong lúc nói chuyện với
cựu Đại Tướng Khiêm sau khi đón ông và gia
đ́nh từ phi trường IAH sau chuyến du lịch
Pháp quốc trở về Houston, nhân lúc vui vẻ,
tôi hỏi: “Thưa anh Tư, hồi đảo chánh 1 tháng
11 năm 1963, bắt đầu từ phía Hoa Kỳ hay từ
phía Việt Nam ḿnh anh Tư?” “Từ phía Hoa Kỳ”.
“Vậy ai là người nối vào Việt Nam ḿnh anh
Tư?” “Ông S.”. “Ông ấy nối vào ai vậy anh Tư?”
“Nối vào anh, nhưng anh thấy việc lớn quá
nên giới thiệu với Trung Tướng Minh (Dương
Văn)”. Cựu Đại Tướng Khiêm có nói tên đầy đủ
của người Mỹ này, nhưng ông không muốn tôi
nêu tên ông ấy dù ông S. đă chết rồi. Trong
năm 1963, tôi có dịp nói chuyện với ông S.
này trong những lúc ngồi chờ vào gặp Thiếu
Tướng Khiêm. Ông ta trong ngành t́nh báo,
nói tiếng Pháp sành sỏi. Với những ǵ tôi
biết, Thiếu Tướng Khiêm là một trong những
vị quan trọng trong cuộc đảo chánh chớ không
phải là “nhân vật chủ chốt”. Trong một đoạn
bên dưới, tôi tŕnh bày rơ hơn về điểm này.
Đến đây tiện giả xin tŕnh bày diễn tiến
cuộc đảo chánh 1-11-63 để quư vị độc giả có
thể thấu hiểu ai là người đă soạn thảo, móc
nối và thi hành kế hoạch đảo chánh.
Khoảng đầu tháng 10-1963 Thiếu tướng Khiêm
gọi Thiếu tá Giang lên văn pḥng cho biết sẽ
có đảo chánh để lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng
Ḥa v́ Thiếu tướng Khiêm được biết ông Ngô
Đ́nh Nhu đă có liên lạc với phía Việt Cộng.
Đến đây tiện giả xin mở dấu ngoặc. Sở dĩ
Thiếu tướng Khiêm tiết lộ cuộc đảo chánh cho
Thiếu tá Giang v́ Thiếu tá Giang đă từng là
Chánh Văn pḥng của Thiếu tướng Khiêm, và
ngay sau nhậm chức Tham mưu trưởng Liên quân
Thiếu tướng Khiêm đă yêu cầu Nha An ninh
quân đội đưa Thiếu tá Giang sang giữ chức vụ
Trưởng pḥng An ninh Quân đội Bộ Tổng Tham
mưu.
(1) Nếu tôi nhớ không lầm, lúc đảo chánh
1/11/1963, tác giả là Đại Úy chớ chưa là
Thiếu Tá. Tôi c̣n nhớ văn pḥng của tác giả
trong Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, building
bên trái từ cổng số 1 vào. Tác giả có trách
nhiệm xét cấp “Thẻ” ra vào cổng Tổng Tham
Mưu cho quân nhân viên chức phục vụ trong
khuôn viên Bộ TTM. Tôi cũng được cấp thẻ đó.
Tác giả nói đầu tháng 10/1963, Thiếu Tướng
Khiêm gọi tác giả lên văn pḥng cho biết có
đảo chánh, nhưng những ǵ tôi biết th́ những
buổi họp tối mật giữa Thiếu Tướng Khiêm với
các vị đảo chánh là từ trung tuần tháng
10/1963. Chứng minh: Khoảng 17 hay
18/10/1963, Thiếu Tướng Khiêm bắt đầu có
những lần rời khỏi nhà ban đêm (sau đảo
chánh tôi mới biết là ông đến nhà Thiếu
Tướng TT Đính) mà không cho xe hộ tống theo
sau, cho phép suy đoán là chuyện đảo chánh
được thảo luận từ đó.
(2) Về phần tôi, 7 giờ sáng 1/11/1963 (hôm
ấy là lễ Các Thánh Tử Đạo) Thiếu Tướng Khiêm
gọi tôi đến nhà ông, sau khi ngồi ở góc sân
mà từ đó nh́n thấy chung quanh để biết chắc
là không ai nghe thấy, trước khi ra lệnh ông
nói thế này” “Đây là chuyện tối mật, chú
không được nói với bất cứ ai kể cả vợ chú và
chú Có, nếu bị tiết lộ th́ chú đứt đầu trước
tôi.” Chù Có mà Thiếu Tướng Khiêm nói ở đây
là Trung Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên
của ông. Tôi nghĩ, nếu tác giả được tín cẩn
đến mức được Thiếu Tướng Khiêm cho biết
trước đảo chánh một tháng, ắt hẳn tác giả
phải là nhân vật rất quan trọng trong cuộc
đảo chánh 1/11/1963, nhưng trong thực tế
chừng như không phải vậy, v́ tôi không nhận
thấy “người thật việc thật” liên quan đến
cuộc đảo chánh. Tôi nói “rất quan trọng” v́
đây là hành động ảnh hưởng trực tiếp đến
binh nghiệp và mạng sống của những vị tham
gia đảo chánh. Hơn ai hết, ngành an ninh
biết rơ điều này ít nhất là sau vụ
11/11/1960. (3) Những ǵ ở Sư Đoàn 4 Dă
Chiến liên quan đến tác giả, tôi có nghe
Trung Úy Nguyễn Hữu Có – sĩ quan tùy viên
lúc ấy – nói lại, nhưng v́ chưa đủ lư lẽ để
tôi tin nên tôi xem như không biết ǵ hết.
