TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM

1897-1963
Sinh quán: Làng Đại Phong Huyện Phong Lộc, Tỉnh Quảng B́nh.
(Theo giấy tờ hộ tịch, sinh ngày 21.7.1897, nhưng năm 1954
đổi lại là 3.1.1901 và cho là ngày sinh thực sự)
1922:Tốt nghiệp Trường Hậu Bổ. Làm Tri Phủ Ḥa Đa và sau đó
Tuần Vũ B́nh Thuận.
1933: Được bổ nhiệm Thượng Thư Bộ Lại, nhưng sau đó nạp đơn
từ chức để đ̣i Pháp tôn trọng Hiệp Ước 6.6.1884, phải thống
nhất Bắc và Trung Kỳ.
1940: T́m cách bắt liên lạc với Cường Để và một số tổ chức
bí mật chống Pháp.
1944: Bị Pháp ra lệnh cho Bảo Đại trục xuất ra khỏi Huế, chỉ
định cư trú ở Quảng B́nh. Lập tổ chức Đại Việt Phục Hưng và
được người Nhật đưa vào Sài G̣n để tránh bị Pháp bắt.
1945: Hai lần được Bảo Đại mời làm Thủ Tướng nhưng không trả
lời. Sau khi việt minh cướp chính quyền, trốn trong Nhà Tu
Redemptoristes (Ḍng Cứu Thế) ở Huế.
1947: Ra Hà Nội rồi sang Hồng Kông, gặp Tổng Lănh Sự Mỹ
George D. Hopper tŕnh bày về nội t́nh Việt Nam và giải
pháp Bảo Đại.
1949: Trở về Huế nhưng từ chối tham chính ủng hộ Bảo Đại.
1950: Rời Việt Nam sang La Mă, rồi Mỹ, vận động chính giới
Mỹ giúp Việt Nam chống cộng.
1954: Được Bảo Đại cử làm Thû Tướng với ‘’Toàn quyền hành
động’’. Về nước ngày 25.6 và ngày 7.7. chính thức chấp
chính.
1955: Tổ chức trưng cầu dân ư, truất phế Bảo Đại, dẹp các
giáo phái vơ trang, thành lập nền Đệ Nhất Cộng Ḥa và trở
thành Tổng Thống.
1960: Dẹp tan cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi.
1963: Bị hạ sát trong cuộc đảo chính đẫm máu của một nhóm
Tướng Tá do Dương Văn Minh cầm đầu, sau cuộc khủng hoảng
Phật Giáo.
·········
CỐ VẤN NGÔ Đ̀NH NHU
1910-1963
Sinh quán: Thừa Thiên.
1935: Sang Pháp học Trường Đại học Văn Khoa (Faculté des
Lettres), Trường Sinh Ngữ Đông Phương (École des Langues
Orientale Vivantes), và Trường Cổ Ngữ (École Natinale des
Chartes).
1943: Quản Thủ Văn Khố của Ṭa Khâm Sứ Huế.
1951: Bắt đầu những vận động chính trị để Ngô Đ́nh Diệm về
nước chấp chánh.
1954-1963: Cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Thủ lănh Thanh Niên Cộng Ḥa. Khai sinh và Lănh tụ Đảng Cần
Lao Nhân Vị và Cần Lao Công Giáo.
1963: Cùng bị hạ sát với Bào Huynh, Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm, ngày 2.11 trong cuộc Đảo chính quân sự.
TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM CHẤP CHÁNH
PHẠM KIM VINH
Người ta c̣n nhớ rằng điều kiện tiên quyết do ông Ngô Đ́nh
Diệm đặt ra cho Bảo Đại là ông Diệm phải được ‘’toàn quyền
về dân sự và quân sự’’ th́ ông Diệm mới chịu trở về lănh đạo
nước Việt Nam. Những ngày chót của cuộc chiến tranh Đông
Dương I. Bảo Đại phải chịu nhận điều kiện ấy. Do đó, khi
nhận định về thành tích đối nội và đối ngoại của Chính Quyền
Ngô Đ́nh Diệm, người ta nên nhận định từ cái bối cảnh ‘’toàn
quyền dân sự và quân sự’’ đó.
Mặt khác, kể cả những quan sát viên quốc tế có cảm t́nh sâu
đậm nhất với ông Diệm cũng không che đậy sự băn khoăn và lo
ngại là ông Diệm không thể đứng vững được tới một năm. Trong
hoàn cảnh này, thành tích đối nội của ông Diệm là ch́a khóa
để mở cửa cho lănh vực đối ngoại: Cộng Đồng Quốc Tế sẽ nh́n
vào khả năng đối nội của ông Diệm để chấp nhận Chính Phủ và
xứ sở của ông ta vào Cộng Đồng Quốc Tế.
Theo sát sự chấp chánh của ông Diệm ngay từ đầu,
một Giáo Sư Chính Trị Học của Mỹ thuộc Viện Đại Học Michigan
là Wesley L. Fishel có nhận xét rằng ông Diệm nhận cái quyền
tưởng như rất rộng răi đó để thực hiện một mục tiêu coi như
‘’không thể làm được’’:
‘’Làm sao giữ vững được con thuyền Quốc Gia lúc ấy đang
nghiêng ngửa thảm hại trước những thắng lợi quân sự to lớn
và liên tiếp của Việt minh. ’’.
Là người biết khá rơ về nội t́nh của Việt Nam năm 1954
Fishel kết luận rằng cái toàn quyền dân sự và quân sự rộng
lớn ấy thực ra ‘’chỉ có trên giấy tờ’’ v́ ông Diệm không
kiểm soát được các lực lượng chính yếu của phía Quốc Gia lúc
ấy, Cảnh Sát, Công Chức, Quân Đội, Giáo Phái. Đó là chưa kể
tới sự phá hoại không cần ngụy trang của thực dân Pháp, sự
phá hoại càng tai hại hơn nữa của cộng sản... Là người ngoại
quốc, Fishel nêu được nhận xét ấy cũng đáng khen lắm rồi.
Trên thực tế, ông Diệm đă lănh đạo trong hoàn cảnh cực kỳ
khó khăn mà ngoài ông ra, không một nhân vật quốc gia nào
lúc ấy dám có khí phách nhận lănh Lá Cờ Quốc Gia.
Là người làm chính trị tầm vóc quốc tế, cái nh́n
của ông Diệm đối với việc giải cứu quê hương Việt Nam năm
1954 là cái nh́n ở tầm mức Quốc Gia. Chỉ có cái nh́n sâu sắc
và bao quát như thế mới có thể giữ vững được uy quyền Quốc
Gia để từ đó, đạt tới các mục tiêu khác của sự đối nội và
đối ngoại. Tin tưởng rằng người dân Việt nào cũng yêu nước
một cách sáng suốt và nhất là tỉnh táo trước nguy cơ của
cộng sản, ông đă kêu gọi ḷng yêu nước và sự hiểu biết của
dân chúng Việt Nam để giúp ông hoàn thành sứ mạng cứu nước.
Nhưng lúc ấy, bức tranh của xă hội Việt Nam, nhất là xă hội
miền Nam Việt Nam thật là nản ḷng.
Sự nản ḷng đầu tiên đến từ chính người đă trao
toàn quyền cho ông Diệm, đó là ‘’Quốc Trưởng’’ Bảo Đại. Được
mẫu quốc Pháp đào tạo để trở thành một con người chỉ biết
hưởng thụ vật chất, Bảo Đại đă ‘’bán đứt’’vùng Sài G̣n-Chợ
Lớn cho tên tướng cướp Bảy Viễn để lấy một số tiền lớn sống
xa hoa tại Pháp. V́ sự mua bán này và tin rằng Bảo Đại có
khả năng gạt ông Diệm ra khỏi chính trường Việt Nam bất cứ
lúc nào, tên Bảy Viễn đă hành động y hệt một ông vua của Sài
G̣n-Chợ Lớn. Đồng đảng của tên Bảy Viễn lại nắm luôn cả
Ngành Cảnh Sát Công An Nam Việt Nam lúc ông Diệm chấp chánh
nữa.
Quân Đội Quốc Gia thời ấy chưa được thử thách
nhiều và lại đặt dưới sự khống chế của Bộ Tư Lệnh Pháp tại
Đông Dương (muốn di chuyển một đơn vị quân sự Việt Nam dầu
nhỏ đến đâu cũng phải được sự cho phép của Bộ Tư Lệnh Pháp).
Như thế chưa đủ, nên người Pháp c̣n đặt tên Nguyễn Văn Hinh
vào vai tṛ Tham Mưu Trưởng đầu tiên của Quân Đội Quốc Gia
Việt Nam. Hinh là ‘’dân Tây’’ mang cấp bậc Trung Tá Không
Quân của Pháp nên hết ḷng khuyển mă với quan thầy thực dân
Pháp. Với tư cách ấy, xuất xứ ấy mà lại điều khiển Quân Đội
Quốc Gia Việt Nam, tên Hinh rất xứng đáng với danh xưng
‘’việt gian’’. Cũng may là trong thời kỳ phôi thai này, có
một số Đơn Vị Quân Đội Quốc Gia đă may mắn có Đơn Vị Trưởng
sáng suốt để ‘’ly khai’’ khỏi sự khống chế của thực dân/Hinh
để trực tiếp ủng hộ ông Diệm trong việc đối nội.
Nếu lúc ấy, các Giáo Phái tại miền Nam Việt Nam
có được cái nh́n tầm mức Quốc Gia như ông Diệm, nếu họ thấu
triệt được nguy cơ cộng sản như ông Diệm th́ các Giáo Phái
ấy đă phải tự nguyện t́m đến hợp tác với Chính Quyền Diệm
rồi. Tiếc rằng thực dân Pháp đă làm băng hoại tinh thần yêu
nước của các Giáo Phái ấy và mang quyền lợi riêng tư làm mồi
câu, khiến cho các Giáo Phái ấy không nh́n thấy được con
đường phải theo nữa. Vơ trang cho các Giáo Phái ở miền Nam
là một thủ đoạn của người Pháp. Hậu quả của thủ đoạn ấy là
khai sanh tinh thần ‘’lănh chúa’’ nơi những người Lănh Đạo
Giáo Phái. Tinh thần ấy đă uốn nắn lối suy tưởng của người
Lănh Đạo Giáo Phái, làm cho họ chỉ c̣n nh́n thấy quyền lợi
nhỏ hẹp trong giới hạn Tôn Giáo của họ. Giáo Sư Fishel ghi
rằng ‘’các Giáo Phái vơ trang ấy đă đ̣i giá rất cao để hợp
tác với ông Diệm’’ (Marvin E. Gettleman, ‘’Vietnam...’’
Trang 198).
Người viết sách này rất hănh diện được tôn vinh
ở đây sự sáng suốt về chính trị và ḷng yêu nước sâu xa của
Tướng Tŕnh Minh Thế, người đă làm đẹp mặt cho Giáo Phái
Cao Đài. Tướng Thế đă đến với ông Ngô Đ́nh Diệm rất sớm và
cũng là một trong những người có công lớn thúc đẩy ông Diệm
có thái độ dứt khoát với Bảo Đại. Tướng Thế là một Quân Nhân
đa hiệu đa năng, có khả năng hiếm có là vừa có dũng lại vừa
có mưu lược. Ông ta đă đi trước người đương thời đến cả chục
năm về sáng kiến và phát minh, thí dụ chế ra cách làm bom nổ
chậm, lập đài phát thanh, lập đường dây điện thoại đặc biệt.
Phải khâm phục Tướng Thế về cái nh́n chiến lược của ông ta
ngay trước khi thỏa hiệp Genéve 1954 ra đời. Lúc ấy, Tướng
Thế đă chủ trương rằng, nếu Hà Nội không chịu chấm dứt cuộc
xâm lăng miền Nam Việt Nam th́ cần chiếm ngay hai Tỉnh quan
ải của Bắc Việt, tiếp giáp với vĩ tuyến 17, để buộc Hà Nội
phải chấm dứt mọi h́nh thức khuynh đảo và xâm chiếm miền Nam
Việt Nam.
Đạo quân công chức quốc gia lúc ông Diệm về nước
là đạo quân phục vụ nhiều năm dưới sự lănh đạo của thực dân
Pháp. Đó là một đạo quân ngơ ngác, an phận và nói rơ hơn
nữa, là khiếp nhược. Đạo quân ấy chắc chắn không giúp ǵ
được cho ông Diệm trong những tuần lễ đầu tiên ông ta cầm
quyền.
Đó là chưa kể đến sự phá hoại vừa công khai, vừa
kín đáo của thực dân Pháp, chưa kể đến thái độ ‘’chờ xem’’
của ngay chính nước bạn Mỹ và lại càng chưa nói đến sự phá
hoại c̣n ghê gớm hơn nữa của cộng sản...Có lẽ điều an ủi duy
nhất cho ông Diệm trong lúc ấy là thái độ thụ động của quần
chúng miền Nam Việt Nam. Dường như họ trông chờ xem ông ta
có thể làm ǵ được để xoay chuyển t́nh thế quá đen tối lúc
ấy và thế giới bên ngoài không ngạc nhiên nữa, khi có rất
nhiều quan sát viên chờ đợi Chính Quyền Diệm sụp đổ ngay sau
năm cầm quyền đầu tiên.
Thế mà ông Ngô Đ́nh Diệm đă đứng vững được năm
đầu tiên và c̣n đứng vững hơn nữa ít ra là ở năm năm kế
tiếp.
Khí phách và đởm lược lănh đạo của ông Diệm đă
bị mang thử thách dữ dội nhất vào ngày 19.3.1955, khi những
người Lănh Đạo Cao Đài, Ḥa Hảo và B́nh Xuyên liên kết với
nhau thành một mặt trận rồi gởi tối hậu thư cho ông Diệm.
Đồng thời, phía thực dân Pháp tại Sài G̣n c̣n làm bộ nhân
đức là khuyên ông Diệm ‘’đừng nên chiến tranh tại Đường Phố
Sài G̣n/Chợ Lớn để dẹp các Giáo Phái’’. Ông Diệm đă hành
động đúng vai tṛ của một người Lănh Đạo Quốc Gia là không
thể duy tŕ t́nh trạng quái gở và hỗn loạn là nhiều Quốc Gia
trong một Quốc Gia. Chỉ cần ông nhu nhược và đầu hàng cái
tham vọng lănh chúa và thiển cận của các Giáo Phái vơ trang
thời ấy là miền Nam Việt Nam đă rơi vào t́nh trạng vô chính
phủ để rồi làm mồi cho cộng sản ngay sau đó rồi (Vietnam
Crisis, trang 86).
Quốc Gia đầu tiên chấm điểm thành tích của Chính
Quyền Diệm là nước Mỹ và họ chấm điểm một cách rất thiết
thực. Trước hào quang sáng chói của ông Diệm sau cuộc di cư
1954-1955, với sự ủng hộ cụ thể và nồng nhiệt của nhiều Quốc
Gia dành cho ông ta, phía cộng sản rất lo sợ. Chúng vội vàng
t́m đề tài tuyên truyền để mong triệt hạ uy tín đang lên cao
ấy của ông Diệm. Đề tài được chúng nhai lại nhiều lần và vẫn
có kẻ ngu xuẩn trên thế giới tin theo, là sự gán cho ông
Diệm cái tội ‘’làm tay sai cho đế quốc Mỹ’’
Tài liệu ngổn ngang trong sách báo ngoại ngữ đều chứng minh
điều ngược hẳn lại, nghĩa là cho tới ngày chết, ông Diệm
không những đă không rơi vào cái lỗi sợ sệt nước bạn Mỹ, mà
c̣n làm cho nước bạn Mỹ nhiều lần căm hờn v́ tinh thần bất
khuất và v́ ư thức bảo vệ danh dự cũng như Chủ Quyền Quốc
Gia lúc nào cũng cực kỳ mạnh mẽ trong con người cũng như
trong tác phong của ông Diệm.
Rơ rệt nhất có lẽ là thời điểm mà nước Mỹ đă lựa
để khởi đầu sự viện trợ cho Chính Quyền Diệm. Măi tới tháng
10.1954, sau hai tháng có mặt tại Nam Việt Nam để t́m hiểu
hy vọng tồn tại của Chính Quyền Diệm, Nghị Sĩ Mỹ Mike
Mansfield (người có ảnh hưởng rất sâu xa đối với việc h́nh
thành chính sách đối ngoại của nước Mỹ) mới phúc tŕnh về
Quốc Hội Mỹ rằng ông Diệm rất xứng đáng được Mỹ viện trợ về
kinh tế và quân sự. Mansfield kết luận trong phúc tŕnh rằng
‘’...Ông Diệm nổi tiếng khắp Việt Nam là người có Tinh Thần
Quốc Gia rất cao, là người không thể bị mua chuộc. Ông ta
cương quyết diệt trừ phá hoại và diệt âm mưu, mạnh mẽ chống
tham nhũng và bất công xă hội. Từ sự thất bại của tự do
trước đó, ông ta đă đưa vào một sinh khí mới. ’’ (Stephen
Pan & Daniel Lyons, ‘’Vietnam Crisis’’ Twin Circle
Publishing Co. , New York 1966, trang 86).
Đầu tháng 1 năm 1956, tuần báo ôn ḥa và trung
lập của nước Anh là tờ The Economist viết: ‘’Từ một t́nh thế
dường như tuyệt vọng trước đó 18 tháng, Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm đă mang lại được một trật tự và một sự yên ổn có thể
làm cho Miến Điện, Nam Dương và ngay cả Mă Lai nữa, thèm
muốn. Nhưng công việc c̣n phải làm sẽ rất nhiều và gian nan.
’’(Vietnam Crisis, trang 80)
Tháng 6 năm 1956, tại diễn đàn Hội Những Người
Mỹ Bạn Của Việt Nam, Nghị Sĩ John F. Kennedy khuyến cáo nước
Mỹ ‘’hăy mau lẹ cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế nhiều
hơn nữa cho Tổng Thống Diệm, v́ Chính Phủ của ông ta đă thực
hiện những bước sinh tử đầu tiên để tiến tới dân chủ thực
sự. Ở nơi mà trước đây, thực dân và cộng sản giành ngôi bá
chủ, đă có được một Nước Cộng Ḥa Tự Do và Độc Lập, được
trên 40 Quốc Gia của Thế Giới Tự Do thừa nhận. ’’ (Hans
Morgenthau, ‘’America Stake in Vietnam’’ New York 1956,
trang 69)
Tên kư giả thực dân và xấc láo của Mỹ là David
Halberstam sau này hung hăng chống lại sự trợ giúp của Mỹ
cho Nam Việt Nam mà hồi ấy cũng phải trầm trồ ca tụng là
‘’...Diệm đă hành động rất đúng và rất can đảm trong những
năm đầu tiên của Chính Phủ của ông ta.’’ (William Colby,
‘’Honorable Men, My Life In The CIA’’ Simon & Schuster, New
York 1978, trang 158).
Trên đây chỉ là sự trích dẫn một vài lời trong
nhiều lời ca tụng nồng nhiệt đầy kính trọng mà nhiều Quốc
Gia đă dành cho Chính Quyền Diệm những năm đầu của Chính
Quyền ấy. Lời lẽ trong những lời ca tụng ấy đă tạm đủ để cho
người Việt Quốc Gia hiểu rằng không thể tự nhiên mà được
Cộng Đồng Quốc Tế ban cho những lời ca tụng ấy và không phải
bất cứ người Việt Quốc Gia nào cũng có cơ hội được hưởng
những lời ca tụng ấy.
Bốn mươi lăm của Chính Phủ Hội Viên của Tổ Chức Liên Hiệp
Quốc đă thừa nhận Chính Phủ Diệm và lập quan hệ ngoại giao
chính thức với Chính Phủ ấy. Chính Phủ Diệm cũng c̣n được
hưởng quy chế quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc.
Nhiều Cường Quốc và nhiều Quốc Gia Tự Do đă mời
ông Ngô Đ́nh Diệm tới thăm chính thức tại Nước họ để được
nghe ông Diệm nói về triển vọng xây dựng một miền Nam Việt
Nam Tự Do và Dân Chủ. Cử chỉ mời ông Diệm tới thăm chính
thức cũng là một h́nh thức để các Quốc Gia thân hữu ấy chứng
tỏ cho Thế Giới biết rằng không phải họ chỉ có gởi tới ông
Diệm những lời ca tụng xuông mà thôi.
Có theo dơi những buổi thuyết tŕnh, chiếu lại
h́nh ảnh những khi ông Diệm đọc diễn văn trước các Cơ Quan
Hiến Định cao nhất của các Quốc Gia thân hữu ấy, có quan sát
sự kính nể mà các Nhà Lănh Đạo Quốc Gia ấy dành cho ông Diệm
và có nh́n thấy thái độ tự trọng, tự tin và rất trang nghiêm
đầy tinh thần Kẻ Sĩ Đông Phương của ông Diệm trong cương vị
đại diện chính thức cho Dân Tộc Việt Nam, người ta lại càng
thêm tin rằng quả thật ḷng yêu nước nhiệt thành và Tinh
Thần Quốc Gia cao độ của ông Diệm đă mang lại cho ông sự
kính nể và ngưỡng mộ của Thế Giới bên ngoài.
Sau khi ông Diệm bị giết hại rồi, từ đó về sau,
cho tới ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ vào cuối tháng 4 năm
1975, Chính Quyền Quốc Gia của Nam Việt Nam không bao giờ có
được một người lănh đạo có hào quang tối thiểu để được Cộng
Đồng Quốc Tế kính trọng nữa.
Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm là Chính Quyền duy
nhất của người Việt Quốc Gia tạo được Chính Danh, Chính
Thống và Chính Nghĩa cho công cuộc chống cộng của người Việt
Nam.
CHIẾN DỊCH TỐ CỘNG
Một trong những thành tích được nhắc nhở nhiều của Chính
Quyền Ngô Đ́nh Diệm là Chiến Dịch Tố Cộng. Để tránh dùng
những chữ lớn, ta hăy lượng định kết quả Chiến Dịch ấy bằng
một tiêu chuẩn thiết thực, đó là cuộc trắc nghiệm để xem
người dân miền Nam Việt Nam ủng hộ Chính quyền Diệm tới mức
nào và nếu có sự ủng hộ đó th́ sự vạch mặt chỉ tên những tên
cộng sản nằm vùng sẽ là cái thước để đo sự ủng hộ ấy. Cho
tới năm 1959, kết quả thâu được cho Chiến Dịch ấy thật là
tốt đẹp, người dân miền Nam đă sốt sắng chỉ chỗ ẩn núp, cho
tên tuổi những tên cộng sản nằm vùng để Chính Quyền Quốc Gia
theo dơi hoặc bắt giữ.
Cũng nên nhắc lại là từ năm 1954 cho tới 1956, tập đoàn lănh
đạo Hà Nội ung dung ngồi chờ Chính Phủ Diệm sụp đổ. Sau năm
1956, Chính Phủ Diệm không những đă không chết mà lại vững
mạnh hơn rất nhiều và nhất là Chiến Dịch Tố Cộng bắt đầu tàn
phá hàng ngũ nằm vùng của cộng sản th́ Hà Nội thật sự lo
ngại.
Năm 1956, Hà Nội phái Lê Duẩn vào miền Nam để làm sống lại
cơ cấu nằm vùng của cộng sản tại miền Nam. Người ta biết
rằng Duẩn đă ở lại miền Nam từ 1956-1958.
Trong khoảng thời gian hai năm này, cộng sản ở miền Nam Việt
Nam đă khóc lóc để van xin Hà Nội cứu giúp, v́ chiến dịch Tố
Cộng của Chính Phủ Diệm gây tai hại quá sức chịu đựng của
bọn cộng sản nằm vùng ở miền Nam rồi.
Hà Nội họp đại hội đảng khoán đại vào đầu năm 1959 để nghiên
cứu cách cứu bọn đàn em ở miền Nam. Từ phiên họp khoáng đại
này, Hà Nội đi tới quyết định là dùng vơ lực để chiếm miền
Nam Việt Nam.
Tuy trước đó, Hà Nội vẫn đều đều xâm nhập người và vũ khí từ
miền Bắc vào miền Nam, nhưng mức xâm nhập ấy chỉ để nuôi
sống bọn đàn em ở miền Nam, chứ không đủ để mong lật đổ
Chính Quyền Quốc Gia của ông Diệm. Đơn vị xâm nhập quy mô
đầu tiên mang bí số là 559, gồm trên 20.000 người (binh
lính, cán bộ và lao công). Bắt đầu xâm nhập vào miền Nam từ
tháng 5 năm 1959. Số 559 là bí số bắt nguồn từ thời điểm
‘’tháng 5 năm 1959’’). Tên Vơ Bầm là sĩ quan cao cấp đầu
tiên của quân đội Hà Nội được chỉ định điều khiển đoàn xâm
nhập 559. Ngày 25.2.1983, Tuần Báo The Economist của nước
Anh ghi lại cuộc phỏng vấn Vơ Bầm do Đài Truyền H́nh Pháp,
chương tŕnh phim tài liệu thực hiện, với Phái viên Jérôme
Kanapa phỏng vấn. Vơ Bầm đă thú nhận rằng sự xâm nhập quy mô
đă bắt đầu ngay từ năm 1959, nghĩa là hai năm trước khi Tổng
Thống Kennedy bắt đầu đẩy mạnh sự viện trợ quân sự cho miền
Nam Việt Nam.
Vậy th́ cho tới năm 1959, ít ra, quảng đại quần chúng của
miền Nam Việt Nam chưa bị các sự tuyên truyền phá hoại từ
nhiều phía đầu độc sự suy tưởng của họ và họ đă để Chính
Quyền Diệm có cơ hội hành động.
Những hậu quả đầu tiên của sự xâm nhập quy mô từ miền bắc đă
để lại chết chóc gia tăng rất sớm. Thống kê về những sự ám
sát Viên Chức Xă Ấp tại miền Nam Việt Nam từ 1957 tới 1959
cho thấy rơ mức độ tàn phá gia tăng của sự xâm nhập ấy. Thí
dụ trong trọn năm 1958, có tất cả 193 vụ ám sát Viên Chức Xă
Ấp ở miền Nam Việt Nam, trong khi chỉ riêng bốn tháng cuối
của năm 1959, đă có tới 119 vụ ám sát tương tự (William
Colby, ‘’Honorable Men...trang 158).
Chính Phủ Úc là một trong vài Quốc Gia sáng suốt và khôn
ngoan nên đă sớm hiểu các khó khăn của ông Diệm, và nhất là
hiểu tại sao từ 1959 trở về sau, Chính Quyền ấy càng ngày
càng phải cứng rắn hơn trước khi đối phó với cộng sản. Chính
Phủ Úc nhân dịp này đă gửi cho Thế Giới một lời khuyên thiết
thực, đầy khôn ngoan để Thế Giới ấy biết cách đánh giá hiệu
năng của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Nhắc nhở Thế Giới là hăy
đánh giá Chính Phủ Diệm theo tiêu chuẩn Á Đông và theo thực
tế của t́nh h́nh, hơn là theo cách đánh giá của Tây phương,
Ngoại Trưởng Úc R. G. Casey viết: ‘’Hai sự việc cần được mọi
người ghi nhớ khi muốn chỉ trích Chính Quyền Nam Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam đang ở tuyến đầu Chiến Tranh Lạnh. Chính
Phủ của Xứ ấy không thể để lộ một sơ hở nào khả dĩ cho đối
phương khai thác. Một sơ hở nào lộ ra cũng sẽ cực kỳ nguy
hiểm, không những cho Việt Nam mà c̣n cho tự do cả Đông Nam
Á nữa. Thứ hai, sự thực hiện dân chủ ở Cấp Bộ Quốc Gia là
một quan niệm hoàn toàn mới mẽ tại Việt Nam và cần phải có
thời giờ để phát triển các định chế, các truyền thông, các
tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ theo đường lối xây
dựng và hữu trách. ’’ (Richard Lindhelm, ‘’Vietnam The First
Five Years’’Ann Arbor, Michigan 1959, trang 344).
Ngày 27.1.1960, tại Trảng Sụp, gần biên giới Việt Miên trong
Tỉnh Tây Ninh, cộng quân đă đánh úp và gây thiệt hại rất
nặng nề cho Hậu Trạm một Trung Đoàn Bộ Binh Việt Nam Cộng
Ḥa. Trận đánh úp này coi như chính thức mở màn cuộc chiến
tranh Đông Dương II và cho thấy mức độ xâm nhập của cộng sản
vào miền Nam đă tới thời kỳ đe dọa sự tồn tại của miền Nam
tự do.
Tháng 5.1960, Hà Nội họp tập đoàn lănh đạo, rồi công khai
tuyên bố tại phiên họp ấy rằng ‘’...đă đến lúc kiên tŕ
chiến đấu dũng cảm để diệt Chính Phủ Diệm. ’’(William
Colby, ‘’Honorable Men... trang159).
Thêm một dấu vết rơ rệt nữa để chứng tỏ sự hữu hiệu của
Chiến Dịch Tố Cộng. Đó là lời của hai tác giả Pháp thân
cộng, Jean Lacouture và Bernard Fall. Hai tên này chạy tội
cho Hà Nội bằng cách nói rằng v́ bị Chính Quyền Diệm săn
đuổi, lùng diệt dữ quá nên cộng sản ‘’đành phải đánh trả để
khỏi bị tiêu diệt’’. Mặc dù đây là lời chạy tội cho phía
cộng sản, nhưng lời chạy tội ấy lại có một tác dụng dội
ngược không ngờ là đă trực tiếp nh́n nhận rằng quả thật
Chiến Dịch Tố Cộng của Chính Quyền Diệm đă đánh trúng huyệt
của cộng sản.
Tháng 9 năm 1960, Hà Nội họp đại hội đảng lần thứ 3 để thông
qua nghị quyết tiến đánh chiếm miền Nam Việt Nam và để lừa
gạt dư luận thế giới. Công cụ ấy được mệnh danh là Mặt trận
giải phóng miền Nam.
Trước khi Hà Nội khai sinh công cụ nói trên, có hai biến cố
tại Nam Việt Nam diễn ra theo chiều hướng bất lợi cho cuộc
chiến đấu tự vệ của Nam Việt Nam. Thứ nhất là ‘’tối hậu
thư’’ của ‘’nhóm Caravelle’’gửi ông Diệm và thứ hai là cuộc
đảo chính bất thành của một số sĩ quan cấp Tá đêm
11.11.1960.
Nhóm Caravelle (dân chúng c̣n dùng danh từ mỉa mai ‘’nhóm
trí thức Caravelle’’ để tặng nhóm này nữa) gồm gần hai chục
nhà ‘’trí thức ‘’ Việt Nam họp nhau tại Nhà Hàng Caravelle,
là Nhà Hàng sang trọng nhất Sài G̣n thời ấy để bàn ‘’quốc
sự’’. Sau bữa tiệc linh đ́nh, với rượu ngon, gái đẹp, các vị
trí thức ấy đă gửi tối hậu thư đ̣i Ông Diệm phải cải tổ
Chính Phủ và thay đổi đường lối lănh đạo.
Trong điều kiện sinh hoạt chính trị b́nh thường, hiểu là
không bị cộng sản đe dọa, th́ yêu cầu ấy thật hợp lư. Tiếc
rằng các nhà trí thức kia đă không đếm xỉa đến lời cảnh cáo
thật ư nghĩa của Ngoại Trưởng Úc R. G. Casey. Nói nôm na là
họ đ̣i ông Diệm chia ghế lănh đạo với họ.
Nhưng nguy hơn nữa là nhóm trí thức ấy không nh́n thấy nguy
cơ của cộng sản càng ngày càng lan rộng, càng đè nặng lên
miền Nam Việt Nam. Theo sự suy luận của nhóm trí thức ấy th́
chỉ cần ông Diệm chia cho họ một số ghế trong Chính Phủ th́
nguy cơ cộng sản sẽ tự nhiên tan biến như một phép lạ. Người
ta có thể chỉ trích ông Diệm về nhiều điều, nhưng không thể
phê b́nh ông về cái nh́n sắc bén cũng như thiết thực về nguy
cơ của cộng sản. Hăy cứ tưởng tượng sự lănh đạo miền Nam
được trao vào tay gần hai chục nhà đại trí thức ngây thơ
thuộc nhóm Caravelle th́ sự sống c̣n của miền Nam Việt Nam
trong tự do sẽ đếm được bao nhiêu ngày sau đó ?
Cuộc đảo chính đêm 11.11.1960 diễn ra một cách rất tài tử,
hay dùng chữ chính xác hơn nữa, một cách ngu xuẩn. Chưa tới
hai chục sĩ quan cấp Tá, lớn nhất là cấp bậc Trung Tá, nhờ
móc nối được với một vài Đơn Vị Dù đồn trú gần Sài G̣n, đă
mưu lật đổ Chính Phủ Diệm. Có hai nét nổi bật về thân thế đa
số sĩ quan chủ mưu cuộc đảo chánh ấy. Thứ nhất phần lớn đều
xuất thân từ quân đội thực dân Pháp. Ư niệm yêu nước, độc
lập và chống cộng của họ đă bị người Pháp uốn nắn nên đă trở
thành rất lờ mờ. Thứ hai, đa số là Huấn Luyện Viên tại
Trường Đại Học Quân Sự (Trường này trước năm 1955 là Viện
Nghiên Cứu Quân Sự của Pháp tại Việt Nam. Khi Pháp rút hết
th́ Trường ấy trao lại cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, được
đổi tên là Trường Đại Học Quân Sự, rồi đến giai đoạn chót,
trước khi Nam Việt Nam sụp đổ, được cải danh thành Trường
Chỉ Huy và Tham Mưu). Tất cả đám chủ mưu này không ai có
thành tích tranh đấu về chính trị và chưa bao giờ tham
chính. Người duy nhất giữ được tư cách và khí phách là Trung
Tá Nguyễn Triệu Hồng và ông ta là người chết đầu tiên khi
cầm đầu một đám đàn em xung phong chiếm Tổng Nha Cảnh Sát.
Đa số kẻ chủ mưu cuộc đảo chánh này đă theo đường bộ trốn
thoát sang Cao Mên. Trong số này, có Đại úy thi sĩ Phan lạc
Tuyên, tác giả nhiều bài thơ t́nh cảm dân tộc rất được ưa
chuộng, đă bị cộng sản tại Cao Mên móc nối, hứa hẹn trời
biển sao đó mà ông ta đă bỏ hàng ngũ Quốc Gia để gia nhập
vào quân đội cộng sản. Chúng đă phong cho ông ta tới chức
Trung đoàn trưởng (có được thật sự chỉ huy một Trung đoàn
hay không là điều không cần bàn ở đây) và nghe nói việt cộng
mang tên tuổi ông ta dùng vào việc tuyên truyền sách động
quần chúng trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.
Sau cuộc đảo chính bất thành ấy, khi nghe thuộc
hạ báo cáo về xuất xứ thành phần ‘’Phản loạn’’ phần lớn là
sĩ quan Huấn Luyện Viên của Trường Đại Học Quân Sự, ông Diệm
đă gọi Trường ấy là ‘’Trường phản loạn’’ và ít ngày sau đó
ông ra lệnh đuổi Trường ấy lên Thành Phố Cao Nguyên Đà Lạt.
Vài nét vắn tắt về Trường Quân Sự này sẽ không
vô ích, v́ nó giúp người đọc hiểu thêm chút nữa về lư do
khiến cho một số Quân Nhân miền Nam Việt Nam thù hận ông
Diệm. Khi gọi Trường ấy là ‘’Trường phản loạn’’, có thể ông
Diệm không ngờ rằng chính cái chính sách dùng người của ông
ta đă cung cấp chất liệu để dần dần, tạo thành tinh thần
phản loạn tại Trường ấy. Ông Diệm đi tiên phong chính sách
dùng người ‘’theo tín nhiệm hơn là theo khả năng’’Nhiều Sĩ
Quan Tỉnh Trưởng hoặc Quận Trưởng được thăng cấp rất mau,
được ban thưởng hậu hĩ, nhưng cũng có thể bị cất chức rất
mau. Một số đông quư vị sĩ quan từng được ân sủng như thế đă
được tuyên chuyển về làm Huấn Luyện Viên Trường Đại Học Quân
Sự. V́ lúc ấy, miền Nam chưa có Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng
nên Trường Đại Học Quân Sự là Trường Cao Cấp nhất của Nam
Việt Nam. Là Quân Trường cao cấp nhất, nhưng Trường ấy lại
chứa nhiều kẻ bất măn nhất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Chưa có Đơn Vị Quân Đội nào lại chứa nhiều kẻ thất sủng đến
như vậy, đa số Huấn Luyện Viên tới lớp dạy học thường vẫn
c̣n phô trương cái thuở vàng son quá khứ của họ khi vên váo
kể cho các Sĩ Quan Khóa Sinh nghe thời kỳ họ c̣n cai trị ở
Tỉnh này, ở Quận kia v.v...Ngoài sự căm thù ông Diệm đă cất
chức họ, nhiều Sĩ Quan của Trường Đại Học Quân Sự lại có một
lư do khác nữa, chẳng cao quư ǵ, để thù hận ông Diệm thêm.
