MỤC LỤC 

1. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM.------------------2-51.

a. Vấn đề Ngô Đ́nh Diệm được cử làm Thủ Tướng.

b. Giành lại chủ quyền từ thực dân pháp.

c. Giành lại chủ quyền từ các giáo phái và B́nh Xuyên. 

d. Tái thiết miền Nam.

2. CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG DIỆM VÀ ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A.------------52-82.

a. Cuộc đảo chánh ám sát Tổng Thống Diệm về phía Việt Nam.

b. Cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm về phía Hoa Kỳ.

3. BẢN PHÚC TR̀NH VỀ VỤ PHẬT GIÁO.----------------------------------------------83-108.

4. TÔI CẦU NGUYỆN VỚI TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM.-------------------109-111.

5. BỐN MƯƠI NĂM NGẬM NGÙI.--------------------------------------------------------112-114.

6. BỐN MƯƠI NĂM SAU: Tỉnh hay mê?.--------------------------------------------------115-117.

7. ‘’NGHĨA BIỂN T̀NH SÔNG’’ của Tôn Thất Đính.-----------------------------------118-130.

8. INCIDENT OF BUDDIST FLAG.-------------------------------------------------------131-161.

9. BÀ NGÔ Đ̀NH NHU.----------------------------------------------------------------------162-166.

10.  ĐÂY LÀ SỰ THẬT.-----------------------------------------------------------------------167-171.

11. TÊN ĐƯỜNG.-------------------------------------------------------------------------------172-179.

12. HIỆP ĐỊNH GENÈVE.--------------------------------------------------------------------180-188.

13. BÀI HỌC TỪ MỘT SỰ TUẪN TIẾT.-------------------------------------------------189-191.

14. TẠI SAO CÓ CUỘC ĐẢO CHÁNH.---------------------------------------------------192-196.

15. TRÍ VÀ DŨNG CỦA TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM.-----------------------197-204.

16. ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A SỤP ĐỔ.------------------------------------------------------205-211.

17. NGÔ Đ̀NH NHU.--------------------------------------------------------------------------212-251.

18. MÙA THU KHỞI ĐIỂM KẾT LIỄU MIỀN NAM TỰ DO.----------------------252-255.

19. TẠI SAO CÓ CUỘC ĐẢO CHÁNH.---------------------------------------------------256-272.

20. SO SÁNH NGÔ Đ̀NH DIỆM-HỒ CHÍ MINH.-------------------------------------273-281.

21. NGÔ Đ̀NH DIỆM-NGUYỄN VĂN THIỆU AI HƠN AI ?.-----------------------282-293.

22. CHƯƠNG TR̀NH ẤP CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM-AFGHANISTAN.--------294-300.

23. CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC TẤT THẮNG.-------------------------------------------301-303.

 

 
 

 

 

  
TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM

1897-1963

Sinh quán: Làng Đại Phong Huyện Phong Lộc, Tỉnh Quảng B́nh. (Theo giấy tờ hộ tịch, sinh ngày 21.7.1897, nhưng năm 1954 đổi lại là 3.1.1901 và cho là ngày sinh thực sự)

1922:Tốt nghiệp Trường Hậu Bổ. Làm Tri Phủ Ḥa Đa và sau đó Tuần Vũ B́nh Thuận.

1933: Được bổ nhiệm Thượng Thư Bộ Lại, nhưng sau đó nạp đơn từ chức để đ̣i Pháp tôn trọng Hiệp Ước 6.6.1884, phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ.

1940: T́m cách bắt liên lạc với Cường Để và một số tổ chức bí mật chống Pháp.

1944: Bị Pháp ra lệnh cho Bảo Đại trục xuất ra khỏi Huế, chỉ định cư trú ở Quảng B́nh. Lập tổ chức Đại Việt Phục Hưng và được người Nhật đưa vào Sài G̣n để tránh bị Pháp bắt.

1945: Hai lần được Bảo Đại mời làm Thủ Tướng nhưng không trả lời. Sau khi việt minh cướp chính quyền, trốn trong Nhà Tu Redemptoristes (Ḍng Cứu Thế) ở Huế.

1947: Ra Hà Nội rồi sang Hồng Kông, gặp Tổng Lănh Sự Mỹ George D.  Hopper tŕnh bày về nội t́nh Việt Nam và giải pháp Bảo Đại.

1949: Trở về Huế nhưng từ chối tham chính ủng hộ Bảo Đại.

1950: Rời Việt Nam sang La Mă, rồi Mỹ, vận động chính giới Mỹ giúp Việt Nam chống cộng.

1954: Được Bảo Đại cử làm Thû Tướng với ‘’Toàn quyền hành động’’. Về nước ngày 25.6 và ngày 7.7.  chính thức chấp chính.

1955: Tổ chức trưng cầu dân ư, truất phế Bảo Đại, dẹp các giáo phái vơ trang, thành lập nền Đệ Nhất Cộng Ḥa và trở thành Tổng Thống.

1960: Dẹp tan cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi.

1963: Bị hạ sát trong cuộc đảo chính đẫm máu của một nhóm Tướng Tá do Dương Văn Minh cầm đầu, sau cuộc khủng hoảng Phật Giáo.

 

·········

CỐ VẤN NGÔ Đ̀NH NHU

1910-1963

Sinh quán: Thừa Thiên.

1935: Sang Pháp học Trường Đại học Văn Khoa (Faculté des Lettres), Trường Sinh Ngữ Đông Phương (École des Langues Orientale Vivantes), và Trường Cổ Ngữ (École Natinale des Chartes).

1943: Quản Thủ Văn Khố của Ṭa Khâm Sứ Huế.

1951: Bắt đầu những vận động chính trị để Ngô Đ́nh Diệm về nước chấp chánh.

1954-1963: Cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Thủ lănh Thanh Niên Cộng Ḥa. Khai sinh và Lănh tụ Đảng Cần Lao Nhân Vị và Cần Lao Công Giáo.

1963: Cùng bị hạ sát với Bào Huynh, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, ngày 2.11 trong cuộc Đảo chính quân sự.

 

TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM CHẤP CHÁNH

PHẠM KIM VINH

Người ta c̣n nhớ rằng điều kiện tiên quyết do ông Ngô Đ́nh Diệm đặt ra cho Bảo Đại là ông Diệm phải được ‘’toàn quyền về dân sự và quân sự’’ th́ ông Diệm mới chịu trở về lănh đạo nước Việt Nam. Những ngày chót của cuộc chiến tranh Đông Dương I. Bảo Đại phải chịu nhận điều kiện ấy. Do đó, khi nhận định về thành tích đối nội và đối ngoại của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm, người ta nên nhận định từ cái bối cảnh ‘’toàn quyền dân sự và quân sự’’ đó.

Mặt khác, kể cả những quan sát viên quốc tế có cảm t́nh sâu đậm nhất với ông Diệm cũng không che đậy sự băn khoăn và lo ngại là ông Diệm không thể đứng vững được tới một năm. Trong hoàn cảnh này, thành tích đối nội của ông Diệm là ch́a khóa để mở cửa cho lănh vực đối ngoại: Cộng Đồng Quốc Tế sẽ nh́n vào khả năng đối nội của ông Diệm để chấp nhận Chính Phủ và xứ sở của ông ta vào Cộng Đồng Quốc Tế.

            Theo sát sự chấp chánh của ông Diệm ngay từ đầu, một Giáo Sư Chính Trị Học của Mỹ thuộc Viện Đại Học Michigan là Wesley L. Fishel có nhận xét rằng ông Diệm nhận cái quyền tưởng như rất rộng răi đó để thực hiện một mục tiêu coi như ‘’không thể làm được’’:

‘’Làm sao giữ vững được con thuyền Quốc Gia lúc ấy đang nghiêng ngửa thảm hại trước những thắng lợi quân sự to lớn và liên tiếp của Việt minh. ’’.

Là người biết khá rơ về nội t́nh của Việt Nam năm 1954 Fishel kết luận rằng cái toàn quyền dân sự và quân sự rộng lớn ấy thực ra ‘’chỉ có trên giấy tờ’’ v́ ông Diệm không kiểm soát được các lực lượng chính yếu của phía Quốc Gia lúc ấy, Cảnh Sát, Công Chức, Quân Đội, Giáo Phái. Đó là chưa kể tới sự phá hoại không cần ngụy trang của thực dân Pháp, sự phá hoại càng tai hại hơn nữa của cộng sản... Là người ngoại quốc, Fishel nêu được nhận xét ấy cũng đáng khen lắm rồi. Trên thực tế, ông Diệm đă lănh đạo trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn mà ngoài ông ra, không một nhân vật quốc gia nào lúc ấy dám có khí phách nhận lănh Lá Cờ Quốc Gia.

            Là người làm chính trị tầm vóc quốc tế, cái nh́n của ông Diệm đối với việc giải cứu quê hương Việt Nam năm 1954 là cái nh́n ở tầm mức Quốc Gia. Chỉ có cái nh́n sâu sắc và bao quát như thế mới có thể giữ vững được uy quyền Quốc Gia để từ đó, đạt tới các mục tiêu khác của sự đối nội và đối ngoại. Tin tưởng rằng người dân Việt nào cũng yêu nước một cách sáng suốt và nhất là tỉnh táo trước nguy cơ của cộng sản, ông đă kêu gọi ḷng yêu nước và sự hiểu biết của dân chúng Việt Nam để giúp ông hoàn thành sứ mạng cứu nước. Nhưng lúc ấy,  bức tranh của xă hội Việt Nam, nhất là xă hội miền Nam Việt Nam thật là nản ḷng.

            Sự nản ḷng đầu tiên đến từ chính người đă trao toàn quyền cho ông Diệm, đó là ‘’Quốc Trưởng’’ Bảo Đại. Được mẫu quốc Pháp đào tạo để trở thành một con người chỉ biết hưởng thụ vật chất, Bảo Đại đă ‘’bán đứt’’vùng Sài G̣n-Chợ Lớn cho tên tướng cướp Bảy Viễn để lấy một số tiền lớn sống xa hoa tại Pháp. V́ sự mua bán này và tin rằng Bảo Đại có khả năng gạt ông Diệm ra khỏi chính trường Việt Nam bất cứ lúc nào, tên Bảy Viễn đă hành động y hệt một ông vua của Sài G̣n-Chợ Lớn. Đồng đảng của tên Bảy Viễn lại nắm luôn cả Ngành Cảnh Sát Công An Nam Việt Nam lúc ông Diệm chấp chánh nữa.

           Quân Đội Quốc Gia thời ấy chưa được thử thách nhiều và lại đặt dưới sự khống chế của Bộ Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương (muốn di chuyển một đơn vị quân sự Việt Nam dầu nhỏ đến đâu cũng phải được sự cho phép của Bộ Tư Lệnh Pháp). Như thế chưa đủ, nên người Pháp c̣n đặt tên Nguyễn Văn Hinh vào vai tṛ Tham Mưu Trưởng đầu tiên của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Hinh là ‘’dân Tây’’ mang cấp bậc Trung Tá Không Quân của Pháp nên hết ḷng khuyển mă với quan thầy thực dân Pháp. Với tư cách ấy, xuất xứ ấy mà lại điều khiển Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, tên Hinh rất xứng đáng với danh xưng ‘’việt gian’’. Cũng may là trong thời kỳ phôi thai này, có một số Đơn Vị Quân Đội Quốc Gia đă may mắn có Đơn Vị Trưởng sáng suốt để ‘’ly khai’’ khỏi sự khống chế của thực dân/Hinh để trực tiếp ủng hộ ông Diệm trong việc đối nội.

            Nếu lúc ấy, các Giáo Phái tại miền Nam Việt Nam có được cái nh́n tầm mức Quốc Gia như ông Diệm, nếu họ thấu triệt được nguy cơ cộng sản như ông Diệm th́ các Giáo Phái ấy đă phải tự nguyện t́m đến hợp tác với Chính Quyền Diệm rồi. Tiếc rằng thực dân Pháp đă làm băng hoại tinh thần yêu nước của các Giáo Phái ấy và mang quyền lợi riêng tư làm mồi câu,  khiến cho các Giáo Phái ấy không nh́n thấy được con đường phải theo nữa. Vơ trang cho các Giáo Phái ở miền Nam là một thủ đoạn của người Pháp. Hậu quả của thủ đoạn ấy là khai sanh tinh thần ‘’lănh chúa’’ nơi những người Lănh Đạo Giáo Phái. Tinh thần ấy đă uốn nắn lối suy tưởng của người Lănh Đạo Giáo Phái, làm cho họ chỉ c̣n nh́n thấy quyền lợi nhỏ hẹp trong giới hạn Tôn Giáo của họ. Giáo Sư Fishel ghi rằng ‘’các Giáo Phái vơ trang ấy đă đ̣i giá rất cao để hợp tác với ông Diệm’’ (Marvin E.  Gettleman, ‘’Vietnam...’’ Trang 198).

            Người viết sách này rất hănh diện được tôn vinh ở đây sự sáng suốt về chính trị và ḷng yêu nước sâu xa của Tướng Tŕnh Minh Thế, người đă làm đẹp mặt cho Giáo Phái  Cao Đài. Tướng Thế đă đến với ông Ngô Đ́nh Diệm rất sớm và cũng là một trong những người có công lớn thúc đẩy ông Diệm có thái độ dứt khoát với Bảo Đại. Tướng Thế là một Quân Nhân đa hiệu đa năng, có khả năng hiếm có là vừa có dũng lại vừa có mưu lược. Ông ta đă đi trước người đương thời đến cả chục năm về sáng kiến và phát minh, thí dụ chế ra cách làm bom nổ chậm, lập đài phát thanh, lập đường dây điện thoại đặc biệt. Phải khâm phục Tướng Thế về cái nh́n chiến lược của ông ta ngay trước khi thỏa hiệp Genéve 1954 ra đời. Lúc ấy, Tướng Thế đă chủ trương rằng, nếu Hà Nội không chịu chấm dứt cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam th́ cần chiếm ngay hai Tỉnh quan ải của Bắc Việt, tiếp giáp với vĩ tuyến 17, để buộc Hà Nội phải chấm dứt mọi h́nh thức khuynh đảo và xâm chiếm miền Nam Việt Nam. 

            Đạo quân công chức quốc gia lúc ông Diệm về nước là đạo quân phục vụ nhiều năm dưới sự lănh đạo của thực dân Pháp. Đó là một đạo quân ngơ ngác, an phận và nói rơ hơn nữa, là khiếp nhược. Đạo quân ấy chắc chắn không giúp ǵ được cho ông Diệm trong những tuần lễ đầu tiên ông ta cầm quyền.

            Đó là chưa kể đến sự phá hoại vừa công khai, vừa kín đáo của thực dân Pháp, chưa kể đến thái độ ‘’chờ xem’’ của ngay chính nước bạn Mỹ và lại càng chưa nói đến sự phá hoại c̣n ghê gớm hơn nữa của cộng sản...Có lẽ điều an ủi duy nhất cho ông Diệm trong lúc ấy là thái độ thụ động của quần chúng miền Nam Việt Nam. Dường như họ trông chờ xem ông ta có thể làm ǵ được để xoay chuyển t́nh thế quá đen tối lúc ấy và thế giới bên ngoài không ngạc nhiên nữa, khi có rất nhiều quan sát viên chờ đợi Chính Quyền Diệm sụp đổ ngay sau năm cầm quyền đầu tiên.

            Thế mà ông Ngô Đ́nh Diệm đă đứng vững được năm đầu tiên và c̣n đứng vững hơn nữa ít ra là ở năm năm kế tiếp.

            Khí phách và đởm lược lănh đạo của ông Diệm đă bị mang thử thách dữ dội nhất vào ngày 19.3.1955, khi những người Lănh Đạo Cao Đài, Ḥa Hảo và B́nh Xuyên liên kết với nhau thành một mặt trận rồi gởi tối hậu thư cho ông Diệm. Đồng thời, phía thực dân Pháp tại Sài G̣n c̣n làm bộ nhân đức là khuyên ông Diệm ‘’đừng nên chiến tranh tại Đường Phố Sài G̣n/Chợ Lớn để dẹp các Giáo Phái’’. Ông Diệm đă hành động đúng vai tṛ của một người Lănh Đạo Quốc Gia là không thể duy tŕ t́nh trạng quái gở và hỗn loạn là nhiều Quốc Gia trong một Quốc Gia. Chỉ cần ông nhu nhược và đầu hàng cái tham vọng lănh chúa và thiển cận của các Giáo Phái vơ trang thời ấy là miền Nam Việt Nam đă rơi vào t́nh trạng vô chính phủ để rồi làm mồi cho cộng sản ngay sau đó rồi (Vietnam Crisis, trang 86).

            Quốc Gia đầu tiên chấm điểm thành tích của Chính Quyền Diệm là nước Mỹ và họ chấm điểm một cách rất thiết thực. Trước hào quang sáng chói của ông Diệm sau cuộc di cư 1954-1955, với sự ủng hộ cụ thể và nồng nhiệt của nhiều Quốc Gia dành cho ông ta, phía cộng sản rất lo sợ. Chúng vội vàng t́m đề tài tuyên truyền để mong triệt hạ uy tín đang lên cao ấy của ông Diệm. Đề tài được chúng nhai lại nhiều lần và vẫn có kẻ ngu xuẩn trên thế giới tin theo, là sự gán cho ông Diệm cái tội ‘’làm tay sai cho đế quốc Mỹ’’

Tài liệu ngổn ngang trong sách báo ngoại ngữ đều chứng minh điều ngược hẳn lại,  nghĩa là cho tới ngày chết, ông Diệm không những đă không rơi vào cái lỗi sợ sệt nước bạn Mỹ, mà c̣n làm cho nước bạn Mỹ nhiều lần căm hờn v́ tinh thần bất khuất và v́ ư thức bảo vệ danh dự cũng như Chủ Quyền Quốc Gia lúc nào cũng cực kỳ mạnh mẽ trong con người cũng như trong tác phong của ông Diệm.

            Rơ rệt nhất có lẽ là thời điểm mà nước Mỹ đă lựa để khởi đầu sự viện trợ cho Chính Quyền Diệm. Măi tới tháng 10.1954, sau hai tháng có mặt tại Nam Việt Nam để t́m hiểu hy vọng tồn tại của Chính Quyền Diệm, Nghị Sĩ Mỹ Mike Mansfield (người có ảnh hưởng rất sâu xa đối với việc h́nh thành chính sách đối ngoại của nước Mỹ) mới phúc tŕnh về Quốc Hội Mỹ rằng ông Diệm rất xứng đáng được Mỹ viện trợ về kinh tế và quân sự. Mansfield kết luận trong phúc tŕnh rằng ‘’...Ông Diệm nổi tiếng khắp Việt Nam là người có Tinh Thần Quốc Gia rất cao, là người không thể bị mua chuộc. Ông ta cương quyết diệt trừ phá hoại và diệt âm mưu, mạnh mẽ chống tham nhũng và bất công xă hội. Từ sự thất bại của tự do trước đó, ông ta đă đưa vào một sinh khí mới. ’’ (Stephen Pan & Daniel Lyons, ‘’Vietnam Crisis’’ Twin Circle Publishing Co. , New York 1966, trang 86).

            Đầu tháng 1 năm 1956, tuần báo ôn ḥa và trung lập của nước Anh là tờ The Economist viết: ‘’Từ một t́nh thế dường như tuyệt vọng trước đó 18 tháng, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă mang lại được một trật tự và một sự yên ổn có thể làm cho Miến Điện, Nam Dương và ngay cả Mă Lai nữa, thèm muốn. Nhưng công việc c̣n phải làm sẽ rất nhiều và gian nan. ’’(Vietnam Crisis, trang 80)

            Tháng 6 năm 1956, tại diễn đàn Hội Những Người Mỹ Bạn Của Việt Nam, Nghị Sĩ John F. Kennedy khuyến cáo nước Mỹ ‘’hăy mau lẹ cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế nhiều hơn nữa cho Tổng Thống Diệm, v́ Chính Phủ của ông ta đă thực hiện những bước sinh tử đầu tiên để tiến tới dân chủ thực sự. Ở nơi mà trước đây, thực dân và cộng sản giành ngôi bá chủ, đă có được một Nước Cộng Ḥa Tự Do và Độc Lập, được trên 40 Quốc Gia của Thế Giới Tự Do thừa nhận. ’’ (Hans Morgenthau, ‘’America Stake in Vietnam’’ New York 1956, trang 69)

            Tên kư giả thực dân và xấc láo của Mỹ là David Halberstam sau này hung hăng chống lại sự trợ giúp của Mỹ cho Nam Việt Nam mà hồi ấy cũng phải trầm trồ ca tụng là ‘’...Diệm đă hành động rất đúng và rất can đảm trong những năm đầu tiên của Chính Phủ của ông ta.’’ (William Colby, ‘’Honorable Men, My Life In The CIA’’ Simon & Schuster, New York 1978, trang 158).

            Trên đây chỉ là sự trích dẫn một vài lời trong nhiều lời ca tụng nồng nhiệt đầy kính trọng mà nhiều Quốc Gia đă dành cho Chính Quyền Diệm những năm đầu của Chính Quyền ấy. Lời lẽ trong những lời ca tụng ấy đă tạm đủ để cho người Việt Quốc Gia hiểu rằng không thể tự nhiên mà được Cộng Đồng Quốc Tế ban cho những lời ca tụng ấy và không phải bất cứ người Việt Quốc Gia nào cũng có cơ hội được hưởng những lời ca tụng ấy.

Bốn mươi lăm của Chính Phủ Hội Viên của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc đă thừa nhận Chính Phủ Diệm và lập quan hệ ngoại giao chính thức với Chính Phủ ấy. Chính Phủ Diệm cũng c̣n được hưởng quy chế quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc.

            Nhiều Cường Quốc và nhiều Quốc Gia Tự Do đă mời ông Ngô Đ́nh Diệm tới thăm chính thức tại Nước họ để được nghe ông Diệm nói về triển vọng xây dựng một miền Nam Việt Nam Tự Do và Dân Chủ. Cử chỉ mời ông Diệm tới thăm chính thức cũng là một h́nh thức để các Quốc Gia thân hữu ấy chứng tỏ cho Thế Giới biết rằng không phải họ chỉ có gởi tới ông Diệm những lời ca tụng xuông mà thôi.

            Có theo dơi những buổi thuyết tŕnh, chiếu lại h́nh ảnh những khi ông Diệm đọc diễn văn trước các Cơ Quan Hiến Định cao nhất của các Quốc Gia thân hữu ấy, có quan sát sự kính nể mà các Nhà Lănh Đạo Quốc Gia ấy dành cho ông Diệm và có nh́n thấy thái độ tự trọng, tự tin và rất trang nghiêm đầy tinh thần Kẻ Sĩ Đông Phương của ông Diệm trong cương vị đại diện chính thức cho Dân Tộc Việt Nam, người ta lại càng thêm tin rằng quả thật ḷng yêu nước nhiệt thành và Tinh Thần Quốc Gia cao độ của ông Diệm đă mang lại cho ông sự kính nể và ngưỡng mộ của Thế Giới bên ngoài.

            Sau khi ông Diệm bị giết hại rồi, từ đó về sau, cho tới ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ vào cuối tháng 4 năm 1975, Chính Quyền Quốc Gia của Nam Việt Nam không bao giờ có được một người lănh đạo có hào quang tối thiểu để được Cộng Đồng Quốc Tế kính trọng nữa.

               Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm là Chính Quyền duy nhất của người Việt Quốc Gia tạo được Chính Danh, Chính Thống và Chính Nghĩa cho công cuộc chống cộng của người Việt Nam.

 

CHIẾN DỊCH TỐ CỘNG

Một trong những thành tích được nhắc nhở nhiều của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm là Chiến Dịch Tố Cộng. Để tránh dùng những chữ lớn, ta hăy lượng định kết quả Chiến Dịch ấy bằng một tiêu chuẩn thiết thực, đó là cuộc trắc nghiệm để xem người dân miền Nam Việt Nam ủng hộ Chính quyền Diệm tới mức nào và nếu có sự ủng hộ đó th́ sự vạch mặt chỉ tên những tên cộng sản nằm vùng sẽ là cái thước để đo sự ủng hộ ấy. Cho tới năm 1959, kết quả thâu được cho Chiến Dịch ấy thật là tốt đẹp, người dân miền Nam đă sốt sắng chỉ chỗ ẩn núp, cho tên tuổi những tên cộng sản nằm vùng để Chính Quyền Quốc Gia theo dơi hoặc bắt giữ.

Cũng nên nhắc lại là từ năm 1954 cho tới 1956, tập đoàn lănh đạo Hà Nội ung dung ngồi chờ Chính Phủ Diệm sụp đổ. Sau năm 1956, Chính Phủ Diệm không những đă không chết mà lại vững mạnh hơn rất nhiều và nhất là Chiến Dịch Tố Cộng bắt đầu tàn phá hàng ngũ nằm vùng của cộng sản th́ Hà Nội thật sự lo ngại.

Năm 1956, Hà Nội phái Lê Duẩn vào miền Nam để làm sống lại cơ cấu nằm vùng của cộng sản tại miền Nam. Người ta biết rằng Duẩn đă ở lại miền Nam từ 1956-1958.

Trong khoảng thời gian hai năm này, cộng sản ở miền Nam Việt Nam đă khóc lóc để van xin Hà Nội cứu giúp, v́ chiến dịch Tố Cộng của Chính Phủ Diệm gây tai hại quá sức chịu đựng của bọn cộng sản nằm vùng ở miền Nam rồi.

Hà Nội họp đại hội đảng khoán đại vào đầu năm 1959 để nghiên cứu cách cứu bọn đàn em ở miền Nam. Từ phiên họp khoáng đại này, Hà Nội đi tới quyết định là dùng vơ lực để chiếm miền Nam Việt Nam.

Tuy trước đó, Hà Nội vẫn đều đều xâm nhập người và vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam, nhưng mức xâm nhập ấy chỉ để nuôi sống bọn đàn em ở miền Nam, chứ không đủ để mong lật đổ Chính Quyền Quốc Gia của ông Diệm. Đơn vị xâm nhập quy mô đầu tiên mang bí số là 559, gồm trên 20.000 người (binh lính, cán bộ và lao công). Bắt đầu xâm nhập vào miền Nam từ tháng 5 năm 1959. Số 559 là bí số bắt nguồn từ thời điểm ‘’tháng 5 năm 1959’’). Tên Vơ Bầm là sĩ quan cao cấp đầu tiên của quân đội Hà Nội được chỉ định điều khiển đoàn xâm nhập 559. Ngày 25.2.1983, Tuần Báo The Economist của nước Anh ghi lại cuộc phỏng vấn Vơ Bầm do Đài Truyền H́nh Pháp, chương tŕnh phim tài liệu thực hiện, với Phái viên Jérôme Kanapa phỏng vấn. Vơ Bầm đă thú nhận rằng sự xâm nhập quy mô đă bắt đầu ngay từ năm 1959, nghĩa là hai năm trước khi Tổng Thống Kennedy bắt đầu đẩy mạnh sự viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam.

Vậy th́ cho tới năm 1959, ít ra, quảng đại quần chúng của miền Nam Việt Nam chưa bị các sự tuyên truyền phá hoại từ nhiều phía đầu độc sự suy tưởng của họ và họ đă để Chính Quyền Diệm có cơ hội hành động.

Những hậu quả đầu tiên của sự xâm nhập quy mô từ miền bắc đă để lại chết chóc gia tăng rất sớm. Thống kê về những sự ám sát Viên Chức Xă Ấp tại miền Nam Việt Nam từ 1957 tới 1959 cho thấy rơ mức độ tàn phá gia tăng của sự xâm nhập ấy. Thí dụ trong trọn năm 1958, có tất cả 193 vụ ám sát Viên Chức Xă Ấp ở miền Nam Việt Nam, trong khi chỉ riêng bốn tháng cuối của năm 1959, đă có tới 119 vụ ám sát tương tự (William Colby, ‘’Honorable Men...trang 158).

Chính Phủ Úc là một trong vài Quốc Gia sáng suốt và khôn ngoan nên đă sớm hiểu các khó khăn của ông Diệm, và nhất là hiểu tại sao từ 1959 trở về sau, Chính Quyền ấy càng ngày càng phải cứng rắn hơn trước khi đối phó với cộng sản. Chính Phủ Úc nhân dịp này đă gửi cho Thế Giới một lời khuyên thiết thực, đầy khôn ngoan để Thế Giới ấy biết cách đánh giá hiệu năng của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Nhắc nhở Thế Giới là hăy đánh giá Chính Phủ Diệm theo tiêu chuẩn Á Đông và theo thực tế của t́nh h́nh, hơn là theo cách đánh giá của Tây phương, Ngoại Trưởng Úc R. G. Casey viết: ‘’Hai sự việc cần được mọi người ghi nhớ khi muốn chỉ trích Chính Quyền Nam Việt Nam. Thứ nhất, Việt Nam đang ở tuyến đầu Chiến Tranh Lạnh. Chính Phủ của Xứ ấy không thể để lộ một sơ hở nào khả dĩ cho đối phương khai thác. Một sơ hở nào lộ ra cũng sẽ cực kỳ nguy hiểm, không những cho Việt Nam mà c̣n cho  tự do cả Đông Nam Á nữa. Thứ hai, sự thực hiện dân chủ ở Cấp Bộ Quốc Gia là một quan niệm hoàn toàn mới mẽ tại Việt Nam và cần phải có thời giờ để phát triển các định chế, các truyền thông, các tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ theo đường lối xây dựng và hữu trách. ’’ (Richard Lindhelm, ‘’Vietnam The First Five Years’’Ann Arbor, Michigan 1959, trang 344).

Ngày 27.1.1960, tại Trảng Sụp, gần biên giới Việt Miên trong Tỉnh Tây Ninh, cộng quân đă đánh úp và gây thiệt hại rất nặng nề cho Hậu Trạm một Trung Đoàn Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa. Trận đánh úp này coi như chính thức mở màn cuộc chiến tranh Đông Dương II và cho thấy mức độ xâm nhập của cộng sản vào miền Nam đă tới thời kỳ đe dọa sự tồn tại của miền Nam tự do.

Tháng 5.1960, Hà Nội họp tập đoàn lănh đạo, rồi công khai tuyên bố tại phiên họp ấy rằng ‘’...đă đến lúc kiên tŕ chiến đấu dũng cảm để diệt Chính Phủ Diệm. ’’(William Colby,  ‘’Honorable Men... trang159).

Thêm một dấu vết rơ rệt nữa để chứng tỏ sự hữu hiệu của Chiến Dịch Tố Cộng. Đó là lời của hai tác giả Pháp thân cộng, Jean Lacouture và Bernard Fall. Hai tên này chạy tội cho Hà Nội bằng cách nói rằng v́ bị Chính Quyền Diệm săn đuổi, lùng diệt dữ quá nên cộng sản ‘’đành phải đánh trả để khỏi bị tiêu diệt’’. Mặc dù đây là lời chạy tội cho phía cộng sản, nhưng lời chạy tội ấy lại có một tác dụng dội ngược không ngờ là đă trực tiếp nh́n nhận rằng quả thật Chiến Dịch Tố Cộng của Chính Quyền Diệm đă đánh trúng huyệt của cộng sản.

Tháng 9 năm 1960, Hà Nội họp đại hội đảng lần thứ 3 để thông qua nghị quyết tiến đánh chiếm miền Nam Việt Nam và để lừa gạt dư luận thế giới. Công cụ ấy được mệnh danh là Mặt trận giải phóng miền Nam.

Trước khi Hà Nội khai sinh công cụ nói trên, có hai biến cố tại Nam Việt Nam diễn ra theo chiều hướng bất lợi cho cuộc chiến đấu tự vệ của Nam Việt Nam. Thứ nhất là ‘’tối hậu thư’’ của ‘’nhóm Caravelle’’gửi ông Diệm và thứ hai là cuộc đảo chính bất thành của một số sĩ quan cấp Tá đêm 11.11.1960.

Nhóm Caravelle (dân chúng c̣n dùng danh từ mỉa mai ‘’nhóm trí thức Caravelle’’ để tặng nhóm này nữa) gồm gần hai chục nhà ‘’trí thức ‘’ Việt Nam họp nhau tại Nhà Hàng Caravelle, là Nhà Hàng sang trọng nhất Sài G̣n thời ấy để bàn ‘’quốc sự’’. Sau bữa tiệc linh đ́nh, với rượu ngon, gái đẹp, các vị trí thức ấy đă gửi tối hậu thư đ̣i Ông Diệm phải cải tổ Chính Phủ và thay đổi đường lối lănh đạo.

Trong điều kiện sinh hoạt chính trị b́nh thường, hiểu là không bị cộng sản đe dọa, th́ yêu cầu ấy thật hợp lư. Tiếc rằng các nhà trí thức kia đă không đếm xỉa đến lời cảnh cáo thật ư nghĩa của Ngoại Trưởng Úc R. G. Casey. Nói nôm na là họ đ̣i ông Diệm chia ghế lănh đạo với họ.

Nhưng nguy hơn nữa là nhóm trí thức ấy không nh́n thấy nguy cơ của cộng sản càng ngày càng lan rộng, càng đè nặng lên miền Nam Việt Nam. Theo sự suy luận của nhóm trí thức ấy th́ chỉ cần ông Diệm chia cho họ một số ghế trong Chính Phủ th́ nguy cơ cộng sản sẽ tự nhiên tan biến như một phép lạ. Người ta có thể chỉ trích ông Diệm về nhiều điều, nhưng không thể phê b́nh ông về cái nh́n sắc bén cũng như thiết thực về nguy cơ của cộng sản. Hăy cứ tưởng tượng sự lănh đạo miền Nam được trao vào tay gần hai chục nhà đại trí thức ngây thơ thuộc nhóm Caravelle th́ sự sống c̣n của miền Nam Việt Nam trong tự do sẽ đếm được bao nhiêu ngày sau đó ?

Cuộc đảo chính đêm 11.11.1960 diễn ra một cách rất tài tử, hay dùng chữ chính xác hơn nữa, một cách ngu xuẩn. Chưa tới hai chục sĩ quan cấp Tá, lớn nhất là cấp bậc Trung Tá,  nhờ móc nối được với một vài Đơn Vị Dù đồn trú gần Sài G̣n, đă mưu lật đổ Chính Phủ Diệm. Có hai nét nổi bật về thân thế đa số sĩ quan chủ mưu cuộc đảo chánh ấy. Thứ nhất phần lớn đều xuất thân từ quân đội thực dân Pháp. Ư niệm yêu nước, độc lập và chống cộng của họ đă bị người Pháp uốn nắn nên đă trở thành rất lờ mờ. Thứ hai, đa số là Huấn Luyện Viên tại Trường Đại Học Quân Sự (Trường này trước năm 1955 là Viện Nghiên Cứu Quân Sự của Pháp tại Việt Nam. Khi Pháp rút hết th́ Trường ấy trao lại cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, được đổi tên là Trường Đại Học Quân Sự, rồi đến giai đoạn chót, trước khi Nam Việt Nam sụp đổ, được cải danh thành Trường Chỉ Huy và Tham Mưu). Tất cả đám chủ mưu này không ai có thành tích tranh đấu về chính trị và chưa bao giờ tham chính. Người duy nhất giữ được tư cách và khí phách là Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng và ông ta là người chết đầu tiên khi cầm đầu một đám đàn em xung phong chiếm Tổng Nha Cảnh Sát.

Đa số kẻ chủ mưu cuộc đảo chánh này đă theo đường bộ trốn thoát sang Cao Mên.  Trong số này, có Đại úy thi sĩ Phan lạc Tuyên, tác giả nhiều bài thơ t́nh cảm dân tộc rất được ưa chuộng, đă bị cộng sản tại Cao Mên móc nối, hứa hẹn trời biển sao đó  mà ông ta đă bỏ hàng ngũ Quốc Gia để gia nhập vào quân đội cộng sản. Chúng đă phong cho ông ta tới chức Trung đoàn trưởng (có được thật sự chỉ huy một Trung đoàn hay không là điều không cần bàn ở đây) và nghe nói việt cộng mang tên tuổi ông ta dùng vào việc tuyên truyền sách động quần chúng trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.

            Sau cuộc đảo chính bất thành ấy, khi nghe thuộc hạ báo cáo về xuất xứ thành phần ‘’Phản loạn’’ phần lớn là sĩ quan Huấn Luyện Viên của Trường Đại Học Quân Sự, ông Diệm đă gọi Trường ấy là ‘’Trường phản loạn’’ và ít ngày sau đó ông ra lệnh đuổi Trường ấy lên Thành Phố Cao Nguyên Đà Lạt.

            Vài nét vắn tắt về Trường Quân Sự này sẽ không vô ích, v́ nó giúp người đọc hiểu thêm chút nữa về lư do khiến cho một số Quân Nhân miền Nam Việt Nam thù hận ông Diệm.  Khi gọi Trường ấy là ‘’Trường phản loạn’’, có thể ông Diệm không ngờ rằng chính cái chính sách dùng người của ông ta đă cung cấp chất liệu để dần dần, tạo thành tinh thần phản loạn tại Trường ấy. Ông Diệm đi tiên phong chính sách dùng người ‘’theo tín nhiệm hơn là theo khả năng’’Nhiều Sĩ Quan Tỉnh Trưởng hoặc Quận Trưởng được thăng cấp rất mau, được ban thưởng hậu hĩ, nhưng cũng có thể bị cất chức rất mau. Một số đông quư vị sĩ quan từng được ân sủng như thế đă được tuyên chuyển về làm Huấn Luyện Viên Trường Đại Học Quân Sự. V́ lúc ấy, miền Nam chưa có Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng nên Trường Đại Học Quân Sự là Trường Cao Cấp nhất của Nam Việt Nam. Là Quân Trường cao cấp nhất, nhưng Trường ấy lại chứa nhiều kẻ bất măn nhất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Chưa có Đơn Vị Quân Đội nào lại chứa nhiều kẻ thất sủng đến như vậy, đa số Huấn Luyện Viên tới lớp dạy học thường vẫn c̣n phô trương cái thuở vàng son quá khứ của họ khi vên váo kể cho các Sĩ Quan Khóa Sinh nghe thời kỳ họ c̣n cai trị ở Tỉnh này, ở Quận kia v.v...Ngoài sự căm thù ông Diệm đă cất chức họ, nhiều Sĩ Quan của Trường Đại Học Quân Sự lại có một lư do khác nữa, chẳng cao quư ǵ, để thù hận ông Diệm thêm. Trong những lúc rănh rỗi, họp nhau tại Câu Lạc Bộ của Trường, hoặc tụ họp nhau để ăn nhậu say sưa tại một hàng quán sang trọng nào đó, đám Sĩ Quan này thường chửi rủa ông Diệm v́ ông đă ‘’ngăn cản không cho họ được sống xa hoa, trụy lạc bừa băi’’.

            Vụ nhóm trí thức Caravelle được nhà báo Tây phương ác cảm với Chính Quyền Diệm thổi phồng thành một lư do để đám nhà báo ấy kết án Chính Quyền Diệm là ‘’thiếu căn bản dân chủ’’. Vụ đảo chính bất thành 11.11.1960 được bọn nhà báo ấy suy diễn là ‘’Quân Đội Nam Việt Nam không tín nhiệm ông Diệm và không muốn ủng hộ ông ta nữa.’’ Dĩ nhiên, hai điều này đă được Hà Nội tận t́nh khai thác. Nhưng chúng vẫn chưa thấy là đủ để dùng đ̣n độc hạ thủ ông Diệm. Chất liệu độc thủ ấy đă được một số người thuộc thành phần trí thức miền Nam dâng cho Hà Nội để từ đó, đẻ ra cái quái thai chính trị gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam.

               Cái quái thai chính trị này là lá bài then chốt của Hà Nội để che mắt thế giới hầu đẩy mạnh cuộc xâm lược vơ trang chiếm miền Nam sau này. Từ 1960 là thời điểm Hà Nội khai sinh tổ chức gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cho chúng. Ngày chúng chiếm được Nam Việt Nam vào cuối tháng 4.1975, cái đám trí thức miền Nam nói trên đây, vừa ngu dại, kiêu căng lại vừa thiển cận đă đắc lực giúp Hà Nội trên mặt trận quốc tế vận cũng như trên mặt trận dụ dỗ người nông dân miền Nam Việt Nam.

            Năm 1961 có hai biến chuyển lớn. Một là sự tái đắc cử của ông Diệm vào tháng 4 năm ấy và hai là việc Nghị Sĩ trẻ tuổi John F. Kenedy nhận chức Tổng Thống Mỹ. Ngay sau khi biết ông Diệm tái đắc cử, cộng sản biết rơ rằng trong những năm tới, chúng c̣n khốn đốn hơn nữa v́ chủ trương triệt để chống cộng của ông Diệm. Do đó, cộng sản quốc tế la làng rằng ông Diệm ‘’...là kẻ thù của nhân dân Á Châu và là chướng ngại chính cho sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á Châu. ’’ (Vietnam Crisis trang 110).

 

 

ẤP CHIẾN LƯỢC

               Dầu cho kế hoạch lập Ấp Chiến Lược của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm được ca tụng hay bị chê bai th́ kế hoạch ấy cũng là một trong những điều được chú ư nhiều.

            Kế hoạch gom dân lại để tách họ khỏi sự khủng bố của cộng sản và cũng để cộng sản không bám được vào dân mà kiếm lương thực, không phải là sáng kiến mới mẻ ǵ của miền Nam Việt Nam. Phi Luật Tân và Mă Lai đă dùng công thức ấy để chống cộng sản và hai xứ ấy đă thành công, nhất là Mă Lai. Công thức này làm cho người dân gần với nhau hơn và làm cho người dân gần gũi với chính quyền hơn. Khi c̣n ở lẻ tẻ, rải rác, cách xa nhau, họ dễ làm mồi cho cộng quân giết hại. Nếu vào trong một Ấp rồi th́ người dân sẽ cảm thấy tự tin hơn v́ biết rằng cộng quân sẽ phải đánh lớn nếu muốn giết hại dân và nếu muốn cướp thực phẩm của dân. Kế hoạch gom dân như thế đă thành công tại Phi Luật Tân và tại Mă Lai nhờ người dân ở hai xứ ấy đă sớm hiểu được hai điều sinh tử trong cuộc chiến chống cộng sản. Một là người dân hai xứ ấy, tuy không cần phải có tŕnh độ học thức cao, nhưng đă sớm hiểu rằng họ bắt buộc phải hy sinh một phần tự do cá nhân của họ để đổi lấy sự bảo vệ của Chính Quyền Quốc Gia. Điều thứ hai c̣n quan trọng hơn nữa, là họ hiểu rằng trong cuộc chiến tranh tệ hại như chiến tranh chống cộng, nếu người dân không chịu hợp tác với Chính Quyền rồi th́ trước sau,  người dân cũng sẽ trở thành nô lệ cho cộng sản. Khi ấy th́ không một sức mạnh quân sự nào của Chính Quyền Quốc Gia hoặc của một Cường Quốc bạn nào khác có thể giải thoát được họ nữa.

            Tại Nam Việt Nam, từ 1962 cho tới tháng 5 năm 1963, Chính Quyền Diệm đẩy mạnh việc lập các Ấp Chiến Lược và gọi kế hoạch ấy là ‘’Quốc sách’’. Kết quả sơ khởi rất tốt đẹp.  Chỉ nói riêng về Tỉnh Long An, Chính Quyền Tỉnh ấy đă gom được dân vào 220 Ấp Chiến Lược và trong thời gian gần một năm, Chính Quyền Long An đă dồn được các phần tử việt cộng vào 35 Ấp c̣n lại. Sự cô lập các phần tử việt cộng tại các Tỉnh khác cũng được ghi nhận là khả quan. Nói một cách khác, kế hoạch lập Ấp Chiến Lược đe dọa sự sống c̣n của cộng sản ở miền Nam Việt Nam.

            Kể từ lúc ông Diệm tái đắc cử, Hà Nội đă đặt ưu tiên cao nhất là việc phải hạ bệ ông Diệm cho bằng được. Hà Nội c̣n phải vùng vẫy để thoát khỏi gọng ḱm tai hại của kế hoạch Ấp Chiến Lược. Một cái bẫy thật lớn được Hà Nội tung ra để mưu loại ông Diệm. Không phải v́ t́nh cờ mà kế hoạch phá các Ấp Chiến Lược do Hà Nội phát động lại đồng thời với cuộc khủng hoảng Phật Giáo tại miền Nam Việt Nam.

            Nếu chỉ hoàn toàn dựa vào chém giết và khủng bố th́ có thể Hà Nội rốt cuộc sẽ làm cho nông dân v́ khiếp sợ quá mà quay lại chống trả bọn chúng. Phải có một chiêu bài khác để vừa dụ nông dân miền Nam, vừa lừa bịp được thế giới bên ngoài. Nên khen Hà Nội có tài dụ dỗ giỏi để đưa được một đám trí thức miền Nam vào cái bẫy sập, hay là nên ngậm ngùi rằng miền Nam lại có thể sản xuất được một số trí thức ngu xuẩn đến mức độ làm tay sai cho một bọn phản quốc có hạng mà lại cứ tưởng rằng ḿnh khôn ngoan lắm và yêu nước lắm? Có lẽ nên nghĩ tới sự ngậm ngùi cho đám trí thức ấy th́ đúng hơn, v́ khen cộng sản lừa bịp giỏi là làm một việc vô ích.

            Từ lúc kế hoạch lập Ấp Chiến Lược bắt đầu được thi hành cho đến khi bùng nổ cuộc khủng hoảng về Phật Giáo tại Nam Việt Nam, thời gian trôi qua chưa tới một năm. Đó là một khoảng thời gian chưa đủ để lượng định về kết quả của một kế hoạch có tầm mức chiến lược như vậy. Dầu sao, người ta cũng đă thấy những nhược điểm lớn nhất của kế hoạch hiện ra.

            Nhược điểm đầu tiên là kế hoạch ấy được thảo bởi hai nhân vật rất ít hiểu biết về t́nh h́nh chiến tranh khuynh đảo của cộng sản quốc tế. Staley là một người Mỹ chưa từng có một chút kinh nghiệm nào về chiến tranh dấy loạn. Vũ Quốc Thúc là một Nhà Trí Thức Việt Nam chưa bao giờ được coi là người có kiến thức tối thiểu về chiến tranh du kích. Người ta hiểu rằng hai người vừa kể ít ra cũng đă có ‘’tham khảo’’ một số người, có thể là đă tham khảo luôn cả Cố Vấn Phản Du Kích của Chính Phủ Mă Lai là ông Robert Thonpson, nhưng bấy nhiêu chưa đủ. Một điều nguy hại cho kế hoạch ấy ngay từ khởi điểm là Staley/Thúc có vẻ như đă tin rằng kế hoạch gom dân để tách họ ra khỏi quân phiến loạn đă thành công tại Mă Lai và tại Phi Luật Tân th́ cũng sẽ thành công tại Nam Việt Nam.

            Như đă ghi ở đoạn trên, kế hoạch gom dân tại hai nước bạn thành công v́ người dân ở hai xứ ấy khôn ngoan hơn người dân miền Nam Việt Nam. V́ khôn ngoan nên họ chấp nhận hy sinh một phần các quyền tự do hàng ngày của họ, biết rằng sự hy sinh ấy không vô ích, v́ nếu để cho cộng sản cướp được chính quyền th́ họ sẽ chẳng c̣n được hưởng chút tự do nào nữa.

            V́ không có được sự khôn ngoan b́nh dân ấy ngay từ đầu nên người nông dân miền Nam Việt Nam không tha thiết với việc ra khỏi ruộng vườn nhỏ bé của họ để vào sống trong Tổ Chức Ấp Vơ Trang Tự Vệ.

            Thêm vào cái tâm lư tiêu cực vừa kể, ít ra cũng c̣n ba điều khác nữa làm cho người nông dân miền Nam Việt Nam càng thêm tiêu cực với kế hoạch lập Ấp Chiến Lược. Thứ nhất là kinh nghiệm của họ với nền hành chánh thời Pháp thuộc. Họ đă bị đày đọa quá nhiều v́ thực dân và v́ đám người Việt làm tay sai cho thực dân như đám Đốc Phủ Sứ, đám Huyện,  đám Cai Tổng v.v...Người ta có thể hiểu tâm trạng thất vọng năo nề của những nông dân ấy khi phải sống dưới một chính quyền chỉ biết bóc lột dân và không hề có chút kính trọng tối thiểu đến đời sống của người dân.

            Nỗi thất vọng chồng chất ấy được giải tỏa khi nông dân tin rằng những người cộng sản sẽ mang lại cho họ no ấm, tự do và sự kính trọng. Sự tin tưởng lăng mạn ấy đưa họ đến một kết luận vội vàng là giữa chính quyền của thực dân và chính quyền cộng sản, không có một thứ nào ở giữa. Người nông dân ấy không nghĩ được rằng có thể có một chính quyền không cộng sản và không tồi tệ như chính quyền thực dân ngày trước.

            Điều thứ ba là sự ngu dại của đám trí thức miền Nam thuộc thành phần gọi là Nhóm Liên Trường. Nếu trí thức miền Bắc Việt Nam nổi bật v́ sự khiếp nhược th́ trí thức miền Nam Việt Nam nổi bật v́ sự tự cao và tự tin trong ngu dại. Không biết đám trí thức miền Nam này học được ở đâu mà tự nuôi cái ảo tưởng rằng có thể thuyết phục được cộng sản Hà Nội để cho miền Nam được sống yên ổn với một quy chế tự trị. Từ cái ư niệm sơ khởi vừa dại dột lại vừa tai hại ấy, đám trí thức nói trên đă rất đắc lực tiếp tay với Hà Nội trong kế hoạch làm sụp đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.

               Hà Nội thảo ra kế hoạch ba mặt giáp công để hạ Chính Quyền của ông Diệm. Mặt thứ nhất là khai sinh công cụ chính trị và tuyên truyền gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam. Mặt thứ hai là sách động dân quê miền Nam để họ chống lại kế hoạch gom dân vào Ấp Chiến Lược. Mặt thứ ba là dùng Tôn Giáo để cô lập Chính Quyền Diệm với Cộng Đồng Quốc Tế,  nhất là cô lập miền Nam với nước Mỹ.

Người ta đă biết rằng cầm đầu đám trí thức miền Nam thời ấy là tên Trương như Tảng,  V́ có mặt của hắn và của một số trí thức khác của miền Nam cũng ngu dại như hắn nằm trong cái gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam nên một phần lớn thế giới bên ngoài đă tin rằng cái tổ chức ấy không lệ thuộc cộng sản Hà Nội. Sự tin tưởng ấy đă kéo theo vô số nạn nhân trong đám trí thức Tây phương (Âu Châu, Mỹ Châu, Canada). Những thiệt hại về sinh mạng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa không nguy hại cho sự sống c̣n của Việt Nam Cộng Ḥa bằng những lời ca của Joan Baez, những lời tuyên bố của nữ tài tử Jane Fonda và chồng của y thị là Tom Hayden, những bài báo và những lời tuyên bố của Jean Paul Sartre,  Oliver Todd, Jean Lacouture, Jean Lartéguy, Pierre Darcourt...Tóm lại, Trương như Tảng và đồng bọn đă lập được công lớn giúp Hà Nội ru ngủ và lừa bịp được thế giới bên ngoài trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

Ở mặt trận thứ hai, một đám trí thức khác của miền Nam (cũng trong cái gọi là Nhóm Liên Trường) đắc lực giúp Hà Nội bằng chiến thuật nằm vùng. Khí giới của bọn này là báo chí và luôn cả sự tự do mà chế độ Cộng Ḥa của Nam Việt Nam để cho chúng được hưởng rộng răi. Chủ lực của đám trí thức này là những tên thuộc thành phần ‘’ngựa non háu đá’’và ‘’điếc không sợ súng’’ như Lư quư Chung, Nguyễn hữu Chung, Hồ ngọc Nhuận v.v...

Những tên vừa kể mở hai chiến dịch. Thứ nhất là chiến dịch gây thù hận giữa nông dân miền Nam và Chính Quyền Diệm. Thứ hai là chiến dịch chia rẽ Nam và Bắc (đây là hậu thân của thủ đoạn chia rẽ Nam Bắc do thực dân Pháp đẻ ra ngày trước).

Người ta đă được đọc những bài báo do đám trí thức dại dột này viết về Ấp Chiến Lược. Trong những bài ấy, chúng gợi trong ḷng người nông dân miền Nam t́nh yêu Thôn Ấp và gợi ư tưởng căm thù những ai muốn tách họ ra khỏi Thôn xóm của họ. Là thành phần thiếu hiểu biết, ít suy nghĩ người nông dân miền Nam Việt Nam đă dễ dàng rơi vào cái bẫy của đám trí thức tay sai cho cộng sản Hà Nội kia.

Khi c̣n cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đă từng tung ra chiến dịch gây căm thù giữa người miền Bắc và người miền Nam. Thời ấy, đă có những kẻ ngu xuẩn ở miền Nam hăng hái thi hành kế hoạch chia rẽ hiểm độc và bần tiện của thực dân. Thêm vào đó, lúc nào cũng có ở miền Nam Việt Nam một khuynh hướng coi miền Nam không phải là một phần lănh thổ của nước Việt Nam. Phần lớn những kẻ có khuynh hướng này đều là nô lệ cho thực dân và được quan thầy Pháp ban thưởng cho cái ân huệ ô nhục là được ‘’Vào dân Tây’’.

Bọn trí thức ‘’ngựa non háu đá’’ tuy có được cắp sách đến trường nhưng không chịu mở mắt để học về Lịch Sử của Dân Tộc Việt. Chúng trân tráo lớn tiếng nhục mạ những ‘’người Bắc di cư’’ trên mặt báo và tại những nơi Công Cộng. Trong sự dại dột ấu trĩ, bọn chúng tưởng gây hận thù và chia rẽ như vậy th́ sau này chắc chắn sẽ được cộng sản Hà Nội để cho yên với chủ trương ‘’miền Nam của người Nam’’

Ngoài ra, c̣n hai điều khác nữa, một thuộc về quân sự và một thuộc về tâm lư, làm cho kế hoạch lập Ấp Chiến Lược không thành công được. Về quân sự, khi Ấp Chiến Lược đầu tiên được tổ chức xong th́ cộng quân ở miền Nam đă có khả năng mở cuộc tấn công đến cấp trung đoàn và cao hơn nữa. Về chiến lược và chiến thuật, cộng quân có thể tập trung đông đảo quân số để đạt ưu thế tạm thời rồi tấn công ồ ạt vào một vị trí cố thủ của quân chính phủ. Trước quan niệm chiến lược vận động chiến của cộng quân, quan niệm cố thủ bằng đồn bót và pháo lũy là quan niệm tất bại. Áp dụng quan niệm ấy cho Ấp Chiến Lược làm sao có thể đánh bại được cộng quân? Những người điều khiển lập Ấp Chiến Lược có một cái nh́n rất lạc quan và rất chủ quan về khả năng của một Ấp Chiến Lược. Theo họ th́ một khi Ấp đă được cấp phát một số vũ khí th́ dân trong Ấp có đủ khả năng đẩy lui mọi cuộc tấn công quân sự của cộng quân. Không cần phải dùng nhiều lời cũng có thể chứng minh rằng cái nh́n ấy quá sai lầm và bệnh hoạn. Các đồn bót của quân đội Pháp trong trận chiến tranh Đông Dương 1946-1954 và các đồn bót của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa sau năm 1954 đều không giữ được nếu cộng quân quyết định trả giá cao để diệt đồn. Trong khi đó, ngoài số vũ khí sơ sài và chỉ gồm vũ khí nhẹ, dân trong Ấp lại không huấn luyện về quân sự. Nhưng nguy hại hơn nữa là dân trong Ấp không có tinh thần tha thiết sống chết với Ấp. Một khi họ đă không tha thiết cố thủ th́ kế hoạch Ấp Chiến Lược chắc chắn sẽ thất bại. Đă thế, dân trong Ấp c̣n được bọn trí thức tay sai của Hà Nội ngày đêm nhồi vào đầu họ cái ư nghĩ căm thù Chính Quyền Quốc Gia v́ đă cưỡng bắt họ từ bỏ ruộng vườn để vào Ấp sống như trong một trại tập trung. Một Ấp Chiến Lược nào đó bị cộng quân đánh tan sẽ là một lư do để nông dân miền Nam trốn khỏi Ấp để trở về nhà cũ.

Điều thứ hai là tinh thần Cán Bộ Dân Sự và Quân Sự của miền Nam trong việc thi hành kế hoạch lập Ấp Chiến Lược. Người viết sách này ghi nhận được nhiều điều bi hài trong thời kỳ có các Khóa Huấn Luyện về Ấp Chiến Lược tại Trung Tâm Suối Lồ Ô (gần Biên Ḥa).

Những người được cử đi học, đều mang sẵn trong đầu tâm trạng bị động và chủ bại.  Một điều đáng buồn cần ghi ở đây là trong suốt triều đại Ngô Đ́nh Diệm cũng như sau triều đại ấy, hàng ngũ người Quốc Gia rất ít có Cán Bộ nhiệt t́nh và tận tụy cho Chính Nghĩa Quốc Gia. Do đó, kế hoạch và chính sách có hay đến đâu cũng không hy vọng thành công. Cán Bộ Ấp Chiến Lược đi học với một tâm trạng bất măn th́ làm sao c̣n hăng hái sống chết với dân trong Ấp?

Thêm vào đó, thái độ và tác phong của Ngô Đ́nh Nhu càng làm cho Cán Bộ Quốc Gia thêm tiêu cực. Những người bênh vực Ngô Đ́nh Nhu một cách mù quáng đều đề cao ông ta về cái gọi là Thuyết Cần Lao Nhân Vị, như thể ông ta đă xuất thần mà phát minh ra thuyết ấy. Nó chỉ là sự bào chế một triết thuyết của Mourier rồi mang ra quảng cáo ở miền Nam sau năm 1954. Cái lối ca tụng mù quáng ấy càng làm cho Nhu thêm kiêu căng và thêm bị Cán Bộ oán ghét. Ấp Chiến Lược chỉ là một ư niệm vay mượn của Mă Lai và Phi Luật Tân nhưng Nhu chỉ làm như thể chính ông ta là người đẻ ra ư niệm ấy. Nh́n nét mặt kiêu căng bệnh hoạn của Nhu ngồi ‘’giảng dậy’’ về Ấp Chiến Lược cho Cán Bộ, người ta cảm thấy tội nghiệp cho kẻ đă say sưa sống trên mây, đă tự ban cho ḿnh cái hào quang vay mượn ở ư niệm của xứ người mà vẫn c̣n dương dương tự đắc. Phần lớn v́ sự kiêu căng bệnh hoạn này của Ngô Đ́nh Nhu mà các Khóa Học về Ấp Chiến Lược đều bị Học Viên coi là khóa ‘’tẩy năo’’.

Mặc dầu có những nhược điểm trên đây nhưng kế hoạch lập Ấp Chiến Lược vẫn làm cho cộng sản lo sợ. Một số Ấp được vơ trang đă cô lập được nhiều tên việt cộng.

Khi nh́n lại t́nh h́nh quân sự ở Nam Việt Nam năm 1961-1962, người ta phải công nhận rằng đó là hai năm thuận lợi cho cuộc chiến chống cộng của Nam Việt Nam. Lúc ấy,  Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đang trên đà phục hồi và đạt nhiều thắng lợi trên chiến trường.  Tại nhiều nơi, bọn cộng sản nằm vùng bắt đầu thấy rằng kế hoạch lập Ấp Chiến Lược đe dọa sự tồn tại của chúng hơn cả Chiến Dịch Tố Cộng năm 1959 nữa.

 

 

TRỤC XUẤT KƯ GIẢ BÁO CHÍ

               Người viết sách này luôn luôn kính phục sự hiên ngang của ông Ngô Đ́nh Diệm trong tác phong làm người Lănh Đạo Quốc Gia của ông. Sự hiên ngang ấy được chứng tỏ nhiều lần và càng được chứng tỏ trong vụ Phật Giáo miền Trung năm 1963. Bọn nhà báo truyền h́nh Mỹ thù ghét ông v́ ông đă dậy cho chúng một bài học về sự lễ độ đối với người Cầm Đầu của một Quốc Gia. Bọn ấy tuy thù ghét ông ta, nhưng chắc chắn là chúng không thể coi thường ông ta như chúng đă quen coi thường người lănh đạo của nhiều Nước nhược tiểu lệ thuộc vào viện trợ của nước Mỹ.

            Người ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều tờ báo lớn của Mỹ, nhất là tờ New York Times và Hăng thông tấn Accociated Press hằn học hàng ngày chỉ trích thậm tệ và cay cú bôi bẩn Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm. Bọn ấy chỉ trích quá lố đến nỗi một tác giả lương thiện của nước Mỹ là Richard Tregakis phải lên tiếng than rằng ‘’Kennedy chịu ảnh hưởng của tờ New York Times qua David Halberstam nhiều hơn ảnh hưởng của bất cứ một giới chức nào trong chính quyền Mỹ. ’’(Vietnam Crisis, trang 125)

            Trước thái độ thù nghịch phi lư ấy của bọn báo chí Mỹ, ông Diệm không c̣n cách nào khác hơn là bảo vệ danh dự của người Lănh Đạo Việt Nam Cộng Ḥa. Đó là điều tối thiểu mà ông ta phải làm, nếu không muốn bị chính người dân Việt coi thường. Nhiều tên kư giả thù nghịch với Nam Việt Nam bị trục xuất. Bị trục xuất rồi, bọn ấy lại càng thù nghịch hơn, càng phá hoại nhiều hơn nữa.

            Thái độ thù nghịch ấy phơi ra ánh sáng căn bệnh tệ hại trầm trọng mà bọn làm báo và viết báo ở bất cứ chân trời nào cũng mắc phải. Nếu có khác nhau th́ chỉ là ở mức độ cao và thấp. Căn bệnh ấy là sự hống hách và sa đọa của bọn kư giả, nhất là những tên kư giả có đôi chút danh tiếng. Trong khi tự phong cho ḿnh cái vai tṛ ‘’điều tra’’th́ những tên kư giả ấy thường chờ đợi những người Lănh Đạo Quốc Gia, những người làm chính trị tỏ vẻ sợ hăi và phải o bế chúng. Không thiếu ǵ chánh khách v́ quá sợ bị chúng xuyên tạc và bôi bẩn nên đă phải lo lót chúng bằng ân huệ và bằng sự sợ sệt, nhiều khi khúm núm trước mặt bọn chúng nữa. Bọn nhà báo dám xấc láo như vậy chỉ v́ từ lâu nay, chúng quen chửi bới và vu cáo những người khác, nhưng đến khi chính bọn chúng phạm tội th́ không bao giờ chúng có sự lương thiện tối thiểu để tự thú nhận. Rất ít khi thấy có trường hợp một tờ báo lớn của Tây Phương phanh phui tội lỗi của bọn kư giả ở một tờ báo khác làm bậy, làm nhục thanh danh của người cầm bút.

            Ngày 18.2.1963, khi phái viên của Tuần Báo Mỹ US News & World Report tại Sài G̣n hỏi ông Diệm tại sao ông trục xuất nhiều kư giả ngoại quốc như vậy, ông Diệm b́nh thảm trả lời: ‘’Họ đă ngang nhiên nhục mạ và bôi bẩn chúng tôi, trong khi chúng tôi đang theo đuổi một cuộc chiến quyết liệt cho sự sống c̣n và cho sự bảo vệ một vùng biên giới sinh tử của Thế Giới Tự Do. ’’

            Sự hằn học của báo chí Mỹ đối với Chính Quyền Diệm càng ngày càng tệ hại, nhất là từ khi bùng nổ cuộc khủng hoảng về Tôn Giáo do bọn Trí Quang gây ra, đến nỗi Linh Mục De Jaegher phải nói thẳng vào mặt tên Malcolm Browne là kẻ được coi là ‘’hung thần’’ của Hăng Accociated Press tại Sài G̣n: ‘’Quư vị đang bóp méo sự thật trong vụ Phật Giáo. Nếu cứ tiếp tục, quư vị có thể hạ được ông Diệm. Quư vị có sức mạnh để làm được việc ấy. Nhưng nếu làm điều ấy rồi th́ nhiều thanh niên Mỹ sẽ phải tới Việt Nam để thay thế và những thanh niên ấy sẽ chết tại Việt Nam. ’’ (Vietnam Crisis trang 104).

            Lời cảnh cáo của Linh Mục De Jaegher cũng là lời tiên tri được nghiệm rất đúng sau khi ông Diện bị hạ sát.

               Phải chờ măi tới sau năm 1975, thế giới bên ngoài mới t́m được giải đáp cho thái độ thù nghịch đến phi lư của bọn báo chí Mỹ. Đó là sự tiết lộ động trời của ông Denis Warner,  một Nhà Báo lăo thành quốc tịch Úc và là người đă theo sát chính trị của Đông Nam Á từ năm 1945. Bí ẩn về sự thù nghịch kia được làm sáng tỏ, khi ông Warner cho biết rằng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cộng sản quốc tế đă dùng một ngân khoảng không giới hạn để tài trợ mặt trận tuyên truyền. Ngân khoảng ấy được mở tại một trương mục mang số 5210-10-045-34 thuộc Ngân Hàng Skandinaviska Banken ở Thủ Đô Stokholm của Thủy Điển. Trương mục này xuất tiền cho những kẻ chửi thuê, khen mướn theo chỉ thị của cộng sản quốc tế, với mục đích tối hậu là làm cho nước Mỹ bỏ cuộc tại Việt Nam (Denis Warner, ‘’Not With Guns Alone: How Hanoi Won The War’’ Hutchinson Group of Australia 1977, trang 183).

            Một tháng sau khi ông Diệm bị hạ sát, tên David Halberstam của báo New York Times và tên Malcolm Browne của Hăng thông tấn Associated Press nhận lănh giải thưởng báo chí Pulitzer v́ đă có công ‘’xuất sắc tường tŕnh về cuộc khủng hoảng Phật Giáo tại Nam Việt Nam.’’. Trước cảnh lănh giải thưởng vô liêm sỉ ấy, Tướng hồi hưu của Quân Lực Mỹ là Thomas A. Lane viết trong cuốn sách về sự nghiệp của Tổng Thống Kennedy rằng: ‘’giải thưởng ấy nên được trao tặng tại Điện Cẩm Linh của đế quốc Xô viết và trước sự dàn chào của hồng quân Nga. ’’.

CHÍNH PHỦ MỸ VÀ CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM

               Ông Diệm chết nhưng chết v́ sự phản bội của Đồng Minh Mỹ. Sự phản bội ấy chỉ được hoàn thành sau khi người Mỹ thuê mướn được một đám Tướng lănh của Nam Việt Nam cúi mặt làm cái việc hèn hạ nhất là ‘’giết mướn’’ người lănh đạo hợp pháp duy nhất của miền Nam tự do.

Sau khi ông Diệm chết, chính quyền Kennedy nhiều lần cố gắng thanh minh với Thế Giới rằng nước Mỹ không dính líu ǵ tới vụ giết ông Diệm, nhưng những lời thanh minh ấy không thuyết phục được Thế Giới bên ngoài. Thế Giới ấy gần như nhất trí với nhau trong ư nghĩ là quả thật nước Mỹ đă đối xử thiếu văn minh với một đồng minh nhỏ bé của ḿnh trong lúc Đồng Minh ấy phải đương đầu với những khó khăn ghê gớm trong nội bộ. Chung cuộc,  Quốc Hội của nước Mỹ đă định lượng thế nào về cách đối xử tiểu nhân ấy ?

            Thoạt đầu, cái Quốc Hội ấy ngập ngừng, chưa biết phải lên tiếng ra sao. Nhưng rồi trước sự soi mói của thế giới, Quốc Hội ấy đành phải lên tiếng. Hai Nghị Sĩ có tiếng nói mạnh của Quốc Hội Mỹ là William Fulbright và Everett Dirksen nói rằng ‘’Quyết định hạ sát ông Diệm là một sự sai lầm. ’’

            Ngày 3 tháng 1 năm 1965, Nghị Sĩ Mike Mansfield tuyên bố với hai Tác giả Stephen Pan và Daniel Lyons: ‘’Chúng tôi đă đền tội v́ đă loại trừ ông Diệm. ’’. Rồi đến ngày 26.1.1966, cũng Nghị Sĩ ấy lại nói với hai Tác giả kể trên rằng ‘’...Lỗi lầm tồi tệ nhất của chúng tôi là đă hạ sát ông Diệm. ’’ (Vietnam Crisis, trang 133).

            Tài liệu của Ngũ Giác Đài phổ biến về sau này c̣n ghi rơ hơn nữa về trách nhiệm không thể chối căi được của nước Mỹ trong sự bức tử người Lănh Đạo Việt Nam Cộng Ḥa.  Tài liệu ấy viết:

            ‘’Về cuộc đảo chính quân sự chống lại Ngô Đ́nh Diệm, nước Mỹ phải nhận hoàn toàn trách nhiệm của ḿnh trong đó. Từ đầu tháng 8 năm 1963, chúng ta đă lần lượt, khi th́ cho phép, khi th́ cản lại, khi th́ khuyến khích đám Tướng lănh Nam Việt Nam và đề nghị sẽ hoàn toàn ủng hộ một chính phủ thay thế. Đến tháng 10, chúng ta cắt viện trợ để làm áp lực  trực tiếp vào Diệm, do đó chúng ta bật đèn xanh cho đám Tướng lănh. Chúng ta lén lút duy tŕ liên lạc với đám Tướng lănh ấy, tán thành việc lập kế hoạch và sự thi hành cuộc đảo chính ấy, duyệt xét các kế hoạch của họ và đề nghị một chính phủ mới. Vậy triều đại chín năm của Ngô Đ́nh Diệm chấm dứt bằng một sự kết thúc đẫm máu. Sự đồng lơa của chúng ta trong việc lật đổ ông ta làm tăng trách nhiệm của chúng ta vào một nước Việt Nam không có lănh đạo nữa.’’ (The Pentagon Papers, Senator Gravel Edition 1975, Volume II, trang 207).

            Sau khi tuyên thệ thay thế ông Kennedy bị ám sát ba tuần sau cái chết của ông Diệm,  Tân Tổng Thống Mỹ Lyndon B. Johnson tâm sự với báo chí Mỹ về cái chết của ông Diệm: ‘’Việc giết ông Diệm là một trong các thảm kịch lớn nhất của thời đại chúng ta.’’ (Vietnam Crisis trang 133).

William Colby, trùm CIA của Mỹ th́ nói thẳng ra cái trách nhiệm của nước Mỹ về cái chết của ông Diệm: ‘’Đây là một cuộc đảo chính của Tướng lănh Nam Việt Nam đúng thế,  nhưng tôi nghĩ rằng những điều căn bản của cuộc đảo chính ấy đă được định đoạt tại Bạch Cung của chúng ta.’’ (Michael Mc. Lear, ‘’The Ten Thousand Day War’’ St. Martin Press, New York 1981, trang 66).

            Trong tác phẩm vừa được viện dẫn, trùm CIA Colby c̣n nêu rơ cái khoảng trống lănh đạo bi thảm chắc chắn sẽ diễn ra khi ông Diệm không c̣n Lănh Đạo Nam Việt Nam nữa.  Colby ghi rằng trong suốt năm 1963, nói đúng hơn là cho tới ngày ông Diệm bị hạ sát, các Cố Vấn của Kennedy chia làm hai phe, với hai chủ trương khác nhau. Một phe cho rằng nước Mỹ sẽ không thể thắng nổi nếu c̣n ủng hộ Chính Quyền Diệm. Phe kia th́ chủ trương phải thay thế ông Diệm. Cố vấn quân sự cao nhất của Kennedy lúc ấy là Tướng Maxwell Taylor tuy không ngă hẳn về phe nào, nhưng ông ta đă làm một việc rất thiết thực là đặt câu hỏi then chốt cho cả hai phe: ‘’Có thể chúng ta không thắng được với sự ủng hộ Diệm, nhưng nếu không có Diệm th́ có ai ?’’Sau câu hỏi đó, chỉ có một sự im lặng nặng nề tiếp theo.

            Trên Tuần báo Mỹ Time đề ngày 1.1.1965, B́nh Luận Gia Joseph Alsop đưa ra lời phê b́nh nghiêm khắc nhất nhắm vào những kẻ đă hung hăn chỉ trích Chính Quyền Diệm: ‘’Gần giống như là sự ngu xuẩn một cách hài hước khi người ta đ̣i tổ chức một Chính Phủ ở Việt Nam để làm vừa ḷng những kẻ viết b́nh luận cho báo chí Mỹ, là những kẻ không hiểu biết ǵ về Á Châu và những kẻ ấy lại luôn luôn quên rằng nếu thay thế th́ chỉ c̣n có chủ nghĩa cộng sản hung ác cho Á Châu. Chẳng c̣n cách nào khác hơn là phải đối phó với chiến tranh trước đă, rồi sau hăy nói tới các vẫn đề chính trị. Đối phó với chiến tranh là con đường duy nhất để tạo các điều kiện thiết yếu cho một chính phủ tương đối ổn định. Chính phủ bất ổn chính v́ chiến tranh diễn ra tồi tệ. ’’

            Chín tuần sau khi Alsop viết bài b́nh luận trên đây th́ Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Hải Cảng Đà Nẵng, mở đường cho cuộc đổ bộ trên nửa triệu Quân Mỹ vào Nam Việt Nam.

               Từ đây trở về sau, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa sẽ phải chiến đấu trong hoàn cảnh và khung cảnh khó hơn thời Ngô Đ́nh Diệm rất nhiều, họ sẽ phải tự t́m lại khí giới tinh thần để giúp họ giữ vững ngọn lửa hăng say và quyết liệt chống cộng. Chỉ mới vài tháng sau cái chết của ông Diệm, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă sớm thấy rơ tầm vóc cái khoảng trống lănh đạo vô cùng tai hại đang chờ đợi họ trước mặt.

***

Khi nằm xuống, ông Diệm đă mang theo cùng với ông ba điều căn bản thiết yếu để được Cộng Đồng Quốc Tế kinh nể là:

CHÍNH NGHĨA, CHÍNH DANH VÀ CHÍNH THỐNG

               Những kẻ thù ghét ông Diệm muốn nói ǵ th́ nói, nhưng chúng không thể chối căi rằng chỉ có ông Ngô Đ́nh Diệm mới có uy tín quốc tế  để phá vỡ huyền thoại Hồ chí Minh

Chỉ cần đặt một câu hỏi, một câu hỏi thôi: Sau khi bọn Tướng lănh của Nam Việt Nam nhận lệnh của quan thấy Mỹ để hạ sát ông Diệm một cách hèn nhát th́ sau đó, miền Nam Việt Nam được lănh đạo như thế nào và chung cuộc số phận của miền Nam Việt Nam tự do ra sao?

PHẠM KIM VINH

 

TÀI LIỆU LỊCH SỬ

VẤN ĐỀ NGÔ Đ̀NH DIỆM ĐƯỢC CỬ LÀM THỦ TƯỚNG

HOÀNG NGỌC THÀNH

THÂN THỊ NHÂN ĐỨC

            Có nhiều luận điệu nói về vấn đề ông Bảo Đại chọn ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng. Một số người Việt và một số nhà báo, hay tác giả Tây phương cho rằng ông Diệm là người của Hoa Kỳ và nước này dùng áp lực buộc Pháp và Bảo Đại đưa ông ra cầm quyền, chứ có ǵ lạ đâu? Hay Hồng Y Spellman, Tổng Giám Mục Nữ Ước và giới Công Giáo Mỹ hợp sức với Ṭa Thánh Vatican vận động với chính phủ Mỹ và đảng Phong Trào Cộng Ḥa B́nh Dân thân Công Giáo tại Pháp ủng hộ ông Diệm. Ngay cả tài liệu mật của Ngũ Giác Đài cũng không nói đúng về vấn đề này. Sự kiện lịch sử không xảy đến một cách đơn giản, như quan điểm chủ quan hay hời hợt của một số người, ủng hộ hay chống đối, ưa thích hay ganh ghét ông Diệm.

Trước t́nh thế quân sự, nội trị và đối ngoại năm 1954, có ai chịu ra làm Thủ Tướng của cái gọi là Quốc Gia Việt Nam không? Pháp bại trận, suy yếu v́ chiến tranh và c̣n phải đối phó với các thuộc địa tại Phi Châu đang nổi dậy. Lănh thổ Quốc Gia Việt Nam gồm những vùng Pháp kiểm soát và các nơi lâu nay dưới quyền chính phủ Hồ chí Minh và đảng cộng sản. Các vùng dưới quyền Pháp mục nát và hỗn loạn, trong khi đảng cộng sản vẫn duy tŕ một thứ chính quyền trong bóng tối, c̣n các vùng lâu nay dưới quyền họ vẫn c̣n các cán bộ ‘’nằm vùng hay ‘’đổi vùng’’. Như thế Quốc Gia Việt Nam có thể tồn tại được không? Ông Hồ chí Minh với đảng cộng sản có tổ chức và kỷ luật, cơ sở với cán bộ trung kiêng, đầy kinh nghiệm tranh đấu và quân đội kháng chiến đă chiến thắng đang chờ thôn tính luôn miền Nam, với cuộc tổng tuyển cử dự trù năm 1956 trong Bản Tuyên Ngôn của Hiệp Định Genève.

Không có một bằng chứng nào cho thấy Hồng Y Spellman, Công Giáo Mỹ, Công Giáo Pháp, đảng phái chính trị nào tại Pháp hay Ṭa Thánh Vatican vận động với chính phủ Mỹ, hay với chính phủ Pháp hay với ông Bảo Đại để ông Ngô Đ́nh Diệm được cử làm Thủ Tướng cả. Chính phủ Mỹ của Tổng Thống Eisenhower và Ngoại Trưởng John Foster Dulles không đặt vấn đề ǵ với chính phủ Pháp hay Quốc Trưởng Bảo Đại về chức vụ Thủ Tướng trong khi Hội nghị Genève nhóm họp và sau đấy cả. Về phần người Pháp, họ không quan tâm đến việc ai làm Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam, họ thờ ơ với vấn đề này. Họ không ưa ǵ ông Diệm, nhưng họ không cần ǵ chống đối ông lúc ban đầu, v́ tất cả quyền hành quân sự, kinh tế, chính trị tại miền Nam đều nằm trong tay họ cả mà. Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm sẽ làm được ǵ? Nước Pháp đă bại trận nay c̣n phải lo các thuộc địa Bắc Phi đang nổi dậy miền Nam có hy vọng tồn tại lâu dài được không? Hồ chí Minh sẽ thắng cử năm 1956 và cộng sản sẽ làm chủ miền Nam là lẽ chắc.

Nhiều nhà báo và học giả Tây phương sau này lên tiếng chỉ trích Chính Quyền ông Ngô Đ́nh Diệm và cả cá nhân ông, cũng thừa nhận rằng chẳng có cá nhân, tôn giáo, đảng phái hay chính phủ nào vận động đưa ông Diệm ra làm Thủ Tướng cả. Ông Ngô Đ́nh Diệm ra cầm quyền được v́ ông là một người yêu nước, dù là quan lại, lâu nay mơ ước đem lại độc lập và tự do cho dân tộc, để khỏi bị thực dân và cộng sản áp bức và bóc lột. Lâu nay ông không bị tai tiếng ǵ cả, ông từ quan, không cộng tác với Pháp nữa và cũng không dính líu đến Nhật, dù ông có nhờ Nhật bảo vệ chống truy nă của Pháp. Ông bác bỏ lời tham gia chính phủ cộng sản Hồ chí Minh. Ông có uy tín là liêm khiết, trong sạch. Trong giai đoạn 1949-1953, ông Diệm có sự khôn ngoan chính trị là hai lần từ chối lời mời của Bảo Đại ra lập nội các. Nếu ông ra làm Thủ Tướng lúc bấy giờ, chắc chắn là ông bị thất bại v́ không thực lực để chống cả cộng sản và thực dân Pháp. Nhưng khi chính thức cầm quyền ngày 7.7.1954, ông Ngô Đ́nh Diệm nắm được thời cơ, ra cầm quyền đúng lúc, t́nh h́nh quốc tế thuận lợi dù c̣n có những trở ngại lớn lao.

Một trí thức Thiên Chúa Giáo, Luật Sư Nguyễn Văn Chức đă phân tích và tŕnh bày khá đầy đủ và công tâm về vụ ông Ngô Đ́nh Diệm được cử làm Thủ Tướng trong tác phẩm ‘’Việt Nam Chính Sử’’ của ông (trang 35-41).

Chương này xin trích dẫn lại một số tác giả Tây phương và những lời phát biểu mới nhất của ông Bảo Đại về vấn đề này. Trước hết ông Denis Warner, một trong số tác giả chỉ trích chế độ, đă viết như sau:

            ‘’Quyết định mời ông làm Thủ Tướng miền Nam Việt Nam trước hết về căn bản là của Bảo Đại, chứ không phải là ư kiến của Cố Ngoại Trưởng Foster Dulles như một vài tác giả đă gợi ư. Không giống như Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas, người một hai năm trước đây đă viết sách ca tụng ông Diệm là người được dân Việt Nam sùng kính, Bộ Ngoại Giao Mỹ lúc ấy cũng không cần gây áp lực. Nhóm cận thần Pháp của Bảo Đại trước đó đă từng ‘’nhảy dù’’ xuống Sài G̣n để vơ vét làm giàu, nhân danh chiêu bài độc lập giả tạo, v́ vậy họ đă hủy diệt uy tín của họ rồi. Chỉ c̣n hai giải pháp: Hoặc là sắp xếp lũ con buôn nhơ nhớp đó, hoặc là mời Diệm và Bảo Đại đă chọn Diệm, bất chấp lời khuyên can của bạn hữu.  Thật ra quyền lựa chọn của Bảo Đại rất hẹp. Như Diệm đă từng thẳng thắn nh́n nhận, lúc đó không có ai ra tranh với Diệm. Nhưng đấy là sự thật bởi v́ ngoài Diệm ra, không có ai muốn đứng ra gánh vác...’’

Hoa Kỳ không tiến cử ông Diệm làm Thủ Tướng nhưng Ngoại Trưởng John Foster Dulles không phản đối, v́ ông biết ông Diệm theo Công Giáo và tích cực chống cộng sản qua sự quen biết với Hồng Y Spellman Tổng Giám Mục New York. Nhưng ban đầu, người Mỹ vẫn chưa chấp nhận ông Diệm. Sau này, có lúc muốn t́m người khác thay thế ông nữa, họ chỉ ủng hộ lại ông Diệm sau khi thấy ông thành công.

Một tác giả khác, Stanley Karnow, trong quyển ‘’Vietnam a history’’ thiên Hà Nội,  chống phe Quốc Gia và ông Diệm, đă phát biểu như sau:

            ‘’Khi cuộc đàm phán tại Genève gần kết thúc, Bảo Đại mới ư thức rằng sinh mệnh chính trị của ông treo mỏng manh như sợi tóc, ông ta bèn mời ông Diệm đến. Người ăn chơi và nhà đạo đức không thích hợp nhau, nhưng vẫn có ư dùng nhau. Diệm coi Bảo Đại là con đường đưa đến chính quyền. C̣n Bảo Đại nh́n thấy hai cái lợi của Diệm. Thứ nhất Ngô Đ́nh Nhu, em ruột Diệm, đă thành lập được Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc ở Sài G̣n, một cơ cấu có thể chấp nhận như là một liên minh chính trị. Thứ hai Bảo Đại nghĩ rằng Diệm đă từng ở Hoa Kỳ, sẽ đưa được Mỹ vào chính t́nh h́nh Việt Nam để thay thế người Pháp mà sự có mặt sẽ chấm dứt trong những ngày gần đây. Nhưng trái lại với chuyện hoang đường cho rằng Ngoại Trưởng Foster Dulles, Hồng Y Spellman và nhiều người Mỹ khác vận động cho Diệm lên cầm quyền, Hoa Kỳ lúc ấy vẫn chưa chấp nhận Diệm. Quả vậy các Nhà Ngoại Giao Mỹ tại Genève đă từ chối khéo ông Luyện, em ông Diệm, khi ông thúc đẩy họ tiếp kiến ông Diệm. ’’

Một người Mỹ gốc Áo, ông Joseph Buttinger, đă viết nhiều sách lịch sử Việt Nam. Ông này đă từng đến Sài G̣n và tích cực ủng hộ ông Diệm. Nhưng về sau ông thay đổi và chống lại ông Diệm. Ông Joseph Buttinger cho rằng ngay cả những người Việt, cộng tác với Pháp và ghét ông Diệm hầu như cũng không chống đối việc cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Lúc bấy giờ nhiều người, có thể là Bảo Đại nữa, nghĩ rằng một hiệp định sẽ được kư kết, miền Nam là phần chia cắt của một nước, đâu c̣n có tinh thần chiến đấu để tồn tại. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ có điên khùng mới đứng ra gánh vác và kẻ ấy chắc chắn sẽ chuốc lấy thảm bại về chính trị. Đây là số kiếp mà họ đều cầu mong cho ông Ngô Đ́nh Diệm gặp phải và ông Joseph Buttinger kết luận:

‘’Sự việc c̣n đấy, những kẻ khởi xướng Việt cũng như Pháp, cũng như Công Giáo,  cũng như Hoa Kỳ, không ai dọn đường cho Diệm lên cầm quyền. Diệm được đặt vào ghế Thủ Tướng là do những biến cố dồn dập của thời cuộc lúc đó. ’’

Để kết thúc vấn đề ông Diệm được cử làm Thủ Tướng, xin trích dẫn lời của người đă cử ông Diệm vào chức vụ Thủ Tướng, tức Quốc Trưởng Bảo Đại. Trong hồi kư ‘’Le Dragon d’Annam’’ do Plon tại Paris xuất bản năm 1980, ông Bảo Đại tŕnh bày t́nh h́nh chính trị và những lư do cá nhân khiến ông mời ông Diệm làm Thủ Tướng với toàn quyền dân sự và quân sự:

‘’Chúng tôi không c̣n có thể trông cậy vào người Pháp được nữa. Tại bàn hội nghị Genève,  chỉ c̣n người Mỹ là đồng minh của chúng ta. Trước t́nh thế đang biến chuyển, họ muốn dựng nên một hệ thống pḥng thủ mới tại Đông Nam Á. Họ có thể giúp chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đầu chống cộng sản. Tại Sài G̣n Thủ Tướng chính phủ gặp phải sự chống đối mănh liệt của những thành phần quốc gia được kết hợp lại trong Phong Trào Đoàn Kết Quốc Gia do Ngô Đ́nh Nhu lănh đạo. Những thành phần này tiên thiên chống lại những quyết định sẽ được đạt đến tại Genéve. Tôi bèn triệu tập đến Cannes lănh tụ của tất cả xu hướng chính trị và tôn giáo của Việt Nam để tham khảo ư kiến. Tôi giải thích cho họ những ǵ sẽ xảy ra, tôi cho họ biết tất cả đă được sắp xếp, kể cả việc phân chia đất nước. Tôi gợi ra sự cần thiết phải đem lại cho đất nước Việt Nam một hướng đi rơ rệt hơn và đề nghị thay thế Hoàng Thân Bửu Lộc trong chức vụ Thủ Tướng bởi ông Ngô Đ́nh Diệm. Tất cả những người có mặt đă nồng nhiệt chấp thuận đề nghị của tôi’’.

Như thế, ông Bảo Đại cho biết những động lực chính trị thúc đẩy ông mời ông Diệm làm Thủ Tướng là v́ hết trông cậy vào Pháp, v́ chủ trương chống cộng sản của Hoa Kỳ và việc họ sẵn ḷng giúp đỡ người Việt chống cộng sản, cùng phong trào quần chúng của ông Nhu tại Sài G̣n. Các lănh tụ chính trị tôn giáo cũng tán thành nồng nhiệt vụ cử ông Diệm làm Thủ Tướng.

Ông Bảo Đại cũng biết ông Diệm là người khó tính, quốc gia cực đoan, nhưng không có sự lựa chọn nào tốt hơn. Ông Diệm là nhân vật có tầm vóc, ông sẽ được sự ủng hộ của những người có tinh thần quốc gia quyết liệt, họ đă từng làm cho các Thủ Tướng trước như Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc thất bại trong chức vụ của họ. Ông Diệm là người của t́nh thế.

Luật Sư Nguyễn Văn Chức, một lần nữa, trong sách ‘’Việt Nam Chính Sử’’ đă t́m hiểu đầy đủ sự thật về vấn đề ông Diệm được cử làm Thủ Tướng trong tháng 6.1954. Ông cũng bác bỏ sự xuyên tạc của một số tác giả như Hilaira du Berrier nói rằng ông Diệm thề trung thành với Bảo Đại và nhận ngân phiếu một triệu đồng. Ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá Công Giáo bảo vệ lănh thổ chống cộng và nếu cần chống cả người Pháp nữa và sau đấy nhận Đạo Chỉ Dụ ban toàn quyền hành động về quân sự và dân sự.

Tài liệu mật Ngũ giác Đài, ấn bản Gravel, Quyển IV, trang 174 cũng sai lầm khi nói Bảo Đại bị Pháp và Hoa Kỳ thúc đẩy cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Hoàn toàn không có sự thúc đẩy hay áp lực nào của Pháp và Hoa Kỳ về vấn đề này cả.

Tóm lại, Bảo Đại cử ông Diệm làm Thủ Tướng là do những tính toán chính trị của ông về thời cuộc, c̣n ông Diệm nắm được thời cơ ra cầm quyền đúng lúc.

Người Mỹ đến Việt Nam trong Thế Kỷ thứ 19 v́ ngoại thương, trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) v́ chiến tranh với Nhật Bản, rồi sau đấy can thiệp vào nội t́nh Việt Nam v́ nền an ninh chiến lược của họ. Sự thật là đến tháng 6.1954, các chính đảng và nhân vật quốc gia kể cả ông Ngô Đ́nh Diệm đều thất bại trong việc giành quyền lănh đạo dân tộc với Hồ chí Minh và đảng cộng sản. Nay đất nước bị chia đôi, miền Bắc dưới quyền ông Hồ chí Minh và đảng cộng sản, c̣n Pháp nắm giữ chủ quyền tại miền Nam dù trên h́nh thức Quốc Gia Việt Nam dưới quyền Bảo Đại là ‘’độc lập’’. Hoa Kỳ cần một lănh tụ Việt có khả năng xây dựng miền Nam thành một Tiền Đồn ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản. Trong khi ấy, ông Ngô Đ́nh Diệm cũng cần sự ủng hộ và viện trợ của Hoa Kỳ mới giành lại được chủ quyền dân tộc tại miền Nam từ tay người Pháp. Quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi của Lănh Tụ Quốc Gia Ngô Đ́nh Diệm cùng với đại đa số người Việt không muốn sống dưới chế độ cộng sản trùng hợp với nhau. Hai bên cộng tác với nhau, cùng làm đồng minh trong một giai đoạn.

Mới đây, trong tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn số 104 tháng 9.1992, xuất bản tại Burke,  Virginia, một kư giả ông Phan Văn Trường, đă ghi lại câu hỏi và những điều ông Bảo Đại trả lời về vấn đề cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Câu hỏi:

- Tại sao Ngài lại trao quyền cho ông Ngô Đ́nh Diệm để rồi bị ông ấy lật Ngài?

Ông Bảo Đại trả lời ngay:

            - Ông Diệm là người tôi tín nhiệm. Lúc đó thế lực của Pháp đă thất bại. Phía cộng sản đă được Liên sô tích cực ủng hộ về mọi mặt, nên tôi khuyên ông Diệm nên t́m sự ủng hộ của Mỹ để ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Việc ông ta lật đổ tôi là do sức ép của chính trị. Ông Diệm là người yêu nước, lúc trao quyền tôi có yêu cầu ông ấy cam kết với tôi hai điều trước bàn thờ Chúa và ông rất mộ đạo, là phải giữ miền Nam và nếu ông không làm được sứ mạng ấy th́ phải trao trả quyền cho tôi. Nhưng rồi ông ta chết khi thi hành nhiệm vụ. Dù sao ông ta cũng cố sức giữ những lời cam kết ấy mà không được.

Trước kia ông Bảo Đại đả kích dữ dội ông Ngô Đ́nh Diệm, nhất là sau khi bị truất phế năm 1955. Nay ông Bảo Đại bày tỏ sự kính nể đối với ông Ngô Đ́nh Diệm, 38 năm sau khi bị truất phế và độ hơn 30 năm sau ngày ông Diệm bị ám sát. Bảo Đại thừa nhận ông Diệm là người yêu nước, cố sức giữ vững miền Nam và chết khi thi hành nhiệm vụ.

Quả vậy, để giữ vững miền Nam chống cộng sản, trước hết ông Ngô Đ́nh Diệm phải giành lại chủ quyền từ tay thực dân Pháp.

Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang 53-61.

***

THỦ TƯỚNG NGÔ Đ̀NH DIỆM GIÀNH LẠI CHỦ QUYỀN TỪ THỰC DÂN PHÁP

THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN

            Ông Ngô Đ́nh Diệm được Bảo Đại mời làm Thủ Tướng với toàn quyền dân sự và quân sự ngày 16.6.1954. Ba ngày sau, ông nhận lời. Độ 5 ngày nữa, tức là ngày 24.6.1954,  ông đáp phi cơ hăng Air France rời Ba Lê và hai ngày sau đến Sài G̣n. Cùng đi với ông, có người em trai là Ngô Đ́nh Luyện, ông Trần Chánh Thành, ông Nguyễn Văn Thoại, một Giáo Sư Đại Học tại Pháp, h́nh như là em chồng bà Nguyễn Văn Lễ tức bà Cả Lễ, em ruột ông Diệm. T́nh cờ cô Thân Thị Hoàng, một cô em ruột của một trong hai người soạn tài liệu này,  cũng đáp chuyến máy bay này về Sài G̣n sau khi học xong thống kê tại Paris. Do có bà con với ông Trần Chánh Thành về phía bên ngoại, cô Hoàng được giới thiệu với ông Diệm và Phái Đoàn. Ông Diệm và các ông Luyện, Thành, Thoại đều vui vẻ hân hoan ra mặt. Ngày 26.6.1954, phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Ngoài số người đón tiếp tại phi trường, nhiều nhóm dân nhân chứng Đại Tá Edward Lansdale thuận lại, chứ không phải họ tránh né như ông Joseph Buttinger đă viết. Nhưng đoàn xe chở Thủ Tướng Diệm chạy nhanh làm dân chúng không thấy rơ mặt Thủ Tướng, theo nhận xét của Đại Tá Lansdale. Ngày hôm sau, Đại Tá Lansdale đến Dinh Gia Long gặp Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Cuộc tiếp xúc đầu tiên này mở đầu sự cộng tác chặt chẽ giữa ông Diệm và chính quyền Mỹ lúc bấy giờ, trong những tháng đầu sau Hiệp Định Genève tháng 7.1954.

            Trong giai đoạn này, nếu Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm tiêu biểu cho phe Quốc Gia Việt Nam cần sự ủng hộ của Hoa Kỳ để giành lại chủ quyền từ tay thực dân Pháp, th́ Hoa Kỳ cũng cần ông Ngô Đ́nh Diệm để thiết lập một chính quyền vững mạnh tại miền Nam, để làm Tiền Đồn chống cộng sản tại Đông Nam Á, có lợi cho nền an ninh chiến lược của Hoa Kỳ.

Chương này tŕnh bày thực trạng của Quốc Gia Việt Nam dưới quyền Quốc Trưởng Bảo Đại, những thử thách mà Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm phải đối phó, từ Tướng Nguyễn Văn Hinh đến B́nh Xuyên và các Giáo Phái trong năm 1954, trong khi lấy lại dần chủ quyền trong các lănh vực sinh hoạt của xứ sở từ tay thực dân Pháp.

Về Sài G̣n vài hôm, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thấy rằng Đạo Chỉ Dụ ban cho ông toàn quyền dân sự và quân sự không có giá trị ǵ cả. Ông chỉ có quyền với 12 người Cảnh Sát thay phiên nhau canh gác Dinh Gia Long. V́ sao vậy? Quốc Trưởng Bảo Đại và các nội các trước đă làm ǵ? Lâu nay Quốc Trưởng Bảo Đại có guồng máy dân sự và quân sự cai trị Quốc Gia Việt Nam không?

Trước hết, xin nói về Quốc Trưởng Bảo Đại. Cuộc sống của Quốc Trưởng Bảo Đại khác xa thời ông ở Côn Minh hay Hương Cảng. Pháp trả lương cho ông mỗi tháng 350.000 mỹ kim tức mỗi năm 4 triệu mỹ kim. Ông có 4 phi cơ và gởi những món tiền khổng lồ tại các ngân hàng Pháp và Thụy Sĩ. Ông làm chủ nhiều bất động sản tại Pháp và xứ Maroc ở Bắc Phi Châu. Bảo Đại cũng nhận tiền do ṣng bạc Đại Thế Giới cung cấp. Ṣng bạc này được Cao Ủy Pháp, Linh Mục Đô Đốc Thierry d’Argenlieu cho phép mở trong năm 1946, mặc dầu Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh cầm đầu chính phủ bù nh́n Nam Kỳ tự trị phản đối. Một số người Hoa ở Chợ Lớn đấu thầu được hai năm đầu. Nhưng sau đấy, người Hoa từ Áo Môn sang tranh thầu được, v́ họ chịu trả 400.000 đồng một ngày thay v́ 200.000 đồng. Những người này, một mặt trả thuế cho phe kháng chiến để khỏi bị phá hoại, mặt khác mở rộng và canh tân ṣng bạc với các hồ lỳ trẻ ăn mặc sang trọng, ca sĩ Việt-Hoa, vũ nữ, gái điếm hạng sang và nhân viên bảo vệ. Đến năm 1950, Bảo Đại can thiệp vào vụ đấu thầu. Ông Nguyễn Văn Viễn tức Bảy Viễn cầm đầu phe B́nh Xuyên lâu nay được người Pháp trả lương và ngự trị vùng Chợ Lớn, trúng thầu với sự hỗ trợ của Quốc Trưởng Bảo Đại. Bảy Viễn chịu trả mỗi ngày 100.000 đồng cho Bảo Đại, số tiền cũng như vậy cho Bà Từ Cung, mẹ Bảo Đại, 10.000 đồng cho ông Nguyễn Đệ, Bí Thư của Bảo Đại và 10.000 đồng cho một nhân vật không nêu tên (trong tài liệu của Cao Ủy Pháp).

Tại vùng Sài G̣n-Chợ Lớn, Bảy Viễn không những chỉ làm chủ các ṣng bạc Đại Thế Giới và Kim Chung mà có thể nói là y nắm giữ độc quyền về cờ bạc, y thâu thuế các ṣng bạc nhỏ khác, y cũng làm chủ hay thâu thuế các nhà điếm như nhà thổ b́nh khang ở Vườn Lài, y độc quyền mua bán thuốc phiện đưa từ Lào về, ăn chia với một số người Pháp gốc Đảo Corse.  Bảy Viễn cũng kiểm soát đường bộ Sài G̣n-Vũng Tàu, đường thủy Sài G̣n-Rừng Sát, thâu thuế việc mua bán củi và than, ḅ và heo và cả ḷ heo Chánh Hưng nữa. Phe B́nh Xuyên mở rộng sự kiểm soát tại vùng Cần Giờ, Cần Giuộc, Cần Đước (G̣ Công) và các toán công an B́nh Xuyên c̣n đứng thâu thuế tại các bến xe ở Vũng Tàu và Đà Lạt nữa. Bảo Đại c̣n cử một người tay chân của Bảy Viễn là ông Lai Văn Sang làm Tổng Giám Đốc Công An và Cảnh Sát Quốc Gia nữa. Tháng 4.1952, Bảo Đại cho Bảy Viễn quân hàm Thiếu Tướng và qua năm sau Pháp thưởng cho người này là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Viễn huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh nữa. Về phần Bảo Đại với vô số tiền, ông chỉ chuyên ăn chơi hưởng lạc. Ông ở Pháp thời gian lâu hơn là ở trong nước. Trước Hiệp định Genève năm 1954, khi nào về nước ông ít khi ở Hà chúng chờ đợi hai bên các con đường mà đoàn xe chở Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đi qua, như Nội hay Sài G̣n lâu, v́ nơi nào Cao Ủy Pháp cũng giành phủ toàn quyền cũ, tượng trưng cho uy quyền tối cao trong nước. Tại Sài G̣n, Bảo Đại chỉ được ở và làm việc tại Dinh Gia Long, c̣n Cao Ủy Pháp làm chủ Dinh Norodon, tức phủ toàn quyền cũ, mà sau này ông Diệm đổi tên là Dinh Độc Lập. Ông Bảo Đại lên Đà Lạt hay đi Ban Mê Thuột, suốt ngày đi săn bắn, chơi các môn thể thao, c̣n đêm th́ đánh bạc và chơi gái. Linh Mục Cao Văn Luận có lần đến tiếp xúc với Bảo Đại vào năm 1948 tại Biệt Điện Cựu Hoàng ở Đà Lạt và ông thuận lại rằng:

‘’Bảo Đại là con người chán chường và thấm mệt... Câu chuyện kéo dài được vài phút th́ Bảo Đại có vẻ mệt nhọc lắm, nằm chuỗi dài ra trên chiếc ghế bành’’. 

Tại Pháp, Bảo Đại say mê cờ bạc, đánh thua những món tiền rất lớn tại các ṣng bạc ở Monte Calo, Tiểu xứ Monaco chẳng hạn và tiền của bất động sản cũng mất dần vào ṣng bạc.  Của phi nghĩa đâu có bền. Các báo chí Âu Mỹ đều gọi Bảo Đại và Cựu Hoàng Farouk của Ai Cập cũng ăn chơi như vậy là ‘’những ông vua của các hộp đêm’’.

Bảo Đại kư kết một số thỏa ước và hiệp ước với Pháp như đă tŕnh bày, tại Vịnh Hạ Long, hiệp định Elysèe năm 1949, và các thỏa ước tại Pau năm 1950. Chính phủ Pháp có tuyên bố nhiều lần trao trả ‘’nền độc lập’’ cho Việt Nam, nhưng người Pháp vẫn nắm giữ mọi quyền hành về quân sự, kinh tế, ngoại giao, tài chánh, hối đoái, quan thuế. Đây chỉ là tṛ hề chính trị. Một chính khách thuộc đảng Xă Hội Pháp, ông Francois Metterand, sau này là Tổng Thống Pháp, đă từng nhận xét rằng từ 1949 đến 1954 Pháp đă trao trả ‘’nền độc lập toàn vẹn’’ cho Việt Nam 18 lần và có phải đến lúc này cần trao trả một lần mà thôi, nhưng là thật sự.

Chính quyền Bảo Đại trở nên một sự che đậy cho Pháp tiếp tục thống trị Việt Nam.  Chính Bảo Đại cũng thừa nhận rằng giải pháp Bảo Đại không giải quyết được ǵ cả, không phục vụ quyền lợi của dân tộc Việt Nam, nhưng là một giải pháp của người Pháp phục vụ quyền lợi của nước Pháp. Các vùng do quân đội Pháp kiểm soát như Thành Phố Sài G̣n chẳng hạn, đầy rẫy tham nhũng, cờ bạc, đĩ điếm, thuốc phiện và ma túy. Các nhân vật Pháp và Việt, các thương gia, những kẻ buôn lậu, tư sản mại bản làm giàu nhờ chuyển ngân, buôn bán đồng quan Pháp và đồng bạc Đông Dương, vàng lá, hối mại quyền thế, đấu thầu cung cấp cho quân đội Pháp, mậu dịch và bồi thường chiến tranh...Thí dụ, giá 1gr vàng nguyên chất tại Paris chỉ 596 quan nhưng tại Sài G̣n là 1.300 quan, chỉ cần t́m cách chuyển vàng từ Paris về Sài G̣n cũng kiếm được một số tiền lớn. Một hội đồng điều tra của Quốc Hội Pháp cho rằng các tệ đoan trên là do chính quyền Pháp gây ra và dân Việt xem Bảo Đại và các Tổng Trưởng trong chính quyền của ông là công chức làm việc cho nước Pháp.

Trong t́nh trạng như thế, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thực tế vô quyền. Người thật sự có quyền là Tướng Pháp Paul Ely, Cao Ủy Pháp kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp, đóng tại Dinh Norodom của toàn quyền Pháp ngày trước tại Sài G̣n. Tướng Ely cầm đầu luôn cả guồng máy dân sự. Quân đội Pháp đóng giữ các vị trí chiến lược với sự yểm trợ của các lực lượng bổ xung, như các đơn vị B́nh Xuyên dưới quyền ông Bảy Viễn, lực lương Cao Đài vùng Tây Ninh, các nhóm Ḥa Hảo tại Tỉnh Cần Thơ và Châu Đốc và số lính đánh thuê dưới quyền sĩ quan Tây lai Leroy ở Bến Tre nữa. Người Pháp trả lương, huấn luyện, trang bị vũ khí và đạn dược cho những số lính này và các chỉ huy họ thống trị các địa phương nơi họ đóng giữ. Người Pháp tổ chức các Tiểu Đoàn binh sĩ Việt Nam thành Quân Đội ‘’Quốc Gia Việt Nam’’. Họ tuyển mộ, huấn luyện, trang bị, trả lương và thăng thưởng các binh sĩ và sĩ quan Việt. Họ đào tạo rất ít sĩ quan Việt và rất ít người có cấp bực trên Thiếu Tá như đă từng nói trước đây. Dụng ư của Pháp là cần người Việt đi lính làm bia đỡ đạn và công cụ cho họ, dưới quyền chỉ huy của sĩ quan Pháp. Chỉ có Bộ Tư Lệnh Pháp có quyền điều động ‘’Quân Đội Quốc Gia Việt Nam’’ và chỉ huy tác chiến. Pháp cử ông Nguyễn Văn Hinh, con ông Nguyễn Văn Tâm, ‘’Hùm xám Cai Lậy’’ cựu Thủ Tướng làm Tướng Tham Mưu Trưởng ‘’Quân Đội Quốc Gia’’. Ông Hinh được huấn luyện tại Pháp, có vợ đầm và Pháp tịch và là sĩ quan hiện dịch của Không Quân Pháp. Nhiều Nha, Sở, Pḥng của Bộ Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia cũng do sĩ quan Pháp phụ trách.

Về an ninh, Tổng Nha Công An Cảnh Sát ở dưới quyền ông Lai Văn Sang, một tay chân đặc lực của Bảy Viễn như đă tŕnh bày trước đây, người ta đồn rằng Bảo Đại đă bán chức vụ này cho B́nh Xuyên. 

Về guồng máy hành chánh, không có ǵ đáng kể gọi là chủ hay độc lập được. Nhiều chức vụ quan trọng trong các bộ do người Pháp hay người Việt dân Tây, lâu nay có thành tích phục vụ Pháp nắm giữ. Cho đến năm 1954, khi ông Diệm về làm Thủ Tướng, ngôn ngữ dùng trong các chính phủ Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu là tiếng Pháp. Các Tỉnh Trưởng, Tỉnh Phó và Quận Trưởng là các cựu công chức thời Pháp thuộc, hay những kẻ xu thời theo Pháp từ 1945-1946.

Người Pháp vẫn điều hành Tài Chánh, Tư Pháp và Ngoại Thương. Ngân Hàng Đông Dương của Pháp phát hành bạc giấy cho cả Việt Nam, Lào và Miên và phụ trách việc hối đoái nữa. Một số ṭa án hỗn hợp Pháp-Việt được thiết lập để xét xử các vụ án liên quan đến người Pháp với một số Thẩm Phán Pháp hay Việt có Pháp tịch. Các viên chức Pháp cũng điều hành ngành Quan Thuế và Hải Cảng Sài G̣n nữa. Ngoài ra từ 1950, số viện trợ Mỹ cho Việt Nam cũng phải chuyển qua trung gian Pháp.

Chính quyền cũng không cai trị được phần lớn lănh thổ nữa. Công An B́nh Xuyên lộng hành tại vùng Chợ Lớn và Sài G̣n vùng Tây Ninh dưới quyền phe Cao Đài, c̣n các nhóm Ḥa Hảo kiểm soát một số Tỉnh miền Tây. Những nơi khác lâu nay do chính quyền Hồ chí Minh cai trị như Cà Mâu và các Tỉnh Phú Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi và một phần Tỉnh Quảng Nam tại miền Trung, đang được tiếp thu dần với sự rút lui của các đơn vị kháng chiến về Bắc. Nhưng đảng cộng sản để lại nhiều cán bộ ‘’nằm vùng’’ hay ‘’đổi vùng’’ sau các buổi học tập và chỉ thị phải hoạt động tranh đấu ra làm sao trong giai đoạn sắp đến. Trong một số Đô Thị, nhất là Sài G̣n, một số người, đảng viên cộng sản hay thân cộng hay nhẹ dạ nghe lời tuyên truyền ngon ngọt đă tổ chức các loại mặt trận, hội, nhóm, nói là để bảo vệ ḥa b́nh, dân chủ và thi hành Hiệp định Genève kiểu như Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức miền Nam theo công sản và vận động dân chúng biểu t́nh nữa.

Trong khi ấy chiến tranh đă phá hủy, làm hư hại nhiều đường sá, cầu cống, hệ thống sông đào, kênh, đường xe lửa, hệ thống viễn thông, bưu điện. Tại nhiều vùng, đồng ruộng bị bỏ hoang, vô số nông dân phải rời thôn xóm về cư trú tại các Thị Trấn và bị thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Cùng lúc ấy, đồng bào miền Bắc bắt đầu di tản vào miền Nam.

Trong t́nh thế như vậy, làm sao có thể đối phó được hiểm họa cộng sản với chính quyền Hồ chí Minh có quân đội đă từng đánh thắng quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ và đảng cộng sản với cán bộ đă được rèn luyện trong chiến đấu? Bất cứ lănh tụ nào thật sự yêu nước đều phải lập ra một chính quyền có khả năng cai trị toàn miền Nam, từ Nam vĩ tuyến 17 đến tận mũi Cà Mâu, có quyền chỉ huy Quân Đội, Công An Cảnh Sát và có đầy đủ chủ quyền trong mọi lănh vực chính trị, kinh tế, tài chánh, ngoại thương, quan thuế v.v... và không c̣n bị chia phối bởi tàn tích thực dân nào cả. Miền Nam cần một chính quyền thực sự có nền độc lập quốc gia, mới có thể lôi cuốn được sự ủng hộ của dân chúng để chống cộng sản.

Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm biết quá rơ điều này và cố gắng làm hết ḿnh để đạt mục đích ấy. Các anh em ông, nhất là hai ông Ngô Đ́nh Luyện và Ngô Đ́nh Nhu và các cộng tác viên như các ông Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, Nguyễn Văn Châu và nhiều vị khác nữa vận động các giới, các tôn giáo, các nhân sĩ cùng các giai tầng trong nước, để ủng hộ Thủ Tướng Diệm. Hoa Kỳ cũng cho rằng miền Nam phải thực sự độc lập, Pháp phải từ bỏ các đặc quyền thực dân, chính thể miền Nam mới được dân chúng ủng hộ trong sự nghiệp bảo vệ tự do chống cộng sản. Trong giai đoạn này họ tích cực ủng hộ ông Diệm.

Ngoài sự ủng hộ của nhiều tầng lớp dân chúng và Hoa Kỳ, Thủ Tướng Diệm cũng gặp may là các thuộc địa Pháp tại Bắc Phi nổi dậy và nước Pháp phải lo đối phó, như cần rút quân về để đánh dẹp kháng chiến Angéri. Ông căn cứ vào các thỏa ước đă kư kết, thừa nhận và hoàn thành nền độc lập của Việt Nam, để đ̣i Pháp trao trả các quyền tự chủ và tài sản của một quốc gia độc lập mà Pháp c̣n sử dụng hay nắm giữ. Hai tháng sau ngày chính thức nắm quyền, Chính Quyền của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm được Pháp chịu giao trả Dinh Norodom, từng tượng trưng cho chính quyền Pháp tại Đông Dương lâu nay, cũng như Phủ Toàn Quyền tại Hà Nội. Thủ Tướng Diệm tiếp nhận và ông đổi tên là Dinh Độc Lập. Bốn ngày sau, tức 11.9.1954, Pháp đồng ư hủy bỏ các Ṭa án hỗn hợp Pháp-Việt và cũng chấp nhận trên nguyên tắc chuyển sự điều hành Tư Pháp, Cảnh Sát, An Ninh Công Cộng và Hàng Không Dân Sự cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Giới thực dân Pháp phải chuyển lại quyền hành mà lâu nay họ nắm giữ, nhưng họ đâu có vui ḷng. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân chính đưa đến vụ thử thách đầu tiên mà Thủ Tướng Diệm phải đối phó: Vụ Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia c̣n phụ thuộc quân đội Pháp, bất tuân lệnh và chống lại Thủ Tướng.

Bất cứ Nguyên Thủ Quốc Gia nào, ông Diệm cũng vậy, phải nắm toàn quyền chỉ huy và kiểm soát Quân Đội. Nếu không có quyền chỉ huy Quân Đội và hệ thống an ninh, Thủ Tướng chỉ làm bù nh́n và chính quyền không thể nào tồn tại được. Ban đầu, ông Diệm và các anh em ông cố t́m cách kêu gọi và lôi cuốn Tướng Hinh ủng hộ chính phủ. Nhưng ông Nguyễn Văn Hinh là hạng người bảo hoàng hơn Nhà Vua hướng về nước Pháp hơn người Pháp chính cống, lâu nay chỉ biết phục vụ nước Pháp. Nay một vị quan cũ từ miền Trung được làm Thủ Tướng như cha y Nguyễn Văn Tâm trước kia, mà lại đ̣i nước Pháp trả lại quyền hành? Mặt khác có thể Hinh cũng muốn cha ông làm Thủ Tướng trở lại, hoặc đă bị thực dân Pháp xúi dục hay mua chuộc,  nên ông lên tiếng chỉ trích Thủ Tướng Diệm và đ̣i có một chính quyền mạnh và được dân chúng ủng hộ. Tướng Hinh công khai cho biết đang chuẩn bị đảo chánh và nói chỉ cần ông cầm điện thoại lên là lật đổ được Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.

Ngày 11.9.1954, Thủ Tướng Chánh Phủ cho Tướng Hinh nghỉ phép 6 tuần và rời khỏi xứ trong ṿng 24 giờ. Tướng Hinh chống lại lệnh này bằng cách lái xe mô tô đi chơi trên các đường phố Sài G̣n. Phe đảng Nguyễn Văn Hinh điều hành Đài Phát Thanh Quân Đội lên tiếng đả kích kịch liệt Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm hàng ngày cho đến khi Đại Tá Lansdale thuyết phục và cả mua chuộc được Trung Úy Nguyễn Văn Minh phụ trách Đài Phát Thanh này, th́ sự đả kích mới giảm bớt rồi chấm dứt.

Các lănh tụ B́nh Xuyên và các giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo, cũng ra mặt ủng hộ Tướng Hinh và chỉ trích Chính Phủ. Ngày 16.9.1954 họ đưa ra một bản tuyên ngôn với lời lẽ rất đạo đức, đ̣i chấm dứt t́nh trạng thối nát và giải thoát xứ sở ra khỏi sự thống trị của ngoại bang. Họ cũng phái Bảy Viễn mang bản tuyên ngôn này sang Pháp tŕnh cho Bảo Đại nữa. Ba ngày sau tức ngày 19.9.1954, Tướng Hinh cũng đưa ra lời tuyên bố với báo chí là chống đối Thủ Tướng Diệm và bản sao điện tín Tướng Hinh đánh qua Pháp thỉnh cầu Quốc Trưởng Bảo Đại can thiệp. Cũng trong ngày này, Thủ Tướng Diệm ra Thông Báo buộc tội Tướng Hinh là bất tuân lệnh chính phủ là phiến loạn. Tướng Hinh liền dùng một số quân nhân tin cẩn bảo vệ ngôi nhà ông ở. Vài ngày sau, Hinh lại cho chiến xa đậu bao quanh Dinh Độc Lập. Ba sĩ quan thân tín của Hinh cũng đến Bộ Quốc Pḥng đ̣i bắt Tổng Trưởng Lê Ngọc Chấn nữa, như Đại Tá Lansdale đă chứng kiến, khi ông đến Bộ Quốc Pḥng hôm ấy.

Vào ngày 20.9.1954, Chín trong số 15 Tổng Trưởng trong Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm từ chức. Những vị này nghĩ rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm khó ḷng tồn tại v́ Tướng Hinh tuyên bố rằng Chính Phủ này và Quân Đội không thể song song tồn tại được. Trong số 9 vị này có Kỹ Sư Phan Khắc Sửu, ông Hồ Thông Minh và Bác Sĩ Phạm Hữu Chương. Bác Sĩ Chương bỏ trốn đi Pháp và bị kết tội là tham nhũng và thâm lạm công quỹ. Thủ Tướng Diệm lập Chính Phủ mới với một số người thân tín. Ông vận động các giáo phái, kêu gọi ḷng yêu nước của họ và cũng t́m cách mua chuộc họ khi nào có thể. Vào lúc này, ông Diệm đă được Hoa Kỳ cấp cho một số tiền dùng làm mật phí. Người Mỹ nói chung, kính trọng ông Diệm về vấn đề tiền bạc, v́ ông Diệm coi thường của cải vật chất và có thể nói không giữ riêng cho ḿnh tài sản ǵ đáng kể.

Trong khi ấy, Tướng Hinh chờ lệnh Quốc Trưởng Bảo Đại để đảo chánh Thủ Tướng Diệm. Hinh tiếp tục cho xe tăng và binh sĩ bao vây Dinh Độc Lập với lư do là để ngăn ngừa cộng sản khai thác vụ khủng hoảng. Không những phe Hinh mà c̣n nhiều người cũng cho rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm chắc sẽ bị lật đổ. Nhưng ông Diệm kiên tŕ và vững tâm đối phó. Bảy Viễn ở Pháp về, sau khi được Bảo Đại tiếp kiến ở Cannes và bắt đầu điều đ́nh với các giáo phái Cao Đài và Ḥa Hảo để lập chính phủ do y làm Thủ Tướng. Đại diện của Tướng Hinh và các giáo phái mưu đồ với nhau và thỏa thuận tấn công lật đổ Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm vào ngày 26.9.1954. Nhưng t́nh ĺnh, các giáo phái tin cho Bảy Viễn biết rằng họ không đồng ư chấp nhận y cầm đầu một chính phủ mới và họ cũng chống lại việc Tướng Hinh và Bảy Viễn yêu cầu Bảo Đại về nước. Ngày 21.9.1954 phe ủng hộ ông Diệm, do Bà Ngô Đ́nh Nhu cầm đầu th́ phải, tổ chức một cuộc biểu t́nh và tuần hành lớn để ủng hộ Thủ Tướng Diệm và đả đảo Pháp. Đoàn biểu t́nh bị Công An xung phong B́nh Xuyên chận ngay tại Bùng Binh Chợ Bến Thành, bắn chết 6 người và làm bị thương hàng chục người. Cảnh hỗn loạn xảy ra nhiều nơi trên các đường phố lớn ở Sài G̣n.

Theo Linh Mục Cao Văn Luận, sau vụ này ông Diệm chán nản, mất tin tưởng nét mặt buồn thảm, thiểu năo, ông cho biết người Pháp không thành thực, họ vẫn dựa vào bọn B́nh Xuyên và hai cha con ông Nguyễn Văn Tâm-Nguyễn Văn Hinh phá ông, gây ra những khó khăn, ông không làm được ǵ, mọi mấu chốt quyền hành đều nằm trong tay bọn này hết. Nhiều người gần ông Diệm khuyên ông ra đi, nhưng ông ở lại và t́m cách đối phó. Việc Công An B́nh Xuyên bắn vào đoàn biểu t́nh cho thấy cần phải có lực lượng quân sự. Lúc bấy giờ, các giai tầng trong xă hội và dân chúng nói chung, có thiện cảm với ông Diệm, ḷng họ hướng về ông. Ngay cả những người không ưa thích ông, vẫn chấp nhận và ủng hộ ông, v́ ông tượng trưng cho tinh thần yêu nước và tự chủ, trong khi Bảy Viễn và hai cha con Nguyễn Văn Tâm-Nguyễn Văn Hinh là những kẻ làm tay sai cho Pháp.

Để đối phó, Thủ Tướng Diệm cho chuyển một số Tiểu Đoàn từ Bắc và Trung vào Nam, ông cho thay thế một số Chỉ Huy Trưởng, không qua hệ thống Pháp và Tướng Hinh và chỉ thị mật cho một số Tỉnh Trưởng, không tổ chức những cuộc biểu t́nh quy mô ủng hộ ông,  chống thực dân Pháp và Bảo Đại. Tại các Thành Phố như Nha Trang, Huế và Sài G̣n, nhiều cuộc biểu t́nh được tổ chức rầm rộ và liên tiếp, cho thấy phong trào dân chúng ủng hộ Thủ Tướng Diệm quá mạnh và Công An B́nh Xuyên không c̣n dám đàn áp nữa.

Dĩ nhiên ông Diệm cũng bắt đầu tổ chức một hệ thống Công An-Cảnh Sát riêng, khác với Công An B́nh Xuyên dưới quyền Lai Văn Sang. Ông cũng có t́m sự cộng tác của một số người trước kia phục vụ trong hàng ngũ chống Pháp. Một số sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia cũng ra mặt ủng hộ ông và chống Tướng Hinh, như Thiếu Tá Thái Quang Hoàng tại Phan Rang.

Trong khi ấy Đại Tá Lansdale và Phái đoàn quân sự Mỹ dưới quyền ông cũng hoạt động rất tích cực. Một toán do Thiếu Tá Lucien Conein cầm đầu sẽ gặp lại vào năm 1963 phụ trách công tác phá hoại và tâm lư chiến tại Hà Nội, Hải Pḥng và miền Bắc trước khi quân đội Pháp rút đi theo Hiệp định Genève. Họ huấn luyện các điệp viên nằm vùng và chôn dấu vũ khí họ tuyên truyền và vận động đồng bào Bắc di cư vào Nam. Mặt khác, Đại Tá Lansdale lo ủng hộ Thủ Tướng Diệm với các công tác công khai, như giúp thành lập một Tiểu Đoàn Pḥng Vệ Phủ Thủ Tướng với các Sĩ Quan Phi Luật Tân cố vấn và nhất là những vụ vận động, lôi cuốn và mua chuộc bí mật. Trong khi ấy, những người đại diện ông Diệm tiếp xúc với các lănh tụ chỉ huy các lực lượng quân sự của các giáo phái kêu gọi ḷng ái quốc của họ và cũng điều đ́nh hay mua chuộc, Đại Tá Lansdale cũng liên lạc không sót một ai, từ Tŕnh Minh Thế, Trần Văn Soái tức Năm Lửa, Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ, Nguyễn Thành Phương, Ba Cụt v.v...

Việc người Mỹ ủng hộ Thủ Tướng Diệm chống lại phe thân Pháp gây ra sự bất măn,  rồi sự va chạm giữa các giới thực dân Pháp và người Mỹ. Tuy đă bị đại bại tại Điện Biên Phủ và thừa nhận nền độc lập của Quốc Gia Việt Nam, nhiều người Pháp như các nhà kinh doanh,  một số người Việt có Pháp tịch và lâu nay phục vụ Pháp các chủ đồn điền cao su, trà, cà phê,  các công chức Pháp tại các công sở, nhiều sĩ quan Pháp vẫn c̣n muốn duy tŕ sự thống trị của Pháp tại miền Nam để khai thác đến tận cùng, bằng cách lật đổ Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm và thay thế bằng một chính quyền tay sai như kiểu nội các Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu,  Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc. Số người Pháp thực dân, v́ quyền lợi của họ, ra sức ủng hộ chống đối ông Diệm, điển h́nh là Tướng Hinh, phe B́nh Xuyên với Bảy Viễn.

Nhưng Chính Phủ và người Mỹ vận động có kết quả hơn. Ngày 24.9.1954 một số nhân vật Cao Đài và bốn lănh tụ Ḥa Hảo tham gia Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Trong khi ấy, mối bang giao Mỹ-Pháp đem lại những biến chuyển có lợi cho việc ông Diệm đ̣i Pháp trả lại các quyền tự chủ cho Việt Nam. Tháng 9.1954, Pháp đồng ư tham gia tổ chức Liên Pḥng Đông Nam Á do Hoa Kỳ thành lập, để ngăn chận sự bành trướng của phe cộng sản tại Đông Nam Á. Việc Hoa Kỳ lâu nay viện trợ cho quân đội viễn chinh Pháp tại Việt, Miên, Lào và nay Pháp phải đối phó với các thuộc địa Bắc Phi đ̣i độc lập hay đang nổi dậy, làm cho người Mỹ có thể dùng áp lực đ̣i Pháp loại bỏ dần các chính sách hay biện pháp thực dân c̣n lại tại Việt Nam, ví dụ như việc Pháp c̣n chỉ huy Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, c̣n đài thọ cho B́nh Xuyên và các lực lượng giáo phái bổ xung cho quân đội Pháp và ngay cả việc dùng ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng nữa. Các đại diện của Pháp và Hoa Kỳ họp tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn từ ngày 27 đến 29.9.1954 và thỏa thuận với nhau nhiều vấn đề quan trọng, Pháp đồng ư để Việt Nam có quyền phát hành tiền tệ bắt đầu ngày 1.1.1955, nghĩa là chấm dứt các hoạt động của Ngân Hàng Đông Dương và từ nay Việt Nam nhận trực tiếp viện trợ Mỹ không qua trung gian Pháp nữa. Ngoài ra, Pháp cũng chịu hủy bỏ các thỏa ước kư kết tại Pau, Pháp quốc giữa Bảo Đại và Pháp, cho người Pháp quyền kiểm soát kinh tế, ngoại thương và tài chánh của Việt Nam, chuyển quyền chỉ huy Quân Đội Quốc Gia cho Chính Phủ Việt Nam, để người Mỹ huấn luyện Quân Đội Việt và rút đoàn quân viễn chinh về nước khi nào Chính Phủ Việt Nam yêu cầu.

Những thỏa thuận trên vẫn được giữ kín cho đến khi Thủ Tướng Pháp Mendés France đến viếng Hoa Thịnh Đốn ngày 20.11.1954. Vài tuần lễ sau khi Thủ Tướng Mendés France về nước, Hạ Nghị Viện Pháp thảo luận về những nhượng bộ của Pháp tại Hoa Thịnh Đốn và nội các Mendés France bị chỉ trích là đă bán đứng các quyền lợi của Pháp tại Việt Nam bằng cách chấp nhận một ‘’giải pháp Mỹ’’ về Việt Nam. Tổng Trưởng các xứ liên kết Guy de la Chambre đứng lên bênh vực các thỏa thuận ở Hoa Thịnh Đốn. Ông nói rằng hai nước Pháp và Hoa Kỳ hiệp sức với nhau tại Việt-Miên-Lào và chính phủ Hoa Kỳ cam kết không đụng chạm đến các quyền lợi kinh tế, thương mại của Pháp tại Việt Nam. Điều này cũng đúng thôi. Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam v́ nền an ninh chiến lược của Hoa Kỳ, chứ không phải đến tranh giành các quyền lợi kinh tế của Pháp lâu nay có sẵn tại Việt Nam. Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm cũng kư hai thỏa ước về kinh tế với Pháp ngày 30.12.1954 và 30.3.1955 bảo đảm các quyền lợi kinh tế của Pháp tại Việt Nam, nhất là các đồn điền cao su. Mục đích của Thủ Tướng Diệm là giải quyết các vấn đề chính trị trước đă. Về chính trị, Pháp phải từ bỏ mọi tàn tích thực dân. Việt Nam phải hoàn toàn tự chủ và độc lập mới có thể giành được sự ủng hộ và tham gia của dân chúng chống đối đe dọa của cộng sản từ miền Bắc. Về quân sự, Nam Việt Nam cần viện trợ quân sự của Hoa Kỳ khi nào bị miền Bắc tấn công với sự trợ giúp của Liên Sô, Trung Cộng và các xứ cộng sản khác, v́ nước Pháp không c̣n có khả năng làm được việc này nữa.

Các điều thỏa thuận tại Hoa Thịnh Đốn làm cho Pháp không c̣n có thể đài thọ các lực lượng thân Pháp như từ lâu nay. Pháp sẽ chấm dứt trả lương cho họ. Bắt đầu từ 1955, Thủ Tướng Diệm nhận viện trợ Mỹ trực tiếp và ông có ngân sách điều hành xứ sở như đài thọ Quân Đội Quốc Gia cũng như các lực lượng quân sự khác phải được đặt dưới quyền chỉ huy của Thủ Tướng, nếu muốn được đài thọ.

Trong khi ấy, vụ khủng hoảng giữa Thủ Tướng và Tướng Hinh vẫn tiếp diễn. Tướng Hinh và phe thực dân Pháp do Phó Cao Ủy Jean Daridan cầm đầu, t́m mọi cách chỉ trích, đả phá chính phủ và cá nhân Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm trên các báo chí tại Pháp, tại Sài G̣n,  trên đài phát thanh, trong dư luận. Họ không dám đảo chánh ngay lúc ban đầu, khi Thủ Tướng Diệm chưa có lực lượng quân sự để bảo vệ chính phủ, v́ sợ Hoa Kỳ cúp ngay viện trợ nếu lật đổ chính phủ bằng bạo lực. C̣n Thủ Tướng Diệm vẫn chưa đủ sức trục xuất Tướng Hinh ra khỏi xứ. Tướng Hinh cứ dọa đảo chánh hết ngày này đến ngày khác. Có lần Đại Tá Lansdale phải sắp xếp mời các sĩ quan thân tín của Tướng Hinh đáp phi cơ sang Manila, Phi Luật Tân,  quan sát và du hí để ngăn ngừa Tướng Hinh đảo chánh nếu muốn. Có hôm, sau ngày Tướng Hinh dọa đảo chánh, Đại Tá Lansdale đến Dinh thấy chẳng có ai căn pḥng cả, c̣n Thủ Tướng Diệm vẫn thảm nhiên làm việc trên lầu. Sau đấy Đại Tá Lansdale nhờ Tổng Thống Magsaysay phái Đại Tá Arellano, Chỉ Huy Trưởng Tiểu Đoàn Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống Phi Luật Tân sang giúp việc lập Tiểu Đoàn Pḥng Vệ cho Phủ Thủ Tướng và huấn luyện quân nhân của Tiểu Đoàn này như đă nói trước đây. 

Ngày 1.10.1954, Bảo Đại khuyến cáo Thủ Tướng Diệm chấp nhận ông Nguyễn Văn Hinh, Bảy Viễn và Nguyễn Văn Xuân vào chính phủ. Ông Diệm từ chối. Tướng Hinh nhiều lần yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại ủng hộ ông, chống lại Thủ Tướng Diệm, nhưng Bảo Đại không dám, hay cả không muốn, v́ thấy Pháp suy yếu rồi, nay cần Hoa Kỳ giúp. Hơn nữa, Tướng Ely sau khi đi họp ở Hoa Thịnh Đốn về, cũng cho Bảo Đại biết rằng Pháp đă theo chính sách của Mỹ ủng hộ ông Diệm và Bảo Đại không nên làm ǵ gây ra sự bất b́nh với người Mỹ.

Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ hết ḷng ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Người Mỹ cho biết họ sẽ can thiệp nếu ông Diệm bị lật đổ. Ngày 15.10.1954, trong một báo cáo gởi cho Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ, Thượng Nghị Sĩ Mansfield đả kích những âm mưu lật đổ Thủ Tướng Diệm tại Sài G̣n và nói rằng nếu ông Diệm bị đảo chánh, Hoa Kỳ nên xét tức khắc việc ngưng tất cả các viện trợ cho Việt Nam và các lực lượng Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương, ngoại trừ viện trợ nhân đạo. Chín ngày sau, tức ngày 24.10.1954, Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight Eisenhower gởi một thông điệp đến Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm xác nhận lại sự ủng hộ của Hoa Kỳ, các lời hứa viện trợ và tin cho ông Diệm biết rằng từ đầu năm 1955, Hoa Kỳ sẽ viện trợ trực tiếp cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, không qua trung gian của Pháp nữa. Trong văn thư này, Tổng Thống Mỹ cũng hy vọng ông Diệm sẽ thực hiện những cải cách cần thiết.

Đầu tháng 11.1954, Tổng Thống Eisenhower cử một chiến hữu là Tướng Lawton Collins làm đại diện Tổng Thống và Đặc Sứ thay thế Đại Sứ Donald Heth. Tướng Collins đến Sài G̣n ngày 8.11.1954 và tuyên bố rằng ông đến Việt Nam để mang viện trợ Mỹ có thể có được cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm và chỉ Chính Phủ Diệm mà thôi. Ngày hôm sau, ông đáp phi cơ lên Đà Lạt gặp Tướng Ely, Cao Ủy và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp. Hai ông đồng ư chấm dứt vụ Tướng Hinh. Ngày 18.11.1954, Bảo Đại triệu tập Tướng Hinh sang Pháp tham khảo ư kiến. Dĩ nhiên Tướng Hinh đâu có muốn đi. Nhưng Pháp đă thỏa thuận với Mỹ rồi,  Tướng Hinh không thể cưỡng lại được. Sáu ngày sau, Tướng Hinh đáp phi cơ đi Pháp và đến cuối tháng 11.1954 Bảo Đại ra Chỉ Dụ giải chức Tướng Hinh. Thủ Tướng Diệm cử Tướng Lê Văn Tỵ, một Quân Nhân ủng hộ ông làm Tham Mưu Trưởng ngày 10.12.1954, nhưng c̣n phải chấp nhận một người thân Pháp là Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Thanh Tra.

Như thế, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă vượt qua thử thách đầu tiên trong khi giành lại dần chủ quyền từ tay Pháp thực dân, ông cũng loại trừ được một người Việt dân Pháp Nguyễn Văn Hinh, mà lâu nay cả gia đ́nh làm tay sai đắc lực cho Pháp ra khỏi chức vụ Tham Mưu Trưởng Quân Đội và lôi cuốn được một số sĩ quan lâu nay phục vụ trong hàng ngũ Pháp về với chính nghĩa dân tộc, dù đa số có lẽ c̣n ở trạng thái lưng chừng hay chờ đợi.

Ngày 3.12.1954, Thủ Tướng kư Sắc Lệnh lập Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam một cách gấp rút để có thể hoạt động từ 1.1.1955, khi Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho Việt Nam.  Trong hai ngày 29 và 30.12.1954, ông cũng cho kư kết các thỏa ước về kinh tế và thương mại với Pháp, hủy bỏ các sự phụ thuộc vào Pháp trong hai lănh vực này, dù thỏa ước ngày 30.12.1954 có bảo đảm các quyền lợi kinh tế của Pháp, thí dụ các đồn điền cao su như đă nói đến trước đây. Ông Diệm cũng cho lập ngay Viện Hối Đoái để phụ trách các gia dịch về ngoại tệ của Ngân Hàng Đông Dương mà Pháp đồng ư đóng cửa ngày 29.12.1954.

Những thành tích trên làm tăng uy tín, sự kính trọng và ḷng tin tưởng của dân chúng vào Thủ Tướng Diệm rất nhiều. Ông đă tỏ ra là một người yêu nước quyết tâm giành lại chủ quyền dân tộc và tận diệt các tàn tích thực dân Pháp c̣n sót lại tại miền Nam. Nhưng sự thử thách từ 7.7.1954 chỉ là những trở ngại đầu tiên. Pháp tuy đă nhượng bộ Hoa Kỳ, vẫn t́m cách đánh đổ Thủ Tướng Diệm. Tháng 12.1954, khi họp với Ngoại Trưởng Foster Dulles và Ngoại Trưởng Anh Anthony Eden, Thủ Tướng Pháp Mendés France c̣n đề nghị rằng Hoa Kỳ có thể thay thế Thủ Tướng Diệm bằng hai cách, hoặc Bảo Đại cử Trần Văn Hữu hay Nguyễn Văn Tâm hay Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Phó vương, toàn quyền giải quyết sự xung đột tại Sài G̣n, hoặc Bảo Đại về nước lập chính phủ với Trần Văn Hữu làm Thủ Tướng, Nguyễn Văn Tâm phụ trách Nội Vụ và Bác Sĩ Phan Huy Quát Quốc Pḥng. Chính phủ Pháp Mendés France muốn tái diễn lại tṛ thống trị Việt Nam, nhưng bị bác bỏ.

Năm kế tiếp đem lại những khó khăn mà đa số quan sát viên cho rằng Thủ Tướng Diệm khó ḷng vượt qua nổi, nhưng làm nổi bật ḷng yêu nước nồng nàn, đức tính can đảm và gan dạ và sự tin tưởng vào khả năng của ông...

Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang 65-83

 

***

GIAI ĐOẠN CỰC KỲ GÂY CẤN

            Trong năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm phải đối phó với 5 vấn đề trọng đại.  Trước hết đồng bào miền Bắc bắt đầu di cư vào Nam ngày 14.1.1955. Mười ngày sau, số người di cư lên đến 200.000 và trong tháng sau, con số vượt quá 800.000 người. Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm cho lập Phủ Tổng Ủy Di Cư với sự giúp đỡ của Pháp và nhất là của Hoa Kỳ. Số đồng bào di cư được chuyên chở dần vào Nam và định cư tại những nơi thiết yếu do ông Diệm đích thân chọn lựa.

Vấn đề thứ hai là thái độ thù nghịch của quân đội và thực dân Pháp. Lúc bấy giờ Pháp chủ trương rút quân về để đối phó với vụ dân xứ Angéri, Bắc Phi Châu, nổi dậy, nơi có cả triệu người Pháp sinh sống. Nhưng các giới thực dân và một số sĩ quan Pháp vẫn c̣n muốn duy tŕ chế độ thực dân dưới h́nh thức ‘’Quốc Gia Việt Nam dưới quyền Quốc Trưởng Bảo Đại’’. Họ vẫn t́m đủ mọi cách phá Chính Phủ và cá nhân Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm, họ tiếp tục đả kích trên báo chí, sách, đài phát thanh, bịa đặt và loan tin bất lợi cho Chính Phủ và nhất là tăng cường sức mạnh cho phe B́nh Xuyên và các giáo phái, rồi xúi dục và t́m cách mua chuộc các phần tử này chống Chính Phủ. T́nh trạng này đưa đến khó khăn thứ ba là Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm khó ḷng tránh khỏi sự xung đột với phe B́nh Xuyên và các giáo phái v́ không có chính phủ nào thật sự là chính quyền của một nước độc lập, lại chấp nhận nạn ‘’sứ quân’’ hay nhiều lănh chúa địa phương, do ngoại bang giựt dây được.

Vấn đề thứ tư là thái độ của Tướng Lawton Collins. Ông này lâu nay là một Quân Nhân thuần túy, có am hiểu ǵ về Á Châu và Việt Nam đâu. Ông được cử sang Sài G̣n v́ ông là một chiến hữu thân cận và tín cẩn của Tổng Thống Eisenhower. Trong khi tiếp xúc với Tướng Cao Ủy Pháp Ely và Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm, Tướng Collins cảm thấy gần gũi và thông cảm với Tướng Ely hơn, v́ cả hai đă từng chiến đấu và là bạn thân với nhau trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Tướng Collins cho rằng ông Diệm là người khó tính, ông không biết nhân nhượng với B́nh Xuyên và các giáo phái, v́ họ cũng đều chống cộng sản cả mà. Như thế Thủ Tướng Diệm có thể gặp nguy cơ là mất hẳn sự ủng hộ tuyệt đối cần thiết của Hoa Kỳ, trong việc giành lại chủ quyền từ thực dân Pháp. Vấn đề cuối cùng là việc tiếp thu các vùng do chính phủ Hồ chí Minh giao lại vùng Cà Mâu vào ngày 8.2.1955 và vùng Phú Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi và một phần Quảng Nam ngày 22.4.1955.