Ngày 20-10-1963 Thiếu tướng Khiêm chỉ thị
Thiếu tá Giang qua gặp Đại tá Đỗ Mậu, Giám
đốc Nha An ninh quân đội để cho Đại tá Mậu
biết là ông Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu vừa ra lệnh
cho Thiếu tướng Khiêm tạm giữ Đại tá Mậu v́
ông này đang vận động đảo chánh; và Thiếu
tướng Khiêm dặn Thiếu tá Giang nói với Đại
tá Mậu tạm thời lánh mặt để Thiếu tướng
Khiêm dễ dàng tŕnh lên ông Cố vấn. Cũng
trong thời gian này Thiếu tướng Khiêm tiết
lộ với Thiếu tá Giang về phía tướng lănh
Thiếu tướng Khiêm đă tranh thủ được hầu hết,
chỉ c̣n có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư
lệnh vùng 4 là chưa hội ư, riêng Tướng Khánh
và Đại tá Thiệu hoàn toàn đồng ư với Thiếu
tướng Khiêm, ngoài ra các Tư lệnh quân binh
chủng đă có hứa là sẽ sát cánh với Thiếu
tướng Khiêm. Nói tóm lại việc vận động, tổ
chức cũng như hoàn tất kế hoạch đảo chánh
hầu như do Thiếu tướng Khiêm chủ động v́ chỉ
có tướng Khiêm hội đủ mọi yếu tố để cho các
tướng lănh và tư lệnh quân binh chủng tin
tưởng.
(1) Những ngày cuối tháng 10/1963, một
buổi tối sau khi Thiếu Tướng Khiêm ra khỏi
nhà một lúc, Trung Tá Phạm Thư Đường – chánh
văn pḥng ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu – điện
thoại tôi, hỏi TT Khiêm đi đâu và tôi trả
lời TT Khiêm vừa đi đâu đó tôi không biết.
Trung Tá Đường nói lệnh của ông Cố Vấn bảo
tôi tŕnh với Thiếu Tướng Khiêm là sau giờ
làm việc không nên ra khỏi nhà, v́ lúc này
bọn đặc công Việt cộng t́m ám sát các Tướng
Lănh. Điều này cho thấy ông Cố Vấn Nhu theo
dơi hoạt động của Thiếu Tướng Khiêm (và có
thể những vị khác nữa) chớ không phải ḷng
tín cẩn. Tôi chứng minh thêm. Tháng 4/1962,
khi ông Cố Vấn xuống Vĩnh Long quan sát trắc
nghiệm Ấp Chiến Lược, Đại Tá Khiêm – Tư Lệnh
SĐ21BB/Khu Chiến Thuật Hậu Giang – có mặt
tại phi trường nhỏ đón ông Cố Vấn, nhưng khi
lên xe đi thăm ACL th́ Đại Tá Khiêm vẫn ngồi
trên xe của ông chớ không đi theo phái đoàn.
Trung Tá Lê Văn Phước -Tỉnh Trưởng Vĩnh
Long- đến tận xe mời Đại Tá Khiêm cùng ngồi
xe với ông Cố Vấn, Đại Tá Khiêm nói: Anh đưa
ông Cố Vấn đi thăm ÂCL, tôi vào nhà anh ngồi
chờ”. Sở dĩ tôi nghe được câu trả lời và
nh́n thấy thái độ của Đại Tá Khiếm, v́ tôi
vừa là chánh văn pḥng Tư Lệnh SĐ21BB vừa
trách nhiệm theo dơi trắc nghiệm ACL tại các
tỉnh Hậu Giang, và lúc ấy tôi đứng cạnh Đại
Tá Khiêm. (2) Trong quân sự, lệnh phải “ngắn
gọn, rơ ràng, chính xác”. Ở đây, Thiếu Tướng
Khiêm ra lệnh cho tác giả bảo Đại Tá Đỗ Mậu
“tạm thời lánh mặt” dường như lệnh này không
rơ nghĩa. Xin thưa, mỗi lần Thiếu Tướng
Khiêm ra lệnh cho tôi, bao giờ ông cũng hỏi:
“Chú có ǵ cần hỏi không?” Trường hợp tôi
hiểu không rơ là tôi hỏi lại ngay. Với lệnh
bảo Đại Tá Đỗ Mậu “tạm thời lánh mặt” phải
hiểu thế nào để chuyển lệnh cho đúng? (3)
Chính tôi điện thoại liên lạc Thiếu Tướng
Khánh (ở Pleiku) nhưng ông không nhận điện
thoại, măi đến gần sáng 2/11/1963 ông mới
lên tiếng ủng hộ đảo chánh, chứng tỏ Thiếu
Tướng Khánh không tham dự từ đầu, v́ nếu
tham dự từ đầu th́ Thiếu Tướng Khiêm đâu cần
ra lệnh cho tôi điện thoại hỏi TT Khánh.
Sáng sớm ngày 31-10-1963 Thiếu tướng Khiêm
gọi Thiếu tá Giang lên văn pḥng; khi Thiếu
tá Giang bước vào th́ thấy Đại tá Nguyễn Hữu
Có ở đó, Thiếu tướng Khiêm chỉ thị cho Thiếu
tá Giang cầm công điện hỏa tốc đi cùng với
Đại tá Có xuống Mỹ Tho để bàn giao chức vụ
Tư lệnh Sư đoàn hiện do Đại tá Đạm là tư
lệnh. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm ra lệnh cho
Thiếu tá Giang đi với Đại tá Có là để Đại tá
Đạm tin tưởng là lệnh thật do chính Thiếu
tướng Tham mưu trưởng kư v́ Đại tá Đạm từng
biết sự thân cận giữa Thiếu tướng Khiêm và
Thiếu tá Giang.
(1) Vào thời gian ấy, cử vào chức vụ Tư Lệnh
Sư Đoàn phải là Sắc Lệnh của Tổng Thống, đâu
thể nào chỉ do một công điện mà là công điện
của vị Tham Mưu Trưởng Liên Quân lại đủ thẩm
quyền thay cho một Sắc Lệnh? Thêm nữa, những
tài liệu thuộc loại mật và tối mật trong văn
pḥng TMT Liên Quân, hoàn toàn do tôi đánh
máy, cho số, vào phong b́, dán kín mới gởi,
cũng như lưu giữ trong tủ sắt ngay sau lưng
tôi, không một sĩ quan nào có trách nhiệm
này. Nhưng tôi hoàn toàn không biết ǵ về
công điện mà tác giả nói ở trên. (2) Tôi có
chút thắc mắc: “Tại sao phải có mặt tác giả
bên cạnh Đại Tá Nguyễn Hữu Có để chứng minh
công điện đó là thật”. Như vậy phải hiểu
rằng, nếu không có tác giả th́ Đại Tá Có
chẳng có giá trị gi hết, nếu không nói lúc
ấy “Đại Tá Có chỉ là cái bóng của tác giả”.