Trong những lúc rănh rỗi, họp nhau tại Câu Lạc Bộ của Trường,
hoặc tụ họp nhau để ăn nhậu say sưa tại một hàng quán sang
trọng nào đó, đám Sĩ Quan này thường chửi rủa ông Diệm v́
ông đă ‘’ngăn cản không cho họ được sống xa hoa, trụy lạc
bừa băi’’.
Vụ nhóm trí thức Caravelle được nhà báo Tây
phương ác cảm với Chính Quyền Diệm thổi phồng thành một lư
do để đám nhà báo ấy kết án Chính Quyền Diệm là ‘’thiếu căn
bản dân chủ’’. Vụ đảo chính bất thành 11.11.1960 được bọn
nhà báo ấy suy diễn là ‘’Quân Đội Nam Việt Nam không tín
nhiệm ông Diệm và không muốn ủng hộ ông ta nữa.’’ Dĩ nhiên,
hai điều này đă được Hà Nội tận t́nh khai thác. Nhưng chúng
vẫn chưa thấy là đủ để dùng đ̣n độc hạ thủ ông Diệm. Chất
liệu độc thủ ấy đă được một số người thuộc thành phần trí
thức miền Nam dâng cho Hà Nội để từ đó, đẻ ra cái quái thai
chính trị gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam.
Cái quái thai chính trị này là lá bài then
chốt của Hà Nội để che mắt thế giới hầu đẩy mạnh cuộc xâm
lược vơ trang chiếm miền Nam sau này. Từ 1960 là thời điểm
Hà Nội khai sinh tổ chức gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
cho chúng. Ngày chúng chiếm được Nam Việt Nam vào cuối tháng
4.1975, cái đám trí thức miền Nam nói trên đây, vừa ngu dại,
kiêu căng lại vừa thiển cận đă đắc lực giúp Hà Nội trên mặt
trận quốc tế vận cũng như trên mặt trận dụ dỗ người nông dân
miền Nam Việt Nam.
Năm 1961 có hai biến chuyển lớn. Một là sự tái
đắc cử của ông Diệm vào tháng 4 năm ấy và hai là việc Nghị
Sĩ trẻ tuổi John F. Kenedy nhận chức Tổng Thống Mỹ. Ngay sau
khi biết ông Diệm tái đắc cử, cộng sản biết rơ rằng trong
những năm tới, chúng c̣n khốn đốn hơn nữa v́ chủ trương
triệt để chống cộng của ông Diệm. Do đó, cộng sản quốc tế la
làng rằng ông Diệm ‘’...là kẻ thù của nhân dân Á Châu và là
chướng ngại chính cho sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản
tại Á Châu. ’’ (Vietnam Crisis trang 110).
ẤP CHIẾN LƯỢC
Dầu cho kế hoạch lập Ấp Chiến Lược của Chính
Quyền Ngô Đ́nh Diệm được ca tụng hay bị chê bai th́ kế hoạch
ấy cũng là một trong những điều được chú ư nhiều.
Kế hoạch gom dân lại để tách họ khỏi sự khủng bố
của cộng sản và cũng để cộng sản không bám được vào dân mà
kiếm lương thực, không phải là sáng kiến mới mẻ ǵ của miền
Nam Việt Nam. Phi Luật Tân và Mă Lai đă dùng công thức ấy để
chống cộng sản và hai xứ ấy đă thành công, nhất là Mă Lai.
Công thức này làm cho người dân gần với nhau hơn và làm cho
người dân gần gũi với chính quyền hơn. Khi c̣n ở lẻ tẻ, rải
rác, cách xa nhau, họ dễ làm mồi cho cộng quân giết hại. Nếu
vào trong một Ấp rồi th́ người dân sẽ cảm thấy tự tin hơn v́
biết rằng cộng quân sẽ phải đánh lớn nếu muốn giết hại dân
và nếu muốn cướp thực phẩm của dân. Kế hoạch gom dân như thế
đă thành công tại Phi Luật Tân và tại Mă Lai nhờ người dân ở
hai xứ ấy đă sớm hiểu được hai điều sinh tử trong cuộc chiến
chống cộng sản. Một là người dân hai xứ ấy, tuy không cần
phải có tŕnh độ học thức cao, nhưng đă sớm hiểu rằng họ bắt
buộc phải hy sinh một phần tự do cá nhân của họ để đổi lấy
sự bảo vệ của Chính Quyền Quốc Gia. Điều thứ hai c̣n quan
trọng hơn nữa, là họ hiểu rằng trong cuộc chiến tranh tệ hại
như chiến tranh chống cộng, nếu người dân không chịu hợp tác
với Chính Quyền rồi th́ trước sau, người dân cũng sẽ trở
thành nô lệ cho cộng sản. Khi ấy th́ không một sức mạnh quân
sự nào của Chính Quyền Quốc Gia hoặc của một Cường Quốc bạn
nào khác có thể giải thoát được họ nữa.
Tại Nam Việt Nam, từ 1962 cho tới tháng 5 năm
1963, Chính Quyền Diệm đẩy mạnh việc lập các Ấp Chiến Lược
và gọi kế hoạch ấy là ‘’Quốc sách’’. Kết quả sơ khởi rất tốt
đẹp. Chỉ nói riêng về Tỉnh Long An, Chính Quyền Tỉnh ấy đă
gom được dân vào 220 Ấp Chiến Lược và trong thời gian gần
một năm, Chính Quyền Long An đă dồn được các phần tử việt
cộng vào 35 Ấp c̣n lại. Sự cô lập các phần tử việt cộng tại
các Tỉnh khác cũng được ghi nhận là khả quan. Nói một cách
khác, kế hoạch lập Ấp Chiến Lược đe dọa sự sống c̣n của cộng
sản ở miền Nam Việt Nam.
Kể từ lúc ông Diệm tái đắc cử, Hà Nội đă đặt ưu
tiên cao nhất là việc phải hạ bệ ông Diệm cho bằng được. Hà
Nội c̣n phải vùng vẫy để thoát khỏi gọng ḱm tai hại của kế
hoạch Ấp Chiến Lược. Một cái bẫy thật lớn được Hà Nội tung
ra để mưu loại ông Diệm. Không phải v́ t́nh cờ mà kế hoạch
phá các Ấp Chiến Lược do Hà Nội phát động lại đồng thời với
cuộc khủng hoảng Phật Giáo tại miền Nam Việt Nam.
Nếu chỉ hoàn toàn dựa vào chém giết và khủng bố
th́ có thể Hà Nội rốt cuộc sẽ làm cho nông dân v́ khiếp sợ
quá mà quay lại chống trả bọn chúng. Phải có một chiêu bài
khác để vừa dụ nông dân miền Nam, vừa lừa bịp được thế giới
bên ngoài. Nên khen Hà Nội có tài dụ dỗ giỏi để đưa được một
đám trí thức miền Nam vào cái bẫy sập, hay là nên ngậm ngùi
rằng miền Nam lại có thể sản xuất được một số trí thức ngu
xuẩn đến mức độ làm tay sai cho một bọn phản quốc có hạng mà
lại cứ tưởng rằng ḿnh khôn ngoan lắm và yêu nước lắm? Có lẽ
nên nghĩ tới sự ngậm ngùi cho đám trí thức ấy th́ đúng hơn,
v́ khen cộng sản lừa bịp giỏi là làm một việc vô ích.
Từ lúc kế hoạch lập Ấp Chiến Lược bắt đầu được
thi hành cho đến khi bùng nổ cuộc khủng hoảng về Phật Giáo
tại Nam Việt Nam, thời gian trôi qua chưa tới một năm. Đó là
một khoảng thời gian chưa đủ để lượng định về kết quả của
một kế hoạch có tầm mức chiến lược như vậy. Dầu sao, người
ta cũng đă thấy những nhược điểm lớn nhất của kế hoạch hiện
ra.
Nhược điểm đầu tiên là kế hoạch ấy được thảo bởi
hai nhân vật rất ít hiểu biết về t́nh h́nh chiến tranh
khuynh đảo của cộng sản quốc tế. Staley là một người Mỹ chưa
từng có một chút kinh nghiệm nào về chiến tranh dấy loạn. Vũ
Quốc Thúc là một Nhà Trí Thức Việt Nam chưa bao giờ được coi
là người có kiến thức tối thiểu về chiến tranh du kích.
Người ta hiểu rằng hai người vừa kể ít ra cũng đă có ‘’tham
khảo’’ một số người, có thể là đă tham khảo luôn cả Cố Vấn
Phản Du Kích của Chính Phủ Mă Lai là ông Robert Thonpson,
nhưng bấy nhiêu chưa đủ. Một điều nguy hại cho kế hoạch ấy
ngay từ khởi điểm là Staley/Thúc có vẻ như đă tin rằng kế
hoạch gom dân để tách họ ra khỏi quân phiến loạn đă thành
công tại Mă Lai và tại Phi Luật Tân th́ cũng sẽ thành công
tại Nam Việt Nam.
Như đă ghi ở đoạn trên, kế hoạch gom dân tại hai
nước bạn thành công v́ người dân ở hai xứ ấy khôn ngoan hơn
người dân miền Nam Việt Nam. V́ khôn ngoan nên họ chấp nhận
hy sinh một phần các quyền tự do hàng ngày của họ, biết rằng
sự hy sinh ấy không vô ích, v́ nếu để cho cộng sản cướp được
chính quyền th́ họ sẽ chẳng c̣n được hưởng chút tự do nào
nữa.
V́ không có được sự khôn ngoan b́nh dân ấy ngay
từ đầu nên người nông dân miền Nam Việt Nam không tha thiết
với việc ra khỏi ruộng vườn nhỏ bé của họ để vào sống trong
Tổ Chức Ấp Vơ Trang Tự Vệ.
Thêm vào cái tâm lư tiêu cực vừa kể, ít ra cũng
c̣n ba điều khác nữa làm cho người nông dân miền Nam Việt
Nam càng thêm tiêu cực với kế hoạch lập Ấp Chiến Lược. Thứ
nhất là kinh nghiệm của họ với nền hành chánh thời Pháp
thuộc. Họ đă bị đày đọa quá nhiều v́ thực dân và v́ đám
người Việt làm tay sai cho thực dân như đám Đốc Phủ Sứ, đám
Huyện, đám Cai Tổng v.v...Người ta có thể hiểu tâm trạng
thất vọng năo nề của những nông dân ấy khi phải sống dưới
một chính quyền chỉ biết bóc lột dân và không hề có chút
kính trọng tối thiểu đến đời sống của người dân.
Nỗi thất vọng chồng chất ấy được giải tỏa khi
nông dân tin rằng những người cộng sản sẽ mang lại cho họ no
ấm, tự do và sự kính trọng. Sự tin tưởng lăng mạn ấy đưa họ
đến một kết luận vội vàng là giữa chính quyền của thực dân
và chính quyền cộng sản, không có một thứ nào ở giữa. Người
nông dân ấy không nghĩ được rằng có thể có một chính quyền
không cộng sản và không tồi tệ như chính quyền thực dân ngày
trước.
Điều thứ ba là sự ngu dại của đám trí thức miền
Nam thuộc thành phần gọi là Nhóm Liên Trường. Nếu trí thức
miền Bắc Việt Nam nổi bật v́ sự khiếp nhược th́ trí thức
miền Nam Việt Nam nổi bật v́ sự tự cao và tự tin trong ngu
dại. Không biết đám trí thức miền Nam này học được ở đâu mà
tự nuôi cái ảo tưởng rằng có thể thuyết phục được cộng sản
Hà Nội để cho miền Nam được sống yên ổn với một quy chế tự
trị. Từ cái ư niệm sơ khởi vừa dại dột lại vừa tai hại ấy,
đám trí thức nói trên đă rất đắc lực tiếp tay với Hà Nội
trong kế hoạch làm sụp đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Hà Nội thảo ra kế hoạch ba mặt giáp công để
hạ Chính Quyền của ông Diệm. Mặt thứ nhất là khai sinh công
cụ chính trị và tuyên truyền gọi là Mặt trận giải phóng miền
Nam. Mặt thứ hai là sách động dân quê miền Nam để họ chống
lại kế hoạch gom dân vào Ấp Chiến Lược. Mặt thứ ba là dùng
Tôn Giáo để cô lập Chính Quyền Diệm với Cộng Đồng Quốc Tế,
nhất là cô lập miền Nam với nước Mỹ.
Người ta đă biết rằng cầm đầu đám trí thức miền Nam thời ấy
là tên Trương như Tảng, V́ có mặt của hắn và của một số trí
thức khác của miền Nam cũng ngu dại như hắn nằm trong cái
gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam nên một phần
lớn thế giới bên ngoài đă tin rằng cái tổ chức ấy không lệ
thuộc cộng sản Hà Nội. Sự tin tưởng ấy đă kéo theo vô số nạn
nhân trong đám trí thức Tây phương (Âu Châu, Mỹ Châu,
Canada). Những thiệt hại về sinh mạng của Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa không nguy hại cho sự sống c̣n của Việt Nam Cộng
Ḥa bằng những lời ca của Joan Baez, những lời tuyên bố của
nữ tài tử Jane Fonda và chồng của y thị là Tom Hayden, những
bài báo và những lời tuyên bố của Jean Paul Sartre, Oliver
Todd, Jean Lacouture, Jean Lartéguy, Pierre Darcourt...Tóm
lại, Trương như Tảng và đồng bọn đă lập được công lớn giúp
Hà Nội ru ngủ và lừa bịp được thế giới bên ngoài trong suốt
cuộc chiến tranh Việt Nam.
Ở mặt trận thứ hai, một đám trí thức khác của miền Nam (cũng
trong cái gọi là Nhóm Liên Trường) đắc lực giúp Hà Nội bằng
chiến thuật nằm vùng. Khí giới của bọn này là báo chí và
luôn cả sự tự do mà chế độ Cộng Ḥa của Nam Việt Nam để cho
chúng được hưởng rộng răi. Chủ lực của đám trí thức này là
những tên thuộc thành phần ‘’ngựa non háu đá’’và ‘’điếc
không sợ súng’’ như Lư quư Chung, Nguyễn hữu Chung, Hồ ngọc
Nhuận v.v...
Những tên vừa kể mở hai chiến dịch. Thứ nhất là chiến dịch
gây thù hận giữa nông dân miền Nam và Chính Quyền Diệm. Thứ
hai là chiến dịch chia rẽ Nam và Bắc (đây là hậu thân của
thủ đoạn chia rẽ Nam Bắc do thực dân Pháp đẻ ra ngày trước).
Người ta đă được đọc những bài báo do đám trí thức dại dột
này viết về Ấp Chiến Lược. Trong những bài ấy, chúng gợi
trong ḷng người nông dân miền Nam t́nh yêu Thôn Ấp và gợi ư
tưởng căm thù những ai muốn tách họ ra khỏi Thôn xóm của họ.
Là thành phần thiếu hiểu biết, ít suy nghĩ người nông dân
miền Nam Việt Nam đă dễ dàng rơi vào cái bẫy của đám trí
thức tay sai cho cộng sản Hà Nội kia.
Khi c̣n cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đă từng tung ra
chiến dịch gây căm thù giữa người miền Bắc và người miền
Nam. Thời ấy, đă có những kẻ ngu xuẩn ở miền Nam hăng hái
thi hành kế hoạch chia rẽ hiểm độc và bần tiện của thực dân.
Thêm vào đó, lúc nào cũng có ở miền Nam Việt Nam một khuynh
hướng coi miền Nam không phải là một phần lănh thổ của nước
Việt Nam. Phần lớn những kẻ có khuynh hướng này đều là nô lệ
cho thực dân và được quan thầy Pháp ban thưởng cho cái ân
huệ ô nhục là được ‘’Vào dân Tây’’.
Bọn trí thức ‘’ngựa non háu đá’’ tuy có được cắp sách đến
trường nhưng không chịu mở mắt để học về Lịch Sử của Dân Tộc
Việt. Chúng trân tráo lớn tiếng nhục mạ những ‘’người Bắc di
cư’’ trên mặt báo và tại những nơi Công Cộng. Trong sự dại
dột ấu trĩ, bọn chúng tưởng gây hận thù và chia rẽ như vậy
th́ sau này chắc chắn sẽ được cộng sản Hà Nội để cho yên với
chủ trương ‘’miền Nam của người Nam’’
Ngoài ra, c̣n hai điều khác nữa, một thuộc về quân sự và một
thuộc về tâm lư, làm cho kế hoạch lập Ấp Chiến Lược không
thành công được. Về quân sự, khi Ấp Chiến Lược đầu tiên được
tổ chức xong th́ cộng quân ở miền Nam đă có khả năng mở cuộc
tấn công đến cấp trung đoàn và cao hơn nữa. Về chiến lược và
chiến thuật, cộng quân có thể tập trung đông đảo quân số để
đạt ưu thế tạm thời rồi tấn công ồ ạt vào một vị trí cố thủ
của quân chính phủ. Trước quan niệm chiến lược vận động
chiến của cộng quân, quan niệm cố thủ bằng đồn bót và pháo
lũy là quan niệm tất bại. Áp dụng quan niệm ấy cho Ấp Chiến
Lược làm sao có thể đánh bại được cộng quân? Những người
điều khiển lập Ấp Chiến Lược có một cái nh́n rất lạc quan và
rất chủ quan về khả năng của một Ấp Chiến Lược. Theo họ th́
một khi Ấp đă được cấp phát một số vũ khí th́ dân trong Ấp
có đủ khả năng đẩy lui mọi cuộc tấn công quân sự của cộng
quân. Không cần phải dùng nhiều lời cũng có thể chứng minh
rằng cái nh́n ấy quá sai lầm và bệnh hoạn. Các đồn bót của
quân đội Pháp trong trận chiến tranh Đông Dương 1946-1954 và
các đồn bót của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa sau năm 1954 đều
không giữ được nếu cộng quân quyết định trả giá cao để diệt
đồn. Trong khi đó, ngoài số vũ khí sơ sài và chỉ gồm vũ khí
nhẹ, dân trong Ấp lại không huấn luyện về quân sự. Nhưng
nguy hại hơn nữa là dân trong Ấp không có tinh thần tha
thiết sống chết với Ấp. Một khi họ đă không tha thiết cố thủ
th́ kế hoạch Ấp Chiến Lược chắc chắn sẽ thất bại. Đă thế,
dân trong Ấp c̣n được bọn trí thức tay sai của Hà Nội ngày
đêm nhồi vào đầu họ cái ư nghĩ căm thù Chính Quyền Quốc Gia
v́ đă cưỡng bắt họ từ bỏ ruộng vườn để vào Ấp sống như trong
một trại tập trung. Một Ấp Chiến Lược nào đó bị cộng quân
đánh tan sẽ là một lư do để nông dân miền Nam trốn khỏi Ấp
để trở về nhà cũ.
Điều thứ hai là tinh thần Cán Bộ Dân Sự và Quân Sự của miền
Nam trong việc thi hành kế hoạch lập Ấp Chiến Lược. Người
viết sách này ghi nhận được nhiều điều bi hài trong thời kỳ
có các Khóa Huấn Luyện về Ấp Chiến Lược tại Trung Tâm Suối
Lồ Ô (gần Biên Ḥa).
Những người được cử đi học, đều mang sẵn trong đầu tâm trạng
bị động và chủ bại. Một điều đáng buồn cần ghi ở đây là
trong suốt triều đại Ngô Đ́nh Diệm cũng như sau triều đại ấy,
hàng ngũ người Quốc Gia rất ít có Cán Bộ nhiệt t́nh và tận
tụy cho Chính Nghĩa Quốc Gia. Do đó, kế hoạch và chính sách
có hay đến đâu cũng không hy vọng thành công. Cán Bộ Ấp
Chiến Lược đi học với một tâm trạng bất măn th́ làm sao c̣n
hăng hái sống chết với dân trong Ấp?
Thêm vào đó, thái độ và tác phong của Ngô Đ́nh Nhu càng làm
cho Cán Bộ Quốc Gia thêm tiêu cực. Những người bênh vực Ngô
Đ́nh Nhu một cách mù quáng đều đề cao ông ta về cái gọi là
Thuyết Cần Lao Nhân Vị, như thể ông ta đă xuất thần mà phát
minh ra thuyết ấy. Nó chỉ là sự bào chế một triết thuyết của
Mourier rồi mang ra quảng cáo ở miền Nam sau năm 1954. Cái
lối ca tụng mù quáng ấy càng làm cho Nhu thêm kiêu căng và
thêm bị Cán Bộ oán ghét. Ấp Chiến Lược chỉ là một ư niệm vay
mượn của Mă Lai và Phi Luật Tân nhưng Nhu chỉ làm như thể
chính ông ta là người đẻ ra ư niệm ấy. Nh́n nét mặt kiêu
căng bệnh hoạn của Nhu ngồi ‘’giảng dậy’’ về Ấp Chiến Lược
cho Cán Bộ, người ta cảm thấy tội nghiệp cho kẻ đă say sưa
sống trên mây, đă tự ban cho ḿnh cái hào quang vay mượn ở ư
niệm của xứ người mà vẫn c̣n dương dương tự đắc. Phần lớn v́
sự kiêu căng bệnh hoạn này của Ngô Đ́nh Nhu mà các Khóa Học
về Ấp Chiến Lược đều bị Học Viên coi là khóa ‘’tẩy năo’’.
Mặc dầu có những nhược điểm trên đây nhưng kế hoạch lập Ấp
Chiến Lược vẫn làm cho cộng sản lo sợ. Một số Ấp được vơ
trang đă cô lập được nhiều tên việt cộng.
Khi nh́n lại t́nh h́nh quân sự ở Nam Việt Nam năm 1961-1962,
người ta phải công nhận rằng đó là hai năm thuận lợi cho
cuộc chiến chống cộng của Nam Việt Nam. Lúc ấy, Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa đang trên đà phục hồi và đạt nhiều thắng
lợi trên chiến trường. Tại nhiều nơi, bọn cộng sản nằm vùng
bắt đầu thấy rằng kế hoạch lập Ấp Chiến Lược đe dọa sự tồn
tại của chúng hơn cả Chiến Dịch Tố Cộng năm 1959 nữa.
TRỤC XUẤT KƯ GIẢ BÁO CHÍ
Người viết sách này luôn luôn kính phục sự
hiên ngang của ông Ngô Đ́nh Diệm trong tác phong làm người
Lănh Đạo Quốc Gia của ông. Sự hiên ngang ấy được chứng tỏ
nhiều lần và càng được chứng tỏ trong vụ Phật Giáo miền
Trung năm 1963. Bọn nhà báo truyền h́nh Mỹ thù ghét ông v́
ông đă dậy cho chúng một bài học về sự lễ độ đối với người
Cầm Đầu của một Quốc Gia. Bọn ấy tuy thù ghét ông ta, nhưng
chắc chắn là chúng không thể coi thường ông ta như chúng đă
quen coi thường người lănh đạo của nhiều Nước nhược tiểu lệ
thuộc vào viện trợ của nước Mỹ.
Người ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều tờ báo
lớn của Mỹ, nhất là tờ New York Times và Hăng thông tấn
Accociated Press hằn học hàng ngày chỉ trích thậm tệ và cay
cú bôi bẩn Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm. Bọn ấy chỉ trích quá lố đến
nỗi một tác giả lương thiện của nước Mỹ là Richard Tregakis
phải lên tiếng than rằng ‘’Kennedy chịu ảnh hưởng của tờ New
York Times qua David Halberstam nhiều hơn ảnh hưởng của bất
cứ một giới chức nào trong chính quyền Mỹ. ’’(Vietnam
Crisis, trang 125)
Trước thái độ thù nghịch phi lư ấy của bọn báo
chí Mỹ, ông Diệm không c̣n cách nào khác hơn là bảo vệ danh
dự của người Lănh Đạo Việt Nam Cộng Ḥa. Đó là điều tối
thiểu mà ông ta phải làm, nếu không muốn bị chính người dân
Việt coi thường. Nhiều tên kư giả thù nghịch với Nam Việt
Nam bị trục xuất. Bị trục xuất rồi, bọn ấy lại càng thù
nghịch hơn, càng phá hoại nhiều hơn nữa.
Thái độ thù nghịch ấy phơi ra ánh sáng căn bệnh
tệ hại trầm trọng mà bọn làm báo và viết báo ở bất cứ chân
trời nào cũng mắc phải. Nếu có khác nhau th́ chỉ là ở mức độ
cao và thấp. Căn bệnh ấy là sự hống hách và sa đọa của bọn
kư giả, nhất là những tên kư giả có đôi chút danh tiếng.
Trong khi tự phong cho ḿnh cái vai tṛ ‘’điều tra’’th́
những tên kư giả ấy thường chờ đợi những người Lănh Đạo Quốc
Gia, những người làm chính trị tỏ vẻ sợ hăi và phải o bế
chúng. Không thiếu ǵ chánh khách v́ quá sợ bị chúng xuyên
tạc và bôi bẩn nên đă phải lo lót chúng bằng ân huệ và bằng
sự sợ sệt, nhiều khi khúm núm trước mặt bọn chúng nữa. Bọn
nhà báo dám xấc láo như vậy chỉ v́ từ lâu nay, chúng quen
chửi bới và vu cáo những người khác, nhưng đến khi chính bọn
chúng phạm tội th́ không bao giờ chúng có sự lương thiện tối
thiểu để tự thú nhận. Rất ít khi thấy có trường hợp một tờ
báo lớn của Tây Phương phanh phui tội lỗi của bọn kư giả ở
một tờ báo khác làm bậy, làm nhục thanh danh của người cầm
bút.
Ngày 18.2.1963, khi phái viên của Tuần Báo Mỹ US
News & World Report tại Sài G̣n hỏi ông Diệm tại sao ông
trục xuất nhiều kư giả ngoại quốc như vậy, ông Diệm b́nh
thảm trả lời: ‘’Họ đă ngang nhiên nhục mạ và bôi bẩn chúng
tôi, trong khi chúng tôi đang theo đuổi một cuộc chiến quyết
liệt cho sự sống c̣n và cho sự bảo vệ một vùng biên giới
sinh tử của Thế Giới Tự Do. ’’
Sự hằn học của báo chí Mỹ đối với Chính Quyền
Diệm càng ngày càng tệ hại, nhất là từ khi bùng nổ cuộc
khủng hoảng về Tôn Giáo do bọn Trí Quang gây ra, đến nỗi
Linh Mục De Jaegher phải nói thẳng vào mặt tên Malcolm
Browne là kẻ được coi là ‘’hung thần’’ của Hăng Accociated
Press tại Sài G̣n: ‘’Quư vị đang bóp méo sự thật trong vụ
Phật Giáo. Nếu cứ tiếp tục, quư vị có thể hạ được ông Diệm.
Quư vị có sức mạnh để làm được việc ấy. Nhưng nếu làm điều
ấy rồi th́ nhiều thanh niên Mỹ sẽ phải tới Việt Nam để thay
thế và những thanh niên ấy sẽ chết tại Việt Nam. ’’ (Vietnam
Crisis trang 104).
Lời cảnh cáo của Linh Mục De Jaegher cũng là lời
tiên tri được nghiệm rất đúng sau khi ông Diện bị hạ sát.
Phải chờ măi tới sau năm 1975, thế giới bên
ngoài mới t́m được giải đáp cho thái độ thù nghịch đến phi
lư của bọn báo chí Mỹ. Đó là sự tiết lộ động trời của ông
Denis Warner, một Nhà Báo lăo thành quốc tịch Úc và là
người đă theo sát chính trị của Đông Nam Á từ năm 1945. Bí
ẩn về sự thù nghịch kia được làm sáng tỏ, khi ông Warner cho
biết rằng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cộng sản quốc tế
đă dùng một ngân khoảng không giới hạn để tài trợ mặt trận
tuyên truyền. Ngân khoảng ấy được mở tại một trương mục mang
số 5210-10-045-34 thuộc Ngân Hàng Skandinaviska Banken ở Thủ
Đô Stokholm của Thủy Điển. Trương mục này xuất tiền cho
những kẻ chửi thuê, khen mướn theo chỉ thị của cộng sản quốc
tế, với mục đích tối hậu là làm cho nước Mỹ bỏ cuộc tại Việt
Nam (Denis Warner, ‘’Not With Guns Alone: How Hanoi Won The
War’’ Hutchinson Group of Australia 1977, trang 183).
Một tháng sau khi ông Diệm bị hạ sát, tên David
Halberstam của báo New York Times và tên Malcolm Browne của
Hăng thông tấn Associated Press nhận lănh giải thưởng báo
chí Pulitzer v́ đă có công ‘’xuất sắc tường tŕnh về cuộc
khủng hoảng Phật Giáo tại Nam Việt Nam.’’. Trước cảnh lănh
giải thưởng vô liêm sỉ ấy, Tướng hồi hưu của Quân Lực Mỹ là
Thomas A. Lane viết trong cuốn sách về sự nghiệp của Tổng
Thống Kennedy rằng: ‘’giải thưởng ấy nên được trao tặng tại
Điện Cẩm Linh của đế quốc Xô viết và trước sự dàn chào của
hồng quân Nga. ’’.
CHÍNH PHỦ MỸ VÀ CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
Ông Diệm chết nhưng chết v́ sự phản bội của
Đồng Minh Mỹ. Sự phản bội ấy chỉ được hoàn thành sau khi
người Mỹ thuê mướn được một đám Tướng lănh của Nam Việt Nam
cúi mặt làm cái việc hèn hạ nhất là ‘’giết mướn’’ người lănh
đạo hợp pháp duy nhất của miền Nam tự do.
Sau khi ông Diệm chết, chính quyền Kennedy nhiều lần cố gắng
thanh minh với Thế Giới rằng nước Mỹ không dính líu ǵ tới
vụ giết ông Diệm, nhưng những lời thanh minh ấy không thuyết
phục được Thế Giới bên ngoài. Thế Giới ấy gần như nhất trí
với nhau trong ư nghĩ là quả thật nước Mỹ đă đối xử thiếu
văn minh với một đồng minh nhỏ bé của ḿnh trong lúc Đồng
Minh ấy phải đương đầu với những khó khăn ghê gớm trong nội
bộ. Chung cuộc, Quốc Hội của nước Mỹ đă định lượng thế nào
về cách đối xử tiểu nhân ấy ?
Thoạt đầu, cái Quốc Hội ấy ngập ngừng, chưa biết
phải lên tiếng ra sao. Nhưng rồi trước sự soi mói của thế
giới, Quốc Hội ấy đành phải lên tiếng. Hai Nghị Sĩ có tiếng
nói mạnh của Quốc Hội Mỹ là William Fulbright và Everett
Dirksen nói rằng ‘’Quyết định hạ sát ông Diệm là một sự sai
lầm. ’’
Ngày 3 tháng 1 năm 1965, Nghị Sĩ Mike Mansfield
tuyên bố với hai Tác giả Stephen Pan và Daniel Lyons:
‘’Chúng tôi đă đền tội v́ đă loại trừ ông Diệm. ’’. Rồi đến
ngày 26.1.1966, cũng Nghị Sĩ ấy lại nói với hai Tác giả kể
trên rằng ‘’...Lỗi lầm tồi tệ nhất của chúng tôi là đă hạ
sát ông Diệm. ’’ (Vietnam Crisis, trang 133).
Tài liệu của Ngũ Giác Đài phổ biến về sau này
c̣n ghi rơ hơn nữa về trách nhiệm không thể chối căi được
của nước Mỹ trong sự bức tử người Lănh Đạo Việt Nam Cộng
Ḥa. Tài liệu ấy viết:
‘’Về cuộc đảo chính quân sự chống lại Ngô Đ́nh
Diệm, nước Mỹ phải nhận hoàn toàn trách nhiệm của ḿnh trong
đó. Từ đầu tháng 8 năm 1963, chúng ta đă lần lượt, khi th́
cho phép, khi th́ cản lại, khi th́ khuyến khích đám Tướng
lănh Nam Việt Nam và đề nghị sẽ hoàn toàn ủng hộ một chính
phủ thay thế. Đến tháng 10, chúng ta cắt viện trợ để làm áp
lực trực tiếp vào Diệm, do đó chúng ta bật đèn xanh cho đám
Tướng lănh. Chúng ta lén lút duy tŕ liên lạc với đám Tướng
lănh ấy, tán thành việc lập kế hoạch và sự thi hành cuộc đảo
chính ấy, duyệt xét các kế hoạch của họ và đề nghị một chính
phủ mới. Vậy triều đại chín năm của Ngô Đ́nh Diệm chấm dứt
bằng một sự kết thúc đẫm máu. Sự đồng lơa của chúng ta trong
việc lật đổ ông ta làm tăng trách nhiệm của chúng ta vào một
nước Việt Nam không có lănh đạo nữa.’’ (The Pentagon Papers,
Senator Gravel Edition 1975, Volume II, trang 207).
Sau khi tuyên thệ thay thế ông Kennedy bị ám sát
ba tuần sau cái chết của ông Diệm, Tân Tổng Thống Mỹ Lyndon
B. Johnson tâm sự với báo chí Mỹ về cái chết của ông Diệm:
‘’Việc giết ông Diệm là một trong các thảm kịch lớn nhất của
thời đại chúng ta.’’ (Vietnam Crisis trang 133).
William Colby, trùm CIA của Mỹ th́ nói thẳng ra cái trách
nhiệm của nước Mỹ về cái chết của ông Diệm: ‘’Đây là một
cuộc đảo chính của Tướng lănh Nam Việt Nam đúng thế, nhưng
tôi nghĩ rằng những điều căn bản của cuộc đảo chính ấy đă
được định đoạt tại Bạch Cung của chúng ta.’’ (Michael Mc.
Lear, ‘’The Ten Thousand Day War’’ St. Martin Press, New
York 1981, trang 66).
Trong tác phẩm vừa được viện dẫn, trùm CIA Colby
c̣n nêu rơ cái khoảng trống lănh đạo bi thảm chắc chắn sẽ
diễn ra khi ông Diệm không c̣n Lănh Đạo Nam Việt Nam nữa.
Colby ghi rằng trong suốt năm 1963, nói đúng hơn là cho tới
ngày ông Diệm bị hạ sát, các Cố Vấn của Kennedy chia làm hai
phe, với hai chủ trương khác nhau. Một phe cho rằng nước Mỹ
sẽ không thể thắng nổi nếu c̣n ủng hộ Chính Quyền Diệm. Phe
kia th́ chủ trương phải thay thế ông Diệm. Cố vấn quân sự
cao nhất của Kennedy lúc ấy là Tướng Maxwell Taylor tuy
không ngă hẳn về phe nào, nhưng ông ta đă làm một việc rất
thiết thực là đặt câu hỏi then chốt cho cả hai phe: ‘’Có thể
chúng ta không thắng được với sự ủng hộ Diệm, nhưng nếu
không có Diệm th́ có ai ?’’Sau câu hỏi đó, chỉ có một sự im
lặng nặng nề tiếp theo.
Trên Tuần báo Mỹ Time đề ngày 1.1.1965, B́nh
Luận Gia Joseph Alsop đưa ra lời phê b́nh nghiêm khắc nhất
nhắm vào những kẻ đă hung hăn chỉ trích Chính Quyền Diệm:
‘’Gần giống như là sự ngu xuẩn một cách hài hước khi người
ta đ̣i tổ chức một Chính Phủ ở Việt Nam để làm vừa ḷng
những kẻ viết b́nh luận cho báo chí Mỹ, là những kẻ không
hiểu biết ǵ về Á Châu và những kẻ ấy lại luôn luôn quên
rằng nếu thay thế th́ chỉ c̣n có chủ nghĩa cộng sản hung ác
cho Á Châu. Chẳng c̣n cách nào khác hơn là phải đối phó với
chiến tranh trước đă, rồi sau hăy nói tới các vẫn đề chính
trị. Đối phó với chiến tranh là con đường duy nhất để tạo
các điều kiện thiết yếu cho một chính phủ tương đối ổn định.