NHỮNG THÀNH TÍCH ĐẦU

Đầu năm 1955, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm trực tiếp nhận viện trợ Mỹ và bắt đầu trả lương Quân Đội và Công Chức với ngân sách Quốc Gia, không c̣n tùy thuộc ǵ vào Pháp nữa. Như thế Quân Đội tùy thuộc Chính Phủ và đầu tháng 2.1955, Pháp cũng ngưng trả lương cho các lực lượng bổ xung cho quân đội Pháp là phe B́nh Xuyên, Cao Đài và Ḥa Hảo. Đây là một yếu tố quan trọng trong quá tŕnh giành lại chủ quyền của xứ sở trong mọi lănh vực từ thực dân Pháp. Ngày 12.2.1955, Chính Phủ thâu hồi lại quyền quản trị Thương Cảng Sài G̣n từ tay Pháp. Trước đấy ngày 21.1.1955, Thủ Tướng chính thức yêu cầu Pháp chấm dứt việc huấn luyện Quân Đội Việt Nam. Đến ngày 11.2.1955, Tướng Pháp Agostini và Tham Mưu Trưởng Lê Văn Tỵ kư thỏa ước chuyển tất cả trách nhiệm về Quân Đội Việt Nam cho Chính Phủ Việt Nam. Điều này không làm cho một số sĩ quan lâu nay theo Pháp hài ḷng. Họ muốn có một chính phủ khác, chứ không phải Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm nắm quyền chỉ huy Quân Đội. Nhưng bây giờ Thủ Tướng Diệm nắm giữ quyền trả lương cho họ, ông được Hoa Kỳ ủng hộ và gương Tướng Hinh mất chức c̣n sờ sờ trước mắt. Họ biết rằng từ nay việc huấn luyện Quân Đội cũng do Hoa Kỳ phụ trách nữa. Như vậy, điều hay nhất và có lợi cho họ là thích nghi với t́nh thế mới, ngả theo chiều gió mạnh. Trong số những người này, có những kẻ từ 1945-1946, khi dân Việt Nam nổi dậy kháng chiến chống Pháp, đă phục vụ trong quân đội Pháp hay trong ngành công an Pháp, có vào quốc tịch hay không, đă đánh giết trực tiếp hay gián tiếp người Việt, như các ông Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, Đỗ Mậu v.v...

Về các lực lượng quân sự của các giáo phái, Chính Phủ Diệm và Đại Tá Lansdale t́m cách làm cho suy yếu bằng biện pháp chia rẽ và mua chuộc một số chỉ huy quân sự của họ.  Trong số những người này, một số ít, nếu không lầm là có lư tưởng v́ dân tộc, c̣n đa số có thể nói là do quyền lợi cá nhân chi phối hơn là v́ tín ngưỡng. Lúc bấy giờ, đa số dân chúng ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Nếu theo ông Diệm, tức theo Chính Phủ Quốc Gia đang loại trừ tàn tích thực dân, là theo chính nghĩa, c̣n được tiền, quân hàm và chức vụ nữa. Chống ông Diệm nay được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, chắc ǵ thắng được đâu, như vụ Tướng Hinh. Sự vận động hay mua chuộc của chính phủ và Đại Tá Lansdale rất có kết quả.

Ngày 15.1.1955, một sĩ quan Ḥa Hảo là Đại Tá Nguyễn Văn Huê, Tham Mưu Trưởng của ông Năm Lửa Trần Văn Soái về với Chính Phủ và đem theo 3.500 binh sĩ. Họ được sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia. Trong tháng 3, một sĩ quan Ḥa Hảo khác, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đây đem về 1.500 binh sĩ nữa, phục tùng Thủ Tướng Diệm. Nhưng thành công lớn nhất của ông Diệm, với sự hỗ trợ của ông Lansdale là lôi cuốn được ông Tŕnh Minh Thế về với Chính Phủ. Ông Thế là một cán bộ quân sự Cao Đài, trước kia được quân đội Nhật huấn luyện, có lư tưởng dân tộc, chống cả thực dân Pháp và cộng sản. Ông tách rời các đơn vị dưới quyền ông ra khỏi các lực lượng Cao Đài bổ xung cho quân đội Pháp, ăn lương Pháp và do Pháp trang bị, lập quân đội quốc gia liên minh và Mặt Trận Liên Minh. Ông Thế lấy Núi Bà Đen ở Tây Ninh làm căn cứ và đánh lại cả quân Pháp và cộng sản. Dân chúng vùng ông Tŕnh Minh Thế kiểm soát mến phục và ủng hộ ông, v́ ông đối xử công tâm và chăm lo cuộc sống của họ. Đại Tá Lansdale mang thư của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đến căn cứ của ông tại Núi Bà Đen và được đưa đi quan sát các đơn vị và cơ xưởng chế tạo vũ khí, như súng máy ṇng 50 ly, súng M-1 và máy thâu phát thanh nữa. Ông Thế chấp nhận lời Thủ Tướng mời về cộng tác. Ngày 13.2.1955, ông dẫn 2.500 binh sĩ đi diễn hành qua các đường phố như Đại Lộ Thống Nhất, Đường Tự Do, Lê Lợi đến bùng binh trước Sở Ngân Khố, ngang qua khán đài có Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm và nhiều nhân vật Việt và ngoại quốc. Các binh sĩ Liên Minh dưới quyền ông Thế được sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia và ông Thế mang quân hàm Thiếu Tướng. Vụ Tướng Thế về thần phục Chính Phủ làm uy tín và thanh thế của Thủ Tướng Diệm tăng lên rất nhiều. Nhưng người Pháp rất bất măn và thù hằn Tướng Thế, v́ ngày 31.7.1951 ông đă cho cảm tử quân mang lựu đạn nổ giết chết Tướng Chanson, chỉ huy Quân Đội Pháp tại Nam Bộ và Thủ Hiến bù nh́n Thái lập Thành tại Trà Vinh. Hai năm sau, tức 1953, ông Thế lại gây ra một vụ nổ lớn trước Nhà Hát Sài G̣n, sau này là Hạ Nghị Viện, để giết hại sĩ quan Pháp nhưng lại trúng người qua đường. Người Pháp bảo rằng chiến đấu như thế là dă man, c̣n việc họ giết hại dân lành Việt dĩ nhiên đâu có ǵ là dă man.

Một số lănh tụ Ḥa Hảo như ông Nguyễn Giác Ngộ và Lâm Thành Nguyên mà Đại Tá Lansdale đă từng gặp tại bản doanh ông Năm Lửa Trần Văn Soái, cũng đến t́m ông Lansdale tại nhà ông ở Sài G̣n và mặc cả về số tiền và vũ khí cấp cho họ khi họ về với Chính Phủ, ông Lansdale viết trong hồi kư ông bảo là không có.

Trong khi đối phó với các giáo phái, Thủ Tướng Diệm cũng chú trọng đặc biệt đến phe B́nh Xuyên. Các đơn vị B́nh xuyên dưới quyền Bảy Viễn trấn giữ Chợ Lớn và một số địa điểm tại Sài G̣n, chúng được thực dân Pháp giúp thêm vũ khí và cố vấn. Ngành cảnh sát, công an vẫn dưới quyền Lai Văn Sang, một thân tín của Bảy Viễn. Như thế, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm vẫn c̣n bị uy hiếp ngay tại Thủ Đô.

Đến tháng 1.1955, giấy phép mở ṣng bạc Đại Thế Giới hết hạn. Thủ Tướng Diệm ban bố một Nghị Định đóng cửa ṣng bạc Đại Thế Giới và bài trừ cũng như trừng phạt các tệ đoan như cờ bạc, đĩ điếm, thuốc phiện và ma túy. Ông cũng yêu cầu Bảo Đại thâu hồi lại Đạo Dụ cử Lai Văn Sang làm Tổng Giám Đốc Công An, Cảnh Sát để ông cử một người khác thay. Thông điệp trả lời của Bảo Đại bày tỏ sự tín nhiệm đối với ông Diệm, nhưng không đả động ǵ đến yêu cầu trên. Đối với Bảo Đại, đây có lẽ là cơ hội ngăn chận hay giảm bớt sự gia tăng dần uy tín và quyền thế của Thủ Tướng Diệm. Mặt khác, sự đóng cửa ṣng bạc và việc đặt các tệ đoan ra ngoài ṿng pháp luật, sẽ làm cho Bảy Viễn và Bảo Đại mất một mối lợi khổng lồ. Một số tay chân của Bảy Viễn và Bảo Đại tại Thành Phố nghỉ mát Cannes, Pháp quốc, nơi Bảo Đại đang trú ngụ và ở Sài G̣n cùng thực dân Pháp hợp sức với nhau để đối phó với Thủ Tướng Diệm.

B̀NH XUYÊN VÀ THỰC DÂN PHÁP

            Ngày 5.3.1955 Bảy viễn mời đại diện các giáo phái họp tại Chợ Lớn. Ông nói rằng miền Nam cần một chính phủ tốt hơn là chính phủ do ông Diệm ‘’điên’’ cầm đầu. Nếu giáo phái và B́nh Xuyên đoàn kết lại với nhau, họ có thể đ̣i nắm giữ các bộ then chốt về tài chánh, kinh tế và để ông Diệm làm v́ mà thôi. Nếu họ liên minh với nhau về quân sự thành một đạo quân hùng mạnh, ông Diệm sẽ hoảng sợ và phải chấp nhận những yêu sách của họ. Việc này đâu có khó khăn ǵ. Các đại diện giáo phái nghe rất êm tai và đồng ư v́ ai cũng có tham vọng mở rộng khu vực thống trị của ḿnh, có thêm quyền hành và lợi tức. Họ thành lập một Mặt Trận Liên Minh và cử ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài làm lănh tụ và ông Ba Cụt Lê Quang Vinh làm Tư Lệnh quân sự. Bảy Viễn cũng cam kết đặt các lực lượng B́nh Xuyên dưới quyền của ông Ba Cụt nếu xảy ra xung đột với Chính Phủ. Người đại diện Bảo Đại tại Sài G̣n là ông Nguyễn Đệ cho vài người thân tín đến dự phiên họp này và cổ vơ việc chống lại Thủ Tướng Diệm. Các Tướng Tŕnh Minh Thế và Tướng Cao Đài Lê Thành Phương cũng dự phiên họp này. Theo ông Lansdale, khi hai Tướng trên thuận lại cho ông biết về việc tham gia mặt trận, ông giải thích cho hai người này hiểu, nhất là Tướng Thế, về việc họ tham gia mặt trận chống chính phủ là không phải. Tướng Thế đă về với chính phủ rồi, c̣n Tướng Phương đang chuẩn bị sát nhập các đơn vị dưới quyền ông vào Quân Đội Quốc Gia, vậy làm sao hai ông lại đứng vào phe chống chính phủ và ông thuyết phục họ rời bỏ mặt trận. Về vụ này có người bảo rằng ông Thế và Phương làm thế để được chi thêm tiền. Nhưng có thể rằng ông Diệm đă dặn riêng hai ông tham gia mặt trận, để biết rơ thêm về phe chống đối và mưu đồ của Bảy Viễn.

Sau đấy, Bảy Viễn tổ chức một phiên họp khác của mặt trận, để quyết định về việc gởi tối hậu thư cho Chính Phủ. Hai Tướng Thế và Phương cũng đến họp, rồi lên tiếng phản đối và rút lui ra khỏi mặt trận. Tuy vậy ngày 22.3.1955, mặt trận vẫn gởi tối hậu thư đến Thủ Tướng Diệm và báo cho ông đến ngày 27.3 tức năm ngày sau phải thỏa măn các yêu sách của họ. Nếu không, họ sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết. Thủ Tướng Diệm b́nh thảm đề nghị điều đ́nh với mặt trận. Ông nói rằng ông có kế hoạch giúp cho tất cả những người yêu nước tham gia với ông trong việc xây dựng một cơ sở bền vững và lâu dài cho Quốc Gia. Mặt trận bác bỏ lời điều đ́nh này. Phe B́nh Xuyên đặt súng cối vào những vị trí để có thể bắn vào Dinh Độc Lập, nếu ông Diệm không chấp nhận tối hậu thư của họ.

Dần dần, dân chúng Sài G̣n-Chợ Lớn biết về vụ khủng hoảng này và t́nh h́nh trở nên căng thẳng với một số tin đồn đăi. Trong giới ngoại kiều tại Thủ Đô, nhất là trong số người Pháp và người Việt vô dân Tây, có tin rằng Quân Đội Quốc Gia gần như nổi loạn, các sĩ quan và binh sĩ đều chống Thủ Tướng Diệm. Loại tin này được truyền đến người Mỹ. Theo ông Lansdale các giới cao cấp Pháp và Mỹ đều tin như vậy, mặc dầu ông thân chinh tiếp xúc với các Tiểu Đoàn Việt, thấy tinh thần họ rất cao, họ sẵn sàng chiến đấu ủng hộ Chính Phủ. Ṭa Đại Sứ Mỹ và Cao Ủy Pháp đă gởi về Hoa Thịnh Đốn và Paris các báo cáo về sự bạc nhược và không có tinh thần chiến đấu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. C̣n báo cáo của Đại Tá Lansdale được điện thẳng về trụ sở Trung Ương T́nh Báo CIA tại Langley, Tiểu Bang Virgina và đệ tŕnh thẳng lên ông Tổng Giám Đốc Allen Dulles.

Trước t́nh thế căng thẳng và khẩn trương, một số Tổng Trưởng trong Chính Phủ mất tinh thần và xin từ chức. Trong số này, đáng kể nhất là Tổng Trưởng Quốc Pḥng Hồ Thông Minh. Trước kia, khi lập lại nội các, Tướng Lawton Collins đề nghị ông Diệm cử Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Tổng Trưởng Quốc Pḥng, nhưng ông Diệm không chịu và cử ông Hồ Thông Minh. Việc này làm cho ông Tướng Collins bất b́nh. Ông than phiền rằng ông Diệm nghe lời các em ông, ông Luyện, ông Nhu hơn là ông. Nay t́nh thế trở nên khẩn trương, ông Hồ Thông Minh từ chức, mặc dầu Tướng Collins và Đại Tá Lansdale đến gặp và yêu cầu ông đừng từ nhiệm. Ông Minh không chịu, nhưng thừa nhận rằng ông chưa tiếp xúc với Đơn Vị Quân Đội nào cả để t́m hiểu thái độ và tinh thần của họ. Ông tin rằng Quân Đội Quốc Gia sẽ không chiến đấu chống B́nh Xuyên và các giáo phái nên ông rời bỏ chức vụ và đi khỏi Sài G̣n.

 

Sáng ngày 29.3.1955, nghĩa là sau khi Tổng Trưởng Quốc Pḥng Hồ Thông Minh từ chức, Đại Tá Lansdale và Trung Úy Redick thuộc Phái đoàn quân sự Sài G̣n, tức một cán bộ CIA khác, đến gặp ông Diệm tại Dinh Độc Lập. T́nh trạng Dinh Độc Lập không c̣n giống như thời Tướng Hinh dọa đảo chánh. Tiểu Đoàn Pḥng Vệ đang bố trí tác chiến v́ nghe đồn B́nh Xuyên sắp tấn công. Ông Lansdale xem xét lại hệ thống điện thoại vô tuyến mà người Mỹ đă thiết lập trong Dinh Độc Lập cạnh pḥng ông Diệm, để ông liên lạc với các nơi trong trường  hợp sự liên lạc b́nh thường bị cắt đứt. Đại Tá Lansdale cũng cho ông Diệm biết rằng ông được lệnh không đến Dinh Độc Lập và sử dụng hệ thống vô tuyến này nếu xảy ra sự xung đột giữa những người Quốc Gia Việt Nam.

Thủ Tướng Diệm trải một bản đồ Sài G̣n-Chợ Lớn trong văn pḥng ông và chỉ cho ông Lansdale thấy những nơi được báo cáo là B́nh Xuyên đă đặt súng cối để bắn vào Dinh Độc Lập. Đến nay B́nh Xuyên mới có súng cối 60 ly, nhưng có tin họ đang vận động với Pháp để có được súng cối 81 ly. Nếu B́nh Xuyên có cối 81 ly th́ nguy hiểm hơn nhiều v́ súng cối 60 ly không làm hư hại các bức tường dày của Dinh lắm, nếu người ta núp sau những bức tường này. Đại Tá Lansdale nhận thấy ông Diệm rất b́nh tĩnh và tự chủ, ông tŕnh bày như một vị sĩ quan thuyết tŕnh về một đề tài, h́nh như không bận tâm về việc ông là mục tiêu tấn công của phe B́nh Xuyên.

Khi ông Lansdale hỏi về cựu Tổng Trưởng Quốc Pḥng Hồ Thông Minh, ông Diệm cười chua chát rằng ông Minh đă đi Đà Lạt, nơi những người thuộc phe Bảo Đại đang tụ họp.  Ông Diện cho biết ông thân chinh nắm giữ Bộ Quốc Pḥng và các chỉ huy quân sự hài ḷng về việc này. Họ rất bất măn về các tin đồn là họ sợ B́nh Xuyên và không có tinh thần chiến đấu.  Thủ Tướng Diệm đă tiếp xúc với các vị chỉ huy của các đơn vị, họ xác nhận ḷng trung thành với chính phủ và sẵn sàng chiến đấu. Ông đă phái ông Trần Trung Dung, Tổng Trưởng tại Phủ Thủ Tướng, sang làm việc tại Bộ Quốc Pḥng để điều hành công việc hàng ngày.

Đại Tá Lansdale cũng thảo luận với ông Diệm về những biện pháp nào để tránh xung đột giữa B́nh Xuyên và Chính Phủ. Ông Diệm đáp rằng ông đă đề nghị điều đ́nh với các lănh tụ mặt trận. Nhưng Bảy Viễn cho thấy rơ rằng y chỉ muốn ông Diệm bị giải chức hay làm v́ và để y lên cầm quyền. Đây là vấn đề liêm chính và đạo đức cho đất nước. Lâu nay Bảy Viễn đă làm giàu với sự độc quyền cờ bạc, đĩ điếm và thuốc phiện lậu. Y đă củng cố vị trí bằng cách ăn chia với Bảo Đại. Nay y và đồng lơa c̣n muốn dùng bạo lực để nắm chính quyền. Là một dần vào Sài G̣n các Tiểu Đoàn mà ông tin cậy được vào các vị chỉ huy như ba Tiểu Đoàn Nùng, rồi giữa tháng 3, hai Tiểu Đoàn Dù dưới quyền Đại Tá Đỗ Cao Trí. Các đơn vị này cộng vào số binh sĩ của Tướng Thế, Đại Tá Huê và Thiếu Tá Đày làm cho thế quân sự của chính phủ vững mạnh hơn trước nhiều, so với số độ 4.000-5.000 quân B́nh Xuyên tại Chợ Lớn-Sài G̣n.

Từ lúc cầm quyền đến nay Thủ Tướng Diệm vẫn được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Mọi việc xảy ra tại Sài G̣n đều được Ṭa Đại Sứ Mỹ và Đại Tá Lansdale báo cáo về Bộ Ngoại Giao và Trung Ương T́nh Báo. Ngày 8.3.1955, nghĩa là chỉ vài ngày sau khi Bảy Viễn và các giáo phái họp ở Chợ Lớn lập mặt trận chống Thủ Tướng Diệm, Ngoại Trưởng Foster Dulles xác nhận lại việc Hoa Kỳ ủng hộ Thủ Tướng trong một bài diễn văn truyền h́nh. Cũng trong ngày này, bảy Tiểu Đoàn với trọng pháo và chiến xa đă hành quân dẹp chiến khu Ba Ḷng trong Tỉnh Quảng Trị do đảng Đại Việt lập ra với một số quân nhân ly khai. Cuộc hành quân này cho thấy Quân Đội sẵn ḷng đánh dẹp các vụ nổi dậy chống Chính Quyền hợp pháp. Ngày hôm sau tức 9.3.1955, Tổng Thống Eisenhower gởi thông điệp cảnh cáo Bảo Đại đừng làm khó dễ Thủ Tướng Diệm.

Nhưng đến ngày 25.3.1955, tức 3 ngày sau khi mặt trận gởi tối hậu thư đến ông Diệm,  Bảo Đại kêu gọi ông Diệm hăy thống nhất, kết hợp và liên kết với B́nh Xuyên và các giáo phái, tức Bảo Đại muốn ông Diệm nhượng bộ, hai ngày sau, tức ngày tối hậu thư của mặt trận hết hạn và khi chắc đă vận động Tướng Nguyễn Thành Phương của giáo phái Cao Đài về phe Chính Phủ, Thủ Tướng Diệm ra lệnh cho các Tiểu Đoàn Dù dưới quyền Đại Tá Đỗ Cao Trí đánh chiếm trụ sở cảnh sát và ṭa nhà mật thám tức công an dưới quyền B́nh Xuyên trên Đại lộ Galliéne (sau đổi tên là Trần Hưng Đạo). Quân Dù đánh chiếm được sở cảnh sát nhưng B́nh Xuyên c̣n giữ được ṭa nhà công an. Ngày hôm sau, ông Diệm ra lệnh đánh chiếm luôn ṭa nhà công an. Nhưng trước khi vụ tấn công bắt đầu, Cao Ủy Pháp Tướng Ely can thiệp và ông Diệm phải hoăn lại vụ tấn công một cách miễn cưỡng. Ngày 29.3.1955, Tướng Nguyễn Thành Phương, Tư lệnh các lực lượng Cao Đài ra công khai ủng hộ Chính Phủ. Đây là một thắng lợi chính trị đáng kể cho Thủ Tướng Diệm và làm xuy yếu mặt trận chống đối. Đến nửa đêm hôm ấy, B́nh Xuyên cho nă súng cối vào Dinh Độc Lập. Quân Đội Chính Phủ và B́nh Xuyên xung đột với nhau, súng nổ tại nhiều nơi, trên Đại Lộ Galliéne, gần Ṭa nhà công an và rải rác vùng ranh giới Sài G̣n-Chợ Lớn. Đại Tá Lansdale lái xe đi quan sát, thấy các đoàn xe chở binh sĩ Việt đến các nơi xung đột bị xe tăng và thiết giáp Pháp ngăn chận và phải quay đầu trở về. Cuộc đụng độ kéo dài độ 3 giờ, rồi Tướng Pháp Paul Ely với sự tán thành của Tướng Lawton Collins, buộc Thủ Tướng Diệm ngưng chiến. Như thế ông Diệm cố gắng thiết lập chính quyền cho toàn quốc và tại ngay Thủ Đô th́ bị 2 ngoại bang ngăn chận.

Về phần Pháp, Tướng Pau Ely, Cao Ủy Pháp, lư luận rằng ông sợ nội chiến lan rộng và ông có trách nhiệm bảo vệ Pháp kiều và ngoại kiều khác nên ông can thiệp buộc hai bên ngưng chiến, dù ông chấp nhận nước Pháp sẽ không c̣n liên hệ về chính trị với Quốc Gia Việt Nam và Cố vấn Mỹ sẽ thay thế Cố vấn Pháp. Ông cảm thấy phải làm trọng tài trong cuộc xung đột giữa Thủ Tướng Diệm và các giáo phái, ông muốn tạo nên sự thông cảm và ḥa hợp giữa ông Diệm và những người Pháp c̣n có quyền lợi tại Việt Nam. Mối quan tâm khác của ông là sự bất măn và va chạm càng ngày càng gia tăng giữa người Pháp và người Mỹ tại Sài G̣n về những quan điểm bất đồng đối với ông Diệm và giáo phái. C̣n đa số người Pháp tại Sài G̣n cũng như dư luận và báo chí tại Paris đều không hài ḷng về việc Nội các Medés France chấp nhận chính sách của Hoa Kỳ về Việt Nam và ủng hộ Chính Phủ Diệm. Người Pháp thấy ḷng tự ái thực dân và những quyền lợi thống trị về kinh tế và chính trị của họ bị tổn thương, v́ lập trường quốc gia quyết liệt không nhân nhượng ông Diệm trong việc giành lại chủ quyền và chấm dứt chế độ thực dân vàng son của họ. Đại đa số báo chí Pháp chỉ trích Thủ Tướng Diệm và việc Hoa Kỳ ủng hộ ông, ngay cả trước khi sự xung đột với B́nh Xuyên giáo phái xảy ra. Một số thường xuyên phao tin bất lợi và tiên đoán rằng Chính Phủ Diệm gần sụp đổ. Thực dân người yêu nước, ông Diệm không thể nào để một việc như vậy xảy ra được. Ông Diệm đưa Pháp biết rằng họ chỉ c̣n hy vọng tạo nên một chính phủ tay sai kiểu Xuân, Hữu, Tâm nếu ông Diệm thất bại, không dẹp được B́nh Xuyên và các giáo phái. V́ thế, họ mở một chiến dịch đả kích dữ dội Thủ Tướng Diệm. Nhiều nhà báo Pháp miêu tả ông Diệm là cứng rắn bất lực, ông sẽ làm nguy hại cho sự sống c̣n của Nam Việt Nam. Họ tố ông là yếu kém, không được dân chúng ủng hộ và không có khả năng ngăn chận cộng sản. Đây là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp để đối phó với thái độ quyết liệt của ông Diệm giành lại chủ quyền.

C̣n về phần người Mỹ nói chung, họ có cảm t́nh với những cố gắng giành lại chủ quyền của Thủ Tướng Diệm. Đại Tá Lansdale, Trưởng phái đoàn quân sự Sài G̣n, tức một Toán đặc công đặc biệt của Trung Ương T́nh Báo gặp ông Diệm hàng ngày, có thiện cảm với ông và hết ḷng giúp ông, tức thực thi chánh sách của Tổng Thống Eisenhower là ủng hộ ông Diệm lập nên một Chính Quyền Quốc Gia vững mạnh chống lại được sự bành trướng của cộng sản. Nhưng người Mỹ có vai tṛ quyết định tại Sài G̣n là đặc phái viên của Tổng Thống, tức Tướng Lawton Collins. Ông này đă làm bổn phận cứu Chính Phủ Diệm trong tháng 11.1954, bằng cách dùng áp lực với Pháp buộc Tướng Hinh phải rời Sài G̣n đi Pháp, rồi bị giải nhiệm trở lại Không Quân Pháp. Nhưng Tướng Collins không hiểu ǵ về t́nh h́nh Việt Nam. Ông cho rằng ông Diệm bướng bỉnh, khó giao thiệp và trao đổi ư kiến. Ông không hài ḷng khi ông Diệm không nghe lời ông đề cử Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Tổng Trưởng Quốc Pḥng, nhưng chọn ông Hồ Thông Minh. Ông ngă dần về quan điểm của Cao Ủy Pháp Paul Ely. Tướng Collins đi đến kết luận là ông Diệm sẽ thất bại. Ông đệ tŕnh một khuyến cáo mật lên Tổng Thống Eisenhower đề nghị bỏ rơi Thủ Tướng Diệm.

Trong khi ấy ông Diệm vẫn cương quyết tiếp tục đối phó với phe B́nh Xuyên và giáo phái. Ngày 31.3.1955, trong một buổi lễ long trọng, Tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương đem 8.000 binh sĩ diễn hành trong sân Dinh Độc Lập và tuyên thệ về theo Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Trong hai tuần lễ tiếp của tháng 4.1955, t́nh h́nh Sài G̣n-Chợ Lớn bắt đầu căng thẳng. Quân Đội Chính Phủ cũng như phe B́nh Xuyên củng cố các vị trí của ḿnh với các bao cát, hàng rào dây thép gai hay bố trí thêm binh sĩ. Có nơi lính hai bên gờm nhau hai bên đường,  c̣n xe cộ và bộ hành lưu thông ở giữa đường.

Các lực lượng Pháp cũng kéo vào Thành Phố, đậu chiến xa trên các lề đường và dùng bao cát và giây kẽm gai để lập các vùng gọi là khu vực Pháp và lính B́nh Xuyên có thể di chuyển tự do và công khai với sự bảo vệ của quân Pháp. Ngoài ra, người Pháp c̣n lập ra một khu vực Pháp, sát cạnh ngay Dinh Độc Lập, phe B́nh Xuyên cũng tăng cường sự pḥng thủ Trụ sở cảnh sát dưới quyền họ, sau này là Bộ Nội Vụ tại Đường Catinat, sau đổi tên là Đường Tự Do.

Các khu vực Pháp chiếm độ một nửa Thành Phố Sài G̣n-Chợ Lớn với độ 30.000 lính chưa kể các đơn vị tại vùng ngoại ô. Dân chúng Việt thấy rơ ràng là Pháp uy hiếp Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đang thu hồi lại chủ quyền từ người Pháp và ủng hộ phe B́nh Xuyên lâu nay làm tay sai cho Pháp và độc quyền cờ bạc, đĩ điếm và thuốc phiện lậu. Phe B́nh Xuyên có độ 4000-5000 lính chia ra chừng 16 Tiểu Đoàn, với quân số độ 400 người cho mỗi Tiểu Đoàn với nhiều vũ khí tự động. Pháp có thể đă cấp cho B́nh Xuyên loại súng cối 81 ly nguy hiểm hơn súng cối 60 ly mà lâu nay họ dùng pháo kích vào Dinh Độc Lập. Pháp cấp cho B́nh Xuyên 3 pháo thuyền nhỏ để hoạt động trên các sông vùng Sài G̣n-Chợ Lớn. C̣n Chính Phủ Việt Nam chỉ có một Hải Quân tí hon do sĩ quan Pháp chỉ huy. Pḥng Nh́ tức là sở phụ trách t́nh báo quân sự vẫn do sĩ quan Pháp điều hành, nên Thủ Tướng Diệm phải tổ chức một hệ thống t́nh báo riêng để biết về đối phương, do ông Ngô Đ́nh Nhu phụ trách với sự cộng tác của một số người như ông Nguyễn Ngọc Thơ, Mai Hữu Xuân và người Hoa như ông Lư Khai. Thủ Tướng Diệm chỉ đạo sự bố trí các đơn vị của Quân Đội Quốc Gia, chuẩn bị tấn công các vị trí B́nh Xuyên khi chiến cuộc bùng nổ với Tướng Lê Văn Tỵ và các sĩ quan cấp Tá Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Minh.

GIẢI PHÁP THỰC DÂN ELY&COLLINS

Trong khi ấy Tướng Pháp Ely và Tướng Mỹ Collins thỏa thuận với nhau về một giải pháp cho vụ tranh chấp. Trước hết, Đại Tá Lansdale được giao phó tổ chức một buổi họp Pháp-Mỹ với các giáo phái tại Chợ Lớn. Từng lănh tụ giáo phái được hỏi ư kiến về t́nh h́nh và nhận định của họ đối với Chính Phủ do sĩ quan Pháp chủ tọa. Lợi dụng buổi họp, Đại Tá Lansdale t́m cơ hội tiếp xúc với Đại Tá Thái Hoàng Minh, Tham Mưu Trưởng của Bảy Viễn và lôi cuốn ông về với chính phủ. Ông Thái Hoàng Minh nói sẽ đem về 4 Tiểu Đoàn cho Thủ Tướng Diệm v́ ông tin tưởng ông Diệm. Nhưng sau đó Bảy Viễn và Pháp nghi ngờ nên ông Minh bị Bảy Viễn cho người đến nhà bắt giết, khi ông về nhà đem vợ con đi theo Chính Phủ Diệm.

T́nh thế trở nên khó khăn cho Thủ Tướng Diệm. Tại Thành Phố Cannes, Bảo Đại tỏ vẻ lạnh nhạt, không chịu tiếp kiến ông Ngô Đ́nh Luyện do Thủ Tướng Diệm phái sang, mặc dầu Bảo Đại và ông Luyện lâu nay thân thiết với nhau. Các người thân tín của Bảo Đại tại Sài G̣n phao tin rằng Bảo Đại sắp về nước. Tin này có phản ứng làm dân chúng nổi dậy chống Bảo Đại v́ họ thấy rơ sự liên hệ giữa B́nh Xuyên và Bảo Đại. Phe B́nh Xuyên cũng gây ra t́nh trạng bất ổn trong Thành Phố bằng cách cho nhiều xe ‘’díp’’ chở lính mặc thường phục chạy qua các đường phố lúc hoàng hôn và bắn bừa băi gây thương tích cho nhiều thường dân. Họ c̣n khiêu khích các sĩ quan cao cấp của Quân Đội, khi cho người đi xe díp bắn vào cổng Bộ Tham Mưu Đường Galliène vào một buổi trưa, khi các vị sĩ quan này ra cổng đi ăn cơm trưa, nhưng may không có ai bị ǵ. Quân B́nh Xuyên lộng hành, Đại Tá Tham Mưu Trưởng Trần Văn Đôn đi đường c̣n bị lính xung phong của B́nh Xuyên chọc tức, như ông kể trong hồi kư của ông.

Trong khoảng thời gian này, Quân Đội Quốc Gia c̣n phải nhận đạn dược và xăng nhớt từ quân đội Pháp với sự cung cấp rất hạn chế. Tướng Collins c̣n khuyến cáo Thủ Tướng Diệm một cách gắt gao không được mở lại cuộc tấn công phe B́nh Xuyên. Một Phát Ngôn Viên của Chính Phủ tuyên bố ngày 7.4.1955 rằng ‘’sự can thiệp của Tướng Collins trói buộc tay chân của chúng tôi’’

            Thủ Tướng cũng được hai Tướng Ely và Collins thông báo về giải pháp do hai ông đề nghị để giải quyết vấn đề giáo phái. Giải pháp gồm 5 điểm chính:

            1.- Chính Phủ trở thành lâm thời và liên hiệp với một số người chống ông Diệm.

            2.- Thủ Tướng Diệm sẽ cử một Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát mới, vị này phải được chính phủ liên hiệp và phe B́nh Xuyên chấp nhận để khỏi đổ máu.

            3.- Một hội đồng lâm thời, sẽ được đề cử và nhóm họp vào ngày 15. 5, các giáo phái đề cử 60 đại biểu, dân di cư 10, ông Diệm 10. Hội đồng lâm thời này sẽ góp ư kiến với Bảo Đại nên cử ai làm Thủ Tướng.

            4.- Một Hội Đồng tối cao danh dự, gồm các Lănh Tụ các Giáo Phái sẽ cử làm Hội Đồng Tư Vấn.

            5.- Hai người em trai ông Diệm là ông Ngô Đ́nh Nhu và ông Ngô Đ́nh Luyện phải rời xứ trong thời gian này.

Bất cứ người nào, Việt hay nước ngoài, khách quan một chút, đâu cần ǵ bênh vực cho ông Diệm, cũng thấy rằng với giải pháp như thế, Tướng Mỹ Collins đă ngă về chính sách thực dân cố hữu của Pháp là loại trừ ông Diệm, một người Việt yêu nước đang giành lại chủ quyền.  Như thế, Pháp có thể tiếp tục thống trị miền Nam qua nhóm tay sai này cho đến tháng 7.1956 rồi tổ chức tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève, dâng miền Nam cho cộng sản Hà Nội. Pháp khai thác và bóc lột được 2 năm nữa và sẽ được điểm tốt với cộng sản Hà Nội. Tướng Pháp Ely, Thủ Tướng Medès France hay dân Pháp nói chung thương ǵ dân Việt hay để ư bảo vệ quyền lợi và nền tự chủ của dân tộc Việt Nam đâu, người Mỹ Lawton Collins cũng vậy mà thôi.

Thủ Tướng Diệm đă gởi một Thông Điệp trả lời thích đáng đề nghị của hai Tướng Pháp và Mỹ, nước Pháp đă tạo ra phe B́nh Xuyên và các giáo phái bằng cách trang bị vũ khí và nuôi dưỡng họ, nước Pháp lâu nay chia rẽ để trị, nay nước Pháp cần phải giải giới họ là giải quyết vấn đề.

Đại Tá Lansdale gặp ông Diệm hằng ngày tại Dinh Độc Lập và ông cho Tướng Collins biết là không bao giờ ông Diệm chấp nhận một giải pháp như vậy. Đây là một sự khiêu khích với dân Việt hơn là một cách giải quyết vấn đề giáo phái. Nếu công bố giải pháp này, dân Việt sẽ nổi dậy đứng về phe ông Diệm và t́nh thế sẽ trở nên bất ổn. Tướng Collins bảo rằng mục tiêu là làm cho một t́nh thế sôi bỏng nguội dần để tránh đổ máu. Tướng Collins cần về Hoa Thịnh Đốn. Ông Lansdale hỏi Tướng Collins rằng nên trả lời thế nào với ông Diệm, nếu một cuộc xung đột xảy ra và nếu ông Diệm hỏi rằng Hoa Kỳ c̣n ủng hộ ông không? Tướng Collins đáp rằng ông Lansdale nên nói là Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông Diệm v́ ông là người cầm đầu Chính Phủ mà Hoa Kỳ thừa nhận và c̣n thêm rằng nếu nghe tin đồn như Hoa Kỳ không c̣n ủng hộ ông Diệm nữa th́ cứ bỏ qua và cứ bảo ông Diệm rằng Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông.

Tướng Collins về Hoa Thịnh Đốn ngày 23.4.1955. C̣n Thủ Tướng Diệm lên đài phát thanh lên tiếng mời các lănh tụ B́nh Xuyên và các giáo phái đến gặp ông để dàn xếp. Ông thừa nhận rằng Chính Phủ không c̣n trả lương cho các lực lượng bổ túc tức B́nh Xuyên và các giáo phái, nhưng ông sẽ cố gắng giải quyết vấn đề này nếu họ sẵn ḷng cộng tác với Chính Phủ. Ông Diệm cũng công bố rằng trong 3 tháng nữa sẽ tổ chức tuyển cử để bầu Dân Biểu vào Quốc Hội. Ông kêu gọi toàn dân hăy thống nhất ư chí để thực hiện nền độc lập của xứ sở sau 80 năm bị ngoại bang đô hộ. Ông cũng cho biết rằng Quân Đội Quốc Gia có đủ phương tiện chống lại mọi mưu toan bạo động. Trong khi ấy, ông Diệm cũng lo việc tiếp thu các Tỉnh Trung Bộ là Phú Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi và một phần Quảng Nam, khi quân kháng chiến rút dân về Quy Nhơn để xuống tàu Ba Lan đi ra Bắc.

Trong khi ông Diệm có thái độ dè dặt và nhân nhượng, một phần dân chúng và một số người ủng hộ ông hay cả Quân Đội, lại hiểu lầm và than phiền là ông kém cương quyết. Sao không thay thế Lai Văn Sang ngay trong chức vụ Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát và sao không tấn công dẹp B́nh Xuyên đang lộng hành giữa Thủ Đô như vậy? Họ cảm thấy bất ổn.  Thủ Tướng Diệm cũng nhận được một điện tín của Bảo Đại bảo nên kéo dài hưu chiến đến cuối tháng 4.1955 và đ̣i 30 triệu bạc. Nhưng ông Diệm đâu có tiền gởi sang cho Bảo Đại.  Trong khi ấy, Pḥng Nh́ của quân đội Pháp và các giới thực dân Pháp va chạm nhau với toán CIA dưới quyền Đại Tá Lansdale, v́ các hoạt động đối nghịch nhau. Pháp ủng hộ B́nh Xuyên c̣n Mỹ giúp ông Diệm. Ông Lansdale có bị mưu sát, bắn lén và suưt bị xe vận tải đâm vào xe ông.

THỜI GIAN CĂNG THẲNG

Tháng 4.1955 có thể xem là thời gian căng thẳng nhất trong đời chính trị của ông Diệm, nếu so với tháng 10. 1963 trước khi ông bị đảo chánh và ám sát. Thủ Tướng Diệm có thể nói là không c̣n chính phủ nữa. Các Tổng Trưởng Cao Đài và Ḥa Hảo đă từ chức từ cuối tháng 3.1955. Tiếp theo, Tổng Trưởng Quốc Pḥng Hồ Thông Minh và Tổng Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Đỗ cũng thôi việc. C̣n Tổng Trưởng Kế Hoạch Nguyễn Văn Thoại đang làm Trưởng Đoàn dự Hội Nghị các quốc gia không liên kết tại Bandung, Indonesia, cũng lên tiếng từ nhiệm và đây là một bất lợi lớn ngoại giao cho Thủ Tướng Diệm. Nhiều công chức cao cấp trước kia do Pháp hay các nội các tay sai bổ nhiệm cũng xin thôi việc. Nhiều vùng thôn quê ở Nam bộ cũng tiếp tục bị giáo phái hay cộng sản thống trị. Ông Diệm không có đủ người và Đơn Vị Quân Đội cần phải gởi đến các vùng mới tiếp thu từ phe cộng sản. Chỉ có một số Đơn Vị Quân Đội sẵn ḷng ủng hộ Chính Phủ và chiến đấu chống B́nh Xuyên và Chính Phủ cần các đơn vị này tại Sài G̣n. C̣n các vị chỉ huy các đơn vị khác thờ ơ, cầu an hoặc không thích ông Diệm hay có thái độ thụ động, chờ xem. Một số chỉ huy quân sự cũng báo cho Thủ Tướng rằng họ không muốn can dự vào nội chiến. Ông Diệm t́n cách đem thêm vào Sài G̣n vài Tiểu Đoàn mà ông có thể tin cậy được, nhưng Tướng Ely không chịu cấp phương tiện chuyên chở.  Quân đội Pháp rất hạn chế trong việc cấp nhiên liệu như xăng nhớt cho các Đơn Vị của Quân Đội Quốc Gia. Tại Sài G̣n, người Pháp t́m cách ngăn chặn sự điều động các Đơn Vị của Quân Đội Việt nữa. Họ để quân B́nh Xuyên tự do di chuyển và mở rộng phạm vi của B́nh Xuyên tại Sài G̣n-Chợ Lớn và chiếm giữ thêm các điểm chiến lược trong Thành Phố. Ngày 19.4 một phát ngôn của B́nh Xuyên tuyên bố với một phóng viên Pháp như sau: ‘’Diệm đang trở nên mỗi ngày một suy yếu thêm. Quân Đội không theo ông và các Tướng bỏ rơi ông. Bảo Đại khuyến khích chúng tôi cầm cự cho đến khi thanh toán được Thủ Tướng Diệm. Người Pháp đứng về phe chúng tôi và người Mỹ đang thay đổi thái độ. Nếu Diệm gây chiến, y sẽ sụp đổ càng chóng hơn và tính mạng y sẽ bị đe dọa’’.

Ngoài ra, ông Diệm h́nh như không c̣n có thể vận động, lôi cuốn hay mua chuộc các lănh tụ các giáo phái được nữa. Ông Hộ Pháp Cao Đài Phạm Công Tắc đả kích việc Tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương về với Chính Phủ và nói rằng binh sĩ Cao Đài sẽ không tuân lệnh Tướng Phương. Tướng Ḥa Hảo Nguyễn Giác Ngộ nuốt lời hứa trong tháng 2 là sẽ đem quân về với Chính Phủ. C̣n các lănh tụ Ḥa Hảo khác như Năm Lửa Trần Văn Soái, Lâm Thành Nguyên và Ba Cụt đều bác bỏ sự vận động mới về với chính quyền ngày 23.4.1955.  Trong khi ấy, thực dân Pháp vận động ráo riết với Bảo Đại để loại trừ ông Diệm. Cựu Phó Cao Ủy Pháp là Jean Daridan chạy đôn đáo từ Sài G̣n đến Cannes về Paris để vận động Bảo Đại và chính phủ Pháp chống ông Diệm hơn thế nữa. Giới thực dân Pháp tại Sài G̣n c̣n muốn quân đội Pháp can thiệp trực tiếp vào vụ xung đột về phe B́nh Xuyên. Trong khi ấy, dù ham mê cờ bạc và ăn chơi, Bảo Đại vẫn theo dơi t́nh thế. Ông cảm thấy Hoa Kỳ không c̣n ủng hộ Thủ Tướng Diệm như trước, qua sự phản ảnh của các viên chức cao cấp Mỹ trong báo chí, đài truyền h́nh, hoặc số người Mỹ tại Pháp hay Sài G̣n. Có lẽ v́ vậy, Bảo Đại sẽ can thiệp vào cuộc xung đột giữa Chính Phủ và B́nh Xuyên.

Đến cuối tháng 4.1955 các quan sát viên cũng như các báo chí Pháp, Anh hay Mỹ đều cho rằng những ngày làm Thủ Tướng của ông Diệm không c̣n bao lâu nữa. Báo chí Pháp nói chung, có thái độ thù nghịch chống ông Diệm ra mặt và cho rằng sự sụp đổ của ông Diệm là một điều may mắn cho Nam Việt Nam. Báo chí Anh tỏ ra tiếc về những nhược điểm của ông Diệm và nhấn mạnh rằng những điều này làm cho sự thất bại của Thủ Tướng Diệm không thể tránh được. Tại Hoa Kỳ, chỉ một số ít báo chí chống ông Diệm, nhưng hầu hết các báo viết không c̣n hy vọng ǵ Chính Phủ Diệm có thể tồn tại được. Đa số báo chí, ngay những tờ lâu nay ủng hộ ông Diệm, đều chấp nhận sự kết thúc không may mắn, tức là sự sụp đổ của Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm v́ nội chiến và sự sụp đổ này làm cho miền Nam sẽ mất vào tay cộng sản.

Trong khi ấy, ông Diệm vẫn cương quyết đối phó. Ngày 25.4 ông cho Đại Tá Lansdale biết ông không c̣n có thể giải quyết ôn ḥa được nữa. Hôm sau, ông kư Nghị Định giải chức Lai Văn Sang và cử Đại Tá Nguyễn Ngọc Lễ làm Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát, ông cũng ra lệnh tất cả Nhân viên Công An Cảnh Sát lâu nay dưới quyền Lai Văn Sang phải đến tŕnh diện Đại Tá tân Tổng Giám Đốc trong ṿng 24 giờ, nếu không, sẽ bị truy tố ra Ṭa Án Binh. Qua ngày sau, Chính Phủ công bố lệnh cấm B́nh Xuyên di chuyển trong Thành Phố.  B́nh Xuyên không tuân lệnh của Chính Phủ và quân hai bên bắt đầu xung đột tại các nơi trong Thành Phố. Trưa 28.4.  Quân Nhảy Dù bắn vào một Ṭa nhà của B́nh Xuyên trên Đại Lộ Galliéne rồi sau đấy, 4 Tiểu Đoàn Dù và một Đơn Vị Thiết Giáp tấn công vào các vị trí B́nh Xuyên, c̣n phe B́nh Xuyên nă súng cối vào Dinh Độc Lập.

Tại Cannes, Bảo Đại đánh điện về ra lệnh Thủ Tướng cử Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Tướng Lê Văn Tỵ. Lúc bấy giờ Tướng Vỹ đang chỉ huy Ngự Lâm Quân tức các Tiểu Đoàn Pḥng Vệ Quốc Trưởng tại Đà Lạt. Ông Diệm đoán không sai ư đồ của Bảo Đại là sẽ cử Tướng Vỹ làm quyền Thủ Tướng và triệu hồi ông đi Pháp.

Trưa ngày 28.4, Đại Tá Lansdale được điện thoại của Dinh Độc Lập mời gặp Thủ Tướng Diệm gấp. Theo ông Lansdale thuận trong hồi kư ‘’In The Midst of Wars’’, xin tạm hiểu là ‘’Ở giữa những cuộc chiến tranh’’, khi vào Dinh Độc Lập, ông thấy ông Diệm đi tới đi lui dưới hiên lầu 2. Ông Diệm nói là vừa nhận được tin từ Hoa Thịnh Đốn cho biết là Tổng Thống Eisenhower đă cho Tướng Collins thay đổi chính sách về Việt Nam, bỏ rơi ông và thay thế bằng một chính phủ liên hiệp. Ông Diệm nh́n thẳng mặt ông Lansdale và hỏi rằng: ‘’Tin này có đúng hay không?’’ Đại Tá Lansdale đáp rằng ông không tin v́ Tướng Collins đă cam kết với ông là Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông Diệm dù có tin đồn trái ngược, ông sẽ điện về hỏi Hoa Thịnh Đốn và phải mất nhiều giờ mới phúc đáp, v́ buổi trưa tại Sài G̣n là độ nửa đêm tại Hoa Thịnh Đốn. Ông Diệm cũng cho biết là đă xảy ra nhiều vụ nổ súng trên các đường phố. Khi lái xe đến Dinh Độc Lập, ông Lansdale và Trung Úy Redick đi với ông đă phải xuống xe để núp khi súng nổ gần Dinh Gia Long. Theo ông Diệm, B́nh Xuyên đă gây hấn, họ đă có súng cối 81 ly và đặt nhắm vào Dinh Độc Lập.

Sau đấy, ông Lansdale lái xe về nhà ở Đường Duy Tân. Vừa vào sân nhà, ông nghe tiếng nổ lớn về phía Dinh Độc Lập. Cuộc tấn công của phe B́nh Xuyên bắt đầu th́ phải. Khi ông vào nhà, điện thoại đang reo. Thủ Tướng Diệm gọi ông, giọng b́nh thảm. Ông Diệm nói sẽ kêu điện đàm với Tướng Ely và đă sắp xếp với Tổng Đài để ông Lansdale nghe tiếng nói của Tướng Ely và hỏi ông Diệm và Ely nói với nhau bằng tiếng Pháp. Ông Diệm nói rằng B́nh Xuyên đă nă súng cối vào Dinh Độc Lập và vụ pháo kích này hủy bỏ cuộc hưu chiến. Tướng Ely bảo không nghe tiếng nổ ǵ cả từ nhà ông ấy. Nhà Tướng Ely ở gần Dinh Độc Lập hơn nhà ông Lansdale độ nửa đường và ông Lansdale nghe có tiếng nổ. Ông Diệm có vẻ ngạc nhiên bảo rằng Tướng Ely không nghe ǵ hết về tiếng trái phá nổ tại Dinh Độc Lập, rồi tiếng động...rồi điện thoại ngưng nói, giọng ông Diệm trở lại trên đường dây điện thoại, hơi run. Ông hỏi Tướng Ely có nghe không? Một trái phá đă nổ vào tường của pḥng ngủ, nơi ông đang nói điện thoại, ông muốn Tướng Ely hiểu rằng ông đă không phá vỡ cuộc ngưng chiến, nhưng B́nh Xuyên đă làm việc này và ông đă ra lệnh Quân Đội đánh trả ngay lập tức. Tướng Ely bắt đầu muốn nói ǵ nhưng ông Diệm chận lời, bảo rằng đă cho Tướng Ely biết hết tất cả các sự kiện rồi và ông hành động. Ông Diệm cúp điện thoại.

ĐÁNH DẸP B̀NH XUYÊN

            Chiến sự đă bùng nổ trong Thành Phố. Các Tiểu Đoàn Bộ Binh và một bộ phận Thiết Giáp đánh vào các vị trí của B́nh Xuyên. Nhà báo John Mecklin, phóng viên của tạp chí Time & Life và nhiếp ảnh viên Howard Sochurek đă chứng kiến trận đánh đẹp mắt tại sở cảnh sát trên Đường Trần Hưng Đạo, sau đổi tên là Đồng Khánh. Một Đại Đội bị một tiểu đoàn B́nh Xuyên bao vây và tấn công với súng máy. Nhưng khi quân B́nh Xuyên tiến sát gần, Đại Đội này phản công, làm cho Tiểu Đoàn B́nh Xuyên chạy tán loạn vứt bỏ mũ bê rê màu lục của họ đầy đường.

Quân Đội Quốc Gia đánh vào vị trí B́nh Xuyên tại Trường Trung Học Petus Kư và bắt giữ được 37 người Pháp đồng lơa với B́nh Xuyên và chiếm khu ṣng bạc Đại Thế Giới.  Các Đơn Vị Quân Đội đều có tinh thần chiến đấu anh dũng, c̣n số lính B́nh Xuyên là loại ô hợp, trước kia là du đăng, tay anh chị, lâu nay cậy thế Pháp để mang vũ khí uy hiếp đồng bào,  chứ đâu có lư tưởng và tinh thần ǵ đâu. Đại Tá Lansdale lái xe đi nhiều nơi trong Thành Phố Sài G̣n-Chợ Lớn, quan sát t́nh h́nh để báo cáo về Trung Ương T́nh Báo. B́nh Xuyên đại bại khắp nơi.

Nhưng Cao Ủy Pháp và Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n đă gởi báo cáo về Paris và Washington cho biết t́nh thế trái ngược, đổi trắng thay đen, do chiến dịch truyền thông xuyên tạc dữ dội của người Pháp tại Sài G̣n. Ngay các bức điện tín đầu tiên của Đại Tá Lansdale  gởi về CIA Trung Ương tại Hoa Kỳ ở Langley, Virginia, cũng không được cấp trên tin v́ nội dung trái ngược hẳn với tin tức mà chính phủ Mỹ tại Washington nhận được từ các nguồn khác. Washington điện cho Đại Tá Lansdale rằng nếu quả thật ông Diệm c̣n sống, c̣n cầm đầu Chính Phủ, c̣n được Quân Đội ủng hộ như Đại Tá Lansdale báo cáo, th́ các tin này phải được các viên chức cao cấp khác tại Sài G̣n xác nhận. Trong khi ấy, vị Sĩ Quan Tùy Viên Lục Quân tại Ṭa Đại Sứ Mỹ và Tướng O’Daniel, Trưởng Đoàn Cố Vấn Quân Sự MAG, cũng có nhận xét như Đại Tá Lansdale.

Chiều 29.4. Lansdale và Trung Úy Redrick đến Dinh Độc Lập. Toàn cả Dinh giống như băi chiến trường. Khu vườn rộng bao quanh Dinh có nhiều lỗ do trái phá nổ đào ra, vỏ đạn rải rác nhiều nơi và nhiều bức tường trong Dinh bị vỡ v́ bị trúng các mảnh trái phá. Các cửa sổ đều đóng kín. Ông Diệm tiếp hai người Mỹ trong một pḥng nhỏ, gần pḥng ngủ của ông. Trong pḥng chỉ có một bàn nhỏ đầy giấy tờ, một ghế cho ông Diệm và hai ghế nhỏ được mang đến cho hai người khách Mỹ ngồi.

Thủ Tướng Diệm ngồi xuống ghế, thay v́ đi tới đi lui như thường làm, có quầng đen quanh hai mắt và giọng nói của ông chậm răi hơn b́nh thường. Ông cho biết về sự tiến quân của các Đơn Vị Quốc Gia, B́nh Xuyên chỉ c̣n giữ được cầu chữ Y và phía Nam Chợ Lớn,  sáng mai Quân Đội sẽ đánh qua vùng này, một số đơn vị B́nh Xuyên dưới quyền Đại Tá Thái Hoàng Minh đă qua được một con sông đào và trở về với Chính Phủ như ông sắp đặt, một số khác c̣n phải tác chiến vượt qua pḥng tuyến B́nh Xuyên để đến được vùng Quân Đội Quốc Gia kiểm soát.

Với giọng đầy xúc động, ông Diệm cho biết rằng Đại Tá Thái Hoàng Minh đă  bị hộ vệ viên của Bảy Viễn bắt giữ, khi ông về nhà để đem vợ con về vùng chính phủ. Ông Diệm cũng lấy ra một bức điện tín mà Bảo Đại vừa gởi đến và đọc lớn lên. Lời lẽ trong bức điện tín cho thấy rằng tác giả giận dữ lắm. Bảo Đại nói rằng ông Diệm làm Thủ Tướng để đoàn kết và phục vụ an sinh của dân Việt Nam. Thay v́ làm việc này, ông Diệm đă bất tuân Bảo Đại, ông đă hủy hoại mất t́nh thân hữu với nước Pháp, ông đă đưa người Việt yêu chuộng ḥa b́nh vào cuộc chiến tranh ghê tởm huynh đệ tương tàn. Hai tay ông Diệm đă dính đầy máu của đồng bào vô tội. Hàng ngh́n người đă mất nhà v́ các hỏa tai do ông gây ra. Ông Diệm đă gây ra đại họa. Vậy khi nhận được điện tín này, ông phải đáp chuyến phi cơ đầu tiên rời Sài G̣n đi Pháp tŕnh diện Quốc Trưởng và giao quyền chính phủ cho Tướng Nguyễn Văn Vỹ.

Để có quyết định về bức điện tín của Bảo Đại, ông Diệm duyệt lại với Đại Tá Lansdale và trước sự có mặt của Trung Úy Redick, cả quá tŕnh tranh đấu của ông đưa đến vụ khủng hoảng hiện tại và từ đấy rút ra các nguyên tắc chỉ đạo con người của ông. Theo ông, quyền hành của Chính Phủ phải dùng để phục vụ dân tộc. Giành lại quyền công an cảnh sát từ B́nh Xuyên là đúng, v́ lâu nay bọn này làm giàu với sự độc quyền về cờ bạc, đĩ điếm và thuốc phiện. Nếu ông Diệm rời Sài G̣n đi Pháp, quyền hành sẽ lọt vào tay Bảy Viễn và B́nh Xuyên và việc này là một đại họa cho dân tộc. Chính phủ không thể đặt nền tảng trên các tệ đoan mà dân chúng coi khinh. Chính Phủ phải có căn bản vững chắc về liêm chính, dân chúng mới tham dự sinh hoạt quốc gia. Nếu không làm như thế là không có tự do.

Ngay lúc ấy, ông Nhu bước vào và cho biết đài phát thanh B́nh Xuyên đang loan tin nội dung của bức điện tín của Bảo Đại. Như thế, B́nh Xuyên đă nhận được bản sao từ Bảo Đại hay tay chân của Bảo Đại tại Sài G̣n. Ông Diệm nghiến răng, Quốc Trưởng Bảo Đại đă công bố bức điện tín với những kẻ đang t́m cách đánh đổ ông. Như thế ông quyết định ở lại lănh đạo Chính Phủ. Ông Lansdale hỏi lại ông Diệm có dứt khoát về quyết định của ông không? Và ông Diệm đáp rằng ‘’ông biết ông đang làm một việc đúng. ’’

Sau đấy ông Lansdale về Ṭa Đại Sứ, tường tŕnh cho xử lư Randy Kider tạm quyền thế Trưởng nhiệm sở Tướng Collins đă về Washington. Ông cũng đánh điện về CIA Trung Ương thuận những điều ông Diệm đă nói về t́nh h́nh chiến sự với Quân Đội Quốc Gia đánh bại B́nh Xuyên.

Bức điện của Đại Tá Lansdale được Tổng Giám Đốc CIA Dulles cho người cầm tay đến Bộ Ngoại Giao đệ tŕnh ngay cho Ngoại Trưởng Foster Dulles. Ông này nhận được bức điện trong khi đang dùng cơm khách, ông xin cáo lỗi và ngay lập tức đi đến Bạch Cung để gặp Tổng Thống Eisenhower. Trước đấy, Tướng Lawton Collins đă được Tổng Thống tiếp kiến và ông cũng có thảo luận với Tổng Thống và Ngoại Trưởng về vấn đề miền Nam Việt Nam. Tổng Thống đồng ư về đề nghị của Tướng Lawton Collins là chấm dứt sự ủng hộ ông Diệm, lập một chính phủ liên hiệp tại Sài G̣n và cho Tướng Collins toàn quyền giải quyết vấn đề chính trị tại Sài G̣n. Ngoại Trưởng Forter Dulles cho điện sang Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n về sự thay đổi chính sách này. Nay ông Diệm thắng, Tổng Thống Mỹ ủng hộ ông trở lại. Trong khi ấy Tướng Collins đang trên đường bay về Sài G̣n để thực thi chính sách mới. Ngoại Trưởng Foster Dulles cho đánh điện sang Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n ra lệnh đốt bỏ bức điện tín trước về sự thay đổi chính sách đối với ông Diệm.

Tuy chiến sự tiếp diễn có lợi cho Chính Phủ, nước Pháp vẫn c̣n cố gắng tấn công Thủ Tướng Diệm. Ngày 29.4.1955 Thủ Tướng Pháp Edgar Faure, người thay thế ông Mendés France trong chức vụ Thủ Tướng từ tháng 2.1955 ra một tuyên ngôn nói rằng ông Ngô Đ́nh Diệm không có khả năng làm Thủ Tướng và Pháp cũng thừa nhận Nguyễn Văn Vỹ là Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam. Nhưng cũng trong  ngày này, Ngoại Trưởng Mỹ Foster Duller cảnh cáo Đại Sứ Pháp tại Washington là Couve de Murville rằng Pháp không được có những âm mưu lật đổ ông Diệm nữa. Tại Thủ Đô Paris Pháp, Đại Sứ Mỹ Dillon cũng hội kiến với Thủ Tướng Edgar Faure và đưa ra lời cảnh cáo như thế.

Tại Sài G̣n, người Mỹ yêu cầu người Pháp cung cấp đầy đủ phương tiện vận tải, xăng nhớt đạn dược cho Quân Đội Việt Nam v́ Hoa Kỳ chi tiền. Ngày 30.4.1955, Thủ Tướng Diệm nhận được một điện tín của Bộ Ngoại Giao Mỹ xác nhận là Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông. 

Việc Bảo Đại đứng về phe B́nh Xuyên và Pháp trong vụ xung đột làm cho ông mất cả uy tín. Nhiều đảng phái, nghiệp đoàn, tổ chức và nhân sĩ lập Hội Đồng Cách Mạng lên tiếng đ̣i truất phế ông và đả kích Pháp. Phe ông Diệm, dĩ nhiên có vận động người ta làm việc này,  nhưng lúc bấy giờ dân chúng ủng hộ ông Diệm v́ lâu nay Bảo Đại cứ lo ăn chơi chẳng làm ǵ cho xứ sở cả. Trong một t́nh trạng vô cùng gây cấn, có khi hầu như tuyệt vọng nữa, v́ Pháp và phe tay sai chống đối dữ dội, đa số Tổng Trưởng bỏ rơi ông, c̣n Hoa Kỳ bên trong đă hết ủng hộ, nhưng Thủ Tướng Diệm đă chiến thắng. Ông tượng trưng cho tinh thần dân tộc Việt giành lại quyền tự chủ và quyền độc lập từ người Pháp tại miền Nam. Những người từ 1945-1946 đi lính cho Pháp, đi đánh thuê cho Pháp và dĩ nhiên giết hại đồng bào Việt trực tiếp hay gián tiếp, vô dân Tây hay không, chắc cũng phần nào nhận định như trên khi chọn lựa giữa sự thần phục Bảy Viễn-B́nh Xuyên, hay đánh dẹp bọn này dưới sự lănh đạo của một người như ông Ngô Đ́nh Diệm. Họ được ông đưa lên làm Tướng ngang hàng với các Tướng Pháp rồi Tướng Mỹ, thay v́ làm tay sai ở dưới quyền và đứng chào. Nhưng đến năm 1963, họ nghe lời ngoại bang đảo chánh và giết ông Diệm, rồi lại làm tay sai trở lại. Nhưng sự kiện này thuộc về phần sau.

Chiều 29.4.1955 Cao Ủy Pháp Tướng Ely vận động ngưng chiến để cứu nguy cho B́nh Xuyên nhưng bị thất bại. Cay cú, ông cho 400 xe tăng chạy rầm rộ qua các đường phố Sài G̣n để thị uy. Ngoài ra, các mưu toan của ông Bảo Đại lấy lại quyền hành với việc cử Tướng Vỹ thay Tướng Tỵ cũng bị thất bại và Tướng Vỹ bỏ trốn lên Đà Lạt. Tướng Hinh được Bảo Đại phái về Sài G̣n đâu c̣n dám đáp phi cơ xuống Tân Sơn Nhất nữa mà đến Phnom Penh. Quân Đội Quốc Gia tiếp tục đánh đuổi quân B́nh Xuyên ra khỏi Chợ Lớn rồi tiếp tục truy kích. Cuối cùng tàn quân B́nh Xuyên rút về Rừng Sát và đầu hàng. Phía Quốc Gia cũng bị thiệt hại khi Tướng Tŕnh Minh Thế bị bắn tử thương trên Cầu Tân Thuận ngày 3.5.1955 trong khi ông chỉ huy cuộc tiến quân qua cầu.

Hoa Kỳ hân hoan về sự chiến thắng của Thủ Tướng Diệm, quá sự mong đợi của họ.  Trước kia, dù ủng hộ ông Diệm, họ có nhiều điều hồ nghi, không tin ông Diệm có thể thành công được. Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles cho rằng hy vọng thành công cứu được miền Nam khỏi cộng sản chỉ một phần mười. Thượng Nghị Sĩ Mike Mansield ngày 7.12.1954 nhận định rằng triển vọng Hoa Kỳ giúp ông Diệm giữ vững được miền Nam có vẻ rất đen tối. Đại Sứ Donald Heath ngày 17.12.1954 cũng gởi một bản tường tŕnh bi quan về cơ may thành công của ông Diệm v́ ‘’có mọi bằng cớ cho thấy rằng người Pháp không muốn ông Diệm thành công’’. Đến tháng 1.1955, Tướng Lawton Collins cũng đồng ư với hai nhận định trên trong một báo cáo gởi về Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ. Ngày 7.4.1955, Tướng Collins lại điện về rằng theo ông nhận xét, ông Diệm thiếu những đức tính lănh đạo và khả năng hành chánh cần thiết để cầm đầu một chính phủ có thể tranh đấu chống lại sự đồng nhất về mục tiêu và sự hữu hiệu của Việt minh dưới quyền Hồ chí Minh. Ngày 19.4.1955 Tướng Collins lại điện về Washington rằng không có cách giải quyết nào khác hơn là sớm thay thế ông Diệm với Bác Sĩ Trần Văn Đỗ hay Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nay ông Diệm đă chiến thắng B́nh Xuyên, các chính trị gia Mỹ đổi giọng. Các Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, đảng Dân Chủ và Knowland, đảng cộng Ḥa, ra Tuyên Ngôn ủng hộ ông Diệm. Ngày 2.5.1955 Thượng Nghị Sĩ Hubert Humphrey tuyên bố với đài truyền h́nh như sau:

            ‘’Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm là hy vọng tốt nhất của chúng ta về Việt Nam. Ông ta là người lănh đạo của dân tộc. Ông xứng đáng và phải được ủng hộ trọn vẹn của chính phủ Mỹ và ngoại giao Mỹ...ông là người độc nhất trên khung trời chính trị Việt Nam có thể lôi cuốn được sự ủng hộ của dân chúng một nước đến một mức đáng kể. Nếu chúng ta có điều b́nh phẩm về sự lănh đạo tại Việt Nam, những điều này nên hướng về Bảo Đại...Nếu Chính Phủ Việt Nam không có đủ chỗ cho hai người này, Bảo Đại phải ra đi... ’’

Chính Quyền Mỹ cũng làm áp lực với Pháp để dẹp bỏ những tàn tích thực dân c̣n lại khi nào Thủ Tướng Diệm yêu cầu. Đầu tháng 5.1955, ba nước Hoa Kỳ, Anh và Pháp họp tại Thủ Đô Paris Pháp, để bàn về sự pḥng thủ Âu Châu, nhưng đề tài thật là vấn đề Việt Nam. Lập trường của Hoa Kỳ và của Pháp về ông Diệm nay trở nên đối nghịch nhau. Theo Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles, ông Ngô Đ́nh Diệm là người độc nhất mà Hoa Kỳ thấy có thể cứu Nam Việt Nam chống lại trào lưu cộng sản tại xứ này. Dù có nhận định thế nào về ông Diệm trong quá khứ, nay Hoa Kỳ phải yểm trợ ông Diệm trọn vẹn, không để ông Diệm trở thành một Kerensky (Thủ Tướng Nga sau cách mạng 1917 bị cộng sản lật đổ và cướp quyền). Theo người Mỹ, Bảo Đại chỉ có thể làm Quốc Trưởng hư vị, người ta có thể sử dụng Cao Đài và Ḥa Hảo, chứ không thể dùng B́nh Xuyên được. Hoa Kỳ chi tiền để đài thọ Quân Đội Việt Nam và không t́m ra người nào khác để có thể chi tiền trừ ông Diệm, để nhằm đạt được mục đích bảo vệ miền Nam chống cộng sản. Cuộc cách mạng hiện tại ở Sài G̣n (đây muốn nói về Hội Đồng cách mạng tại Sài G̣n đ̣i truất phế Bảo Đại) chưa bị cộng sản giựt dây hay ảnh hưởng đến mức độ đáng kể. Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm không có nghĩa là Hoa Kỳ không thấy những nhược điểm của ông. Dù trước kia Tướng Collins đă đồng ư với Tướng Ely thay thế ông Diệm, nhưng bây giờ t́nh thế đă đổi thay và Ngoại Trưởng Foster Dulles tin rằng phải ủng hộ ông Diệm.

Thực dân Pháp thường ăn không được là t́m cách đập phá. Tổng Trưởng Pháp về các nước liên kết La Forest nêu ra vấn đề tham khảo vào tháng 7.1955 giữa miền Bắc và miền Nam về tổng tuyển cử năm 1956 nếu có được một Chính Phủ Quốc Gia ổn định và có nền tảng rộng răi trong cách cầm quyền và cai trị. Pháp muốn miền Nam thắng tổng tuyển cử năm 1956. Ông thanh minh tiếp về chánh sách của Pháp giữa Bắc và Nam. Pháp c̣n có phái đoàn do ông Saintenny cầm đầu tại Hà Nội chỉ để bảo vệ quyền lợi kinh tế và văn hóa. Pháp đă từ bỏ chủ trương lập các công ty hỗn hợp với cộng sản v́ Hoa Kỳ phản đối. Pháp cũng đă bỏ luôn các mỏ than tại miền Bắc nữa, Thật ra, Pháp t́m cách vớt vát chút quyền lợi kinh tế tại miền Bắc nhưng bị cộng sản hất.

Tiếp đến, ông La Forest phân tích t́nh h́nh Sài G̣n và miền Nam trong 4 tháng vừa qua theo quan điểm và quyền lợi của Pháp. Theo ông, Pháp đă thẳng thắn ủng hộ ông Diệm từ lúc ban đầu. Bất cứ điều ǵ nói khác là không đúng sự thật (chính trị và ngoại giao cần nhiều lúc nói láo và vu khống không biết ngượng mồm và xấu hổ). Tháng 11.1954, Hoa Kỳ đă đồng ư thuyết phục hay ‘’buộc’’ ông Diệm mở rộng chính phủ nhưng ông không làm việc này và sau đấy xung đột với B́nh Xuyên và các giáo phái. Washington ban đầu tán thành giải pháp Ely-Collins rồi thay đổi ư kiến. Hội đồng cách mạng tại Sài G̣n là do Việt Minh kiểm soát.  Ngoài ra c̣n có một chiến dịch dữ dội chống người Pháp và quân đội viễn chinh Pháp. Cán bộ Việt Minh lợi dụng việc này, nhưng một số người Mỹ không có ư thức đầy đủ. 

Thủ Tướng Pháp Edgar Faure tiếp lời và xác nhận: Pháp không đồng ư với Hoa Kỳ và đă đến lúc cần nói thẳng. Ông Faure nói rằng ông Diệm không chỉ ‘’bất lực’’ nhưng c̣n ‘’điên khùng’’ nữa, ông lợi dụng Tướng Collins vắng mặt tại Sài G̣n để làm một cú bạo động dành được thắng lợi lúc ban đầu, nhưng không đóng góp vào giải pháp lâu dài. Ông Diệm sẽ đem lại thắng lợi cho Việt Minh, dồn sự thù ghét của mọi người vào nước Pháp và gây cuộc đổ vỡ giữa Pháp và Hoa Kỳ. Ông Faure cho rằng ông Diệm là ‘’một sự lựa chọn tai hại’’, một giải, không có ông Diệm có thể t́m ra giải pháp, nhưng với ông Diệm không có giải pháp nào cả. Nhưng theo Thủ Tướng Edgar Faure, nước Pháp có sẵn một giải pháp hữu hiệu, hay có thể làm sáng tỏ t́nh thế. Như thế, có sự bất đồng ư kiến về căn bản giữa Pháp và Hoa Kỳ về vấn đề Thủ Tướng Diệm và Việt Nam. Pháp cay cú và thù hằn ông Diệm v́ ông thắng lợi trong việc giành lại chủ quyền. Thủ Tướng Pháp Edgar Faure hỏi tiếp: ‘’nếu bây giờ Pháp rút quân đội viễn chinh về nước để tránh tiếng thực dân, đáp lời yêu cầu của ông Diệm, Hoa Kỳ có sẵn ḷng bảo vệ kiều dân và người tỵ nạn Pháp không?

Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles nhắc lại rằng ông cũng biết những nhược điểm của ông Diệm nhưng ông không đồng ư với Thủ Tướng Edgar Faure, ông Diệm đă cho thấy có nhiều khả năng và bây giờ không thể nào loại trừ ông được nữa. Lúc này ông Diệm mạnh hơn lúc Bảo Đại t́m cách thâu hồi lại quyền hành lần đầu tiên. Theo ông Foster Dulles, khía cạnh tai hại của vấn đề là sự bất đồng ư kiến giữa Hoa Kỳ và Pháp về ông Diệm. Vấn đề Việt Nam không đáng làm Hoa Kỳ và Pháp gây gỗ với nhau và ông thêm rằng Hoa Kỳ sẽ rút lui ra khỏi Việt Nam nếu việc này giải quyết vấn đề không được. Đối với Hoa Kỳ, sự lựa chọn là ủng hộ ông Diệm hay rút lui. Quyền lợi của Hoa Kỳ tại Việt Nam giản dị chỉ là giữ vững miền Nam khỏi bị cộng sản thôn tính. Hoa Kỳ sẽ xét bất cứ đề nghị nào mà Pháp đưa ra, nhưng ông cảnh cáo rằng Hoa Kỳ sẽ không đài thọ chi phí cho bất cứ giải pháp nào mà ông Foster Dulles xét là sử dụng để thay thế ông Diệm.

Ngoại Trưởng Anh ông MacMillan phát biểu rằng việc đi đến một quyết định về Việt Nam là khá quan trọng để đạt đến trong buổi họp đêm ấy, nên ông đề nghị hoăn vấn đề đến phiên họp sau, vào ngày 11.5.1955.

Đến phiên họp ngày 11.5.1955, Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles nhấn mạnh rằng không nên để vấn đề Việt Nam, dầu có quan trọng đến đâu, làm sức mẻ mối bang giao Pháp-Mỹ và việc Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm không nên làm đổ vỡ sự liên minh giữa hai nước. Ông đề nghị Pháp hăy tiếp tục ủng hộ ông Diệm cho đến khi Quốc Hội miền Nam được bầu ra và quyết định về cơ cấu chính trị có thể bao gồm ông Diệm hay không. Ngoại Trưởng Anh Mac Millan cũng ủng hộ đề nghị của Hoa Kỳ v́ Đặc Phái Viên Anh Quốc tại Đông Nam Á đă báo cáo rằng ông Diệm đă chiến thắng và nay nên ủng hộ ông Diệm, dù trước kia viên chức này là một trong những người phê phán ông Diệm tàn nhẫn nhất.

Sau khi thấy Ngoại Trưởng MacMillan đồng ư v́ Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles, Thủ Tướng Pháp Edgar Faure chấp thuận theo. Nhưng ông nhấn mạnh rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm phải được mở rộng, cuộc tuyển cử bầu Quốc Hội nên được tổ chức càng sớm càng hay, cần giải quyết vấn đề giáo phái, chấm dứt sự tuyên truyền chống Pháp, phải giữ Bảo Đại làm Quốc Trưởng, các viên chức Mỹ làm hại bang giao Pháp-Mỹ như Đại Tá Edward Lansdale phải bị triệu hồi về nước và Hoa Kỳ bảo đảm bảo vệ các quyền lợi, kinh tế, văn hóa và tài chánh của Pháp tại miền Nam. Ông Foster Dulles bảo rằng nói chung ông đồng ư với các ư kiến của Thủ Tướng Pháp, nhưng ông thêm rằng ông Diệm không phải là bù nh́n của Hoa Kỳ và ông không thể bảo đảm các vấn đề liên hệ về Việt Nam được. Ông cũng đề nghị mỗi nước nêu ra chính sách của ḿnh và hành động theo đấy về vấn đề Việt Nam và không c̣n có sự thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ và Pháp. Thực chất của các điều trao đổi cho thấy Pháp và Hoa Kỳ không c̣n có một chính sách chung về Việt Nam nữa, Hoa Kỳ sẽ hành động độc lập trong tương lai.

Trong khi ấy, chính phủ Pháp cũng lúng túng và bối rối v́ Chính Phủ Diệm đă đưa ra một hồ sơ về các hành động giúp B́nh xuyên và chống chính phủ của quân đội Pháp. Một số sĩ quan Pháp làm cố vấn cho B́nh xuyên bị bắt giữ tại các vị trí B́nh Xuyên, đài phát thanh B́nh Xuyên đă được đặt trong một doanh trại Pháp, một xe cứu thương Pháp bị bắt quả tang chở vũ khí cho B́nh Xuyên trong khi chiến sự đang tiếp diễn. Ngoài ra, sau khi B́nh Xuyên bị đánh bại, quân đội Pháp c̣n dựng lên những hàng rào chận đường, làm chậm trễ sự tảo thanh các ổ kháng cự c̣n sót lại. Người Pháp bảo rằng các hành vi này không được cấp trên cho pháp mà nước Pháp không chấp nhận được, không có cơ may thành công và cải tiến t́nh thế phép. Lời bào chữa này giúp cho Thủ Tướng Diệm có lư do mạnh mẽ hơn để đ̣i Pháp triệu hồi về nước những phần tử đă phạm những hành động nói trên. 

Thủ Tướng Diệm cũng cải tổ Chính Phủ ngày 10.5.1955 và tuyên bố dự trù tổ chức tuyển cử vào ngày 4.3.1956. Tướng Collins rời Sài G̣n 4 ngày sau để trở về chức vụ cũ của ông tại Liên Minh Bắc Đại Tây Dương ở Âu Châu. Vào lúc này, Hoa Kỳ hoàn toàn tín nhiệm Thủ Tướng Diệm. Độ hai tuần sau, Đại Sứ mới của Hoa Kỳ G. Frederick Rheinhardt đến Sài G̣n và ông tuyên bố thực thi chính sách của Hoa Kỳ là ủng hộ chính phủ hợp pháp Ngô Đ́nh Diệm.

Cao Ủy Pháp Tướng Ely hết nhiệm vụ và về Pháp ngày 20.6.1955. Nhân dịp này, Thủ Tướng Diệm cũng đ̣i Pháp không được cử Cao Ủy sang Sài G̣n nữa, nhưng chỉ cử Đại Sứ và phải được Nam Việt Nam chấp thuận. Pháp chưa chịu thỏa măn lời yêu cầu này. Cũng trong ngày Tướng Ely đáp phi cơ về nước, người đồng ư rút quân đội ra khỏi Sài g̣n, theo lời yêu cầu của ông Diệm. Sau đấy, Quân Đội Quốc Gia cũng không c̣n phụ thuộc Bộ chỉ huy Pháp. Lúc bấy giờ. Pháp cần đưa các đơn vị tại miền Nam sang đánh nhau với phe kháng chiến Angeri. Vào khoảng giữa năm 1955, quân đội viễn chinh Pháp từ 175.000 binh sĩ giảm xuống c̣n độ 30.000 người và đóng xung quanh Vũng Tàu. Đến tháng 8.1955 Thủ Tướng Diệm phái Bộ Trưởng Nguyễn Hữu Châu sang Thủ Đô Paris Pháp yêu cầu Pháp rút hết các lực lượng quân sự về nước, theo lời Pháp hứa tại Hội nghị Genève năm 1954. Pháp đồng ư v́ cần dùng tất cả lực lượng tại Angéri. Người lính Pháp cuối cùng rời lănh thổ Nam Việt Nam vào ngày 28.4.1956 và cũng trong ngày này Bộ Tư Lệnh Pháp tại Việt Nam, Lào và Cao Mên chính thứ giải tán.

Thủ Tướng Diệm cũng đặt một nền tảng hợp pháp cho chính quyền. Ngày 23.10.1955 một cuộc trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại và bầu ông đến 98% số phiếu, một tỷ lệ quá cao với số phiếu tại Sài G̣n-Chợ Lớn, nhiều hơn số cử tri đă được ghi danh, gây ra dư luận không tốt, trong nước và ở ngoại quốc một cách đáng tiếc. Ba ngày sau, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm công bố chế độ Cộng Ḥa do ông làm Tổng Thống. Nước Pháp cũng như Hoa Kỳ và các xứ khác đều công nhận chế độ Nam Việt Nam, Pháp cử ông Henri Hoppenot làm Đại Sứ, kế vị Cao Ủy Paul Ely, đồng ư không chấp nhận một đại diện ngoại giao Bắc Việt tại Paris và xác nhận phái đoàn do ông Sainteny cầm đầu tại Hà Nội chỉ có nhiệm vụ kinh tế và tài chánh kư với Pháp ở Paris năm 1954 và miền Nam chuyển từ khối đồng quan Pháp sang đồng Mỹ kim.  Các doanh thương Pháp phải tuân theo những điều lệ thương mại mới chặt chẽ hơn, đâu c̣n dễ kiếm tiền như trong thời chiến tranh hay trước kia trong thời Pháp thuộc. Một số bất măn rời khỏi miền Nam. Tổng Thống Diệm cũng đưa ra một số điều kiện đ̣i Pháp phải thực hiện,  nếu muốn bang giao trở lại với miền Nam. Nước Pháp phải:

            ‘’Từ bỏ Hiệp định Genève, không được nói đến tuyển cử năm 1956, chấp nhận công khai và không dè dặt chính sách của Tổng Thống Diệm, gián đoạn mọi bang giao với chính phủ Hồ chí Minh và dĩ nhiên triệu hồi phái đoàn Sainteny về nước. ’’

            Nước Pháp đâu chịu thỏa măn hết các đ̣i hỏi trên của ông Diệm. Những các đ̣i hỏi trên cho thấy ông Diệm nay là Nguyên Thủ của một nước tự chủ và độc lập, ngang hàng với nước Pháp, bang giao b́nh đẳng qua lại. Pháp c̣n nhiều quyền lợi kinh tế tại miền Nam như các đồn điền cao su, trà và cà phê, thay v́ mất hết tài sản như tại miền Bắc. Tiếp theo đấy, Tổng Thống Diệm triệu tập về nước các Nghị Sĩ đại diện Việt Nam tại Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Như thế ông Ngô Đ́nh Diệm đă giành lại quyền tự chủ của dân tộc từ tay người Pháp và Nam Việt Nam trở thành một nước độc lập. Nước Pháp đâu có hài ḷng nhưng không làm ǵ được.

Về phần Hiệp định Genève, Tổng Thống Diệm ban đầu có thái độ cứng rắn, cho rằng Nam Việt Nam không bị ràng buộc trên bất cứ phương diện nào bởi hiệp định này. Trong khi ấy, Pháp là nước phụ trách thi hành Hiệp định Genève và là thành phần của Ủy Ban Đ́nh Chiến với chính quyền Hà Nội và Ủy Hội Quốc Tế. Nhưng Pháp không c̣n có quân đội hiện diện ở miền Nam, như khi hiệp định Genève được kư kết vào năm 1954. Ban đầu, Tổng Thống Diệm không chịu liên hệ công khai với Ủy Hội Quốc Tế nhưng đồng ư lo cho Ủy Hội nếu Pháp để lại một phái đoàn nhỏ để làm nhiệm vụ của Pháp và đóng góp phí tổn. Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles tán thành lập trường của ông Diệm. Sau đó, ông Diệm mềm dẻo hơn, Nam Việt Nam cũng chịu cử một Phái Đoàn thay thế phái đoàn liên lạc Pháp với Ủy Hội Quốc Tế, c̣n nước Pháp chỉ c̣n là thành phần của Ủy Ban Đ́nh Chiến song phương với chính phủ Hồ chí Minh và đài thọ chi phí cho Ủy Hội Quốc Tế. Tổng Thống Diệm bác bỏ cuộc tổng tuyển cử dự trù trong Bản tuyên ngôn kết thúc Hội nghị Genève v́ Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản đâu có tự do mà tổ chức tuyển cử tự do. Ông cũng từ chối không chịu thảo luận về vấn đề này, dầu chính quyền Hà Nội có yêu cầu nhiều lần. Hai nước đồng Chủ Tịch Hội Nghị Genève là Liên Sô và Anh Quốc không đả động ǵ đến vấn đề này, c̣n Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của Tổng Thống Diệm.

Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài đă viết về ông Diệm trong giai đoạn này như sau:

‘’Bất cứ lư do nào mà ông Diệm được chọn làm Thủ Tướng, lúc ông lèo lái chính quyền, ít người xem ông có triển vọng thành công, c̣n số người sẵn ḷng ủng hộ ông công khai c̣n ít hơn nữa. Thật vậy, từ ngày cầm quyền 7.7.1954 cho đến tháng 5 năm sau, ông thật là đơn độc. Bảo Đại không trợ giúp, Pháp chống đối, c̣n những điều mà Hoa Kỳ cho ông là khuyên răn, chỉ trích và hứa hẹn, nhưng viện trợ vật chất hiếm hoi. Ngô Đ́nh Diệm trong 10 tháng vượt qua sự phân chia xứ sở bởi các cường quốc tại Genève, hai lần mưu đồ đảo chánh của vị Tham Mưu Trưởng, những cuộc xung đột điên loạn với B́nh Xuyên và giáo phái, việc tiếp thu các vùng Việt Minh và số 900.000 dân di cư từ Bắc vào Nam. ’’

Mười tháng cầm quyền đầu tiên của ông Ngô Đ́nh Diệm, tức 300 ngày đầu là những ngày oanh liệt và hào hùng nhất trong đời chính trị và đối ngoại của ông. Sự thành công của ông đă làm cho Nam Việt Nam độc lập như Ấn Độ, Hồi Quốc như ông mong ước từ lâu nay.  Ông Diệm tượng trưng cho ḷng yêu nước của người Việt Nam từ Nam ra Bắc, ông cũng mong ước xứ sở thống nhất, thật sự độc lập và tự do không bị cộng sản thống trị, nhưng kẻ thù đâu để ông yên. Trong khi ông tranh đấu gay go, chúng đă bắt đầu thực thi mưu đồ đánh phá chính quyền của ông mới xây dựng và thôn tính miền Nam. Phần khác ông cũng phải bảo vệ chủ quyền của xứ sở với Đồng Minh Hoa Kỳ, sau khi thiết lập nền Đệ Nhất Cộng Ḥa.

Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang 83-123.

T T NGÔ Đ̀NH DIỆM TÁI THIẾT MIỀN NAM VỚI TIỀN VIỆN TRỢ MỸ

            Sau khi bị chiến tranh tàn phá trong 9 năm 1945-1954, miền Nam từ Bến Hải, Tỉnh Quảng Trị ở vỹ tuyến 17 đến tận mũi Cà Mau ở phía Nam, được tái thiết khá nhanh chóng.  Đường bộ và xe lửa được sửa chữa, cầu cống tu bổ hay làm lại, vô số đồng ruộng lâu nay bỏ hoang được trồng trọt lại. Nhiều Trường Học mới được xây cất tại nhiều nơi để đón nhận học sinh. Nhiều làng xóm trước kia tiêu điều, nay nhộn nhịp và phồn thịnh. Chính Phủ cũng thực hiện một vụ cải cách ruộng đất nữa. Chỉ trong vài năm, sau khi ḥa b́nh văn hồi, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă đổi mới bộ mặt miền Nam và có những thành tích đáng kể trong nhiều ngành. Sự sản xuất 3 triệu tấn gạo vào năm 1957. Nam Việt Nam là một miền nông nghiệp,  không có nhiều mỏ và kỹ nghệ như tại miền Bắc, nhưng chính phủ cũng khai thác mỏ than Nông Sơn. Nền giáo dục được phát triển mạnh. Vào năm 1957, số sinh viên Đại Học lên đến 3.823, tăng 40% so với năm 1955, số học sinh Trung Học là 60.860 tại 136 Trường Trung Học, cũng tăng 40% c̣n số học sinh Tiểu Học là 671.585 học tại 3.473 Trường Tiểu Học, tức gia tăng 60%. Các Trường Kỹ Thuật và dạy nghề có số học sinh tăng gấp đôi. Luật Pháp của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa quy định các trẻ em từ 6 đến 14 tuổi phải học cho đến hết ba năm đầu của Bậc Tiểu Học, c̣n mọi công dân từ 13 đến 50 tuổi phải học đọc và viết trong thời gian hai năm nếu mù chữ. Năm 1958, đường xe lửa xuyên Việt Nam từ Sài G̣n chạy ra Huế và giáp đến vỹ tuyến 17 hoạt động trở lại và đường xa lộ Sài G̣n-Biên Ḥa cũng được khánh thành trong năm này. Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm cũng bắt đầu thực hiện một ‘’kế hoạch 5 năm’’, từ 1957 đến 1961, để kỹ nghệ hóa xứ sở. Kế hoạch này làm gia tăng sự sản xuất lúa gạo trên 4 triệu tấn, cao su trên 70.000 tấn. Miền Nam bắt đầu xuất cảng không những lúa gạo và cao su mà cả những sản phẩm khác như heo nữa. Nhiều nhà máy dệt, nhà máy giấy, các viện bào chế dược phẩm, nhà máy ván ép, nhà máy điện với các máy móc và kỹ thuật tối tân nhất được xây cất. Nền giáo dục đạt được những thành tích rất khả quan. Đến năm 1961, số Trường và học sinh Tiểu Học tăng gấp đôi so với năm 1957, số Trường và học sinh Trung Học tăng lên gấy 3 lần. Tổng Thống Diệm cho mở thêm hai Đại Học, Đại Học công lập Huế và Đại Học Tư Thục Đà Lạt và số sinh viên tăng lên gấp bốn. Vào khoảng thời gian này, cộng sản gia tăng mức độ khủng bố và chiến tranh và vấn đề này sẽ được tŕnh bày sau. Nhưng ông Diệm vẫn cho thực hiện kế hoạch 5 năm kế tiếp 1962-1967 và chú trọng nhiều đến lănh vực kỹ nghệ. Trung Tâm Nguyên Tử Đà Lạt được khánh thành trong tháng 10. 1963. Phần đầu của đập thủy điện Đa Nhim với năng xuất 60.000 kw được xây cất do tiền bồi thường chiến tranh của Nhật Bản, cũng được khánh thành vài tháng sau. Bắt đầu niên khóa 1963-1964, nghĩa là trước khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ và sát hại, Nam Việt Nam với dân số 14 triệu có trên một triệu rưỡi hay 69% số trẻ em 6-11 tuổi học tại 6.621 Trường Tiểu Học và cộng đồng, 82.253 học sinh tại 519 Trường Trung Học, 6.545 học sinh tại các Trường Kỹ Thuật và dạy nghề và 20.118 sinh viên tại 2 Đại Học công lập Sài G̣n và Huế và các trường Kỹ Thuật và dạy nghề và 20.118 sinh viên tại hai Đại Học công lập Sài G̣n và Huế và Đại Học Tư Thục Đà Lạt.

Nói chung, công cuộc tái thiết miền Nam thành công tốt đẹp. Nhiều quan sát viên ngoại quốc, như ông Bernard Fall chẳng hạn, nhận xét rằng tại miền Nam, sức sản xuất vượt hơn miền Bắc trong nhiều ngành như điện lực và vải chẳng hạn dù miền Bắc có dân số đông hơn, nhiều hầm mỏ và kỹ nghệ hơn miền Nam. Nền giáo dục miền Nam hơn hẳn miền Bắc, bậc Tiểu và Trung Học miền Bắc chỉ gồm 10 năm c̣n ở miền Nam 12 năm, chưa kể phẩm chất huấn luyện và tŕnh độ Giáo chức miền Nam hơn hẳn miền Bắc. Nguyên nhân là v́ Hồ chí Minh và đảng cộng sản nói rất hay, nhưng trong thực tế họ không kính trọng và quan tâm đúng mức đến giáo dục và người trí thức. Đối với họ ‘’hồng’’ hơn ‘’chuyên’’ và lương tiền thù lao người có học và có nghề đâu có hơn, có khi c̣n thua kẻ ít học hơn nữa. Trong khi ấy, con cái các gia đ́nh nghèo tại miền Nam có thể trở thành khá giả nếu học giỏi vào Đại Học và tốt nghiệp. Giáo dục tại miền Nam cũng như tại các nước khác là một phương tiện tốt để tiến thân. Như thế, người ta khuyến học, ham học, nên kính trọng giáo dục và người có học. Trong 9 năm ông Diệm cầm quyền, đời sống kinh tế của dân chúng tại miền Nam rất ổn định, có thể nói là sung túc nữa, so với thời sau ông Diệm từ 1964-1975 tại miền Nam hay miền Bắc trước 1975 và cả sau khi thống nhất dưới chế độ cộng sản từ 1975 đến nay. Giá cả các nhu yếu phẩm, gạo, cá, thịt, đường sữa, vải, xăng thuốc men không lên xuống, xăng giữ giá 4 đồng 1 lít v.v... Nói chung, mức sống miền Nam hơn hẳn miền Bắc tái thiết với sự chi viện của phe cộng sản. Thí dụ, lúc bấy giờ tại miền Bắc, xe đạp là một xa xỉ phẩm, người thường dân khó ḷng tậu được v́ lương và tiền lợi tức quá thấp, c̣n tại miền Nam có thể nói xe đạp nằm trong tầm tay của đại đa số người dân chưa kể đến xe tự động hay xe gắn máy hoặc xe hơi. Chín năm dưới quyền Tổng Thống Diệm có lẽ là khoảng thời gian khá nhất của dân tộc Việt Nam, từ 1945 đến nay, mặc dầu có nhược điểm và sai lầm như ‘’gia đ́nh trị’’ và chuyên chế v.v...

Miền Nam nhận viện trợ Mỹ qua sở USOM tức United States Operations Mission, tạm hiểu là Phái Đoàn Công Tác Hoa Kỳ. Sở USOM là chi nhánh tại Sài G̣n của cơ quan AID tức Agency For International Development, tạm hiểu là Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế của chính phủ Hoa Kỳ, phụ trách viện trợ các nước khác, để thực thi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. USOM tại Sài G̣n phái chuyên viên Mỹ đến giúp hay làm cố vấn cho hầu hết các ngành hoạt động của các cơ quan trong chính quyền miền Nam. Thí dụ, các Giáo Sư Mỹ thuộc Đại Học công lập Michigan, trong ấy có ông Wesley Fishel có nói đến trước đây, ăn lương theo hợp đồng kư với USOM giúp thành lập Viện Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo Cán Bộ Hành Chánh và huấn luyện Cảnh Sát. Sau này, một Học Viện chuyên huấn luyện Công An-Cảnh Sát cũng được thiết lập. Tiểu ban giáo dục của USOM giúp cho Bộ Giáo Dục xây thêm Trường,  huấn luyện Giáo Chức, nhất là ở bậc Tiểu Học, chọn lựa sinh viên qua Hoa Kỳ du học hay Giáo Chức đi tu nghiệp.

Người Mỹ đứng đầu cơ sở USOM thường có chức vụ là cố vấn hay chuyên viên kinh tế tại Ṭa Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n. Ṭa Đại Sứ Mỹ gồm nhiều Tham Vụ Ngoại Giao, Cố Vấn,  Tùy Viên và nhiều nhân viên thừa hành dưới quyền Đại Sứ. Những Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n có thể là các Nhà Ngoại Giao chuyên nghiệp như các ông Donald Red Heath (7.1950-7.1955),  Frederick Rheinhardt (5.1955-3.1957), Elbridge Durbrow (3.1957-12.1960), Frederick Nolting (5.1961-8.1961) hay Tướng lănh làm Đại Sứ như Tướng Joe Lawton Collins (8.1954-6.1955) hay Tướng Maxwell Taylor sau năm 1963, hay chính trị gia chuyên nghiệp như Henry Cobot Lodge (8.1963-7.1964) và (7.1965-4.1967).

Đại Sứ Mỹ lănh đạo, nói chung tất cả hoạt động của Hoa Kỳ tại Sài G̣n và Nam Việt Nam. Tại Ṭa Đại Sứ, chính thức không thấy ai là nhân viên của CIA cả, nhưng thường vị Đệ Nhất Tham Vụ là Trưởng Nhiệm Sở của CIA. Như trước kia, Đại Tá Edward Lansdale chính thức là một Tùy Viên Không Quân, nhưng nhiều người biết ông chỉ huy một phái đoàn công tác đặc biệt của Sở Trung Ương T́nh Báo Hoa Kỳ tức CIA. Tại Ṭa Đại Sứ, CIA là bộ phận quan trọng, nhất là tại các nước làm Tiền Đồn chống cộng sản như miền Nam, v́ phải thực hiện nhiều công tác mật và bán công khai. Hoa Kỳ càng can thiệp trực tiếp vào Việt Nam,  nhiệm sở CIA tại Sài G̣n càng trở nên đông đảo hơn và mở rộng phạm vi hoạt động. Khi Hiệp Định Genève được kư kết trong tháng 7.1954, tại Sài G̣n và miền Nam có tất cả 342 người Mỹ dân sự và quân sự. Nhưng dần dần chỉ nhiệm sở CIA không thôi đă có đến 70 người Mỹ từ thời Đệ Nhất Cộng Ḥa (1955-1963) lên đến độ 300 điệp viên Mỹ, nam và nữ, nhiều người nói thông thạo tiếng Pháp và một số rành tiếng Việt nữa. Ngoài ra c̣n có một số nhân viên người Việt làm việc toàn thời gian, hay là cộng tác viên đưa tin tức rồi nhận tiền hay không và được Ṭa Đại Sứ đề cử nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, nhất là sau 1963. Tại Sài G̣n, các điệp viên CIA thường đi xe hơi loại Ford Pinto, được cung cấp xăng miễn phí và sống thoải mái. Nhiệm sở CIA có trách nhiệm giúp đỡ chính phủ miền Nam tổ chức một hệ thống t́nh báo tối tân, huấn luyện các lực lượng bán quân sự cho các hoạt động mật và thâu lượm tin tức về kẻ thù là cộng sản Hà Nội và cộng sản quốc tế.  Trong khi ấy, CIA cũng theo dơi ngầm các nhân vật chính trị và quân sự miền Nam để chi phối họ và cả phe chống đối chính quyền. Sở CIA vừa làm công tác t́nh báo và phản gián để thực thi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Những năm 1954-1955, Đại Tá Edward Lansdale cầm đầu phái đoàn quân sự Sài G̣n, tức toán đặc nhiệm CIA, thực thi chánh sách của chính quyền Eisenhower là giúp ông Ngô Đ́nh Diệm chống lại thực dân Pháp và tay sai, để lập chính quyền tự chủ như chống cộng sản tại miền Nam. Đến năm 1963, CIA vận động các Tướng đảo chánh và giết hại ông Diệm theo chủ trương của chính quyền Kennedy. Trong 9 năm cầm quyền, Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu có đề pḥng chặt chẽ, nhưng CIA cũng mua chuộc một số viên chức thân tín của chế độ làm việc trong Dinh Độc Lập, gần gũi ông Diệm và ông Nhu và bà Nhu và cả ông Cẩn ở Huế nữa, để biết phản ứng và thái độ của các vị này, trước t́nh thế và đối với các đề nghị và kế hoạch của người Mỹ đưa ra. CIA cũng bí mật gắn máy thâu và phát thanh tối tân tại nhiều Bộ, Tổng, Nha, cư xá và tại nhà của các vị cao cấp trong chính quyền và ngay cả trong các bức tường Dinh Độc Lập đang xây cất lại sau khi bị ném bom đầu năm 1962. Cả phe cộng sản cũng ngầm làm việc này nữa.

CIA dần dần đột nhập vào các tổ chức, cơ quan, cách này hay cách khác. Trong vụ Nhảy Dù đảo chánh hụt 11.11.1960, vai tṛ của CIA cũng đáng nói đến. Một điệp viên CIA là ông George Carver, chính thức là viên chức USOM, lâu nay có bổn phập liên lạc với các phe phái chống đối chính quyền ông Diệm, nhận lời mời của Luật Sư Hoàng Cơ Thụy đến gặp những nhân vật dân sự của phe đảo chánh tại nhà ông. Trong khi ấy một cán bộ CIA khác, ông Russel Miller, liên lạc với các Sĩ quan Dù đang đảo chánh và nghe lén các tin tức bằng điện thoại giữa các Đơn Vị Dù bao vây Dinh Độc Lập và Hành Dinh của họ. Ông George Carver muốn góp ư với phe đảo chánh là đánh chiếm ngay Dinh Độc Lập và lật đổ Tổng Thống Diệm. Nhưng cả hai ông Geroge Carver và Russel Miller nhận được lệnh của Đại Sứ Mỹ Elbridge Durbrow qua Trưởng Nhiệm Sở CIA là William E. Colby rằng chính phủ Hoa Kỳ muốn phe đảo chánh điều đ́nh với Tổng Thống Diệm và không được đổ máu nữa. Sau khi đảo chánh thất bại, ông George Carver đem Luật Sư Thụy trong một cái túi vải lớn đựng thư để đưa ông ra khỏi Sài G̣n và miền Nam, trong chiếc phi cơ của Tùy Viên Không Quân Mỹ. Cơ Quan T́nh Báo CIA, từ Trụ Sở Trung Ương tại Langley, Tiểu Bang Virginia, có thể chỉ thị cho nhiệm sở CIA Sài G̣n thực hiện một công tác mật nào đó, hay phái điệp viên đội lốt du khách, nhà báo, viên chức đến thực hiện công tác. Ngoài CIA, người Mỹ cũng có những Sở T́nh Báo khác như Sở T́nh Báo của Bộ Quốc Pḥng, Bộ Tư Lệnh Mỹ Thái B́nh Dương đóng tại Honolulu, Tiểu Bang Hạ Uy Di (Hawaii), cũng có ngành t́nh báo nhắm vào quân sự, Lục Quân Mỹ và Bộ Tư Lệnh MACV tại Sài G̣n cũng có cơ sở t́nh báo. C̣n Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng bao gồm một sở T́nh Báo và Nghiên Cứu. Có khi các Sở T́nh Báo lại đưa ra những bản thẩm định t́nh thế khác nhau hay mâu thuẫn với nhau.

Phần quan trọng nhất của viện trợ Mỹ nhắm vào an ninh, tức sự tổ chức và trang bị cho Quân Đội miền Nam. Ông Diệm rất có tinh thần quốc gia, việc ǵ cũng hướng về truyền thống cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Trong việc thành lập Quân Đội cũng vậy, ông muốn có Quân Đội hoàn toàn Việt Nam, như ông Trần Văn Đôn một trong những Tướng đảo chánh ông cũng thừa nhận. Nhưng Hoa Kỳ đe dọa cúp viện trợ nếu không tổ chức Quân Đội theo phương thức Mỹ, tức lập Sư Đoàn theo cấp số 3, mỗi Sư Đoàn gồm 3 Trung Đoàn, mỗi Trung Đoàn gồm 3 Tiểu Đoàn, mỗi Tiểu Đoàn gồm 3 Đại Đội, mỗi Đại Đội 3 Trung Đội và mỗi Trung Đội 3 Tiểu Đội với 11 binh sĩ cho mỗi Tiểu Đội. Tại miền Nam, trung b́nh 2 Sư Đoàn thành một Quân Đoàn. Toàn lănh thổ miền Nam, từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, gồm 42 Tỉnh được chia làm 4 vùng chiến thuật cho Quân Đoàn, với Bản Doanh tại Đà Nẵng cho Quân Đoàn I, Pleiku cho Quân Đoàn II, Biên Ḥa cho Quân Đoàn III và Cần Thơ cho Quân Đoàn IV. Các Quân Đoàn được đặt dưới quyền Bộ Tổng Tham Mưu đóng tại Trại Trần Hưng Đạo, gần Phi Trường Tân Sơn Nhất. Ngoài các Sư Đoàn Bộ Binh, c̣n có Lữ Đoàn rồi Sư Đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến, các Đơn Vị Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh cùng các Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, Địa Phương Quân và Dân Vệ tại các Tỉnh Lỵ, Quận và Xă và các Quân Chủng Hải Quân và Không Quân. Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh Quân Đội.

Để huấn luyện và trang bị cho Quân Đội Việt, người Mỹ lập ra Millitary Assistance Advisory Group viết tắt là MAAG xin hiểu là Toán Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự dưới quyền Tướng 2 sao. Dần dần người Mỹ đến nhiều hơn, với cả Đơn vị phi cơ và trực thăng nên một Bộ Tư Lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ được thành h́nh gọi là Military Assistance Commannd Vietnam, tức MACV có nhiệm vụ làm cố vấn cho chính quyền miền Nam về hành quân tác chiến. Những tổ chức tŕnh bày trên đây là những cơ quan chính của người Mỹ, ngoài ra có những cơ sở phụ thuộc khác như Bệnh Viện Hải Quân, cơ sở cung cấp hàng hóa PX, các Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, với các máy đánh bạc, tiệm ăn và hộp đêm v.v... Các cơ quan nói trên, từ Ṭa Đại Sứ, USOM, MAAG và MACV, thực hiện chương tŕnh viện trợ Hoa Kỳ cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Số tiền viện trợ trong năm 1955 là 322, 4 triệu mỹ kim mà 87% của số tiền qua một chương tŕnh gọi là Commodity hay Commercial Import Program tức CPI, xin hiểu là chương tŕnh nhập cảng hàng hóa hay thương mại. Đại khái theo chương tŕnh này, Hoa Kỳ cung cấp một số lượng mỹ kim cho chính phủ, bao nhiêu tùy theo nhu cầu từng năm. Chính Phủ bán lại số Mỹ kim cho các nhà nhập cảng Việt để lấy một số bạc Việt với giá hối xuất bằng một nửa giá chính thức. Chính Phủ dùng số bạc Việt này để trả lương cho bộ máy Chính Quyền và Quân Đội. Ngoài ra, Chính Phủ c̣n thu được một số tiền bạc khác từ quan thuế đánh vào hàng hóa nhập cảng. Trong những năm đó, mỹ kim được bán ra với giá 35 đồng một mỹ kim, mỗi mỹ kim hàng nhập cảng thâu thêm cho Chính Phủ trung b́nh số tiền bằng 18 mỹ kim quan thuế.

Chương tŕnh CIP có mục đích tài chánh và đài thọ ngân sách chính phủ và ngăn chặn lạm phát, c̣n mục tiêu chính trị là cung cấp cho dân chúng miền Nam nói chung và giới trung lưu và thượng lưu nói riêng, số hàng hóa tiêu dùng mà họ cần và có khả năng mua được, để lôi cuốn được sự ủng hộ của họ. Người Mỹ cũng muốn chứng minh rằng là đồng minh của Hoa Kỳ nhận viện trợ Mỹ, th́ đời sống sung túc như vậy, trái với sự thiếu thốn và mức sống rất thấp của dân miền Bắc dưới chế độ cộng sản.

Từ 1955-1961, viện trợ kinh tế Mỹ lên đến 447 triệu mỹ kim, phần lớn qua chương tŕnh CIP. Số tiền viện trợ chương tŕnh này rất đầy đủ, nên Chính Phủ ông Diệm vào năm 1960 c̣n dư đến 216,4 triệu Mỹ kim trong qũy CIP. Người ta phải công nhận rằng Tổng Thống Diệm rất trọng của công và sử dụng ngân sách viện trợ một cách thận trọng và cần kiệm. Các chính quyền sau vụ đảo chánh đă phung phí số tiền dư lại nói trên rất nhanh chóng. Một số quan sát viên Việt và ngoại quốc, cũng như Vua sứ Maroco Mohammed V có nói về mối nguy cơ tùy thuộc quá nhiều vào chỉ một đồng minh mà thôi. Lời chỉ trích này đúng. Người Mỹ có thể dùng viện trợ như một phương tiện vũ khí để chi phối chính quyền miền Nam, như trong vụ đảo chánh năm 1963, hay như Tổng Thống Richard Nixon dùng để dọa ông Nguyễn Văn Thiệu sau này. Có lẽ ông Diệm cần đánh thuế lợi tức cao, chứ không phải cho có lệ, đối với giới giàu có như xuất nhập cảng, doanh thương nhà thầu v. v... để bớt phụ thuộc phần nào vào ngoại viện trợ và cho thấy cố gắng tự túc, dùng trong hoàn cảnh khó khăn.

Nhưng tóm lại, Tổng Thống Diệm đă thành công quá sự mong đợi của người Mỹ đă ủng hộ ông. Họ bảo là ông Diệm đă làm được ‘’phép lạ’’ cho miền Nam Việt Nam nhờ những đức tính quyết tâm, can đảm và tháo vát của ông, như Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Walter Robertson ca tụng ông trong tháng 6.1956. Uy tín của ông Diệm lên rất cao trong nước, tại các xứ không cộng sản, từ 1956-1959. Từ một Chí Sĩ lâu nay mơ ước thôi, ông đă đem lại quyền tự chủ cho nửa nước mà ông là Nguyên Thủ và miền Nam được hầu hết các xứ không cộng sản thừa nhận và bang giao trong sự kính trọng. Một số công du cũng làm tăng giá trị của ông. Vào tháng 5.1957 Tổng Thống Dwight Eisenhower thân chinh ra đón ông tại phi trường, ông đọc diễn văn tại Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ, ông dự cuộc tiếp đón long trọng tại Đô Thị New York, ông cũng đi công du các xứ khác như  Thái Lan, Úc, Đại Hàn, Ấn Độ. Lúc bấy giờ, ngay cả đế quốc cộng sản Liên Sô cũng coi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và miền Nam ngang hàng với chủ tịch Hồ chí Minh và miền Bắc cộng sản đồng minh của họ và cũng đề nghị để cả hai miền vào Liên Hiệp Quốc. Nhưng ông Diệm đâu có muốn được ngang vai vế với Hồ chí Minh, ông Diệm tự cho ḿnh là tượng trưng, là người lănh đạo toàn dân tộc và xứ sở, mong muốn diệt trừ cộng sản để thống nhất đất nước. Ông Diệm trở thành một đối thủ đáng sợ cho Hồ chí Minh và phe cộng sản Hà Nội. Những thành tích của ông trong việc tái thiết miền Nam và xây dựng chính quyền là những điều bất lợi cho họ, có thể làm cho dân miền Bắc hướng về miền Nam, ước mong miền Nam giải phóng cho họ khỏi sự áp bức và bóc lột của chế độ cộng sản. Và như thế, phe cộng sản Hà Nội không để miền Nam tái thiết trong nền ḥa b́nh lâu dài được.

CỘNG SẢN HÀ NỘI GÂY CHIẾN TRANH, KHỦNG BỐ & GIẾT HẠI DÂN LÀNH

Đến nay, người ta có thể thấy rơ ràng rằng những sai lầm nghiêm trọng của Hồ chí Minh và đảng cộng sản rất tai hại cho sự mở mang và sống c̣n của dân tộc Việt Nam và làm cho tiềm lực của dân tộc bị xuy yếu. Tóm lại, Hồ chí Minh và đảng cộng sản đă không dùng ư thức hệ để phục vụ quyền lợi ngắn hạn hay dài hạn của dân tộc Việt Nam, nhưng đă có lợi dụng ḷng yêu nước và sự hy sinh v́ nền độc lập của xứ sở, để phục vụ ư thức hệ cộng sản và quyền lợi của hai nước cộng sản đàn anh là Liên Sô và Trung Cộng. Họ không muốn thấy là quyền lợi quốc gia, chứ không phải ư thức hệ, bất cứ ư thức hệ nào, cộng sản cũng vậy, quyết định chánh sách đối ngoại của các nước từ xưa tới nay. Họ quên rằng những năm 1945-1946,  lănh tụ cộng sản Liên Sô ‘’ông nội Stalin’’theo thi sĩ kiêm chính trị gia cộng sản Tố Hữu gọi và đảng cộng sản Pháp đâu có thèm đếm xỉa ǵ đến dân tộc Việt, ông Hồ và phe cộng sản Việt. Gương Thống chế Broz Tito của Nam Tư sờ sờ trước mắt, là một người được Liên Sô đào tạo và huấn luyện. Ông Broz Tito đă chống lại Stalin và Liên Sô, v́ quyền lợi và nền tự chủ của nước Nam Tư của ông. Nhưng ông Hồ và đảng cộng sản tuân theo hay noi theo việc làm của Liên Sô và Trung Cộng, họ phát động cải cách ruộng đất đẫm máu người Việt, như Stalin diệt phú nông Krulaks tại Liên Sô hay Mao diệt địa chủ tại Trung quốc. Họ c̣n làm những việc hèn hạ hơn nữa như san bằng g̣ Đống Đa, nơi tướng giặc Tàu Sầm nghi Đống treo cổ tự vận v́ Quân Đội của Hoàng Đế Quang Trung vây đánh ngặt quá và có thể nói là họ dâng hiến lănh thổ của dân tộc cho Trung Quốc, chứ không bảo vệ quyết liệt như miền Nam đă làm, theo tờ Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông (Economic Far Eastern Review) đă tường thuật. Lâu nay, Trung Cộng đ̣i giành các Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 4.9.1958, chế độ Bắc Kinh ra tuyên ngôn đ̣i chủ quyền trên tất cả Quần Đảo từ Đảo Hải Nam trở xuống Vịnh Thái Lan, xuyên qua Vịnh Bắc Việt, tức là những Quần Đảo nói trên của Việt Nam. Chủ tịch Hồ chí Minh và đảng cộng sản đă không phản đối. Ngày 14.9.1958, Thủ Tướng Phạm văn Đồng, một Ủy viên của bộ chính trị đảng cộng sản, lại gởi công hàm chính thức cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu ân Lai ‘’công nhận và ủng hộ bản tuyên ngôn của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc ngày 4.9.1958’’. Như thế, Hồ chí Minh và đảng cộng sản đă dâng lănh thổ Việt Nam cho Trung Cộng, đă chính thức thừa nhận việc cưỡng chiếm lănh thổ Việt Nam của Bắc Kinh. Họ muốn được chế độ Bắc Kinh viện trợ để xây dựng chiến tranh thôn tính miền Nam.

Tại Hà Nội, Hồ chí Minh và các đồng chí thân cận của ông theo dơi rất kỹ lưỡng sự biến chuyển t́nh thế tại miền Nam. Họ hoạch định các kế hoạch để đối phó, nhất là sau khi Thủ Tướng Diệm thắng lợi và ổn định được t́nh thế. Mục tiêu của họ là làm sao làm chủ luôn nửa phần kia của đất nước bằng mọi phương tiện, trong ḥa b́nh với cuộc tuyển cử theo Hiệp định Genève nếu có thể, không th́ dùng khủng bố và chiến tranh. Họ chỉ thị cho thi hành mật các mưu đồ gây rối loạn rồi tuyên truyền rằng nhân dân bị áp bức nên bộc phát, tự động nổi dậy và nếu làm được và có mồi thành công, họ viết quyết nghị trên giấy tờ.

Ngay sau khi Hồ chí Minh đi gặp Chu ân Lai ở Nam Ninh về, vào tháng 7.1954, trong khi Hội nghị Genève đang tiếp diễn, ông và bộ chính trị soạn thảo ngay các kế hoạch khuynh đảo miền Nam. Lợi hại nhất trong kế hoạch này là công tác t́nh báo và đột nhập vào chính quyền địch, nghĩa là các cơ cấu của miền Nam. Việc làm này là chọn lựa, đề cử, vận động, lôi cuốn một số cán bộ đảng viên hay phái đảng viên trà trộn trong số đồng bào di cư vào Nam,  hoặc người miền Nam ở lại nằm vùng hay đổi vùng, để phục vụ bí mật cho bác và đảng. Công tác này được thi hành ngay lập tức, vô cùng khẩn cấp cho kịp với Hiệp Định Genève. Chỉ thị mật được cấp tốc gởi vào Nam. Tại miền Nam, một số cán bộ đảng trung kiên, có nhiều tuổi đảng và thành tích đáng kể mới được giao phó công tác này trong các vùng họ c̣n kiểm soát và ngay cả vùng Sài G̣n-Chợ Lớn và các Đô Thị khác của miền Nam. Những cán bộ phụ trách này đă chọn lựa một số đảng viên hay cảm t́nh viên như cán bộ c̣n trẻ, độc thân nam và nữ, một số thanh niên mới lập gia đ́nh hay c̣n con nhỏ nữa để làm điệp viên nằm vùng, sinh sống b́nh thường như người di cư hay như dân chúng địa phương, nhưng bí mật thâu lượm tin tức và thực hiện các công tác mà đảng sẽ giao phó. Hồ chí Minh và các đồng chí của ông thảo luận nhiều lần về các kinh nghiệm của Liên Sô và đảng cộng sản Xô Viết. Họ bàn rất nhiều  về kế hoạch Lucy của đảng cộng sản Liên Sô đă chỉ thị cho các đảng viên trẻ tuổi đang làm sĩ quan trong quân đội Đức vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội, đừng giải ngũ dù nước Đức bị bại trận, quân đội chỉ giảm xuống chỉ độ 100.000 người. Trên 20 năm sau, khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ năm 1939 số sĩ quan đảng viên cộng sản đă trở thành những Tướng lănh trong quân đội Đức, ngay trong cả Bộ tổng tham mưu quốc xă Adolf Hitler. Họ đă cung cấp các kế hoạch hành quân, các bí mật quân sự Đức quốc xă cho Liên Sô qua trung gian của một điệp viên khác tại Thụy Sĩ, tổ chức gián điệp này mang tên Lucy và góp phần rất đáng kể vào sự thắng trận của Liên Sô trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Ngoài hệ thống gián điệp Lucy một đảng viên cộng sản Đức khác là ông Sorge vào đảng Quốc Xă Đức, được tín nhiệm và làm việc tại Ṭa đại sứ Đức tại Đông Kinh, Thủ Đô Nhật Bản, đă cho Liên Sô biết về ư đồ của Nhật, nên Stalin có thể đưa các sư đoàn tại Tây Bá Lợi Á về bảo vệ Thủ Đô Mạc Tư Khoa chống lại được sự tấn công của quân đội Đức Quốc Xă năm 1941. Học hỏi kinh nghiệm Liên Sô và đảng cộng sản Xô Viết, đảng cộng sản Hà Nội đă cho nhiều đảng viên nằm vùng tại miền Nam vào làm việc tại tất cả các cơ quan dân sự và quân sự. Một số đảng viên và cảm t́nh viên trước kia là tín đồ của các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành hay các giáo phái như Ḥa Hảo và Cao Đài nay được lệnh trở lại thành những tín đồ rất ngoan đạo, hay những người trước kia chưa làm tín đồ cũng làm vậy, để được sự tín nhiệm của các chức sắc các tôn giáo và giáo phái. Số điệp viên cộng sản trà trộn tại miền Nam có thể lên đến nhiều ngh́n, con số của cộng sản không biết có nói thêm không, là từ 20.000 đến 30.000 người. Họ đột nhập vào các ngành, hoặc làm sĩ quan, trong các Binh Chủng, họ làm việc từ thấp lên cao, vào tận Dinh Tổng Thống nữa. Từ năm 1975 khi cộng sản Hà Nội cưỡng chiếm được miền Nam cho đến nay, chính quyền và đảng cộng sản Hà Nội đă tưởng thưởng công khai cho những điệp viên có nhiều thành tích vẻ vang như Phạm xuân Ẩn, Vũ ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng, Ni cô Huỳnh Liên, Sư Thích Trí Quang v.v...Trong 9 năm cầm quyền của ông Diệm, một trong những điệp viên cộng sản đáng kể nhất có lẽ là ông Phạm ngọc Thảo.

Ngoài việc xây dựng màn điệp viên cực kỳ bí mật và rộng lớn tại miền Nam, đảng cộng sản cũng ra sức tôn giáo vận, nghĩa là vận động các chức sắc và tín đồ các tôn giáo ủng hộ cuộc chiến đấu của họ, hay phá rối bằng cách phao tin đồn thất thiệt, gây chia rẽ, hiềm khích và xung đột giữa các tôn giáo nhất là sau năm 1963 giữa Phật Giáo và Công Giáo. Họ c̣n cho một số đảng viên vào làm tu sĩ, cũng như cho cán bộ cà răng để sống với đồng bào thiểu số. Trong khi ấy, họ cũng lo củng cố hệ thống đảng của họ từ Thôn, Ấp, Xă, Quận, Tỉnh, Khu tại các vùng lâu nay họ đă cai trị, hoặc các nơi trước kia Pháp kiểm soát và cho các cơ sở này rút lui vào bí mật. Hồ chí Minh và bộ chính trị cũng học hỏi kinh nghiệm của Liên Sô về vụ thống nhất vùng Tây Bá Lợi Á. Lúc bấy giờ vùng này bị phe Bạch Nga chống cộng sản kiểm soát với sự ủng hộ của các nước Tây Phương sau cuộc cách mạng 1917 tại Nga và cuộc nội chiến xảy ra tiếp theo đấy. Lenin và đảng cộng sản Xô Viết đă lập ra chính đảng và chính phủ để chiến đấu cho ‘’nền độc lập’’ của Tây Bá Lợi Á. Nhưng sau khi thôn tính được vùng này,  Lenin và đảng cộng sản giải tán chính quyền và chính đảng tại vùng này. Một chính sách gần giống như vậy sẽ được sử dụng trong việc ‘’giải phóng’’ miền Nam.

            Trong những năm đầu sau Hiệp định Genève năm 1954, chính quyền Hồ chí Minh tại Hà Nội phải lo tái thiết và đối phó với sự chống đối của dân chúng và giới trí thức như vụ nổi dậy của nông dân Huyện Quỳnh Lưu và vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Ban đầu, họ cũng hy vọng thôn tính được miền Nam qua cuộc tổng tuyển cử dự trù vào năm 1956, nhưng ông Ngô Đ́nh Diệm đă dành được chủ quyền tại miền Nam, buộc Pháp rút quân về nước và thành công trong việc tái thiết miền Nam. Nước Pháp có bổn phận thi hành Hiệp định Genève, nhưng Pháp không có quân hay thế lực ǵ tại miền Nam nữa cả. Như thế, khó ḷng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chịu thi hành Hiệp định Genève tổ chức tổng tuyển cử. Ngoài nguyên nhân v́ quyền lợi và sự tự do của dân tộc, ông Diệm c̣n có mối tư thù với cộng sản v́ đă giết anh ruột là Ngô Đinh Khôi và con trai độc nhất của ông này. Tuy vậy, Hồ chí Minh và đảng cộng sản vẫn động viên cán bộ và phát động một cuộc đấu tranh chính trị bắt đầu từ tháng 7.1955 khi mà theo Hiệp định Genève, hai miền Bắc và Nam phải tiếp xúc và thảo luận với nhau về tổng tuyển cử năm 1956.

Chính quyền miền Nam đă biết rơ về mưu đồ của đối phương. Tổng Thống Diệm có một cộng tác viên có khả năng là ông Trần Chánh Thành có nói đến trước đây. Ông Thành đă từng tham gia kháng chiến, ông am hiểu thủ doạn chính trị của cộng sản nên đề nghị biện pháp đối phó thích hợp.

Đến mùa Hè 1955, chính quyền phát động một chiến dịch Tố Cộng toàn khắp miền Nam, nhất là các vùng trước kia do chính quyền cộng sản kiểm soát. Chiến dịch Tố Cộng nhằm mục đích phân loại các hạng dân chúng để phát giác ra cơ sở và cán bộ cộng sản ‘’nằm vùng’’ hay ‘’đổi vùng’’ và tổ chức các buổi lễ tại các thôn xóm để số cán bộ này công khai tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, ly khai với đảng và thuyên thệ trở về với chính nghĩa quốc gia.

Theo thống kê của Bộ Thông Tin và Thanh niên dưới quyền Bộ Trưởng Trần Chánh Thành phụ trách chiến dịch Tố Cộng, cho đến tháng 5.1956 khoảng 94.041 cán bộ cộng sản đă về hồi chánh với Chính Quyền Quốc Gia, 5.613 cán bộ khác đầu thú, lấy được 119.454 vũ khí, 75 tấn tài liệu và t́m ra được 707 nơi chôn dấu vũ khí và độ 15.000 đến 20.000 người bị t́nh nghi là cộng sản bị giữ trong các trại giam. Năm 1959, một Giáo Sư người Anh nói và hiểu tiếng Việt thông thạo là ông Patrick J. Honey, được Tổng Thống Diệm cho phép đi viếng thăm các trại giam những người cộng sản bị t́nh nghi là cộng sản. Ông Honey tường tŕnh rằng những kẻ bị giam giữ đă nói rằng đa số trong bọn họ không hề là cộng sản hay thân cộng. Điều này cho thấy trong bất cứ hoạt động quy mô nào của bất cứ chính quyền nào, chắc không thể tránh khỏi sai lầm được, không ít th́ nhiều. Trong chiến dịch Tố Cộng, có thể có những người bị tố oan v́ tư thù, hay một lư do nào khác, hay v́ một số viên chức của chính quyền muốn làm tiền họ v.v... Ngoài ra c̣n có những thành phần dân chúng tham gia kháng chiến chống Pháp rồi ở lại, không tập kết ra Bắc, v́ không thích cộng sản. Những người này nay bị tố là cộng hay thân cộng. Một số đảng viên bí mật lại lên tiếng hay kín đáo tố những người khác là cộng sản để gây ra vụ bắt giữ và tạo thêm thù hằn giữa dân chúng và chính quyền. Nhưng nhiều cán bộ thật sự cộng sản có công tác phá rối trị an và bị bắt giữ, thẩm vấn cũng không bao giờ nhận họ là cộng sản cả. Nh́n chung, chiến dịch Tố Cộng rất thành công, như tài liệu tổng kết kinh nghiệm của đảng cộng sản trong năm 1963 đă thừa nhận.

            ‘’Từ 1957 đến 1958, t́nh thế dần dần đổi thay. Kẻ thù liên tục phá hoại sự thi hành Hiệp định Genève, củng cố và tăng cường một cách tích cực ngành an ninh quân sự và bộ máy hành chánh, từ trung ương xuống đến tận thôn xóm, ám sát tàn bạo dân chúng (tức cán bộ cộng sản) và thật sự đă phá hủy đảng ta (tức đảng cộng sản Hà Nội của Hồ chí Minh lănh đạo) một cách hữu hiệu.

Vào thời bấy giờ, phong trào đấu tranh chính trị, dù không bị đánh bại, đang gặp khó khăn càng gia tăng và bị suy yếu dần, các căn cứ của đảng, dù chưa bị hủy diệt hoàn toàn, một số bị suy yếu đáng kể, trong vài khu vực, một cách trầm trọng.

Để chống một kẻ thù như vậy, không thể chỉ dùng đấu tranh chính trị đơn giản. Cần sử dụng thêm tranh đấu vơ trang, không chỉ ở cấp thấp...kẻ thù không cho chúng ta chút nào yên ổn cả.

Vậy đến cuối năm 1959, khi chúng ta phóng thêm một cuộc đấu tranh vơ trang phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị chống kẻ thù, cuộc tranh đấu ấy thể hiện ra là cuộc chiến tranh cách mạng tại Nam Việt Nam. ’’

Thật ra từ cuối năm 1956, khi thấy không c̣n hy vọng ǵ thôn tính được miền Nam bằng đường lối tổng tuyển cử, bộ chính trị của đảng cộng sản đă ra mặt lệnh cho đảng bộ tại miền Nam đánh phá các cơ sở của Chính Quyền miền Nam, bằng cách cảnh cáo, bắt cóc, ám sát và thủ tiêu các viên chức chính quyền từ thôn xóm đến thành thị, gây ra t́nh trạng bất ổn và khủng khiếp. Nhiều vụ khủng bố đă xảy ra liên tiếp tại nhiều nơi, trong tháng 7.1957 có 17 người bị cộng sản giết tại Châu Đốc, một Quận Trưởng và gia đ́nh bị phục kích bắn chết trên Quốc Lộ Mỹ Tho-Sài G̣n ngày 10.10.1957, một tên khủng bố ném lựu đạn vào một quán cà phê tại Chợ Lớn gây thương tích cho 13 thường dân và 12 ngày sau, 3 vụ nổ khác làm 13 người Mỹ bị thương. Một đài phát thanh cộng sản cũng bắt đầu hoạt động, lên tiếng là đại diện cho một thứ mặt trận cứu quốc kêu gọi dân chúng nổi dậy chống Chính Quyền Cộng Ḥa dưới quyền Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Quân khủng bố cộng sản cũng nhắm vào người Mỹ khi nào có thể. Trong 3 tháng cuối năm 1957, ít nhất có đến 75 viên chức hay thường dân bị bắt cóc hay ám sát trong hơn 30 vụ khủng bố. Bắt đầu năm 1958, cộng sản mở một chiến dịch khủng bố tại thôn quê, bắt cóc và ám sát các Cán Bộ Hành Chánh tại các thôn xă, Giáo Viên,  Nhân Viên Y Tế, Canh Nông, Cảnh Sát và cũng bắt đầu tấn công những đồn bót nhỏ của Dân Vệ và Địa Phương Quân để cướp vũ khí và phá hủy bộ máy chính quyền tại thôn quê, làm cho dân chúng khiếp sợ không dám ủng hộ Chính Quyền hợp pháp nữa. Vào tháng 7.1958, một học giả Pháp, ông Bernard Fall, đăng một bài báo tŕnh bày một loạt các vụ ám sát do cộng sản gây ra từ tháng 4.1957 đến tháng 8.1958 và cho rằng đảng cộng sản đă mở một cuộc chiến tranh mới. Chính Quyền miền Nam cũng cho Ṭa Đại Sứ Mỹ biết là trong hai năm 1958, 1959 và 5 tháng đầu của 1960 có 780 viên chức dân sự bị giết hại và 282 người bị bắt cóc. Nhưng các quan sát viên ngoại quốc cho rằng con số viên chức Chính Quyền miền Nam bị cộng sản giết hại c̣n cao hơn thế nữa. Nhà Ngoại Giao Mỹ Doulas Pike nêu ra 11.700 vụ ám sát và 2.000 vụ bắt cóc từ 1957 đến 1960. Ông Bernard Fall đưa ra con số 4.000 người bị sát hại từ tháng 5.1961 và đến cuối 1963 là 13.000 người. Báo New York Times tính độ 3.000 viên chức bị giết và bắt cóc trong năm 1960 là 1.400 viên chức và thường dân. Ông Bernard Fall cũng tŕnh bày rằng có sự phối hợp nào đấy giữa những vụ khủng bố và chính quyền Hà Nội. Sau khi cộng sản Hà Nội cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, các tài liệu của cộng sản cũng như những lời phát biểu của các cán bộ cộng sản, cho thấy mọi việc xảy ra tại miền Nam là do đảng cộng sản Hà Nội quyết định và phát động cả. Trong khi chiến dịch khủng bố tiếp diễn, các đơn vị cộng sản được tổ chức tại miền Nam, hay đột nhập từ miền Bắc, mở các vụ đánh phá đường giao thông và phục kích Quân Đội của Chính Phủ. Thí dụ ngày 26.9.1959, hai Đại Đội của Sư Đoàn 23 bị phục kích, một số binh sĩ bị giết và bị thương và mất gần hết vũ khí, ngày 25.1.1960 quân cộng sản đột nhập vào Trung Đoàn 23 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh đóng tại Tây Ninh, giết 23 binh sĩ và cướp nhiều vũ khí. Bốn ngày sau, quân cộng sản chiếm Thị Xă Đồng Xoài cách độ 100 km Bắc Sài G̣n, làm chủ Thành Phố này trong nhiều giờ và cướp một số tiền lớn của người Pháp. Cũng trong tháng giêng năm 1960, quân cộng sản đánh phá vùng Cà Mâu và miền đồng bằng sông Cửu Long. Trong Tỉnh Kiến Ḥa, đường giao thông giữ Tỉnh Lỵ Bến Tre với 6 trong số 8 Quận bị cắt đứt. Cường độ khủng bố và đánh phá của cộng sản leo thang khắp nơi. Mục đích của họ là hủy diệt Chính Quyền hợp pháp, làm dân chúng cực kỳ khiếp sợ, không c̣n dám ủng hộ chính quyền nữa. Họ cũng mong đợi chính quyền ban bố các biện pháp chống lại cộng sản, kiểm soát dân chúng gắt gao hơn, để tố cáo là đàn áp dân chúng và gây thêm bất măn, khiến cho dân chúng theo họ.

Để đối phó với sự khủng bố của cộng sản, Tổng Thống Diệm từ đầu năm 1960 cho thực hiện trở lại chánh sách phân loại và kiểm soát dân chúng một cách chặt chẽ. Ngày 6.5.1959, ông cho ban Luật 10/59 thiết lập 3 Ṭa Án Quân Sự và các Ṭa Án này có quyền tuyên án tử h́nh, không được kháng tố, theo Sắc Lệnh 47 năm 1956 loại trừ cộng sản ra ngoài ṿng pháp luật. Trong thực tế, như tài liệu Ngũ Giác Đài thừa nhận, Luật 10/59 ít khi được áp dụng,  chỉ dùng để xét xử làm gương một số kẻ khủng bố cộng sản. Nhưng dĩ nhiên phe cộng sản, một số nhà báo và viên chức Mỹ hay học giả, đă chỉ trích kịch liệt Đạo Luật này, cho rằng có tính cách chuyên chế và đàn áp.

Đảng Cộng sản Hà Nội càng ngày càng tăng áp lực đối với chính quyền miền Nam. Họ dùng kinh nghiệm của đảng cộng sản Xô Viết trong vụ thôn tính lại được vùng Tây Bá Lợi Á với việc lập ra hết Mặt trận giải phóng đến đảng Nhân Dân Cách Mạng, rồi đến Chính phủ giải phóng để tuyên truyền trong và ngoài nước rằng v́ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm đàn áp nên dân chúng nổi dậy chống lại như vậy. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng Hồ chí Minh và đảng cộng sản không những có các thủ đoạn chính trị lợi hại và thâm độc mà c̣n giỏi về vận động và tuyên truyền. Một số người Việt và nhiều người ngoại quốc tin tưởng nào là mặt trận giải phóng, đảng cách mạng, rồi chính phủ giải phóng. Nhưng các tổ chức ấy chỉ là những công cụ chính trị của đảng cộng sản và bị giải tán không thương tiếc, sau khi họ cưỡng chiếm xong miền Nam.

Vấn đề cuối cùng cần xét đến trong chương này là Hồ chí Minh và đảng cộng sản phát động chiến tranh từ cuối 1956-1975 để làm chủ được miền Nam và thống nhất đất nước,  có lợi cho dân tộc không, trong ngắn hạn và dài hạn. Trước hết, không ai muốn đất nước bị chia cắt cả, nhiều gia đ́nh bị phân chia và ly tán. Thống nhất đất nước sau gần 20 chiến tranh, từ 1957-1975 có thể nói hàng mấy triệu người bị giết, hay trở thành phế nhân, hàng trăm ngh́n ngóa phụ, con côi, hàng trăm ngh́n người mất tích trên biển cả v́ vượt biên, có lợi cho dân tộc Việt Nam không? Nước Việt Nam thống nhất 20 năm nay trở thành một trong những xứ nghèo khổ nhất thế giới, dưới chế độ chuyên chế áp bức và bóc lột của đảng cộng sản và trên đà mất chủ quyền kinh tế đối với ngoại bang v́ sự bất lực và tham nhũng của các cán bộ cộng sản cao cấp. Tham nhũng, buôn lậu, bán nước bán dân, nhất là bất công xă hội, đĩ điếm, buôn bán x́ ke ma túy để đầu độc giới trẻ và người dân, đầy rẫy khắp nước từ Bắc đến Nam. Đảng Cộng sản Hà Nội c̣n đang cầm quyền được ngày nay, đến nay sau khi chế độ cộng sản đă sụp đổ trên lănh thổ Nga và toàn cả Đông Âu là nhờ bộ máy công an kiểm soát dân chúng rất chặt chẽ của họ. Nếu không có chiến tranh, hai miền Bắc và Nam cứ tái thiết và phát triển với ngoại viện của hai phe, hai miền nhất là miền Nam ngày nay chắc ǵ thua sút các con rồng kinh tế và kỹ thuật khác tại Á Châu. Sự thống nhất xứ sở chỉ là một vấn đề thời gian mà thôi. Trong ba nước bị phân chia sau Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), chiến tranh Đại Hàn chỉ kéo dài 3 năm (1950-1953), c̣n giữa hai nước Đức, Đông và Tây, đâu có chiến tranh và đổ máu, nhưng đă thống nhất trong ḥa b́nh. Nếu giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam không có chiến tranh, nhưng hai miền thống nhất trong ḥa b́nh như hai nước Đức, chắc đảng cộng sản tại Hà Nội phải mất chính quyền. V́ thế, họ dựa vào thủ đoạn bạo lực, khủng bố và đổ máu dân tộc không thương tiếc, để làm chủ nhân toàn xứ và phục vụ quyền lợi của đảng cộng sản...

Chính v́ sự phát động khủng bố và chiến tranh tại miền Nam làm cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm phải yêu cầu tăng thêm viện trợ Mỹ. Hoa Kỳ thừa dịp này, thực hiện dần một chánh sách thực dân tại miền Nam...

Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang 126-147

****

ĐỂ THAY LỜI KẾT

            Người ta thường đứng núi này trông núi nọ, được voi đ̣i tiên. Trong đời sống chính trị của một nước cũng vậy thôi. Khi sống dưới chế độ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, một số người bất măn và chỉ trích những nhược điểm và sai lầm của chính quyền, điều này cũng đúng thôi. Họ mong muốn một chính quyền hữu hiệu và tốt đẹp hơn. Nhưng sau khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ và ám sát đầu tháng 11.1963, xứ sở mất chủ quyền, các chính quyền kế tiếp bất lực, người ta mới thấy không có lănh tụ hay chế độ nào hoàn hảo cả. Tổng Thống Diệm và Chính Quyền của ông cũng vậy thôi, với các sai lầm và nhược điểm, nhưng khá nhất so với các chính quyền khác tại miền Nam hay chế độ cộng sản tại miền Bắc trước 1975 và ngay cả chế độ cộng sản ngày nay. Ngay cả những người Mỹ trước kia đả kích và chủ trương lật đổ Tổng Thống Diệm cũng thay đổi nhận định về Tổng Thống Diệm và chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa. Trước cảnh tượng các Tướng cầm quyền chỉ làm tay sai cho ngoại bang, hết Pháp đến Hoa Kỳ,  với mặt trái của cộng sản Hà Nội và con người cá nhân Hồ chí Minh được phơi bày với các tiết lộ của các đảng viên cộng sản kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn, Vũ thư Hiên và cựu Phó tổng biên tập báo nhân dân, Đại tá Bùi Tín th́ h́nh ảnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là con người yêu nước, chống cả cộng sản và thực dân, dù Pháp hay Mỹ, hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền với nếp sống đạo đức cá nhân đă trở nên đáng kính hơn bất cứ nhân vật hiện đại nào từ 1945 đến nay. Thời gian phán xét công bằng. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có nhiều công hơn tội đối với dân tộc Việt Nam. Chỉ bảy năm sau khi ông bị ám sát, ngày 2.11.1970 Tổng Thống Diệm được chính thức truy điệu long trọng tại Sài G̣n và nhiều nơi khác trong nước. Dân tộc Việt Nam tưởng nhớ và ghi tạc sự đóng góp của ông trong sự nghiệp đấu tranh cho quyền tự chủ của dân tộc chống cả cộng sản và thực dân trong mọi h́nh thức, công khai hay âm thầm, cũng như chính trị hay kinh tế. Trong sự nghiệp 9 năm phục vụ dân tộc Việt Nam của ông, nhiều thành tích về nội trị cũng đáng được t́m hiểu và tŕnh bày, như vụ định cư 1954-1955, hệ thống hành chánh, chính sách kinh tế dinh điền v.v...Nhưng các soạn giả này (tức tác giả cuốn sách này) đă hơn 70 tuổi rồi và không mong muốn ǵ hơn là hoàn thành được ấn bản bằng Anh ngữ và phát hành ấn bản bằng tiếng Pháp ngữ được chuyển ngữ tại Paris của tài liệu này.

Các soạn giả chỉ là tư nhân thích nghiên cứu sử học và không có quyền hành pháp, lập pháp hay tư pháp ǵ để ‘’mời’’ những người có liên hệ đến sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vụ đảo chánh và ám sát Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu đến để thẩm vấn và đối chứng như người ta đă làm tại Hoa Kỳ về vụ ám sát Tổng Thống John F. Kennedy chẳng hạn.  Nhưng v́ sống nhiều bằng lư tưởng, t́nh yêu và v́ công tâm trước lịch sử và dân tộc Việt Nam cũng như Hoa Kỳ, với các tài liệu đă hết ‘’mật’’, các sách báo về đề tài này đă xuất bản, những sự đóng góp của một số nhân chứng có thiện chí và các vụ phỏng vấn, chúng tôi xin phép tŕnh bày những kết quả đă thâu lượm được. Đây chỉ là bước đầu. Rồi đây, nhiều tài liệu ‘’mật’’ khác của Hoa Kỳ sẽ được giải tỏa và thêm sự thật chính trị và ngoại giao khác chắc sẽ được công bố.