Với lại những ǵ tôi biết về Đại Tá Đạm, ông
là người rất chính chắn b́nh tỉnh trong mọi
vấn đề, nên tôi tự hỏi: Chẳng lẽ Đại Tá Đạm
biết tác giả được sự tín cấn của Thiếu Tướng
Khiêm đến mức chỉ cần sự có mặt của tác giả
đă đủ để ông tin tưởng cái lệnh tối mật đó
là thật sự của Thiếu Tướng Khiêm? Chẳng lẽ
Đại Tá Đạm lại chấp nhận cái công điện đó
của vị TMT Liên Quân có thẩm quyền thay cho
Sắc Lệnh của Tổng Thống? Dù ǵ th́ trên
quyền của TMT Liên Quân c̣n có Trung Tướng
Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng nữa mà. Phải
chăng tác giả hàm ư tác giả là biểu tượng
của Thiếu Tướng Khiêm do tác giả từng là
chánh văn pḥng của Đại Tá Khiêm khi ông giữ
chức Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Dă Chiến đồn trú tại
Biên Ḥa. (tùy theo thời gian, tôi dùng cấp
bậc đúng vào lúc ấy)
Đến 11 giờ sáng cùng ngày Thiếu tá Giang trở
về Bộ Tổng Tham mưu và được Thiếu tướng
Khiêm cho biết đúng 12 giờ trưa Thiếu tướng
Khiêm sẽ chủ tọa buổi họp các tư lệnh quân
binh chủng, và sau buổi họp nếu ai chống lại
đảo chánh th́ thiếu tá Giang phải giữ lại
trong pḥng họp Bộ Tổng Tham mưu chờ lệnh
của Thiếu tướng Khiêm. Buổi họp vừa chấm dứt;
trong lúc lộn xộn th́ Đại úy Nhung sĩ quan
cận vệ của Trung tướng Minh tự ư bắt Đại tá
Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt
dẫn đi đâu không rơ, sau đó Đại úy Nhung trở
lại định bắt Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Sư
đoàn nhảy dù và ông Lê Văn Tư, Giám đốc Cảnh
sát Đô Thành, nhưng Thiếu tá Giang đă ngăn
chặn kịp thời. Đại úy Nhung báo lên Trung
tướng Minh và Trung tướng đến hỏi lư do cản
trở Đại úy Nhung th́ Thiếu tá Giang trả lời
là thi hành lệnh Tướng Khiêm.
(1) Ngày 31/10/1963, hoàn toàn không có buổi
họp nào tại Bộ TTM do TT Khiêm chủ tọa cả.
(2) Ngày 1/11/1963, lúc 7 giờ sáng (hôm ấy
nghỉ lễ buổi sáng), Thiếu Tướng Khiêm đưa
tôi hai danh sách và ra lệnh: Thứ nhất. Mời
quí vị trong danh sách 1 đến câu lạc bộ Bộ
TTM trước 12 giờ để dùng cơm, thật ra là
buổi họp của những vị tham gia đảo chánh
trước khi lên pḥng làm việc của Thiếu Tướng
Khiêm. (2) Mời quí vị trong danh sách 2 đến
họp tại pḥng họp số 1 (tầng 1 ṭa nhà chánh)
và yêu cầu có mặt trước lúc 1 giờ trưa, thật
ra là cầm chân trong pḥng họp. Đúng 1 giờ
trưa, đóng cửa lại và cho Quân Cảnh gác,
không một ai trong số đó được ra vào. Lúc ấy
tác giả không phải là thành viên của Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng, cũng không phải là
sĩ quan thừa hành của bất cứ vị nào trong đó,
tôi nghĩ, tác giả làm sao ngăn chận Đại Úy
Nhung là người nhận lệnh của Trung Tướng Chủ
Tịch Hội Đồng. Thật ra – theo lời của cựu
Đại Tướng Cao Văn Viên – nói với tôi trong
bữa ăn tại nhà anh chị Lư Thanh Tâm ở
Virginia trưa ngày 6/9/2003, chính Thiếu
Tướng Đính bảo Đại Úy Nhung tháo c̣ng ra (lúc
ấy mới c̣ng 1 tay). (3) Tôi ngạc nhiên ở
điểm, tác giả không phải là Trung Tướng Minh,
cũng không phải là Đại Úy Nhung, làm sao
biết được Đại Úy Nhung “tự ư” bắt Đại Tá
Tung? Sự kiện mà tác giả nêu lên là sự kiện
lịch sử, v́ vậy mà sự suy đoán nhất là suy
đoán theo chủ quan, tôi nghĩ là nên tránh.
(4) Nhẩy Dù lúc ấy là Lữ Đoàn chớ chưa là Sư
Đoàn. (5) Ngay Đại Tá Nguyễn Đức Thắng
Trưởng Pḥng 3 TTM, Đại Tá Đặng Văn Quang
Trưởng Pḥng 4 TTM, cũng không vào được, tác
giả làm sao vào bản doanh HĐQNCM để nhận
lệnh của Thiếu Tướng Khiêm. Xin mời đọc thêm
đoạn cựu Đại Tướng Khiêm từ Virginia điện
thoại tôi ở Houston vào tối 21/10/2003 (bên
dưới) để nhận ra điều mà tác giả nói Thiếu
Tướng Khiêm ra lệnh cho tác giả ngăn chận
hành động Đại Úy Nhung, “điều đó có thể có
hay không”.
Khoảng 2 giờ trưa ngày 31-10-63 Đại úy Lê
Quang Triệu, em ruột của Đại tá Tung dẫn 1
đại đội lực lượng đặc biệt cùng với 4 chiến
xa đến cổng Bộ Tổng Tham mưu để hỏi t́nh
trạng Đại tá Tung, ngay khi đó Đại úy Nhung
chạy ra gặp Đại uư Triệu và yêu cầu Đại úy
vào tŕnh diện Thiếu tướng Khiêm, Đại úy
Triệu nghe lệnh tŕnh diện Thiếu tướng Khiêm
nên Đại úy không nghi ngờ ǵ do đó mới bị
chết thảm.
Ngày 31/10/1963, không có chuyện Đại Úy
Triệu đẫn quân đến hỏi t́nh trạng Đại Tá
Tung.