Chính phủ bất ổn chính v́ chiến tranh diễn ra tồi tệ. ’’
Chín tuần sau khi Alsop viết bài b́nh luận trên
đây th́ Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ lên
Hải Cảng Đà Nẵng, mở đường cho cuộc đổ bộ trên nửa triệu
Quân Mỹ vào Nam Việt Nam.
Từ đây trở về sau, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
sẽ phải chiến đấu trong hoàn cảnh và khung cảnh khó hơn thời
Ngô Đ́nh Diệm rất nhiều, họ sẽ phải tự t́m lại khí giới tinh
thần để giúp họ giữ vững ngọn lửa hăng say và quyết liệt
chống cộng. Chỉ mới vài tháng sau cái chết của ông Diệm,
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă sớm thấy rơ tầm vóc cái khoảng
trống lănh đạo vô cùng tai hại đang chờ đợi họ trước mặt.
***
Khi nằm xuống, ông Diệm đă mang theo cùng với ông ba điều
căn bản thiết yếu để được Cộng Đồng Quốc Tế kinh nể là:
CHÍNH NGHĨA, CHÍNH DANH VÀ CHÍNH THỐNG
Những kẻ thù ghét ông Diệm muốn nói ǵ th́
nói, nhưng chúng không thể chối căi rằng chỉ có ông Ngô Đ́nh
Diệm mới có uy tín quốc tế để phá vỡ huyền thoại Hồ chí
Minh
Chỉ cần đặt một câu hỏi, một câu hỏi thôi: Sau khi bọn Tướng
lănh của Nam Việt Nam nhận lệnh của quan thấy Mỹ để hạ sát
ông Diệm một cách hèn nhát th́ sau đó, miền Nam Việt Nam
được lănh đạo như thế nào và chung cuộc số phận của miền Nam
Việt Nam tự do ra sao?
PHẠM KIM VINH
TÀI LIỆU LỊCH SỬ
VẤN ĐỀ NGÔ Đ̀NH DIỆM ĐƯỢC CỬ LÀM THỦ TƯỚNG
HOÀNG NGỌC THÀNH
THÂN THỊ NHÂN ĐỨC
Có nhiều luận điệu nói về vấn đề ông Bảo Đại
chọn ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng. Một số người Việt và
một số nhà báo, hay tác giả Tây phương cho rằng ông Diệm là
người của Hoa Kỳ và nước này dùng áp lực buộc Pháp và Bảo
Đại đưa ông ra cầm quyền, chứ có ǵ lạ đâu? Hay Hồng Y
Spellman, Tổng Giám Mục Nữ Ước và giới Công Giáo Mỹ hợp sức
với Ṭa Thánh Vatican vận động với chính phủ Mỹ và đảng
Phong Trào Cộng Ḥa B́nh Dân thân Công Giáo tại Pháp ủng hộ
ông Diệm. Ngay cả tài liệu mật của Ngũ Giác Đài cũng không
nói đúng về vấn đề này. Sự kiện lịch sử không xảy đến một
cách đơn giản, như quan điểm chủ quan hay hời hợt của một số
người, ủng hộ hay chống đối, ưa thích hay ganh ghét ông
Diệm.
Trước t́nh thế quân sự, nội trị và đối ngoại năm 1954, có ai
chịu ra làm Thủ Tướng của cái gọi là Quốc Gia Việt Nam
không? Pháp bại trận, suy yếu v́ chiến tranh và c̣n phải đối
phó với các thuộc địa tại Phi Châu đang nổi dậy. Lănh thổ
Quốc Gia Việt Nam gồm những vùng Pháp kiểm soát và các nơi
lâu nay dưới quyền chính phủ Hồ chí Minh và đảng cộng sản.
Các vùng dưới quyền Pháp mục nát và hỗn loạn, trong khi đảng
cộng sản vẫn duy tŕ một thứ chính quyền trong bóng tối, c̣n
các vùng lâu nay dưới quyền họ vẫn c̣n các cán bộ ‘’nằm vùng
hay ‘’đổi vùng’’. Như thế Quốc Gia Việt Nam có thể tồn tại
được không? Ông Hồ chí Minh với đảng cộng sản có tổ chức và
kỷ luật, cơ sở với cán bộ trung kiêng, đầy kinh nghiệm tranh
đấu và quân đội kháng chiến đă chiến thắng đang chờ thôn
tính luôn miền Nam, với cuộc tổng tuyển cử dự trù năm 1956
trong Bản Tuyên Ngôn của Hiệp Định Genève.
Không có một bằng chứng nào cho thấy Hồng Y Spellman, Công
Giáo Mỹ, Công Giáo Pháp, đảng phái chính trị nào tại Pháp
hay Ṭa Thánh Vatican vận động với chính phủ Mỹ, hay với
chính phủ Pháp hay với ông Bảo Đại để ông Ngô Đ́nh Diệm được
cử làm Thủ Tướng cả. Chính phủ Mỹ của Tổng Thống Eisenhower
và Ngoại Trưởng John Foster Dulles không đặt vấn đề ǵ với
chính phủ Pháp hay Quốc Trưởng Bảo Đại về chức vụ Thủ Tướng
trong khi Hội nghị Genève nhóm họp và sau đấy cả. Về phần
người Pháp, họ không quan tâm đến việc ai làm Thủ Tướng Quốc
Gia Việt Nam, họ thờ ơ với vấn đề này. Họ không ưa ǵ ông
Diệm, nhưng họ không cần ǵ chống đối ông lúc ban đầu, v́
tất cả quyền hành quân sự, kinh tế, chính trị tại miền Nam
đều nằm trong tay họ cả mà. Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm sẽ làm
được ǵ? Nước Pháp đă bại trận nay c̣n phải lo các thuộc địa
Bắc Phi đang nổi dậy miền Nam có hy vọng tồn tại lâu dài
được không? Hồ chí Minh sẽ thắng cử năm 1956 và cộng sản sẽ
làm chủ miền Nam là lẽ chắc.
Nhiều nhà báo và học giả Tây phương sau này lên tiếng chỉ
trích Chính Quyền ông Ngô Đ́nh Diệm và cả cá nhân ông, cũng
thừa nhận rằng chẳng có cá nhân, tôn giáo, đảng phái hay
chính phủ nào vận động đưa ông Diệm ra làm Thủ Tướng cả. Ông
Ngô Đ́nh Diệm ra cầm quyền được v́ ông là một người yêu
nước, dù là quan lại, lâu nay mơ ước đem lại độc lập và tự
do cho dân tộc, để khỏi bị thực dân và cộng sản áp bức và
bóc lột. Lâu nay ông không bị tai tiếng ǵ cả, ông từ quan,
không cộng tác với Pháp nữa và cũng không dính líu đến Nhật,
dù ông có nhờ Nhật bảo vệ chống truy nă của Pháp. Ông bác bỏ
lời tham gia chính phủ cộng sản Hồ chí Minh. Ông có uy tín
là liêm khiết, trong sạch. Trong giai đoạn 1949-1953, ông
Diệm có sự khôn ngoan chính trị là hai lần từ chối lời mời
của Bảo Đại ra lập nội các. Nếu ông ra làm Thủ Tướng lúc bấy
giờ, chắc chắn là ông bị thất bại v́ không thực lực để chống
cả cộng sản và thực dân Pháp. Nhưng khi chính thức cầm quyền
ngày 7.7.1954, ông Ngô Đ́nh Diệm nắm được thời cơ, ra cầm
quyền đúng lúc, t́nh h́nh quốc tế thuận lợi dù c̣n có những
trở ngại lớn lao.
Một trí thức Thiên Chúa Giáo, Luật Sư Nguyễn Văn Chức đă
phân tích và tŕnh bày khá đầy đủ và công tâm về vụ ông Ngô
Đ́nh Diệm được cử làm Thủ Tướng trong tác phẩm ‘’Việt Nam
Chính Sử’’ của ông (trang 35-41).
Chương này xin trích dẫn lại một số tác giả Tây phương và
những lời phát biểu mới nhất của ông Bảo Đại về vấn đề này.
Trước hết ông Denis Warner, một trong số tác giả chỉ trích
chế độ, đă viết như sau:
‘’Quyết định mời ông làm Thủ Tướng miền Nam Việt
Nam trước hết về căn bản là của Bảo Đại, chứ không phải là ư
kiến của Cố Ngoại Trưởng Foster Dulles như một vài tác giả
đă gợi ư. Không giống như Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện
William Douglas, người một hai năm trước đây đă viết sách ca
tụng ông Diệm là người được dân Việt Nam sùng kính, Bộ Ngoại
Giao Mỹ lúc ấy cũng không cần gây áp lực. Nhóm cận thần Pháp
của Bảo Đại trước đó đă từng ‘’nhảy dù’’ xuống Sài G̣n để vơ
vét làm giàu, nhân danh chiêu bài độc lập giả tạo, v́ vậy họ
đă hủy diệt uy tín của họ rồi. Chỉ c̣n hai giải pháp: Hoặc
là sắp xếp lũ con buôn nhơ nhớp đó, hoặc là mời Diệm và Bảo
Đại đă chọn Diệm, bất chấp lời khuyên can của bạn hữu. Thật
ra quyền lựa chọn của Bảo Đại rất hẹp. Như Diệm đă từng
thẳng thắn nh́n nhận, lúc đó không có ai ra tranh với Diệm.
Nhưng đấy là sự thật bởi v́ ngoài Diệm ra, không có ai muốn
đứng ra gánh vác...’’
Hoa Kỳ không tiến cử ông Diệm làm Thủ Tướng nhưng Ngoại
Trưởng John Foster Dulles không phản đối, v́ ông biết ông
Diệm theo Công Giáo và tích cực chống cộng sản qua sự quen
biết với Hồng Y Spellman Tổng Giám Mục New York. Nhưng ban
đầu, người Mỹ vẫn chưa chấp nhận ông Diệm. Sau này, có lúc
muốn t́m người khác thay thế ông nữa, họ chỉ ủng hộ lại ông
Diệm sau khi thấy ông thành công.
Một tác giả khác, Stanley Karnow, trong quyển ‘’Vietnam a
history’’ thiên Hà Nội, chống phe Quốc Gia và ông Diệm, đă
phát biểu như sau:
‘’Khi cuộc đàm phán tại Genève gần kết thúc, Bảo
Đại mới ư thức rằng sinh mệnh chính trị của ông treo mỏng
manh như sợi tóc, ông ta bèn mời ông Diệm đến. Người ăn chơi
và nhà đạo đức không thích hợp nhau, nhưng vẫn có ư dùng
nhau. Diệm coi Bảo Đại là con đường đưa đến chính quyền. C̣n
Bảo Đại nh́n thấy hai cái lợi của Diệm. Thứ nhất Ngô Đ́nh
Nhu, em ruột Diệm, đă thành lập được Mặt Trận Cứu Nguy Dân
Tộc ở Sài G̣n, một cơ cấu có thể chấp nhận như là một liên
minh chính trị. Thứ hai Bảo Đại nghĩ rằng Diệm đă từng ở Hoa
Kỳ, sẽ đưa được Mỹ vào chính t́nh h́nh Việt Nam để thay thế
người Pháp mà sự có mặt sẽ chấm dứt trong những ngày gần
đây. Nhưng trái lại với chuyện hoang đường cho rằng Ngoại
Trưởng Foster Dulles, Hồng Y Spellman và nhiều người Mỹ khác
vận động cho Diệm lên cầm quyền, Hoa Kỳ lúc ấy vẫn chưa chấp
nhận Diệm. Quả vậy các Nhà Ngoại Giao Mỹ tại Genève đă từ
chối khéo ông Luyện, em ông Diệm, khi ông thúc đẩy họ tiếp
kiến ông Diệm. ’’
Một người Mỹ gốc Áo, ông Joseph Buttinger, đă viết nhiều
sách lịch sử Việt Nam. Ông này đă từng đến Sài G̣n và tích
cực ủng hộ ông Diệm. Nhưng về sau ông thay đổi và chống lại
ông Diệm. Ông Joseph Buttinger cho rằng ngay cả những người
Việt, cộng tác với Pháp và ghét ông Diệm hầu như cũng không
chống đối việc cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Lúc bấy giờ nhiều
người, có thể là Bảo Đại nữa, nghĩ rằng một hiệp định sẽ
được kư kết, miền Nam là phần chia cắt của một nước, đâu c̣n
có tinh thần chiến đấu để tồn tại. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ
có điên khùng mới đứng ra gánh vác và kẻ ấy chắc chắn sẽ
chuốc lấy thảm bại về chính trị. Đây là số kiếp mà họ đều
cầu mong cho ông Ngô Đ́nh Diệm gặp phải và ông Joseph
Buttinger kết luận:
‘’Sự việc c̣n đấy, những kẻ khởi xướng Việt cũng như Pháp,
cũng như Công Giáo, cũng như Hoa Kỳ, không ai dọn đường cho
Diệm lên cầm quyền. Diệm được đặt vào ghế Thủ Tướng là do
những biến cố dồn dập của thời cuộc lúc đó. ’’
Để kết thúc vấn đề ông Diệm được cử làm Thủ Tướng, xin trích
dẫn lời của người đă cử ông Diệm vào chức vụ Thủ Tướng, tức
Quốc Trưởng Bảo Đại. Trong hồi kư ‘’Le Dragon d’Annam’’ do
Plon tại Paris xuất bản năm 1980, ông Bảo Đại tŕnh bày t́nh
h́nh chính trị và những lư do cá nhân khiến ông mời ông Diệm
làm Thủ Tướng với toàn quyền dân sự và quân sự:
‘’Chúng tôi không c̣n có thể trông cậy vào người Pháp được
nữa. Tại bàn hội nghị Genève, chỉ c̣n người Mỹ là đồng minh
của chúng ta. Trước t́nh thế đang biến chuyển, họ muốn dựng
nên một hệ thống pḥng thủ mới tại Đông Nam Á. Họ có thể
giúp chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đầu chống cộng sản. Tại
Sài G̣n Thủ Tướng chính phủ gặp phải sự chống đối mănh liệt
của những thành phần quốc gia được kết hợp lại trong Phong
Trào Đoàn Kết Quốc Gia do Ngô Đ́nh Nhu lănh đạo. Những thành
phần này tiên thiên chống lại những quyết định sẽ được đạt
đến tại Genéve. Tôi bèn triệu tập đến Cannes lănh tụ của tất
cả xu hướng chính trị và tôn giáo của Việt Nam để tham khảo
ư kiến. Tôi giải thích cho họ những ǵ sẽ xảy ra, tôi cho họ
biết tất cả đă được sắp xếp, kể cả việc phân chia đất nước.
Tôi gợi ra sự cần thiết phải đem lại cho đất nước Việt Nam
một hướng đi rơ rệt hơn và đề nghị thay thế Hoàng Thân Bửu
Lộc trong chức vụ Thủ Tướng bởi ông Ngô Đ́nh Diệm. Tất cả
những người có mặt đă nồng nhiệt chấp thuận đề nghị của
tôi’’.
Như thế, ông Bảo Đại cho biết những động lực chính trị thúc
đẩy ông mời ông Diệm làm Thủ Tướng là v́ hết trông cậy vào
Pháp, v́ chủ trương chống cộng sản của Hoa Kỳ và việc họ sẵn
ḷng giúp đỡ người Việt chống cộng sản, cùng phong trào quần
chúng của ông Nhu tại Sài G̣n. Các lănh tụ chính trị tôn
giáo cũng tán thành nồng nhiệt vụ cử ông Diệm làm Thủ Tướng.
Ông Bảo Đại cũng biết ông Diệm là người khó tính, quốc gia
cực đoan, nhưng không có sự lựa chọn nào tốt hơn. Ông Diệm
là nhân vật có tầm vóc, ông sẽ được sự ủng hộ của những
người có tinh thần quốc gia quyết liệt, họ đă từng làm cho
các Thủ Tướng trước như Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc thất bại
trong chức vụ của họ. Ông Diệm là người của t́nh thế.
Luật Sư Nguyễn Văn Chức, một lần nữa, trong sách ‘’Việt Nam
Chính Sử’’ đă t́m hiểu đầy đủ sự thật về vấn đề ông Diệm
được cử làm Thủ Tướng trong tháng 6.1954. Ông cũng bác bỏ sự
xuyên tạc của một số tác giả như Hilaira du Berrier nói rằng
ông Diệm thề trung thành với Bảo Đại và nhận ngân phiếu một
triệu đồng. Ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá Công Giáo bảo
vệ lănh thổ chống cộng và nếu cần chống cả người Pháp nữa và
sau đấy nhận Đạo Chỉ Dụ ban toàn quyền hành động về quân sự
và dân sự.
Tài liệu mật Ngũ giác Đài, ấn bản Gravel, Quyển IV, trang
174 cũng sai lầm khi nói Bảo Đại bị Pháp và Hoa Kỳ thúc đẩy
cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Hoàn toàn không có sự thúc đẩy
hay áp lực nào của Pháp và Hoa Kỳ về vấn đề này cả.
Tóm lại, Bảo Đại cử ông Diệm làm Thủ Tướng là do những tính
toán chính trị của ông về thời cuộc, c̣n ông Diệm nắm được
thời cơ ra cầm quyền đúng lúc.
Người Mỹ đến Việt Nam trong Thế Kỷ thứ 19 v́ ngoại thương,
trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) v́ chiến tranh với Nhật
Bản, rồi sau đấy can thiệp vào nội t́nh Việt Nam v́ nền an
ninh chiến lược của họ. Sự thật là đến tháng 6.1954, các
chính đảng và nhân vật quốc gia kể cả ông Ngô Đ́nh Diệm đều
thất bại trong việc giành quyền lănh đạo dân tộc với Hồ chí
Minh và đảng cộng sản. Nay đất nước bị chia đôi, miền Bắc
dưới quyền ông Hồ chí Minh và đảng cộng sản, c̣n Pháp nắm
giữ chủ quyền tại miền Nam dù trên h́nh thức Quốc Gia Việt
Nam dưới quyền Bảo Đại là ‘’độc lập’’. Hoa Kỳ cần một lănh
tụ Việt có khả năng xây dựng miền Nam thành một Tiền Đồn
ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản. Trong khi ấy, ông Ngô
Đ́nh Diệm cũng cần sự ủng hộ và viện trợ của Hoa Kỳ mới
giành lại được chủ quyền dân tộc tại miền Nam từ tay người
Pháp. Quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi của Lănh Tụ Quốc Gia
Ngô Đ́nh Diệm cùng với đại đa số người Việt không muốn sống
dưới chế độ cộng sản trùng hợp với nhau. Hai bên cộng tác
với nhau, cùng làm đồng minh trong một giai đoạn.
Mới đây, trong tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn số 104 tháng 9.1992,
xuất bản tại Burke, Virginia, một kư giả ông Phan Văn
Trường, đă ghi lại câu hỏi và những điều ông Bảo Đại trả lời
về vấn đề cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Câu hỏi:
- Tại sao Ngài lại trao quyền cho ông Ngô Đ́nh Diệm để rồi
bị ông ấy lật Ngài?
Ông Bảo Đại trả lời ngay:
- Ông Diệm là người tôi tín nhiệm. Lúc đó thế
lực của Pháp đă thất bại. Phía cộng sản đă được Liên sô tích
cực ủng hộ về mọi mặt, nên tôi khuyên ông Diệm nên t́m sự
ủng hộ của Mỹ để ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Việc
ông ta lật đổ tôi là do sức ép của chính trị. Ông Diệm là
người yêu nước, lúc trao quyền tôi có yêu cầu ông ấy cam kết
với tôi hai điều trước bàn thờ Chúa và ông rất mộ đạo, là
phải giữ miền Nam và nếu ông không làm được sứ mạng ấy th́
phải trao trả quyền cho tôi. Nhưng rồi ông ta chết khi thi
hành nhiệm vụ. Dù sao ông ta cũng cố sức giữ những lời cam
kết ấy mà không được.
Trước kia ông Bảo Đại đả kích dữ dội ông Ngô Đ́nh Diệm, nhất
là sau khi bị truất phế năm 1955. Nay ông Bảo Đại bày tỏ sự
kính nể đối với ông Ngô Đ́nh Diệm, 38 năm sau khi bị truất
phế và độ hơn 30 năm sau ngày ông Diệm bị ám sát. Bảo Đại
thừa nhận ông Diệm là người yêu nước, cố sức giữ vững miền
Nam và chết khi thi hành nhiệm vụ.
Quả vậy, để giữ vững miền Nam chống cộng sản, trước hết ông
Ngô Đ́nh Diệm phải giành lại chủ quyền từ tay thực dân Pháp.
Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang
53-61.
***
THỦ TƯỚNG NGÔ Đ̀NH DIỆM GIÀNH LẠI CHỦ QUYỀN TỪ THỰC DÂN PHÁP
THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN
Ông Ngô Đ́nh Diệm được Bảo Đại mời làm Thủ Tướng
với toàn quyền dân sự và quân sự ngày 16.6.1954. Ba ngày
sau, ông nhận lời. Độ 5 ngày nữa, tức là ngày 24.6.1954,
ông đáp phi cơ hăng Air France rời Ba Lê và hai ngày sau đến
Sài G̣n. Cùng đi với ông, có người em trai là Ngô Đ́nh
Luyện, ông Trần Chánh Thành, ông Nguyễn Văn Thoại, một Giáo
Sư Đại Học tại Pháp, h́nh như là em chồng bà Nguyễn Văn Lễ
tức bà Cả Lễ, em ruột ông Diệm. T́nh cờ cô Thân Thị Hoàng,
một cô em ruột của một trong hai người soạn tài liệu này,
cũng đáp chuyến máy bay này về Sài G̣n sau khi học xong
thống kê tại Paris. Do có bà con với ông Trần Chánh Thành về
phía bên ngoại, cô Hoàng được giới thiệu với ông Diệm và
Phái Đoàn. Ông Diệm và các ông Luyện, Thành, Thoại đều vui
vẻ hân hoan ra mặt. Ngày 26.6.1954, phi cơ đáp xuống phi
trường Tân Sơn Nhất. Ngoài số người đón tiếp tại phi trường,
nhiều nhóm dân nhân chứng Đại Tá Edward Lansdale thuận lại,
chứ không phải họ tránh né như ông Joseph Buttinger đă viết.
Nhưng đoàn xe chở Thủ Tướng Diệm chạy nhanh làm dân chúng
không thấy rơ mặt Thủ Tướng, theo nhận xét của Đại Tá
Lansdale. Ngày hôm sau, Đại Tá Lansdale đến Dinh Gia Long
gặp Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Cuộc tiếp xúc đầu tiên này mở
đầu sự cộng tác chặt chẽ giữa ông Diệm và chính quyền Mỹ lúc
bấy giờ, trong những tháng đầu sau Hiệp Định Genève tháng
7.1954.
Trong giai đoạn này, nếu Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
tiêu biểu cho phe Quốc Gia Việt Nam cần sự ủng hộ của Hoa Kỳ
để giành lại chủ quyền từ tay thực dân Pháp, th́ Hoa Kỳ cũng
cần ông Ngô Đ́nh Diệm để thiết lập một chính quyền vững mạnh
tại miền Nam, để làm Tiền Đồn chống cộng sản tại Đông Nam Á,
có lợi cho nền an ninh chiến lược của Hoa Kỳ.
Chương này tŕnh bày thực trạng của Quốc Gia Việt Nam dưới
quyền Quốc Trưởng Bảo Đại, những thử thách mà Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm phải đối phó, từ Tướng Nguyễn Văn Hinh đến B́nh
Xuyên và các Giáo Phái trong năm 1954, trong khi lấy lại dần
chủ quyền trong các lănh vực sinh hoạt của xứ sở từ tay thực
dân Pháp.
Về Sài G̣n vài hôm, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thấy rằng Đạo
Chỉ Dụ ban cho ông toàn quyền dân sự và quân sự không có giá
trị ǵ cả. Ông chỉ có quyền với 12 người Cảnh Sát thay phiên
nhau canh gác Dinh Gia Long. V́ sao vậy? Quốc Trưởng Bảo Đại
và các nội các trước đă làm ǵ? Lâu nay Quốc Trưởng Bảo Đại
có guồng máy dân sự và quân sự cai trị Quốc Gia Việt Nam
không?
Trước hết, xin nói về Quốc Trưởng Bảo Đại. Cuộc sống của
Quốc Trưởng Bảo Đại khác xa thời ông ở Côn Minh hay Hương
Cảng. Pháp trả lương cho ông mỗi tháng 350.000 mỹ kim tức
mỗi năm 4 triệu mỹ kim. Ông có 4 phi cơ và gởi những món
tiền khổng lồ tại các ngân hàng Pháp và Thụy Sĩ. Ông làm chủ
nhiều bất động sản tại Pháp và xứ Maroc ở Bắc Phi Châu. Bảo
Đại cũng nhận tiền do ṣng bạc Đại Thế Giới cung cấp. Ṣng
bạc này được Cao Ủy Pháp, Linh Mục Đô Đốc Thierry
d’Argenlieu cho phép mở trong năm 1946, mặc dầu Bác Sĩ
Nguyễn Văn Thinh cầm đầu chính phủ bù nh́n Nam Kỳ tự trị
phản đối. Một số người Hoa ở Chợ Lớn đấu thầu được hai năm
đầu. Nhưng sau đấy, người Hoa từ Áo Môn sang tranh thầu
được, v́ họ chịu trả 400.000 đồng một ngày thay v́ 200.000
đồng. Những người này, một mặt trả thuế cho phe kháng chiến
để khỏi bị phá hoại, mặt khác mở rộng và canh tân ṣng bạc
với các hồ lỳ trẻ ăn mặc sang trọng, ca sĩ Việt-Hoa, vũ nữ,
gái điếm hạng sang và nhân viên bảo vệ. Đến năm 1950, Bảo
Đại can thiệp vào vụ đấu thầu. Ông Nguyễn Văn Viễn tức Bảy
Viễn cầm đầu phe B́nh Xuyên lâu nay được người Pháp trả
lương và ngự trị vùng Chợ Lớn, trúng thầu với sự hỗ trợ của
Quốc Trưởng Bảo Đại. Bảy Viễn chịu trả mỗi ngày 100.000 đồng
cho Bảo Đại, số tiền cũng như vậy cho Bà Từ Cung, mẹ Bảo
Đại, 10.000 đồng cho ông Nguyễn Đệ, Bí Thư của Bảo Đại và
10.000 đồng cho một nhân vật không nêu tên (trong tài liệu
của Cao Ủy Pháp).
Tại vùng Sài G̣n-Chợ Lớn, Bảy Viễn không những chỉ làm chủ
các ṣng bạc Đại Thế Giới và Kim Chung mà có thể nói là y
nắm giữ độc quyền về cờ bạc, y thâu thuế các ṣng bạc nhỏ
khác, y cũng làm chủ hay thâu thuế các nhà điếm như nhà thổ
b́nh khang ở Vườn Lài, y độc quyền mua bán thuốc phiện đưa
từ Lào về, ăn chia với một số người Pháp gốc Đảo Corse. Bảy
Viễn cũng kiểm soát đường bộ Sài G̣n-Vũng Tàu, đường thủy
Sài G̣n-Rừng Sát, thâu thuế việc mua bán củi và than, ḅ và
heo và cả ḷ heo Chánh Hưng nữa. Phe B́nh Xuyên mở rộng sự
kiểm soát tại vùng Cần Giờ, Cần Giuộc, Cần Đước (G̣ Công) và
các toán công an B́nh Xuyên c̣n đứng thâu thuế tại các bến
xe ở Vũng Tàu và Đà Lạt nữa. Bảo Đại c̣n cử một người tay
chân của Bảy Viễn là ông Lai Văn Sang làm Tổng Giám Đốc Công
An và Cảnh Sát Quốc Gia nữa. Tháng 4.1952, Bảo Đại cho Bảy
Viễn quân hàm Thiếu Tướng và qua năm sau Pháp thưởng cho
người này là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Viễn huy chương Bắc Đẩu
Bội Tinh nữa. Về phần Bảo Đại với vô số tiền, ông chỉ chuyên
ăn chơi hưởng lạc. Ông ở Pháp thời gian lâu hơn là ở trong
nước. Trước Hiệp định Genève năm 1954, khi nào về nước ông
ít khi ở Hà chúng chờ đợi hai bên các con đường mà đoàn xe
chở Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đi qua, như Nội hay Sài G̣n lâu,
v́ nơi nào Cao Ủy Pháp cũng giành phủ toàn quyền cũ, tượng
trưng cho uy quyền tối cao trong nước. Tại Sài G̣n, Bảo Đại
chỉ được ở và làm việc tại Dinh Gia Long, c̣n Cao Ủy Pháp
làm chủ Dinh Norodon, tức phủ toàn quyền cũ, mà sau này ông
Diệm đổi tên là Dinh Độc Lập. Ông Bảo Đại lên Đà Lạt hay đi
Ban Mê Thuột, suốt ngày đi săn bắn, chơi các môn thể thao,
c̣n đêm th́ đánh bạc và chơi gái. Linh Mục Cao Văn Luận có
lần đến tiếp xúc với Bảo Đại vào năm 1948 tại Biệt Điện Cựu
Hoàng ở Đà Lạt và ông thuận lại rằng:
‘’Bảo Đại là con người chán chường và thấm mệt... Câu chuyện
kéo dài được vài phút th́ Bảo Đại có vẻ mệt nhọc lắm, nằm
chuỗi dài ra trên chiếc ghế bành’’.
Tại Pháp, Bảo Đại say mê cờ bạc, đánh thua những món tiền
rất lớn tại các ṣng bạc ở Monte Calo, Tiểu xứ Monaco chẳng
hạn và tiền của bất động sản cũng mất dần vào ṣng bạc. Của
phi nghĩa đâu có bền. Các báo chí Âu Mỹ đều gọi Bảo Đại và
Cựu Hoàng Farouk của Ai Cập cũng ăn chơi như vậy là ‘’những
ông vua của các hộp đêm’’.
Bảo Đại kư kết một số thỏa ước và hiệp ước với Pháp như đă
tŕnh bày, tại Vịnh Hạ Long, hiệp định Elysèe năm 1949, và
các thỏa ước tại Pau năm 1950. Chính phủ Pháp có tuyên bố
nhiều lần trao trả ‘’nền độc lập’’ cho Việt Nam, nhưng người
Pháp vẫn nắm giữ mọi quyền hành về quân sự, kinh tế, ngoại
giao, tài chánh, hối đoái, quan thuế. Đây chỉ là tṛ hề
chính trị. Một chính khách thuộc đảng Xă Hội Pháp, ông
Francois Metterand, sau này là Tổng Thống Pháp, đă từng nhận
xét rằng từ 1949 đến 1954 Pháp đă trao trả ‘’nền độc lập
toàn vẹn’’ cho Việt Nam 18 lần và có phải đến lúc này cần
trao trả một lần mà thôi, nhưng là thật sự.
Chính quyền Bảo Đại trở nên một sự che đậy cho Pháp tiếp tục
thống trị Việt Nam. Chính Bảo Đại cũng thừa nhận rằng giải
pháp Bảo Đại không giải quyết được ǵ cả, không phục vụ
quyền lợi của dân tộc Việt Nam, nhưng là một giải pháp của
người Pháp phục vụ quyền lợi của nước Pháp. Các vùng do quân
đội Pháp kiểm soát như Thành Phố Sài G̣n chẳng hạn, đầy rẫy
tham nhũng, cờ bạc, đĩ điếm, thuốc phiện và ma túy. Các nhân
vật Pháp và Việt, các thương gia, những kẻ buôn lậu, tư sản
mại bản làm giàu nhờ chuyển ngân, buôn bán đồng quan Pháp và
đồng bạc Đông Dương, vàng lá, hối mại quyền thế, đấu thầu
cung cấp cho quân đội Pháp, mậu dịch và bồi thường chiến
tranh...Thí dụ, giá 1gr vàng nguyên chất tại Paris chỉ 596
quan nhưng tại Sài G̣n là 1.300 quan, chỉ cần t́m cách
chuyển vàng từ Paris về Sài G̣n cũng kiếm được một số tiền
lớn. Một hội đồng điều tra của Quốc Hội Pháp cho rằng các tệ
đoan trên là do chính quyền Pháp gây ra và dân Việt xem Bảo
Đại và các Tổng Trưởng trong chính quyền của ông là công
chức làm việc cho nước Pháp.
Trong t́nh trạng như thế, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thực tế vô
quyền. Người thật sự có quyền là Tướng Pháp Paul Ely, Cao Ủy
Pháp kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp, đóng tại Dinh Norodom
của toàn quyền Pháp ngày trước tại Sài G̣n. Tướng Ely cầm
đầu luôn cả guồng máy dân sự. Quân đội Pháp đóng giữ các vị
trí chiến lược với sự yểm trợ của các lực lượng bổ xung, như
các đơn vị B́nh Xuyên dưới quyền ông Bảy Viễn, lực lương Cao
Đài vùng Tây Ninh, các nhóm Ḥa Hảo tại Tỉnh Cần Thơ và Châu
Đốc và số lính đánh thuê dưới quyền sĩ quan Tây lai Leroy ở
Bến Tre nữa. Người Pháp trả lương, huấn luyện, trang bị vũ
khí và đạn dược cho những số lính này và các chỉ huy họ
thống trị các địa phương nơi họ đóng giữ. Người Pháp tổ chức
các Tiểu Đoàn binh sĩ Việt Nam thành Quân Đội ‘’Quốc Gia
Việt Nam’’. Họ tuyển mộ, huấn luyện, trang bị, trả lương và
thăng thưởng các binh sĩ và sĩ quan Việt. Họ đào tạo rất ít
sĩ quan Việt và rất ít người có cấp bực trên Thiếu Tá như đă
từng nói trước đây. Dụng ư của Pháp là cần người Việt đi
lính làm bia đỡ đạn và công cụ cho họ, dưới quyền chỉ huy
của sĩ quan Pháp. Chỉ có Bộ Tư Lệnh Pháp có quyền điều động
‘’Quân Đội Quốc Gia Việt Nam’’ và chỉ huy tác chiến. Pháp cử
ông Nguyễn Văn Hinh, con ông Nguyễn Văn Tâm, ‘’Hùm xám Cai
Lậy’’ cựu Thủ Tướng làm Tướng Tham Mưu Trưởng ‘’Quân Đội
Quốc Gia’’. Ông Hinh được huấn luyện tại Pháp, có vợ đầm và
Pháp tịch và là sĩ quan hiện dịch của Không Quân Pháp. Nhiều
Nha, Sở, Pḥng của Bộ Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia cũng do sĩ
quan Pháp phụ trách.
Về an ninh, Tổng Nha Công An Cảnh Sát ở dưới quyền ông Lai
Văn Sang, một tay chân đặc lực của Bảy Viễn như đă tŕnh bày
trước đây, người ta đồn rằng Bảo Đại đă bán chức vụ này cho
B́nh Xuyên.
Về guồng máy hành chánh, không có ǵ đáng kể gọi là chủ hay
độc lập được. Nhiều chức vụ quan trọng trong các bộ do người
Pháp hay người Việt dân Tây, lâu nay có thành tích phục vụ
Pháp nắm giữ. Cho đến năm 1954, khi ông Diệm về làm Thủ
Tướng, ngôn ngữ dùng trong các chính phủ Nguyễn Văn Xuân và
Trần Văn Hữu là tiếng Pháp. Các Tỉnh Trưởng, Tỉnh Phó và
Quận Trưởng là các cựu công chức thời Pháp thuộc, hay những
kẻ xu thời theo Pháp từ 1945-1946.
Người Pháp vẫn điều hành Tài Chánh, Tư Pháp và Ngoại Thương.
Ngân Hàng Đông Dương của Pháp phát hành bạc giấy cho cả Việt
Nam, Lào và Miên và phụ trách việc hối đoái nữa. Một số ṭa
án hỗn hợp Pháp-Việt được thiết lập để xét xử các vụ án liên
quan đến người Pháp với một số Thẩm Phán Pháp hay Việt có
Pháp tịch. Các viên chức Pháp cũng điều hành ngành Quan Thuế
và Hải Cảng Sài G̣n nữa. Ngoài ra từ 1950, số viện trợ Mỹ
cho Việt Nam cũng phải chuyển qua trung gian Pháp.