Đời sống của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không được dài lâu và ông không được hưởng nhiều lạc thú trên đời. Nhưng dân tộc Việt Nam sẽ nhớ lâu dài đến người yêu nước Ngô Đ́nh Diệm. Tài liệu này có lẽ là kỳ đài lịch sử đầu tiên cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Rồi đây khi đất nước Việt Nam thanh b́nh và vắng bóng quân thù cộng sản, sẽ có những kỳ đài khác, những Trường Học và Đại Lộ mang tên ông...Vĩnh Biệt Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang 569-571

TÀI LIỆU LỊCH SỬ:

 

CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM VÀ NỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG H̉A

Aladin Nguyễn

            Hồi 4 giờ 30 trưa thứ sáu, ngày 1.11.1963, nghĩa là khoảng 3 giờ sau khi tiếng súng đảo chánh bắt đầu nổ, Tổng Thống Diệm gọi điện thoại cho Đại Sứ Lodge và đây là nội dung cuộc nói chuyện lần cuối cùng giữa Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam với viên Đại Sứ Mỹ.

Đại Sứ Lodge: Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của Ngài. Tôi có nghe thấy những tiếng súng nổ, nhưng không biết rơ thực hư. Vả lại bây giờ là 4 giờ 30 sáng tại Washington và chính quyền Mỹ có lẽ không thể đưa ra một ư kiến về vấn đề này.

            Tổng Thống Diệm: Nhưng chắc chắn Ngài cũng có những ư niệm đại khái về vấn đề này. Dù sao, tôi cũng là một vị Quốc Trưởng. Tôi đă cố gắng làm bổn phận trên tất cả.

            Đại Sứ Lodge: Dĩ nhiên Ngài đă làm bổn phận của Ngài. Như tôi đă nói với Ngài lần đầu tiên sáng hôm nay, tôi khâm phục sự can đảm của Ngài và khâm phục sự đóng góp to lớn của Ngài đối với Quê Hương của Ngài. Không ai có thể lấy đi cái công của Ngài đối với tất cả những ǵ Ngài đă làm. Nhưng bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn bản thân của Ngài. Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho Ngài và em Ngài b́nh yên đi ra ngoại quốc nếu Ngài từ chức. Ngài có nghe thấy nói điều đó không?

            Tổng Thống Diệm: Không (ngưng một lúc, Tổng Thống Diệm nói tiếp) Ngài có số điện thoại của tôi.

            Đại Sứ Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể làm được điều ǵ cho sự an toàn bản thân của Ngài, th́ xin Ngài cứ gọi tôi.

            Tổng Thống Diệm: Tôi đang t́m cách lập lại trật tự.

Về cuộc nói chuyện giữa Tổng Thống Diệm và Đại Sứ Lodge chúng ta chỉ cần ghi nhận ba điểm sau đây:

            Thứ Nhất: Cái bất lương của Đại Sứ Lodge. Ông đă dối trá khi nói với Tổng Thống Diệm ‘’Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của Ngài. Tôi có nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng không rơ thực hư’’.

            Thứ Hai: Cái ngu dấu đầu hở đuôi của Nhà ngoại giao được coi là thượng tặng của Mỹ. Thật vậy, ở câu trên, Đại Sứ Lodge vừa nói với Tổng Thống Diệm rằng ông chỉ nghe thấy tiếng súng nổ, mà không rơ thực hư. Th́ ngay câu dưới ông lại nói với Tổng Thống Diệm rằng ‘’Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho Ngài và em Ngài đi ra ngoại quốc nếu Ngài từ chức. ’’

            Thứ Ba: Cái khí phách của Tổng Thống Diệm. Đến phút chót và trong cơn nguy khốn,  trước mặt ngoại bang, ông vẫn giữ được thể thống của một người Lănh Đạo Quốc Gia và tư cách của vị Tổng Thống một Quốc Gia có chủ quyền. Ông không hạ ḿnh xuống xin ân huệ của ngoại bang. Như Tổng Thống Marcos của Phi Luật Tân đă hạ ḿnh xuống xin ân huệ của Mỹ, ngày 25.2.1986.

            Hồi 5 giờ 30 chiều 1.11, tức khoảng một giờ sau cuộc điện đàm giữa Tổng Thống Diệm và Đại Sứ Lodge, Trung Tướng Dương Văn Minh gọi điện thoại cho ông Diệm và đ̣i ông Diệm phải đầu hàng, ông Diệm từ chối không muốn nói chuyện với Tướng Minh.

Hai giờ sau, tức là khoảng 7 giờ 30, Tướng Minh lại gọi cho ông Diệm, ông Diệm lại từ chối không nói chuyện. Tướng Minh rất tức giận về thái độ khinh bỉ của ông Diệm.

Khoảng 8 giờ tối, Tướng Minh ra lệnh tấn công vào Dinh Gia Long. Người được chọn để thi hành cuộc tấn công là Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, một sĩ quan Công Giáo, lúc đó đang chỉ huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Một điều mà nhóm đảo chánh đă không ngờ đến là khoảng 8 giờ tối hôm đó, anh em ông Diệm đă lên một chiếc xe màu đen do ông Cao Xuân Vỹ lái, bí mật ra khỏi Dinh Gia Long và đến tạm trú tại nhà Hoa kiều Mă Tuyên.

Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2.11, Đại Tá Thiệu mở nhiều đợt tấn công với thiết giáp và pháo vào Dinh Gia Long. Nhưng các cuộc tấn công ấy đă bị đẩy lui. Những Quân Nhân trung thành với ông Diệm đă chiến đấu vô cùng dũng cảm, mặc dù thua sút về quân số, vũ khí, mặc dù không được tiếp tế và ở trong t́nh thế tuyệt vọng. Cuối cùng, nhóm đảo chánh đă phải cầu cứu Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ cho phi cơ phóng pháo lên bắn phá Thành Cộng Ḥa để hỗ trợ quân đảo chánh và áp đảo tinh thần những binh sĩ pḥng thủ Dinh Gia Long.

Hồi 5 giờ sáng ngày 2.11, binh sĩ trong Dinh Gia Long kéo cờ trắng đầu hàng, sau khi được lệnh bằng điện thoại của ông Diệm.

Hồi 6 giờ 45 ông Diệm lại gọi điện thoại. Người nghe điện thoại là Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Diệm cho Tướng Khiêm biết ông và ông Nhu hiện đang ẩn náu tại Nhà Thờ Cha Tam, Chợ Lớn và yêu cầu đem xe đến đưa về Bộ Tổng Tham Mưu gặp các Tướng lănh. Tướng Dương Văn Minh bèn cử Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Đại Tá Nguyễn Văn Quang, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa và Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đem xe thiết giáp đi rước những kẻ đầu hàng về Bộ Tổng Tham Mưu. Đoàn xe rời Bộ Tổng Tham Mưu hồi 7 giờ 30. Tướng Đôn cho sửa soạn một căn pḥng cho anh em ông Diệm và mời Bác Sĩ Đinh Xuân Minh đến ‘’săn sóc cho Cụ’’.

Khoảng 8 giờ 30, chiếc xe thiết giáp về đỗ tại sân Tổng Tham Mưu với hai cái xác chết trên sàn xe. Tổng Thống Diệm đă bị bắn đàng sau ót, ông Nhu bị bắn ở lưng và bị đâm nhiều nhát dao trên ngực. Hai tay các nạn nhân đều bị trói quặt ra đàng sau lưng.

Cuộc đảo chánh 1963 đă kết thúc bằng cái chết của ông Diệm và em ông.

CHÁNH NGHĨA DÂN TỘC

            Người ta đă suy nghĩ và đă viết nhiều về cái chết đó.

            Có người cho là quả báo nhăn tiền, ông Diệm đă phạm tội ác đối với quốc gia dân tộc,  ông Diệm phải đền tội. Đó là cái nh́n của những kẻ ghét ông Diệm.

Có người lại nghiêm khắc phê phán nhóm Tướng lănh đảo chánh là mọi rợ, ông Diệm đă ra đầu hàng với sự thỏa thuận của các Tướng lănh. Ông Diệm phải được đối xử như một kẻ đă đầu hàng. Nếu nhóm Tướng lănh đảo chánh không coi ông Diệm là một Tổng Thống đầu hàng, th́ ít nhất cũng nên có cái mă thượng và phẩm cách của người quân nhân ‘’thắng trận’’ để đối xử với một hàng binh. Cùng lắm, họ có thể đưa ông Diệm ra trước Ṭa án để công lư tùy nghi định tội. Tại sao lại phải giết một cách lén lút và hèn hạ như vậy? Đó là cái nh́n của số đông, cái số đông gồm những kẻ thương mến ông Diệm, cũng như những kẻ không thương mến nhưng không thù ghét ông Diệm.

            Nhưng, lịch sử có cái nh́n riêng của nó. Cái chết của ông Diệm là một sự cần thiết. Nó mang ư nghĩa trọn vẹn của một phủ định và một xác định. Nó phủ nhận và thẳng tay xóa bỏ giá trị lịch sử và giá trị dân tộc của biến cố 1963, đồng thời xác định bản chất đích thực của biến cố ấy, trước dân tộc và lịch sử.

Thật vậy:

            Biến cố ngày 1.11.1963 đă từng được tôn vinh là một cuộc vùng lên của nhân dân miền Nam và của cái gọi là ‘’đại bộ phận dân tộc Việt Nam’’. Vùng lên để lật đổ một bạo quyền.

            Nhân dân vùng lên, v́ anh em ông Diệm là ‘’những kẻ đại tội làm hư uế chánh nghĩa dân tộc và làm suy nhược sức mạnh của miền Nam’’.

            Nhân dân vùng lên, v́ Ngô Đ́nh Diệm ‘’phong kiến hơn vua, độc tài như cộng sản’’. 

            Nhân dân vùng lên, v́ chế độ Ngô Đ́nh Diệm là ‘’một chế độ dùng bạo lực thay chính trị, dùng khủng bố thay v́ giáo dục’’.

            Nhân dân vùng lên, v́ Ngô Đ́nh Diệm ‘’độc tài độc tôn độc đảng’’ và v́ ‘’suốt chín năm nhà Ngô và đảng Cần Lao ngự trị tại miền Nam, ngoại trừ một thiểu số thống trị với tất cả đặc quyền đặc lợi, c̣n th́ nhân dân phải sống khổ nhục sợ hăi không khác ǵ nhân dân miền Bắc đă sống dưới chế độ Tần Thủy Hoàng của Hồ chí Minh và đảng cộng sản’’.

            Nhân dân vùng lên, v́ ‘’chín năm cai trị là chín năm bạo trị, 15 triệu đồng bào là gần 15 triệu nạn nhân, quân đội và phong trào đấu tranh của Phật Giáo chỉ là những lực lượng có duyên và phương tiện để thi hành bản án mà gần 15 triệu đă tuyên án từ 9 năm qua’’.

            Nhân dân vùng lên, v́ bạo quyền Ngô Đ́nh Diệm ‘’đă tiến hành những chính sách tai hại không phải cho một người mà cho cả một dân tộc’’, đă ‘’dùng bạo lực để hủy diệt một tôn giáo chỉ biết có t́nh thương’’ và ‘’đă dùng gian trá để đem nửa phần đất c̣n lại của dân tộc bán đứng cho cộng sản miền Bắc’’...

Trên đây là những nét chính, tổng quát hóa tội ác của họ Ngô và được liệt kê trong quyển Việt Nam máu lửa quê hương tôi (trang 279, 232, 303, 305, 317, 330, 791, 793...) V́ những tội ác ấy, nhân dân đă phải vùng lên.

Đó không phải là luận điệu của riêng ông Đỗ Mậu, mà c̣n là luận điệu của cả cái tập đoàn đứng sau lưng ông Đỗ Mậu, cũng là cái tập đoàn từng mệnh danh là ‘’đại bộ phận của dân tộc’’.

Trong những tháng ngày sau đảo chánh, luận điệu trên đă trở thành chân lư của những kẻ làm đảo chánh, cũng như của những kẻ hoan hô đảo chánh. Các Tướng Tôn Thất Đính,  Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Trần Văn Đôn, Đỗ Mậu v.v... đă ‘’anh dũng’’ đưa ra những lời tuyên bố lịch sử: ‘’Quân Đội lănh sứ mạng của nhân dân, đứng lên lật đổ Ngô Đ́nh Diệm, v́ chế độ Ngô Đ́nh Diệm độc tài phản dân hại nước và v́ anh em họ Ngô bắt tay với Hà Nội để dâng hiến miền Nam cho cộng sản’’.

Bản tuyên cáo chính thức của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đọc ngày 2.11 cũng đă mở đầu bằng câu: ‘’cuộc cách mạng của toàn dân, thành công trong vinh quang, đă chấm dứt một chế độ độc tài, tàn bạo, bất lực... Đứng trước sự thối nát của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm,  Quân Đội đă nhận thức sự cần thiết phải giải thoát đồng bào để tiến tới một chế độ dân chủ thực sự, nên Quân Đội, dưới sự lănh đạo của Hội Đồng Quân Nhân cách mạng, đă cương quyết vùng lên... ’’

Bản tuyên cáo của chính phủ lâm thời Việt Nam Cộng Ḥa cũng cùng một luận điệu đó. Và bản hiến ước tạm thời của chính quyền ‘’cách mạng’’ cũng đă mở đầu bằng lời ca tụng ‘’cuộc cách mạng chống độc tài đă hoàn toàn thành công với truyền thống hy sinh phục vụ tổ quốc của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa để dành lại cho dân tộc nền dân chủ tự do... ’’

Nói tóm lại, Ngô Đ́nh Diệm là một tên trọng tội, một tên đại gian ác, một tên phản dân hại nước, một kẻ toan bán đứng miền Nam cho cộng sản...Quyền lợi quốc gia Việt Nam và sự sống c̣n của dân tộc Việt Nam đ̣i hỏi rằng tên đại gian ác ấy phải bị lật đổ và đền tội trước quốc dân.

Đó là chính nghĩa được khoác lên vai biến cố ngày 1.11.1963.

Câu hỏi được đặt ra: Đă có chính nghĩa dân tộc sáng ngời như vậy tại sao ‘’cách mạng’’ 1963 lại phải lén lút và hèn hạ cho người ám sát ông Diệm trên chiếc xe thiết giáp Ngô Đ́nh Diệm chuyển từ Nhà Thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu? Tại sao không đường đường chính chính đem tên tội đồ Ngô Đ́nh Diệm ra trước ṭa, dù là ṭa án nhân dân, để xét xử và sau khi ṭa tuyên án, hành quyết tên tội đồ trước khi mặt trời mọc? Tại sao lại phải hành động lén lút và đê tiện như những kẻ đâm thuê chém mướn?

Chánh nghĩa dân tộc của cách mạng để đâu? Liêm sỉ cách mạng để đâu? Khí phách của các Tướng lănh để đâu?

LIÊM SỈ CÁCH MẠNG

            Hồi 8 giờ 30 ngày 2.11.1963 chiếc xe thiết giáp từ Nhà Thờ cha Tam trở về đỗ tại sân Bộ Tổng Tham Mưu.

Khi nh́n thấy hai xác chết bê bết máu của anh em ông Diệm, các Tướng đảo chánh đă hoảng hốt cực độ. Trong cơn hốt hoảng đó, họ đă tuyên bố với báo chí rằng anh em ông Diệm đă tự sát. Nhưng ngay sau đó, Lucien Conein nhắc cho họ biết rằng anh em ông Diệm là người Công Giáo, v́ vậy lời giải thích ‘’anh em ông Diệm tự sát’’sẽ chẳng được ai tin và chỉ càng gieo thêm nghi ngờ. Các Tướng lănh bèn đổi giọng và tuyên bố với báo chí rằng ‘’đó là một cuộc tự sát v́ rủi ro’’. Luận điệu này đă trở thành chính thức của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và của chính quyền cách mạng.

Hiển nhiên, các Tướng đảo chánh đă nói dối. Nhưng vấn đề đặt ra: Tại sao họ phải nói dối? Tại sao họ cúi mặt không dám nh́n sự thật và phải che dấu sự thật?

Tướng Dương Văn Minh là kẻ đă ra lệnh cho đàn em giết ông Diệm để trừ hậu họa.  Nhưng sau khi ông Diệm chết, Tướng Minh không dám nh́n nhận sự thật. Tướng Minh không phải là kẻ chiến bại, mà là kẻ chiến thắng ông Diệm, đồng thời là Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và người hùng của cách mạng. Tại sao Tướng Minh lại phải nói dối? Tại sao lại phải hèn hạ?

Chưa hết, Tướng Dương Văn Minh chẳng những không dám nh́n nhận hành động của ḿnh, mà c̣n t́m cách chối tội và đổ lỗi cho người khác.

Trong cuốn Les Guerres du Vietnam và Our Endless Wars, Trung Tướng Trần Văn Đôn đă viết như sau: ‘’Big Minh không bao giờ nhận trách nhiệm về vụ cố sát anh em ông Diệm. Mỗi khi vấn đề được nêu ra, ông ta lại t́m cách lôi kéo tôi vào. Trong thời gian bị lưu đày tại Vọng Các, Big Minh đă thanh minh với một Linh Mục Công Giáo rằng ông không có trách nhiệm ǵ về vụ giết ông Diệm, Big Minh c̣n khuyên Linh Mục, nếu muốn biết rơ câu chuyện, th́ nên đến hỏi tôi’’ (Our Endless Wars, trang 113).

Tướng Dương Văn Minh lănh tụ cuộc vùng dậy của nhân dân Việt Nam và của cái gọi là đại bộ phận dân tộc Việt Nam, đă phạm hai cái hèn.

            Ông Diệm đă ra đầu hàng, đă được các Tướng lănh chấp nhận cho đầu hàng và đă được các Tướng lănh cử người đưa xe đến chở về đại bản doanh của cuộc đảo chánh. Nhưng Tướng Minh đă lén lút cho bộ hạ giết anh em ông Diệm trên xe thiết giáp. Đó là cái hèn thứ nhất.

Sau khi đă cho người ám sát ông Diệm, Tướng Minh đă không dám nh́n nhận hành động của ḿnh. Đó là cái hèn thứ hai.

Cái hèn của Tướng Minh cũng là cái hèn của nhóm Tướng lănh ngày 1.11.1963, những kẻ không có chánh nghĩa hoặc biết rằng ḿnh không có chánh nghĩa, hoặc nghi ngờ về chánh nghĩa của ḿnh. Bởi v́: Nếu họ có chánh nghĩa, nếu quả thật họ đă v́ dân v́ nước tự động đứng lên để diệt trừ một đại họa cho dân tộc, nếu quả thật họ đă sử dụng Quân Đội và cái được gọi là ‘’đại bộ phận của dân tộc’’ đă vùng lên lật đổ một bạo quyền để cứu lấy tổ quốc Việt Nam, th́ việc giết ông Diệm phải được coi là một hành vi chánh đáng hợp t́nh hợp lư hợp ḷng dân và hợp lịch sử. Và những kẻ đă ra tay giết ông Diệm có quyền tự hào về hành vi đó.

C̣n ǵ chánh đáng hơn là thay mặt nhân dân diệt trừ một tên phản quốc và diệt trừ mọi mầm mống phản loạn sau này? Diệt trừ bằng thủ đoạn giết lén tuy không đường đường chính chính như diệt trừ bằng một bản án tử h́nh của ṭa án, nhưng xét cho kỹ, cũng không có ǵ đáng hổ thẹn. Cách mạng nào mà không đổ máu? Cách mạng nào mà không giết? Mà giết th́ đă sao? Nhất là giết một tên ‘’đại gian ác, tội đồ của dân tộc’’.

Thế th́ tại sao lại phải nói dối, tại sao phải chối tội và t́m cách đổ tội cho người khác?

Câu trả lời là: Những kẻ đó không có chánh nghĩa. V́ vậy phải hèn hạ, phải giết lén,  phải nói dối, phải chối tội và đổ tội lẫn cho nhau.

KHÍ PHÁCH TƯỚNG LĂNH

            Tại sao các Tướng lănh không có được cái khí phách tối thiểu và tinh thần liên đới trách nhiệm để tuyên bố rằng: Ông Diệm có tội với dân tộc, cách mạng đă giết ông để trừ hậu họa. Nếu không được cái khí phách tối thiểu đó, th́ ít nhất cũng phải có được cái liêm sỉ tối thiểu để nói sự thật với quốc dân rằng: Ông Diệm đă bị giết ngoài ư muốn và ngoài dự liệu của các Tướng đảo chánh.

Tại sao lại lừa bịp quốc dân và sống sượng nói dối rằng người chết đă tự sát? Là v́: Họ không có chánh nghĩa, không kết hợp và hành động v́ chính nghĩa, v́ vậy đă phải nói dối,  nói quanh, chối tội và đổ lỗi lẫn cho nhau. Thật là mỉa mai, người sống sợ người chết và kẻ thắng trận sợ kẻ bại trận. Đúng là một lũ đầy tớ giết chủ như Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi đă nhận định một cách sâu sắc. Và giết chủ rồi, lũ đầy tớ nh́n nhau lo sợ.

Vẫn chưa hết, trong cuốn Our Endless War và Les Guerres du Vietnam, Tướng Trần Văn Đôn c̣n viết rằng: ‘’trưa mùng 2.11, xác hai anh em ông Diệm được di chuyển về Bệnh Viện Saint Paul. Sáng hôm sau, ông Minh và tôi đến viếng thăm Ông Bà Trần Trung Dung tại nhà. Bà Dung là cháu ruột ông Diệm. Ông Minh nói với Bà Dung: Chúng tôi đến đây không phải chia buồn. Chúng tôi hy vọng Bà hiểu cho rằng cái chết của ông Diệm và ông Nhu đă xảy ra như là một sự ngẫu nhiên đáng tiếc lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành. Chúng tôi rất buồn,  nhưng bây giờ sự việc đă xảy ra, chúng tôi không thể làm ǵ được nữa. Chúng tôi mong Bà thu xếp lo việc chôn cất’’ (Our Endless War, trang 111).

Một lần nữa, Tướng Dương Văn Minh lại nói dối, lại chối tội. Lúc này ông không c̣n là Trung Tướng Dương Văn Minh nữa, mà là Đại Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, Quốc Trưởng của nước Việt Nam và ‘’người hùng’’ của dân tộc. Ông không chối tội trước quốc dân, trước báo chí, hoặc trước đám đông mà chối tội trước người cháu gái của ông Diệm.

Tướng Minh nói rằng cái chết của anh em ông Diệm đă xảy ra như một sự t́nh cờ ngẫu nhiên. Sự dối trá thật là trắng trợn. Cái chết của anh em ông Diệm đă không xảy ra như một sự t́nh cờ, mà đă xảy ra theo kế hoạch của Tướng Minh và với mệnh lệnh của Tướng Minh.

Tướng Minh c̣n nói rằng: ‘’cái chết ấy đă xảy ra trong lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành’’. Tướng Minh lại nói dối. Anh em ông Diệm đă bị giết trên chiếc xe thiết giáp do chính các Tướng lănh đảo chánh gửi đến để đón ông về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc đó, cuộc đảo chánh đă chấm dứt. Chấm dứt từ lâu. Lúc đó các Tướng đảo chánh đă bắt đầu ăn mừng ‘’cách mạng thành công’’ và bắt đầu chia tiền.

THẰNG HÈN VÀ THẰNG NÓI LÁO

            Năm 1971 là năm bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ hai, Đại Tướng Dương Văn Minh nạp đơn ứng cử. Vấn đề giết ông Diệm lại được đặt ra. Một quyển sách mang tên ‘’Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống’’ xuất hiện. Báo chí lại khơi đống tro tàn của lịch sử và những người trong cuộc đă có dịp lên tiếng về cái chết của ông Diệm.

Ứng cử viên Tổng Thống Dương Văn Minh, trong nhiều cuộc phỏng vấn, tuyên bố rằng ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh em ông Diệm trong cuộc đảo chánh 1963. Ứng cử viên Dương Văn Minh nói: ‘’Thiệu, lúc đó một Đại Tá tham gia cuộc đảo chánh, đă không đem quân vào Dinh Tổng Thống đúng thời điểm để ngăn chặn Ngô Đ́nh Diệm trốn thoát’’. Theo ông Minh, nếu anh em ông Diệm bị bắt giữ ngay trong Dinh Gia Long, họ đă không bị giết. (Tài liệu ngày 20.7.71 về Việt Nam tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ ghi như sau: ‘’Minh said Thieu, then a colonel who had participated in the coup, had failed to bring his trops to the presidential palace in time to prevent Diem trom escaping. Minh held that if Diem and his brother had been taken into custody at the palace they would not have been murdered’’. Ứng cử viên đương kim Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, khi thấy Tướng Minh liên can ḿnh vào vụ ám sát ông Diệm, đă chửi Tướng Minh là thằng hèn và thằng nói láo.

Ông Thiệu nói: Lúc đó ông được Tướng Trần Thiện Khiêm, bây giờ là Thủ Tướng cho biết Dương Văn Minh đă nói với ông ta (tức Trần Thiện Khiêm) rằng: Đảo chánh phiền phức và khó khăn quá, chi bằng áp dụng phương thức dễ nhất, là ám sát Diệm. (tài liệu ngày 20.7.  1971 ghi như sau: Thieu called Minh a coward and a liar when linking him to the Diem assassination...Thieu said at the time he had been informed by Gen. Tran Thien Khiem, now premier, that Minh had told him the coup was so complicated and difficult that the easiest way is to assassinate Diem).

Hồ sơ lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 20 và 21.7.1971 có ghi rơ những lời nói trên của Đại Tướng Dương Văn Minh, kèm theo lời của đương kim Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu gọi cựu Quốc Trưởng Việt Nam Dương Văn Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Cách Mạng, là ‘’thằng hèn và thằng nói láo’’.

Tướng Nguyễn Văn Thiệu chửi Tướng Dương Văn Minh là thằng hèn và thằng nói láo. Lời chửi sâu sắc và xác đáng này cũng có thể dùng để nói về toàn thể Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng 1963, trong đó có Tướng Thiệu, trong vụ ám sát ông Diệm và giải thích cái chết của ông Diệm.

Quả thật ông Diệm đă được phục thù trước lịch sử. Bởi chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ đă lật đổ và giết ông. Kẻ thắng trận phải run phải sợ cúi mặt trước kẻ bại trận. Và đổ tội lẫn cho nhau, nguyền rủa lẫn nhau.

Ông Diệm đă được phục thù trước lịch sử. Chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ giết ông đă phơi bày thực chất của nhóm người làm đảo chánh và phơi bày cái ư nghĩa đích thực của biến cố 1963. Một nhóm người không có chính nghĩa. Một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ xướng và để phục vụ mưu đồ của ngoại bang. Một ‘’lũ đầy tớ giết chủ’’ như lời nhận định của Tướng Nguyễn Chánh Thi một vụ ‘’giết mướn’’ như lời phê phán của Nhà Văn Quân Đội Nguyễn Đạt Thịnh.

BA TRIỆU ĐỒNG VIỆT NAM CỦA CIA

Như đă tŕnh bày ở Chương 6 về cuộc đảo chánh, ngày 30.10.1963 tức là hai ngày trước khi cuộc đảo chánh bùng nổ, Đại Sứ Lodge đă gửi về Ṭa Bạch Ốc một công điện gồm 13 điểm. Điểm 11, Đại Sứ Lodge đề cập đến lời yêu cầu của các Tướng đảo chánh muốn có một số tiền để ‘’mua chuộc phe chống đối’’.

Theo các tài liệu c̣n lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ, th́ hôm đảo chánh Lucien Conein đă đến Bộ Tổng Tham Mưu trao một gói bạc ba triệu đồng Việt Nam cho Tướng Trần Văn Đôn, gọi là để ‘’mua chuộc phe chống đối nếu cần’’.

Trong quyển Việt Nam máu lửa quê hương tôi, ông Đỗ Mậu cũng viết: ‘’Conein bèn mặc quân phục mang theo một khẩu 375 Magnum và một gói tiền độ 3 triệu đồng bạc rồi đến Bộ Tổng Tham Mưu’’. Nhưng ông Đỗ Mậu không biết rơ mục đích và số phận của số tiền đó.  V́ vậy, ông viết tiếp: ‘’cũng cần nói rơ rằng số tiền ba triệu đồng Việt Nam do Conein mang đến đă không được một Tướng lănh nào hay biết trừ Tướng Đôn. Tướng Đôn không bao giờ tŕnh bày cho Hội Đồng Tướng lănh biết có nhận số tiền đó của Conein hay không và nếu có th́ đă sử dụng vào việc ǵ’’ (trang 816).

Trong quyển Việt Nam nhân chứng, Tướng Đôn nh́n nhận có được Conein trao cho số bạc ba triệu và ông đă ‘’tặng cho các bạn’’, chứ không bỏ vào túi. Ông viết: ‘’Đúng 1 giờ 30 trưa, ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Đại Sứ Mỹ và một bao tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị mà không đ̣i làm biên bản nhận đầy đủ. Đến năm 1971, tôi ra lệnh cho Thiếu Tá Đặng Văn Hoa t́m lục lại các biên nhận về việc ghi số tiền ba triệu bạc của Conein, th́ Thiếu Tá Đặng Văn Hoa làm tờ tŕnh và một số các biên nhận. Tôi xin đính kèm theo đây để chứng minh. Tôi không tổ chức đảo chánh để kiếm số bạc như vậy. V́ lúc đó mấy triệu bạc Việt Nam đối với tôi không phải là số tiền tôi khao khát’’ (trang 211).

Viết như vậy, Tướng Đôn đă muốn thanh minh cho sự trong sạch của ông. Nhưng ông đă làm một công việc thừa thăi. Bởi lẽ không ai kết tội Tướng Đôn nhận tiền của Mỹ để bỏ vào túi riêng. Người ta kết tội các Tướng đảo chánh đă làm nhơ nhuốc cuộc đảo chánh và làm nhơ nhuốc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Người ta kết tội các Tướng lănh đă xử sự như những tay sai của Mỹ, trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.

Chúng ta hăy đọc kỹ phiếu đệ tŕnh của Thiếu Tá Hoa, được Tướng Đôn công bố và đính kèm trong phần phụ lục quyển Việt Nam nhân chứng của ông, để có một ư niệm.

PHIẾU ĐỆ TR̀NH

Ngày 14 tháng 8 năm 1971

Trích yếu: Về số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1.11.1963.

Kính thưa Trung Tướng,

Số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn th́ đă được Trung Tướng chỉ thị cấp cho những người sau đây:

Ngày 1.11.1963, Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng nhận 500.000 đồng do Đại Tá Đặng Văn Quang làm biên nhận.

Ngày 1.11.1963, Trung Tướng Tôn Thất Đính Tư Lệnh Quân Đoàn III nhận 500.000 đồng do Đại Úy Phạm Viết Hùng nhận.

Ngày 10.11.1963, Trung Tướng Tôn Thất Đính có nhận thêm 100.000 đồng.

Ngày 4.11.1963 tặng Sư Đoàn 5 Bộ Binh 50.000 đồng do Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu nhận.

Ngày 5.11.1963 tặng Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Đại Tá Lê Nguyên Khang 100.000 đồng do Đại Úy Quế nhận.

Ngày 5.11.1963 Đại Tá Trần Ngọc Huyến Thị Trưởng Đà Lạt nhận 100.000 đồng.

Ngày 9.11.1963 Thiếu Tá Phan Ḥa Hiệp Trường Thiết Giáp nhận 100.000 đồng.

Ngày 19.11.1963 Đại Úy Đào Ngọc Diệp Câu Lạc Bộ Bộ Tổng Tham Mưu nhận 100.000 đồng.

Tổng cộng: 1.550.000 đồng

Tất cả số tiền 1.550.000 đồng trên đây đều có biên nhận (đính kèm). Như vậy c̣n lại 1.450.000 đồng Trung Tướng cũng tặng cho anh em nhưng không có chữ kư biên nhận. Nếu tôi nhớ không lầm th́ trung tướng đă tặng cho các ông sau đây:

Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Lê Văn Kim, Trung Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Đỗ Cao Trí.

Ngày 14 tháng 8 năm 1971.

Kư tên

Đọc phiếu tŕnh trên đây, người ta thấy rơ số tiền ba triệu đă được Tướng Đôn chia ra làm hai. Một nửa ‘’tặng’’ cho các đơn vị đảo chánh gọi là tiền ủy lạo. Một nửa ‘’tặng’’ cho các bạn.

Trong những người nhận tiền ‘’ủy lạo’’ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, nhận 500.000 đồng. Tướng Tôn Thất Đính Tư Lệnh Quân Đoàn III kiêm Tổng Trấn Sài G̣n-Gia Định nhận 600.000 đồng. Số c̣n lại chia cho Sư Đoàn 5, Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Trường Thiết Giáp, Câu Lạc Bộ Bộ Tổng Tham Mưu và Đại Tá Thị Trưởng Đà Lạt Trần Ngọc Huyến.

Trong những người được ‘’tặng’’tiền, có các Tướng Dương Văn Minh, Lê Văn Kim,  Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Trần Văn Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí (riêng Tướng Dương Văn Minh c̣n được hưởng số bạc 6 ngàn mỹ kim lấy được trong chiếc cặp của Tổng Thống Diệm).

Nói tóm lại: Tất cả Tướng Tá có quân hoặc có công tham dự vào cuộc đảo chánh, đều được ‘’ủy lạo’’ hoặc ‘’tặng tiền’’. Nói các khác: Cuộc đảo chánh năm 1963 đă được ủy lạo và tưởng thưởng (tặng) và đây là điều quan trọng: Cuộc đảo chánh năm 1963 đă được ủy lạo và tưởng thưởng bằng tiền của CIA do đích thân CIA đưa đến.

Vấn đề đặt ra: Các Tướng đảo chánh đă xin tiền hay chính người Mỹ đă tự động đem đến?

Theo như công điện ngày 30.10.1963 của Đại Sứ Lodge gửi cho Cố Vấn An Ninh Ṭa Bạch Ốc th́ các Tướng đảo chánh đă ‘’yêu cầu’’ được có một số tiền để dùng vào việc mua chuộc phe chống đối, nếu cần. Điểm 11 của công điện viết như sau: ‘’As to requests from the Generals, they may well have need of funds at the last movnent with which to buy off potential opposition’’. Tạm hiểu như sau: Theo lời yêu cầu của các Tướng lănh, họ có thể cần một số tiền vào phút chót để mua chuộc (những kẻ) chống đối có thể xuất hiện. Tức là: Các Tướng lănh đảo chánh đă xin tiền và xin tiền với danh nghĩa để mua chuộc phe chống đối (các sĩ quan c̣n trung thành với ông Diệm).

Theo những cuốn hồi kư của Tướng Đôn (Our Endless War, Les Guerres du Vietnam và Việt Nam nhân chứng) th́ cuộc đảo chánh năm 1963 là một ‘’vấn đề hoàn toàn nội bộ của Việt Nam’’. Tướng Đôn đă vô t́nh hay hữu ư không biết đến nội dung bức công điện của Đại Sứ Lodge về vấn đề  các Tướng đảo chánh đă xin tiền. Ông mô tả Lucien Conein như một bà phước tự động đem tiền đến cho các Tướng sử dụng. Trong cả hai trường hợp (các Tướng xin tiền hoặc Conein tự động đem tiền đến), việc cung cấp số bạc ba triệu đă được chính quyền Mỹ sắp đặt và quyết định trước. Rất có thể các Tướng đảo chánh đă xin, cũng rất có thể các Tướng lănh đă không xin. Nhưng trong cả hai trường hợp, họ đă ngửa tay ra nhận.

Hành động ngửa tay nhận tiền của các Tướng đảo chánh đă làm nhơ nhuốc cuộc đảo chánh. Họ đă làm nhục chính họ, điều đó không quan hệ. Họ đă sỉ nhục Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Phiếu đệ tŕnh phát tiền do Tướng Đôn công bố có nhiều điều làm cho người ta phải thắc mắc.

1.- Trích yếu của phiếu tŕnh có ghi: ‘’về số bạc ba triệu bạc của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1.11.1963’’.

Trước hết, số bạc ba triệu đồng Việt Nam đă do chính quyền Mỹ cung cấp, chứ không phải tiền của ông Conein cho mượn. Điều này không cần phải chứng minh, nó đă đi vào lănh vực hiểu biết công cộng, cũng như đă được các tài liệu của Mỹ xác nhận. Thâm tâm các Tướng Đôn. Minh, Đính, Kim, Khiêm cũng biết điều đó. Vậy th́, tại sao trong phiếu tŕnh lại ghi là tiền của ông Conein cho mượn? Và nếu là tiền của ông Conein cho mượn th́ các Tướng đảo chánh đă trả lại cho ông Conein chưa? Nếu trả rồi, chắc chắn Tướng Đôn sẽ thấy có bổn phận phải xuất tŕnh bằng chứng, cũng như ông đă thấy có bổn phận phải xuất tŕnh bằng chứng về sự chi tiêu số bạc.

Thứ đến, phiếu tŕnh ghi rằng số tiền ấy dùng để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1.11.1963. Thù lao là trả công. Tại sao lại ghi như vậy? Người ta lại nghĩ rằng Tướng Đôn đă không đọc kỹ phiếu tŕnh, trước khi công bố.

Những chi tiết trên không nên có trong phiếu tŕnh. Dư luận đă từng cười ra nước mắt,  nay một lần nữa lại phải cười ra nước mắt và thương hại cho cái gọi là cuộc cách mạng 1963.

2.- Phiếu tŕnh của Thiếu Tá Hoa đề ngày 14.8.1971, tức là gần 8 năm sau cuộc đảo chánh. Trong quyển Việt Nam nhân chứng, Tướng Đôn cũng đă viết rơ: Năm 1963, ông tặng tiền mà không có làm biên nhận, đến năm 1971, ông mới ra lệnh cho Thiếu Tá Hoa t́m lại các biên nhận và lập phiếu tŕnh.

Câu hỏi được đặt ra: Lư do nào đă thúc đẩy Tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu tŕnh về số bạc đă chi tiêu năm 1963?

Như chúng ta đă biết: Năm 1971 là năm bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ 2. Năm đó Tướng Dương Văn Minh ra ứng cử, vấn đề ông Diệm và cuộc đảo chánh 1963 lại được đặt ra trước công luận và như trên đă tŕnh bày, ngày 20 và 21 tháng 7 năm đó, hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh chửi lộn nhau về cái chết của ông Diệm.

Năm 1971 cũng là năm bầu cử Hạ Nghị Viện khóa 2. Ngày bỏ phiếu là 30.8.1971.  Tướng Trần Văn Đôn ra tranh cử Dân Biểu tại đơn vị Quảng Ngăi và ông đắc cử. Những sự việc nói trên có thể trả lời cho câu hỏi: Lư do nào đă thúc đẩy Tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu tŕnh về số bạc ba triệu đă chi tiêu năm 1963.

Tôi muốn nói với các Tướng đảo chánh và những kẻ vẫn lớn tiếng ca ngợi biến cố 1963 và cuộc vùng dậy của đại bộ phận dân tộc rằng: Hăy có can đảm nh́n vào sự thật. Biến cố ngày 1.11.1963 chỉ là một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ mưu và nhằm phục vụ quyền lợi của ngoại bang. Cuộc tạo phản ấy đă được thi hành bởi những tay sai bản xứ. Những kẻ này đă ngửa tay nhận tiền của ngoại bang và đảo chánh xong rồi, họ đă chia nhau số tiền ấy, mặc dù chẳng được bao nhiêu.

Thật là nhục! Nhục cho những Tướng lănh đảo chánh. Nhục cho cuộc đảo chánh và nhục lây cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 86-95)

 

TÀI LIỆU LỊCH SỬ

CUỘC ĐẢO CHÁNH ÁM SÁT TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM NĂM 63

           

‘’... Chế độ này c̣n nhiều khuyết điểm, cũng c̣n hơn nhiều chế độ khác. Người ta chê là độc tài, nhưng chỉ ngại c̣n những thứ độc tài khủng khiếp hơn... Tôi tiến th́ theo tôi, tôi lùi th́ bắn tôi. Tôi chết th́ trả thù cho tôi’’

(Lời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm trong bài diễn văn Quốc Khánh cuối cùng 26.10.1963.  Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, trang 103).

Ngày 1.11.1963, một cuộc đảo chánh bằng quân sự đă bùng nổ tại Sài G̣n. Đệ Nhất Cộng Ḥa bị lật đổ và Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị giết.

Nhiều người gọi biến cố này là một cuộc tạo phản và gọi các Tướng đảo chánh là bọn phản loạn. Theo thời gian, những từ ngữ tạo phản, phản loạn ăn sâu vào tâm tư người dân và bây giờ đă đi vào tâm tư lịch sử.

Thật ra, cuộc đảo chánh nào mà không phải là một cuộc tạo phản? Bởi lẽ, cuộc đảo chánh nào mà chẳng bất hợp pháp, khi nó dùng vũ lực để xóa bỏ một chính quyền? V́ vậy,  người ta không căn cứ trên khía cạnh hợp pháp để phê phán một cuộc đảo chánh, mà căn cứ trên một khía cạnh cao hơn, tức là khía cạnh chánh đáng, để phê phán một cuộc đảo chánh.

Như chúng ta đă biết, chủ quyền quốc gia không phải là của riêng một cá nhân hoặc mỗi ḍng họ, mà là của nhân dân. V́ vậy, khi người lănh đạo tỏ ra bất xứng hoặc thiếu tầm vóc, nhân dân có quyền và có bổn phận phải thay đổi người lănh đạo. Thay đổi bằng lá phiếu. Trong những trường hợp đặc biệt, thay đổi bằng súng đạn, tức là đảo chánh. Đây cũng là một h́nh thức sử dụng chủ quyền quốc gia của người dân. Lịch sử không bao giờ tiên thiên lên án nó và nó được suy đoán là chánh đáng, nghĩa là: ‘’hợp t́nh dân tộc và hợp hướng đi của lịch sử’’.

Nhưng cuộc đảo chánh chỉ được coi là chánh đáng, (hợp t́nh tự dân tộc, hợp hướng đi của lịch sử), nếu nó đă do nhân dân trong nước chủ xướng, phát động và nhằm phục vụ quyền lợi của quốc gia dân tộc. Trái lại, nó sẽ không được coi là chánh đáng, nếu nó đă do ngoại bang chủ xướng, phát động và nhằm phục vụ mưu đồ của ngoại bang. Đó chính là trường hợp của biến cố 1963. Biến cố này đă do ngoại bang chủ xướng và phát động. Nghiêm trọng hơn, biến cố ấy đă đem lại đổ vỡ cho Quốc Gia miền Nam. Chúng ta sẽ không duyệt lại những ǵ đă xảy ra sau cuộc đảo chánh 1963. Một miền Nam hỗn loạn, một Quốc Gia mất chủ quyền, mất kỷ cương. Ba cuộc binh biến trong thời gian hai năm, binh biến ngày 31.1.1964, binh biến 13.9.1964 và binh biến ngày 19.2.1965. Sáu chính phủ nối tiếp nhau trong thời gian hai năm, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, chính phủ Nguyễn Khánh, chính phủ Nguyễn Xuân Oánh, chính phủ Trần Văn Hương, chính phủ Phan Huy Quát và chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, những Tướng Tá bất tài và thiếu phẩm cách, coi quốc gia như một chiến lợi phẩm. Những Nguyễn Khánh hết cạo râu rồi cạo lông, thề thốt múa may quay cuồng, làm nhục quốc thể. Những cuộc xuống đường bất tận, người xuống đường, bàn thờ xuống đường. Những quân nhân nổi loạn, Quân Đội gh́m súng trước Quân Đội. Trong cảnh hỗn mang đó, người lính Mỹ đổ vào miền Nam càng ngày càng nhiều. Tệ đoan xă hội, đĩ điếm, cần sa, bạch phiến, bước nhịp theo những gót chân ngoại bang trên một mảnh đất không chủ quyền...

Chúng ta không duyệt xét lại những ǵ đă xảy ra sau cuộc đảo chánh. Chúng ta chỉ duyệt lại những ǵ đă xảy ra trước cuộc đảo chánh, để chứng minh một điểm sau đây, cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 đă do ngoại bang chủ mưu và chủ động, các Tướng lănh Việt Nam chỉ là những tay sai bản xứ.

LƯ CỦA KẺ MẠNH

            Ông Diệm đă phạm một tội lớn đối với Mỹ, ông đă dám xử sự như Tổng Thống một Quốc Gia có chủ quyền. Những sự việc sau đây đă chứng minh điều đó.

Sự việc thứ nhất: Vụ Mỹ mang quân chiến đấu vào Việt Nam. Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng, ông Diệm đă chống lại việc Mỹ đem quân chiến đấu vào miền Nam. Sự thật không phải vậy.

Cuối năm 1961, những thắng lợi của Hà Nội và Patthet Lào tại Ai Lao đă làm cho t́nh h́nh Đông Nam Á trở nên khẩn trương và trực tiếp đe dọa miền Nam. Ông Diệm rất muốn sự có mặt của quân đội chiến đấu Mỹ tại miền Nam, đặc biệt là tại biên giới Ai Lao và vùng phi quân sự Bến Hải. Sự có mặt ấy sẽ mang giá trị tượng trưng nói lên quyết tâm của Mỹ trong việc bảo vệ miền Nam như người Mỹ đă từng cam kết. Ông Diệm mong muốn chính quyền Kennedy gửi quân chiến đấu sang miền Nam để giúp nhân dân miền Nam chống lại hiểm họa cộng sản ngày càng gia tăng. Nhưng ông Diệm e ngại một điều, người Mỹ có thể bỏ rơi miền Nam bất cứ lúc nào. Ông cũng không muốn người Mỹ đổ quân vào miền Nam như vào một miền đất bị chiếm đóng và mất chủ quyền. Ông muốn có một sự cam kết chính thức trên giấy tờ của người Mỹ. Ông muốn người Mỹ kư một hiệp ước pḥng thủ song phương với Việt Nam như Mỹ đă từng kư với Đại Hàn. Chính sự đ̣i hỏi này đă là một trong những mầm xung đột giữa chính quyền Kennedy và chính quyền ông Diệm.

Quyển ‘’Kennedy in Vietnam’’, một trong những tài liệu được coi là chính xác, vô tư và súc tích nhất, đă kể lại cuộc đàm đạo giữa Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và phái đoàn Taylor của Tổng Thống Kennedy như sau:

            ‘’Diệm cho phái đoàn biết rằng nhân dân Việt Nam rất lo ngại về việc không có sự cam kết chính thức của Hoa Kỳ đối với miền Nam. Nhân dân Việt Nam e ngại rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi họ. Trong suốt cuộc đàm đạo, không một lần nào ông Diệm trực tiếp yêu cầu Mỹ gửi quân chiến đấu sang Việt Nam. Theo Tướng Taylor, ông Diệm tránh né vấn đề, cho đến khi buổi diện kiến gần kết thúc ông ta mới đi vào vấn đề. Phái đoàn Mỹ rời pḥng họp với cảm tưởng rằng vị Tổng Thống của miền Nam Việt Nam muốn có một hiệp ước pḥng thủ với Hoa Kỳ và muốn có những sửa soạn cho việc đổ quân vào miền Nam, nếu cần’’ (Kennedy In Vietnam, William J. Rust & The Editors of US  News Books, Charles Scribners Sons, New York, trang 46-47).

Sự việc thứ hai: Vụ người Mỹ muốn xen vào nội bộ Việt Nam. Tháng 11 năm 1961, Bộ Ngoại Giao Mỹ đánh điện mật cho Đại Sứ Nolting biết ‘’quyết định không thỏa thuận của chính quyền Kennedy trong việc gởi quân chiến đấu Mỹ sang Việt Nam’’. Bức điện tín cũng cho Đại Sứ Nolting biết rằng ‘’ông Diệm phải được thực hiện những cuộc cải tổ thật sự trên lănh vực hành chánh, chính trị và xă hội’’ (Telegram 619, State to Saigon, được trích dẫn trong ‘’Kennedy in Vietnam’’, trang 52-53)

Theo những tài liệu đáng tin cậy, th́ Tổng Thống Kennedy quyết định không gửi lính chiến đấu Mỹ sang Việt Nam, v́ nhiều lư do. Nhưng lư do quan trọng nhất vẫn là, Mỹ không muốn có một hiệp ước pḥng thủ song phương với Việt Nam, cũng như Mỹ không muốn coi việc gởi lính chiến đấu Mỹ sang Việt Nam như là sự thi hành một hiệp ước.

Mỹ c̣n đi xa hơn thế nữa. Chẳng những không muốn bị ràng buộc bởi một hiệp ước song phương, Mỹ c̣n muốn xen vào nội bộ Việt Nam, họ muốn được ‘’chia sẻ trách nhiệm với chính quyền Việt Nam trong việc phác hoạch những quyết định liên quan đến các lănh vực chính trị, kinh tế và quân sự, khi t́nh h́nh an ninh đ̣i hỏi’’. Trước đó, tức là sau cuộc đảo chánh của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi (11.11.1960), Ṭa Bạch Ốc đă có lần đề nghị như vậy. Nhưng Đại Sứ Nolting đă chống lại ư kiến này. Ông cho rằng: ‘’việc người Mỹ trực tiếp tham dự vào việc phác hoạch những quyết định của miền Nam Việt Nam, sẽ bị ông Diệm và dân chúng miền Nam coi như là một sự trao nhượng chính quyền cho người Mỹ’’.

Tháng 11.1961, Đại Sứ Nolting được chỉ thị của Ṭa Bạch Ốc vào gặp ông Diệm. Ông Diệm đề cập ngay đến vấn đề quân đội chiến đấu Mỹ Đại Sứ Nolting trả lời một cách tiêu cực, rồi đi ngay vào vấn đề ‘’chia sẻ trách nhiệm’’. Ông Diệm đă trả lời như sau: ‘’Chắc ông Đại Sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính Quyền Việt Nam, Việt Nam không muốn là một xứ bị bảo hộ’’. Nguyên văn: Vietnam does not want to be a protectorate (Kennedy in Viet Nam, trang 54). 

Không đầy một tuần lễ sau cuộc gặp gỡ giữa Đại Sứ Nolting và Tổng Thống Diệm, báo chí Sài G̣n (của chính phủ) nhất loạt lên tiếng đả kích Mỹ đă can thiệp vào nội bộ Việt Nam.  Sự việc này đào sâu thêm hố nghi ngờ giữa Hoa Kỳ và Sài G̣n.

Mặc dù vậy, chính quyền Kennedy vẫn tiếp tục ủng hộ Tổng Thống Diệm. Ngày 27.11.1961, Tổng Thống Kennedy chỉ thị cho Đại Sứ Nolting vào gặp Tổng Thống Diệm để giải tỏa những hiểu lầm. Trong cuộc tiếp xúc này, ông Diệm vẫn chống đối những đ̣i hỏi chia sẻ chủ quyền của Mỹ, nhưng đă tỏ ra cởi mở hơn.

Tháng 12 năm đó, Mỹ gia tăng viện trợ quân sự  cho Việt Nam. Hiển nhiên, Tổng Thống Kennedy không muốn thất bại tại miền Nam và sợ ảnh hưởng xấu, đối ngoại cũng như đối nội. Ông đă thất bại quá nhiều rồi, vụ Vịnh Con Heo tại Cu Ba năm 1961 và vụ Ai Lao năm 1962. Nhiều người Việt kết luận rằng: Mỹ sẽ chẳng bao giờ dám bỏ miền Nam. Có lẽ anh em ông Diệm cũng ở trong số những người đó?

Sự việc thứ ba: Vụ Hiệp ước Genève 1962 về Ai Lao. Mùa Xuân năm 1962, quân đội Bắc Việt và patthet lào chiếm căn cứ Nam Tha, mở đường tiến sang những Thị Trấn giáp giới Miến Điện và Thái Lan. T́nh h́nh Đông Dương trở nên cực kỳ khẩn trương. Tổng Thống Kennedy đề nghị đến chuyện đem Đệ Thất Hạm Đội vào Vịnh Thái Lan. Tháng 5 năm ấy, Ṭa Bạch Ốc chấp thuận việc gởi một số Đơn Vị Lục Quân và Không Quân sang Thái Lan, để dằn mặt Bắc Việt. Quyết định này đă khiến Bắc Việt phải tạm chùn bước. Một chính phủ ba phe ra đời tại Vạn Tượng, dưới sự lănh đạo của ông Hoàng trung lập Phouma và Hiệp định Genève về Ai Lao được kư kết. Đây là giải pháp mà Tổng Thống Kennedy rất tán thành và nồng nhiệt bảo trợ. Ông nghĩ rằng Hiệp định này sẽ đem lại thế quân b́nh chính trị tại Ai Lao, đồng thời ngăn chặn bước tiến hung hăm của cộng sản Bắc Việt và patthet Lào tại Đông Nam Á.

Nhưng gai góc lại mọc lên. Tổng Thống Diệm phản đối và dọa sẽ không kư vào bản hiệp định. Tổng Thống Diệm cho rằng hiệp ước ấy trực tiếp đe dọa an ninh của miền Nam và mở đường cho việc trung lập hóa miền Nam. Ông cho biết ông chỉ kư vào hiệp định, nếu chính phủ liên hiệp ba phe tại Vạn Tượng cam kết không lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội.

Đại Sứ Nolting lại phải cấp tốc vào Dinh Độc Lập, trao cho Tổng Thống Diệm bức thư riêng của Tổng Thống Kennedy đoan quyết rằng ‘’lănh thổ Ai Lao sẽ không được sử dụng như một căn cứ để can thiệp bằng quân sự và khuynh đảo các nước láng giềng’’ (Telegram 28, State to Saigon, july 9.1962, Bos 128, Presidential Office Fies, John F. Kennedy Library,  được trích dẫn trong ‘’Kennedy In Vietnam’’, trang 76)

Sau khi nhận được bức thư đoan quyết của Tổng Thống Kennedy, Tổng Thống Diệm mới chịu kư vào bản hiệp định, cùng với 13 quốc gia khác và kư một cách gần như miễn cưỡng.

Sự việc thứ bốn: Vụ CIA và Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ. Đầu năm 1962, Tổng Thống Kennedy chánh thức cho thành lập Nhóm Đặc Biệt chống nổi dậy (Counter Insurgency, viết tắt C. I) đặt dưới quyền của Đại Tướng Taylor, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ.  Nhóm Đặc Biệt có nhiệm vụ chủ đạo và tiến hành cục chiến tranh chống nổi dậy, một h́nh thái chiến tranh không quy ước, phối hợp tự vệ và công dân vụ, nhằm tiêu diệt cộng sản ngay tại nông thôn và tranh thủ nhân tâm cho Chính Quyền Quốc Gia. Trước đó, năm 1961, Cơ Quan CIA cũng đă thành lập những Lực Lượng Tự Vệ người Thượng và trang bị bằng súng tự động. Với sự giúp đỡ kỹ thuật và với sự huấn luyện của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, những Lực Lượng này bành trướng rất nhanh, khoảng tháng 3.1962, Lực Lượng đă lên tới gần 40 ngàn người.

Dĩ nhiên, hoạt động của CIA, của nhóm CI, của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và của Lực Lượng Tự Vệ người Thượng, không được sự tán thành của ông Diệm. Ông Diệm coi đó như một sự xâm phạm chủ quyền Quốc Gia miền Nam. Ông và người em ông là Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu đă nhiều lần lên tiếng công khai phàn nàn. Báo chí Sài G̣n (của chính phủ) hồi đó tràn ngập những luận điệu đả kích Mỹ xâm phạm chủ quyền Việt Nam.

Những sự việc nói trên đă khiến Tổng Thống Kennedy không hài ḷng. Chẳng những không hài ḷng, mà c̣n bực bội. Nhưng có những kẻ c̣n bực bội hơn Tổng Thống Kennedy.  Đó là các Cố Vấn của ông tại Ṭa Bạch Ốc.

Như chúng ta biết, John F. Kennedy là một vị Tổng Thống có mê lực trước quần chúng, nhưng bản tính lại do dự, thiếu cương quyết và dễ thay đổi ư kiến. Các Cố Vấn của ông tại Ṭa Bạch Ốc đă triệt để khai thác nhược điểm này. Trong nhiều vụ, họ đă dẫn dắt ông ta như một đứa trẻ nít. Vụ Vịnh Con Heo năm 1961, vụ Ai Lao năm 1962 và vụ Việt Nam năm 1963 sau này là những thí dụ điển h́nh. V́ vậy, mỗi khi ông Diệm chống lại một đề nghị hoặc một quyết định của Tổng Thống Kennedy, người cảm thấy danh dự bị xúc phạm hơn cả, không phải là Tổng Thống Kennedy, mà là Cố Vấn của ông. Bởi một lẽ dễ hiểu, chính họ là những người đă soạn thảo hoặc đệ tŕnh những quyết định đó.

Trong những Cố Vấn thân cận của Tổng Thống Kennedy có Roger Hillsman và Averell Harriman là hung hăn nhất. Hai người này không chấp nhận rằng Tổng Thống của một Quốc Gia nhược tiểu đang ăn mày viện trợ của Mỹ, lại được phép xử sự như Tổng Thống một Quốc Gia có chủ quyền.

Cái ly đă đầy nước, chỉ cần một cục đá lạnh nhỏ bé là tràn. Cục đá lạnh đó đă được tạo ra đúng lúc. Đó là vụ Phật Giáo 1963.

Có thể nói rằng: Nếu không có những va chạm chủ quyền, nhất là nếu ông Diệm không xử sự như Tổng Thống của một Quốc Gia có chủ quyền, th́ cái gọi là vụ Phật Giáo 1963 đă không xảy ra. Và nếu có xảy ra, th́ chính quyền Kennedy cũng đă không phản ứng như đă phản ứng.

Có thể nói rằng: Nếu anh em ông Diệm bớt cố chấp, bớt chủ quan và biết mềm dẻo một chút (một sự mềm dẻo có lợi cho đất nước) th́ ngọn lửa tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức, dù băo tố đến mấy, cũng không gom đủ sức ép để có thể đè sập một chính quyền.

Người Mỹ có lư, hay ông Diệm có lư? Người Mỹ có lư khi đ̣i đổ quân chiến đấu vào miền Nam mà không bị ràng buộc bởi một hiệp ước pḥng thủ song phương? Hay ông Diệm có lư khi đ̣i cho Quốc Gia Việt Nam một hiệp ước pḥng thủ song phương?

Người Mỹ có lư khi đặt Chính Quyền Việt Nam trước một sự đă rồi, trong vụ Hiệp định Genève về Ai Lao năm 1962? Hay ông Diệm có lư khi đ̣i phải có những bảo đảm cần thiết cho an ninh lănh thổ miền Nam?

Người Mỹ có lư khi cho CIA và Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ thành lập những lực lượng tự vệ riêng biệt, không được sự chấp thuận trước của Chính Quyền Việt Nam? Hay ông Diệm có lư khi coi đó là những hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam và chống lại?

Chúng ta đặt câu hỏi, không phải để t́m kiếm ai là người có lư. Chúng ta chỉ muốn chứng minh một sự kiện, trước khi vụ Phật Giáo xảy ra, giữa Tổng Thống Mỹ và Tổng Thống Việt Nam đă có những mối bất ḥa, từ ngữ ngoại giao gọi là ‘’những hiểu lầm đáng tiếc’’. Các Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc đă làm cho những mối bất ḥa đó trở thành những xung đột phải giải quyết bằng sức mạnh. Họ đă đẩy Tổng Thống Kennedy đi tới kết luận sau đây: Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một trở ngại cho công cuộc pḥng thủ cái mà họ gọi là Tiền Đồn của thế giới tự do tại Đông Nam Á.

Lư của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng, dù thắng như một kẻ vũ phu và thắng nhất thời.  Cái sai lầm của anh em ông Diệm, nếu có chỉ là đă không nh́n thấy chân lư đó.

NHỮNG BẰNG CỚ TRÊN GIẤY TRẮNG MỰC ĐEN

Những hỗn loạn tại miền Trung sau ngày Phật Đản mùng 8.5.1963, những đ̣i hỏi của Phật Giáo, sự chậm chạp của chính quyền trung ương trong việc giải quyết vấn đề Phật Giáo,  những vụ tuyệt thực của Tăng ni tại Sài G̣n, những vụ biểu t́nh của sinh viên học sinh v.v...tất cả đă nhập cuộc để kết tụ thành cục nước đá lạnh làm tràn cái ly.

Chính quyền Kennedy bắt đầu lo ngại cho sinh mệnh của tiền đồn chống cộng miền Nam. Lúc đó, Đại Sứ Nolting đi nghỉ phép, Sứ thần William Trueheart được lệnh Ṭa Bạch Ốc phải buộc Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm gấp rút thỏa măn 5 đ̣i hỏi của Phật Giáo. Ngày 4.6.1963, Trueheart gặp ông Nguyễn Đ́nh Thuần, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống, cảnh cáo rằng: Mỹ sẽ không thể tiếp tục ủng hộ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm nếu Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm không từ bỏ những hành động ‘’đàn áp đẫm máu’’ như ở Huế.

Ngày 7.6.1963, Hội Phụ Nữ Liên Đới của Bà Ngô Đ́nh Nhu phổ biến một Bản Nghị Quyết tố cáo các vị lănh đạo Phật Giáo là cộng sản. Hành động thiếu suy nghĩ này đă đổ thêm dầu vào lửa và gây khó khăn thêm cho Tổng Thống Diệm lúc đó đang ở một t́nh thế cực kỳ khó khăn. Ṭa Bạch Ốc bèn chỉ thị cho Trueheart phải vào gặp ông Diệm để phản đối hành động của Bà Nhu.

Sau cuộc gặp gỡ, Trueheart gửi phúc tŕnh đề ngày 11.6. về Washington, với những kết luận sau đây:

            Thứ nhất: Không có dấu hiệu rơ rệt là các vị lănh đạo Phật Giáo bị ảnh hương cộng sản.

            Thứ hai: Hành động của các vị lănh đạo Phật Giáo không phải là không đáng trách, họ đă sử dụng báo chí ngoại quốc cho cuộc đấu tranh của họ và một trong số bọn họ hy vọng sẽ lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.

            Thứ ba: Vẫn c̣n có cơ may rằng Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm sẽ giải quyết thỏa đáng vấn đề Phật Giáo. (Telegram 1155, Saigon to State, June 11.1963, declassified by the Department of State, Jan 15.1982, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 97)

Phúc tŕnh Trueheart vừa gởi đi, th́ cũng ngày đó, Ḥa Thượng Thính Quảng Đức tự thiêu. Đây là một đ̣n ngàn cân đánh vào đầu Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Báo chí Mỹ,  Truyền h́nh Mỹ, dư luận Mỹ và cuối cùng là chính quyền Mỹ nhất loạt kết luận rằng tại miền Nam Việt Nam Phật Giáo đang bị bách hại. Trước đó, từ ngữ ‘’kỳ thị tôn giáo’’ được sử dụng. Nhưng sau vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức, thay từ ngữ ‘’bách hại tôn giáo’’ hoặc ‘’đàn áp tôn giáo’’ đương nhiên trở thành từ ngữ chính thức để nói về cuộc khủng hoảng Phật Giáo tại Việt Nam.

Người ta thường nói tới ba mức độ hành động mà một chính quyền hoặc một tập quyền có thể có đối với một chủng tộc, một tập thể hoặc một tôn giáo. Ba mức độ đó là kỳ thị, đàn áp và bách hại.

Kỳ thị (discrimination) là đối xử thiên lệch, coi bên này hơn bên kia. Thế Kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tại Mỹ có quốc sách kỳ thị chủng tộc giữa người da trắng và người da đen. Người da đen bị luật pháp xếp hạng thấp hơn người da trắng, không được đi chung toa xe lửa với người da trắng, không được học những trường dành cho người da trắng. Tại Việt Nam, Dụ số 10 ưu đăi Công Giáo và cho Công Giáo những đặc quyền mà Phật Giáo không được hưởng. Hiển nhiên trên phương tiện luật pháp, Phật Giáo đă bị kỳ thị. Nhưng trên thực tế, sự kỳ thị (nếu có) chỉ được t́m thấy trong những trường hợp cá biệt, nó không phải là chánh sách của nhà cầm quyền

Mức độ thứ hai, sắt thép hơn, là đàn áp (repression). Tức là kiểm soát, khống chế và ngăn chặn không cho phát triển. Tại Mỹ trước đây, trên phương diện luật pháp và trên thực tế,  có nạn kỳ thị người da đen. Nhưng không có nạn đàn áp người da đen. Tại Việt Nam, trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, tôn giáo không hề bị đàn áp, ngay cả trong vụ Phật Giáo 1963.

Mức độ thứ ba, tàn bạo và dă man, là bách hại (persecution) tức là cấm đoán, lùng bắt,  bỏ tù và triệt hạ bằng bạo lực. Ngày xưa, thực dân Pháp đă bách hại Việt Nam Quốc Dân Đảng và các nhà cách mạng Việt Nam. Thời Việt Minh, bọn cộng sản Hồ chí Minh đă bách hại người Quốc Gia. Trên lănh vực tôn giáo, bạo chúa Neron của La Mă ngày xưa đă bách hại Công Giáo. Giáo hữu bị lùng bắt, giam cầm, hành hạ, tra tấn và bị giết một cách dă man (như bị đóng đinh trên thập tự, bị liệng vào vạc dầu sôi, bị lùa vào đấu trường cho sư tử xé xác v.v...). Tại Việt Nam, thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đạo Gia Tô bị Vua quan bách hại. Nhà thời bị đốt phá, Giáo hữu và Giáo sĩ bị lùng bắt, bị tra tấn và bị chém ngang thây. Có người bị chôn sống, có người bị ném cho voi dày. Nạn nhân không phải chỉ gồm riêng một người, mà gồm tất cả những ‘’người theo tà đạo’’. Đây là một vết nhơ cho lịch sử dân tộc ta. Ngay thời Việt Minh, cũng không có hiện tượng đó. Việt Minh đàn áp tôn giáo, cộng sản đàn áp tôn giáo, nhưng không dám ngang nhiên bách hại tôn giáo như các Vua quan Triều Nguyễn ngày xưa đă bách hại Đạo Gia Tô.

Trở lại chánh sách của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm đối với Phật Giáo. Trên phương diện luật pháp và đôi khi thực tế, Phật Giáo bị kỳ thị. Nhưng Phật Giáo không bị đàn áp. Chứ đừng nói đến bách hại.

Nhưng sau vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức, th́ sự việc trở thành vô nghĩa và thực tế cũng trở thành vô nghĩa. Ngọn lửa tự thiêu đă đốt giai đoạn suy tư của quần chúng và của chính quyền Mỹ. Đang là một vụ ‘’kỳ thị tôn giáo’’, vụ Phật Giáo đă bước nhảy vọt, trở thành một vụ bách hại tôn giáo. Phật Giáo đă bị Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm bách hại. Như ngày xưa Công Giáo đă bị Neron bách hại tại La Mă. Như ngày xưa Đạo Gia Tô bị Vua quan Triều Nguyễn bách hại tại Việt Nam. H́nh ảnh một vị Ḥa Thượng ngồi kiết già trong đám lửa là h́nh ảnh sống động nhất trong dư luận người Mỹ và dư luận thế giới. Một sớm một chiều, những ‘’khẩu nghiệp Phật Giáo tại Việt Nam bị bách hại’’ đă mang ư nghĩa của một chân lư.

Quả thật, vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức là một thành công tuyệt vời của những nhà đạo diễn tuyệt vời...

Ngay sau vụ tự thiêu, Bộ Ngoại Giao chỉ thị cho Trueheart đến nói cho ông Diệm biết,  phải tức khắc thỏa măn những đ̣i hỏi của Phật Giáo nếu không Hoa Kỳ sẽ phải tách rời ra khỏi sự ‘’thiếu thiện chí’’ của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.

Ngày 12.6, Trueheart vào gặp ông Diệm, chuyển lời của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Bốn ngày sau, một thỏa ước được kư kết giữa chính quyền và đại diện Phật Giáo. Nhưng đă quá muộn.  Cuộc khủng hoảng đă vượt khỏi tầm tay của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm và của Phật Giáo.  Nó đă có những khích thước mới. Cuộc đấu tranh đă mang bản chất mới và mục tiêu mới.  Cuộc đấu tranh không nhằm bảo vệ đạo pháp nữa, mà nhằm thực hiện một mưu đồ chính trị,  tức là lật đổ chính quyền hợp pháp của Quốc Gia miền Nam. Pháp nạn chỉ là cái cớ. Ngay cả ông Diệm cũng chỉ là cái cớ.

Chúng ta hăy trở lại thời điểm 16.6.1963. Thỏa ước giữa chính phủ và đại diện Phật Giáo chưa ráo mực, th́ cuộc đấu tranh về pháp nạn lại bùng nổ lên dữ dội hơn. Những đoàn người quá khích tràn xuống đường, la hét và vật lộn với nhân viên công lực. Những truyền đơn bích chương bằng tiếng Mỹ và tiếng Việt được tung ra khắp nơi, lên án chế độ Ngô Đ́nh Diệm đàn áp và bách hại Phật Giáo. Một số truyền đơn kêu gọi dân chúng đứng lên ‘’lật đổ chế độ bạo tàn’’.

Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm lúc đó lưỡng đầu thọ địch. Một mặt phải đối phó với những nhóm đấu tranh quá khích đ̣i lật đổ chính quyền, một mặt phải đối phó với những áp lực càng ngày càng gia tăng của chính quyền Kennedy. Con người đứng trước đầu gió, ḱnh diện với thực tế khắc nghiệt là ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu. Ông Nhu lên án những hành động của nhóm đấu tranh quá khích là bất hợp pháp, phá rối trị an và làm lợi cho cộng sản. Ông nhất định ‘’dẹp loạn’’ và không lùi bước trước áp lực của chính quyền Mỹ.

Bên cạnh Ông Nhu là Bà Nhu, với những tuyên bố vô trách nhiệm kiêu căng, thách thức đổ dầu vào lửa.

Từ tháng 6 đến tháng 8.1963, t́nh h́nh ngày một căng thẳng. Sài g̣n lên cơn sốt chính trị, Sài G̣n như một thùng thuốc nổ chậm. Những phần tử đấu tranh, được sự đồng t́nh của báo chí và của dư luận Mỹ, nhất là được sự đồng t́nh mặc nhiên của chính quyền Mỹ, đă trở nên hung hăng hơn, đ̣i hỏi hơn, quyết liệt hơn.

Ngày 20.8, chế độ thiết quân luật được ban hành, do lời đề nghị các Tướng lănh có trách nhiệm. Ông Nhu đă nắm lấy cơ hội để hành động. Ngay đêm đó, Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt mở cuộc hành quân lục soát một số Chùa chiền tại Sài G̣n, Huế, Đà Nẵng và nhiều Thị Trấn lớn.

Trước đó mấy ngày, Đại Sứ Nolting đă vào gặp ông Diệm và được ông Diệm hứa sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo một cách thỏa đáng. Đại Sứ Nolting đă gửi một phúc tŕnh lạc quan về Ṭa Bạch Ốc. V́ vậy cuộc hành quân lục soát các Chùa đêm 20. 8 không khác ǵ một cái tát vào mặt Hoa Kỳ.

Câu hỏi được đặt ra: Ông Diệm có được ông Nhu tham khảo ư kiến trước hay không? Hay ông Diệm đă bị ông Nhu đặt trước một sự đă rồi? Trong mọi giả thuyết, ông Diệm phải chịu trách nhiệm. 

Ṭa Bạch Ốc sửng sốt và cực kỳ phẫn nộ. Dư luận thế giới đồng loạt lên án. Các Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc, đặc biệt Roger Hillsman và Averell Harrisman bèn triệt để khai thác vụ này để chính thức viết nên bản án khai tử nền Đệ Nhất Cộng Ḥa.

Một đao phủ được gởi đến Sài G̣n để thi hành bản án là Henry Cabot Lodge.

Dưới đây là những bằng cớ trên giấy trắng mực đen về việc chính quyền Kennedy đă chủ xướng, chủ mưu, chủ động và chủ lực trong việc khai tử Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm năm 1963. Một hành động mà lịch sử Mỹ đă lấy làm hối tiếc và hổ thẹn sau này, cũng đă hối tiếc và hổ thẹn trong vụ phản bội miền Nam năm 1975.

1.- Công điện ngày 24.8.1963, Bộ Ngoại Giao Mỹ gởi Đại Sứ Lodge.

Đại Sứ Cabot Lodge đến Sài G̣n 22.8. Hai ngày sau, ngày 24.8 ông nhận được công điện của Bộ Ngoại Giao Mỹ, với một nội dung sau đây:

            ‘’Bây giờ đă rơ rệt, vụ thiết quân luật dù do Quân Đội đề nghị hay do Ngô Đ́nh Nhu đề nghị. Ngô Đ́nh Nhu vẫn là người đă lợi dụng nó để đánh phá chùa chiền với lực lượng Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Lê Quang Tung hiện trung thành với Nhu. Như vậy, Nhu đă đổ trách nhiệm lên đầu Quân Đội, trước mặt thế giới và nhân dân Việt Nam. Hiển nhiên Nhu đă tự điều động ḿnh lên tư thế nắm quyền chỉ huy. Chính quyền Mỹ không làm ngơ để cho quyền bính lọt vào tay Nhu. Diệm phải được dành cho cơ hội để loại bỏ Nhu và bè lũ và thay vào đó những phần tử tốt nhất có thể t́m thấy, quân sự cũng như dân sự. Nếu ông Đại Sứ cố gắng thuyết phục Diệm mà Diệm vẫn ngoan cố, th́ lúc đó chúng ta phải đứng trước t́nh huống là ngay cả Diệm cũng không được duy tŕ nữa. Ông Đại Sứ và tổ hành động tại chỗ phải cấp tốc cứu xét việc t́m người lănh đạo thay thế và soạn thảo những kế hoạch chi tiết để thay thế Diệm, khi cần. Không cần phải nói, chắc ông Đại Sứ sẽ tham khảo ư kiến với Đại Tướng Harkins về những biện pháp cần thiết để bảo vệ nhân viên Mỹ trong suốt thời kỳ khủng hoảng...Ông Đại Sứ nên hiểu rằng chúng tôi không thể từ Washington đưa ra những chi tiết hành động, nhưng ông Đại Sứ cũng nên hiểu rằng chúng tôi triệt để đứng sau lưng ông Đại Sứ trong tất cả những hành động nhằm đạt tới mục tiêu của chúng ta’’ (Telegram 243, State to Lodge, Aug 24.1963,  Box 198, National Security File, John F.  Kennedy Library).

            Đoạn văn trên của bức công điện có thể tóm tắt như sau: ‘’Diệm phải loại bỏ Nhu. Nếu không chính Diệm sẽ bị loại bỏ. Hăy cấp tốc sửa soạn kế hoạch thay thế Diệm, ông Đại Sứ được toàn quyền hành động để đạt mục tiêu’’.

Loại bỏ ông Diệm bằng cách nào? Bức công điện viết tiếp: ‘’Ông Đại Sứ cũng có thể nói cho những Tướng lănh ‘’thích hợp’’ biết rằng: Chúng ta sẽ trực tiếp ủng hộ họ trong thời kỳ tạm quyền, khi bộ máy chính quyền trung ương bị ngưng. ’’

Câu này có thể viết lại một cách sống sượng như sau: ‘’Ông Đại Sứ hăy nói cho các Tướng lănh biết: Lật đổ chính quyền trung ương đi, Mỹ sẽ ủng hộ. ’’.

            Bức công điện nói trên (mà sau này sử sách gọi là bức công điện ngày 24.8) mang chữ kư chấp thuận (approved) hoặc thông qua (cheared) của những người sau đây: Roger Hillsman, Phụ Tá Bộ Ngoại Giao và W.  Averell Harriman, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách chính trị vụ, Michael V. Forrestal, chuyên viên về Việt Nam và Đông Nam Á tại Ṭa Bạch Ốc và George Ball, Thứ Trưởng Ngoại Giao.

Tác giả của bức công điện là Hillsman và Harriman. Hai người này đă hành động gấp rút và trí trá, vượt mọi thủ tục thường lệ Tổng Thống Kennedy, Tổng Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk, Tổng Trưởng Quốc Pḥng McNamara, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Maxwell Taylor, Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo MacCone, tất cả đă bị qua mặt. Hôm đó những nhân viên này đang nghỉ cuối tuần. Họ chỉ được thông báo và đọc cho nghe trong điện thoại và trong điện thoại, mỗi vị đều được biết Tổng Thống đă chấp thuận, hoặc cấp trên trực tiếp của họ đă chấp thuận. Riêng Tổng Thống Kennedy th́ được phúc tŕnh rằng Ngoại Trưởng Dean Rusk đă chấp thuận... C̣n Ngoại Trưởng Dean Rusk đă chấp thuận và được cho biết trong điện thoại rằng Tổng Thống Kennedy đă chấp thuận.

Công điện gửi đi lúc 9 giờ 36 phút tối 24.8. và khoảng 11 giờ tối hôm đó, Đại Tướng Taylor mới nhận được bản sao. Ông nổi giận cho rằng ‘’nhóm chống đối ông Diệm nằm trong Bộ Ngoại Giao đă lợi dụng lúc các viên chức cao cấp trong chính phủ vắng mặt để đưa ra những chỉ thị mà nếu được soạn thảo trong những trường hợp b́nh thường sẽ không bao giờ được chấp thuận’’.  (Kennedy in Vietnam, trang 116).

2.- Công điện ngày 26.8. Đại Sứ Lodge gởi Bộ Ngoại Giao.

Đại Sứ Lodge nhận được công điện nói trên của Bộ Ngoại Giao vào sáng Chủ nhật 25.8. Ông bèn họp Tham Mưu và quyết định đi thẳng với các Tướng lănh Việt Nam. Ông lập luận rằng: Ông Diệm sẽ chẳng bao giờ chấp nhận những khuyến cáo của Hoa Kỳ về việc loại bỏ ông Nhu. Nói cho ông Diệm biết lập trường của Ṭa Bạch Ốc, sẽ không ích lợi ǵ. Chẳng những vậy, c̣n có thể khiến cho ông Diệm đâm ra nghi ngờ các Tướng lănh. Dưới đây là bức công điện của Đại Sứ Lodge trả lời Bộ Ngoại Giao:

            ‘’Tôi tin rằng Diệm sẽ không chấp nhận những đ̣i hỏi của chúng ta. Đồng thời, khi đưa những đ̣i hỏi ấy ra, chúng ta sẽ cho Nhu cơ hội đề pḥng trước hoặc chận đứng hành động của Quân Đội, đó là một cuộc mạo hiểm không nên làm, bởi v́ hiện nay Nhu đang nắm giữ những lực lượng chiến đấu tại Sài G̣n. V́ vậy, tôi đề nghị, chúng ta nên đi thẳng với các Tướng lănh mà không cho Diệm biết. Tôi sẽ nói cho các Tướng lănh biết rằng chúng ta chủ trương giữ Diệm lại, không có Nhu. Nhưng trên thực tế, giữ Diệm hay không là tùy ở họ. Tôi cũng sẽ yêu cầu các Tướng lănh làm những điều cần thiết để thả các lănh tụ Phật Giáo và thi hành thỏa ước ngày 16.8. Tuy nhiên tôi không đề nghị ra tay hành động cho đến khi chúng ta có được những kế hoạch trốn thoát và tránh né (evasion escape) thỏa đáng. Tướng Harkins đồng ư. Ngày mai, hồi 11 giờ sáng, tôi sẽ tŕnh ủy nhiệm thơ lên Tổng Thống Diệm’’.  (Lodge to State, quoted in telegram 6346 Forrestall to President, Aug 25.1963. Box 198, National security files, John F.  Kennedy library).

Có ba điểm quan hệ trong bức công điện của Đại Sứ Lodge:

            Thứ nhất: Không cần phải nói với Diệm loại bỏ Nhu, mà bảo các Tướng lănh loại bỏ Nhu.

            Thứ hai: Cho phép các Tướng lănh Việt Nam được tùy ư giữ Diệm hay loại bỏ Diệm.

            Thứ ba: Ṭa Đại Sứ Mỹ đă nghĩ đến việc giúp đỡ các nhân viên Mỹ và các Tướng lănh Việt Nam trốn thoát trong trường hợp đảo chánh thất bại.

Đại Sứ Lodge gởi công điện đi ngày 26.8. Cùng ngày đó, ông nhận được công điện vắn tắt sau đây của Bộ Ngoại Giao: ‘’Đồng ư với sự sửa đổi đă đề nghị’’. Nguyên văn ‘’Agree to modification proposed’’. (telegram Ball to Lodge, 26.8.63, Box 198, National security files, John F Kennedy library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 116).

Tức là Bộ Ngoại Giao Mỹ chấp thuận toàn bộ kế hoạch của Đại Sứ Lodge đi thẳng với các Tướng lănh để giải quyết vấn đề loại bỏ ông Nhu và có thể loại bỏ cả ông Diệm.

3.- Công điện ngày 28.8, Tổng Thống Kennedy gởi Đại Sứ Lodge.

Sáng thứ hai, ngày 26.8, Tổng Thống Kennedy trở về Ṭa Bạch Ốc sau cuộc nghỉ cuối tuần tại Hyannisport. Ông khám phá ra những mờ ám chung quanh bức công điện 24.8. Tổng Trưởng Quốc Pḥng McNamara không được tham khảo ư kiến, không được thông báo. Giám Đốc CIA MacCone, Đại Tướng Taylor và Ngoại Trưởng Rusk cũng không được tham khảo.  Ngoại Trưởng Rusk đă đồng ư cho gửi bức điện đi và tưởng rằng Tổng Thống Kennedy đă đồng ư và Tổng Thống Kennedy đă đồng ư cho người gửi bức công điện đi và tưởng rằng Ngoại Trưởng Rusk đă đồng ư.

Theo các tài liệu, th́ sau khi khám phá ra những điều khuất tất, Tổng Thống Kennedy đă giận dữ như chưa từng thấy. Trưa hôm đó 26.8, một cuộc tranh luận sôi nổi đă diễn ra tại Ṭa Bạch Ốc, trước sự hiện diện của Kennedy. Phần đông những người có mặt đều bất măn với nội dung của bức công điện và lề lối làm việc của Hillsman và Harriman. Vấn đề được đặt ra một cách khẩn trương: Có nên rút lại bức công điện 24.8. hay không? Tuy đa số những người có mặt không đồng ư với nội dung của bức công điện, nhưng không một ai tán thành việc rút lại hoặc hủy bỏ bức công điện. V́ vậy, bức công điện vẫn giữ nguyên hiệu lực của nó.

Chẳng những vậy, ngày 27.8, khi Tổng Thống Kennedy gặp lại Cố Vấn trong Ṭa Bạch Ốc, Ngoại Trưởng Rusk c̣n nhấn mạnh rằng: ‘’chúng ta phải cho viên chức chúng ta ở Sài G̣n biết rằng chúng ta sẽ không thay đổi những chỉ thị đang có, những chỉ thị mà họ đă căn cứ và để tiến hành nhiều công việc rồi’’(Memorandum of Conference with the President, Aug 27.1963, John F. Kennedy library)

Một vấn đề khác, không kém khẩn trương, cũng đă được đặt ra trong phiên họp, liệu các Tướng lănh Việt Nam sẽ thành công hay không? Đối với Tổng Thống Kennedy, th́ đây là một vấn đề sinh tử. Chính quyền mang tên ông đă được gắn liền với những thất bại ê chề và rúng động dư luận trong vụ Vịnh Con Heo và Ai Lao mới đây. Nếu cuộc đảo chánh thất bại, ông là người phải chuốc lấy mọi tiếng xấu và khinh khi của dư luận, trong cũng như ngoài nước.

            V́ vậy, ngày 27.8, Bộ Ngoại Giao được lệnh phải đánh điện yêu cầu Đại Sứ Lodge cho biết thêm chi tiết về âm mưu đảo chánh và về những Tướng lănh đang âm mưu đảo chánh. Đại Sứ Lodge bèn cấp tốc gửi công điện về Washington đoan quyết rằng:‘’cuộc đảo chính có viễn tượng rất tốt, nếu tŕ hoăn cơ may thành công sẽ giảm đi’’ (The Overthrow of Ngo Dinh Diem,  United States Viet Nam Relation III, trang 19).

Trong khi Bộ Ngoại Giao đánh điện hỏi Đại Sứ Lodge, th́ Tướng Taylor ở Ngũ Giác Đài cũng đánh điện cho Tướng Harkins Tư Lệnh MAGV tại Sài G̣n để hỏi về ‘’tỷ lệ thành công’’ của cuộc đảo chánh mà các Tướng lănh Việt Nam đang sửa soạn. Tướng Taylor cũng cho Tướng Harkins biết rằng công điện ngày 24.8 đă không có sự tham gia ư kiến của Bộ Quốc Pḥng hoặc Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân. Tướng Taylor c̣n nói rằng: ‘’các viên chức chánh phủ đang suy nghĩ lại bức công điện đó’’. (FYI State to Saigon, Telegram 3368-63, Taylor to Harkins, Aug 28.63, Box 316, National security files, John F.  Kennedy library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 123)

Trái với Đại Sứ Lodge, Tướng Harkins không lạc quan lắm về khả năng của các Tướng đảo chánh. Theo ông, cán cân lực lượng về phía những đạo quân trung thành với ông Diệm. Sau khi nhận được điện tín của Tướng Taylor, Tướng Harkins bèn đánh điện về Ṭa Bạch Ốc cho biết quan điểm của ông và kết luận đại khái rằng: Ông không tin rằng Ṭa Bạch Ốc có đủ lư do để dốc toàn lực chấp nhận một cuộc đảo chánh trong lúc này.  (The Overthrow of Ngo Dinh Diem, chươngIII, trang 19).

Hai quan điểm đối nghịch nhau của Đại Sứ Lodge và Tướng Harkins từ Sài G̣n đánh về, đă làm cho Tổng Thống Kennedy cực kỳ hoang mang. Ủy Ban An Ninh Quốc Gia cấp tốc nhóm họp trưa ngày 28.8 căi nhau như một cái chợ bên Ai Cập. Theo Arthur Schesinger trong cuốn Robert Kennedy and His Time, th́ các nhân viên thuộc Bộ Ngoại Giao chủ trương phải tiến tới việc lật đổ ông Diệm. Chống lại chủ trương đó, có Đại Sứ Nolting.

Cuộc họp của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia kết thúc chiều hôm đó 28.8. Các Ủy Viên trong Ủy Ban vẫn chia rẽ và Ṭa Bạch Ốc vẫn không có được một quyết định dứt khoát cho vấn đề. Ngay tối hôm đó, Tổng Thống Kennedy gửi cho Đại Sứ Lodge một mật điện trong đó Tổng Thống tái xác nhận chủ trương đảo chánh của Ṭa Bạch Ốc, ‘’nhưng ư kiến ấy hoàn toàn tùy thuộc vào sự nhận định tại chỗ của ông Đại Sứ, và tôi tin rằng ông Đại Sứ sẽ không ngần ngại cho lệnh hoăn lại hoặc thay đổi kế hoạch bất cứ lúc nào ông Đại Sứ thấy là cần’’ (Telegram 269, Kennedy to Lodge Aug 28.1963, Box 316, National security files, John F.  Kennedy library).

Mật điện nói trên của Tổng Thống Kennedy là một sử liệu vô cùng quư giá, chứng minh sự tham gia tích cực của chính quyền Mỹ trong vụ lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm năm 1963. Hơn thế nữa, nó c̣n là hành vi trực tiếp dẫn thân của nhân vật cao cấp nhất trong hệ thống quyền lực và quyền bính Hoa Kỳ, trong vụ lật đổ một Tổng Thống của miền Nam Việt Nam.

4.- Công điện ngày 29.8. Đại Sứ Lodge gửi Ngoại Trưởng Rusk.

Sau khi nhận được mật điện 269 của Tổng Thống Kennedy, Đại Sứ Lodge bèn tức tốc gửi công điện cho Ngoại Trưởng Ruck, khẳng định rằng Mỹ không thể nào tháo lui được nữa và phải lật đổ Diệm. Dưới đây là những đoạn quan trọng của bức công điện:

            ‘’Chúng ta đang ở trên một tiến tŕnh hành động không thể tháo lui được nữa, việc lật đổ Ngô Đ́nh Diệm. Không thể tháo lui, phần về uy tín của nước Mỹ đă công khai gắn liền với vụ này. Sự gắn liền ấy sẽ trở nên lớn hơn khi những sự việc đă bị tiết lộ ra ngoài. Trên một ư nghĩa căn bản hơn, không thể tháo lui, bời v́ theo tôi, không có hy vọng ǵ thắng được cuộc chiến tranh này với một Ngô Đ́nh Diệm c̣n ngồi ở chính quyền. Càng không hy vọng ǵ Diệm hoặc bất cứ người nào trong gia đ́nh Diệm có khả năng lănh đạo đất nước và tranh thủ được sự hậu thuẫn của những thành phần đáng kể trong dân chúng, như giới trí thức trong và ngoài chính quyền, dân sự cũng như quân sự, chưa nói đến nhân dân Hoa Kỳ. Trong những tháng gần đây và đặc biệt trong những ngày gần đây anh em Diệm đă làm cho những thành phần dân chúng nói trên chán ghét đến cực độ. V́ vậy, bản thân tôi hoàn toàn đồng ư với sách lược mà tôi được lệnh phải thi hành, chiếu công điện ngày Chủ Nhật vừa qua. Cơ may thành công của cuộc đảo chánh tùy thuộc vào các Tướng lănh Việt Nam một mức độ nào đó, nhưng cũng tùy thuộc vào chúng ta, ít nhất cùng một mức độ đó. Chúng ta phải khởi sự làm một cố gắng toàn diện để thúc đẩy các Tướng lănh hành động mau lẹ’’ (Telegram 375, Lodge to Stae Aug 29.1963,  Box, National security files, John F.  Kennedy library)

Bức công điện của Đại Sứ Lodge có thể nói tóm tắt như sau: Chúng ta người Mỹ,  không thể lùi được nữa, phải lật đổ Ngô Đ́nh Diệm.

Điều đáng nói là: Trong các công điện trước, Đại Sứ Lodge chỉ nói đến việc loại bỏ ông Nhu, loại bỏ hay giữ ông Diệm để tùy các Tướng lănh. Nhưng trong bức công điện nói trên, Đại Sứ Lodge đă minh thị nói đến sự cần thiết phải loại bỏ ông Diệm và gia đ́nh ông Diệm.

Đại Sứ Lodge viết tiếp: ‘’Nếu các Tướng lănh đ̣i chúng ta phải công khai tuyên bố cắt viện trợ, chúng ta cũng sẽ chấp nhận làm điều đó, miễn là họ hiểu rằng họ sẽ phải khởi sự cùng một lúc với lời tuyên bố của chúng ta’’.

Một sự việc đă xảy ra, khiến Đại Sứ Lodge trở nên quyết liệt trong bức công điện. Số là, sáng ngày 29.8, Trưởng Nhiệm CIA và Lou Conein đă được gọi đến trụ sở MACV cho xem bức công điện của Đại Tướng Taylor gửi cho Tướng Harkins trong đó có câu ‘’các viên chức trong chánh phủ đang suy nghĩ lại bức công điện ngày 24.8’’. Buổi sáng hôm đó, Conein cũng có hẹn với Tướng Dương Văn Minh, người được coi là lănh tụ của cuộc đảo chánh. Cuộc gặp gỡ rất là chiếu lệ, Conein đă được chỉ thị của CIA không được hứa hẹn ǵ với Tướng Minh. Sự việc này đă khiến Tướng Minh cực kỳ lo ngại, ông nghĩ rằng Mỹ đang chơi tṛ phản bội đối với các Tướng đảo chánh. Tướng Minh bèn đ̣i Mỹ phải tỏ dấu hiệu ủng hộ các Tướng lănh đảo chánh bằng cách ngưng viện trợ cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

Khi biết rơ câu chuyện của Tướng Minh, Đại Sứ Lodge nổi giận và đ̣i Richardson,  Trưởng Nhiệm CIA tại Sài G̣n cho biết lư do. Richardson bèn trả lời rằng: Washington đang suy nghĩ lại và có vẻ hối tiếc về công điện ngày 24.8. Khi nghe vậy, Đại Sứ Lodge đă phải vội vàng gửi ngay công điện về Bộ Ngoại Giao, khẳng định rằng: Mỹ không thể nào tháo lui được nữa và phải lật đổ Ngô Đ́nh Diệm.

            Chúng ta thấy, vai tṛ của Mỹ trong vụ đảo chánh 1963 đă quá rơ rệt và quá lộ liễu. Đại Sứ Lodge đă khẳng định trong đoạn 2 của bức công điện. ‘’Cơ may thành công của cuộc đảo chánh tùy thuộc vào các Tướng lănh một mức độ nào đó, nhưng nó tùy thuộc vào chúng ta, ít nhất cùng một mức độ đó’’, Đại Sứ Lodge muốn nói rằng: Nếu Mỹ không trực tiếp và tích cực nhúng tay vào, th́ cuộc đảo chánh sẽ chẳng bao giờ thành công.

Nhưng c̣n một sự thực khác mà Đại Sứ Lodge không nói ra, sợ làm nản ḷng Ṭa Bạch Ốc. Sự thực đó là, nếu Mỹ không trực tiếp và tích cực nhúng tay vào, th́ các Tướng sẽ chẳng bao giờ dám đảo chánh ông Diệm.

Và bây giờ, chúng ta hăy suy nghĩ theo từng giai đoạn.

            * Nếu Mỹ triệt để ủng hộ ông Diệm, nhưng không chống ông Diệm, các Tướng lănh sẽ chẳng bao giờ dám đảo chánh.

            * Nếu Mỹ không triệt để ủng hộ ông Diệm, nhưng không chống ông Diệm, các Tướng lănh cũng chẳng bao giờ dám đảo chánh.

            * Nếu Mỹ chống ông Diệm, nhưng không chống đối công khai, các Tướng lănh cũng sẽ chẳng bao giờ dám đảo chánh.

            * Nếu Mỹ công khai chống ông Diệm, nhưng không có CIA đến móc nối, các Tướng lănh cũng sẽ chẳng bao giờ dám đảo chánh.

            * Nếu Mỹ cho CIA đến móc nối, nhưng không có một hành động cụ thể và công khai nào chứng tỏ Mỹ quyết tâm lật đổ ông Diệm (như cắt viện trợ), các Tướng lănh cũng sẽ chẳng bao giờ dám đảo chánh.

Cái nếu thứ 5 đă xảy ra. Trong suốt thời gian tháng 8. 1963, nhất là từ ngày Đại Sứ Lodge đến, Lucien Conein để đến móc nối khuyến khích các Tướng lănh đảo chánh nhất là hứa hẹn rằng Mỹ sẽ triệt để ủng hộ họ trong thời gian chuyển tiếp sau khi bộ máy chính quyền trung ương bị phá sập. Mặc dù vậy, các Tướng lănh cũng không dám hành động. Hơn ai hết, họ thuộc nằm ḷng bài học 1960 của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi. Họ ư thức một cách sâu sắc rằng,  nếu Mỹ không dẫn thân, nếu Mỹ không nhập cuộc, th́ cuộc đảo chánh sẽ chẳng bao giờ thành công. Chẳng những không thành công, mà c̣n mang họa. Họ cũng ư thức một cách sâu sắc rằng sự nhập cuộc và dấn thân của Mỹ phải được thể hiện bằng hành động cụ thể nhất, ngoạn mục nhất và dễ khích động quần chúng nhất, đó là, chính quyền Mỹ phải cắt viện trợ và tuyên bố cắt viện trợ. Chỉ trong trường hợp đó và chỉ với điều kiện đó, họ mới dám đảo chánh.

Các Tướng lănh trong nhóm đảo chánh, Tướng Trần Văn Đôn, Tướng Trần Thiện Khiêm, Tướng Dương Văn Minh và kể cả Tướng Lê Văn Kim (người có ư thức chính trị nhất trong nhóm) không phải là những con người chính trị, hoặc cách mạng. V́ vậy họ thiếu hẳn cái khí phách và can trường của những con người chính trị hoặc cách mạng. Họ không có tầm vóc của những người lănh đạo. Họ được đào tạo để phục tùng và để người khác lănh đạo. Họ cần phải được người khác lănh đạo và họ chỉ có hiệu năng khi được người khác lănh đạo. Đó là một sự thật đáng buồn. Sự thật ấy, Quốc Dân Việt Nam đă có dịp nh́n thấy ra sao khi ông Diệm bị lật đổ.

5.- Công điện ngày 29.8 của Ngoại Trưởng Rusk

Công điện ngày 29.8 nói trên của Đại Sứ Lodge đă được đưa ra mổ xẻ tại Hội Đồng An Ninh Quốc Gia nhóm họp khẩn cấp ngay hôm đó tại Ṭa Bạch Ốc và buổi chiều ngày 29.8 Ngoại Trưởng Rusk cấp tốc đánh điện cho Đại Sứ Lodge biết quyết định của Hội Đồng An Ninh. Dưới đây là những điểm chính:

            a.- Cho phép Tướng Harkins Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại Việt Nam được gặp các Tướng đảo chánh để nói cho họ biết Mỹ triệt để ủng hộ việc loại bỏ Ngô Đ́nh Nhu, cũng như sẽ ủng hộ một cuộc đảo chánh có nhiều cơ may thành công, nhưng Mỹ không dự tính việc trực tiếp dùng Quân Đội Mỹ để tiếp tay cho nhóm đảo chánh.

            b.- Cho phép Đại Sứ Lodge được quyền loan báo việc Mỹ ngưng viện trợ cho Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm, vào thời điểm với những điều kiện do Ṭa Đại Sứ lựa chọn.  (Cablegram from secrectary Rusk to Ambassador Lodge Aug 29.8.63, được in lại trọn vẹn dưới số 40 trong The Pentagon Papers, trang 198-199)

Cũng ngày hôm đó (29.8), Tổng Thống Kennedy gửi một mật điện cho Đại Sứ Lodge,  xác nhận triệt để việc lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Tổng Thống không đồng ư về điểm chính quyền Mỹ ‘’không c̣n đường tháo lui’’. Ông bị ám ảnh sự thất bại trong vụ Vịnh Con Heo tại Cuba năm 1961, v́ vậy ông khuyên Đại Sứ Lodge phải cực kỳ thận trọng.  Bức mật điện viết: ‘’Kinh nghiệm cho tôi biết rằng, hành động mà thất bại sẽ tai hại hơn là không hành động và bị coi là thiếu quả quyết... Chúng ta hành động là để thắng. V́ vậy, thà đổi ư (không hành động) c̣n hơn là (hành động mà) thất bại’’ (Telegram Kennedy to Lodge Aug 29.8.63, National security files, John F. Kennedy library)

Trong hai ngày cuối cùng của tháng 8.1963, Ṭa Bạch Ốc bận rộn như Đại bản doanh hành quân của một đoàn quân viễn chinh. Tổng Thống Kennedy và các Cố Vấn của ông ở trong t́nh trạng báo động. Tất cả trí năo và ư chí của Ṭa Bạch Ốc đều hướng về một cuộc đảo chánh sẽ xảy ra bất cứ giờ phút nào tại miền Nam Việt Nam để lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.

V́ Tổng Thống Kennedy chủ trương rằng đă ra tay hành động là phải thắng, cho nên Quân Lực Mỹ đă được huy động để tránh cho nước Mỹ một vụ Vịnh Con Heo thứ hai. Một Lực Lượng Đặc Nhiệm Hải Quân gồm tàu chở trực thăng đổ bộ và khu trục hạm được lệnh tuần tiễu ngoài khơi Việt Nam. Tại Okinawa, 2 Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tăng cường, tổng cộng 3 ngàn người, được đặt trong t́nh trạng báo động 24/24. Mặc dầu vậy, Ngoại Trưởng Rusk vẫn không an tâm, ông lo sợ quân đảo chánh có thể bị Quân Đội Chính Phủ đè bẹp và cuộc nổ súng sẽ kéo dài trong nhiều ngày. Ông đ̣i Hillsman phải đệ tŕnh một bản phân tách t́nh h́nh và cho biết những khả năng về phía Mỹ để giúp nhóm đảo chánh thành công mau lẹ. Hillsman đệ tŕnh bản phân tách, trong đó có câu: ‘’Nếu cần, chúng ta sẽ đưa quân chiến đấu Mỹ vào Sài G̣n để giúp quân đảo chánh đạt được chiến thắng’’ Nguyên văn: if necessary, we should bring in US combat troops to assist the coup group to achieve victory (Memorandum Hillsman to Rusk, Aug 30.1963, Chicago Sun Times, June 23.1971, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 126)

Về phần Đại Tướng Harkins, tuân theo chỉ thị của Tổng Thống Kennedy, ông mời Tướng Trần Thiện Khiêm tới Bản Doanh MAGV sáng ngày 31.8 và cho Tướng Khiêm biết: ‘’Nếu các Tướng lănh sẵn sàng lật đổ Diệm, Hoa Kỳ sẽ ủng hộ’’. Tướng Khiêm bèn đi gặp Tướng Dương Văn Minh, rồi chiều hôm đó trở lại báo cho Tướng Harkins biết rằng Tướng Dương Văn Minh đă thôi không nghĩ đến chuyện đảo chánh nữa, v́ lư do: Nhóm đảo chánh không đủ lực lượng để đương đầu với quân chính phủ. Sự thật, đó chỉ là một lối giải thích. Lư do sâu xa đă khiến nhóm đảo chánh ngưng lại là, họ không tin Mỹ đă thực sự dẫn thân. Họ chờ đợi ở Mỹ một hành động dứt khoát và cụ thể, tức là cúp viện trợ và tuyên bố cúp viện trợ, điều mà Mỹ do dự chưa dám làm. Cuộc đảo chánh vào cuối tháng 8 đă không xảy ra, như Mỹ dự kiến.

6.- Lời tuyên bố của Tổng Thống Kennedy ngày 2.9.

Việc các Tướng lănh Sài G̣n ngưng lại không đảo chánh, được Washington coi như là một thất bại của chính người Mỹ. Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và các Cố Vấn tại Ṭa Bạch Ốc họp liên miên để t́m biện pháp đối phó với t́nh thế mới. Vấn đề anh em ông Diệm bỗng nhiên mang một khích thước lớn hơn, đó là khích thước của chính nghĩa Hoa Kỳ trong vùng Đông Nam Á.

Các ông Hillsman, Harriman và Katenburg (thuộc Bộ Ngoại Giao) vẫn chủ trương phải lật đổ ông Diệm để tăng cường hiệu năng chiến đấu chống cộng của miền Nam, nếu không người Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam. Ngoại Trưởng Rusk không đồng ư, ông chủ trương không rút khỏi miền Nam mà cũng không lật đổ ông Ngô Đ́nh Diệm. Riêng Phó Tổng Thống Johnson th́ dứt khoát. Theo ông, người Mỹ không nên lật đổ ông Diệm, v́ sau đó sẽ không t́m được người lănh đạo có tầm vóc như ông Diệm. Phó Tổng Thống Johnson c̣n nói: ‘’chúng ta nên chấm dứt các vai tṛ vừa đánh trống vừa ăn cướp và trở lại nói chuyện thẳng với Chính Quyền Sài G̣n’’. Nguyên văn: ‘’we should stop playing cops and robbers and get back to talking straight to Saigon Government’’ (The Pentagon Paper, p. 174)

Đang khi đó Tổng Thống Kennedy tỏ ra vô cùng bực bội.

Ngày 2.9. Tổng Thống Kennedy lên đài truyền h́nh CBS, tuyên bố: ‘’chúng ta thấy những cuộc đàn áp Phật Giáo (tại miền Nam Việt Nam) là những hành động cực kỳ thiếu khôn ngoan và bây giờ chúng ta không thể làm ǵ khác hơn là khẳng định một cách rơ rệt rằng: Chúng ta không nghĩ đó là phương thức để chiến thắng cộng sản’’.

            Kư giả Walter Conkrite hỏi: ‘’Liệu Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm có c̣n th́ giờ để lấy lại sự hậu thuẫn của quần chúng hay không ?’’ Tổng Thống Kennedy trả lời: ‘’C̣n, nếu họ chịu thay đổi chính sách và có lẽ thay đổi cả nhân sự’’.

Trong bối cảnh chính trị lúc đó, ai cũng hiểu rằng, khi ám chỉ đến một sự thay đổi nhân sự trong Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm, Tổng Thống Kennedy muốn nói đến việc loại bỏ Ngô Đ́nh Nhu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử bang giao Mỹ-Việt, một vị Tổng Thống Hoa Kỳ công khai và minh thị lên án Chính Quyền miền Nam. Nghiêm trọng hơn, Tổng Thống Hoa Kỳ đă công khai đứng vào hàng ngũ của nhóm đấu tranh quá khích tại Sài G̣n đang đ̣i lật đổ chính quyền.

Tổng Thống Hoa Kỳ đă công khai đồng hóa nhóm quá khích ấy với Phật Giáo và đă minh thị đồng hóa nhóm quá khích ấy với nhân dân Việt Nam. Những sai lầm thô bạo nói trên đă hầu hết được các tác giả sau này phê phán nghiêm khắc, coi đó như những xuẩn động của chính quyền Kennedy.

Cùng ngày 2.9 tại Sài G̣n, tờ Times of Vietnam (của chính phủ) kéo tít lớn tố cáo CIA âm mưu đảo chính chống lại Chính Quyền miền Nam Việt Nam. Bang giao giữa Dinh Độc Lập và Ṭa Bạch Ốc đă căng thẳng lại càng căng thẳng hơn. Sự kiện này đă được nhóm đấu tranh quá khích tại Sài G̣n triệt để khai thác. Nó cũng được nhóm chống Ngô Đ́nh Diệm trong Ṭa Bạch Ốc triệt để khai thác.

Đang khi đó, anh em ông Diệm càng ngày càng tỏ ra quyết liệt đối với nhóm đấu tranh quá khích, cũng như đối với những đ̣i hỏi của Ṭa Bạch Ốc.

7.- Công điện số 478, Đại Sứ Lodge gửi Bộ Ngoại Giao

Sau những lời tuyên bố của Tổng Thống Kennedy trên đài truyền h́nh CBS, Ṭa Bạch Ốc vẫn không t́m hướng đi rơ rệt, nhất là không t́m được giải pháp cho vấn đề Ngô Đ́nh Diệm. Đúng lúc đó Robert Kennedy xuất hiện.

Trong một phiên họp các Cố Vấn về chính sách đối ngoại của Tổng Thống Kennedy tại Ṭa Bạch Ốc, Robert Kennedy nói: ‘’Nếu thấy không thể thắng được chiến tranh Việt Nam dưới bất cứ một chính thể nào tại miền Nam, th́ bây giờ là lúc Hoa Kỳ nên rút khỏi miền Nam. Nhưng nếu nhận định rằng chế độ Ngô Đ́nh Diệm là một trở ngại cho cuộc chiến thắng,  th́ Đại Sứ Lodge phải được trao cho toàn quyền hành động để đem lại những thay đổi cần thiết’’.

Vấn đề cắt viện trợ lại được đặt ra, nhất là vấn đề cắt lương của Lực Lượng Đặc Biệt do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy và vấn đề lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm lại được đem lên thảm xanh của Ṭa Bạch Ốc.

Robert Kennedy, thay mặt anh ruột, đề nghị Ngũ Giác Đài cho biết ư kiến của các Cố Vấn Quân Sự tại chiến trường miền Nam để giúp Ṭa Bạch Ốc có dữ kiện hầu t́m một giải pháp thỏa đáng và dứt khoát cho vấn đề Việt Nam.

Đại Tướng Taylor, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, bèn cử Trung Tướng Victor Krulag đi Việt Nam. Roger Hillsman v́ sợ Ngũ Giác Đài không am hiểu chính trị và sẽ gây trở ngại cho chủ trương lật đổ Ngô Đ́nh Diệm, cho nên bèn đề nghị Joseph Mendenhall cùng đi với Tướng Krulag.

Phái đoàn ‘’đi t́m sự thật’’ đến Việt Nam ngày 7.9 và trở về Washington ngày 9.9.  Trong hai ngày, họ đă t́m thấy sự thật!!!

Ngày 10.9, Tổng Thống Kennedy và các cố vấn họp khẩn cấp tại Ṭa Bạch Ốc để nghe phái đoàn tường tŕnh về chuyến đi t́m sự thật.

            Theo Mendenhall (thuộc nhóm Hillsman) th́ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm đang đi đến sụp đổ toàn diện, dân chúng sợ và ghét vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu t́nh h́nh có thể đưa đến một cuộc chiến tranh tôn giáo, hoặc một phong trào quần chúng rộng lớn đi theo việt cộng.  Mendenhall kết luận: ‘’Nhu phải ra đi, nếu chúng ta muốn thắng cuộc chiến tranh Việt Nam’’ (Memorandum of conference with the president, sept 10.1963, Box 316, National security files, John F. Kennedy library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 135)

Quan điểm của Tướng Krulag th́ hoàn toàn khác. Theo Tướng Krulag th́ cuộc chiến đấu quân sự vẫn đang tiến hành với một nhịp độ đáng khâm phục. Cuộc khủng hoảng chính trị cũng có ảnh hưởng đến, nhưng không bao nhiêu, việt cộng sẽ thua, nếu Mỹ vẫn tiếp tục những chương tŕnh viện trợ về quân sự và xă hội, không cần lư đến những thiếu xót trầm trọng của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm (Report, Visit to Vietnam, 7-8. sept 1963, Box 316, National security, John F. Kennedy library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 135)

Nghe xong phúc tŕnh đối chọi nhau của hai người cùng đi trong phái đoàn t́m sự thật, Tổng Thống Kennedy chỉ c̣n biết kêu trời.

Chính lúc đó Đại Sứ Lodge lại nhảy vào ṿng chiến, lần này với sự trắng trợn và quyết liệt ít thấy nơi một nhà ngoại giao Tây Phương. Trong một công điện đặc biệt gửi về Washington (công điện số 478) Đại Sứ Lodge khẳng định rằng: Chính Quyền miền Nam đă hiển nhiên tách rời ra khỏi thực tế. Ông ví chế độ Diệm với một chiếc tàu đang ch́m dần xuống biển. Ông chủ trương chính quyền Mỹ phải cố gắng một lần nữa để khích lệ một cuộc đảo chánh và ông kết luận: ‘’đă đến lúc Hoa Kỳ phải dùng mọi chế tài hữu hiệu có trong tay để lật đổ chính quyền hiện hữu và thiết lập một chính quyền khác’’. Nguyên văn: ‘’The time has arrived for the US to use what effective sanctions it has to bring about the fall of the existing government and the in installation of another’’ (Telegram 478, Saigon to State, Box 316, Nationalsecurity file JFK library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 138)

Trong công điện, Đại Sứ Lodge c̣n cho biết: Biện pháp chế tài hữu hiệu nhất, sẽ là cắt viện trợ trong một số lănh vực lựa chọn, như một tín hiệu ủng hộ cuộc đảo chánh, điều mà các Tướng lănh Việt Nam đă từng yêu cầu cuối tháng 8 vừa qua.

8.- Công điện ngày 17.9 Ṭa Bạch Ốc gửi Đại Sứ Lodge

Công điện số 478 của Đại Sứ Lodge được đem ra mổ xẻ trước Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và ngày 17.9, Ṭa Bạch Ốc gửi cho Đại Sứ Lodge một công điện tóm tắt và xác quyết lập trường của Hội Đồng về những biện pháp đối phó với t́nh h́nh miền Nam. Bức công điện gồm 10 điểm. Dưới đây là những điểm chính:

            a.- Ṭa Bạch Ốc chưa thấy có cơ hội tốt để lật đổ Ngô Đ́nh Diệm lúc này (điểm 2 của công điện).

b.- Ṭa Bạch Ốc cho phép Đại Sứ Lodge được tùy nghi tŕ hoăn những cuộc cung cấp hoặc chuyển tiền viện trợ của bất cứ một cơ quan Mỹ nào cho Chính Quyền miền Nam, nếu Đại Sứ Lodge nghĩ rằng những cuộc cung cấp hoặc chuyển tiền viện trợ ấy không có lợi cho Mỹ. Ṭa Bạch Ốc cũng nhấn mạnh rằng Đại Sứ Lodge nên sử dụng quyền này để hạn chế tất cả những h́nh thức viện trợ cho (hoặc qua) Ngô Đ́nh Nhu hoặc những cá nhân liên hệ với Nhu, tỷ như Lê Quang Tung (điểm 3).

            c.- Ṭa Bạch Ốc chỉ thị cho Đại Sứ Lodge phải buộc Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm phải cải thiện như, thả hết sinh viên Phật tử, cho báo chí được tự do ngôn luận, giới hạn mật vụ và Cảnh Sát chiến đấu vào nhiệm vụ hành quân tiểu trừ việt cộng thay v́ đối lập, cải tổ nội các, chấp nhận tự do bầu cử, chấp nhận phái đoàn Phật Giáo quốc tế đến điều tra tại Việt Nam,  hủy bỏ Dụ số 10 (điểm 4)

            d.- Ṭa Bạch Ốc chỉ thị Đại Sứ Lodge phải làm áp lực buộc Ngô Đ́nh Nhu ra khỏi Việt Nam (điểm 6)

            e.- Ṭa Bạch Ốc khuyên Đại Sứ Lodge nên mở lại và tiếp tục đối thoại với Tổng Thống Diệm và thâm lượm tin tức t́nh báo (điểm 8)

            f.- Ṭa Bạch Ốc khuyên chờ đợi ư kiến của Đại Sứ Lodge đối với chương tŕnh phác họa ở trên, trước khi Ṭa Bạch Ốc có quyết định cuối cùng.

Đây chỉ là một kế hoạch tạm thời (Telegram 63516, White House to Lodge Sept 17. 1963, The Pentagon Papers, p. 206)

Đọc bức công điện trên, chúng ta thấy Ṭa Bạch Ốc vẫn giữ vững chủ trương phải lật đổ ông Diệm. Nhưng v́ chưa có cơ hội tốt để lật đổ ông Diệm, nên Ṭa Bạch Ốc phải đưa ra một kế hoạch tạm thời để đối phó với t́nh h́nh, Ṭa Bạch Ốc ban cho Đại Sứ Lodge toàn quyền tu chính và Ṭa Bạch Ốc sẽ chỉ đưa ra quyết định cuối cùng, sau khi nhận được phúc đáp của Đại Sứ Lodge.

9.- Công điện ngày 19.9, Đại Sứ Lodge gửi Tổng Thống Kennedy

Công điện nói trên của Ṭa Bạch Ốc không làm cho Đại Sứ Lodge hài ḷng. Ông không muốn tiếp xúc với Ông Diệm. Ông cho rằng: Đề nghị cải tổ cũng như đ̣i ông Diệm phải loại bỏ Ngô Đ́nh Nhu là một việc làm vô ích. Trước sau, ông vẫn chủ trương phải lật đổ ông Diệm để cải thiện miền Nam.

Ngày 19.9. Đại Sứ Lodge gửi cho Tổng Thống Kennedy một công điện gồm 11 điểm.  Dưới đây là những điểm chính:

            a.- Đồng ư với Ṭa Bạch Ốc rằng hiện nay chưa có cơ hội tốt để lật đổ Diệm, v́ vậy phải tạm thời làm bất cứ những ǵ chúng ta có thể làm được, trong khi chờ đợi cơ hội đó đến (điểm 1).

            b.- Không kỳ vọng lắm vào những cuộc tiếp xúc với Diệm, cũng như không kỳ vọng lắm vào những hứa hẹn cải tổ của Diệm (điểm 2).

            c.- Không nghĩ rằng việc công khai tiếp xúc với Diệm có thể giải quyết thỏa đáng những vấn đề mà t́nh thế đặt ra. Theo Dương Văn Minh cho biết mới đây th́ việt cộng càng ngày càng lớn mạnh, càng được ḷng dân, những cuộc bắt bớ vẫn tiếp tục, các nhà tù đầy ắp,  thêm nhiều sinh viên đă đi theo việt cộng, chính quyền càng ngày càng tham nhũng và ăn cắp tiền viện trợ Mỹ (điểm 4). 

            d.- Đang nghiên cứu biện pháp ngăn chận viện trợ để trừng phạt Diệm-Nhu mà không gây ra sự sụp đổ vỡ kinh tế và trở ngại cho nỗ lực chiến đấu của Quân Đội (điểm 5).

            e.- Đề nghị Ṭa Bạch Ốc cứu xét vấn đề ủng hộ một quân đội biệt lập với Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.

Bức công điện viết như sau:

‘’Tôi cũng nghĩ rằng bất cứ biện pháp chế tài nào mà chúng ta t́m được, phải được trực tiếp nối liền với một cuộc đảo chánh có triển vọng thành công. Ngoài viễn tượng nói trên, các biện pháp chế tài ấy sẽ không được áp dụng. Trong chiều hướng đó, tôi nghĩ rằng chúng ta nên tiếp tục tiếp xúc với Big Minh và thúc dục ông ta tiến tới, nếu ông ta xem ra c̣n muốn hành động. Tôi (Cabot Lodge) đặc biệt nghĩ rằng Ṭa Bạch Ốc nên nghiêm chỉnh cứu xét vấn đề ủng hộ một Quân Đội Việt Nam biệt lập với chính quyền’’. Nguyên văn câu cuối cùng:I particularly think that the idea of supporting a Vietnamese Army independent of the government should be energically studied.  (Cablegram 544, Ambassador Lodge to State dept. ,  ‘’For President only’’, sept 19.1963, The Pentagon Papers, p. 208-209)

Chúng ta cần ghi nhận những điều sau đây, liên quan tới bức công điện nói trên.

            * Đại Sứ Lodge bác bỏ việc mở lại những cuộc tiếp xúc với ông Diệm. Ông vẫn chủ trương phải lật đổ Ngô Đ́nh Diệm.

            * Đại Sứ Lodge dùng lời lẽ của Tướng Dương Văn Minh để lên án Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

            * Đại Sứ Lodge chủ trương phải tiếp tục tiếp xúc với Tướng Dương Văn Minh, thúc dục Tướng Minh làm đảo chánh.

            * Đại Sứ Lodge thúc dục Ṭa Bạch Ốc phải cứu xét vấn đề ủng hộ ‘’một Quân Đội Việt Nam độc lập với chính quyền trung ương’’. Nói cách khác, một Quân Đội Việt Nam không chịu mệnh lệnh của vị Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Nói cách khác, một Quân Đội chịu mệnh lệnh của ngoại bang và phục vụ ngoại bang trong những mưu đồ bất chính của ngoại bang.

Tháng 10.1963, một phái đoàn gồm Tổng Trưởng Quốc Pḥng McNamara và Đại Tướng Taylor được Tổng Thống Kennedy cử sang Việt Nam để thẩm định t́nh thế, đồng thời ước tính triển vọng về một cuộc đảo chánh tại miền Nam. Phái đoàn rời Sài G̣n 2.10. Bản phúc tŕnh của họ lạc quan về t́nh h́nh quân sự, nhưng bi quan về t́nh h́nh chính trị. Họ khuyến cáo Tổng Thống Kennedy phải áp dụng những biện pháp chế tài về kinh tế đối với Tổng Thống Diệm. Một trong những biện pháp đề nghị là, ngưng viện trợ cho Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.

Một điểm đáng ghi nhận là, trong chuyến đi, Tướng Taylor và Tổng Trưởng Quốc Pḥng McNamara đă đích thân đến thăm Tướng Dương Văn Minh...

10.- Công điện ngày 5.10, Đại Sứ  Lodge gửi Bộ Ngoại Giao

Ngày 2.10, khi phái đoàn Mc. Namara-Taylor rời Sài G̣n để trở về Washington, th́ Lucien Conein được lệnh của Đại Sứ Lodge phải mở lại những cuộc tiếp xúc với Tướng Trần Văn Đôn. Hai người gặp nhau tại bờ biển Nha Trang. Trong cuộc gặp gỡ, Tướng Đôn cho Conein biết, nhóm đảo chánh đă thuyết phục được Tướng Tôn Thất Đính và Quân Đội đă sẵn sàng để lật đổ ông Diệm. Tướng Đôn cũng yêu cầu Conein đích thân đến gặp Tướng Minh.

Ngày 5.10, Đại Sứ Lodge gửi về Bộ Ngoại Giao một công điện gồm 10 điểm để tường tŕnh về cuộc tiếp xúc giữa Conein và Tướng Minh. Dưới đây là những điểm chính:

            a.- Trung Tá Lucien Conein tiếp xúc với Dương Văn Minh trong một giờ mười phút tại bản doanh của Dương Văn Minh Đường Lê Văn Duyệt. Conein đă được phép của Ṭa Bạch Ốc để làm việc này. Họ chỉ có hai người và nói với nhau bằng tiếng Pháp (điểm 1).

            b.- Dương Văn Minh nói với Conein rằng ông ta cần phải biết rơ lập trường của chính quyền Mỹ đối với một cuộc thay đổi chính quyền tại miền Nam trong một tương lai rất gần.  Dương Văn Minh cho biết, nhóm đảo chánh, ngoài ông ta ra, gồm các Tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Trần Thiện Khiêm (điểm 2).

            c.- Dương Văn Minh cho biết ông ta không kỳ vọng một sự giúp đỡ đặc biệt nào của Mỹ trong việc thay đổi chính quyền, nhưng ông ta cần chính quyền Mỹ cam kết rằng sẽ không t́m cách làm hỏng kế hoạch của ông ta (điểm 3).

            d.- Dương Văn Minh phác họa ba kế hoạch để thay đổi chính quyền.

Thứ nhất: Ám sát Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và giữ Tổng Thống Diệm lại.

Thứ hai: Bao vây Thủ Đô Sài G̣n bằng những đơn vị khác nhau, đặc biệt là những đơn vị đồn trú tại Bến Cát.

Thứ ba: Trực tiếp giàn quân đánh nhau với quân chính phủ. Dương Văn Minh cho biết Nhu có thể trông cậy vào một số quân trung thành khoảng 5. 500 binh sĩ (điểm 5).

            e.- Dương Văn Minh cho biết ba người nguy hiểm nhất miền Nam là Ngô Đ́nh Nhu,  Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Trọng Hiếu. Conein nói: Lê Quang Tung là người đáng sợ hơn, th́ Dương Văn Minh trả lời: Khi tôi loại trừ được Nhu, Cẩn và Hiếu rồi, th́ Tung sẽ qùy xuống trước mặt tôi (điểm 7).

            f.- Dương Văn Minh nói rằng ông ta rất thắc mắc về vai tṛ của Trần Thiện Khiêm.  Trần Thiện Khiêm có thể đă đi hàng hai trong vụ tháng 8 vừa qua. Trước đó, CIA đă đưa cho Khiêm họa đồ căn cứ Long Thành và bản kê khai vũ khí tại căn cứ này để Khiêm trao lại cho Dương Văn Minh. Nay Dương Văn Minh muốn có bản sao những tài liệu đó để đối chiếu với những tài liệu mà Khiêm đă trao cho ông ta (điểm 8).

            g.- Dương Văn Minh cho biết một trong những lư do khiến ông ta phải hành động gấp rút là, nhiều sĩ quan chỉ huy Trung Đoàn, Tiểu Đoàn và Đại Đội cũng đang tự động đứng ra tổ chức những cuộc đảo chánh riêng, họ có thể thất bại và di hại đến đại cuộc (điểm 9). (Telegram 1445, Lodge to State, oct 5.1963, The Pentagon Papers, p. 213).

Chúng ta nên ghi nhận những điểm quan trọng sau đây:

            Thứ nhất: Trước khi đảo chánh, Tướng Dương Văn Minh muốn biết rơ lập trường dứt khoát của Hoa Kỳ về việc thay đổi Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Đây là một h́nh thức xin phép, trước khi hành động. Nhóm Tướng lănh Việt Nam chỉ dám đảo chánh, khi biết chắc Mỹ cho phép đảo chánh và bật đèn xanh cho phép đảo chánh.

            Thứ hai: CIA Mỹ đă vẽ họa đồ căn cứ Long Thành (tức căn cứ của Lực Lượng Đặc Biệt trung thành với ông Diệm) và lập bản kê khai vũ khí của căn cứ này trao cho nhóm Tướng lănh đảo chánh.

Cũng ngày 5.10, Đại Sứ Lodge gởi thêm một điện văn nữa về Bộ Ngoại Giao đề nghị cho phép Conein, trong cuộc tiếp xúc lần tới với Tướng Dương Văn Minh, được quyền.

            Thứ nhất: Hứa với Tướng Minh rằng Hoa Kỳ sẽ không t́m cách làm hỏng cuộc đảo chánh của ông ta.

            Thứ hai: Cam kết với Tướng Minh rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Việt Nam sau khi đảo chánh, miễn là chính quyền mới hứa tranh thủ nhân tâm và chiến thắng cộng sản (The Pentagon Papers, p. 215).

11.- Công điện ngày 5.10, Tổng Thống Kennedy gửi Đại Sứ Lodge

Cũng ngày 5.10, Tổng Thống Kennedy gửi mật điện, ra chỉ thị cho Đại Sứ Lodge không nên ngầm khuyến khích một cuộc đảo chánh. Nhưng ông cũng chỉ thị cho Đại Sứ  Lodge phải cấp tốc bí mật nhận diện và tiếp xúc với những người có thể thay thế ông Diệm. Ông căn dặn Đại Sứ Lodge phải tuyệt đối bí mật và hành động khôn khéo, để sau này chính quyền Mỹ có thể chối căi một cách dễ dàng là đă không nhúng tay vào vụ lật đổ Ngô Đ́nh Diệm (Telegram 63560, White House to Lodge Aug 5. 1963, The Pentagon Papers p. 215).

Chúng ta ngạc nhiên về thái độ khó hiểu và đầy mâu thuẫn của Tổng Thống Kennedy.  Ông chỉ thị cho Đại Sứ Lodge phải cấp tốc bí mật nhận diện và tiếp xúc với những người có thể thay thế ông Diệm. Sự thật, không khó hiểu. Tổng Thống Kennedy đă gửi mật điện nói trên, trước khi nhận được công điện số 1445 ngày 5.10 của Đại Sứ  Lodge cho biết Tướng Dương Văn Minh đă sẵn sàng để lật đổ ông Diệm.

Sau khi nhận được công điện 1445 báo tin Tướng Dương Văn Minh đă sẵn sàng để đảo chánh, Tổng Thống Kennedy gửi ngay điện văn dưới đây cho Đại Sứ Lodge.

12.- Điện văn ngày 6.10, Tổng Thống Kennedy gửi Đại Sứ Lodge

            Điện văn này có hai đoạn quan trọng:

Đoạn một có câu sau đây: ‘’Đành rằng chúng ta không muốn xúi dục một cuộc đảo chánh, nhưng chúng ta cũng không nên để lại cảm tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn một cuộc thay đổi chính quyền và sẽ từ chối viện trợ kinh tế và quân sự cho chế độ mới’’.

Đoạn hai của điện văn có đoạn sau đây: ‘’Về vấn đề đặc biệt của Dương Văn Minh,  ông Đại Sứ phải nghiêm chỉnh nghĩ đến việc cho nhân viên (tức Conein) đến nói với Minh rằng: Trong t́nh trạng hiểu biết hiện tại của nhân viên, nhân viên không thể nghiêm chỉnh đệ tŕnh vấn đề lên cấp trên cứu xét. Muốn tŕnh lên cấp trên và được cấp trên cứu xét, nhân viên cần phải có những chi tiết chứng tỏ một cách rơ rệt rằng kế hoạch của Minh có nhiều triển vọng thành công. Với tin tức được cung cấp cho tới nay, nhân viên không thấy có triển vọng đó.  (Telegram 74228, White House to Lodge, Oct 6.1963, The Pentagon Papers, p. 216)

Chúng ta nhận thấy rơ sự bất lương và đạo đức giả của những kẻ mà Phó Tổng Thống Johnson đă gọi là ‘’vừa đánh trống vừa ăn cướp’’. Tổng Thống Kennedy và những Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc tưởng rằng với luận điệu ‘’không khuyến khích cuộc đảo chánh và cũng không ngăn cản cuộc đảo chánh’’, họ có thể rửa sạch hai bàn tay nhơ bẩn của họ trước lịch sử. Quyển ‘’Kennedy in Vietnam’’ mỉa mai như sau: ‘’Sự phân biệt giữa khuyến khích một cuộc đảo chánh’’ với ‘’không làm hỏng cuộc đảo chánh’’ là một lối chơi chữ lắt léo không đếm xỉa ǵ đến ảnh hưởng của Mỹ tại miền Nam, việc Mỹ hứa ủng hộ kinh tế quân sự cho nhóm đảo chánh sẽ có hậu quả khuyến khích các Tướng lănh làm đảo chánh, cũng như việc Mỹ đe dọa từ chối viện trợ đă từng có hậu quả làm nản ḷng nhiều vụ âm mưu đảo chánh trước đó’’ (Sách đă dẫn, trang 148).

William Colby, cựu Giám Đốc CIA tại Việt Nam, sau này cũng nói: ‘’trong các công điện, người ta cứ nhắc đi nhắc lại rằng chính các Tướng lănh Việt Nam mới là kẻ quyết định về việc lật đổ ông Diệm, chứ không phải chúng ta. Luận điệu này dễ nghe lắm, nhưng thật ra nó phản lại thực tế, nếu bạn nghĩ đến cái tư thế cực kỳ quan trọng của người Mỹ tại Việt Nam’’ (Sách đă dẫn, trang 148).

Chúng ta cũng thấy rơ Tổng Thống Kennedy quyết tâm và mong muốn lật đổ Tổng Thống Diệm. Khi được biết rơ ư định của Tướng Dương Văn Minh muốn đảo chánh, ông vội vàng ra chỉ thị cho Ṭa Đại Sứ phải lập tức phối kiểm xem kế hoạch đảo chánh có nhiều triển vọng thành công hay không. Tại Sao Tổng Thống Kennedy lại muốn biết điều đó? Câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Tổng Thống Kennedy muốn biết rơ, để c̣n bật đèn xanh cho các Tướng lănh khởi sự.

13.- Công điện ngày 25.10, Đại Sứ Lodge gởi Bundy

Ngày 6.10, chính quyền Kennedy cắt viện trợ. Tín hiệu đă được đưa vào băng tần và được gởi đến các Tướng lănh Việt Nam. Sài G̣n lên cơn sốt đảo chánh. Nhóm Tướng lănh phản loạn coi đó như là một bằng cớ cụ thể chứng minh Ṭa Bạch Ốc đă thực sự dẫn thân và thực sự ủng hộ việc lật đổ ông Diệm. Tin đồn sẽ có đảo chánh và cuộc đảo chánh được Mỹ ủng hộ lan tràn trong dân chúng như khói thuốc pháo. Riêng Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n, họ dồn mọi nỗ lực để chạy đua với kim đồng hồ trong việc tiếp súc với các Tướng lănh.

Ngày 25.10, Đại Sứ Lodge gửi công điện số 1964 cho George Bundy, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Bức công điện gồm 8 điểm. Dưới đây là những điểm chính:

a.- Nhân viên của tôi (Lucien Conein) vẫn thi hành nghiêm chỉnh những chỉ thị của tôi. Chính tôi đích thân chấp thuận mọi cuộc gặp gỡ giữa Conein và Đôn (điểm 2).

b.- Đôn và các Tướng lănh của ông ta đang thực sự t́m cách thực hiện một sự thay đổi trong chính quyền. Tôi không tin rằng đây là một cuộc đảo chánh giả của Ngô Đ́nh Nhu. 

Trong trường hợp cuộc đảo chánh thật bị thất bại, cũng như trong trường hợp cuộc đảo chánh giả của Nhu thành công, tôi tin rằng sự liên hệ của chúng ta cho tới ngày hôm nay qua Lucien Conein vẫn c̣n là điều có thể dễ dàng chối căi. Cơ Quan CIA hoàn toàn sẵn sàng để cho tôi có thể phủ nhận Conein bất cứ lúc nào (điểm 4).

c.- Chúng ta không muốn làm hỏng một cuộc đảo chánh cũng như chúng ta không có ngay cả tư thế để làm hỏng cuộc đảo chánh, khi mà chúng ta không biết rơ những ǵ xảy ra (điểm 5).

d.- Chúng ta không nên làm hỏng một cuộc đảo chánh, v́ hai lư do:

Thứ nhất: Chắc chắn chính quyền kế tiếp sẽ không vụng về và không hành động sai lầm như chính quyền hiện hữu.

Thứ hai: Nếu chúng ta dội nước lạnh trên những cuộc âm mưu đảo chánh, nhất là trong khi những cuộc âm mưu ấy đang ở trong thời kỳ bắt đầu, th́ đó là một điều cực kỳ thất sách cho chúng ta về lâu về dài. Chúng ta nên nhớ rằng đảo chánh là phương thức độc nhất để nhân dân Việt Nam có thể thực hiện một cuộc thay đổi chính quyền (điểm 6).

e.- Tướng Đôn cho biết sẽ không có kỳ thị tôn giáo trong chính phủ tương lai. Ư định đó đáng khen, và tôi hoan nghên ư của ông ta không muốn làm một thứ ‘’chư hầu’’ của Mỹ.

Tôi muốn thêm hai đ̣i hỏi.

Thứ nhất: Không nên thanh trừng toàn thể nhân viên trong chính quyền. Những cá nhân nào đặc biệt đáng bị trách cứ có thể bị mang ra trước pháp luật sau này để xét xử.

Thứ hai: Tôi đang nghĩ đến một chính quyền trong đó có Trí Quang và những nhân vật tầm vóc như Trần Quốc Bửu, Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Lao Động (điểm7).

Đọc bức điện tín trên đây, chúng ta thấy những móng vuốt nhọn hoắc và lông lá của Mỹ đă cắm sâu lút vào vận mệnh miền Nam. Họ sắp đặt cuộc đảo chánh cho miền Nam và sắp đặt luôn cả thành phần chính phủ tương lai miền Nam.

Một điều mà chúng ta không thể không nh́n thấy là sự thiếu thành thật của Đại Sứ  Lodge, nếu không nói là bất lương. Ông vẫn lập đi lập lại rằng: Mỹ không nên làm hỏng cuộc đảo chánh, chẳng những vậy ông c̣n khẳng định rằng Mỹ không có ngay cả khả năng để làm điều đó. Viết như vậy, ông đă quên bức công điện số 375 trong đó ông đ̣i Ṭa Bạch Ốc phải triệt để ủng hộ các Tướng lănh trong việc lật đổ ông Diệm. Trong bức công điện đó ông đă viết: ‘’cơ may thành công của cuộc đảo chánh tùy thuộc vào các Tướng lănh Việt Nam một mức độ nào đó, nhưng cũng tùy thuộc vào chúng ta, ít nhất cũng có một mức độ đó’’

(Telegram 375, Lodge to Stat, Aug 29.1963).

14.- Công điện 30.10, Bundy gửi Đại Sứ Lodge

Bức công điện ngày 25.10 của Đại Sứ Lodge vẫn không trấn an được Tổng Thống Kennedy. Thâm tâm Tổng Thống Kennedy rất muốn lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm,  nhưng ông lại sợ thất bại và bị chê cười trong âm mưu lật đổ Fidel Castro hồi tháng 4.1961.  Ông sợ mất uy tín, tin tưởng dư luận trong nước và ngoài nước. Lần này, lật đổ Ngô Đ́nh Diệm ông chủ trương ‘’đă ra tay là phải thắng’’. Nhưng, những tin tức của Đại Sứ Lodge gửi về đă không đủ để cho ông tin một cách chắc chắn rằng cuộc đảo chánh sẽ thành công. V́ vậy,  ngay sau khi nhận được công điện ngày 25.10 của Đại Sứ Lodge, George Bundy, vị Cố Vấn được tín nhiệm nhất tại Ṭa Bạch Ốc đă được lệnh phải cấp tốc gửi ngay tối hôm đó bức công điện số 63590 nói rơ cho Đại Sứ Lodge biết rằng Tổng Thống vẫn lo ngại không thành công.  (Telegram 63590, Bundy to Lodge, Oct 25.1963,  Box 201, National security files, JFK library).

Bốn ngày sau, ngày 29.10, Đại Sứ Lodge báo cho Ṭa Bạch Ốc biết, một cuộc đảo chánh sắp xảy ra. Ông quan niệm rằng: Hoa Kỳ không nên cũng như không thể ngăn chặn được cuộc đảo chánh, trừ phi đi báo cho Diệm và Nhu biết, một hành động sẽ làm ô nhục cho Hoa Kỳ.  (The Overthrow of Ngo Dinh Diem, United States - Vietnam Relation III, pg 46).

Tổng Thống Kennedy vẫn không an tâm. Ông sợ các Tướng lănh Việt Nam sẽ thất bại và sự thất bại ấy sẽ kéo theo tất cả uy tín c̣n lại của ông đối với các nước trong vùng Đông Nam Á. V́ vậy, ngày 30.10. Bundy được lệnh phải cấp tốc gửi một công điện cho Đại Sứ  Lodge để nói rơ những ưu tư của Tổng Thống Kennedy về cuộc đảo chánh sẽ xảy ra. Bức công điện gồm 10 điểm. Dưới đây là những điểm chính:

a.- Ṭa Bạch Ốc tin rằng thái độ của chúng ta đối với nhóm đảo chánh vẫn c̣n có hậu quả quyết định đối với họ. Ṭa Bạch Ốc tin rằng lời nói của chúng ta đối với nhóm đảo chánh có thể khiến họ hoăn lại cuộc đảo chánh...Cuộc sắp hàng các lực lượng tại Sài G̣n cho thấy hai bên (quân chính phủ và quân đảo chánh) gần như đang đồng cân đồng lạng. Như vậy, cuộc nổ súng sẽ kéo dài và quân đảo chánh có thể sẽ bị đánh bại. Trong cả hai trường hợp, hậu quả sẽ cực kỳ nghiêm trọng và tai hại cho quyền lợi của nước Mỹ. V́ vậy, chúng ta phải có được sự bảo đảm rằng tương quan lực lượng quân sự thực sự nghiêng về phía quân đảo chánh (điểm 2)

b.- Trong trường hợp ông rời khỏi Sài G̣n một ngày nào đó trước ngày đảo chánh, th́ trước khi đi, ông cần phải tham khảo ư kiến đầy đủ với Tướng Harkins và Pḥng Trung Ương T́nh Báo để có những sắp xếp rơ rệt về

* Việc điều hành những hoạt động thông thường.

* Việc tiếp xúc với nhóm đảo chánh.

* Việc phải làm khi cuộc đảo chánh khởi sự.  (điểm7)

c.- Nếu cuộc đảo chánh xảy ra, vấn đề bảo vệ các kiều dân Mỹ sẽ tức khắc được đặt ra.  Ṭa Bạch Ốc có thể cho không vận Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa tới Sài G̣n trong 24 tiếng đồng hồ. Ṭa Bạch Ốc đă ra lệnh cho CINCPAC sắp xếp cuộc Ngô Đ́nh Diệm chuyển của Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bằng đường thủy đến hải phận Nam Việt Nam (điểm 8)

d.- Ṭa Bạch Ốc hiện đang cứu xét những trường hợp bất ngờ có thể xảy ra sau khi cuộc đảo chánh bùng nổ. Yêu cầu ông Đại Sứ cho biết ngay những khuyến cáo của ông về thái độ mà Ṭa Bạch Ốc phải có sau khi cuộc đảo chánh khởi sự, đặc biệt đối với những yêu cầu để hành động trong trường hợp cuộc đảo chánh: Thành công, thất bại hoặc không ngă ngũ (điểm 9).

e.- Ṭa Bạch Ốc nhắc lại rằng nhóm đảo chánh có trách nhiệm phải đưa bằng cớ chứng minh rằng họ thực sự có triển vọng sẽ thành công mau lẹ. Nếu không, chúng ta sẽ phải cản ngăn họ đừng đảo chánh, bởi lẽ, một tính toán sai lầm sẽ đưa tới hậu quả làm tổn thương đến tư thế của nước Mỹ tại vùng Đông Nam Á. Đây là điểm 10 và cũng là điểm chót của bức công điện. (Telegram 79079, Bundy to Lodge, Oct 30.1963, Box 317, National security files,  John F. Kennedy library)

 

Chúng ta nhận thấy rơ tâm trạng của Tổng Thống Kennedy. Ông rất muốn lật đổ ông Diệm, nhưng sợ thất bại. Ông đă ẩn náu ḿnh trong cái tṛ chơi ngôn ngữ ‘’đừng khuyến khích cuộc đảo chánh cũng như đừng làm hỏng cuộc đảo chánh’’ để có thể chối tội sau này. Nhưng ông dấu đầu hở đuôi. Thật vậy, tại điểm 10 của bức điện tín nói trên, Ṭa Bạch Ốc (tức Kennedy) đă ra lệnh cho Đại Sứ Lodge phải ngăn chặn cuộc đảo chánh không có triển vọng thành công. Th́ ra, chánh sách ‘’không được ngăn chặn cuộc đảo chánh’’ mà Tổng Thống Kennedy đă đề ra cho siêu cường Mỹ trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963, không áp dụng cho một cuộc đảo chánh có triển vọng thành công. Nó chỉ áp dụng cho một cuộc đảo chánh không có triển vọng thành công. Đó là đạo đức quốc gia của nước Mỹ và đó cũng là cái thông minh của Tổng Thống Kennedy trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.