Khi tiếng súng đảo chánh nổ trưa 31-10-63
Thiếu tướng Khiêm đă chủ động qua các diễn
tŕnh như:
Ngày 31/10/1963, đâu có cuộc đảo chánh nào
mà nổ súng. Đảo chánh ngày 1/11/1963, ngày
này không phải riêng Việt Nam ḿnh mà nhiều
quốc gia trên thế giới đều biết, nhưng theo
tài liệu của tác giả là ngày 30/10/1963.
Viết nhầm con số chăng? Tôi e không phải, v́
ngày 1 chỉ có một con số nhưng tác giả lại
gơ vào số 3 trước rồi đến số 1. C̣n con số
tháng 10 khác xa với con số tháng 11. Muốn
viết số 11 th́ gơ hai lần số 1 tận cùng bên
trái, nếu gơ nhầm số thứ nh́ phải là số 2
hay số 3, chớ đâu thể nào gơ nhầm vào số 0 ở
gần tận cùng bên phải của hàng số. Nếu được
tác giả giải thích điều này th́ rơ nghĩa.
- Ra lệnh cho Đại tá Có điều động Sư đoàn 7
ngăn chặn lực lượng tiếp viện từ vùng 4
chiến thuật.
Lệnh của HĐQNCM (không phải lệnh của Thiếu
Tướng Khiêm) cử Đại Tá Nguyễn Hữu Có xuống
SĐ7BB (Mỹ Tho) khống chế Đại Tá Đạm án binh
bất động. BTL Quân Đoàn 4 tại Cần Thơ và
SĐ9BB đồn trú tại Sa Đéc, hai đại đơn vị này
cũng bị khống chế án binh bất động như vậy.
- Lệnh cho Đại tá Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5
điều quân về Sài G̣n để làm chủ lực tấn công
Lữ đoàn pḥng vệ Phủ Tổng thống và Dinh Gia
Long.
- Cô lập tất cả Tư lệnh Quân binh chủng nào
xét ra chống lại cuộc đảo chánh.
Lúc 1 giờ trưa, tôi xuống lầu chuyển lệnh
cho Quân Cảnh đóng cửa pḥng họp số 1 và
Quân Cảnh đứng gác. Tôi thấy tận mắt để biết
chắc là lệnh đă được thi hành, rồi trở lên
văn pḥng tŕnh Thiếu Tướng Khiêm.
- Ra lệnh cho Tướng Khánh, Tư lệnh vùng 2 và
Tướng Trí vùng 1 chiến thuật thi hành những
biện pháp cần thiết.
Tối 1/11/1963, tôi điện thoại lên Quân Đoàn
2 để chuyển lời của Thiếu Tướng Khiêm hỏi TT
Khánh có ủng hộ hay không, nhưng TT Khánh
không nhận điện thoại. Như vậy, Thiếu Tướng
Khánh không được biết cuộc đảo chánh ít nhất
cho đến sau 1 giờ trưa (giờ G của cuộc đảo
chánh). Trường hợp Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí có
công điện ủng hộ ngay sau 1 giờ trưa ngày
1/11/1963. Tôi có trách nhiệm nhận các công
điện do Truyền Tin Bộ TTM đưa đến và mang
vào tŕnh Thiếu Tướng Khiêm, cũng có nghĩa
là tŕnh cho HĐQNCM. Ngay sau đó, những công
điện ủng hộ được chuyển sang đài phát thanh
để phát trên làn sóng. Tôi cũng được lệnh
bảo Truyền Tin Bộ TTM “chận bắt” tất cả công
điện gởi về Phủ Tổng Thống và tŕnh ngay vào
Hội Đồng.
- Riêng các Tướng Minh, Đôn, Kim, Nghiêm,
Xuân v.v… có mặt tại Ṭa nhà chánh bộ Tổng
Tham mưu chỉ có tính cách phụ giúp hơn là
thực quyền v́ tất cả mọi lệnh và điều hành
đảo chánh đều diễn ra trong pḥng làm việc
của tướng Khiêm.
Tôi có mặt trong văn pḥng từ sáng sớm ngày
1/11/1963 liên tục ngày đêm đến chiều ngày
3/11/1963 mới về nhà, tôi không thấy tác giả
có mặt trong pḥng Thiếu Tướng TMT Liên Quân,
tức bản doanh của HĐQNCM. Đúng là mọi diễn
biến đều diễn ra trong pḥng làm việc của
Thiếu Tướng Khiêm và điều này trong Bộ TTM
ai cũng biết cả, nhưng thực quyền th́ không
phải vậy. Bằng chứng. Khoảng 5 giờ chiều
1/11/1963, khi tôi vào cầm ống nói điện
thoại đưa Thiếu Tướng Khiêm và mời ông tiếp
chuyện với Tổng Thống, Thiếu Tướng Khiêm
chưa kịp phản ứng th́ Trung Tướng Minh giựt
ống nói trên tay tôi và nói chuyện với Tổng
Thống. Vài phút sau đó, cũng điện thoại từ
Đại Úy Bằng, sĩ quan tùy viên của Tổng Thống,
yêu cầu tôi mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp
chuyện với Tổng Thống, nhưng Trung Tướng
Minh cũng giựt ống nói và đặt xuống máy chớ
không nói chuyện. Thiếu Tướng Khiêm với thái
độ b́nh thản, im lặng. Thêm nữa, lúc 7 giờ
tối, Trung Tướng Minh gọi các vị vào họp,
lúc ấy có thêm Trung Tá Đỗ Khắc Mai (Không
Quân) mới đến. Ông ra lệnh: “Đến 7 giờ sáng
mai (2/11/1963) nếu dinh Gia Long chưa đầu
hàng, Không Quân cho nhiều phi tuần khu trục
đánh bom, sau đó Thủy Quân Lục Chiến và
Thiết Giáp tấn công vào …..” Chỉ vài sự kiện
đó thôi, tôi nghĩ, cũng đủ cho thấy vị nào
thực sự nắm quyền.