Chính quyền cũng không cai trị được phần lớn lănh thổ nữa.
Công An B́nh Xuyên lộng hành tại vùng Chợ Lớn và Sài G̣n
vùng Tây Ninh dưới quyền phe Cao Đài, c̣n các nhóm Ḥa Hảo
kiểm soát một số Tỉnh miền Tây. Những nơi khác lâu nay do
chính quyền Hồ chí Minh cai trị như Cà Mâu và các Tỉnh Phú
Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi và một phần Tỉnh Quảng Nam tại
miền Trung, đang được tiếp thu dần với sự rút lui của các
đơn vị kháng chiến về Bắc. Nhưng đảng cộng sản để lại nhiều
cán bộ ‘’nằm vùng’’ hay ‘’đổi vùng’’ sau các buổi học tập và
chỉ thị phải hoạt động tranh đấu ra làm sao trong giai đoạn
sắp đến. Trong một số Đô Thị, nhất là Sài G̣n, một số người,
đảng viên cộng sản hay thân cộng hay nhẹ dạ nghe lời tuyên
truyền ngon ngọt đă tổ chức các loại mặt trận, hội, nhóm,
nói là để bảo vệ ḥa b́nh, dân chủ và thi hành Hiệp định
Genève kiểu như Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức miền
Nam theo công sản và vận động dân chúng biểu t́nh nữa.
Trong khi ấy chiến tranh đă phá hủy, làm hư hại nhiều đường
sá, cầu cống, hệ thống sông đào, kênh, đường xe lửa, hệ
thống viễn thông, bưu điện. Tại nhiều vùng, đồng ruộng bị bỏ
hoang, vô số nông dân phải rời thôn xóm về cư trú tại các
Thị Trấn và bị thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Cùng lúc ấy,
đồng bào miền Bắc bắt đầu di tản vào miền Nam.
Trong t́nh thế như vậy, làm sao có thể đối phó được hiểm họa
cộng sản với chính quyền Hồ chí Minh có quân đội đă từng
đánh thắng quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ và đảng cộng sản
với cán bộ đă được rèn luyện trong chiến đấu? Bất cứ lănh tụ
nào thật sự yêu nước đều phải lập ra một chính quyền có khả
năng cai trị toàn miền Nam, từ Nam vĩ tuyến 17 đến tận mũi
Cà Mâu, có quyền chỉ huy Quân Đội, Công An Cảnh Sát và có
đầy đủ chủ quyền trong mọi lănh vực chính trị, kinh tế, tài
chánh, ngoại thương, quan thuế v.v... và không c̣n bị chia
phối bởi tàn tích thực dân nào cả. Miền Nam cần một chính
quyền thực sự có nền độc lập quốc gia, mới có thể lôi cuốn
được sự ủng hộ của dân chúng để chống cộng sản.
Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm biết quá rơ điều này và cố gắng làm
hết ḿnh để đạt mục đích ấy. Các anh em ông, nhất là hai ông
Ngô Đ́nh Luyện và Ngô Đ́nh Nhu và các cộng tác viên như các
ông Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, Nguyễn Văn Châu và
nhiều vị khác nữa vận động các giới, các tôn giáo, các nhân
sĩ cùng các giai tầng trong nước, để ủng hộ Thủ Tướng Diệm.
Hoa Kỳ cũng cho rằng miền Nam phải thực sự độc lập, Pháp
phải từ bỏ các đặc quyền thực dân, chính thể miền Nam mới
được dân chúng ủng hộ trong sự nghiệp bảo vệ tự do chống
cộng sản. Trong giai đoạn này họ tích cực ủng hộ ông Diệm.
Ngoài sự ủng hộ của nhiều tầng lớp dân chúng và Hoa Kỳ, Thủ
Tướng Diệm cũng gặp may là các thuộc địa Pháp tại Bắc Phi
nổi dậy và nước Pháp phải lo đối phó, như cần rút quân về để
đánh dẹp kháng chiến Angéri. Ông căn cứ vào các thỏa ước đă
kư kết, thừa nhận và hoàn thành nền độc lập của Việt Nam, để
đ̣i Pháp trao trả các quyền tự chủ và tài sản của một quốc
gia độc lập mà Pháp c̣n sử dụng hay nắm giữ. Hai tháng sau
ngày chính thức nắm quyền, Chính Quyền của Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm được Pháp chịu giao trả Dinh Norodom, từng tượng
trưng cho chính quyền Pháp tại Đông Dương lâu nay, cũng như
Phủ Toàn Quyền tại Hà Nội. Thủ Tướng Diệm tiếp nhận và ông
đổi tên là Dinh Độc Lập. Bốn ngày sau, tức 11.9.1954, Pháp
đồng ư hủy bỏ các Ṭa án hỗn hợp Pháp-Việt và cũng chấp nhận
trên nguyên tắc chuyển sự điều hành Tư Pháp, Cảnh Sát, An
Ninh Công Cộng và Hàng Không Dân Sự cho Chính Phủ Ngô Đ́nh
Diệm. Giới thực dân Pháp phải chuyển lại quyền hành mà lâu
nay họ nắm giữ, nhưng họ đâu có vui ḷng. Đây có lẽ là một
trong những nguyên nhân chính đưa đến vụ thử thách đầu tiên
mà Thủ Tướng Diệm phải đối phó: Vụ Tướng Nguyễn Văn Hinh,
Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia c̣n phụ thuộc quân đội
Pháp, bất tuân lệnh và chống lại Thủ Tướng.
Bất cứ Nguyên Thủ Quốc Gia nào, ông Diệm cũng vậy, phải nắm
toàn quyền chỉ huy và kiểm soát Quân Đội. Nếu không có quyền
chỉ huy Quân Đội và hệ thống an ninh, Thủ Tướng chỉ làm bù
nh́n và chính quyền không thể nào tồn tại được. Ban đầu, ông
Diệm và các anh em ông cố t́m cách kêu gọi và lôi cuốn Tướng
Hinh ủng hộ chính phủ. Nhưng ông Nguyễn Văn Hinh là hạng
người bảo hoàng hơn Nhà Vua hướng về nước Pháp hơn người
Pháp chính cống, lâu nay chỉ biết phục vụ nước Pháp. Nay một
vị quan cũ từ miền Trung được làm Thủ Tướng như cha y Nguyễn
Văn Tâm trước kia, mà lại đ̣i nước Pháp trả lại quyền hành?
Mặt khác có thể Hinh cũng muốn cha ông làm Thủ Tướng trở
lại, hoặc đă bị thực dân Pháp xúi dục hay mua chuộc, nên
ông lên tiếng chỉ trích Thủ Tướng Diệm và đ̣i có một chính
quyền mạnh và được dân chúng ủng hộ. Tướng Hinh công khai
cho biết đang chuẩn bị đảo chánh và nói chỉ cần ông cầm điện
thoại lên là lật đổ được Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Ngày 11.9.1954, Thủ Tướng Chánh Phủ cho Tướng Hinh nghỉ phép
6 tuần và rời khỏi xứ trong ṿng 24 giờ. Tướng Hinh chống
lại lệnh này bằng cách lái xe mô tô đi chơi trên các đường
phố Sài G̣n. Phe đảng Nguyễn Văn Hinh điều hành Đài Phát
Thanh Quân Đội lên tiếng đả kích kịch liệt Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm hàng ngày cho đến khi Đại Tá Lansdale thuyết phục
và cả mua chuộc được Trung Úy Nguyễn Văn Minh phụ trách Đài
Phát Thanh này, th́ sự đả kích mới giảm bớt rồi chấm dứt.
Các lănh tụ B́nh Xuyên và các giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo,
cũng ra mặt ủng hộ Tướng Hinh và chỉ trích Chính Phủ. Ngày
16.9.1954 họ đưa ra một bản tuyên ngôn với lời lẽ rất đạo
đức, đ̣i chấm dứt t́nh trạng thối nát và giải thoát xứ sở ra
khỏi sự thống trị của ngoại bang. Họ cũng phái Bảy Viễn mang
bản tuyên ngôn này sang Pháp tŕnh cho Bảo Đại nữa. Ba ngày
sau tức ngày 19.9.1954, Tướng Hinh cũng đưa ra lời tuyên bố
với báo chí là chống đối Thủ Tướng Diệm và bản sao điện tín
Tướng Hinh đánh qua Pháp thỉnh cầu Quốc Trưởng Bảo Đại can
thiệp. Cũng trong ngày này, Thủ Tướng Diệm ra Thông Báo buộc
tội Tướng Hinh là bất tuân lệnh chính phủ là phiến loạn.
Tướng Hinh liền dùng một số quân nhân tin cẩn bảo vệ ngôi
nhà ông ở. Vài ngày sau, Hinh lại cho chiến xa đậu bao quanh
Dinh Độc Lập. Ba sĩ quan thân tín của Hinh cũng đến Bộ Quốc
Pḥng đ̣i bắt Tổng Trưởng Lê Ngọc Chấn nữa, như Đại Tá
Lansdale đă chứng kiến, khi ông đến Bộ Quốc Pḥng hôm ấy.
Vào ngày 20.9.1954, Chín trong số 15 Tổng Trưởng trong Chính
Phủ Ngô Đ́nh Diệm từ chức. Những vị này nghĩ rằng Chính Phủ
Ngô Đ́nh Diệm khó ḷng tồn tại v́ Tướng Hinh tuyên bố rằng
Chính Phủ này và Quân Đội không thể song song tồn tại được.
Trong số 9 vị này có Kỹ Sư Phan Khắc Sửu, ông Hồ Thông Minh
và Bác Sĩ Phạm Hữu Chương. Bác Sĩ Chương bỏ trốn đi Pháp và
bị kết tội là tham nhũng và thâm lạm công quỹ. Thủ Tướng
Diệm lập Chính Phủ mới với một số người thân tín. Ông vận
động các giáo phái, kêu gọi ḷng yêu nước của họ và cũng t́m
cách mua chuộc họ khi nào có thể. Vào lúc này, ông Diệm đă
được Hoa Kỳ cấp cho một số tiền dùng làm mật phí. Người Mỹ
nói chung, kính trọng ông Diệm về vấn đề tiền bạc, v́ ông
Diệm coi thường của cải vật chất và có thể nói không giữ
riêng cho ḿnh tài sản ǵ đáng kể.
Trong khi ấy, Tướng Hinh chờ lệnh Quốc Trưởng Bảo Đại để đảo
chánh Thủ Tướng Diệm. Hinh tiếp tục cho xe tăng và binh sĩ
bao vây Dinh Độc Lập với lư do là để ngăn ngừa cộng sản khai
thác vụ khủng hoảng. Không những phe Hinh mà c̣n nhiều người
cũng cho rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm chắc sẽ bị lật đổ.
Nhưng ông Diệm kiên tŕ và vững tâm đối phó. Bảy Viễn ở Pháp
về, sau khi được Bảo Đại tiếp kiến ở Cannes và bắt đầu điều
đ́nh với các giáo phái Cao Đài và Ḥa Hảo để lập chính phủ
do y làm Thủ Tướng. Đại diện của Tướng Hinh và các giáo phái
mưu đồ với nhau và thỏa thuận tấn công lật đổ Chính Phủ Ngô
Đ́nh Diệm vào ngày 26.9.1954. Nhưng t́nh ĺnh, các giáo phái
tin cho Bảy Viễn biết rằng họ không đồng ư chấp nhận y cầm
đầu một chính phủ mới và họ cũng chống lại việc Tướng Hinh
và Bảy Viễn yêu cầu Bảo Đại về nước. Ngày 21.9.1954 phe ủng
hộ ông Diệm, do Bà Ngô Đ́nh Nhu cầm đầu th́ phải, tổ chức
một cuộc biểu t́nh và tuần hành lớn để ủng hộ Thủ Tướng Diệm
và đả đảo Pháp. Đoàn biểu t́nh bị Công An xung phong B́nh
Xuyên chận ngay tại Bùng Binh Chợ Bến Thành, bắn chết 6
người và làm bị thương hàng chục người. Cảnh hỗn loạn xảy ra
nhiều nơi trên các đường phố lớn ở Sài G̣n.
Theo Linh Mục Cao Văn Luận, sau vụ này ông Diệm chán nản,
mất tin tưởng nét mặt buồn thảm, thiểu năo, ông cho biết
người Pháp không thành thực, họ vẫn dựa vào bọn B́nh Xuyên
và hai cha con ông Nguyễn Văn Tâm-Nguyễn Văn Hinh phá ông,
gây ra những khó khăn, ông không làm được ǵ, mọi mấu chốt
quyền hành đều nằm trong tay bọn này hết. Nhiều người gần
ông Diệm khuyên ông ra đi, nhưng ông ở lại và t́m cách đối
phó. Việc Công An B́nh Xuyên bắn vào đoàn biểu t́nh cho thấy
cần phải có lực lượng quân sự. Lúc bấy giờ, các giai tầng
trong xă hội và dân chúng nói chung, có thiện cảm với ông
Diệm, ḷng họ hướng về ông. Ngay cả những người không ưa
thích ông, vẫn chấp nhận và ủng hộ ông, v́ ông tượng trưng
cho tinh thần yêu nước và tự chủ, trong khi Bảy Viễn và hai
cha con Nguyễn Văn Tâm-Nguyễn Văn Hinh là những kẻ làm tay
sai cho Pháp.
Để đối phó, Thủ Tướng Diệm cho chuyển một số Tiểu Đoàn từ
Bắc và Trung vào Nam, ông cho thay thế một số Chỉ Huy
Trưởng, không qua hệ thống Pháp và Tướng Hinh và chỉ thị mật
cho một số Tỉnh Trưởng, không tổ chức những cuộc biểu t́nh
quy mô ủng hộ ông, chống thực dân Pháp và Bảo Đại. Tại các
Thành Phố như Nha Trang, Huế và Sài G̣n, nhiều cuộc biểu
t́nh được tổ chức rầm rộ và liên tiếp, cho thấy phong trào
dân chúng ủng hộ Thủ Tướng Diệm quá mạnh và Công An B́nh
Xuyên không c̣n dám đàn áp nữa.
Dĩ nhiên ông Diệm cũng bắt đầu tổ chức một hệ thống Công
An-Cảnh Sát riêng, khác với Công An B́nh Xuyên dưới quyền
Lai Văn Sang. Ông cũng có t́m sự cộng tác của một số người
trước kia phục vụ trong hàng ngũ chống Pháp. Một số sĩ quan
trong Quân Đội Quốc Gia cũng ra mặt ủng hộ ông và chống
Tướng Hinh, như Thiếu Tá Thái Quang Hoàng tại Phan Rang.
Trong khi ấy Đại Tá Lansdale và Phái đoàn quân sự Mỹ dưới
quyền ông cũng hoạt động rất tích cực. Một toán do Thiếu Tá
Lucien Conein cầm đầu sẽ gặp lại vào năm 1963 phụ trách công
tác phá hoại và tâm lư chiến tại Hà Nội, Hải Pḥng và miền
Bắc trước khi quân đội Pháp rút đi theo Hiệp định Genève. Họ
huấn luyện các điệp viên nằm vùng và chôn dấu vũ khí họ
tuyên truyền và vận động đồng bào Bắc di cư vào Nam. Mặt
khác, Đại Tá Lansdale lo ủng hộ Thủ Tướng Diệm với các công
tác công khai, như giúp thành lập một Tiểu Đoàn Pḥng Vệ Phủ
Thủ Tướng với các Sĩ Quan Phi Luật Tân cố vấn và nhất là
những vụ vận động, lôi cuốn và mua chuộc bí mật. Trong khi
ấy, những người đại diện ông Diệm tiếp xúc với các lănh tụ
chỉ huy các lực lượng quân sự của các giáo phái kêu gọi ḷng
ái quốc của họ và cũng điều đ́nh hay mua chuộc, Đại Tá
Lansdale cũng liên lạc không sót một ai, từ Tŕnh Minh Thế,
Trần Văn Soái tức Năm Lửa, Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác
Ngộ, Nguyễn Thành Phương, Ba Cụt v.v...
Việc người Mỹ ủng hộ Thủ Tướng Diệm chống lại phe thân Pháp
gây ra sự bất măn, rồi sự va chạm giữa các giới thực dân
Pháp và người Mỹ. Tuy đă bị đại bại tại Điện Biên Phủ và
thừa nhận nền độc lập của Quốc Gia Việt Nam, nhiều người
Pháp như các nhà kinh doanh, một số người Việt có Pháp tịch
và lâu nay phục vụ Pháp các chủ đồn điền cao su, trà, cà
phê, các công chức Pháp tại các công sở, nhiều sĩ quan Pháp
vẫn c̣n muốn duy tŕ sự thống trị của Pháp tại miền Nam để
khai thác đến tận cùng, bằng cách lật đổ Chính Phủ Ngô Đ́nh
Diệm và thay thế bằng một chính quyền tay sai như kiểu nội
các Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm và Bửu
Lộc. Số người Pháp thực dân, v́ quyền lợi của họ, ra sức ủng
hộ chống đối ông Diệm, điển h́nh là Tướng Hinh, phe B́nh
Xuyên với Bảy Viễn.
Nhưng Chính Phủ và người Mỹ vận động có kết quả hơn. Ngày
24.9.1954 một số nhân vật Cao Đài và bốn lănh tụ Ḥa Hảo
tham gia Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Trong khi ấy, mối bang
giao Mỹ-Pháp đem lại những biến chuyển có lợi cho việc ông
Diệm đ̣i Pháp trả lại các quyền tự chủ cho Việt Nam. Tháng
9.1954, Pháp đồng ư tham gia tổ chức Liên Pḥng Đông Nam Á
do Hoa Kỳ thành lập, để ngăn chận sự bành trướng của phe
cộng sản tại Đông Nam Á. Việc Hoa Kỳ lâu nay viện trợ cho
quân đội viễn chinh Pháp tại Việt, Miên, Lào và nay Pháp
phải đối phó với các thuộc địa Bắc Phi đ̣i độc lập hay đang
nổi dậy, làm cho người Mỹ có thể dùng áp lực đ̣i Pháp loại
bỏ dần các chính sách hay biện pháp thực dân c̣n lại tại
Việt Nam, ví dụ như việc Pháp c̣n chỉ huy Quân Đội Quốc Gia
Việt Nam, c̣n đài thọ cho B́nh Xuyên và các lực lượng giáo
phái bổ xung cho quân đội Pháp và ngay cả việc dùng ông Bảo
Đại làm Quốc Trưởng nữa. Các đại diện của Pháp và Hoa Kỳ họp
tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn từ ngày 27 đến 29.9.1954 và thỏa
thuận với nhau nhiều vấn đề quan trọng, Pháp đồng ư để Việt
Nam có quyền phát hành tiền tệ bắt đầu ngày 1.1.1955, nghĩa
là chấm dứt các hoạt động của Ngân Hàng Đông Dương và từ nay
Việt Nam nhận trực tiếp viện trợ Mỹ không qua trung gian
Pháp nữa. Ngoài ra, Pháp cũng chịu hủy bỏ các thỏa ước kư
kết tại Pau, Pháp quốc giữa Bảo Đại và Pháp, cho người Pháp
quyền kiểm soát kinh tế, ngoại thương và tài chánh của Việt
Nam, chuyển quyền chỉ huy Quân Đội Quốc Gia cho Chính Phủ
Việt Nam, để người Mỹ huấn luyện Quân Đội Việt và rút đoàn
quân viễn chinh về nước khi nào Chính Phủ Việt Nam yêu cầu.
Những thỏa thuận trên vẫn được giữ kín cho đến khi Thủ Tướng
Pháp Mendés France đến viếng Hoa Thịnh Đốn ngày 20.11.1954.
Vài tuần lễ sau khi Thủ Tướng Mendés France về nước, Hạ Nghị
Viện Pháp thảo luận về những nhượng bộ của Pháp tại Hoa
Thịnh Đốn và nội các Mendés France bị chỉ trích là đă bán
đứng các quyền lợi của Pháp tại Việt Nam bằng cách chấp nhận
một ‘’giải pháp Mỹ’’ về Việt Nam. Tổng Trưởng các xứ liên
kết Guy de la Chambre đứng lên bênh vực các thỏa thuận ở Hoa
Thịnh Đốn. Ông nói rằng hai nước Pháp và Hoa Kỳ hiệp sức với
nhau tại Việt-Miên-Lào và chính phủ Hoa Kỳ cam kết không
đụng chạm đến các quyền lợi kinh tế, thương mại của Pháp tại
Việt Nam. Điều này cũng đúng thôi. Hoa Kỳ can thiệp vào Việt
Nam v́ nền an ninh chiến lược của Hoa Kỳ, chứ không phải đến
tranh giành các quyền lợi kinh tế của Pháp lâu nay có sẵn
tại Việt Nam. Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm cũng kư hai thỏa ước
về kinh tế với Pháp ngày 30.12.1954 và 30.3.1955 bảo đảm các
quyền lợi kinh tế của Pháp tại Việt Nam, nhất là các đồn
điền cao su. Mục đích của Thủ Tướng Diệm là giải quyết các
vấn đề chính trị trước đă. Về chính trị, Pháp phải từ bỏ mọi
tàn tích thực dân. Việt Nam phải hoàn toàn tự chủ và độc lập
mới có thể giành được sự ủng hộ và tham gia của dân chúng
chống đối đe dọa của cộng sản từ miền Bắc. Về quân sự, Nam
Việt Nam cần viện trợ quân sự của Hoa Kỳ khi nào bị miền Bắc
tấn công với sự trợ giúp của Liên Sô, Trung Cộng và các xứ
cộng sản khác, v́ nước Pháp không c̣n có khả năng làm được
việc này nữa.
Các điều thỏa thuận tại Hoa Thịnh Đốn làm cho Pháp không c̣n
có thể đài thọ các lực lượng thân Pháp như từ lâu nay. Pháp
sẽ chấm dứt trả lương cho họ. Bắt đầu từ 1955, Thủ Tướng
Diệm nhận viện trợ Mỹ trực tiếp và ông có ngân sách điều
hành xứ sở như đài thọ Quân Đội Quốc Gia cũng như các lực
lượng quân sự khác phải được đặt dưới quyền chỉ huy của Thủ
Tướng, nếu muốn được đài thọ.
Trong khi ấy, vụ khủng hoảng giữa Thủ Tướng và Tướng Hinh
vẫn tiếp diễn. Tướng Hinh và phe thực dân Pháp do Phó Cao Ủy
Jean Daridan cầm đầu, t́m mọi cách chỉ trích, đả phá chính
phủ và cá nhân Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm trên các báo chí tại
Pháp, tại Sài G̣n, trên đài phát thanh, trong dư luận. Họ
không dám đảo chánh ngay lúc ban đầu, khi Thủ Tướng Diệm
chưa có lực lượng quân sự để bảo vệ chính phủ, v́ sợ Hoa Kỳ
cúp ngay viện trợ nếu lật đổ chính phủ bằng bạo lực. C̣n Thủ
Tướng Diệm vẫn chưa đủ sức trục xuất Tướng Hinh ra khỏi xứ.
Tướng Hinh cứ dọa đảo chánh hết ngày này đến ngày khác. Có
lần Đại Tá Lansdale phải sắp xếp mời các sĩ quan thân tín
của Tướng Hinh đáp phi cơ sang Manila, Phi Luật Tân, quan
sát và du hí để ngăn ngừa Tướng Hinh đảo chánh nếu muốn. Có
hôm, sau ngày Tướng Hinh dọa đảo chánh, Đại Tá Lansdale đến
Dinh thấy chẳng có ai căn pḥng cả, c̣n Thủ Tướng Diệm vẫn
thảm nhiên làm việc trên lầu. Sau đấy Đại Tá Lansdale nhờ
Tổng Thống Magsaysay phái Đại Tá Arellano, Chỉ Huy Trưởng
Tiểu Đoàn Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống Phi Luật Tân sang giúp
việc lập Tiểu Đoàn Pḥng Vệ cho Phủ Thủ Tướng và huấn luyện
quân nhân của Tiểu Đoàn này như đă nói trước đây.
Ngày 1.10.1954, Bảo Đại khuyến cáo Thủ Tướng Diệm chấp nhận
ông Nguyễn Văn Hinh, Bảy Viễn và Nguyễn Văn Xuân vào chính
phủ. Ông Diệm từ chối. Tướng Hinh nhiều lần yêu cầu Quốc
Trưởng Bảo Đại ủng hộ ông, chống lại Thủ Tướng Diệm, nhưng
Bảo Đại không dám, hay cả không muốn, v́ thấy Pháp suy yếu
rồi, nay cần Hoa Kỳ giúp. Hơn nữa, Tướng Ely sau khi đi họp
ở Hoa Thịnh Đốn về, cũng cho Bảo Đại biết rằng Pháp đă theo
chính sách của Mỹ ủng hộ ông Diệm và Bảo Đại không nên làm
ǵ gây ra sự bất b́nh với người Mỹ.
Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ hết ḷng ủng hộ Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm. Người Mỹ cho biết họ sẽ can thiệp nếu ông Diệm bị
lật đổ. Ngày 15.10.1954, trong một báo cáo gởi cho Ủy Ban
Ngoại Giao Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ, Thượng Nghị Sĩ Mansfield
đả kích những âm mưu lật đổ Thủ Tướng Diệm tại Sài G̣n và
nói rằng nếu ông Diệm bị đảo chánh, Hoa Kỳ nên xét tức khắc
việc ngưng tất cả các viện trợ cho Việt Nam và các lực lượng
Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương, ngoại trừ viện trợ nhân đạo.
Chín ngày sau, tức ngày 24.10.1954, Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight
Eisenhower gởi một thông điệp đến Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
xác nhận lại sự ủng hộ của Hoa Kỳ, các lời hứa viện trợ và
tin cho ông Diệm biết rằng từ đầu năm 1955, Hoa Kỳ sẽ viện
trợ trực tiếp cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, không qua trung
gian của Pháp nữa. Trong văn thư này, Tổng Thống Mỹ cũng hy
vọng ông Diệm sẽ thực hiện những cải cách cần thiết.
Đầu tháng 11.1954, Tổng Thống Eisenhower cử một chiến hữu là
Tướng Lawton Collins làm đại diện Tổng Thống và Đặc Sứ thay
thế Đại Sứ Donald Heth. Tướng Collins đến Sài G̣n ngày
8.11.1954 và tuyên bố rằng ông đến Việt Nam để mang viện trợ
Mỹ có thể có được cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm và chỉ Chính
Phủ Diệm mà thôi. Ngày hôm sau, ông đáp phi cơ lên Đà Lạt
gặp Tướng Ely, Cao Ủy và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp. Hai ông
đồng ư chấm dứt vụ Tướng Hinh. Ngày 18.11.1954, Bảo Đại
triệu tập Tướng Hinh sang Pháp tham khảo ư kiến. Dĩ nhiên
Tướng Hinh đâu có muốn đi. Nhưng Pháp đă thỏa thuận với Mỹ
rồi, Tướng Hinh không thể cưỡng lại được. Sáu ngày sau,
Tướng Hinh đáp phi cơ đi Pháp và đến cuối tháng 11.1954 Bảo
Đại ra Chỉ Dụ giải chức Tướng Hinh. Thủ Tướng Diệm cử Tướng
Lê Văn Tỵ, một Quân Nhân ủng hộ ông làm Tham Mưu Trưởng ngày
10.12.1954, nhưng c̣n phải chấp nhận một người thân Pháp là
Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Thanh Tra.
Như thế, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
đă vượt qua thử thách đầu tiên trong khi giành lại dần chủ
quyền từ tay Pháp thực dân, ông cũng loại trừ được một người
Việt dân Pháp Nguyễn Văn Hinh, mà lâu nay cả gia đ́nh làm
tay sai đắc lực cho Pháp ra khỏi chức vụ Tham Mưu Trưởng
Quân Đội và lôi cuốn được một số sĩ quan lâu nay phục vụ
trong hàng ngũ Pháp về với chính nghĩa dân tộc, dù đa số có
lẽ c̣n ở trạng thái lưng chừng hay chờ đợi.
Ngày 3.12.1954, Thủ Tướng kư Sắc Lệnh lập Ngân Hàng Quốc Gia
Việt Nam một cách gấp rút để có thể hoạt động từ 1.1.1955,
khi Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho Việt Nam. Trong hai ngày
29 và 30.12.1954, ông cũng cho kư kết các thỏa ước về kinh
tế và thương mại với Pháp, hủy bỏ các sự phụ thuộc vào Pháp
trong hai lănh vực này, dù thỏa ước ngày 30.12.1954 có bảo
đảm các quyền lợi kinh tế của Pháp, thí dụ các đồn điền cao
su như đă nói đến trước đây. Ông Diệm cũng cho lập ngay Viện
Hối Đoái để phụ trách các gia dịch về ngoại tệ của Ngân Hàng
Đông Dương mà Pháp đồng ư đóng cửa ngày 29.12.1954.
Những thành tích trên làm tăng uy tín, sự kính trọng và ḷng
tin tưởng của dân chúng vào Thủ Tướng Diệm rất nhiều. Ông đă
tỏ ra là một người yêu nước quyết tâm giành lại chủ quyền
dân tộc và tận diệt các tàn tích thực dân Pháp c̣n sót lại
tại miền Nam. Nhưng sự thử thách từ 7.7.1954 chỉ là những
trở ngại đầu tiên. Pháp tuy đă nhượng bộ Hoa Kỳ, vẫn t́m
cách đánh đổ Thủ Tướng Diệm. Tháng 12.1954, khi họp với
Ngoại Trưởng Foster Dulles và Ngoại Trưởng Anh Anthony Eden,
Thủ Tướng Pháp Mendés France c̣n đề nghị rằng Hoa Kỳ có thể
thay thế Thủ Tướng Diệm bằng hai cách, hoặc Bảo Đại cử Trần
Văn Hữu hay Nguyễn Văn Tâm hay Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Phó
vương, toàn quyền giải quyết sự xung đột tại Sài G̣n, hoặc
Bảo Đại về nước lập chính phủ với Trần Văn Hữu làm Thủ
Tướng, Nguyễn Văn Tâm phụ trách Nội Vụ và Bác Sĩ Phan Huy
Quát Quốc Pḥng. Chính phủ Pháp Mendés France muốn tái diễn
lại tṛ thống trị Việt Nam, nhưng bị bác bỏ.
Năm kế tiếp đem lại những khó khăn mà đa số quan sát viên
cho rằng Thủ Tướng Diệm khó ḷng vượt qua nổi, nhưng làm nổi
bật ḷng yêu nước nồng nàn, đức tính can đảm và gan dạ và sự
tin tưởng vào khả năng của ông...
Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang
65-83
***
GIAI ĐOẠN CỰC KỲ GÂY CẤN
Trong năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm phải đối
phó với 5 vấn đề trọng đại. Trước hết đồng bào miền Bắc bắt
đầu di cư vào Nam ngày 14.1.1955. Mười ngày sau, số người di
cư lên đến 200.000 và trong tháng sau, con số vượt quá
800.000 người. Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm cho lập Phủ Tổng Ủy
Di Cư với sự giúp đỡ của Pháp và nhất là của Hoa Kỳ. Số đồng
bào di cư được chuyên chở dần vào Nam và định cư tại những
nơi thiết yếu do ông Diệm đích thân chọn lựa.
Vấn đề thứ hai là thái độ thù nghịch của quân đội và thực
dân Pháp. Lúc bấy giờ Pháp chủ trương rút quân về để đối phó
với vụ dân xứ Angéri, Bắc Phi Châu, nổi dậy, nơi có cả triệu
người Pháp sinh sống. Nhưng các giới thực dân và một số sĩ
quan Pháp vẫn c̣n muốn duy tŕ chế độ thực dân dưới h́nh
thức ‘’Quốc Gia Việt Nam dưới quyền Quốc Trưởng Bảo Đại’’.
Họ vẫn t́m đủ mọi cách phá Chính Phủ và cá nhân Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm, họ tiếp tục đả kích trên báo chí, sách, đài
phát thanh, bịa đặt và loan tin bất lợi cho Chính Phủ và
nhất là tăng cường sức mạnh cho phe B́nh Xuyên và các giáo
phái, rồi xúi dục và t́m cách mua chuộc các phần tử này
chống Chính Phủ. T́nh trạng này đưa đến khó khăn thứ ba là
Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm khó ḷng tránh khỏi sự xung đột với
phe B́nh Xuyên và các giáo phái v́ không có chính phủ nào
thật sự là chính quyền của một nước độc lập, lại chấp nhận
nạn ‘’sứ quân’’ hay nhiều lănh chúa địa phương, do ngoại
bang giựt dây được.
Vấn đề thứ tư là thái độ của Tướng Lawton Collins. Ông này
lâu nay là một Quân Nhân thuần túy, có am hiểu ǵ về Á Châu
và Việt Nam đâu. Ông được cử sang Sài G̣n v́ ông là một
chiến hữu thân cận và tín cẩn của Tổng Thống Eisenhower.
Trong khi tiếp xúc với Tướng Cao Ủy Pháp Ely và Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm, Tướng Collins cảm thấy gần gũi và thông cảm
với Tướng Ely hơn, v́ cả hai đă từng chiến đấu và là bạn
thân với nhau trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Tướng
Collins cho rằng ông Diệm là người khó tính, ông không biết
nhân nhượng với B́nh Xuyên và các giáo phái, v́ họ cũng đều
chống cộng sản cả mà. Như thế Thủ Tướng Diệm có thể gặp nguy
cơ là mất hẳn sự ủng hộ tuyệt đối cần thiết của Hoa Kỳ,
trong việc giành lại chủ quyền từ thực dân Pháp. Vấn đề cuối
cùng là việc tiếp thu các vùng do chính phủ Hồ chí Minh giao
lại vùng Cà Mâu vào ngày 8.2.1955 và vùng Phú Yên, B́nh
Định, Quảng Ngăi và một phần Quảng Nam ngày 22.4.1955.
NHỮNG THÀNH TÍCH ĐẦU
Đầu năm 1955, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm trực tiếp nhận viện
trợ Mỹ và bắt đầu trả lương Quân Đội và Công Chức với ngân
sách Quốc Gia, không c̣n tùy thuộc ǵ vào Pháp nữa. Như thế
Quân Đội tùy thuộc Chính Phủ và đầu tháng 2.1955, Pháp cũng
ngưng trả lương cho các lực lượng bổ xung cho quân đội Pháp
là phe B́nh Xuyên, Cao Đài và Ḥa Hảo. Đây là một yếu tố
quan trọng trong quá tŕnh giành lại chủ quyền của xứ sở
trong mọi lănh vực từ thực dân Pháp. Ngày 12.2.1955, Chính
Phủ thâu hồi lại quyền quản trị Thương Cảng Sài G̣n từ tay
Pháp. Trước đấy ngày 21.1.1955, Thủ Tướng chính thức yêu cầu
Pháp chấm dứt việc huấn luyện Quân Đội Việt Nam. Đến ngày
11.2.1955, Tướng Pháp Agostini và Tham Mưu Trưởng Lê Văn Tỵ
kư thỏa ước chuyển tất cả trách nhiệm về Quân Đội Việt Nam
cho Chính Phủ Việt Nam. Điều này không làm cho một số sĩ
quan lâu nay theo Pháp hài ḷng. Họ muốn có một chính phủ
khác, chứ không phải Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm nắm quyền chỉ
huy Quân Đội. Nhưng bây giờ Thủ Tướng Diệm nắm giữ quyền trả
lương cho họ, ông được Hoa Kỳ ủng hộ và gương Tướng Hinh mất
chức c̣n sờ sờ trước mắt. Họ biết rằng từ nay việc huấn
luyện Quân Đội cũng do Hoa Kỳ phụ trách nữa. Như vậy, điều
hay nhất và có lợi cho họ là thích nghi với t́nh thế mới,
ngả theo chiều gió mạnh. Trong số những người này, có những
kẻ từ 1945-1946, khi dân Việt Nam nổi dậy kháng chiến chống
Pháp, đă phục vụ trong quân đội Pháp hay trong ngành công an
Pháp, có vào quốc tịch hay không, đă đánh giết trực tiếp hay
gián tiếp người Việt, như các ông Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim,
Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn
Quang, Đỗ Mậu v.v...