Người xưa đă dạy: ‘’muốn nói dối, th́ phải có một trí thông minh trên mức b́nh thường, nếu không sẽ có ngày chính ḿnh lại chửi ḿnh’’. Phải chăng, trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963, Tổng Thống Kennedy của siêu cường Hoa Kỳ và các cố vấn của ông đă không có được cái trí thông minh trên mức b́nh thường?

15.- Công điện ngày 30.10, Đại Sứ Lodge trả lời

Ngay sau khi nhận được công điện ngày 30.10 của Cố Vấn An Ninh Ṭa Bạch Ốc, Đại Sứ Lodge không nén được sự kinh ngạc trước ư định của Ṭa Bạch Ốc muốn tŕ hoăn cuộc đảo chánh của các Tướng lănh Việt Nam. Ông bèn cấp tốc gửi một công điện gồm 13 điểm cho Bộ Ngoại Giao. Dưới đây là những điểm chánh:

a.- Tôi không tin rằng chúng ta có đủ quyền lực để tŕ hoăn ngăn chặn một cuộc đảo chánh... Tôi có thể nói rằng: Chúng ta có rất ít ảnh hưởng đối với vụ này, một vụ hoàn toàn thuộc nội bộ Việt Nam (điểm 1).

b.- Trừ phi cuộc đảo chánh thành công chớp nhoáng, tôi dự kiến rằng khi cuộc đảo chánh bắt đầu bùng nổ, Chính Quyền Diệm sẽ yêu cầu tôi hoặc Tướng Harkins dùng ảnh hưởng để kêu gọi các Tướng lănh băi bỏ cuộc đảo chánh. Tôi tin rằng ảnh hưởng của chúng tôi (tức là Đại Sứ Lodge và Tướng Harkins) chắc chắn không lớn hơn ảnh hưởng của Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Tối Cao Hoa Kỳ. Nếu Tổng Thống đă không thể dùng ảnh hưởng để băi bỏ được cuộc đảo chánh. Làm như vậy, chúng ta sẽ chỉ gây nguy hiểm cho sinh mạng người Hoa Kỳ. Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm có thể sẽ yêu cầu chúng ta gửi máy bay hoặc trực thăng đến để di tản những nhân vật trọng yếu trong chính quyền...Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ không để cho phi cơ và phi công của chúng ta dấn thân vào nơi ḥn tên mũi đạn,  khi hai phe đang dàn trận chống đối nhau (điểm 10).

c.- Các Tướng lănh có thể cần một số tiền vào phút chót để mua chuộc phe chống đối.  Nếu số tiền này có thể đưa cho họ một cách kín đáo, tôi nghĩ rằng chúng ta nên cho họ, miễn là chúng ta xác tín rằng cuộc đảo chánh mà họ dự tính, đă được tổ chức chu đáo và có triển vọng tốt để thành công. Nếu nhận thấy rằng cuộc đảo chánh không phân thắng bại và cuộc nổ súng sẽ kéo dài, chắc chắn chúng ta sẽ phải đứng ra giúp đỡ cả hai bên giải quyết vấn đề, v́ lợi ích của cuộc chiến tranh chống cộng tại miền Nam (điểm 11).

d.- Tôi hoàn toàn đồng ư rằng một sự tính toán sai lầm sẽ gây ra tai hại cho tư thế của Hoa Kỳ tại vùng Đông Nam Á. Nếu chúng ta xác tín rằng cuộc đảo chánh sẽ đi đến thất bại, dĩ nhiên chúng ta sẽ làm tất cả những điều mà chúng ta có thể làm được, để ngăn chặn cuộc đảo chánh. Nguyên văn câu chót: ‘’If we are convinced that the coup is going to fail, we would, of course do everything we could to stop it’’ (điểm 12).

e.- Tướng Harkins đă đọc công điện này và không đồng ư. Nguyên văn: ‘’Gen Harkins has read this and does not concur’’. Đây là điểm 13 và cũng là điểm chót. (Telegram 2063,  Lodge to State, Oct 30.1963. The Pentagon Papers, pg 227-229)

Bức công điện 2063 nói trên của Đại Sứ Lodge là một kiệt tác của sơ hở, mâu thuẫn ngu xuẩn và bất lương. Đoạn trên nói rằng chính quyền Mỹ không đủ quyền lực để ngăn chận cuộc đảo chánh, đoạn dưới lại nói rằng nếu thấy cuộc đảo chánh sẽ đi đến thất bại th́ chúng ta (Hoa Kỳ) sẽ làm tất cả những điều có thể làm được để ngăn chặn cuộc đảo chánh. Đoạn trên nói rằng đây là hoàn toàn thuộc nội bộ Việt Nam, đoạn dưới lại nói rằng chúng ta nên cho nhóm đảo chánh một số tiền để họ mua chuộc phe chống đối.

Tuân Tử của nước Tàu, Talleyrand của nước Pháp và Metternich của nước Áo, hiện đang ngủ dưới đáy mồ, nếu họ được đọc bức công điện của Nhà ngoại giao Lodge, chắc chắn họ sẽ đội mồ mà chỗi dậy và kêu trời cho cái chất xám của chính giới Mỹ. Bất lương ngu xuẩn và mâu thuẫn. Có lẽ Tướng Harkins cũng nh́n thấy cái bất lương và mâu thuẫn của Đại Sứ  Lodge, v́ vậy ông đă không đồng ư và đ̣i Đại Sứ Lodge phải ghi vào công điện rằng ông không đồng ư.

Dù sao, những sơ hở mâu thuẫn ngu xuẩn và bất lương của bức công điện cũng giúp cho lịch sử ghi lại một sự thật ngàn đời, cuộc đảo chánh 1963 đă do chính quyền Kennedy chủ trương, chủ mưu, sắp xếp và thúc đẩy. Nhóm Tướng lănh Việt Nam là những tay sai bản xứ...

16.- Công điện ngày 30.10. George Bundy gửi Đại Sứ Lodge

Bức công điện ngày 30.10 (số 2063) của Đại Sứ Lodge không được sự chấp thuận của Tướng Harkins, Tư Lệnh MAGV tại Sài G̣n. Ṭa Bạch Ốc đă nh́n thấy sự xích mích và bất đồng quan điểm giữa Đại Sứ Lodge và Tướng Harkins trong vụ lật đổ ông Diệm và Ṭa Bạch Ốc lo ngại.

Chiều 30.10 George Bundy lại cấp tốc gửi một công điện 6 điểm cho Đại Sứ Lodge.  Dưới đây là những điểm chính:

a.- Ṭa Bạch Ốc không chấp nhận luận điệu của ông Đại Sứ cho rằng ‘’chúng ta không đủ quyền lực để tŕ hoăn hoặc ngăn chận một cuộc đảo chánh tại Việt Nam’’ như là căn bản chủ đạo cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong công điện của ông Đại Sứ, điểm 12, ông Đại Sứ cũng nói rằng nếu ông xác tín rằng cuộc đảo chánh sẽ đi đến thất bại, th́ ông sẽ làm tất cả những điều có thể làm được để ngăn chặn nó. Cũng trên căn bản đó, Ṭa Bạch Ốc tin rằng ông Đại Sứ sẽ hành động để thuyết phục các Tướng lănh ngưng lại hoặc hoăn lại bất cứ một cuộc động binh nào mà ông Đại Sứ nghĩ rằng không có triển vọng thành công (điểm 2)

b.- V́ vậy, nếu ông Đại Sứ phải kết luận rằng cuộc đảo chánh không thực sự có triển vọng thành công, th́ ông phải cho các Tướng lănh biết mối hoài nghi của ông. Nói làm sao để ít nhất tŕ hoăn cuộc đảo chánh lại cho tới khi có được cơ hội tốt hơn. Khi nói điều đó với các Tướng lănh, ông Đại Sứ nên sử dụng sức nặng của lời khuyên nhủ tốt nhất của Hoa Kỳ (nguyên văn: The weight of US best advice) và minh thị bác bỏ mọi ám chỉ rằng chúng ta chống lại những nỗ lực của các Tướng lănh v́ chúng ta ưa thích chế độ hiện tại hơn là ưa thích họ (điểm 3).

c.- Sau đây là chỉ thị của Ṭa Bạch Ốc liên quan đến thái độ của Hoa Kỳ trong trường hợp cuộc đảo chánh xảy ra:

* Các viên chức Hoa Kỳ sẽ không đáp ứng những lời kêu gọi giúp đỡ của hai bên. Phi cơ Hoa Kỳ và những khả năng khác của Hoa Kỳ sẽ không được đưa đến dấn thân vào nơi ḥn tên mũi đạn, để ủng hộ bất cứ bên nào nếu không được phép của Washington.

* Trong trường hợp cuộc đảo chánh bất phân thắng bại, các viên chức Hoa Kỳ có thể tùy nghi làm những hành vi thích hợp với nguyện vọng của cả hai bên, tỷ như Ngô Đ́nh Diệm tản các nhân vật trọng yếu hoặc chuyển vận tin tức, và khi hành động như vậy, các viên chức Hoa Kỳ phải cố tránh để khỏi bị hiểu lầm là làm áp lực đối với bất cứ bên nào.

* Trong trường hợp cuộc đảo chánh lâm vào t́nh trạng sẽ thất bại, hoặc thực sự thất bại, các viên chức Hoa Kỳ có thể tùy nghi mở cửa nương náu cho những kẻ minh thị hoặc mặc nhiên cần sự nương náu.

* Nhưng một khi cuộc đảo chánh đă bắt đầu, th́ v́ quyền lợi Hoa Kỳ, cuộc đảo chánh ấy phải thành công  (The Pentagon Papers, pg 231)

Chúng ta thấy rơ: Trong công điện nói trên, Ṭa Bạch Ốc đă minh thị bác bỏ quan điểm của Đại Sứ Lodge cho rằng Hoa Kỳ không đủ quyền lực để ngăn chặn một cuộc đảo chánh tại Việt Nam. Chẳng những vậy, Ṭa Bạch Ốc c̣n khẳng định rằng chính quyền Hoa Kỳ có thừa quyền lực và có bổn phận phải ngăn chặn cuộc đảo chánh, nếu thấy cuộc đảo chánh không có triển vọng thành công. Ṭa Bạch Ốc minh thị nhắc lại mệnh lệnh của Tổng Thống Kennedy: ‘’một khi cuộc đảo chánh đă bắt đầu, cuộc đảo chánh ấy phải thành công, v́ đó là quyền lợi của Hoa Kỳ’’

Chúng ta cũng thấy rơ: Ṭa Bạch Ốc chỉ dự liệu can thiệp trong trường hợp cuộc đảo chánh bất phân thắng bại và trường hợp quân đảo chánh bị thất bại. Can thiệp để giúp cho các Tướng đảo chánh có chỗ nương náu và thoát hiểm. Ṭa Bạch Ốc ông dự liệu can thiệp trong trường hợp ông Diệm bị đánh bại. Số phận ông Diệm không được Ṭa Bạch Ốc quan tâm đến.

Tất cả những tài liệu trên đây đă trở thành Chính Sử của Hoa Kỳ và được lưu trữ trong ‘’Hồ Sơ An Ninh Quốc Gia’’ tại Thư Viện John F.  Kennedy. Đó là những bằng cớ trên giấy trắng mực đen chứng minh một sự thật lịch sử. Sự thật lịch sử đó là: Cuộc lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm năm 1963 đă do chính quyền Kennedy chủ trương, chủ mưu, chủ xướng, chủ động, chủ lực, khuyến khích và thúc đẩy các Tướng lănh Việt Nam chỉ là những tay sai bản xứ.

Lịch sử đă viết: Nhờ sự mẫn cán và thông minh của các Tướng lănh Việt Nam, cuộc đảo chánh 1963 đă hoàn toàn thành công mỹ măn.

Những tài liệu nói trên cũng là những bằng cớ trên giấy trắng mực đen chứng minh sự bất lương, ngu xuẩn và luộm thuộm của chính quyền Hoa Kỳ trong vụ lật đổ ông Diệm. Từ Tổng Thống Kennedy đến các Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc, đến Đại Sứ Cabot Lodge.

Một công điện (ngày 24.8.1963) của Ṭa Bạch Ốc gửi cho vị Đại Sứ của ḿnh tại nước ngoài, liên quan đến một vấn đề trọng đại của quốc gia Hoa Kỳ, thế mà các viên chức cao cấp có trách nhiệm trong chính quyền không được thông báo, tham khảo. Chẳng những vậy, c̣n bị lừa bịp. Kể cả Tổng Thống Kennedy cũng bị lừa bịp.

Trong các công điện của Ṭa Bạch Ốc, của chính Tổng Thống Kennedy và của Bộ Ngoại Giao gởi đi, cũng như trong các công điện của Đại Sứ Cabot Lodge gửi về, th́ công điện trước chửi công điện sau, hoặc công điện sau chửi công điện trước.

Trong cùng một công điện th́ đoạn trước chửi đoạn sau, đoạn sau chửi đoạn trước. Giáo Sư André Tunc trong quyển Les Etats Unis, có nói đến ‘’quyền lực nắm trong tay những kẻ thiếu lương tâm’’.

Trong vụ chính quyền Kennedy lật đổ ông Diệm, chúng ta phải thêm hai chữ ngu xuẩn vào cuối câu và nói: ‘’quyền lực nắm trong tay những kẻ thiếu lương tâm và ngu xuẩn’’.  (Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Chính Sử, trang 61-85).

...Chế độ Ngô Đ́nh Diệm là một chế độ độc đoán (autoritaire) như hầu hết các quốc gia phải đương đầu với hiểm họa cộng sản. Điều đó không ai chỗi căi. Nên nhớ: Đài Loan đă áp dụng chế độ thiết quân luật gần 35 năm và chỉ băi bỏ chế độ ấy mới đây, năm 1986.

Cũng không ai chối căi rằng: Đệ Nhất Cộng Ḥa đă có những lạm dụng lộng hành,  nhớp nhúa và cả tội ác nữa.

Nhưng, những lạm dụng, lộng hành nhớp nhúa, tội ác ấy không bắt nguồn từ những quy định hoặc thiếu sót của hiến pháp mà bắt nguồn từ sự không tôn trọng hiến pháp và luật pháp quốc gia bởi chính những kẻ cầm quyền.

V́ vậy, chúng ta không nên dựa vào Hiến Pháp một nước để chỉ trích hoặc nguyền rủa một chế độ. Nhưng ông Đỗ Mậu và những kẻ đến sau (tức là những kẻ xuyên tạc, những kẻ ‘’hiếp dâm’’ lịch sử hoặc những kẻ bôi bẩn vô căn cớ với ḷng đầy hận thù, ác tâm, vô luân và thành kiến đối với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đối với nền Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng Thống Diệm (lời góp ư thêm của tác giả) làm việc đó và khi làm công việc đó họ đă tỏ ra thiếu khả năng.

(Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 48-49)

MỘT TÀI LIỆU CĂN BẢN QUAN TRỌNG SOI SÁNG VỤ PHẬT GIÁO NĂM 1963

PHÚC TR̀NH CỦA PHÁI BỘ LIÊN HIỆP QUỐC ĐIỀU TRA VỀ VẤN ĐỀ VI PHẠM NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

TÔN THẤT THIỆN

 

I. Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và ém nhẹm Phúc Tŕnh của Liên Hiệp Quốc

            Frandix X.  Winters: The year of the Hare (Armerica in Vietnam, January 25,1963-February 15,1964) The University of Georgia Press, Athens and London, 1997.

Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án Ông Diệm

            Trong buổi hội kiến với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ngày 26.8.1963

Lodge nói rằng: ‘’Theo Hiến Pháp, Quốc Hội Hoa Kỳ ‘’nắm quyền chỉ tiêu’’ về ngoại giao... Lodge muốn ám chỉ rằng Quốc Hội đ̣i Sài G̣n phải cải tổ nếu muốn được tiếp tục nhận viện trợ. Thật ra th́ trong Quốc Hội Hoa Kỳ không có sự đ̣i hỏi đó. Cho nên, Lodge phải đích thân quậy sao cho có sự đ̣i hỏi đó. Ông ta bèn hỏi Rusk có cách nào khuấy động để Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện đưa ra một sự đe dọa như thế không. Bundy và Hilsman thích dùng Thượng Viện làm nơi chính để chống ông Diệm hơn. Họ biết rằng Thượng Nghị Sĩ Frank Church không ưa ông Diệm. Do đó họ cùng ông này thảo Quyết Nghị tháng 9 lên án ông Diệm ‘’đối sử tàn tệ về tôn giáo’’. (trang 62)

               Anne E. Blair: Lodge in Vietnam (A Patriot Abroad) Yale University Press, New Haven and London, 1995.

Lodge vận động để Liên Hiệp Quốc đừng bàn về vấn đề Việt Nam.

               ‘’Sau cuộc đảo chánh Lodge yên lặng vận động để Bản Phúc Tŕnh của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc đă viếng Việt Nam vào tháng 10 và tháng 11 để điều tra về những sự than phiền của Phật Giáo về nhân quyền bị vi phạm khỏi được đưa ra bàn căi ở Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Viên chức Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đă cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rằng sự công khai hóa những điều mà Phái Bộ Liên Hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ở Sài G̣n gồm những người đă phục vụ dưới ông Diệm. Thêm nữa một cuộc bàn căi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội cả Bắc Kinh thêm một dịp để tố cáo chính phủ Hoa Kỳ đă dính vào cuộc đảo chính. Lodge am hiểu sự khác biệt về ảnh hưởng của những tố cáo trước một diễn đàn quốc tế, sẽ được báo chí quốc tế quảng cáo rầm rộ và những bằng chứng cục bộ trong một tờ tŕnh viết được ít người đọc. Nhân một dịp viếng Washington vào tháng 12, ông ta đă thẳng thừng yêu cầu ông Senerat Gunewardene, Đại Sứ  Ceylon, người dẫn đầu nhóm Liên Hiệp Quốc đă thâu thập dữ kiện về vụ Phật Giáo, đừng có đ̣i một sự bàn căi về những ǵ ông đă phát hiện được. Gunewardene nhận làm như Lodge yêu cầu để làm vừa ḷng một người bạn lâu năm vào thời Lodge làm Đại Sứ đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Như nhiều người khác đă có dịp giao thiệp với Lodge, Gunewardene đă bị Lodge quyến rũ và coi ông này như là một người bạn’’ (trang 77-78).

Blair đă  ghi rằng những điều trên đây là do con gái của ông Gunewardene tiết lộ trong một bức thư gởi cho Blair vào tháng 11.1988 (nghĩa là 26 năm sau, vụ toa rập ém nhẹm sự thật này mới được đưa ra ánh sáng. (xem trích dẫn Blair trang 178)

Lodge, Hilsman, Mc George Bundy và Churck toa rập vu khống ông Diệm

               ‘’Ông Lodge là người nhiều kinh nghiệm về vận động Thượng Viện thông qua các dự luật. Do đó, ông hỏi Rush có thể vận động Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Nghị Viện cắt đứt viện trợ cho Chính Phủ Việt Nam  không. Ông ta giải thích rằng Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n bị bó tay, nhưng nếu vận động Hạ Viện được như vậy th́ viện trợ sẽ tái cấp nếu ông Diệm chịu cải tổ. Hilsman và McGeorge làm việc với Thượng Nghị Sĩ Church, người cùng quan điểm với họ, để thảo một quyết định thích hợp cho Thượng Viện thông qua. Trong bài diễn văn đưa bản quyết định ra trước Thượng Viện vào tháng 9, ông Church nhấn mạnh rằng động lực thúc đẩy ông là ‘’đối sử tàn bạo về tôn giáo’’ (trang 55)

Nếu Bản Phúc Tŕnh của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc không bị ém nhẹm và được đưa ra tŕnh Liên Hiệp Quốc và dư luận quốc tế th́ rơ ràng là Quyết Nghị trên đây là một sự vu khống trắng  trợn.

               Ellen J. Hammer: A Death in November (America in Vietnam) E. P. Dutton, New York, 1987

            Lodge và New York Times vu khống Chính Phủ Việt Nam về vụ Liên Hiệp Quốc Ngày 24.10.1963, một phái bộ của Liên Hiệp Quốc đến Sài G̣n để điều tra về vụ Phật Giáo.

            Chính Phủ Việt Nam chưa có hành động ǵ cả, nhưng Lorge báo cáo với Kennedy như sau:

‘’Những người Việt có học thức hân hoan chờ đợi Phái Bộ, đồng thời phần đông tin rằng Chính Phủ Việt Nam sẽ không để cho Phái Bộ được tự do hành sự’’(trang 252).

            Bộ Ngoại Giao Mỹ và Báo New York Times phụ họa Lodge:

‘’Người Mỹ lúc đầu cho rằng Bà Nhu sẽ là đại diện của Chế Độ Sài G̣n và bà ấy  sẽ dùng ngôn ngữ thóa mạ và làm cho dư luận Hoa Kỳ chống đối mà thôi. Nhưng người Mỹ lại được nghe bà em dâu ông Diệm nói rằng chính phủ hoan nghênh đón tiếp một Phái Bộ Điều Tra và sẽ chấp nhận những phát hiện của nó. Báo New York Times nói đây chỉ là một mánh khóe của Bà Nhu. Bà dùng mánh khóe này chỉ v́ bà ấy biết rằng sự đề cử một phái bộ điều tra như thế sẽ bị Đại Hội Liên Hiệp Quốc bác bỏ. Đại Sứ Lodge đánh điện cho Washington nói rằng theo quan điểm của Ṭa Đại Sứ Chính Phủ Sài G̣n ‘’sẽ chống cự kịch liệt Quyết Nghị đề cử một đại diện hay một phái bộ Liên Hiệp Quốc đến tận nơi để cứu xét về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam ‘’ (trang 253)

Trên đây là những hành động lừa gạt dư luận và Chính Phủ Hoa Kỳ của những cơ quan và cá nhân có sứ mạng đưa tin tức chính xác để dân Hoa Kỳ có thể lấy những quyết định đúng và phù hợp với quyền lợi của Quốc Gia họ. Đấy là sự hành động đưa đến sự hy sinh của 58.000 Binh Sĩ Mỹ trong những năm tới.

Ngày 7.10. Đại Hội Liên Hiệp Quốc quyết định hoăn cuộc bàn căi về Bản Thảo Quyết Nghị kết án Chính Phủ Việt Nam và cử một Phái Bộ đi Việt Nam điều tra. Nghe tin này:

‘’Ở Sài G̣n Đại Sứ Lodge không hiểu tại sao Phái Đoàn Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc lại muốn tránh một cuộc bàn căi tại Đại Hội và một Quyết Nghị lên án Chính Phủ Diệm. Ông ta điện cho Washington: ‘’Tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều lo ngại về khả năng bản phúc tŕnh của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc sẽ thuận lợi cho Chính Phủ Việt Nam’’ (trang 258)

‘’Bửu Hội (Đặc Sứ của Chính Phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc) đă cam đoan với Ngoại Trưởng Rush là sự mời Liên Hiệp Quốc cử một phái bộ đến Việt Nam không phải một kế tŕ hoăn và phái bộ sẽ được tự do đi bất kỳ nơi nào ở Việt Nam và gặp bất kỳ ai họ muốn.

 

            Nhưng Lodge lại cho rằng phái bộ sẽ ngây thơ nếu họ tin như vậy, theo ông ta Chính Phủ Việt Nam sẽ không khi nào để cho họ thâu được những tin tức bất lợi cho chính phủ đó’’.

Ông ta điện cho Kennedy rằng lănh tụ sinh viên đang bị bắt và tất cả bằng chứng cho thấy rằng Chính Phủ Việt Nam đang đe dọa đối phương để khép miệng những nhân chứng chống đối và ngăn cản không cho họ đến gặp phái bộ và phái bộ sẽ được đi một ṿng du lịch theo kiểu Cooks’’.  (trang 259)

II. Phúc tŕnh của phái bộ Liên Hiệp Quốc thâu thập dữ kiện về vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam

Tài liệu tham khảo:United Nations, General Assembly, Eighteenth session, Agenda item 77, THE VIOLATION OF HUMAN RIGHT IN SOUTH VIET NAM

Report of the United Nations Fact Finding Mission to South Viet Nam

Document A/5630, 7 December 1963 (323 trang)

Hay:

Report of United Nations Fact Finding Mission to South Viet Nam

Published by the Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security and Other  Internal Sacurity Laws of the Committee of Judiciary, United States,  U. S.  Goverment Printing Office, 1964.

A. Sự h́nh thành của Phái Bộ

1. Nguồn gốc của Phái Bộ.

Ngày 4.9.1963, Đại diện của 14 Quốc Gia thành viên, thuộc các Khối Á, Phi, Nam Mỹ, sau đó thêm Mali và Népal, yêu cầu ghi vào chương tŕnh nghị sự của Đại Hội một mục số 77 mang tít là ‘’Sự vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam’’.

Ngày 9.9 một văn thư được gởi cho các Quốc Gia thành viên.

Ngày 13.9. một văn kiện ghi đầy đủ chi thiết về những vi phạm mà Chính Phủ miền Nam Việt Nam bị gán cho, được gởi cho tất cả các Phái Đoàn ở Liên Hiệp Quốc. [Để làm sáng tỏ rằng đây chỉ là những tội người ta gán cho Chính Phủ Việt Nam (Liên Hiệp Quốc dùng danh từ ‘’allegations’’ để nhấn mạnh điểm này) toàn văn bản gán tội này sẽ được chép lại dưới đây để tiện bề so sánh với những phát hiện của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc cho thấy rằng những điều gán trên đây là mơ hồ, không đúng với sự thực.].

Ngày 20.9, Đại Hội quyết định ghi mục trên đây vào chương tŕnh nghị sự.

Ngày 7.10, Đại Hội mang mục 77 ra cứu xét. Đại diện của Caylon, Đại Sứ Gunewardene, bạn thân của Đại Sứ Lodge, đả kích Chính Phủ Việt Nam một cách gay gắt. Đồng thời Chủ Tịch Đại Hội thông báo cho các Đại Diện là ông có nhận được một bức thư của Đặc Sứ Việt Nam (Giáo Sư Bửu Hội) đề ngày 4.10.1963 nhờ ông chuyển lời của Chính Phủ Việt Nam  mời Liên Hiệp Quốc gởi một phái bộ sang Việt Nam ‘’để thấy tận mắt những ǵ thật sự xảy ra giữa Chính Phủ và Cộng Đồng Phật Giáo ở Việt Nam’’

Theo đề nghị của Đại Diện Costa Rica, Đại Hội nhận lời mời của Chính Phủ Việt Nam,  đ́nh việc cứu xét đề nghị lên án Chính Phủ Việt Nam  và cho phép ông Chủ Tịch cử một phái bộ đi Việt Nam. Đề nghị này được 80 phiếu thuận, 0 phiếu chống và 5 phiếu trắng.

 

Ngày 11.10 Ông Chủ Tịch Đại Hội thông báo ông đă cử một phái bộ gồm Đại Diện của 7 Quốc Gia (Afghanistan, Brasil, Ceylon, Costa Rica, Dahomey, Marocco, Népal) với mục đích ‘’thăm Việt Nam Cộng Ḥa để thấy tận mắt t́nh h́nh thế nào về liên hệ giữa Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa và Cộng Đồng Phật Giáo’’.

Phái Bộ sẽ đến Sài G̣n ngày 24.10 và dự định rời Sài G̣n ngày 4.11.1963. Trước khi Phái bộ lên đường, Trưởng Phái Bộ (Đại Diện Afghanistan) ra một thông báo nhấn mạnh đây là một ‘’Phái Bộ Thâu Thập Dữ Kiện’’ (Fact Finding Mission) chớ không phải là một ‘’Phái Bộ Điều Tra’’ (Inquiry Mission). Đây là một điều mà Chính Phủ Việt Nam coi như căn bản, v́ Phái Bộ này do Chính Phủ Việt Nam mới, chớ không phải bị áp đặt từ ngoài và nó không có sứ mạng phán xét, chỉ có sứ mạng thâu thập dữ kiện mà thôi. (trang 7).

2. Đặc điểm về Phái Bộ

            * Vô Tư: Trước khi lên đường, Trưởng Phái Bộ đưa ra một tuyên bố nhấn mạnh tính cách ‘’nhất thời’’ của Phái Bộ và quyết tâm ‘’luôn luôn vô tư’’. Lúc đến Sài G̣n, trong một  tuyên bố với báo chí, ông nhắn lại lời tuyên bố của ông  trước khi ông lên đường nói rằng Phái Bộ ‘’có ư định điều tra tại chỗ, nghe nhân chứng và nhận kiến nghị’’. Ông kêu gọi mọi phe tránh biểu t́nh. Ông nhấn mạnh tính cách vô tư của Phái Bộ. Ông nói: ‘’Chúng tôi sẵn sàng ghi nhận mọi quan điểm và quyết tâm báo cáo dự kiện’’ (trang 9)

* Tự Do Lựa Chọn Nhân Chứng: Ông Trưởng Phái Bộ cũng nhấn mạnh rằng Phái Bộ hoàn toàn độc lập và họ hoàn toàn tự do trong sự lựa chọn nhân chứng, không cần báo trước cho chính quyền biết. Để chứng minh điều này, ông sẽ đưa cho Bộ Trưởng Ngoại Giao một danh sách các nhân chứng mà họ muốn gặp.

* Tự Do Đi Lại: Trong các cuộc tiếp xúc với Lănh đạo cao cấp Việt Nam. (Tổng Thống, Cố Vấn Chính Trị, các Bộ Trưởng liên hệ) họ đều yêu cầu được cam đoan là họ sẽ được tự do đi lại và để giữ tính cách độc lập, họ quyết định trả lấy chi phí của họ.

Sau đây là bản ghi những vi phạm mà các tác giả bản dự thảo nghị quyết ngày 13.9.1963 gán cho Chính Phủ Việt Nam tại Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Nó sẽ là căn bản của cuộc điều tra của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc. Phái Bộ sẽ căn cứ trên đó để chất vấn các nhân chứng.

Những vi phạn gán (allegations) cho Chính Phủ Việt Nam trong dự thảo quyết nghị của Đại Hội Liên Hiệp Quốc ngày 13.9.1963.

1. Việt Nam Cộng Ḥa đă công khai vi phạm nhân quyền khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa ngăn cản không cho đa số công dân sử  dụng những quyền được ghi trong Điều 18 của Tuyên Ngôn Nhân Quyền.

2. Ghi lại những chi thiết của Điều 18.

3. Tháng 5 năm nay, công dân Việt Nam Xứ Huế muốn thực hành quyền được công nhận trong điều nói trên bằng cách làm những lễ thích ứng liên quan đến ngày sinh thứ 2507 của người lập nên tôn giáo mà hơn 70% Việt Nam đă lựa chọn. Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă không cho họ thực hiện quyền này. Thật ra sự từ chối này đă thực hành một cách tàn nhẫn.  Chín người đă thiệt mạng khi Quân Đội được Chính Phủ ra lệnh nổ súng vào công dân. Tai nạn này dẫn đến sự đ̣i hỏi Chính Phủ phải giải quyết những kêu ca và chấp nhận trách nhiệm của ḿnh về sự chết chóc. Chính Phủ không làm điều nào cả trong hai điều này. Do đó, có sự gia tăng đ̣i hỏi biện pháp sửa chữa. Sự bất b́nh đối với Chính Phủ mạnh mẽ đến nỗi năm nhà Sư và một Ni cô đă tự thiêu (một hành vi bất thường đối với những người theo tôn giáo đó).

4. Chính Quyền đă không đáp lại kêu gọi của công dân đ̣i công lư với đe dọa và chế diễu và tiếp theo đó, sau 12 giờ đêm ngày 20.8, tấn công Chùa Xá Lợi, ngôi Chùa chính ở Sài G̣n của những người theo tôn giáo của đa số. Từng bầy cảnh sát được trang bị súng liên thanh và súng cabin xông vào Chùa và bắt hàng trăm nhà Sư và Ni cô mang đi nhà tù sau khi đă gây thương tích cho họ. Hành động này được lập lại khuya hôm đó ở một số Chùa trong toàn xứ. Có ít nhất là 1000 nhà Sư bị giam tù hiện nay. Con số bị tử thương không biết là bao nhiêu.

5. Hàng trăm sinh viên Đại Học Sài G̣n biểu t́nh chống những hành động độc đoán của Chính Phủ bị bắt hôm chủ nhật 25.8.1963. Chính Phủ càng ngày càng tiến về hướng dẹp bỏ các nhân quyền căn bản như quyền hội họp, tự do ngôn luận, tự do thông thương v.v... (trang 24)

Và dưới đây là danh sách những người nhân chứng mà Phái Bộ thông báo cho Bộ Trưởng Ngoại Giao là họ muốn phỏng vấn.

Nh́n qua những danh sách này, ta thấy rằng đây có thể nói là toàn bộ những cá nhân và phe phái đối lập Chính Phủ Việt Nam, thuộc đủ mọi giới, mọi thành phần chính trị xă hội tôn giáo...Tất nhiên, sau khi đă tự do phỏng vấn kín chừng ấy người, Phái Đoàn không thể nói là ḿnh không biết rơ t́nh h́nh Việt Nam nữa. Và điều này cũng là một sự phản bác những luận điệu xuất phát từ các báo Mỹ và viên chức Hoa Kỳ nói rằng Chính Phủ Việt Nam ngăn cản không cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc tiếp xúc với người này người khác v́ muốn dấu diếm sự thật.

Danh sách những Nhân Viên cao cấp Chính Phủ Việt Nam :

1. Tướng Trần Tử Oai

2. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm

3. Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh Nhu

4. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ

5. Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương

6. Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Đ́nh Thuần

7. Đại Biểu Chính Phủ Trung phần và Tư Lệnh Quân Đoàn I và viên chức khác.

8. Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trương Công Cừu

Danh sách các chức sắc Phật Giáo và nhân chứng khác.

Thành viên Ủy Ban Liên Bộ:

            1. Nguyễn Đ́nh Thuần

            2. Bùi Văn Lương

Thành viên Ủy Ban Liên Phái

            1. Thích Thiện Minh (Trưởng Ban)

            2. Thích Tâm Châu (Ủy Viên)

            3. Thích Thiện Hoa (Ủy Viên)

            4. Thích Huyền Quang (Thư Kư)

            5. Thích Đức Nghiệp (Phụ Tá Thư Kư)

            6. Thích Mật Nguyện (Tăng Trưởng Hội Tăng Già Trung Việt)

            7. Thích Thiện Siêu (Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thừa Thiên)

            8. Ngài Đặng Văn Kat (Cát?) (Sư)

            9. Thích Chi Thu (Trí Thủ ?) (Sư)

            10. Thích Quảng Liên(Sư)

            11. Ngài Pháp Tri

            12. Thích Tâm Giao

            13. Krich Tang Thay (?)

            14. Ông Mai Thọ Truyền

            15. Diệu Huệ (Ni Sư)

            16. Diệu Không (Ni Sư)

            17. Tướng Phạm Xuân Chiểu (Tham Mưu Trưởng Quân Đội)

            18. Trần Văn Đỗ (Cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao)

            19. Cựu Bộ Trưởng Tư Pháp

            20. Bác Sĩ Phạm Huy Quát (Cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng và Quốc Gia Giáo Dục)

            21. Lê Quang Luật (Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên Truyền)

            22. Nguyễn Thái (Cựu Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xă)

            23. Nguyễn Văn B́nh (Tổng Giám Mục Sài G̣n)

            24. Ông Trần Quốc Bửu (Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động)

            25. Tôn Thất Nghiệp (Lănh Tụ Sinh Viên, Thư Kư Hội Phật Giáo Sài G̣n)

            26. Ông Hồ Hữu Tường (Nhà Văn và Giáo Sư)

            27. Giáo Sư Nguyễn Biểu Tâm (Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Sài G̣n)

            28. Ông Nguyễn Xuân Chữ (Nhà Báo)

            29. Cha mẹ cô gái bị chết trong dịp biểu t́nh ngày 25.8.

            30. Viên chức cao cấp của Liên Đoàn của Hội Luật Gia Sài G̣n

            31. Viên chức cao cấp của Liên Đoàn Lao Động (nếu có)

            32.  Ủy Ban đề nghị thả các Nhà Sư

HUẾ

            1. Thích Tịnh Khiết (Lănh đạo tối cao, Chủ Tịch của tất cả các Hội Phật Giáo Huế)

            2. Phan Binh Dinh (Lănh tụ sinh viên Phật Tử Huế. Thư kư của Hội sinh viên Phật Tử Huế)

            3. Thích Đôn Hậu (Chủ tịch Ủy Ban tổ chức Phật Đản)

            4. Linh Mục Cao Văn Luận (Viện Trưởng Công giáo Đại học Huế)

            5. Bùi Tường Huân (Khoa Trưởng Luật khoa Huế)

            6. Bác Sĩ Lê Khắc Quyến.

           

Bản Phụ 1

            1. Thích Quảng Độ

            2. Các vị Sư c̣n ở trong (các trại giam?)

            1. Thích Hộ Giác

            2. Thích Giác Đức

            3. Thích Thể Tịnh

            4. Thích Thiện Thắng (?)

            5. Thích Pham Quang Thanh(?)

            6. Thích Liên Phu (Phú?)

            7. Thích Chánh Lạc

            8. Nguyễn Thị Lợi (Ni cô)

            9. Diệu Cát (Ni cô)

          10. Nieo mu Tinh Bich (Ni cô?)

Phụ Bản 2

            1. Nguyễn Hữu Đông (Đổng?) (Đồng?)

            2. Nguyêm Xuân Thiện

            3. Đức Nhuận

            (Tất cả 60 người, thuộc đủ mọi thành phần, xu hướng. Những tên kèm theo dấu (?) là những tên không biết chính xác là ǵ) (trang 271-273)        

               b. Các cuộc phỏng vấn nhân viên chính phủ

            Tướng Trần Tử Oai

            Trong một bản tuyên bố dài 12 trang 27-39. Tướng Trần Tử Oai tŕnh bày vấn đề Phật Giáo. Theo ông, đó là một cuộc khủng hoảng khởi phát từ vụ va chạm ở Huế về vấn đề treo cờ. Lúc đầu nó chỉ là một cuộc va chạm riêng biệt và không quan trọng ǵ, nhưng sau đó, ‘’do sự can thiệp của các phần tử quá khích’’nên nó lại trở thành một phong trào lớn đ̣i hỏi chống Chính Phủ.

Bản tuyên ngôn kết thúc như sau: ‘’Nếu ta xét kỹ dữ kiện ta sẽ thấy rằng vụ Phật Giáo chỉ có một khía cạnh Tôn Giáo giới hạn, và chính trị là phần chính, nhất là ở giai đoạn cuối của nó’’. (trang 37) Ông nhấn mạnh rằng ‘’Một số cơ quan thông tin ngoại quốc, chẳng hiểu ǵ vấn đề từ đầu, đă vô t́nh hay cố ư đầu độc dư luận quốc tế’’ và ‘’không hề có ngược đăi hoặc kỳ  thị đối với Phật Giáo’’ (trang 38).

(Tướng Oai không nói ǵ mới lạ, những điều quan trọng ở đây là: Đây là lần đầu mà đại diện các Quốc Gia thành viên Liên Hiệp Quốc được nghe một Viên Chức của Chính Phủ Việt Nam tŕnh bày tường tận vấn đề với một quan điểm hoàn toàn khác với những quan điểm mà họ đă biết qua tường thuật bóp méo và cục bộ của báo chí và các nguồn tin khác có ác cảm với Chính Phủ, mà họ đă dùng làm căn bản để thảo bản vi phạm gán cho Chính Phủ Sài G̣n được đưa ra Đại Hội Liên Hiệp Quốc ngày 13.9.1963. )

Những tuyên bố của các lănh tụ cao cấp khác của Chính Phủ được tŕnh bày dưới đây tất nhiên cũng có tác động tương tự, nếu không nói là quan trọng hơn nữa, đặc biệt là những tuyên bố của Ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh Nhu và Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương.

               Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm

            Cuộc tiếp xúc với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rất ngắn. Trong bản Phúc Tŕnh của Liên Hiệp Quốc nó chỉ chiếm có một trang. Tổng Thống chỉ nói vắn tắt và ‘’nhắc lại lời hứa của ông về việc sẵn sàng cung cấp cho Phái Bộ tất cả những dễ dăi để họ làm tṛn nhiệm vụ’’ (trái với những tuyên bố của ông Lodge nói Chính Phủ Việt Nam sẽ cản trở không cho Phái Bộ t́m ra sự thực). Tổng Thống Diệm chỉ nói ít thôi v́ chắc ông biết là các ông Ngô Đ́nh Nhu và Bùi Văn Lương sẽ nói nhiều và đi vào chi tiết của vấn đề.

           Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu

           Trái với trường hợp Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, cuộc tiếp xúc giữa Phái Bộ và Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu rất dài 24 trang trong Bản Phúc Tŕnh (trang 42-56). Cùng với những tuyên bố của Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương, những tuyên bố của Ông Ngô Đ́nh Nhu chiếu rất nhiều ánh sáng vào vấn đề Phật Giáo 1963. Nó  tiết lộ rất nhiều chi tiết mà tới nay ít ai biết và hiểu, v́ có những khía cạnh lịch sử và xă hội mà họ không biết hoặc không để ư đến. Đây lại chính là những khía cạnh mà Ông Nhu đă giải thích rất cặn kẽ cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc.

Trong khung cảnh bài này không thể chép lại trọn vẹn những tuyên bố của Ông Nhu.  Chỉ có thể trích dịch một số đoạn chứa đựng nhiều tiết lộ quan trọng nhất.

               a. Một khía cạnh của vấn đề chậm tiến.

            Trong nhăn quan Ông Nhu, vấn đề Phật Giáo là một khía cạnh của vấn đề chậm phát triển của Việt Nam. Các phong trào chính trị, xă hội và tôn giáo đă phát triển rất mạnh từ khi nước Việt Nam độc lập. Nhưng cũng như chính phủ, các phong trào ấy thiếu cán bộ và sự thiếu cán bộ này đă gây ra nhiều vấn đề.

Ông nói: ‘’T́nh h́nh Phật Giáo cũng như vậy, nó đă phát triển rất mạnh, nhưng nó không đủ cán bộ và sự kiện này là nguyên do của một số sai lầm, một điều không thể tránh được. Tôi nghĩ rằng ngay cả Chính Phủ cũng bị một số sai lầm...’’ (trang 42).

            b. Khía cạnh sử học và xă hội học

            ‘’Vấn đề Phật Giáo phát khởi từ những ngày chót của chế độ thuộc địa và ngay từ trước Thế Chiến II . Sự kiện này không áp dụng riêng ǵ cho Phật Giáo. Các đoàn thể chính trị và tôn giáo khác, đặc biệt là Khổng Giáo cũng như thế. Mỗi đoàn thể đều có vấn đề riêng của ḿnh.

            Thời kỳ này là thời kỳ mà tất cả các dân tộc Á Đông đều bị yếu đi, v́ chính sách của Nhật, v́ Hitler và Phát xít...Đồng thời có một sự phục hưng về tôn giáo...Vấn đề của Phật Giáo ngày nay là làm sao vừa đáp ứng được những đ̣i hỏi của cuộc tranh đấu chống cộng sản vừa đáp ứng được những đ̣i hỏi của kỹ nghệ hóa? ... hoặc làm sao t́m ra một thần thuyết nối liền được Tây với Đông. Phật Giáo có đủ khả năng giải quyết nhiệm tác cấp bách và sinh tồn này không? Sự phục hưng của Phật Giáo đă xảy ra trong bối cảnh này. Những vấn đề này đă có từ năm 1933...

            Phong trào Phật Giáo là một phong trào lành mạnh của một tổ chức bị bóp nghẹt dưới thời thực dân và đang t́m cách phát triển trong điều kiện thực dân bị giải thể. Nó là một phong trào lành mạnh. Nhưng nó phát triển trong những điều kiện không thuận lợi. Nó bị áp lực của Đông lẫn Tây. Hai ư thức hệ này đều t́m cách lợi dụng nó’’ (trang 43)

            c. Sứ  mạng tôn giáo và sai lầm

            ‘’Trong tất cả các cuộc phục hưng đều có sự trở ngại nguồn gốc. Nếu Phật Giáo muốn trở lại nguồn gốc, là sự lựa chọn của vài vị Thánh hiền mà sứ mệnh là bảo chúng ta, những người đang phải vừa lo chiến tranh vừa phải lo kỹ nghệ hóa, rằng vật chất không phải là tất cả, của những vị Thánh hiền nhắc nhở chúng ta, những người tay bùn chân lấm rằng có một lư tưởng ở trong giá trị tinh thần và tu định, một  huyền lực bẻ găy dây chuyền của vật chất. Đó là sứ mạng của Tôn Giáo. Nhưng trong bối cảnh Lịch Sử của Việt Nam, phong  trào Phật Giáo đă đi lạc con đường của nó. Nó đă đặt cho nó những mục tiêu chính trị đến mức có tham vọng lật đổ Chính Phủ.

            Có nhiều lư do giải thích tâm trạng đă đưa các lănh tụ Phật Giáo đến sai lầm này. Về căn bản, Phật Giáo ở một tâm trạng lưỡng nan (nhưng chỉ ở Việt Nam). Nó không thể giữ được tính chất Phật Giáo thuần túy nếu nó thành một lực lượng chính trị. Đó là sự mâu thuẫn căn bản ở Việt Nam. Những người Phật Tử đă khổ sở về những mâu thuẫn này. Họ thấy các phong trào Tôn Giáo khác bành trướng và họ đă coi sự kiện này như là một bằng chứng rằng có một cái ǵ đang chèn ép họ. Các Tôn Giáo khác (Hồi Giáo và Công Giáo và Tin Lành) có cách giải quyết các vấn đề sinh sống hàng ngày của họ. Phật Giáo th́ không thế, nó là một Tôn Giáo chủ  trương hoàn toàn tách rời thế sự. Thấy các Tôn Giáo khác bành trướng họ kết luận rằng: Họ đang bị đàn áp.’’ (trang 44).

            d. Cộng sản, Công  Giáo và Phật Giáo.

            ‘’Cộng sản đă tổ  chức việc cải đạo từng loạt Xă thành Công Giáo, và đă núp sau các Xă này để xâm nhập Việt Nam. Khi các Phật Tử thấy các xă cải đạo theo Công Giáo họ tưởng rằng đó là họ bị áp lực của Chính Phủ. Nhưng ta đọc các tài liệu ta thấy rằng Chính Phủ cũng lo lắng về những vụ cải đạo ào ạt này, và tuyệt đối không khuyến khích việc này v́ chủ động việc này là cộng sản trá h́nh. Sự kiện này đă gây nhiều tai hại vào năm 1960,  lúc mà cộng sản phát động chiến tranh phá hoại, những Làng ấy là những Làng chống chúng tôi. Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă xung khắc với giới Lănh đạo Công Giáo về những vụ cải tạo ào ạt này v́ các cơ quan an ninh của chúng tôi canh chừng những xă ấy chặt chẽ hơn các xă khác.

            Nhưng điều quan trọng hơn cả là các Phật Tử coi phong trào tỵ nạn như là bằng chứng rằng Chính Phủ khuyến khích Công Giáo nhưng không khuyến khích Phật Giáo, v́ trong số một triệu tỵ nạn từ miền Bắc vào Nam có 700.000 Công Giáo. Người theo Phật Giáo tin rằng đó là v́ Tổng Thống là người theo Đạo Công Giáo. Họ không hiểu rằng đó chỉ là một vấn đề tổ chức, v́ người Công Giáo có tổ chức tốt hơn về việc đời, cả giáo khu có thể động viên để ra đi, trong khi người theo Phật Giáo tản mát và không có tổ chức.’’ (trang 45)

               e. Chính phủ  từ chối không cho Công Giáo đặc quyền

            ‘’Chính phủ áp dụng một chính sách chung cho tất cả mọi người. Chính Phủ khuyến khích tất cả các Tín ngưỡng để chống lại chủ nghĩa vô thần cộng sản...Sau 1955 có vấn đề các Giáo Phái muốn thiết lập quốc gia trong Quốc Gia. Năm 1957 người Công Giáo muốn được đặc quyền: Trường học không có sự giám sát của Chính Phủ và Cộng Đồng riêng...(họ bất măn v́ không được chấp thuận). Nhưng họ chỉ không bỏ phiếu cho ông Diệm (chớ không biểu t́nh ồ ạt như ngày nay)’’.  (trang 46).

            f.  Mỹ và âm mưu chống chính phủ

            ‘’Âm mưu chống Chính Phủ do Ủy Ban Liên Phái tổ chức. Ủy Ban này chỉ đại diện cho một phần của Phật Giáo Việt Nam. Những Phái khác không đồng ư với họ, nhưng bị phiền toái v́ thiện cảm với họ. Cùng một Tôn Giáo, họ cảm thấy phải liên đới với người đồng đạo.  Đây là điều mà người ngoại quốc lợi dụng. Cuộc âm mưu thành h́nh v́ có những kẻ khích thích, đặc biệt là giới báo chí Mỹ, họ khuấy động dư luận quốc tế chống Chính Phủ. Tất cả các tổ chức đều do Ủy Ban Liên Phái điều khiển’’.  (trang 46).

            ‘’Tin các ông đến có tác động khuyến khích người ta biểu t́nh. Chính Phủ thấy trước việc này và đă bắt được tài liệu liên quan đến chuẩn bị biểu t́nh. Các tài liệu đó xuất phát từ những người Phật Tử quá khích, cộng sản và ngoại nhân...T́nh h́nh thật là gay go. Sự hiện diện của các ông là một dịp tốt để thiêu vài người nhằm gây xúc động. Đối với Tây Phương cũng như Đông Phương vụ Phật Giáo là một cơ hội như vàng để chia rẽ Việt Nam, một dịp duy nhất để lợi dụng cực đoan chống Chính Phủ’’ (trang 46) 

‘’Âm mưu là khiêu khích dồn Chính Phủ vào thế phải bắt càng nhiều người càng tốt, và gây đổ máu bằng cách bắn vào cảnh sát’’.  (trang 48).

g. Tỷ lệ Phật Giáo trong Chính Phủ và Quân Đội

Ông Gunewardene: ‘’Trong Chính Phủ có bao nhiêu người theo Phật Giáo ?’’

            Ông Cố Vấn Chính Trị: ‘’Ba phần tư’’ (8/13)

            Ông Gunewardene: ‘’Và bao nhiêu người trong Quân Đội?’’

            Ông Cố Vấn Chính Trị: ‘’Trong 17 ông Tướng, 14 người là theo Đạo Phật Giáo... ’’ (trang 50)

            Phỏng vấn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ

            Cuộc tiếp xúc giữa Phái Bộ và Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ tương đối ngắn 3 trang trong Phúc Tŕnh (trang 53-56) và Phó Tổng Thống không có nói ǵ đặc biệt.

Tiếp theo phỏng vấn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, cuộc phỏng vấn Ông Bộ Trưởng Bùi Văn Lương là một trong hai cuộc phỏng vấn quan trọng nhất về phía Chính Phủ Việt Nam. Do đó, dưới đây, nó được trích khá dài.

               Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương

            Cuộc tiếp xúc của Bộ Trưởng Bùi Văn Lương và Phái Bộ rất dài 11 trang trong Phúc Tŕnh (trang 56-68), và đề cập đến nhiều vấn đề. Cùng với những tuyên bố của Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, những tuyên bố của Bộ Trưởng Bùi Văn Lương cung cấp giải thích rất rơ ràng về một số vấn đề lớn về vụ Phật Giáo được nêu ra thời đó và cả ngày nay. V́ vậy, dưới đây sẽ  trích nhiều đoạn của những  tuyên bố đó để soi sáng một số khía cạnh then chốt của vấn đề.

               a. Về Dụ số 10.

Có sự trao đổi giữa ông Trưởng Phái Bộ và ông Bộ Trưởng như sau:

Trưởng Phái Bộ: ‘’Thưa Ngài, điều thứ nhất mà Phái Bộ muốn biết là tại sao Dụ số 10 không được tu chỉnh tuy rằng trong 8 năm qua có tuyển cử và Chính Phủ Dân Cử được thành lập, và tại sao Chính Phủ có  đa số Phật Tử trong Quốc Hội lại không thấy cần tu chỉnh Dụ này...?

            Bộ Trưởng: ‘’Về điểm thứ nhất. Năm 1954 chúng tôi bận rộn về chiến tranh với các Giáo Phái cùng nhu cầu định cư các người tỵ nạn. Như quư vị biết, chiến tranh chống các Giáo Phái là cuộc chiến tranh dùng vũ khí, chống ba Giáo Phái:B́nh Xuyên, Ḥa Hảo và Cao Đài. Năm 1956, chúng tôi có cuộc bầu cử Quốc Hội Lâm Thời. Từ năm 1956 đến 1959,  chúng tôi hơi rănh tay và đó là lúc có thể tu chỉnh hoặc không tu chỉnh Dụ số 10. Nhưng tôi phải nói rơ ra rằng, theo hiến pháp, sự tu chỉnh luật pháp phải do đa số dân biểu Quốc Hội yêu cầu. Trong Quốc Hội thứ nhất, Phật tử chiếm đa số lớn, trong Quốc Hội được bầu năm 1959 cũng vậy.  Nhưng không có yêu cầu tu chỉnh Dụ số 10 và v́ không có yêu cầu của Quốc Hội, nên vấn đề tu chỉnh đó không được dặt ra...’’ (trang 58)

........

Trưởng Phái Bộ: ‘’Câu hỏi của tôi là: Tại sao Chính Phủ lại không tự ḿnh khởi động việc tu chỉnh Dụ đó ?’’.

            Bộ Trưởng: ‘’Đó chính là điều mà bây giờ tôi muốn giải thích. Trong thời gian 1956-1959, và cho đến tháng 5. 1963 trước khi xảy ra vụ Phật Giáo, Chính Phủ không hề được Quốc Hội yêu cầu cứu xét dự thảo luật nào về Dụ số 10. Tôi phải nói cho hết về người thứ nhất có thể tu chỉnh lật pháp: Đó là Quốc Hội. Chúng tôi có hai Quốc Hội từ năm 1956 đến 1959 và đến khi vụ Phật Giáo xảy ra, Chính Phủ không được yêu cầu tu chỉnh ǵ, không được yêu cầu cứu xét dự thảo tu chỉnh Dụ 10 nào.

            Người thứ hai về tu chỉnh là chính Chính Phủ. Để quyết định có tu chỉnh hay không tu chỉnh một Dụ, có hai điều kiện:

1/Chúng tôi phải thấy có nhu cầu như vậy. 

2/Phải có yêu cầu như vậy xuất phát từ dân chúng.

            Về điểm thứ nhất, cho đến khi có vụ Phật Giáo, chúng tôi không thấy có nhu cầu tu chỉnh Dụ số 10 v́, tuy rằng trên giấy tờ những điều kiện trong văn kiện rất gắt gao về sự kiểm soát các Hội, Chính Phủ không hề áp dụng các điều kiện đó.

            Chúng tôi luôn luôn rất rộng răi về các vấn đề Tôn Giáo và đặc biệt trong đối xử với Phật Giáo. Có một số Điều khoản trong Dụ, ví dụ điều kiện buộc phải đăng kư với Bộ Nội Vụ tên những thành viên của Chùa, Ủy Ban hay Hội Phật Giáo, thường được bỏ qua, đặc biệt là ở các Tỉnh. Cho đến năm 1960, trước khi tôi được cử làm Bộ Trưởng Nội Vụ, đó là thường lệ. Sau khi tôi làm Bộ Trưởng Nội Vụ, lệ đó vấn tiếp tục và tôi cũng không kiểm tra. Nhưng năm 1963, tôi mở hồ sơ ra xem, th́ tôi thấy rằng, từ năm 1954 cho đến 1963, chúng tôi không  hề áp dụng Dụ số 10. Mà cũng chẳng hề khi nào có yêu cầu, thơ tín, từ phía dân chúng đ̣i tu chỉnh Dụ số 10’’.

.......

            ‘’Tóm lại, tôi thấy cần tuyên bố rằng từ ngày có thỏa hiệp ngày 16.6. với phái đoàn Phật Giáo, chúng tôi đă đưa vấn đề ra Quốc Hội và Quốc Hội đă cử một Ủy Ban đặc biệt để nghiên cứu phương thức tu chỉnh Dụ số 10. Trong khi đó chúng tôi đă ngưng áp dụng Dụ số 10’’ (trang 59)

            b. Vụ rắc  rối ở Huế: Trước ngày 8.5.1963

            Trưởng Phái Bộ: ‘’...Chúng tôi muốn Ngài cho chúng tôi biết, càng nhiều càng tốt, về vấn đề Chính Phủ có bằng chứng tuyệt đối về các điểm, các vụ chống đối Chính Phủ gồm có: Xúi dục và bạo động?’’

Bộ Trưởng: ‘’...Nếu tôi nghe đúng, Ngài Trưởng Phái Bộ muốn tôi giải thích tại sao trước ngày 6.5 không có rắc rối mang h́nh thức của những rắc rối xảy ra sau ngày 6.5. Như Ngài Trưởng Phái Bộ nói, ba khía cạnh liên quan mật thiết với nhau. Cho nên tôi sẽ đề cập đến nhiều điểm. 

            Sau những rắc rối ở Huế, tôi t́m hiểu tại sao lại có bạo động th́nh ĺnh như thế và tại sao lúc tôi có mặt ở Huế ngày trước đó, tôi không có một ư nghĩ ǵ về việc này. Tôi đă đích thân gặp tất cả các vị sư mà Phái Bộ đă phỏng vấn hôm qua, kể cả Thích Trí Quang (hiện đang ở trong Sứ Quán Hoa Kỳ). Tôi đă nói chuyện với họ. Tôi đă giải thích cho họ ư nghĩa của Thông Tư về việc treo cờ và bàn luận với họ, và họ đă xác quyết với tôi rằng  những giải thích của tôi thích đáng và họ hài ḷng và rất vừa ư, và như thế tôi có thể yên tâm trở về Sài G̣n. Tôi rất vui vẻ và tôi trở về Sài G̣n không hề đoán được rằng ngày sau đó sẽ xảy ra chuyện rắc rối.

            Bây giờ tôi muốn làm sáng tỏ một số vấn đề. Thông Tư ngày 6.5 đến Huế ngày 7.5.  Tôi đích thân ra  đến Huế ngày 7.5 lúc 10 giờ sáng. Nửa giờ sau tôi gặp những vị Sư  lănh đạo yêu cầu được gặp tôi để tôi giải thích cho họ rơ nội dung và lư do tại sao có Thông Tư đó. Tôi giải thích cho họ nghe và chỉ thị Nhân Viên Hành Chánh sở tại tạm thời đừng thi hành Thông Tư. Lư do của chỉ thị đó là khi tôi ra đến Huế, trên đường từ sân bay về Thị Xă, tôi thấy cờ đă được treo như trước khi có Thông Tư và trong thời gian một ngày không thể hạ tất cả các cờ đă được treo lên. Các vị Sư lănh đạo rất vui ḷng. Họ nghe tôi giải thích và nói với tôi rằng đă hoàn toàn thỏa măn những ư nguyện của họ. Không thể thay đổi ǵ theo Thông Tư mà với tư cách Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ tôi đă gởi đi, v́ cờ Phật Giáo và cờ Quốc Gia đă được treo ba ngày trước đó.

            Sau khi tôi về Sài G̣n, tôi nghe nói rằng ngày 8.5 có lộn xộn đổ máu ở Huế. Tôi rất ngạc nhiên và tôi lại bay ra Huế. Tôi tự hỏi tại sao những vị Sư Trưởng đă quả quyết với tôi rằng họ hài ḷng mà nay lại xảy ra vụ lộn xộn. Lúc đó tôi hiểu tại sao v́ sau khi chúng tôi bắt được hai ba người, tôi được một tờ khai của một cộng sự viên gần gũi Thích Trí Quang, ông Đặng Ngọc Lựu. Tôi đọc tờ khai đó và lúc đó tôi mới hiểu.  (trang 61).

c. Âm mưu cộng sản từ năm 1960

            Trưởng Phái Đoàn: Ông Lựu này bây giờ ở đâu?

            Bộ Trưởng: Ở đây với chúng tôi. Chúng tôi đă giữ ông ấy lại và trong lời khai, ông ấy nói rằng âm mưu (và vị vậy danh từ ‘’âm mưu’’ mới được dùng trong tài liệu) là một âm mưu cộng sản, đă dự tính từ năm 1960, khi đạt thỏa hiệp về h́nh thức xáo trộn sẽ gây ra.

            Tôi chỉ có thể kết luận rằng Thông Tư 6/5 chỉ được dùng để làm lư do hữu lư để tạo ra rắc rối, v́ âm mưu đă được quyết định ngay từ năm 1960.

d. Vụ rắc rối ngày 8. 5.  ở Huế

            1. Thích Trí Quang Là Người Chủ Mưu.

            ‘’Tôi đă điều tra ngay tại chỗ ngày tiếp theo khi xảy ra vụ rắc rối ở Huế. Tôi đến một Thị Xă đang c̣n sôi động, một số nhóm và cá nhân đang c̣n biểu t́nh ngoài đường phố. Tôi lại gặp các Sư lănh đạo, đặc biệt là Thích Trí Quang. Lúc đó, tôi chưa biết là ông ta là người cầm đầu v́ theo hệ thống cấp bậc, ông ta nằm dưới vị Ḥa Thượng mà các ngài đă gặp ở Chùa Ấn Quang, Thích Tịnh Khiết. Lúc đó tôi không nghi ǵ về vai tṛ thực sự của Thích Trí Quang trong các vụ rắc rối.

            Trong cuộc điều tra của tôi ngày 9.5 về vụ rắc rối 8.5, qua những lời khai của tất cả mọi người, tôi biết rằng chính Thích Trí Quang là người đă đổi thay tất cả các điều khoản trong chương tŕnh Phật Đản đă được thỏa thuận với Chính Quyền Địa Phương và ông ta đă thay đổi chương tŕnh một cách đơn phương, không tham khảo ư kiến với Chính Quyền Địa Phương.’’ (trang 61)

            Tôi nghĩ rằng tốt hơn là nói chuyện với ông ấy và hỏi ông ấy về đầu đuôi câu chuyện ấy ra sao? Khi tôi gặp ông ấy, tôi trách ông. Chỉ hai ngày trước đó, tôi đă gặp ông, tôi kính trọng ông và ông đă quả quyết với tôi rằng ông hài ḷng về những giải thích của tôi nói với ông và về những chỉ thị của tôi cho nhân viên Địa Phương tạm hoăn thi hành Thông Tư ngày 6.5 của tôi, nhưng một ngày sau ông lại gây chuyện rắc rối. Tôi muốn nói chuyện trực tiếp với ông.

Trong tư cách là Bộ Trưởng Nội Vụ, tôi không muốn thấy biểu t́nh trên đường phố Huế, do ông xúi giục. Tưởng cũng cần nói thêm là tôi thấy ông ấy trong đám biểu t́nh và cho triệu ông đến văn pḥng tôi. Ở đây, tôi nói với ông ấy rằng tôi không muốn có lộn xộn nữa. Tôi cấp cho ông một chiếc xe Jeep và một ống loa và bảo ông đi cùng ông Tỉnh Trưởng đi ra phố trấn tĩnh những người biểu t́nh. Ông nói là ông sẽ làm như vậy, và ông đă làm đúng như vậy. Nhưng thực ra, đó chỉ là một mưu kế để làm cho tôi dịu xuống. Ông xác quyết với tôi là sẽ không có ǵ xảy ra nữa. Tôi trở lại Sài G̣n và ngay sau đó, nhiều rắc rối khác lại bùng phát.

‘’...Trong đêm 8.5 (Lễ Phật Đản), theo một chương tŕnh thỏa hiệp sẽ có một buổi lễ công cộng trước Chùa chính... Đêm đó lúc 8 giờ tối theo chương tŕnh sẽ có thuyết pháp của một vị Sư danh tiếng ở trước Chùa chính và sau đó sẽ có những cuộc biểu t́nh nhỏ của dân chúng, nhưng vào phút chót Thích Trí Quang dẹp bỏ cuộc thuyết pháp đă định và đặt sư đàn em của ông ở một số nơi để nói với công chúng: ‘’Đừng ở đây, đi đến Đài phát thanh, v́ ở đó sẽ vui hơn, dễ chịu hơn’’. Do đó mọi người giải tán và dồn nhau về phía Đài phát thanh’’ (trang 62)

2.  Thích Trí Quang Chiếm Đài Phát Thanh, Đọc Diễn Văn Chống Chính Phủ

‘’Chọn Đài phát thanh là chọn một địa điểm tốt v́ có một cây cầu trên Sông Hương, đó là nơi nhiều đường gặp nhau và đài phát thanh nằm ở giữa. Đó là nơi rất thuận lợi để biểu t́nh công cộng, nhiều đại lộ dẫn đến đài phát thanh và từ cây cầu hàng làn sóng người có thể đổ về đó không ngớt và giải tán họ rất khó. 

Thích Trí Quang đợi cho công chúng tụ tập đông và ông ta đ̣i Giám Đốc Đài Phát Thanh phải đổi chương tŕnh đang phát thanh ngay lập tức. Giám Đốc nói  chương tŕnh đă sắp xếp với sự thỏa hiệp của các Sư, ông ta đă có những băng đă thâu thanh để phát vào giờ đó với những bài hát Phật Giáo và những mục khác đă sắp đặt và bây giờ Ngài đ̣i bỏ chương  tŕnh thu thanh rồi và thay thế nó bằng băng của ông thu hồi sáng’’. (trang 62)

Tôi cần giải thích rằng sáng ngày 8.5 có một buổi lễ long trọng nhưng Thích Trí Quang cũng đă thay đổi chương tŕnh đó đi và để làm rơ sự thiếu thành thật của các lănh đạo Phật Giáo, kể cả Thích Trí Quang, xin đưa ra thí dụ sau đây: Ông này mời Viên Chức Chính Quyền sở tại quan trọng của Huế dự lễ, nhưng ông ta lại cho chưng biểu ngữ mang khẩu hiệu chống Chính Phủ và tuy rằng trong chương tŕnh không có dự định, Thích Trí Quang giựt Micro, đọc lớn và cho ghi âm những khẩu hiệu chống Chính Phủ kịch liệt và thu thanh vỗ tay của quần chúng...

...

‘’Toàn bộ buổi lễ đă được thu băng và lúc 9 giờ tối Giám Đốc Đài Phát Thanh nói rằng vào phút chót ông không thể thay đổi chương tŕnh đă ghi băng rồi. Do đó, Thích Trí Quang kích động Phật Tử lúc đó đă tụ hội đông đúc, la ó ồn ào và xô cửa đài để vào’’(trang 63)

‘’Giám Đốc Đài Phát Thanh rất sợ hăi, khóa cửa pḥng lại và điện thoại cho Tỉnh Trưởng và Viên chức Quân sự và lúc này ông Tỉnh Trưởng mới được báo động. Ông Tỉnh Trưởng này là một Phật Tử đi Chùa đều và là con tinh thần của Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết, mà Quư Ngài đă gặp ở Chùa Ấn Quang. Ông ta đến nơi xảy ra sự việc, thấy chuyện đang xảy ra và dùng lời nói dịu Thích Trí Quang, nhưng ông này không nghe. Cho nên Tỉnh Trưởng phải gọi xe thiết giáp cỡ nhỏ, không phải xe thiết giáp thiệt, nhưng chỉ là xe half-trucks xe bọc sắt nhẹ đến cứu nguy, v́ ông ta hy vọng rằng chỉ sự hiện diện của các xe đó cũng đủ để thị uy quần chúng và làm cho họ đừng đập vỡ cửa ra vào và cửa sổ của Đài Phát Thanh’’(trang 63)

‘’Sau đó, Thích Trí Quang ra lệnh cho Tỉnh Trưởng phát thanh chương tŕnh mà chính  ông ta đă thâu băng buổi sáng đó và ông xúi một số Phật Tử đă bị khích thích nặng trèo lên hiên, đập bể kính cửa sổ dùng lực mở cửa ra vào và vào trong Đài để bức ông Giám Đốc phải phát thanh chương tŕnh. Lúc đó ông Phó Tỉnh Trưởng ra lệnh cho cảnh sát phụ cảnh cáo những Phật Tử đang đập vỡ cửa sổ, cảnh cáo họ phải tụt xuống, dời nơi đó và phân tán. Họ được cảnh cáo nhiều lần và lúc đó phát hai tiếng nổ. Tôi có ở đó, tôi trèo lên hiên và vào trong và tôi thấy hai vũng máu trên hiên, hai tấm gương cửa sổ bị đập vỡ và trần bị sập’’. (trang 63)

3. Về Những Sư Trẻ T́nh Nguyện Tự Thiêu

Trưởng Phái Bộ: ‘’... Tôi muốn hỏi Ngài... có thể cung cấp cho chúng tôi những dữ kiện mà Ngài có về vụ tự thiêu xảy ra trong lúc Phái Bộ ở Sài G̣n...’’ (trang 64).

Bộ Trưởng: ‘’... Tôi có nói thẳng với các vị rằng các Cơ Quan An Ninh của chúng tôi có tin tức đáng tin cậy 100% về tổ chức ngầm của những người gọi là Sư trẻ nhưng thực ra họ không phải là Sư mà chỉ là những người tự xưng là Sư. Họ  t́nh nguyện tự thiêu. Có 10 người tự nguyện tự thiêu công khai trong thời gian Phái Bộ ở đây.

Chúng tôi liên lạc được với họ và qua hệ thống cải huấn của chúng tôi, chúng tôi đă nói chuyện được với họ.

Chúng tôi hỏi họ: Các anh không thích sống sao? Các anh có ǵ chống Chính Phủ? Tại sao các anh muốn tự thiêu?

Họ đă viết một bức thư trong đó họ công nhận sự sai lầm của họ và họ tự nguyện lên Đài phát thanh để thú nhận sai lầm đó và kêu gọi 5 người kia (Tôi xin nhắc là các vị là có 10 người tự nguyện như thế và một người đă tự nguyện tự thiêu rồi) xin đừng có nghe tuyên truyền vô căn cứ và công nhận sai lầm của họ.

Trong thư của họ, họ nói rằng họ bị tổ chức ngầm bao vây và canh gác trong các Chùa và chỗ khác và có những người nói với họ rằng trong vụ đột kích các Chùa ngày 21 tháng 8 có nhiều Sư bị giết chết. Đó là chuyện láo khoét, nhưng v́ họ bị nhốt trong pḥng, họ là nạn nhân của nhiều láo khoét và tuyên truyền, nên họ có những ư nghĩ sai lầm về cách Chính Phủ đối sử với các sư lănh đạo...Chúng tôi chưa t́m được 5 người kia, nhưng chúng tôi mong rằng lời kêu gọi đối với mấy người bạn của họ sẽ hiệu nghiệm.’’ (trang 66)

...

Tôi sẽ cho Quư vị biết về thân thế của Thích Trí Quang. Chúng tôi có tín hiệu rất đáng tin về ông ta. Chúng tôi sẽ đưa ra những tín hiệu này cho Phái Bộ. Về điểm tại sao ông ta tỵ nạn ở Sứ Quán Hoa Kỳ và ông ta vào đó được bằng cách nào tôi sẽ trả lời cho Quư vị biết sau khi xem lại những  ghi chép về điều tra và hồ sơ của tôi để cho có thêm chi tiết.

Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi cũng muốn biết tại sao ông ta lại chọn Sứ Quán Hoa Kỳ?’’

Bộ Trưởng: ‘’Tôi sẽ trả lời cho Quư Vị biết về điểm này, nhưng tôi có thể nói ngay với Quư Vị rằng, theo những tài liệu mà chúng tôi bắt được trong các Chùa và theo những lời tuyên bố của Thích Tâm Châu, người phụ trách về liên lạc với báo chí ngoại quốc trong Ủy Ban Liên Phái, th́ Thích Trí Quang thường liên lạc với người ngoại quốc để đ̣i lật đổ Chính Phủ. Những tuyên bố của Thích Tâm Châu chứa tên những người ngoại quốc được liên lạc.  Nhưng tôi sẽ trả lời cho Quư vị biết về điểm này. Tôi có thể đưa ra vài tên được tiết lộ như Cummings, Bogs. Tuy nhiên, trước khi tôi cung cấp tin liệu này, tôi phải xin phép Chính Phủ của tôi, v́ tôi không phải là toàn thể Chính Phủ và v́ bang giao với Hoa Kỳ tôi phải tham khảo ư kiến của các bạn đồng nghiệp của tôi... ’’ (trang67)

Phỏng Vấn Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Đ́nh Thuần

Cuộc  tiếp xúc của Phái Bộ với Bộ Trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần không có ǵ đặc biệt.  Ông này nhấn mạnh rằng những ǵ ông tŕnh bày chỉ là lập lại những ǵ mà các ông Tổng Thống, Cố Vấn Chính Trị và Phó Tổng Thống đă nói rồi. (trang 69-75)

Viên Chức tại Huế

Tư Lệnh Quân Đoàn I & Đại Biểu Chính Phủ

            a. Quân Đội Và Vấn Đề Treo Cờ

...

Ông Volio: ‘’Ngày 7.5.1963 Quân Đội đă hạ tất cả các cờ Phật Giáo, có đúng vậy không?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Quân Đội không dính líu ǵ đến vụ cờ’’.

Ông Amor: ‘’Vấn đề treo cờ ở Huế liên quan với Phật Giáo, có đúng vậy không?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Có một sự hiểu lầm về yêu cầu của dân chúng treo cờ Phật Giáo cao hơn cờ Quốc Gia. Chỉ có một số ít Phật Tử nghĩ rằng họ tuyệt đối không được treo cờ Phật Giáo. ’’

b. Tỷ Lệ Phật Giáo-Công Giáo

Ông Amor: ‘’Tỷ lệ Phật Giáo-Công Giáo là bao nhiêu?’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi không thể cho Ngài con số chính xác được. Đa số theo Phật Giáo. Tôi phải xem tài liệu mới biết.’’

Ông Amor: ‘’Ông có thể cho tôi biết tỷ lệ khoảng chừng là bao nhiêu không?’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Trên nguyên tắc th́ trong nước đa số theo đạo Khổng Giáo. Tất nhiên có người theo Phật Giáo và Công Giáo, đặc biệt là ở Huế v́ ở đây lâu ngày trước kia có Gia Đ́nh Vua, Quan và Công Chức. Khoảng 30% theo Đạo Phật. C̣n lại là Công Giáo và Khổng Giáo. Bây giờ tôi có thể cho Quư Ngài tỷ lệ Công Chức Quốc Gia trong vùng Trung Phần là 25% theo Công Giáo, 31% theo Phật Giáo và 42% theo Đạo Khổng Giáo.

Tôi xin nói thêm vài điều. Tôi muốn nhấn mạnh rằng ở Huế và Trung Phần tập họp được tất cả các đại diện hành chánh là điều hiếm có. Chúng tôi đă tập họp đông đủ như hôm nay cốt để các Ngài  thấy chúng tôi khách quan và muốn cung cấp cho các Ngài tin tức, giúp các Ngài làm được việc. Ở đây có Nhân viên Quân sự, Tư pháp Ṭa Viện Trưởng Viện Đại Học. Tôi đă yêu cầu hai Viên chức cao cấp nhất của mỗi Ngành đến gặp các Ngài để cung cấp cho các Ngài tất cả chi tiết thống kê mà các Ngài cần.

Phần khác, các Ngài có thể mời họ, hoặc bất kỳ người dân nào ở Huế đến gặp các Ngài bất kỳ lúc nào và hỏi họ bất cứ điều ǵ trong thời gian các Ngài ở đây. Các Ngài có cho tôi biết hay không cho tôi biết các Ngài gặp ai, tùy ư các Ngài. Tôi nêu ra điều này v́ t́nh h́nh ở đây đặc biệt. Huế là một Thị Xă Phật Giáo. Quân Đội và Chính Phủ rất kính nể Phật Giáo và chúng tôi không thể làm trọn nhiệm vụ nếu chúng tôi không kính nể Phật Giáo. Rất cần nói rơ rằng Nhân Viên Quân Sự và Hành Chánh đối xử với Phật Giáo thế nào.

c. Vấn Đề Thanh Tra và Bạo Loạn

Ông Volio: ‘’Theo truyền thống về các dịp lễ và theo tiền lệ và thỏa hiệp về trước với Chính Quyền Đài phát thanh sở tại phát thanh băng của những buổi lễ Phật Giáo, có phải vậy không ?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Mỗi khi có lễ Tôn Giáo th́ nghi thức buổi lễ đó được diễn lại.  Đó là truyền thống. Nhưng các bản văn phải được nhân viên duyệt xét trước để xem trong đó có tuyên truyền chính trị chống Chính Phủ không. Họ có quyền tự do phát thanh tất cả những ǵ họ muốn nếu chỉ nói về Tôn giáo và tránh pha trộn chính trị vào. Đấy là truyền thống áp dụng cho tất cả các Tôn Giáo, dù Phật hay Công Giáo’’. (trang 78)

Ông Volio: ‘’Tối ngày 8.5 một vị Sư mang băng về lễ Phật Giáo đến Đài phát thanh sở tại và ông Giám Đốc Đài từ chối không phát thanh băng đó, có đúng không và tại sao?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Điều đó không đúng. Thông điệp được thâu băng lúc buổi sáng để phát thanh vào buổi tối. Nhưng có một điều khác là Thích Trí Quang thừa cơ hội chèn vào băng một số đoạn chống Chính Phủ và ông Giám Đốc muốn cắt bỏ nhiều đoạn chứa thóa mạ Chính Phủ. Họ không chịu và Phật Tử t́m cách xông vào Đài phát thanh để phá hoại và bạo loạn xảy ra. ’’

Ông Volio: ‘’Ông có thể cho tôi thêm chi tiết bạo loạn xảy ra như thế nào?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Buổi tối phát thanh, Phật Tử, đệ tử của Thích Trí Quang tập họp chung quanh đài phát thanh để làm áp lực với ông Giám Đốc Đài buộc ông phát thanh toàn bộ băng, kể cả những thóa mạ chống Chính Phủ. Ông Giám Đốc từ chối, do đó xảy ra bạo loạn.’’ (trang 78)

...

Ông Volio: ‘’Hơi độc đă được sử dụng để giải tán biểu t́nh ngày 3.6. Có đúng vậy không?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Hơi độc không hề được sử dụng để giải tán biểu t́nh ngày 3.6 như báo chí và Phật Tử cực đoan nói... chúng tôi đă dùng hơi làm chảy nước mắt...loại hơi được dùng ở tất cả các nơi khác trên thế giới trong những trường hợp tương tự’’. (trang 78)

d. Phật Giáo-Công Giáo-Khổng Giáo

Ông Gunewardene: ‘’Ông thừa nhận rằng Thị Xă Huế là một Thị Xă Phật Giáo. Huế có phải là một Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo ở Việt Nam không? Theo tin tức tôi thâu lượm được, chỉ có 5% dân số Huế là Công Giáo, có phải vậy không?

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi có thể nói ngay với Ngài rằng về phần Công Giáo, th́ họ có ghi danh cả, cho nên có bao nhiêu người theo Công Giáo có thể biết dễ dàng. C̣n phân biệt Khổng Giáo Và Phật Giáo là một việc khó. Khi người ta t́m gốc Phật Giáo (nghĩa là t́m người có Pháp danh Phật Giáo và có ghi danh tại một số Chùa) số đó không đầy 10%. Khổng Giáo và Phật Giáo lẫn lộn nhau. Trên nguyên tắc, tất cả người Việt Nam đều là Khổng Giáo, nhưng nay một số đi Chùa và cũng theo Phật Giáo. Họ mời Sư về nhà họ để làm những nghi thức Phật Giáo và có cảm t́nh với Phật Giáo tuy rằng họ không hẳn là Phật Giáo’’.

Ông Gunewardene: ‘’Trước Phật Đản có lễ 25 năm ông Thục được phong  Giám Mục?’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Phải’’

Ông Gunewardene: ‘’Cuộc lễ kéo dài bao lâu và nó chấm dứt khi nào?’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Lễ này xảy ra sau ngày 8.5, không phải trước đó’’.

Ông Gunewardene: ‘’Nhưng vào dịp này cũng có làm lễ cách này hay cách khác chứ?’’

Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Ông này được phong Tổng Giám  Mục lâu năm rồi, c̣n lễ 25 năm ông được phong Giám Mục là sau ngày Phật Đản. ’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi nhớ rằng lễ cử hành rất đơn giản, chỉ có vài Linh Mục và vài Công Chức dự một bữa cơn trưa. ’’

Viện Trưởng Viện Đại Học: ‘’Đó là ngày 28.6.’’.

e. Chỉ Thị Chính Phủ Về Việc Treo Cờ Nhắm vào Công Giáo

Ông Gunewardene: ‘’Về vụ lễ này có Cờ Vatican treo trước ngày Phật Đản Không?’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi thấy rằng Đại Sứ không chấp nhận lời đáp của tôi v́ ông hỏi tôi trước ngày Phật Đản Cờ Vatican có được treo trong Thị Xă không? Cho nên tôi sẽ trở lại lời giải đáp của tôi cho tất cả các câu hỏi của Ngài một cách khái quát để Ngài hiểu ông Tướng muốn nói ǵ.

Tôi sẽ lập lại toàn bộ sự việc để làm sáng tỏ truyền thống và dữ kiện về vấn đề này’’

Ông Gunewardene: ‘’Tôi chỉ hỏi Cờ của Vatican có được treo khắp nơi ở Huế trước ngày Phật Đản không?’’

Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi không có mặt ở Huế mà v́ vậy tôi muốn tŕnh bày như sau.  Trước hết, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không phân biệt giữa cờ Phật Giáo và cờ Công Giáo,  nhưng ông lại rất khắc khe phân biệt Cờ Quốc Gia và mọi cờ khác, để tỏ rơ ḷng yêu nước của ông. Trong những cuộc thị sát của ông ở Thủ Đô, mỗi khi ông thấy một lá Cờ Quốc Gia bị rách và dơ bẩn là ông khiển trách người trách nhiệm về t́nh trạng này.’’ (trang 79)

Trước ngày Phật Đản, có một buổi lễ Công Giáo tại đó có treo Cờ Công Giáo nhưng không có Cờ Quốc Gia. Việc này xảy ra không phải ở Huế, mà ở một nơi khác. Tổng Thống lấy làm giận, tuy rằng cuộc lễ này chẳng dính líu ǵ đến Quốc Gia và cử hành trong một nhà tư. Cho nên chỉ thị của Tổng Thống rằng Cờ Quốc Gia phải được treo cao hơn tất cả các cờ khác là một chỉ thị nhằm vào Công Giáo. 

Rủi thay, chỉ thị của Tổng Thống được ban ra ba ngày trước ngày lễ của Phật Giáo...  Trong tŕnh bày của ông Tướng, ông nói rằng chỉ thị thi hành một cách cố t́nh hoặc vô t́nh.  Tôi nói nó được thi hành một cách cố t́nh, bởi những người chống đối Chính Phủ và cộng sản. Nó bị cộng sản lợi dụng. Cộng sản đă xâm nhập vào hàng ngũ Công Giáo và Phật Giáo. Họ lợi dụng việc này. Cho nên kẻ tạo ra vụ rắc rối không phải là Phật Giáo, mà những kẻ gọi là Phật Giáo mà thực chất là những kẻ xâm nhập.

f. Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết và tuyên ngôn 10.5.1963.

            Ông Gunewardene: ‘’Ông cho là Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết là cộng sản sao?’’

            Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Không. Tôi xác quyết là Ḥa Thượng chống phong trào này. Tôi nói cho Đại Sứ biết thế nào. Trong pḥng này có một người Phật Giáo. Viện Trưởng Viện Đại Học. Ông ta không tham gia phong trào. ’’

            Ông Gunewardene: ‘’Ngày 10.5.1963 có một tuyên ngôn và trong đó có tên Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết. ’’

            Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Đại Sứ có hỏi xem Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết có biết đọc hay không?’’

            Ông Gunewardene: ‘’Không. ’’

            Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Ngài Thích Tịnh Khiết không biết đọc (chữ Quốc Ngữ). Tôi có thể nói chắc với Ngài rằng Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết không muốn kư giấy tờ và ngày 1.5, lúc các Đại Biểu đến ông ta không chịu kư. ’’

            Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Họ ép ông ấy kư một tài liệu viết bằng tiếng Việt, mà ông ấy chỉ biết đọc chữ Hán, cho nên ông không biết ông kư ǵ’’. (trang 80)

               g. Thích Trí Quang cố gây bạo động

            Đại Biểu Chính Phủ: ‘’...Đại Sứ hỏi về Truyền Thống về việc phát thanh các lễ. Phải phát thanh lại các buổi lễ là một Truyền Thống, với điều kiện là cuộc phát thanh nói trực tiếp về buổi lễ, ngay cả các Thị Xă khác. Thỏa hiệp là buổi phát thanh hướng trực tiếp về dân chúng để họ có thể nghe ở trong nhà họ, chớ không phải là một dịp để kêu gọi tụ hội trước Đài phát thanh và nghe ở đó. Vậy vụ rắc rối là một vụ được tổ chức và ngay từ sáng hôm đó, khi toàn bộ chương tŕnh lễ tôn giáo được thay đổi để lấy cớ đưa ra đ̣i hỏi. Tôi có thể tŕnh với Quư Ngài nhân chứng xác nhận điều này. Nhiều Sư chống việc này. Vậy vụ rắc rối đă được Thích Trí Quang định trước và vấn đề phát thanh được sắp đặt trước ngày 7 và 8 tháng 5 để gây một cuộc bạo động. V́ vậy mà phép phát thanh bị từ chối. (trang 81)

               Bộ Trưởng Ngoại Giao Trương Công Cừu

            Trong cuộc tiếp xúc với Bộ Trưởng Ngoại Giao Trương Công Cừu, ông này chú tâm đến hai điểm:

1. Ông ta nhấn mạnh đ̣i hỏi của Chính Phủ Việt Nam là Phái Bộ phải làm thật rơ ràng Phái Bộ đến Việt Nam  là do Chính Phủ Việt Nam mời, chớ không phải do người ngoài áp đặt, nó là một Phái Bộ Thâu Thập Dữ Kiện (Fact Finding Mission) chớ không phải là một Phái Bộ Điều Tra (Inquiry Mission), v́ danh từ ‘’điều tra’’ này chỉ ám chỉ là Phái Bộ có quyền phán xử Chính Phủ Việt Nam.

2. Ông nhấn mạnh Thích Trí Quang là ‘’kẻ cầm đầu thực sự của tất cả các phong trào phiến loạn Phật Giáo’’ và ‘’sự núp ẩn của ông này trong Sứ Quán Hoa Kỳ  là một phần của chiến thuật của các phong trào này đối lại chiến lược của Chính Phủ nhằm tách cộng sản khỏi Ấp Chiến Lược, với mục tiêu cô lập hóa Chính Phủ và gây hiểu lầm giữa Chính Phủ Việt Nam và Chính Phủ Hoa Kỳ. ’’ (trang 84)

c. Các cuộc phỏng vấn nhân chứng

            Từ lúc có tin một Phái Bộ được Đại Hội Liên Hiệp Quốc thành lập để sang Việt Nam t́m hiểu (Fact Finding Mission) về vụ Chính Phủ Việt Nam bị gán tội là hiếp đáp Phật Giáo th́ Phái Bộ nhận được 116 Bản tường tŕnh của cá nhân, nhóm và tổ chức tư. Trong số đó có 67 bản Phái Bộ nhận được ở New York và 47 bản khi Phái Đoàn ở Việt Nam. Căn cứ trên những điều tŕnh bày trong bản tường tŕnh đó Phái Bộ lập lên một danh sách nhân chứng mà Phái Bộ yêu cầu Chính Phủ Việt Nam cho họ được tự do phỏng vấn, đồng thời Phái Bộ cũng căn cứ trên các bản tường tŕnh đó mà soạn ra một bản liệt kê những điều mà Chính Phủ Việt Nam đă bị gán cho là vi phạm. Phần khác trong thời gian ở Việt Nam, Phái Bộ đă trực tiếp phỏng vấn 47 nhân chứng tại Khách Sạn Majestic, nơi Phái Bộ trú ngụ, một số Chùa mà Phái Bộ lựa chọn, trong đó các Chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Giác Lâm ở Sài G̣n, Chùa Từ Đàm ở Huế...các nhà tù, những Trung Tâm Thanh Niên...trong đó có Trại giam của Tổng Nha Cảnh Sát, Trung Tâm Thanh Niên Lê Văn Duyệt...

Danh sách những người Phái Bộ muốn phỏng vấn gồm 60 nhân vật từ đủ các giới của xă hội Việt Nam. Danh sách đó đă được tŕnh bày ở trên.

Phần khác, Phái Bộ căn cứ trên những thơ và tài liệu nhận được để lập hai bản ghi những tội (allegatisons) mà người ta gán cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Phái Bộ cũng căn cứ trên hai bản gán tội này để đặt câu hỏi khi phỏng vấn các nhân chứng mà Phái Bộ tự lựa chọn, không cần có sự thỏa thuận của Chính Phủ. Phái Bộ đă phỏng vấn các nhân chứng này một cách hoàn toàn tự do và kín, không có sự hiện diện của đại diện của Chính Quyền Việt Nam và trong Phúc Tŕnh của Phái Bộ danh sách của các nhân chứng này cũng không bị tiết lộ.

Để giữ khách quan dưới đây, những điều ghi trong Phúc Tŕnh của Phái Bộ sẽ được dịch nguyên văn, không có b́nh luận ǵ cả. Những điều mà các nhân chứng thuộc các giới chống Chính Phủ, hoặc các giới trung lập, trả lời các câu hỏi cặn kẽ của Phái Bộ tự nó nói lên sự thực v́ những câu hỏi rất sâu sắc, tường tận và gay gắt của Phái Bộ.

Bản Thứ Nhất:

Liệt kê các tội gán cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm

            1. Một nhà Sư ở Chùa Xá Lợi chống cự lại đă bị ôm và ném xuống sân từ lan can cao hơn 6 thước.

            2. Quân Nhân đă buộc Sư phải ra khỏi Chùa Xá Lợi bằng hơi làm chảy nước mắt và bắn súng.

            3. Những người đột kích đă mang đi trái tim của vị tử v́ Đạo Thích Quảng Đức.

            4. Quân Đội đă gây thương tích cho hàng trăm Sư và Ni cô trước khi đưa họ vào tù ngày mà biến cố xảy ra.

            5. Một số người phải đưa vào Bệnh Viện Huế v́ bị thở hơi độc không quen.

            6. Ngày 21.8. Quân Đội hủy hoại bàn ghế trong các Chùa.

            7. Sau vụ rắc rối tháng 5, ngày 3.6 các Chùa ở Huế bị cắt nước.

            8. Giám Đốc Đài Phát Thanh Huế từ chối không phát thanh băng về lễ Phật Giáo.

            9. Chính Phủ giới hạn quyền sở hữu đất đai của Sư Phật Giáo nhưng Công Giáo th́ không bị giới hạn.

            10. Chính Phủ miễn thuế khai thác rừng và đất trồng cho người Công Giáo.

            11. Chính Phủ không cung cấp phương tiện để xây cất pḥng ốc, cửa ṭ ṿ...trong khi Công Giáo th́ lại được.

            12. Chính Phủ công nhận 6 ngày lễ Công Giáo trong khi Phật Giáo chỉ được một.

            13. Có rất nhiều trường hợp nhân viên Chính Phủ cho người phá rối các lễ Phật Giáo, ăn cắp thức ăn và đồ cúng của Phật Giáo ở các nơi thờ Phật và làm dơ bẩn các nơi thiêng của Phật Giáo. Các hộ Phật Giáo bắt buộc phải dời bàn thờ Phật khỏi những chỗ chính vào những nơi kín đáo để khỏi bị những kẻ Chính Phủ mướn phá hoại.

            14. Ngày 16.9.1963, Chính Phủ áp đặt người của ḿnh làm lănh đạo cộng đồng Phật Giáo.

            15. Ông Phạm Dinh Binh, Thư kư của Hội Sinh Viên Phật Tử Huế bị bắt và tra tấn đến mức không c̣n nhận ra ông ấy được.

            16. Ông Tôn Thất Nghiệp, Thư Kư của Hội Sinh Viên Phật Tử Sài G̣n cũng bị bắt ngày 4 và hiện nay đang c̣n ở tù (trang 276-277).

Bản Thứ Nh́

Kê Tội gán cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm

            1. Ngày Thiên Chúa Giáng Sinh, Đài phát thanh Sài G̣n phát thanh những chương tŕnh gồm có lễ và bài hát Công Giáo trong khi họ hoàn toàn không có ǵ hết cho cho lễ Phật Đản.

            2. Lính và sĩ quan Phật Giáo bị gởi đi những nơi xa xôi hẻo lánh và sĩ quan nào muốn được tăng thưởng mau th́ phải cải đạo theo Công Giáo.

            3. Những gia đ́nh nghèo bị thuyết phục theo Đạo Công Giáo để được tiền, gạo hay việc làm.

            4. Những Trung Tâm Dinh Điền và Khu Trù Mật gồm toàn người Công Giáo được thành lập, Phật Tử được khuyến khích đến ở đấy và thuyết phục theo Công Giáo. Nếu họ từ chối th́ họ bị đe dọa nhiều cách.

            5. Ấp Chiến Lược được xây dựng ở những vùng nông thôn, những người ở nông thôn phải dỡ nhà và phá Chùa đi để dời vào những Ấp đó. Trong Ấp chỉ được xây nhà ở riêng,  không được xây Chùa. Nếu Sư Phật Giáo từ chối không hạ Chùa của ḿnh xuống để dời vào Ấp Chiến Lược th́ họ bị nghi là ‘’thờ ơ trong việc chống cộng’’ (trang 279)

Theo phần IV của Phúc Tŕnh, Phái Bộ đă phỏng vấn 47 nhân chứng, nhận được 116 bản thông báo. Phần IV của Bản Phúc Tŕnh này rất dài, nó gồm 65 Chương (trang 188-253). Nhưng may là không cần dịch hết như vậy, v́ các thành viên của Phái bộ hỏi đi hỏi lại một số câu hỏi và được trả lời tương tự. Cho nên chỉ cần dịch chép những trả lời nào có tính cách đại diện nhất. Trong những trường hợp mà những lời đáp chứa những dữ kiện hay quan điểm chiếu sáng mới vào t́nh h́nh Việt Nam không những về năm 1963, mà cả 28 năm qua, th́ những lời đáp đó sẽ được trích dài.

               Vùng mà có nhiều kêu ca nhất:Trung Phần.

               Trưởng Phái Bộ: ‘’Người ta nói rằng Chính Phủ Việt Nam tội đă vi phạm quyền Tôn Giáo của Cộng Đồng Phật Giáo, điều này có đúng không?’’

            Nhân chứng số 1: ‘’Tất cả những điều mà người ta nói Chính Phủ Việt Nam vi phạm về hành đạo hay về quyền của Phật Giáo đều xuất phát từ miền Trung Việt Nam, ba bốn năm trước ở bốn Tỉnh khác nhau. Các Tỉnh đó là Phú Yên, B́nh Định, Quảng Nam, Quảng Ngăi. C̣n về nơi khác th́ tôi không biết...’’ (trang 89)

            Nhân chứng số 2: ‘’Không phải chỉ có vấn đề cờ và những va chạm đổ máu tại Đài phát thanh Huế gây ra vụ nổi loạn Phật Giáo, nguyên do có từ lâu và có rất nhiều nguyên do. Ở Nam Phần, ở Sài G̣n hay những vùng lân cận, người ta không biết ǵ về những đ̣i hỏi ngược đăi mà Phật Tử ở Trung Phần phải chịu đựng. Có thể nói là có một sự đối xử tàn bạo với Phật Giáo trong các Tỉnh Trung Phần: Phú Yên, Quảng Ngăi và B́nh Định.’’ (trang 96)

               ....

Tự thiêu được tổ chức

Trưởng Phái Bộ: ‘’Ông mấy tuổi?’’

            Nhân chứng số 8: ‘’19 tuổi’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Ông được thụ phong năm nào?’’

            Nhân chứng: ‘’Tháng 3.1962. Tháng 7 năm nay, tôi lên Sài G̣n và lúc đó Thích Trí Quang quyết định gởi tôi đi Vĩnh B́nh để học thêm về giáo lư, Thị Xă Bến Tre, Chùa Long Phước.

            Tháng 5.1963, tôi được về Sài G̣n để thăm Hội. Tôi trú tại Chùa Xá Lợi và phận sự của tôi là hầu mấy vị sư lớn. Và chính lúc đó tôi được biết về năm điều yêu sách của Phật Giáo.

               Ngày 30 tháng 5.1963 tôi tham gia biểu t́nh Phật Giáo ở Sài G̣n, xong tôi trở về Chùa Xá Lợi.

            Đêm 20.8, tôi đến Chùa Ấn Quang và tôi bị bắt vào lúc 1 giờ đêm. Tôi bị giữ 15 ngày ở một nơi mà tôi không nhận được. Tôi được sư lớn ở Chùa Ấn Quang đến thăm và mấy vị này nói chuyện với Chính Quyền. Ngày sau đó, tôi được thả về. Cũng lúc đó, những Sư và Ni cô khác bị bắt cũng được thả về.

            Tôi trở về Ấn Quang và thấy có nhiều Sư và Ni cô ở đó. Chính ở đó mà tôi được biết Thích Thiện Hoa và Thích Nhật Minh, Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Ủy Ban Thống Nhất Phật Giáo Thuần Túy. Lúc đó, hai vị Sư này ra một tuyên cáo nói rằng tất cả các Tăng sĩ nên trở về Chùa của ḿnh v́ một Chùa không có khả năng nuôi ăn một số đông Sư và Ni cô như thế. V́ Chùa của tôi ở quá xa, nên tôi xin phép ở lại Sài G̣n và tôi trú ngụ tại nhà của Ni cô Diệu Thanh. Bà này ở gần Chùa Ấn Quang.

               Trong thời gian này tôi nghe nói đến những tàn ác của Chính Phủ đối với Phật Giáo.  Ví dụ nghe nói rằng Sư và Ni cô bị đánh đập, bị găy tay, bị nhận nước chết, bị mổ bụng...Tôi cũng nghe nói họ bị bắt trở lại và những người nào không bị bắt lại th́ bị ép buộc không được hành đạo của ḿnh nữa, hay bị ép tự thiêu. Tôi rất xúc động về những tin này.

Một hôm tôi ở Phạm Giang Gia Long một sinh viên tự xưng là một đoàn viên của Hội sinh viên gặp tôi và rủ tôi tham gia Phong trào Phật Giáo. Tôi nhận lời v́ tôi tin rằng đó là phục vụ Phật Giáo. Người sinh viên đó hỏi tôi ở đâu. Tôi nói ở nhà một Ni cô ở gần Chùa Ấn Quang.

Hai ngày sau người thanh niên đó đến t́m tôi ở địa chỉ này và đưa cho tôi một gói trong đó có hai bộ quần áo. Người thanh niên đó nói rằng Chính Phủ đang bắt nhiều Sư và Ni cô. Người ấy nói nếu tôi ra đường tôi nên mặc loại quần áo này để khỏi bị nhận ra là Phật Giáo. Người ấy cũng bảo tôi nên đổi chỗ ở. Anh bảo tôi nên đến ở Chùa Từ Vân ở Đường Thái Lập Thành ở Gia Định, để tôi có thể trốn Chính Quyền lúc đó đang bắt Sư. Do đó tôi đến Chùa Từ Vân.

Ngày 22.10, người sinh viên đó lại t́m tôi và lần này anh ấy nói rằng tên anh là Linh.  Anh nói Hội Sinh Viên Phật Giáo đă đổi danh xưng và đổi quan hệ. Anh nói tổ chức mới này làm cho cộng sản. Ngày 23.10 tôi được chở taxi đến một Nhà Trường (trang 115) Trường Thị Lang ở Phú Nhuận. Tôi được dẫn đến một hồ bơi và ở đó gặp hai người. Người đầu tên là Thanh và người thứ hai là một nhà Sư trá dạng là dân thường mang một cái mũ ni lông. Họ nói họ rất vui gặp tôi. Họ cũng nói rằng Phái Bộ Liên Hiệp Quốc sắp đến Việt Nam để điều tra về bang giao giữa Chính Phủ và Cộng Đồng Phật Giáo. Họ nói với tôi họ cần mười người t́nh nguyện và họ muốn biết tôi có nhận làm một trong mười người đó không.

Tôi nhận v́ tôi rất xúc động về những tin tức mà tôi đă nghe trước đó về Chính Phủ ngược đăi các Sư. Tôi nghĩ rằng số phận tôi rốt cuộc rồi cũng sẽ như vậy. V́ vậy tôi nhận lời.

Họ nói với tôi rằng tôi sẽ chết cho chính nghĩa Phật Giáo. Khi tôi chấp nhận họ rất vui mừng. Họ cũng nói với tôi rằng một Sư tên là Phan Mỹ sẽ tự thiêu trước Nhà Thờ Ḍng Chúa Cứu Thế và một người khác trước Nhà Thờ Tân Định ở Đường Hai Bà Trưng. Họ nói tôi tự thiêu vào ngày Lễ Quốc Khánh v́ lúc đó sẽ có đông người, kể cả đại diện của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc.

Tôi hỏi họ làm sao tôi vào khu đó được v́ khuôn viên làm lễ bị ngăn chận. Họ bảo tôi đừng lo, nhóm khuyến khích tự thiêu sẽ sắp đặt tất cả mọi việc cho tôi. Tôi hỏi sắp đặt thế nào và họ trả lời rằng ngày 26.10 họ sẽ đưa cho tôi một bộ đồ trắng và một áo cà sa vàng tẩm xăng. Họ sẽ cấp cho tôi một cái ô tô dán nhăn hiệu cho phép nó vào trong khuôn viên. Khi ô tô đến đó tôi cứ bước ra một cách tự nhiên và ô tô sẽ đi chỗ khác. Tôi sẽ ngồi xuống, mặc áo cà sa vào, quẹt một cây diêm và tự đốt. Trước đó họ sẽ đưa tôi vài viên thuốc để tôi khỏi cảm thấy đau đớn. Xong, họ bảo tôi đi đi. Họ đưa cho tôi 100 đồng để đi xe.

Ngày 24.10, người sinh viên lại đến Chùa Từ Vân đưa cho tôi ba bức thư. Một gởi cho Tổng Thống. Thơ này đ̣i tự do Tôn giáo, trả tự do cho các sinh viên, Sư, Ni cô bị bắt. Thư thứ hai gởi cho Chánh Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa ở Chùa Ấn Quang. Thơ này buộc tội Thích Thiện Hoa đă phản bội Sư, Ni cô và Phật Tử. Thư thứ ba gởi cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc, giải thích tại sao tôi tự vận. Những bức thư này viết sẵn trước và họ bảo tôi kư. Tôi không do dự ǵ, tôi kư ngay.

Sáng 25.10. tôi bị cảnh sát bắt trước khi người sinh viên đến đón tôi và đưa tôi đi chỗ khác.

Trong xe Cảnh Sát tôi thấy một người tên là Hải mà tôi biết trước kia ở Chùa Xá Lợi.  Tôi có thấy anh ta ở Đường Chi Lăng ngày 23. Lúc đó tôi và anh ấy chào nhau và tôi nói với anh là tôi sẽ không gặp mấy anh nữa sau ngày 26. Chỉ khi xe đến Tổng Nha Cảnh Sát tôi mới hiểu rằng người đă báo Cảnh Sát là ông Hải.

Ở đó, tôi bị để một ḿnh trong một căn pḥng và sau đó họ đem tôi ra và giải thích cho tôi biết là không có vị Sư nào bị Chính Quyền giết chết, rằng chẳng có chuyện đánh đập tàn bạo và toàn bộ chuyện mà tôi đă nghe là chuyện láo. Tôi nói với Cảnh Sát rằng tôi đă bị lừa và nay tôi hiểu t́nh h́nh. Cho nên, tôi gởi một bức thư cho Tổng Thống để xin lỗi và nói cho ông ấy biết về bức thư mà tôi đă gửi cho ông. Tôi cũng gửi một bức thư cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc. V́ nay tôi đă thấy rơ sự việc, nên tôi không c̣n có ư định tự vận nữa. (trang 117).

Những chuyện tra tấn và đánh đập gán cho Chính Phủ

Ông Gunewardene: ‘’Ông bị Cảnh Sát bắt giữ khoảng một tuần... Họ đối xử với ông thế nào? Họ có cho ông ăn uống tử tế không?’’

Nhân Chứng số 8: ‘’Có. Họ đối xử với tôi tử tế. Họ cấp cho tôi loại thức ăn mà tôi yêu cầu. Tôi không thích đồ mặn và họ cấp cho tôi thức ăn không bỏ muối. ’’

...

Ông Gunewardene: ‘’Ông có bị đánh đập không?’’

Nhân Chứng: ‘’Không’’ (trang 118)

...

Ông Amor: ‘’Các ông có bị đánh đập không?’’

Một trong những nhân chứng số 11, 12, 13, 14: ‘’Không. Nhưng về những người khác th́ tôi không biết’’. (trang 131)

...

Ông Amor: ‘’Họ có đe dọa các ông nếu các ông nói thiệt về các kêu ca của các ông không?’’

Nhân chứng trên đây: ‘’Không’’ (trang 131)

...

Ông Volio: ‘’Ngày 20 tháng 8. Họ phá hủy bàn ghế của các ông không?’’

Một trong những nhân chứng số 15, 16, 17: ‘’Chúng tôi bị dẫn đi và 12 ngày sau chúng tôi về th́ thấy mọi thứ vẫn ở chỗ cũ’’. (trang 135)

...

Trưởng Phái Bộ: ‘’Họ đối xử các ông thế nào?’’

Một trong ba nhân chứng trên đây: ‘’Chúng tôi không bị hành hạ. Nhưng về những người khác th́ tôi không biết. ’’

Trưởng Phái Bộ, hỏi một người khác: ‘’C̣n ông th́ sao?’’

Nhân Chứng: ‘’Tôi cũng không. Họ bảo chúng tôi đi và chúng tôi đi, chúng tôi tuân lệnh’’(trang 137).

Một số nhân chứng Phật Giáo không đỗ lỗi cho Chính Phủ

Ông Gunewardene: ‘’Năm 1957. Chính Phủ bảo Phật Giáo đừng làm lễ Phật Đản nữa,  có đúng không?Ông có nhớ không?’’

Nhân chứng số 22 hoặc 23: ‘’Không đúng. Lúc đó tự do. Chỉ sau ngày 8.5 mới có rắc rối’’.

...

Ông Gunewardene: ‘’Người ta không nghĩ rằng các sư trẻ phải đi lính v́ họ đă tuyên thệ không sát sinh?’’ (trang 156).

Nhân chứng số 22 hoặc 23: ‘’Khi họ được gọi đi lính, một số đă xin miễn và một số đă được miễn.  Các người khác không được’’. (trang 156)

...

Ông Gunewardene: ‘’Nhưng đó là ép lính và tùy ở Chính Phủ?’’ (trang 156)

Nhân Chứng: ‘’Phải, một số bị ép lính, một số xin hoăn lại’’.  (trang 156)

Ông Gunewardene: ‘’Anh có chấp nhận điều này không?’’

Nhân chứng: ‘’Không, không khi nào’’ (trang 156)

Ông Koirala: ‘’V́ Phật Giáo ghê tởm bạo lực?’’

Nhân chứng: ‘’Phải, v́ chúng tôi ghê tởm sát sinh. ’’

Ông Volio: ‘’Do đâu ông tin rằng có bất b́nh đẳng?’’

Nhân chứng: ‘’Về luật pháp Gia Tô Giáo và Phật Giáo ngang quyền nhau, nhưng trong thực tế có thể có vài bất b́nh đẳng. Trong cương vị Tôn giáo, họ có những nguyên tắc giống nhau, trong thực tế họ bất b́nh đẳng. ’’

Ông Volio: ‘’Đó là b́nh đẳng ǵ?’’

Nhân chứng: ‘’Trong một số việc, Phật Giáo bị kỳ thị, khi họ xin tiền hoặc xin trợ giúp,  người Công Giáo được trước. ’’

Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi sắp đi viếng các nhà tù. Ông có thể cho tôi tên một số người mà tôi nên gặp ở đó không?’’

Nhân chứng: ‘’Được, tôi sẽ cấp cho Ngài. Ngài cũng nên viếng các Hội sinh viên và Trường Phật Giáo. ’’ (trang 156).

Phỏng Vấn Sinh Viên Bị Giam Giữ

            Phái Bộ viếng Trại Thanh Niên Lê Văn Duyệt ở Sài G̣n, nơi sinh viên bị bắt bị giam giữ. Phái Bộ phỏng vấn ông Giám Đốc Trại cùng sinh viên bị giam giữ ở đó. Họ phỏng vấn 31 sinh viên, 20 họp thành nhóm và 11 sinh viên mỗi người riêng, không có người chứng. Họ t́m giải đáp cho những tội mà người ta gán cho Chính Phủ, bắt bớ bừa băi, ngược đăi, gây thương tích v.v...Các phỏng vấn này rất dài. Ở đây, không chép lại hết được. Chỉ những câu hỏi và lời đáp đặc thù được chọn.

Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi có thể gặp một số sinh viên và nói chuyện với họ được không?’’

            Ông Giám Đốc: ‘’Được, đương nhiên. ’’

            Phái Bộ đi đến một pḥng ngủ tập thể và nói chuyện với một nhóm lối 20 sinh viên.  Đáp lời yêu cầu của ông Trưởng Phái Bộ. Ông Giám Đốc và tất cả các giáo viên đều rời pḥng.

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi là một Phái Bộ của Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi đă nói chuyện với ông Giám Đốc và ông ấy đă cung cấp cho tôi một số tin tức. Bây giờ, chúng tôi muốn hỏi mấy cậu một số câu hỏi. ’’

               Ông Ignatio Pinto: ‘’Các cậu có bao nhiêu người?’’

            Sinh viên A: ‘’65, nhưng tôi không chắc. ’’

            Trưởng Phái Bộ(hỏi một trong số sinh viên): ‘’Cậu bị bắt ngày nào?’’

            Sinh viện B: ‘’Ngày 19.9.1963’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu bị bắt ở đâu?’’

            Sinh viên B: ‘’Ở ngoài phố, trong khi tôi ra khỏi nhà. ’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Tại sao cậu bị bắt?’’

            Sinh viên B: ‘’Tôi chống Chính Phủ’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Tại sao cậu chống Chính Phủ?’’

            Sinh viên B: ‘’Tôi có mục tiêu chính trị riêng. ’’

            Trưởng Phái Bộ (hỏi một sinh viên khác) : ‘’Cậu bị bắt ngày nào?’’

            Sinh viên C: ‘’Ngày 10.9.1963’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Có phải Cậu bị bắt ở Trường không?’’

            Sinh viên C: ‘’Không tại nhà tôi, lúc 1 giờ sáng. ’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Tại sao Cậu bị bắt?’’

            Sinh viên C: ‘’V́ tôi có mục tiêu chính trị, tôi chống Chính Phủ. ’’

            Trưởng Phái Bộ : ‘’Cậu thuộc Tôn Giáo nào?’’

            Sinh viên C: ‘’Tôi theo Phật Giáo’’

            Trưởng Phái Bộ: ‘’Những mục tiêu của Cậu có liên quan đến Tôn Giáo của Cậu không?’’

            Sinh viên C: ‘’Không liên quan ǵ cả. ’’

Trưởng Phái Bộ cho sinh viên xem một số danh sách có ba tên sinh viên và hỏi có ai biết họ không?

            ...

            Sau đó, Phái Bộ quyết định gặp các sinh viên riêng từng người thay v́ chung nhóm.  Phái Bộ đi qua một pḥng khác và gặp sinh viên mỗi người riêng.

Ông Gunewardene: ‘’Cậu là người Huế?’’

Nhân chứng số 24: ‘’Không, tôi là sinh viên Sài G̣n ‘’

Ông Gunewardene: ‘’Có bao nhiêu sinh viên ở Sài G̣n bị bắt sau các cuộc biểu t́nh?’’

Nhân chứng: ‘’Có thể là vài trăm người. Tôi không biết chắc. Trong số đó chỉ có một số  ít bị giam giữ lại. Họ là những người cầm đầu. C̣n th́ được thả về. ’’ (trang 169)

...

Ông Gunewardene: ‘’Cậu nói cho tôi biết, là Phật Tử, Cậu có bất măn về những ǵ?’’

Nhân chứng: ‘’Là Phật Tử, bất măn của tôi là Phật Giáo bị áp bức. ’’

Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu cho thế nào là áp bức? Sự áp bức này thể hiện thế nào?’’

Nhân chứng: ‘’Tôi muốn nói rằng cá nhân tôi không bị ngược đăi, nhưng khi tôi đến Chùa để cầu nguyện, tôi trà trộn với Phật Tử và hậu quả là tôi có thể bị bắt v.v...Và lại có cuộc rắc rối ở Huế tiếp theo sự từ chối phát thanh tuyên bố trên đài...Sau đó Phật Giáo nổi lên chống lại quyết định đó và Quân Đội dùng xe thiết giáp và khí giới viện cớ là cuộc xáo trộn là do việt cộng.’’ (trang 170)

...

Ông Volio: ‘’Cậu có liên hệ ǵ về chính trị không?’’

Nhân chứng số 25: ‘’Không’’

Ông Gunewardene: ‘’Tại sao cậu bị bắt?’’

Nhân chứng: ‘’V́ họ nghi rằng sinh viên gây ra lộn xộn. Tôi bị bắt v́ t́nh nghi. ’’

Ông Gunewardene: Cậu có bị đánh đập không?’’

Nhân chứng: ‘’Tôi không bị đánh, nhưng anh tôi bị. ’’

Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu có phải là Phật Giáo không?’’

Nhân chứng số 26: ‘’Tôi là Phật Giáo. ’’

Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu bị bắt khi nào?’’

Nhân chứng: ‘’Ngày 28.8. ’’

Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu có tham gia biểu t́nh không?’’

Nhân chứng: ‘’Có’’

Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu có bị đánh đập không?’’

Nhân chứng: ‘’Không’’. (trang 171)

...

Trưởng Phái Bộ: ‘’Phật Giáo ở xứ này Các vị coi như thua kém Công Giáo, Cậu có nghĩ như vậy không?’’

Nhân chứng: ‘’Về phía Chính Phủ th́ không có như vậy, nhưng trong một vài trường hợp có sự thiên vị. ’’

Ông Costa: ‘’Ngược đăi thể hiện như thế nào?’’

Nhân Chứng: ‘’Dùng danh từ ‘’ngược đăi’’ có lẽ quá đáng, có thể là gây phiền hà, khi họ thay đổi giờ đọc kinh, thay đổi diện mạo các chùa. Nói rằng gây phiền hà trong việc hành đạo có lẽ đúng. ’’

...

Ông Costa: ‘’Cậu có nghĩ rằng có sự xâm nhập của cộng sản vào phong trào Phật Giáo không?’’

Nhân chứng: ‘’Ta có thể chia sinh viên thành hai nhóm: Một nhóm ủng hộ mục tiêu Phật Giáo và một nhóm bị ảnh hưởng bên ngoài, nhưng cũng chỉ một số ít thôi, tuy vậy cũng có người lợi dụng t́nh h́nh.’’ (trang 173)

...

Trưởng Phái Bộ: ‘’Trong lúc Cậu bị bắt và sau đó, Cậu có bị tra tấn hay đánh đập không?’’

Nhân chứng số 29: ‘’Tôi không bị đánh đập, nhưng tôi nghe nói rằng bạn tôi bị đánh.’’ (trang 175)

...

Ông Koirala: ‘’Cậu bị bắt ngày nào và ở đâu?’’

Nhân chứng số 30: ‘’Ngày 7.10.  tại nhà tôi’’

Ông Koirala: ‘’Tại sao anh bị bắt?’’

Nhân chứng: ‘’Tôi là thành viên của nhóm chống Chính Phủ. Không phải là một tổ chức, nhưng một nhóm bàn về chính trị, không phải chỉ Tôn Giáo. Tôi thích chính trị hơn... ’’ (trang 175)

...

Ông Amor: ‘’Cậu bị bắt ở đâu vào lúc nào?’’

Nhân chứng số 31: ‘’Tôi bị bắt tại nhà tôi, ngày 7.10’’.

Ông Amor: ‘’Cậu có bị đánh đập không?’’

Nhân chứng: ‘’Không’’(trang 179)

Ông Amor: ‘’Cậu có biết người thanh niên nào bị đánh đập tra tấn không?’’

Nhân chứng : ‘’Tôi nghe có vài người bị đánh’’ (trang 179)

...

Ông Amor: ‘’Cậu là Phật Giáo?’’

Nhân chứng số 34: ‘’Tôi không phải là Phật Giáo mà tôi cũng không phải là Công Giáo. Tôi không theo Tôn Giáo nào cả. ’’

Ông Correa da Corsta: ‘’V́ lư do nào Cậu bị bắt?’’

Nhân chứng: ‘’Tôi không phải cộng sản. Tôi bị rắc rối v́ tôi có mục tiêu chính trị. ’’

...

Ông Ignacio Pinto: ‘’Cậu có bị đánh đập không?’’

Nhân chứng: ‘’Trường hợp tôi là trường hợp đặc biệt. V́ người ta biết tôi là lănh tụ một nhóm chính trị nên không khi nào tôi bị đánh... ’’

Vấn Đề Thương Tích và Tra Tấn

Phái Bộ viếng Nhà Thương Duy Tân để t́m biết xem có nạn nhân của bạo lực và tra tấn trầm trọng không. Họ được ông Phó Giám Đốc Nhà Thương tiếp. Bản Phúc Tŕnh ghi như sau:

...

Ông Amor:... ‘’Chúng tôi nghe rằng trong những vụ lộn xộn về Phật Giáo gần đây có vài tu sĩ Phật Giáo bị thương trong lúc xảy ra lộn xộn ngay sau đó và họ đă điều trị tại Nhà Thương của ông. Họ c̣n đây không?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Lúc này, có một người. Có một số phải đưa vào nhà thương và chúng tôi đă cho họ về khi thấy họ đă b́nh phục...’’

Ông Amor: ‘’Sau các cuộc biểu t́nh có bao nhiêu người?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Ngày 20.8. có 5 vị sư và 4 ni cô’’

...

Ông Amor: ‘’Có ai bị trúng đạn không?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Không’’

Ông Amor: ‘’Trong số Ni cô và Sư  mà ông điều trị, có ai ở trong t́nh trạng nguy cập không?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Người bị nặng nhất phải nằm tại bịnh viện 60 ngày và người nhẹ nhất 3 ngày. ’’

Ông Amor: ‘’Có ai bị thương v́ đạn không?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Không’’

Ông Amor: ‘’Có ai bị bỏng không?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Không’’

Ông Amor: ‘’Ông có biết họ thuộc về một Chùa hay họ ở Chùa nào đến?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Theo Cảnh Sát th́ họ đến từ Chùa Xá Lợi’’(trang 168)

Ông Koirala: ‘’Phần lớn vết thương nào ở phần cơ thể họ?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Ở phía chân, gót, cổ chân, bàn chân. Không có thương tích ở phần trên cơ thể.’’

Ông Amor: ‘’Có bị thương hơi nước mắt hay hơi khác?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Không’’

Phó Giám Đốc: ‘’Quư vị hỏi tôi về thương tích của các Sư  và Ni cô. Tôi phải có bổn phận phải nói thêm rằng chúng tôi cũng đă nhận điều trị Cảnh Sát bị thương. Lúc này chúng tôi đang điều trị 20 người Cảnh Sát...Trong đó có một trường hợp gẫy chân. ’’

Ông Koirala: ‘’Trong số Sư và Ni cô có ai bị gẫy chân không?’’

Phó Giám Đốc: ‘’Không’’

Nhân Chứng Tự Nguyện và Thông Báo (commmunications)

Ngoài 35 nhân chứng kể trên đă làm chứng theo lời yêu cầu của Phái Bộ. c̣n 11 nhân chứng nữa (số 36-47) đă đến gặp Phái Bộ với tư cách t́nh nguyện. Những người này có thể chia làm hai nhóm: Nhóm lập lại những tội gán cho Chính Phủ và nhóm phủ nhận những gán tội đó. Những tuyên bố của các nhân chứng này rất dài (53 trang, 187-240). Trong giới hạn bài này không thể lập lại những tuyên bố của toàn thể nhân chứng được. Nhưng may thay, việc này không cần thiết v́ những lời tuyên bố của những người này không khác những lời tuyên bố của 35 người trước bao nhiêu. Một điều đáng ghi ở đây là một số nhân chứng không đồng quan điểm với những Phật Tử đă gán cho Chính Phủ hành hạ Phật Giáo lại là Phật Tử. Ví dụ: Nhân chứng số 36 (trang 187 và tiếp theo) hay số 38 (trang 198 và tiếp theo).

Phần khác, Phái Bộ nhận được 116 thông báo (communications) của cá nhân, nhóm hay tổ chức. Trong số đó, 49 thông báo nhận được ở Việt Nam và 67 thông báo tại Trụ Sở Liên Hiệp Quốc ở New York.

Cũng như các trường hợp nhân chứng kể trên, các Thông báo này nói ngược nhau. Theo Phái Bộ trong số 116 Thông Báo. 54 Bản chứa ‘’ít hoặc nhiều’’ tuyên bố với nhiều chi tiết gán hay phủ nhận rằng Chính Phủ kỳ thị hay ngược đăi Cộng Đồng Phật Giáo ở Việt Nam.

Phái Bộ gom các Tuyên Bố trên đây thành 5 loại:

1. Những tội gán cho Chính Phủ trước ngày 8.5.1963.

2. Những tội gán cho Chính Phủ về rắc rối ngày 6-8.5.1963 ở Huế.

3. Những tội gán cho Chính Phủ trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1963.

4. Những tội gán cho Chính Phủ về những lư do ngược đăi Phật Giáo.

5. Các Thông Báo phủ định những tuyên bố gán cho Chính Phủ tội kỳ thị hay ngược đăi Cộng Đồng Phật Giáo.

Tưởng cũng nên ghi rơ rằng trong phần này, cũng như trong toàn bộ Phúc Tŕnh Phái Bộ nhất quán dùng danh từ allegation (gán cho, đổ cho) khi nói về những tuyên bố chống Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm.

Phần khác Phái Bộ nói:

‘’Phái Bộ không có phương tiện và thời gian để kiểm chứng tất cả những tội gán cho Chính Phủ trong những Thông Báo đó. Nhưng Phái Bộ căn cứ trên nội dung của những Thông Báo đó để lập lên danh sách những nhân chứng sẽ phỏng vấn được tường thuật ở nơi khác trong Phúc Tŕnh này’’. Như đă thấy, Phái Bộ được Chính Phủ Việt Nam hoàn toàn hợp tác làm dễ dăi trong mọi việc, để cho họ hoàn toàn tự do đi lại,  lựa chọn nhân chứng và phỏng vấn trong kín đáo.

Tưởng cũng nên nói thêm rằng tuy vậy báo chí Mỹ vẫn xuyên tạc hô lên là Chính Phủ Việt Nam cản trở công việc điều tra của Phái Bộ, đặc biệt là ém nhẹm Thông Báo của Phái Bộ kêu gọi nhân chứng gặp Phái Bộ hay gởi Thông Báo cho Phái Bộ, khiến cho ông Trưởng Phái Bộ phải ra Thông Cáo ngày 26.10 để phủ nhận những tin thất thiệt ác ư đó.

Phái Bộ cũng ghi nhận điều sau đây:

‘’Phái Bộ đă ghi tên một số sư và sinh viên mà người ta tố rằng họ đă bị bắt giữ, bắt cóc hay bị giết. Nhưng thời gian sau, Phái Bộ đă phỏng vấn được các vị Thích Trí Thủ, Thích Quảng Liên, Thích Tâm Giác, Thích Thiện Minh, mà một số Thông Báo nói là đă bị giết. Phái Bộ cũng phỏng vấn được một số sinh viên mà vài Thông Báo đă nói mất tích.’’ (trang 248).

III Kết Luận

            Bản Phúc Tŕnh làm xong và có thể phát vào ngày 7.12.1963. Nhưng, như Thượng Nghị Sĩ Dodd, nó không được người ta biết đến cho đến khi có vài kư giả xông xáo nắm được nó.  Như đă thuật ở trên một lư do đáng kể là Đại Sứ Lodge đă can thiệp với Đại Sứ Gunewardene, Đại Diện Ceylon, ém nhẹm nó đi, đừng đưa nó ra bàn thảo ở Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Ông Gunewardene đă làm theo lời yêu cầu của Lodge và v́ vậy măi tới năm 1988, sự ém nhẹm này mới được phanh phui ra, nhờ Bà Anne Blair, một học giả người Úc viết về  ông Lodge. Bà Blair biết được sự ém nhẹm này là nhờ con gái của ông Gunewardene.

Cũng dễ hiểu tại sao Lodge t́m cách ém nhẹm Bản Phúc Tŕnh này. Lư do là Bản Phúc Tŕnh này rất đầy đủ và vô tư công bố sự thực về vụ Phật Giáo. Nếu người ta đọc được Bản Phúc Tŕnh này th́ có hai dữ kiện sẽ được đưa ra ánh sáng:

            1. Báo chí Hoa Kỳ đă bóp méo sự thật và chính quyền Hoa Kỳ đă bưng bít sự thật về vụ Phật Giáo.

            2. Trong khi đó có một số hành động có tính cách kỳ thị đối với Phật Giáo ở một vài nơi ở cấp Địa Phương ở một số Tỉnh Trung Phần, đặc biệt là Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên... ’’, tuyệt nhiên Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm không hề có chính sách đàn áp và kỳ thị đối với Phật Giáo.

            Hai khía cạnh nói trên đă được nhấn mạnh bởi Thượng Nghị Sĩ Dodd, người mà có thể nói là đă khám phá ra Phúc Tŕnh và ông Volio Jimenez, Đại Sứ Đại Diện Costa Rica, một trong những Thành Viên của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc Thu Thập Dữ Kiện ở Nam Việt Nam và người đă đưa ra kiến nghị ngày 13.9.1963 lên án Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm.

Tưởng cần nhắc lại vài tuyên bố quan trọng của hai ông trên đây, trích trong bức thư của Thượng Nghị Sĩ Dodd gởi cho Ủy Ban Tư Pháp của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ, mà tôi đă tŕnh bày với các bạn trong dịp lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đ́nh Diện năm ngoái (2000)

Thượng Nghị Sĩ Dodd nói:

            ‘’Tuy rằng Bản Phúc Tŕnh này chủ yếu chỉ tŕnh bày dữ kiện (lời khai của nhân chứng và tài liệu) không đưa ra kết luận chính thức của Ủy Ban Liên Hiệp Quốc, tôi tin rằng bất cứ người khách quan nào có đọc nó cũng phải kết luận rằng báo cáo về (Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm) khủng bố Phật Giáo một cách quy mô, quá lắm chỉ là một sự thổi phồng quá mức và ít nhất là tuyên truyền bẩn thỉu và gian lận. ’’

‘’Đại Sứ Volio nói với tôi rằng sau hai tuần điều tra ráo riết tại Việt Nam, ông đi đến kết luận là những lời buộc tội chế độ Diệm tại Liên Hiệp Quốc không có căn cứ, không chấp nhận được, ông nghĩ rằng những bằng cớ chất đống không cho thấy rằng có sự kỳ thị về Tôn Giáo hay xâm phạm tự do Tôn Giáo. ’’

‘’Chúng ta đă được báo cáo rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă khủng bố Tôn Giáo một cách tàn nhẫn đến nỗi những sư vô tội đă bị dồn vào thế phải tự vận để phản đối. Nhưng nay ta thấy sự thật không phải vậy, sự thật là không hề có khủng bố, hay chỉ thổi phồng quá mức và cuộc khuấy động mang tính cách chính trị. ’’

            ‘’Phái Đoàn không đi sâu vào động cơ chính trị của những người dẫn đầu cuộc khuấy động của Phật Giáo. Nhưng tôi nghĩ rằng giải đáp cho câu hỏi này đă được Thích Trí Quang,  người lănh tụ Phật Giáo số 1 đă lănh nạn trong Ṭa Đại Sứ Mỹ, nói với Bà Marqueritte Higgins’’ (xin xem chi thiết này ở phần phụ bản).

Và dưới đây là tuyên bố của Đại Sứ Volio Jimenez:

‘’Cảm tưởng của tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật Giáo trên căn bản Tôn Giáo. Những khai báo về phương diện này thường là nghe nói, và tŕnh bày một cách mơ hồ và tổng quát...

Mỗi khi một nhân chứng gắng t́m một bằng chứng cụ thể nào để tŕnh Phái Bộ, rốt cuộc sự kiện chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay cá nhân. Căn cứ trên bằng chứng Chính Quyền (Ngô Đ́nh Diệm) không có chủ trương chính sách chống Phật Giáo v́ lư do Tôn Giáo.’’

Ngày nay, Tại Đại Hội Liên Hiệp Quốc, với Đại Diện hơn 100 Quốc Gia từ khắp nơi trên Thế Giới, sự thật về tại sao có sự va chạm ngày 8.5.1963 ở Huế và các vụ tự thiêu được làm sáng tỏ và Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă được minh oan.

Tôn Thất Thiện

Tháng 11 năm 2001

PHỤ BẢN I

Phỏng Vấn Bà Marqueritte Higgins với Thích Trí Quang

Marqueritte Higgins

Our Vietnam Nightmare

Harper and Row, New York 1965, Chapter 2: ‘’Machiavelli With Incense’’

               Trong bức thư mà Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd gởi cho Ủy Ban Tư Pháp của Thượng Nghị Sĩ, ông ta đề cập đến cuộc phỏng vấn của Kư giả Marqueritte Higgins với Thích Trí Quang. Cuộc phỏng vấn đó xảy ra vào giữa tháng 7.1963 tại Chùa Xá Lợi. Nó như sau:

‘’Ở Sài G̣n khả năng khuấy động t́nh h́nh không ngớt của Phật Giáo (và chiếm tít lớn trên các báo quốc tế) h́nh như vô tận.

            Bộ óc điều khiển tất cả là Thích Trí Quang, con người khó hiểu mà tôi từng được nghe tên cho đến khi ông ta triệu tôi đến gặp ông buổi tối ngày thứ ba ở Sài G̣n (giữa tháng 7.1963). Ông gọi tôi đến Chùa Xá Lợi để đưa một thông điệp để chuyển cho Tổng Thống Kennedy. (trang 24)

            Tại Khách Sạn Caravelle người gác cửa chận tôi lại để đưa tôi một thông điệp nói rằng tôi được người của một phát ngôn viên của Chùa Xá Lợi triệu tôi đến Chùa ‘’để gặp vị Sư quan trọng hơn cả’’. Thông điệp nói rơ rằng tôi phải đến một ḿnh, không đem theo người thông dịch của tôi. (trang 25).

            Một Sư trẻ, làm thông dịch giới thiệu tôi với Thích Trí Quang, nói rằng: ‘’Vị này là vị lănh tụ quan trọng nhất của chúng tôi và Thích Trí Quang rất ít khi  tiếp nhà báo. Nhưng v́ bà là người Đại Diện cho Ṭa Bạch Ốc.

M. Higgins: ‘’Tôi không Đại Diện cho Ṭa Bạch Ốc. Tôi được phép ra vào Ṭa Bạch Ốc. ’’

            ‘’Chính v́ thế’’, người thông dịch trẻ nói và đắc chí lấy cái thẻ Ṭa Bạch Ốc của tôi đưa cho Thích Trí Quang xem. Ông này gật đầu một cách từng trải.

            ‘’Bà được phép ra vào Ṭa Bạch Ốc’’, người trẻ nói lại, ‘’Và v́ bà chỉ ở đây một thời gian ngắn, chúng tôi có một thông điệp để bà mang về cho Tổng Thống Kennedy...’’

            Cuộc đàm thoại (với Thích Trí Quang) là một cuộc đàm thoại lạ thường, kéo dài hai giờ rưỡi... ’’

            (Bà Higgins nhắc đến những cuộc họp báo của Kennedy)

               ‘’Nhưng trong cuộc họp báo chót’’, Thích Trí Quang nói, ‘’Tổng Thống Kennedy nói quá thuận lợi cho Tổng Thống Diệm...Chúng tôi có lư do tin rằng Tổng Thống Kennedy không đứng về phía chúng tôi, và chúng tôi không hiểu được!’’

Trong khi tôi đang cố hiểu tuyên bố lạ kỳ này, Thích Trí Quang nhẹ nhàng nói tiếp: ‘’Ngoài ra, nếu có vẻ kết hợp với những hành động của Diệm th́ Tổng Thống Kennedy sẽ làm một việc hết sức không khôn ngoan, chẳng hạn sẽ có nhiều vụ tự thiêu nữa. Không phải chỉ một hay hai, mà mười, hai mươi, có thể năm mươi vụ. Tổng Thống Kennedy nên nghĩ đến điều ấy. V́ những biến cố đó sẽ bôi đen uy tín của Tổng Thống Kennedy cũng như của Diệm.

            ‘’Có phải ông đang bảo tôi chuyển những đe dọa đó để bức ép Tổng Thống Hoa Kỳ không?’’ Tôi nói một cách hơi nóng.

            ‘’Không đâu’’, Thích Trí Quang nói ‘’Tôi chỉ nói cho bà biết những ǵ sẽ xảy ra thôi...’’ (trang 27)

Câu hỏi sau đó là tiếp tục xung khắc giữa Phật Giáo và Chính Phủ có thể làm cho xứ sở yếu đi và tạo điều kiện cho cộng sản chiếm quyền một cách dễ dàng không?’’

            ‘’Có thể nó sẽ giúp cộng sản thắng’’, Thích Trí Quang công nhận.

            ‘’Nhưng’’, tôi cắt ngang, ‘’Ông có ư thức rằng những ǵ sẽ xảy ra cho Phật Giáo nếu cộng sản chiếm quyền không?’’

            ‘’Nếu cộng sản chiếm quyền’’, Thích Trí Quang nói, ‘’đó là lỗi của Diệm, không phải lỗi chúng tôi’’. Ông nói thêm: ‘’Phần khác, chúng ta không thể đi đến một thỏa hiệp với miền Bắc được trước khi chúng ta loại bỏ Diệm và Nhu. ’’ (trang 29)

            Bà Higgins nhận xét: ‘’Có một cái ǵ mang tính Machiavel ở ông Sư này, một thứ Machiavel với hương.’’ (trang 30).

PHỤ BẢN II

Đấu  tranh và tự thiêu được sắp xếp trước

            Xuất xứ: Phật Giáo Việt Nam (L.A.) Số 102, tháng 10 năm 1967,  trang 20-30

Trong bài phỏng vấn với bà Higgins có câu:

‘’Thích Trí Quang nhẹ nhàng nói tiếp: ‘’Ngoài ra, nếu có vẻ liên kết với Diệm th́ Tổng Thống Kennedy sẽ làm một  việc hết sức không khôn ngoan v́ chẳng hạn sẽ có nhiều vụ tự thiêu nữa. Không phải chỉ một, hai, mà mười, hai mươi, có thể năm mươi vụ. ’’

Ư nghĩa của lời tuyên bố trên đây được một tài liệu khác soi sáng. Đó là một tài liệu xuất xứ từ giới Phật Giáo, tạp chí Phật Giáo Việt Nam. Tài liệu đó nói như sau:

‘’Trong cuộc đấu tranh bảo vệ tự do Tín Ngưỡng dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, Bà (Sư Bà Diệu Không) tham dự từ đầu, lời kêu gọi của Chư Tôn lănh đạo Phật Giáo Huế. Đêm ngày 15 rạng ngày 16.4, tại Chùa Từ Đàm một cuộc họp quan trọng được tổ chức dưới sự chủ tŕ của Ḥa Thượng Giác Nhiên, với sự tham gia của Ḥa Thượng Giác Nguyên, Thượng Tọa Mật Hiển, Thượng Tọa Mật Nguyên, Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh và Chư Tôn Phật Giáo Thừa Thiên. Cuộc họp đưa ra một chương tŕnh hành động cụ thể, nêu rơ các nguyện vọng căn bản, đề nghị các phương thức giải quyết và tiên liệu các hậu quả mà điều khó tránh là sự hy sinh gian khổ. Chính  trong buổi họp này, Bà Diệu Không đă không ngần ngại xin Chư Tôn cho phép ḿnh được là đệ nhất cảm tử...Trong khi bà đang nỗ lực định tâm, bái sám...th́ giữa phiên họp của Giáo Hội, Ḥa Thượng Thích Quảng Đức đă thỉnh cầu Chư Tôn Giáo Phẩm Lănh Đạo để cho ‘’chúng tăng lănh trách nhiệm hy sinh bảo vệ chánh pháp và chính Ngài sẽ đem thân làm ngọn đuốc đầu tiên...

Như vậy là những vụ va chạm (khởi đầu với vụ đài phát thanh Huế ngày 8. 5. 1963),  và các vụ tự thiêu (khởi đầu với sự tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức ngày 11.6.1963 đă được sắp xếp ‘’theo chương tŕnh hành động cụ thể’’ từ trước, trong buổi họp tại Chùa Từ Đàm đêm 15.4.1963 vụ va chạm tại Đài phát thanh Huế hơn ba tuần, và vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức gần hai tháng trước khi có Thông Tư của Chính Phủ về vụ treo cờ ngày 6.5.1963.  

 

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM

Phan Thiết

            ‘’Phật Giáo vô t́nh hỗ trợ cho nhóm Tướng lănh lật đổ Tổng Thống Diệm. Và nếu đặt giả thuyết Phật Giáo đứng riêng biệt chống Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm th́ sẽ có nhiều giải pháp ôn ḥa thỏa thuận. Tổng Thống Diệm vẫn tồn tại, không đến nỗi phải chết. C̣n về phía Tướng lănh, không có Phật Giáo đánh vào quần chúng mấy chữ từ bi hỉ xả th́ chắc ǵ dám tụ tập để tấn công Dinh Gia Long...Phật Giáo nổi dậy chống chính phủ. Hội Đồng Tướng lănh lợi dụng Phật Giáo với Đại Sứ Henry Cabot Lodge của người Mỹ yểm trợ, đă kết thúc cuộc đời Tổng Thống Diệm. Tôi là người Phật Giáo dù không thấu triệt đạo lư, nhưng thầm nghĩ rằng cái nhân quả c̣n đó. ’’

Đỗ Thọ, Nhật Kư Đỗ Thọ, trang 18, 236

***

            Tôi viết những lời cầu nguyện này để tâm t́nh với linh hồn Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

            Trọng kính linh hồn Tổng Thống Diệm.

            Anh Đỗ Thọ đă để đời cuốn nhật kư rất có giá trị về cuộc đời anh sống kề cận Ngài.  Tôi quư trọng anh, nhưng không đồng ư với anh về điểm này ‘’Ḷng oán hận của người chết triền miên trên xứ sở này’’. Ư anh muốn nói đến cái chết đau thương, tức tưởi và oan ức của Ngài khiến linh hồn Ngài oán hận triền miên trên Quê Hương Việt Nam.