Tiếng chuông của chiếc điện thoại được reo
đúng 3 giờ 17 phút, Thiếu tướng Khiêm nghe,
đầu giây bên kia người đối thoại không ai
khác là Tổng thống Diệm. Sau cuộc điện đàm
Thiếu tướng Khiêm quay qua tướng Minh, Đôn
nói “Tổng thống nói với các tướng lănh đến
dinh Gia Long nói chuyện. Moi trả lời để hội
ư rồi sẽ tŕnh lại Tổng thống sau” nhưng sau
đó tướng Minh, Đôn, Kim và cả Khiêm không
đồng ư đến gặp Tổng thống Diệm. Tuy nhiên
khoảng 4:30 chiều 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm
tự ư điện thoại cho Tổng thống Diệm với đề
nghị đưa Tổng thống cùng toàn thể gia đ́nh
ông Nhu ra ngoại quốc với sự bảo đảm an ninh
do chính Thiếu tướng Khiêm hứa. Khoảng 6 giờ
chiều Tổng thống Diệm gọi cho tướng Khiêm để
cho biết là T.T. đồng ư đề nghị nói trên
nhưng khi tướng Khiêm hội ư với tướng Minh,
Đôn, Kim th́ tướng Minh nói ngay “Giờ này
quá trễ rồi, chúng ta cứ tiếp tục”. Qua các
cuộc điện đàm kể từ lúc tiếng súng bắt đầu
nổ cho đến khi Tổng thống Diệm chạy đến nhà
thờ Cha Tam, Tổng thống Diệm chỉ có gọi điện
thoại cho Thiếu tướng Khiêm mà thôi.
Trong Bộ TTM vào ngày 31/10/1963, t́nh h́nh
vẫn b́nh thường như những ngày trước đó.
Chuyện mà tác giả nói ở đây, tôi không biết
xảy ra ở đâu. Cứ cho rằng cuộc đảo chánh
diễn ra ngày 31/10/1963 như tác giả viết,
vậy th́ đúng 3 giờ 17 phút, lúc 4 giờ 30
phút, và khoảng 6 giờ chiều mà tác giả viết
trong tài liệu, liệu tác giả có mặt trong
pḥng Thiếu Tướng Khiêm vào những lúc ấy hay
không mà viết rất rơ giờ phút? Vế phần tôi,
tôi thấy tận mắt Trung Tướng Minh cầm ống
nói nói chuyện với Tổng Thống khoảng 5 giờ
chiều và tôi nghe tận tai Trung Tướng Minh
thuật lại cuộc nói chuyện đó với các vị ngồi
trong pḥng Thiếu Tướng Khiêm lúc ấy, nhưng
không phải ngày 31/10/1963 mà là ngày
1/11/1963. Đây là vấn đề lịch sử, mà lịch sử
phải là khách quan, trung thực!
Đọc hết đoạn trên chắc độc giả đă nhận ra
vai tṛ của tướng Khiêm từ tiền đảo chánh
đến khi cuộc cách mạng 1-11-63 thành công,
nếu tướng Khiêm không được Tổng thống Diệm
tin dùng, nếu không có sự hợp tác với tướng
Minh, Đôn v.v… chắc chắn là cuộc đảo chánh
không thể xảy ra được v́ trên cương vị Tham
mưu trưởng Liên quân lại được sự tín cẩn của
Tổng thống v́ vậy các Tư lệnh Quân Binh
Chủng đă không có phản ứng nên cách mạng
1-11-63 mới thành công một cách dễ dàng.
Ngược lại nếu tướng Minh, Đôn, Đính ra lệnh
cho các đơn vị chắc chắn sẽ bị chống đối
hoặc không thi hành, nhất là 2 lực lượng
nồng cốt do chính Thiếu tướng Khiêm điều
động với SĐ7 có nhiệm vụ ngăn chặn tiếp cứu
của vùng 4, và Sư đoàn 5 chủ yếu tấn công Lữ
đoàn Liên Binh pḥng thủ phủ Tổng thống với
dinh Gia Long.
Thưa quí vi hữu và quí độc giả, sau 12 năm 3
tháng bị nhốt trong 4 trai tập trung của
cộng sản tại miền Nam và miền Bắc, tôi đến
Hoa Kỳ ngày 5/4/1991 trong đợt HO5. Sau mấy
năm làm nhiều việc khác nhau, cuộc sống ổn
định. Năm 2003, tôi lên Virginia thăm cựu
Đại Tướng Khiêm và cựu Đại Tướng Viên. Sau
đó, thỉnh thoảng điện thoại qua lại. Tối
21/10/2003, cựu Đại Tướng Khiêm từ Virginia
điện thoại tôi ở Houston, ông nói một số
điểm liên quan đến cuộc đảo chánh 1/11/1963.
Đây là vài điểm trong số đó: “Trước ngày đảo
chánh, Anh (tức cựu Đại Tướng Khiêm) nói như
một điều kiện liên quan đến Tổng Thống Diệm
rằng: “Phải để Tổng Thống b́nh yên và xuất
ngoại”. Lúc đó Trung Tướng Dương Văn Minh
đồng ư, Thiếu Tướng Lê Văn Kim cũng đồng ư.
Sở dĩ Anh nói với Trung Tướng Minh và Thiếu
Tướng Kim, v́ hai ông này là hai nhóm riêng
chớ không phải là một nhóm đâu nghe chú. Khi
biết ông Diệm cùng với ông Nhu bị giết, Đại
Tá Quyền (Hồ Tấn Quyền) bị giết, Đại Tá Tung
(Lê Quang Tung) cũng bị giết, đến em của ông
Tung là Lê Quang Triệu cũng bị lừa rồi giết
chết. Ông Viên (Cao Văn Viên) th́ bị c̣ng
tay. Họ hành động lén nên Anh với chú có hay
biết ǵ đâu. Mấy ổng ngồi bên pḥng của Đại
Tướng Tỵ quyết định với nhau. (Lúc ấy Đại
Tướng Tỵ dưỡng bệnh ngoài Vũng Tàu, Trung
Tướng Trần Văn Đôn Quyền Tổng Tham Mưu
Trưởng). Ngưng một chút, ông tiếp: “Chú thấy
chưa? Nhóm ông Minh với nhóm ông Kim độc ác
quá! Ông Diệm gọi điện thoại bảo cho xe đến
đón, tức là ổng đầu hàng rồi, tại sao lại
giết người đầu hàng? Trước đó, ông Minh ông
Kim đồng ư với Anh là để ông Diệm b́nh yên
và lưu vong, tại sao lại giết? Cho nên từ đó
Anh bất măn với ông Minh ông Kim”. Với lời
của cựu Đại Tướng Khiêm trên đây, cho thấy
lúc ấy ông trong thế bị động, cho nên không
hay biết ǵ về Đại Tá Tung bị đưa ra khỏi
pḥng họp số 1, Đại Tá Viên bị c̣ng tay, th́
làm sao ông ra lệnh cho tác giả ngăn chận
hành động của Đại Úy Nhung như tác giả viết
ở một đoạn bên trên.