Về các lực lượng quân sự của các giáo phái, Chính Phủ Diệm
và Đại Tá Lansdale t́m cách làm cho suy yếu bằng biện pháp
chia rẽ và mua chuộc một số chỉ huy quân sự của họ. Trong
số những người này, một số ít, nếu không lầm là có lư tưởng
v́ dân tộc, c̣n đa số có thể nói là do quyền lợi cá nhân chi
phối hơn là v́ tín ngưỡng. Lúc bấy giờ, đa số dân chúng ủng
hộ Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Nếu theo ông Diệm, tức theo
Chính Phủ Quốc Gia đang loại trừ tàn tích thực dân, là theo
chính nghĩa, c̣n được tiền, quân hàm và chức vụ nữa. Chống
ông Diệm nay được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, chắc ǵ thắng được
đâu, như vụ Tướng Hinh. Sự vận động hay mua chuộc của chính
phủ và Đại Tá Lansdale rất có kết quả.
Ngày 15.1.1955, một sĩ quan Ḥa Hảo là Đại Tá Nguyễn Văn
Huê, Tham Mưu Trưởng của ông Năm Lửa Trần Văn Soái về với
Chính Phủ và đem theo 3.500 binh sĩ. Họ được sát nhập vào
Quân Đội Quốc Gia. Trong tháng 3, một sĩ quan Ḥa Hảo khác,
Thiếu Tá Nguyễn Văn Đây đem về 1.500 binh sĩ nữa, phục tùng
Thủ Tướng Diệm. Nhưng thành công lớn nhất của ông Diệm, với
sự hỗ trợ của ông Lansdale là lôi cuốn được ông Tŕnh Minh
Thế về với Chính Phủ. Ông Thế là một cán bộ quân sự Cao Đài,
trước kia được quân đội Nhật huấn luyện, có lư tưởng dân
tộc, chống cả thực dân Pháp và cộng sản. Ông tách rời các
đơn vị dưới quyền ông ra khỏi các lực lượng Cao Đài bổ xung
cho quân đội Pháp, ăn lương Pháp và do Pháp trang bị, lập
quân đội quốc gia liên minh và Mặt Trận Liên Minh. Ông Thế
lấy Núi Bà Đen ở Tây Ninh làm căn cứ và đánh lại cả quân
Pháp và cộng sản. Dân chúng vùng ông Tŕnh Minh Thế kiểm
soát mến phục và ủng hộ ông, v́ ông đối xử công tâm và chăm
lo cuộc sống của họ. Đại Tá Lansdale mang thư của Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm đến căn cứ của ông tại Núi Bà Đen và được đưa
đi quan sát các đơn vị và cơ xưởng chế tạo vũ khí, như súng
máy ṇng 50 ly, súng M-1 và máy thâu phát thanh nữa. Ông Thế
chấp nhận lời Thủ Tướng mời về cộng tác. Ngày 13.2.1955, ông
dẫn 2.500 binh sĩ đi diễn hành qua các đường phố như Đại Lộ
Thống Nhất, Đường Tự Do, Lê Lợi đến bùng binh trước Sở Ngân
Khố, ngang qua khán đài có Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm và nhiều
nhân vật Việt và ngoại quốc. Các binh sĩ Liên Minh dưới
quyền ông Thế được sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia và ông Thế
mang quân hàm Thiếu Tướng. Vụ Tướng Thế về thần phục Chính
Phủ làm uy tín và thanh thế của Thủ Tướng Diệm tăng lên rất
nhiều. Nhưng người Pháp rất bất măn và thù hằn Tướng Thế, v́
ngày 31.7.1951 ông đă cho cảm tử quân mang lựu đạn nổ giết
chết Tướng Chanson, chỉ huy Quân Đội Pháp tại Nam Bộ và Thủ
Hiến bù nh́n Thái lập Thành tại Trà Vinh. Hai năm sau, tức
1953, ông Thế lại gây ra một vụ nổ lớn trước Nhà Hát Sài
G̣n, sau này là Hạ Nghị Viện, để giết hại sĩ quan Pháp nhưng
lại trúng người qua đường. Người Pháp bảo rằng chiến đấu như
thế là dă man, c̣n việc họ giết hại dân lành Việt dĩ nhiên
đâu có ǵ là dă man.
Một số lănh tụ Ḥa Hảo như ông Nguyễn Giác Ngộ và Lâm Thành
Nguyên mà Đại Tá Lansdale đă từng gặp tại bản doanh ông Năm
Lửa Trần Văn Soái, cũng đến t́m ông Lansdale tại nhà ông ở
Sài G̣n và mặc cả về số tiền và vũ khí cấp cho họ khi họ về
với Chính Phủ, ông Lansdale viết trong hồi kư ông bảo là
không có.
Trong khi đối phó với các giáo phái, Thủ Tướng Diệm cũng chú
trọng đặc biệt đến phe B́nh Xuyên. Các đơn vị B́nh xuyên
dưới quyền Bảy Viễn trấn giữ Chợ Lớn và một số địa điểm tại
Sài G̣n, chúng được thực dân Pháp giúp thêm vũ khí và cố
vấn. Ngành cảnh sát, công an vẫn dưới quyền Lai Văn Sang,
một thân tín của Bảy Viễn. Như thế, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm
vẫn c̣n bị uy hiếp ngay tại Thủ Đô.
Đến tháng 1.1955, giấy phép mở ṣng bạc Đại Thế Giới hết
hạn. Thủ Tướng Diệm ban bố một Nghị Định đóng cửa ṣng bạc
Đại Thế Giới và bài trừ cũng như trừng phạt các tệ đoan như
cờ bạc, đĩ điếm, thuốc phiện và ma túy. Ông cũng yêu cầu Bảo
Đại thâu hồi lại Đạo Dụ cử Lai Văn Sang làm Tổng Giám Đốc
Công An, Cảnh Sát để ông cử một người khác thay. Thông điệp
trả lời của Bảo Đại bày tỏ sự tín nhiệm đối với ông Diệm,
nhưng không đả động ǵ đến yêu cầu trên. Đối với Bảo Đại,
đây có lẽ là cơ hội ngăn chận hay giảm bớt sự gia tăng dần
uy tín và quyền thế của Thủ Tướng Diệm. Mặt khác, sự đóng
cửa ṣng bạc và việc đặt các tệ đoan ra ngoài ṿng pháp
luật, sẽ làm cho Bảy Viễn và Bảo Đại mất một mối lợi khổng
lồ. Một số tay chân của Bảy Viễn và Bảo Đại tại Thành Phố
nghỉ mát Cannes, Pháp quốc, nơi Bảo Đại đang trú ngụ và ở
Sài G̣n cùng thực dân Pháp hợp sức với nhau để đối phó với
Thủ Tướng Diệm.
B̀NH XUYÊN VÀ THỰC DÂN PHÁP
Ngày 5.3.1955 Bảy viễn mời đại diện các giáo
phái họp tại Chợ Lớn. Ông nói rằng miền Nam cần một chính
phủ tốt hơn là chính phủ do ông Diệm ‘’điên’’ cầm đầu. Nếu
giáo phái và B́nh Xuyên đoàn kết lại với nhau, họ có thể đ̣i
nắm giữ các bộ then chốt về tài chánh, kinh tế và để ông
Diệm làm v́ mà thôi. Nếu họ liên minh với nhau về quân sự
thành một đạo quân hùng mạnh, ông Diệm sẽ hoảng sợ và phải
chấp nhận những yêu sách của họ. Việc này đâu có khó khăn
ǵ. Các đại diện giáo phái nghe rất êm tai và đồng ư v́ ai
cũng có tham vọng mở rộng khu vực thống trị của ḿnh, có
thêm quyền hành và lợi tức. Họ thành lập một Mặt Trận Liên
Minh và cử ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài làm
lănh tụ và ông Ba Cụt Lê Quang Vinh làm Tư Lệnh quân sự. Bảy
Viễn cũng cam kết đặt các lực lượng B́nh Xuyên dưới quyền
của ông Ba Cụt nếu xảy ra xung đột với Chính Phủ. Người đại
diện Bảo Đại tại Sài G̣n là ông Nguyễn Đệ cho vài người thân
tín đến dự phiên họp này và cổ vơ việc chống lại Thủ Tướng
Diệm. Các Tướng Tŕnh Minh Thế và Tướng Cao Đài Lê Thành
Phương cũng dự phiên họp này. Theo ông Lansdale, khi hai
Tướng trên thuận lại cho ông biết về việc tham gia mặt trận,
ông giải thích cho hai người này hiểu, nhất là Tướng Thế, về
việc họ tham gia mặt trận chống chính phủ là không phải.
Tướng Thế đă về với chính phủ rồi, c̣n Tướng Phương đang
chuẩn bị sát nhập các đơn vị dưới quyền ông vào Quân Đội
Quốc Gia, vậy làm sao hai ông lại đứng vào phe chống chính
phủ và ông thuyết phục họ rời bỏ mặt trận. Về vụ này có
người bảo rằng ông Thế và Phương làm thế để được chi thêm
tiền. Nhưng có thể rằng ông Diệm đă dặn riêng hai ông tham
gia mặt trận, để biết rơ thêm về phe chống đối và mưu đồ của
Bảy Viễn.
Sau đấy, Bảy Viễn tổ chức một phiên họp khác của mặt trận,
để quyết định về việc gởi tối hậu thư cho Chính Phủ. Hai
Tướng Thế và Phương cũng đến họp, rồi lên tiếng phản đối và
rút lui ra khỏi mặt trận. Tuy vậy ngày 22.3.1955, mặt trận
vẫn gởi tối hậu thư đến Thủ Tướng Diệm và báo cho ông đến
ngày 27.3 tức năm ngày sau phải thỏa măn các yêu sách của
họ. Nếu không, họ sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết. Thủ
Tướng Diệm b́nh thảm đề nghị điều đ́nh với mặt trận. Ông nói
rằng ông có kế hoạch giúp cho tất cả những người yêu nước
tham gia với ông trong việc xây dựng một cơ sở bền vững và
lâu dài cho Quốc Gia. Mặt trận bác bỏ lời điều đ́nh này. Phe
B́nh Xuyên đặt súng cối vào những vị trí để có thể bắn vào
Dinh Độc Lập, nếu ông Diệm không chấp nhận tối hậu thư của
họ.
Dần dần, dân chúng Sài G̣n-Chợ Lớn biết về vụ khủng hoảng
này và t́nh h́nh trở nên căng thẳng với một số tin đồn đăi.
Trong giới ngoại kiều tại Thủ Đô, nhất là trong số người
Pháp và người Việt vô dân Tây, có tin rằng Quân Đội Quốc Gia
gần như nổi loạn, các sĩ quan và binh sĩ đều chống Thủ Tướng
Diệm. Loại tin này được truyền đến người Mỹ. Theo ông
Lansdale các giới cao cấp Pháp và Mỹ đều tin như vậy, mặc
dầu ông thân chinh tiếp xúc với các Tiểu Đoàn Việt, thấy
tinh thần họ rất cao, họ sẵn sàng chiến đấu ủng hộ Chính
Phủ. Ṭa Đại Sứ Mỹ và Cao Ủy Pháp đă gởi về Hoa Thịnh Đốn và
Paris các báo cáo về sự bạc nhược và không có tinh thần
chiến đấu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. C̣n báo cáo của
Đại Tá Lansdale được điện thẳng về trụ sở Trung Ương T́nh
Báo CIA tại Langley, Tiểu Bang Virgina và đệ tŕnh thẳng lên
ông Tổng Giám Đốc Allen Dulles.
Trước t́nh thế căng thẳng và khẩn trương, một số Tổng Trưởng
trong Chính Phủ mất tinh thần và xin từ chức. Trong số này,
đáng kể nhất là Tổng Trưởng Quốc Pḥng Hồ Thông Minh. Trước
kia, khi lập lại nội các, Tướng Lawton Collins đề nghị ông
Diệm cử Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Tổng Trưởng Quốc Pḥng,
nhưng ông Diệm không chịu và cử ông Hồ Thông Minh. Việc này
làm cho ông Tướng Collins bất b́nh. Ông than phiền rằng ông
Diệm nghe lời các em ông, ông Luyện, ông Nhu hơn là ông. Nay
t́nh thế trở nên khẩn trương, ông Hồ Thông Minh từ chức, mặc
dầu Tướng Collins và Đại Tá Lansdale đến gặp và yêu cầu ông
đừng từ nhiệm. Ông Minh không chịu, nhưng thừa nhận rằng ông
chưa tiếp xúc với Đơn Vị Quân Đội nào cả để t́m hiểu thái độ
và tinh thần của họ. Ông tin rằng Quân Đội Quốc Gia sẽ không
chiến đấu chống B́nh Xuyên và các giáo phái nên ông rời bỏ
chức vụ và đi khỏi Sài G̣n.
Sáng ngày 29.3.1955, nghĩa là sau khi Tổng Trưởng Quốc Pḥng
Hồ Thông Minh từ chức, Đại Tá Lansdale và Trung Úy Redick
thuộc Phái đoàn quân sự Sài G̣n, tức một cán bộ CIA khác,
đến gặp ông Diệm tại Dinh Độc Lập. T́nh trạng Dinh Độc Lập
không c̣n giống như thời Tướng Hinh dọa đảo chánh. Tiểu Đoàn
Pḥng Vệ đang bố trí tác chiến v́ nghe đồn B́nh Xuyên sắp
tấn công. Ông Lansdale xem xét lại hệ thống điện thoại vô
tuyến mà người Mỹ đă thiết lập trong Dinh Độc Lập cạnh pḥng
ông Diệm, để ông liên lạc với các nơi trong trường hợp sự
liên lạc b́nh thường bị cắt đứt. Đại Tá Lansdale cũng cho
ông Diệm biết rằng ông được lệnh không đến Dinh Độc Lập và
sử dụng hệ thống vô tuyến này nếu xảy ra sự xung đột giữa
những người Quốc Gia Việt Nam.
Thủ Tướng Diệm trải một bản đồ Sài G̣n-Chợ Lớn trong văn
pḥng ông và chỉ cho ông Lansdale thấy những nơi được báo
cáo là B́nh Xuyên đă đặt súng cối để bắn vào Dinh Độc Lập.
Đến nay B́nh Xuyên mới có súng cối 60 ly, nhưng có tin họ
đang vận động với Pháp để có được súng cối 81 ly. Nếu B́nh
Xuyên có cối 81 ly th́ nguy hiểm hơn nhiều v́ súng cối 60 ly
không làm hư hại các bức tường dày của Dinh lắm, nếu người
ta núp sau những bức tường này. Đại Tá Lansdale nhận thấy
ông Diệm rất b́nh tĩnh và tự chủ, ông tŕnh bày như một vị
sĩ quan thuyết tŕnh về một đề tài, h́nh như không bận tâm
về việc ông là mục tiêu tấn công của phe B́nh Xuyên.
Khi ông Lansdale hỏi về cựu Tổng Trưởng Quốc Pḥng Hồ Thông
Minh, ông Diệm cười chua chát rằng ông Minh đă đi Đà Lạt,
nơi những người thuộc phe Bảo Đại đang tụ họp. Ông Diện cho
biết ông thân chinh nắm giữ Bộ Quốc Pḥng và các chỉ huy
quân sự hài ḷng về việc này. Họ rất bất măn về các tin đồn
là họ sợ B́nh Xuyên và không có tinh thần chiến đấu. Thủ
Tướng Diệm đă tiếp xúc với các vị chỉ huy của các đơn vị, họ
xác nhận ḷng trung thành với chính phủ và sẵn sàng chiến
đấu. Ông đă phái ông Trần Trung Dung, Tổng Trưởng tại Phủ
Thủ Tướng, sang làm việc tại Bộ Quốc Pḥng để điều hành công
việc hàng ngày.
Đại Tá Lansdale cũng thảo luận với ông Diệm về những biện
pháp nào để tránh xung đột giữa B́nh Xuyên và Chính Phủ. Ông
Diệm đáp rằng ông đă đề nghị điều đ́nh với các lănh tụ mặt
trận. Nhưng Bảy Viễn cho thấy rơ rằng y chỉ muốn ông Diệm bị
giải chức hay làm v́ và để y lên cầm quyền. Đây là vấn đề
liêm chính và đạo đức cho đất nước. Lâu nay Bảy Viễn đă làm
giàu với sự độc quyền cờ bạc, đĩ điếm và thuốc phiện lậu. Y
đă củng cố vị trí bằng cách ăn chia với Bảo Đại. Nay y và
đồng lơa c̣n muốn dùng bạo lực để nắm chính quyền. Là một
dần vào Sài G̣n các Tiểu Đoàn mà ông tin cậy được vào các vị
chỉ huy như ba Tiểu Đoàn Nùng, rồi giữa tháng 3, hai Tiểu
Đoàn Dù dưới quyền Đại Tá Đỗ Cao Trí. Các đơn vị này cộng
vào số binh sĩ của Tướng Thế, Đại Tá Huê và Thiếu Tá Đày làm
cho thế quân sự của chính phủ vững mạnh hơn trước nhiều, so
với số độ 4.000-5.000 quân B́nh Xuyên tại Chợ Lớn-Sài G̣n.
Từ lúc cầm quyền đến nay Thủ Tướng Diệm vẫn được sự ủng hộ
của Hoa Kỳ. Mọi việc xảy ra tại Sài G̣n đều được Ṭa Đại Sứ
Mỹ và Đại Tá Lansdale báo cáo về Bộ Ngoại Giao và Trung Ương
T́nh Báo. Ngày 8.3.1955, nghĩa là chỉ vài ngày sau khi Bảy
Viễn và các giáo phái họp ở Chợ Lớn lập mặt trận chống Thủ
Tướng Diệm, Ngoại Trưởng Foster Dulles xác nhận lại việc Hoa
Kỳ ủng hộ Thủ Tướng trong một bài diễn văn truyền h́nh. Cũng
trong ngày này, bảy Tiểu Đoàn với trọng pháo và chiến xa đă
hành quân dẹp chiến khu Ba Ḷng trong Tỉnh Quảng Trị do đảng
Đại Việt lập ra với một số quân nhân ly khai. Cuộc hành quân
này cho thấy Quân Đội sẵn ḷng đánh dẹp các vụ nổi dậy chống
Chính Quyền hợp pháp. Ngày hôm sau tức 9.3.1955, Tổng Thống
Eisenhower gởi thông điệp cảnh cáo Bảo Đại đừng làm khó dễ
Thủ Tướng Diệm.
Nhưng đến ngày 25.3.1955, tức 3 ngày sau khi mặt trận gởi
tối hậu thư đến ông Diệm, Bảo Đại kêu gọi ông Diệm hăy
thống nhất, kết hợp và liên kết với B́nh Xuyên và các giáo
phái, tức Bảo Đại muốn ông Diệm nhượng bộ, hai ngày sau, tức
ngày tối hậu thư của mặt trận hết hạn và khi chắc đă vận
động Tướng Nguyễn Thành Phương của giáo phái Cao Đài về phe
Chính Phủ, Thủ Tướng Diệm ra lệnh cho các Tiểu Đoàn Dù dưới
quyền Đại Tá Đỗ Cao Trí đánh chiếm trụ sở cảnh sát và ṭa
nhà mật thám tức công an dưới quyền B́nh Xuyên trên Đại lộ
Galliéne (sau đổi tên là Trần Hưng Đạo). Quân Dù đánh chiếm
được sở cảnh sát nhưng B́nh Xuyên c̣n giữ được ṭa nhà công
an. Ngày hôm sau, ông Diệm ra lệnh đánh chiếm luôn ṭa nhà
công an. Nhưng trước khi vụ tấn công bắt đầu, Cao Ủy Pháp
Tướng Ely can thiệp và ông Diệm phải hoăn lại vụ tấn công
một cách miễn cưỡng. Ngày 29.3.1955, Tướng Nguyễn Thành
Phương, Tư lệnh các lực lượng Cao Đài ra công khai ủng hộ
Chính Phủ. Đây là một thắng lợi chính trị đáng kể cho Thủ
Tướng Diệm và làm xuy yếu mặt trận chống đối. Đến nửa đêm
hôm ấy, B́nh Xuyên cho nă súng cối vào Dinh Độc Lập. Quân
Đội Chính Phủ và B́nh Xuyên xung đột với nhau, súng nổ tại
nhiều nơi, trên Đại Lộ Galliéne, gần Ṭa nhà công an và rải
rác vùng ranh giới Sài G̣n-Chợ Lớn. Đại Tá Lansdale lái xe
đi quan sát, thấy các đoàn xe chở binh sĩ Việt đến các nơi
xung đột bị xe tăng và thiết giáp Pháp ngăn chận và phải
quay đầu trở về. Cuộc đụng độ kéo dài độ 3 giờ, rồi Tướng
Pháp Paul Ely với sự tán thành của Tướng Lawton Collins,
buộc Thủ Tướng Diệm ngưng chiến. Như thế ông Diệm cố gắng
thiết lập chính quyền cho toàn quốc và tại ngay Thủ Đô th́
bị 2 ngoại bang ngăn chận.
Về phần Pháp, Tướng Pau Ely, Cao Ủy Pháp, lư luận rằng ông
sợ nội chiến lan rộng và ông có trách nhiệm bảo vệ Pháp kiều
và ngoại kiều khác nên ông can thiệp buộc hai bên ngưng
chiến, dù ông chấp nhận nước Pháp sẽ không c̣n liên hệ về
chính trị với Quốc Gia Việt Nam và Cố vấn Mỹ sẽ thay thế Cố
vấn Pháp. Ông cảm thấy phải làm trọng tài trong cuộc xung
đột giữa Thủ Tướng Diệm và các giáo phái, ông muốn tạo nên
sự thông cảm và ḥa hợp giữa ông Diệm và những người Pháp
c̣n có quyền lợi tại Việt Nam. Mối quan tâm khác của ông là
sự bất măn và va chạm càng ngày càng gia tăng giữa người
Pháp và người Mỹ tại Sài G̣n về những quan điểm bất đồng đối
với ông Diệm và giáo phái. C̣n đa số người Pháp tại Sài G̣n
cũng như dư luận và báo chí tại Paris đều không hài ḷng về
việc Nội các Medés France chấp nhận chính sách của Hoa Kỳ về
Việt Nam và ủng hộ Chính Phủ Diệm. Người Pháp thấy ḷng tự
ái thực dân và những quyền lợi thống trị về kinh tế và chính
trị của họ bị tổn thương, v́ lập trường quốc gia quyết liệt
không nhân nhượng ông Diệm trong việc giành lại chủ quyền và
chấm dứt chế độ thực dân vàng son của họ. Đại đa số báo chí
Pháp chỉ trích Thủ Tướng Diệm và việc Hoa Kỳ ủng hộ ông,
ngay cả trước khi sự xung đột với B́nh Xuyên giáo phái xảy
ra. Một số thường xuyên phao tin bất lợi và tiên đoán rằng
Chính Phủ Diệm gần sụp đổ. Thực dân người yêu nước, ông Diệm
không thể nào để một việc như vậy xảy ra được. Ông Diệm đưa
Pháp biết rằng họ chỉ c̣n hy vọng tạo nên một chính phủ tay
sai kiểu Xuân, Hữu, Tâm nếu ông Diệm thất bại, không dẹp
được B́nh Xuyên và các giáo phái. V́ thế, họ mở một chiến
dịch đả kích dữ dội Thủ Tướng Diệm. Nhiều nhà báo Pháp miêu
tả ông Diệm là cứng rắn bất lực, ông sẽ làm nguy hại cho sự
sống c̣n của Nam Việt Nam. Họ tố ông là yếu kém, không được
dân chúng ủng hộ và không có khả năng ngăn chận cộng sản.
Đây là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp để đối phó với
thái độ quyết liệt của ông Diệm giành lại chủ quyền.
C̣n về phần người Mỹ nói chung, họ có cảm t́nh với những cố
gắng giành lại chủ quyền của Thủ Tướng Diệm. Đại Tá
Lansdale, Trưởng phái đoàn quân sự Sài G̣n, tức một Toán đặc
công đặc biệt của Trung Ương T́nh Báo gặp ông Diệm hàng
ngày, có thiện cảm với ông và hết ḷng giúp ông, tức thực
thi chánh sách của Tổng Thống Eisenhower là ủng hộ ông Diệm
lập nên một Chính Quyền Quốc Gia vững mạnh chống lại được sự
bành trướng của cộng sản. Nhưng người Mỹ có vai tṛ quyết
định tại Sài G̣n là đặc phái viên của Tổng Thống, tức Tướng
Lawton Collins. Ông này đă làm bổn phận cứu Chính Phủ Diệm
trong tháng 11.1954, bằng cách dùng áp lực với Pháp buộc
Tướng Hinh phải rời Sài G̣n đi Pháp, rồi bị giải nhiệm trở
lại Không Quân Pháp. Nhưng Tướng Collins không hiểu ǵ về
t́nh h́nh Việt Nam. Ông cho rằng ông Diệm bướng bỉnh, khó
giao thiệp và trao đổi ư kiến. Ông không hài ḷng khi ông
Diệm không nghe lời ông đề cử Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Tổng
Trưởng Quốc Pḥng, nhưng chọn ông Hồ Thông Minh. Ông ngă dần
về quan điểm của Cao Ủy Pháp Paul Ely. Tướng Collins đi đến
kết luận là ông Diệm sẽ thất bại. Ông đệ tŕnh một khuyến
cáo mật lên Tổng Thống Eisenhower đề nghị bỏ rơi Thủ Tướng
Diệm.
Trong khi ấy ông Diệm vẫn cương quyết tiếp tục đối phó với
phe B́nh Xuyên và giáo phái. Ngày 31.3.1955, trong một buổi
lễ long trọng, Tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương đem 8.000
binh sĩ diễn hành trong sân Dinh Độc Lập và tuyên thệ về
theo Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Trong hai tuần lễ tiếp của
tháng 4.1955, t́nh h́nh Sài G̣n-Chợ Lớn bắt đầu căng thẳng.
Quân Đội Chính Phủ cũng như phe B́nh Xuyên củng cố các vị
trí của ḿnh với các bao cát, hàng rào dây thép gai hay bố
trí thêm binh sĩ. Có nơi lính hai bên gờm nhau hai bên
đường, c̣n xe cộ và bộ hành lưu thông ở giữa đường.
Các lực lượng Pháp cũng kéo vào Thành Phố, đậu chiến xa trên
các lề đường và dùng bao cát và giây kẽm gai để lập các vùng
gọi là khu vực Pháp và lính B́nh Xuyên có thể di chuyển tự
do và công khai với sự bảo vệ của quân Pháp. Ngoài ra, người
Pháp c̣n lập ra một khu vực Pháp, sát cạnh ngay Dinh Độc
Lập, phe B́nh Xuyên cũng tăng cường sự pḥng thủ Trụ sở cảnh
sát dưới quyền họ, sau này là Bộ Nội Vụ tại Đường Catinat,
sau đổi tên là Đường Tự Do.
Các khu vực Pháp chiếm độ một nửa Thành Phố Sài G̣n-Chợ Lớn
với độ 30.000 lính chưa kể các đơn vị tại vùng ngoại ô. Dân
chúng Việt thấy rơ ràng là Pháp uy hiếp Chính Phủ Ngô Đ́nh
Diệm đang thu hồi lại chủ quyền từ người Pháp và ủng hộ phe
B́nh Xuyên lâu nay làm tay sai cho Pháp và độc quyền cờ bạc,
đĩ điếm và thuốc phiện lậu. Phe B́nh Xuyên có độ 4000-5000
lính chia ra chừng 16 Tiểu Đoàn, với quân số độ 400 người
cho mỗi Tiểu Đoàn với nhiều vũ khí tự động. Pháp có thể đă
cấp cho B́nh Xuyên loại súng cối 81 ly nguy hiểm hơn súng
cối 60 ly mà lâu nay họ dùng pháo kích vào Dinh Độc Lập.
Pháp cấp cho B́nh Xuyên 3 pháo thuyền nhỏ để hoạt động trên
các sông vùng Sài G̣n-Chợ Lớn. C̣n Chính Phủ Việt Nam chỉ có
một Hải Quân tí hon do sĩ quan Pháp chỉ huy. Pḥng Nh́ tức
là sở phụ trách t́nh báo quân sự vẫn do sĩ quan Pháp điều
hành, nên Thủ Tướng Diệm phải tổ chức một hệ thống t́nh báo
riêng để biết về đối phương, do ông Ngô Đ́nh Nhu phụ trách
với sự cộng tác của một số người như ông Nguyễn Ngọc Thơ,
Mai Hữu Xuân và người Hoa như ông Lư Khai. Thủ Tướng Diệm
chỉ đạo sự bố trí các đơn vị của Quân Đội Quốc Gia, chuẩn bị
tấn công các vị trí B́nh Xuyên khi chiến cuộc bùng nổ với
Tướng Lê Văn Tỵ và các sĩ quan cấp Tá Trần Văn Đôn, Dương
Văn Minh, Nguyễn Văn Minh.
GIẢI PHÁP THỰC DÂN ELY&COLLINS
Trong khi ấy Tướng Pháp Ely và Tướng Mỹ Collins thỏa thuận
với nhau về một giải pháp cho vụ tranh chấp. Trước hết, Đại
Tá Lansdale được giao phó tổ chức một buổi họp Pháp-Mỹ với
các giáo phái tại Chợ Lớn. Từng lănh tụ giáo phái được hỏi ư
kiến về t́nh h́nh và nhận định của họ đối với Chính Phủ do
sĩ quan Pháp chủ tọa. Lợi dụng buổi họp, Đại Tá Lansdale t́m
cơ hội tiếp xúc với Đại Tá Thái Hoàng Minh, Tham Mưu Trưởng
của Bảy Viễn và lôi cuốn ông về với chính phủ. Ông Thái
Hoàng Minh nói sẽ đem về 4 Tiểu Đoàn cho Thủ Tướng Diệm v́
ông tin tưởng ông Diệm. Nhưng sau đó Bảy Viễn và Pháp nghi
ngờ nên ông Minh bị Bảy Viễn cho người đến nhà bắt giết, khi
ông về nhà đem vợ con đi theo Chính Phủ Diệm.
T́nh thế trở nên khó khăn cho Thủ Tướng Diệm. Tại Thành Phố
Cannes, Bảo Đại tỏ vẻ lạnh nhạt, không chịu tiếp kiến ông
Ngô Đ́nh Luyện do Thủ Tướng Diệm phái sang, mặc dầu Bảo Đại
và ông Luyện lâu nay thân thiết với nhau. Các người thân tín
của Bảo Đại tại Sài G̣n phao tin rằng Bảo Đại sắp về nước.
Tin này có phản ứng làm dân chúng nổi dậy chống Bảo Đại v́
họ thấy rơ sự liên hệ giữa B́nh Xuyên và Bảo Đại. Phe B́nh
Xuyên cũng gây ra t́nh trạng bất ổn trong Thành Phố bằng
cách cho nhiều xe ‘’díp’’ chở lính mặc thường phục chạy qua
các đường phố lúc hoàng hôn và bắn bừa băi gây thương tích
cho nhiều thường dân. Họ c̣n khiêu khích các sĩ quan cao cấp
của Quân Đội, khi cho người đi xe díp bắn vào cổng Bộ Tham
Mưu Đường Galliène vào một buổi trưa, khi các vị sĩ quan này
ra cổng đi ăn cơm trưa, nhưng may không có ai bị ǵ. Quân
B́nh Xuyên lộng hành, Đại Tá Tham Mưu Trưởng Trần Văn Đôn đi
đường c̣n bị lính xung phong của B́nh Xuyên chọc tức, như
ông kể trong hồi kư của ông.
Trong khoảng thời gian này, Quân Đội Quốc Gia c̣n phải nhận
đạn dược và xăng nhớt từ quân đội Pháp với sự cung cấp rất
hạn chế. Tướng Collins c̣n khuyến cáo Thủ Tướng Diệm một
cách gắt gao không được mở lại cuộc tấn công phe B́nh Xuyên.
Một Phát Ngôn Viên của Chính Phủ tuyên bố ngày 7.4.1955 rằng
‘’sự can thiệp của Tướng Collins trói buộc tay chân của
chúng tôi’’
Thủ Tướng cũng được hai Tướng Ely và Collins
thông báo về giải pháp do hai ông đề nghị để giải quyết vấn
đề giáo phái. Giải pháp gồm 5 điểm chính:
1.- Chính Phủ trở thành lâm thời và liên hiệp
với một số người chống ông Diệm.
2.- Thủ Tướng Diệm sẽ cử một Tổng Giám Đốc Công
An Cảnh Sát mới, vị này phải được chính phủ liên hiệp và phe
B́nh Xuyên chấp nhận để khỏi đổ máu.
3.- Một hội đồng lâm thời, sẽ được đề cử và nhóm
họp vào ngày 15. 5, các giáo phái đề cử 60 đại biểu, dân di
cư 10, ông Diệm 10. Hội đồng lâm thời này sẽ góp ư kiến với
Bảo Đại nên cử ai làm Thủ Tướng.
4.- Một Hội Đồng tối cao danh dự, gồm các Lănh
Tụ các Giáo Phái sẽ cử làm Hội Đồng Tư Vấn.
5.- Hai người em trai ông Diệm là ông Ngô Đ́nh
Nhu và ông Ngô Đ́nh Luyện phải rời xứ trong thời gian này.
Bất cứ người nào, Việt hay nước ngoài, khách quan một chút,
đâu cần ǵ bênh vực cho ông Diệm, cũng thấy rằng với giải
pháp như thế, Tướng Mỹ Collins đă ngă về chính sách thực dân
cố hữu của Pháp là loại trừ ông Diệm, một người Việt yêu
nước đang giành lại chủ quyền. Như thế, Pháp có thể tiếp
tục thống trị miền Nam qua nhóm tay sai này cho đến tháng
7.1956 rồi tổ chức tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève, dâng
miền Nam cho cộng sản Hà Nội. Pháp khai thác và bóc lột được
2 năm nữa và sẽ được điểm tốt với cộng sản Hà Nội. Tướng
Pháp Ely, Thủ Tướng Medès France hay dân Pháp nói chung
thương ǵ dân Việt hay để ư bảo vệ quyền lợi và nền tự chủ
của dân tộc Việt Nam đâu, người Mỹ Lawton Collins cũng vậy
mà thôi.
Thủ Tướng Diệm đă gởi một Thông Điệp trả lời thích đáng đề
nghị của hai Tướng Pháp và Mỹ, nước Pháp đă tạo ra phe B́nh
Xuyên và các giáo phái bằng cách trang bị vũ khí và nuôi
dưỡng họ, nước Pháp lâu nay chia rẽ để trị, nay nước Pháp
cần phải giải giới họ là giải quyết vấn đề.
Đại Tá Lansdale gặp ông Diệm hằng ngày tại Dinh Độc Lập và
ông cho Tướng Collins biết là không bao giờ ông Diệm chấp
nhận một giải pháp như vậy. Đây là một sự khiêu khích với
dân Việt hơn là một cách giải quyết vấn đề giáo phái. Nếu
công bố giải pháp này, dân Việt sẽ nổi dậy đứng về phe ông
Diệm và t́nh thế sẽ trở nên bất ổn. Tướng Collins bảo rằng
mục tiêu là làm cho một t́nh thế sôi bỏng nguội dần để tránh
đổ máu. Tướng Collins cần về Hoa Thịnh Đốn. Ông Lansdale hỏi
Tướng Collins rằng nên trả lời thế nào với ông Diệm, nếu một
cuộc xung đột xảy ra và nếu ông Diệm hỏi rằng Hoa Kỳ c̣n ủng
hộ ông không? Tướng Collins đáp rằng ông Lansdale nên nói là
Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông Diệm v́ ông là người cầm đầu Chính Phủ
mà Hoa Kỳ thừa nhận và c̣n thêm rằng nếu nghe tin đồn như
Hoa Kỳ không c̣n ủng hộ ông Diệm nữa th́ cứ bỏ qua và cứ bảo
ông Diệm rằng Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông.