Do đức tin, tôi biết giờ này trên cơi Hằng Sống của Thiên Chúa, linh hồn Ngài đă được sung măn hạnh phúc và vinh quang của Chúa chiếu tỏa. Ngài đă gia nhập vào hàng ngũ các Thánh trong Giáo Hội Khải Hoàn của nước trời, bởi v́ Ngài đă chết như một vị tử đạo: Họ hận thù Công Giáo Việt Nam, khích động kẻ khác, mượn tay quyền lực ma vương giết Ngài. Chúng nó giận cá chém thớt, Ngài là nạn nhân của ḷng oán hận và kỳ thị Thiên Chúa Giáo. Ngài đă ngă xuống như các Tiền Nhân Tử Đạo Việt Nam chết v́ ḷng mến Chúa để làm chứng cho sự thật và tin yêu trong sự mưu cầu hạnh phúc cho dân nước.

Ngài đă chết như một chiến sĩ ngoài mặt trận khi ném vào mặt Henry Cobot Logde lời này: ‘’Tôi không bỏ được dân tộc tôi’’ và khi cùng đường, cái chết kề ngang tấc, vị Linh Mục Nhà Thờ Cha Tam đề nghị lẫn tránh, Ngài khẳng khái như một chiến sĩ can đảm từ chối ‘’Xin cảm ơn Cha tôi không có tội ǵ với dân và Quốc Gia này, tôi thấy không có lư do ǵ phải lẩn tránh’’.

Chết như một vị tử đạo hiên ngang tiến ra pháp trường để minh chứng t́nh yêu Thiên Chúa và đồng loại. Chết như một chiến sĩ dũng cảm đối diện trước quân thù mà không nao núng. Chết như một chính nhân quân tử, không lẩn tránh để khỏi bị ô nhục và mang tiếng hèn nhát. Cái chết đă làm vinh quang cho Ngài trong ḷng dân tộc này. Cái chết đă tôn vinh Ngài như đấng Thánh Tử Đạo. Chết như thế không thể có hận thù. Nó là hạt thóc phải thối đi, phải mục rữa để trổ sinh cây lúa. Cây lúa sẽ đâm hoa kết trái cho muôn ngàn hạt thóc khác.

Linh hồn Tổng Thống Diệm khả kính,

            Kẻ viết lên những lời kia, chính là kẻ c̣n tắm chuồng lội ao chơi té nước với bạn bè ngày Ngài về nước chấp chánh. Cả một đời tôi chưa một lần diện kiến Ngài ngoại trừ h́nh ảnh. Cả gia đ́nh tôi chưa hề hưởng một ơn huệ riêng dù là nhỏ bé của Ngài và cũng không có ai gia nhập bất cứ một đoàn thể chính trị nào suốt thời Cộng Ḥa. Chúng tôi sống khó nghèo, cha tôi là công chức hạng B, lương tháng không đủ chi dùng trong 30 ngày, mẹ tôi đau mắt gần mù không có tiền chạy chữa. Nhưng mà thôi, cần ǵ những cái nhỏ mọn ấy, được sống trong cảnh thanh b́nh và tạm no đủ của toàn dân miền Nam trong suốt chín năm cầm quyền của Ngài tưởng đă là ơn huệ lớn lao do khả năng và đức độ trị nước an dân của Ngài. Đang khi đó, những kẻ hưởng đặc quyền đặc lợi, sống cạnh ‘’mặt trời’’do Ngài ban cho chúng nó, cho tập thể chúng nó. Chúng nó lên tiếng thóa mạ Ngài, thóa mạ khối dân thầm lặng làm phên dậu cho chế độ miền Nam chống lại cộng sản miền Bắc: ‘’Người Công Giáo di cư, hoạt động xông xáo đặc biệt về mặt chính trị, thứ chính trị giành giựt địa vị danh lợi. Người Thiên Chúa Giáo Bắc Kỳ ‘’to mồm’’, cuồng tín, giáo điều, hẹp ḥi đến độ bất nhân cho nên sau cái chết của ông Diệm, họ vẫn không chịu công nhận tội lỗi và trách nhiệm để trở về ḥa đồng với khối dân tộc’’. (Việt Nam máu lửa quê hương tôi của Đỗ Mậu, trang 934).

Ngài ở trên cơi Hằng Sống Ngài có thể tha thứ được cho những quân ăn cháo đá bát,  cho những kẻ lừa thầy phản bạn, cho những kẻ điêu ngoa nói ngược. Nhưng c̣n chúng tôi,  chúng tôi là những kẻ đang chiến đấu, chúng tôi không thể tha thứ. Tha thứ mà không chỉ mặt chỉ tên chúng nó là tự ḥa đồng với tội ác, bao che tội ác. Chúng tôi đ̣i hỏi lẽ phải và công lư phải được hoàn trả nếu như công lư không thể đền bù được những tổn thất quá to lớn họ đă gây ra cho đất nước này.

Trên cơi Hằng Sống, Ngài đă thấy rơ ḷng dạ của những kẻ kia, thấy rơ ḷng dân mộ mến Ngài. ‘’Đến cơn cả gió mới biết cây cứng mềm’’, dân đă đánh giá Ngài qua những lầm than và khốn khổ họ phải chịu kể từ ngày Ngài bị thảm sát.

Chỉ bảy năm sau cái chết của Ngài, hàng chục ngàn người lũ lượt tưởng niệm công ơn của Ngài. Nhiều nhà Sư cũng nhận ra rằng Ngài rất có công với Đạo Phật. Chùa Phổ Quang chiều 2.11.1970 trước di ảnh của Ngài, các Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni đă làm lễ tưởng niệm Ngài. Trong thời gian ấy, chiến tranh càng ác liệt, tôi ghé thăm vùng biên giới Việt-Miên,  Trại di cư Tầm Long ở Tây Ninh, một bà già lam lũ quê mùa cầm tay tôi dân dấn nước mắt mà nói: ‘’Cháu ơi! Khổ quá cháu ơi! Bao giờ Cụ Ngô về cho việt cộng hết phá’’. Bà già tin Ngài chưa chết và cái khổ giáng trên đầu dân v́ thiếu Ngài. Sau khi việt cộng chiếm miền Nam, tại ngôi mộ của Ngài ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, dù trước mắt cú vọ của công an, dân chúng vẫn đến thăm Ngài, có kẻ đứng xa xa mà giở nón, có kẻ lại gần đặt hương hoa nến sáp. Người gác nghĩa trang nhờ Ngài mà có bổng: Chỉ mộ của Ngài để nhận tiền thưởng của khách viếng mộ. Tưởng nhớ công đức của Ngài không phải là Cần Lao Công Giáo, mà chính là ḷng dân. Người có công bồng Cụ trở lại xă hội đầu tiên là anh Đỗ Thọ. Anh Thọ đă viết: ‘’Tôi nghĩ rằng mai hậu công lao của Tổng Thống Diệm to tát được ca ngợi như Tổng Thống Lincoln của người Hoa Kỳ bị ám sát năm 1865’’ (Đỗ Thọ, Nhật Kư Đỗ Thọ, trang 239).

Hôm nay ngày 2.11.1992, chính là ngày giỗ thứ 29 của Ngài (2.11.2003 là thứ 40 năm giỗ của Ngài), t́nh cờ tập sách này viết đến đây, tôi không hiểu động lực nào run rủi tôi viết những lời này vào chính ngày giỗ của Ngài. Tôi đă khởi công viết tập sách này vào tháng giêng năm nay (92) và định rằng một năm phải hoàn tất, bây giờ là tháng 11, tập sách viết đến đây. Một ngẫu nhiên khác là cách nay 30 năm, Ngài đă nói với những kẻ theo Ngài: ‘’Tôi tiến th́ tiến theo tôi, tôi lùi th́ bắn tôi, tôi chết th́ trả thù cho tôi’’. Ngài c̣n nhắn gởi tên Tướng râu dê mắt lồi là trả thù cho Ngài. Trong Trí Ngài, tôi đọc được ḷng nhân hậu th́ hiểu rằng trả thù là nối tiếp sự nghiệp của Ngài lo cho dân ấm no và ổn định chính trị hầu Nam Việt Nam có thể đương đầu với cộng sản miền Bắc, tên bị thịt ấy chẳng làm nên tṛ trống ǵ. Ba mươi năm sau, một kẻ trùng tên trùng họ với tên Tướng râu dê kia xin làm Tiểu Bao Công trả thù cho Ngài. Trong truyện Tàu, Ngài Bao Công làm quan án đă giải được nhiều mối oan, làm cho những kẻ bị thác oan ngậm cười nơi chín suối và linh hồn được siêu thoát. Hôm nay đây, bằng ng̣i bút này tôi làm sáng cái đức của Ngài trong chân lư và lẽ phải tức là tôi đă trả thù cho Ngài vậy. Tôi đă gần tới tuổi phế thải, tài hèn, đức mọn, thời vận cũng chẳng cho tôi cơ hội giúp dân giúp nước, tôi không có tham vọng ǵ dù tôi yêu thương dân tộc này như chính Ngài đă yêu thương thuở sinh thời. Tôi đốt nén hương ḷng cầu nguyện với Ngài rằng v́ Ngài đă yêu thương đất nước và dân tộc Việt Nam đến hơi thở cuối cùng, đă hiến mạng sống cho kẻ ḿnh yêu th́ trên cơi Hằng Sống Ngài càng phải yêu dân tộc hơn, xin Ngài cầu bầu cho dân tộc này sớm được ḥa b́nh, an lạc, đoàn kết để xây dựng lại một đất nước điêu tàn, mưu cầu phúc lợi cho những thế hệ kế tiếp.

Ngài ơi! Tôi rùng ḿnh khi nghĩ đến tương lai của dân tộc này, tôi chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm cho dù một mai công sản Việt Nam sụp đổ.

Chúng ta sẽ lấy ǵ mà xây dựng đất nước khi tài nguyên thiên thiên chẳng có là bao và chút của cải ít ỏi ấy càng ngày càng bị tiêu ṃn đi v́ đời sống nhân dân quá thấp phải bán ‘’lúa giống’’ đi mà ăn. Đất nước này chỉ có thể nuôi sống 30 triệu người đủ để phát triển, nay đă tăng lên gần 80 triệu người rồi và mức sinh xuất vẫn ở trên 2%. Như thế đến giữa thế kỷ sau dân số Việt Nam sẽ là 200 triệu người. Thật là khủng khiếp, lấy ǵ mà nuôi số người khổng lồ kia, nói chi đến việc tích lũy vốn để đầu tư. Miệng ăn đă phá hủy tất cả khả năng phát triển của xứ sở.

Điểm lại tài nguyên cũng rất đáng lo ngại. Về hầm mỏ và các quặng thiên nhiên dùng cho kỹ nghệ th́ trữ lượng chẳng có là bao và với đà khai thác này rồi sẽ hết. Dầu mỏ chưa thấy triển vọng ǵ. Chung quy chỉ c̣n có canh nông. Những năm gần đây, nhờ thay đổi chính sách quản lư và phương cách sản xuất, để cho tư nhân được tự do sử dụng đất đai, nhà nước việt cộng đă đưa ra những số liệu lạc quan, mỗi năm số ngũ cốc thâu hoạch được ở mức từ 20-23 triệu tấn. Trong số này phải giành ra độ 3 triệu tấn để nuôi gia súc, một triệu tấn gạo cho xuất khẩu. Số c̣n lại quy ra lúa chia đều cho đầu người dân, mỗi người được độ 300 kư thóc, đem xay ra gạo được 150 kg. Mỗi người mỗi năm ăn 150 kư gạo là đói. Dân mà tăng nữa th́ thần chết đứng lấp ló ở cửa ngơ đất nước. Người ta cũng không thể gia tăng diện tích đất canh tác v́ đất đai có hạn và việc phá rừng để làm ruộng rẫy cũng là cách tự sát v́ phá hủy sinh thái của môi sinh.

Trong t́nh cảnh miếng ăn của mỗi người càng ngày càng nhỏ đi th́ người ta sẽ giành giật nhau, đạp lên xác nhau mà sống bất kể đạo đức, luân lư hay lương tâm. Chưa kể hậu quả của chủ nghĩa cộng sản đă phá hủy niềm tin thiêng liêng của con người, biến con người thành con thú. Chỗ dựa c̣n lại là đạo giáo, nhưng nhiều kẻ bất lương đă biến đạo giáo thành món hàng chính trị cho mộng tranh bá đồ vương ở miền Nam trong mấy thập niên trước kia. Họ cũng gian manh và quỷ quyệt như cộng sản th́ c̣n biết trông vào đâu để phục hồi lương tri và lẽ phải của con người, phục hồi Đạo Việt của người Việt.

Những ǵ đang xẩy ra ở các nước vừa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản cũng buộc chúng ta phải suy nghĩ. Ba Lan là nước Công Giáo sau khi cộng sản đổ có hàng trăm đảng phái giành nhau chính quyền, đất nước không thể ổn định được để đi lên phát triển. Nước Nam Tư, dân chúng có cùng một chủng tộc nhưng họ đă giết nhau v́ khác tín ngưỡng. Những ǵ đang xẩy ra ở Sarajevo, Bosnia, Herzegovina, Croatia...làm cho cả thế giới phẫn nộ.

T́nh cảnh này liệu có xẩy ra cho dân tộc Việt Nam sau khi cộng sản sụp đổ không?

Nh́n sang láng giềng, mộng bá quyền của nước Trung quốc đang âm thầm dọn đường bá chủ Đông Nam Á và toàn cơi Á Châu. Việt Nam sẽ là nạn nhân trước tiên của loại đế quốc siêu đẳng này. Thà ta chịu lép người Pháp, người Mỹ dân ta đỡ khổ và c̣n có cơ hội vươn lên. Khả năng lấy thịt của trên một tỷ dân cũng nghèo khó như ta, đè ta th́ ta không thể ngóc lên nổi.

Những ai c̣n chút lương tri đều phải lo lắng khi nh́n về tương lai của dân tộc Việt Nam. Tôi cầu nguyện với linh hồn Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, xin Ngài soi sáng cho những ai c̣n mê muội phải nh́n vào những khó khăn thực tế và những sự nguy hiểm đang đợi chờ dân tộc mà quên đi tham vọng mong cho đảng ḿnh, đạo ḿnh chiếm thế thượng phong quậy nát đất nước này một mai cộng sản việt nam không c̣n. Tất cả chỉ là ảo vọng trước cái chết tập thể nếu những kẻ muốn làm lớn không có thành tâm thiện chí, quên ḿnh v́ đại nghĩa t́m ra lối thoát cho các thế hệ mai sau của đất nước này...

Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh

Đất Việt Người Việt & Đạo Việt

 

 

BỐN MƯƠI NĂM NĂM NGẬM NGÙI

Trương Phú Thứ

            Bốn mươi năm trước đây, vào khoảng lúc 9 giờ sáng ngày 2.11.1963, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă bị bọn phản loạn thảm sát. Cái chết thảm thương của một vị Tổng Thống đạo đức thánh thiện, hết ḷng v́ dân v́ nước đă chấn động lương tâm nhân loại. Cái chết của một vĩ nhân đă làm sửng sốt những người yêu chuộc tự do, công lư và ḥa b́nh thế giới. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă oai hùng hy sinh ngay cả chính mạng sống ḿnh v́ quyền lợi Tổ Quốc và danh dự dân tộc. Cuộc đời của một lănh tụ ngoại hạng đă kết thúc trong đau thương với ḷng thương tiếc vô vàn của bao nhiêu người mến yêu và kính phục. Bài báo này đến tay độc giả th́ khắp nơi trên thế giới tự do chỗ nào có người Việt cư trú đều có những buổi lễ tưởng niệm vị anh hùng dân tộc một ḷng tận tụy với dân với nước. Vẫn có những người nghĩ rằng v́ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là tín hữu Công Giáo nên các Nhà Thờ Công Giáo tổ chức cầu nguyện cho linh hồn người đồng đạo. Đó là một nhận định rất ngờ nghệch. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng là một tín hữu Công Giáo nhưng có ai cho một lời nguyện cầu hay giọt nước mắt tiếc thương. Anh linh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă ở lại với con dân nước Việt và vượt ra ngoài ranh giới tôn giáo và ngay cả thành lũy của chủ nghĩa. Cụ Ưng Thị Mai, một Phật tử đă trên 80 tuổi, hiện sinh sống ở Đam Mạch viết: ‘’tôi không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo và tôi cũng không chịu ơn Cụ Ngô Đ́nh Diệm nhưng tôi rất thương Cụ Diệm v́ trong những năm Cụ Diệm cầm quyền, người dân Việt Nam an cư lạc nghiệp. Tôi có lập bàn thờ Cụ Diệm. Tuần rằm mùng một tôi cúng Phật cũng cúng Cụ Diệm. ’’ Chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh một tên tuổi rất quen thuộc với Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn cộng sản, hiện đang thụ án tại một nhà tù ở Tiểu Bang Texas viết: ‘’Ngọc Hạnh ước mơ có dịp làm chứng những điều mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho tôi. Lúc trước trang b́a báo Văn Nghệ Tiền Phong có đăng bức h́nh trên ngôi mộ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngọc Hạnh dựng tờ báo trên bàn làm bàn thờ tạm trong tù để hằng đêm tôi chiêm ngưỡng cầu nguyện đến đấng anh tài mà tôi một ḷng tôn kính mến thương. ’’

Cho đến ngày hôm nay vẫn c̣n nhiều câu hỏi đặt ra về những giây phút  cuối cùng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Tôi đă được hầu chuyện Cụ Cao Xuân Vỹ, vị Cựu Lănh Tụ Thanh Niên Cộng Ḥa là người duy nhất đă vào Dinh Gia Long để t́m cách đối phó với bọn phản loạn. Tôi cũng đă nhiều lần được nói chuyện với Cựu Đại Tá Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống Nguyễn Hữu Duệ, người đă một ḷng trung  hiếu bảo vệ nền Cộng Ḥa đến khi có lệnh buông súng để tránh đổ máu, v́ Tổng Thống Diệm không muốn nh́n thấy cảnh anh em cùng chiến tuyến quay súng bắn giết lẫn nhau.

Theo Cụ Cao Xuân Vỹ th́ vào buổi chiều tối ngày 1.11.1963, lúc Pháo Binh Sư Đoàn 5 được lệnh của Nguyễn Văn Thiệu nă đạn vào Thành Cộng Ḥa và Trụ Sở Bộ Quốc Pḥng gần sát Dinh Gia Long th́ chính Cụ Vỹ đă đề nghị Tổng Thống Diệm dịch cư. Cụ Vỹ nhấn mạnh dùng chữ dịch cư là đi đến một chỗ an toàn tránh đạn đại bác và hoàn toàn không có nghĩa là chạy trốn. Tổng Thống Diệm cương quyết không đi khỏi Dinh Gia Long. Tổng Thống xác quyết ông được dân bầu lên vào chức vụ Lănh Đạo Quốc Gia và Dinh Gia Long tượng trưng cho uy quyền Quốc Gia với cương vị của một Nguyên Thủ ông có nhiệm vụ và bổn phận phải giữ và bảo toàn uy quyền Quốc Gia trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cụ Vỹ không thuyết phục được Tổng Thống Diệm nên đi ra ngoài Ṭa Đô Chánh. Trong lúc ở Ṭa Đô Chánh, Cụ Vỹ được điện thoại của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu cho biết Tổng Thống Diệm đă đổi ư và bằng ḷng dịch cư. Chắc chắn Tổng Thống Diệm đă nghe lời ông Nhu giải bày hơn thiệt nên mới chấp nhận quyết định lịch sử này. Theo Cụ Vỹ th́ ông Nhu, một chính trị gia uyên bác, lập luận rằng ‘’tất cả những cuộc đảo chánh sau 24 tiếng đồng hồ mà không đạt được mục đích th́ tự nó sẽ rối loạn và thất bại. Bọn phản loạn vào Dinh Gia Long mà không bắt được ông Tổng Thống là sẽ tự đánh đá lẫn nhau rồi chạy trốn. ’’

Ngay sau khi được điện thoại của ông Nhu, Cụ Vỹ vội trở vào Dinh Gia Long để sắp xếp. Tại Dinh Gia Long, Cụ Vỹ điện thoại cho Trung Tá Phước là Phó Đô Trưởng Nội An yêu cầu mang một cái xe vào. Chỉ độ mười phút sau, một sĩ quan mặc thường phục lái chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng vào sân trước Dinh Gia Long và Tổng Thống Diệm, ông Cố Vấn Nhu, Sĩ Quan Tùy Viên Đỗ Thọ đă lên chiếc xe này đi khỏi Dinh Gia Long.

Tôi đă đặt câu hỏi với Cụ Vỹ là tại sao lại mang một chiếc xe loại chở hàng, mà người Tàu ở Chợ Lớn thường dùng để chở lông vịt, chạy chậm và rất yếu để đưa đón Tổng Thống như vậy. Cụ Vỹ nói, Trung Tá Phước nghĩ rằng chắc trong Dinh cần một cái xe để di chuyển chứ đâu biết lấy xe để đưa Tổng Thống đi khỏi Dinh Gia Long. Khi chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng đến th́ Cụ Vỹ lại thấy thích hợp với hoàn cảnh v́ không ai có thể tin rằng Tổng Thống ngồi trên chiếc xe tồi tàn đó. Cụ Vỹ cũng cho biết là cùng đi với chiếc xe chở Tổng Thống c̣n có hai xe cận vệ và một xe truyền tin.

Câu hỏi thứ hai tôi đặt ra với Cụ Cao Xuân Vỹ lư do ǵ lại đưa Tổng Thống đến nhà Tổng Bang Trưởng Mă Tuyên? Cụ Vỹ trả lời: Nhà ông Mă Tuyên ở trong Chợ Lớn, phố xá chằng chịt rất khó t́m. Hơn nữa người Tàu rất kín đáo và trung tín. Khi tiếng súng của bọn phản loạn vừa nổ t́m đâu cũng không ra một ông Bộ Trưởng hay là một người thân cận với Tổng Thống. Cụ Vỹ nói thêm: ‘’mấy thằng Tướng mà Ông Cụ coi như người nhà làm phản hết rồi, các ông Bộ Trưởng trốn như chuột. Vậy th́ c̣n tin được ai nữa.’’ Cụ Vỹ là người quyết định đưa Tổng Thống đến nhà ông Mă Tuyên ở Chợ Lớn. Cụ Vỹ đă không đi cùng với Tổng Thống đến nhà ông Mă Tuyên nhưng sau đó có đến để chắc chắn mọi việc được xếp đặt như dự liệu, thấy Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu b́nh thảm ngồi uống nước trà với Tổng Bang Trưởng Mă Tuyên th́ Cụ Vỹ yên tâm trở về Ṭa Đô Chánh.

Chuyện xảy ra sau đó th́ độc giả đều đă biết là sáng ngày 2.11.1963, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu rời nhà ông Mă Tuyên đến Nhà Thờ Cha Tam dâng thánh lễ. Bọn phản loạn cho xe đến ‘’đón’’ và hai vị khai sáng và lănh đạo Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa đă bị tên Nguyễn Văn Nhung và Dương Hiếu Nghĩa trói quặt tay ra phía sau rồi thảm sát bằng dao găm và súng trong ḷng chiếc xe bọc sắt M-113. Nhung đă tự tử hoặc bị thắt cổ chết khi Nguyễn Khánh chỉnh lư vào ngày 30.1.1964. Nghĩa hiện đang sống ở vùng Tri-Cities thuộc Tiểu Bang Washington.

Cuộc đời của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một mẫu mực của đức tính liêm khiết,  trong sạch và khó nghèo bên cạnh những khả năng vượt bực về hành chánh, chính trị, kinh tế và quân sự. Học giả Vương Hồng Sển trong tác phẩm Hơn Nửa Đời Hư đă diễn tả cảnh sống khó nghèo của Tổng Thống Diệm: ‘’mặc bộ đồ tussor may kiểu áo bốn nút cổ lỗ sĩ, đă trổ vàng v́ quá lâu năm, cổ vai đă xùi’’. Linh Mục Đỗ Minh Tâm hiện giúp một xứ đạo Mỹ tại Saint Paul, kể lại: ‘’lễ xong th́ Tổng Thống và tôi ăn cơm nếp với thịt gà c̣n các Binh Sĩ ăn thịt con ḅ thui. Tổng Thống Diệm cởi giầy ngồi trên cỏ, tôi thấy Ngài mang một đôi vớ rách.’’

Tổng Thống đă được sự nể trọng của các lănh tụ trên thế giới không kể lằn ranh Quốc-Cộng và ḷng kính mến thương yêu đồng bào. Trong chuyến công du Hoa Kỳ vào năm 1958, Tổng Thống Diệm đă được Tổng Thống Eisenhower ra tận sân bay đón tiếp. Đây là một vinh dự rất hiếm hoi mà một vị quốc khách đến Hoa Kỳ được trọng vọng như vậy. Khi Tổng Thống Diệm thăm Thành Phố New York th́ dân Mỹ đứng hai bên lề đường vẫy tay chào đón, những người đứng trên lầu cao thả bông hoa giấy ngợp cả phố phường dưới cổng chào h́nh ṿng cung mang hàng chữ ‘’Welcome President Ngo Dinh Diem’’. Khi nghe tin Tổng Thống Diệm bị thảm sát, trùm cộng sản Mao trạch Đông đă bày tỏ ḷng chân thành ngưỡng mộ và thương tiếc. Đạo đức và uy thế của Tổng Thống Diệm đă vượt qua ngay cả lằn ranh chủ nghĩa.

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, người dân miền Nam đă sống trong những điều kiện ổn định. Chính quyền đă tạo những điều kiện thuận lợi cho người dân có cơ hội phát triển trên mọi lănh vực, tuy nhiên cũng có những hạn chế cần thiết v́ đất nước đang phải đối đầu với hiểm họa cộng sản. Sau ngày Tổng Thống Diệm bị thảm sát, người dân miền Nam đă phải chịu đựng những thống khổ của một cuộc chiến mà những người trực tiếp cầm súng đă không được dự phần vào những định đoạt trên mạng sống của chính họ bên cạnh những nghiệt ngă trầm luân của những vấn đề luân lư xă hội. Bọn tay sai và cai thầu chiến tranh đă tiến hành và nuôi dưỡng cuộc chiến đến khi quyền lợi của chúng được thanh thỏa và cuối cùng là cả dân tộc Việt Nam bị chủ nghĩa cộng sản dày xéo. Bọn cai thầu chiến tranh ở Hoa Thịnh Đốn và bọn khố xanh khố đỏ tay sai ở Sài G̣n đă không có được một tri thức cao hơn gót giầy của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

Một độc giả của Văn Nghệ Tiền Phong, bà Hoa Vũ ở Tiểu Bang New Jersey, người đă mang chân dung Tổng Thống Diệm từ Mỹ về tận Lái Thiêu. Bà Hoa đă đặt bức chân dung trên mộ Tổng Thống Diệm chụp h́nh và sau đó phổ biến tới báo chí hải ngoại. Bà Hoa đă viết thư cho Cựu Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ ‘’...em không nhớ rơ là năm nào 1960 hay 1961, lúc đó em đang may ở tiệm Thanh Lịch gần chợ Bàn Cờ th́ chợ bị cháy lớn. Vài hôm sau th́ Cụ có đi thăm chợ và đồng bào nạn nhân. Cụ đi thẳng đến tiệm Thanh Lịch, lúc đó bà Phạm Bích Thuần là chủ tiệm may quá xúc động vừa khóc vừa nói: Ḱa, Vua đến nhà ḿnh, cô Hoa bạo dạn ra chào Vua đi. Khi Tổng Thống bước lên thềm nhà th́ em ra đứng khoanh tay cúi đầu nói: Con kính chào Tổng Thống. Người hỏi: Cháy nhà có sợ không? Thưa Tổng Thống con sợ lắm ạ! Người lại hỏi: May có khá không? Em tŕnh: ‘’Thưa Tổng Thống, khá lắm. Trong lúc đó th́ bà chủ cứ khóc v́ quá xúc động được Vua tới thăm. Cụ nói: Ngoan hỷ. Rồi đi ra hướng Đường Bàn Cờ. Ôi! Kể lại một chút kỷ niệm mà ḷng em dâng lên một niềm thương nhớ Cụ vô cùng. Thời gian ngắn sau đó em gia nhập Thanh Nữ Cộng Ḥa. Năm 1963 có cuộc triển lăm ở Ṭa Đô Chánh, em được đứng trong Đội danh dự và đứng hàng đầu. Khi Tổng Thống xuống xe th́ có tiếng  hô: Chị Hoa làm chuẩn. Nghiêm. Chào. Cụ tiến đến gần em và nói: ‘’Đứng nắng lắm hả? Ôi! Chao ôi! Nhớ thương vô cùng, Cụ ơi!

Phần mộ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hiện ở Lái Thiêu, bên Quốc Lộ 5, lối đi hướng về Quận Hóa An (Quận Dĩ An cũ). Nơi đây đă và sẽ là một địa điểm lui tới của đồng bào trong nước và những người sống ở nước ngoài. Rải rác từ hai phía Quận Lái Thiêu đi ra và từ hướng Quận Hóa An đi tới đă có những nhóm người sống bằng công việc chỉ dẫn đưa đường cho khách thập phương kính viếng mộ Ông Huynh Đệ chính là phần mộ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu. Nhà cầm quyền địa phương biết chuyện nhưng cũng không có hành động hay biện pháp nào ngăn cản v́ họ thừa biết rằng những ǵ đi ngược lại với ḷng dân sẽ tự nó gây những hậu quả không thể nào lường trước được. Chính tôi đă nghe một cán bộ làm to có đứa con bị bệnh ngặt nghèo. Ông cán bộ này đă bế đứa con đến phần mộ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm để xin anh linh người đă chết v́ dân v́ nước phù hộ.

Cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh, bút hiệu Phan Thiết viết trong ‘’Đất Việt, Người Việt, Đạo Việt’’: Trên cơi hằng sống, Ngài đă thấy rơ ḷng dạ của những quân ăn cháo đá bát,  bọn lừa thầy phản bạn. Ngài cũng thấy rơ ḷng dân mến mộ Ngài, dân đă đánh giá Ngài qua những lầm than và khốn khổ họ phải chịu kể từ ngày Ngài bị thảm sát. Và tôi xin được viết thế: Xin Ngài phù hộ cho con dân nước Việt mà Ngài đă một đời tận tụy yêu thương chăm sóc được thực sự sống trong an b́nh, mọi người yêu thương giúp đỡ bao bọc lẫn nhau để cùng nhau nối tiếp thực hiện ước nguyện của Ngài đến ngày thành công.

 

BỐN MƯƠI NĂM SAU: TỈNH HAY MÊ ?

Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

            Thế giới lưỡng cực đă hết, nhưng đa cực vẫn c̣n phát triển mạnh, nhất là đối với những siêu cường. Cũng đúng thôi. Thời nào, hoàn cảnh nào, xă hội nào, con ngựi nào cũng lấy thù và lợi là nhất. Nhất là cho cá nhân ḿnh, gia đ́nh ḿnh, đạo ḿnh, đảng ḿnh, nước ḿnh...Nhưng ở mức độ nào th́ c̣n tùy thuộc vào cái tâm, ḷng đạo đức của con người. Nói vậy không có nghĩa người viết muốn bảo vệ lập luận của ḿnh hay bên vực một ai trong bài viết này. Người viết chỉ muốn nói lên cái tương đối của con người trong hoàn cảnh, nghĩa là cùng một hành động có thể tha thứ, chấp nhận được ở hoàn cảnh này nhưng không thể chấp nhận, tha thứ được ở hoàn cảnh khác. Tôi nghĩ: Ngồi ở chỗ thời gian 40 năm sau một biến cố hay giai đoạn lịch sử mà phê phán với đầu óc hiện tại một sự việc 40 năm về trước với những hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt, thiết tưởng không được chỉnh cho lắm nếu không muốn nói là thiên kiến hoặc sai lầm.

Giáo Sư Trần Ngọc Ninh trong bài viết ‘’bốn mươi năm sau’’ đă phê phán chế độ và cá nhân ông Ngô Đ́nh Diệm rất gắt gao, nhất là đă quy kết ông Ngô Đ́nh Diệm vào việc kỳ thị và đàn áp Phật Giáo một cách thái quá. Tôi không muốn bàn luận về cái hay cái dở của ông Ngô Đ́nh Diệm nhưng chỉ liên đới thắc mắc về một số điểm trong bài viết của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh mà thôi.

            Tại sao lại đem vấn đề kỳ thị, đàn áp Phật Giáo ở miền Nam Việt Nam thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa ra chỉ trích trong lúc này?

            Trong khi cả thế giới, mọi dân tộc đang kêu gọi quên quá khứ nh́n về tương lai để xây dựng đất nước th́ Giáo Sư Ninh lại quay về quá khứ khơi lại chuyện xưa, một chuyện mà hiện nay đă ngày càng sáng tỏ hơn, cả hai phía đều không muốn nhắc lại v́ những hậu quả bi thương của nó. Việc gọi là kỳ thị, đàn áp Phật Giáo vào năm 1963 thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa có lẽ không c̣n giá trị thực của nó nữa. Dựa vào lịch sử cùng những hiện trạng xẩy ra và các hồ sơ giải mật về cuộc sụp đổ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa mà trước đây người ta cho là v́ đàn áp Phật Giáo cũng không c̣n giá trị, đứng vững nữa. Bản báo cáo điều tra của Liên Hiệp Quốc về kỳ thị và đàn áp tôn giáo thời Ngô Đ́nh Diệm đă có lúc định công bố nhưng thiên hạ sợ mất mặt không dám cho công bố, nhưng sau cùng cũng được cho giải mật th́ kết quả là không có kỳ thị và đàn áp tôn giáo. Thực vậy, bất cứ ai với hiểu biết b́nh thường và đầu óc c̣n tỉnh táo đủ cũng phải công nhận rằng chính phủ Kennedy Hoa Kỳ lúc bấy giờ dứt khoát không muốn chế độ Diệm tồn tại bởi v́ ông Diệm đă không nghe lời Mỹ, Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ như ư muốn của Hoa Kỳ. Chính Giáo Sư Ninh cũng đă viết: ‘’Kennedy... Đă quyết định là phải truất phế họ Ngô v́ giữ lại chỉ có hại cho nước Mỹ, hại cho sự ứng cử lại chức Tổng Thống Hoa Kỳ và hại cho đảng Dân Chủ của Kennedy...’’. Phải chăng Giáo Sư Ninh quan niệm miền Nam Việt Nam phải phục vụ cho quyền lợi Hoa Kỳ, cho Tổng Thống Kennedy và đảng Dân Chủ của ông ta nên mới đưa ra những lư lẽ lập luận như vậy để kết án ông Ngô Đ́nh Diệm, cho rằng bị đảo chánh lật đổ là phải. Trái lại, ông Ngô Đ́nh Diệm mạnh và cương quyết chỉ phục vụ dân tộc và đất nước Việt Nam mà thôi, không thể phục vụ cá nhân Kennedy hay Hoa Kỳ. Rơ ràng ai cũng thấy, ông Diệm là người cứng đầu, thà chết chứ không chịu lụy. Do đó, ông Diệm đă là cái gai và bất lợi cho quyền lợi của Hoa Kỳ và chức vụ Tổng Thống của Kennedy nên Kennedy và đảng Dân Chủ đă dùng chiêu bài tôn giáo với tất cả hệ thống báo chí, truyền thanh truyền h́nh hầu kích động dân chúng Việt Nam và thế giới để lật đổ ông Diệm. Vụ lựu đạn nổ ở Huế ngày Phật Đản, theo tin giải mật là do bàn tay lông lá thừa nước đục thả câu. Chính Quyền ông Diệm không ngu dại ǵ mà làm như vậy. Giả sử cho là có đàn áp đi nữa th́ cũng chỉ là có tính nhất thời và chuyện chẳng đặng đừng, nhưng so sánh với chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay từ 1945 và từ 1975 đến giờ đă hơn 30 năm đất nước ḥa b́nh thống nhất rồi, thâm độc, ác liệt và trường kỳ gấp bội, chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Giáo Sư và mọi người đều thấy, từ Ḥa Thượng. Đại Đức, Giám Mục, Linh Mục cho đến Phật Tử, tín hữu không chỉ riêng Phật Giáo mà là tất cả mọi tôn giáo đều phải tù đày, quản thúc, ḱm kẹp nếu không chịu nghe theo nằm trong ṿng tổ chức kiềm tỏa của nhà nước. Tự thiêu phản đối không phải chỉ có một như Ḥa Thượng Quảng Đức ngày xưa mà c̣n có hàng chục người đă hy sinh cúng đường phản đối bạo quyền cộng sản đàn áp tôn giáo, nhất là Phật Giáo. Tại sao Giáo Sư Ninh không nói lên mà lại khơi lại chuyện cũ của miền Nam Việt Nam, một chuyện mà có người nói v́ đảo chính lật đổ chế độ Diệm nên cộng sản bắc việt mới xâm chiếm được miền Nam, mới có ngày 30.4.1975 để rồi toàn thể đất nước và dân tộc mới phải chịu đau khổ ḱm kẹp ô nhục trong gọng ḱm độc tài toàn trị của cộng sản như ngày nay, tôn giáo mới phải chịu mọi chèn ép, kỳ thị, truy nă đau thương ê chề một cách có hệ thống như bây giờ. Dùng Tâm và Tuệ mà Đức Phật Tổ soi sáng để khơi lại chuyện cũ 40 năm về trước như Giáo Sư Trần Ngọc Ninh nói,  thiết nghĩ đó chẳng phải là ư của Đức Phật. Đức Phật khuyên ta nên dùng Tâm và Tuệ để tu tĩnh thiền, hầu lắng đọng tâm hồn mà từ bi hỉ xả...

PHÊ PHÁN THIẾU CÔNG MINH VÀ CÔNG BẰNG

            Từ chỗ dùng Tâm và Tuệ một cách lệt lạc để suy đoán sự việc, Giáo Sư Ninh đă phê phán công và tội của ông Diệm không được công minh và công bằng th́ cũng là lẽ đương nhiên. Giáo Sư Ninh công nhận ông Diệm về nước nhận chức Thủ Tướng với một miền Nam do thực dân Pháp để lại nát bấy về mọi mặt, ngân quỹ trống rỗng ‘’một mớ hỗn độn, vô luật pháp, vô chính phủ...’’, một miền Nam Thập Nhị Xứ Quân, mỗi lănh tụ địa phương có Quân Đội hùng cứ một nơi, không thuần phục chính quyền trung ương. Ngay cả Quân Đội chính phủ, lúc đó cầm đầu bởi Tướng Nguyễn Văn Hinh cũng trở mặt a ṭng với thực dân Pháp chống lại ông Diệm, không kể những đảng viên cán bộ cộng sản trí vận và quân sự không tập kết ra Bắc, được gài lại trong các cơ quan, đoàn thể, đảng phái, làng xă, quận huyện để quấy phá. Thêm vào đó hơn một triệu đồng bào miền Bắc bỏ xóm làng vào Nam lánh nạn cộng sản cần phải được an cư lạc nghiệp. Ông Ngô Đ́nh Diệm, một mặt đă b́nh được miền Nam, dẹp các loạn xứ quân đem về quy tụ với chính phủ, một mặt an dân hơn một triệu người di cư, biến miền Nam Việt Nam thành một nước Cộng Ḥa có kỷ cương, tự do đưa tới an b́nh phú cường gấp bội miền Bắc, ngang hàng hoặc hơn cả những nước láng giềng trong một thời gian kỷ lục ở một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Giáo Sư Ninh đă không nh́n thấy đó là một công khó của ông Diệm, mà c̣n gay gắt phê phán, cho là cuộc dẹp các lực lượng vơ trang giáo phái và B́nh xuyên làm mất cảm t́nh của dân: ‘’cuộc hành quân đánh B́nh Xuyên và dẹp các lực lượng vũ trang của giáo phái nhất là B́nh Xuyên v́ những lư do mà người dân không phản đối. Nhưng các mưu kế và chiến thuật mà chính phủ dùng để đạt sự chiến thắng một phần nào làm cho dân chúng địa phương có một tâm lư anh hùng cá nhân, mất nhiều thiện cảm.’’ Mưu kế và chiến thuật nào, xấu xa thế nào đă làm mất ḷng dân, Giáo Sư Ninh không nói rơ mà lại mập mờ để chê trách. Tôi đoán, nếu sai th́ Giáo Sư bỏ qua cho, là Giáo Sư dựa vào nguồn tin là chính phủ dụ Ba Cụt Nguyễn Quang Vinh ra nói chuyện hoặc Ba Cụt đồng ư ra đầu hàng rồi giữa đường chận bắt. Nhưng theo một nguồn tin khác đáng tin cậy hơn như sau: Ba Cụt rất thông minh quỷ quyệt, chính quyền khó mà bắt được hắn. Ba Cụt đi đâu cũng báo cáo cho cơ quan địa phương, nhưng đến rồi đổi hướng biến đi chỗ khác trước khi báo cho cơ quan an ninh địa phương biết, thành thử an ninh địa phương dàn trận bắt không bao giờ được. T́nh cờ có người lượm được một quyển sổ tay của một tên cận vệ của Ba Cụt, trong đó có ghi tất cả đường đi nước bước của Ba Cụt đem về tŕnh cho ông Ngô Đ́nh Nhu. Ông Nhu chỉ đạo một toán đặc biệt theo dơi đường đi của Ba Cụt và quả nhiên bắt được hắn. Vậy th́ đâu có ǵ để gọi là ‘’mất thiện cảm của dân’’. Hay Giáo Sư Ninh cho rằng dẹp các lực lượng vơ trang của các giáo phái và B́nh Xuyên nhưng ‘’không hẳn là chiến thắng’’. Về chính trị, Giáo Sư Ninh cũng không quên đánh ông Diệm rằng đă thành lập Đảng Cần Lao Nhân Vị chính cương phóng tác từ tư tưởng của Triết Gia Công Giáo Emmanuel Mounier song song với sự dựng lên một Nha Mật Vụ Chính Trị và một Lực lượng Đặc Biệt...là một sự đứt đoạn với truyền thống chính trị Việt Nam. Thế nào là truyền thống chính trị Việt Nam? Phải chăng chính trị Việt Nam không cho phép có An Ninh Nội Chính? Bất cứ một Quốc Gia nào trên thế giới đều phải có một cơ quan an ninh để bảo vệ người dân và đất nước. Mỹ chẳng có FBI, CIA, Anh có Scotland Yard, Pháp có 2me Bureau, Nga có KGB hay sao? Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ phải lo đối đầu với cộng sản Bắc Việt làm sao mà không có những cơ quan đó được. Chính v́ nhờ đó mà chế độ ông Diệm đă tạo được ḥa b́nh an vui ở nông thôn, ngăn chận được làn sóng đỏ ở bên kia bờ Bến Hải mà Giáo Sư Ninh cũng không nhận ra là ‘’một kỳ diệu trong lịch sử’’. Ngoài ra ông Diệm không được lập đảng hay sao? Giáo Sư Ninh h́nh như bị ám ảnh bởi hai chữ Công Giáo. Giáo Sư mỉa mai là Đảng Cần Lao rập khuôn theo tư tưởng của những người Công Giáo hay sao? Hay Giáo Sư không muốn lập đảng theo tư tưởng của người Tây phương hoặc phải theo chế độ quân chủ th́ mới đúng truyền thống chính trị Việt Nam? Tôi nghĩ các thầy dạy chuyên môn về Y Khoa của Giáo Sư có lẽ tất cả đều là Công Giáo và Tây phương đấy. Vấn đề ông Mounier là Công Giáo, Phật Giáo hay Tin Lành nó không quan trọng. Điều quan trọng là cái thuyết lư của ông ta, Thuyết Cần Lao Nhân Vị nó đúng sai hay dở ở chỗ nào. Thiết nghĩ Giáo Sư nên nêu ra phê phán th́ nó hợp lư hơn. Nhưng ông đă không làm như vậy. Thật ra tư tưởng về nhân vị của Mounier mới là cái đinh để đối đầu với chủ nghĩa cộng sản, một chủ thuyết coi nhân vị, nhân phẩm và tự do con người là đồ bỏ. Chống cộng cần phải có căn bản lư thuyết,  không thể chỉ chống đối để chống đối, để rồi khi người ta hỏi lư do tại sao th́ không biết đâu mà trả lời. Hiểu cộng sản, biết cộng sản th́ mới mong chống cộng sản hữu hiệu. Ngày nay dân Việt Nam, nhất là dân chúng miền Nam mới thực sự hiểu cộng sản bằng xương bằng thịt, bằng chính cuộc sống của ḿnh, bằng chính những kinh nghiệm cá nhân đau thương ê chề trong cuộc sống hàng ngày và trong những trại học tập gọi là cải tạo của cộng sản, nên những bài học quá khứ xảy ra ở miền Nam Việt Nam thời Cộng Ḥa, đặc biệt thời gian 1963, thời gian sau cách mạng lật đổ Ngô Đ́nh Diệm và về sau này thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Ḥa cho đến ngày mất nước đă dần dần được sáng tỏ. Người dân đă thấy rơ cộng sản Bắc Việt lợi dụng gây xáo trộn ở miền Nam như thế nào trong kế hoạch nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam.

Có bàn tay cộng sản Bắc Việt trong những cuộc gây xáo trộn và bàn thờ Phật xuống đường ở miền Nam Việt Nam không? Tôi không dám lạm bàn chi tiết nhiều về những vụ xáo trộn này, v́ nó quá tế nhị, rất dễ bị đụng chạm. Nhưng cứ nh́n ai là linh hồn của những cuộc đấu tranh ấy, những dân biểu nào, nhân vật nào tích cực yểm trợ bây giờ họ ở đâu và đang làm ǵ ở Việt Nam? Xin để độc giả tự nhận xét và xuy đoán. Tuy nhiên có một điều thắc mắc tôi muốn Giáo Sư Trần ngọc Ninh trả lời cho độc giả. Theo Giáo Sư th́ sau khi hai ông Diệm và Nhu chết, kết liễu Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa th́ mùa pháp nạn cũng chấm dứt. Kết luận này minh nhiên kết án Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă kỳ thị và đàn áp Phật Giáo, gây ra pháp nạn cho Phật Giáo. Vậy th́ sau khi ông Diệm chết, thời hậu cách mạng, lúc Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, trong đó Giáo Sư nắm chức Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, dĩ nhiên là thời gian đó không có kỳ thị Phật Giáo, tại sao vẫn xảy ra vụ Phật Giáo miền Trung và chính Tướng Kỳ đă phải thân chinh ra dẹp. Xin hỏi Giáo Sư: Dẹp vụ Phật Giáo miền Trung bằng vũ lực, Quân Đội như vậy có phải là đàn áp Phật Giáo không? Có bàn tay cộng sản Bắc Việt trong những vụ Phật Giáo biểu t́nh, bàn thờ Phật xuống đường không mà Tướng Kỳ phải dùng Quân Đội để dẹp?

KẾT LUẬN

            Công hay tội của ông Ngô Đ́nh Diệm thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa ngày nay mỗi ngày một sáng tỏ. Người dân miền Nam Việt Nam sau 40 năm chịu đựng cảnh độc tài toàn trị của cộng sản Việt Nam, mất hết tự do, dân chủ và nhân quyền, nhân phẩm bị chà đạp,  tôn giáo bị ḱm kẹp, áp bức, kỳ thị, giờ đây nh́n lịch sử đất nước và thế giới, nhất là Hoa Kỳ, để tâm hồn lắng đọng lại đă tỏ ra thương mến và kính phục Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nhiều hơn là ghét bỏ.

 

 

 

NGHĨA BIỂN T̀NH SÔNG CỦA TÔN THẤT ĐÍNH

            Nhân ngày giỗ năm thứ 37 của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Bào Đệ Ngô Đ́nh Nhu, thử điểm qua cuốn tự truyện chạy tội ‘’Nghĩa biển t́nh sông’’ của Tôn Thất Đính.

Trần Khắc Kính

CÂY MUỐN LẶNG GIÓ CHẲNG ĐỪNG

            Cách nay khoảng 30 năm, tôi có đọc tập hồi kư đăng từng kỳ trên nhật báo Công Luận,  tại Sài G̣n. Ông chủ báo (kiêm Thượng Nghị Sĩ Tôn Thất Đính) đă kể lể con cà con kê về những ngày thơ ấu tại Thành Phố xứ hoa đào Đà Lạt, nghịch ngợm, ưa quậy, kết bè kết đảng tập làm mă chiến sơn. Mơ tưởng trở lùi về quá khứ lăng mạn, của cái thời c̣n trèo me, trèo sấu, na ná như những chuyện ‘’Nhi đồng cứu vong’’ Thằng Chương, Thằng C̣m của Nhà Văn Duyên Anh, vào trước thập niên 60 vậy. Cũng có nghe là những ngày tập tễnh mới bước chân vào đời, ông có hành nghề Cảnh Sát Viên tại Thị Xă Đà Lạt, trước khi đăng vào Việt Binh Đoàn, làm văn pḥng với cấp bậc Binh Nh́. Báo của ḿnh, muốn đăng truyện ǵ mà chả được? Mặc sức đánh bóng tô son, miễn là biết chi đẹp cho các tay viết mướn.

Đến bây giờ lại thấy xuất hiện một cuốn hồi kư nữa, mang tên ‘’20 năm binh nghiệp’’,  cũng có vẻ là kể lại, phóng đại, phịa thêm, để nhờ ai đó viết, rồi mang in thành sách. Nếu ông Đính không nhờ, mà đích thân viết, chắc là sẽ không có những chi tiết sai lầm, như là ông Trị,  Tư Lệnh Sư Đoàn 22, trước năm 1961, chỉ mới là Trung Tá, không phải là Đại Tá. Tại Sư Đoàn 23 là Đại Tá Lê Quang Trọng (không phải là Quan) trích trang 158.

Cũng trong trang 77 có đề cập tới Đại Tá Đinh Văn Sơn, trong năm 1957, thay ông Đính làm Tư Lệnh Sư Đoàn 2 tại Quảng Ngăi. Trong Quân Đội, ai cũng nghe tiếng Đặng Văn Sơn, chứ không phải là Đinh. Ông từng nổi tiếng liêm khiết, cuối năm 1960 là Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang và hiện c̣n sống, định cư ở San José.

Các thợ viết mướn, chắc chắn là tŕnh độ hiểu biết về Lịch Sử Quân Lực phải hạn hẹp hơn ông Đính rất nhiều, nên không tránh khỏi những lỗi lầm ‘’tam sao thất bản’’, tỷ dụ như là truyện ông Nguyễn Văn Sơn, Tỉnh Trưởng Quảng Nam, bị hy sinh như dê tế thần, trong vụ án kinh tế bán gạo cho cộng sản (trang 105). Đó là Bùi Quang Sơn (em ruột Văn Ngọc Bùi Quang Nga), thời 1956, làm Phó Tỉnh Trưởng Quảng Ngăi, liên quan đến vụ bán gạo ra Bắc,  chứ không phải là Nguyễn Văn Sơn, Tỉnh Trưởng Quảng Nam. Chưa hề nghe nhắc tới một Tỉnh Trưởng Quảng Nam nào, mang tên Nguyễn Văn Sơn cả. Trước đó, trong trang 44 ông nói là vào tháng 8.1954, ông là Phụ Tá Hải Quân cho Vanuxem, đóng tại Mỹ Côi (Núi Gôi), điều động các GM-31, 32 trong khuôn khổ cuộc hành quân Auvergne, tại Nam Định, Bùi Chu, Phát Diệm: Tại sao lại c̣n có cuộc hành quân thực hiện sau khi Hiệp định Genève đă được kư kết nhỉ? V́ chiếu theo các điều khoảng của Hiệp định này, th́ các phe lâm chiến bắt buộc phải ngưng chiến, im tiếng súng kể từ 0 giờ ngày 28.7.1954 rồi. Không thể kể hết những sai lầm, sơ hở, trải dài suốt 455 trang của cuốn sách. Hơn nữa, đây không phải là một cuộc điểm sách. Mà người viết chỉ muốn nêu ra vài sự kiện nổi cộm (Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt đề cao quá lố, phét lác...), v́ đă từng có dịp được mục kích, trực tiếp tham gia, hoặc biết rơ. 

ĐIỆP VIÊN HAI MANG

            Gần hết thời hạn 300 ngày, chiếu theo Hiệp định Genève 1954, các đơn vị cuối cùng của việt cộng đă lần lượt triệt thoái khỏi bờ Nam sông Vệ, thuộc Quận Mộ Đức, Tỉnh Quảng Ngăi, để xuống tàu Ba Lan tại Hải Cảng Quy Nhơn, tập kết ra Bắc. Khoảng đầu hè năm Ất Mùi (1955) ngày đó tôi là Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Quảng Ngăi có một bữa Thiếu Tá Tôn Thất Xứng, Chỉ Huy Trưởng Tiểu Khu, chỉ thị cho tôi vào B́nh Định, nhận lănh một nghi can tại Bản Doanh ông Đính, mang về và sau đó có người chuyển tiếp ra ngoài Huế.

Được biết anh này là cán bộ Cao Đài ly khai, được gửi từ trong Nam ra hoạt động tại miệt đất vừa được tiếp thu, không ngờ bị phản phé, lộ sao đó, nên bị chặn bắt. Tôi lái xe vào sân Vận Động Tam Quan, gặp Trung Tá Tôn Thất Đính lần đầu tiên. Ông mặc áo sơ mi ngắn tay kaki vàng, nhưng lại kèm theo quần saut rằn ri của Nhẩy Dù. Tôi tŕnh Sự Vụ Lệnh. Ông ngoáy bút máy phê luôn vào mặt trái: ‘’Người mang giấy này phải được toàn quyền tự do di chuyển qua mọi Trạm kiểm soát. Kư tên: Trung Tá Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Quân Dân Chính Bắc B́nh Định.

Tôi có nghe đồn là (vào thời gian này, ông ngang tàng, hắt x́ xằng lắm, ưa dùng gậy chỉ huy đập thuộc cấp, giống như ông Vĩnh) mang hỗn danh là Vĩnh hèo v́ thường hay dùng hèo, để quất binh sĩ. Mỗi khi ông xuống xe, lội bộ trên các Đường Phố Quy Nhơn, vừa được tái chiếm trong mùa Xuân Ất Mùi, là thế nào cũng có một đoàn cận vệ đi giật lùi ngay phía trước ông. Dăm sáu Binh Sĩ này được tuyển lựa, cao to vận chiến phục rằn ri (áo đuôi khỉ) của lính Dù, lăm lăm tiểu liên Thompson đă được tháo báng gỗ, mặt mày bặm trợn, sát khí đằng đằng.  Chả khác chi cảnh tướng phường chèo, như nữ tướng Phàn Lê Huê của ông Năm Soái, thời trước Genève 1954 ở Cái Vồn (Cần Thơ) vậy.

Trước khi tôi dẫn can phạm lên xe ra về, ông c̣n cẩn thận dặn ḍ thêm là khi đi ngang Sa Huỳnh (nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Hành Quân Giải Phóng Liên Khu 5, nằm sát ranh giới hai Tỉnh Quảng Ngăi và B́nh Định), cần phải cảnh giác đề pḥng, ngộ nhỡ Đại Tá Lê Văn Kim mà biết được, sẽ cho người ra đánh tháo, cướp mất can phạm. Ngày đó ông Kim là Tư Lệnh Hành Quân Giải Phóng Liên Khu 5 (mà Việt Minh vẫn chiếm giữ cho tới khi có Hiệp Định Genève). 

Trong trang 55, thấy có kể là vào đầu năm 1955, ông đă được Thủ Tướng Diệm đặc cách thăng cấp Đại Tá thực thụ, để ông có đủ tư thế chỉ huy các đơn vị Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tại Liên Khu 5 và Đại Tá Lê Văn Kim, chỉ đặc trách về hành chánh, chính trị mà thôi chứ không phải là Tư Lệnh Hành Quân. Tất cả những điều trên đây hoàn toàn sai. V́ lúc tôi gặp ông Đính vài tháng sau đó, ông vẫn c̣n đeo lon trắng Trung Tá Thiết Giáp trên cầu vai, v́ đă từng tốt nghiệp từ Học Viện Thiết Giáp Saumur của Pháp, đồng khóa cùng ông Lâm Văn Phát. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời binh nghiệp, cả hai chưa từng có dịp mang số vốn học chuyên môn ra sử dụng, nghĩa là chưa hề chỉ huy bất cứ một Đơn vị Thiết Giáp nào bao giờ cả. Ông Đính chỉ mới là Trung Tá, vào giữa năm 1955. Không phải là Đại Tá. Saumur tiếng Tây c̣n có nghĩa là nước mắm. Khắm như nước mắm, v́ dân Saumur đă tự sáng chế ra lối chào x̣e năm đầu ngón tay như bàn tay ếch (không kẹp sát lại theo đúng quân kỷ, quân phong), lập dị cho khác bàn dân thiên hạ.

            Cũng cho ông hay là đừng nhận vơ, nhận ẩu. V́ vào cuối năm Giáp Ngọ (1954), Tiểu Đoàn 51 chúng tôi, khi vào tới Thị Xă Quảng Ngăi, đă được lệnh giải tán để thành lập Trung Đoàn 31 và Tiểu Khu Quảng Ngăi. Phần đất này cũng thuộc Liên Khu 5, nhưng vào thời gian này, chúng tôi trực thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2, mà không bao giờ đặt dưới quyền chỉ huy của ông cả. Cuối trang 49, ông Đính có kể là trong bữa tŕnh diện Tướng Hinh trước khi lên đường ra Nha Trang, đă có sự hiện diện của 2 Đại Tá Trần Văn Đôn và Trần Đ́nh Lan. Lan Giám Đốc Pḥng 6 Bộ Tổng Tham Mưu chưa bao giờ là Đại Tá. Chỉ là Trung Tá, rồi theo Hinh lưu vong sang bên Tây. (Anh này là con Bác Sĩ Trần Đ́nh Quế ở Đà Lạt. Khi mang Pháp tịch, tên được phiên âm na ná sang tiếng Tây thành Henry Ceuille.) Nhưng chính Lan mới là cánh tay mặt của loạn Tướng Nguyễn Văn Hinh. Lan đă sáng lập ra cái gọi là Phong trào giải phóng miền Nam tức đảng Con Ó (bất cứ sĩ quan nào được kết nạp vào đảng này cũng đều đeo một con ó nhỏ ở ve áo, để dễ nhận diện lẫn nhau, là cũng thuộc thành phần tuyệt đối trung thành với Hinh, quyết tâm chống Thủ Tướng Diệm).

Pḥng 6 Tổng Tham Mưu có 3 Sở (32, 42 và 52). Khi Lan lưu vong th́ Trung Tá Lê Văn Lung (bà con với Tướng Lê Văn Tỵ), Chánh Sở 32 lên thay thế. 32 là SRO (Service de Renseignements Opérationnels), c̣n được ngụy hóa là Sở Liên Lạc, đảm trách về T́nh Báo. Bộ phận này xài phần lớn số qũy đen 1 triệu bạc cấp phát hàng tháng cho Pḥng 6. Phải hiểu ngày đó một cuốc taxi chỉ có 6 đồng bạc, mới thấy số tiền mật qũy 1 triệu bạc hàng tháng là nhiều như thế nào. Kể từ đầu năm 1956, Pḥng 6 đổi tên là Nha Tổng Nghiên Huấn, trực thuộc Bộ Quốc Pḥng. V́ là Ủy Viên Đặc Vụ của Quân Ủy Lê Lợi, nên ở trên sắp xếp cho tôi về làm Phó Giám Đốc Nha Tổng Nghiên Huấn cho Trung Tá Lung, ngay từ đầu năm 1956, do đó mà biết rơ cội nguồn của những sự kiện trên đây. Ông Kim là em rể ông Đôn, cũng được tiếng là rất thân cận với Hinh. V́ vậy, ông Đính muốn cho mọi người hiểu ngầm là hai ông Đôn và Kim thuộc đảng Con Ó, nhưng ai cũng rơ chính ông Đính mới thực là đảng Con Ó. Đúng là cảnh ‘’gái đĩ già mồm’’ Chính ông cũng đă từng thú nhận trong trang 55 là Hinh, trước khi bắt buộc phải rời Sài G̣n, lưu vong sang Pháp, đă cho một tùy viên thân tín mang một phong thư tới.  Ông Đính mở đọc: ‘’Đính thân! Tôi hoàn toàn tin tưởng và trông cậy ở Đính’’ Có người thạo tin cho biết là lá thư trên đây chỉ mang vỏn vẹn vài chữ viết tay của Hinh: ‘’ Á bientôt!’’ (có thể hiểu là: Rồi đây sẽ c̣n gặp nhau, hoặc: Ngày mai trời lại sáng. v. v...). Thế mà bây giờ ông đă xoay ngay được 180 độ, dám kháng chế nghi ngờ ngay cả ông Kim. Không rơ ông đă tiếp xúc được với đại diện của ông Cậu để gia nhập Đảng Cần Lao vào lúc nào? Nhưng chỉ ít tháng sau (vào dạo cuối năm 1955), ông đă là đại biểu tham dự khoáng đại Hội Nghị Quân Ủy Cần Lao, tổ chức tại Bộ Chỉ Huy Phân Khu Duyên Hải Nha Trang.

QUÂN ỦY LÊ LỢI ĐƯỢC THÀNH LẬP

            Năm trước đây, trên nhật báo Người Việt số 5036 ấn hành ngày 21.9.1999 tôi có đóng góp một phần nào hiểu biết vào cuốn sách ‘’Huyền thoại về chế độ Ngô Đ́nh Diệm’’ của tác giả Vĩnh Phúc (nhà xuất bản Văn Nghệ). Tôi có kể lại vụ tham dự Đại Hội Quân Ủy Cần Lao,  vào cuối năm 1955 tại Nha Trang. Lúc đó, tôi là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4 Việt Nam,  kiêm Quận Trưởng Quận Tam Quan. Có một bữa đầu tháng Chạp 1955, tôi nhận được công điện khẩn của Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 yêu cầu lên đường gấp, để họp tại Nha Trang (không rơ họp bàn vấn đề ǵ, nên không rơ phải chuẩn bị tài liệu mang theo ra sao?) Vào tới Quy Nhơn, th́ gặp Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Khôi, vừa từ Huế vô, cho biết nội dung cuộc họp là Hội Nghị Đảng Cần Lao, của Toàn Quân. Ông Khôi hướng dẫn tôi, Đại Úy Nguyễn Hùng Khánh (một Tiểu Đoàn Trưởng khác trú quân tại vùng ngoại ô Quy Nhơn) và Trung Úy Trịnh Tiếu (Ty An Ninh Quân Đội Quy Nhơn), lên đường xuôi Nam, ngay trong buổi chiều hôm đó. Tới Tuy Ḥa th́ gặp đoàn xe của Đại Tá Tôn Thất Đính, vừa hoàn tất công cuộc tiếp thu Bắc B́nh Định và cũng vừa được thăng cấp Đại Tá. Được biết là vài tháng sau đó, ông Đính được cử đi du học tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Forth Leavenword Hoa Kỳ. Măn khóa học 8 tháng, trở về nước chưa được bao lâu, th́ ông Đính được cử đi học khóa Tham Mưu Hỗn Hợp trong 6 tháng nữa tại Okinawa. Hóa ra trong suốt cuộc đời binh nghiệp của ông toàn là được ưu đăi để đi du học không hà. Thời c̣n Tây, th́ Tactic (chiến thuật), rồi Saumur (Thiết Giáp). Đến bây giờ, lại Chỉ Huy và Tham Mưu Hỗn Hợp. Nhưng học đă vậy, có hành được hay không lại là chuyện khác.

Đoàn xe di chuyển suốt đêm mới tới Nha Trang, Đến nơi, chúng tôi được Trung Úy Trần Hữu Độ của Bộ Chỉ Huy Phân Khu Duyên Hải hướng dẫn vào nghỉ tại một lớp học bỏ trống, cho ngủ trên các gường gấp nhà binh. Ngày đó Trung Úy Độ và Trung Úy Đạt rất được Trung Tá Đỗ Mậu tin cậy để giao phó cho vụ tổ chức Đại Hội Quân Ủy này. Ngay đầu năm 1956, Trung Úy Đạt được Châu Tĩnh sắp xếp cho phụ trách Văn Pḥng Thường Trực của Ban 5 (tức là Thường Trực Quân Ủy), có Trụ Sở ở số 72 Đường Phạm Đăng Hưng (xưa kia là Đường Pierre trên Tân Định). Đạt cùng gia đ́nh được phép cư trú ở ngay căn phố lầu nói trên.  Trong những ngày kế tiếp, các phái đoàn từ khắp các Quân Khu trên toàn miền Nam lục tục kéo về. Tôi c̣n nhớ từ Sài G̣n ra, có Bác Sĩ Bùi Kiện Tín, các Trung Tá Nguyễn Khương, Vũ Hùng Phi, các Đại Tá Phạm Văn Sơn, Trần Cẩm. Trên Cao Nguyên xuống có Trung Tá Hoàng Lạc, Đại Úy Dương Thái Hồng. Phái đoàn miền Trung đông đảo nhất v́ ngoài chúng tôi ra, c̣n có thêm Trung Tá Nguyễn Văn Chuân, các Thiếu Tá Lê Văn Sâm, Phùng Ngọc Trưng và những Đại Úy then chốt, Nguyễn Văn Châu (tức Châu Tĩnh), Lê Quang Tung, Ngô Văn Hùng,  Phạm Thư Đường. Cũng có thấy các Trung Úy Nguyễn Bé, Nguyễn Xuân Vinh tham dự các phiên họp. Trung Tá Đỗ Mậu, Chỉ Huy Trưởng Phân Khu Duyên Hải đăng cai Hội Nghị này đă cho trần thiết bàn thờ đảng rất uy nghi. Có lư đồng, chân đèn, hương khói nghi ngút, có chân dung Ngô lănh tụ, có Đảng kỳ, nửa xanh nửa đỏ và ba ngôi sao đỏ trên nền xanh, có thanh gươm treo ngang Đảng kỳ tượng trưng cho kỷ luật đảng...

Mấy bữa sau, có vụ bầu Ban Chấp Hành Quân Ủy tức là tổ chức Đảng Cần Lao trong toàn quân, kể từ nay sẽ mang tên là Quân Ủy Lê Lợi. Các đồng chí Minh Sơn (bí danh trong đảng của Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm) được bầu vắng mặt là Bí Thư Quân Ủy Lê Lợi, đồng chí Linh Giang (Tôn Thất Xứng) cũng được bầu vắng mặt là Phó Bí Thư. Các Ủy Viên khác trong Ban Chấp Hành (như là Thường Trực, Tổ Chức, Nghiên Cứu, Thông Tin, Huấn Luyện,  Kinh Tài, Đặc Vụ...) được Hội Nghị bầu cho các đồng chí Duy Tiến (Nguyễn Văn Châu), Việt Tồn (Lê Quang Tung), Trường Minh (Phạm Thư Đường), Ái Chủng (Nguyễn Khương), Ánh Dương (Trần Cẩm)...Riêng tôi được bầu vào cương vị Ủy Viên Đặc Vụ (bí danh Văn An). Tôi cũng c̣n nhớ các ông Đỗ Mậu lấy bí danh trong đảng là Hoành Linh, Tôn Thất Đính là Vân Anh v.v...

Trong ngày cuối cùng, Ông Ngô Đ́nh Nhu, Tổng Bí Thư Đảng có tới chủ tọa, chứng kiến lễ huyết thệ (trích máu ăn thề nguyện trung thành với đảng) của toàn Hội Nghị. Từng người một đă lần lượt tiến tới trước bàn thờ, cầm cây kim gút chích đầu ngón tay trỏ, nhiễu một giọt máu vào trong ly rượu, đặt trước lư hương. Bác Sĩ Tín cầm sẵn dúm bông g̣n tẩm cồn, để chùi cây kim cho khỏi nhiễm trùng, trước khi trao tay, chuyển cho người kế tiếp.

ĐẠI PHỊA

            Thế mà tại cuối trang 74 của cuốn hồi kư ‘’20 năm binh nghiệp’’ ông Tôn Thất Đính kể nội dung cuộc họp trên đây khác hẳn. Nguyên văn:

            ‘’Tôi c̣n nhớ trước đây, trong thời gian c̣n đi tiếp thu Liên Khu 5, Đại Tá Đỗ Mậu lúc bấy giờ là Phân Khu Trưởng Phân Khu Duyên Hải, có tổ chức một Đại Hội Quân Cán Chính ở Nha Trang, có ông Ngô Đ́nh Nhu từ Sài G̣n ra chủ tọa. Đại hội này dường như của Đảng Cần Lao Nhân Vị và tôi được mời tham dự với tư cách là Tư Lệnh cuộc hành quân. Trong Đại hội trước khi tôi giă từ ông Ngô Đ́nh Nhu để lên đường tiếp tục cuộc hành quân, th́ ông Nhu đă đứng dậy khen ngợi và chúc mừng sớm hoàn thành nhiệm vụ, để thống nhất Quốc Gia dưới một màu cờ Tự do như ư nguyện của toàn dân và chính phủ do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo’’.

Cuộc hành quân tiếp thu mang danh hiệu là Hành Quân Giải Phóng Liên Khu 5 do Đại Tá Lê Văn Kim làm Tư Lệnh, không phải ông Đính làm Tư Lệnh (trên đây tôi đă từng kể là dù bản chất thích huênh hoang nhưng vào đầu năm 1955, ông chỉ dám xưng là Tư Lệnh Quân Dân Chính Bắc B́nh Định mà thôi). Cuộc hành quân này chấm dứt trước ngày có cuộc Trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại vào ngày 23.10.1955. Cuộc họp tại Nha Trang là vào tháng Chạp 1955. Lúc này ông đang lo cải tổ GM 32 thành Sư Đoàn 2. Ông Mậu khi đó vừa mới được thăng cấp Trung Tá, chưa phải là Đại Tá. Đại hội trên bao gồm những sĩ quan, đến từ khắp các Quân Khu trong toàn quốc, không phải là chỉ có thành phần Quân Cán Chính Nha Trang. Do đó, dựng lên vụ ông Ngô Đ́nh Nhu đứng dậy khen ngợi và chúc mừng ông sớm hoàn thành nhiệm vụ là đại phịa, đánh bóng tô son, đề cao cá nhân quá lố, muốn lấy thúng úp voi, v́ cuộc hành quân tiếp thu đă hoàn tất từ lâu, cần ǵ phải sớm hoàn thành nhiệm vụ nào nữa? Ông đi dự Đại hội trên chỉ với cương vị là đảng viên đại biểu thường, như vài chục đại biểu khác.  Trong Đại hội mọi người vận thường phục, không đeo lon lá ǵ hết. Tôi c̣n nhớ như in ngày đó là ông vận bộ đồ lớn màu beige nâu nhạt. 

Mùa Đông tại Nha Trang se se lạnh, nên ai nấy đều vận áo ấm. Cái hách dịch phường chèo cố hữu đă được ông cố t́nh bỏ quên ngoài pḥng họp. Ông cố gắng luôn luôn cười mím chi, tở mở, nhũn như con chi chi, v́ sự kiện ‘’Á bientôt!’’ liên quan tới ông vẫn c̣n quá nóng bỏng, mọi người chưa thể quên ngay được...Tuy rằng không được đề cử bầu vào Ban Chấp Hành sau đó, nhưng ắt ông cũng đă từng trông thấy Đảng kỳ và đă được huyết thệ. Ông cũng đă có dịp theo dơi cuộc bầu bán Ban Chấp Hành của Quân Ủy Lê Lợi, tức Đảng Cần Lao trong Quân Đội. Không lẽ đồng chí Vân Anh quên tất cả rồi sao? Đâu có phải là Đại Hội Quân Cán Chính Nha Trang? Xin mách nước cho ông, là nếu v́ trí nhớ quá kém cơi nên t́m hỏi lại các ông Nguyễn Ngọc Khôi, Dương Thái Hồng, Trần Cẩm v.v... Họ từng tham dự Đại Hội trên đây và vẫn c̣n sinh sống tại vùng Cali này và chắc chắn là sẽ không hẹp ḥi ǵ mà không xác nhận lại những điều trên đây.

Trung Úy Trần Hữu Độ, ngày đó phụ trách Quân Sự Học Đường cho Phân Khu, tuy rằng không tham dự các phiên họp, nhưng đă giúp Trung Tá Đỗ Mậu tích cực về tổ chức, trang hoàng, khánh tiết, an ninh, cho Đại Hội Quân Ủy, có lẽ cũng nắm khá vững các chi tiết trên đây. Ông có thể xin tiếp xúc khi thuận tiện, để đối chiếu, nếu cảm thấy vẫn c̣n lú lẫn... Có những đảng viên đại biểu đă từng phó hội, nhưng không nên hỏi, để khỏi phí công, v́ họ cũng kém trí nhớ như ông vậy, tỷ dụ Đỗ Mậu, Hoàng Lạc.

ĐẠI HỘI QUÂN CÁN CHÍNH NHA TRANG

            Sau khi kết quả của cuộc Trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại vào ngày 23.10.1955 được công bố, th́ từ khắp mọi nơi trên toàn lănh thổ miền Nam đă dấy lên một phong trào rầm rộ, để bày tỏ ḷng trung thành tuyệt đối với chính quyền do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo. Ngay từ cuối Thu năm Giáp Ngọ 1955, Trung Tá Đỗ Mậu Chỉ Huy Trưởng Phân Khu Duyên Hải cũng đă nhạy bén, ứng xử cho thích ứng với thời cơ. Ông đă cho tập hợp các cấp Quân Cán Chính tại địa phương đến rạp chiếu bóng Tân Tân nằm ngay Trung Tâm Thị Xă Nha Trang. Đây không phải là đại hội, v́ không có chương tŕnh nghị sự, thảo luận phát biểu. Chỉ đơn thuần là một cuộc mít tinh mà diễn giả Trung Tá Đỗ Mậu Chỉ Huy Trưởng Phân Khu sẽ đăng đàn diễn thuyết để ca ngợi chế độ. Đề tài của cuộc nói chuyện bữa đó là: ‘’Thân thế và sự nghiệp của Ngô Chí Sĩ’’. Bài phát biểu rất hay và xúc tích, v́ tác giả đă khổ công nghiên cứu, tham khảo các nguồn tư liệu, chưa kể tới các kỷ niệm thuở thiếu thời, mối liên hệ khá mật thiết từ thời xa xưa. Sau buổi nói chuyện, toàn bộ bài diễn văn trên đây được cơ quan ấn loát của Ty Thông Tin Tỉnh Khánh Ḥa mang in thành sách và phổ biến rộng răi. Đó là một tập san mỏng, ngoài b́a có h́nh Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm vận âu phục, tay cầm cây viết ngồi trước bàn giấy. Buổi nói chuyện trên đây đă có sự hiện diện đông đủ của các giới chức Quân Chính cao cấp và Thân Hào Nhân Sĩ tại địa phương. Tỉnh Trưởng Khánh Ḥa, cùng ông Tôn Thất Đính (vừa được mang cấp bậc Đại Tá sau khi hoàn tất cuộc hành quân tiếp thu Bắc B́nh Định) thế nào mà chẳng có mặt. Đại Tá Đính lúc đó đang lo cải tuyển GM 32 thành Sư Đoàn 2, song song với việc chuẩn bị các thủ tục xuất ngoại để sang Hoa Kỳ khá lâu ṭng học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Forth Leavenworth. Nhưng có điều quan trọng là ông Ngô Đ́nh Nhu không chủ tọa Đại Hội Quân Cán Chính tại Nha Trang trên đây. Ông Nhu chỉ ra Nha Trang vài tháng sau đó, khoảng cuối năm 1955 để dự lễ huyết thệ của Quân Ủy Cần Lao mà thôi.

Khoáng Đại Hội Nghị của Quân Ủy Lê Lợi cũng được tổ chức ở Nha Trang, nhưng bao gồm đông đủ các Đại Biểu của tất cả các Quân Khu, không phải là Quân Cán Chính Nha Trang.

V́ lẽ ông Nhu không có mặt trong Đại Hội Quân Cán Chính Nha Trang, nên không thể có vụ ông Nhu đă đứng dậy khen ngợi và chúc mừng sớm hoàn thành nhiệm vụ để thống nhất Quốc Gia, như ông Đính đă bốc láo ở cuối trang 74. Hơn nữa, các cuộc hành quân tiếp thu đă chấm dứt và bộ đội việt cộng đă triệt thoái khỏi mọi phần đất của Liên Khu 5, th́ cần ǵ phải mong sớm hay chóng hoàn thành? Cuối cùng, đừng quên rằng ông Ngô Đ́nh Nhu là một mẫu người bản chất thâm trầm, kín đáo, nghiêm nghị, đôi chút kiêu căng, ít điều ít lời. Không thể có vụ ông đứng dậy khen ngợi và chúc mừng bất cứ ai, bao giờ đâu. Cũng như trước đây tôi đă từng kể là không có vụ ông Nhu thường vi hành về Trại Hùng Vương vào giữa năm 1963 để Socializing (ḥa đồng, tâm sự, tán phét) với Liên Đoàn 77, v́ số Quân Nhân này đă từng nhẩy dù xuống Hạ Lào và ra ngoài Bắc đâu. Toàn là loại sản phẩm tưởng tượng, bố ẩu. Thông thường, khi tự nhiên được mọi người phịa ra để đề cao, đánh bóng tô son ḿnh, được quan trọng hóa...th́ cứ ‘’ngậm miệng mà ăn tiền’’, im lặng để tọa hưởng kỳ thành. Nhưng người có lương tri, thức giả th́ phải có can đảm để từ chối không nhận vơ những vinh dự đó, v́ đó là đồ dỏm, bịa đặt, không phải đồ thật và viết sử là phải viết thật, chứ không phải là phịa. Giữa tháng chạp 1955, khoáng Đại Hội Nghị Quân Ủy Lê Lợi của Đảng Cần Lao bế mạc. Tất cả các đại biểu tham dự, khi rời Nha Trang đều được Trung Tá Đỗ Mậu kư tặng tập san: ‘’Thân thế và sự nghiệp Ngô Chí Sĩ’’ nói trên. Cuốn của tôi có hàng chữ viết tay của ông Đỗ Mậu ngay trang đầu: ‘’Mến tặng đồng chí Vân An. Kư tên Hoành Linh’’. Tôi vẫn lưu giữ tập sách mỏng này trong tủ sách gia đ́nh. Sau ngày sập tiệm, khoảng tháng 8. 1975 có đợt bài trừ Văn Hóa phẩm phản động, đồi trụy. Gia đ́nh đă gom góp tất cả sách báo chất trong tủ mang ra nạp, để tiêu hủy. Chỉ nghe kể lại, v́ lúc đó tôi đang bị giam tại lầu 3 Khu AH Khám Chí Ḥa, khởi đầu cho một con giáp cải tạo. 

CẠN TÀU RÁO MÁNG

            Khoảng đầu năm 1960, Văn Pḥng Ban 5 (tức là Quân Ủy Cần Lao) có nhận được một xấp báo cáo dầy của Chính Cục Hoàng Hoa Thám (tức là Đảng Ủy Cần Lao tại Quân Khu 4 Ban Mê Thuột) đệ tŕnh lên Tổng Bí Thư Ngô Đ́nh Nhu. Ông Tướng Đính vừa được đề cử thay thế ông Tướng Chín, làm Tư Lệnh Quân Khu. Vừa chân ướt chân ráo đáo nhận nhiệm sở mới, ông đă sử dụng ngay các cơ cấu điều tra, để hoàn thành cấp tốc một hồ sơ về các hành vi bê bối, hũ hóa của cặp vợ chồng Tướng cũ, vừa bị hạ bệ. Theo như báo cáo đă được các cơ quan chuyện môn thiết lập rất công phu, với đầy đủ nhân chứng, th́ ông Chín đă sách nhiễu t́nh dục con vú em. Khi bà Chín mới sanh hạ được chừng dăm tháng, th́ hàng đêm, con vú em bồng đứa nhỏ, dỗ cho ngủ ở căn pḥng xép, cởi trần, chỉ vận độc có cái quần x́ líp. Thấy ông vén mùng chui vào, đứa tớ gái sợ hăi ngồi dậy, lùi vào góc gường thủ thế. Ông vung hai bàn tay xuất chiêu, dương Đông kích Tây, đánh trên dẹp dưới, cố dứt điểm mục tiêu là chộp vào ngực nó. Nó cuống cuống né tránh co dúm tứ túc. Cuối cùng, nó t́m được giải pháp vô cùng hữu hiệu là dùng ngay đứa bé đang bồng trên tay, làm cái mộc để ngăn ngừa những đợt tấn công vũ băo của đối phương.

Thành thử ông Chín toàn chụp vào người đứa con sơ sinh của ḿnh, chứ chưa bén mảng tiếp cận xơ múi ǵ tới mục tiêu tối hậu. Trận tấn công và tŕ hoăn chiến chấm dứt, khi đứa bé bị chộp vào người dăm bảy phát đau quá, khóc thét lên. Ông Chín sợ bà xă đang ngủ tại pḥng bên giật ḿnh tỉnh dậy biết được, nên đành tiếc nuối rút lui có trật tự. C̣n bà Chín, th́ theo báo cáo tằng tịu với anh tài xế. Nó c̣n trẻ, cao lớn, ḿnh dây có vẻ dẻo dai (ông Tướng vốn nhỏ con). Một đôi lần bà Chín lân la xuống khu nhà bồi, chuyện tṛ cùng gia nhân, đầy tớ giúp việc trong tư dinh của Tư Lệnh. Có lần bà mang theo cuốn tiểu thuyết, ngă nhớn nằm trên gường anh tài xế đọc sách, rồi hớ hển ngủ quên ở đó luôn và cái bẫy mà bà Tướng đă giương lên cuối cùng phải sập, con mồi đố chạy đâu cho thoát. Lư do là tên tài xế đang ở độ tuổi cường tráng, luôn luôn ṭ ṃ thèm khát. Nó tặc lưỡi: ‘’Mỡ đem dâng miệng mèo’’ tội ǵ mà không hưởng? ‘’Quen hơi bén mùi làm riết’’ Thiếu cảnh giác, nên cuối cùng ông Tướng bắt được tại trận. Ông bèn cho thiết lập một phiên ṭa quân sự mặt trận kiểu bỏ túi, mà thành phần là các Trưởng Pḥng thân tín của Bộ Tham Mưu của ông. Cũng có chánh thẩm, biện lư buộc tội, trạng sư bào chữa. Cuối cùng đi tới quyết định là bắt tên tài xế nhận tội và kư cam kết cắt đứt ngay cảnh ‘’đũa mốc chọc mâm son’’ nói trên. Nội vụ được phát giác, khi có vụ bàn giao chức vụ Tư Lệnh. ‘’có mới nới cũ’’ những Trưởng pḥng cũ thấy cần phải lấy điểm với ông Tân Tư Lệnh, mà cho rơi luôn ông cựu, nên đă tường tŕnh lại mọi chi tiết của phiên ṭa kể trên khi được hỏi đến. Trong suốt cuốn hồi kư ‘’20 năm binh nghiệp’’, mỗi khi được đề cử vào chức vụ mới nào là y như rằng ông Đính không ngớt chê bai, nhục mạ người cũ, toàn là lũ bất tài vô tướng, làm hư bột hư đường, xôi hỏng bỏng không, để đến nỗi giờ đây tới thay thế, ông phải quá ư vất vả, hao tâm tổn trí, để sửa chữa những lỗi lầm cũ, trước khi áp đặt những phương án kỳ diệu mới của ông. Qua mấy chục trang (từ trang 132 ‘’Một Quân Khu không cần Bộ Tư Lệnh’’ đến trang 171 ‘’Hạ tầng cao nguyên...’’), ông đă cố ‘’vạch lá t́m sâu, bới bèo ra bọ’’, để hạ ông Chín. Cho như thế là chưa đủ, nên song song với những phúc tŕnh gửi theo hệ thống chính quyền, ông c̣n cố bới móc đời tư của người cũ, bằng những báo cáo gửi theo đường giây của đảng. Thiết tưởng người quân tử không nên nghĩ đến việc đánh thêm kẻ đă ngă ngựa. Nhưng không ít những kẻ thực dụng, đầu óc đầy mưu toan, tính toán th́ lại nghĩ là phải biết tận dụng thời cơ, nó có ngă ngựa th́ mới đánh được nó chứ. Nếu nó c̣n ngồi trên ḿnh ngựa làm sao mà đánh được? Láng cháng, nó sẽ cho ngựa đá vỡ mặt. Báo cáo của Chính Cục Hoàng Hoa Thám (gửi theo đường giây đảng) trên đây, có tác dụng như một phát súng ân huệ, đánh cho chết hẳn, v́ ông Tư Lệnh mới cố d́m ông cũ xuống tận bùn đen, có ngóc đầu lên cũng c̣n mệt.

ABANDOM DE POSTE?

            Khoảng đầu tháng 11 năm 1960, Quận Toumorong trên Kontum bị việt cộng đánh chiếm. Lần đầu tiên trên toàn miền Nam chúng đă bám trụ lại trong nhiều ngày. Năm trước đây, vào dịp giáp Tết, chúng cũng đă đánh chiếm được Hậu Cứ một Trung Đoàn của ta ở Trảng Sụp (Tây Ninh), tịch thu nhiều vũ khí, nhưng đă rút lui ngay trong đêm. Áp lực địch ở Cao Nguyên lúc này khá mạnh, nên các Đồn Địa Phương Quân Polei Khok và Polei Kodin, nằm sát biên giới Việt-Lào, ngay trên ranh giới hai Tỉnh Pleiku và Kontum, cũng đă được triệt thoái.  T́nh h́nh địch tại vùng ba biên giới trên hết sức mù mờ, nên tôi đă lên Kontum để nghiên cứu việc thả dù vài Toán hành quân của Liên Đội Quan Sát xuống, nhằm mục đích xác định lại các căn cứ của địch, có lẽ vẫn c̣n tồn tại kể từ ngày có Hiệp định Genève năm 1954 chia đôi đất nước. Sau khi làm việc tại 2 Tỉnh Pleiku và Kontum chừng một tuần lễ, bữa sáng 11.11.1960 tôi ra Phi Trường Catecka (thuộc Sở Trà Thanh An), dự định đáp máy bay Air Việt Nam để trở về Sài G̣n, th́ mới hay tin Phi Cảng Tân Sơn Nhất đóng cửa, v́ Sài G̣n có đảo chánh quân sự. Tôi trở về Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II Quân Khu 2 nằm ngay ngoại ô phía Bắc Thị Xă Pleiku. Thiếu Tướng Tôn Thất Đính không có mặt tại Bản Doanh, nên tôi đă vào tiếp xúc với Đại Tá Nguyễn Hữu Có Tham Mưu Trưởng, đề nghị xin phương tiện máy bay quân sự, để trở về Sài G̣n. Đêm 11.11.1960, tôi nghỉ trong văn pḥng Tham Mưu Trưởng và cùng Đại Tá Có theo dơi diễn tiến của cuộc đảo chánh tại Thủ Đô cho măi tận khuya. Hôm sau 12,  rồi bữa sau nữa sáng 13.11 tôi mới xin được một L19, nhưng không thể về thẳng Sài G̣n, mà phải ghé qua Nha Trang, rồi sau đó mới về Sài G̣n bằng C-47. Trong 3 ngày 11, 12, 13 tôi bị kẹt lại trên Pleiku, th́ ông Đính cũng bị kẹt tại Sài G̣n. Ông đi đâu? Làm ǵ? Không một ai hay. Rất may cho ông, là trong mấy ngày đó Phủ Tổng Thống không nghĩ tới việc chỉ thị cho Quân Đoàn II đem quân về cứu Thủ Đô, v́ có Đại Tá Trần Thiện Khiêm từ Quân Khu 4 kéo quân về rồi. Nếu có lệnh đó, ắt khám phá ra vụ ông từ bỏ đơn vị không có phép trong thời chiến, tức là Abandon de Poste, tội trạng sẽ phải xét xử bởi Ṭa Án Binh Mặt Trận.

Đến bây giờ, đọc 3 trang 197, 198 và 199 mới thấy ông giải thích lư do của sự vắng mặt kể trên. Ông tự đánh bóng tô son, kể lung tung, dông dài ṿng vo Tam quốc, đưa ra những giả tưởng và bịa đặt rẻ tiền. Người thường không hiểu ǵ về cơ cấu tổ chức mật, th́ đọc coi như là một sản phẩn của James Bond (ông thường hành quân trinh sát những ngày cuối tuần tại Sài G̣n, sĩ quan cận vệ cải trang lái taxi của Sở Đặc Nhiệm chở ông khắp Đô Thành, xe đ̣ túc trực đưa ông Tướng về Biên Ḥa...), Quá nhiều truyện vô lư. Nêu và phân tách thêm chỉ phí thời giờ. Chỉ xin hỏi ông một cách tóm tắt là cái Sở Đặc Nhiệm T́nh Báo của Phủ Tổng Thống mà ông nêu trong những trang này là cơ quan nào vậy? Ai chỉ huy? Nhiệm Vụ? Tôi th́ cho là ông lén về Sài g̣n, bỏ đơn vị ‘’moong’’ về Thủ Đô, để du hí, để nhảy đầm, chẳng ngờ bị tổ trác gặp ngay lúc có đảo chánh, các phi cảng đóng cửa, không có máy bay để về ngay đơn vị.

ĐIỆP VIÊN 007 HAY JAMENS BOND?

            Đầu năm 1956, Chính Cục 521 của Pḥng 6, tức là Bộ Phận Công Tác (Action) của Quân Khu 1 do Trung Úy Huỳnh Kim Vu Chỉ Huy. Tiền thân của bộ phận này là GCMA (groupement des Commandos mixte aéroporté) Biệt Kích Dù Pháp trong thời trước Genève 1954. Các nhóm này chuyên nhảy dù, hoạt động ở hậu địch. Điển h́nh có những Toán người Dân tộc thiểu số Thượng Du Bắc Việt của Đại Úy Lư Seo Nùng, hay nhóm Thượng Rhé của Đại Úy Đinh Ngô, đă được Pháp huấn luyện tại Cù Lao Lư Sơn, ngoài khơi Quảng Ngăi, rồi thả dù trở lại xuống quê hương bản quán (Quận Sơn Hà) để hoạt động hậu địch. Huỳnh Kim Vu ngày đó đeo huy hiệu dù Pháp to tướng trên ngực áo. Giờ đây đọc phần cuối trang 244, thấy ông Đính kể về nhảy dù: ‘’Thực hiện nhảy trong tất cả các điều kiện ngày, đêm, bất ngờ, mưa gió. Các điều này tôi đă từng thực hiện trên chiến trường Bắc Việt, nhất là nhẩy sau lưng địch để thực hiện các công tác thám báo, rồi từ đó len lơi vào các khu vực bị địch bao vây, thực hiện cuộc phản công hai mặt, trong đánh ra, ngoài đánh vào như ở các vùng Thái B́nh, Nam Định mà tôi đă từng phụ trách’’. Tôi không hề nghe bất cứ ai nói ông Đính xưa kia thuộc GCMA. Đầu năm 1955, gặp ông tại Tam Quan, tôi chỉ thấy ông tuy rằng rất thích mạo danh lính Dù, cho có vẻ ngang tàng mà chỉ dám vận cái quần saut rằn ri của Binh Chủng Dù, nhưng lại kèm theo áo sơ mi kaki vàng. Theo tiêu chuẩn Pháp, ăn vận quần nọ áo kia, tráo trở như vậy, bị coi là tenue panachée đấy. Nếu ông từng nhảy dù thời Pháp rồi, nhất định ông sẽ đeo bằng dù Pháp một cách danh chính ngôn thuận, như Huỳnh Kim Vu. Bản chất thích le lói, mà lại áo gấm đi đêm, khước từ đeo bằng dù, th́ cũng là điều khó hiểu. Ông bịa về vụ 8 sĩ quan Mỹ cùng ông theo học khóa huấn luyện nhẩy dù do MACV tổ chức, trong 3 tháng, mỗi ngày từ 4 giờ sáng đến 8 giờ sáng và chiều từ 5 giờ cho đến tận đêm khuya. Nói như vậy đến chó cũng không nghe nổi. Tôi phải cố gắng hết mức mới khỏi buộc miệng chửi thề. Quân Đội Hoa Kỳ có những Trung Tâm đào tạo dù như tại Fort Benning rất tối tân. Có đủ các loại trợ huấn cụ, quan trọng nhất là chuồng cu (tức đài nhẩy 33 bộ). Trung Tâm Dù dưới Bà Quẹo của ta cũng có đài 33 bộ, nhưng không có tháp cao hơn trăm bộ, rút bốn ṿm dù lên cao rồi thả xuống. Cũng không có quạt gió thổi tung dù, để tập thao tác: ‘’Tránh dù lôi’’. Tại miền Nam trước đây, ngoài Trung Tâm Bà Quẹo, kể từ giữa năm 1961, c̣n có Trại Biệt Kích Thủ Đức đào tạo Dù, do CSD thiết lập, nhưng thiếu đài 33 bộ. Không bao giờ nghe nói có một Trung Tâm đào tạo Dù nào vào năm 1962 của MACV ở Sài G̣n cả. 

Thời gian tập ở dưới đất (entrainement au sol) thời Pháp c̣n chiến tranh, phải đào tạo lính dù cấp tốc để bổ xung cho chiến trường là 7 ngày. Sau này là một tháng. Phải tập nhào lộn trước, sau, trái, phải. Tập mặc dù, ra cửa, xuống dù, tránh dù lôi, khám dù, nhảy với đồ trang bị v.v... Tất cả những thao tác này phải thật lúc thanh thiên bạch nhật, ban ngày, để Moniteur (Huấn Luyện Viên) có thể trông thấy mà hướng dẫn, sửa chữa? C̣n đêm khuya, tối như hũ nút, chả lẽ sờ à? Thế mà ông khoe là trong suốt 3 tháng trường, tối nào cũng tập từ 5 giờ chiều tới đêm khuya Làm tôi nghĩ nhảm hay là các ông đi thực tập mỗi đêm ở các băi nhẩy Croix du Sud, Arc en Ciel hay Mỹ Phụng...? Tôi cũng liên tưởng tới cảnh ồn ào, tấp nập tại Ngă Ba Chú Ía mỗi buổi sáng, các ‘’thợ bổ’’ lê la bên những sạp quà rong, lục vấn nhau ‘’đêm qua mày được mấy dù?’’ cũng đều được kêu là dù cả!!!Ông Tướng Quảng Lạc có vẻ bị ám ảnh nhiều bởi những hồi ức kháng chiến của Rémy, như là vào năm 1943 tổ chức SAS từ bên Anh đă thả điệp viên mỗi đêm xuống đất Pháp đang bị Đức Quốc Xă chiếm đóng, hoặc gương OSS của Patti thả dù Toán Lu Conein xuống Tân Trào vào đầu năm 1945 để huấn luyện trung đội vơ trang tuyên truyền đầu tiên của giải phóng quân cho Vơ nguyên Giáp. Các Toán Lôi Vũ của chúng tôi, thời 61, 62 cũng nhảy đêm xuống Hạ Lào. Việc chuẩn bị tổ chức hết sức rắc rối,  nhiêu kê vô cùng phức tạp, phải ở trong cuộc mới nói có sách, mắt có chứng được. Hoạt động về đêm ở ngoài nh́n vô, thấy thật là lăng mạn, kiểu ‘’điệp viên trong bóng tối’’ Nhưng tập luyện ban ngày, không phải là hàng trăm đêm như ông đă bốc láo. Ông phịa không đúng kiểu,  chỉ làm tṛ cười cho thiên hạ. Buổi thao diễn nhảy dù ngày 25. 10. 1962 mới thật là ‘’đại phịa’’ v́ ông vỗ ngực tự khoe là nhảy điều khiển chỉ có ḿnh ông đáp đúng trước khán đài, đạt điểm cao tối đa (?), c̣n các sĩ quan Mỹ, nếu không bị thương th́ cũng đáp lạc băi hết. Nhắc cho ông nhớ là năm 1962 không phải là năm 2000. Ngày đó toàn Quân Lực ta may ra có chừng dăm Huấn Luyện Viên là có thể nhảy dù điều khiển khá chính xác (như Vinh, Lộc, Cư của Liên Đoàn Dù. Sướng, Kư của Liên Đoàn 77).

Dù ngày đó cũng chỉ mới có B12 là hết mức, chưa có những loại chữ nhật và h́nh thoi dễ lái gấp bội như ngày nay. Liên quan tới ông, tôi c̣n nhớ có đọc một bản tin ngắn trên tờ Chiến Sĩ Cộng Ḥa vào dạo ấy, có h́nh chụp ông đang được Đại Tướng Tỵ bắt tay, vỗ vai (chắc là sau khi gắn huy hiệu dù cho ông). Tôi nhớ quang cảnh trống trơn, không thấy khán đài, Paul Harkins, Lính Dù Mỹ-Việt đâu cả. Có thể là ở băi nhảy Hóc Môn hoặc Bà Quẹo, v́ khi đó DZ Củ Chi đă mất an ninh rồi. Cần cho ông biết thêm là đúng vào thời điểm trên, tôi có được mời ngồi trên khán đài ngay Bến Bạch Đằng, coi Liên Đoàn Dù nhảy biểu diễn xuống một sàn nổi ở giữa sông, sát bến đ̣ Thủ Thiêm (bữa đó là h́nh như là ngày kỷ niệm thành lập Liên Đoàn Dù). T́nh cờ chúng tôi được xếp ngồi cạnh Ông Bà Đặng Cao Thăng của Hải Quân một người bạn lâu năm. Ông Đính có thể quên những sự kiện lịch sử 4 chục năm về trước, nhưng tôi th́ không bao giờ quên được, nhất là liên quan tới Nhảy Dù. V́ lẽ ở bên chính quốc việc huấn luyện quy củ hơn, nên Quân Nhân Đồng Minh đều có sẵn bằng dù Mỹ rồi. Khi tới Việt Nam, ai cũng muốn đeo thêm bằng dù Việt Nam. Nên họ phải nhảy thêm ít nhất là hai lần nữa với các Đơn Vị Dù Việt Nam. Suốt năm 1963, tôi đă được mời cùng nhảy, để rồi tự tay gắn huy hiệu Dù Việt Nam cho Đại Tá O’Connor, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn IV, cũng như một số đông mũ nồi xanh thuộc các Trại tại vùng châu thổ Sông Cửu Long. Cho măi đến tận năm 1965 khi làm việc với CSD ở B́nh Định tôi c̣n có dịp gắn huy hiệu dù Việt Nam cho một số sĩ quan của Sư Đoàn Mănh Hổ Đại Hàn, sau khi đă cùng họ nhảy 2 sauts. Gần đây, trong năm 1995, Đại Tá Hải Quân trừ bị Úc James Devitt có liên lạc yêu cầu tôi xác nhận lại những phần nhảy cùng với tôi thời 65 khi ông ta c̣n là Đại Úy thuộc Lực Lượng Đặc Biệt Úc biệt phái tới làm việc với CSD, có tờ xác nhận này ông mới dễ dàng xin được Bộ Cựu Chiến Binh Úc trợ cấp y khoa, săn sóc cột sống cho ḿnh suốt đời. Những thí dụ trên đây cho thấy là các sĩ quan Mỹ không bao giờ học căn bản nhảy dù tại Việt Nam. Lớp học nhảy dù tại MACV từ tháng 9 đến tháng 11.1962 gồm 9 khóa sinh (8 sĩ quan Mỹ và ông Đính) là không hề có. Cũng như vụ thao diễn về nhảy dù của Liên Quân Việt-Mỹ vào ngày 25. 10. 1962 cũng là đại phịa.

NHẬP ĐẢNG CẦN LAO

            Trong hàng chục trang (kể từ trang 80 trở đi), ông Đính kể về tiến tŕnh gia nhập Đảng Cần Lao. Ông kể là vào một buổi chiều thứ bảy cuối năm 1957, ông đă được diện kiến ông Ngô Đ́nh Cẩn tại căn nhà Phú Cam. Đúng một tuần sau, Đại Úy Lê Quang Tung dẫn ông tới Trụ Sở bí mật của Đảng Cần Lao, để dự lễ tuyên thệ gia nhập đảng. Đó là một biệt thự nằm gần Trường Thiên Hựu (Providence) Huế. Ông tả là trên bàn thờ có tượng Chúa Giêsu(?),  Quốc Kỳ, Đảng kỳ. Sau khi chấp nhận ba lời thề, ông trở thành đảng viên và được bổ sung vào Quân Ủy. Một lúc sau ông Cẩn mới tới bằng xe jeep màu trắng và chúc ông Đính đă trở thành ‘’người trong nhà’’. Cuối năm 1956 (tức một năm trước đó). ông Lê Quang Tung đă đeo lon Trung Tá và vào Sài G̣n thay thế Trung Tá Lê Văn Lung làm Giám Đốc Nha Tổng Nghiên Huấn Bộ Quốc Pḥng. Trung Tá Lung giải ngũ, v́ đáo hạn tuổi. Đầu năm 1957, Nha Tổng Nghiên Huấn giải tán, để thành lập Sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống. Khoảng tháng 3. 1957, Trung Tá Tung đă đi cùng Thiếu Tá Trần Văn Hổ sang bên Căn Cứ Saipan của CIA học Lớp Mật Vụ đầu tiên. Vài tháng sau trở về, Trung Tá Tung luôn luôn phải ngồi túc trực mỗi ngày cạnh máy điện thoại chờ Tổng Thống gọi đến. Ông Tung không thể thường xuyên có mặt ở Huế và cũng không c̣n là Đại Úy vào cuối năm 1957, như lời ông Đính kể trên đây. Do đó những điều ông Đính kể (từ trang 80 trở đi) không có cơ sở để mà tin cho nổi. Đồng thời lại mâu thuẫn với những sự kiện cụ thể đă được tŕnh bày chi tiết, nhất là c̣n khá nhiều nhân chứng, trong tiểu mục 3 (thành lập Quân Ủy Lê Lợi) ở phần trên. Văn pḥng thường trực của Quân Ủy, tức Ban 5 trong những năm 56-57, do Trung Tá Nguyễn Văn Châu, Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư Bộ Quốc Pḥng làm Trưởng Ban. Trung Úy Đạt phụ trách Văn Pḥng tại Trụ Sở số 72 Phạm Đăng Hưng, Tân Định (Sài G̣n). Kể từ năm 1958, Trụ Sở 72 Phạm Đăng Hưng được dẹp bỏ và Ban 5 di chuyển vào làm việc chung cùng Trụ Sở với Chính Cục Phan Tây Hồ (cơ sở đảng tại Phân Khu Thủ Đô). Đây là một căn pḥng lớn trên lầu ṭa nhà sát cổng sau Đường Nguyễn Du của Dinh Độc Lập. Trung Tá Lê Quang Tung cũng thay thế Châu làm Trưởng Ban 5 và đặt Thiếu Úy Ngạc thay Đạt làm ở văn pḥng thường trực. Tuy rằng mang tiếng là Quân Ủy Lê Lợi, nhưng cả hai ông Bí Thư và Phó Bí Thư (Lê Văn Nghiêm, Tôn Thất Xứng) không hề lai văng tới Trụ Sở. Kể từ năm 1958 trở đi, điều hành mọi công việc liên quan tới đảng trong Quân Đội là Lê Quang Tung. Tung là người của ông Cẩn tiến cử vào phục vụ cho Tổng Thống từ cuối năm 1956. Tại Sài G̣n, Ban 5 lại trực tiếp báo cáo và nhận chỉ thị từ ông Nhu. Tuy rằng 2 anh em ông Nhu và Cẩn đôi lúc có những ư kiến mâu thuẫn lẫn nhau,  nhưng Tung với bản chất điền đạm của một thầy tu xuất, đă cố gắng dung ḥa, chiều chuộng được cả hai.

ĐEM TRỨNG GIAO CHO ÁC

            Kể từ đầu năm 1963, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam được thành lập,  nhưng trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu trở thành một đơn vị chính quy, ra hoạt động công khai.  Không c̣n là một cơ quan mật, trực thuộc Phủ Tổng Thống như những năm trước nữa. Ông Đính cũng đă khôn khéo đề nghị Tổng Thống cho ông Tung được mang cấp bậc Đại Tá. Ông lại khéo léo, nhân có chuyện trở về Huế dẫn ông Tung đeo lon mới tới tŕnh diện ông Cẩn. Mang ơn ông Đính, ông Tung đă để ông Đính khống chế mọi mặt, chính quyền cũng như đảng.  Kể từ giữa năm 1961, khi thành lập Hành Quân Lôi Vũ, hàng ngàn Quân Nhân đă được đào tạo về nhảy dù tại Trại Biệt Kích Thủ Đức. Nhưng cuối trang 52 của cuốn Special at War tác giả Shelby L.  Stanton, Nhà xuất bản Howell Press lại có ảnh chụp tấm bằng nhảy dù Việt Nam do Đại Tá Cao Văn Viên kư vào đầu năm 63, cấp phát cho Col Morton, Tư Lệnh Liên Đoàn 5 mũ nồi xanh (5th Group USSF), chắc là sau khi Colonel Morton đă nhảy hai sauts cùng Liên Đoàn Dù Colonel Morton khi đó là Cố Vấn (counterpart) cho Đại Tá Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam. Sự kiện này tuy nhỏ, nhưng đă chứng tỏ là mũ nồi xanh đă coi như không có ông Tung, mặc sức tự tung tự tác. Hàng ngày Colonel Morton sử dụng trực thăng chỉ huy bay tới khắp các Trại trên toàn miền Nam, để ban những chỉ thị trực tiếp, mà không có sự thảo luận cùng ông Tung. Mũ nồi xanh Mỹ lại trực tiếp trả lương cho số Dân Sự Chiến Đấu tại các Trại ‘’Qui paie, gouverne’’ (ai chi tiền, th́ nắm quyền chỉ huy). Hơn nữa, ai cũng rơ ông Tung chỉ là loại quan văn, không nhảy dù, không quen bay mỗi ngày.

Ông cũng không muốn rời văn pḥng, sợ mất đi sự kiểm soát hệ thống đảng, cái khâu cuối cùng để ông vẫn c̣n bấu víu được với lănh đạo. Với chính sách can thiệp của Mỹ, các Trại Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập cấp tốc, thu hút gần hai chục Toán Lôi Vũ (đây là lực lượng chủ công, tinh nhuệ nhất của Sở Khai Thác Địa H́nh trước đây, v́ các Toán viên nguyên lai là ở Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đội Quan Sát). Hầu hết số quân nhân các cấp thuộc Sở Khái Thác Địa H́nh cũ, cũng như số đông sĩ quan được lấy về sau này, đều được phép mang bằng dù danh dự, v́ chưa từng nhảy dù bao giờ. Không nói ra công khai, nhưng bọn mũ nồi xanh Mỹ bắt đầu lấn lướt phía Việt Nam cũng là điều không thể tránh khỏi. Mang sẵn niềm tự hào: ‘’Fighting soldiers from the sky. Fearless men who jump and die!’’ vẫn được hát vang mỗi ngày, qua hành khúc ‘’The ballad of the Green Berets’’, mũ nồi xanh khinh thường coi Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam là LLDB= Little Lousy Dirty Bugs (loài chấy rận nhỏ bé bẩn thỉu). C̣n lại độc nhất 4 Đại Đội Biệt Kích Dù, th́ nay cũng giảm khả năng tác chiến rất nhiều, v́ đă bị pha trộn bởi số Quân Nhân của pḥng 55 trước đây. Có Đại Đội lại do các Sĩ Quan Bộ Binh, không phải là Nhảy Dù chỉ huy. Kể từ đầu năm 1963, các Đại Đội này không hề nhảy dù nữa. Mặc dầu vậy, nhưng Trung Tướng Tôn Thất Đính với tư cách là Tư Lệnh Quân Đoàn III và Tổng Trấn Đô Thành cũng đă đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu phân tán được 4 Đại Đội Biệt Kích Dù đi các nơi, trước khi có cuộc đảo chánh 1.11.1963. Trong ngày chính biến, Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam coi như sạch bách, không c̣n một lực lượng tác chiến nào dự trữ tại Thủ Đô.

GIEO GIÓ, GẠT BĂO

            Trong trang 418, ông Đính có kể về cuộc họp báo tại Ṭa Đô Chánh vào đầu tháng 9.1963 để giải thích lư do Ṭa Tổng Trấn Đô Thành đă phải thực hiện vụ đánh phá các Chùa chiền. Vụ này đă được đăng trên nhật báo tiếng Pháp ‘’Le Journal d'Extrème Orient’’. Nghe nói sau vụ này, ông Nhu đă cằn nhằn:‘’Sao không trả lời bằng tiếng Việt, để bọn Thông dịch viên nó dịch lại cho, lại nói tiếng Tây bồi?’’ Dám có vụ này lắm, v́ ông Đính bị bọn phóng viên Tây xoay tơi bời, để đến nỗi Tướng Đôn phải đề nghị xin ông Nhu cho ông Đính lên Đà Lạt nghỉ ít bữa, e rằng bị mắc bệnh thần kinh (trích trang 424). Tôi chợt nhớ tới vụ CNN phỏng vấn Tổng Thống Nga Putin trong tháng trước. Larry King đặt câu hỏi bằng tiếng Anh. Người thông ngôn dịch sang tiếng Nga và Putin trả lời ngay bằng tiếng Nga. Anh thông ngôn rất giỏi, dịch song song trong khi Putin nói. Tôi th́ nghĩ Putin hiểu tiếng Anh, nhưng có thể nói khó khăn, không được lưu loát. Cho nên ông ta rất khôn khéo, để có th́ giờ nghĩ ngợi chuẩn bị câu trả lời, trong khi người thông ngôn dịch câu hỏi. Không ai có thể trách cứ ông Putin, khi ông không nói tiếng Anh mà chỉ nói tiếng mẹ đẻ. Cũng như mấy anh Tây không thể trách cứ ông Đính, nếu ông dùng tiếng Việt để trả lời cuộc họp báo vào đầu tháng 9.1963 tại Ṭa Đô Chính Sài G̣n. Chắc là bữa đó ông phải bù đầu nát óc để t́m Sujiet, verbe...th́ c̣n tâm trí đâu mà giải thích lưu loát những câu hỏi móc máy của bọn phóng viên ma đầu Tây? Và đôi lúc lỡ chen tiếng Tây bồi vào cũng là chuyện thường t́nh dễ hiểu, v́ tiếng Tây đâu có phải là tiếng mẹ đẻ của ông?

Ngay trong tuần lễ đầu của tháng 11.1963 hai Trung Tướng Trần Văn Đôn và Tôn Thất Đính đă ra dạo chơi Công Trường Lam Sơn và được nhân dân (chắc là Phật Giáo Ấn Quang và Hội đồng nhân dân cứu quốc) công kênh lên như những bậc anh hùng của cuộc đảo chánh 1.11.1963. Nhưng hào quang vừa mới lóe sáng đă bị dập tắt ngay, sau ba tháng phù du say men chiến thắng. Bữa 1.2.1964, Tướng Nguyễn Khánh từ Pleiku lén về Thủ Đô thực hiện thành công cuộc chỉnh lư và ông Đính và các Tướng trung lập khác bị hốt trọn. Ông Đính bị đưa lên biệt giam, kế đó là bị gạt ra khỏi Quân Đội. Trong suốt cuốn hồi kư ‘’20 năm binh nghiệp’’, ông Đính có vẻ cay cú, oán hận ông Khánh nhiều. Sao ông không chịu khó phân tách,  để thấy là do lệnh của các thái thú Cabot Lodge hoặc Maxwell Taylor? Cũng giống như là vào những ngày cuối tháng 10.1963, ông và ông Đôn đă nhận lệnh của Lu Conein vậy. Sau này ông cạy cục để được đắc cử Thượng Nghị Sĩ trong liên danh Hoa Sen. Làm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Pḥng Thượng Viện. Ai cũng rơ là một khi mà bộ máy chiến tranh hoàn toàn do Hoa Kỳ lănh đạo, th́ những chức vụ trên đây có vẻ hoa lá cành, trang trí tương tự như những chức huyện hàm, hoặc hàn lâm đăi chiếu (giải chiếu cho Vua) của thời phong kiến vậy. Có nghe lúc này ông kiêm Chủ Nhiệm nhật báo Công Luận, vẫn c̣n hách x́ xằng, c̣n giữ cây gậy chỉ huy (bâton de commandement). Có bữa quá nóng giận, mất khôn ông tưởng đâu vẫn c̣n làm Tướng nên đă dùng gậy chỉ huy khỏ lên đầu anh Quản Lư, không ngờ bị anh ta giằng được gậy đánh lại. (Vũ Đạo Doanh đă xác nhận lại vụ này trong năm 1968 tại căn 00 10 Cư Xá Sĩ Quan Chí Ḥa Sài G̣n). Cũng nghe nói là ngày di tản, khi tới Guam, lúc nào ông cũng đóng kịch, giả vờ điên khùng ngớ ngẩn, để gợi ḷng thương xót và luôn luôn lo sợ gặp thứ lính dữ, họ sẽ cáp duồn, hay ít nhất cũng tẩm quất cho một trận, v́ những người như ông mà nên nỗi này, phải nước mất nhà tan, xẩy đàn tan nghé. Ông Nguyễn Linh Chiêu, Tùy Viên Quân Sự tại Washington trước khi sập tiệm, có vẻ tội nghiệp bào chữa cho ông. Kể lại là ông rất ăn năn hối hận xám hối. Từng thú nhận (khi c̣n là Thượng Nghị Sĩ ngày sang thăm Mỹ) thật là một lỗi lầm lớn nhất trong đời ông, khi đă trót tham dự vào vụ tạo phản ông Diệm.

CỌP CHẾT ĐỂ DA

            Tháng trước đây có nghe Tướng Mai Hữu Xuân vừa qua đời âm thầm tại miền Đông.  Ông được biết đến nhiều, khi đă thực hiện thành công vụ thảm sát 2 anh em nhà Ngô. Hoàn thành mỹ măn nhiệm vụ, ông trở về đứng nghiêm chào, báo cáo cùng ông Minh Dương: ‘’Mission accomplie!’’ Đời sống của những bậc già lăo gần đất xa trời ở miền đất tạm dung này thật là cô đơn. Không lái được xe, cả ngày ru rú ở trong căn chung cư mà con cháu đă mướn cho để ở. Năm th́ mười họa mới có con cháu, người quen kẻ thuộc tới thăm viếng,  chuyện tṛ. Nghe đâu ông cựu Tướng nhà t́nh báo lỗi lạc một thời đă chết và măi hàng tuần sau xóm giềng, thân quyến mới khám phá ra. Tại miền Nam trước đây lúc người Pháp ra đi sau Hiệp định Genève 54 chỉ có 4 bậc đại thụ coi như có đẳng cấp cao nhất trong ngành An Ninh T́nh Báo là Kiểm Tra Công An (contrôleur des Suretés). Dưới thấp nhất là inspecteur (Thẩm Sát Viên), rồi đến rédacteur (Biên Tập Viên), kế nữa là commissaire (Quận Trưởng), trên cùng mới là controleur. Bốn ông này là Mai Hữu Xuân, Tôn Ngọc Chắc, Trần Bá Thành và ông (tôi quên mất tên) làm Trưởng Ty Cảnh Sát Công An Khánh Hội vào năm 1956. Ông Mai Hữu Xuân c̣n là Giám Đốc An Ninh Quân Đội ngay thời 55 và đă chứng tỏ hết sức hữu hiệu trong suốt thời kỳ B́nh Xuyên gây hấn tại Đô Thành. Ngày đó An Ninh Quân Đội có Tiểu Đoàn 530 và Pḥng 6 có Tiểu Đoàn 431. Đây là 2 Tiểu Đoàn hết sức đặc biệt, v́ bao gồm các tay phiêu lưu quốc tế, những thông tín viên, mật hộ viên, băng đảng du đăng, mă thầu dậu, anh chị đâm thuê chém mướn, dân đứng bến v.v...Một khi mà kiểm soát được đừng để họ đi quá trớn th́ lực lượng trên đây đúng là khắc tinh của cái xă hội đen, cặn bă (les bas fonds de la ville), mà bất cứ Đô Thị nào trên khắp thế giới cũng có. Nhưng chủ trương này không được tán đồng dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, đặt nặng trên căn bản đạo đức. Hơn nữa, ông Diệm lại rất nghi ngờ những thành phần an ninh mật vụ do Pháp đào tạo và để lại. Nên ông Xuân bị cất chức An Ninh Quân Đội (mà không hề cho biết lư do) và điều sang miền Đông chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu, chuyên đi truy kích các đảng cướp bời lời, rừng xanh ăn hàng dọc theo Quốc Lộ 13. Kế tiếp là về Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (Quán Tre) một cương vị không mấy quan trọng trong thời chiến tranh chưa leo thang. Giấc mơ của ông Xuân là chỉ huy ngành Mật Vụ (như nhiệm vụ của ông Tung hay là của Bác Sĩ Tuyến sau này) bị tan thành mây khói.

Ông Mai Hữu Xuân cho là ông Diệm kỳ thị, bất công, nên nén căm hờn suốt 7-8 năm,  chờ thời cơ thuận tiện vào ngày 2.11.63 mới hạ chiêu độc thủ. Nếu động cơ dẫn đến việc tham gia đảo chánh 1.11.1963 để giết ông Diệm của ông Mai Hữu Xuân là có thể hiểu được, th́ sự tham dự của hai ông Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu hai đảng viên Cần Lao đă từng huyết thệ, thề trung thành với đảng và Ngô lănh tụ trong Đại Hội Quân Ủy Lê Lợi cuối năm 1955 tại Nha Trang là hết sức phi lư, vô luân, vô đạo, phản trắc. Tháng trước có nghe tin ông Đỗ Mậu trở về thăm viếng Việt Nam, đă ngồi trên xe lăn lên đài truyền h́nh Hà Nội trả lời phỏng vấn để ca tụng chế độ xă nghĩa. Cuốn sách ‘’Việt Nam máu lửa quê hương tôi’’ đă được bày bán ở Sài G̣n ngay từ năm 1995. Không thể lấy bút mực nào mà ghi cho hết những hành vi phản bội này. Đành phải mượn tạm một bài thơ đă từng được báo Văn Nghệ Tiền Phong đăng tải:

                        Tướng tài vơ lạy

            ‘’Lạy Trung Tá xin tha mạng sống’’

            Trả lời đi có đúng hay không?

            Hay là lời nói trôi sông.

            Khẩu từ vô chứng lạy xong chối dài.

            ‘’Sinh vi tướng’’ tường tài vơ lạy.

            Năm sáu ba vơ ấy dở ra,

            Làm cho tan cửa nát nhà.

            Đất bằng bỗng nổi phong ba ngất trời.

            Quân cẩu tặc, mặt người dạ thú

            Sách in ra ‘’mợ nó’’nhục lây

            Cháu con nội ngoại một bầy.

            Ngàn năm bia miệng lỗi này tại ai?

Bài thơ này do Trung Tá Phúc làm khi thấy cuốn sách ‘’Việt Nam máu lửa quê hương tôi’’ được xuất bản. Ông cho biết định bắn chết Đỗ Mậu khi lên tầu nhỏ. Đỗ Mậu phải quỳ xuống chấp tay lạy ông, mới được toàn mạng. Đỗ Mậu huênh hoang tự khoe trong cuốn sách ‘’Việt Nam máu lửa quê hương tôi’’là mạng ‘’sinh vi tướng tử vi thần’’ Kể từ ngày chính thể hợp pháp, hợp hiến Đệ Nhất Cộng Ḥa cáo chung, không ai xa lạ ǵ với những vụ lon cách mạng,  lon lèo lon phường chèo. Ngay như một tên lơ xe đ̣ cũng được tấn phong ngang xương là Đại Tá Thanh Tùng, th́ có nghĩa lư ǵ cái lon tướng cách mạng? c̣n thần, thần nào? Thần ngành nanh đỏ mỏ, hay là thần ông b́nh vôi ở gốc cây đa trước đ́nh miếu? Tục truyền rằng những kẻ phản trắc quá ác nhân ác đức, mà chết lại gặp giờ trùng, th́ khó có thể siêu thoát, trở thành cô hồn. Ở quê hương ta, cúng cô hồn vào rằm tháng bảy, cúng cháo lá đa (cháo nấu đặc đựng trong các bù đài uốn tṛn bằng lá đa xếp đầy mâm):

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt

            Toát hơi may lạnh lẽo xương khô

Năo người thay buổi chiều thu

Ngàn lau nhuộm bạc, lá ngô nhuộm vàng...

            Văn tế Cô hồn của Cụ Nguyễn Du

Trên đất Mỹ này cúng cô hồn lại được tổ chức vào ngày đầu tháng 11. Không cúng bằng cháo lú mà cúng bằng kẹo bánh. Trong ngày lễ Halloween các nhà phải chuẩn bị sẵn kẹo để phân phát khi các cô hồn (hóa trang ma, qủy, tiên nữ, phù thủy, thần chết) lũ lượt tới xin. Nếu không cho, chúng sẽ lật sấp những thùng rác. Bữa sau ngày lễ Halloween là lễ cầu hồn (Fête des Morts) vào sáng ngày 2.11. Cũng lại là ngày giỗ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Bào Đệ Ngô Đ́nh Nhu. Cái mốc để ghi nhớ và khó có thể quên được bàn tay vấy máu lănh tụ của tên phản bội, phản đảng Hoành Linh.

Mùa Biển Động, Trọng Thu Canh Th́n

Trần Khắc Kính.

 

Incident of Buddhist flag

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (1) 

This article dealing with a historical issue which is based mainly on some Vietnamese books that display at least 3 perspectives compared with the common theme from at least 6 foreing books (1) The New Face of Buddha by Jerrold Schecter,  (2) Vietnam: A Political History by Joseph Buttinger, (3) The Lost Revolution by Robert Shaplen, (4) Vietnam: A History by Stanley Karnow, (5) The Making of a Quagmire by David Halberstam, (6) Background to Betrayal by Hilaire du Berrier are based on the common report of Dr. Wuff and a German doctor saying generally that Eyewitnesses and photographs taken by Dr. Eric Wuff and another German doctor on the streets of Hue and in the city morgue indicated that the people were killed by shellfire or crushed by the threads of the armored cars. 

I. The 1 st version :

There's a Vietnamese book entitled ‘’The Struggle of the Vietnam Buddhism : from the Celebration of the Birthday of Buddha’’ (Công cuộc tranh đấu của Phật Giáo Việt Nam : Từ Phật Đản đến Cách Mạng) by Quốc Tuệ, published in 1964 in Vietnam and republished in 1987 by Pagoda Khanh An (Khánh An), 14 avenue Henri Barbusse, 92220 Bagneux, Paris,  France. In chapter I,  author brings forward reasons for the struggle, one of which is about the tyranny of Ngô Đ́nh Cẩn, Mr Diệm's brother. One hardly agrees with some of cited reasons and skewed viewpoints about the political situation in South VN after 1954. For example, Mr Quoc Tue said that after 1954, South Vietnam (Nam Việt Nam) was divided into two regions : Nouth Vietnam (Bắc Việt Nam), under the communist regime, South Vietnam, under the patronage of the French. From 1955, the French withdrew from Vietnam leaving South Vietnam in a state of total independence due to pressure from the U. S. Moreover, he admits that Ven. Thích Trí Quang is one of the core leaders of this struggle.  As one recognizes later,  after 1963, Ven. Thích Trí Quang was indeed an untrustworthy, opportunist and extremist monk taking advantage of his followers for his political purpose and political agenda (‘’Peace and Neutrality’’ which later coincides with ‘’Concord and Reconciliation Campaign’’ of the National Front of Liberation of South Vietnam (mặt trận giải phóng miền nam) contemplated by the Central Vietnam Buddhist group Ấn Quang Sect.

In chapter II, author talks about the beginning of the ‘’open oppression’’ of Mr Diệm's government and the reaction of the Buddhists in Hue. According to him,  while the Buddhists in Hue are celebrating the Buddha's birthday and the streets are decked with international Buddhist flags everywhere, suddenly at 8 pm of 6.5.1963, a telegram from the presidential office informs banning the display of the Buddhist flag. The news causes immediate reaction from all Buddhists in this old imperial city. On 7.5.1963, the members of the General Association of Vietnam Buddhism (Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam) like Ven. Thích Mật Nguyên, Thích Trí Quang, Thích Mật Hiền, Thích Thiện Siêu go to meet the localauthority and send a message to Saigon to object the order. At 2 pm of the same day, the authority confiscates all the Buddhist flags. This gesture rouses indignation which the Buddhists must bury inside for a long time and now this is the opportunity for them to show it. It is also the starting for the struggle to spread to Saigon and all over the country (the truth is there are very

few struggles of this kind in the South, from Saigon to Camau). 

In the morning of 8.5.1963,  Buddhists gathered at the pagoda Dieu De (Diệu Đế) to welcome the statue of Buddha and carry it to the pagoda of Tu Dam (Từ Đàm) where the stadium for celebration is located. The welcoming group is stopped in many places because some Buddhists on both sides of the streets display the banners to express their aspirations.  This is not agreed upon by Ven. Thích Mật Hiền and Thích Trí Quang,  head and vice-head of the committee organizing the Buddha's birthday celebration. The two monks tell the crowd to be calm and wait for the better understanding from the local authority and the central government. The two order people to take away the banners. Then, the welcoming delegation continues the trip as normal. However, these Buddhists ignore the order and display their banners expressing :

        - Welcoming the Buddha's birthday. 

- The Buddhist followers unanimously protect the just Buddhism (chánh pháp) and sacrifice themselves if necessary. 

- The international Buddhist flag can't be brought down. 

- The Buddhist followers only support the policy of equality in religion. 

- Request for equality in religion. 

        - It's time for us to struggle for the contention of equality in religion. We won't refuse any sacrifice. 

- Objection of the dishonest and wicked policy (phản đối chính sách bất công gian ác).

When the crowd arrive at Từ Đàm Pagoda, Ven. Thích Đôn Hậu goes to the stadium and requests Ven. Thích Trí Quang to explain the reason for the celebration. 

Under the presence of the local authority, Ven. Thích Trí Quang expresses his ideas that the Buddhist aspirations are just and constructive, they would help the government and other religions. He promises to submit these aspirations to the government. 

Then, according to the radio station,  the celebration is recorded into tapes and will be broadcasted at 8h5 pm on the same day. Because of this, a Buddhist crowd gather before the station to listen to the tapes. To their surprise, they only hear songs not related at all to the celebration. This happens to Buddhists who stay home to wait before their radios. They leave home and go to the station to ask what happened. Then, the crowd of Buddhists become more abundant. At 8h15 pm, the crowd accumulate up to around 10,000 persons. Director of the station, Ngo Ganh, is questioned. Meanwhile, Major Đặng Sỹ brought the regular military,  Security, Police and fire fighters to encircle the crowd. Then, Ven.  Thích Trí Quang also comes and asks the reason why the tapes are not played. Ngo Ganh says that the authority did not permit it. Knowing that, the Buddhists become angry and protest. The fire engines are ordered to stop the protest. Some protesters react by throwing stones to the fire cruise. Mr Đặng Sỹ orders fire into the crowd. Then gun-fire starts and grenades are thrown into the crowd. There are many Buddhists falling down and others running away. 

The clash resuts in 14 injured and 9 dead. Some youths among the dead are rolled over by the amored cars. After the incident, in the morning of 9.5.1963, the army are mobilized to Huế and the streets are blocked by armored cars. But, at 9 am, Buddhists go out to streets protesting and decide to die if necessary. The mayor of Hue asks Ven.  Thích Trí Quang to disperse the crowd. They obey Ven.  Thích Trí Quang when he says "Disperse and be ready to wait for my order to call you back"... 

The list of 8 of nine dead :

Nguyễn Thị Ngọc Lan: 12 years old, female

Huyền tôn nữ Tuyết Hoa: 12, female

Dương Văn Đạt: 13, male

Đặng Văn Công: 13, male

Nguyễn Thị Phúc: 15, female

Lê Thị Kim Anh: 17, female

Trần Thị Phước Trị : 17, female

Nguyễn Thị Yến: 20, female... 

II.  The 2nd version :

There must be a hidden confrontation of Buddhists in Huế under the leadership of Ven.  Thích Đôn Hậu through Ven.  Thích Trí Quang, head of the Central Vietnam Buddhist Association (Hội Trưởng Hội Phật Giáo Trung Phần, Ấn Quang was not born yet at the time). 

They wanted to topple Ngô Đ́nh Cẩn, Mr Diệm's younger brother, whom people often called ‘’the tyrant of the Central Vietnam’’.

There must be việt cộng intrusion in the crowd of Buddhists or some instigators who would like to take advantage of the gathering. If not so, there wasn't any tragedy. This event + resentment + skill of Ven. Thích Trí Quang made the flame explode although the government had tried to calm it down. 

At the time, the Buddhist crowd (around 10,000 persons) were gathering at the Radio Station to listen to earlier recorded broadcasting of the celebration of the birth of Buddha.  Some sources said that the broadcast was cancelled, then the Buddhists asked why, but the director said that the government ordered so (!). Another source said that Ven. Thích Trí Quang, taking this opportunity, delivered a list of demands recorded in a tape and told the director of the station to broadcast it, but the latter refused. When the matter was going on that way, a few among the crowd would like to take this opportunity to transform this event into a protest. Then suddenly, there were some loudspeakers in some corners echoing with requests of the government to respect the freedom of religion and appeals to Buddhists to be ready in sacrificing themselves to struggle until the last drop of blood to protect Buddhism. 

The director of the Hue Radio Station, Mr Ngo Ganh, became panicked and could not control himself. He phoned the head of province for help and requested to have men to protect the station. Major Đặng Sỹ, vice-head of the province in charge of internal security concurrently head of military quarter of Thừa Thiên, mobilized soldiers and police, amored cars and fire-engine cruise to protect the station. However, these men could not enter the station through 10.000 excited people and intentionally became a force to encircle the Buddhists. 

Major Đặng Sỹ used loudspeaker to appeal the Buddhists to be calm and he warned that soldiers had order to shoot whoever makes riot, it might be that he just intended to maintain order and security for the city Huế. His first goal was not to let the crowd destroy the public property which he got the duty to protect. He couldn't imagine that his words made him fall into trap of instigators (not all Buddhists were opportunists for their using religion for political purpose). After his orders were announced, some ‘’instigators’’ with big stones already armed threw into the force yelling to excite the rest and going forward towards Đặng Sỹ's men. The hydrant cars used water to stop and disperse them. Then, suddenly came the explosion. Then the firings. Đặng Sỹ's men and also Buddhists were all in extreme panic.  People run in all directions. Weak persons were trampeded by the stronger.

The aftermath was 9 people dead and 14 injured. The news were broadcasted all over the world and Mr Diệm's regime was trembled to its root. Some sources said that almost dead victims were decapitated and possibly it was the result of explosion which could be used by vietcong commando, CIA or Nhu's Special Force trained by CIA. As said,  none of the victims were shot because Đặng Sỹ's did direct his gun to the sky with some firings to discard the crowd. There was no reason to shoot at the crowd and use armored cars to run over, if that was the case the death toll must be very high. 

However, this death toll disappointed communists who expected there must be at least an amount of more than hundred dead. On the next day, Nguyễn hữu Thọ, chairman of the national front of liberation of South Vietnam, sent a telegram to U. N.  calling for help and accused Mr Diệm's regime to oppress Buddhism, killing Buddhists who were against Catholics organizing ‘’Religious war’’ to get superiority. He accused that Đặng Sỹ, a Catholic, received directly order from Ngô Đ́nh Cẩn and Cẩn, in turn, got order from Mr Diệm in Saigon. 

All foreign reporters were excited by the incident and by the way did not like Mr Diệm whom they accused of dictatorship, family despotism and corruption. They competed with each other to explore at utmost and made Mr Diệm regime hard to explain whether or not his government really intended to do that. If he intentionally oppressed the Buddhists, his government did ban any gathering which could lead to any demonstration. It's obvious that the government did not think that this reasonable gathering could turn to a tragedy. 

3.  The 3rd version :

‘’Công và Tội: Những Sự Thật Lịch Sử?’’ (Credit and Sin: Historic Truths, 1991) by Nguyễn Tran says that the Buddhist event happens when its author is still in Washington where he follows the report from the American press and televisions generally as follows:

‘’On 6/5/1963, two days before the celebration day of Buddha's birthday, the government of Mr Ngô Đ́nh Diệm sends a circular nationwide to ban displaying the Buddhist flag in public. The lowering these flags makes Buddhists resented and as a result, they go for a protest. In the night of 8.5.1963, when Buddhists show demonstration at the radio station of Huế requesting rebroadcasting the celebration, the authority brings armored cars and the military who throw grenades to disperse the crowd, causing the death for 9 persons and injury for many people. ’’

Major Đặng Sỹ, vice-head of the province in charge of the security declares that he brings in the armored cars M-113 to protect the station and never orders to throw grenades to the crowd. The explosion causing deaths belongs to a plastic explosive which is only used by the vietcong commando, the South Vietnam  army do not use that kind of explosive. 

However, the Buddhists still maintain that the government intentionally oppresses Buddhists, and force the government to take responsibility, apologize and compensate for the victims' families. Next is the self-immolation of Ven. Thích Quảng Đức, 73 years old, who pours gasoline onto his body and burns himself to death at an intersection of Saigon. The picture of self-immolation makes Nguyễn Tran surprised. When the American opinion and the world are thoroughly excited, Mrs.  Nhu (a former Buddhist) attacked the self-immolation and called it a barbecue with foreign gasoline. 

Returning to Saigon, Nguyễn Tran doesn't know more than what has been reported by the press. The news says that Ven. Thích Tịnh Khiết and his delegation arrive in Saigon to meet Mr Ngô Đ́nh Diệm to request for his reviewing the royal decree 10 stipulated by the emperor Bảo Đại under the French colonialism. This decree classified the Buddhist organization as an association. The delegation wants Buddhism to enjoy the equality as Catholicism, freedom to display the flag and a stop to arrest and terrorism of Buddhists in order that they are free to propagate and practice

Buddhism. It asks the government to compensate satisfactorily for the victims' families. 

After a 3 day discussion, Mr Diệm's government and the Buddhist delegation agree on the issues as follow :

- The international Buddhist flag can be hung on the streets, but next to the bigger national flag. 

- The formation of a committee of inter-ministries and inter-religions to investigate the incident. The goverment will punish culprits. 

- The government will subsidize for the victim's families. 

- Assembly in pagodas will be possible without permission from the authority. The government will only check generally documents related to pagoda's activities, its schools... 

            - The National Assembly will study a status for Buddhism. 

Ven.  Thích Tịnh Khiết sends a thanking letter to the government and at the same time calls his monks to go back to normal, respect the national law, obey directives of the Buddhist General Association (Tổng Hội Phật Giáo). He also declares the end of the struggle. 

President Diệm broadcasts an appeal to the public resquesting them to be calm and trusting his solving the problem. 

When the reconciliation is in good progress, Mrs. Nhu objects the conciliatory approach of Mr Diệm and accuses the monks of not real devout persons through an announcement.  According to suggestion of the Information Minister Nguyễn Đ́nh Thuần, Mr Diệm has more than 3 times to neglect publishing that announcement, but at last he must yield it somehow and says that if it must be done,  it would be published in a narrow scope.  However, the announcement in English is put on ‘’the Time of Vietnam’’, ‘’Journal d'Extreme Orient’’ and on Vietnamese newspapers with Vietnamese version.

Then, the Buddhist delegation accuses the government of lacking sincerity and organizes the self-immolation of Ven. Thích Quảng Đức. Meanwhile, Mr Diệm is attending the requiem for the pope Jean 23rd at the basilica of Saigon with his staff, head of the National Assembly and diplomatic corps. 

Informed by minister Bùi Văn Lương about the self-immolation, Mr Diệm becomes stupefied and says, ‘’Why did they have to do that ?’’. In that afternoon, he releases an appeal saying ‘’When the reconcilation is in good progress, this morning, the radicals, hiding the truth and causing suspicion about the goodwill of the government, strive to toxicate some people and let one person die. This makes me suffered. ’’

In August, many self-immolations occur: Duc Phong self-immolates on 4.8.1963,  student Mai Tuyết Anh cut her hand as a gesture of offering to Buddha at the pagoda Xá Lợi on 12.8.1963, Diệu Nử self-immolates at Ḥn Khói, Nha Trang, nun Tieu Diệu, 71 years old,  self-immolates at the Từ Đàm pagoda in Huế, and senior nun Diệu Không, mother of Ambassador Bửu Hội, warns to do the same in Huế. 

With too many accumulated happenings and worryings in his mind, Nguyễn Tran doesn't know how to express his Catholic viewpoints to support for the Buddhists. Then the police and the Special Force attack the Xá Lợi pagoda and some other temples in Saigon,  Huế, Đà Nẵng v.v...There is the news that 1.000 monks are arrested. The monks ask Buddhists to protect pagodas using sticks and stones against the attacking forces for 8 hours. 

Mr Diệm convenes a meeting of ministers and announces the curfew nationwide. The military are assigned to check households and arrest people who disturb the national security,  ban assembly, censor the press...The offences will be under the jurisdiction of the military court. 

General Trần Văn Đôn is appointed as Commander-in-chief replacing General Lê Văn Tỵ. General Tôn Thất Đính is in charge of the military area of Saigon-Cho Lon. 

Foreign minister Vũ Văn Mẫu shaves his head to object the measures and then resigns,  however he just got permission to take a 5-month leave to make a pilgrimage to India.  Vietnam's ambassador in Washington, Trần Văn Chương, Mrs. Nhu's father, having telegramed an objection message, is discharged from the office. Mr Do Van Ly is appointed to replace Mr Chương, but the U. S.  State Department delays his presenting credential. This action means that the State Department opposes Mr Diệm. Mrs. Trần Văn Chương, Vietnam's representative at U. N. resigns. However, Nguyễn Tran knows later that Mr and Mrs.  Trần Văn Chương just only support Mr Diệm when the latter is in success, but when Mr Diệm is in difficult time, the couple change heart. They don't only oppose Mr Diệm, but collaborate with the U. S. officials against Mr Diệm. Mr Chương accuses Mr Diệm of killing series of Buddhists and spreading terror nationwide. He even comes to Mr Lansdale's residence to tell the latter to overthrow Mr Diệm. When Father Cao Văn Luận comes to Washington, Mr Chương leads him to see American officials and politicians opposing Mr Diệm. 

There is the news that Mrs. Nhu tells the police and Special Force not to arrest monks in yellow dress because they are devout monks (chân tu). Knowing that, Ven. Thích Trí Quang puts on that dress of a young monk (sa-di) and crawls over the wall right behind the Xá Lợi pagoda entering the USAID (Sở Viện Trợ Mỹ) to seek political asylum with another monk. After arriving in Saigon and delaying the presentation of credential. Mr Henri Cabot Lodge goes to see Ven. Thích Trí Quang who has escaped to a nearby American office thanks to the dress of a sa-di named Chương, takes a photo with him and sends him to the U. S.  embassy. 

After series of attacks on pagodas, Ven. Thích Tịnh Khiết and Ven. Thích Thiện Hoa appeal his monks to detach from politics and return to their pagodas. Especially, Ven. Thích Thiện Hoa, a Southerner, agrees attacking pagodas to arrest monks involving in politics and calls it a ‘’necessary measure to protect the country. ’’

Staying in a military hospital where he is detained, Ven.  Thích Tịnh Khiết sends a letter to Mr Diệm requesting him to permit Ven. Thích Thiện Hoa and 3 other monks to negotiate with the government to find pacific solutions. 2 days later, the government returns all pagodas back to Ven. Thích Thiện Hoa and releases some arrested monks. 

From the beginning of 23.8.1963, General Tôn Thất Đính orders closure of universities and schools. Two days later, Buddhist students go to the streets for demonstration, they are dispersed by the police and the military. In a clash, a female student named Quách Thị Trang is struck by a bullet and dies on Lê Thánh Tôn street, next to Bến Thành market. After the coup d'etat 1.1.1963, her statuette is set up at the market (the square Quách Thị Trang). 

On 28.8.1963, the letter of Ven. Thích Tịnh Khiết is announced and the curfew is dropped. Students, Buddhists are released, most military are ordered to return to their bases.  On 10.9.1963, Ven. Thích Tịnh Khiết is released, some days later, there is another release of 107 monks and Buddhists in Huế. 