Sau cuộc cách mạng 1-11-63 thành công vai
tṛ nổi bật là những tướng Minh, Đôn, Kim,
Đính, Xuân. Riêng tướng Khiêm với chức vụ
Tổng trưởng Quốc pḥng hữu danh vô thực,
ngoài ra tiếng nói của tướng Khiêm trong Hội
đồng Quân nhân Cách mạng hầu như bị lăng
quên do đó cuộc chỉnh lư mới bùng nổ mà
nguyên nhân chính là do sự bất măn của tướng
Khiêm.
(1) Chiều ngày 2/11/1963, Thiếu Tưóng Khiêm
thăng cấp Trung Tướng (cùng với nhiều vị
khác nữa) và vẫn giữ chức Tham Tham Mưu
Trưởng Liên Quân. Chức vụ đó là chính xác,
v́ tôi vẫn là chánh văn pḥng. (2) Ngày
1/1/1964, bàn giao chức TMT Liên Quân cho
Trung Tướng Lê Văn Kim, và ngay chiều hôm ấy
sang nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Vùng 3
Chiến Thuật. Cả hai cuộc bàn giao không có
vị nào chủ tọa, mà chỉ có 2 vị “bên giao bên
nhận” và các sĩ quan tham mưu liên hệ. Tôi
và các sĩ quan cùng nhân viên văn pḥng TMT
Liên Quân đều thuyên chuyển sang Quân Đoàn
3, cộng thêm Đại Úy Lê Văn Tuấn (về sau anh
Tuấn là Đại Tá Giám Đốc Nha An Ninh Hành
Chánh khi Đại Tướng Khiêm giữ chức Tổng
Trưởng Nội Vụ). Tôi nghĩ, tác giả được tín
cẩn đến mức được Thiếu Tướng Khiêm cho biết
trước một tháng về cuộc đảo chánh 1/11/1963,
nhưng tiếc là tác giả không biết ǵ về chức
vụ của Trung Tướng Khiêm sau cuộc đảo chánh.
Mời quí vi xem lại đoạn trên để thấy cựu Đại
Tướng Khiêm thố lộ một chút tâm trạng của
ông sau ngày 1/11/1963. (2) Nếu chỉ cho rằng,
v́ Trung Tướng Khiêm bất măn do chức Tổng
Trưởng Quốc Pḥng hữu danh vô thực, tại sao
trong bản doanh của các vị Chỉnh Lư ngày
30/1/1964 có mặt một viên chức t́nh báo Hoa
Kỳ? (viên chức này khác với viên chức Hoa Kỳ
trong cuộc đảo chánh 1/11/1963). Chẳng lẽ
Hoa Kỳ chỉ đơn thuần ủng hộ sự bất măn của
Trung Tướng Khiêm mà không có quyền lợi của
Hoa Kỳ?
Người tổ chức, thảo kế hoạch do tướng Khiêm
chủ động với sự trợ giúp của tướng Khánh và
tướng Thiệu cùng 1 số đông các Tư lệnh quân
binh chủng. Tuy nhiên v́ sở trường của tướng
Khiêm là không bao giờ muốn lộ mặt nên tướng
Khánh được tướng Khiêm chỉ định coi như lănh
đạo cuộc chỉnh lư. Trên thực tế tướng Khánh
không có thực lực, không được ai tin tưởng
cho nên nếu không có tướng Khiêm đẩy ra sân
khấu chắc chắn không bao giờ tướng Khánh mơ
tưởng được làm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân,
Thủ tướng v.v…
Đến đây tác giả viết đến cuộc chỉnh lư ngày
30/1/1964. Lúc bấy giờ Trung Tướng Khiêm Tư
Lệnh Quân Đoàn/Vùng 3 Chiến Thuật, Trung
Tướng Khánh Tư Lệnh Quân Đoàn 1/Vùng 1 Chiến
Thuật. Xin nhắc lại, sau cuộc đảo chánh
1/11/1963, nhiều vị Tướng Lănh thăng cấp và
giữ chức vụ mới. Trong số đó, HĐQNCM cử
Trung Tướng Trí Tư Lệnh QĐ1/V1CT đồn trú ở
Đà Nẳng, Trung Tướng Khánh Tư Lệnh QĐ2/V2CT
đồn trú ở Pleiku, hai vị hoán chuyển chức vụ
Tư Lệnh Quân Đoàn. Cũng lúc ấy, tôi là Thiếu
Tá, chánh văn pḥng Tư Lệnh QĐ3/V3CT. Từ
giữa tháng 1/1964, Trung Tướng Khiêm với
Trung Tướng Khánh thường liên lạc nhau bằng
điện thoại, đôi khi dùng tiếng Pháp. Chiểu
ngày 26 hoặc 27/1/1964, Trung Tướng Khiêm
bảo tôi lái xe của ông lên phi trường nhưng
bên băi đáp quân sự đón Trung Tướng Khánh.
Đừng cho ai biết tin này. Những đêm sau đó,
2 vị cùng ngồi chung xe đi đâu đó, tương tự
như trước ngày 1/11/1963 vậy.
Ngày 29/1/1964, sau giờ làm việc chiều về
nhà (thuở ấy là việc từ 8 giờ sáng đến 4 giờ
chiều), Trung Tướng Khiêm gọi tôi đến tư
dinh và cho biết: “Tôi, Trung Tướng Khánh,
và Đại Tá Viên, lật đổ nhóm ông Minh ông Đôn,
v́ các ông này có kế hoạch đưa Việt Nam đến
trung lập. Sau giờ này, chú đưa xe truyền
tin hành quân của Quân Đoàn về đậu sau nhà
chú. Đích thân chú liên lạc với Thiếu Tướng
Thiệu và Thiếu Tướng Có, khi liên lạc được
rồi phải giữ máy thường trực cho tôi. Công
tác này chú phải xong trước 2 giờ sáng. Đúng
3 giờ sáng, chú đón tại cổng số 1, mời Đại
Tá Viên vào nhà Trung Tướng Khánh (bên phải
sau khi vào cổng sổ 1) và hướng dẫn Tiểu
Đoàn Dù bố trí chung quanh ṭa nhà chánh.