Tướng Collins về Hoa Thịnh Đốn ngày 23.4.1955. C̣n Thủ Tướng
Diệm lên đài phát thanh lên tiếng mời các lănh tụ B́nh Xuyên
và các giáo phái đến gặp ông để dàn xếp. Ông thừa nhận rằng
Chính Phủ không c̣n trả lương cho các lực lượng bổ túc tức
B́nh Xuyên và các giáo phái, nhưng ông sẽ cố gắng giải quyết
vấn đề này nếu họ sẵn ḷng cộng tác với Chính Phủ. Ông Diệm
cũng công bố rằng trong 3 tháng nữa sẽ tổ chức tuyển cử để
bầu Dân Biểu vào Quốc Hội. Ông kêu gọi toàn dân hăy thống
nhất ư chí để thực hiện nền độc lập của xứ sở sau 80 năm bị
ngoại bang đô hộ. Ông cũng cho biết rằng Quân Đội Quốc Gia
có đủ phương tiện chống lại mọi mưu toan bạo động. Trong khi
ấy, ông Diệm cũng lo việc tiếp thu các Tỉnh Trung Bộ là Phú
Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi và một phần Quảng Nam, khi quân
kháng chiến rút dân về Quy Nhơn để xuống tàu Ba Lan đi ra
Bắc.
Trong khi ông Diệm có thái độ dè dặt và nhân nhượng, một
phần dân chúng và một số người ủng hộ ông hay cả Quân Đội,
lại hiểu lầm và than phiền là ông kém cương quyết. Sao không
thay thế Lai Văn Sang ngay trong chức vụ Tổng Giám Đốc Công
An Cảnh Sát và sao không tấn công dẹp B́nh Xuyên đang lộng
hành giữa Thủ Đô như vậy? Họ cảm thấy bất ổn. Thủ Tướng
Diệm cũng nhận được một điện tín của Bảo Đại bảo nên kéo dài
hưu chiến đến cuối tháng 4.1955 và đ̣i 30 triệu bạc. Nhưng
ông Diệm đâu có tiền gởi sang cho Bảo Đại. Trong khi ấy,
Pḥng Nh́ của quân đội Pháp và các giới thực dân Pháp va
chạm nhau với toán CIA dưới quyền Đại Tá Lansdale, v́ các
hoạt động đối nghịch nhau. Pháp ủng hộ B́nh Xuyên c̣n Mỹ
giúp ông Diệm. Ông Lansdale có bị mưu sát, bắn lén và suưt
bị xe vận tải đâm vào xe ông.
THỜI GIAN CĂNG THẲNG
Tháng 4.1955 có thể xem là thời gian căng thẳng nhất trong
đời chính trị của ông Diệm, nếu so với tháng 10. 1963 trước
khi ông bị đảo chánh và ám sát. Thủ Tướng Diệm có thể nói là
không c̣n chính phủ nữa. Các Tổng Trưởng Cao Đài và Ḥa Hảo
đă từ chức từ cuối tháng 3.1955. Tiếp theo, Tổng Trưởng Quốc
Pḥng Hồ Thông Minh và Tổng Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Đỗ
cũng thôi việc. C̣n Tổng Trưởng Kế Hoạch Nguyễn Văn Thoại
đang làm Trưởng Đoàn dự Hội Nghị các quốc gia không liên kết
tại Bandung, Indonesia, cũng lên tiếng từ nhiệm và đây là
một bất lợi lớn ngoại giao cho Thủ Tướng Diệm. Nhiều công
chức cao cấp trước kia do Pháp hay các nội các tay sai bổ
nhiệm cũng xin thôi việc. Nhiều vùng thôn quê ở Nam bộ cũng
tiếp tục bị giáo phái hay cộng sản thống trị. Ông Diệm không
có đủ người và Đơn Vị Quân Đội cần phải gởi đến các vùng mới
tiếp thu từ phe cộng sản. Chỉ có một số Đơn Vị Quân Đội sẵn
ḷng ủng hộ Chính Phủ và chiến đấu chống B́nh Xuyên và Chính
Phủ cần các đơn vị này tại Sài G̣n. C̣n các vị chỉ huy các
đơn vị khác thờ ơ, cầu an hoặc không thích ông Diệm hay có
thái độ thụ động, chờ xem. Một số chỉ huy quân sự cũng báo
cho Thủ Tướng rằng họ không muốn can dự vào nội chiến. Ông
Diệm t́n cách đem thêm vào Sài G̣n vài Tiểu Đoàn mà ông có
thể tin cậy được, nhưng Tướng Ely không chịu cấp phương tiện
chuyên chở. Quân đội Pháp rất hạn chế trong việc cấp nhiên
liệu như xăng nhớt cho các Đơn Vị của Quân Đội Quốc Gia. Tại
Sài G̣n, người Pháp t́m cách ngăn chặn sự điều động các Đơn
Vị của Quân Đội Việt nữa. Họ để quân B́nh Xuyên tự do di
chuyển và mở rộng phạm vi của B́nh Xuyên tại Sài G̣n-Chợ Lớn
và chiếm giữ thêm các điểm chiến lược trong Thành Phố. Ngày
19.4 một phát ngôn của B́nh Xuyên tuyên bố với một phóng
viên Pháp như sau: ‘’Diệm đang trở nên mỗi ngày một suy yếu
thêm. Quân Đội không theo ông và các Tướng bỏ rơi ông. Bảo
Đại khuyến khích chúng tôi cầm cự cho đến khi thanh toán
được Thủ Tướng Diệm. Người Pháp đứng về phe chúng tôi và
người Mỹ đang thay đổi thái độ. Nếu Diệm gây chiến, y sẽ sụp
đổ càng chóng hơn và tính mạng y sẽ bị đe dọa’’.
Ngoài ra, ông Diệm h́nh như không c̣n có thể vận động, lôi
cuốn hay mua chuộc các lănh tụ các giáo phái được nữa. Ông
Hộ Pháp Cao Đài Phạm Công Tắc đả kích việc Tướng Cao Đài
Nguyễn Thành Phương về với Chính Phủ và nói rằng binh sĩ Cao
Đài sẽ không tuân lệnh Tướng Phương. Tướng Ḥa Hảo Nguyễn
Giác Ngộ nuốt lời hứa trong tháng 2 là sẽ đem quân về với
Chính Phủ. C̣n các lănh tụ Ḥa Hảo khác như Năm Lửa Trần Văn
Soái, Lâm Thành Nguyên và Ba Cụt đều bác bỏ sự vận động mới
về với chính quyền ngày 23.4.1955. Trong khi ấy, thực dân
Pháp vận động ráo riết với Bảo Đại để loại trừ ông Diệm. Cựu
Phó Cao Ủy Pháp là Jean Daridan chạy đôn đáo từ Sài G̣n đến
Cannes về Paris để vận động Bảo Đại và chính phủ Pháp chống
ông Diệm hơn thế nữa. Giới thực dân Pháp tại Sài G̣n c̣n
muốn quân đội Pháp can thiệp trực tiếp vào vụ xung đột về
phe B́nh Xuyên. Trong khi ấy, dù ham mê cờ bạc và ăn chơi,
Bảo Đại vẫn theo dơi t́nh thế. Ông cảm thấy Hoa Kỳ không c̣n
ủng hộ Thủ Tướng Diệm như trước, qua sự phản ảnh của các
viên chức cao cấp Mỹ trong báo chí, đài truyền h́nh, hoặc số
người Mỹ tại Pháp hay Sài G̣n. Có lẽ v́ vậy, Bảo Đại sẽ can
thiệp vào cuộc xung đột giữa Chính Phủ và B́nh Xuyên.
Đến cuối tháng 4.1955 các quan sát viên cũng như các báo chí
Pháp, Anh hay Mỹ đều cho rằng những ngày làm Thủ Tướng của
ông Diệm không c̣n bao lâu nữa. Báo chí Pháp nói chung, có
thái độ thù nghịch chống ông Diệm ra mặt và cho rằng sự sụp
đổ của ông Diệm là một điều may mắn cho Nam Việt Nam. Báo
chí Anh tỏ ra tiếc về những nhược điểm của ông Diệm và nhấn
mạnh rằng những điều này làm cho sự thất bại của Thủ Tướng
Diệm không thể tránh được. Tại Hoa Kỳ, chỉ một số ít báo chí
chống ông Diệm, nhưng hầu hết các báo viết không c̣n hy vọng
ǵ Chính Phủ Diệm có thể tồn tại được. Đa số báo chí, ngay
những tờ lâu nay ủng hộ ông Diệm, đều chấp nhận sự kết thúc
không may mắn, tức là sự sụp đổ của Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm
v́ nội chiến và sự sụp đổ này làm cho miền Nam sẽ mất vào
tay cộng sản.
Trong khi ấy, ông Diệm vẫn cương quyết đối phó. Ngày 25.4
ông cho Đại Tá Lansdale biết ông không c̣n có thể giải quyết
ôn ḥa được nữa. Hôm sau, ông kư Nghị Định giải chức Lai Văn
Sang và cử Đại Tá Nguyễn Ngọc Lễ làm Tổng Giám Đốc Công An
Cảnh Sát, ông cũng ra lệnh tất cả Nhân viên Công An Cảnh Sát
lâu nay dưới quyền Lai Văn Sang phải đến tŕnh diện Đại Tá
tân Tổng Giám Đốc trong ṿng 24 giờ, nếu không, sẽ bị truy
tố ra Ṭa Án Binh. Qua ngày sau, Chính Phủ công bố lệnh cấm
B́nh Xuyên di chuyển trong Thành Phố. B́nh Xuyên không tuân
lệnh của Chính Phủ và quân hai bên bắt đầu xung đột tại các
nơi trong Thành Phố. Trưa 28.4. Quân Nhảy Dù bắn vào một
Ṭa nhà của B́nh Xuyên trên Đại Lộ Galliéne rồi sau đấy, 4
Tiểu Đoàn Dù và một Đơn Vị Thiết Giáp tấn công vào các vị
trí B́nh Xuyên, c̣n phe B́nh Xuyên nă súng cối vào Dinh Độc
Lập.
Tại Cannes, Bảo Đại đánh điện về ra lệnh Thủ Tướng cử Nguyễn
Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Tướng Lê Văn Tỵ.
Lúc bấy giờ Tướng Vỹ đang chỉ huy Ngự Lâm Quân tức các Tiểu
Đoàn Pḥng Vệ Quốc Trưởng tại Đà Lạt. Ông Diệm đoán không
sai ư đồ của Bảo Đại là sẽ cử Tướng Vỹ làm quyền Thủ Tướng
và triệu hồi ông đi Pháp.
Trưa ngày 28.4, Đại Tá Lansdale được điện thoại của Dinh Độc
Lập mời gặp Thủ Tướng Diệm gấp. Theo ông Lansdale thuận
trong hồi kư ‘’In The Midst of Wars’’, xin tạm hiểu là ‘’Ở
giữa những cuộc chiến tranh’’, khi vào Dinh Độc Lập, ông
thấy ông Diệm đi tới đi lui dưới hiên lầu 2. Ông Diệm nói là
vừa nhận được tin từ Hoa Thịnh Đốn cho biết là Tổng Thống
Eisenhower đă cho Tướng Collins thay đổi chính sách về Việt
Nam, bỏ rơi ông và thay thế bằng một chính phủ liên hiệp.
Ông Diệm nh́n thẳng mặt ông Lansdale và hỏi rằng: ‘’Tin này
có đúng hay không?’’ Đại Tá Lansdale đáp rằng ông không tin
v́ Tướng Collins đă cam kết với ông là Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông
Diệm dù có tin đồn trái ngược, ông sẽ điện về hỏi Hoa Thịnh
Đốn và phải mất nhiều giờ mới phúc đáp, v́ buổi trưa tại Sài
G̣n là độ nửa đêm tại Hoa Thịnh Đốn. Ông Diệm cũng cho biết
là đă xảy ra nhiều vụ nổ súng trên các đường phố. Khi lái xe
đến Dinh Độc Lập, ông Lansdale và Trung Úy Redick đi với ông
đă phải xuống xe để núp khi súng nổ gần Dinh Gia Long. Theo
ông Diệm, B́nh Xuyên đă gây hấn, họ đă có súng cối 81 ly và
đặt nhắm vào Dinh Độc Lập.
Sau đấy, ông Lansdale lái xe về nhà ở Đường Duy Tân. Vừa vào
sân nhà, ông nghe tiếng nổ lớn về phía Dinh Độc Lập. Cuộc
tấn công của phe B́nh Xuyên bắt đầu th́ phải. Khi ông vào
nhà, điện thoại đang reo. Thủ Tướng Diệm gọi ông, giọng b́nh
thảm. Ông Diệm nói sẽ kêu điện đàm với Tướng Ely và đă sắp
xếp với Tổng Đài để ông Lansdale nghe tiếng nói của Tướng
Ely và hỏi ông Diệm và Ely nói với nhau bằng tiếng Pháp. Ông
Diệm nói rằng B́nh Xuyên đă nă súng cối vào Dinh Độc Lập và
vụ pháo kích này hủy bỏ cuộc hưu chiến. Tướng Ely bảo không
nghe tiếng nổ ǵ cả từ nhà ông ấy. Nhà Tướng Ely ở gần Dinh
Độc Lập hơn nhà ông Lansdale độ nửa đường và ông Lansdale
nghe có tiếng nổ. Ông Diệm có vẻ ngạc nhiên bảo rằng Tướng
Ely không nghe ǵ hết về tiếng trái phá nổ tại Dinh Độc Lập,
rồi tiếng động...rồi điện thoại ngưng nói, giọng ông Diệm
trở lại trên đường dây điện thoại, hơi run. Ông hỏi Tướng
Ely có nghe không? Một trái phá đă nổ vào tường của pḥng
ngủ, nơi ông đang nói điện thoại, ông muốn Tướng Ely hiểu
rằng ông đă không phá vỡ cuộc ngưng chiến, nhưng B́nh Xuyên
đă làm việc này và ông đă ra lệnh Quân Đội đánh trả ngay lập
tức. Tướng Ely bắt đầu muốn nói ǵ nhưng ông Diệm chận lời,
bảo rằng đă cho Tướng Ely biết hết tất cả các sự kiện rồi và
ông hành động. Ông Diệm cúp điện thoại.
ĐÁNH DẸP B̀NH XUYÊN
Chiến sự đă bùng nổ trong Thành Phố. Các Tiểu
Đoàn Bộ Binh và một bộ phận Thiết Giáp đánh vào các vị trí
của B́nh Xuyên. Nhà báo John Mecklin, phóng viên của tạp chí
Time & Life và nhiếp ảnh viên Howard Sochurek đă chứng kiến
trận đánh đẹp mắt tại sở cảnh sát trên Đường Trần Hưng Đạo,
sau đổi tên là Đồng Khánh. Một Đại Đội bị một tiểu đoàn B́nh
Xuyên bao vây và tấn công với súng máy. Nhưng khi quân B́nh
Xuyên tiến sát gần, Đại Đội này phản công, làm cho Tiểu Đoàn
B́nh Xuyên chạy tán loạn vứt bỏ mũ bê rê màu lục của họ đầy
đường.
Quân Đội Quốc Gia đánh vào vị trí B́nh Xuyên tại Trường
Trung Học Petus Kư và bắt giữ được 37 người Pháp đồng lơa
với B́nh Xuyên và chiếm khu ṣng bạc Đại Thế Giới. Các Đơn
Vị Quân Đội đều có tinh thần chiến đấu anh dũng, c̣n số lính
B́nh Xuyên là loại ô hợp, trước kia là du đăng, tay anh chị,
lâu nay cậy thế Pháp để mang vũ khí uy hiếp đồng bào, chứ
đâu có lư tưởng và tinh thần ǵ đâu. Đại Tá Lansdale lái xe
đi nhiều nơi trong Thành Phố Sài G̣n-Chợ Lớn, quan sát t́nh
h́nh để báo cáo về Trung Ương T́nh Báo. B́nh Xuyên đại bại
khắp nơi.
Nhưng Cao Ủy Pháp và Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n đă gởi báo
cáo về Paris và Washington cho biết t́nh thế trái ngược, đổi
trắng thay đen, do chiến dịch truyền thông xuyên tạc dữ dội
của người Pháp tại Sài G̣n. Ngay các bức điện tín đầu tiên
của Đại Tá Lansdale gởi về CIA Trung Ương tại Hoa Kỳ ở
Langley, Virginia, cũng không được cấp trên tin v́ nội dung
trái ngược hẳn với tin tức mà chính phủ Mỹ tại Washington
nhận được từ các nguồn khác. Washington điện cho Đại Tá
Lansdale rằng nếu quả thật ông Diệm c̣n sống, c̣n cầm đầu
Chính Phủ, c̣n được Quân Đội ủng hộ như Đại Tá Lansdale báo
cáo, th́ các tin này phải được các viên chức cao cấp khác
tại Sài G̣n xác nhận. Trong khi ấy, vị Sĩ Quan Tùy Viên Lục
Quân tại Ṭa Đại Sứ Mỹ và Tướng O’Daniel, Trưởng Đoàn Cố Vấn
Quân Sự MAG, cũng có nhận xét như Đại Tá Lansdale.
Chiều 29.4. Lansdale và Trung Úy Redrick đến Dinh Độc Lập.
Toàn cả Dinh giống như băi chiến trường. Khu vườn rộng bao
quanh Dinh có nhiều lỗ do trái phá nổ đào ra, vỏ đạn rải rác
nhiều nơi và nhiều bức tường trong Dinh bị vỡ v́ bị trúng
các mảnh trái phá. Các cửa sổ đều đóng kín. Ông Diệm tiếp
hai người Mỹ trong một pḥng nhỏ, gần pḥng ngủ của ông.
Trong pḥng chỉ có một bàn nhỏ đầy giấy tờ, một ghế cho ông
Diệm và hai ghế nhỏ được mang đến cho hai người khách Mỹ
ngồi.
Thủ Tướng Diệm ngồi xuống ghế, thay v́ đi tới đi lui như
thường làm, có quầng đen quanh hai mắt và giọng nói của ông
chậm răi hơn b́nh thường. Ông cho biết về sự tiến quân của
các Đơn Vị Quốc Gia, B́nh Xuyên chỉ c̣n giữ được cầu chữ Y
và phía Nam Chợ Lớn, sáng mai Quân Đội sẽ đánh qua vùng
này, một số đơn vị B́nh Xuyên dưới quyền Đại Tá Thái Hoàng
Minh đă qua được một con sông đào và trở về với Chính Phủ
như ông sắp đặt, một số khác c̣n phải tác chiến vượt qua
pḥng tuyến B́nh Xuyên để đến được vùng Quân Đội Quốc Gia
kiểm soát.
Với giọng đầy xúc động, ông Diệm cho biết rằng Đại Tá Thái
Hoàng Minh đă bị hộ vệ viên của Bảy Viễn bắt giữ, khi ông
về nhà để đem vợ con về vùng chính phủ. Ông Diệm cũng lấy ra
một bức điện tín mà Bảo Đại vừa gởi đến và đọc lớn lên. Lời
lẽ trong bức điện tín cho thấy rằng tác giả giận dữ lắm. Bảo
Đại nói rằng ông Diệm làm Thủ Tướng để đoàn kết và phục vụ
an sinh của dân Việt Nam. Thay v́ làm việc này, ông Diệm đă
bất tuân Bảo Đại, ông đă hủy hoại mất t́nh thân hữu với nước
Pháp, ông đă đưa người Việt yêu chuộng ḥa b́nh vào cuộc
chiến tranh ghê tởm huynh đệ tương tàn. Hai tay ông Diệm đă
dính đầy máu của đồng bào vô tội. Hàng ngh́n người đă mất
nhà v́ các hỏa tai do ông gây ra. Ông Diệm đă gây ra đại
họa. Vậy khi nhận được điện tín này, ông phải đáp chuyến phi
cơ đầu tiên rời Sài G̣n đi Pháp tŕnh diện Quốc Trưởng và
giao quyền chính phủ cho Tướng Nguyễn Văn Vỹ.
Để có quyết định về bức điện tín của Bảo Đại, ông Diệm duyệt
lại với Đại Tá Lansdale và trước sự có mặt của Trung Úy
Redick, cả quá tŕnh tranh đấu của ông đưa đến vụ khủng
hoảng hiện tại và từ đấy rút ra các nguyên tắc chỉ đạo con
người của ông. Theo ông, quyền hành của Chính Phủ phải dùng
để phục vụ dân tộc. Giành lại quyền công an cảnh sát từ B́nh
Xuyên là đúng, v́ lâu nay bọn này làm giàu với sự độc quyền
về cờ bạc, đĩ điếm và thuốc phiện. Nếu ông Diệm rời Sài G̣n
đi Pháp, quyền hành sẽ lọt vào tay Bảy Viễn và B́nh Xuyên và
việc này là một đại họa cho dân tộc. Chính phủ không thể đặt
nền tảng trên các tệ đoan mà dân chúng coi khinh. Chính Phủ
phải có căn bản vững chắc về liêm chính, dân chúng mới tham
dự sinh hoạt quốc gia. Nếu không làm như thế là không có tự
do.
Ngay lúc ấy, ông Nhu bước vào và cho biết đài phát thanh
B́nh Xuyên đang loan tin nội dung của bức điện tín của Bảo
Đại. Như thế, B́nh Xuyên đă nhận được bản sao từ Bảo Đại hay
tay chân của Bảo Đại tại Sài G̣n. Ông Diệm nghiến răng, Quốc
Trưởng Bảo Đại đă công bố bức điện tín với những kẻ đang t́m
cách đánh đổ ông. Như thế ông quyết định ở lại lănh đạo
Chính Phủ. Ông Lansdale hỏi lại ông Diệm có dứt khoát về
quyết định của ông không? Và ông Diệm đáp rằng ‘’ông biết
ông đang làm một việc đúng. ’’
Sau đấy ông Lansdale về Ṭa Đại Sứ, tường tŕnh cho xử lư
Randy Kider tạm quyền thế Trưởng nhiệm sở Tướng Collins đă
về Washington. Ông cũng đánh điện về CIA Trung Ương thuận
những điều ông Diệm đă nói về t́nh h́nh chiến sự với Quân
Đội Quốc Gia đánh bại B́nh Xuyên.
Bức điện của Đại Tá Lansdale được Tổng Giám Đốc CIA Dulles
cho người cầm tay đến Bộ Ngoại Giao đệ tŕnh ngay cho Ngoại
Trưởng Foster Dulles. Ông này nhận được bức điện trong khi
đang dùng cơm khách, ông xin cáo lỗi và ngay lập tức đi đến
Bạch Cung để gặp Tổng Thống Eisenhower. Trước đấy, Tướng
Lawton Collins đă được Tổng Thống tiếp kiến và ông cũng có
thảo luận với Tổng Thống và Ngoại Trưởng về vấn đề miền Nam
Việt Nam. Tổng Thống đồng ư về đề nghị của Tướng Lawton
Collins là chấm dứt sự ủng hộ ông Diệm, lập một chính phủ
liên hiệp tại Sài G̣n và cho Tướng Collins toàn quyền giải
quyết vấn đề chính trị tại Sài G̣n. Ngoại Trưởng Forter
Dulles cho điện sang Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n về sự thay
đổi chính sách này. Nay ông Diệm thắng, Tổng Thống Mỹ ủng hộ
ông trở lại. Trong khi ấy Tướng Collins đang trên đường bay
về Sài G̣n để thực thi chính sách mới. Ngoại Trưởng Foster
Dulles cho đánh điện sang Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n ra lệnh
đốt bỏ bức điện tín trước về sự thay đổi chính sách đối với
ông Diệm.
Tuy chiến sự tiếp diễn có lợi cho Chính Phủ, nước Pháp vẫn
c̣n cố gắng tấn công Thủ Tướng Diệm. Ngày 29.4.1955 Thủ
Tướng Pháp Edgar Faure, người thay thế ông Mendés France
trong chức vụ Thủ Tướng từ tháng 2.1955 ra một tuyên ngôn
nói rằng ông Ngô Đ́nh Diệm không có khả năng làm Thủ Tướng
và Pháp cũng thừa nhận Nguyễn Văn Vỹ là Tư Lệnh Quân Đội
Việt Nam. Nhưng cũng trong ngày này, Ngoại Trưởng Mỹ Foster
Duller cảnh cáo Đại Sứ Pháp tại Washington là Couve de
Murville rằng Pháp không được có những âm mưu lật đổ ông
Diệm nữa. Tại Thủ Đô Paris Pháp, Đại Sứ Mỹ Dillon cũng hội
kiến với Thủ Tướng Edgar Faure và đưa ra lời cảnh cáo như
thế.
Tại Sài G̣n, người Mỹ yêu cầu người Pháp cung cấp đầy đủ
phương tiện vận tải, xăng nhớt đạn dược cho Quân Đội Việt
Nam v́ Hoa Kỳ chi tiền. Ngày 30.4.1955, Thủ Tướng Diệm nhận
được một điện tín của Bộ Ngoại Giao Mỹ xác nhận là Hoa Kỳ
vẫn ủng hộ ông.
Việc Bảo Đại đứng về phe B́nh Xuyên và Pháp trong vụ xung
đột làm cho ông mất cả uy tín. Nhiều đảng phái, nghiệp đoàn,
tổ chức và nhân sĩ lập Hội Đồng Cách Mạng lên tiếng đ̣i
truất phế ông và đả kích Pháp. Phe ông Diệm, dĩ nhiên có vận
động người ta làm việc này, nhưng lúc bấy giờ dân chúng ủng
hộ ông Diệm v́ lâu nay Bảo Đại cứ lo ăn chơi chẳng làm ǵ
cho xứ sở cả. Trong một t́nh trạng vô cùng gây cấn, có khi
hầu như tuyệt vọng nữa, v́ Pháp và phe tay sai chống đối dữ
dội, đa số Tổng Trưởng bỏ rơi ông, c̣n Hoa Kỳ bên trong đă
hết ủng hộ, nhưng Thủ Tướng Diệm đă chiến thắng. Ông tượng
trưng cho tinh thần dân tộc Việt giành lại quyền tự chủ và
quyền độc lập từ người Pháp tại miền Nam. Những người từ
1945-1946 đi lính cho Pháp, đi đánh thuê cho Pháp và dĩ
nhiên giết hại đồng bào Việt trực tiếp hay gián tiếp, vô dân
Tây hay không, chắc cũng phần nào nhận định như trên khi
chọn lựa giữa sự thần phục Bảy Viễn-B́nh Xuyên, hay đánh dẹp
bọn này dưới sự lănh đạo của một người như ông Ngô Đ́nh
Diệm. Họ được ông đưa lên làm Tướng ngang hàng với các Tướng
Pháp rồi Tướng Mỹ, thay v́ làm tay sai ở dưới quyền và đứng
chào. Nhưng đến năm 1963, họ nghe lời ngoại bang đảo chánh
và giết ông Diệm, rồi lại làm tay sai trở lại. Nhưng sự kiện
này thuộc về phần sau.
Chiều 29.4.1955 Cao Ủy Pháp Tướng Ely vận động ngưng chiến
để cứu nguy cho B́nh Xuyên nhưng bị thất bại. Cay cú, ông
cho 400 xe tăng chạy rầm rộ qua các đường phố Sài G̣n để thị
uy. Ngoài ra, các mưu toan của ông Bảo Đại lấy lại quyền
hành với việc cử Tướng Vỹ thay Tướng Tỵ cũng bị thất bại và
Tướng Vỹ bỏ trốn lên Đà Lạt. Tướng Hinh được Bảo Đại phái về
Sài G̣n đâu c̣n dám đáp phi cơ xuống Tân Sơn Nhất nữa mà đến
Phnom Penh. Quân Đội Quốc Gia tiếp tục đánh đuổi quân B́nh
Xuyên ra khỏi Chợ Lớn rồi tiếp tục truy kích. Cuối cùng tàn
quân B́nh Xuyên rút về Rừng Sát và đầu hàng. Phía Quốc Gia
cũng bị thiệt hại khi Tướng Tŕnh Minh Thế bị bắn tử thương
trên Cầu Tân Thuận ngày 3.5.1955 trong khi ông chỉ huy cuộc
tiến quân qua cầu.
Hoa Kỳ hân hoan về sự chiến thắng của Thủ Tướng Diệm, quá sự
mong đợi của họ. Trước kia, dù ủng hộ ông Diệm, họ có nhiều
điều hồ nghi, không tin ông Diệm có thể thành công được.
Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles cho rằng hy vọng thành công
cứu được miền Nam khỏi cộng sản chỉ một phần mười. Thượng
Nghị Sĩ Mike Mansield ngày 7.12.1954 nhận định rằng triển
vọng Hoa Kỳ giúp ông Diệm giữ vững được miền Nam có vẻ rất
đen tối. Đại Sứ Donald Heath ngày 17.12.1954 cũng gởi một
bản tường tŕnh bi quan về cơ may thành công của ông Diệm v́
‘’có mọi bằng cớ cho thấy rằng người Pháp không muốn ông
Diệm thành công’’. Đến tháng 1.1955, Tướng Lawton Collins
cũng đồng ư với hai nhận định trên trong một báo cáo gởi về
Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ. Ngày 7.4.1955, Tướng Collins
lại điện về rằng theo ông nhận xét, ông Diệm thiếu những đức
tính lănh đạo và khả năng hành chánh cần thiết để cầm đầu
một chính phủ có thể tranh đấu chống lại sự đồng nhất về mục
tiêu và sự hữu hiệu của Việt minh dưới quyền Hồ chí Minh.
Ngày 19.4.1955 Tướng Collins lại điện về Washington rằng
không có cách giải quyết nào khác hơn là sớm thay thế ông
Diệm với Bác Sĩ Trần Văn Đỗ hay Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nay
ông Diệm đă chiến thắng B́nh Xuyên, các chính trị gia Mỹ đổi
giọng. Các Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, đảng Dân Chủ và
Knowland, đảng cộng Ḥa, ra Tuyên Ngôn ủng hộ ông Diệm. Ngày
2.5.1955 Thượng Nghị Sĩ Hubert Humphrey tuyên bố với đài
truyền h́nh như sau:
‘’Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm là hy vọng tốt nhất
của chúng ta về Việt Nam. Ông ta là người lănh đạo của dân
tộc. Ông xứng đáng và phải được ủng hộ trọn vẹn của chính
phủ Mỹ và ngoại giao Mỹ...ông là người độc nhất trên khung
trời chính trị Việt Nam có thể lôi cuốn được sự ủng hộ của
dân chúng một nước đến một mức đáng kể. Nếu chúng ta có điều
b́nh phẩm về sự lănh đạo tại Việt Nam, những điều này nên
hướng về Bảo Đại...Nếu Chính Phủ Việt Nam không có đủ chỗ
cho hai người này, Bảo Đại phải ra đi... ’’
Chính Quyền Mỹ cũng làm áp lực với Pháp để dẹp bỏ những tàn
tích thực dân c̣n lại khi nào Thủ Tướng Diệm yêu cầu. Đầu
tháng 5.1955, ba nước Hoa Kỳ, Anh và Pháp họp tại Thủ Đô
Paris Pháp, để bàn về sự pḥng thủ Âu Châu, nhưng đề tài
thật là vấn đề Việt Nam. Lập trường của Hoa Kỳ và của Pháp
về ông Diệm nay trở nên đối nghịch nhau. Theo Ngoại Trưởng
Mỹ Foster Dulles, ông Ngô Đ́nh Diệm là người độc nhất mà Hoa
Kỳ thấy có thể cứu Nam Việt Nam chống lại trào lưu cộng sản
tại xứ này. Dù có nhận định thế nào về ông Diệm trong quá
khứ, nay Hoa Kỳ phải yểm trợ ông Diệm trọn vẹn, không để ông
Diệm trở thành một Kerensky (Thủ Tướng Nga sau cách mạng
1917 bị cộng sản lật đổ và cướp quyền). Theo người Mỹ, Bảo
Đại chỉ có thể làm Quốc Trưởng hư vị, người ta có thể sử
dụng Cao Đài và Ḥa Hảo, chứ không thể dùng B́nh Xuyên được.
Hoa Kỳ chi tiền để đài thọ Quân Đội Việt Nam và không t́m ra
người nào khác để có thể chi tiền trừ ông Diệm, để nhằm đạt
được mục đích bảo vệ miền Nam chống cộng sản. Cuộc cách mạng
hiện tại ở Sài G̣n (đây muốn nói về Hội Đồng cách mạng tại
Sài G̣n đ̣i truất phế Bảo Đại) chưa bị cộng sản giựt dây hay
ảnh hưởng đến mức độ đáng kể. Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm không
có nghĩa là Hoa Kỳ không thấy những nhược điểm của ông. Dù
trước kia Tướng Collins đă đồng ư với Tướng Ely thay thế ông
Diệm, nhưng bây giờ t́nh thế đă đổi thay và Ngoại Trưởng
Foster Dulles tin rằng phải ủng hộ ông Diệm.
Thực dân Pháp thường ăn không được là t́m cách đập phá. Tổng
Trưởng Pháp về các nước liên kết La Forest nêu ra vấn đề
tham khảo vào tháng 7.1955 giữa miền Bắc và miền Nam về tổng
tuyển cử năm 1956 nếu có được một Chính Phủ Quốc Gia ổn định
và có nền tảng rộng răi trong cách cầm quyền và cai trị.
Pháp muốn miền Nam thắng tổng tuyển cử năm 1956. Ông thanh
minh tiếp về chánh sách của Pháp giữa Bắc và Nam. Pháp c̣n
có phái đoàn do ông Saintenny cầm đầu tại Hà Nội chỉ để bảo
vệ quyền lợi kinh tế và văn hóa. Pháp đă từ bỏ chủ trương
lập các công ty hỗn hợp với cộng sản v́ Hoa Kỳ phản đối.
Pháp cũng đă bỏ luôn các mỏ than tại miền Bắc nữa, Thật ra,
Pháp t́m cách vớt vát chút quyền lợi kinh tế tại miền Bắc
nhưng bị cộng sản hất.
Tiếp đến, ông La Forest phân tích t́nh h́nh Sài G̣n và miền
Nam trong 4 tháng vừa qua theo quan điểm và quyền lợi của
Pháp. Theo ông, Pháp đă thẳng thắn ủng hộ ông Diệm từ lúc
ban đầu. Bất cứ điều ǵ nói khác là không đúng sự thật
(chính trị và ngoại giao cần nhiều lúc nói láo và vu khống
không biết ngượng mồm và xấu hổ). Tháng 11.1954, Hoa Kỳ đă
đồng ư thuyết phục hay ‘’buộc’’ ông Diệm mở rộng chính phủ
nhưng ông không làm việc này và sau đấy xung đột với B́nh
Xuyên và các giáo phái. Washington ban đầu tán thành giải
pháp Ely-Collins rồi thay đổi ư kiến. Hội đồng cách mạng tại
Sài G̣n là do Việt Minh kiểm soát. Ngoài ra c̣n có một
chiến dịch dữ dội chống người Pháp và quân đội viễn chinh
Pháp. Cán bộ Việt Minh lợi dụng việc này, nhưng một số người
Mỹ không có ư thức đầy đủ.
Thủ Tướng Pháp Edgar Faure tiếp lời và xác nhận: Pháp không
đồng ư với Hoa Kỳ và đă đến lúc cần nói thẳng. Ông Faure nói
rằng ông Diệm không chỉ ‘’bất lực’’ nhưng c̣n ‘’điên khùng’’
nữa, ông lợi dụng Tướng Collins vắng mặt tại Sài G̣n để làm
một cú bạo động dành được thắng lợi lúc ban đầu, nhưng không
đóng góp vào giải pháp lâu dài. Ông Diệm sẽ đem lại thắng
lợi cho Việt Minh, dồn sự thù ghét của mọi người vào nước
Pháp và gây cuộc đổ vỡ giữa Pháp và Hoa Kỳ. Ông Faure cho
rằng ông Diệm là ‘’một sự lựa chọn tai hại’’, một giải,
không có ông Diệm có thể t́m ra giải pháp, nhưng với ông
Diệm không có giải pháp nào cả. Nhưng theo Thủ Tướng Edgar
Faure, nước Pháp có sẵn một giải pháp hữu hiệu, hay có thể
làm sáng tỏ t́nh thế. Như thế, có sự bất đồng ư kiến về căn
bản giữa Pháp và Hoa Kỳ về vấn đề Thủ Tướng Diệm và Việt
Nam. Pháp cay cú và thù hằn ông Diệm v́ ông thắng lợi trong
việc giành lại chủ quyền. Thủ Tướng Pháp Edgar Faure hỏi
tiếp: ‘’nếu bây giờ Pháp rút quân đội viễn chinh về nước để
tránh tiếng thực dân, đáp lời yêu cầu của ông Diệm, Hoa Kỳ
có sẵn ḷng bảo vệ kiều dân và người tỵ nạn Pháp không?
Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles nhắc lại rằng ông cũng biết
những nhược điểm của ông Diệm nhưng ông không đồng ư với Thủ
Tướng Edgar Faure, ông Diệm đă cho thấy có nhiều khả năng và
bây giờ không thể nào loại trừ ông được nữa. Lúc này ông
Diệm mạnh hơn lúc Bảo Đại t́m cách thâu hồi lại quyền hành
lần đầu tiên. Theo ông Foster Dulles, khía cạnh tai hại của
vấn đề là sự bất đồng ư kiến giữa Hoa Kỳ và Pháp về ông
Diệm. Vấn đề Việt Nam không đáng làm Hoa Kỳ và Pháp gây gỗ
với nhau và ông thêm rằng Hoa Kỳ sẽ rút lui ra khỏi Việt Nam
nếu việc này giải quyết vấn đề không được. Đối với Hoa Kỳ,
sự lựa chọn là ủng hộ ông Diệm hay rút lui. Quyền lợi của
Hoa Kỳ tại Việt Nam giản dị chỉ là giữ vững miền Nam khỏi bị
cộng sản thôn tính. Hoa Kỳ sẽ xét bất cứ đề nghị nào mà Pháp
đưa ra, nhưng ông cảnh cáo rằng Hoa Kỳ sẽ không đài thọ chi
phí cho bất cứ giải pháp nào mà ông Foster Dulles xét là sử
dụng để thay thế ông Diệm.
Ngoại Trưởng Anh ông MacMillan phát biểu rằng việc đi đến
một quyết định về Việt Nam là khá quan trọng để đạt đến
trong buổi họp đêm ấy, nên ông đề nghị hoăn vấn đề đến phiên
họp sau, vào ngày 11.5.1955.
Đến phiên họp ngày 11.5.1955, Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dulles
nhấn mạnh rằng không nên để vấn đề Việt Nam, dầu có quan
trọng đến đâu, làm sức mẻ mối bang giao Pháp-Mỹ và việc Hoa
Kỳ ủng hộ ông Diệm không nên làm đổ vỡ sự liên minh giữa hai
nước. Ông đề nghị Pháp hăy tiếp tục ủng hộ ông Diệm cho đến
khi Quốc Hội miền Nam được bầu ra và quyết định về cơ cấu
chính trị có thể bao gồm ông Diệm hay không. Ngoại Trưởng
Anh Mac Millan cũng ủng hộ đề nghị của Hoa Kỳ v́ Đặc Phái
Viên Anh Quốc tại Đông Nam Á đă báo cáo rằng ông Diệm đă
chiến thắng và nay nên ủng hộ ông Diệm, dù trước kia viên
chức này là một trong những người phê phán ông Diệm tàn nhẫn
nhất.
Sau khi thấy Ngoại Trưởng MacMillan đồng ư v́ Ngoại Trưởng
Mỹ Foster Dulles, Thủ Tướng Pháp Edgar Faure chấp thuận
theo. Nhưng ông nhấn mạnh rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm phải
được mở rộng, cuộc tuyển cử bầu Quốc Hội nên được tổ chức
càng sớm càng hay, cần giải quyết vấn đề giáo phái, chấm dứt
sự tuyên truyền chống Pháp, phải giữ Bảo Đại làm Quốc
Trưởng, các viên chức Mỹ làm hại bang giao Pháp-Mỹ như Đại
Tá Edward Lansdale phải bị triệu hồi về nước và Hoa Kỳ bảo
đảm bảo vệ các quyền lợi, kinh tế, văn hóa và tài chánh của
Pháp tại miền Nam. Ông Foster Dulles bảo rằng nói chung ông
đồng ư với các ư kiến của Thủ Tướng Pháp, nhưng ông thêm
rằng ông Diệm không phải là bù nh́n của Hoa Kỳ và ông không
thể bảo đảm các vấn đề liên hệ về Việt Nam được. Ông cũng đề
nghị mỗi nước nêu ra chính sách của ḿnh và hành động theo
đấy về vấn đề Việt Nam và không c̣n có sự thỏa hiệp giữa Hoa
Kỳ và Pháp. Thực chất của các điều trao đổi cho thấy Pháp và
Hoa Kỳ không c̣n có một chính sách chung về Việt Nam nữa,
Hoa Kỳ sẽ hành động độc lập trong tương lai.
Trong khi ấy, chính phủ Pháp cũng lúng túng và bối rối v́
Chính Phủ Diệm đă đưa ra một hồ sơ về các hành động giúp
B́nh xuyên và chống chính phủ của quân đội Pháp. Một số sĩ
quan Pháp làm cố vấn cho B́nh xuyên bị bắt giữ tại các vị
trí B́nh Xuyên, đài phát thanh B́nh Xuyên đă được đặt trong
một doanh trại Pháp, một xe cứu thương Pháp bị bắt quả tang
chở vũ khí cho B́nh Xuyên trong khi chiến sự đang tiếp diễn.
Ngoài ra, sau khi B́nh Xuyên bị đánh bại, quân đội Pháp c̣n
dựng lên những hàng rào chận đường, làm chậm trễ sự tảo
thanh các ổ kháng cự c̣n sót lại. Người Pháp bảo rằng các
hành vi này không được cấp trên cho pháp mà nước Pháp không
chấp nhận được, không có cơ may thành công và cải tiến t́nh
thế phép. Lời bào chữa này giúp cho Thủ Tướng Diệm có lư do
mạnh mẽ hơn để đ̣i Pháp triệu hồi về nước những phần tử đă
phạm những hành động nói trên.
Thủ Tướng Diệm cũng cải tổ Chính Phủ ngày 10.5.1955 và tuyên
bố dự trù tổ chức tuyển cử vào ngày 4.3.1956. Tướng Collins
rời Sài G̣n 4 ngày sau để trở về chức vụ cũ của ông tại Liên
Minh Bắc Đại Tây Dương ở Âu Châu. Vào lúc này, Hoa Kỳ hoàn
toàn tín nhiệm Thủ Tướng Diệm. Độ hai tuần sau, Đại Sứ mới
của Hoa Kỳ G. Frederick Rheinhardt đến Sài G̣n và ông tuyên
bố thực thi chính sách của Hoa Kỳ là ủng hộ chính phủ hợp
pháp Ngô Đ́nh Diệm.
Cao Ủy Pháp Tướng Ely hết nhiệm vụ và về Pháp ngày
20.6.1955. Nhân dịp này, Thủ Tướng Diệm cũng đ̣i Pháp không
được cử Cao Ủy sang Sài G̣n nữa, nhưng chỉ cử Đại Sứ và phải
được Nam Việt Nam chấp thuận. Pháp chưa chịu thỏa măn lời
yêu cầu này. Cũng trong ngày Tướng Ely đáp phi cơ về nước,
người đồng ư rút quân đội ra khỏi Sài g̣n, theo lời yêu cầu
của ông Diệm. Sau đấy, Quân Đội Quốc Gia cũng không c̣n phụ
thuộc Bộ chỉ huy Pháp. Lúc bấy giờ. Pháp cần đưa các đơn vị
tại miền Nam sang đánh nhau với phe kháng chiến Angeri. Vào
khoảng giữa năm 1955, quân đội viễn chinh Pháp từ 175.000
binh sĩ giảm xuống c̣n độ 30.000 người và đóng xung quanh
Vũng Tàu. Đến tháng 8.1955 Thủ Tướng Diệm phái Bộ Trưởng
Nguyễn Hữu Châu sang Thủ Đô Paris Pháp yêu cầu Pháp rút hết
các lực lượng quân sự về nước, theo lời Pháp hứa tại Hội
nghị Genève năm 1954. Pháp đồng ư v́ cần dùng tất cả lực
lượng tại Angéri. Người lính Pháp cuối cùng rời lănh thổ Nam
Việt Nam vào ngày 28.4.1956 và cũng trong ngày này Bộ Tư
Lệnh Pháp tại Việt Nam, Lào và Cao Mên chính thứ giải tán.
Thủ Tướng Diệm cũng đặt một nền tảng hợp pháp cho chính
quyền. Ngày 23.10.1955 một cuộc trưng cầu dân ư truất phế
Bảo Đại và bầu ông đến 98% số phiếu, một tỷ lệ quá cao với
số phiếu tại Sài G̣n-Chợ Lớn, nhiều hơn số cử tri đă được
ghi danh, gây ra dư luận không tốt, trong nước và ở ngoại
quốc một cách đáng tiếc. Ba ngày sau, Thủ Tướng Ngô Đ́nh
Diệm công bố chế độ Cộng Ḥa do ông làm Tổng Thống. Nước
Pháp cũng như Hoa Kỳ và các xứ khác đều công nhận chế độ Nam
Việt Nam, Pháp cử ông Henri Hoppenot làm Đại Sứ, kế vị Cao
Ủy Paul Ely, đồng ư không chấp nhận một đại diện ngoại giao
Bắc Việt tại Paris và xác nhận phái đoàn do ông Sainteny cầm
đầu tại Hà Nội chỉ có nhiệm vụ kinh tế và tài chánh kư với
Pháp ở Paris năm 1954 và miền Nam chuyển từ khối đồng quan
Pháp sang đồng Mỹ kim. Các doanh thương Pháp phải tuân theo
những điều lệ thương mại mới chặt chẽ hơn, đâu c̣n dễ kiếm
tiền như trong thời chiến tranh hay trước kia trong thời
Pháp thuộc. Một số bất măn rời khỏi miền Nam. Tổng Thống
Diệm cũng đưa ra một số điều kiện đ̣i Pháp phải thực hiện,
nếu muốn bang giao trở lại với miền Nam. Nước Pháp phải:
‘’Từ bỏ Hiệp định Genève, không được nói đến
tuyển cử năm 1956, chấp nhận công khai và không dè dặt chính
sách của Tổng Thống Diệm, gián đoạn mọi bang giao với chính
phủ Hồ chí Minh và dĩ nhiên triệu hồi phái đoàn Sainteny về
nước. ’’
Nước Pháp đâu chịu thỏa măn hết các đ̣i hỏi trên
của ông Diệm. Những các đ̣i hỏi trên cho thấy ông Diệm nay
là Nguyên Thủ của một nước tự chủ và độc lập, ngang hàng với
nước Pháp, bang giao b́nh đẳng qua lại. Pháp c̣n nhiều quyền
lợi kinh tế tại miền Nam như các đồn điền cao su, trà và cà
phê, thay v́ mất hết tài sản như tại miền Bắc. Tiếp theo
đấy, Tổng Thống Diệm triệu tập về nước các Nghị Sĩ đại diện
Việt Nam tại Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Như thế ông Ngô Đ́nh
Diệm đă giành lại quyền tự chủ của dân tộc từ tay người Pháp
và Nam Việt Nam trở thành một nước độc lập. Nước Pháp đâu có
hài ḷng nhưng không làm ǵ được.
Về phần Hiệp định Genève, Tổng Thống Diệm ban đầu có thái độ
cứng rắn, cho rằng Nam Việt Nam không bị ràng buộc trên bất
cứ phương diện nào bởi hiệp định này. Trong khi ấy, Pháp là
nước phụ trách thi hành Hiệp định Genève và là thành phần
của Ủy Ban Đ́nh Chiến với chính quyền Hà Nội và Ủy Hội Quốc
Tế. Nhưng Pháp không c̣n có quân đội hiện diện ở miền Nam,
như khi hiệp định Genève được kư kết vào năm 1954. Ban đầu,
Tổng Thống Diệm không chịu liên hệ công khai với Ủy Hội Quốc
Tế nhưng đồng ư lo cho Ủy Hội nếu Pháp để lại một phái đoàn
nhỏ để làm nhiệm vụ của Pháp và đóng góp phí tổn. Ngoại
Trưởng Mỹ Foster Dulles tán thành lập trường của ông Diệm.
Sau đó, ông Diệm mềm dẻo hơn, Nam Việt Nam cũng chịu cử một
Phái Đoàn thay thế phái đoàn liên lạc Pháp với Ủy Hội Quốc
Tế, c̣n nước Pháp chỉ c̣n là thành phần của Ủy Ban Đ́nh
Chiến song phương với chính phủ Hồ chí Minh và đài thọ chi
phí cho Ủy Hội Quốc Tế. Tổng Thống Diệm bác bỏ cuộc tổng
tuyển cử dự trù trong Bản tuyên ngôn kết thúc Hội nghị
Genève v́ Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản đâu có tự do mà
tổ chức tuyển cử tự do. Ông cũng từ chối không chịu thảo
luận về vấn đề này, dầu chính quyền Hà Nội có yêu cầu nhiều
lần. Hai nước đồng Chủ Tịch Hội Nghị Genève là Liên Sô và
Anh Quốc không đả động ǵ đến vấn đề này, c̣n Hoa Kỳ ủng hộ
lập trường của Tổng Thống Diệm.
Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài đă viết về ông Diệm trong giai
đoạn này như sau:
‘’Bất cứ lư do nào mà ông Diệm được chọn làm Thủ Tướng, lúc
ông lèo lái chính quyền, ít người xem ông có triển vọng
thành công, c̣n số người sẵn ḷng ủng hộ ông công khai c̣n
ít hơn nữa. Thật vậy, từ ngày cầm quyền 7.7.1954 cho đến
tháng 5 năm sau, ông thật là đơn độc. Bảo Đại không trợ
giúp, Pháp chống đối, c̣n những điều mà Hoa Kỳ cho ông là
khuyên răn, chỉ trích và hứa hẹn, nhưng viện trợ vật chất
hiếm hoi. Ngô Đ́nh Diệm trong 10 tháng vượt qua sự phân chia
xứ sở bởi các cường quốc tại Genève, hai lần mưu đồ đảo
chánh của vị Tham Mưu Trưởng, những cuộc xung đột điên loạn
với B́nh Xuyên và giáo phái, việc tiếp thu các vùng Việt
Minh và số 900.000 dân di cư từ Bắc vào Nam. ’’
Mười tháng cầm quyền đầu tiên của ông Ngô Đ́nh Diệm, tức 300
ngày đầu là những ngày oanh liệt và hào hùng nhất trong đời
chính trị và đối ngoại của ông. Sự thành công của ông đă làm
cho Nam Việt Nam độc lập như Ấn Độ, Hồi Quốc như ông mong
ước từ lâu nay. Ông Diệm tượng trưng cho ḷng yêu nước của
người Việt Nam từ Nam ra Bắc, ông cũng mong ước xứ sở thống
nhất, thật sự độc lập và tự do không bị cộng sản thống trị,
nhưng kẻ thù đâu để ông yên. Trong khi ông tranh đấu gay go,
chúng đă bắt đầu thực thi mưu đồ đánh phá chính quyền của
ông mới xây dựng và thôn tính miền Nam. Phần khác ông cũng
phải bảo vệ chủ quyền của xứ sở với Đồng Minh Hoa Kỳ, sau
khi thiết lập nền Đệ Nhất Cộng Ḥa.
Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang
83-123.
T T NGÔ Đ̀NH DIỆM TÁI THIẾT MIỀN NAM VỚI TIỀN VIỆN TRỢ MỸ
Sau khi bị chiến tranh tàn phá trong 9 năm
1945-1954, miền Nam từ Bến Hải, Tỉnh Quảng Trị ở vỹ tuyến 17
đến tận mũi Cà Mau ở phía Nam, được tái thiết khá nhanh
chóng. Đường bộ và xe lửa được sửa chữa, cầu cống tu bổ hay
làm lại, vô số đồng ruộng lâu nay bỏ hoang được trồng trọt
lại. Nhiều Trường Học mới được xây cất tại nhiều nơi để đón
nhận học sinh. Nhiều làng xóm trước kia tiêu điều, nay nhộn
nhịp và phồn thịnh. Chính Phủ cũng thực hiện một vụ cải cách
ruộng đất nữa. Chỉ trong vài năm, sau khi ḥa b́nh văn hồi,
Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă đổi mới bộ mặt miền Nam và có
những thành tích đáng kể trong nhiều ngành. Sự sản xuất 3
triệu tấn gạo vào năm 1957. Nam Việt Nam là một miền nông
nghiệp, không có nhiều mỏ và kỹ nghệ như tại miền Bắc,
nhưng chính phủ cũng khai thác mỏ than Nông Sơn. Nền giáo
dục được phát triển mạnh. Vào năm 1957, số sinh viên Đại Học
lên đến 3.823, tăng 40% so với năm 1955, số học sinh Trung
Học là 60.860 tại 136 Trường Trung Học, cũng tăng 40% c̣n số
học sinh Tiểu Học là 671.585 học tại 3.473 Trường Tiểu Học,
tức gia tăng 60%. Các Trường Kỹ Thuật và dạy nghề có số học
sinh tăng gấp đôi. Luật Pháp của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa quy
định các trẻ em từ 6 đến 14 tuổi phải học cho đến hết ba năm
đầu của Bậc Tiểu Học, c̣n mọi công dân từ 13 đến 50 tuổi
phải học đọc và viết trong thời gian hai năm nếu mù chữ. Năm
1958, đường xe lửa xuyên Việt Nam từ Sài G̣n chạy ra Huế và
giáp đến vỹ tuyến 17 hoạt động trở lại và đường xa lộ Sài
G̣n-Biên Ḥa cũng được khánh thành trong năm này. Chính Phủ
Ngô Đ́nh Diệm cũng bắt đầu thực hiện một ‘’kế hoạch 5 năm’’,
từ 1957 đến 1961, để kỹ nghệ hóa xứ sở. Kế hoạch này làm gia
tăng sự sản xuất lúa gạo trên 4 triệu tấn, cao su trên
70.000 tấn. Miền Nam bắt đầu xuất cảng không những lúa gạo
và cao su mà cả những sản phẩm khác như heo nữa. Nhiều nhà
máy dệt, nhà máy giấy, các viện bào chế dược phẩm, nhà máy
ván ép, nhà máy điện với các máy móc và kỹ thuật tối tân
nhất được xây cất. Nền giáo dục đạt được những thành tích
rất khả quan. Đến năm 1961, số Trường và học sinh Tiểu Học
tăng gấp đôi so với năm 1957, số Trường và học sinh Trung
Học tăng lên gấy 3 lần. Tổng Thống Diệm cho mở thêm hai Đại
Học, Đại Học công lập Huế và Đại Học Tư Thục Đà Lạt và số
sinh viên tăng lên gấp bốn. Vào khoảng thời gian này, cộng
sản gia tăng mức độ khủng bố và chiến tranh và vấn đề này sẽ
được tŕnh bày sau. Nhưng ông Diệm vẫn cho thực hiện kế
hoạch 5 năm kế tiếp 1962-1967 và chú trọng nhiều đến lănh
vực kỹ nghệ. Trung Tâm Nguyên Tử Đà Lạt được khánh thành
trong tháng 10. 1963. Phần đầu của đập thủy điện Đa Nhim với
năng xuất 60.000 kw được xây cất do tiền bồi thường chiến
tranh của Nhật Bản, cũng được khánh thành vài tháng sau. Bắt
đầu niên khóa 1963-1964, nghĩa là trước khi Tổng Thống Diệm
bị lật đổ và sát hại, Nam Việt Nam với dân số 14 triệu có
trên một triệu rưỡi hay 69% số trẻ em 6-11 tuổi học tại
6.621 Trường Tiểu Học và cộng đồng, 82.253 học sinh tại 519
Trường Trung Học, 6.545 học sinh tại các Trường Kỹ Thuật và
dạy nghề và 20.118 sinh viên tại 2 Đại Học công lập Sài G̣n
và Huế và các trường Kỹ Thuật và dạy nghề và 20.118 sinh
viên tại hai Đại Học công lập Sài G̣n và Huế và Đại Học Tư
Thục Đà Lạt.
Nói chung, công cuộc tái thiết miền Nam thành công tốt đẹp.
Nhiều quan sát viên ngoại quốc, như ông Bernard Fall chẳng
hạn, nhận xét rằng tại miền Nam, sức sản xuất vượt hơn miền
Bắc trong nhiều ngành như điện lực và vải chẳng hạn dù miền
Bắc có dân số đông hơn, nhiều hầm mỏ và kỹ nghệ hơn miền
Nam. Nền giáo dục miền Nam hơn hẳn miền Bắc, bậc Tiểu và
Trung Học miền Bắc chỉ gồm 10 năm c̣n ở miền Nam 12 năm,
chưa kể phẩm chất huấn luyện và tŕnh độ Giáo chức miền Nam
hơn hẳn miền Bắc. Nguyên nhân là v́ Hồ chí Minh và đảng cộng
sản nói rất hay, nhưng trong thực tế họ không kính trọng và
quan tâm đúng mức đến giáo dục và người trí thức. Đối với họ
‘’hồng’’ hơn ‘’chuyên’’ và lương tiền thù lao người có học
và có nghề đâu có hơn, có khi c̣n thua kẻ ít học hơn nữa.
Trong khi ấy, con cái các gia đ́nh nghèo tại miền Nam có thể
trở thành khá giả nếu học giỏi vào Đại Học và tốt nghiệp.
Giáo dục tại miền Nam cũng như tại các nước khác là một
phương tiện tốt để tiến thân. Như thế, người ta khuyến học,
ham học, nên kính trọng giáo dục và người có học. Trong 9
năm ông Diệm cầm quyền, đời sống kinh tế của dân chúng tại
miền Nam rất ổn định, có thể nói là sung túc nữa, so với
thời sau ông Diệm từ 1964-1975 tại miền Nam hay miền Bắc
trước 1975 và cả sau khi thống nhất dưới chế độ cộng sản từ
1975 đến nay. Giá cả các nhu yếu phẩm, gạo, cá, thịt, đường
sữa, vải, xăng thuốc men không lên xuống, xăng giữ giá 4
đồng 1 lít v.v... Nói chung, mức sống miền Nam hơn hẳn miền
Bắc tái thiết với sự chi viện của phe cộng sản. Thí dụ, lúc
bấy giờ tại miền Bắc, xe đạp là một xa xỉ phẩm, người thường
dân khó ḷng tậu được v́ lương và tiền lợi tức quá thấp, c̣n
tại miền Nam có thể nói xe đạp nằm trong tầm tay của đại đa
số người dân chưa kể đến xe tự động hay xe gắn máy hoặc xe
hơi. Chín năm dưới quyền Tổng Thống Diệm có lẽ là khoảng
thời gian khá nhất của dân tộc Việt Nam, từ 1945 đến nay,
mặc dầu có nhược điểm và sai lầm như ‘’gia đ́nh trị’’ và
chuyên chế v.v...
Miền Nam nhận viện trợ Mỹ qua sở USOM tức United States
Operations Mission, tạm hiểu là Phái Đoàn Công Tác Hoa Kỳ.
Sở USOM là chi nhánh tại Sài G̣n của cơ quan AID tức Agency
For International Development, tạm hiểu là Cơ Quan Phát
Triển Quốc Tế của chính phủ Hoa Kỳ, phụ trách viện trợ các
nước khác, để thực thi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. USOM
tại Sài G̣n phái chuyên viên Mỹ đến giúp hay làm cố vấn cho
hầu hết các ngành hoạt động của các cơ quan trong chính
quyền miền Nam. Thí dụ, các Giáo Sư Mỹ thuộc Đại Học công
lập Michigan, trong ấy có ông Wesley Fishel có nói đến trước
đây, ăn lương theo hợp đồng kư với USOM giúp thành lập Viện
Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo Cán Bộ Hành Chánh và huấn
luyện Cảnh Sát. Sau này, một Học Viện chuyên huấn luyện Công
An-Cảnh Sát cũng được thiết lập. Tiểu ban giáo dục của USOM
giúp cho Bộ Giáo Dục xây thêm Trường, huấn luyện Giáo Chức,
nhất là ở bậc Tiểu Học, chọn lựa sinh viên qua Hoa Kỳ du học
hay Giáo Chức đi tu nghiệp.
Người Mỹ đứng đầu cơ sở USOM thường có chức vụ là cố vấn hay
chuyên viên kinh tế tại Ṭa Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n. Ṭa Đại Sứ
Mỹ gồm nhiều Tham Vụ Ngoại Giao, Cố Vấn, Tùy Viên và nhiều
nhân viên thừa hành dưới quyền Đại Sứ. Những Đại Sứ Mỹ ở Sài
G̣n có thể là các Nhà Ngoại Giao chuyên nghiệp như các ông
Donald Red Heath (7.1950-7.1955), Frederick Rheinhardt
(5.1955-3.1957), Elbridge Durbrow (3.1957-12.1960),
Frederick Nolting (5.1961-8.1961) hay Tướng lănh làm Đại Sứ
như Tướng Joe Lawton Collins (8.1954-6.1955) hay Tướng
Maxwell Taylor sau năm 1963, hay chính trị gia chuyên nghiệp
như Henry Cobot Lodge (8.1963-7.1964) và (7.1965-4.1967).
Đại Sứ Mỹ lănh đạo, nói chung tất cả hoạt động của Hoa Kỳ
tại Sài G̣n và Nam Việt Nam. Tại Ṭa Đại Sứ, chính thức
không thấy ai là nhân viên của CIA cả, nhưng thường vị Đệ
Nhất Tham Vụ là Trưởng Nhiệm Sở của CIA. Như trước kia, Đại
Tá Edward Lansdale chính thức là một Tùy Viên Không Quân,
nhưng nhiều người biết ông chỉ huy một phái đoàn công tác
đặc biệt của Sở Trung Ương T́nh Báo Hoa Kỳ tức CIA. Tại Ṭa
Đại Sứ, CIA là bộ phận quan trọng, nhất là tại các nước làm
Tiền Đồn chống cộng sản như miền Nam, v́ phải thực hiện
nhiều công tác mật và bán công khai. Hoa Kỳ càng can thiệp
trực tiếp vào Việt Nam, nhiệm sở CIA tại Sài G̣n càng trở
nên đông đảo hơn và mở rộng phạm vi hoạt động. Khi Hiệp Định
Genève được kư kết trong tháng 7.1954, tại Sài G̣n và miền
Nam có tất cả 342 người Mỹ dân sự và quân sự. Nhưng dần dần
chỉ nhiệm sở CIA không thôi đă có đến 70 người Mỹ từ thời Đệ
Nhất Cộng Ḥa (1955-1963) lên đến độ 300 điệp viên Mỹ, nam
và nữ, nhiều người nói thông thạo tiếng Pháp và một số rành
tiếng Việt nữa. Ngoài ra c̣n có một số nhân viên người Việt
làm việc toàn thời gian, hay là cộng tác viên đưa tin tức
rồi nhận tiền hay không và được Ṭa Đại Sứ đề cử nắm giữ các
chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, nhất là sau
1963. Tại Sài G̣n, các điệp viên CIA thường đi xe hơi loại
Ford Pinto, được cung cấp xăng miễn phí và sống thoải mái.
Nhiệm sở CIA có trách nhiệm giúp đỡ chính phủ miền Nam tổ
chức một hệ thống t́nh báo tối tân, huấn luyện các lực lượng
bán quân sự cho các hoạt động mật và thâu lượm tin tức về kẻ
thù là cộng sản Hà Nội và cộng sản quốc tế. Trong khi ấy,
CIA cũng theo dơi ngầm các nhân vật chính trị và quân sự
miền Nam để chi phối họ và cả phe chống đối chính quyền. Sở
CIA vừa làm công tác t́nh báo và phản gián để thực thi chính
sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Những năm 1954-1955, Đại Tá
Edward Lansdale cầm đầu phái đoàn quân sự Sài G̣n, tức toán
đặc nhiệm CIA, thực thi chánh sách của chính quyền
Eisenhower là giúp ông Ngô Đ́nh Diệm chống lại thực dân Pháp
và tay sai, để lập chính quyền tự chủ như chống cộng sản tại
miền Nam. Đến năm 1963, CIA vận động các Tướng đảo chánh và
giết hại ông Diệm theo chủ trương của chính quyền Kennedy.
Trong 9 năm cầm quyền, Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu có đề
pḥng chặt chẽ, nhưng CIA cũng mua chuộc một số viên chức
thân tín của chế độ làm việc trong Dinh Độc Lập, gần gũi ông
Diệm và ông Nhu và bà Nhu và cả ông Cẩn ở Huế nữa, để biết
phản ứng và thái độ của các vị này, trước t́nh thế và đối
với các đề nghị và kế hoạch của người Mỹ đưa ra. CIA cũng bí
mật gắn máy thâu và phát thanh tối tân tại nhiều Bộ, Tổng,
Nha, cư xá và tại nhà của các vị cao cấp trong chính quyền
và ngay cả trong các bức tường Dinh Độc Lập đang xây cất lại
sau khi bị ném bom đầu năm 1962. Cả phe cộng sản cũng ngầm
làm việc này nữa.
CIA dần dần đột nhập vào các tổ chức, cơ quan, cách này hay
cách khác. Trong vụ Nhảy Dù đảo chánh hụt 11.11.1960, vai
tṛ của CIA cũng đáng nói đến. Một điệp viên CIA là ông
George Carver, chính thức là viên chức USOM, lâu nay có bổn
phập liên lạc với các phe phái chống đối chính quyền ông
Diệm, nhận lời mời của Luật Sư Hoàng Cơ Thụy đến gặp những
nhân vật dân sự của phe đảo chánh tại nhà ông. Trong khi ấy
một cán bộ CIA khác, ông Russel Miller, liên lạc với các Sĩ
quan Dù đang đảo chánh và nghe lén các tin tức bằng điện
thoại giữa các Đơn Vị Dù bao vây Dinh Độc Lập và Hành Dinh
của họ. Ông George Carver muốn góp ư với phe đảo chánh là
đánh chiếm ngay Dinh Độc Lập và lật đổ Tổng Thống Diệm.
Nhưng cả hai ông Geroge Carver và Russel Miller nhận được
lệnh của Đại Sứ Mỹ Elbridge Durbrow qua Trưởng Nhiệm Sở CIA
là William E. Colby rằng chính phủ Hoa Kỳ muốn phe đảo chánh
điều đ́nh với Tổng Thống Diệm và không được đổ máu nữa. Sau
khi đảo chánh thất bại, ông George Carver đem Luật Sư Thụy
trong một cái túi vải lớn đựng thư để đưa ông ra khỏi Sài
G̣n và miền Nam, trong chiếc phi cơ của Tùy Viên Không Quân
Mỹ. Cơ Quan T́nh Báo CIA, từ Trụ Sở Trung Ương tại Langley,
Tiểu Bang Virginia, có thể chỉ thị cho nhiệm sở CIA Sài G̣n
thực hiện một công tác mật nào đó, hay phái điệp viên đội
lốt du khách, nhà báo, viên chức đến thực hiện công tác.
Ngoài CIA, người Mỹ cũng có những Sở T́nh Báo khác như Sở
T́nh Báo của Bộ Quốc Pḥng, Bộ Tư Lệnh Mỹ Thái B́nh Dương
đóng tại Honolulu, Tiểu Bang Hạ Uy Di (Hawaii), cũng có
ngành t́nh báo nhắm vào quân sự, Lục Quân Mỹ và Bộ Tư Lệnh
MACV tại Sài G̣n cũng có cơ sở t́nh báo. C̣n Bộ Ngoại Giao
Mỹ cũng bao gồm một sở T́nh Báo và Nghiên Cứu. Có khi các Sở
T́nh Báo lại đưa ra những bản thẩm định t́nh thế khác nhau
hay mâu thuẫn với nhau.
Phần quan trọng nhất của viện trợ Mỹ nhắm vào an ninh, tức
sự tổ chức và trang bị cho Quân Đội miền Nam. Ông Diệm rất
có tinh thần quốc gia, việc ǵ cũng hướng về truyền thống cổ
truyền của dân tộc Việt Nam. Trong việc thành lập Quân Đội
cũng vậy, ông muốn có Quân Đội hoàn toàn Việt Nam, như ông
Trần Văn Đôn một trong những Tướng đảo chánh ông cũng thừa
nhận. Nhưng Hoa Kỳ đe dọa cúp viện trợ nếu không tổ chức
Quân Đội theo phương thức Mỹ, tức lập Sư Đoàn theo cấp số 3,
mỗi Sư Đoàn gồm 3 Trung Đoàn, mỗi Trung Đoàn gồm 3 Tiểu
Đoàn, mỗi Tiểu Đoàn gồm 3 Đại Đội, mỗi Đại Đội 3 Trung Đội
và mỗi Trung Đội 3 Tiểu Đội với 11 binh sĩ cho mỗi Tiểu Đội.
Tại miền Nam, trung b́nh 2 Sư Đoàn thành một Quân Đoàn. Toàn
lănh thổ miền Nam, từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, gồm 42 Tỉnh
được chia làm 4 vùng chiến thuật cho Quân Đoàn, với Bản
Doanh tại Đà Nẵng cho Quân Đoàn I, Pleiku cho Quân Đoàn II,
Biên Ḥa cho Quân Đoàn III và Cần Thơ cho Quân Đoàn IV. Các
Quân Đoàn được đặt dưới quyền Bộ Tổng Tham Mưu đóng tại Trại
Trần Hưng Đạo, gần Phi Trường Tân Sơn Nhất. Ngoài các Sư
Đoàn Bộ Binh, c̣n có Lữ Đoàn rồi Sư Đoàn Dù, Thủy Quân Lục
Chiến, các Đơn Vị Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh cùng các
Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, Địa Phương Quân và Dân Vệ tại các
Tỉnh Lỵ, Quận và Xă và các Quân Chủng Hải Quân và Không
Quân. Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh Quân Đội.
Để huấn luyện và trang bị cho Quân Đội Việt, người Mỹ lập ra
Millitary Assistance Advisory Group viết tắt là MAAG xin
hiểu là Toán Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự dưới quyền Tướng 2 sao.
Dần dần người Mỹ đến nhiều hơn, với cả Đơn vị phi cơ và trực
thăng nên một Bộ Tư Lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ được
thành h́nh gọi là Military Assistance Commannd Vietnam, tức
MACV có nhiệm vụ làm cố vấn cho chính quyền miền Nam về hành
quân tác chiến. Những tổ chức tŕnh bày trên đây là những cơ
quan chính của người Mỹ, ngoài ra có những cơ sở phụ thuộc
khác như Bệnh Viện Hải Quân, cơ sở cung cấp hàng hóa PX, các
Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, với các máy đánh bạc, tiệm ăn và hộp đêm
v.v... Các cơ quan nói trên, từ Ṭa Đại Sứ, USOM, MAAG và
MACV, thực hiện chương tŕnh viện trợ Hoa Kỳ cho Chính Phủ
Ngô Đ́nh Diệm. Số tiền viện trợ trong năm 1955 là 322, 4
triệu mỹ kim mà 87% của số tiền qua một chương tŕnh gọi là
Commodity hay Commercial Import Program tức CPI, xin hiểu là
chương tŕnh nhập cảng hàng hóa hay thương mại. Đại khái
theo chương tŕnh này, Hoa Kỳ cung cấp một số lượng mỹ kim
cho chính phủ, bao nhiêu tùy theo nhu cầu từng năm. Chính
Phủ bán lại số Mỹ kim cho các nhà nhập cảng Việt để lấy một
số bạc Việt với giá hối xuất bằng một nửa giá chính thức.
Chính Phủ dùng số bạc Việt này để trả lương cho bộ máy Chính
Quyền và Quân Đội. Ngoài ra, Chính Phủ c̣n thu được một số
tiền bạc khác từ quan thuế đánh vào hàng hóa nhập cảng.
Trong những năm đó, mỹ kim được bán ra với giá 35 đồng một
mỹ kim, mỗi mỹ kim hàng nhập cảng thâu thêm cho Chính Phủ
trung b́nh số tiền bằng 18 mỹ kim quan thuế.
Chương tŕnh CIP có mục đích tài chánh và đài thọ ngân sách
chính phủ và ngăn chặn lạm phát, c̣n mục tiêu chính trị là
cung cấp cho dân chúng miền Nam nói chung và giới trung lưu
và thượng lưu nói riêng, số hàng hóa tiêu dùng mà họ cần và
có khả năng mua được, để lôi cuốn được sự ủng hộ của họ.
Người Mỹ cũng muốn chứng minh rằng là đồng minh của Hoa Kỳ
nhận viện trợ Mỹ, th́ đời sống sung túc như vậy, trái với sự
thiếu thốn và mức sống rất thấp của dân miền Bắc dưới chế độ
cộng sản.