With the agreement of Buddhist leaders, Mr Diệm orders Ambassador Bửu Hội to the U. N. General Assembly to present the Vietnam case and invite a U. N delegation to Vietnam for fact finding to see whether or not there is real oppression of Buddhists. However, some days later, Ven. Thích Trí Quang changes his idea and announces that the sending of U. N.  delegation to Vietnam is not necessary. This shows that Ven. Thích Trí Quang is not an honest man to seek a peaceful settlement with the government and jumps over the wagon as a monk to do politics. That is exactly what he does and will do in the days to come using slogan ‘’Buddhist oppression’’ to build up his ultimate political goal to (shake hand with communists and share power with them. This is not known by his followers on the streets. Ven.  Thích Trí Quang is at last a skillful instigator for self ) immolations and riots to happen so that his objetc (government of Mr Diệm)  would be target for condemnations. 

Then,  what's next is another wave of students and Buddhists going to the streets for a protest and this causes the police to get out of their barracks once more to block schools and arrest some students. From Saigon, the movement spreads to Vĩnh Long (?), Biên Ḥa, Nha Trang, Đà Lạt and Huế. The leaflets are delivered from the Xá Lợi pagoda calling students to go to the streets for demonstration. 

On 11.9.1963, after attending the Conference of International Senators in Belgrade,  Mrs. Nhu goes to U. S. and appears on radio and television stations at at least 17 places to confirm that the government of Mr Diệm never intends to oppress Buddhists but only to cope with radical monks and the people who intend to topple his government. However, she can't convince anybody just because her way of expression does not draw sympathy from the audience. Although she has the point to make nobody in US wants to believe her. 

Meanwhile, there is rumor that Mr Nhu takes all decisions and wants to make an internal coup d'etat to take the power because Mr Diệm is not firm enough with Buddhists.

Đỗ Thọ nephew of Mr Đỗ Mậu, Mr Diệm's attache, the man who stays next to Mr Diệm until the morning of 2.11.1963 before the latter is killed, writes in his ‘’Do Tho's diary’’ (Nhật Kư Đỗ Thọ) that Mr Diệm is very down-hearted when the Buddhist incident occurs. Mr Diệm, at 63, says that his horoscope of this year is very bad and he once wanted to resign, but he is afraid that the Vietnamese people will get into worse situation. Mr Đỗ Thọ also says that Mr Nhu abuses the power. Due to this rumor, Marguerite Higgins interviews Mr Nhu who lets her know that he and his wife are hated by somebody, rumors like that are nonsensical. He says that each government has a Good and an Evil (ông Thiện và ông Ác). In a progressive country like U. S., President Eisenhower needs a man like Sherman Adams. Vietnam is a country having too many instigations (cuộc xách động) and he is the man to take the role of that Evil to confront these bad situations. He says, ‘’I am cursed so that somebody else is left alone. ’’

What happened ?

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (2) 

In searching for evidence, Nguyễn Tran has found witnesses or people involved who have lived there at that time in Vietnam or abroad and gone to many libraries in U. S. to dig out many Vietnamese or English documents or microfilms related to the incident. He has been struck by different assumptions and decided to display them so that one can judge by himself. 

According to Nguyễn Tran,  he contacts the first witness after the coup d'etat 1.11.1963. That is Mr. Ưng Trạo, a retiree in Phú Cam, Huế. Ưng Trạo is known as a straightforward and respected old man. Asked about the Buddhist incident, he says that Mr Hoàng Hữu Khắc, Chief Justice of the court Huế and Thừa Thiên province, has had recourse to Mr Ưng Trạo to bring up his step child. Due to this intimate relationship, Mr Khắc let him know that he was appointed as secretary of the board of management of the Society of Buddhist Study in the Central Vietnam of which Ven. Thích Trí Quang was secretary-general or secretary. According to Mr Khắc, he once read a letter of Ven.  Thích Trí Độ from Hanoi to Ven. Thích Trí Quang telling the latter to organize a Buddhist movement to topple Mr Diệm's regime. Due to this connection with Hanoi of Ven. Thích Trí Quang, Mr Khắc has resigned from the position in the board of the management. 

Mr Trạo informed immediately this to Mr Ngô Đ́nh Cẩn who was Trạo's godson, but Mr Cẩn did not believe this because Cẩn and Ven. Thích Trí Quang were intimate friends. 

Nguyễn Tran believes that Mr Trạo's story is true because when searching for evidence in writing his book, he finds Trạo's 2 children Mrs.  Ngô Thế Linh in Campell and Bửu Thiệu in Anaheim, U.S.A.  Both confirm that the story is true. 

Mr Đỗ Thọ has written in his diary that after the incident at the radio station occurred,  Mr Diệm scolded Mr Cẩn's wrongdoing, but reports from Cẩn's office and head of Thừa Thiên province said that the incident had originated from the monks of Từ Đàm pagoda, not from him. 

According to Mr Đỗ Thọ, Cẩn told Mr Diệm that he often visited Từ Đàm and once in a while invited these monks to his residence to drink tea. Furthermore, Cẩn submitted annually offerings to the pagoda Từ Hiếu where the altar of paternal grand-grand-grandpa of Mr Diệm was located. 

Mr Diệm said ‘’All religions are good. There are only bad and good elements in every religion. We are now Catholic, but our ancestors are Buddhist. When the monks in the pagodas Từ Đàm, Từ Hiếu,  Diệu Đế are in need, you must help them...’’

Mr Đỗ Thọ relates that Mr Diệm never got intention to look upon Catholicism and look down on Buddhism. This can be proved as he made a tour of inspection in Vĩnh B́nh province where head of the province had displayed the Catholic flags to please him. Seeing that, Mr Diệm became frustrated and ordered to lower them down replacing them by the national flags.  Mr Diệm only stepped out of his airplane when the national flags were hung. 

When meeting Mr Cao Xuân Vỹ who is very close to Mr Nhu, Nguyễn Tran asks him what reaction Mr Nhu has when the Buddhist incident occurs. According to Vỹ, Mr Nhu says,  ‘’That is great crusher for the regime’’. Nguyễn Tran continues, ‘’why let it become great problem ?’’. Mr Vy answers me that, ‘’I am a Buddhist and has been told by Mr Diệm to go to Huế asking senior nun Diệu Không for help, but that is impossible due to another element.’’

What happened ?

1. According to Father Cao Văn Luận in "Bên Gịng Lịch Sử", the Buddhist incident occurs as follows :

On 7.5.1963, Bishop Ngô Đ́nh Thục comes back from La Vang, pilgrimage shrine marking the apperance of the Blessed Virgin Mary. Seeing the Buddhist flags everywhere, he asks Hồ Đắc Khương, representative of the government in the Central Vietnam, why people don't obey the law not to display religion or party flags outside worshipping areas or organizations. 

Hồ Đắc Khương telegraphs to Saigon to verify the validity of the law. He is told that the royal decree 10 is still effective. Mr Khương gives a directive to head of Thừa Thiên province to lower Buddhist flags outside pagodas. Feeling uneasy, Mr Nguyễn Văn Đặng, head of the province Thừa Thiên,  goes to see Mr Ngô Đ́nh Cẩn to suggest putting on hold of the directive for now and wait until the celebration of the Buddha's birthday to be over.  Mr Cẩn agrees and sends the message to all provinces to hold it. This matter is over, but on 8.5.1963,  the monks attack heavily the government...Then the Buddhists rush to the radio station forcing the director to broadcast the whole celebration's tapes...The representative and head of the province do not agree. While the authority findway to settle down the matter, suddenly a grenade explodes in the crowd in protest...  

Father Cao Văn Luận suggests 3 hypotheses :

- some government officials or soldiers throw them. 

- the secret police or unknown instigators are the culprits. 

- a fanatic faction in the Buddhist movement do it to push the two (Buddhists and government) into confrontation. 

Father Luận says that the 1st hypothesis is unreliable. The other two can be looked at. 

2. According to Marguerite Higgins in her "Our Vietnam Nightmare", Foreign minister Bùi Văn Lương declares to a U.N.  delegation on 3.12.1963 that he goes to Huế on 7.5.1963, the same day whereby there is a circular that ‘’the national flag must be hung higher than the international Buddhist flag and there was no prohibition of hanging the Buddhist flags’’. But when he sees the Buddhist flags already hung all over in the city, Mr Lương tells head of Thừa Thiên to postpone the execution of the circular. He then goes to the pagoda Từ Đàm to explain the monks about the matter of hanging the flags. All monks, including Ven.  Thích Trí Quang, show satisfaction.  But, unfortunately, some policemen who got late the order did confiscate some flags. Ven.  Thích Trí Quang immediately grasps this opportunity ordering some monks to inform Buddhists that the government tells them to lower the flags... 

Two things here may be questioned :

- Regulation of hanging the flag is urgent. It couldn't be under the form of a circular;it should be a telegram. Is there a mistake in using right words ?

- Minister Lương ordered head of Thừa Thiên province to hold the directive. If the latter already ordered so, he had to use all possible means to propagate the new order quickly.  Are there some saboteurs ?

According to a report from the U.N.  delegation from Marguerite Higgins' book :

At 8 pm of 8.5.1963, when the crowd come to the radio station, Ven. Thích Trí Quang follows suit bringing with him a tape recording his sermon attacking the government he made in the morning and wants to be broadcasted. Then lots of yelling happen from the crowd some of whom flush to the corridor of the station. Panicking, director of the station runs to inside,  closes the door and phones head of the province for help. The latter comes and tries to make a frustrated Ven. Thích Trí Quang calm down, but it is impossible. The head of Thừa Thiên phones Mr Đặng Sỹ, vice-head of Thừa Thiên, to mobilize the police, military, security and fire cruise to come to protect the station. 

When Mr Đặng Sỹ arrives, there was already chaos before the station. Buddhists block them with their motocycles and bikes. Then,  men of Ven.  Thích Trí Quang throw stones into the police and fire cruise. The latter use water to disperse the crowd, but this only makes the crowd more aggressive. Head of the province invites Ven. Thích Trí Quang to enter the station for discussion, ordering the fire cruise to stop action. At that moment, two explosions occur at the corridor and after that come the sounds of the broken glass, the firing and then another explosion of grenade.

Mr Đặng Sỹ reported that he hears two loud explosions when his armored cars just come to the gate of the radio station. Due to the darkness of the night,  he can't see what happens and thinks that vietcong are intruding the city. Due to this, he fires 3 bullets up to the air and orders his soldiers to use kind of ‘’concussion’’ grenades to disperse the crowd.  15 grenades like that are shot out. The crowd run in panic. 

When the head of Thừa Thiên runs out to the corridor, he sees many pools of blood: 7 dead and one dying kid. All victims are lying on the corridor;their hair and flesh did fly everywhere, one piece of flesh is stuck on a wheel of an armored car.

Mr Lương declares,  ‘’I observe the corpses and recognize that their heads are gone, but they don't have any injury but holes on their chests. There is no metallic pieces on the corridor or on the courtyard. I request a doctor to make autopsy on the victims and send the result to me’’. 

That doctor is Dr. Lê Khắc Quyền, director of the Hue hospital. His report is as follows: ‘’The death of victims is caused by an explosion on the air.  It's resulted force of air to make the victims beheaded and injured. Kind of explosive is unknown. ’’

Mr Lương continues: ‘’Right after 8. 5. 1963, Mr Diệm orders an investigation for this incident. A committee of 3 is formed. They are general Trần Văn Đôn, a military surgeon (head of the military hospital in Saigon) and an officer attache. After interviewing witnesses, this committee let people know that the cause of deaths is from a plastic explosive. 

3. The book ‘’History of the Struggle of Vietnam's Buddhism’’ (Lịch sử tranh đấu Việt Nam) by Mr Kiêm Đạt, published by the International Buddhist Institute, 1981, reports :

On 7.5.1963, the Huế's police force all Buddhist leaders to inform their followers to lower Buddhists flags...In that afternoon, the leaders in the Buddhist General Association comprising Ven. Thích Tịnh Khiết, Ven. Thích Huyền Tôn, the Committee of Organizing the Celebration of Buddha's Birthday and representatives of Orthodox Buddhism (Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy) go to the provincial Administrative Building presenting requests one of which is justification of hanging the Buddhist flag on the occasion of the Buddhist festival. 

While the delegation is in negotiation inside, 5000 Buddhists from all over gather before the building to wait for the explanation from the head of Thừa Thiên. The latter declares that he is sorry because the local authority must abide with the order from the government. 

To the request of the Buddhist delegation, head of Thừa Thiên province agrees to use cars with loudspeakers to inform the Buddhists in Huế about the decision of the local authority. 

On 8.5.1963, after the ceremony to celebrate the Buddha's birthday, Ven. Thích Tịnh Khiết requests Ven. Thích Trí Quang and the Buddhist delegation to explain to the crowd the content of the negotiation...Then, Buddhists gather before the radio station to listen to the celebration from tape recording. Contrary to previous announcement, the station broadcasts different program. The crowd become angry and pour to the station building to request for broadcasting the morning festival. At 8 pm,  there are about 10.000 Buddhists at the station. At that moment, Major Đặng Sỹ mobilizes forces of security, soldiers with armored cars, THE POLICE WITH CANNONS and armed to teeth with tear gas grenades, and the military police to crush the demonstration. 

Meanwhile, Ven. Thích Trí Quang goes immediately to the station to meet the officials, they answer that due to technical reasons the broadcast is cancelled. Right at that moment, the police, the security force, the fire cruise pump water to the crowd. The latter scream asking for stopping this, but fail. 

To the request of the Buddhist delegation, head of Thừa Thiên province agrees to use cars with loudspeakers to inform the Buddhists in Huế about the decision of the local authority. 

On 8.5.1963, after the ceremony to celebrate the Buddha's birthday, Ven. Thích Tịnh Khiết requests Ven. Thích Trí Quang and the Buddhist delegation to explain to the crowd the content of the negotiation...Then, Buddhists gather before the radio station to listen to the celebration from tape recording. Contrary to previous announcement, the station broadcasts different program. The crowd become angry and pour to the station building to request for broadcasting the morning festival. At 8 pm, there are about 10.000 Buddhists at the station. At that moment, Major Đặng Sỹ mobilizes forces of security, soldiers with armored cars, THE POLICE WITH CANNONS and armed to teeth with tear gas grenades, and the military police to crush the demonstration. 

Meanwhile, Ven. Thích Trí Quang goes immediately to the station to meet the officials, they answer that due to technical reasons the broadcast is cancelled. Right at that moment, the police, the security force, the fire cruise pump water to the crowd. The latter scream asking for stopping this, but fail.

To the request of the Buddhist delegation, head of Thừa Thiên province agrees to use cars with loudspeakers to inform the Buddhists in Huế about the decision of the local authority. 

On 8.5.1963, after the ceremony to celebrate the Buddha's birthday, Ven. Thích Tịnh Khiết requests Ven. Thích Trí Quang and the Buddhist delegation to explain to the crowd the content of the negotiation... Then, Buddhists gather before the radio station to listen to the celebration from tape recording. Contrary to previous announcement, the station broadcasts different program. The crowd become angry and pour to the station building to request for broadcasting the morning festival. At 8 pm, there are about 10.000 Buddhists at the station. At that moment, Major Đặng Sỹ mobilizes forces of security, soldiers with armored cars, THE POLICE WITH CANNONS and armed to teeth with tear gas grenades, and the military police to crush the demonstration. 

Meanwhile, Ven. Thích Trí Quang goes immediately to the station to meet the officials, they answer that due to technical reasons the broadcast is cancelled. Right at that moment, the police, the security force, the fire cruise pump water to the crowd. The latter scream asking for stopping this, but fail.

In the night of 7.5.1963, 1000 Buddhists accompanying the monks including Ven.  Thích Đôn Hậu and Ven. Thích Trí Quang go to the Administrative Building to show their standpoint. A Buddhist named Nguyễn Hữu Khang has reported what happened to both authors of the book that the provincial head must agree to let Mr Tru, head of provincial Information Branch, send 3 cars with loudspeakers informing Buddhists that the festival on 8.5.1963 would be normal, there is no change. 

In the night 8.5.1963, Buddhists go to Từ Đàm pagoda, but they are told to go to the radio station to wait for a carnival (xe hoa) coming from Đà Nẵng. Due to this, there are lots of people gathering near the station. Like the spirit of the last no-sleeping night of 7.5.1963,  requesting for the equal rights in religion, the night of 8.5.1963 implies the same spirit... 

To the request for help of director of the station Ngo Ganh, provincial head ordered Major Đặng Sỹ to mobilize the military to protect the station. Đặng Sỹ got permission from General Lê Văn Nghiêm to use the military force... 

These forces are never ordered to oppress the people, but use water to dissolve the excited crowd. The soldiers holding rifles parallel to their chests to push the crowd back so that their cars can move closer to the station. When Đặng Sỹ's car is about 50 m from the station, there is a big explosion and then another one. That is 10h30 pm. Afraid of viet cong attacks, Đặng Sỹ fires bullets on the air and orders soldiers to use "concussion grenades... 

The explosive is a plastic one used often by CIA, the person who threw it is Captain James Scott. In 1966, in a military operation in Nam Đông, captain James Scott, advisor of the battalion 1/3, 1st Infantry Division from 1965, revealed to captain Bửu that he did it. According to Bửu, in 5.1963, Scott went from Đà Nẵng to Huế on 7.5.1963. After many times of questionings by Bửu who is cousin of Đặng Sỹ's wife's, Scott admitted that he threw that explosive which is a special one used by CIA.  Its size is of bigger than a match box with time detonating device.

This books says that on 7.5.1963, commander Conein who went to Huế for inspection said to a person named Trần Khoi that U.S.  government had the feeling that the government of Vietnam is the one of Catholics, the American public opinion showed some discontent for Vietnam, to oppose communists, one had to mobilize Buddhists. Hue is the kingdom of bishop Ngô Đinh Thục. In a party at an American consulat, vice-consul told Tran Khoi that,  ‘’Buddhist force is a big one, they would not participate in anti-communist activities if the government do not open door for Buddhists to join in. ’’ However, as the Americans find out later it is not the case. That is the reason for the return of Mr Henri Cabot Lodge. 

5. The fifth book entitled ‘’South Vietnam: Reesing's Reports-a Political History,  1954-1970’’ writes :

On 5.5.1963, on the occasion of "Lễ Ngân Khánh" (the 25th anniversary as a bishop) of Bishop Ngô Đ́nh Thục in Huế, Ngô Đ́nh Cẩn requests Ven. Thích Tịnh Khiết to send a congratulatory mail to bishop Thục, but Ven.  Thích Tịnh Khiết refuses to do so. On 7.5. 1963, the government orders to ban the Buddhist flag. On 8.5.1963, that is the Buddhist festival but the Roman Catholic flags are still on. The radio station has order not to broadcast the tape of the Buddhist festival. 20. 000 Buddhists including women and kids went to the radio station for objection. Provincial vice-head comes to disperse the crowd throwing tear gas grenades. There are 9 dead including kids, and 20 injured. The government says that viet cong did sabotaging,  but 3 professors of the Huế university and one West German came out as witnesses informing what they saw to the press, western diplomatic corps, the secretary-general of U.N. , foreign military officials, International Buddhism and the Vatican. The 3 are deported 3 months later. 47 professors of the Huế university resigned on 17.8.1963 to object the arrest of Father Cao Văn Luận who doesn't stop the demonstration of students. ’’

Nguyễn Tran (‘’Công và Tội: Những Sự Thật Lịch Sử’’ [Credit and Sin: Historic Truths. 1991] writes a letter to Father Cao Văn Luận asking about these allegations, he answers: 

- ‘’Lễ Ngân Khánh’’ of Bishop Ngô Đ́nh Thục was celebrated on 29.6.1963 in Huế,  not on 5.5.1963. The day of 5.5.1963 was the one Bishop Phạm Ngọc Chi took the office in Đà NẵNG AND THERE WERE FLAGS ON THE STREETS. Then there was no such thing like Mr Ngô Đ́nh Cẩn told Ven. Thích Tịnh Khiết to send congratulations to Bishop Ngô Đ́nh Thục before 1 month and 24 days. 

- The 3 German professors (one is communist sympathizer) stayed at the Huế university only for 2 years from 1959 to 1961, and has gone back to Germany. There were no professors to be witnesses to accuse the government. 

- There were no such things like 47 professors resigning on 17.8.1963. There were only some students who gathered to beg Father Cao Văn Luận to stay and not accept the new dean Trần Hữu Thê, but he dissuaded them to do it. 

6. The 6th document is ‘’US News and World Report’’, issue 10.10.1983, entitled ‘’Untold Story of the Road to War in Vietnam’’.  It says :

On 8.5.1963, thousands of Buddhists entered the Huế city to object the law banning the raise of Buddhist flags. That is because the Roman Catholic flags were raised to celebrate the consecration of the archbishop Ngô Đ́nh Thục in Huế, older broher of Mr Diệm. When the Buddhists in protest did not dissolve, the security force came in. There were at least 7 dead. 

Needless to say, one can conclude that this is also not true. 

7. There is another source of data for Nguyễn Tran's book coming from a witness who is now living in Los Angeles. His name is T. Mr T. says :

On 7.5.1963, he received an offical telegram of the Directorate of Information to its branches in all provinces saying generally that, As compared with the circular which had been issued 5 or 6 months ago, the national flag must be respected, the flag should be hung in the middle and above all the flags of religions or organizations, ... 

That is it, there is no order to ban hanging religious flags, nor to lower the International Buddhist flags. The director-general of the Information is the congressman, doctor Trần Văn Thọ, this Directorate belongs to the Presidential Office, due to this,  all letters have the header as ‘’The Office of the Presidential Office, the Directorate of Information’’ (Văn Pḥng Tổng Thống Phủ, Tổng Nha Thông Tin). The official telegram mentioned above is the directive of the Directorate, but it does not mean that that directive is worked out directly from the Presidential Office, but from the Directorate itself. 

At that time, the Information Branch in Hue belonged to the Office-5 of the 1st Infantry Division of commander Đỗ Cao Trí. Mr Trí brings that official telegram to lieutenant Dương Diên Nghị, head of Office-5, who then hands it to major Nguyễn Văn Hiếu who became brigadier-general and died in action later). Mr Hiếu did put down:‘’Tranfer this to the Information Branch for public announcement’’. Mr T. gives the job to head of Technical Section. A moment later, this head complains that some people threw stones into his car breaking the glass. Mr T says to me that when fleeing from Vietnam, he brought this official telegram with him but through many times of moving, the document has been lost. 

After that, Mr T. is informed that there is a policeman who climbs onto the post before the store ‘’Tailleur Lien’’ in the main market Đông Ba of Huế,  rips the Buddhist flag, throws it to the ground and disappears. Mr T. checks about this with his officials who report that there was no order to lower the flag, that is a sabotage. 

Informed about the flag which has been thrown, Buddhists rush to the Administrative Building to protest. 

On the next day, 8.5.1963, it is the celebration for Buddha's birthday. The monks from Từ Đàm pagoda give sermons calling for a struggle to the end so that Buddhism cannot be discriminated. They also attack the policy of family despotism (gia đ́nh trị) of Mr Diệm's regime and accuse Bishop Ngô Đ́nh Thục of abusing the power interfering politics. Ven.  Thích Trí Quang declares that he would go to the radio station to have a talk. Informed by this,  Buddhists rush to the station in abundance. 

Provincial head, Nguyễn Văn Đặng, went to Từ Đàm pagoda to meet Ven. Thích Trí Quang and both went to the radio station. When they arrive at the gate of the station, they must use the back door because the crowd is dense. When they enter into the station, there is an explosion...Later, provincial head and Ven. Thích Trí Quang used the back door to go toward the river bank and drive home and pagoda. Mr T says that Major Đặng Sỹ just uses armored car M-113 to protect the station when the explosion occurs. 

Mr T. says that he is a Buddhist and can't lie about this. 

According to Nguyễn Tran's judgement, Mr T. 's words are most trustworthy because he is a Buddhist official present at the scene. About other sources, there are fluctuations of accounts and, especially informations from 2 American documents which have untrue reporting. It means that the Western news basing on what have been seen or reported by others who did distort the matter and bring down Mr Diệm's regime.

About the explosive before the station in the night of 8.5.1963, it has been looked at by Father Cao Văn Luận who suggested according to the public opinion that it migh be the job of CIA. Mr Cao Thế Dung did mention this in his book about captain James Scott. This is the same news Nguyễn Tran read in an American review in 6 or 7.1975 when he stayed in his daughter's house in Arcadia after he had moved there. The man who signed under that article was James Scott who acknowledged that he threw the plastic explosive before the radio station on 8.5.1963. Nguyễn Tran read the article loudly for his family, but because he was in a state of sadness after fleeing away from Vietnam and left behind his son he had no mood for writing anything and as a result, he did not save the article. 

Writing this book Mr Nguyễn Tran has tried to track down James Scott's article in many microfilms in U.S. libraries, but failed. He phoned the Defense Department asking about James Scott, they answered that there were two James Scott, but they were discharged and had no names in pension records: they did not know their addresses. 

In summary, the official telegram about the regulation of hanging the flag is directly from the Directorate of Information, not from the Presidential Office. The telegram is not for lowering the international Buddhist flag, but for hanging the national flag in the middle and above the other flags. 

The death at the radio station in the night of 8.5.1953 can't be done by Major Đặng Sỹ or his soldiers by using ‘’concussion’’ grenades because these ones are not fatal. The exlosive must be from James Scott or ‘’somebody else’’. And this has been confirmed by a court session to try Mr Đặng Sỹ later. 

It's no doubt that the Buddhist incident of 1963 is just an event set up by the opponents of Mr Diệm's regime. In other words, using faked accusation that Mr Diệm oppressed Buddhism is the theme or pretext for a political purpose of religious people. Oppostion of a regime is political matter, but some factions of Buddhist hierarchy interfered heavily into politics, instigated more confrontation heating up hatred instead of using Buddhism to make peace with Mr Diệm.

After Mr Diệm is killed,  Buddhists continue ‘’struggle’’ with their incessant going to the streets, self-immolating and even bringing their altars to the streets. These events show that some Ấn Quang Sectarian monks and followers abuse Buddhism for a political goal reconciling with communists by cheering Ho chi Minh, but not with Mr Diệm,  and the latter has to be eliminated. Other anti-communist leaders of South Vietnam are also objected by them when labeled as Regime-Diệm-Without- Diệm. 

Buddhism used for political purpose

According to ‘’A Death in November’’ by doctor Ellen J. Hammer, when Ambassador Bửu Hội returned home in order to persuade his mother, senior monk Diệu Không, not to self-immolate, he received a letter from Ven. Thích Tịnh Khiết and Ven. Thích Tâm Châu who have complained that ‘’Buddhism had been used for political purpose, ’’ and events in the days before the attacks on pagodas lost religious goals. The chaos became thoroughly political and when the monks went beyond their limit, the government of Mr Diệm had no choice to cope with them for self-defense. Ambassador Bửu Hội submitted the two letters (from the two venerables) to U.N. It may be that these monks have had no knowledge about the letter from Ven. Thích Trí Độ sent from Hanoi to Ven.  Thích Trí Quang. Excluding subordinates of Ven.  Thích Trí Quang, it may be that a majority of monks did not know intentions of Ven. Thích Trí Quang who has taken advantage of  them. 

In ‘’Our Vietnam Nightmare’’, p. 28, Marguerite Higgins says that Ven. Thích Trí Quang invited her to Xá Lợi pagoda. He spoke to her publicly that, ‘’We can not negotiate with North Vietnam until we topple Diệm-Nhu.’’

Doctor Ellen J. Hammer in ‘’A Death in November’’ wrote the same and added that ‘’Ven. Thích Trí Quang wanted also a neutral man sitting in Saigon" (Is it Dương Văn Minh or Vũ Văn Mẫu ?). 

Both authors wrote that ‘’Ven. Thích Trí Quang said to an American official in Huế two days after the Buddhist incident before the radio station of the night of 8.5.1963 that he would never stop struggle until the government collapsed. ’’

It means that the Americans knew clearly the scheme of Ven. Thích Trí Quang from the start, and especially Marguerite Higgins let president Kennedy know the intention of Ven.  Thích Trí Quang after she came back from Saigon. To Kennedy, he did not react a bit or wanted also to collaborate with Ven. Thích Trí Quang to overthrow Mr Diệm? One clear thing is that Kennedy was an ally of Ven. Thích Trí Quang because he accepted Ven. Thích Trí Quang's seeking asylum at the U.S.  embassy. 

In the spring of 1965, McNamara called this strategy a big mistake of U.S. because great problems caused by Ven.  Thích Trí Quang had created more havocs for U.S. . 

One of the worst scheme of Ven. Thích Trí Quang in order to topple the government of Mr Diệm was to organize self-immolations, tricking devout persons to destroy their bodies; the reason is there was nothing to excite public opinion better than the picture of a man who burns himself like a torch: that was an atrocious and deplorable scene and this was also the plan urging U.S. to act when seeing that the U.S. public opinion ‘’recognized’’ that that was in no doubt the crime committed by Mr Diệm who oppressed Buddhism so much that it created incredible sacrifices in protest. 

About Ven. Thích Trí Quang, contemplating that his Buddhist group could not topple Mr Diệm, he had to lean on the hands of U.S. and as Marguerite Higgins assessed: ‘’Ven.  Thích Trí Quang wanted to take the head of Mr Diệm and put it not on a silver plate but wrapped it inside an American flag.’’

About Major Đặng Sỹ, standing before a military court in Saigon (after the coup d'etat 1.11.1963), he declares: I have two offences. I am a Catholic and I obey the order. Đặng Sỹ also says that ones imprisoned him for many months in dark cell to force him to put murder charge on Archbishop Ngô Đ́nh Thục for his own freedom, but Đặng Sỹ refused to do so. 

It's no doubt that all came from religious discrimination, but it's not Catholics to discriminate agaisnt Buddhists but on the contrary, some bad elements in Ven. Thích Trí Quang's group discriminate against Catholics. This originated from the history whereby the royal courts opposed Catholicism and tortured their Vietnamese Catholics for more than 300 years. While emperor Meiji (Vua Minh Trị) of Japan opened his hands to Westerners and led his country to a prosperous nation, Vietnam was colonized and mixed with chaos. 

Consequences caused by Ven. Thích Trí Quang were not only related to religious discrimination, but destruction of South Vietnam fit with the plan of Ven. Thích Trí Độ from Hanoi. 

Using the pretext that Buddhism was oppressed so that it must stand up to struggle against oppression, but after 1963 when Buddhism was seen as upper-handed bearing no oppression, these Buddhists (Ấn Quang Sect) still created havocs and chaos (People's Council of Salvation: Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc in the Central Vietnam in 1964, the Buddhist struggle in 1965, in 1966...) which paralyzed totally the campaign against communists. 

Objections by top advisors of Kennedy

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (6)

On Monday, CIA director John McCone, Defense Minister McNamara and General Taylor objected fiercely the sent message. Concurring with wth the military, McCone sees Mr Diệm as best leader. General Taylor is angry at reading the message. He says that the people opposing Diệm is grouped in the State Department which take advantage of the absence of important officials in the government to draft directive which is never accepted in a common situation. 

Feeling uneasy due to contradictory ideas among his advisors, Kennedy, going around the table, asks who wants to retract the message. Although McCone and Taylor don't agree with the message, they don't suggest to cancel it. Taylor says, ‘’We can't change our policy in 24 hrs, if so who can trust us?’’. That is a strange reasoning because the message is still top secret, then how can one be afraid that ‘’no one will trust us anymore’’? To manage a country, if knowing that something is wrong then one should correct it; if not,  he would commit a bigger mistake. It is known that after the message is executed, Kennedy is so regretful because he has created a shameful picture for U. S.  and brought havoc to an ally whom U.S.  has committed to support. East and West have that difference. 

In a meeting on the next day when the difference in ideas is still maintained, Kennedy sends a message to Cabot Lodge asking him about the plan and leaders of the coup d'etat.  Taylor drafts a message telling Lodge that the message 243 of 24.8.1963 is studied again by the government because there is no words from the Defense Department and and its General Staff.

When there is another meeting taking place, officials of the State Department comprising people against Mr Diệm suggest going ahead with the coup d'etat. Ambassador Nolting rejects the idea and says that doing this is breaking the promise with Mr Diệm. He says straightforwardly that, ‘’I think some people at the State Department feel happy to see me go...because they are using many ropes to squeeze Mr Diệm's throat. I feel there is a movement to topple Mr Diệm coming from Undersecretary of State Averell Harriman, Roger Hilsman and others of the State Department. This is against the advice of the CIA. I want this to be recorded to the document. ’’ After saying this,  Nolting resigns. 

U.S. News and World Report says the official message from the State Department to Cabot Lodge in the Saturday afternoon of 24.8.1963 is ‘’leaps and bounds’’ of U.S.  in interfering into the internal affair of South Vietnam without a previously elaborate study. 

Later, Cabot Lodge calls the message ‘’ill-advised, reprehensible and insane’’.  However,  receiving it on Sunday of 25.8.1953, Cabot Lodge holds immediately a meeting of high-ranked officials for discussion and then he sends a message to the State Department for a permission to contact Vietnamese coup generals to let them know demands of U.S.  without informing Mr Diệm. The State Department agrees. 

Next, Cabot Lodge orders CIA to contact the Vietnamese military to ask about the plan of a coup d'etat. To encourage Viet generals, CIA let them know that U.S. wants to eliminate Mr Nhu and Buddhist demands must be satisfied: if not U.S. will cut economic and military aid to South Vietnam. U.S.  will accept a new government. However,  the success or failure of the coup d'etat is responsibility of Vietnamese generals. Conein, a CIA, contacts General Trần Thiện Khiêm and the latter agrees on demands and promises to answer Conein after he meets General Dương Văn Minh. 

On 26.8.1963, at 11 am, Cabot Lodge presents credential to Mr Diệm and talks about dismissal of Mr Nhu. Mr Diệm asks him: ‘’Nhu's working for me as adviser does any matter to you?’’.  Cabot Lodge says, ‘’That is the idea of Mr Kennedy.’’

Conein is assigned to contact General Dương Văn Minh, but head of CIA Richardson tells Conein not to encourage Mr Minh and just litsen to his report. Not to agree with Richardson's restriction, Cabot Lodge not to encourage Mr Minh and just litsen to his report.  Not to agree with Richardson's restriction, Cabot Lodge orders Conein to receive his order from now on. 

Cabot Lodge sends a telegram to Kennedy saying, ‘’We come to a point of no return to overthrow Diệm's government. Prestige of U.S. is put on this goal. To me, we can't win over Diệm's government.’’ To urge Vietnamese generals to act fast, Cabot Lodge requests for cutting economic aid if Vietnamese generals demand it as a signal of support from U.S. . 

General Harkins doen't want the coup d'etat without effort to demand Mr Diệm to eliminate Mr Nhu in advance. Cabot Lodge sends a message saying that is a danger because Vietnamese generals has been fed up much. The White House gives Cabot Lodge to cut aid at his will but not to use it as an ultimatum. 

Guessing that a bloodpath can occur in Saigon due to strong reaction from Mr Diệm,  Kennedy orders the Navy to transfer 5,000 American citizens by a special fleet out of the sea of South Vietnam and in Okinawa in Japan. 3,000 of marine corps are in alert 24/24hrs.

From special documents of the White House, Doctor Ellen J.  Hammer discovers that Roger Hilsman takes preliminary steps for possible reactions from Mr Diệm's government. If Cabot Lodge and his officials were seen as ‘’undesirable elements’’, U.S. would ignore them until the aftermath of the coup d'etat. If Mr Diệm consents with Hanoi a neutrality for South Vietnam or an accord, let a coup d'etat occur to set up a new government. U.S. will find all ways to make the military loyal to Mr Diệm leave him. U.S. will be ready to stop loyal elements and let the rebellious military arrest Mr Diệm and his family, and bring them out of Saigon. If the resistance continues, U.S. will use ready means in South Vietnam to help the rebellious military, if necessary U.S. will let American soldiers help them to victory, including to destroy the palace Gia Long. If Mr Diệm's family is still alive, Mr Nhu will be banished, about Mr Diệm, it's up to rebellious military. 

While the State Department is taking care of how to overthrow Mr Diệm, some Americans go to see him, especially Mr Paul Kattenburg, head of Vietnam section at the State Department who knew Mr Diệm before. In a moment of emotion, Mr Diệm says: ‘’I will ready to die immediatly, if blood and sweat spent for 9 years go way just to sacrifice for a small group of instigation under the label Buddhism.’’ Paul Kattenburg answers, ‘’Help us in order we can help you.’’ After that Kattenburg suggests a withdrawal of U.S. because he sees that Mr Diệm's government has no future, no hope to win with or without Mr Diệm. But the pressure around Kennedy forces him to escalate, not retreat. 

On 31.8.1963, Kattenburg returns to Washington to report the U.S. government his observations that U.S. doesn't understand tradition, culture, history, people and opponents in South Vietnam. He repeats Cabot Lodge's warning that: ‘’If U.S. continues supporting the oppressing regime with bayonets at every corner and negotiations with ‘’puppet’’ monks, we will be kicked out of South Vietnam in 6 months!’’. So, Kattenburg concludes: ‘’In that situation, it's better for us to decide a withdrawal with honor. ’’

Answering Taylor's question for further explanation, Kattenburg says: ‘’From 6 months to one year, seeing us lose the battle, the Vietnamese will gradually lean to the other side and as a result, we will be obliged to leave.’’ The Secretary of State Dean Rusk says: ‘’Your words are just predictions. We won't withdraw from Vietnam until victory...We won't direct the coup d'etat.’’

Kennedy turns to vice-president Lyndon B. Johnson whom Kennedy rarely asks his thinking about Vietnam. Johnson will replace an assassinated Kennedy. He says:‘’We shouldn't hold the role of a cop and a thief,  but must negotiate with Mr Diệm.’’

Johnson had many times to warn officials at the State Department that they should not misuse authority in Vietnam because the Americans as Westerners lacks experiences on the Oriental matters and as a result, they don't know what's the best for Vietnam. Sometimes we must act, sometimes we don't. The war is going on: who knows whether or not a committee of coup generals would be more successful than a clean and deified man who overcame many impossible obstacles. Except that we know for sure the successors of Mr Diệm would be better than him. The wisest thing is to continue working with the man we did know although he is complexed. Who else has determination and iron will like him ?

While his specialists on foreign policy are working out a workable plan, Kennedy announces foolishly on the CBS in the night of 2. 9. 1963: ‘’I don't think that the war will be won unless the government of South Vietnam tries to get support from the people.’’ When journalist Walter Cronkite asks: ‘’Does Mr Diệm got enough time to get that support?’’ Kennedy answers: ‘’I think yes if there is a change of policy and,  possibly, the personnel.  Without that change, I don't see any chance for that.’’ In other words, Kennedy publicly demands Mr Diệm to change policy and eliminate Mr Nhu. That declaration is too open to make Mr Diệm accept. Losing face to the world, how can one get support from the Vietnamese? It's the lofty policy of Kennedy who wants to order rather than skillfuly convinces a man of fidelity like Mr Diệm to yield. 

It's Cabot Lodge to create an asphyxiating atmosphere by the same lofty behavior and keep a distance from Mr Diệm. A Republican colleague criticizes Cabot Lodge as follows: ‘’I think Lodge must need at least two weeks to find out a bit the situation before reaching any decision. But Lodge is against Mr Diệm from the beginning when he just arrives in Saigon.  His telegrams to Washington shows denouncement. Lodge is the important obstacle for some of us to hinder a coup d'etat.’’ A high-ranked official at the State Department says that before 1.11.1963, Lodge has many times to receive order to contact tightly Mr Diệm, but Lodge answers: ‘’My policy is not to go to Diệm,  but he must come to me.’’

Marguerite Higgins cites words from minister of Justice Robert Kennedy that ‘’Cabot Lodge's activities in many months before the coup d'etat is terrible.’’ However, according to Lyndon B. Johnson, ‘’it's not Lodge's actions to be terrible because he just carries the policy of Washington.’’ Johnson means that the policy of Kennedy puts much pressure on Mr Diệm, it comes to such point that ‘’a branch must be broken’’ and the coup d'etat occurs.  

U.S. News and World Report, basing on minutes of a meeting at the White House at 10h30 of 6.9.1963, writes that Robert Kennedy talks about punishing Mr Diệm as follows: ‘’If we come to a conclusion that we will lose the battle to Diệm, why don't we eradicate that painful prickle?’’

After that meeting, Kennedy sends a delegation to Vietnam led by General Krulak of the military and Joseph A. Mendenhall, a high-ranked official of the State Department who once served as political advisor at the U.S. embassy in South Vietnam. They arrive at Saigon on 8.9.1963, separate right away at the airport and promise to see each other again in 36 hrs. 

Krulak goes to see 80 military advisors, including 150.000 U.S soldiers in Vietnam.  Investigating in detail about the ongoing war, he concludes that the South Vietnamese fight against communists is going well. Mendenhall contacts American officials along the Coast of Central Vietnam where the Buddhist matter is tense. He also meets some Vietnamese in Saigon whom he knows having knowledge and objectiveness. He depicts that Saigon, Huế and Đà Nẵng are cities of ‘’hate... living under a regime of terror’’. He concludes that from a hatred toward Mr Nhu, the people come to hate Mr Diệm. 

On 9.9.1963, Krulak and Mendenhall leaves Saigon to Washington with John Mecklin, a relation official at the U.S. embassy who was recalled for consultation. Each drafts own report. To Mecklin, Krulak and Mendenhall don't like each other and they just talk to each other when ‘’it can't be avoided’’. 

On the next day, at 10h30, Kennedy convenes a meeting at the White House for the three to report their findings. Krulak reports that the war is in good progress. It is hurt by the political crisis, but it's okay. The war against communists will win if the military and social aid is continued despite great shortcoming of the regime. 

Washington involvement

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (7)

Mendenhall's report is totally different. He talks about the standstill of the civilian government and the people fearing and hating Nhu. He predicts that there will be possibly a religious war or the people will lean to communists...Nhu must go if one wants to win over communists. 

Due to difference between two reports,  Kennedy asks: ‘’Is that both of you come back from one country?’’. Krulak answers: ‘’Mr Mendenhall visits cities of Vietnam. I go to rural areas of Vietnam where the war occurs.’’

The contradiction of two reports causes a debate between two sides, for and against Mr Diệm. Ambassador Nolting says the government of Saigon overcomes the hatred and terror of 1961 and survives while the war against communists is in good progress. George Bundy, It's the lofty policy of Kennedy who wants to order rather than skillfuly convinces a man of fidelity like Mr Diệm to yield. 

It's Cabot Lodge to create an asphyxiating atmosphere by the same lofty behavior and keep a distance from Mr Diệm. A Republican colleague criticizes Cabot Lodge as follows: ‘’I think Lodge must need at least two weeks to find out a bit the situation before reaching any decision. But Lodge is against Mr Diệm from the beginning when he just arrives in Saigon.  His telegrams to Washington shows denouncement. Lodge is the important obstacle for some of us to hinder a coup d'etat.’’ A high-ranked official at the State Department says that before 1.11.1963, Lodge has many times to receive order to contact tightly Mr Diệm, but Lodge answers: ‘’My policy is not to go to Diệm,  but he must come to me.’’

Marguerite Higgins cites words from minister of Justice Robert Kennedy that ‘’Cabot Lodge's activities in many months before the coup d'etat is terrible.’’ However, according to Lyndon B. Johnson, ‘’it's not Lodge's actions to be terrible because he just carries the policy of Washington.’’ Johnson means that the policy of Kennedy puts much pressure on Mr Diệm, it comes to such point that ‘’a branch must be broken’’ and the coup d'etat occurs.  

U.S. News and World Report, basing on minutes of a meeting at the White House at 10h30 of 6.9.1963, writes that Robert Kennedy talks about punishing Mr Diệm as follows: ‘’If we come to a conclusion that we will lose the battle to Diệm, why don't we eradicate that painful prickle?’’

After that meeting, Kennedy sends a delegation to Vietnam led by General Krulak of the military and Joseph A. Mendenhall, a high-ranked official of the State Department who once served as political advisor at the U.S.  embassy in South Vietnam. They arrive at Saigon on 8.9.1963, separate right away at the airport and promise to see each other again in 36 hrs. 

Krulak goes to see 80 military advisors, including 150.000 U.S soldiers in Vietnam.  Investigating in detail about the ongoing war, he concludes that the South Vietnamese fight against communists is going well. Mendenhall contacts American officials along the Coast of Central Vietnam where the Buddhist matter is tense. He also meets some Vietnamese in Saigon whom he knows having knowledge and objectiveness. He depicts that Saigon, Huế and Đà Nẵng are cities of ‘’hate...living under a regime of terror’’. He concludes that from a hatred toward Mr Nhu, the people come to hate Mr Diệm. 

On 9.9.1963, Krulak and Mendenhall leaves Saigon to Washington with John Mecklin, a relation official at the U.S. embassy who was recalled for consultation. Each drafts own report. To Mecklin, Krulak and Mendenhall don't like each other and they just talk to each other when ‘’it can't be avoided’’. 

On the next day, at 10h30, Kennedy convenes a meeting at the White House for the three to report their findings. Krulak reports that the war is in good progress. It is hurt by the political crisis, but it's okay. The war against communists will win if the military and social aid is continued despite great shortcoming of the regime. 

Washington involvement

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (7)

Mendenhall's report is totally different. He talks about the standstill of the civilian government and the people fearing and hating Nhu. He predicts that there will be possibly a religious war or the people will lean to communists...Nhu must go if one wants to win over communists. 

Due to difference between two reports,  Kennedy asks: ‘’Is that both of you come back from one country?’’. Krulak answers: ‘’Mr Mendenhall visits cities of Vietnam. I go to rural areas of Vietnam where the war occurs. ’’

The contradiction of two reports causes a debate between two sides, for and against Mr Diệm. Ambassador Nolting says the government of Saigon overcomes the hatred and terror of 1961 and survives while the war against communists is in good progress. George Bundy, It's the lofty policy of Kennedy who wants to order rather than skillfuly convinces a man of fidelity like Mr Diệm to yield. 

It's Cabot Lodge to create an asphyxiating atmosphere by the same lofty behavior and keep a distance from Mr Diệm. A Republican colleague criticizes Cabot Lodge as follows:‘’I think Lodge must need at least two weeks to find out a bit the situation before reaching any decision. But Lodge is against Mr Diệm from the beginning when he just arrives in Saigon.  His telegrams to Washington shows denouncement. Lodge is the important obstacle for some of us to hinder a coup d'etat.’’ A high-ranked official at the State Department says that before 1.11.1963, Lodge has many times to receive order to contact tightly Mr Diệm, but Lodge answers: ‘’My policy is not to go to Diệm,  but he must come to me.’’

Marguerite Higgins cites words from minister of Justice Robert Kennedy that ‘’Cabot Lodge's activities in many months before the coup d'etat is terrible.’’ However, according to Lyndon B. Johnson, ‘’it's not Lodge's actions to be terrible because he just carries the policy of Washington.’’ Johnson means that the policy of Kennedy puts much pressure on Mr Diệm, it comes to such point that ‘’a branch must be broken’’ and the coup d'etat occurs.  

U.S. News and World Report, basing on minutes of a meeting at the White House at 10h30 of 6.9.1963, writes that Robert Kennedy talks about punishing Mr Diệm as follows: ‘’If we come to a conclusion that we will lose the battle to Diệm, why don't we eradicate that painful prickle?’’

After that meeting, Kennedy sends a delegation to Vietnam led by General Krulak of the military and Joseph A. Mendenhall, a high-ranked official of the State Department who once served as political advisor at the U.S. embassy in South Vietnam. They arrive at Saigon on 8.9.1963, separate right away at the airport and promise to see each other again in 36 hrs. 

Krulak goes to see 80 military advisors, including 150.000 U.S soldiers in Vietnam.  Investigating in detail about the ongoing war, he concludes that the South Vietnamese fight against communists is going well. Mendenhall contacts American officials along the Coast of Central Vietnam where the Buddhist matter is tense. He also meets some Vietnamese in Saigon whom he knows having knowledge and objectiveness. He depicts that Saigon, Huế and Đà Nẵng are cities of ‘’hate... living under a regime of terror’’. He concludes that from a hatred toward Mr Nhu, the people come to hate Mr Diệm. 

On 9.9.1963, Krulak and Mendenhall leaves Saigon to Washington with John Mecklin, a relation official at the U.S. embassy who was recalled for consultation. Each drafts own report. To Mecklin, Krulak and Mendenhall don't like each other and they just talk to each other when ‘’it can't be avoided’’. 

On the next day, at 10h30, Kennedy convenes a meeting at the White House for the three to report their findings. Krulak reports that the war is in good progress. It is hurt by the political crisis, but it's okay. The war against communists will win if the military and social aid is continued despite great shortcoming of the regime. 

Washington involvement

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (7)

Mendenhall's report is totally different. He talks about the standstill of the civilian government and the people fearing and hating Nhu. He predicts that there will be possibly a religious war or the people will lean to communists...Nhu must go if one wants to win over communists. 

Due to difference between two reports,  Kennedy asks: ‘’Is that both of you come back from one country?’’. Krulak answers: ‘’Mr Mendenhall visits cities of Vietnam. I go to rural areas of Vietnam where the war occurs.’’

The contradiction of two reports causes a debate between two sides, for and against Mr Diệm. Ambassador Nolting says the government of Saigon overcomes the hatred and terror of 1961 and survives while the war against communists is in good progress. George Bundy,  Next, Trần Văn Đôn and Tôn Thất Đính come to Gia Long Palace to present him a plan of renovating the government and suggest a dismissal of Mr Nhu.  

On 24.10.1994, knowing that Lodge and his wife are going to Đà Lạt for a leave, Mr Diệm lets Trương Công Cừu to tell Lodge that they shouldn't be outside alone due to security reason. He invites the couple to fly to Đà Lạt on Sunday so that they can attend the inauguration ceremony at the Atomic Center of Đà Lạt and stay there with him. 

At a dinner of the Sunday evening, Mr Diệm talks about a rumor to assassinate Lodge and says that is nonsensical because he has the vital duty to keep Lodge safe. 

Close to 1.11.1963, Kennedy complains with Robert Kennedy that Cabot Lodge refuses to show openness to Mr Diệm. 

Rebellious generals plan to kidnap Messrs. Diệm-Nhu at a military parade on the National Day 26.10.1963, but it fails because all guns in the area must be emptied of car tridges during this occasion. 

On the same day, through a go-between Conein, Trần Văn Đôn meets Lodge at Tân Sơn Nhất airport. Đôn complains, ‘’The spirit of the army declines gravely due to the Buddist incident’’. When Lodge answers that he is willing to help, Đôn says: ‘’Ambassador has enough means. What we need is support of U.S.  if we are successful. Don't interfere in this because it is an internal matter of the Vietnamese !’’

On 28.10.1963, Đôn phones Conein to his office to let Conein know about the day of the coup d'etat and informs the U.S. 4hrs before the coup. Đôn also requests Lodge not to go to Washington on 31.10.1963 because he is afraid that Gia Long Palace will have suspicion. 

Although Lodge confirms that there would be a coup d'etat, but Washington is still worried; they send one message to Lodge telling him to dissuade rebellious generals except that Lodge is sure 100% that the coup d'etat is well accomplished. Next is the second message: ‘’We don't accept that we have no right to postpone or dissuade the coup d'etat. Lodge answers:‘’It's too late. The matter is in the hands of Vietnamese generals. They don't want us to interfere. They don't want our help even...weapons...They want to direct it. Washington says that it wants to step aside, then do it. ’’

Lodge's message makes William Colby, CIA head of the Far-East Affairs, criticizes: ‘’Yes, that is a coup d'etat by Vietnamese generals. But I think basic things are decided in Washington because few weeks before, in a press conference, President says that it is essential to have new personnel in the Vietnamese government and this was related to Messrs.  Diệm-Nhu...’’

On the other hand, in a secret message sent to George Bundy, national security advisor, Lodge confirms clearly: ‘’Saigon CIA carry decisively all my directives. I myself check every contact between General Đôn and Conein who executes my orders in any case. ’’

After the coup d'etat, Lodge talks about U.S. arrangement as follows: ‘’... It is equally the ground in which the coup seed grew into a robust plant was prepared by us and that the coup would not have happened as it did without our preparation.’’

Later, when General Trần Thiện Khiêm becomes Ambassador to U.S. , he admits that the organization of the coup d'etat is to please the Americans, ‘’We think that President Kennedy wants so. It's the only way to save the effort of the war against communists. We think that U.S. cutting military aid means telling us to do so...’’

In ‘’The Ten Thousand Day War’’ by Michael Maclear, 1981, p. 81, the Vietnamese generals effectively regarded the coup as American-ordered, and it was staged only when the generals knew they would inherit American aid. Mr Diệm's press secretary, Tôn Thất Thiện,  quotes one of the coup leaders, General Kim, on his motivations: ‘’I ask him afterwards because I considered him loyal to president Diệm. And General Kim said ‘’The Americans told us to choose between Mr Diệm and American Aid. We had no choice. ’’ 

Few days before the coup d'etat, informed by Mr Ngô Đ́nh Cẩn who says that Mr Đỗ Mậu betrayed him. Mr Diệm tells General Khiêm who already sided to the coup generals to arrest Mr Đỗ Mậu, Khiêm lies Mr Diệm that he did so. 

In his diary, attache Đỗ Thọ writes that knowing there is a coup d'etat, at 1h45 pm of 1.11.1963, Thọ drives to the Gia Long Palace. Recognizing that he is only a Buddhist among 4 attache officers and Mr Đỗ Mậu's nephew, Đỗ Thọ asks if he is trusted he will volunteer to stay next to Mr Diệm because another attache, captain Lê Công Hoan, is married with one kid. Mr Diệm agrees and from then on he follows Messrs.  Diệm-Nhu who leave Gia-Long Palace to Mă Tuyên's house in Chợ Lớn, then go to the church "Father Tam". The group organizing the coup d'etat send some officers to ‘’receive’’ the two. 

Coup d'etat

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (8)

According to Commander Nguyễn Văn Y, former director of Police and Security,  informed that there is abnormal military mobilization he tells it to Mr Nhu, but the latter answers, ‘’That is our plan’’. 

Later, people know that Mr Nhu deploys two plans called Bravo 1 and Bravo 2. In Bravo 1, some loyal troups will organize a faked coup d'etat to trick rebellious generals to appear, then Messrs. Diệm-Nhu will go to Vũng Tàu to hide away. Knowing who are betrayers, they will come back to re-establish order.  Mr Nhu assigns General Tôn Thất Đính to to be in charge, not knowing that Đính is also a betrayer. When Mr Nhu phones Đính many times without an answer, he knows that Đính has taken the other side. At that moment, it is too late. 

According to General Trần Văn Đôn, Mr Nhu appoints Đính to execute Bravo 1 against the coup d'etat with a force of 3.000 soldiers, 40 armored cars and six special regiments with Đính as head, Lê Quang Tung and Nguyễn Ngọc Khôi as vice-heads. On 31.10.1963, General Đính meets Tung and Khôi to discuss about the job. 

At mid-day of 1.11.1963, Trần Thiện Khiêm invites all high-ranked military loyal and disloyal to the General Staff Headquarter for a lunch. When they are all at place, General Dương Văn Minh stands up and yells: ‘’Coup d'etat’’. Next, the military police with submachine guns enter and encircle them. 

The officers loyal to Mr Diệm's government like Air Force Commander, Marines Commander were arrested by lower-ranked soldiers. Colonel Hồ Tấn Quyển, Navy Commander, has been tricked by his rebellious officers who invited him for a meal and killed him in a rubber plantation. Colonel Lê Quang Tung, head of the Special Force, and his younger brother, lieutenant-colonel Khôi are forced before guns to let Mr Diệm know that all important areas are usurped so that Messrs.  Diệm-Nhu should surrender. After that, they are led by escorts of General Dương Văn Minh to the backyard of the General Staff Headquarter, shot to death and buried in two previously dug holes. 

The coup instigators have two battalions of Marines with red scarves transported by armored cars from Biên Ḥa to cease Tân Sơn Nhất airport, Navy Headquarter and its workshop, Defense ministry, General Office of Police and Security, Post-office, but when coming to the Radio Station they are stopped by strong resistance. Until 3h30, they cease the station. The fight is fierce at the fort Thành Cộng Ḥa where there is a group to protect the presidential palace. 

General Trần Văn Đôn writes in his diary about Mr Đỗ Mậu, the man self-claiming as decisive plotter as follows:

After I let Đỗ Mậu know the time of the operation by saying: ‘’The decisive time is coming, you must stay next to me. Because you specialize in politics, I want you to help two generals Lê Văn Kim and Nguyễn Văn Chiêu at the operating office.’’ I suggest to bring Mậu to Kim's office, but Mậu wants to use his jeep. When I arrive, Mậu is not there. Captain S.  has to force Mậu to come back when he see Mau use the back door of the General Staff Headquarter, this gives me some suspicion. I will talk later about this matter. I hand Mậu to Kim and Chiêu. From then onwards, Mau never leaves us.’’

Is that Mr Đỗ Mậu wakes up and doesn't want to participate in the coup? Mr Đỗ Mậu never talks about this matter. 

The coup generals call for Mr Diệm to surrender, but he declines to do so. At 4 pm,  Mr Nguyễn Tran hear Mr Dương Văn Minh talk on the radio: ‘’Compa triots. Please listen to the President's words.’’ But next is silence. After the coup, I know that Mr Diệm goes to the corridor of the presidential palace to announce his resignation, but Mr Nhu stops him and says: ‘’Your doing that will kill my wife and me.’’ Hearing that, Mr Diệm steps back to his palace. 

Mr Diệm calls Mr Trần Thiện Khiem by phone, but the answer: ‘’President, it's time for the army to meet the wish of the people.’’

Mr Diệm taxes generals with not displaying their ideas clearly, but using violence. He invites them to the palace to have a straight talk. Afraid of a trick, Trần Văn Đôn backs it down. 

Dương Văn Minh calls for Mr Diệm's surrender for a second time, if Mr Diệm rejects,  he will flatten the Gia Long Palace. However, Mr Diệm hangs the phone. This makes Dương Văn Minh shameful before other generals. 

U.S. News and Reports writes that there are no generals and officers to step forward to attack the palace, this shows that Mr Diệm is ‘’still a man of prestige so great that no one would like to bear a disgrace to assault directly Mr Diệm.’’ At last, the coup generals assigned Colonel Nguyễn Văn Thiệu, commander of the 5th Infantry, a Catholic and as seen ‘’loyal’’ to Mr Diệm during the Buddhist crisis, as the first man to attack Mr Diệm. They want to watch a Catholic attack a Catholic President. 

Last minutes between Mr Diệm and Cabot Lodge

On 1.11.1963, Trần Văn Đôn makes up another trick by insisting Pacific Commander Admiral Harry D. Felt going with Lodge to visit Mr Diệm so that Đôn can hold Mr Diệm back in Saigon instead of going to Đà Lạt. Đôn also persuades Lodge not to return to Washington on 31.10.1963 because he is afraid that the Gia Long Palace will have some suspicion. 

Tôn Thất Thiện, press secretary of Mr Diệm, cites that every time Admiral Felt wants to stand up and leave, Lodge puts many questions so that Mr Diệm must talk to him. Until 12 pm, Felt leaves, but Lodge and his assistant Flott stay with Mr Diệm. The secret file from the White House records Mr Diệm's words clearly that: ‘’Please tell President Kennedy that I am a good and frank ally, that I would rather be frank and settle questions now than talk about them later when we lose everything. Tell President Kennedy that I take all the suggestions very seriously and wish to carry them out, but it is a question of timing.’’

Recognizing that is a progress, Lodge telegraphs to Washington: ‘’If U. S.  wants to resolve the matter thoroughly, we can do it now. Please see Diệm's announcement of releasing all Buddhists and students.’’

Two days before, 29.10.1963, Mr Diệm recalled cultural advisor at the Vietnamese embassy in Washington Trần Văn Đĩnh. He told Đĩnh to go back to Washington to hold a press conference on 1.11.1963 with the announcement: In few days, there will be an agreement between the Vietnamese government and ambassador Cabot Lodge about a better method to suppress the insurgency of communists. These measures will aim at using more effectively the military and economic aid, creating an administrative structure at the central and provincial level. In brief,  it's a change in policy and personnel. 

After the suggested press conference, Đĩnh would go to New Delhi to meet high-ranked officials from Hanoi. Written about this, doctor Hammer says that it may be Hanoi wants to do trading with the South and stop intrusion because Hanoi was caught in between in the dispute of China and USSR. It is sure that Đĩnh wouldn't organize the press conference because of the difference of 12-hour timing between Washington and Saigon. 

Mr Diệm's words to Lodge are very important and can change totally the situation,  including the ending of the war and release of Buddhist demonstrators. Mr Diệm's suggestion of a change in policy and personnel is to meet totally demands of Kennedy and it's is an utmost yielding which is rarely seen in a man like Mr Diệm. However, Lodge's telegram is just of second priority not an urgent one like the time when Lodge informs about the coup d'etat to Washington. When the words from Mr Diệm come to Washington, the news about the coup d'etat has been known for many hours. Kennedy and Lodge are at fault not to stop the coup d'etat and let the political and military situation in Vietnam decline and that has been warned by some advisors of Kennedy. 

Mr Diệm's words to Lodge is 1h30 before the coup d'etat occurs and the plot can be stopped in time to wait for the order from Washington because Lodge's duty is to organize the coup d'etat when Mr Diệm doesn't accept the demands of Washington. 

According to Lodge's report to Washington, at 4h30 pm (the coup d'etat is at 1h30 pm) of 1.11.1963, after refusing twice to surrender, Mr Diệm phones Lodge to ask about Washington's attitude towards the coup d'etat in response to what he has said to Lodge. Lodge says that he hears the gunshots, but he doesn't know what happens. 

‘’You should have a general idea about my responses. I am head of a country. I did try to do my duty and I believe in that more than anybody else. ’’

Lodge: ‘’I am sure that President did your duty as I said this morning. I admire your courage and what you have done to your country. Now, I just concern about your life. I have been told that the plotters suggest to let you and your brother leave the country safely if you resign. Do you hear something like that ?’’

Mr Diệm: No... Do you have my phone number ?

Lodge: If thinking what I can do for you about your safety, phone me. 

After that Lodge phones Father De Jaegher, Mr Diệm's close friend, to have him persuaded Mr Diệm to resign but he refuses to do so. 

Lodge also phones Bishop Astar, papal nuncio of the Vatican to have him advised Mr Diệm to take refuge in the U.S.  embassy, but there is no answer. 

According to Michael Maclear in ‘’The Ten Thousand Day War: 1945-1975’’, Mr Diệm phones General Trần Văn Đôn. Đôn says: Mr President. I am sorry for what has happened but what I ask you now is to be wise and understand the situation and a special plane is ready if you surrender without any conditions to carry you and your family out of Vietnam. 

Trần Văn Đôn puts many sins on Mr Diệm before the coup d'etat to explain for his betrayal. To make the image of Mr Diệm worse, he says that Mr Diệm lost popular support,  particularly among the peasantry which comprised 85% of the population, and Diệm ‘’began to be oppressive in his ambition. He would like to be King of Vietnam. He believed too much that God had ordered him to South Vietnam with a mystic mission’’. These words are contrary to what Dương Văn Minh admits when Minh is exiled to Bangkok. 

According to Đỗ Thọ, around mid-afternoon of 1.11.1963, Colonel Lam Sơn brought officer cadres to protect the Gia-Long palace. The army of the 3rd Military Corps and Security at the camp Lê Văn Duyệt arrive and encircle the General Staff Headquarter. They request Mr Diệm to attack and this would make plot generals shake. But Mr Diệm backs it down because he doesn't want a bloodbath. Đỗ Thọ also says that Messrs. Diệm-Nhu leave the palace not ‘’by a secret exit to escape from the palace’’ like written in many books (including Halberstam's one), but walk to the street Lê Thánh Tôn and use a car driven by Cao Xuân Vỹ, director of Thanh Niên Cộng Ḥa (Republic Youth), to Mă Tuyên's house, Mr Diệm's friend, in Chợ Lớn, the Chinese quarter;Mă Tuyên is also a cadre of Thanh Niên Cộng Ḥa. They are well welcomed here. Both discuss to move to the church "Father Tam". There, they talk to Father Jean and attend the mass.  Mr Nhu wants each to go to different place.  Mr Diệm will go to the West to see General Huỳnh Văn Cao and Mr Nhu will go to the Central Highlands to be with General Nguyễn Khánh. If one is arrested, plotters won't dare killing him because the other is still alive. Father Jean tells them to stay but they think that Father Jean will be in trouble. 

A Death in November

Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (5)

Mr Diệm disagrees with Mr Nhu's suggestion by saying: you are hated by them and they will kill you. Stay with me and I will protect you. We have lived with each other for many years. It's the critical time; we should not separate each other. Then, Mr Diệm phones General Trần Thiện Khiêm to tell him to get him home and phones all protecting force to stop resistance. Next, he tells Đỗ Thọ to let Trần Văn Đôn know his whereabout. However, Dương Văn Minh doesn't let Đôn and Khiêm go to get Mr Diệm, but orders general Mai Hữu Xuân (who still hates Mr Diệm because the latter has destroyed B́nh Xuyên gang which Xuân had some connection, Mr Diệm did not only remember about that connection but uses and promotes Xuân to the rank of general), Colonel Nguyễn Văn Quan, Colonel Dương Ngọc Lắm, lieutenant-colonel Dương Hiếu Nghĩa and captain Nguyễn Văn Nhung to organize a convoy to get Messrs. Diệm-Nhu. 

Đỗ Thọ is regretful that he didn't tell both to leave Sài G̣n-Chợ Lớn because he believes that Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn and Trần Thiện Khiêm will protect the men. However,  Mr Diệm says to Đỗ Thọ that, ‘’I don't know whether or not I will die and I don't care. Please tell Nguyễn Khánh that I love him very much and request him to revenge for me.’’

Dương Ngọc Lắm says that when the group go to the church "Father Tam" around 7 pm, Messrs. Diệm-Nhu were already there. Mai Hữu Xuân approaches them and say hello (some sources say that it's Nghĩa to do that while Xuân stands behind), thinking that he will be sent abroad, Mr Diệm asks Xuân to drop by the palace to get clothing. Xuân answers that is impossible because he must bring Mr Diệm to the General Headquarter. Mr Nhu asks: Get a President by this car (they are brought into an armored car)? Xuân says it's because of security. Mr Diệm steps in the armored car without saying a word. There is only one driver in the amored car. There are 4 cars before theirs. When the convoy runs for a while, young officers ask to shot Mr Nhu, but Dương Ngọc Lắm says: ‘’Nobody shots anybody, we must go to the general headquarter.’’ The convoy stops at many places, especially at the railway crossing on Hồng Thập Tự street. Arriving at the General Headquarter, Dương Ngọc Lắm comes to the armored car M-113 finding that the corpses of Messrs.  Diệm-Nhu lied on the ground: Their hands are tied to their backs. Mr Diệm was shot from behind his head. Mr Nhu was stabbed many times on breast, back and shot on the head. 

Later, Trần Văn Đôn meets Dương Văn Minh at the corridor of Trần Thiện Khiêm's office and asks why the two must die. Minh answers disdainfully: ‘’Does that matter to me? They were dead.’’ Right at that moment, Mai Hữu Xuân comes to say to Minh that ‘’Mission Accomplie’’. Don concludes that Dương Văn Minh ordered Mai Hữu Xuân to kill them and that's only Minh to decide it alone. 

Nguyễn Văn Quang is later promoted to the rank of general and before his death, says to Trần Văn Đôn: ‘’Diệm-Nhu were killed at the railway gate on Hồng Thập Tự street (Cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự) by two persons: Dương Hiếu Nghĩa shot both men from the turret of the armored car M-113 with an automatic pistol (pistolet mitrailleur). Nhung, in the car, used pistol and bayonet to finish the task...’’

According to details Mai Hữu Xuân lets Đôn know, Dương Văn Minh orders Xuân to welcome Messrs. Diệm-Nhu. They are in the car with Dương Hiếu Nghĩa and Nhung. Xuân is in the car of Quan and Lắm. The first and last civilian strongman and his advisor die on the road to the General Headquarter. 

Trần Văn Đôn says that Nguyễn Văn Nhung has been known a cruel man and loved to kill. Ba Cụt has been beheaded by Dương Văn Minh, but Minh still ordered to let Nhung dig his corps and cut it into many pieces. Every time to kill somebody, Nhung makes a mark on his pistol. 

In a readjustment coup (cuộc chỉnh lư) of Nguyễn Khánh, General Dương Văn Đức, in the night of 30.1.1964, arrests Nhung right before Dương Văn Minh and Nguyễn Ngọc Thơ,  but Minh dares not to protect Nhung. Nhung is handed to the paratrooper army of Nguyễn Chánh Thi, tortured to death and declared he hangs himself. 

In ‘’Government and Revolution in Vietnam’’ by Dennis J. Ducanson, Oxford University Press, 1968, p. 340:

Death of the president-If things had not turned out quite as General Trần Tử Oai's tape recording had been repeating over the air the previous afternoon, Ngô Đ́nh Diệm did nevertheless surrender by telephone to Joint General Staff Headquarter during the morning of 2.11.1963. He and his brother were collected by the commandant of the Civil Guard (oaths of personal loyalty, even Cần Lao ones, were forgotten in this moment) and he consigned them to a Captain Nguyễn Văn Nhung with an armoured car. Later in the morning, the Captain delivered their corpses to the Generals, battered and shot. General Oai announced that they had committed suicide ‘’inside the church’’, the Captain was arrested shortly afterwards on a charge of corruption, and soon General Oai's staff were putting it about that he too had committed suicide, after confessing to the regicide. 

In ‘’Assassin in our time’’ by Sandy Lesberg, Peebles International, London, 1976, p.  142:

The general in charge of bringing back the prisoners rode in one of the carriers and the prisoners in the other. A Major who had a grudge against Nhu for having ordered the execution of one of his close friend accompanied the prisoners. An eyewitness report described the assassination which the generals at first called suicide then ‘’accidental suicide’’

Diệm and Nhu sat with hands tied behind their backs. While Diệm remained silent, the major lunged at Nhu with his bayonet and stabbed him 15 or 20 times. Then he took out his revolver and shot Diệm in the back of his head, seeing Nhu's body still twitching on the floor,  the Major administered the coup of grace by putting a bullet through Nhu's head also.

Washington's shaking

The assassination of Messrs. Diệm-Nhu unmans strongly American generals favoring the coup and U.S. public. 

Mr Đỗ Mậu, self-claiming as main plotter, writes that he cries when seeing them killed. General Tôn Thất Đính also cries and punches onto his desk in frustration. Not knowing how to explain, General Trần Tử Oai of the Information General Office, announces: The death of Messrs. Diệm-Nhu is an ‘’accidental suicide’’. A stupid announcement from a general makes people laugh at an excuse for an illegal act of coup generals. 

In the morning of 2.11.1963, when Conein goes to take a shower, he receives a phone call from Cabot Lodge that Kennedy wants to know the whereabout of Messrs. Diệm-Nhu.  Upon arriving at the General Headquarter he sees them dead. 

In Washington, the National Security Council convenes for a discussion about the situation after knowing there was a coup d'etat. An official telegram is delivered and put on the table, all are silent. Reading it, Kennedy with a faded face stands up, goes out for a while, comes back and says: ‘’Mr Diệm has fought against communists for 9 years, he should have something in return.’’

Michael Forrestal, one of the men favoring the coup d'etat and co-drafting the official message 243 to Cabot Lodge on 24.8.1963 requests a resignation, but Kennedy says that he should stay. 

Secretary of State Dean Rusk who has been called ‘’a man of no image’’ due to always repeating after Kennedy sends a message to Cabot Lodge: ‘’I want to show my adoration to your managing the complicated event with perfection.’’ Then,  another message is: ‘’Reports about the death of Diệm-Nhu (shot with details of blood all over) on the first pages of newspapers cause high emotion. We think that is unexpected from the coup d'etat.’’

The truth is that it is an unavoidable consequence because in the secret file of the White House, there is no item as the prime condition to keep safe Messrs. Diệm-Nhu when Kennedy directed Cabot Lodge to support coup generals. 

General Maxwell Taylor who opposes the coup d'etat and replaces Cabot Lodge says: ‘’Mr Diệm's soul haunts each one of us who knew the coup. Due to our complicity, the Americans must take responsibility upon the tragedy the South Vietnamese must bear and the consequent political chaos which is the pretext of our withdrawal, by doing our role, we bring them into suffered situations and this stops people to have any suggestions...’’

Forrestal, talking about Kennedy, says: ‘’The death in Saigon makes him shocked morally and religiously, and this undermines his belief in any suggestions related to Vietnam.’’

Doctor Hammer criticizes touchingly: ‘’Now, a first Catholic head of state is dead,  assassinated due to the consequence of a policy of the first Catholic American president who permits the plan.’’ To condone Kenedy, a friend says: ‘’Anyhow, Diệm and Nhu were tyrants.’’ Kennedy answers: ‘’No, they were in difficult position. They did the best they could for their country’’ (‘’A death in November’’, p.  301). 

This is too late historical contradicting statement, restoration of honor for Messrs.  Diệm-Nhu, rejection of propagandas related to the coup d'etat, a condemnation of coup generals who followed the inducements of the Americans by betraying their president and treason. Doctor Hammer writes:‘’Kennedy's statement is an offering before the graves of Messrs. Diệm-Nhu. ’’

Although I have opposed Messrs. Diệm-Nhu's policies in 1958, I acknowledge that Messrs.  Diệm-Nhu's statement written down by Lodge in a message on 1.11.1963 is their effort of perfect compromise for the sake of the self-governed interest of Vietnam and that is praiseworthy. It is regretful that their fate and South Vietnam to confront a ‘’colonialist and self-conceited’’ behavior of a young Kennedy and a ‘’governor-general’’ Cabot Lodge, this causes their death. 

When seeing Trần Văn Đôn on 2.1.1963 at the U.S. embassy, Cabot Lodge says: ‘’President Kennedy and American public are shocked. I say to them that I can't believe there are such deaths and are very sad’’. 

Sadness and regret may disturb the mind of Lodge, Kennedy and other responsible people, but that is unavoidable as general Maxwell Taylor has critized them that, ‘’They unconsciously play with fire encouraging the coup d'etat. In the first message to Lodge on 24.8.1963, a message signaling a coup d'etat. It's Kennedy who did verify that ‘’we must cope with a such situation that Diệm's life is not guaranteed. ’’

Around 10 am of 2.11.1963, Flott, assistant of Cabot Lodge, visits me and makes excuse about his dirty suit because he did come to the Gia Long Palace to look for Messrs.  Nhu and some documents. Flott boasts that he was the last man to shake hand with Mr Diệm yesterday. Through an introduction of a friend, I have came to know Flott. I did draft a letter and a report and sent them to Kennedy dissuading him not to set up a coup d'etat and should not send the U.S. army to Vietnam, that is my last advice to him. Flot has come to see me many times, but I found way to avoid seeing him because we hadn't the same political viewpoint. 

The death certificate for Mr Diệm says that he is a small Mandarin of B́nh Thuận, and for Mr Nhu, a librarian (quản thủ thư viện). It's ironic that Messrs. Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn,...have had titles promoted by not a small mandarin in B́nh Thuận, but by a President. 

On 3.11.1963, I arrive at Trần Trung Dung's house on Đoàn Thị Điểm Street for infos.  Dung confirms that Messrs, have been killed. Dung and a priest make shrouding their corpses according to Catholic ceremony. Their corpses are then buried in the backyard of the General Headquarter. However, through many coups d'etat after, Generals still feel unsafe and rebury them at the cemetery Mạc Đĩnh Chi. I drop by to visit them seeing that their graves have no tombstones. 

Trần Trung Dung's wife is Hoàng Anh, niece of Messrs.  Diệm-Nhu. Sobing, she asks the Council of Generals to verify that the two were killed not suicided because suicide is a disgrace to the family. Dung laments to me: ‘’She is too naive. ’’

As Marguerite Higgins writes, when exiled in Bangkok, Dương Văn Minh admits to   an American that he orders to kill Messrs. Nhu because ‘’I couldn't do differently’’.

He couldn't let Mr Diệm alive because ‘’he got sympathy from simple and rustic people in the rural areas, especially Catholics and refugees.’’ About Mr Nhu, Minh says, ‘’Nhu was afraid of by many people and did set up many organizations.’’

Mr Trần Văn Hương, Prime minister from 10.1964 to 1.1965, speaks to a British diplomat: ‘’They, Generals, decided to kill Messrs. Diệm-Nhu because they were too afraid of them. They knew that they had no talent (bất tài), morality (đạo đức và luân lư), and no support from the vast majority of the Viets. They could not stop Messrs. Diệm-Nhu taking back the power if these men were alive. ’’

Informed that Messrs. Diệm-Nhu were assassinated, Mrs. Nhu who is staying at the hotel Beverly Whilshire utters efficacious words:‘’This blood will flow to Washington.’’ It's true that 20 days after the death of Messrs. Diệm-Nhu, Kennedy is assassinated by Oswald in Dallas, Texas. Then, Robert Kennedy, his younger brother, who once said to Kennedy that ‘’why don't we eradicate that painful prickle ?’’ had the same fate not long after. 

Mrs. Nhu and her 3 kids are transported by an American airplane to anywhere she wants. 

Rewards ?

In an official message dated 30.10.1963 of the State Department to Cabot Lodge,  George Bundy notes that coup generals may need a hefty sum of money at the last minutes to bribe the resistant group (Conein later says that that money would be used for coup general to escape if the coup failed), he also says that generals can keep that money if the coup d'etat is well-organized and successful, the use of money should be done secretly. This order is executed by Lucien Conein. However, Conein does it openly by bringing that money to the Joint General Staff Headquarter on 1.11.1963. Lucien gives 3 million dollars to Trần Văn Đôn and Tôn Thất Đính. The sharing of money creates a bad reputation, due to this, in 1971, General Trần Văn Đôn orders Major ĐặngVăn Hoa to conduct a search for receipts. Major Hoa makes a report dated 14.8.1971 with details as follow :

- Trần Thiện Khiêm: VN $500,000

- Tôn Thất Đính: $600,000

- Lê Nguyên Khang: $100,000

- Nguyễn Văn Thiệu: $50,000

- Trần Ngọc Huyến: $100,000

- Phan Ḥa Hiệp: $100,000

- Đào Ngọc Diệp: $100,000

Total : $1,550,000

Another 1,450,000 đồng has been delivered to Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Trần Ngọc Tám, Nguyễn Khánh and Đỗ Cao Trí. Furthermore, Mr Dương Văn Minh gets another 6,000 dollars found in a suitcase of Mr Diệm. 

White House's top secret documents about news on Nhu negotiating with Hanoi

Two persons who have taken the important roles in the coup d'etat of 1.11.1963 are Trần Văn Đôn and Đỗ Mậu. They all write memoirs emphasizing the reasons for their opposition to Mr Diệm are: (1) oppression of Buddhists and (2) Mr Nhu's secret negotiation with communists. 

To the matter (1),  one can know that the oppression is just a make-up story in order to label the man Buddhists did not like and then progress their ambition; the years to come explained the unrest created by religious people abusing their rights and prestige. The Buddhist ‘’incident’’ has been blown out of proportion basing on ambiguous accusation by Ấn Quang Buddhist sect and others. At last,  the 3 forces (this Buddhist sect, U.S. and Viet Generals who thought that their interest and plans would be gone if U.S. cut aid) cooperate with or just take advantage of one another to bring down Mr Diệm. Each side has its own perfect pretexts for a criminal act. McNamara's words about the failure reflected this big mistake. 

About (2), as one may know, Mrs. Hammer, a Ph. D. graduate in International Relation at the university of Columbia and author of  ‘’The struggle for Indochina’’, has spent more than 30 years following events in Vietnam, especially the period from 1956-1966, the time span of her stay in Vietnam. 

In her book ‘’A Death in November’’, searching for secret files of the White House under free access act, she has found out that the news of Nhu secretly negotiating with communists is totally false. Mrs. Hammer mentions about (1) the memorandum of Roger Hilsman and Hilsman & George Bundy's telegram to Cabot Lodge in order to teach Viet Generals how to spread out rumors, (2) Through the mediums of Mieczyslaw Maneli of Poland and Goburdhum of India the International Commission for Supervision and Control or ICC (Ủy Ban Kiểm Soát Đ́nh Chiến), it's Hồ chí Minh to suggest a trade with the South so that the North can get South Vietnam's rice for a starved North Vietnam while South Vietnam is still independent under the presidency of Mr Diệm. 

Here are details:

            (1) Roger Hilsman's memorandum and Hilsman & Bundy's message to Lodge: In his memorandum of 16.9.1963, Roger Hilsman records that Mr Nhu's minimal goal is to reduce abundantly the number of American advisors at essential spots having political significance like the Strategic Hamlets. His maximal goal is to negotiate with the North, withdraw the Americans out of Vietnam and keep Vietnam as separate but neutral state. Basing on these easons and calling it an adventure, Hilsman drops the moderate stand to convince Mr Diệm and chooses using strong measures against Mr Diệm's regime. 

According to these two goals mentioned above, the majority of the Americans must withdraw. It's clear that Mr Nhu doesn't want to see too many Amricans in Vietnam and keeps South Vietnam separate and not united with communists. 

However, upon contacting Ambassador Bửu Hội, Hilsman, with a scornful behavior,  detests rumors about Mr Nhu's negotiation with communists and says that he doesn't believe in any words of those, giving that Mr Nhu just lies and U.S.  is never threatened by that. 

Cabot Lodge did meet Mr Nhu and was let known that there has been a contact with communists with the aim at ‘’opening arm’’ (chiêu hồi). If a treaty can't be reached, Mr Nhu will resign. He also says that he has intention to take a rest in Đà Lạt after lifting the martial law and when the Americans are gone. It's also the reason that Cabot Lodge opposes strongly Messrs. Diệm-Nhu because Lodge comes here to organize a coup d'etat. About Hilsman & Bundy's message to Lodge in order to teach Viet Generals how to prepare pretext for their action, it is as follows :

‘’If the coup d'etat is successful, the sympathy and recognition of the reason for it will be enhanced if generals and civilians cooperate tightly with each other by publicly developing the conclusion that Mr Nhu negotiates with communists and betrays anti-communist ideal.  This must be emphasized to the public as soon as possible.’’

(2) Mieczyslaw Maneli and Goburdhum in the the International Commission for Supervision and Control (ICC) :

According to Mrs. Hammer's ‘’A Death in November’’ :

- Maneli: In a reception at the Foreign Ministry, Maneli meets Mr Nhu and the latter says to him that he wants peace and just only peace. The ICC must play an important role in restoring peace in Vietnam. Maneli answers that he will be ready to receive an active and constructive role available for the ICC to re-establish peace and reunification for Vietnam.  Nhu answers that the government of Vietnam wishes that will be done within the spirit of Geneva Accord. 

In 7. 1963, when Maneli goes to Hanoi for discussion, Hanoi agrees North Vietnam will let Mr Diệm to be head of South Vietnam. This contradicts with Hanoi's Stalinist behavior and violent temper. Hồ chí Minh appeals for cease-fire and wants the Americans not to interfere in his negotiation with Mr Diệm (this happens at the time the Americans are planning the coup d'etat). Maneli cites that Phạm văn Đồng asks him how to contact Mr Nhu. With this plan, the Americans must go so that a cease-fire can be reached, peace will be restored and reunification will be worked out basing on basic realities. 

According to Maneli, the reason North Vietnam wants peace is from 1954, North Vietnan was in regular droughts and crop failures. The water level in rivers was so low that water couldn't be bailed up to paddy fields and as a result, seawater reached to the mainland.  North Vietnam would be starved if there was no aid of rice from the South, due to this, North Vietnam must need rice from the Soviets and Chinese and always thinks about how to self-defend. However, the Soviets and Chinese were opposing each other and this made North Vietnam bear the conflict, and at the same time it must stand the pressure from the Chinese.  Maneli lets only the Soviets and Poles know about this, not the Chinese. 

Maneli also says that in the 7.1963 trip to Hanoi, he has heard about a North-South contact, Cabot Lodge got the same rumor. According to Mrs.  Hammer, the negotiation is not in detail and related to reduction of rebel and military actvities. Late in 8.1963, communists reduce relatively their activities. 

- Goburdhum : Goburdhum says that when he goes to Hanoi he is informed that Hanoi wants to have trade with the South, but not in the atmosphere of war. Hồ chí Minh says: ‘’Mr Diệm is a patriot in his way. With his independent character, he will have some difficulty in his relation with the Americans because U.S. wants to control all affairs. If you see Mr Diệm,  make a connection for me.’’

Goburdhum recognizes that Hồ chí Minh, as an Asian and a citizen of a country of the Third World, sympathizes with the Saigon regime's eagerness of trying to detach from American screwing. Ho also praises Ngô Đ́nh Nhu to be wise enough to get out of political frame of the past. Goburdhum thinks that is a openness in diplomacy to help North and South sympathize each other in restoring peace. At that time, Vietnam can follow the way of India and other neutral countries. 

- Meanwhile, General De Gaulle talks about an invitation of both North and South Vietnam to participate in a national effort towards independence, peace and reunification. He emphasizes that he doesn't want to interfere in Vietnam's affair. French Foreign Minister Maurice Couve de Murville explaines that declaration is for a long-term policy. De Gaulle will cooperate if Vietam wants so. Mrs.  Hammer acknowledges that De Gaulle's words are important, pragmatic and invaluable because Phạm văn Đồng also admits that despite the wars with the French in the past the French-Viet friendship is still strong due to its democratic and social tradition. 

However, that is also the time the Americans are striving for the coup d'etat to continue the war and searching for new men who are ‘’more docile’’. Knowing about this, L'Alouette says that Vietnam will lose the opportunity to get peace because Mr Diệm is the only man of determination to keep independence and peace. Maneli telegraphs to Poland and at the same time sends ‘’news’’ to Hanoi and the Soviet embassy in Hanoi. 

Wish of negotiation of Ho Chi Minh

5 days after De Gaulle's suggestion, on 2.9.1963, Mr Nhu says to Maneli that he doesn't oppose a negotiation and cooperation with the North: ‘’The Viets never forget who they are and who foreigners are even in fierce wartime. If we can talk face to face we can reach a sympathy...But in the near future, I see nothing leading to a face to face talk.  However, we can wait for a clear revelation.’’

According to ‘’A death in November’’, Mr Diệm agrees to exchange letters with the North and South Vietnam's rice to North Vietnam's coal. Until 7.1963, Hanoi agrees to let Mr Diệm lead South Vietnam and the South follow the Western democracy, and Hồ chí Minh no longer asks for reunification. 

Mr Diệm answers that he doesn't expect a neutrality for South Vietnam because that will break the tie with American ally. 

Asked about his reaction to De Gaulle's announcement, Mr Nhu says: ‘’Who doesn't participate in this war has no right to interfere. Our loyalty to the Americans doesn't permit us to scrutinize their announcements. The Americans are just the only ones on this planet who has helped South Vietnam. Due to this, I have no comment.’’

Declarations of Messrs. Diệm-Nhu emphasize that they take side to the Americans although they don't totally accept American policies. 

According to an Italian Ambassador, Mr Nhu lets him know that there is a go-between to contact communists for a talk. Communists suggest peace not because the success of the Strategic Hamlets but Hanoi is under heavy pressure from the Chinese, and the trade will benefit both. The North doesn't request a neutral South Vietnam because after the war ends,  the presence of the Americans are not necessary. 

French Ambassador L'Alouette tries to convince Cabot Lodge to let Mr Diệm hold the power and says to Lodge that Phạm văn Đồng is ready to negotiate for a trade as he has said to Goburdhum. However, whatever he tries L'Alouette knows that Lodge's mission is to overthrow Mr Diệm. On 10.9.1963, L'Alouette meets Cabot Lodge about the matter, Lodge answers:‘’U.S. decides not to withdraw and wants decisively that Saigon must shuffle the personel and policy. We must negotiate in a strong position. ’’

The New York Times writes that Ambassador L'Alouette tries to rally Western diplomats to convince Lodge to reconcile with Mr Diệm, and France will support Mr Nhu in the task to reunite Vietnam. However, Quai d'Orsay denies the news and says that France doesn't support anybody. After this, L'Alouette is recalled to France and never returns. French embassy in Vietnam has now only officials to carry on normal business and none to be go-between in this affair. 

Late in 10.1963, De Gaulle comes to Viet embassy at Rambouillet street, informs about latest news from Saigon and suggests help. De Gaulle wants to warn Saigon that may be a coup d'etat. However, there is no answer from Messrs.  Diệm-Nhu. 

Nobody knows whether or not Mr Nhu wants to trick the Americans and has shown some behavior which seems to replace Mr Diệm.

About the rumor that Mr Nhu may negotiate with communists, Chester Cooper of CIA reports to CIA Director Mc Cone that the validity of the rumors is below 50%. However, Cooper met Mr Nhu for 3 hrs in 3.1963 and recognized that Mr Nhu knew very well about communists' scheme. CIA ananlyzes that American pressure can make Messrs. Diệm-Nhu mad. Cooper can not predict what one of them will decide to do.  

In brief, the mentioned above details shows one that the wish of negotiation has been suggested, but that is only struck up through the medium of Maneli and Goburdhum.  Furthermore, that suggestion is not from Mr Nhu but Phạm văn Đồng and Hồ chí Minh who may want to get out of the pressure and domination of the Chinese and Soviets and trade rice with the South. 

There is no matter of reunification because Hồ chí Minh agrees to let South Vietnam to follow Western democracy and be led by Mr Diệm. It means there is no such thing as Messrs. Diệm-Nhu sell the South to communists as accused by generals Trần văn Đôn and Đỗ Mậu in concordance with directives from Hilsman & Bundy's message to Cabot Lodge.  

This is also proved by Mr Diệm's words to Cabot Lodge by having him sent to Kenndy at 12h15 of 1.1.1963 as follows:‘’Please tell President Kennedy that I am a good and frank ally, that I would rather be frank and settle questions now than talk about them later when we lose everything. Tell President Kennedy that I take all the suggestions very seriously and wish to carry them out, but it is a question of timing.’’

It's these last words from Mr Diệm to verify that Mr Diệm shows his utmost compromise due to national interest to show his allying to the Americans. 

(As one see later that the play card of ‘’Buddhist incident’’ is dropped by the Americans and media.  They never see any ‘’Buddhist struggle’’ as genuine anymore)

 

 

CHUYỆN TR̉ VỚI BÀ NGÔ Đ̀NH NHU

Trương Phú Thứ

            Tôi đến thăm Bà Ngô Đ́nh Nhu vào lúc 2 giờ trưa ngày 16.3.2002 tại Kinh Thành Paris của nước Pháp. Nắng êm dịu vừa lên sau buổi sáng ẩm ướt của những ngày đầu Xuân và Paris th́ lúc nào cũng chật ních những người và xe. Thành Phố có cả một kho tàng bảo vật và huyền thoại. Ở đây người đi bộ đầy đường với những tiệm ăn và quán cà phê nối tiếp chạy dài cả dăy phố. Người Paris nhàn hạ và ham muốn hưởng thụ, chậm chạp nhưng thon thẻ hơn người Seattle. Cuộc sống thư giăn chậm chạp của những ông Tây bà Đầm là niềm ước mơ của những người luôn phải vội vă lập cập với tốc độ từ sáng sớm đến nửa đêm ở Cali hay Texas.

Bà Nhu ở một ḿnh trong một đơn vị gia cư của một ṭa nhà mới xây gần Tháp Effeil.  Nói là mới để phân biệt với những chung cư san sát ở Paris đă được xây cất cả đến vài ba thế kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư Bà Nhu ở có những nét kiến trúc đương đại giống như một cái hộp khổng lồ bằng kính, có lẽ đă được tạo dựng từ 30 đến 40 năm. Bà Nhu là sở hữu chủ 2 đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của ṭa nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất Thủ Đô Paris, ngay giữa cái nôi của văn hóa và chính trị thế giới. Nơi đây có một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay mấy trăm tấc vàng. Cả vùng này hầu như là nơi cư ngụ của các nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là lợi tức duy nhất của Bà, cũng tiệm tạm đủ sống và không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, đi về lẻ loi thầm lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở Paris là Cựu Trung Tướng Trần Văn Trung vẫn nghĩ là Bà Nhu sống ở bên Ư.

Trên đường đến thăm Bà Nhu, tôi vẽ ra trong đầu óc qua h́nh ảnh của những chung cư đắt tiền ở New York hay San Francisco đă xem trên những tạp chí chuyên về địa ốc ở Mỹ và nghĩ là nơi cư ngụ của Bà Nhu chắc phải sang trọng lắm. Những apartment của Jacqueline Kennedy hay John Lennon ở New York và của các tay tài phiện ở San Francisco gợi cho tôi một náo nức mong chờ. Các Cụ ḿnh ngày xưa vẫn nói ‘’ăn cơn Tàu, ở nhà Tây’’ th́ chắc  đă có một so sánh cẩn trọng. Tôi bước đi vội vàng với những lung linh nơi lănh địa của giới thượng lưu. Những ḍng họ quư tộc từ bao nhiêu đời cấu trúc nên vẻ hào nhoáng phong nhă của Kinh Thành ánh sáng và dân cư ngụ ở chân trời góc biển nào lưu lạc tới đây cũng được nhận lănh ấn tích của người Paris. Chiếc thang máy nhỏ hẹp vừa đủ chỗ đứng cho một ông Mỹ quá khổ đưa tôi lên tầng 11 của ṭa nhà cao tầng. Bà Nhu mở cửa đón khách trong chiếc áo kimono Nhật màu xanh nước biển, khuôn mặt trang điểm kỹ lưỡng với giọng nói đặc Huế. Bà đón tôi trong một tư thái rất chánh trị, không vồn vă mà cũng chẳng quá lạnh nhạt. Bà Nhu vừa vào tuổi 80 nhưng rất khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Có người nói từ năm 1963 đến nay Bà chẳng già đi chút nào. Thật ra đó chỉ là một lối nói để diễn tả sức khỏe sung măn của một người tuy đă nhiều tuổi đời nhưng vẫn giữ được vóc dáng linh hoạt và nét mặt không có những nếp nhăn theo thời gian. Tuy nhiên ‘’cái già’’ cũng vất vưởng đâu đó trên khóe mắt vành môi. Khi Bà cười th́ khuôn mặt trông rất tươi trẻ phô bày bộ răng trắng vẫn c̣n đầy đủ trong t́nh trạng hoàn hảo.

Chỗ ở của Bà Nhu tuy không nghèo nàn, nhưng chẳng có ǵ đáng nói, ngay cả không bằng cái apartment mà tôi thuê mướn ở ngoại ô Thành Phố Seattle vào Mùa Đông năm 1975 khi vừa đến Mỹ. Đơn vị gia cư của Bà Nhu rất tầm thường, giống như những apartment rẻ tiền ở Mỹ với hai pḥng ngủ và một diện tích nhỏ làm pḥng khách. Phía tay trái lối đi từ cửa ra vào là nhà bếp. Trên tường pḥng khách treo vài khung h́nh lớn có những tấm h́nh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Đức Cha Ngô Đ́nh Thục, Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, Cô Trưởng Nữ Ngô Đ́nh Lệ Thủy và nhiều người thân tộc đă quá văng. Khoảng trống phía tay phải là pḥng khách có một bộ ‘’xa lông’’, bên cạnh kê bàn ăn với 6 cái ghế. Bộ bàn ghế này và vài cái tủ nhỏ kê ngoài pḥng khách làm bằng gỗ nụ mầu đen với những nét trạm trỗ Việt Nam quen thuộc. Bà Nhu cho biết trước kia thân sinh là Ông Bà Trần Văn Chương có một apartment ở Paris và những đồ đạc này được mang từ Việt Nam qua, lâu lắm rồi. Khi hai Cụ thân sinh bán cái apartment đi th́ cho Bà Nhu bộ bàn ăn và hai cái tủ nhỏ này. Tôi đă đọc mấy bài báo nói về khiếu thẩm mỹ của Bà Nhu qua việc sắp xếp và trang hoàng Dinh Độc Lập. Giờ này được đứng ngay giữa cơ ngơi của riêng Bà mà chẳng thấy một ‘’công tŕnh’’ nào xem cho bắt mắt,  có thể v́ điều kiện tài chánh hay thời chưng diện của Bà đă qua.

Đứng ở nhà bếp nh́n ra ngoài có cảm tưởng như Tháp Effeil sát ngay bên cạnh khung cửa kính. Tôi tiếc thầm, phải như pḥng khách mà được xếp đặt ở chỗ này th́ đẹp biết bao.  Ngồi đây nhâm nhi ly cà phê nh́n thiên hạ từ khắp nơi trên thế giới đổ xô đến chân tháp chờ lên thang máy nh́n cả Kinh Thành Paris. Ngày như đêm lúc nào cũng là hội hè đ́nh đám.  ‘’Vui với cái vui của thiên hạ’’ chắc ḷng ḿnh cũng phần nào đỡ trống trăi. Có lẽ cũng v́ vậy mà pḥng ngủ bên cạnh nhà bếp có kê một bộ ‘’xa lông’’để bù đắp lại cho sự thiếu sót to lớn của người thiết kế khu chung cư. Pḥng ngủ thứ hai là chỗ làm việc của Bà Nhu với đủ loại sách báo. Cả đơn vị gia cư của một người sống lẻ loi một ḿnh không có đến một cái gường nhỏ. Buổi tối Bà Nhu trải một cái chăn trên nền nhà, ở một chỗ nào đó trong  ‘’căn hộ’’ nhỏ hẹp để nghỉ qua đêm. Bà không ngủ trên gường nệm nên mặc dầu đă lớn tuổi mà vẫn giữ được lưng thẳng và đi đứng nhanh nhẹn mạnh dạn.

Bà Nhu mời tôi ngồi trên một cái ghế ngay đầu bàn ăn cạnh khu pḥng khách. Bà ngồi ghế đối diện, chân trái gác lên một cái ghế thấp hơn. Bà nói kỳ này khí hậu thay đổi bất thường nên cái chân hơi bị đau v́ vết thương ngày trước. Bà Nhu bị gẫy chân trái trong vụ hai Phi Công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27.2.1962. Sau này Bà đang đi bộ th́ trượt chân ngă và cũng cái chân trái này bị gẫy lần thứ hai. Mặc dầu Bà không gặp khó khăn ǵ khi đi đứng nhưng đôi khi cũng thấy khó chịu.

Đối với tôi đây chỉ là một cuộc thăm viếng thường t́nh giữa người đồng hương nơi xứ lạ. Tôi không có ư định phỏng vấn Bà Nhu và chắc chắn Bà sẽ không được tự nhiên, thoải măi khi phải đóng khung trong những câu hỏi của một cuộc phỏng vấn. Phần khác tôi cũng không muốn khơi lại những đau thương mà Bà phải gánh chịu trong cơn băo táp lịch sử và bể oan cừu cay nghiệt của cuộc đời. Tôi muốn cuộc thăm viếng không bị g̣ bó và trói buộc vào một chủ đề đồng thời cũng không muốn t́m ṭi những ǵ mà cá nhân tôi và rất nhiều người được nghe đủ loại chuyện tốt xấu về Bà mà cũng biết hư thực ra sao và từ những mù mờ đó đă có biết bao câu hỏi về một người đàn bà một thời xe ngựa thênh thang. Tôi muốn câu chuyện được tự nhiên và để Bà chủ động bất cứ những ǵ Bà muốn nói. Tôi có thể dùng những tiểu xảo của kỹ thuật phỏng vấn ‘’gài’’ Bà vào những sơ hở để thỏa măn những ǵ tôi muốn biết hoặc chỉ nghe đồn thổi. Tôi đă không làm như vậy v́ ḷng kính trọng đối với Bà và lương tâm ngay lành của tôi.

Tôi mở đầu câu chuyện bằng mấy lời xă giao thông thường, kính chúc Bà luôn được mạnh khỏe an vui, Bà bắt đầu ṇi về lai lịch nơi hiện cư ngụ. Rất nhiều người biết qua báo chí chuyện một người Pháp giàu có biếu Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đă cho Bà Nhu để mua một đơn vị gia cư trong ṭa nhà cao tầng này và sau đó Bà dành dụm mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thực không phải vậy. Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ân nhân ẩn danh. Có tiền trong tay, Bà đă nhờ một cựu Bộ Trưởng thời Chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai đơn vị gia cư này. Vào những năm mà người Việt vượt biển ra đi một cách rầm rộ gần như công khai, Bà Nhu cho mấy thanh niên mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở đơn vị gia cứ thứ hai và không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào cả. Một thời gian sau những thanh niên này t́m được thân nhân hay v́ nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống mới th́ Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến ngày nay. Vị ân nhân tặng Bà Nhu số tiền kếch sù đó là Bà Capaci, một cư dân Thành Milan nước Ư và cũng là một trong bảy người phụ nữ giàu nhất thế giới. Bà Nhu chưa một lần gặp vị ân nhân này và măi đến 4 năm sau khi Bà Capaci tạ thế Bà Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của người đă gia ân cho ḿnh.

Trên bức tường ngăn pḥng khách và nhà bếp có treo tấm h́nh đen trắng ngôi nhà của Ông Bà Nhu ở Đà Lạt, tôi nói cho Bà biết chuyến đi về Việt Nam nhân dịp Tết Tân Tỵ, lần đầu tiên sau 26 năm vội vă ra đi lánh nạn cộng sản. Tôi đă đi Đà Lạt, ghé lại thăm ngôi nhà xưa của thời trung học, bước qua đường đứng nh́n nhà Ông Bà Nhu một lúc lâu. Ngôi nhà của Ông Bà Nhu hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không thấy những đổ vỡ hoang tàn v́ thời gian hay qua những biến động. Hiện nay Bà Nhu không ư định về thăm Việt Nam mặc dầu Bà được nhà cầm quyền Hà Nội đánh tiếng cho biết là nếu Bà muốn về th́ cũng chẳng có trở ngại ǵ. Những kỷ niệm về một nơi chốn thân thương xa xưa gợi lại miền kư ức dấu ái. Bà nói ‘’Tôi gặp Ông Cố Vấn năm 16 tuổi, đến năm 18 tuổi th́ làm đám cưới’’. Bà có vẻ buồn khi nói đến ngôi nhà ở Đà Lạt. Một vùng trời mộng mơ với những kỷ niệm của ngày tháng êm đềm nơi xứ xương mù vẫn c̣n vương vấn đâu đây.

Khi nói về những người con th́ Bà Nhu có vẻ bằng ḷng với chút hănh diện. Tôi cố t́nh không hỏi han ǵ về Trưởng nữ Ngô Đ́nh Lệ Thủy đă bị chết thảm trong một tai nạn xe cộ trên xa lộ ṿng đai Paris. Rất có thể đây là một âm mưu quốc tế c̣n nhiều nghi vấn chưa được sáng tỏ và tôi cũng không muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn để rồi những gọt nước mắt của bà mẹ lại một lần nữa ước đẫm trên khuôn mặt đă có quá nhiều khổ đau. Ông con trai lớn Ngô Đ́nh Trác Tốt nghiệp Kỹ Sư Canh Nông, năm nay cũng đă 55 tuổi (2003), lấy vợ người Ư và có 4 con, ba trai một gái. Bà Nhu nói về những đứa cháu nội, con trai của ông Trác, trong niềm vui ‘’cao một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm’’, vợ ông Trác thuộc gịng dơi quư tộc rất giàu có. Ông Trác rất đam mê công việc trồng trọt chăn nuôi và đă chế tạo được nhiều dụng cụ nông cơ thích hợp cho việc canh tác những thửa đất nhỏ.

Người con trai thứ hai là Ngô Đ́nh Quỳnh cũng đă trên 50 tuổi Tốt Nghiệp Trường E. S.E.C (Ecole Superieure de l’Economie et du Commerce) chứ không phải Trường H.E.C (Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí và sách vở đă sai lầm. E.S.E.C là Trường tư đào tạo các chuyên gia kinh tế và tài chánh cao cấp, có học tŕnh gay gắt và học phí rất cao.  Sinh viên được nhận vào Trường này phải vượt qua những cuộc thi cử rất cam go và sau khi Tốt Nghiệp được các Cơ Quan Kinh Tế và Tài Chánh trên toàn thế giới trọng vọng. Khi Ngô Đ́nh Quỳnh học Trường này, Bà Nhu đă không đủ khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền học. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, Thủ Đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đ́nh. Bà Nhu cười nói ‘’Ông Quỳnh giống ông Bác’’, hàm ư sống độc thân như Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Đang lúc tôi nói chuyện với Bà Nhu th́ một thiếu nữ người Pháp gơ cửa bước vào với một xấp h́nh trên tay. Cô bé 17 tuổi này vừa trở về sau chuyến đi làm công việc thiện nguyện giúp các thanh nữ Phi Luật Tân bị bệnh AIDS. Tất cả chi phí cho chuyến đi của cô bé này do ông Ngô Đ́nh Quỳnh đài thọ. Cô bé có những lọn tóc màu hạt dẻ khoe những tấm h́nh chụp chung với các nạn nhân của căn bệnh thời đại và ước mong sẽ được trở lại Thủ Đô của nước Phi Luật Tân để tiếp tục công việc bác ái. Bà Nhu nói ông Quỳnh sống đạm bạc và rất tích cực trong những hoạt động từ thiện nên ước vọng của cô bé chẳng phải là một giấc mơ.

Cô con gái út Ngô Đ́nh Lệ Quyên có bằng Tiến Sĩ Luật ở Trường Đại Học Roma. Lệ Quyên là một Luật Sư Ngành Công Pháp rất nổi tiếng nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở Phân Khoa Luật của Đại Học Roma mà thôi. Lư do đơn giản là Lệ Quyên không chịu vào Quốc Tịch Ư. Luật lệ của nước Ư lại không cho phép những người không có Quốc Tịch được thủ đắc hàm Giáo Sư và do vậy không được quyền giảng dạy một cách chính thức trong học tŕnh. Lệ Quyên thường xuyên được mời dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc làm sửng sốt các ‘’cây đại thụ’’ của Ngành Công Pháp thế giới. Lệ Quyên có chồng người Ư nhưng đứa con trai 7 tuổi lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu hănh diện nói tên cháu bé là Ngô Đ́nh Sơn, một tự hào ḍng họ hay là sự giữ ǵn gốc rễ gia tộc.

Mỗi buổi sáng, bất kể thời tiết, Bà Nhu đều ‘’xuống đường’’ đi bộ chừng độ 10 phút đến Nhà Thờ Saint Leon dâng thánh lễ hàng ngày. Cũng tại Ngôi Thánh Đường này, lần đầu tiên vào tuần lễ đầu tháng 11 năm 2001, Bà Nhu tổ chức lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Thông thường sau thánh lễ bà ở lại giúp dọn dẹp Nhà Thờ và xếp đặt trưng bày hoa nến. Ngày Chủ Nhật Bà phụ trách dạy Lớp Thánh Kinh cho các trẻ nhỏ. Bà gia nhập Đạo Công Giáo khi lập gia đ́nh nhưng lúc thiếu thời được giáo dục trong các môi trường Công Giáo nên có thể nói là Bà đă lớn lên và trưởng thành trong tín lư của Đạo Chúa. Trong câu chuyện, Bà Nhu nhiều lần biểu lộ đức tin tuyệt đối nơi sự an bài của Thiên Chúa. Bà đặt niềm cậy trông và phó mặc tất cả mọi sự vui buồn, may rủi vào sự xếp đặt và định đoạt của Đấng Tối Cao. Khi nghe tôi nói có thân nhân đang bị bệnh và rất muốn trở về Mỹ sớm hơn, Bà Nhu đi vào pḥng làm việc lấy cho tôi một tưởng ảnh Đức Mẹ Maria đúc bằng kẽm to hơn đồng một xu Mỹ kim. Bà nói mang tượng ảnh về cho bệnh nhân th́ Đức Mẹ sẽ cứu giúp và chữa khỏi. Tôi nghĩ là v́ có đức tin mạnh mẽ như vậy nên Bà đă vượt qua được bao cơn sóng gió ba đào mà sống mạnh khỏe cho đến ngày nay.

Trên đường từ Nhà Thờ về Bà Nhu cũng thỉnh thoảng ghé lại tiệm bán hoa và cây cảnh mua vài bông hoa hay một chậu cảnh trang hoàng trong nhà. Ít khi Bà phải nấu nướng v́ ăn rất ít và những bà bạn người Pháp thường mang đồ ăn đến cho nên cũng chẳng bận rộn ǵ việc bếp núc. Trước kia tôi có nghe có người nói Bà Nhu chỉ ăn qua loa, hai ba lần một tuần.  Tôi nghĩ nếu ăn uống như vậy th́ làm sao mà...thở được. Bây giờ tôi nghe chính Bà Nhu nói ‘’hai ngày nay tôi chưa ăn ǵ cả, v́ tôi không ăn nên tôi không bệnh’’. Các vị Tu Sĩ Ấn Độ Giáo rất ít khi ăn uống nhưng người nào cũng mạnh khỏe và sống lâu trăm tuổi. Ở các nước Âu-Mỹ đa phần người ta chết v́ ăn chứ có ai chết v́ đói.

Bà Nhu hầu như không đi sắm sửa quần áo giày dép. Mỗi năm một người bạn người Nhật gửi qua cho vài cái áo kimono đủ mặc trong nhà, có việc đi đâu th́ Bà mặc mấy cái quần áo cũ cũng c̣n tạm được. Nói đến quần áo Bà có vẻ đăm chiêu ‘’ở Sài G̣n nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ, Tổng Thống không bằng ḷng’’ Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là ‘’kiểu áo Bà Nhu’’ đă một thời là ‘’mốt’’ của các thiếu nữ Sài G̣n và cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rỗi nghề. Bà kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu nhân các vị quốc khách mà chẳng có đến một món trang sức nên thấy thiếu sót. Nhân có một Bà vợ của một Ông Bộ Trưởng muốn bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (ruby), Bà Nhu có tŕnh và xin Tổng Thống số tiền 6000 đồng bạc Việt Nam để mua lại. Tổng Thống nghe lời giải bày cũng hợp lư nhưng yêu cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận với đầy đủ lai lịch của những món trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy nhất Tổng Thống cho tiền và cũng chẳng c̣n nhớ những đồ trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.

Trong lúc nói chuyện, thỉnh thoảng Bà Nhu cũng đề cập đến những diễn biến chính trị,  kinh tế và xă hội toàn cầu. Bà có những phân tích, lượng giá vấn đề một cách chi tiết và hợp lư đồng thời đưa ra những kết luận làm người nghe dễ dàng bị thuyết phục. Điều này chứng tỏ tuy sống khép ḿnh trong một căn pḥng nhỏ bé nhưng Bà vẫn theo dơi thời cuộc một cách cẩn thận. Nhớ lại Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới năm xưa, bà nắm hai tay ngước mắt nh́n lên trần nhà nói bằng tiếng Pháp ‘’phụ nữ phải được giải phóng, phụ nữ phải được tôn trọng’’ Giấc mơ của Bà là người phụ nữ phải có chỗ đứng và tiếng nói trong xă hội. Ước vọng của Bà là người phụ nữ phải có những cơ hội thuận tiện để thăng tiến trong mọi lănh vực của đời sống. Tiếng nói của Bà rơ ràng, chắc nịch, lên xuống với những cảm xúc làm người nghe rất dễ bị lôi cuốn rồi nhiệt t́nh ủng hộ.

Trong cả một buổi chiều, lúc nói chuyện này và đột nhiên nói sang chuyện khác nhưng bà không hề đả động đến nước Mỹ, mặc dầu Bà biết tôi đến từ một Tiểu Bang ở vùng Tây-Bắc nước Mỹ. Nhiều người nói Bà Nhu căm thù Mỹ lắm v́ những sai lầm trong chính sách đối với Việt Nam và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới đă kinh ngạc nghe và nh́n Bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những nhà lănh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Ṭa Bạch Ốc một quăng đường. Tôi nghĩ là Bà đă không c̣n mang những ‘’hận thù’’ đó trong tim óc nữa và thực sự muốn quên hết để mọi chuyện nhẹ nhàng đi vào lịch sử. Bà kể chuyện vào Mùa Xuân năm 1975, sau khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Ḥa, hệ thống truyền h́nh NBC của Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lư do Bà chấp nhận lời yêu cầu của NBC và đ̣i 10.000 Mỹ kim thù lao cộng với hai vé máy bay hạng nhất Paris-Washington DC. v́ lúc đó Lệ Quyên rất nhớ và muốn đi gặp ông bà ngoại. Bà Nhu không có tiền trang trải cho chuyến đi nhưng v́ thương con nên bằng ḷng trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp Ông Bà Trần Văn Chương ở Thủ Đô của nước Mỹ. Đối với một tổ hợp truyền thông to lớn như NBC th́ những điều kiện đó thật quá nhỏ bé và họ đă vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn. Đó là lần duy nhất Bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất Bà tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra Bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt Ngữ dưới bất cứ h́nh thức nào. Trong quá khứ đă có vài tờ báo ở Đức Quốc và California đăng tải bài ‘’phỏng vấn’’ đó đều là những ngụy tạo mà Độc Giả rất dễ dàng nhận ra tính chất giả dối và bịa đặt của người viết.

Bà Nhu cũng không nói ǵ vụ phản loạn 1.11.1963 và những người được ngoại bang thuê mướn sát hại chồng Bà. Tôi có nói xa gần đến những Quân Nhân đảo chánh để ḍ xét phản ứng của Bà nhưng không trông chờ ở một sự tức giận thường t́nh của một con người v́ thời gian đến gần 40 năm cũng đă là nguôi ngoai cơn thịnh nộ. Bà có vẻ buồn, nh́n qua khung cửa sổ nói một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Anh ‘’đó là một bọn ngu dốt’’. Bà tỏ vẻ khinh khi và không muốn nói tới loại người mà Ông Nguyễn Văn Ngân, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đă mô tả rất trung thực ‘’v́ thiếu văn hóa nên phải vào lính để kiếm sống’’. Khi những người này vào lính chỉ với mục đích kiếm sống th́ họ sẽ làm bất cứ chuyện ǵ để có tiền.

Đồng hồ chỉ tám giờ rưỡi tối. Những ngọn đèn của Paris kết nối làm thành một biển ánh sáng và Thành Phố đă bắt đầu đi vào cuộc sống ban đêm. Hơn 6 giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi đă uống hết hai ly nước bưởi to nhưng tuyệt nhiên không thấy Bà Nhu uống một chút nước nào. Tôi sợ ngồi lâu quá Bà sẽ mệt mỏi nhưng thực sự th́ chính tôi là người đă thấm mệt. Bà Nhu không tỏ ra mệt mỏi hay có một dấu hiệu nào biểu hiệu sự ră rời sau một buổi chiều dài chuyện tṛ. Trước khi tôi cáo từ, Bà Nhu có nói đến cuốn sách của Bà. Theo chỗ tôi được biết th́ cuốn sách này sẽ được phát hành cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới bằng bốn thứ ngôn ngữ: Việt Nam, Anh, Pháp và Ư. Cũng v́ vậy mà tôi hạn chế bài viết này trong một khích thước vừa đủ, những ǵ Độc giả muốn biết hay những ǵ gọi là ‘’bí mật lịch sử’’ sẽ rất có thể được nói đến hoặc phân giải trong cuốn sách mà rất nhiều người đang chờ đợi. Tôi chợt nghĩ đến ông Tướng Nguyễn Khánh. Ông này đi đến đâu cũng cầm cuốn vở học tṛ huênh hoang có nhật kư của Bà Nhu trong tay. Tôi nghĩ rất có thể ông này lượm được cuốn vở Bà Nhu ghi chép những chuyện vụn vặt của một người nội trợ trong gia đ́nh như hôm nay đi chợ cần phải mua những món ǵ, đến bao giờ th́ phải đóng tiền trường cho con... Ngoài ra chẳng có ǵ đáng nói tới hay có một giá trị ǵ cả...

Tôi bước ra chỗ thang máy để xuống Phố lang thang với người Paris mà trong ḷng xôn xao niềm vui v́ không ngờ một ‘’bà cụ’’ 80 tuổi đă vật vă với bao sóng gió phủ phàng của cuộc đời mà lại c̣n có một sức khỏe thật sung măn, trí óc minh mẫn đến như thế. Ở vào tuổi đời như vậy mà c̣n giữ được thể chất và tinh thần trong một trạng thái gần như lư tưởng th́ thật là hiếm có. Bà Nhu đă thực sự lánh xa những tục lụy phù phiếm của trần gian. Bà sống trong hơi thở nhịp tim của đời sống tận hiến và phó dâng với niềm cậy trông tuyệt đối nơi sự quan pḥng của Đấng Tạo Hóa. Tôi cầu chúc Bà luôn luôn mạnh khỏe, an vui.

 

ĐÂY LÀ SỰ THẬT

Tác giả: Trương Phú Thứ

 

        Cách đây chừng vài tháng, trang nhà Đàn ChimViệt có bài Ba Giờ Nghe Một Nhân Chứng của tác giả Minh Vơ. Bài viết của cụ Vơ sau đó đă được đăng tải và phổ biến trên nhiều phương tiện truyền thông. Nhận thấy có những điểm sau đây cần phải được làm sáng tỏ nên tôi mạo muội viết mấy hàng như là một lá thư gửi đến tác giả Minh Vơ. 

Trước hết là tôi rất cảm kích về trí nhớ tuyệt vời của cụ Vơ. Bài báo tôi viết góp ư với cụ Tôn Thất Thiện về tác phẩm Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê đăng trên bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong cả hơn chục năm nay rồi mà cụ Vơ xem chừng vẫn c̣n thích thú với lời than phiền của tôi: Mang khối vàng ṛng (Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm) để cạnh băi c.t.  (Ṭa soạn cắt bỏ) (Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ…). Nhiều độc giả đă rất ‘’đồng t́nh’’ với lời ta thán của tôi đấy cụ ạ! Như vậy th́ cụ Vơ cũng có nhiều ‘’đồng chí’’ lắm. Bởi vậy cuốn Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê đă được in lại mấy lần và nghe đâu đă được dịch sang Anh ngữ. Cụ đă cho tôi một cuốn với lời đề tặng rất ưu ái nhưng đến khi tôi t́m lại để gửi cho Bà Ngô Đ́nh Nhu đọc th́ lại không thấy đâu. Chắc là có vị khách nào đến nhà chơi đă ‘’nẫng’’ đi mà quên không hoàn lại cho khổ chủ!

Tôi đă có dịp thăm viếng và chuyện tṛ với Bà Ngô Đ́nh Nhu đến hơn sáu tiếng đồng hồ. Tôi đă viết một bài tường tŕnh về cuộc thăm viếng này với nhan đề Chuyện tṛ với Bà Ngô Đ́nh Nhu đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong. Sau đó th́ rất nhiều tờ báo ở hải ngọai và cả ở trong nước đă in lại bài báo này. Nhiều đài phát thanh ở hải ngoại cũng đọc đi đọc lại trong một thời gian dài. Một vị làm báo lâu năm ở miền Nam Cali phát biểu rằng đó là một bài báo đặc biệt làm xôn xao dư luận nhiều nhất trong ṿng hơn ba chục năm qua. Nhân tiện đây tôi cũng xin biểu dương nguyệt san Phụ Nữ Diễn Đàn về lương tâm và tính cách chuyên nghiệp của ông (bà) chủ nhiệm. Sau khi đăng tải bài báo của tôi, nguyệt san Phụ Nữ Diễn Đàn đă liên lạc với cựu Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ lấy địa chỉ của tôi và gửi cho tôi mấy tờ báo và một chi phiếu năm mươi Mỹ kim. T́nh trạng tài chánh của cá nhân tôi không sống chết với cái chi phiếu này nhưng tôi cảm phục về t́nh giao hảo rất đáng đề cao. Trong khi đó th́ các báo khác lại không có đến một lời thăm hỏi và một lần ngồi ở trong tiệm ăn ở miền Nam Cali, lúc chờ đợi đồ ăn thức uống tôi thấy một tờ báo đăng tải bài báo này và nhân lúc rảnh rỗi tôi đă dùng điện thọai di động của người bạn hỏi ông chủ nhiệm v́ sao đăng bài của tôi mà lại không hỏi tôi một tiếng. Tôi đă được nghe câu trả lời của bọn đầu đường xó chợ rất côn đồ: ‘’Đ. M.  đăng cho là may rồi c̣n hỏi ǵ nữa.’’ Đầu giây bên kia là một đứa cô hồn các đảng th́ c̣n biết nói ǵ đây.  

Sau đây tôi xin đóng góp những dữ liệu cần được đề cập tới:

1- Hồi Kư của Bà Ngô Đ́nh Nhu: Rất nhiều người mong đợi cuốn sách này. Sự thật là bà Nhu có viết một cuốn sách khá dầy. Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ư. Một vị Linh Mục cao tuổi người Việt ở Paris được bà Nhu nhờ dịch sang tiếng Việt nhưng vị Linh Mục này đă qua đời khi vừa bắt tay vào công tác dịch thuật. Do vậy đến nay bản tiếng Việt vẫn chưa hoàn tất. Điều cần nói tới là cuốn sách mà nhiều người đang mong đợi không phải là một cuốn hồi kư. Cả cuốn sách không hề có một chi tiết lớn nhỏ nào về các nhân vật cũng như diễn biến chánh trị của thời Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam. Đó là một cuốn sách đạo nói về đời sống tâm linh của con người và sự hằng hữu của đấng Tạo Hóa. Bây giờ bà Nhu sống như một người tu hành. Bà đi nhà thờ mỗi buổi sáng và ngày Chúa nhật sau thánh lễ bà ở lại dậy giáo lư cho các trẻ nhỏ. Tôi không nghĩ là bà có ư định in và phát hành cuốn sách này v́ khi tôi muốn giới thiệu cụ Vân Tŕnh Nguyễn Văn Lượng là cựu Dân Biểu đồng viện với bà Nhu và rất tinh thông tiếng Pháp dịch cuốn sách này sang tiếng Việt th́ không thấy bà Nhu trả lời hay nói tới nữa. C̣n nói rằng các con bà Nhu sẽ phát hành cuốn sách sau khi bà tạ thế th́ lại càng không có một lư lẽ ǵ cả. Trước hết đó là một cuốn sách chỉ nói về đạo mà thôi nên in và phát hành lúc bà Nhu c̣n sống hay sau khi chết không phải là một vấn đề phải cân nhắc. Sau nữa các con bà Nhu cũng không biết và chẳng thiết tha ǵ đến công việc này. Con trai lớn là Ngô Đ́nh Trác th́ bận bịu với gia đ́nh và công việc trồng trọt. Con trai nhỏ là Ngô Đ́nh Quỳnh th́ sống như một ông thầy tu khổ hạnh. Con gái út Ngô Đ́nh Lệ Quyên cũng rất bận rộn với gia đ́nh và công việc giảng dậy cũng như các công tác xă hội từ thiện. Tất cả đều có một cuộc sống kín đáo như bà mẹ nên rất ít tin tức về họ được nói đến. Một cơ sở làm đĩa nhạc đă cố gắng t́m cách tiếp xúc với Lệ Quyên để làm một đĩa nhạc về phụ nữ Việt Nam nhưng đă không thành công.

Tôi nghe phong phanh rằng một người nào đó huyênh hoang có cuốn ‘’hồi kư’’ của bà Nhu trong tay và sẽ tung ra công luận một ngày gần đây. Tôi xin quả quyết đó chỉ là một lừa bịp trắng trợn để thủ lợi thôi chứ sự thật th́ không có ǵ cả. Sau khi đi thăm bà Nhu về, tôi có hầu chuyện với cụ Cao Xuân Vỹ và thưa rơ đầu đuôi câu chuyện về cuốn sách vẫn được đồn thổi là ‘’Hồi kư Bà Nhu’’. Do vậy cụ Vơ đă thấy lư do v́ sao cụ Cao Xuân Vỹ và cụ Tôn Thất Thiện đă ‘’coi thường’’ không nói và không để ư ǵ đến cuốn ‘’hồi kư’’ của bà Nhu. 

          Nhân tiện đây tôi cũng có một phân bua để quư vị độc giả phán xét về con người của bà Nhu. Rất nhiều người nghe lời đồn đại và tin rằng bà Nhu rất ghét và khinh khi ông Ngô Đ́nh Cẩn, v́ ông Cẩn quê mùa và thất học. Đó là một đồn đại quá ác độc. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu đă nhờ tôi t́m kiếm một bức chân dung của ông Cẩn. May mắn thay là tôi đă liên lạc được với cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh là người đă có chín năm làm việc cận kề với ông Cẩn và xin cho bà Nhu một tấm h́nh chân dung ông Cẩn. Nếu bà Nhu ghét và khinh khi ông Cẩn th́ cố công đi t́m cho được bức chân dung ông Cẩn làm ǵ?! Mồm mép con người có thể nói ra những lời yêu thương chân thật nhưng đến ngày hôm nay vẫn c̣n những ‘’sử gia chân chính’’ viết rằng bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim, mấy cái thương xá và rạp hát ở Paris, vài cái đồn điền ở Ba Tây. Gia tài của bà Nhu như tôi đă thấy chỉ có một cái TV mầu 13 inches mà ở Mỹ ném ra băi rác chắc chắn không ai nhặt. Bà Nhu giữ lễ nghĩa và coi trọng t́nh cảm gia đ́nh chứ không phải là người bị phê phán và công kích của một vài ‘’sử gia chân chính’’ cả đời chỉ bất măn và hận thù. 

2- Tuyệt phẩm chánh trị của ông Ngô Đ́nh Nhu: Đó là cuốn CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM mà ông Nhu viết bằng tiếng Pháp và được ông Lê Văn Đồng, một vị cựu Bộ Trưởng thời Đệ Nhất Cộng Ḥa dịch sang tiếng Việt (?). Cách đây có đến ba chục năm, cuốn sách này đă được in lại khoảng một trăm bản ở miền Nam Cali nhưng đến nay kể như đă tuyệt bản. Tôi có hỏi cụ Cao Xuân Vỹ th́ được trả lời rằng: ‘’Có một bản mà không biết chừ ở mô’’. Tất nhiên không ai biết bản chính bằng tiếng Pháp với chữ viết tay của ông Nhu bây giờ thất lạc nơi đâu. 

Ba năm trước đây một người cư ngụ ở Seattle, tạm gọi là ông X, c̣n may mắn có được cuốn sách này. Tôi đă mượn và nghiền ngẫm mấy ngày đêm nên không có ǵ ngạc nhiên khi ông X coi như cuốn sách gối đầu giường và rất trân quư. Đó là một tuyệt phẩm chánh trị mà theo tôi th́ giá trị của cuốn sách này đứng trên cả các danh tác chánh trị như The Prince của Machiavel hay The New Class của Milovan Djilas, đặc biệt là đối với người Việt Nam và hoàn cảnh của nước Việt Nam. Ông Nhu là một học giả uyên bác và cũng là một chính trị gia thượng thặng nên cuốn sách chứa đựng một hệ thống lập luận và diễn giải dựa trên những diễn biến lịch sử, vị thế của Việt Nam trên thế giới và nhất là những hoàn cảnh và điều kiện đặc thù của Việt Nam. Trong nhiều trang giấy người đọc có nhận xét ông Nhu c̣n là một tiên tri. Những hoạch định và tiên liệu của ông Nhu đă thực sự xẩy ra. Điều này cũng chẳng có ǵ ngạc nhiên v́ chỉ với một cây viết trong tay mà ông Nhu đă hoạch định ra Ấp Chiến Lược phá tan đo àn quân cộng sản xâm lăng từ miền Bắc và cả bọn nằm vùng tay sai ở miền Nam. Cuốn sách này thực sự là một kim chỉ nam cho những người c̣n muốn thấy một nước Việt Nam thống nhất độc lập và người Việt Nam được sống trong thanh b́nh no ấm.

Ông X cho tôi coi một bản thỏa thuận của bà quả phụ Lê Văn Đồng, mà ông Đồng là người đă dịch cuốn sách này sang tiếng Việt với bút hiệu Tùng Phong, cho phép được hoàn toàn sử dụng cuốn sách, nghĩa là có thể sửa chữa và sau đó phát hành rộng răi. Tôi đọc cuốn sách mà phải ‘’đánh vần’’ từng chữ v́ cách dịch thuật rất tối nghĩa và lối hành văn nặng nề lại quá khập khiễng làm cho người đọc thật vất vả mới hiểu được.

Ông X muốn tôi giúp một tay để phổ biến đến Cộng Đồng Người Việt. Tôi ưng thuận ghé vai chung sức với điều kiện phải đề tên tác giả là ông Ngô Đ́nh Nhu, người dịch Tùng Phong và tôi là người hiệu đính v́ tôi sẽ phải gọt dũa lại từng chữ từng câu và nhiều khi c̣n phải viết thêm những ghi chú ở cuối trang sách. Nhiều câu quá sức tối nghĩa mà không có bản chính bằng tiếng Pháp để đối chiếu nên tôi đă thỉnh ư cụ Cao Xuân Vỹ xem ông Nhu hàm ư muốn nói hay diễn tả ǵ. Ông Ngô Đ́nh Nhu viết những trang tài liệu này khi dân số Trung Cộng chỉ có tám trăm triệu người. Ngày nay khối dân khổng lồ đó đă lên tới một tỷ ba trăm triệu người th́ chẳng những không chỉ Trung Cộng có những thay đổi to lớn mà cục diện thế giới đă hoàn toàn thay đổi. Những điều kiện tôi đ̣i hỏi đều được chấp nhận. Tôi đang viết truyện dài Đất Mới đăng nhiều kỳ trên Văn Nghệ Tiền Phong nhưng cũng phải cáo lỗi độc giả xin tạm ngừng trong mấy tháng để có giờ lo cho cuốn sách này. Mọi việc diễn tiến tốt đẹp êm ả và tôi đă có thông báo trên báo chí rằng cuốn sách sắp được đưa vào nhà in và sẽ tŕnh làng nay mai. Nhiều người nôn nóng chờ đợi.

Một buổi sáng, ông X đến nhà tôi đ̣i lại cuốn sách và nói rằng bà quả phụ Lê Văn Đồng ‘’ra lệnh’’ không được sửa chữa ǵ dù một dấu phẩy và rằng đó là công tŕnh tim óc của ông Lê Văn Đồng chứ ông Ngô Đ́nh Nhu không có dính dáng ǵ đến cuốn sách này cả. Tôi như bị một nhát búa bổ vào đầu, choáng váng và tức giận. Rất nhiều người như cụ Cao Xuân Vỹ, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ…biết một cách chắc chắn thật rành rẽ cuốn sách đó là do ông Nhu viết và là tài liệu học tập cho các đảng viên Cần Lao cao cấp thời đó. Do vậy nói rằng ông Lê Văn Đồng là người đă dịch tài liệu này từ tiếng Pháp sang tiếng Việt thật sự là một câu hỏi to lớn. Tôi làm việc với tinh thần tự nguyện mà nay lại gặp cảnh trớ trêu như vậy nên đành buông xuôi. Hiện tại trong ổ cứng máy vi tính của tôi chỉ có nửa phần đầu cuốn sách. Vậy vị độc giả nào có cuốn CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM th́ xin vui ḷng cho tôi mượn để hoàn tất công việc như tâm nguyện. 

Kính mời quư vị đọc vài trang đầu của cuốn sách để có một khái niệm về một tuyệt phẩm chánh trị mà rất nhiều người hằng mong ước sẽ có dịp được đọc:

        Nước Việt nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lănh thổ, nhỏ về kinh tế kém phát triển và nhỏ về sự đóng góp của chúng ta vào nền văn minh của nhân loại.

Cho đến ngày hôm nay, trong suốt các giai đoạn lịch sử nhân loại, số phận của các quốc gia nhỏ từ xưa vẫn không thay đổi. Lúc nào các quốc gia nhỏ cũng bị chi phối bởi những trận phong ba băo táp vô trách nhiệm do các nước lớn gây ra và liên tục bị những cuộc ngoại xâm đe dọa.

Từ ngày lập quốc, hơn môt ngàn năm lịch sử đă chứng minh rằng nước Việt Nam không thoát ra ngoài vận mạng thông thường đó. Hết phải chống Bắc rồi phải chống Tây, rồi lại phải chống Bắc. Liên tục, và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe doạ dân tộc Việt Nam.

Để duy tŕ ách thống trị, cường quốc xâm lăng thường áp dụng đối với các dân tộc bị trị nhiều biện pháp khác nhau nhưng chung quy vẫn thuộc hai loại chính:

- Ngăn ngừa không để cho các quyền lợi kinh tế vào tay người bản xứ.

- Kềm hăm không để cho dân trí phát triển.

Các biện pháp thứ nhất nhằm mục đích tiêu diệt tất cả các phương tiện vật chất của người bị trị.

Các biện pháp thứ hai nhằm tiêu diệt những người có khả năng sử dụng các phương tiện vật chất trên, nghĩa là những nhà lănh đạo xứng đáng.

Đối với các dân tộc bị trị th́ hai biện pháp trên đều có những hậu quả vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên nếu không có phương tiện th́ có thể t́m phương tiện nơi khác, chớ nếu không có người lănh đạo th́ cho dù có phương tiện cũng không sử dụng được.

V́ vậy cho nên đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa hay đă mất th́ phương pháp hữu hiệu và điều kiện thiết yếu nhất để chống lại ngoại xâm là đào tạo, nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo.

Trong thực tế đào tạo, nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo có nghĩa là tạo hoàn cảnh thuận lợi để cho tinh túy của tập thể hun đúc nên thiểu số lănh đạo xứng danh.

Thế nào là thiểu số lănh đạo xứng danh?

Thiểu số lănh đạo và sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng.

Trong toàn bộ của cộng đồng, gồm có thiểu số lănh đạo và đại đa số chịu sự lănh đạo.  Một cộng đồng lành mạnh là một tập đoàn có sự hợp tác giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự lănh đạo dẫn đến những phối hợp hữu hiệu trong mọi hoạt động và công tác của cộng đồng.

Thiểu số lănh đạo xứng danh phải gồm những người có đạo đức, nghĩa là có ‘’nhân’’ theo quan niệm cổ truyền. Những người lănh đạo xứng danh là những người có sức khỏe sung măn, lư trí và tinh thần trong sáng để ứng phó với mọi t́nh thế, nghĩa là có ‘’dũng’’ và có ‘’lược’’.

Thiểu số lănh đạo xứng danh phải gồm những người thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của tập thể, nghĩa là có ‘’trí’’. Sinh hoạt của một cộng đồng cũng như đời sống của một cá nhân có thể chia ra nhiều thời kỳ. Thời kỳ trung b́nh của một đời sống cá nhân là mười năm, mỗi cá nhân phải đương đầu với một số vấn đề chính và đặc biệt của thời kỳ đó. Thời kỳ của một cộng đồng có thể kéo dài đến một, vài thế kỷ và mỗi cộng đồng phải giải quyết những vấn đề thiết yếu của cộng đồng.

Thiểu số lănh đạo chính danh phải thấu triệt đến chi tiết của từng vấn đề để hướng dẫn cộng đồng trên đường tiến hóa cho thích nghi với chẳng những với khung cảnh hiện tại mà c̣n với đời sống lâu dài của cộng đồng.

Các đức tính ‘’nhân’’, ‘’dũng’’, ‘’lược’’ phát sinh từ một căn bản thiên phú, nếu được hoàn cảnh bên ngoài xă hội và cố gắng bên trong cá nhân nuôi dưỡng và rèn luyện th́ sẽ phát triển đúng mức. Nhưng nếu không gặp được cơ hội rèn luyện và phát triển th́ các đức tính thiên phú trên vẫn tồn tại trong bản chất. Do đó những đức tính ‘’nhân’’, ‘’dũng’’, ‘’lược’’ là những điều kiện chủ quan. ‘’Trí’’ nghĩa là thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng,  là một điều kiện khách quan. Bởi v́ sự thấu triệt vấn đề chỉ có thể thực hiện bằng cách sưu tầm, khảo cứu, phân tích, lĩnh hội, quan sát và tổng kết những dữ kiện và tài liệu bên ngoài liên quan đến vấn đề. Không có dữ kiện và tài liệu bên ngoài th́ một bộ óc dù thông minh xuất chúng cũng không thể nào hiểu được vấn đề. 

Các đức tính trên đều cần thiết cho một nhà lănh đạo xứng danh. Tuy nhiên sự khiếm khuyết một trong các đức tính này cũng sẽ mang đến những mục đích dù cho phải can qua trên con đường xây dựng và thực hiện.

Một sự lănh đạo có đủ ‘’nhân’’, ‘’dũng’’ và ‘’lược’’ nhưng không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng không thể đưa con thuyền cộng đồng đến chiến thắng. Một sự lănh đạo dù thiếu ‘’nhân’’, ‘’dũng’’ và ‘’lược’’ nhưng lại thấu triệt vấn đề của cộng đồng vẫn có hy vọng thắng lợi, dù rằng thắng lợi đó phải trải qua nhiều gian khổ.

Chúng ta có thể ví trường hợp thứ nhất của một người có xe và đánh xe rất tài. Phát tốc độ, kềm cương, phóng ngựa tới, kéo ngựa lui, quanh phải quanh trái vừa mau lẹ vừa khoan thai không ai b́ kịp nhưng lại không biết lộ tŕnh. Như thế dù xe có phóng nước đại vượt ngàn dặm cũng không đưa hành khách được đến nơi phải đến v́ chính người đánh xe cũng không biết đang ở chỗ nào và phải đi đến nơi đâu.

Trường hợp thứ hai là trường hợp của người không có xe và cũng không biết đánh xe nhưng lại thấu triệt lộ tŕnh. Những người đồng hành với người này có ngày rồi cũng đến được nơi phải đến, tuy biết rằng cuộc hành tŕnh đầy gian lao và đ̣i hỏi rất nhiều kiên nhẫn.

Suy luận như trên đây không có nghĩa là ‘’nhân’’, ‘’dũng’’ và ‘’lược’’ không thiết yếu cho sự lănh đạo nhưng phản ảnh rằng ‘’trí’’ là sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng đóng vai tṛ quan trọng hơn cả.

Như thế th́ chúng ta phải phân tích và làm sáng tỏ ba điểm:

1- Việt Nam là một nước nhỏ và yếu lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe doạ.

2- Trong công cuộc chống ngoại xâm th́ khí giới hữu hiệu nhất là phát triển lănh đạo.

3- Trong công cuộc phát triển lănh đạo th́ điều kiện thiết yếu là thiểu số lănh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.

Trên đây chỉ là những sự thật chứ không phải huyền thoại mà tôi cảm thấy có trách vụ và bổn phận phải thông báo đến quư vị độc giả. Chắc chắn sau này sẽ c̣n nhiều dịp trở lại đế tài này với nhiều chi tiết và đề tài sôi nổi hơn. 

Trương Phú Thứ

 

 

TÊN ĐƯỜNG SÀI G̉N

Nếu Quư Vị nào năm nay niên kỷ đă đặng ‘’lục thập... tầm tử lộ’’, hoặc chí ít cũng khoảng ‘’5 bó’’ và đă từng sống ở Sài G̣n lâu năm, chắc hẳn quư vị đă biết trước năm 1954,  toàn bộ tên của đường phố này đều mang tên các danh nhơn cũng như các nhơn vật lịch sử của nước Pha lang sa. Điều này cũng dễ hiểu v́ Ḥn Ngọc Viễn Đông này lúc đó là thủ phủ của xứ thuộc địa COCHINCHINE (CÔ CHÍN người Tàu), một lănh thổ thuộc hải ngoại của nước Pháp.