Phần an ninh trại Trần Hưng Đạo, chú với
Trung Tá Luông lo như lần trước. Chú c̣n ǵ
cần hỏi thêm không?” Tôi không có ǵ phải
hỏi. Cuối cùng, ông bảo tôi chỉnh lại đồng
hồ theo đồng hồ của ông. Và rồi Chỉnh Lư (tôi
vẫn gọi đảo chánh) thành công.
Khoảng 12 giờ trưa 30/1/1964, Sau một lúc
thảo luận với viên chức Hoa Kỳ đă có mặt từ
sớm, Trung Tướng Khánh mời Trung Tướng Khiêm
và Đại Tá Viên vào bàn họp. Một số sĩ quan
quan tâm hay hiếu kỳ, đang đứng lóng ngóng
trong nhà để theo dơi tin tức, được mời ra
sân, đang có khá đông sĩ quan các quân binh
chủng và một số phóng viên báo chí. Lúc bấy
giờ trong nhà Trung Tướng Khánh, ngoài 3 vị
tại bàn họp, chỉ c̣n người Việt Nam có vẻ là
thân tín của Trung Tướng Khánh, một viên
chức Hoa Kỳ, và tôi. Trung Tướng Khánh lên
tiếng trước như là người chủ tọa: “Thôi, mọi
việc xong rồi. Bây giờ th́ anh Khiêm làm đi”.
Trung Tướng Khiêm xoay qua Đại Tá Viên, vừa
cười vừa nói: “Phần tôi đến đây là đủ rồi.
Tôi không thích chính trị đâu, hay là anh
Viên nhận đi”. Đại Tá Viên với nụ cười không
hết miệng như lúc nào: “Thôi. Hai anh tính
với nhau đi, ai làm cũng được mà. Tôi không
thích lao vào chính trị. Phần tôi đến đây là
xong. Tôi muốn ở Lữ Đoàn Dù với anh em”.
Trung Tướng Khánh cười cười: “Các “toa”
không nhận th́ “moa” đành nhận thôi”.
Mục tiêu của cuộc chỉnh lư không ngoài mục
đích của tướng Khiêm là vô hiệu hóa hết
quyền hành các tướng Minh, Đôn, Kim v.v…để
trả thù lại sự vô ơn của các tướng đối với
tướng Khiêm sau cách mạng 1-11-63 và luôn
thể đưa những người bạn thân nhất nắm chính
quyền là tướng Khánh, tướng Thiệu v.v… Do đó
ngay khi cuộc chỉnh lư thành công tướng
Khiêm không muốn ở vị thế lănh đạo nên đẩy
tướng Khánh ra thay thế tướng Minh, đưa
tướng Thiệu nắm chức Tổng Tham mưu trưởng
QLVNCH.
Sau Chỉnh Lư, Trung Tướng Khánh nhận chức
Chủ Tịch HĐQNCM hành sử chức năng Quốc
Trưởng, Trung Tướng Khiêm nhận chức Tổng
Trưởng Quốc Pḥng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng,
Thiếu Tướng Thiệu nhận chức Tham Mưu Trưởng
Liên Quân.
Nhưng khi tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm
thành h́nh th́ tướng Khánh ham quyền lực,
quên đi người đă gây dựng sự nghiệp cho ḿnh
là tướng Khiêm, nên tướng Khánh một mặt củng
cố uy quyền mặt khác loại bỏ những người
thân cận của tướng Khiêm. Tiện giả c̣n nhớ
câu của tướng Khánh nói với tướng Khiêm khi
tướng Khánh tống tướng Khiêm đi làm Đại sứ
tại Đài Loan như sau: “Anh phải dời VN trong
ṿng 48 tiếng, nếu không tôi sẽ không bảo
đảm tính mạng của anh”.
(1) Có tổ chức “tam đầu chế” v́ theo các tổ
chức chính trị mít tinh biểu t́nh “cáo giác”
Hiến Chương Vũng Tàu là sản phẩm của Trung
Tướng Khánh phảng phất tính độc tài. Trung
Tướng Khánh đưa ra “sáng kiến” kết hợp Đại
Tướng Khiêm (thăng cấp trước ngày ban hành
Hiến Chương), Trung Tướng Minh, và Trung
Tướng Khánh vào tổ chức này, nhưng quyền
hành vẫn trong tay Trung Tướng Khánh. (2)
Ngày 13/9/1964, Trung Tướng Dương Văn Đức,
Tư Lệnh QĐ4/V4CT cùng Đại Tá Tồn Tư Lệnh
SĐ7BB, thực hiện cuộc Biểu Dương Lực Lượng
cảnh cáo Trung Tướng Khánh. Có lẽ khi hoàn
thành công tác cảnh cáo nên viên chức t́nh
báo Hoa Kỳ ra lệnh rút quân về Mỹ Tho và Cần
Thơ. Trung Tướng Khánh buộc Đại Tướng Khiêm
lưu vong v́ ông cho rằng Đại Tướng Khiêm
đứng sau lưng những vụ xáo trộn chống đối
ông. Trong bữa ăn trưa ngày 30/9/1964 tại tư
dinh Đại Tướng Khiêm do Trung Tướng Khánh
bắt buộc, chỉ có Đại Tướng Khiêm & phu nhân,
và Trung Tướng Khánh. Nhóm an ninh của Đại
Tướng Khiêm – có tôi – và nhóm cận vệ của
Trung Tướng Khánh gần như gh́m nhau chung
quanh bên ngoài. Sau khi Trung Tướng Khánh
ra về, tôi hỏi: “Thưa Đại Tướng, điều ǵ xảy
ra mà Trung Tướng Khánh to tiếng vậy Đại
Tướng? “Ông Khánh “muốn” (hàm chứa ư nghĩa
một mệnh lệnh) tôi phải ra ngoại quốc, nếu
không th́ tánh mạng tôi khó an toàn”. “Đại
Tướng nghĩ sao? “Tôi quyết định đi. Chú lo
thủ tục cho tôi và gia đ́nh tôi càng sớm
càng tốt. Chú với chú Châu, nếu được th́
cùng đi với gia đ́nh tôi”.