Kịp tới sau ngày 07.7.1954, (c̣n được kêu bằng NGÀY SONG THẤT) đánh dấu ngày Ông Ngô Đ́nh Diệm nhận Chỉ Dụ của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại trở về Việt Nam nhận chức vụ Thủ Tướng Chánh Phủ. Sau một thời gian ổn định t́nh h́nh nội trị, Thủ Tướng Diệm thành lập một Ủy Ban đổi tên đường cho Đô Thành Sài G̣n. Ủy ban này tập trung rất nhiều Nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa cùng các Học Giả uyên bác, họp nhau lại để cùng t́m cách đổi tên đường từ tên Tây ra tên Việt sao cho thật phù hợp với tâm t́nh của người Việt ḿnh. Và chính nhờ Ủy Ban này mà Thành Phố đă có được một diện mạo mới khiến cho dân Sài G̣n rất đỗi tự hào về Thành Phố mà ḿnh đang sống trong đó. Tôi nói thí tỷ như đường mang tên Boulevard de Charner được đổi thành Đại Lộ Nguyễn Huệ, hoặc đường Avenue Galiéni thành Đại Lộ Trần Hưng Đạo...

Trên Đại Lộ Nguyễn Huệ ở giữa lộ có những Kiosque bán bông hay những nước giải khát chia cách có trồng bông kiểng để phân con lộ ra làm hai phần nên người Pháp đặt là Boulevard, trong khi đó trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo th́ không có mấy cái bồn bông trồng kiểng ở giữa lộ như bên Nguyễn Huệ nên người Pháp kêu bằng Avenue.

Bữa nay, xin nói về Ủy Ban này đặt tên cho mấy con đường chung quanh khu vực Dinh Độc Lập. Đúng ra phải vẽ sơ cái họa đồ của khu vực này đặng quư vị nào không ở Sài G̣n cũng có thể hiểu được mấy con đường đó, nhưng rất tiếc ‘’gua’’ hổng biết vẽ trên máy ‘’c̣m piu tơ’’ nên đành kể chuyện bằng lời hy vọng quư vị cũng sẽ hiểu đặng cái khéo léo của Ủy Ban này.

Dinh Độc Lập là một khu tứ giác mặt Chánh hướng về Sở Thú (sau này đổi thành Thảo Cầm Viên) ở cuối đường Norodom. Khi về Việt Nam, Ông Thủ Tướng Diệm làm việc và sống cùng gia đ́nh tại Dinh này và Dinh cũng được coi như là biểu tượng cho Ông. Ông là nhà lănh đạo độc thân và theo đạo Gia Tô. Cho nên Ủy Ban đă đặt như sau :

- Con đường thẳng từ cổng chánh của Dinh xuống Sở Thú tên là Norodom được đổi thành Đại Lộ THỐNG NHỨT, ngụ ư nói rằng ư chí của tôi (Thủ Tướng Diệm) là thống nhứt đất nước.

- Đường chạy dọc theo bên cánh trái Dinh, chạy ngang trước cửa Vườn ‘’Bồ Rô’’ (Công Viên Tao Đàn) và Trường Trung Học Lê Quư Đôn hiện giờ, tên là Chasseloupe Laubart, dân Sài G̣n thuở ấy kêu là đường ‘’Xách cái lu đi qua cây da’’, được đổi thành Đường HỒNG THẬP TỰ ư nói bên tay trái của tôi là ḷng bác ái.

- Đường chạy cặp theo cánh phải của Dinh được đặt là NGUYỄN DU, một Đại Thi Bá của Việt Nam, ư nói tay mặt của tôi cũng là một người yêu chuộng văn hóa Việt Nam.

- Đường chạy ngang trước mặt Dinh tên Tây là Mac Mahon (Bạc má hồng), đổi thành Đường CÔNG LƯ, trước mặt tôi luôn luôn là công lư.

- Và đặc sắc nhứt có lẽ là con đường nhỏ chạy ngay phía sau Dinh, Đường HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA, phía sau lưng tôi cũng có một người đàn bà ‘’chứ hỷ’’ ?!

Ngoài ra, ở phía trước mặt Dinh có một công viên trồng toàn cây Sao Đen đến nay toàn bộ số cây này đă có hơn 100 tuổi và rất đẹp, cứ vào mùa con nít đi học nghỉ hè th́ khu vực này rộn lên tiếng ve kêu và khi hết Hè th́ những chùm bông Sao Đen, sau một cơn gió nhẹ, rụng xuống xoay tṛn trên không trước khi chạm đất, coi thiệt là đẹp và...nhớ ơi là nhớ!

Cặp theo hai bên hông của Công Viên, nghĩa là chạy dọc theo hai bên của Đại Lộ Thống Nhứt, có hai con đường nhỏ. Một chạy xéo xéo từ cửa bên phải Dinh ra tới cửa hông bên phải của Nhà Thờ Nhà Nước (Nhà Thờ Đức Bà Vương Cung Thánh Đường Sài G̣n) được đặt tên HÀN THUYÊN, người sáng tạo ra chữ NÔM của dân tộc ta. Đối lại, một con đường chạy khởi đầu ở xéo xéo cửa trái Dinh ra tới ngă ba Duy Tân, con đường này chạy ngang qua trước cửa Bộ Ngoại Giao cũ được đặt tên ALEXANDRE DE RHODE, người chế ra chữ Quốc ngữ mà hiện nay chúng ta đương xài.

Tưởng cũng nên nói ra ngoài đề tài một chút là, chắc hẳn quư vị c̣n nhớ cũng tại Công Viên này, trước cửa Bộ Ngoại Giao có một pho tượng bằng đồng đứng trang nghiêm trên một bệ đá hoa cương bóng ngời chớ? Thưa đó là bức tượng tạc Nhà Ngôn Ngữ Học lừng danh chẳng riêng ǵ của Việt Nam mà c̣n của Thế Giới nữa. Cụ biết tổng cộng 26 ngôn ngữ cả Sanh lẫn Tử ngữ. Đó là tượng của Cụ PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KƯ. Tượng Cụ mặc áo dài, đầu đội khăn đóng kiểu người NAM, tức là loại khăn mà ở giữa trán có xếp h́nh chữ Nhơn. Tay mặt Cụ ôm cuốn sách. Mặt hướng về phía bờ sông Sài G̣n. Pho tượng này là một trong những pho tượng tuyệt mỹ của Đô Thành, ấy vậy mà...sau ngày 30.4.1975, người ta nỡ ḷng nào giựt sập xuống rồi đem quăng bù lăn bù lóc phía sau Dinh Gia Long. Ngó thiệt là tội. Sau này không biết là do ư kiến của ai. Có lẽ của Học Giả Nguyễn Đ́nh Đầu chăng? Tượng của Cụ Trương được đem về cho đứng tạm trú ở hành lang phía sau nhà của Chú Hỏa. Một lần, t́nh cờ thả bộ theo Đường Hồ Văn Ngà (nay là Lê Thị Hồng Gấm) từ ngă tư Phó Đức Chính hướng về Nguyễn Thái Học, tôi nh́n thấy tượng Cụ đứng quạnh hiu trên hành lang phía sau nhà ông cự phú người Ăng Lê gốc Tàu, đang đứng ngắm Cụ bỗng nhiên căn nhà chỗ tôi đứng trên đường này phát ra bài ca nhè nhẹ buồn buồn của Ông Trịnh Công Sơn: ‘’...Giọt nước mắt thương anh trên vận nước điêu linh, giọt nước mắt không tên xin để lại quê hương...’’. Trời ơi hai hàng nước mắt tôi tự nhiên rơi xuống sao mà thảm sầu cho Cụ. Không hiểu người ta thù ghét ǵ Cụ mà bắt đày đọa không cho Cụ về nhà của Cụ, nhà Cụ cũng bề thế lắm chứ bộ! Ai có đi trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo tới ngay ngă tư Trần B́nh Trọng nh́n thấy số nhà 520 Trần Hưng Đạo (gần Nhà Thờ Chợ Quán) đó chính là nhà của Cụ Trương. Cha đẻ của làng báo Việt Nam và cũng của Đông Nam Á nữa. Vậy mà...Nhưng suy nghĩ kỹ th́ thấy Cụ Trương vẫn c̣n hên hơn Thông Hiệp (Quách Đàm), người đă bỏ tiền ra xây cho bá tánh ngôi chợ đẹp và lớn nhứt trong Chợ Lớn (Chợ B́nh Tây) để bà con có chỗ mua bán. Vậy mà tượng của Ông trong chợ bị giựt sập, đầu ĺa khỏi cổ. Đầu th́ đem quăng trong khu Nhà Thờ Hầm trên Phú Thọ Ḥa,  c̣n thân ḿnh th́ ‘’được’’ đem đi nấu đồng bán ve chai!

Trở lại chuyện tên đường, ngoài khu vực Dinh Độc Lập, Ủy Ban đặt tên đường c̣n áp dụng nguyên tắc đặt tên đường theo Cụm để giúp cho người ở xa tới có thể dễ dàng t́m ra con đường mà ḿnh muốn kiếm. 

Thí dụ Cụm đường mang tên các nhà thơ, thi sĩ ở Quận Ba hoặc Cụm đường mang tên các Nhà Cách Mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Quận Nhứt v.v...Ở Quận Ba có một loạt các tên đường như Lê Quư Đôn, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Nguyễn Thông, Lê Ngô Cát, Phạm Đ́nh Toái, Hồ Xuân Hương... tất cả các con đường này đều nằm gần nhau hoặc giao cắt nhau rất dễ kiếm, chỉ cần nói tên ra là có thể biết nó nằm ở khu vực nào liền.

Ở Quận Nhứt th́ có cụm Đường Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô Bắc, Nguyễn Khắc Nhu, Kư Con, Phó Đức Chính... cũng nằm gần nhau như bên Quận Ba thiệt là khoa học và dễ nhớ.

Ngoài các cụm đường mang tên các Nhà thơ, thi sĩ hay các Nhà Cách Mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, Ủy Ban có dùng các địa danh nổi tiếng trong lịch sử chống quân Nguyên như Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn để đặt cho các con đường chạy dọc theo bờ sông của Đô Thành như Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương (Quận Nhứt, Nh́), Bến Hàm Tử  (Quận Năm), Bến Vân Đồn (Quận Tư)...

C̣n các con đường khác, th́ Ủy Ban căn cứ vào các sự kiện có thật liên quan tới con đường mà đặt tên tiếng Việt ḿnh cho phù hợp. Thí dụ như Đường LÊ VĂN DUYỆT chẳng hạn. Đường này khởi đầu từ Ngă Sáu Sài G̣n (nơi ‘’Bùng binh có đặt tượng Phù Đổng Thiên Vương) chạy tuốt lên tới tận... Nam Vang, Thủ Đô xứ Chùa Tháp! Ǵ mà dài dữ vậy Ông?

Dạ, tại v́ tên đường cũ của đường này là VERDUN, nó nối liền với Quốc Lộ 1 vào thời đó ở ngă tư Bảy Hiền, mà Quốc Lộ 1 th́ chạy xuyên suốt từ Bắc vô Nam và lên tới Nam Vang. 

Trên con đường này, ở phía bên số lẻ, nằm ngay góc ngă tư Phan Đ́nh Phùng-Lê Văn Duyệt có Ṭa Đại Sứ Cao Miên tọa lạc. Ṭa nhà này sau ngày 30.4.75 là Ủy ban nhân dân  Quận 3. Và ṭa nhà này cũng đă từng bị Sanh Viên, Học Sanh Sài G̣n nổi giận chiếm giữ để cảnh cáo vụ Miên Lon Nol tàn sát người Việt ḿnh hồi năm 1970. Tại sao Ủy Ban không lấy tên Ngài (Lê Văn Duyệt) đặt cho con đường chạy ngang trước cửa Lăng thờ Ngài bên Bà Chiểu mà lại đem đặt cho con đường nằm tuốt bên Sài G̣n là sao? Nó có căn nguyên của nó như vầy. Đức Tả Quân của chúng ta thời Ngài làm Tổng Trấn Gia Định Thành đă có công lớn trong việc thần phục người ‘’Đàng Thổ’’ ở Nam Kỳ cho nên Ủy Ban mới lấy tên Ngài thay cho tên Verdun của Tây. Vả lại con đường này cũng chạy ngang qua một khu vực có tên là ‘’Mả Ngụy’’ trong vụ án Lê Văn Khôi dưới trào Vua Minh Mạng.

Cũng liên quan tới vụ người Miên, gần đó có con đường mang tên TRƯƠNG MINH GIẢNG, đường này xuất phát từ ngă ba Trần Quư Cáp chạy thẳng xuống tới cây cầu bắc ngang qua Kinh Nhiêu Lộc. Bên kia cầu là Sở Rác của Đô Thành và thuộc Tỉnh Gia Định, thời đó chỗ này c̣n hoang vắng lắm, chưa có chợ Trương Minh Giảng, bên nay cầu phía Sài G̣n th́ mấy ‘’Anh Bảy Chà Và’’ nuôi ḅ, dê, cừu... thả rông ăn cỏ ở hai bên khu vực cầu. Trên con đường này, cũng bên số lẻ nằm ở góc ngă tư Ngô Thời Nhiệm-Trương Minh Giảng là nhà của Ông Đại Sứ Miên, c̣n ở cuối đường dưới dốc cầu th́ có một Ngôi Chùa Miên (bên số chẵn) duy nhứt trong Đô Thành. Sở dĩ lấy tên Trương Minh Giảng đặt cho con đường này (tên Tây là Amiyo des Vergne) là v́ Cụ Trương Minh Giảng là Vị ‘’Toàn Quyền’’ đầu tiên của Việt Nam ḿnh bên xứ Miên và chính Cụ là người đă đặt tên cho Thủ Đô Phnom Pênh của xứ này là NAM VANG.

Có lẽ cũng v́ chuyện đặt tên đường như vậy cho nên Thái Tử Sihanouk trị v́ xứ Miên rất có ác cảm với Chánh phủ của Thủ Tướng Diệm, ông này luôn t́m cách phá rối khu vực biên giới Miên-Việt và đă có lần huênh hoang tuyên bố sẽ xua quân qua đánh Việt Nam cho tới tận cây thốt nốt số 1!

Cây thốt nốt số 1 là cái ǵ và ở đâu mà Ông Hoàng này lớn lối dữ vậy? Cây THỐT NỐT là biểu trưng cho Xứ Miên (Royaume Du Cambogde, nay gọi là Kămpuchia), mà trước cổng Lăng Thờ Đức Tả Quân Lê văn Duyệt lại có trồng một cây thốt nốt rất đẹp, dưới đất chỉ có một gốc nhưng phía trên mặt đất th́ lại trổ ra hai thân uốn cong cong tự nhiên, người Miên gọi cây này là cây thốt nốt số 1. Ư của ông Hoàng muốn nói là sẽ xua quân đánh qua tới Sài G̣n, theo kiểu Chế Bồng Nga đánh vào Thăng Long hồi thế kỷ XIII, Chế Bồng Nga làm được c̣n ông Hoàng này chỉ làm ‘’NỒ’’ cho đă miệng chớ nào dám như Chế Bồng Nga của Chiêm Thành.

C̣n con đường mang tên Cụ PHAN THANH GIẢN nữa. Đường này khá dài khởi điểm từ ngă bảy Sài G̣n, chạy một chiều ra tới ngă ba Nguyễn Bỉnh Khiêm đụng kinh Nhiêu Lộc-Thị Nghè là hết. Thời đó chưa có cầu Phan Thanh Giản v́ chưa làm Xa Lộ Sài G̣n-Biên Ḥa.

Con đường này chạy ngang qua mặt trước của Đất Thánh Tây (Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi) nơi dành riêng chôn mấy người Pháp và người có quốc tịch Pháp sống ở Sài G̣n khi họ qua đời. Dân Sài G̣n kêu là Đất Thánh Tây cũng là lẽ đó. Đường này tên Tây là LEGRAND DE LALIRERAY.

Thuở nhỏ v́ nhà ở gần khu Đất Thánh này nên tôi hay chạy vô trong đó chơi. Mả Tây trong này xây rất đẹp, có mả phía trước gắn nguyên một con chim đại bàng giang rộng đôi cánh thiệt bự, có mả c̣n để nguyên mấy ṿng bông cườm thiệt, tụi trẻ chúng tôi hay ngắt mấy sợi cườm này đem về nhà xỏ xâu đeo chơi và bị ‘’Anh Bảy Chà’’ gác gian (người gác cửa Đất Thánh là... anh bảy Ấn Độ) rượt chạy ṿng ṿng rất vui. Một bữa t́nh cờ đi coi mấy cái mả bỗng tôi thấy có một ngôi mả nho nhỏ bằng đá hoa cương (đá Granite), trên mặt mả là mộ chí có đề chữ, xin được dịch ra tiếng Quốc ngữ, như vầy: ‘’Đây là nơi an nghỉ của Legrand de Lalireray Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Hoàng Gia Pháp...’’

À! RA VẬY!Con đường mang tên ông Tây thực dân này ở ngoài kia là tại v́ có ổng nằm trong này đây !

Ngôi mả này nho nhỏ có lẽ là do hốt cốt cải táng từ đâu đó rồi đem về chôn ở nơi đây.  Mà ông này theo tôi, có lẽ là người đă tham dự vào chuyện hạ Thành Văng Long (Vĩnh Long) do Quan Khâm Sai Đại Thần Phan Thanh Giản trấn giữ. Quan Khâm Sai đă từng được Vua Tự Đức tín nhiệm giao làm Trưởng Phái Đoàn thương thuyết của Triều Đ́nh Huế qua Pháp thương lượng chuộc lại 3 Tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Ḥa-Gia Định-Định Tường).

V́ đă qua Pháp, Cụ đă thấy được sức mạnh của vơ khí của người Tây dương nên Cụ truyền nộp Thành để tránh cho bá tánh muôn dân khỏi đổ máu trước súng đạn của Tây, để rồi sau đó Cụ dùng độc dược tuẫn tiết mà tạ lỗi với Vua và với Đất Nước.

Và v́ lư do này mà Ủy Ban đă thay tên Legrand de Lalireray...bằng tên Phan Thanh Giản như đă thấy.

Sau khi Cụ Phan qua đời, gia đ́nh đưa Cụ về táng tại làng Bảo Thạnh, Huyện Ba Tri Tỉnh Định Tường (nay là Bến Tre). Mộ Cụ rất đơn sơ nằm trên ngọn đồi cát trông ra biển. Gần đó, cùng làng Bảo Thạnh có mộ của Cụ Vơ Trường Toản, năm 1969 tôi có đến viếng mộ hai Cụ nhưng riêng mộ Cụ Vơ Trường Toản th́ không thấy đề tên chỉ thấy bia mộ ghi như sau: ‘’Một người được lịch sử đánh giá là Trung Nghĩa’’. C̣n mộ Cụ Đồ Chiểu th́ táng tại làng An Đức cùng huyện. Sau năm 1975, người ta tôn vinh Cụ Đồ, xây lại mả của Cụ rất bề thế, mả của Cụ Vơ Trường Toản th́ được Hôi Cựu Học Sanh Vơ Trường Toản ở Sài G̣n phối hợp với sở văn hóa tỉnh trùng tu lại ngó cũng đặng.

Riêng mộ Cụ Phan-Ông Nghè (Quan Tiến Sĩ) đầu tiên của Nam Kỳ th́ vẫn đơn sơ hiu hắt, trơ trọi một ḿnh trên đối cát. Tuy nhiên, bù lại, mộ Cụ Phan vẫn được nhơn dân bá tánh trong vùng trọng vọng, không để cho suy sụp, hư hao theo năm tháng. Theo thiển ư, nếu vong linh hai Cụ Đồ Chiểu và Vơ Trường Toản có linh hiển th́ chắc hai Cụ cũng không bằng ḷng với chuyện trùng tu mả của ḿnh bề thế hơn mả của Cụ PHAN. Như vậy là bất kính đối với bề trên. 

Cả hai Cụ đều là người. Một ‘’Giữa đường thấy chuyện bất b́nh chẳng tha’’. (Lục Vân Tiên), một ‘’Được lịch sử đánh giá là Trung Nghĩa’’. Do vậy, chắc là hai Cụ rất phật ư về việc làm của nhà đương cục Tỉnh Bến Tre đă ưu ái dành cho hai Cụ mà bỏ mặc cho bề trên của hai Cụ là Cụ PHAN.

Ngoài ra, bên cạnh Đường Phan Thanh Giản, chạy song song với Đường Hai Bà Trưng, nằm dọc theo cánh trái của Nghĩa Trang này c̣n có 2 con đường nhỏ mang tên hai người con của Cụ là Quư Ông Phan Liêm và Phan Tôn. Nhị Vị này sau khi thân phụ mất đă nổi lên chống lại người Pháp và được Ủy Ban đặt tên nằm ngay sát bên thân phụ của ḿnh. Thiệt là đầy ư nghĩa rất đáng khâm phục.

Thưa Quư Vị đó chỉ là một vài con đường thí dụ điển h́nh để minh họa cho sự tài t́nh và tinh tế của Ủy Ban đặt tên đường của Đô Thành Sài G̣n dưới thời cũ của Miền Nam.

Ngoài ra cũng c̣n phải nhắc đến một điều nho nhỏ nhưng không kém phần quan trọng trong việc đổi tên đường của Ủy Ban. Đó là việc ghi thêm tên con đường cũ trên bảng tên đường mới đổi để người dân trong Thành phố khỏi bị ‘’chưng hửng, ngỡ ngàng’’ mỗi khi đọc tên đường mới. Bộ Công Chánh thời đó bắt buộc trên mỗi bảng tên đường mới đổi được đặt ở các góc đường nơi nó chạy ngang qua, đều phải ghi rơ tên đường cũ ngay phía dưới tên mới. Thí dụ Đường PHẠM NGŨ LĂO ở Quận Nh́ chạy dọc theo ga xe lửa Sài G̣n bên phía rạp hát Thành Xương và chợ Thái B́nh th́ phía dưới tên Phạm Ngũ Lăo phải ghi thêm hàng chữ: Ex: COLONEL GRIMAUX, hoặc như Đường CỐNG QUỲNH gần đó th́ EX: ARRASS. v.v...

Mỗi tên đường của Đô Thành Sài G̣n không những là một công tŕnh nghiên cứu của Ủy Ban mà c̣n mang đầy những kư ức, những kỷ niệm của người dân nơi đó.

Những con đường của tuổi trẻ th́ có:

Con đường ṿm lá me xanh biếc mát rượi thỉnh thoảng điểm vài tiếng hót vút cao của loài chim nhỏ dễ thương tên là vành khuyên (dân Sài G̣n gọi là chim khoen màu xanh) mà ở cuối đường ṿm lá me nh́n thấy thấp thoáng chiếc cổng màu trắng của Trường Nữ Trung Học Saint Paul (Trường Nhà Trắng) trên Đại Lộ Cường Để (đây là đoạn Đường Gia Long chạy ngang qua trước cửa Nhà Thương Đồn Đất (Bệnh Viện GRALL) cho tới ngă ba Cường Để). Hoặc ‘’con đường Duy Tân cây dài bóng mát, con đường của đôi ḿnh, con đường t́nh ta đi...’’.

Hay con đường của quư vị muốn t́m hiểu lịch sử hiện đại th́ có:

Nằm ngay góc Phan Đ́nh Phùng và Lê Văn Duyệt (bên số chẵn) đối diện với Ṭa Đại Sứ Cao Miên chỗ cây xăng, nơi Ḥa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chánh quyền của Tổng Thống  Diệm năm 1963.

Hoặc như trước Dinh Thủ Tướng, số 2 Đại Lộ Thống Nhứt (ngay trước cửa Thảo Cầm Viên Sài G̣n) sanh viên, học sanh thời đó (năm 1964) đă có một cuộc biểu t́nh chống độc tài vô tiền khoáng hậu do Ông Nguyễn Trọng Nho lănh đạo đă làm sụp đổ chế độ của ông Tướng râu Nguyễn Khánh.

Nhiều lắm! nhiều lắm, nói không hết trong vài trang ngắn của diễn đàn này quư vị ơi!

Thế rồi...Tang điền biến vi thương hải, ngày định mạng 30. 4. 1975 ập tới!...

Ngày 30.4.1975 định mạng ập tới! Quả đúng là như vậy. Người xưa nói ít có trật lắm!

Sau ngày này, tất cả mọi chuyện đều thay đổi, thay đổi đến mức ngỡ ngàng. Đồng ư chuyện thay đổi là thường t́nh của lịch sử nhơn loại, thế nhưng ở Việt Nam ḿnh th́ chuyện thay đổi này kỳ quái lắm, nó làm chậm lại bước phát triển của dân tộc so với các nước trong khu vực khoảng 20-25 năm, tức là làm mất đi hẳn một thế hệ con người.

Sau ngày này, đáng lẽ ra các người chiến thắng phải biết khiêm tốn một chút th́ đỡ khổ cho dân t́nh biết bao nhiêu, ngược lại, với mặc cảm tự tôn, kiêu căng cộng với cái gọi là ‘’tŕnh độ hạn chế’’ (một cách nói để che dấu cho sự dốt nát) họ đă tự tạo ra cho chính họ một lực cản, một chướng ngại vật làm tŕ trệ cho sự phát triển của đất nước.

Quả thật ngày 30.4.1975 là ngày định mạng của đất nước, những người cộng sản chiến thắng th́ gọi ngày này là bước ngoặt của lịch sử. Nói tới lịch sử th́ trong tiến tŕnh phát triển của lịch sử nhơn loại đă minh chứng rằng không phải lúc nào người chiến thắng cũng có được một nền văn minh cao hơn kẻ chiến bại. Ngược lại, chưa hẳn kẻ chiến bại lúc nào và bao giờ cũng là một tập đoàn ngu tối hơn người chiến thắng. Điều này đă được xác định từ Đông sang Tây của lịch sử. Vào thế kỷ XIII bên Trung Hoa của Đông phương, triều đại nhà NGUYÊN đă chiến thắng triều đại nhà TỐNG, thế nhưng vó ngựa chiến chinh bách chiến từ Á qua Âu của Thành Cát Tư Hăn chỉ chịu ngừng bước trước nước Đại Việt của chúng ta và hoàn toàn bị khuất phục bởi nền văn minh của nhà Tống đă thiết lập trước đó. Sau này cũng tại Trung Hoa vào thế kỷ XVII, triều đại nhà THANH đă đè bẹp chế độ của Minh Thành Tổ Chu Nguyên Chương, người sáng lập ra nhà MINH. Sau chiến thắng, người Măn dù có tŕnh độ phát triển thấp hơn so với người Hán của nhà Minh, nhưng họ cũng đă biết giữ ǵn những thành tựu văn hóa của nhà Minh để lại. Điển h́nh là các đền đài, lăng tẩm của nhà Minh như khu vực Tử Cấm Thành, Thiên An Môn c̣n lưu lại nguyên vẹn cho đến ngày nay ở Thủ Đô Bắc Kinh. 

Bên Tây phương th́ nền văn minh của Cổ Hy Lạp đă ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của Đế Quốc La Mă.

C̣n ở Việt Nam sau ngày định mạng này, tất cả mọi sự đều thay đổi. Chuyện thay đổi là tự nhiên, thường t́nh nhưng sự thay đổi ở đây khiến cho người dân miền Nam không khỏi bỡ ngỡ, bàng hoàng v́ tính chất lạ lùng mà từ trước tới nay người dân miền Nam chưa bao giờ thấy. Thiệt đúng là Cách Mạng!

Cũng v́ mặc cảm tự tôn, kiêu căng, cực đoan của người chiến thắng mà chỉ sau 1 thập niên quản lư Thành Phố, họ đă biến Thành Phố Sài G̣n, được ví như một cô gái trẻ xinh đẹp vào bực nhứt của khu vực Đông Nam Á trở thành một bà già xấu xí, lem luốc đến thảm hại.  Điều này bắt nguồn từ ngày 10.10.1954 (ngày tiếp quản Thủ Đô Hà Nội) cho tới thời điểm 1989 được coi như xuất phát điểm của công việc đổi mới TiVi ư quên! xin lỗi! Đổi mới tư duy của người chiến thắng. Sau ngày tiếp quản Hà Nội, Người cộng sản tuyên bố chọn học thuyết Mác -Lênin làm kim chỉ nam trong việc cai trị và điều hành đất nước. Họ đă áp dụng một đường lối cai trị nghiệt ngă trên toàn quốc. Đường lối này là ‘’đóng cửa rút cầu’’ với thế giới bên ngoài ngoại trừ với phe xă hội chủ nghĩa anh em. Đường lối này nh́n chung chẳng khác với chánh sách ‘’Bế môn Tỏa Cảng’’ của Triều Đ́nh Tự Đức Nhà Nguyễn là mấy, nếu không muốn nói là tương tự. Vậy mà họ lại lớn tiếng lên án chánh sách này là hủ bại và phản động. Và hệ quả là: ‘’ÚI GIỜI ƠI! QUẢ THẬT LÀ HIỆN ĐẠI !HIỆN ĐẠI!’’

Đó là lời cảm thán bàng hoàng nhưng trung thực được thốt ra từ một người chiến thắng, ngồi ghế trước một chiếc xe Jeep lùn (có lẽ là chiến lợi phẩm) đầu đội nón cối có gắn huy hiệu hai hàng bông lúa bao quanh ngôi sao vàng, hông đeo súng ngắn đựng trong bao da,  phía sau xe có 3 anh bộ đội trẻ cầm tiểu liên AK-47, tất cả đều bận quân phục màu Olive đă bạc màu, nhoài người ra ngoài xe ngước nh́n những ngọn đèn thủy ngân cao áp đang phả ánh sáng hồ quang soi sáng đường phố ở khu vực ‘’bùng binh chợ Sài G̣n’’ mà tôi đă nh́n thấy vào buổi tối hôm 02.5.1975.

Ban đêm bầu trời Sài G̣n rực sáng đến nỗi ở tuốt trên Củ Chi hay trong rừng mật khu Hố Ḅ ǵ đó, có một anh chiến binh việt cộng nh́n thấy đă làm thơ ca ngợi như sau:

‘’….Cái vầng sáng bồi hồi thương nhớ ấy, 

Cứ đêm đêm nhắc nhở gọi ta về…’’

(Người chiến binh này là một trong những người con trai của Ông Ca Văn Thỉnh, sau này được lấy bút danh đặt tên cho một con đường nhỏ nằm xéo xéo trước rạp hát Long Phụng ở Quận 1).

Ban đêm Sài G̣n là như vậy c̣n ban ngày…thôi hết biết luôn!

- Phố phường, chợ búa tấp nập người mua kẻ bán nhộn nhịp, huyên náo.

- Đường xá xe cộ lưu thông dập d́u nhưng rất trật tự.

- Người dân từ nam thanh nữ tú cho tới ông già bà cả đều ăn mặc thanh lịch, nói năng nhă nhặn…

Đúng như lời bài ca của ông nhạc sĩ Y Vân ca ngợi: ‘’SÀI G̉N đẹp lắm! SÀI G̉N ơi! SÀI G̉N ơi!’’

Điều này nếu đem so với Thủ Đô Hà Nội của những người chiến thắng, được tự phong là ‘’Thủ Đô của phẩm giá con người’’ th́…chính v́ vậy mà bà văn sĩ Dương thu Hương của Hà Nội đă phải bật khóc giữa đường phố Sài G̣n khi nh́n thấy tận mắt Thủ Đô của Ngụy Quyền Miền Nam.

Và để làm giảm bớt sự phồn thịnh của Sài G̣n, những người chiến thắng đă đặt cho ‘’Nàng’’ một cái tên hợm hĩnh là ‘’Thành phố phồn vinh giả tạo’’ do Mỹ-Ngụy để lại!

Ấy vậy mà chỉ 2-3 năm sau cái ngày định mạng này th́:

- Đường phố ban đêm tối tăm v́ bóng đèn đường cao áp đă đến thời kỳ hết tuổi sử dụng nhưng không có bóng đèn mới thay thế, và cũng chính v́ lẽ đó mà những con đường u tối này đă trở thành khu chợ ‘’bán hoa’’ vào ban đêm.

- Hè phố dành cho người đi bộ bị cuốc lên nham nhở đặng trồng…khoai lang!

- Sân cỏ ngày nào xanh mướt của các ngôi biệt thự ở Quận Ba, giờ đây xuất hiện vài ba cái cḥi lợp tạm bằng mấy tấm tôn rỉ sét để làm chuồng…nuôi heo cải thiện!

- Nhà cửa mặt tiền hai bên đường phố th́ ‘’cơi nới’’ (một h́nh thức xây cất bất hợp pháp) vô tội vạ bất kể tới trật tự đô thị hay vẻ mỹ quan của thành phố.

- Tệ nạn đục tường, trổ vách để được…tiến ra mặt tiền, ngơ hầu có chỗ tranh mua tranh bán bát nháo, loạn xà ngầu…

Có lần ṭ ṃ, tôi có hỏi thăm mấy ông bà cán bộ được phân cho ở trong mấy căn nhà đó: ‘’Tại sao lại làm chuyện kỳ cục như vậy?’’. Th́ mấy ông bà này trả lời tỉnh ‘’gueo’’ như sau. Nói xin lỗi bà con nghen: ‘’Bộ của ông của cha ǵ ḿnh mà giữ ǵn cho mệt ông ơi!’’.  Quả đúng là ‘’lương tâm hổng bằng lương thực’’.

Từ đó bộ mặt của Sài G̣n trở nên nhếch nhác, tiêu điều để đến nỗi mỗi năm cứ vào những dịp có lễ lạc lớn như lễ quốc khánh, Tết Nguyên Đán…Chánh quyên sở tại phải xuất công nho của thành phố ra mua sơn, vôi rồi mướn công nhơn đi sơn phết, quét vôi mấy căn nhà mặt tiền này đặng coi cho đỡ khổ một chút. Mấy chục năm sống trong thành phố này, tôi chưa từng thấy có chánh quyền nào lại đi bỏ tiền của ra mua sơn, vôi về sơn quét miễn phí cho nhà tư nhơn như chánh quyền của mấy người chiến thắng này. Thiệt hết biết!

Phố xá, nhà cửa đă như vậy th́ tên đường cũng phải thay đổi theo là chuyện đương nhiên. Tiền mà c̣n đổi huống chi là tên mấy con đường. Nhằm nḥ ǵ ba cái chuyện lẻ tẻ đó.  Người chiến thắng đổi tên đường không theo một quy tắc nào hết, họ đổi theo cảm tính cá nhơn hoặc đổi do có tác động từ một lư do không bắt nguồn từ văn hóa mà từ…tiền bạc chẳng hạn.

V́ cảm tính duy ư chí (thuật ngữ này là của người cộng sản đặt ra) nên họ đă khiến cho người Sài G̣n đặt ra những câu châm biếm, chọc ghẹo về tên của 2 con Đường Đồng Khởi và Nam kỳ Khởi Nghĩa như quư vị đă biết. Về tên của 2 con đường này, theo thiển ư, nếu họ có suy nghĩ đừng theo cảm tính tự tôn, tự phụ của người chiến thắng th́ nên chọn như sau:

Lấy con đường bắt đầu từ Cầu Phú Lâm, bắc ngang qua Rạch Ông Buông, trước cửa nhà Ông dầu khuynh diệp Bác Sĩ Tín trong Quận Sáu, chạy theo Quốc Lộ 4 (nay là Quốc Lộ 1) xuống tới Mỹ Tho, qua Bắc Rạch Miễu về Bến Tre mà đặt cho nó cái tên là ĐỒNG KHỞI th́ trúng ngay bóc!

Hoặc lấy con đường khởi đầu từ ngă tư Bảy Hiền chạy qua Cầu Tham Lương thẳng tuốt tới Hóc Môn rồi đặt tên là NAM KỲ KHỞI NGHĨA th́...tuyệt chiêu luôn, khó có ai có thể dè bĩu, châm chọc cho đặng! Nhưng tiếc thay…!

C̣n những con đường khác trong Thành Phố như toàn bộ đường mang tên các vị Vua Triều Nguyễn đều bị dẹp bỏ, ngoại trừ Hàm Nghi, để thay thế bằng tên của các người chiến thắng mà hầu như dân Sài G̣n chẳng hề biết đến họ là ai trong lịch sử.

Thí dụ đường mang tên Tướng Đỗ Thanh Nhân của Triều Nguyễn nằm bên Quận Tư th́ được thay bằng Đoàn Văn Bơ, đường Thoại Ngọc Hầu (chạy ngang trước cửa dược pḥng của Đông Y Sĩ lừng danh Thủ Tạ (Ông Tạ) được thay bằng Phạm Văn Hai, đường Phát Diệm chạy ngang cửa Trường Tiểu Học Cầu Kho ở Quận Nh́ th́ được đổi ra Trần Đ́nh Xu. Nghĩa là lung tung, rải rác khắp nơi. Điều này gây khó khăn không ít cho những người được mang danh là ‘’Thổ địa của thành phố’’ mỗi khi muốn hỏi về tên những con đường này coi nó nằm ở đâu trong Thành Phố?

Đúng lẽ ra, những con đường mang tên mấy người chiến thắng này như tên của Quư Vị: Hai, Cội, Đừng, Cân, Sáu, Xu, Bơ, Bánh, Đậu phải được đặt chung vào một cụm gần nhau cho dễ kiếm mỗi khi cần. 

Cảm tính là như vậy đó!

C̣n tác động của tiền bạc làm thay đổi tên đường th́ điển h́nh như :

- Đường Hồng Thập Tự, sau ngày định mạng được đổi thành Xô Viết Nghệ Tĩnh.

- Đường Pasteur đổi ra Nguyễn Thị Minh Khai.

Nhơn dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Viện Pasteur Sài G̣n, Chánh phủ Pháp bèn thương lượng với nhà cầm quyền thành phố là sẽ chi viện cho thành phố một ngân khoản viện trợ để gọi là trùng tu lại cơ sở khoa học mang tên Nhà Bác Học lừng danh Louis Pasteur (dân Sài G̣n ngày xưa gọi cơ sở này một cách nôm na dễ thương là ‘’Nhà thương thuốc chó’’ v́ hễ bị chó cắn là tới đây chích ngừa miễn phí, người gơ bài này khi xưa cũng đă từng được chích ngừa 8 mũi thuốc ngừa bịnh chó dại đau thấu trời đất tại nhà thương này), đổi lại, chỉ xin phục hồi lại tên đường cũ của trước ngày định mạng 30.4.75 thôi. Và thế là bà Nguyễn Thị Minh Khai đang ‘’đè’’ ông Pasteur từ sau ngày này, bỗng nhiên bị hất xuống cho chạy qua xóa tên quê hương của ḿnh là Xô Viết Nghệ Tĩnh để được ngự tại đó cho tới bây giờ.

C̣n nhiều con đường khác bị thay thế một cách ngớ ngẩn như Đại Lộ Thống Nhứt được thay bằng đường (ĐƯỜNG chớ hổng phải ĐẠI LỘ à nha!) 30 tháng Tư. Nghe cũng hợp lư lắm. Ấy vậy mà sau khi ‘’anh Ba’’ Lê Duẩn qua đời, Ông 10 Cúc Nguyễn Văn Linh bèn ‘’nâng bi’’ lấy điểm tài khôn đối ra thành đường Lê Duẩn, thiệt là…hết chỗ nói.

Cũng nên nói thêm ở đây cho rơ là tất cả mọi con đường trong Thành Phố này dù lớn dù lớn cỡ 80 thước bề ngang cũng ngang bằng với con đường hẻm 5 thước bề rộng. Tất cả đều là đường ráo trọi, không có đại lộ tiểu lộ ǵ hết. Hà Nội là Thủ Đô của cả nước c̣n chưa có đại lộ mà Sài G̣n dám có là sao? Muốn phạm thượng hả? Và thế là ngày nay nếu Vị nào có về Sài G̣n thăm lại chốn cũ th́ sẽ thấy đường, đường, đường…c̣n đại lộ th́…vô tư quên đi. Boulevard, Avenue…là của Tư Bổn, ta khác, không được căi nghe chửa?!

Thưa Quư Vị bài viết về tên đường tới đây cũng là quá dài rồi. Xin phép cho được ngừng ở đây, hẹn sẽ bàn tiếp về chuyện khác cũng thú vị lắm. Nếu quư vị đọc bài này thấy cũng đỡ đỡ th́ xin Quư Vị chớ có khen tặng ông già này đă ‘’làm tốt’’ công việc kể chuyện.  Khen như vậy ‘’gua’’ giận lắm nghen! Ngày xưa, trước ngày định mạng, người Miền Nam không bao giờ nói làm tốt. Khen ai th́ nói: ‘’Ông (Bà) hay Anh Chị đă hoàn thành xuất sắc công việc này, hoặc đă làm việc thật xứng đáng để được khen thưởng….’’ Chớ không bao giờ người ta khen là làm tốt như mấy ông cộng sản ngày nay ưa xài. Tại sao vậy? Xin thưa rằng Làm Tốt mà nói lái lại th́…đúng như Bùi Bảo Trúc Tiên Sanh của tuần báo Việt Tide ở mục có h́nh con khỉ ở đầu trang mà Tiên Sanh khen là giống với tác giả nhứt đă viết như sau:

‘’XẤU TH̀ THẬT LÀ XẤU, XEM TH̀ RẤT THÍCH XEM. NHẮC ĐẾN LÀ THÈM, BẢO ĂN TH̀ GIẬN’’ .

Đàng này không bảo ăn mà là…táp! Hỏi không nổi khùng sao đặng?

 

                                                                                                            Kính.

Nam Vịnh lăo gia (Ông già lẩm cẩm South Bay).

 

 

HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954

Hội Nghị Genève khai mạc ngày 26.4.1954 với mục đích giải quyết cả hai vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Tuy nhiên các cuộc thảo luận về Triều Tiên không đạt được một kết quả nào. Các cuộc thảo luận về Đông Dương do đó chỉ thực sự bắt đầu ngày 8.5.1954 với sự tham dự của đại diện các nước Anh, Pháp, Mỹ Nga, Trung Cộng, Việt Nam, Việt Minh, Cao Mên và Lào.

            Anh: Ngoại Trưởng A. Eden

            Pháp: Ngoại Trưởng G. Bidault

            Mỹ: Thứ Trưởng Ngoại Giao W. Bidell Smith

            Nga: Ngoại Trưởng V.  Molotov

            Trung Cộng: Ngoại Trưởng Chu Ân Lai

            Việt Nam: Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định

            Việt Minh: Ngoại Trưởng Phạm Văn Đồng

            Ngày 17.5 lần đầu tiên Pháp và Việt Minh họp kín.

            Ngày 19.6 P.  Mandès France đắc cử Thủ Tướng Pháp. Ông Chauvel thay thế Ngoại Trưởng Bidault.

            Đầu tháng 7.1954, Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ thay thế ông Nguyễn Quốc Định.

            Hiệp Định Genève được kư kết ngày 20.7.1954 gồm 4 văn kiện:

            1.- Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm 6 Chương và 47 Điều khoản.

            2.- Hiệp Định đ́nh chỉ chiến sự ở Lào gồm 6 Chương và 40 Điều khoản.

            3.- Hiệp Định đ́nh chỉ chiến sự ở Cao Mên gồm 5 Chương và 33 Điều khoản.

            4.- Tuyên Bố Cuối Cùng của Hội Nghị gồm 13 Điểm.

            Bản Tuyên Bố Cuối Cùng được xem như Tuyên Cáo của Hội Nghị nhưng không mang chữ kư của bất cứ một Phái Đoàn nào.

            Ngoài 4 văn kiện kể trên c̣n có hai văn kiện nữa do hai Phái Đoàn tham dự đưa ra trong Hội Nghị với mục đích xác định lập trường riêng của ḿnh:

            1.- Tuyên Ngôn của Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam.

            2.- Tuyên Ngôn của Phái Đoàn Hoa Kỳ.

            Cả hai Phái Đoàn của Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ không kư vào bất cứ một văn kiện nào của Hiệp Định Genève 1954.

HIỆP ĐỊNH Đ̀NH CHỈ CHIẾN SỰ Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG I

GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI VÀ KHU PHI QUÂN SỰ

            Điều 1: Một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được quy định rơ, để lực lượng hai bên, sau khi rút lui, sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy. Lực lượng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến. Lực lượng Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến.

Hai bên đồng ư có một Khu phi quân sự hai bên giới tuyến, mỗi bên rộng nhất là 5 cây số kể từ giới tuyến trở đi. Khu phi quân sự này dùng để làm khu đệm và để tránh những việc xung đột có thể làm cho chiến sự trở lại.

Điều 2: Kỳ hạn cần thiết để thực hiện việc di chuyển hoàn toàn các lực lượng của hai bên về vùng tập họp của họ ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời không được quá 300 ngày,  kể từ ngày Hiệp Định này có hiệu lực.

Điều 3: Khi giới tuyến quân sự tạm thời trùng với một gịng sông, th́ thuyền bè của dân đều có thể đi lại trên những khúc sông nào mà mỗi bờ do mỗi bên kiểm soát. Ban liên hợp sẽ quy định thể lệ đi lại trên những khúc sông ấy.

            Các tàu buôn và các loại thuyền bè khác của dân ở mỗi bên đều có quyền cập bến trong khu vực bên ḿnh kiểm soát mà không bị hạn chế ǵ.

Điều 4: Giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai vùng tập họp kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển.

            Lực lượng Liên Hiệp Pháp sẽ rút khỏi tất cả các Hải Đảo ven bờ biển thuộc phía Bắc giới tuyến ấy. Quân Đội Nhân Dân Việt Nam sẽ rút khỏi tất cả các Hải Đảo thuộc phía Nam.

Điều 5: Để tránh những sự xung đột có thể gây lại chiến sự, tất cả lực lượng, vật liệu và dụng cụ quân sự đều phải đưa ra khỏi Khu phi quân sự trong thời gian 25 ngày kể từ ngày Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực.

Điều 6: Bất cứ người nào hoặc quân nhân hoặc người thường đều không được vượt qua giới tuyến quân sự tạm thời, nếu không được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp.

Điều 7: Bất cứ người nào, hoặc quân nhân hoặc người thường đều không được đi vào Khu phi quân sự, ngoại trừ những người có trách nhiệm và hành chính dân sự về tổ chức cứu tế và những người được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp.

Điều 8: Việc hành chính và tổ chức cứu tế ở trong Khu phi quân sự tạm thời thuộc vùng của bên nào th́ do Tổng Tư Lệnh của bên ấy phụ trách. Số người quân nhân và người thường của mỗi bên được phép vào trong Khu phi quân sự để bảo đảm việc hành chính và việc tổ chức cứu tế đều do Tư Lệnh của mỗi bên ấn định, nhưng bất kỳ lúc nào cũng không được quá số người mà Ban quân sự trung giá hay Ban Liên Hợp sẽ quy định.

            Ban Liên Hợp sẽ ấn định số nhân viên Cảnh Sát hành chính, số vơ khí của những nhân viên Cảnh Sát ấy. Không ai được mang vơ khí nếu không được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp.

Điều 9: Không có một khoảng nào trong chương tŕnh này có thể hiểu theo ư nghĩa làm mất hoàn toàn quyền tự do ra vào hay đi lại trong Khu phi quân sự của Ban Liên Hợp, của những Toán Liên Hợp, của Ban Quốc Tế thành lập như quy định dưới đây, của những đội kiểm tra cùng tất cả những người khác và vật liệu, dụng cụ đă được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp cho vào Khu phi quân sự. Khi cần đi lại từ một điểm này đến một điểm kia trong Khu phi quân sự mà không có đường thủy hay đường bộ nằm hẳn trong Khu phi quân sự, th́ được phép dùng những con đường thủy hay đường bộ nối hai điểm ấy đi ngang qua vùng đặt dưới quyền kiểm soát quân sự của bất cứ một bên nào.

CHƯƠNG II

NGUYÊN TẮC VÀ CÁCH THỨC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH NÀY

            Điều 10: Các Bộ Tư Lệnh Quân Đội đôi bên, một bên là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, một bên là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp ở Đông Dương sẽ ra lệnh hoàn toàn đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam cho tất cả lực lượng vơ trang đặt dưới quyền của họ, kể cả các đơn vị và nhân viên Hải, Lục, Không Quân và bảo đảm sự thực hiện đ́nh chỉ chiến sự đó.

Điều 11: Theo nguyên tắc ngừng bắn đồng thời khắp toàn cơi Đông Dương, sự đ́nh chỉ chiến sự phải đồng thời trên toàn cơi Việt Nam, tại tất cả các chiến trường và cho tất cả lực lượng của hai bên.

            Tính theo thời gian thực sự cần thiết để chuyển lệnh ngưng bắn tới những cấp thấp nhất của lực lượng chiến đấu đôi bên, hai bên đồng ư sẽ thực hiện ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời theo từng khoảng lănh thổ, trong những điều kiện sau đây:

            Ở Bắc Bộ Việt Nam, đúng 8 giờ địa phương ngày 27.7.1954.

            Ở Trung Bộ Việt Nam, đúng 8 giờ địa phương ngày 1.8.1954.

            Ở Nam Bộ Việt Nam, đúng 8 giờ địa phương ngày 11.8.1954.

            Giờ địa phương nói trong điều này là giờ kinh tuyến Bắc Kinh.

            Kể từ khi thực hiện ngưng bắn thực sự ở Bắc Bộ Việt Nam, mỗi bên cam đoan không mở những cuộc tấn công lớn trên toàn cơi chiến trường Đông Dương, không huy động lực lượng Không Quân ở các căn cứ miền Bắc Bộ Việt Nam ra ngoài địa hạt Bắc Bộ Việt Nam.  Hai bên cam đoan gửi cho nhau để biết những kế hoạch chuyển quân của ḿnh từ vùng tập hợp khác trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực.

Điều 12: Tất cả những hành động và vận chuyển trong việc đ́nh chỉ chiến sự và việc thực hiện cách tập hợp phải tiến hành trong trật tự và an toàn.

            a.- Trong thời gian một số ngày sau khi thực hiện ngưng bắn thực sự cho Ban quân sự trung giá định, mỗi bên có trách nhiệm cất dọn và làm mất hiệu lực những địa lôi và thủy lôi (kể cả ở sông và ở biển), những cạm bẫy, những chất nổ và tất cả những chất nguy hiểm khác mà bên ấy đă đặt trước. Trong trường hợp không kịp cất dọn và làm mất hiệu lực các loại nói trên, th́ phải đặt những dấu hiệu rơ rệt.

            Tất cả những nơi phá hoại, những nơi địa lôi, những lưới dây thép gai và những vật chướng ngại khác cho sự đi lại tự do của nhân viên Ban Liên Hợp và của các Toán Liên Hợp mà người ta t́m ra sau khi bộ đội đă rút đi, th́ Tư Lệnh các lực lượng của hai bên phải báo cho Ban Liên Hợp biết.

            b.- Trong thời kỳ kể từ khi ngừng bắn cho đến khi tập hợp xong quân đội ở hai bên giới tuyến:

            1.- Ở những khu định giao cho bộ đội của một bên tạm đóng th́ bộ đội của bên kia tạm rút ra ngoài những khu đó.

            2.- Trong khi lực lượng của một bên rút theo một đường giao thông (đường đất, đường xe lửa, đường sông hay đường biển) đi ngang qua địa hạt của bên kia (xem Điều 24) th́ lực lượng của bên kia phải tạm thời lui xa hai bên đường giao thông mỗi bên 3 cây số, nhưng tránh làm trở ngại cho sự đi lại của thường dân.

Điều 13: Trong thời kỳ kể từ ngày ngừng bắn đến khi chuyển quân xong từ vùng này sang vùng kia, các phi cơ thường và phi cơ vận tải quân sự phải bay theo những hành lang nhất định nối liền các khi đóng quân tạm thời của Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở phía Bắc giới tuyến với biên giới Lào và vùng tập hợp dành cho Quân Đội Liên Hiệp Pháp.

            Những hành lang trên không, bề rộng của các hành lang ấy, hành tŕnh an toàn mà các phi cơ quân sự một động cơ phải theo trong việc vận chuyển về phía Nam và những thể thức t́m kiếm và cứu nạn những phi cơ bị nạn sẽ do Ban quân sự trung giá ấn định tại chỗ.

Điều 14: Những biện pháp chính trị và hành chính trong hai vùng tập hợp, ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời:

            a.- Trong khi đợi Tổng tuyển cử để thực hiên thống nhất nước Việt Nam, bên nào có quân đội của ḿnh tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp Định này th́ bên ấy sẽ phụ trách quản trị hành chính ở vùng ấy.

            b.- Một địa hạt thuộc quyền của bên này sắp chuyển giao cho bên kia theo kế hoạch tập hợp th́ vẫn do bên này tiếp tục quản trị cho đến ngày tất cả bộ đội của ḿnh đă rời khỏi địa hạt có thể giao cho bên kia chịu trách nhiệm quản trị.

            Phải thi hành những biện pháp để tránh sự gián đoạn trong vấn đề chuyển giao trách nhiệm này. Để đạt được mục đích ấy, bên rút đi phải kịp thời báo trước cho bên kia để bên kia có những sự sắp xếp cần thiết, nhất là cử những Nhân viên hành chính và Cảnh Sát đến để chuẩn bị tiếp nhận trách nhiệm về hành chính. Thời hạn báo trước sẽ do Ban quân sự trung giá ấn định. Sự chuyển giao ấy sẽ tiến hành lần lượt theo từng khoảng đất đai.

            Sự chuyển giao về hành chính Hà Nội và Hải Pḥng cho nhà đương cục của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa phải hoàn toàn thi hành xong trong những thời hạn đă ấn định ở Điều khoản thứ 15 về việc chuyển quân.

            c.- Mỗi bên cam kết không dùng cách trả thù hay phân biệt đối xử nào đối với những cá nhân hoặc tổ chức, v́ lư do của họ trong lúc chiến tranh và cam kết bảo đảm những quyền tự do dân chủ của họ.

            d.- Trong thời gian kể từ khi Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực đến ngày hoàn thành việc chuyển quân, nếu có những thường dân ở một khu thuộc quyền kiểm soát của bên này mà muốn sang ở vùng bên kia, th́ nhà chức trách của khu trên phải cho phép và giúp đỡ sự di chuyển ấy.

Điều 15: Việc tách rời bộ đội chiến đấu, việc rút quân, việc chuyển quân và vật liệu,  dụng cụ quân sự, phải tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

            a.- Việc rút quân và chuyển quân, vật liệu và dụng cụ quân sự của hai bên phải làm xong trong thời hạn 300 ngày như ấn định ở Điều khoản thứ 2 của Hiệp Định này.

            b.- Những cuộc rút quân tuần tự phải tiến hành trong mỗi địa hạt, theo từng khu vực,  từng phần khu vực, hoặc từng Tỉnh.

            Những cuộc chuyển quân từ vùng tập hợp này sang vùng tập hợp khác sẽ tiến hành liên tiếp từng đợt hàng tháng và tính theo tỷ lệ số quân phải chuyển.

            c.- Hai bên sẽ bảo đảm sự thực hiện việc rút và chuyển tất cả các lực lượng theo đúng mục đích nói trong Hiệp Định, không dung thứ một hành vi đối địch nào, không c̣n làm bất cứ việc ǵ có thể trở ngại cho việc rút quân và chuyển quân của nhau. Hai bên phải giúp đỡ lẫn nhau trong phạm vi có thể được.

            d.- Hai bên không dung thứ bất cứ hành động nào hủy hoại hoặc phá hoại tài sản công cộng và xâm phạm đến sinh mạng và tài sản của thường dân. Hai bên cũng không dung thứ bất cứ sự can thiệp nào vào nội chính địa phương.

            e.- Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế theo dơi việc thi hành những biện pháp bảo đảm an toàn của bộ đội trong khi rút và trong khi chuyển.

            f.- Ban quân sự trung giá và sau này Ban Liên Hợp sẽ cùng nhau ấn định những thể thức cụ thể và việc tách rời bộ đội chiến đấu, việc rút quân và chuyển quân, căn cứ trên các nguyên tắc đă kể trên và trong khuôn khổ sau đây:

            1.- Việc tách rời bộ đội chiến đấu, bao gồm sự tụ họp tại chỗ các lực lượng vũ trang bất cứ thuộc loại nào, sự vận chuyển tới những khu đóng quân tạm thời của một bên và sự tạm rút của quân đội bên kia, phải làm xong trong một thời hạn không được quá 15 ngày sau khi thực hiện ngưng bắn.

            Đường vạch những khu đóng quân tạm thời được ấn định trong phụ bản.

            Để tránh mọi việc xung đột không bộ đội nào được đóng dưới 1. 500 thước cách giới hạn của những khu đóng quân tạm thời.

            Trong thời kỳ kể từ ngày Hiệp Định bắt đầu có hiệu lực, đến ngày chuyển quân xong,  tất cả những đảo gần bờ biển ở phía Tây con đường định sau đây, đều thuộc khu chu vi Hải Pḥng:

            Kinh tuyến của mỏm phía Nam cù lao Kê Bào.

            Bờ biển phía Bắc của đảo Rousse (không kể ḥn đảo ấy) kéo dài tới kinh tuyến Cẩm Phả Mỏ.

            Kinh tuyến Cẩm Phả Mỏ.

            2.- Những cuộc rút quân và chuyển quân sẽ tiến hành theo thứ tự và những thời gian (kể từ Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực) định sau đây:

Quân Đội Liên Hiệp Pháp:

            Chu vi Hà Nội 80 ngày.

            Chu vi Hải Dương 100 ngày.

            Chu vi Hải Pḥng 300 ngày.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam:

            Khu Hàm Tân-Xuyên Mộc 80 ngày.

            Đợt thứ nhất của khu tạm đóng quân ở Trung Bộ Việt Nam 80 ngày.

            Khu Đồng Tháp Mười 100 ngày.

            Đợt thứ hai của khu tạm đóng quân ở Trung Bộ Việt Nam 100 ngày.

            Khu mũi Cà Mau 200 ngày.

            Đợt chót của khu tạm đóng quân ở Trung Bộ Việt Nam 300 ngày. 

CHƯƠNG III

CẤM ĐEM THÊM QUÂN ĐỘI NHÂN VIÊN QUÂN SỰ VŨ KHÍ ĐẠN DƯỢC MỚI

Căn Cứ Quân Sự.

            Điều 16: Kể từ khi Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực, cấm không được tăng thêm vào nước Việt Nam mọi bộ đội và nhân viên quân sự.

            Tuy nhiên sẽ cho phép việc thay thế những đơn vị, nhân viên, sẽ cho phép những quân nhân riêng lẻ đến Việt Nam làm một công việc nhất thời, những nhân viên riêng lẻ trở lại Việt Nam sau một thời hạn nghỉ phép ngắn hay một công vụ nhất thời ở ngoài nước Việt Nam. Sự cho phép ấy phải theo điều kiện sau đây:

            a.- Sự thay thế đơn vị (định nghĩa ở đoạn (c) của Điều này) và nhân viên không được phép thi hành đối với quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng ở phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời định ở Điều 1 trong thời kỳ rút quân nói ở Điều 2 của Hiệp Định này.

            Tuy nhiên đối với những quân nhân riêng lẻ mới đến hoặc trở lại vùng phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời, v́ một công vụ nhất thời hoặc sau một thời hạn nghỉ phép ngắn hay có công vụ nhất thời ở ngoài Việt Nam, th́ không được phép vào mỗi tháng không quá 50 người,  kể cả nhân viên sĩ quan.

            b.- Danh từ ‘’thay thế’’ có nghĩa là thay những đơn vị hoặc nhân viên bằng những đơn vị ngang cấp hoặc nhân viên đến Việt Nam để làm nhiệm vụ hải ngoại thuộc phiên ḿnh.

            c.- Những đơn vị thay thế không bao giờ được lớn hơn một đơn vị tương đương với Tiểu Đoàn.

            d.- Sự thay thế phải là một người thay một người. Nhưng số người được đưa vào Việt Nam để thay thế trong một khoảng thời gian ba tháng không được quá 15.500 người thuộc ngành quân sự.

            e.- Những đơn vị (định nghĩa ở đoạn (c) của Điều này) và nhân viên thay thế cùng những quân nhân riêng lẻ nói trong điều này chỉ có thể vào và ra nước Việt Nam theo những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau này.

            f.- Mỗi bên phải báo trước, ít nhất là hai ngày cho Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế, tất cả những việc vận chuyển có thể đến vận chuyển những đơn vị nhân viên và quân nhân riêng lẻ đến Việt Nam hoặc từ Việt Nam đi phải được báo cáo hàng ngày cho Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế biết.

            Mỗi một bản báo cáo trước hoặc báo cáo kể trên đây phải nói rơ địa điểm và ngày tháng đi đến và số người đi hoặc đến.

            g. - Ban Quốc Tế dùng những Đội Kiểm Tra để giám sát và kiểm tra ở những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau đây, sự thay thế các đơn vị và nhân viên, sự đi hoặc đến của những quân nhân riêng lẻ được phép ra vào nói trên đây.

Điều 17:

            a.- Kể từ khi Hiệp Định bắt đầu có hiệu lực, cấm tăng viện vào nước Việt Nam mọi thứ vũ khí, đạn dược và những dụng cụ chiến tranh khác, ví dụ phi cơ chiến đấu, đơn vị thủy quân,  khẩu đại bác, khí cụ và súng ống phản động lực, khí cụ thiết giáp.

            b.- Tuy nhiên các dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược bị phá hủy, hư hỏng, ṃn hoặc hết sau khi đ́nh chỉ chiến sự có thể được thay thế một đổi một, cùng một loại và với đặc điểm tương tự.

            Đối với những đơn vị của Quân Đội Liên Hiệp Pháp đóng ở phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời định ở Điều 1, trong thời hạn rút quân đă định ở Điều 2 của Hiệp Định này, th́ không được phép thay thế dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược.

            Các đơn vị Hải Quân có thể thực hiện việc vận chuyển giữa các vùng tập hợp.

            c.- Những dụng cụ chiến tranh, những vũ khí và đạn dược để thay thế nói ở đoạn (b) Điều này có thể đưa vào Việt Nam qua những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau đây. Những dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược cần được thay thế chỉ có thể đưa ra ngoài nước Việt Nam qua những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau đây.

            d.- Ngoài sự thay thế trong phạm vi ở Đoạn (b) Điều này cấm không được đưa vào những dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược đủ loại, dưới h́nh thức từng bộ phận rời rạc, để sau đó ráp lại.

            e.- Mỗi bên phải báo trước ít nhất hai ngày cho Ban Liên Hợp, Ban Quốc Tế tất cả những vận chuyển ra, vào của các dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược thuộc các loại.

            Để chứng minh những yêu cầu đưa vào Việt Nam những vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh khác (định nghĩa trong đoạn (a) của Điều này) để dùng vào việc thay thế, cần phải tŕnh Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế một bản báo cáo, mỗi lần có vận chuyển vào. Bản báo cáo ấy nói rơ việc sử dụng các dụng cụ thay thế như thế nào.

            f.- Ban Quốc Tế dùng những Đội Kiểm Tra để giám sát và kiểm tra sự thay thế đă cho phép trong những điều kiện nói trong Điều khoản này tại những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau đây.

Điều 18: Kể từ ngày Hiệp Định này có bắt đầu có hiệu lực, cấm không được thành lập, trong toàn cơi Việt Nam, những căn cứ quân sự mới.

            Điều 19: Kể từ ngày Hiệp Định này có bắt đầu có hiệu lực, cấm không được lập một căn cứ quân sự ngoại quốc nào trong vùng tập hợp của đôi bên. Hai bên cam đoan rằng vùng thuộc về họ không gia nhập một liên minh quân sự nào và không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.

Điều 20: Những người thay thế và dụng cụ thay thế phải đi qua những cửa khẩu ra vào Việt Nam quy định như sau đây:

            Vùng phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời, Lào Cai, Lạng Sơn, Tiên Yên, Hải Pḥng,  Vịnh, Đồng Hới, Mường Sen.

            Vùng phía Nam giới tuyến quân sự tạm thời: Tourane, Quy Nhơn, Nha Trang, Ba Ng̣i, cửa Ô Cấp, Tân Châu.

 

CHƯƠNG IV

TÙ BINH VÀ THƯỜNG DÂN BỊ GIAM GIỮ

            Điều 21: Việc tha và cho hồi hương những tù binh và những thường dân đang bị mỗi bên trong hai bên giam giữ sẽ được tiến hành theo những điều kiện sau đây, kể từ khi Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực.

            a.- Tất cả tù binh và thường dân bị giam giữ, quốc tịch Việt Nam, Pháp hoặc quốc tịch khác, bị bắt giữ từ đầu chiến tranh ở Việt Nam, trong những cuộc hành quân hoặc trong tất cả những trường hợp chiến tranh khác, ở trên toàn cơi Việt Nam sẽ được tha trong một thời gian là 30 ngày, kể từ ngày thực hiện ngưng bắn thực sự trên mỗi chiến trường.

            b.- Danh từ ‘’thường dân bị giam giữ’’ có nghĩa là tất cả những người đă tham gia bất cứ dưới h́nh thức nào vào cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị giữa đôi bên và v́ thế mà bị bên này hay bên kia bắt và giam giữ trong khi chiến tranh.

            c.- Cách tha sẽ tiến hành như sau: Mỗi bên trao trả cho nhà chức trách có thẩm quyền của bên kia toàn thể tù binh và thường dân bị giam giữ. Nhà chức trách bên nhận sẽ giúp đỡ họ bằng mọi cách có thể được để họ về sinh quán, nơi cư trú thường xuyên hoặc về vùng họ lựa chọn.

CHƯƠNG V

ĐIỀU KHOẢN LINH TINH

            Điều 22: Tư Lệnh hai bên chú trọng trừng phạt thích đáng những người thuộc quyền ḿnh mà làm trái bất kỳ một điều khoản nào của Hiệp Định này.

Điều 23: Trong trường hợp biết rơ nơi chôn cất và có mồ mả rơ ràng. Bộ Tư Lệnh mỗi bên sẽ cho phép nhân viên trông coi việc chôn cất của bên kia được vào trong vùng thuộc lănh thổ Việt Nam đặt dưới quyền của ḿnh, trong một thời hạn nhất định, sau khi Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự bắt đầu có hiệu lực để lấy thi hài của những quân nhân chết của bên kia, kể cả những tù binh chết. Ban Liên Hợp sẽ ấn định phương thức thi hành việc này và thời hạn cần  phải làm xong, các Bộ Tư Lệnh mỗi bên sẽ cho nhau biết tất cả những tài liệu, tin tức mà họ có về mồ mả của quân nhân của hai bên.

Điều 24: Hiệp Định này áp dụng cho tất cả những lực lượng vũ trang của đôi bên. Lực lượng mỗi bên vũ trang của mỗi bên sẽ phải tôn trọng khu phi quân sự và lănh thổ đặt dưới quyền kiểm soát quân sự của bên kia và sẽ không có hành động hoặc hoạt động ǵ chống bên kia, hoặc một hoạt động phong tỏa bất cứ bằng cách nào ở Việt Nam.

            Danh từ ‘’lănh thổ’’ nói đây bao gồm cả hải phận và không phận.

Điều 25: Trong khi thi hành nhiệm vụ định trong Hiệp Định này, Ban Liên Hợp và Toán Liên Hợp, Ban Quốc Tế cần phải được sự bảo vệ giúp đỡ cộng tác của các Tư Lệnh lực lượng hai bên.

Điều 26: Các phí tổn cần thiết cho Ban Liên Hợp và các Toán Liên Hợp, Ban Quốc Tế và những Đội Kiểm Tra của Ban Quốc Tế sẽ do đôi bên chia đều nhau mà chịu.

Điều 27: Những người kư Hiệp Định này và những người kế tiếp nhiệm vụ của họ sẽ có nhiệm vụ bảo đảm sự tôn trọng việc thực hiện các điều khoản của Hiệp Định này. Các Tư Lệnh hai bên, trong quyền hạn của ḿnh sẽ thi hành mọi biện pháp và mọi điều khoản cần thiết để tất cả những phần tử và nhân viên quân sự dưới quyền họ, tôn trọng hoàn toàn những điều khoản của Hiệp Định này.

            Những thể thức thi hành Hiệp Định này, mỗi bên khi cần thiết sẽ do Tư Lệnh đôi bên nghiên cứu và nếu cần, do Ban Liên Hợp định rơ thêm.

CHƯƠNG VI

BAN LIÊN HỢP VÀ BAN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

            Điều 28: Trách nhiệm thực hiện Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự là thuộc về hai bên.

Điều 29: Việc giám sát và kiểm soát sự thực hiện ấy do một Ban Quốc Tế bảo đảm. 

Điều 30: Để làm dễ dàng cho việc thực hiện các Điều khoản cần đến sự hoạt động phối hợp của hai bên, trong những điều kiện quy định dưới đây, sẽ thành lập một Ban Liên Hợp ở Việt Nam. 

Điều 31: Ban Liên Hợp gồm một số đại biểu bằng nhau của Bộ Tư Lệnh hai bên.

Điều 32: Các Trưởng Đoàn Đại Biểu trong Ban Liên Hợp là cấp Tướng.

        Ban Liên Hợp thành lập những Nhóm Liên Hợp, số lượng bao nhiêu do hai bên thỏa thuận quy định. Các Nhóm Liên Hợp gồm một số sĩ quan bằng nhau của hai bên. Hai bên sẽ căn cứ vào nhiệm vụ của Ban Liên Hợp mà quy định nơi đóng của các nhóm ấy trên giới tuyến giữa các vùng tập hợp.

Điều 33: Ban Liên Hợp bảo đản sự thực hiện những điều khoản sau đây của Hiệp Định:

            a.- Ngừng bắn đồng thời và toàn diện ở Việt Nam, cho tất cả các lực lượng vũ trang chính quy và không chính quy của hai bên.

            b.- Sự tập hợp vũ trang của hai bên.

            c.- Sự tôn trọng giới tuyến giữa các vùng tập hợp và khu phi quân sự.

            Ban Liên Hợp giúp hai bên theo phạm vi thẩm quyền của ḿnh trong việc thực hiện các điều khoản kể trên, bảo đảm việc liên lạc giữa hai bên để khởi thảo và thi hành những kế hoạch áp dụng các Điều khoản ấy, cố gắng giải quyết các mâu thuẫn có thể nảy ra giữa hai bên trong khi thực hiện các Điều khoản ấy.

Điều 34: Nay thành lập một Ban Quốc Tế phụ trách giám sát và kiểm soát sự áp dụng các Điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam. Ban ấy bao gồm một số Đại Biểu bằng nhau của các nước sau đây: Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nă Đại. Ban ấy do Đại Biểu Ấn Độ làm Chủ Tịch.

Điều 35: Ban Quốc Tế đặt những Đội Kiểm Tra cố định và lưu động gồm một số sĩ quan bằng nhau do mỗi nước trong các nước trên đây đề cử ra.

Những Đội cố định đóng tại các điểm sau đây:

        Vùng phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời: Lào Cai, Lạng Sơn, Tiên Yên, Hải Pḥng,  Vinh, Đồng Hới, Mường Sen.

        Vùng phía Nam giới tuyến quân sự tạm thời: Tourane, Quy Nhơn, Nha Trang, Ba Ng̣i,  Sài G̣n, Cửa Ô Cấp, Tân Châu.

Sau này, những điểm đóng đô có thể thay đổi theo sự yêu cầu của Ban Liên Hợp hoặc của một trong hai bên, hoặc của chính Ban Quốc Tế do sự thỏa thuận giữa Ban Quốc Tế và Bộ Tư Lệnh của bên hữu quan.

        Khu hoạt động của các Đội Lưu Động là những nơi gần các biên giới thủy, bộ của Việt Nam, đường giới tuyến các vùng tập hợp và khu phi quân sự, trong phạm vi đó, các Đội Lưu Động có quyền đi lại và được các nhà chức trách hành chính và quân sự địa phương dành cho mọi sự dễ dàng mà họ cần đến để làm tṛn nhiệm vụ (cung cấp nhân viên tài liệu cần thiết cho việc kiểm soát, triệu tập những người làm chứng cần thiết cho các cuộc điều tra, bảo vệ an toàn và sự tự do đi lại của các Đội Kiểm Tra v. v... ) Các Đội Lưu Động dùng những phương tiện vận chuyển, quan sát và thông tin tối tân mà họ cần đến.

Ngoài những khu hoạt động quy định ở trên, các Đội Lưu Động có thể với sự đồng ư của Bộ Tư Lệnh bên hữu quan, đi lại ở những nơi khác, trong phạm vi nhiệm vụ mà Hiệp Định này giao cho họ.

Điều 36: Ban Quốc Tế phụ trách giám sát việc hai bên thi hành những Điều khoản của Hiệp Định. Nhằm mục đích đó, Ban Quốc Tế làm những nhiệm vụ kiểm soát, quan sát, kiểm tra và điều tra có liên quan đến việc thi hành những điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự và nhất là phải:

            a.- Kiểm soát những việc đi lại của các lực lượng vũ trang của hai bên, tiến hành trong phạm vi kế hoạch tập hợp.

            b.- Giám sát giới tuyến vùng tập hợp và vùng phi quân sự.

            c.- Kiểm soát những việc thả tù binh và thường dân bị giam giữ.

            d.- Giám sát tại các cửa biển và sân bay cũng như trên các biên giới của Việt Nam, việc thi hành những điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự quy định đưa vào trong nước các lực lượng vũ trang, nhân viên quân sự và mọi thứ vũ khí, đạn dược và vật dụng chiến tranh.

Điều 37: Ban Quốc Tế hoặc tự ư của ḿnh, hoặc theo yêu cầu của Ban Liên Hợp hay của một trong hai bên, sẽ dùng những Đội Kiểm Tra nói trên, tiến hành trong thời gian ngắn nhất những cuộc điều tra cần thiết trên văn bản và tại chỗ.

Điều 38: Các Đội Kiểm Tra sẽ chuyển lên Ban Quốc Tế những kết quả về cuộc kiểm soát, điều tra và quan sát của ḿnh, ngoài ra, các Đội ấy làm những bản báo cáo đặc biệt mà Đội tự do nhận thấy cần thiết hoặc do Ban yêu cầu. Trường hợp có sự bất đồng ư kiến trong các Đội, kết luận của mỗi một thành viên sẽ đưa lên Ban.

Điều 39: Nếu một Đội Kiểm Tra không giải quyết được một việc hoặc nhận thấy có sự vi phạm hay nguy cơ có một sự vi phạm nghiêm trọng đe dọa, th́ sẽ báo cáo với Ban Quốc Tế,  Ban Quốc Tế nghiên cứu báo cáo và kết luận của các Đội Kiểm Tra và báo cho các bên đương sự biết những biện pháp cần thi hành để giải quyết việc đó hay để chấm dứt sự vi phạm hay tiêu trừ nguy cơ vi phạm.

Điều 40: Khi Ban Liên Hợp không đi đến thỏa thuận trong việc giải thích một điều khoản hay việc nhận định một sự việc th́ sẽ báo cáo cho Ban Quốc Tế biết sự bất đồng đó.  Những kiến nghị của Ban Quốc Tế sẽ chuyển thẳng cho hai bên đương sự và thông tri cho Ban Liên Hợp.

Điều 41: Những kiến nghị của Ban Quốc Tế thông qua theo đa số, trừ đối với những Điều khoản ở Điều 42. Trường hợp số phiếu hai bên ngang nhau, th́ phiếu của Chủ Tịch là quyết định.

            Ban Quốc Tế có thể đặt ra những kiến nghị sửa chữa và bổ sung các Điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam nhằm bảo đảm việc thi hành có hiệu quả hơn Hiệp Định nói trên. Những kiến nghị đó phải được toàn thể đồng thanh biểu quyết.

Điều 42: Khi có những vấn đề có quan hệ đến những sự vi phạm hay nhưng nguy cơ vi phạm có thể làm cho chiến sự xảy ra như sau:

            a.- Lực lượng vũ trang của một bên không chịu thi hành những cuộc vận chuyển đă định trong kế hoạch tập hợp.

            b.- Lực lượng vũ trang của một bên xâm phạm vào vùng tập hợp vào hải phận hay không phận của bên kia th́ những kiến nghị của Ban Quốc Tế phải được toàn thể đồng thanh biểu quyết.

Điều 43: Nếu một bên không chịu chấp hành kiến nghị của Ban Quốc Tế, th́ các bên hữu quan hoặc tự Ban đó báo cáo cho các nước dự Hội Nghị Genève.

            Nếu Ban Quốc Tế không đi tới một kết luận đồng thanh trong những trường hợp nói trong Điều 42, th́ Ban đó sẽ đệ tŕnh cho các nước Hội Nghị một báo cáo của đa số và một hay nhiều báo cáo của thiểu số.

            Ban Quốc Tế báo cáo cho các nước dự Hội Nghị biết mọi việc trở ngại cho hoạt động của ḿnh.

            Điều 44: Ban Quốc Tế sẽ được thành lập ngay khi ngưng bắn ở Đông Dương để có thể làm tṛn những nhiệm vụ nói trong Điều 36.

Điều 45: Ban Quốc Tế Giám Sát và Kiểm Soát ở Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát ở Miên và Lào.

Một cơ quan gồm một số đại biểu bằng nhau của tất cả các nước có chân trong Ban Quốc Tế sẽ đặt ra để phối hợp hoạt động của 3 Ban mỗi khi cần thiết trong việc thực hiện những Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự ở Miên, Lào và Việt Nam.

Điều 46: Căn cứ vào t́nh h́nh phát triển ở Cao Mên ở Lào và ở Việt Nam. Ban Quốc Tế có thể, với sự thỏa thuận của cơ quan phối hợp, đề ra những kiến nghị về việc giảm bớt dần những hoạt động của ḿnh. Những kiến nghị ấy phải được đồng thanh biểu quyết.

Điều 47: Tất cả những Điều khoản của Hiệp Định này, trừ Đoạn 2 của Điều 11, sẽ bắt đầu có hiệu lực từ 24 giờ ngày 24.7.1954 (giờ Genève).

Làm tại Genève ngày 20.7.1954, lúc 24 giờ bằng tiếng Pháp và tiếng Việt Nam, cả hai bản đều có giá trị như nhau.

Thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Tạ Quang Bửu

Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.

Thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương

Henri DelTeil

Thiếu Tướng

 

 

BÀI HỌC TỪ MỘT SỰ TUẪN TIẾT

LÂM LỄ TRINH

LTS: Dưới đây là bài phát biểu được ghi âm của Luật Sư Lâm Lễ Trinh, nguyên Bộ Trưởng Nội Vụ và Đại Sứ tại Trung Đông thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa, hiện là Chủ Bút Tạp chí Anh-Pháp Human Rights/Droits de L’Homme trong buổi dự tiệc tổ chức ngày 2. 11.  2001 tại Nhà Hàng Seafood World, Westminster, Little Saigon, California, để kỷ niệm 100 năm của Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm (1901-2001).

***

            Suốt 38 năm nay, mỗi khi ngày 1. 11 trở lại, h́nh ảnh tuẫn tiết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vẫn khơi dậy trong tâm thức quần chúng những âm vang chua xót nhưng đồng thời, cũng nhắc nhở những kinh nghiệm bổ ích cho cuộc đấu tranh tương lai.

Chiều nay, chúng ta những người dân Việt lưu lạc ở hải ngoại, cùng ngồi với nhau để tưởng niệm Vị Nguyên Thủ đă khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Chúng ta sẽ không phí thời giờ để tố giác, một cách tiêu cực, những sai lầm của Hoa Kỳ, hành vi bội phản của các người đội lốt quốc gia và sự phá hoại của cộng sản. Thật vậy, cho đến giờ phút này, vô số văn khố giải mật của chính quyền Mỹ, công tŕnh nghiên cứu của các thức giả, những lời thú nhận của một số nhân chứng liên hệ và đặc biệt, t́nh trạng khánh tận của xă hội chủ nghĩa đă và đang làm chuyện đó trước công luận quốc tế.

Lịch sử cận đại Việt Nam sẽ măi ghi lại một điều sáng tỏ. Quyết định của Tổng Thống Diệm tiếp xúc vào giờ chót với quân đảo chính chứng minh ông muốn t́m một giải pháp dân tộc ôn ḥa. Sự hy sinh dũng cảm của Tổng Thống Diệm và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu đă tránh cho miền Nam Việt Nam cảnh nồi da xáo thịt giữa người quốc gia và bảo toàn tiềm năng kháng cộng trong giai đoạn cực kỳ nguy kịch. Sự hy sinh ấy c̣n là một lời kêu gọi thống thiết gởi đến cho cấp chỉ huy Quân Đội đừng vong bổn, vọng ngoại và chễnh măng trong cuộc chống cộng cứu nước. Tiếc thay, lời kêu này không được lắng nghe. Nhóm tạo phản bị ngoại bang mua chuộc. Với một giá rẻ mạt (42 ngàn đô, theo lời thú nhận trong hồi kư của Tướng Trần Văn Đôn, một trong những người chủ mưu đảo chánh) họ đă giết lănh tụ và bán đứng tự do của ba chục triệu đồng bào miền Nam. Họ đă giúp Hoa Kỳ thay toàn diện một thế cờ với 42 ngàn đô.

Trong những giờ phút cuối cùng cuộc đời, Tổng Thống Diệm hoàn toàn cô đơn, Đồng Minh bội bạc, dân tộc hiểu lầm, người thân trở mặt và kẻ thù cộng sản reo mừng. Cầu nguyện lần chót sáng ngày 1.11.1963 tại Thánh Đường Huyện Sĩ của Cha Tam Chợ Lớn, với ông Nhu quỳ bên cạnh nhưng không chắc đồng một tâm tư. Tổng Thống Diệm hẳn vô cùng xót xa cho đất nước. Rồi là một tâm trạng chán chường ngút trời, lẻ loi vô tận. Nỗi cô đơn ray rứt của một Chiến Sĩ cùng đường. Của một dân tộc bị chèn ép. Loại cô đơn từng được Nhà Đại Văn Hào Gabriel Garcia Marquez diễn tả sâu sắc trong tuyệt phẩm ‘’One Hundred Years Of Solitude’’ (Một Trăm Năm Tịch Liêu).

            Hồ sơ giải mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ghi lại như sau nội dung điện đàm lần chót giữa Tổng Thống Diệm và Cabot Lodge:

            Diệm: Vài đơn vị đă nổi loạn và tôi muốn biết thái độ của chính phủ Mỹ.

            Lodge: Tôi không có đủ tin tức để trả lời cho Ngài. Tôi có nghe tiếng súng nổ nhưng không biết rơ tất cả các sự kiện. Bây giờ là 4. 30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và chính phủ Hoa Kỳ không có quan điểm ǵ.

            Diệm: Tôi đă cố gắng làm bổn phận của tôi.

            Lodge: Như tôi đă thưa với Ngài sáng nay, tôi khâm phục can đảm của Ngài và những đóng góp to lớn của Ngài cho quư quốc. Nếu tôi có thể làm ǵ được cho sự an toàn của bản thân Ngài, xin kêu tôi.

Tổng Thống Diệm liền gát điện thoại. Ông giữ vững khí phách đến cùng. Dù có những sơ hở khó thể tránh trong lúc cầm quyền (lịch sử về sau sẽ phân tích công và tội) ông quyết không làm nhục Quốc Thể, J. F. Kennedy lẫn Hồ chí Minh không dám coi thường. Trước sau như một, Tổng Thống Diệm không nhân nhượng không đầu hàng. Làm sao có thể ngẩn đầu cao nếu đi bằng đầu gối?

Di nghiệp chính trị của Tổng Thống Diệm lưu cho hậu thế là một thông điệp nóng cháy. Triệt để bảo vệ chủ quyền và thể thống Quốc Gia trong mọi hoàn cảnh. Ngay từ đầu cuộc chiến, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa quan niệm khác nhau về mối liên hệ Đồng Minh giữa hai nước. Từ đó sinh ra những bất đồng dẫn đến bất ḥa và kết thúc bằng sự bức tử của miền Nam. Đúng vậy, quyền lợi của Mỹ và Việt Nam chênh lệch. Chính Phủ Sài G̣n chống Bắc Việt để bảo toàn dân chủ và độc lập, trong khi Hoa Kỳ dùng Việt Nam Cộng Ḥa như con cờ thí trong kế hoạch quân b́nh thế lực tại Á Châu, chống Bắc Kinh bành trướng và gây chia rẽ giữa Nga-Tàu.

Quốc Hội Mỹ không bao giờ công khai tuyên chiến công khai với Hà Nội, tránh né bảo đảm an ninh của Việt Nam Cộng Ḥa bằng một hiệp ước như tại Nam Hàn, không cho Quân Đội miền Nam vượt vỹ tuyến 17, khóa tay Hành Pháp bằng đạo luật War Power Act và cuối cùng, không bận tâm thông qua theo thủ tục Hiến Định hiệp ước đ́nh chiến Paris.

Sau tháng 11.1963, Mỹ đă dành hết trách nhiệm điều khiển cuộc chiến để dễ bề thao túng. Tùy theo nhu cầu chính sách, Hoa Thịnh Đốn đă ngạo mạn Mỹ hóa, sau đó Việt Nam hóa chiến tranh để rồi, năm 1973 hối hả rút khỏi vũng lầy Việt Nam, một terra incognita, xa lạ với Mỹ về tâm lư và tập quán.

Đại cường Hoa Kỳ thiếu kiên nhẫn, đánh không muốn thắng, không thông hiểu chiến tranh nhân dân, đoán sai quyết tâm của cộng sản và bỏ rơi chính phủ miền Nam.

Âm mưu giết hại Tổng Thống Diệm là một vết nhơ, một ‘’mối ám ảnh đeo đuổi dai dẳng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lănh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam. ’’ (Anne Blair trong tác phẩm Lodge in Vietnam, nhà xuất bản Yale University Press, New Haven, 1995, trang 190).

Tại Hoa Kỳ, có một câu thông dụng ‘’Dead men tell no tales’’ (Người quá cố không kể chuyện hoang đường). Cái chết của Tổng Thống Diệm, tự nó đă lớn tiếng tố cáo, mang nặng ư nghĩa và dạy nhiều bài học. Về bạn và thù. Về nhân t́nh thế thái. Về điểm và diện trong chiến lược trường kỳ và bao nhiêu chuyện khác. Ít nữa có hai bài học không thể quên:

            -Trước hết, một Quốc Gia không có thân hữu, chỉ có quyền lợi. Không có xứ nào liều chết bảo vệ quyền sống c̣n của một nước khác. Không thể ủy quyền yêu nước cho ngoại bang. Các đại cường dùng chiêu bài dân chủ, tự do và nhân quyền để mặc cả và gây áp lực.  Không tự lực tranh thủ kiểm tra, quả cảm và có kế hoạch th́ không hưởng được dân chủ và nhân quyền thật sự.

            - Bài học thứ hai là bất luận sự liên minh nào với một thế lực bên ngoài, dù mạnh ra sao, rồi cũng sẽ đưa đất nước vào ngơ cụt, nếu không có nhân dân hậu thuẫn. Cái thế dân tộc vô địch và vô song. Không tin tưởng, không tạo ra và tận dụng ‘’thế dân tộc’’ th́ thất bại đương nhiên. Thất bại thê thảm. Chủ thuyết chế độ quyền lực... tất cả đều là phù du, rốt cuộc sự tan biến với thời gian. Hư danh mọi việc chỉ là hư danh. Chỉ có dân tộc mới trường tồn và vĩnh cửu. Dân tộc bất diệt.

Cộng sản đă thiết lập ở Việt Nam một chế độ quản chế hành chính, khủng bố điển h́nh. Khủng bố tôn giáo, khủng bố sắc tộc thiểu số, khủng bố đối lập và khủng bố quần chúng. Xă Hội Chủ Nghĩa, trên đà mạt vận, trước sau ǵ cũng chấm dứt. Vấn đề cốt yếu không phải là chừng nào cộng sản ra đi mà là chúng ta đă và đang làm ǵ để xúc tiến việc ấy và đặc biệt, để thay thế họ? Thay thế cách nào? Bằng một thể chế khá hơn, sạch sẽ hơn hay không? Chính sự chia rẽ và thiếu quyết tâm của cánh quốc gia giúp cho cộng sản tồn tại.

Để kết luận, thay v́ lạc quan tếu hay bi quan thái quá, thiển nghĩ chúng ta nên b́nh tĩnh, khách quan nhận thức các biến chuyển trọng đại trong nước và bên ngoài, để hành động thích ứng. 

Thế giới hiện đang lâm vào một sự khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Hoa Kỳ đang trực diện một thách thức mới, hiểm độc hơn chiến tranh Việt Nam, v́ không có trận địa rơ ràng, kẻ thù vô danh nhưng hiện diện khắp nơi.

Căn nguyên của mọi vấn đề là siêu cường Hoa Kỳ quá mạnh nên coi thường Đồng Minh, hành động đơn phương tạo khoảng cách nghèo giàu quá sâu và gây bất măn trong khối Quốc Gia nhược tiểu.

Thánh chiến có thể bùng nổ, gây điêu linh cho địa cầu. Với tinh thần quyết tử, vũ khí thô sơ và chiến lược du kích tinh vi, dùng ‘’gậy ông đập lưng ông’’ (c̣n được mệnh danh chiến lược boomerang), khối Hồi Giáo cuồng tín đe dọa người Mỹ ngay trên đất Mỹ. Vũ lực suông không đem lại ḥa b́nh. Không thể dùng búa tạ để đập ruồi muỗi. Mỹ cần tái xét toàn bộ, trong đường hướng thực tế và từ tốn, chính sách đối ngoại, quân sự và viện trợ. Mỹ cần chứng minh với thế giới quốc gia này là một quốc gia biết thương xót, a compassionnate country như Tổng Thống Bush đă hứa khi ra ứng cử. Nếp sống quần chúng không bao giờ trở lại như trước. Hoa Kỳ thức tỉnh sẽ hồi sinh.

Cuộc chiến hiện nay được các chiến thuật gia mệnh danh ‘’assymetric war’’ (cuộc chiến không đối xứng) vào dễ ra khó, như một mê hồn trận...Lần đầu tiên, một siêu cường dồn hết sức mạnh để tiêu diệt một cá nhân, Bin Laden, vô quốc tịch và hệ thống khủng bố của y, thay v́ chống lại một nước. Bằng mọi giá, thế giới tự do phải thắng. Để cứu nền văn minh nhân loại và lư tưởng dân chủ. Không có sự chọn lựa nào khác. Tổng Thống George W. Bush nói chí lư ‘’tự do và sợ hăi đang tử chiến. Thượng Đế không trung lập giữa hai bên’’.

Cơn lốc hoàn cầu sẽ cuốn hút nước Việt Nam hậu tiến để lập một thế quân b́nh mới.  Cuộc diện Việt Nam, bởi vậy có cơ thay đổi. Sớm hơn chúng ta dự đoán.

Cầu xin hồn thiêng các Tiền Nhân và Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm trợ lực cho các Lực Lượng Quốc Gia khai thác vận hội mới để giật sập xă hội chủ nghĩa. Lần này, không thể và không có quyền thất bại. V́ nếu thất bại th́ đó sẽ là sự thất bại chung của đất nước Việt Nam, của tất cả chúng ta là người dân Việt, bất luận thuộc phía nào.

            Xin cám ơn sự chú ư của Quư Vị.

 

 

 

Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ ông Ngô Đ́nh Diệm?

Phan Đức Minh

 

Vài lời với tác giả.  Chúng tôi là những kẻ hậu sinh, không biết nhiều về Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng sách báo đă cho chúng tôi biết có nhiều ‘’tồi tệ’’ trong vụ giết chết vị Tổng Thống Đệ Nhứt Cộng Ḥa Việt Nam. Nhân kỷ niệm ngày Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị đám Tướng lănh chó má bất trung và bọn nịnh thần bất hiếu giết chết, chúng tôi xin phép tác giả Phan Đức Minh đăng tải bài nầy.

1.  Đi vào con đường đảo chánh : Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n, Ông Nolting, hết phương gỡ rối. Báo cáo được tới tấp gửi về Hoa Thịnh Đốn, và Bộ Ngoại Giao Mỹ tới tấp phúc tŕnh t́nh h́nh nguy ngập tại Sài G̣n với yêu cầu phải thay thế ngay Ông Diệm bằng một người khác.  Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy, vốn không thích thú lắm với chính sách can thiệp sâu đậm của Mỹ vào cái ‘’Vũng lầy Việt Nam’’ ngay từ khi vào Ṭa Bạch Ốc, để phải đối đầu trực tiếp với Liên Sô và Trung Cộng, đành phải chọn Ông Henry Cabot Lodge thuộc Đảng cộng Ḥa, một tay cáo già chính trị, từng nhiều phen giải quyết gọn lẹ những vấn đề của Mỹ tại nhiều quốc gia trên thế giới, sang Sài G̣n thay thế Ông Nolting trong việc gỡ rối t́nh h́nh. Khi cần thay thế một chính quyền tại quốc gia nào đi ngược lại quyền lợi của Mỹ là Cabot Lodge làm xong ngay. Thực tâm Ông Kennedy là muốn Cabot Lodge sang Sài G̣n giàn xếp sao cho ổn thỏa, có lợi cho đường lối, chính sách và quyền lợi của Mỹ tại đây, nhưng Cabot Lodge th́ ngay từ lúc nhận lệnh để lên phi cơ sang Sài G̣n, là đă tính ngay chuyện loại Ông Diệm ra khỏi chính quyền, thay thế bằng một người hay một nhóm nhân vật lănh đạo mới, biết vâng phục đường lối của Mỹ trong lúc này (bị bọn tài phiệt thao túng theo đường hướng buôn bán chiến tranh, đổ quân tác chiến của Mỹ vào chiến trường Việt Nam). Khi Cabot Lodge nhận nhiệm vụ bước lên phi cơ sang Sài G̣n th́ giới truyền thông của Mỹ đă nói chắc như đinh đóng cột là ‘’In Washington, the Kennedy administration begins seriously speculating on a coup against Diem’’, nghĩa là nói thẳng ra rằng Cabot Lodge sang Sài G̣n với sứ mạng lật đổ Tổng Thống Diệm. Cabot Lodge biết rơ rằng thuyết phục một số Tướng Lănh có quyền, có quân trong tay, đứng ra làm cuộc đảo chánh chẳng mấy khó khăn v́ chuyên viên đảo chánh này đă có sẵn trong tay những ‘’Bảo bối quan trọng, thiết yếu nhất’’ Chỉ việc đem ra sử dụng mà thôi. Đó là:

A. Trong t́nh trạng rối loạn trước mắt, Cabot Lodge đánh trúng tim những ‘’Người hùng Quân Đội’’ là phải ra tay gấp để cứu dân, cứu nước. Tướng Lănh không thể ngồi yên để trông thấy nhà tan, nước mất…

B. Các Tướng Lănh, những người anh hùng của đất nước, phải nắm lấy chính quyền.  Chỉ có các Tướng Lănh mới đủ khả năng và uy thế để lănh đạo đất nước này đi đến chiến thắng, vinh quang, tự do, hạnh phúc vv…

C. Cabot Lodge lại c̣n có một thứ vũ khí vô cùng mạnh mẽ, được liệt vào hàng ‘’Siêu hỏa lực-Superfirepower’’, c̣n hơn cả bom A, bom H,  hơn cả phi đạn tầm xa, tầm cụt, đánh đâu thắng đó. Đấy là ‘’vũ khí Đô La’’. Dùng hàng triệu đô la (giá trị năm 1963) để lôi kéo 1 Tướng Lănh có quyền lực, có quân trong tay vào hàng ngũ đảo chánh trong t́nh thế Sài G̣n sôi sục đấu tranh như thế thiết tưởng chẳng phải chuyện khó khăn đối với Cabot Lodge, chuyên viên nhà nghề trong những áp-phe đảo chánh.

Tướng nào c̣n do dự, lưng chừng, không quyết tâm đảo chánh th́ ‘’Bộ chỉ huy đảo chánh’’ phải thuyết phục, hù dọa và…chi tiền. Tiền đă có người lo rồi. Sĩ Quan cao cấp nào tỏ ra ương ngạnh, trung thành tuyệt đối với Ông Diệm th́ bắt buộc phải dùng biện pháp mạnh cuối cùng là ‘’xóa sổ luôn’’. Mục này dễ thôi! Chỉ cần triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại Bộ Tổng Tham Mưu với sự có mặt bắt buộc của các Tướng Lănh, các Tư Lệnh Quân Đoàn, Sư Đoàn, các Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng, các cơ quan trọng yếu của Quân Đội. Ai không quyết tâm, dứt khoát lật đổ Ông Diệm, hay bỏ ra ngoài pḥng họp để phản đối th́ lực lượng an ninh (đă chọn lựa kỹ càng) phải khóa cổ, đem đi bắn hạ ngay tức khắc khi kẻ đó vừa bước chân ra khỏi cửa pḥng họp, bất kể kẻ đó là ai. Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, người quân nhân thật sự anh hùng, với tinh thần ‘’Uy vũ bất năng khuất’’ là một trường hợp điển h́nh. Ông đă bị bắt đem đi bắn gục ngay khi ra khỏi cửa pḥng họp v́ Ông không chấp nhận cúi đầu khuất phục trước áp lực của đám người bội phản, bị xúi giục bởi đồng Đô La của ngoại qưốc.

* Ngày 4.7.1963: Tướng Trần Văn Đôn, người đang giữ chức vụ chỉ huy cao nhất trong Quân Đội, thông báo cho Lucien Conein, nhân vật cao cấp của cơ quan T́nh Báo Trung Ương Mỹ (CIA: Central Intelligence Agency) tại Sài G̣n biết là một vài Tướng Lănh của Quân Đội Việt Nam…đă ô kê theo kế hoạch và đang ráo riết chuẩn bị cuộc đảo chánh lật đổ Ông Diệm.

* Ngày 20.8.1963 : Tổng Thống Diệm chấp nhận đề nghị của Tướng Trần Văn Đôn (xưa nay được Ông Diệm tin cậy v́ là một trong số những Tướng Lănh được coi là có thực tài, xứng đáng với cấp chức được giao phó) ‘’ban hành Lệnh Thiết Quân Luật-Declaring Martial Law) để giữ vững t́nh h́nh và đối phó hiệu quả với cuộc chiến tranh phá hoại của cộng sản trên mọi lănh vực và trong t́nh thế hiện tại. Mục đích thực sự của số Tướng Lănh cầm đầu âm mưu đảo chánh là dựa vào t́nh trạng thiết quân luật để xiết chặt an ninh, bố trí Quân Đội cần thiết cho cuộc đảo chánh. 

Tổng Thống Diệm th́ lại nghĩ khác. Ông Diệm nhận thấy t́nh h́nh đă đến lúc cần phải tập trung và bố trí lực lượng Quân Đội để cho bào đệ của Ông, Ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh Nhu. Người được dư luận đánh giá là viên cố vấn an ninh, chính trị có mưu lược, khôn ngoan, ra tay dập tắt dứt khoát cuộc âm mưu lật đổ chính quyền. Mang đầy tính chất phức tạp.

- Có khá đông dân chúng bị lôi cuốn vào cuộc đấu tranh một cách nghiêm trọng thật sự.

- Mang mầu sắc Chiến tranh tôn giáo.

- Được một phần Quân Đội chính phủ ủng hộ. 

- Được người bạn Đồng Minh khổng lồ, hậu thuẫn cho ḿnh xưa nay, nay xoay chiều,  khuynh đảo chính ḿnh để thay thế bằng một lá bài khác. 

- Đươc cộng sản quốc nội cũng như quốc tế chú tâm khai thác triệt để hầu làm tan ră một chính quyền chống cộng quyết liệt, và chống cộng có đường lối, sách lược mang lại hiệu quả rơ ràng.

* Ngày 21.8.1963: T́nh trạng càng trở nên phức tạp, nguy hiểm, khi quân đội trung thành với chính phủ, đồng loạt mở cuộc tấn công vào các Chùa chiền tại Sài G̣n, Huế và vài thành phố lớn khác, nhằm truy lùng, bắt bớ các nhân vật chính trị đối lập, tu sĩ, tăng ni, sinh viên, bị coi là những thành phần cốt cán của lực lượng đấu tranh chống chính phủ.

* Ngày 22.8.1963: Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu, Giáo Sư Thạc Sĩ Luật Khoa (Professeur Agrégé, Ở Pháp và ngành này, xếp hạng trên Tiến Sĩ ), một phật tử, từ chức và cạo đầu (như các tăng ni) để phản đối sự đàn áp của chính phủ. Đại Sứ Hoa Kỳ, Henry Cabot Lodge, báo cáo về Hoa Thịnh Đốn: Ông Ngô Đ́nh Nhu là nguời chủ động trong công cuộc đàn áp triệt để này và xác nhận: Các Tướng Lănh chính thức yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ tích cực cho cuộc đảo chánh đang được xúc tiến tổ chức.

* Ngày 24.8.1963: Hoa Thịnh Đốn ra lệnh cho Cabot Lodge, liên lạc với Tổng Thống Diệm và yêu cầu Tổng Thống loại bỏ ngay Ông Nhu ra khỏi bộ máy chính quyền Sài G̣n. Nếu không th́ chính Tổng Thống Diệm cũng là người phải ra đi. 

* Ngày 26.8.1963: Đại Sứ Mỹ, Cabot Lodge trực tiếp gặp Tổng Thống Diệm để bàn về việc loại bỏ Ông Nhu và thay đổi chính sách. Tổng Thống Diệm nghiêm khắc, nh́n thẳng vào mặt Cabot Lodge, và nói Ông dứt khoát không loại bỏ Ông Nhu và không bàn chuyện thay đổi chính sách với Cabot Lodge. Cabot Lodge sau đó, thúc bách chính quyền Kennedy (cho đến lúc này vẫn c̣n chưa mạnh mẽ, thống nhất ư chí trong việc ủng hộ các Tướng Lănh để lật đổ ngay ông Diệm-Lodge presses the Kennedy administration, still badly divided over the issue of encouraging a coup, to support the dissident Generals…). Giám Đốc cơ quan CIA của Mỹ tại Sài G̣n, John Richardson, đồng quan điểm với Cabot Lodge, và tường tŕnh lên Tổng Thống Kennedy là t́nh h́nh không c̣n cách nào cứu văn được nữa, chỉ c̣n cách loại bỏ Tổng Thống Diệm và Ông Nhu mà thôi.

* Ngày 31.8.1963: Tại Hội Nghị An Ninh Quốc Gia, Paul Kattenburg, vừa từ Sài G̣n trở về, khuyến cáo chính phủ Hoa Kỳ nên nhân lúc này, t́m cách rút chân ra khỏi ‘’Vũng lầy Việt Nam’’ một cách danh dự. Ngoại Trưởng Dean Rusk phản đối và xác định là Hoa Kỳ sẽ ở lại Việt Nam cho tới khi chiến thắng. Bộ Trưởng Quốc Pḥng McNamara khẳng định rằng Hoa Kỳ đang đi tới chiến thắng và phải chiến thắng. Thế mà 2 chục năm sau, McNamara lại viết sách, viết Hồi Kư nhận tội,  hối lỗi về sự tham chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam là một sự sai lầm to lớn. Ông McNamara này lại c̣n sang tận Hà Nội gặp cựu Tướng cộng sản Vơ nguyên Giáp để thú nhận tội lỗi đàng hoàng. Ông McNamara gián tiếp nói lên rằng: Cả nước Mỹ, từ lớn đến nhỏ, tất cả đều bị…mát dây điện, lẩm cẩm như Ông McNamara hết trơn. Chỉ có một ḿnh Ông Bill Clinton là khôn ngoan, sáng suốt để chơi màn ‘’trốn quân dịch, đóng vai Draft Dodger’’, để sau này c̣n sống mà làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Hải Lục Không Quân của Siêu Cường Quốc Hoa Kỳ.

Điều này chứng tỏ trong chính phủ Hoa Kỳ lúc đó không có sự thống nhất trong đường lối chiến tranh tại Việt Nam. Việc này làm cho chính Tổng Thống Kennedy cũng không dứt khoát trong vấn đề: Ra đi hay ở lại trong ván bài Việt Nam. Mà nếu ở lại th́ ai là người có khả năng thay thế Ông Diệm để làm cho chính sách chống cộng ở đây tốt đẹp hơn. Trong cuộc họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson đề nghị: Bằng mọi cách, phải đẩy mạnh (leo thang, đổ quân tác chiến vào Việt Nam) cuộc chiến đang thuận lợi. Cuối cùng, Tổng Thống Kennedy phải lớn tiếng: Vậy th́ ở Sài G̣n, liệu có thứ chính phủ nào khác có thể chống cộng sản thành công được không? Ông Kennedy lâm cảnh tiến thoái lưỡng nan (being in a dilemma ) ở lại Việt Nam th́ càng lún sau vào vũng lầy, phải đối đầu trực tiếp với Mạc-Tư-Khoa và Bắc Kinh, rất nguy hiểm. Không ở lại th́ chẳng lẽ thả nổi cái ‘’Chính sách ngăn chặn cộng sản-Containment Policy against Communism’’ của Hoa Kỳ tại Á Châu th́ cái khối dân chúng khổng lồ tại lục địa này sẽ đi tới đâu? Giao hết cho cộng sản hay sao? Vả lại, từ lúc Ông Diệm nắm chính quyền cho đến lúc trước khi xẩy ra t́nh trạng hỗn loạn này, hai Ông Diệm và Nhu đă tạo được những thành công rất quan trọng về các phương diện: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xă hội, kỷ cương, trật tự, làm cho chính giới Hoa Kỳ tin tưởng rằng Hoa Kỳ cần phải trấn giữ cái ‘’Tiền đồn chống Cộng’’ này. Bỏ đi sẽ vô cùng nguy hiểm. Ở ba cái xứ lạc hậu, chậm tiến thuộc các lục địa Á Phi ( Backward, underdeveloped Asian and African countries), mà lại đang có chiến tranh chống bọn cộng sản ma quái, xảo quyệt th́ các Ông Diệm và Nhu quả là những khuôn mặt lănh tụ rất cần thiết, kiếm cho ra người khá hơn không phải dễ dàng.

Trưởng phái đoàn Ba-Lan (cộng sản) trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến (International Commission for Supervision and Control of the Cease-fire), Mieczyslaw Maneli, t́m gặp Ông Ngô Đ́nh Nhu để bàn định kế hoạch ‘’Thống nhất và trung lập hóa Việt Nam. Unification and Neutralization of Vietnam ‘’hầu loại bỏ Hoa Kỳ ra khỏi vùng lănh thổ này, dựa theo kế hoạch của Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle (Pháp c̣n cay cú với Mỹ lắm, Mỹ không chịu yểm trợ bằng không quân nên Pháp đă phải ra đi sau cuộc thất trận ở Điện Biên Phủ, để cho Mỹ nhẩy vào thay thế). Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n, Roger Lalouette, thúc giục Maneli (Ba Lan) liên lạc ngay với Hà Nội để giàn xếp, thực hiện kế hoạch của Tổng Thống Pháp. C̣n phía Ông Diệm và Ông Nhu th́ chỉ là lối thoát cuối cùng để khỏi bị lật đổ với nhiều kết quả tệ hại, nguy hiểm trong cuộc đảo chánh do phía Hoa Kỳ đang đạo diễn. Thủ Tướng cộng sản Hà Nội, Phạm văn Đồng, đón nhận nồng nhiệt kế hoạch của Pháp và Ba-Lan. Maneli trở lại Sài G̣n, gặp Ông Nhu và cho Ông Nhu biết rằng chính quyền Hà Nội sẵn sàng hợp tác với hai Ông Diệm và Nhu để 2 ông thoát khỏi 1 âm mưu thâm độc, đồng thời t́m ra một giải pháp hợp lư, hợp t́nh cho vấn đề chấm dứt t́nh trạng chiến tranh Việt Nam…

Giám Đốc cơ quan CIA của Mỹ bắt được tin này, liền thúc giục Ngoại Trưởng Mỹ,  Dean Rusk: Hoa Kỳ phải ra tay trước bằng cách yểm trợ tích cực cho các Tướng Lănh thực hiện ngay cuộc đảo chánh, và đề nghị tức khắc tấn công Bắc Việt nếu Hà Nội xía vô vụ này… (…advises Rusk that the Generals be encouraged to move promtly with their coup, and suggests attacking North Vietnam if Hanoi interferes…).

* Ngày 5.10.1963: Cabot Lodge phúc tŕnh với Tổng Thống Kennedy là Tướng Dương Văn Minh được đề cử vào vai tṛ Thủ Lănh cầm đầu cuộc đảo chánh. Tướng Minh đă gặp Conein (CIA), yêu cầu phía Hoa Kỳ đảm bảo chắc chắn là: Kể từ lúc này trở đi Hoa Kỳ không nên làm ngăn trở cuộc đảo chánh bằng bất cứ h́nh thức nào v́ t́nh thế đă đi vào cái thế không thể lùi được nữa, đă quay lưng ra biển mất rồi (lộn xộn là chết hết v́ Tướng Minh rất nghi ngờ sự quyết tâm của 2 Tướng Tôn Thất Đính và Nguyễn Khánh, 2 Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn (Army Corps Commanders) có quân trong tay và không nhiệt thành với cuộc đảo chánh này. Tổng Thống Kennedy chấp nhận yêu cầu này và khuyến cáo Cabot Lodge và CIA nên để cho các Tướng Lănh tùy theo t́nh h́nh mà quyết định hành động, cốt sao đạt được mục tiêu của Hoa Kỳ là chống cộng sản hữu hiệu để ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản tại khu vực Á Châu.

 * Ngày 22. 10. 1963: Tướng Mỹ Harkins gặp Tướng Trần Văn Đôn trong buổi tiếp tân tại Ṭa Đại Sứ Anh ở Sài G̣n. Tướng Harkins nói với Tướng Đôn là Ông ta có nghe biết về cuộc chuẩn bị đảo chánh, và cho rằng đó là 1 điều sai lầm…(he knows of the coup and considers it a mistake…). Tướng Đôn hoảng hồn nên vội gặp ngay Conein của CIA và cho biết cuộc đảo chánh dự trù phải cho cho nổ ra vào ngày 26.10.1963, nhân lúc huy động quân lực cho ngày Lễ Quốc Khánh hàng năm kẻo không Tướng Harkins nói theo kiểu đó th́…chết hết! Tướng Đôn cũng run lắm chớ! Lỡ Sư Phụ lông lá chơi ngón ‘’phản thùng’’ th́ chết cả lũ! Mà nó hay chơi ngón này lắm. Conein bèn trấn an cho Tướng Đôn bớt ngán ‘’Ồ! Cái Ông Tướng Harkins, ông ấy nói theo ư nghĩ cá nhân của Ông ấy. Ăn nhằm chi? Ḿnh cứ…Go ahead! ‘’Tướng Mỹ 4 sao Maxwell Taylor, Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ (U.S. Chief of Joint Staff) đă từng tâm t́nh với Tướng Harkins cũng như với Tổng Thống Kennedy là đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm th́ rồi hậu quả sẽ phiền toái lắm, nếu không nói là nát bấy (Completely crushed), chúng ta hết c̣n khả năng chống cộng sản tại mảnh đất này nữa. Cộng sản Hà Nội lợi dụng t́nh h́nh rối loạn ở Sài G̣n cũng như nhiều thành phố khác, tung quân đánh phá hệ thống Ấp Chiến Lược (System of Strategic Hamlets) do Ông Nhu chỉ đạo tổ chức các làng chiến đấu để chống lại và tiêu diệt các cơ sở chiến đấu hạ tầng (Basic fighting organizations) của cộng sản ngay tại nông thôn v́ Ông Diệm và Ông Nhu biết rằng bên nào kiểm soát và nắm vững được nông thôn với 80% dân số th́ bên đó sẽ thắng trong cuộc chiến tranh này. Các năm về trước, cộng sản đă từng bỏ hết các thành phố, nhưng nắm vững được nông thôn cho nên cuối cùng nguời Pháp đành chịu thua, mặc dầu quân đội Pháp ngay từ lúc ban đầu, luôn luôn làm chủ t́nh h́nh trên các chiến trường với những phương tiện chiến tranh hùng hậu tưởng chừng như chỉ tối đa là 3 năm sẽ hoàn toàn tiêu diệt hết khả năng chống cự của cộng sản để đạt chiến thắng. Điều này cũng giống y chang như ư nghĩ của Ông McNamara và nhiều Tướng Lănh Mỹ khác khi ào ạt đổ quân tác chiến của Mỹ vào Việt Nam,  trong đó có cả Tướng 4 sao Westmoreland, một thời từng là Tổng Chỉ Huy Quân Đội Mỹ tại Việt Nam hơn 10 năm sau vẫn cứ tưởng như vậy. Những nhân vật này chưa bao giờ hiểu được ‘’Sức mạnh của thế chiến tranh nhân dân-Power of People’s War Strategy’’ mà Karl Marx và Lenin, Sư Tổ và Sư Phụ của Hồ chí Minh, đă dậy cho người cộng sản biết một bí quyết ‘’Làm thế nào để dùng sức yếu, nhưng tinh thần mạnh và quyết thắng của ḿnh để đánh bại một kẻ thù có sức mạnh, nhưng thiếu một tinh thần quyết thắng dẻo dai và bền bỉ’’. Phải nói thật ra rằng: Quân nổi dậy hay kháng chiến quân ở Iraq cũng đang áp dụng bài học giá trị quư báu này cho nên mới đương đầu nổi với Hoa Kỳ và Đồng Minh suốt mấy năm trời trong thế bất phân thắng bại, nhưng cuối cùng th́ Siêu Cường Quốc sẽ phải ra đi...Trong khi cộng sản tưởng rằng rối loạn ở Thủ Đô và các thành phố th́ Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà sẽ chán nản, không c̣n tinh thần nào mà chiến đấu nữa, lại càng làm cho Tổng Thống Kennedy đâm ra phân vân, nghĩ ngợi là lật đổ Tổng Thống Diệm th́ rồi t́nh h́nh Nam Việt Nam, cái ‘’Tiền đồn chống cộng ở Á Châu’’ rồi sẽ ra làm sao đây? Chẳng lẽ bỗng dưng giao hết cho cộng sản! Lại thêm Tướng Maxwell Taylor, Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân, qua thông tin từ Tướng Harkins ở Sài G̣n, đă tỏ ra ủng hộ đường lối, chính sách của Tổng Thống Diệm. Theo 2 Tướng Taylor và Harkins th́ lật đổ Tổng Thống Diệm, loại bỏ Ông Nhu th́ kể như dọn đường, mời cộng sản vào chiếm luôn Miền Nam. Đầu óc Tổng Thống Kennedy thật là chao đảo, lộn xộn về vụ này. Cuối cùng, Tổng Thống Kennedy cấp tốc gửi điện văn cho Cabot Lodge, ra lệnh liên lạc ngay với các Tướng đảo chánh yêu cầu ‘’Hăy khoan thực hiện cuộc đảo chánh!’’ Cabot Lodge và một số nhân vật cao cấp của Bộ Ngoại Giao Mỹ, có liên hệ, ảnh hưởng với giới ‘’tài phiệt và phe phái Diều hâu’’ chủ trương leo thang chiến tranh, đổ quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam, đă nhiều lần qua mặt, che mắt Ông Kennedy, lần này lại thêm lần nữa d́m chết bức điện văn hoăn đảo chánh của Ông Kennedy, coi như…không nhận được. Ông Kennedy vốn thông minh cho nên đă nhận biết ra điều này cho nên Ông đă từng ra lệnh và nhắc nhở Bộ Ngoại Giao Mỹ, các nhân vật cao cấp của Mỹ tại Sài G̣n, kể luôn cả Cabot Lodge là ‘’Phải phúc tŕnh ngay cho Tổng Thống biết mọi biến chuyển quan trọng tại Việt Nam thuộc phạm vi trách nhiệm của ḿnh, và mọi quyết định quan trọng đối với t́nh h́nh tại đây đều phải có ư kiến trước của Tổng Thống’’. Lệnh của Tổng Thống là như vậy nhưng các nhân vật cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao, Cabot Lodge và cấp lănh đạo CIA ở Sài G̣n có thi hành đúng đắn hay không lại là chuyện khác. V́ t́nh trạng trên cho nên mặc dầu Cabot Lodge nhận được điện văn khẩn (Urgent Message) của Tổng Thống Kennedy yêu cầu liên lạc với các Tướng Lănh Sài G̣n khoan hăy khởi sự cuộc đảo chánh, nhưng Cabot Lodge chẳng bao giờ thông báo, yêu cầu các Tướng Lănh thi hành lệnh đó. Cuối cùng (có lẽ v́ đau đầu và mệt mỏi về chuyện này quá), Tổng Thống Kennedy đành phó mặc cho con cáo già, chuyên viên đảo chánh, Cabot Lodge, muốn làm chi th́ làm (…President Kennedy cables Lodge urgently to ask the Generals to postpone the coup, but Lodge never delivers the message. In the end, Kennedy leaves the final judgement of the matter to Lodge…).

Thế là, mặc dầu Tổng Thống Kennedy ra lệnh hoăn kế hoạch đảo chánh lại, nhưng cuộc đảo chánh vẫn xẩy ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 khi quân đảo chánh bao vây Dinh Tổng Thống tại Sài G̣n, tức là Dinh Gia Long v́ lúc này Dinh Độc Lập đang sửa chữa…

* Chúng tôi sẽ cố gắng viết nốt về một vấn đề thật quan trọng, mà cho tới lúc này nhiều người vẫn c̣n đặt ra câu hỏi ‘’Ai là người đă ra lệnh giết Ông Ngô Đ́nh Diệm, Tổng Thống đầu tiên của nền Cộng Ḥa Việt Nam, ngưới đă chết một cách thảm khốc chỉ v́:

* Không chấp nhận cho Mỹ đưa quân tác chiến vào Việt Nam, và nắm quyền lănh đạo cuộc chiến đấu chống cộng sản tại đây, đẩy chính nghĩa của cuộc chiến (Just cause of the war) vào tay cộng sản. Mà chính nghĩa của cuộc chiến là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thắng bại trong lâu dài hay ngắn hạn: Lịch Sử đă chứng minh diều đó ở nhiều nơi trên thế giới,  chẳng hạn: Trung Quốc-Việt Nam, Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam, và lúc này th́ đang diễn ra giữa Hoa Kỳ và Iraq v.v... 

* Bị bạn Đồng Minh phản bội.

* Bị một phần dân chúng hiểu lầm v́ âm mưu thâm độc của thù trong và giặc ngoài.  Bị đám tay chân, bộ hạ, ham tiền bạc, quyền hành, hạ độc thủ v́ đám người này đă bị sức mạnh Đô La của ngoại nhân khuất phục. 

Chỉ có 1 điều duy nhất an ủi được linh hồn Ông Diệm ở thế giới bên kia là: Càng ngày càng có nhiều người Việt Nam (không những ở Miền Nam mà ngay cả ở Miền Bắc),  cũng như có nhiều người Mỹ hiểu được sự thật về con người, ḷng yêu thương đất nước và dân tộc Việt Nam của Ông.

San Diego, California 

Phan Đức Minh

 

Trí và Dũng nơi con người Ngô Đ́nh Diệm.

........Người đă nằm xuống, nhưng ḷng thương tiếc, cảm phục Người mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những kẻ đă trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát Người đă chối leo lẽo. Họ đă có mặc cảm tội lỗi giết thầy phản bạn, măi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và ngoài nước nguyền rủa. Họ đă không có Trí nên thua mưu cộng sản và bị ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ không có Dũng nên tham sinh úy tử, nhục nhă đầu hàng cộng sản hoặc lanh chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và đồng ngũ. Hôm nay chúng ta tưởng niệm một vị lănh tụ ái quốc, một đấng quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho chúng ta bày tỏ ḷng thương xót quê hương yêu dấu đă phải mất chủ quyền từ năm 1963 đến năm 1975, và đă phải lọt vào ṿng kiềm tỏa của cộng sản từ năm 1975 cho đến nay. 

Cách đây hai năm, cũng trong một buổi lễ tưởng niệm như hôm nay, tôi đă có hân hạnh tŕnh bày về Thái Độ Kẻ Cả của Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Hôm nay tôi xin mạn phép đề cập đến cái Trí và cái Dũng nơi con người đă một thời lănh đạo Việt Nam, đưa một nước vừa mới thoát khỏi ách nô lệ, lạc hậu về kinh tế, hỗn loạn về chính trị, lên địa vị một quốc gia độc lập thật sự, có kỷ cương về mọi mặt, đứng vào hàng đầu ở Đông Nam Á

Vậy Trí là ǵ? Và Dũng là ǵ?

Trí là óc thông minh, sự sáng suất để trong mọi hoàn cảnh lượng định được t́nh h́nh,  phân định được hư thực, xác quyết được phải trái, cân nhắc được lợi hại để sau đó quyết định đường hướng phải đi, giải pháp phải theo, kế hoạch phải dùng đặng hóa giải mọi khó khăn ngơ hầu giải quyết toàn bộ vấn đề. Tài đi theo Trí. Cần phải phân biệt Trí với những tiểu xảo chính trị để lừa dối dư luận và tự đề cao uy tín, những thủ đoạn gian hùng để làm hại kẻ khác đặng phục vụ quyền lợi riêng tư của bản thân hoặc của bè phái. 

Dũng là ḷng can đảm, sự quyết chí. Người có Dũng không e ngại khó khăn, không nao núng trước các mối đe dọa, không lùi bước trước các sự hiểm nguy có thể đưa đến mạng vong. Dũng giúp ta đi đúng đường hướng, thi hành được kế hoạch, áp dụng được giải pháp mà Trí đă vạch ra ngơ hầu đạt dược kết quả mong muốn. Dũng đi với Lược. Dũng không có nghĩa là liều lĩnh mà là sự can trường có suy tính. Kẻ liều lĩnh hành động mù quáng, có ít cơ hội thành công v́ chỉ trông cậy vào may rủi. Lănh đạo quốc gia mà thiếu Trí và Dũng th́ chỉ làm hại quốc gia, vùi chôn quốc thể mà thôi. Trí và Dũng là hai đức tính bổ túc cho nhau, được thấy nơi bất cứ một lănh tụ chân chính nào. Và Cố Tổng Thống Ngô D́nh Diệm đă có đầy đủ Trí và Dũng. Nhiễu sự kiện và biến cố trong đời Người đă chứng minh điều đó.

Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một chính khách có Trí v́ Người:

- Đă thấy rơ ḷng ngoan cố của thực dân Pháp nên đă treo ấn từ quan năm 1933 sau bốn tháng cầm đầu nội các đầu tiên của Bảo Đại. 

- Đă thấy rơ dă tâm của người Nhật nên đă không đứng ra thành lập nội các năm 1945 theo lời triệu thỉnh của Bảo Đại. 

- Đă thấy rơ thâm ư của Hồ chí Minh nên đă chối từ lời mời hợp tác với Việt Minh năm 1946 (l).

Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một kẻ sĩ có Trí v́ Người:

- Đă lượng định đúng thời cơ để ra tham chính vào năm 1954 dù t́nh h́nh lúc bấy giờ không chút sáng sủa, nhân tâm rất đỗi xao xuyến. 

- Đă trưng cầu dân ư để truất phế Bảo Đại v́ vị vua này dưới sự chi phối của chính quyền thực dân Pháp là một trở ngại lớn lao cho việc dựng lại đất nước và canh tân xứ sở. 

- Đă cương quyết không cho Hoa Kỳ đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam v́ sự hiện diện của quân đội ngoại quốc sẽ làm tiêu tan chính nghĩa của Việt Nam Cộng Ḥa ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Và những ǵ đă xảy ra cho Miền Nam sau khi Người nằm xuống đă hùng hồn nói lên sự sáng suất của Người. 

Trí của Người ta đă thấy. Vậy c̣n Dũng th́ ở đâu?

        Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một lănh tụ có Dũng khi Người:

- Nói thẳng với Hồ chí Minh những cảm nghĩ của ḿnh về chính sách chuyên chế của cộng sản và hành động đẫm máu của cán bộ cộng sản. (2)

- Khi Người chấp nhận dấn thân năm 1954 trong lúc Hội nghị Genève đang thảo luận việc chia đôi đất nước. 

- Khi Người đương đầu với cuộc nổi loạn vơ trang của các Tướng tá làm tay sai cho thực dân Pháp, của đảng cướp B́nh Xuyên và của các lănh tụ đầy tham vọng cá nhân trong các giáo phái. 

Chúng ta phải đi ngược ḍng lịch sử, sống lại cái cảnh dầu sôi lửa bỏng của những ngày tháng trên mới ư thức được một cách đứng đắn cái Dũng nơi Ngô Chí Sĩ. 

Năm 1946, Ngô Chí Sĩ diện kiến họ Hồ tại Bắc Bộ Phủ là lúc Người đang ở trong ṿng sinh sát của họ Hồ. Hồ chí Minh đă không dám ám hại Người mặc dầu ông ta rất bực ḿnh về những lời lẽ bộc trực của Người. 

Năm 1954, để vớt vát quyền lợi, thực dân Pháp đă âm mưu với cộng sản chia đôi lănh thổ tại vị tuyến 17, ngang sông Bến Hải. Một triệu người đă ồ ạt di cư vào Nam tị nạn cộng sản cần được định cư gấp rút mặc dầu cộng sản vẫn tiếp tục khủng bố tại những vùng mà trước kia chúng chiếm đóng.

Năm 1955, bọn Tướng tá bồi Tây đă vu khống, mạ lị Người ngày đêm trên Đài Pháp Á.  Đảng cướp B́nh Xuyên th́ hùng cứ vùng Chợ Lớn, công khai hiếp dân đoạt của, khai thác cờ bạc, đi điếm, ma túy...xem thường luật pháp quốc gia. Một số lănh tụ các giáo phái, v́ quyền lợi riêng tư của ḿnh chứ không phải v́ quyền lợi của đất nước, cũng nổi loạn tại miền Tây và miền Đông với sự tiếp tay của thực dân Pháp. Trong lúc đó th́ Cơ Quan An Ninh, Việt Binh Đoàn, tuy thuộc quyền của Thủ Tướng, vẫn c̣n được điều khiển bởi tay chân của thực dân Pháp, quân đội viễn chinh Pháp vẫn c̣n chiếm đóng lănh thổ, và người Pháp vẫn ngoan cố kéo dài việc điều đ́nh trao trả chủ quyền. 

Để đối phó với t́nh trạng hỗn mang trong buồi giao thời, Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm đă thiếu hẳn cả phương tiện lẫn cán bộ, quân lực và nhất là quyền bính, v́ Quốc Trưởng Bảo Đại bị thực dân Pháp khống chế đă không tận t́nh hỗ trợ Người dù đă nài nỉ Người ra chấp chánh.  Mặc dù t́nh thế thật bi đát và như vô vọng, Người vẫn vững tâm tiến bước và đă thành công đưa quốc gia qua cơn sóng gió.

Người đă có Trí và Dũng nên trong mọi biến cố Người đă tỏ ra rất b́nh tĩnh.  

- Trong vụ mưu sát ở Ban Mê Thuột ngày 22.2.1957 do cộng sản chủ mưu, Người đă thản nhiên tiếp tục khai mạc hội chợ. Trên mặt Người không thoáng một chút hoảng hết (3).

- Trong chính biến tháng 11 năm 1963, Người cùng bào đệ Ngô Đ́nh Nhu quyết định ở lại, không xuất ngoại lưu vong theo lời gợi ư của v́ Đại Sứ bất lương Henry Cabot Lodge.

- Đêm cuối cùng của Người tại tư thất ông Mă Tuyên, Người đă có phong thái trầm lặng của một đấng quân tử, khiến cho Mă tiên-sinh mến phục Người măi măi dù cho sau này tiên-sinh đă phải tan gia bại sản và lâm vào ṿng lao lư chỉ v́ đă để cho Người tá túc.

- Buổi sáng cuối cùng tại Nhà Thờ Cha Tam, Người đă suy tư và cầu nguyện rất lâu và sau đó lạnh lùng chờ đợi quân phản loạn đến bắt Người.

Trong lịch sử Dông Tây cận đại, nói đến các lănh tụ quốc gia có Trí và Dũng, chúng ta có thể kể cố Thủ Tướng Churchill của Anh Quốc, Cố Tổng Thống de Gaulle của Pháp Quốc,  Cố Tổng Thống Sadat của Ai-Cập, Cố Tổng Thống Phác Chánh Hy của Đại Hàn, và Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm của Việt Nam. Có thể c̣n nhiều vị khác nữa cũng có Trí và Dũng,  nhưng chưa có cơ hội để làm sáng tỏ cái Trí và Dũng của ḿnh.

Churchill và De Gaulle đă qua đời v́ trọng tuổi. Ngô Đ́nh Diệm, Phác Chánh Hy và Sadat đă bị thảm sát. Riêng Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, được cái vinh dự Vị Quốc Vong Thân.  

Người đă nằm xuống, nhưng ḷng thương tiếc, cảm phục Người mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những kẻ đă trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát Người đă chối leo lẽo. Họ đă có mặc cảm tội lỗi giết thầy phản bạn, măi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và ngoài nước nguyền rủa. Họ đă không có Trí nên thua mưu cộng sản và bị ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ không có Dũng nên tham sinh úy tử, nhục nhă đầu hàng cộng sản hoặc lanh chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và đồng ngũ. Hôm nay chúng ta tưởng niệm một vị lănh tụ ái quốc, một đấng quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho chúng ta bày tỏ ḷng thương xót quê hương yêu dấu đă phải mất chủ quyền từ năm 1963 đến năm 1975, và đă phải lọt vào ṿng kiềm tỏa của cộng sản từ năm 1 975 cho đến nay. 

Tuy nhiên trong cái rủi ro lớn lao ấy, chúng ta hăy t́m một cái may nhỏ nhoi để tự an ủi. Phải chăng Thượng Đế đă dành cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm một cái chết đau thương để cho đồng bào ở quốc nội càng thương tiếc con người ái quốc chân chính và càng tin tưởng ở chế độ quốc gia do Người chủ trương đù hiện nay phải chịu sự thống trị hà khắc của việt cộng, để cho chúng ta ở hải ngoại, mặc dù đang sống tạm gửi, c̣n hănh diện với ngoại nhân là chúng ta đă có một lănh tụ quốc gia chân chính có thừa Trí và Dũng

Tài liệu tham khảo:

* Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm (Xuân Thu). 

* Những Bí ân Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt- Nam, Quyển I/Lữ Giang. 

* (1) Các Tướng Tầu chỉ huy quân đội chiếm đóng là Lư Hán và Tiêu Văn đă nhận nhiều quà biếu bằng vàng khối của Việt Minh (vàng do dân chúng đóng góp trong '’’tuần lễ vàng’’) nên đă khuyến giục các lănh tụ các đảng phái quốc gia (Việt Quốc, Việt Cách v.v...) như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam v.v...tham gia Chính phủ Liên hiệp Quốc-Cộng, khiến sau này họ phải ân hận v́ bị Việt Minh lợi dụng và xuưt vong mạng. Nhà cách mạng lăo thành Huỳnh Thúc Kháng, cũng chỉ v́ nhiệt t́nh với quốc gia dân tộc nên đă nhận lời mời của Hồ chí Minh tham gia chính quyền để rồi phải mang tiếng làm b́nh phong cho Việt Minh đàn áp và sát hại Việt Quốc trong vụ án ngụy tạo ‘’Ôn Như Hầu’’, và cuối cùng âm thầm qua đời trong uất hận tại Nghĩa Hành, Quảng Ngăi. (Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển I/Lữ Giang, từ trang 332-337. )

* (2) Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển I/Lữ Giang, từ trang 368-376. 

* (3) Khánh thành long trọng Hội Chợ Ban Mê Thuột. 8 giờ.30 Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tới, gần đến khán đài, bị một thanh niên bắn bằng tiểu liên Mas. 49 dấu dưới áo blouson. Nhưng đạn lại trúng Bộ Trưởng Cải Cách Điền Địa Đỗ Văn Công, ông Công bị thương nặng ở tay và ngực. Người bắn bị bắt ngay. Lễ khánh thành tiếp tục theo chương tŕnh. Thanh niên bị bắt là Hà minh Chí, tức Phạm ngọc Phú, đă từng làm việc ở Ty Thông Tin Tây Ninh. (Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm/trang 212)

NguyễnVăn Lượng

  

Nhân và Nghĩa nơi Cố Tổng Thống NGÔ Đ̀NH DIỆM

...Bác Sĩ Tuyến: ‘’Thưa Cụ, có ông Nguyễn Xuân Tiếu bị công an bắt giữ.

Ông Tổng Thống: Ông Nguyễn Xuân Tiếu tôi biết, hắn làm sao mà bị bắt hè.

Đương sự t́m lời nói khéo: Ông cụ ấy có tật hay uống rượn. Uống rượn vào rồi th́ cũng nói lăng xăng chống đối. Con thấy cũng không có ǵ nguy hiểm

Ông Tổng Thống vui vẻ gật đầu: Biểu Nguyễn Văn Là nó thả ông ta ngay. Biểu Tổng Thống chỉ thị. 

Ông Tổng Thống trầm ngâm: Năm 45, tôi bị Việt Minh nó bất giam ở Thái Nguyên,  Nguyễn Xuân Tiếu đối với tôi tốt lắm. Hắn tiếp tế đồ ăn cho tôi hàng ngày, tiếp tế cả thuốc lá.  Sau hắn c̣n đưa cả tiền cho tôi để có chút ít về Hà Nội rồi vào Nam.

Ông Tổng Thống không quên nhắc nhở đương sự: Khi nào gặp hắn bảo hắn lúc nào rảnh rỗi vào đây chơi.

Nhờ có Cụ Nguyễn Xuân Tiếu nên nhân chứng xin cả ông Nguyễn Văn Lực được trả tự do. Nhưng hơn 20 ngày sau khi con trai ông Lực là phi công Nguyễn Văn Cử cùng phi công Phạm Phú Quốc oanh tạc Dinh Độc Lập.

Ngoài Trí và Dũng,  cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là con người có Nhân,  có Nghĩa.  

Thế nào là Nghĩa?

Nghĩa là việc theo đường lối phải, việc nên làm. Người có nghĩa có lối xử sự phải đường, có tính t́nh hào hiệp. Người có nghĩa thường là người biết ơn và luôn luôn t́m cách đền đáp cái ơn đă nhận được dù lớn dù nhỏ. Đối với Cố Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm th́ ‘’Nghĩa vi bản mạt’’ (Nghĩa là gốc ngọn) có nghĩa là lấy Nghĩa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động của con người. Tôi xin mượn lời của hai ông Cao Thế Dung và Lương Khải Minh trong tác phẩm ‘’Làm thế nào để giết một Tổng Thống’’ để nói lên cái Nghĩa nơi con người Ngô Đ́nh Diệm:

‘’Anh chàng Nậy trước kia kéo xe cho ông Huyện Diệm khi c̣n trọng nhậm ở Huyện Hải Lăng, Quang Trị. Lên làm Thủ Tướng, ông đánh điện cho cho Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đẳng chỉ thị phải t́m Nậy và đưa vào Sài G̣n. Nậy vào Sài G̣n và được tuyển dụng vào Dinh Độc Lập làm nghề thợ mộc để có lương nhà nước dù lúc đầu Nậy không biết ǵ về nghề mộc.  Rồi từ viên Thừa Phái Hải Lăng, đến viên đội Khố Xanh ở B́nh Định hay Chánh Tổng ở Ḥa Đa...tức là những thuộc viên cũ, ông Tổng Thống đều gọi vào Dinh cho tiền làm vốn liếng (năm ngàn là tối đa) rồi cho một việc làm trong Dinh. Có một viên đội Khố Xanh trước gác ở Dinh Quan Tuần Phan Thiết rồi lại ra B́nh Định. Sau này nhờ Tây lên được hàng Úy, kịp đến khi ông Diệm về nước rồi t́nh cờ gặp ông được ông lưu ư nâng đỡ mà leo lên măi đến hàng ‘’Tá cao cấp’’, sau này đă góp công không nhỏ trong việc ‘’Làm thế nào để giết một Tổng Thống’’. 

‘’Một thí dụ khác về cái Nghĩa của ông, vào tháng 1 năm 1962 trước vụ ném bom Dinh Độc Lập vào khoảng một tháng, Bác Sĩ Tuyến có một người quen bị Công An bắt giam.  Người quen ấy là ông Nguyễn Văn Lực, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng...Bác Sĩ Tuyến không thể đơn phương can thiệp cho Nguyễn Văn Lực được trả tự do. Song lại có Cụ Nguyễn Xuân Tiếu, lănh tụ Đại Việt cũng bị Công An bắt giam. Bác Sĩ Tuyến định tâm t́m cách Tết nhất để nói trực tiếp với Tổng Thống v́ biết rằng Cụ Nguyễn Xuân Tiếu trong quá khứ có rất nhiều liên hệ với Tổng Thống Diệm. Một hôm vào pḥng Tổng Thống để tŕnh công việc, ông Diệm hỏi: T́nh h́nh đảng phái dạo này ra sao?

Đương sự đáp: Cũng không có ǵ cả, b́nh thường. Thưa Cụ, th́ mấy ông đảng phái nhàn rỗi không có việc làm th́ cũng họp hành, tuyên bố lăng nhăng thế thôi. 

Ông Tổng Thống ờ ờ, hút thuốc, tỏ ư khoan khoái. Đương sự tấn công t́nh cảm ngay:

- Thưa Cụ, có ông Nguyễn Xuân Tiếu bị Công An bắt giữ.

- Ông Tổng Thống: Ông Nguyễn Xuân Tiếu tôi biết, hắn làm sao mà bị bắt hè

- Đương sự t́m lời nói khéo: Ông cụ ấy có tật hay uống rượn. Uống rượn vào rồi th́ cũng nói lăng xăng chống đối. Con thấy cũng không có ǵ nguy hiểm. 

Ông Tổng Thống vui vẻ gật đầu: Biểu Nguyễn Văn Là nó thả ông ta ngay. Biểu Tổng Thống chỉ thị.

Ông Tổng Thống trầm ngâm: Năm 45, tôi bị Việt Minh nó bất giam ở Thái Nguyên,  Nguyễn Xuân Tiếu đối với tôi tốt lắm. Hắn tiếp tế đồ ăn cho tôi hàng ngày, tiếp tế cả thuốc lá.

Sau hắn c̣n đưa cả tiền cho tôi để có chút ít về Hà Nội rồi vào Nam.

Ông Tổng Thống không quên nhắc nhở đương sự: Khi nào gặp hắn bảo hắn lúc nào rảnh rỗi vào đây chơi. 

Nhờ có Cụ Nguyễn Xuân Tiếu nên nhân chứng xin cả ông Nguyễn Văn Lực được trả tự do. Nhưng hơn 20 ngày sau khi con trai ông Lực là phi công Nguyễn Văn Cử cùng phi công

Phạm Phú Quốc oanh tạc Dinh Độc Lập, ông Lực nhanh chân trốn thoát.

Cái Nghĩa nơi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lại được thấy rơ qua những nghĩa cử của Người đối với những nhân vật đă cộng tác với Người lúc đương thời hoặc đối với những nhân vật tên tuổi mà Người quí trọng tuy không đồng quan điểm với họ. Nghe tin Thiếu Tướng Tŕnh Minh Thế bị tử thương tại cầu Tân Thuận (2) trong khi đang hành quân dẹp loạn B́nh Xuyên, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă vô cùng xúc động. Nhà Văn Nhị Lang đă kể lại như sau:

‘’Tờ mờ sáng hôm sau (4.5.1955), Thủ Tướng Diệm, Cố vấn Nhu, cùng toàn bộ Nội Các và Bộ Tham Mưu (do Tướng Lê Văn Tỵ hướng dẫn), đều tề tựu đông đủ trên căn gác nhỏ ở Đường Trương Minh Giảng (...) ông (Thủ Tướng Diệm) đầm đ́a nước mắt, cúi xuống ôm gh́ lấy thi hài Tướng Thế, rồi hôn ngay trên mặt người chết. Tiếp đó, ông ngất xỉu luôn. Mọi người hết hoảng, vội vàng t́m cách cứu chữa, măi một lát sau ông mới tỉnh, và rồi lại khóc (...) Ngày mồng 6 tháng 5 được ấn định là ngày cử hành tang lễ cho cố Trung Tướng Tŕnh Minh Thế. Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đích thân đọc điếu văn trước linh cữu bấy giờ đă được chuyển ra Công Trường Ṭa Đô Chính. Tiếng nức nở của Thủ Tướng Diệm lại vang lên trong máy vi âm. Sau đó, quan tài được đặt trên một chiếc xe thiết giáp phủ Quốc Kỳ, na khỏi Sài G̣n, tiến theo con đường lên Tây Ninh. Thủ Tướng Diệm tiễn theo linh cữu tới gần chợ Sài G̣n mới quay trở lại. (3)

Khi biến cố Phật Giáo bùng nổ th́ Đại Tướng Tỵ lâm trọng bệnh. Hai ông Cao Thế Dung và Lương Khải Minh đă ghi lại cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Tổng Thống Diệm và Đại Tướng Tỵ như sau: Khi tiễn chân Đại Tướng Tỵ, Tổng Thống Diệm đă tặng cho ông một chuỗi hạt và nói: ‘’Đại-tướng nhớ cầu nguyện cho tôi...Tôi xin ơn Trên phù hộ cho Đại Tướng’’ (...)

Tổng Thống Diệm đỡ vai Tướng Tỵ và cùng đi theo ông xuống đến tận thềm Dinh Gia Long. Cánh cửa xe đóng lại, Tướng Tỵ cúi đầu chào, ông Tổng Thống vẫy tay với một vẻ ngậm ngùi (...)

Tại Mỹ, khi nghe tin Tổng Thống Diệm bị thảm sát, Đại Tướng bàng hoàng rồi ôm mặt khóc. Sau này khi hồi hương, mỗi lần nghe ai nhắc đến Tổng Thống Diệm th́ Đại Tướng Tỵ lại than thở: Hồi ông Cụ tiễn chân tôi qua Mỹ, ông Cụ tưởng qua chết...Ai dè ông Cụ lại chết trước qua (4). 

Tổng Thống rất có cảm t́nh với gia đ́nh Nguyễn Tường. Vào dạo năm 1959, khi Bác Sĩ Tuyến nhắc đến Hoàng Đạo, th́ Người hỏi thăm: ‘’Bây giờ vợ con ông ấy sống thế nào?’’

Được Bác Sĩ Tuyến cho hay là bà Hoàng Đạo mở cửa hàng bán chả cá th́ Người dặn: ‘’Anh xem bà ta có túng thiếu th́ t́m cách giúp đỡ, khi nào có dịp cho tôi có lời hỏi thăm’’. 

Rồi Người không tiếc lời ca ngợi: ‘’Nguyễn Tường Long khá lắm. Ông ta đối với tôi tốt lắm. ‘’Trong các chính khách tại miền Nam th́ Nhất Linh Nguyễn Trường Tam được Tổng Thống Diệm trọng hơn cả. Được tin Nhất Linh tự vận bằng độc dược ngày 7.7.1963, Tổng Thống Diệm cũng sửng sốt và xúc động mạnh như tin Ḥa Thượng Quảng Đức tự thiêu:

- Việc có ǵ đâu mà phải làm như vậy...ra Ṭa th́ rồi cũng tha bổng ông ấy. 

Tổng Thống trở nên trầm ngâm, lầm ĺ cả ngày, bẳn gắt và hút thuốc lá liên miên. (5)

Chữ Nghĩa nơi cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nó sâu nặng như thế đó. Và chữ Nhân nơi Người cũng bao la không kém. Nhân là ḷng thương người, thương vật, một tánh tốt đối với người với vật. Người có ḷng nhân là người hiếu sinh mà không hiếu sát, ân ban mà không ác báo. Trong chín năm cầm quyền Tổng Thống Diệm chưa hề ra lệnh hành quyết một tội phạm nào cả. 

Ngay năm 1954, khi Người mới về nước chấp chánh th́ đảng Đại Việt Hà Thúc Kư đă kéo quân ra Ba Ḷng lập chiến khu, rồi năm 1955 Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Nam Ngăi cũng kéo quân ra bưng lập chiến khu. Họ chống đối v́ miếng đỉnh chung chứ không v́ quyền lợi đất nước, v́ không có được những ghế họ mong muốn trong chính phủ của ông Diệm (6).  Thế nhưng không một ai trong hai cuộc nổi loạn ấy bị giết cả (7). Nếu Đại Việt hay Quốc Dân Đảng mà cầm quyền th́ chắc đă có kẻ vong mạng v́ chính họ đă giết ngay cả những đảng viên của họ chỉ v́ đi sai đường lối của đảng, thay v́ khai trừ (8). Tên cán bộ cộng sản nằm vùng được cộng sản Bắc Việt chỉ thị ám sát Người tại Hội chợ kinh tế Ban-Mê-thuột ngày 22.2.1957 bị bắt sau khi bắn hụt Người nhiều phát đạn tiểu liên. Ai cũng tưởng tên cán bộ ấy sẽ bị tra tấn dă man rồi bị thủ tiêu âm thầm. Thế nhưng sau chính biến tháng 11.1.1963 tên cán bộ ấy vẫn sống phây phây và tỏ ra rất cảm phục cung cách chính quyền đối xử với y khi ở trong tù và nhất là tỏ ḷng ngưỡng mộ Tổng Thống Diệm v́ đức nhân từ bác ái của Người (9).

Khi cuộc binh biến ngày 11.11.1960 thất bại, một số các kẻ chủ trương như các sĩ quan Vương Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi dùng phi cơ trốn thoát qua Nam Vang, như Luật Sư Hoàng Cơ Thụy th́ được CIA đưa ra khỏi Sài G̣n và miền Nam trong một túi đựng thư lớn chở trên phi cơ của Tùy Viên Không Quân Mỹ (9), c̣n một số đồng lơa th́ được tha về nhân ngày Tết Nguyên Đán Tân Sửu 15.2.1961 như Nguyễn Lưu Viên, Phạm Văn Huyến, Tạ Chương Phùng v.v... hoặc bị truy tố và câu lưu cho đến ngày 1.11.1963 như Phan Quang Đán,  Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh v.v... (10)

Chẳng có can phạm nào bị bắt trong cuộc binh biến ấy mà bị hành quyết cả. Ngang đây cũng xin nhấc lại là sau này Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán cũng như 18 vị trong nhóm Caravelle (Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Trần Văn Hương... ), khi ra lănh đạo quốc gia hay tham gia chính quyền, đă để cho bọn tướng tá, tay sai của Hoa Kỳ hay nội tuyến của cộng sản,  thao túng đến nỗi nước mất nhà tan một cách nhục nhă. 

Ngay cả Phạm Phú Quốc, người đă oanh tạc Dinh Độc Lập ngày 27.2.1962, bị bắn hạ và bị bắt, cũng c̣n sống để trở về với gia đ́nh sau ngày 1.11.1963. Sau đấy ông trở lại Không Quân và bị bắn hạ trong một phi vụ ở Bắc Việt, không biết c̣n sống hay đă chết rồi. C̣n trường hợp Tướng Ba Cụt tức Lê Quang Vinh bị hành quyết th́ sao? Tướng Ba Cụt bị Ṭa Đại H́nh vần Thơ tuyên án tử h́nh và bị hành quyết ngày 13.7.1956. 

Thật ra Ba Cụt thuộc hạng người sớm hàng tối đánh và đă có nhiều ân oán giang hồ với hai ông Nguyên Ngọc Thơ và Dương Văn Minh. Trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, hai ông Thơ và Minh đă lừa và bắt sống được Ba Cụt và sau đó đă có ảnh hưởng nhiều đến việc chính phủ bác đơn xin ân xá của tứ tội. Sau đây là lời của Nhị Lang, một chiến hữu của Tướng Ba Cụt khi cỡn ở chiến khu Núi Bà:

‘’Đứng trên lập trường quốc gia mà xét, Tướng Vinh là một trong những cột trụ Miền Nam giữ vững thành tŕ chống cộng. Tiếc rằng đời ông đă chấm dứt bằng một cái chết đau thương năm 1956. Kẻ chủ mưu không ai khác hơn là Nguyễn Ngọc Thơ, người quê quán Miền Tây, nhưng lại mắc phải mối thù bất cộng đái thiên của Phật Giáo Ḥa Hảo, sau khi sắp đặt bắt cóc Tướng Lê Quang Vinh để xử tội. Nguyễn Ngọc Thơ đứng trên thế chính quyền đă làm một việc mù quáng. Cá nhân Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, theo tôi biết, không hề có ư định sát hại Tướng Lê Quang Vinh, mà chỉ muốn thương lượng đón ông Vinh về với ḿnh, như Tŕnh Minh Thế vậy, để tăng cường hàng ngũ quốc gia chống cộng. Nhưng Nguyễn Ngọc Thơ v́ muốn lập công nên tự ư tổ chức bắt Vinh. Sau khi bắt được rồi, lỡ nằm trên cái thế cưỡi đầu voi dữ, nên gây áp lực và đặt lời đèm pha với chính phủ Diệm để Vinh bị chém đầu một cách đan đớn?’’ (12). 

Sử Gia Cao Thế Dung cũng đă viết trong ‘’Việt Nam 30 Năm Máu Lửa’’: ‘’Đấy là chủ trương của Nguyễn Ngọc Thơ và Dương Văn Minh, hai người vốn không ưa Ba Cụt và Ḥa Hảo...’’ Trong tác phẩm ‘’Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh Diệm’’, ông Vinh Phúc cũng ghi lại những dư luận đương thời về vai tṛ chủ yếu của hai ông Thơ và Minh trong vụ án Ba Cụt (13). 

Cũng v́ không coi thường mạng sống của binh sĩ, cũng v́ sợ cảnh nồi da xáo thịt mà cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă không cho phép Thiếu Tá Duệ đem quân lên Bộ Tổng Tham Mưu bất các Tướng phản loạn nên mới hư đại sự. Sau đây là tài liệu minh chứng: ‘’Cho đến lúc bấy giờ thành Cộng Ḥa đă ăn hàng trăm trái 105 ly. Bộ Chỉ huy Liên Đoàn Pḥng Vệ không thể nào liên lạc với bộ Tổng Tham Mưu. Thượng Sĩ Nguyễn thuật lại: Ông Đuệ phải gọi qua pḥng Quân Cảnh Bộ Tổng Tham Mưu, nhờ liên lạc v́ ông có người bạn thân ở pḥng này nên mới nắm được đầu giây lên lạc. 

Thiếu Tá Duệ hỏi qua t́nh h́nh trên đó ra sao. Phía đầu giây trả lời rơ rệt: ‘’Không thấy có ǵ quan trọng cả. Các ông Tướng đang họp. Hiện giờ Bộ Tổng Tham Mưu không có Lực Lượng nào khác hơn mấy chú tân binh ớ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung’’.

Thượng Sĩ Nguyên báo cáo lại và đề nghị: ‘’Làm tới đi Thiếu Tá. Hốt về đây cho xong chuyện’’

Các Sĩ Quan Tham Mưu bàn định: ‘’Nếu được lệnh th́ chỉ cần một Chi Đội Thiết Giáp, một Đại Đội ta sẽ tiên dọc theo Đường Công Lư. Thủ th́ nguy, công mà thành’’. Ông Duệ gật đầu cho là phải. Ông gọi lên Dinh Gia Long xin lệnh Tổng Thống. Phía đầu giây bên kia Đại Úy Tùy Viên Lê Công Hoàn đáp: ‘’Cụ không trả lời. Cụ ra lệnh chỉ được phép nổ súng khi nào bị tấn công. Cụ cấm không được gây đổ máu’’. 

Ông Duệ và một số Sĩ Quan Tham Mưu đành lắc dàu thở dài, ông lại tiếp tục cuộc điện đàm: ‘’Toa thưa lại với Cụ cứ cho phép tụi moa đem lực lượng lên đó hốt cho hết, như thế là xong’’. Bên kia đầu giây Đại Úy Hoàn trả lời: ‘’Cụ nhất định không chịu’’. Thượng Sĩ Nguyễn lắc đầu quay sang bảo ông Duệ: ‘’Thiếu Tá thử nói lại lên nữa xem sao...Thiếu Tá nói với Đại Úy Hoàn tŕnh bày rơ và Cụ là bọn ḿnh chỉ xin lên Bộ Tổng Tham Mưu mời các Tướng lănh về Dinh họp mà thôi’’. Lúc ấy vào quăng 5 giờ’’. (14)

Thế rồi những ǵ phải xảy ra đă xảy ra sau đó như lịch sử Cận đại đă ghi chép. Cái ḷng nhân bao la luôn luôn phù hợp với một nhà chân tu nhưng có khi lại không thích hợp cho một chính khách, nhất là khi vị ấy lănh đạo quốc gia trong thời thế nhiễu nhương. 

Bị ràng buộc bởi đức Bác ái của Thiên Chúa Giáo và quan niệm Chính nhân Quân tử của nền văn hóa Á Đông, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă chết theo cái Nhân cái Nghĩa của ḿnh. Tuy nhiên Người đă lưu danh thiên cổ với T́nh Người Sâu, Nghĩa Nước Nặng. 

        Tài liệu tham khảo:

* (l) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/Cao Thế Dung & Lương Khải Minh/ trang 76, 77, 78.

* (2) Pḥng nh́ quân đội Pháp, điều khiển bởi Đại Úy Savani, một sĩ quan Pháp rành tiếng Việt và có vợ Việt, đă thuê một người ám hại Tướng Thế để trả thù vụ Tướng Pháp Chan Son bị ông Thế cho cảm tử quân nổ lưu đạn giết năm 1951. Ông Savani, sau lên Đại Tá, đă thừa nhận việc này trước khi qua đời, theo sách Soldats Perdus et Fous de Dieu Indochine 1945-1955 của Jean Lartegu, trang 244, 245. 

* (3) Phong trào kháng chiến Tŕnh Minh Thế/Nhị Lang/trang 320,  321.   

* (4) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/trang 101, 102. 

* (5) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/trang 464

* (6) Tháng 6 năm 1954, khi hội nghị Genève đang khai diễn, ông (Bùi Diễm) đại diện Bác Sĩ Phan Huy Quát liên lạc với Cựu Hoàng Bảo Đại để xin cho Bác Sĩ Quát làm Thủ Tướng thay thế Hoàng Thân Bửu Lộc. Nhưng Bảo Đại đă chọn Ngô Đ́nh Diệm. Không thối chí, ông Diễm lại vận động với ông Diệm để Bác Sĩ Quát có một ghế Bộ trưởng (Bộ Quốc Pḥng), cũng không xong. Có lẽ v́ ông Diệm không muốn dùng những chánh khách đă bị đốt cháy trong giải pháp Bảo Đại từ 1948 đến 1954 (...)

Tuy nhiên rồi cũng có một lần ông được toại nguyện. Đầu năm 1965 Tướng Khánh đă mời Bác Sĩ Quát làm Thủ Tướng và Bác Sĩ Quát ‘’năn nỉ măi’’ ông Diễm mới nhận ghế Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng (...)

Ba tháng sau ông Quát, mặc dầu có Quân Sư Diễm trợ lực, không giải quyết nổi cuộc khủng khoảng nội các do nguyên nhân chia rẽ Bắc Nam, đă anh dũng rút lui ngày 11 tháng 6 năm 1965, chấm dứt giấc mơ ‘’dân sự-dân chủ’’ của chính khách Bùi Diễm. (Ngô Đ́nh Diệm,  Lời khen tiếng chê Minh Vơ/trang 21, 22, 23). 

Tưởng cũng nên nhắc lại đây là Bộ Trưởng Quốc Pḥng trong chính phủ đầu tiên của ông Ngô D́nh Diệm là ông Lê Ngọc Chấn thuộc đảng Đại Việt.

* (7) Ông Nguyễn Ngọc Huy, một lănh tụ Đại Việt chống chính quyền Diệm, đă sống lưu vong tại Pháp từ 1956-1963, đă nói: ‘’Tôi không đồng ư cách hành động của ông Nhu.  Nhưng tôi công nhận ông Nhu là một người khá, ông không bao giờ giết hại những người có lập trường chống cộng, có tư cách...dù họ đă âm mưu dùng vơ lực để lật đổ chính quyền Diệm. Khi ở Pháp về vào năm 1963, tôi đă gặp được đầy đủ các đồng chí của Đại Việt như anh Hà Thúc Kư, anh Đoàn Thái dù họ đă bị Nhu giam giữ lâu năm’’. (Biến cố chính trị Việt Nam hiện đại/Phạm văn Lưu trang 327). 

* (8) Trong tác phẩm ‘’Về những kỷ niệm quê hương’’, Nhà Văn Nguyễn Thạch Kiên đă viết: ‘’Tôi đến thăm ông. Trong khi hàn huyên nhắc nhở đến học giả Nhượng Tống, thốt nhiên ông Nghiêm Xuân Thiện bảo tôi: ‘’Ở Anh Quốc, được tin ông Nhượng Tống bị ám sát chết, tôi biết ngay chính Chấn Quang Minh ra lệnh! ‘’Xin đọc các trang 104, 105 trong tác phẩm nói trên. 

* (9) Xem cước chú nơi bài ‘’Trí và Dũng nơi Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm’’. 

* (10) WILLIAM J.  Rust, Kennedy in Vietnam, Charles Scribner's Sons, New York,  trang 10. 

* (11) Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm/trang 290, 

* (12) Phong trào kháng chiến Tŕnh Minh Thế/Nhị Lang/trang 179, 180, 181. Trong tác phẩm  ‘’Việt Nam où est la vérité?’’ ông Trương Vĩnh Lễ cho hay là Ba Cụt đă không xin ân xá (il avait rejeté le recours en grâce/trang 36). 

* (13) Xem ‘’Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh Diệm’’/Vĩnh Phúc/ từ trang 192 đến 202.

* (14) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/trang 580. 

NguyễnVăn Lượng

(TiếngThị Phi) 

 

TƯỞNG NIỆM

 Kỷ niệm ngày 1 tháng 11, ngày đau thương của dân tộc Việt Nam và nền Đệ Nhất Cộng Ḥa.

Kính dâng Anh Linh cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm)

 

Mỗi chữ xin là một nén hương

Dâng niềm tôn kính, xót xa thương

Anh hùng chẳng bởi do thời thế

Hào kiệt đâu cần phải bá vương

V́ bọn tiểu nhân gây tạo phản

Nên người quân tử gặp tai ương

Nếu không, tổ quốc và dân tộc

Đă với năm châu rạng phú cường 

TIẾC THƯƠNG

 

 Nhân ngày giỗ của Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Vị Tổng Thống khả kính đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Ḥa 

Một ánh sao băng, tắt giữa trời

Giang sơn từ đấy tối thêm thôi!

Thương người nghĩa khí tàn cơn mộng

Tiếc bậc tài hoa úa mảnh đời !

Khinh bọn túi cơm, loài rắn rết

Giận phường giá áo, lũ đười ươi

Nếu không phản phúc, không tham vọng

Đất nước giờ đây hẳn kịp người !

                                    Ngô Minh Hằng 

 

NỀN ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A SỤP ĐỔ:

MIỀN NAM TỰ DO SỤP ĐỔ

  Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_NenDeNhatCongHoaSupDo_MienNamTuDoSupDo.htm

        ‘’Tứ Bất Tử’’ là lời của cổ nhân đă dạy, từ thuở xa xưa, tất cả nhân loại ở trên mặt địa cầu này ai cũng  đều đă biết: Con người sinh ra rồi ai cũng phải chết, mỗi cái chết đều khác nhau. Nhưng, cổ nhân đă khẳng định có bốn cái chết để rồi vẫn sống măi măi với thời gian, đó là ‘’Tứ Bất Tử’’, và trong bốn cái chết ấy gồm những bậc có công nghiệp như sau:

1.- Có sự nghiệp lớn.

2.- Có đạo đức lớn.

3.- Có công ơn lớn ở người đời.

4.- Có văn chương truyền được lâu dài.

Vậy, hôm nay, nhân dịp tưởng niệm lần thứ 46, kể từ ngày 01.11.1963, ngày vị anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đă Vị Quốc Vong Thân cùng với nhị vị bào đệ là Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Cẩn. Và cứ như theo lời của cổ nhân đă dạy, th́ chỉ cần một chữ ‘’Có’’ th́ đă trở thành Bất Tử rồi. Nhưng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm th́ đă chiếm được đến ba chữ ‘’có’’.  Bởi, tất cả các vị anh hùng ở trên thế giới này, họ thường chỉ được từ một đến hai chữ có. Nhưng riêng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm th́ theo tôi, chỉ trừ chữ có thứ bốn là ‘’Có văn chương truyền được lâu dài’’ th́ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chưa có tác phẩm văn chương nào để lại cho hậu thế, nhưng Người đă chiếm đến ba chữ ‘’Có’’ trong ‘’Tứ Bất Tử’’:

1.- Sự nghiệp lớn: Đó là sự nghiệp đă khai sinh ra Thể Chế Cộng Ḥa, tức đă khai sinh ra Nước Việt Nam Cộng Ḥa, đồng thời đă xây dựng được một Miền Nam Tự Do và phồn thịnh, mà không phải do được các cường quốc viện trợ tiền rừng bạc biển.

2.- Có đạo đức lớn: Người đă nêu cao đạo đức về nhiều phương diện đối với người dân. Cả cuộc đời Người không màng đến cao lương mỹ vị, không chăn ấm nệm êm, Người đă quên ḿnh để chỉ ưu tư cho Tổ Quốc và Dân Tộc.

Vậy chúng ta hăy nghe những lời của Thiếu Tá, sau là Đại Tá Nguyễn Duệ, tác giả cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngày 1.11.1963, Ông là  Tham Mưu Phó, Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ, đă đề nghị Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho sử dụng Thiết Giáp và Bộ Binh đánh thẳng vào Bộ Tham Mưu, sào huyệt của phe ‘’cách mạng’’, bắt sống toán đảo chính. Tổng Thống nghe nhưng không có ư kiến ǵ. Khi được tin Đính đă thực sự theo phe đảo chính, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm than với Đại Úy Bằng, Sĩ Q uan Cận Vệ, là ‘’Cháy nhà mới ra mặt chuột’’. Và ‘’Khi lục soát tử thi, người ta t́m thấy trong tử thi của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nửa bao thuốc lá Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt!!!’’

‘’Lúc gần sáng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đă ra lệnh buông súng, v́ không muốn binh sĩ đổ máu v́ Ông, tôi thấy ră rời, thất vọng. Nhưng vẫn c̣n chút hy vọng mong manh, là Ông sẽ được đối xử tử tế bởi các Tướng lănh làm đảo chính, v́ hầu hết những người này đều do Ông gắn sao cho họ. Chẳng bao lâu, được tin Ông chết. Nghĩ mà thương cho Ông, v́ sợ anh em v́ bảo vệ cho Ông mà đổ máu, sợ anh em giao tranh với nhau mất tiềm lực chống cộng, mà Ông bị làm nhục, phải chết trong tay những kẻ vũ phu, trong một xe thiết giáp’’.

Trên đây, là những ḍng của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ đă viết trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, nơi trang số 169, th́ chắc hẳn mọi người đều đă thấy được: Cho đến giờ phút cuối của cuộc đời, giữa lúc Tử-Sinh, mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vẫn không muốn có một người chiến sĩ nào phải đổ máu để bảo vệ cho ḿnh. Ôi! một tấm ḷng cao cả: Ngất ngưỡng như ngọn Hy Mă Lạp Sơn, và mênh mông như Ngũ Đại Dương góp lại.

Tôi cũng xin nói thêm là tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm mà tôi đă đưa lên trên của bài viết này là tấm h́nh của b́a cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, theo Đại Tá, th́ Ông viết cuốn sách này, mục đích là để tặng cho những người c̣n giữ được ḷng trung thành với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, chứ không có mục đích thương mại. Trước đây, lúc Ông c̣n khỏe Ông vẫn thường xuyên viết trên Văn Nghệ Tiền Phong, Ông đă kư tên: Nhật Lệ Nguyễn Hữu Duệ. Và Ông đă từ Hoa Kỳ gửi sang Pháp Quốc, với những ḍng chữ mà chính tay Ông đă viết tặng tôi vào ngày 24.11.2003. Phía sau b́a sách, Ông có chú thích tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là của Bác Sĩ  Giáp Phúc Đạt cho Ông được sử dụng. Hôm nay, tôi đưa tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lên trên bài viết này cũng cùng như ư Nguyện của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ và của Bác Sĩ Giáp Phúc Đạt, nghĩa là để cho các vị: Những người c̣n giữ được nguyên vẹn một tấm ḷng trung nghĩa với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, để các vị được thấy lại h́nh ảnh của Vị Anh Hùng của Dân Tộc. Vậy, tôi rất mong quư vị trên các diễn đàn chớ lấy tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, cho những mục đích khác. Đặc biệt, đối với những kẻ đă từng hạ bút viết những lời lẽ xúc phạm đến thanh danh của Tổng Thống, th́ tuyệt đối không được lấy tấm h́nh của Tổng Thống, bởi những bàn tay đó, đă vô cùng bẩn thỉu khi dám viết lên những lời lẽ xuyên tạc, đầy ác ư, để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, và cả ḍng họ Ngô Đ́nh.

  Và bây giờ tôi phải trở lại với chữ ‘’Có’’ thứ 3 của ‘’Tứ Bất Tử’’:

Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă có công ơn lớn với tất cả mọi người dân miền Nam: Kể từ sau ngày 20.7.1954: Đó là: Công Cuộc Xây Dựng Tự Do-Thanh B́nh-Phồn Thịnh Tại Miền Nam.

Chúng ta là những người dân của miền Nam, có lẽ nào lại quên rằng: Vào những năm từ 1954, đến đầu thập niên 1960. Dưới ánh sáng mới của Chính Thể Cộng Ḥa. Dưới sự lănh đạo của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Là những người Việt Nam đă từng sống vào thời kỳ ấy. Tất cả đều đă thấy được một Miền Nam Thanh B́nh-Tự Do-No Ấm thực sự.

 

Ngày ấy, nếu những ai đă từng sống với những cảnh đêm về, dưới ánh trăng lành, trên khắp nẻo đường quê, bên những lũy tre làng rộn ră những bước chân của lớp người trai trẻ, với h́nh ảnh hiền ḥa, chân phác. Họ đă đến với nhau trong những lần sinh hoạt của thanh niên, cùng nhau ḥa lời ca với tiếng đàn Mandoline, với những bài hát ca ngợi quê hương dưới cảnh thanh b́nh. Bởi vậy, tôi vẫn nhớ dù không đầy đủ những bài ca, có bài tôi chỉ c̣n nhớ một đôi câu, hoặc một vài điệp khúc như sau:

‘’Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mau no lành. Có tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh. Quê hương anh lúa ngập khắp bờ ruộng xanh. Lúa về báo nhiều tin lành, từ khắp đồng quê cùng kinh thành…

Đây phương Nam, đây t́nh Cần Thơ êm đềm. Có lúa tốt quanh vùng nuôi sức dân thêm. Quê hương em bóng dừa ấp ủ dịu êm. Những chiều trăng rọi bên thềm, vọng tiếng khoan ḥ về êm đềm…

Ai vô Nam, ngơ ngẩn v́ muôn câu ḥ. Những tiếng đó khơi ḷng vui sống ấm no. Trăng phương Nam sáng tỏa khắp bờ Cửu Long. Nước chảy con thuyền xuôi gịng, vọng tiếng khoan ḥ làm ấm ḷng…’’.

Trên đây là những lời quê mà tôi muốn ghi lại, để các vị cao niên đă từng sống, từng chứng kiến những cảnh thanh b́nh nơi cố lư, của một thời đă mất, và sẽ không bao giờ c̣n t́m gặp lại, dù chỉ một lần nào nữa.!!!

Và đó, là ‘’Có công ơn lớn ở người đời’’, bởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Người đă tận hiến cả cuộc đời từ thuở c̣n trai trẻ, cho đến giờ phút cuối cùng đă Vị Quốc Vong Thân.

Nhưng rồi những cảnh thanh b́nh ấy, đă bị bức tử khi cái gọi là ‘’Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’’ ra đời. Mà ác hại thay, những người công khai lănh đạo cái mặt trận này lại là những ‘’trí thức’’ đă được ăn cơm Quốc Gia nhưng lại thờ ma cộng sản, và những ‘’nhà tu hành’’ của Phật Giáo Ấn Quang. Những ‘’nhà sư’’  đó sau ngày 30.4.1975, họ là ‘’Ḥa Thượng- Thượng Tọa’’ đă được cộng sản Hà Nội trao gắn đầy những  tấm huân chương, huy chương, là những bằng chứng về những hành vi và cũng là tội ác đă từng làm giặc, mà sư săi Ấn Quang không có cách nào chạy chối cho được.

Chính những kẻ ‘’tu hành’’ bất nhân, thất đức như Thích Đôn Hậu-Thích Trí Quang- Thích Đức Nhuận-Thích Huyền Quang-Thích Quảng Độ v.v…và những tên đâm thuê, giết mướn như: Dương Văn Minh-Nguyễn Khánh-Trần Thiện Khiêm-Đỗ Mậu-Nguyễn Chánh Thi Trần Văn Đôn-Dương Hiếu Nghĩa v.v…chúng đă nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Chính những kẻ này, đă làm cho Miền Nam Tự Do phải sụp đổ, khiến cho hàng triệu Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Ḥa phải chịu cảnh đọa đày trong các ‘’Trại tù cải tạo’’, với những cực h́nh dă man, tàn bạo nhất, có người đă chết ở bên bờ kẽm gai oan nghiệt của nhà tù. Và đă không biết bao nhiêu người đă chết nơi rừng thiêng, nước độc ở các ‘’vùng kinh tế mới’’, và đau thương nhất là những em bé gái đă chết dưới những bàn tay của những tên hải tặc, đă làm mồi cho cá, cho thú rừng, hay đă vùi thây trên ngàn dưới biển trên đường chạy trốn ngục tù cộng sản?!!!

Ngoài những thảm cảnh đó. Chính những kẻ này đă đẩy lớp trẻ vào bước đường cùng, thương luân, bại lư!!!

Riêng Đỗ Mậu, vốn là một tên gian manh, phản phúc, nên chẳng những đă nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mà sau đó, hắn c̣n bắt giam rất nhiều vị, chỉ v́ không ủng hộ đảo chính, trong đó có Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ. Song cũng chưa thỏa măn, mà cho đến măi sau này, khi đă chạy sang nước Mỹ, Đỗ Mậu cũng đă gian manh khi đă vẽ vời ra những câu chuyện láo khoét, rồi hắn đă nhờ đến mấy tên tay sai của việt cộng, đă viết cho hắn cái cuốn: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi mà nội dung, th́ ngoài những lời kể của hắn, lại được mấy tên lưu manh này dàn dựng thêm vô số những chuyện trên trời, dưới đất, mục đích để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và cả ḍng họ Ngô Đ́nh, và tên khố xanh Đỗ Mậu, hắn cũng đă về Việt Nam để công khai tái bản cuốn  ‘’Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi’’ và hắn đă chết sau những tháng ngày ngồi trên chiếc xe lăn tại ‘’quê hương’’ của hắn. Nhưng có một điều là bọn này không biết rằng: Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ Nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, một tờ báo sống thọ nhất, kể từ lúc mới ra đời từ năm 1956, ông đă t́m hiểu, và đă biết được những tên đă núp ở phía trong cái quần của tên lính khố xanh Đỗ Mậu, để hoàn thành cái cuốn sách rác rưởi đó. Do đó, mà ông Nguyễn Thanh Hoàng đă cho mấy tên này ra ŕa khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong.

Song nói đến Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mà không nói đến Ông Ngô Đ́nh Luyện là một điều vô cùng thiếu sót, bởi ông Ngô Đ́nh Luyện cũng là một người đă hết ḷng phụng sự cho Quốc Gia và Dân Tộc. Song cả một đời của ông Ngô Đ́nh Luyện cũng không hề được hưởng sự giàu sang phú quư, như những lời của những kẻ bất lương xuyên tạc. Vậy, một lần nữa, tôi xin trích một đoạn ngắn những lời kể của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ trong thời gian gặp gỡ ông Ngô Đ́nh Luyện tại Mỹ như sau:

‘’Trên máy bay, khi từ toilets ra, dây lưng bị đứt, khiến quần ông muốn tụt ra, v́ ông mặc đồ cũ từ ngày xưa, nay ông ốm hơn nhiều. Tôi phải tháo dây lưng của tôi cho ông dùng. Tôi cảm thấy thương ông, v́ ông nói rằng cả chục năm nay, ông chưa mua quần áo mới và thay dây lưng.

Ông nắm tay tôi và chảy nước mắt, làm tôi cảm động.

Khi về Pháp, ông viết cho tôi một lá thư khá dài để cám ơn, nhắc lại cái dây lưng, và nói sẽ giữ suốt đời để làm kỷ niệm’’.

Ôi!  Suốt cả cuộc đời của các Huynh-Đệ  của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă sống trong thanh khiết, chỉ biết đặt Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết.

C̣n ǵ đáng kính phục, đáng thương hơn, đau ḷng hơn, khi một vị Tổng Thống sau khi bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết, khi lục lọi cả tử thi của Người mà chỉ t́m được vỏn vẹn chỉ nữa gói thuốc Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt c̣n vương đọng những giọt máu thiêng của vị Anh Hùng của Dân Tộc: Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm!!!

Ôi!  Không có một ngôn từ nào của nhân loại để có thể diễn đạt cho vừa những trang sử đầy đau thương và đẫm máu này???!!!

Riêng tôi, khi viết lên những ḍng này, tôi đă phải bao lần bị đứt quăng, v́ không cầm được nước mắt, và mỗi lần như thế, những ḍng nước mắt của tôi đă rơi xuống trên chiếc bàn phím này. Đây không phải là lần đầu tiên, mà mỗi lần nh́n tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là nước mắt của tôi lại cứ ứa ra, những giọt nước mắt của một con dân Việt đă khóc cho Người, khóc cho một Nước Việt Nam Cộng Ḥa đă bị sụp đổ, song không phải sụp đổ vào ngày 30.4.1975, mà nó thực sự bắt đầu sụp đổ vào ngày 1.11.1963. Nhưng có một điều mà trước đây, ít ai nghĩ đến, là ngày đó Tổng Tổng Ngô Đ́nh Diệm đă bị giết chết. Nhưng, Vị Tổng Thống đă Hồi Sinh ngay sau đó, và đă trở thành  Bậc Anh Hùng Bất Tử.

Nhân-Quả

Viết đến đây, tôi muốn nói đến những kẻ đă từng tham dự vào vũng máu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng nhị vị bào đệ. Những kẻ đó, có người đă chết. Nhưng trước khi chết, họ đă sống trong những tháng ngày đau khổ từ thân xác đến tinh thần, bởi bị chính lương tâm của họ kết tội. Có kẻ hàng ngày đau đớn ngồi trên chiếc xe lăn. Cũng có người đă bị chính vợ và con của họ đày đọa. Có kẻ trước khi chết đă bị chính con trai ruột của ḿnh đă đuổi ra khỏi nhà giữa đêm đông giá buốt của Trời Âu. Và đó, là cái ‘’Quả’’ mà họ đă phải gặt từ cái ‘’Nhân’’ mà họ đă từng gieo trước đó. Riêng những kẻ đă từng núp trong cái khố xanh của Đỗ Mậu hiện vẫn c̣n sống, nhưng tôi tin rồi sẽ có một ngày chúng cũng sẽ ngồi trên chiếc xe lăn trước khi gục chết như tên Đỗ Mậu.

Ngoài ra, một số tên vẫn c̣n sống trong những thứ hư danh, những kẻ đó, có lẽ nào trong suốt bao nhiêu năm qua, mà không một lần nữa đêm tỉnh giấc, v́ h́nh ảnh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, cùng nhị vị bào đệ là ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và ông Ngô Đ́nh Cẩn, với thân xác nhuộm đầy máu. Hoặc h́nh ảnh của một vị Tổng Thống với ánh mắt nhân từ, đă từng thân ái cài lên ngực áo của họ những chiếc lon từ cấp Úy, Tá, Tướng, để từ đó họ bước lên đài danh vọng. Và để rồi sau đó, họ đă lấy oán trả ân, bằng dă tâm thua cả loài lang sói. Chúng đă giết chết chính người đă thi ân cho chúng, chúng đă mất cả lương tri, thua cả một con chó, v́ loài chó dù cho có đói đến đâu, nó cũng đành chịu chết, chứ chúng không bao giờ ăn thịt của đồng loại (chó). Chúng cũng không bao giờ cắn chủ, kể cả người đă cho nó ăn, dù chỉ một lần.

Đến đây, tôi muốn nói tới Tướng Nguyễn Khánh. Bởi ông ta cũng là một kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất lương, Nguyễn Khánh đă vô cùng tàn ác, khi xuống tay giết chết một người vô tội là ông Ngô Đ́nh Cẩn là bào đệ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Nên biết, những người dân chân thực tại miền Trung, họ đều biết về ông Ngô Đ́nh Cẩn là một người Đại Hiếu-Tận Trung và Nhân Từ, không như những kẻ đâm thuê, giết mướn với ḷng dạ bạc ác, bất nhân đă cố t́nh tuyên truyền, xuyên tạc với những chuyện động Trời như: ‘’Ông Cẩn giết các nhà sư rồi chôn dưới gốc cây cam, mỗi gốc cây cam trong vườn của ông Cẩn là một xác nhà sư’’.  Và cũng nên biết, trước khi ông Ngô Đ́nh Cẩn bị xử bắn, th́ một ‘’Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đ́nh Nhà Ngô’’ đă được thành lập, và ủy ban này đă đến tận nơi, đă đào tận gốc rễ của từng gốc cây cam. Lúc ấy, mọi chuyện đều đă sáng tỏ, là không hề có một xác người hay vật ǵ dưới những gốc cây cam.

Sau đó, mặc dù ‘’Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đ́nh Nhà Ngô’’ đă lập biên bản với nhiều chữ kư của các vị trong ‘’Ủy Ban’’ này, và đem tŕnh lên các cơ quan hữu trách. Nhưng Tướng Nguyễn Khánh đă không thèm ngó tới, không cần đến sự thật, mà đă cương quyết phải giết chết ông Ngô Đ́nh Cẩn cho bằng được. Nguyễn Khánh thật vô cùng tàn ác, khi xuống tay để giết chết ông Ngô Đ́nh Cẩn trong lúc ông đang bệnh nặng, nằm liệt giường tại khám Chí Ḥa, v́ thương Mẹ già, v́ đau xót về cái chết thảm của nhị vị bào huynh. Nguyễn Khánh nên nhớ, khi ông ta giết ông Ngô Đ́nh Cẩn, là ông đă giết cùng lúc thêm hai mạng người nữa, v́ ngay sau đó, Cụ Bà Thân Mẫu của ba vị đă v́ quá đau đớn, nên cũng đă chết theo ba người con. Ôi! ai đă từng ‘’Tre già khóc măng’’ th́ mới thấu được nổi đau đớn của Mẫu Thân của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm!!!

Và cũng trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm của  Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, ông đă viết về ông Ngô Đ́nh Cẩn nơi trang số 118-119, như sau:

‘’Ông Khánh lănh đạo Quốc Gia, mà hành động như một thằng hề, trái hẳn với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ông Khánh rất sợ báo chí, sinh viên, nhất là các Thượng Tọa, như sợ cha đẻ vậy. Tôi bất b́nh nhất là ngày ông ‘’chỉnh lư’’ ông chê ‘’ông Minh đă giết anh em ông Diệm một cách dă man’’ rồi ông kể lể làm như thương và phục Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lắm, để lấy ḷng anh em chế độ cũ. Nhưng khi ra Huế gặp Thượng Tọa Trí Quang là sợ ngay, là kư giấy hành quyết ông Cẩn là người độc nhất c̣n ở Việt Nam. Vả lại ông Cẩn đang bệnh tật nặng ở khám Chí Ḥa, và chả có tội ǵ rơ ràng để bị xử bắn.

Sau này anh Tuyên là em của Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, là cháu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kể với tôi rằng: Ông Khánh cho người liên lạc với gia đ́nh đ̣i một số tiền để giữ mạng sống cho ông Cẩn, số tiền là tám mươi triệu. Nếu đủ sức th́ cả ḍng họ sẽ đóng góp để lo, nhưng nhiều quá th́ chạy đâu ra. Anh Tuyên hiện đang ở Hoa Kỳ. tôi thấy ‘’gian hùng như Tào Tháo’’ mà mọi người vẫn gán cho ông là quá đúng’’.

Thực ra, ngoài chuyện Nguyễn Khánh đă đ̣i tiền chuộc mạng, ông Ngô Đ́nh Cẩn cũng đă chết v́ đặt ḷng tin vào những tên Thầy Chùa của  Phật Giáo Ấn Quang như: Thích Trí Quang-Thích Đôn Hậu  v.v…Nên biết, vào thời đó, ông Ngô Đ́nh Cẩn đă nuôi các sư săi Ấn Quang trong nhiều chùa tại miền Trung, đặc biệt là các Chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, Từ Hiếu v.v…tại Huế, chính ông Ngô Đ́nh Cẩn đă từng lo hết sức chu đáo cho mấy Chùa này từ gạo, tương v.v…và cung cấp cả tiền bạc, phương tiện di chuyển, Ông đă xem Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu là thượng khách. Nhưng rồi ông Ngô Đ́nh Cẩn đă chết về tay của chính Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu. Và Tướng Khánh đă giết ông Ngô Đ́nh Cẩn, c̣n v́ lời giao ước với Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu.

Nhưng Nguyễn Khánh c̣n một hành vi tàn ác nữa, là đă xử bắn ông Phan Quang Đông, là người chịu trách nhiệm lo cho những vị mà do ông Ngô Đ́nh Nhu và Ông Ngô Đ́nh Cẩn đă đưa họ trở về miền Bắc ngay khi họ vừa vào Nam, hoặc sau đó. Nên nhớ, khi giết chết ông Phan Quang Đông là Nguyễn Khánh đă chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về của các chiến sĩ đă được đưa ra miền Bắc để sống trong ḷng địch. Và bởi không có đường về, nên họ đă phải tự t́m cách để sống c̣n trong mỏi ṃn chờ đợi, cho đến ngày 30.4.1975, th́ họ đă hoàn toàn tuyệt vọng. V́ thế, nên có người đă phải chết trong uất hận khôn nguôi!!!

Song rồi cuối cùng Nguyễn Khánh cũng đă biết, đă thấy rơ là Phật Giáo Ấn Quang không bao giờ giữ lời giao ước với bất cứ một ai, kể cả tôn giáo, đảng phái hay người của một cường quốc.

Bởi, Ấn Quang chỉ lợi dụng tất cả những ‘’chính khách’’ hoặc cá nhân cũng như đoàn thể, kể cả ngoại nhân. Đồng thời cũng lợi dụng ḷng yêu nước của người dân Việt, để tóm thâu ‘’Sơn Hà Xă Tắc’’ vào trong ḷng bàn tay độc nhất, và chỉ riêng là của Ấn Quang mà thôi.

Với cuồng vọng ấy, Ấn Quang đă, đang và sẽ không từ bất cứ một thủ đoạn nào, kể cả giết hại người thân yêu, cốt nhục. V́ Phật Giáo Ấn Quang đă học tập, đă thấm nhuần và đă quyết tâm lấy ‘’Cứu cánh để biện minh cho phương tiện’’.

Nhưng, như lời Đức Phật đă dạy về luật ‘’Nhân-Quả’’. V́ thế, tất cả những kẻ đă gieo những ‘’Nhân’’ nào, th́ tất nhiên phải có một ngày sẽ phải gặt lấy cái kết ‘’Quả’’ ấy.

Riêng về việc ‘’Vinh Danh’’, Tổ chức Lễ giỗ, tạc tượng, lập đền thờ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, th́ bất cứ ai muốn núp dưới ánh hào quang của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, th́ muốn nói, muốn viết và muốn làm ǵ cũng được, v́ chẳng có ai cấm. Nhưng, tất cả phải nên nhớ cho rằng: Những lời nói, những bài viết mà những kẻ đó đă viết ra bằng giấy trắng mực đen, tất cả vẫn c̣n lưu giữ trên sách, báo, trên mạng lưới toàn cầu, chúng sẽ không bao giờ bôi xóa cho hết được. Đừng có mơ rằng sẽ lừa bịp được thiên hạ.

Và nhân đây, tôi muốn nói với những kẻ ấy rằng: Tại sao ông Ngô Đ́nh Quỳnh, thứ nam của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, năm nay đă gần sáu mươi tuổi, mà vẫn sống độc thân, không lấy vợ, ông có học vị Tiến Sĩ Kinh Tế, đang làm đại diện cho nhiều công ty của nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, ông không không thiếu tiền bạc, song ông không bỏ tiền ra để xây mộ cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ông Ngô Đ́nh Cẩn, mà tất cả tiền lương của ông, ông chỉ dành chút đỉnh để sống, c̣n tất cả Ông đă đem dâng hiến cho các cơ sở từ thiện???

Nên biết, ba ngôi mộ của ba vị tại Lái Thiêu, Việt Nam, chỉ khắc mỗi ngôi mộ với chữ ‘’Huynh’’ và ‘’Đệ’’, là không phải do các con, các cháu của ba vị, hay của các vị trong ḍng họ Ngô Đ́nh đă bỏ công, bỏ của ra để xây ba ngôi mộ đó.

Ôi! ba ngôi mộ không khắc ghi tên tuổi, chỉ vỏn vẹn có chữ ‘’Huynh’’ và ‘’Đệ’’, song hiện nay, tại Việt Nam, cứ mỗi ngày sự linh thiêng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm càng vang vọng, và mỗi ngày càng tăng thêm con số của những người dân từ khắp nơi đă đổ về Lái Thiêu, để t́m đến ba ngôi mộ, để cầu xin những điều mà chính con người và khoa học không thể làm nổi, nhưng chỉ cần đến thắp một nén hương cắm lên ba ngôi mộ, với những lời cầu xin chân thành, th́ Anh Hồn của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm sẽ cho họ được toại nguyện.

Mọi người cũng cần phải biết rằng: Việc tạc tượng hay lập đền thờ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không phải là chuyện của một tổ chức hay của một nhóm người. Mà việc đó phải do một chính phủ, một chính phủ phải do mọi người dân bầu ra, rồi chính phủ ấy bắt buộc phải trả lại công đạo cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng nhị vị Bào đệ là ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ông Ngô Đ́nh Cẩn, và sẽ được quyết định bởi Quốc Hội của một Thể Chế.

Và sau khi đă được sự đồng thuận, Quốc Hội sẽ công bố một định luật, th́ ngay trên đất nước Việt Nam sẽ có những Đại Lộ Ngô Đ́nh Diệm, Đại Lộ Ngô Đ́nh Nhu, Đại lộ Ngô Đ́nh Cẩn, đồng thời sẽ có những Đền Thờ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng nhị vị Bào đệ, và một trang sử mới cũng sẽ được khắc ghi thêm tên tuổi của ba vị anh hùng đă cương quyết để bảo vệ Tổng Thống, mà chính bọn Hội Đồng Gian Nhân Phản Loạn đă biết chắc chắn, là phải bước qua xác chết của cả ba người th́ mới giết được vị Tổng Thống. Chính v́ thế, mà bọn chúng đă giết cả ba vị, đó là:  Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Lê Quang Tung cùng người em ruột là Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Và rồi những Bảo Tàng Thư và những con đường sẽ được mang tên của nhiều vị Anh Hùng của Dân Tộc đă Vị Quốc Vong Thân.

Những kẻ bán buôn chính trị hăy nhớ cho thật kỹ những điều đó.

Tạm thay lời kết:

Như Nhân loại đă từng chứng kiến, kể từ thời Sáng Thế, từ Đông sang Tây. Lịch sử đă chứng minh, hễ cái ǵ nó đă trở thành chân lư, th́ con người có dùng mọi thủ đoạn gian manh đến đâu, cũng không bao giờ thay đổi chân lư đó cho được.

Bởi vậy, mà cho dù bao nhiêu năm qua, đă có rất nhiều kẻ manh tâm đă từng dùng những ngụy bút, ngụy sách, ngụy báo, để cố t́nh bịa đặt, xuyên tạc, để bôi nhọ, mục đích là để hạ thấp uy danh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, để mong làm tróc thủy phần nào của một tấm gương, nhưng dù cho đến ngày tận thế, th́ bọn chúng cũng đừng ḥng được toại ư, v́ tấm gương ấy quá toàn bích.

Chính v́ thế, mà tôi đoan chắc rằng: Không phải riêng đối với những tên gian manh kia, mà cả trên quả địa cầu này, cũng không một ai có thể làm nổi chuyện đó, bởi lịch sử vốn công bằng, bởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm Người đă có Công Nghiệp Vĩ Đại là đă khai sinh ra nước Việt Nam Cộng Ḥa. Đă một thời xây dựng được một Miền Nam Tự Do Thanh B́nh thực sự. Và với Tài-Đức, Liêm-Khiết, Nhân-Từ: Người đă tận hiến cả đời ḿnh cho Quốc Gia và Dân Tộc, với chân lư đó, th́:

Đời Đời h́nh ảnh của Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm: Bậc Anh Hùng đă Vị quốc Vong Thân vấn măi măi uy-nghi, ngời sáng và Bất-Tử trong tâm trí của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

 

 

 

NGÔ Đ̀NH NHU (1910-1963)

MỘT NHÀ CHIẾN LƯỢC CÓ TẦM CỠ

Tác giả: Ḥa Giang Đỗ Hữu Nghiêm

Sinh viên Ngô Đ́nh Nhu làm tiểu luận kết thúc khóa học với nhan đề là: ‘’Les Moeurs Et Les Coutumes Des Annamites Du Tonkin Au Xviie Siècle (2). (Phong Tục Tập Quán Của Người An Nam ở Bắc Kỳ vào thế kỷ XVII).

Trong danh sách các thí sinh tốt nghiệp năm 1938, sinh viên Nhu được xếp cuối cùng ba trong số mười ba sinh viên tŕnh luận văn tốt nghiệp, nhưng không theo thứ tự ABC(3).

 

 

CHÂN DUNG ÔNG NGÔ Đ̀NH NHU

I.  Thân Thế Ngô Đ́nh Nhu

Thời Thơ Ấu Và Thanh Niên, 1910-1955

Ông Ngô Đ́nh Nhu (1910- 1963), sinh ngày 3 tháng 10 năm 1910 (có tài liệu ghi 1911 ở Huế) tại Làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy Tỉnh Quảng Binh, lúc nhỏ đi tu tại Tiểu Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị được một thời gian th́ hồi tục. Khác với nhiều người trong gia đ́nh theo ngành học có xu hướng cựu học, cậu Nhu cùng với cậu Luyện, được gia đ́nh cho đi du học Pháp theo Tây học khoảng đầu thập niên 1930.

Trong những năm 1935-1938, các thanh niên sinh viên Trần Văn Chương, Trần Đức Thảo, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường đang theo học bên Trường Luật và Văn Khoa tại Viện Đại Học Sorbonne, Paris, th́ sinh viên Ngô Đ́nh Nhu theo học Trường Quốc Gia Cổ Điến Học (Ecole Nationale des Chartes) (1)

Điều kiện nhập học là ứng sinh phải có Văn Bằng Tú Tài Toàn Phần theo chương tŕnh Pháp. Mỗi khóa học kéo dài trong 4 năm, khi đó thường chỉ nhận 20 tuyển sinh. Trong các sinh viên Việt Nam, chỉ một ḿnh cậu Ngô Đ́nh Nhu trúng tuyển. Sau Nhu, có sinh viên Nguyễn Thiệu Lâu, nhưng Lâu chỉ học được một năm, th́ phải bỏ dở v́ lư do sức khỏe tâm lư. Anh Ngô Đ́nh Nhu có trí khôn thông minh sắc bén và thâm trầm, ít nói và thường ch́m đắm trong suy tư, có xu hướng tích cực tham gia đời sống trí thức xă hội.

Sinh viên Ngô Đ́nh Nhu làm tiểu luận kết thúc khóa học với nhan đề là: ‘’Les Moeurs Et Les Coutumes Des Annamites Du Tonkin Au Xviie Siècle (2). (Phong Tục Tập Quán Của Người An Nam ở Bắc Kỳ vào thế kỷ XVII)

Trong danh sách các thí sinh tốt nghiệp năm 1938, sinh viên Nhu được xếp cuối cùng ba trong số mười ba sinh viên tŕnh luận văn tốt nghiệp, nhưng không theo thứ tự ABC(3).

Nhưng trong một bài viết của Nguyễn Lư Tưởng không biết dựa vào nguồn tư liệu nào, tác giả đă ghi Ngô Đ́nh Nhu làm đề tài có tên khác(4)  

Anh Nhu tốt nghiệp Khoa Cổ Điển Học năm 1938 [có học giả ghi là những năm 1930]. Văn bằng tốt nghiệp này tương đương Văn Bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp.

Lập Gia Đ́nh Với Cô Trần Lệ Xuân

1. Tân khoa Ngô Đ́nh Nhu về nước được bổ trước hết làm Quản Thủ Văn khố Ṭa Khâm Sứ Huế (1943) sau ra Hà Nội làm việc tại Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ và Tổng Văn Khố Quốc Gia (1945, thời Thủ Tướng Trần Trọng Kim), tức Giám Đốc Quản Thủ Thư Viện Trung Ương Đông Dương tại Hà Nội. Vào thời gian ấy, anh thanh niên Ngô Đ́nh Nhu năng tham gia tích cực những lớp huấn luyện Thanh Niên Công Giáo về xă hội. Đúng như hồi ức hiếm có của một chứng nhân tuổi nhỏ khi đó ở Hà Nội:

‘’…Nhớ lại,  khi ấy, tôi c̣n rất trẻ. Tôi đă đôi lần theo anh cả tôi ‘’đi học’’ một người là ông Ngô Đ́nh Nhu. Không biết bằng cách nào, do ai nói mà tôi vẫn nhớ đinh ninh đó là những lớp học về xă hội. Sau này, đọc sách vở th́ tôi hiểu đó là những khóa huấn luyện cho thanh niên hồi đó.

Đầu óc làm chính trị, nh́n xa nên nhóm ông Nhu đă mở ra các lớp huấn luyện này để chuẩn bị khi thời cơ đến. Thành phần những người theo học, căn cứ vào anh cả tôi th́ họ phải có tŕnh độ tương đương tú tài hoặc hơn thế nữa. Chắc phần lớn là người theo đạo Thiên Chúa Giáo. Các buổi học đều diễn ra vào buổi chiều thứ năm, tại 40 Phố Nhà Chung Hà Nội.

Tại sao tôi lại nhớ là chiều Thứ Năm? Bởi v́ tôi theo học tại Trường Ḍng Chúa Cứu Thế nên ngày Thứ Năm là ngày ‘’sortie’’, chúng tôi được nghỉ đi chơi hoặc về thăm gia đ́nh.  Tôi về thăm chỗ anh tôi nên bắt buộc phải đi theo anh tôi ‘’theo học’’ lớp Xă hội. Có lẽ, tôi là học viên trẻ tuổi nhất ngồi hàng ghế cuối. Pḥng học chỉ có một cửa lớn ra vào nên mọi người phải đi qua cửa này để vào pḥng học.

Trong những dịp này, tôi được nh́n thấy ông Ngô Đ́nh Nhu. Dưới mắt một đứa bé con th́ anh tôi là người tài giỏi hơn người…’’                                                  

‘’…Vậy mà ông này, cái ông dáng người cao gầy, da nám xám, mái tóc rậm đen lại c̣n là thầy dạy anh tôi. Ông phải giỏi biết chừng nào. Nh́n ông mà trong ḷng chỉ biết nể phục.

Ông Nhu luôn luôn mặc loại áo bốn túi bỏ ra ngoài. Áo bốn túi mầu nâu hồng nhạt. Ăn mặc khá dản dị. Cười nhếch mép và nhẹ nhàng khi đi qua những người đứng trước cửa. Ít nói và điềm đạm.

Mặc dù chỉ là kư ức của một đứa trẻ con, tôi nghĩ rằng nay nhắc lại có thể giúp thêm sử liệu về những hoạt động của ông Nhu khi c̣n ở Hà Nội. Việc ông lấy bà Nhu cũng đă gây một dư luận khá ồn ào lúc bấy giờ ở Hà Nội. V́ một lẽ dản dị là cả hai ông bà đều thuộc những gia đ́nh danh gia vọng tộc’’ (5)  

2. Sau biến cố chính trị tháng 8.1945, Ngô Đ́nh Nhu tiếp tục làm ở Văn Khố theo bổ nhiệm của Bộ Trưởng Vơ nguyên Giáp (6). E. Miller có nói ‘’dường như’’ Ngô Đ́nh Nhu vẫn giữ công việc của ḿnh tại Thư Viện Quốc Gia trong suốt quăng thời gian Hà Nội nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh theo các điều hiểu biết của tác giả bài viết ‘’Lịch sử đầy đủ về gia đ́nh Cụ Ngô Đ́nh Diệm’’, trong báo Sài G̣n Mới, ngày 23 tháng 6 năm 1954. Nhưng với các chứng liệu người viết đă thu thập, th́ việc ông Nhu ở lại Hà Nội làm việc sau biến cố Mùa Thu 1945 là chắc chắn. Điều này chứng tỏ tinh thần ái quốc và dân tộc tích cực của Ngô Đ́nh Nhu rất cao trong luồng diễn biến chung các sự kiện lịch sử của cả nước lúc đó (7)

Sau hai thanh niên sinh viên Nhu và Lâu, th́ măi đến năm 1966, mới có một nữ sinh viên Việt Nam tốt nghiệp khoa này là cô Đặng Phương Nghi (8). Cô Nghi sau về nước làm Giám Đốc Thư Viện Trung Ương Việt Nam Cộng Ḥa I ở Sài G̣n.

Chính thời gian học ở Paris, Pháp, hai gia đ́nh và hai thanh niên Ngô Đ́nh Nhu và Trần Văn Chương đă có cơ hội quen biết nhau.

Khi làm Quản Thủ Thư Viện Trung Ương tại Hà Nội, Ngô Đ́nh Nhu hơn cô nữ sinh Trần Lệ Xuân 15 tuổi. Năm 1943, Xuân đậu Tú Tài I Pháp, dự định thi xong Tú Tài 2 sẽ học ngành Luật theo gương cha. Nhưng do mối quan hệ từ lâu giữa hai gia đ́nh Trần-Ngô, nên hai danh tộc sớm chuẩn bị gả con cho nhau và ưng thuận trở thành Thông Gia

3. Từ lúc c̣n ở trung học, một người tên là Hoàng Việt có một thời được giới thiệu làm gia sư, phụ giáo cho Trần Lệ Xuân khi cô mới được 17 tuổi, để học ăn học nói xơi tiếng Việt và cách cư xử khi ra trường đời theo thói quen của nhiều danh gia vọng tộc quyền quư thời đó.  Sự chênh lệch về tuổi tác ngay lúc đó ở Hà Nội giữa hai người gây nhiều dư luận xôn xao,  nhất là sau chính biến 1.11.1963, trong tương lai.

Để có thể tiến hành việc hôn nhân, theo tinh thần Công Giáo, cô Trần Lệ Xuân ưng thuận từ bỏ Phật Giáo, chấp nhận đức tin mới, tự nguyện xin gia nhập Công Giáo và chịu phép Thánh Tẩy theo nghi thức Công Giáo ở Nhà Thờ Lớn Hà Nội, do chính Giám Mục Ngô Đ́nh Thục chủ lễ với nhiều quan chức đạo đời tham dự. Khi đó là năm 1943.

Chỉ khoảng gần nửa tháng sau là cô Xuân rửa tội, hai họ Ngô-Trần tổ chức ngay Hôn Lễ. Thánh Lễ Hôn Phối được tổ chức trọng thể tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội vẫn do Giám Mục Ngô Đ́nh Thục làm chủ tế, có Giám Mục F. Chaize Thịnh, quản nhiệm Địa Phận Hà Nội, cùng tham dự, với đông đảo Linh Mục, nam nữ Tu sĩ và giáo dân Pháp, Nam và nhiều quí khách,  thân hữu ngoài đời thường của hai họ Ngô, Trần (9).

Về phía họ nhà gái, nhiều thân chủ sang trọng của gia đ́nh Luật Sư Trần Văn Chương,  có nhiều nhân vật quốc tế trong giới ngoại kiều như Pháp, Nhật, Hoa, các quan lại Nam triều.  Đám cưới diễn ra trong khi người Nhật vẫn c̣n đang chiếm đóng Đông Dương, đang tranh chấp gay go với phe đồng minh, tuy thế thắng đang nghiêng dần ngày càng rơ rệt về phía Mỹ ở chiến trường Á Đông Thái B́nh Dương.

Chiến trường Việt Nam đang chịu nhiều áp lực của Quân Đội Đồng Minh, mà chủ yếu là những cuộc không tạc chiến lược của Quân Đội Hoa Kỳ trên khăp các vùng có quân Nhật chiếm đóng. Dù t́nh h́nh căng thẳng như thế, vẫn có đến mấy chục xe hơi của quư khách và thân nhân tham dự đậu dài bên đường Gambetta Hà Nội, nơi cư ngụ của gia đ́nh họ Trần cùng với văn pḥng làm việc của Luật Sư Trần Văn Chương.

Đến tham dự thánh lễ hôn phối, người ta thấy cô dâu Trần Lệ Xuân đẹp đẽ, duyên dáng,  e ấp trong bộ đồ cưới trắng toát, có dát kim tuyến óng ánh vương giả, theo sau có hai cháu bé tay nâng đuôi áo cưới, tay cầm cành thiên tuế. Sau Thánh lễ hôn phối theo nghi thức Công Giáo, cô dâu vào bên trong nhà mặc áo, thay bộ quốc phục quần trắng áo dài gấm đỏ tha thướt, thêu vàng, đầu đội khăn màu thiên thanh, quấn nhiễu vàng gần giống lễ phục vương giả của Bà Nam Phương trong ngày lễ thành hôn với Vua Bảo Đại. Pháo hồng tươi nổ ḍn dă kéo dài khét lẹt trước dăy phố có ṭa biệt thự của gia đ́nh Luật Sư Trần Văn Chương. Xác pháo bây giờ trải đầy xác pháo hồng trên đường, ngập đến hết bàn chân của nhiều khách bộ hành đi qua lại trên mặt phố.

Đám rước dâu bên nhà trai đi đón dâu với tốp hai trẻ, tốp thứ nhất cầm hai đèn lồng đi trước, theo sau là tốp hai trẻ khác cầm hai nhành thiên tuế, nối tiếp với một đám tùy tùng đông đảo các trẻ em ôm hai con ngỗng trắng, câu án có bốn lọng đỏ, cau lồng, rượu ché, heo đóng cũi, ḅ đeo bông…kiểu truyền thống vọng tộc đất Thần Kinh xứ Huế. Cô dâu được rước về quê nhà họ Ngô ở Phú Cam, Huế theo lễ nghi trang trọng.

Dấn Thân Vào Hoạt Động Xă Hội, Chính Trị

Đôi trai tài gái sắc thành hôn chỉ được khoảng hai năm sau, th́ hàng loạt chính biến tháng 8 và 9 năm 1945 lần lượt diễn ra trên cả nước từ Bắc Trung Nam. Kỷ niệm đau ḷng đối với những người kháng chiến quốc gia khi ấy là lực lượng Việt Minh đă lợi dụng t́nh thế truy lùng và sát hại rất nhiều nhân vật và cơ sở của các đảng viên và chính đảng không có xu hướng cộng sản, dường như muốn giành lấy hết công lao và vinh dự của một ḿnh phong trào Việt Minh lănh đạo kháng chiến giành độc lập cho dân tộc.

V́ thế, lúc đó khi được tin người anh là ông Ngô Đ́nh Diệm bị Việt Minh bắt giữ, Ngô Đ́nh Nhu đang làm việc tại Thư Viện Đông Dương, và đang tham gia vào kế hoạch cải tổ cho nền giáo dục toàn quốc. Theo một nguồn tin có chứng liệu (11), ông Nhu là 1 trong 14 thành viên trong Ban Cải Cách Giáo Dục, phụ trách Chương Tŕnh Trung Học, do Bộ Trưởng Giáo Dục  Hoàng Xuân Hăn lănh đạo. Nhà sử học cần mẫn của Mỹ đă nghiên cứu tỉ mỉ vào những hoạt động của Ngô Đ́nh Nhu có nhận xét ông này có cá tính riêng biệt. (12) Nhưng chắc các biến cố, có thể nguy hiểm cho bản thân và gia đ́nh, cùng mưu tính hoạt động chính trị ái quốc không theo kiểu cộng sản, đă khiến ông phải vội bỏ nhiệm sở, t́m đường chạy vào tá túc ở Thanh Hóa, Phát Diệm, c̣n Bà Trần Lệ Xuân một ḿnh vội t́m đường chạy thoát về Phú Cam. Có lẽ sau ngày 19.12.1946, ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp do phong trào Việt Minh phát động, th́ Ông Nhu mới chạy vào khu Tư ở vùng Thanh Nghệ, có lần thám sát vùng biên giới Lào Việt ở khu vực đó. Cuộc đời và sinh hoạt của gia đ́nh Ngô tộc không tách rời với bối cảnh liên hệ chung của những thành phần khác (13). Ông Nhu cùng với nhóm an hem đồng chí hướng âm thầm nhưng tích cực chuẩn bị cho kế hoạch lên nắm quyền của ông Ngô Đ́nh Diệm.

Biến Cố Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Huân và Phạm Quỳnh (28.8.1945)

Trong lúc biến cố diễn ra, sau khi Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, có lẽ ông Ngô Đ́nh Khôi khuyên vua Bảo Đại đừng trao chính quyền cho Việt Minh do Hồ Chí Minh lănh đạo. Ông đă tương kế tựu kế sử dụng người Nhật một cách khôn khéo cầm cự với phong trào Việt Minh... Có thể v́ lư do đó, ngày 28.08.1945, ông Ngô Đ́nh Khôi (14) (1891?-1945) bị Việt Minh dẫn đi và thủ tiêu cùng với con trai ông là Ngô Đ́nh Huân và Phạm Quỳnh (Thượng Thư Bộ Lại, thời Bảo Đại).

Giới chức cộng sản Việt Nam sau khi cưỡng chiếm cả nước mới tiết lộ và nh́n nhận sự thật phũ phàng này. Việc bắt giết đó nhằm mục đích trả thù cá nhân dưới mỹ từ đẹp đẽ nhưng sắt máu ‘’đấu tranh giai cấp’’, kiểu ‘’đấu tố địa chủ cường hào’’. Cách hành động này không xét xử và tuyên án công khai, được nhập khẩu và chỉ đạo từ Trung Quốc cộng sản diễn ra trên khắp phần đất do cộng sản Việt Nam kiểm soát, nhất là trong những năm 1950-1955.

Ông Ngô Đ́nh Khôi (1895 ?-1945): Tốt nghiệp Trường Quốc Tử Giám ở Huế, năm 1910, bắt đầu làm việc ở Bộ Binh dưới quyền Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài và cưới cô Nguyễn Thị Giang, con gái Ông Nguyễn Hữu Bài làm vợ. Dần dần Ông lên đến Tổng Đốc Nam-Ngăi (1930) rồi Tổng Kinh Lược các Tỉnh miền Nam Trung Kỳ (1933). Năm 1943 ông hoạt động công khai, ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để lúc đó đang tá túc ở Nhật, nên ông phải từ bỏ các nhiệm vụ ở Nam triều do người Pháp kiểm soát.

Ông Ngô Đ́nh Khôi cai quản trên đất Quảng Nam và ông Ngô Đ́nh Huân làm Thanh Tra Lao Động. Tài liệu cộng sản sau này có nói Ngô Đ́nh Huân làm Hiến Binh (?) cho quân đội Nhật với dụng ư lên án cha con ông làm tay sai cho Nhật, nhưng thực ra việc làm của họ đều gây khó khăn nhất định cho các hoạt động khuấy đảo tàn bạo của cộng sản Việt Nam trên đất Quảng Nam.

Hai cha con đều bị tay chân Việt Minh ở địa phương sát hại ban đêm tại Hát Phú, cách Huế 20 cây số. Ngày 28 Tết năm 1958, gia đ́nh họ Ngô mới t́m thấy hài cốt cha con cùng chôn một hố chôn chung với Thượng Thư Phạm Quỳnh. Tử thi của cả ba người đều được thân nhân nhận diện và cải táng. Sau đó di cốt của hai cha con ông Khôi được chôn lại trong nghĩa trang gia đ́nh tại Phú Cam, Huế. 

Nhóm Hoạt Động Xă Hội Cần Lao

1. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, th́ người ta mới phát hiện ông Ngô Đ́nh Nhu thoát khỏi Hà Nội. Trước khi đến Thanh Hóa, Ngô Đ́nh Nhu cùng với Hoàng Bá Vinh và một số thân hữu ṇng cốt về Phát Diệm lập khu an toàn. Chính thời gian này ông Nhu manh nha thành lập cùng với nhiều người đồng chí hướng, tổ chức Liên Đoàn Kháng Chiến Cần Lao Việt Nam.

Khi Việt Minh bị quân Việt-Pháp đánh bật khỏi Hà Nội, th́ ông Nhu trở lại Hà Nội,  với một Linh Mục mà tài liệu cộng sản Việt Nam gọi tên là Trọng, đem theo một cán bộ quốc gia có bản lĩnh, nói là ở Điền Hộ, từ Hà Trung mới ra. Nhân vật này, người nhỏ bé, xuất thân từ Chủng Viện Thanh Hóa, tính t́nh thông minh điềm đạm. Theo Lương Khải Minh ghi lại, đó là một thanh niên tự xưng là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, sau này cầm đầu Ngành T́nh Báo một thời trong chế độ Ngô Đ́nh Diệm (15).

Chính tại Thanh Hóa Phát Diệm, ông Nhu cùng một số nhân sĩ trí thức đă chuẩn bị cơ cấu ban đầu nhân sự và tổ chức, thành lập Đảng Cần Lao sau này làm ṇng cốt cho tổ chức chính trị của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa từ 1954-1963. Nhưng đồng chí ṇng cốt đầu tiên là: Luật Sư Lê Quang Luật, Hoàng Bá Vinh, Trần Kim Tuyến, Đái Đức Tuấn, tức Mai Nguyệt,  Tchya, với tên gọi ban đầu là Nhóm Xă Hội Công Giáo (1946-1954) là nhóm cột trụ sau này của Đảng Cần Lao Nhân Vị. 

Về tới Hà Nội, ông Nhu mới hay biết vợ ông vẫn sống b́nh an và c̣n ở Huế. Nhưng sau đó ông lại được tin vợ ông đă về Đà Lạt (16) với gia đ́nh người chị là Lệ Chi (1947-1951). Dần dần ông Nhu bắt lại liên lạc với Giám Mục Ngô Đ́nh Thục ở Vĩnh Long, và ông Ngô Đ́nh Luyện ở Sài G̣n. Sau chính biến Tháng Tám 1945, ông Ngô Đ́nh Diệm bị cộng sản bắt giữ (như đă nói trên), rồi giải giam tại Việt Bắc, nhưng với sự can thiệp của Giám Mục Lê Hữu Từ, cùng v́ nhiều áp lực từ t́nh h́nh chính trị phức tạp trong nước và quốc tế, Hồ chí Minh phải trả tự do cho Ngô Đ́nh Diệm đầu năm 1946, như một chiến lược tương kế tựu kế,  thu phục nhân tâm nhân sĩ và quan lại của cựu trào. 

2. Ở Hà Nội, theo một số tài liệu, ông Ngô Đ́nh Diệm tá túc tại Ḍng Chúa Cứu Thế ở khu Tu Viện Nhà Thờ Nam Đồng ở Thái Hà Ấp.

Chính từ đây ông Ngô Đ́nh Diệm dần dần mở rộng liên lạc lại được với các nơi. Thời kỳ này ông Ngô Đ́nh Diệm đă tiếp xúc với Linh Mục Nguyễn Văn Thính. Từ Nhà Thờ Nam Đồng, mấy cán bộ thân tín, như Nguyễn Văn Châu (sau này làm Đại Tá, Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư, Bộ Quốc Pḥng, Việt Nam Cộng Ḥa), Đỗ Mậu (sau này làm Đại Tá An Ninh Quân Đội) sang Phúc Xá liên lạc với Linh Mục Bằng. Khi Linh Mục Bằng bị bắt giết, ông Ngô Đ́nh Diệm vào Sài G̣n tá túc tại nhà ông Ngô Đ́nh Luyện (ở số 2, Đường Armand Rousseau (tức số 8 Đường Nguyễn Văn Tráng sau này). Nơi này về sau chính là cơ sở Trường Y Khoa thuộc Viện Đại Học Minh Đức

Khi nghe tin vợ đang ở Đà Lạt, ông Nhu liền t́m lên theo. Trong cảnh nhiễu nhương bấp bênh, cặp vợ chồng trẻ sống chật vật nhưng can đảm và hết t́nh trong cảnh thắt lưng buộc bụng thiếu thốn đạm bạc. Bà Nhu lo cho chồng từng bao thuốc lá Bastos Xanh, mà ông say mê và suốt ngày chỉ vùi đầu miệt mài với sách vở. Có lúc bà phải đích thân ra chợ mua từng bó rau lạng thịt về chung nhau ăn từng bữa. Có khi bà phải đem bán cả ṿng xuyến vàng đeo cổ kỷ niệm ngày cưới đế có tiền sinh sống qua ngày. Ông Nhu can trường chịu dựng với bộ quần áo sơmi cụt tay và chiêc quần gabardine. Cảnh sống khem khổ ấy chứng tỏ hai ông bà luôn luôn đằm thắm nhẫn nại trong tính nghĩa vợ chồng, dù trong những phút khó khăn. Nhưng lư tưởng xây dựng một xă hội Việt Nam nhân bản không rời xa những câu chuyện bàn bạc của ông thật say sưa và nhiều mưu lược với bạn bè. Có lúc dường như đam mê chính trị và lư tưởng xă hội lấn át cả những t́nh cảm và bổn phận gia đ́nh. Đúng là tác phong quên ḿnh của một người có dầu óc chiến lược và tầm nh́n xa trông rộng. Từ khi lựa chọn sinh viên của École des Chartes, cậu Nhu đă bộc lộ một trí thông minh sắc sảo, một con người có óc tổ chức khiến nhiều người phát ghen, nhưng lại nể phục!

Sau khi ông Ngô Đ́nh Diệm qua Mỹ (1950), ông Ngô Đ́nh Nhu về Sài G̣n liên lạc với các tôn giáo, đảng phái, xuất bản Nguyệt San Xă Hội, phổ biến tư tưởng chính trị của ông.  Tháng 09.1953, ông tham gia Phong Trào Đại Đoàn Kết và Ḥa B́nh với tư cách đại diện Công Giáo. Phong Trào này họp tại Sài G̣n ngày 6.09.1953 qui tụ các đại biểu Công Giáo,  Cao Đài, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên, Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng và một số nhân sĩ, trí thức Trung, Nam, Bắc...tất cả 65 đại biểu. (17)

Năm 1954, trước t́nh h́nh nghiêm trọng có thể xoay chuyển số phận đất nước, sau khi căn cứ Điện Biên Phủ của Pháp bị thất thủ (07.05.1954), Quốc Trưởng Bảo Đại đă cử Ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng (toàn quyền): Ngày 07.07.1954, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm tŕnh diện Tân Chính Phủ tại Sài G̣n, Ông Ngô Đ́nh Nhu làm Cố Vấn Chính Trị cho Ông Diệm, một chức vụ mà không bao giờ được bổ nhiệm chính thức đến khi ông bị sát hại ở độ tuổi đang sung sức, ít ra về nhận thức và kinh nghiệm chính trị.

Ông Nhu là một lư thuyết gia cừ khôi xây dựng chủ nghĩa Nhân Vị và là một nhà chiến lược chính trị sâu sắc đến độ đam mê. Như một cặp bài trùng, đă hết sức giúp ông Diệm ổn định t́nh h́nh, đối phó với các tổ chức chính trị đối lập tại miền Nam, có cả hoạt động bí mật của cộng sản ở miền Nam trong lúc các sinh hoạt của cộng sản Việt Nam đều công khai ở miền Bắc...

Ông thành lập đảng chính trị Cần Lao, dựa vào một chủ thuyết về cơ bản do ông khởi xướng là Học Thuyết Cần Lao-Nhân Vị để hỗ trợ chính quyền của người anh ông. Một phần nào vận dụng viện trợ của người Mỹ, đảng Cần Lao phát triển lên nhanh chóng, thâm nhập vào hàng ngũ quân đội, công chức, trí thức và cả giới kinh doanh và trở thành chính đảng lớn nhất thời bấy giờ. Đồng thời, ông cũng cho thành lập tổ chức ‘’Thanh Niên Cộng Ḥa’’ nhằm qui tụ và huấn luyện theo mô h́nh chặt chẽ và hoạt động tích cực, có hiệu quả do ông làm Tổng Thủ Lănh. Một tổ chức khác cũng được thành lập với mục đích như trên, dành cho giới nữ lấy tên là ‘’Phụ Nữ Liên Đới’’ do vợ ông, Bà Trần Lệ Xuân, làm Tổng Thủ Lănh. Hai tổ chức này là hai cánh tay nối dài của Đảng Cần Lao Nhân Vị, kiểu như các đoàn thể trong tổ chức Mặt trận tổ quốc của cộng sản, nhưng theo mục đích khác biệt nếu không phải là đối lập. Sau khi chế độ suy tàn biết bao xích bác, lời khen tiếng chê đủ điều được dịp nói đến bà, từ phía những người cộng sản cùng phên dậu của họ và nhiều cá nhân và đảng phái quốc gia không có thiện cảm hay không đồng ư với cá nhân bà và gia đ́nh họ Ngô Đ́nh.

Trên danh nghĩa là một Cố Vấn chính trị, nhưng hầu như nhiều nhà chiến lược và nhiều tài liệu đều ghi nhận, ngoài ông Ngô Đ́nh Diệm, ông Nhu mới là kiến trúc sư xây dựng rường cột của chế độ. Ông hoạch định tư tưởng và xây dựng các cấu trúc từ thượng tầng ở trung ương đến hạ tầng ở địa phương, nông sơn thôn của chế độ. Ông Nhu là người khởi xướng chính yếu mọi chủ trương chính sách của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Ông cũng cho lập và trực tiếp điều phối nhiều Cơ Quan T́nh Báo và Mật Vụ ( có tới 13 cơ quan) với những quyền lực to lớn như có thể bắt giam người không cần xét xử trước.

Trong cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963 do phe Quân Nhân chủ động ông Nhu đă bị thảm sát cùng một lần với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vào ngày 02.11.1963 theo lệnh của Mỹ.   

Một H́nh Ảnh Về Cuộc Đời Của Hai Anh Em Diệm Nhu

Thay cho lời kết luận, người viết chỉ ghi lại một lời chứng của một Quân Y Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa có ư nghĩa ‘’novissima verba’’ đối với người đă chết và những thương tiếc bản thân chế độ, đất nước mà hai ông hết ḷng phục vụ, v́ lợi ích của cộng đồng dân tộc và nhân dân cho đến chết:

Phục Vụ Đất Nước Đến Chết

‘’...tôi (tức ông Đôn) quả quyết rằng: ‘’Không có lời phát biểu công khai nào của Tướng Tá lúc đó đ̣i phải xử tử hai ông Diệm và Nhu...’’ người ta không khỏi ph́ cười và chê là lư luận quá ngây thơ (không ‘’công khai’’ tức là phải hiểu ‘’bí mật’’ chăng?)

Để làm sáng tỏ vấn đề hơn, về điểm này, Linh Mục Cao Văn Luận đă viết như sau: ‘’Khi xác chết anh em ông Diệm được đưa vào nhà thương Saint-Paul th́ giây trói quật cánh khuỷu hai người vẫn c̣n nguyên.

Trên ngực ông Nhu có nhiều vết thương do dao đâm vào và một vết đạn súng lục trên đầu. Trên thân thể ông Diệm chỉ có một vết thương ở đầu’’.

Một người lính Thiết Giáp kể rằng ông Nhung (Thiếu Tá) (lúc đang nói ở đây ông Nhung chưa được thăng Thiếu Tá-lời ghi chú thêm của người viết) vốn có một người bà con theo đảng Đại Việt bị bắt và xử tử hay thủ tiêu trong thời kỳ cực thịnh của chế độ họ Ngô, đă căi vả mắng chửi ông Nhu.

Ông Nhu nh́n ông Nhung cách lạnh lùng, khinh bỉ, và nói vài tiếng tỏ vẻ khinh miệt.

Ông Nhung đă giật súng có gắn lưỡi lê của một người lính Thiết Giáp đâm ông Nhu nhiều lát sau lưng, rồi ông Nhu ngă gục, nhưng vẫn chưa chết ngay, th́ ông Nhung bắn một phát đạn súng lục vào đầu. Các cuộc khám nghiệm sau đó, và các phóng ảnh cho thấy ông Nhu bị nhiều vết thương do vật bén nhọn đâm từ lưng chổ ra bụng, và một vết đạn ở đầu.

Sau khi ông Nhu bị đâm nhiều lát, ông Nhung đă bắn một phát súng lục vào đầu ông Diệm, và phát đạn này kết liễu cuộc đời ông Diệm ngay lập tức (những tấm h́nh này, trong cuộc họp báo ngày 5.11.63 tại Bộ Tổng Tham Mưu, Đỗ Mậu đă trưng ra như một bằng chứng cụ thể xác nhận anh em Cố Tổng Thống Diệm đă chết thật, v́ lúc đó c̣n rất nhiều người hoài nghi hai ông chưa chết.  (lời ghi chú thêm của người viết (Phụng Hồng)).

Một người khác kể thêm rằng, khi bắt được hai anh em ông Diệm trói quật cánh khuỷu, dẫn từ Nhà Thờ ra xe thiết giáp, Tướng Mai Hữu Xuân đă đánh điện về các Tướng lănh tại Bộ Tổng Tham Mưu chỉ huy cuộc đảo chánh xin chỉ thị, sau một lúc bàn căi, các Tướng lănh đă bỏ phiếu với đa số quyết định phải thủ tiêu ông Diệm gấp, v́ lo sợ nếu để ông Diệm sống sót, th́ một số đơn vị Quân Đội có thể ủng hộ ông chống lại phe đảo chánh’’ (7)

Trích dẫn đoạn trên của Cha Luận (cũng là một nhân chứng!), tôi (người viết Phụng Hồng) muốn nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng vụ mưu sát hai anh em Cố Tổng Thống Diệm là một dự mưu đă được tính toán trước bởi một số Tướng lănh phản bội toa rập với đề nghị của ngoại bang (v́ nếu không thỏa măn yêu cầu của họ th́ họ không ủng hộ cuộc đảo chánh th́ sức mấy mà thành công!).

Tiếc thay, ông Đôn đă cố t́nh miêu tả một cách hời hợt, như ngầm đổ lỗi cho Đại Úy Nhung, sĩ quan cận vệ tay chân của ông Minh, tự ư giết (trang 238), và ḿnh không có trách nhiệm ǵ. Tuy nhiên, ta vẫn thấy ở một trang khác, tác giả đă để lộ ư định cho rằng giết Tổng Thống Diệm là đúng (trang  250). Chính trong cuốn ‘’Our Endless War’’ (8), ông Đôn đă viết chương ‘’Diem Must Go’’ và đă biện minh cho việc giết Tổng Thống Diệm là hợp lư. Đọc đến đây, người ta băn khoăn tự hỏi nếu ông Đôn chối bỏ hành động cố sát Tổng Thống Diệm th́ tại sao lại ngụy biện vậy? Thật là mâu thuẫn không thể hiểu được! Đó là một sai lầm lớn’’.  (18)

Nếu Hai Ông Không Bị Sát Hại, Số Phận Đất Nước Có Thể Chuyển Biến Tích Cực Khác

Muốn mượn lời người khác, người viết dẫn chứng tác giả Phụng Hồng làm rơ thêm luồng tư tưởng này như sau:

‘’…tôi (người viết Phụng Hồng) muốn mời bạn đọc t́m hiểu thêm một ư kiến khách quan của một người ngoại cuộc, ông Von Wenland, Đại Sứ Cộng Ḥa Liên Bang Đức tại Việt Nam. Ông này đă tâm t́nh với Cha Luận rất lâu sau ngày đảo chánh. Cha Luận đă viết:

‘’Trước hết tôi đến gặp Đại Sứ Đức là ông Von Wenland. Ông này phàn nàn về cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Tuy nhiên ông biết ông Diệm và chế độ của ông không tránh khỏi một vài tiếng khiếm khuyết nhưng không ai có thể phủ nhận những thiện chí của ông Diệm đối với Quốc Gia’’.

Cái chết của ông Diệm làm cho tương lai Việt Nam trở nên đen tối hơn. Tôi c̣n nhớ một đoạn trong câu chuyện của ông Đại Sứ Đức:

Tôi không theo tôn giáo nào cả, nhưng tôi tin rằng giờ đây linh hồn ông Diệm sẽ phảng phất nơi đây và sẽ gieo nhiều tai họa cho xứ sở ḿnh.

Mặt ông đượm buồn, và giọng ông hết sức chua chát. Ông cho biết ông đă đệ đơn từ chức và sẽ rời Việt Nam trong ít lâu.  (9)

Và sự thật cũng đă chứng minh một ách hùng hồn như chúng ta đă từng là Nhân Chứng từ 1975 đến nay. Vậy ta có thể kết luận một cách đau ḷng rằng ‘’Cuộc Đảo Chánh 1.11.63 đă làm cho Việt Nam mất vào tay giặc cộng sản Bắc Việt’’

Bạn có đồng ư với tôi [Phụng Hồng] không? Nếu bạn không đồng ư, xin mời bạn hăy đọc tiếp đoạn này:

‘’...Cái chết của ông Diệm và ông Nhu đă làm cho một số người Mỹ xúc động và quay trở lại có cảm t́nh với ông Diệm hơn trước. Bộ mặt của những người thay thế ông Diệm cũng dần dần hiện rơ và người Mỹ thấy bộ mặt đó chẳng đẹp đẽ ǵ hơn’’.

Những người Mỹ trong đó có cựu Đại Sứ Nolting, Tướng Harkins, ông Richardson,  Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo Mỹ (CIA) tại Việt Nam lên tiếng cảnh cáo rằng cuộc cách mạng 1.11 chẳng những sẽ không cải thiện được t́nh h́nh quân sự và chính trị tại Việt Nam như nhiều người Mỹ mong cầu, mà trái lại sẽ làm cho t́nh h́nh chung tồi tệ hơn. Những hỗn loạn chính trị đă bắt đầu diễn ra và về mặt quân sự, Quân Đội Việt Nam măi lo canh gác Sài G̣n và các đô thị lớn để đề pḥng phe ông Diệm đă gần như bỏ trống các vùng nông thôn cho việt cộng’’. (10) (sự băi bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược mà việt cộng từng ghê sợ nhất, là một thí dụ điển h́nh-lời ghi chú thêm của người viết [Phụng Hồng]).

Đây là một bằng chứng hùng hồn nhất, một bài học lịch sử đau đớn nhất cho những ai từng tự vỗ ngực huênh hoang cho ḿnh là ‘’người hùng cách mạng’’, và tự đeo lon to nhất để suy gẫm lấy. Và tôi [Phụng Hồng] cũng muốn những người đă ‘’bái lạy tướng to lon’’ để mưu đồ đảo chánh, phản bội chủ ḿnh hăy tự kiểm điểm lại hành động ḿnh mà ăn năn hối lỗi.  Nhưng chậm quá rồi! Lịch sử và những vượt biên trên biển cả, những hồn thiêng trong Tết Mậu Thân, trong ‘’ḷ luộc người cải tạo’’ chắc chắn không bao giờ tha thứ bọn người này! Đó là một sự thật cay đắng mà ai nấy đều đă thấm thía khi phải ‘’tha phương cầu thực’’.

Và sau cùng, tôi [Phụng Hồng] muốn nhân dịp này nhắc lại câu nói để đời của William Colby, cựu Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo đă từng hoạt động nhiều năm tại Việt Nam, và là người am hiểu t́nh h́nh chính trị Sài G̣n hơn ai hết, khi hối tiếc về cái chết của Tổng Thống Diệm trong cuốn sách mới nhất của ông (11): ‘’Nếu ông Diệm c̣n, chưa chắc miền Nam mất’’. (19)

Những Dư Luận Thóa Mạ Chống Đối

Sau khi chế độ sụp đổ th́ không biết bao nhiêu lời thóa mạ được nói đến gia đ́nh họ Ngô, nhưng mấy người được tiếp xúc và có nhận xét nghiêm chỉnh quân b́nh về những con người đó.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lục đă tổng hợp đứng đắn những diều được nhiều người phát biểu:

Nhiều đàm tiếu diễn ra sau 1963, về gia đ́nh ông Nhu, những người như Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Đắc Xuân…Chỉ nhắc lại một lần cuối.

Trong bài kư: ‘’Theo Đoàn Sinh viên Huế, tham quan con đường ‘gặt băo’ của anh em Ngô Đ́nh Diệm ở Sài G̣n tháng 11.63’’, ông Xuân đă viết với lối viết quen thuộc, ỡm ờ nửa hư, nửa thực như sau:

‘’Suốt tuần qua báo chí Sài G̣n đăng nhiều phóng sự điều tra về những bí mật trong Dinh Gia Long, đặc biệt là những h́nh ảnh sex mà họ gán cho là của bà Trần Thị Lệ Xuân  (vợ cố vấn Ngô Đ́nh Nhu) người tự mệnh danh là đệ nhất phu nhân Việt Nam Cộng Ḥa. Do đó khi được vào tham quan, chúng tôi đến ngay pḥng ngủ của bà Lệ Xuân phía gần đường Pasteur. Cái pḥng này bị dân chúng phá tanh banh. Các sĩ quan chỉ cho chúng tôi hệ thống kính soi được lắp kính bốn mặt tường và họ giải thích rằng bà Lệ Xuân lắp hệ thống kính như thế để mọi hoạt động thân thể riêng tư của bà trong pḥng nầy bà có thể ngắm được từ nhiều phía. Và người ta cũng hướng dẫn cho chúng tôi rằng pḥng riêng của Tổng Thống Diệm gần pḥng riêng của cô em dâu. Ông Ngô Đ́nh Nhu muốn vào pḥng riêng của của vợ phải đi qua pḥng của anh trai ông. Không rơ thực hư như thế nào, cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu có đúng như thế không và tại sao như vậy’’  

Về nhóm sinh viên nằm vùng tranh đấu,  Nguyễn Đắc Xuân viết tiếp:

‘’Những thành viên trong đoàn sinh viên Huế đi tham quan ngày ấy, hiện nay vẫn c̣n ở Huế khá đông như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bác sĩ Phạm Thị Xuân Quế, anh Lư Văn Nghiên, ở Đà nẵng có bác sĩ Lê Quang Tái, ở TP Hồ chí Minh có Tiến sĩ Thái Thị Ngọc Dư,  nhà giáo Nguyễn Đ́nh Hiển, ở Đức có Tiến sĩ Thái Thị Kim Lan, ở Pháp có Lê Thị Thảo, ở Mỹ có Nguyễn Thị Kim Tri, ở Úc có Nguyễn Thị Kim Xuyến v.v...

Ba thành viên chủ chốt trong đoàn nay không c̣n nữa là Nhà thơ Trần Quang Long (ra trường năm 1965), tham gia kháng chiến và hy sinh ở chiến trường Tây Ninh năm 1968,  Nguyễn Thiết đang học năm thứ ba th́ thoát ly, phụ trách Thanh niên Thành ủy Huế, hy sinh năm 1968, Vĩnh Kha, về sau làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Huế, lănh đạo sinh viên phát động các cuộc đấu tranh chống các chính quyền Diệm mà không có Diệm. Kha mất v́ bệnh gan vào giữa những năm Tám mươi’’. 

Một Số Nhân Chứng Trực Tiếp

Dù có những dư luận kiểu đó, ông Ngô Bảo (nhà thầu tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật bên Pháp) có trách nhiệm trang trí tư dinh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho ông Nguyễn Văn Lục hay:

‘’Pḥng ăn Dinh Gia Long được trang trí với tranh sơn mài Thành Lễ. Riêng pḥng bà Nhu chỉ treo độc nhất một bức anh vẽ bán thân bà Nhu, do Họa Sĩ Nguyễn Khoa Toàn vẽ. Bức tranh vẽ bà Nhu mặc áo cánh lụa, có hơi rơ nét nổi lên phần ngực phía trong làn áo. Chỉ có vậy. Người viết hỏi thêm, có thấy các bức tường chung quanh pḥng bà Nhu đều có gương phản chiếu không? Ông Ngô Bảo cho biết: Làm ǵ có chuyện đó. Tường thường như mọi bức tường nhà khác’’.

Chi tiết được ông Ngô Bảo, nay đă 78 tuổi, cho biết chứng tỏ chắc chắn rằng Nguyễn Đắc Xuân đă bịa đặt, và đám nam nữ sinh viên cùng tham dự buổi tham quan Dinh Gia Long đă im lặng đồng lơa. 

Dù chỉ nh́n thoáng qua, ấn tượng về ông c̣n được ghi nhớ măi trong tôi. Nhiều ấn tượng c̣n được ghi khắc trong số học tṛ của ông Nhu có Linh Mục Phước. Linh Mục Phước kể lại cho Nguyễn Văn Lục hay biết:

‘’Là có dịp đi Đà lạt sau này, có đến thăm thày cũ. Ông đă hết lời nói về gia đ́nh thày của ḿnh. Ông Nhu th́ học cao, hiểu rộng, tài trí hơn người. Ai ai cũng phải nh́n nhận như vậy.

C̣n Cụ Đoàn Thêm có những nhận xét:  

‘’Về phương diện trí thức, tŕnh độ của ông Nhu rất cao. Học vấn cổ điển và nhân bản của ông rộng và vững. Qua lời nói ề à, kẻ chú ư có thể bắt gặp những nhận xét sâu sắc về người và việc, một sự khó thấy ở ông Diệm, và ít thấy ở người chung quanh’’.

Bà th́ vừa xinh, vừa trẻ đẹp, giữ ǵn gia phong nề nếp. Thêm một lần nữa, tôi có một ấn tượng rất tốt đẹp về bà Nhu. Theo Cha Phước khi đến thăm ông Nhu cùng với vài người khác ngồi ở pḥng khách. Chủ khách đàm đạo trong khi bà Nhu không dám ngồi mà chỉ đứng chắp tay vào nhau để trước bụng’’.

Đấy là cử chỉ của những gia đ́nh có lễ giáo nghiêm ngặt. Ông Nguyễn Văn Lục nghe biết câu chuyện này, khi c̣n ở ngoài Bắc trước khi có cuộc di cư. Nói xấu một người th́ dễ hơn là kính trọng người ta, v́ người ta thường thấy cái tiêu cực trong người khác hơn là thấy nết xấu ở nơi ḿnh. ‘’Chân ḿnh th́ lấm mê mê. Lại cầm bó đuốc mà rê chân người’’, đấy là cái thói ở đời bên Đông cũng như bên Tây. 

Sau gần 10 năm, tác giả Nguyễn Văn Lục lại có dịp khác ‘’gặp lại’’ ông Nhu trong một khung cảnh khác. Hồi ấy, anh c̣n là sinh viên Đại Học Đà Lạt nên thường tham dự những buổi lễ do nhà trường tổ chức. Ông Lục nhớ lại:

‘’Đôi lần lại có dịp được thấy ông Nhu. Ông không mặc áo bốn túi nữa, mà áo veste.  Gương mặt có phần trĩu nặng ưu tư. Mặc dầu là Cố Vấn Tổng Thống, ông xuất hiện hết sức low profile. Ngồi một góc. Im lặng. Ai khen th́ khen. Ai vỗ tay th́ vỗ. Ông vỗ nhẹ tay lấy lệ, c̣n vẫn ngồi bất động như thể đang nghĩ về một vấn đề ǵ khác. Gần như ông không chú ư đến ai cả. Có cảm tưởng như ông bắt buộc phải ngồi đó. Có thể ông ghét những thói bề ngoài ŕnh rang với đôi chút tâng bốc, xu phụng. Cả buổi lễ, ông chỉ ngồi chống tay trên thành ghế. Không nhúc nhích, không nói nửa lời’’. 

Cụ Đoàn Thêm nói tiếp về con người ông Nhu ‘’cử chỉ lạnh lùng bắt người ta nhớ đến câu của Racine gán cho Néron: ‘Ami ou ennemi, il suffit qu’on me craigne’ (Bạn hay thù,  miễn là họ biết sợ ḿnh là đủ)’’.

Phần tôi, có lẽ chẳng có lệ thuộc ǵ với ông, tôi nh́n chăm chăm vào ông. Kính phục th́ có, sợ th́ không.

Tôi dành cả buổi lễ quan sát ông không sót một cử chỉ nào. Ông khác hẳn các viên chức như các ông Trương Vĩnh Lễ, Trương Công Cừu. Cụ Lễ th́ khúm núm ra mặt. Các ông lần lượt lên rước lễ mà chắc hẳn ông Nhu không hề chú ư đến những cử chỉ, thái độ của mấy ông này.

Ông không phải là loại người của đám đông.

Cứ nghĩ lại coi, trong 9 năm cầm quyền. Có bao giờ thấy ông Nhu xuất hiện công khai,  đăng đàn diễn thuyết (chỉ trong trường hợp thuyết tŕnh học tập như ở Suối Lồ Ồ) đao to búa lớn, hay h́nh ảnh đăng dài dài trên báo hà rần, cờ xí, duyệt binh, gắn lon gắn chậu, tiền bạc xa hoa, xe cộ tiền hô hậu ủng.

Không. Ông Nhu ít xuất hiện, ít phô trương. Ngược lại kín đáo, nấp sau bóng dáng Tổng Thống. 

Căn cứ vào các số báo Lập Trường, Hành Tŕnh, Đất nước và Tŕnh bày sau 1963. Ông Lục không hề nghe thấy một lời phê phán về cá nhân ông Ngô Đ́nh Nhu. Tiền bạc không, nhà cửa dinh thự không. Mấy ai đă làm được như vậy?  

Cụ Đoàn Thêm viết về ông Nhu đă sống như thế nào:

‘’Tôi c̣n ghi nhận những ống quần nhầu không ủi, chiếc sơ mi hở cổ cộc tay và hơi cũ,  đôi dép da quai sờn. Y phục sức quá sơ sài của em một Thủ Tướng khiến tôi phát ngượng,  lúng túng trong bộ đồ lớn của tôi. Tôi càng thấy khó hiểu, khi mục kích ông co ro cùng vợ con trong một căn pḥng nhỏ hẹp trên lầu Dinh Độc Lập, tuy c̣n những pḥng rộng rộng lớn và đẹp hơn. Theo một người thân cận, th́ ông không muốn ở trong Dinh, chỉ chờ dịp dọn đi,  nhưng Ông Diệm không nghe, quyết giữ ông lại để c̣n luôn luôn hỏi việc. Căn cứ vào những lời ông nói và nếp sống bề ngoài của ông, tôi đă kết luận rằng ông tránh tiếng lợi dụng quyền lực và địa vị của ông anh...Ngay cả hai chữ Cố Vấn cũng chỉ là nhận bất đắc dĩ’’. 

Vẫn theo lời kể của Cụ Đoàn Thêm:

‘’Đến khi cần cử ông qua Pháp thương thuyết với Thủ Tướng Edgar Faure, một số người trong chánh phủ thấy ông phải đi với một danh nghĩa chính thức hơn là với tư cách bào đệ ông Diệm. Nên hai chữ Cố Vấn đă được đem dùng để đồng thời thừa nhận một sự vẫn được coi là hiển nhiên. Ông cũng biết là không tránh được chức vị…Ông Nhu không thoát khỏi lệ thường, nên chỉ tới đầu 1956 là ông hết phản đối (Không chịu người ta gọi là ông Cố Vấn)’’.

Ai đă từng đọc Cụ Đoàn Thêm th́ đều hiểu rằng, Cụ viết cẩn trọng, tương đối khách quan, khen có mà chê cũng có. Như thế những nhận xét của Cụ nên coi là khuôn thước, tránh được cái tệ nạn xuyên tạc hay xưng tụng quá đáng. 

Ông Cố Vấn sống thanh đạm và đơn giản như thế, th́ chắc người phụ nữ nào làm vợ ông cũng phải là người biết ‘’liệu cơm gắp mắm’’

Tư cách trí thứcbiết điều là ở chỗ ấy. Người ta nh́n lại,  những người thay thế ông sau này. Một khi có quyền bính trong tay, họ đă hành xử thế nào? Như ông Đỗ Mậu làm Phó Thủ Tướng Văn Hóa, dù chỉ trong một thời gian ngắn, ông xuất hiện nhiều lần hơn gấp bội ông Ngô Đ́nh Nhu trong 9 năm làm Cố Vấn?

Có một vị nào sau này lên cầm quyền có một phong cách trí thức như một Ngô Đ́nh Nhu và tư cách một kẻ sĩ như một Ngô Đ́nh Diệm?

Người ta chỉ muốn nói về CON NGƯỜI mà không đề cập đến chính trị. Hay nói như Cụ Đoàn Thêm, chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa là nhân trị hơn pháp trị. Nhưng nếu làm người mà không xứng đáng th́ nói chi đến thứ khác? (20).   

Vận Động Chính Trị ở Hải Ngoại: Ông Ngô Đ́nh Diệm

Trở lại cuộc vận động hải ngoại cho ông Ngô Đ́nh Diệm, th́ thực ra, theo Giáo Sư Tôn Thất Thiện, cuối năm 1949, Cụ Diệm khước từ lời của Cựu Hoàng Bảo Đại mời ông làm Thủ Tướng v́ cho rằng Hiệp Định Cựu Hoàng vừa kư với Pháp (Hiệp Định Elysées) không mang lại độc lập thực sự cho Việt Nam, nhất là về ngoại giao. Sau đó, ông nhận lời cùng với Giám Mục Thục đi một ṿng thế giới nhân dịp Giám Mục Thục đi tham dự một hội nghị các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo ở La Mă. Hai ông đi Nhật Bản, rồi từ đó sang Hoa Kỳ. Sau mấy tuần ở Hoa Kỳ, hai ông sang La Mă. Mỗi người sinh hoạt theo kế hoạch riêng biệt. Sau khi tham dự Hội Nghị Giám Mục tại Rôma, Đức Cha Thục đi hành hương ở Tây Ban Nha, rồi về Việt Nam, c̣n ông Diệm th́ đi Thụy Sỹ và Pháp.   

Trong thời gian ở Paris ông Diệm gặp lại người em Ngô Đ́nh Luyện và gia đ́nh ông này. Ông gặp lại Vơ Văn Hải, một người hăng say sát cánh bên ông trong những năm 1945-1949. Ngoài ra, ông có sở thích đi bộ quan sát Paris, và viếng các nhà thờ lớn. Ông đi bộ nhiều đến nỗi viên mật thám có nhiệm vụ trông coi ông phải than trời ‘’ông này điên rồi! ông muốn thăm hết Paris, mà toàn đi bộ!’’. Tất nhiên cũng có nhiều người t́m gặp ông. V́ vậy mà nhà chức trách Pháp muốn ông ra khỏi đất Pháp.

Đúng lúc đó có tin Tu Viện Maryknoll ở New York mời ông sang với tư cách làm nhân viên giảng dạy đặc biệt, nên ông Diệm đi lại Hoa Kỳ. Giữa năm 1953, ông lại đi Âu Châu,  trú tại Tu Viện Biển Đức Thánh Anrê (Couvent Bénédictine de Saint André) ở Bruges, Bỉ (Belgique). Thường những quyết định lớn về Việt Nam diễn ra ở Paris, nhưng lại hay gây ồn ào, và bị mật thám Pháp ŕnh ṃ, nên ông chọn qua Bỉ gần Paris, mà tránh được cả hai thứ phiền phức trên.

Mùa Thu năm 1953 t́nh h́nh Việt Nam sôi động, ảnh hưởng đến t́nh h́nh chính trị Pháp với viễn ảnh điều đ́nh lập lại ḥa h́nh ở Đông Dương. Đặc biệt trong trường hợp ấy, có tiếng đồn Ông Ngô Đ́nh Diệm sẽ là Thủ Tướng Việt Nam. Thật ra, đây chính là thời gian Cựu Hoàng Bảo Đại bắt đầu t́m liên lạc với Ông Ngô Đ́nh Luyện để ‘’nối lại t́nh xưa’’, v́ hồi nhỏ, trước Thế Chiến II, hai ông là bạn chơi với nhau ở Paris. Nhưng Ông Luyện thừa hiểu người Cựu Hoàng muốn móc nối không phải là ông mà là ông Diệm.

Để nắm t́nh h́nh rơ hơn, ông Diệm sang Paris, nơi có nhiều chính khách Việt Nam, và quyết định về Việt Nam vẫn đang bị Pháp chi phối. Muốn kín đáo hơn, ông không ở với Ông Luyện, trong vùng Choisy, ngoại ô Paris, mà ở với ông Tôn Thất Cẩn, trong vùng Gentilly, ngay sau khu Học Xá Đại Học Paris. Ông Cẩn là con của Quận Vương Tôn Thất Hân, từng làm Phụ Chính, kết thân với bản thân ông Ngô Đ́nh Khả. Ông Hân đă lén giúp ông Ngô Đ́nh Khả trong thời gian ông này khốn đốn v́ bị tước hết chức vụ, mất hết bổng lộc, v́ không chịu kư kiến nghị truất phế Vua Thành Thái. Chính ở đây mà ông Tôn Thất Thiện, em ruột ông Cẩn, hội kiến ông Diệm lần đầu qua trung gian ông Thuyên, người phụ giáo cho gia đ́nh ông Hân.

Ông Diệm tiếp ông Thiện khoảng một giờ. Ông tŕnh bày t́nh h́nh quốc tế, và nói: Ḿnh may mắn hơn Tàu, v́ người Trung Hoa ở Đài Loan không có hy vọng lấy lại được Lục Địa, c̣n Việt Nam có nhiều may mắn hơn. Ông cũng kể về những năm phải nghỉ việc, dành th́ giờ nghiên cứu thuyết cộng sản, đọc sách, trồng hoa, nhất là Hoa Hồng. Ông muốn một thể chế tối thiểu ngang với ‘’Dominion’’ như các Dominion Anh. ‘’Dominion’’ là danh từ chính ông dùng. Ông không nói ǵ về thể chế Việt Nam tương lai, nhưng căn cứ trên lư lịch và nếp sống gia đ́nh, và cách ông cư xử với Cựu Hoàng Bảo Đại, có thể chế độ ông thích là quân chủ lập hiến.

Lúc ông được bổ nhiệm làm Thủ Tướng, rất ít người hiểu rơ về ông. Tôn Thất Thiện nhờ các chi tiết ông cung cấp để viết bài gởi về Việt Nam qua đại diện Việt Tấn Xă ở Paris,  với tựa đề: ‘’Ông Ngô Đ́nh Diệm là ai?’’. Đó là tài liệu trung thực đầu tiên nói về ông mà báo chí phổ biến rộng răi. Tôn Thất Thiện hỏi Ông khuyên những người trẻ phải làm ǵ. Ông nói: ‘’Các anh nên vô làm việc trong các cơ quan đi, để lấy kinh nghiệm sau ni mà làm việc’’. Tuy thấy đây là một lời khuyên hơi lạ, v́ thanh niên lúc đó có xu hướng ‘’chờ thời’’ giữa hai bên là làm việc với một Chính phủ th́ Chính phủ Bảo Đại (mang tiếng ‘’theo Pháp’’) hay Chính phủ Hồ chí Minh (đang ở trong rừng, nhưng cộng sản).

Thực sự suy nghĩ cho cùng, th́ muốn làm được việc, phải có kinh nghiệm về hành chánh quản lư công việc, tổ chức guồng máy và nhân sự cùng vận động quần chúng, mà  muốn có kinh nghiệm đó, th́ con đường tốt nhất là phải làm việc trong các cơ quan chánh phủ. Trả lời phỏng vấn, lúc đó một chính khách cộng sản Pháp nói: ‘’Nên tham gia chính phủ, v́ ở trong chính phủ mới được đọc được hồ sơ và hiểu rơ t́nh h́nh’’. Chính ông ta biết như vậy nhờ tham gia Chính phủ Liên hịệp của De Gaulle lúc De Gaulle cầm quyền sau Thế Chiến II. Điều này giải thích tại sao ông Diệm lại tin dùng những người như ông Nguyễn Ngọc Thơ và công chức cao cấp các thời trước, kể cả thời Pháp. Những ư nghĩ và kiến thức cùng kinh nghiệm làm việc đă chinh phục thiện cảm và tin tưởng hơn vào ông Diệm trong giới thanh niên. 

Tài liệu cộng sản và một số thành phần không ưa ông Diệm, đă ghi lại một số t́nh tiết với thâm ư làm sai lạc sự thật là gán ghép Mỹ và Công Giáo chủ mưu đưa Ông Ngô Đ́nh Diệm và phe cánh của ông lên nắm quyền. Tài liệu tiêu biểu mới đây là một điều sai sự thực,  trong lúc chính quyền cộng sản bề ngoài nói là muốn xóa bỏ quá khứ để xây dựng đoàn kết dân tộc. Tài liệu ‘’Trần Lệ Xuân: Giấc Mộng Chính Trường’’ và nhiều tài liệu khác xuất bản vào giai đoạn này do Nhà xuất bản công an nhân dân có ư nghĩa ǵ, khi chủ t́nh nói sai sự thật và chỉ theo quan điểm cộng sản.

Thực ra, năm 1950 ở Roma có hội nghị các Giám Mục trên thế giới, Giám Mục Ngô Đ́nh Thục được mời tham dự. Nhân dịp này ông Diệm xin đi theo. Trên đường đi, hai người ghé lại Nhật Bản xin gặp một số chính khách Nhật và Việt xem họ có giúp được ǵ không.  Sau đó tại Rôma, ông Diệm được Giám Mục Thục giới thiệu với Hồng Y Giáo Chủ Spellman là giáo chủ của Mỹ để xin giúp đỡ cho Diệm. Spellman đồng ư.

Năm 1951, Diệm bay sang Mỹ và được Hồng Y Spellman đỡ đầu cho vào ở trong Tu Viện Maryknoll tại Lakewool thuộc Bang New Jersey, Diệm ở đây hai năm. Thời gian này ở Đông Dương, Pháp đang bị Việt Minh đánh tơi tả. Pháp cầu cứu Mỹ giúp khí giới, nhưng Mỹ lừng khừng v́ thâm ư của Mỹ là muốn cho Pháp bại trận, để sau đó nhảy vào giành phần.

Ông Diệm rời Mỹ vào tháng 3.1953, ở Paris ít lâu rồi sang Bỉ lưu trú tại Tu Viện Bénédictine. Một năm sau, ông Diệm lại trở về Paris để nghe ngóng t́nh h́nh Đông Dương.

Các con bài của Nguyễn Văn Tâm rồi Hoàng Thân Bửu Lộc do Bảo Đại chỉ định làm Thủ Tướng theo chỉ thị 24 của Pháp không tạo được hậu quả nào, trong khi đó Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ chỉ c̣n là vấn đề thời gian. Đến lúc này Mỹ thực sự nhảy vào cuộc, đề nghị Pháp dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Bảo Đại không chấp thuận ông Diệm thay ông Bửu Lộc v́ Bảo Đại vẫn c̣n căm hận ông Diệm đă bỏ Bảo Đại để rút lui về vườn. Thêm một lư do nữa v́ lúc ấy Bảo Đại đang chịu sự chi phối của B́nh Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu về vấn đề tài chính.

Một mặt Mỹ ép Pháp thay đổi chính phủ tại Việt Nam bằng cách dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm do Mỹ đưa ra, mặt khác Ngô Đ́nh Thục tích cực vận động giới Công Giáo La Mă, Pháp và nhất là Mỹ phải đưa Ngô Đ́nh Diệm ra gấp th́ mới hy vọng cứu Việt Nam khỏi bị Việt Minh thống trị! Đồng thời Ngô Đ́nh Luyện cũng gặp Bảo đại để dàn xếp cho Diệm về nước lập chính phủ v́ từ lâu Luyện rất thân với gia đ́nh Bảo Đại…’’ (trang  23,  sách đă dẫn)

Thời gian 1953-1954, Pháp bị tấn công mạnh ở Việt Nam, khi có thêm hậu thuẫn từ Trung Quốc cộng sản, sau khi toàn thể lănh thổ bị cộng sản Trung Hoa chiếm quyền thống trị.

Tóm Thuật Hoạt Động Thực Tế Phức Tạp Khi Nắm Chính Quyền

Khi lên nắm chính quyền, chế độ mới do hai ông Diệm-Nhu hoạch định thực hiện phải đối phó với nhiều vấn đề nhiêu khê, có thể làm nguy ngập đến thể thống đất nước. Một cách tổng lược, người ta có thể đưa ra một h́nh ảnh vắn tắt như sau

Những Việc Cụ Thể Chế Độ Việt Nam Cộng Ḥa I Đă Thực Hiện:

1. Tổ chức việc tiếp chuyển, định cư di dân từ miền Bắc vào miền Nam và bố trí trại định cư theo địa điểm chiến lược, h́nh thành cấu trúc ban đầu cho một mạng lưới Ấp Chiến Lược, giải quyết vấn đề dân sinh và an dân chống lại họat động của cộng sản từ miền Bắc xâm nhập miền Nam qua đường rừng núi chủ yếu bên Lào và đường thủy (sông rạch và biển cả)

2. Đoàn kết các đảng phái chính trị, lực lượng quân sự, chủ yếu dựa trên tôn giáo hay địa phương:  Các tổ chức B́nh Xuyên, Cao Đài, Ḥa Hảo, Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, các lực lượng chính đảng khác như Đại Việt, phe Bảo Hoàng, lực lượng ủng hộ quyền lợi thực dân Pháp, trong một mặt trận thống nhất dựa trên một ư thức hệ và hoạt động Chủ Nghĩa Nhân Vị, đối lập với ư thức hệ và hoạt động chủ nghĩa cộng sản. 

3. Tổ Chức Quân Đội Quốc Gia Độc Lập từ cơ sở những lực lượng trong quân đội Pháp: Địa Phương Quân, Bảo Chính Đoàn, thành một lực lược chính quy, hiện đại có kỷ luật,  có tổ chức, có huấn luyện, đủ khả năng pḥng vệ và tác chiến hữu hiệu với doanh trại, quân trang, quân dụng, vũ khí, từ cá nhân binh sĩ ở các cấp Tiểu Đội, Trung Đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Trung Đoàn, Sư Đoàn, các lực lượng lên đến Quân Đoàn Vùng Chiến Thuật I, II, III, IV với yểm trợ cần thiết ban đầu của nhiều nước, nhất là Mỹ. 

4. Xây dựng Lực Lượng Cảnh Sát Công An từ các bộ phận c̣n manh mún phục vụ cục bộ của nhiều nhóm, nhất là của B́nh Xuyên, thành một Đơn Vị Cảnh Sát Công An Quốc Gia Độc Lập thống nhất. H́nh thành mạng lưới an ninh duy tŕ cảnh vệ trậ tự các cơ sở hành chính quan yếu của quốc gia. 

5. Tổ chức chính trị ṇng cốt là thành lập chính đảng Cần Lao Nhân Vi tôn trọng nhân vị và yêu mến cần lao để kiến thiết bản thân và đất nước, chống lại chủ nghĩa và hoạt động phá hoại của cộng sản. Ngoại vi của lực lượng Cần Lao Nhân Vị là qui tụ động viên thành phần chủ yếu là thanh niên vào hai tổ chức chính: Thanh Niên Cộng Ḥa và Phụ Nữ Liên Đới.

Từ chính đảng ṇng cốt này có thể vận động thanh niên nam nữ và nhiều thành phần nhân dân vào công cuộc xây dựng,  phát triển đất nước chống lại hoạt động theo xu hướng của chủ nghĩa cộng sản. Tạo thành một phong trào Cách Mạng Quốc Gia, xây dựng đất nước, nhất tâm đối phó với cộng sản

6. Tổ Chức hệ thống chính trị dân chủ với ba lănh vực Hành Pháp (Tổng Thống), Lập Pháp (Quốc Hội) Tư Pháp (Hệ Thống Ṭa Án), với bầu cử dân chủ chọn người làm việc từ trong các thành phần giáo phái chính đảng quốc gia trong t́nh trạng đối phó với hoạt động xâm nhập, phá hoại dưới nhiều h́nh thức của cộng sản, cụ thể là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. 

7. Một Giải pháp chính trị chiến lược thực tế đa hiệu, chống lại cộng sản là chính sách Ấp Chiến Lược. Ư nghĩa chính thức của tổ chức này là kêu gọi tổ chức nhân dân tập trung vào các Ấp Chiến Lược, nhất là tại những vùng dễ xâm nhập hoạt động của cộng sản, nhưng có lợi điểm cư trú và hoạt động kinh tế nông nghiệp, kỹ nghệ, lâm ngư nghiệp, giáo dục của nhân dân.

Khi dân chúng tự nguyện tự giác vào sinh cư tập trung gọn gàng và kỷ luật trong các ấp này, th́ tất cả những thành phần c̣n lại bên ngoài các ấp (khu trù Mật và Dinh Điền) là cộng sản hay hoạt động đi theo ủng hộ cộng sản. Du kích cộng sản sẽ lần lượt bị ngăn chặn,  tiêu diệt v́ không c̣n chỗ dung thân và sinh sống. Tổ chức này hữu hiệu làm nguy ngập cho tổ chức hoạt động của cộng sản, nên cộng sản Việt Nam  mới phản tuyên truyền, xuyên tạc là bắt gom dân vào Ấn Chiến Lược, và thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Nhưng Kế Hoạch Do Chế Độ Xây Dựng Có Những Khuyết Điểm Sau:

1. Quyền lợi, nhận thức cá nhân và đoàn thể khác nhau về tôn giáo và chính trị xă hội muốn xây dựng dân chủ tự do vội vă đốt giai đoạn, đă cản trợ hoạt động phát triển dân chủ thống nhất của nhà nước, trong t́nh thế phải đối phó với các h́nh thức xân nhập và hoạt động của cộng sản.

2. Hoạt động tuyên truyền, đồng khởi, phá hoại của cộng sản đánh phá nhiều mắt xích trong hệ thống hành chính địa phương và trong hệ thống Ấp Chiến Lược ở các vùng sâu vùng xa, và các điạ điểm chiến lược, khi tổ chức chiêu hồi và ấp chiến lược tỏ ra nhiều thiệt hại bất lợi cho cộng sản. 

3. Hệ thống quản lư đất nước bị lạm dụng, nên có xu hướng thiên về gia đ́nh trị, công giáo trị gây hoài nghi cho nhiều thành phần nhất là Phật Giáo, trong việc kết nạp vào Đảng Cần Lao Nhân Vị và nhiều hoạt động khác như tổ chức An Ninh (mật vụ, t́nh báo, cảnh sát,  thanh niên, quân đội). 

4. Sự can thiệp xen lấn lộ liễu mạnh bạo của Mỹ từ yểm trợ nhẹ nhà đến hoạt động hành quân của cả một lực lượng lớn trên lănh thổ một đất nước độc lập có chủ quyền với nhiều phương tiện doanh trại, tổ chức nhân vật lực phức tạp.

Điều này tạo cơ hội cho tuyên truyền cộng sản về nhiều mặt. Khi các cảnh chiến tranh tàn bạo được chiếu trực tiếp trên truyền h́nh các gia đ́nh Mỹ hằng ngày đêm đă dần dần tạo nên phong trào phản chiến, đ̣i chính quyền Mỹ phải rút về mau lẹ, tạo một khoảng trống cho Quân Đội c̣n ḍn mỏng của Việt Nam Cộng Ḥa, chưa kịp tổ chức xây dựng, bổ sung về quân số và huấn luyện và thiếu vũ khí tối tân, so với lực lượng vơ khí và mưu lược dối trá của cộng sản. 

5. Phong trào Đồng khởi  từ Bến Tre và Biến Cố Tổng Công Kích Tết Mậu Thân trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa II là một hoạt động liều lĩnh của cộng sản khi hệ thống Ấp Chiến Lược đă chứng tỏ có hiệu quả đă đẩy cộng sản Việt Nam đến chỗ phải hành động để sống c̣n. Sự tàn bạo và dối trá của cộng sản trước Việt Nam toa rập với ư chí chủ bại và phản bội của Mỹ đă đưa đến thằng lợi trước mắt của cộng sản Việt Nam ngày 30.4.1975. Việc hủy bỏ hệ thống Ấp Chiến Lược sau khi lật đổ chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I là một hành động phá hoại chiến lược, chuẩn bị xa nhưng mau hơn cho sự chiến bại của miền Nam

Gia Đ́nh Bên Ông Ngô Đ́nh Nhu

Gia đ́nh họ Ngô Đ́nh (21), nguyên quán ở đất Quảng B́nh, ông Cố tổ là dân bần hàn sống nghề chài lưới. Khi đạo Công Giáo truyền đến vùng này từ Thế Kỷ 17, th́ tổ tiên của ḍng họ Ngô Đ́nh đă tin đạo. Đời ông Ngô Đ́nh Khả đức tin đó vẫn được củng cố và phát triển. Là một thanh niên chăm chỉ đạo dức mà lại thông minh, cậu được theo học cả chữ Hán lẫn chữ Pháp. Cậu được gửi du học ở Trường Chủng Viện Thánh Giuse ở Penang (Mă Lai),  cùng với Nguyễn Hữu Bài, với ư định được huấn luyện để trở thành Linh Mục. Nhưng v́ không được ơn gọi làm Linh Mục, cả hai cậu Khả và Bài đều trở về Việt Nam và sau này trở thành thông gia, v́ có một quá tŕnh dài học tập và hiểu biết lẫn nhau.

Về nước, v́ giỏi về ngoại ngữ, ông Khả và ông Bài đều được tuyển làm Thông dịch viên. Làm việc xuất sắc có nhiều kết quả, Khả được trọng dụng và thăng chức rất nhanh. Khi Vua Thành Thái mất chức, th́ Khả cũng mất chức Phụ Đạo Nam Triều. Gia đ́nh Ngô Đ́nh Khả cư ngụ tại Phú Cam, nơi có một xứ đạo kiên trung của đất Huế.

Ông Ngô Đ́nh Khả có tất cả:

Con cả là Ngô Đ́nh Khôi (1885?-1945) lập gia đ́nh với người con gái của Nguyễn Hữu Bài.

Con thứ hai là Ngô Đ́nh Thục (1897-1985) từng du học tại Rôma năm. Từ 1919-1927 du học Roma: Tiến Sĩ Triết Học (1922), Tiến Sĩ Thần Học (1926), Tiến Sĩ Giáo Luật (1927).  Qua Pháp học Đại Học Công Giáo Paris: Cử Nhân Triết Học (1929). Khi về nước giữ nhiều chức vụ trước khi làm Giám Mục Vĩnh Long, rồi Tổng Giám Mục Huế.

Con thứ ba là Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963), từng làm Tuần Vũ B́nh Thuận, rồi Thượng Thư Bộ Lại triều Bảo Đại (1932).

Năm 1918 thi vào Trường Hậu Bổ, sau 03 năm tốt nghiệp, lần lượt giữ các chức vụ từ Tri Huyện Hương Thủy (1922), Tri Huyện Quảng Điền (1923), Tri Phủ Hải Lăng (1925), Quản Đạo Ninh Thuận (1927), Tuần Vũ B́nh Thuận (1930), Thượng Thư Bộ Lại (1933) được hơn 02 tháng th́ từ chức...Năm 1945 bị Việt Minh bắt sau nhờ Đức Giám Mục Lê Hữu Từ can thiệp, được trả tự do. Năm 1950 qua Roma rồi qua Hoa Kỳ. Ngày 07.07.1954 về nước chấp chánh giữ chức Thủ Tướng toàn quyền do Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định.

Sau cuộc ‘’trưng cầu dân ư’’ tháng 10.1955, được dân bầu lên làm Quốc Trưởng rồi Tổng Thống tại Miền Nam Việt Nam đối lập với chế độ cộng sản tại Hà Nội do Hồ chí Minh lănh đạo. Ông có công ổn định t́nh h́nh, thống nhất Quân Đội, phát triển kinh tế, mở mang giáo dục, xây dựng dân chủ, v. v... Rất tiếc, ngày 01 tháng 11 năm 1963 ông bị phe quân nhân (theo lệnh Mỹ) làm đảo chính lật đổ và bị thảm sát ngày 02 tháng 11 năm 1963. Biến cố 01. 11. 1963 đă dẫn đến sự sụp đổ  của Việt Nam Cộng Ḥa ngày 30. 04. 1975, đưa đất nước vào tay cộng sản độc tài!

Con trai thứ tư là Ngô Đ́nh Nhu (1910-1963).

Con trai thứ năm là Ngô Đ́nh Cẩn (1912-1964)

Con trai út là Ngô Đ́nh Luyện (1914-1990), tốt nghiệp Kỹ Sư Công Chánh ở Pháp và Anh. Nhiều nhà nghiên cứu lầm lẫn Ngô Đ́nh Cẩn là con trai út

Ông Bà Ngô Đ́nh Khả c̣n có ba con gái là:

Ngô Thị Giáo, chết sớm năm 1944,

Ngô Thị Hoàng, thường gọi là bà Cả Lễ, v́ lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Lễ,

Ngô Thị Hiệp, lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Ấm, thân phụ của Hồng Y Tổng Giám Mục FX Nguyễn Văn Thuận. Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Bộ Trưởng Bộ Công Lư và Ḥa B́nh tại Ṭa Thánh Vatican trước khi tạ thế ngày 16.9.2002, tại Rôma.

Hai gia đ́nh Trần-Ngô cũng là thông gia môn đăng hộ đối theo Nho giáo cổ truyền.   

Gia Đ́nh họ Trần bên Bà Ngô Đ́nh Nhu (Trần Lệ Xuân)

1.  Bà Ngô Đ́nh Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, sinh tại Hà Nội này 24. 8. 1924, con gái thứ hai của Ông Trần Văn Chương (Luật Sư) và Bà Thân Thị Nam Trân. Ông Bà Trần Văn Chương có ba người con. Con đầu là Trần Thị Lệ Chi. Con thứ ba là Trần Văn Khiêm.

Lệ Chi lập gia đ́nh với ông Nguyễn Hữu Châu (Luật Sư, Tiến Sĩ Luật ở Pháp). Ông này gốc người G̣ Công có họ hàng với ông Nguyễn Hữu Hào, thân sinh ra bà Nguyễn Hữu Thị Lan, tức Hoàng Hậu Nam Phương, kết duyên với Vua Bảo Đại. Khi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm trở thành Tổng Thống năm 1956, th́ Ông Nguyễn Hữu Châu được bổ nhiệm Bộ Trưởng tại Phủ Tổng Thống. Chỉ mấy tháng sau, chính ông Châu xin từ nhiệm.

Gia đ́nh ông Trần Văn Chương vốn theo Đạo Phật, nhưng từ nhỏ Cô Trần Lệ Xuân đă được gửi học nội trú ở Trường Ḍng Nữ Thánh Âu Cơ Tinh, quen gọi là Couvent des Oiseaux. Một thời gian cô nữ sinh Trần Lệ Xuân có theo học Trường Albert Sarraut ở Hà Nội trong thời gian ông Trần Văn Chương hành nghề Luật Sư ở Hà Nội. Chính mấy năm cuối cùng ở trường này, Trần Lệ Xuân đă phát triển các quan hệ thân t́nh cụ thể hơn với Ông Ngô Đ́nh Nhu. Sau chính biến 1.11.1963, vô số lời đàm tiếu đổ dồn vào Bà Ngô Đ́nh Nhu.   

2.  Sau này, tại California, Ông Nguyễn Văn Lục lại nghe từ những người trước nay từng có cơ hội gần gũi ông bà Nhu, ông Diệm, ông Cẩn, ông Thục.

Tác giả đă nói chuyện với Sĩ Quan Tùy Viên Lê Châu Lộc, sau này là Nghị Sĩ Lê Châu Lộc. Ông Lộc với bản chất trung thực cho biết, ông biết ǵ nói nấy, có nói có, không nói không.

Ông cho biết 6 năm làm Sĩ Quan Tùy Viên cho ‘’Ông Cụ’’, kề cận Ông Cụ ngày đêm.  Trong 6 năm đó chỉ gặp Bà Nhu trên dưới 10 lần, v́ hai ông bà ở khu bên kia Dinh Tổng Thống, ít có tiếp xúc qua lại. Ông không mấy thích Bà Nhu v́ giọng nói của Bà Nhu lai Bắc,  lai Trung và tính nết tỏ ra cao ngạo. Nhưng đối với Tổng Thống Diệm th́ bà sợ và cử chỉ e dè,  khép nép. Không có cái cảnh muốn ra vào văn pḥng ông Diệm lúc nào th́ vào. Bà là người có phong cách, lịch sự và đàng hoàng. 

Ông Lê Châu Lộc đưa ra hai giai thoại liên quan đến Bà Nhu.   

Một lần xe của Bà Nhu vào Dinh trong khi sắp có xe của một vị Tướng Mỹ sắp đến.  Ông Lộc đă yêu cầu xe của Bà Nhu nhường lối. Bà Nhu vui vẻ nhận lời trong khi người tài xế của bà tỏ vẻ khó chịu. Sau đó bà đă vui vẻ chào.

Một lần nữa, ông Lộc vội vă không kịp chào Bà Nhu. Vậy mà việc cũng đến tai ‘’Ông Cụ’’. ‘’Ông Cụ’’ cho biết: Lộc nó là Sĩ Quan, th́ chỉ chào Sĩ Quan có cấp cao hơn, hà cớ ǵ lại phải chào Bà Nhu.

Những chi tiết nhỏ đó cũng cho thấy có nhiều điều xàm tấu, bôi bẩn mà công việc của chúng ta là cần ‘’làm vệ sinh’’ tẩy rửa những dư luận xấu xa đó. 

Chứng nhân thứ hai là Nhiếp Ảnh Gia Trần Cao Lĩnh.

Nhiếp Ảnh Gia Trần Cao Lĩnh là người được chọn chính thức chụp ảnh cho gia đ́nh Ông Ngô Đ́nh Diệm trong các buổi lễ chính thức. V́ thế, ông đă nhiều lần ra Huế để chụp ảnh cho gia đ́nh Ông Diệm.

Ông đă kể lại một cách sinh động duyên dáng về những nhân vật thời Đệ Nhất Cộng Ḥa. Nhiều nhà văn, nhà báo đă tham dự và được nghe ông kể về những điều này tại Ṭa soạn báo Nhân Chứng, khoảng năm 1980. Đó là Mai Thảo, Phạm Đ́nh Chương, Du Tử Lê, Vũ Văn Hà, Thụy Châu v.v…

Theo lời kể của Trần Cao Lĩnh, ông đă hết lời đối với gia đ́nh Ông Diệm và đặc biệt là đối với Bà Nhu. Bà Nhu là loại người phụ nữ chẳng những có ăn học, có giáo dục. Cử chỉ phong cách quư phái, chừng mực lễ độ trong cư xử. Bà không phải loại người bờm xơm, chớt nhă, dâm đăng, mất nết như những lời bịa đặt của dư luận ác ư.

Tại Huế, chỉ các đàn ông như các Ông Diệm, Ông Nhu, Giám Mục Thục mới được phép ở nhà trên dùng cơm. Bà Nhu chẳng những sợ và khép nép với ông Diệm mà c̣n cả với Giám Mục Ngô Đ́nh Thục. Theo Nhiếp Ảnh Gia Trần Cao Lĩnh, Bà Nhu không dám tự tiện vào pḥng Ông Diệm. 

Ông Nguyễn Văn Lục muốn viết về vợ chồng Ông Nhu, v́ ông bà là bị nhiều người hiểu lầm và bực ghét, nhất là Bà Ngô Đ́nh Nhu. Nhiều người không ưa bà, khinh ghét bà nữa.  Nhiều người bênh Ông Diệm, thương mến ông, nhưng vẫn dè dặt khi nói về Ông Nhu, Bà Nhu. Nhiều người biết rơ và khó quên câu nói phạm thượng và xấc xược của bà khi Ḥa Thượng Quảng Đức tự thiêu.

Theo ông, khi người ta đă trót quư mến ai rồi, th́ khó mà nghĩ khác được. Trước đây, có người đă trót quư mến và kính trọng Nam Phương Hoàng Hậu và nay th́ đến lượt Ông Bà Nhu cũng vậy thôi…

Khoảng cách tuổi khá lớn giữa hai ông bà cũng là nguyên nhân gây nên những lời đồn thổi sau này kể từ sau 1963.

Thực ra ít người có cơ hội tiếp xúc với Bà Nhu, hiểu biết và kính trọng nhân cách Bà Nhu như Ông Trần Cao Lĩnh.

Những người ngưỡng mộ và quư mến bà chẳng bao nhiêu. Sau khi nghe ông Trần Cao Lĩnh kể về bà, có người đề nghị ông nên viết lại về Bà Nhu. V́ không ai có đủ tư cách hơn ông để viết. Nhưng rồi ông cũng đă không làm cho đến khi ông ĺa đời. Cũng hiểu được, bênh vực một người ‘’mất nết’’ như Bà Nhu nó khó lắm.

Không mấy ai biết bà, nhưng ghét bà, khinh miệt bà th́ quá nhiều. Đàn ông ghét đă đành, đàn bà cũng ghét theo. Đến nỗi người ta cố moi ra sự việc từ những năm 1955 khi chưa có Quốc Hội, chưa có Hội Phụ Nữ Liên Đới hay Phụ Nữ Bán Quân Sự. V́ thế dưới mắt của quần chúng nói chung, th́ Bà Nhu là một người phụ nữ ‘’mất nết’’, ăn mặc hở hang, lố lăng với chiếc áo dài kiểu mới. Phụ nữ chê bai tư cách của bà trong chiếc áo dài kiểu mới, nhưng hầu như giới nữ sinh hay các mệnh phụ phu nhân đều ăn mặc theo kiểu áo dài đó.

Đến độ vào năm 1955, ông Diệm chép miệng than thở: Tội nghiệp, Bà Nhu có làm ǵ đâu? Dù sau cũng chết, chỉ v́ bà là một người đàn bà. Bà lại nay nói quá mạnh, cứng rắn trong quan điểm, lập trường, không nhường nhịn ai, lại có vè ‘’đành hanh’’ khiến giới mày râu không chịu được.

Có lẽ người ta phải cầu cứu đến những lời bàn của Cụ Đoàn Thêm khi nhận xét về Bà Nhu.

Cụ Đoàn Thêm cho rằng, dù không làm hay chưa làm việc ǵ có hại, người đàn bà không thể thừa thế nhà chồng mà xen vào việc chính quyền. Việc bà tham gia vào chính trường, dưới mắt số đông, trái ngược hẳn với h́nh ảnh cố hữu của phụ nữ Á Đông khiêm nhượng, ư nhị, hiền hậu, của người mẹ và người vợ Việt Nam.

Vẫn theo Cụ Đoàn Thêm, nguyên do sâu xa nhất và đích thật nhất, gây thêm nhiều ác cảm với bà là do bà đă xinh đẹp, mà lại muốn tỏ ra cứng cỏi và đánh hanh nữa th́ quá lắm,  không chịu nổi. Người ta có thể nhẫn nhịn chờ đợi Ông Nhu, nhưng đối với bà, bà chỉ xuất đầu lộ diện, th́ cũng không được tán thành hay dung thứ.

Nên dù trái hay phải, người đàn bà Việt Nam muốn vội sống theo gương người đàn bà tiền phong (avantgarde) Âu Mỹ,  kiểu chủ nghĩa nữ quyền, là chưa thể yên thân trên một đất nước mà nhiều người c̣n ghê sợ những người phụ nữ nhu Vơ Hậu hay Từ Hy.

Tâm lư quần chúng như vậy nên nhiều con mắt dễ chú ư đến những sơ hở và lỗi lầm để buộc lỗi gay go. Mỗi lời nói và việc làm của bà đều có nguy cơ trở thành những cơ hội cho dư luận chỉ trích nghiêm ngặt.

Bi kịch của chế độ khởi đầu từ đó. Người ghét cứ ghét, mỗi ngày mỗi đông thêm, như đ̣n hội chợ do thể chế tam đầu, lại có thêm một người phụ nữ là Bà Ngô Đ́nh Nhu.

Khu biệt thự Trần Lệ Xuân (2 Yết Kiêu, Đà Lạt) lộng lẫy rộng trên 13 ngàn mét vuông vừa được nâng cấp trở thành Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia IV. Nơi lưu giữ hơn 30 ngàn mộc bản triều Nguyễn.  (Nguồn: Kho tàng mộc bản trong biệt thự Trần Lệ Xuân/my. opera. com)

Ngay như hơn hai chục nam nữ sinh viên đă tham dự trong phái đoàn Huế đi tham quan Dinh Gia Long sau khi hai ông Diệm Nhu bị thảm sát. Họ im lặng đồng lơa với Nguyễn Đắc Xuân. Họ chấp nhận gián tiếp những ǵ Nguyễn Đắc Xuân dựng lên bôi nhọ Bà Nhu. Chỉ yêu cầu một cô nữ sinh viên trong số họ cho biết những điều Nguyễn Đắc Xuân viết là đúng hay sai. Dĩ nhiên là không dám nói sai, mà nói đúng th́ đồng lơa bôi nhọ. Thực  ra họ không biết để ma nhớ, mà nói đúng hay sai.

Người ta phải nghĩ thế nào về những sinh viên đă im lặng, không dám lên tiếng về những lời vu cáo của Nguyễn Đắc Xuân?

Người ta có thể tạm quên đi những điều thị phi, những lời khen chê, những lời bôi nhọ dơ bẩn về bà ấy để chỉ nh́n lại kể từ tháng 11. 1963 đến nay Bà Nhu đă làm ǵ, nói ǵ, viết ǵ,  thanh minh cho việc ḿnh làm và đă sống như thế nào?

Kể từ sau tháng 11.1963, bà rút lui vào bóng tối. Không nói, không thanh minh, cắt đứt mọi giao tiếp với mọi người trước nay từng là những người cộng tác với hai ông Diệm và Nhu. Một vài người đă có dịp gặp bà như các ông Cao Xuân Vỹ, Lê Châu Lộc, Trương Phú Thứ đều nhận thấy bà sống ẩn dật, im lặng với quá khứ,  lo việc từ thiện. Chắc là tâm trạng và nỗi niềm của bà gần 50 năm này đă diễn ra thật phức tạp, đa đoan, nhưng chỉ tập trung vào gia đ́nh và niềm tin phú thác?

Và trong thời gian đó, bà đă sống đúng nhân cách một người phụ nữ? Những năm tháng ấy đă tẩy rửa những điều hàm oan về tiền bạc, con người của bà?

Thực ra bà đă chết cùng với hai anh ông Diệm Nhu, chôn vùi quá khứ, cuộc sống đă sang một trang mới: Im lặng. Điều ấy mang nhiều ư nghĩa: Vừa cay đằng, tủi hận vừa sám hối trong tâm t́nh của một tín đồ.

Những ai từng kết án bà, th́ khó thấy bà là loại người tham tiền cố vị, vô tư cách hay thậm chí trăng hoa, mất nết…Người ta phải thấy một Bà Nhu sống buông thả, quen biết lung tung, tai tiếng đủ loại sau 01.11.1963.

Nhưng những kẻ thù oán, chuyên đặt điều nói xấu bà cũng không có được chứng cớ nhỏ nhoi nào, bôi nhọ bà.

Bà sống ẩn dật một thời ở Ư rồi sang Pháp, mua hai căn hộ nhỏ, một để ở và một để cho thuê lấy tiền tiêu xài, ngày ngày đi lễ nhà thờ, chuyên chú làm việc từ thiện, lấy kinh nguyện làm lẽ sống.

Một con người như thế, chịu đựng biết bao điều sỉ nhục, tệ bạc, phản trắc, hờn ghét của thế thái nhân t́nh, khi không c̣n thời để lợi dụng.

Không phải là dễ mà ai cũng bộ lộ nhân cách ấy, chọn lựa lối sống ấy. Mấy ai đă làm được như bà trong những tháng ngày sau 1963, nếu bắt buộc phải sống như vậy?

Người ta nghĩ bà đang viết nhật kư, nhưng có lẽ chỉ là những tâm sự về đạo nghĩa Những điều Trương Phú Thứ đă viết thật là hiếm hoi và phản ảnh cuộc đời im lặng hơn là bận rộn chuyện phù hoa thế sự. Theo ông Lê Châu Lộc bà viết nhiều lắm, nhưng không ai biết ǵ.