Tôi thắc mắc: Lúc ấy tác giả đứng đâu mà
nghe câu ấy? (3) Đại Tướng Khiêm lưu vong
dưới danh nghĩa đi cám ơn các quốc gia Âu
Châu đă ủng hộ VNCN chống cộng sản chớ không
phải đi làm Đại Sứ ở Đài Loan như tác giả
viết trong tài liệu. Thật ra, Đại Tướng
Khiêm giữ chức Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ, sau
đó mới chuyển sang Đài Loan, và từ Đài Loan
về nước tham gia chánh phủ.
Mặc dù sau khi tướng Khánh loại được tướng
Khiêm, nhưng từ Đài Loan tướng Khiêm vẫn âm
thầm tổ chức để lật đổ tướng Khánh, do đó
mới có những cuộc binh biến xảy ra liên miên
cầm đầu bởi tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn
Phát, Đại tá Tồn, Trang v.v… Tuy nhiên,
tướng Khiêm ít nhất vẫn được người bạn trả
ơn đàng hoàng là tướng Thiệu, v́ ngay khi
tướng Thiệu đắc cử Tổng thống th́ tướng
Khiêm, đương kim Đại sứ Hoa Kỳ được gọi về
giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và sau đó là
Thủ tướng cho đến sát biến cố 4-1975.
(1) Xin lặp lại. Biểu Dương Lực Lượng do
Trung Tướng Đức thực hiện dẫn đến trường hợp
Đại Tướng Khiêm lưu vong, chớ không phải Đại
Tướng Khiêm từ Đài Loan điều khiễn cuộc Biểu
Dương Lực Lượng. (2) Cuộc đảo chánh ngày
19/2/1965 do Thiếu Tướng Lâm Văn Phát lănh
đạo để lật đổ Trung Tướng Khánh, nhưng bị
Hội Đồng Quân Đội (đă cải danh từ HĐQNCM)
buộc rút quân về căn cứ, đồng thời HĐQĐ buộc
Trung Tướng Khánh lưu vong với chút an ủi là
Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu thăng cấp Đại
Tướng cho Trung Tướng Khánh. Xin nói thêm.
Trong cuộc điện đàm tối 21/10/2003, có đoạn
liên quan. Sau khi ông hỏi tôi những chi
tiết trong cuộc đảo chánh này, tôi liền hỏi
lại ông: “Thưa anh Tư, xin anh cho biết vụ
Thiếu Tướng Phát đảo chánh ngày 19/2/1965,
theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao nói th́
Trung Tá Phạm Ngọc Thảo từ Hoa Kỳ về tham
gia, nếu thành công th́ anh Tư về cầm quyền.
Điều đó có đúng không?” Cựu Đại Tướng Khiêm
trả lời: “Bây giờ chú hỏi Anh mới biết là
tại sao lúc đó mấy anh nhà báo của Mỹ nhất
là tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh về
cuộc đảo chánh đó. Anh trả lời là Anh không
biết ǵ hết, và đang chờ tin tức từ Việt
Nam. C̣n cái vụ ông Thảo về Việt Nam là do
ông Khánh (Trung Tướng Khánh) gởi công điện
gọi ông Thảo về gấp đó mà không nói lư do.
Sau đó Anh mới biết ông Khánh phái người
chận bắt ông Thảo đem đi giết, nên người đó
giúp ông Thảo chạy trốn. Về sau, bị nhóm nào
đó bắt được và giết chết”. Rồi ông nói tiếp:
“Chú có biết là tại sao ông Phát đảo chánh
ông Khánh bị thất bại, mà ông Khánh lại lưu
vong hông? Ông Phát thua th́ phải rồi, c̣n
ông Khánh tại sao thua? Hồi ông Khánh qua ở
đây với Anh (Đại Tướng Khánh có đến nhà Đại
Tướng Khiêm khi ông Khiêm giữ chức Đại Sứ
tại Hoa Kỳ), Anh có hỏi ổng: “Tại sao ông
Phát thua mà Anh cũng thua nữa? Ông Khánh
“cười cười mà không trả lời”. Im lặng một
lúc, cựu Đại Tướng Khiêm nói tiếp: “Anh có
gặp Thiếu Tướng Phát khi ổng qua Mỹ này, Anh
hỏi ổng tại sao ổng đảo chánh hồi năm 1965.
Ông Phát trả lời thật ngắn là “Mỹ xúi”. Anh
thấy chuyện đời mà buồn! Chú có biết là Anh
(tức cựu Đại Tướng Khiêm), ông Khánh, ông
Đức (Dương Văn), và ông Phát, bốn đứa Anh
cùng học một khoá không? Vậy mà khi lên
Tướng lại quay mặt đánh nhau! Chú có thấy
chính trị nó làm mất t́nh cảm giữa anh em bè
bạn với nhau không!”
Xuyên qua những sụ kiện tŕnh bày trên tiện
giả chỉ với mục đích duy nhất là đóng góp
nhỏ nhoi vào kho tàng lịch sử biến động nhất
của 2 nền Cộng hoà mà tiện giả nghĩ rằng
nhân vật Trần Thiện Khiêm dù muốn dù không
đă nắm giữ một vai tṛ tích cực có tính cách
xoay chuyển cục diện của miền Nam v.v….
Tôi không có ư kiến.
Tiện giả cũng nghĩ rằng nếu không có Trần
Thiện Khiêm sẽ không có đảo chánh 1-11-63,
không có chỗ cho vai tṛ của tướng Khánh
trên sân khấu chính trị “cải lương” nhất
trong gịng lịch sử Việt và chắc chắn sẽ
không có một Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống
nền Đệ nhị Cộng ḥa, người phải chịu hoàn
toàn trách nhiệm làm tan ră QĐVNCH trong một
thời gian kỷ lục cũng như đau khổ, tủi nhục
cho hàng triệu gia đ́nh Việt Nam.
Xin nhớ rằng, theo lời của cựu Đại Tướng
Khiêm th́ cuộc đảo chánh 1/11/1963 bắt nguồn
từ ông S. viên chức t́nh báo Hoa Kỳ tại VNCH,
chớ không phải tự ông tổ chức (mời xem lại
trang 2 bên trên). Trong cuộc Chỉnh Lư
30/1/1964, cũng có một viên chức t́nh báo
Hoa Kỳ bên cạnh các vị lănh đạo Chỉnh Lư.
Đến đây xin hết phần góp ư của Phạm Bá Hoa.
Xin cám ơn quí vi hữu và quí độc giả.
Ngày 11 tháng 11 năm 2009