Từ 1955-1961, viện trợ kinh tế Mỹ lên đến 447 triệu mỹ kim,
phần lớn qua chương tŕnh CIP. Số tiền viện trợ chương tŕnh
này rất đầy đủ, nên Chính Phủ ông Diệm vào năm 1960 c̣n dư
đến 216,4 triệu Mỹ kim trong qũy CIP. Người ta phải công
nhận rằng Tổng Thống Diệm rất trọng của công và sử dụng ngân
sách viện trợ một cách thận trọng và cần kiệm. Các chính
quyền sau vụ đảo chánh đă phung phí số tiền dư lại nói trên
rất nhanh chóng. Một số quan sát viên Việt và ngoại quốc,
cũng như Vua sứ Maroco Mohammed V có nói về mối nguy cơ tùy
thuộc quá nhiều vào chỉ một đồng minh mà thôi. Lời chỉ trích
này đúng. Người Mỹ có thể dùng viện trợ như một phương tiện
vũ khí để chi phối chính quyền miền Nam, như trong vụ đảo
chánh năm 1963, hay như Tổng Thống Richard Nixon dùng để dọa
ông Nguyễn Văn Thiệu sau này. Có lẽ ông Diệm cần đánh thuế
lợi tức cao, chứ không phải cho có lệ, đối với giới giàu có
như xuất nhập cảng, doanh thương nhà thầu v. v... để bớt phụ
thuộc phần nào vào ngoại viện trợ và cho thấy cố gắng tự
túc, dùng trong hoàn cảnh khó khăn.
Nhưng tóm lại, Tổng Thống Diệm đă thành công quá sự mong đợi
của người Mỹ đă ủng hộ ông. Họ bảo là ông Diệm đă làm được
‘’phép lạ’’ cho miền Nam Việt Nam nhờ những đức tính quyết
tâm, can đảm và tháo vát của ông, như Thứ Trưởng Ngoại Giao
Mỹ Walter Robertson ca tụng ông trong tháng 6.1956. Uy tín
của ông Diệm lên rất cao trong nước, tại các xứ không cộng
sản, từ 1956-1959. Từ một Chí Sĩ lâu nay mơ ước thôi, ông đă
đem lại quyền tự chủ cho nửa nước mà ông là Nguyên Thủ và
miền Nam được hầu hết các xứ không cộng sản thừa nhận và
bang giao trong sự kính trọng. Một số công du cũng làm tăng
giá trị của ông. Vào tháng 5.1957 Tổng Thống Dwight
Eisenhower thân chinh ra đón ông tại phi trường, ông đọc
diễn văn tại Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ, ông dự cuộc tiếp đón
long trọng tại Đô Thị New York, ông cũng đi công du các xứ
khác như Thái Lan, Úc, Đại Hàn, Ấn Độ. Lúc bấy giờ, ngay cả
đế quốc cộng sản Liên Sô cũng coi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
và miền Nam ngang hàng với chủ tịch Hồ chí Minh và miền Bắc
cộng sản đồng minh của họ và cũng đề nghị để cả hai miền vào
Liên Hiệp Quốc. Nhưng ông Diệm đâu có muốn được ngang vai vế
với Hồ chí Minh, ông Diệm tự cho ḿnh là tượng trưng, là
người lănh đạo toàn dân tộc và xứ sở, mong muốn diệt trừ
cộng sản để thống nhất đất nước. Ông Diệm trở thành một đối
thủ đáng sợ cho Hồ chí Minh và phe cộng sản Hà Nội. Những
thành tích của ông trong việc tái thiết miền Nam và xây dựng
chính quyền là những điều bất lợi cho họ, có thể làm cho dân
miền Bắc hướng về miền Nam, ước mong miền Nam giải phóng cho
họ khỏi sự áp bức và bóc lột của chế độ cộng sản. Và như
thế, phe cộng sản Hà Nội không để miền Nam tái thiết trong
nền ḥa b́nh lâu dài được.
CỘNG SẢN HÀ NỘI GÂY CHIẾN TRANH, KHỦNG BỐ & GIẾT HẠI DÂN
LÀNH
Đến nay, người ta có thể thấy rơ ràng rằng những sai lầm
nghiêm trọng của Hồ chí Minh và đảng cộng sản rất tai hại
cho sự mở mang và sống c̣n của dân tộc Việt Nam và làm cho
tiềm lực của dân tộc bị xuy yếu. Tóm lại, Hồ chí Minh và
đảng cộng sản đă không dùng ư thức hệ để phục vụ quyền lợi
ngắn hạn hay dài hạn của dân tộc Việt Nam, nhưng đă có lợi
dụng ḷng yêu nước và sự hy sinh v́ nền độc lập của xứ sở,
để phục vụ ư thức hệ cộng sản và quyền lợi của hai nước cộng
sản đàn anh là Liên Sô và Trung Cộng. Họ không muốn thấy là
quyền lợi quốc gia, chứ không phải ư thức hệ, bất cứ ư thức
hệ nào, cộng sản cũng vậy, quyết định chánh sách đối ngoại
của các nước từ xưa tới nay. Họ quên rằng những năm
1945-1946, lănh tụ cộng sản Liên Sô ‘’ông nội Stalin’’theo
thi sĩ kiêm chính trị gia cộng sản Tố Hữu gọi và đảng cộng
sản Pháp đâu có thèm đếm xỉa ǵ đến dân tộc Việt, ông Hồ và
phe cộng sản Việt. Gương Thống chế Broz Tito của Nam Tư sờ
sờ trước mắt, là một người được Liên Sô đào tạo và huấn
luyện. Ông Broz Tito đă chống lại Stalin và Liên Sô, v́
quyền lợi và nền tự chủ của nước Nam Tư của ông. Nhưng ông
Hồ và đảng cộng sản tuân theo hay noi theo việc làm của Liên
Sô và Trung Cộng, họ phát động cải cách ruộng đất đẫm máu
người Việt, như Stalin diệt phú nông Krulaks tại Liên Sô hay
Mao diệt địa chủ tại Trung quốc. Họ c̣n làm những việc hèn
hạ hơn nữa như san bằng g̣ Đống Đa, nơi tướng giặc Tàu Sầm
nghi Đống treo cổ tự vận v́ Quân Đội của Hoàng Đế Quang
Trung vây đánh ngặt quá và có thể nói là họ dâng hiến lănh
thổ của dân tộc cho Trung Quốc, chứ không bảo vệ quyết liệt
như miền Nam đă làm, theo tờ Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông
(Economic Far Eastern Review) đă tường thuật. Lâu nay, Trung
Cộng đ̣i giành các Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt
Nam. Ngày 4.9.1958, chế độ Bắc Kinh ra tuyên ngôn đ̣i chủ
quyền trên tất cả Quần Đảo từ Đảo Hải Nam trở xuống Vịnh
Thái Lan, xuyên qua Vịnh Bắc Việt, tức là những Quần Đảo nói
trên của Việt Nam. Chủ tịch Hồ chí Minh và đảng cộng sản đă
không phản đối. Ngày 14.9.1958, Thủ Tướng Phạm văn Đồng, một
Ủy viên của bộ chính trị đảng cộng sản, lại gởi công hàm
chính thức cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu ân Lai ‘’công nhận
và ủng hộ bản tuyên ngôn của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc
ngày 4.9.1958’’. Như thế, Hồ chí Minh và đảng cộng sản đă
dâng lănh thổ Việt Nam cho Trung Cộng, đă chính thức thừa
nhận việc cưỡng chiếm lănh thổ Việt Nam của Bắc Kinh. Họ
muốn được chế độ Bắc Kinh viện trợ để xây dựng chiến tranh
thôn tính miền Nam.
Tại Hà Nội, Hồ chí Minh và các đồng chí thân cận của ông
theo dơi rất kỹ lưỡng sự biến chuyển t́nh thế tại miền Nam.
Họ hoạch định các kế hoạch để đối phó, nhất là sau khi Thủ
Tướng Diệm thắng lợi và ổn định được t́nh thế. Mục tiêu của
họ là làm sao làm chủ luôn nửa phần kia của đất nước bằng
mọi phương tiện, trong ḥa b́nh với cuộc tuyển cử theo Hiệp
định Genève nếu có thể, không th́ dùng khủng bố và chiến
tranh. Họ chỉ thị cho thi hành mật các mưu đồ gây rối loạn
rồi tuyên truyền rằng nhân dân bị áp bức nên bộc phát, tự
động nổi dậy và nếu làm được và có mồi thành công, họ viết
quyết nghị trên giấy tờ.
Ngay sau khi Hồ chí Minh đi gặp Chu ân Lai ở Nam Ninh về,
vào tháng 7.1954, trong khi Hội nghị Genève đang tiếp diễn,
ông và bộ chính trị soạn thảo ngay các kế hoạch khuynh đảo
miền Nam. Lợi hại nhất trong kế hoạch này là công tác t́nh
báo và đột nhập vào chính quyền địch, nghĩa là các cơ cấu
của miền Nam. Việc làm này là chọn lựa, đề cử, vận động, lôi
cuốn một số cán bộ đảng viên hay phái đảng viên trà trộn
trong số đồng bào di cư vào Nam, hoặc người miền Nam ở lại
nằm vùng hay đổi vùng, để phục vụ bí mật cho bác và đảng.
Công tác này được thi hành ngay lập tức, vô cùng khẩn cấp
cho kịp với Hiệp Định Genève. Chỉ thị mật được cấp tốc gởi
vào Nam. Tại miền Nam, một số cán bộ đảng trung kiên, có
nhiều tuổi đảng và thành tích đáng kể mới được giao phó công
tác này trong các vùng họ c̣n kiểm soát và ngay cả vùng Sài
G̣n-Chợ Lớn và các Đô Thị khác của miền Nam. Những cán bộ
phụ trách này đă chọn lựa một số đảng viên hay cảm t́nh viên
như cán bộ c̣n trẻ, độc thân nam và nữ, một số thanh niên
mới lập gia đ́nh hay c̣n con nhỏ nữa để làm điệp viên nằm
vùng, sinh sống b́nh thường như người di cư hay như dân
chúng địa phương, nhưng bí mật thâu lượm tin tức và thực
hiện các công tác mà đảng sẽ giao phó. Hồ chí Minh và các
đồng chí của ông thảo luận nhiều lần về các kinh nghiệm của
Liên Sô và đảng cộng sản Xô Viết. Họ bàn rất nhiều về kế
hoạch Lucy của đảng cộng sản Liên Sô đă chỉ thị cho các đảng
viên trẻ tuổi đang làm sĩ quan trong quân đội Đức vẫn tiếp
tục phục vụ trong quân đội, đừng giải ngũ dù nước Đức bị bại
trận, quân đội chỉ giảm xuống chỉ độ 100.000 người. Trên 20
năm sau, khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ năm 1939 số sĩ quan
đảng viên cộng sản đă trở thành những Tướng lănh trong quân
đội Đức, ngay trong cả Bộ tổng tham mưu quốc xă Adolf
Hitler. Họ đă cung cấp các kế hoạch hành quân, các bí mật
quân sự Đức quốc xă cho Liên Sô qua trung gian của một điệp
viên khác tại Thụy Sĩ, tổ chức gián điệp này mang tên Lucy
và góp phần rất đáng kể vào sự thắng trận của Liên Sô trong
Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Ngoài hệ thống gián điệp Lucy
một đảng viên cộng sản Đức khác là ông Sorge vào đảng Quốc
Xă Đức, được tín nhiệm và làm việc tại Ṭa đại sứ Đức tại
Đông Kinh, Thủ Đô Nhật Bản, đă cho Liên Sô biết về ư đồ của
Nhật, nên Stalin có thể đưa các sư đoàn tại Tây Bá Lợi Á về
bảo vệ Thủ Đô Mạc Tư Khoa chống lại được sự tấn công của
quân đội Đức Quốc Xă năm 1941. Học hỏi kinh nghiệm Liên Sô
và đảng cộng sản Xô Viết, đảng cộng sản Hà Nội đă cho nhiều
đảng viên nằm vùng tại miền Nam vào làm việc tại tất cả các
cơ quan dân sự và quân sự. Một số đảng viên và cảm t́nh viên
trước kia là tín đồ của các tôn giáo như Công Giáo, Phật
Giáo, Tin Lành hay các giáo phái như Ḥa Hảo và Cao Đài nay
được lệnh trở lại thành những tín đồ rất ngoan đạo, hay
những người trước kia chưa làm tín đồ cũng làm vậy, để được
sự tín nhiệm của các chức sắc các tôn giáo và giáo phái. Số
điệp viên cộng sản trà trộn tại miền Nam có thể lên đến
nhiều ngh́n, con số của cộng sản không biết có nói thêm
không, là từ 20.000 đến 30.000 người. Họ đột nhập vào các
ngành, hoặc làm sĩ quan, trong các Binh Chủng, họ làm việc
từ thấp lên cao, vào tận Dinh Tổng Thống nữa. Từ năm 1975
khi cộng sản Hà Nội cưỡng chiếm được miền Nam cho đến nay,
chính quyền và đảng cộng sản Hà Nội đă tưởng thưởng công
khai cho những điệp viên có nhiều thành tích vẻ vang như
Phạm xuân Ẩn, Vũ ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng, Ni cô Huỳnh
Liên, Sư Thích Trí Quang v.v...Trong 9 năm cầm quyền của ông
Diệm, một trong những điệp viên cộng sản đáng kể nhất có lẽ
là ông Phạm ngọc Thảo.
Ngoài việc xây dựng màn điệp viên cực kỳ bí mật và rộng lớn
tại miền Nam, đảng cộng sản cũng ra sức tôn giáo vận, nghĩa
là vận động các chức sắc và tín đồ các tôn giáo ủng hộ cuộc
chiến đấu của họ, hay phá rối bằng cách phao tin đồn thất
thiệt, gây chia rẽ, hiềm khích và xung đột giữa các tôn giáo
nhất là sau năm 1963 giữa Phật Giáo và Công Giáo. Họ c̣n cho
một số đảng viên vào làm tu sĩ, cũng như cho cán bộ cà răng
để sống với đồng bào thiểu số. Trong khi ấy, họ cũng lo củng
cố hệ thống đảng của họ từ Thôn, Ấp, Xă, Quận, Tỉnh, Khu tại
các vùng lâu nay họ đă cai trị, hoặc các nơi trước kia Pháp
kiểm soát và cho các cơ sở này rút lui vào bí mật. Hồ chí
Minh và bộ chính trị cũng học hỏi kinh nghiệm của Liên Sô về
vụ thống nhất vùng Tây Bá Lợi Á. Lúc bấy giờ vùng này bị phe
Bạch Nga chống cộng sản kiểm soát với sự ủng hộ của các nước
Tây Phương sau cuộc cách mạng 1917 tại Nga và cuộc nội chiến
xảy ra tiếp theo đấy. Lenin và đảng cộng sản Xô Viết đă lập
ra chính đảng và chính phủ để chiến đấu cho ‘’nền độc lập’’
của Tây Bá Lợi Á. Nhưng sau khi thôn tính được vùng này,
Lenin và đảng cộng sản giải tán chính quyền và chính đảng
tại vùng này. Một chính sách gần giống như vậy sẽ được sử
dụng trong việc ‘’giải phóng’’ miền Nam.
Trong những năm đầu sau Hiệp định Genève năm
1954, chính quyền Hồ chí Minh tại Hà Nội phải lo tái thiết
và đối phó với sự chống đối của dân chúng và giới trí thức
như vụ nổi dậy của nông dân Huyện Quỳnh Lưu và vụ Nhân
Văn-Giai Phẩm. Ban đầu, họ cũng hy vọng thôn tính được miền
Nam qua cuộc tổng tuyển cử dự trù vào năm 1956, nhưng ông
Ngô Đ́nh Diệm đă dành được chủ quyền tại miền Nam, buộc Pháp
rút quân về nước và thành công trong việc tái thiết miền
Nam. Nước Pháp có bổn phận thi hành Hiệp định Genève, nhưng
Pháp không có quân hay thế lực ǵ tại miền Nam nữa cả. Như
thế, khó ḷng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chịu thi hành Hiệp
định Genève tổ chức tổng tuyển cử. Ngoài nguyên nhân v́
quyền lợi và sự tự do của dân tộc, ông Diệm c̣n có mối tư
thù với cộng sản v́ đă giết anh ruột là Ngô Đinh Khôi và con
trai độc nhất của ông này. Tuy vậy, Hồ chí Minh và đảng cộng
sản vẫn động viên cán bộ và phát động một cuộc đấu tranh
chính trị bắt đầu từ tháng 7.1955 khi mà theo Hiệp định
Genève, hai miền Bắc và Nam phải tiếp xúc và thảo luận với
nhau về tổng tuyển cử năm 1956.
Chính quyền miền Nam đă biết rơ về mưu đồ của đối phương.
Tổng Thống Diệm có một cộng tác viên có khả năng là ông Trần
Chánh Thành có nói đến trước đây. Ông Thành đă từng tham gia
kháng chiến, ông am hiểu thủ doạn chính trị của cộng sản nên
đề nghị biện pháp đối phó thích hợp.
Đến mùa Hè 1955, chính quyền phát động một chiến dịch Tố
Cộng toàn khắp miền Nam, nhất là các vùng trước kia do chính
quyền cộng sản kiểm soát. Chiến dịch Tố Cộng nhằm mục đích
phân loại các hạng dân chúng để phát giác ra cơ sở và cán bộ
cộng sản ‘’nằm vùng’’ hay ‘’đổi vùng’’ và tổ chức các buổi
lễ tại các thôn xóm để số cán bộ này công khai tuyên bố từ
bỏ chủ nghĩa cộng sản, ly khai với đảng và thuyên thệ trở về
với chính nghĩa quốc gia.
Theo thống kê của Bộ Thông Tin và Thanh niên dưới quyền Bộ
Trưởng Trần Chánh Thành phụ trách chiến dịch Tố Cộng, cho
đến tháng 5.1956 khoảng 94.041 cán bộ cộng sản đă về hồi
chánh với Chính Quyền Quốc Gia, 5.613 cán bộ khác đầu thú,
lấy được 119.454 vũ khí, 75 tấn tài liệu và t́m ra được 707
nơi chôn dấu vũ khí và độ 15.000 đến 20.000 người bị t́nh
nghi là cộng sản bị giữ trong các trại giam. Năm 1959, một
Giáo Sư người Anh nói và hiểu tiếng Việt thông thạo là ông
Patrick J. Honey, được Tổng Thống Diệm cho phép đi viếng
thăm các trại giam những người cộng sản bị t́nh nghi là cộng
sản. Ông Honey tường tŕnh rằng những kẻ bị giam giữ đă nói
rằng đa số trong bọn họ không hề là cộng sản hay thân cộng.
Điều này cho thấy trong bất cứ hoạt động quy mô nào của bất
cứ chính quyền nào, chắc không thể tránh khỏi sai lầm được,
không ít th́ nhiều. Trong chiến dịch Tố Cộng, có thể có
những người bị tố oan v́ tư thù, hay một lư do nào khác, hay
v́ một số viên chức của chính quyền muốn làm tiền họ v.v...
Ngoài ra c̣n có những thành phần dân chúng tham gia kháng
chiến chống Pháp rồi ở lại, không tập kết ra Bắc, v́ không
thích cộng sản. Những người này nay bị tố là cộng hay thân
cộng. Một số đảng viên bí mật lại lên tiếng hay kín đáo tố
những người khác là cộng sản để gây ra vụ bắt giữ và tạo
thêm thù hằn giữa dân chúng và chính quyền. Nhưng nhiều cán
bộ thật sự cộng sản có công tác phá rối trị an và bị bắt
giữ, thẩm vấn cũng không bao giờ nhận họ là cộng sản cả.
Nh́n chung, chiến dịch Tố Cộng rất thành công, như tài liệu
tổng kết kinh nghiệm của đảng cộng sản trong năm 1963 đă
thừa nhận.
‘’Từ 1957 đến 1958, t́nh thế dần dần đổi thay.
Kẻ thù liên tục phá hoại sự thi hành Hiệp định Genève, củng
cố và tăng cường một cách tích cực ngành an ninh quân sự và
bộ máy hành chánh, từ trung ương xuống đến tận thôn xóm, ám
sát tàn bạo dân chúng (tức cán bộ cộng sản) và thật sự đă
phá hủy đảng ta (tức đảng cộng sản Hà Nội của Hồ chí Minh
lănh đạo) một cách hữu hiệu.
Vào thời bấy giờ, phong trào đấu tranh chính trị, dù không
bị đánh bại, đang gặp khó khăn càng gia tăng và bị suy yếu
dần, các căn cứ của đảng, dù chưa bị hủy diệt hoàn toàn, một
số bị suy yếu đáng kể, trong vài khu vực, một cách trầm
trọng.
Để chống một kẻ thù như vậy, không thể chỉ dùng đấu tranh
chính trị đơn giản. Cần sử dụng thêm tranh đấu vơ trang,
không chỉ ở cấp thấp...kẻ thù không cho chúng ta chút nào
yên ổn cả.
Vậy đến cuối năm 1959, khi chúng ta phóng thêm một cuộc đấu
tranh vơ trang phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị chống
kẻ thù, cuộc tranh đấu ấy thể hiện ra là cuộc chiến tranh
cách mạng tại Nam Việt Nam. ’’
Thật ra từ cuối năm 1956, khi thấy không c̣n hy vọng ǵ thôn
tính được miền Nam bằng đường lối tổng tuyển cử, bộ chính
trị của đảng cộng sản đă ra mặt lệnh cho đảng bộ tại miền
Nam đánh phá các cơ sở của Chính Quyền miền Nam, bằng cách
cảnh cáo, bắt cóc, ám sát và thủ tiêu các viên chức chính
quyền từ thôn xóm đến thành thị, gây ra t́nh trạng bất ổn và
khủng khiếp. Nhiều vụ khủng bố đă xảy ra liên tiếp tại nhiều
nơi, trong tháng 7.1957 có 17 người bị cộng sản giết tại
Châu Đốc, một Quận Trưởng và gia đ́nh bị phục kích bắn chết
trên Quốc Lộ Mỹ Tho-Sài G̣n ngày 10.10.1957, một tên khủng
bố ném lựu đạn vào một quán cà phê tại Chợ Lớn gây thương
tích cho 13 thường dân và 12 ngày sau, 3 vụ nổ khác làm 13
người Mỹ bị thương. Một đài phát thanh cộng sản cũng bắt đầu
hoạt động, lên tiếng là đại diện cho một thứ mặt trận cứu
quốc kêu gọi dân chúng nổi dậy chống Chính Quyền Cộng Ḥa
dưới quyền Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Quân khủng bố cộng sản
cũng nhắm vào người Mỹ khi nào có thể. Trong 3 tháng cuối
năm 1957, ít nhất có đến 75 viên chức hay thường dân bị bắt
cóc hay ám sát trong hơn 30 vụ khủng bố. Bắt đầu năm 1958,
cộng sản mở một chiến dịch khủng bố tại thôn quê, bắt cóc và
ám sát các Cán Bộ Hành Chánh tại các thôn xă, Giáo Viên,
Nhân Viên Y Tế, Canh Nông, Cảnh Sát và cũng bắt đầu tấn công
những đồn bót nhỏ của Dân Vệ và Địa Phương Quân để cướp vũ
khí và phá hủy bộ máy chính quyền tại thôn quê, làm cho dân
chúng khiếp sợ không dám ủng hộ Chính Quyền hợp pháp nữa.
Vào tháng 7.1958, một học giả Pháp, ông Bernard Fall, đăng
một bài báo tŕnh bày một loạt các vụ ám sát do cộng sản gây
ra từ tháng 4.1957 đến tháng 8.1958 và cho rằng đảng cộng
sản đă mở một cuộc chiến tranh mới. Chính Quyền miền Nam
cũng cho Ṭa Đại Sứ Mỹ biết là trong hai năm 1958, 1959 và 5
tháng đầu của 1960 có 780 viên chức dân sự bị giết hại và
282 người bị bắt cóc. Nhưng các quan sát viên ngoại quốc cho
rằng con số viên chức Chính Quyền miền Nam bị cộng sản giết
hại c̣n cao hơn thế nữa. Nhà Ngoại Giao Mỹ Doulas Pike nêu
ra 11.700 vụ ám sát và 2.000 vụ bắt cóc từ 1957 đến 1960.
Ông Bernard Fall đưa ra con số 4.000 người bị sát hại từ
tháng 5.1961 và đến cuối 1963 là 13.000 người. Báo New York
Times tính độ 3.000 viên chức bị giết và bắt cóc trong năm
1960 là 1.400 viên chức và thường dân. Ông Bernard Fall cũng
tŕnh bày rằng có sự phối hợp nào đấy giữa những vụ khủng bố
và chính quyền Hà Nội. Sau khi cộng sản Hà Nội cưỡng chiếm
miền Nam năm 1975, các tài liệu của cộng sản cũng như những
lời phát biểu của các cán bộ cộng sản, cho thấy mọi việc xảy
ra tại miền Nam là do đảng cộng sản Hà Nội quyết định và
phát động cả. Trong khi chiến dịch khủng bố tiếp diễn, các
đơn vị cộng sản được tổ chức tại miền Nam, hay đột nhập từ
miền Bắc, mở các vụ đánh phá đường giao thông và phục kích
Quân Đội của Chính Phủ. Thí dụ ngày 26.9.1959, hai Đại Đội
của Sư Đoàn 23 bị phục kích, một số binh sĩ bị giết và bị
thương và mất gần hết vũ khí, ngày 25.1.1960 quân cộng sản
đột nhập vào Trung Đoàn 23 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh đóng tại
Tây Ninh, giết 23 binh sĩ và cướp nhiều vũ khí. Bốn ngày
sau, quân cộng sản chiếm Thị Xă Đồng Xoài cách độ 100 km Bắc
Sài G̣n, làm chủ Thành Phố này trong nhiều giờ và cướp một
số tiền lớn của người Pháp. Cũng trong tháng giêng năm 1960,
quân cộng sản đánh phá vùng Cà Mâu và miền đồng bằng sông
Cửu Long. Trong Tỉnh Kiến Ḥa, đường giao thông giữ Tỉnh Lỵ
Bến Tre với 6 trong số 8 Quận bị cắt đứt. Cường độ khủng bố
và đánh phá của cộng sản leo thang khắp nơi. Mục đích của họ
là hủy diệt Chính Quyền hợp pháp, làm dân chúng cực kỳ khiếp
sợ, không c̣n dám ủng hộ chính quyền nữa. Họ cũng mong đợi
chính quyền ban bố các biện pháp chống lại cộng sản, kiểm
soát dân chúng gắt gao hơn, để tố cáo là đàn áp dân chúng và
gây thêm bất măn, khiến cho dân chúng theo họ.
Để đối phó với sự khủng bố của cộng sản, Tổng Thống Diệm từ
đầu năm 1960 cho thực hiện trở lại chánh sách phân loại và
kiểm soát dân chúng một cách chặt chẽ. Ngày 6.5.1959, ông
cho ban Luật 10/59 thiết lập 3 Ṭa Án Quân Sự và các Ṭa Án
này có quyền tuyên án tử h́nh, không được kháng tố, theo Sắc
Lệnh 47 năm 1956 loại trừ cộng sản ra ngoài ṿng pháp luật.
Trong thực tế, như tài liệu Ngũ Giác Đài thừa nhận, Luật
10/59 ít khi được áp dụng, chỉ dùng để xét xử làm gương một
số kẻ khủng bố cộng sản. Nhưng dĩ nhiên phe cộng sản, một số
nhà báo và viên chức Mỹ hay học giả, đă chỉ trích kịch liệt
Đạo Luật này, cho rằng có tính cách chuyên chế và đàn áp.
Đảng Cộng sản Hà Nội càng ngày càng tăng áp lực đối với
chính quyền miền Nam. Họ dùng kinh nghiệm của đảng cộng sản
Xô Viết trong vụ thôn tính lại được vùng Tây Bá Lợi Á với
việc lập ra hết Mặt trận giải phóng đến đảng Nhân Dân Cách
Mạng, rồi đến Chính phủ giải phóng để tuyên truyền trong và
ngoài nước rằng v́ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm đàn áp nên dân
chúng nổi dậy chống lại như vậy. Nhưng cũng phải thừa nhận
rằng Hồ chí Minh và đảng cộng sản không những có các thủ
đoạn chính trị lợi hại và thâm độc mà c̣n giỏi về vận động
và tuyên truyền. Một số người Việt và nhiều người ngoại quốc
tin tưởng nào là mặt trận giải phóng, đảng cách mạng, rồi
chính phủ giải phóng. Nhưng các tổ chức ấy chỉ là những công
cụ chính trị của đảng cộng sản và bị giải tán không thương
tiếc, sau khi họ cưỡng chiếm xong miền Nam.
Vấn đề cuối cùng cần xét đến trong chương này là Hồ chí Minh
và đảng cộng sản phát động chiến tranh từ cuối 1956-1975 để
làm chủ được miền Nam và thống nhất đất nước, có lợi cho
dân tộc không, trong ngắn hạn và dài hạn. Trước hết, không
ai muốn đất nước bị chia cắt cả, nhiều gia đ́nh bị phân chia
và ly tán. Thống nhất đất nước sau gần 20 chiến tranh, từ
1957-1975 có thể nói hàng mấy triệu người bị giết, hay trở
thành phế nhân, hàng trăm ngh́n ngóa phụ, con côi, hàng trăm
ngh́n người mất tích trên biển cả v́ vượt biên, có lợi cho
dân tộc Việt Nam không? Nước Việt Nam thống nhất 20 năm nay
trở thành một trong những xứ nghèo khổ nhất thế giới, dưới
chế độ chuyên chế áp bức và bóc lột của đảng cộng sản và
trên đà mất chủ quyền kinh tế đối với ngoại bang v́ sự bất
lực và tham nhũng của các cán bộ cộng sản cao cấp. Tham
nhũng, buôn lậu, bán nước bán dân, nhất là bất công xă hội,
đĩ điếm, buôn bán x́ ke ma túy để đầu độc giới trẻ và người
dân, đầy rẫy khắp nước từ Bắc đến Nam. Đảng Cộng sản Hà Nội
c̣n đang cầm quyền được ngày nay, đến nay sau khi chế độ
cộng sản đă sụp đổ trên lănh thổ Nga và toàn cả Đông Âu là
nhờ bộ máy công an kiểm soát dân chúng rất chặt chẽ của họ.
Nếu không có chiến tranh, hai miền Bắc và Nam cứ tái thiết
và phát triển với ngoại viện của hai phe, hai miền nhất là
miền Nam ngày nay chắc ǵ thua sút các con rồng kinh tế và
kỹ thuật khác tại Á Châu. Sự thống nhất xứ sở chỉ là một vấn
đề thời gian mà thôi. Trong ba nước bị phân chia sau Đệ Nhị
Thế Chiến (1939-1945), chiến tranh Đại Hàn chỉ kéo dài 3 năm
(1950-1953), c̣n giữa hai nước Đức, Đông và Tây, đâu có
chiến tranh và đổ máu, nhưng đă thống nhất trong ḥa b́nh.
Nếu giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam không có chiến tranh,
nhưng hai miền thống nhất trong ḥa b́nh như hai nước Đức,
chắc đảng cộng sản tại Hà Nội phải mất chính quyền. V́ thế,
họ dựa vào thủ đoạn bạo lực, khủng bố và đổ máu dân tộc
không thương tiếc, để làm chủ nhân toàn xứ và phục vụ quyền
lợi của đảng cộng sản...
Chính v́ sự phát động khủng bố và chiến tranh tại miền Nam
làm cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm phải yêu cầu tăng thêm viện
trợ Mỹ. Hoa Kỳ thừa dịp này, thực hiện dần một chánh sách
thực dân tại miền Nam...
Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang
126-147
****
ĐỂ THAY LỜI KẾT
Người ta thường đứng núi này trông núi nọ, được
voi đ̣i tiên. Trong đời sống chính trị của một nước cũng vậy
thôi. Khi sống dưới chế độ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, một
số người bất măn và chỉ trích những nhược điểm và sai lầm
của chính quyền, điều này cũng đúng thôi. Họ mong muốn một
chính quyền hữu hiệu và tốt đẹp hơn. Nhưng sau khi Tổng
Thống Diệm bị lật đổ và ám sát đầu tháng 11.1963, xứ sở mất
chủ quyền, các chính quyền kế tiếp bất lực, người ta mới
thấy không có lănh tụ hay chế độ nào hoàn hảo cả. Tổng Thống
Diệm và Chính Quyền của ông cũng vậy thôi, với các sai lầm
và nhược điểm, nhưng khá nhất so với các chính quyền khác
tại miền Nam hay chế độ cộng sản tại miền Bắc trước 1975 và
ngay cả chế độ cộng sản ngày nay. Ngay cả những người Mỹ
trước kia đả kích và chủ trương lật đổ Tổng Thống Diệm cũng
thay đổi nhận định về Tổng Thống Diệm và chế độ Đệ Nhất Cộng
Ḥa. Trước cảnh tượng các Tướng cầm quyền chỉ làm tay sai
cho ngoại bang, hết Pháp đến Hoa Kỳ, với mặt trái của cộng
sản Hà Nội và con người cá nhân Hồ chí Minh được phơi bày
với các tiết lộ của các đảng viên cộng sản kỳ cựu như Nguyễn
Hộ, Nguyễn văn Trấn, Vũ thư Hiên và cựu Phó tổng biên tập
báo nhân dân, Đại tá Bùi Tín th́ h́nh ảnh Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm là con người yêu nước, chống cả cộng sản và thực
dân, dù Pháp hay Mỹ, hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền với
nếp sống đạo đức cá nhân đă trở nên đáng kính hơn bất cứ
nhân vật hiện đại nào từ 1945 đến nay. Thời gian phán xét
công bằng. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có nhiều công hơn tội
đối với dân tộc Việt Nam. Chỉ bảy năm sau khi ông bị ám sát,
ngày 2.11.1970 Tổng Thống Diệm được chính thức truy điệu
long trọng tại Sài G̣n và nhiều nơi khác trong nước. Dân tộc
Việt Nam tưởng nhớ và ghi tạc sự đóng góp của ông trong sự
nghiệp đấu tranh cho quyền tự chủ của dân tộc chống cả cộng
sản và thực dân trong mọi h́nh thức, công khai hay âm thầm,
cũng như chính trị hay kinh tế. Trong sự nghiệp 9 năm phục
vụ dân tộc Việt Nam của ông, nhiều thành tích về nội trị
cũng đáng được t́m hiểu và tŕnh bày, như vụ định cư
1954-1955, hệ thống hành chánh, chính sách kinh tế dinh điền
v.v...Nhưng các soạn giả này (tức tác giả cuốn sách này) đă
hơn 70 tuổi rồi và không mong muốn ǵ hơn là hoàn thành được
ấn bản bằng Anh ngữ và phát hành ấn bản bằng tiếng Pháp ngữ
được chuyển ngữ tại Paris của tài liệu này.
Các soạn giả chỉ là tư nhân thích nghiên cứu sử học và không
có quyền hành pháp, lập pháp hay tư pháp ǵ để ‘’mời’’ những
người có liên hệ đến sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam,
vụ đảo chánh và ám sát Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu đến để
thẩm vấn và đối chứng như người ta đă làm tại Hoa Kỳ về vụ
ám sát Tổng Thống John F. Kennedy chẳng hạn. Nhưng v́ sống
nhiều bằng lư tưởng, t́nh yêu và v́ công tâm trước lịch sử
và dân tộc Việt Nam cũng như Hoa Kỳ, với các tài liệu đă hết
‘’mật’’, các sách báo về đề tài này đă xuất bản, những sự
đóng góp của một số nhân chứng có thiện chí và các vụ phỏng
vấn, chúng tôi xin phép tŕnh bày những kết quả đă thâu lượm
được. Đây chỉ là bước đầu. Rồi đây, nhiều tài liệu ‘’mật’’
khác của Hoa Kỳ sẽ được giải tỏa và thêm sự thật chính trị
và ngoại giao khác chắc sẽ được công bố.
Đời sống của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không được dài lâu và
ông không được hưởng nhiều lạc thú trên đời. Nhưng dân tộc
Việt Nam sẽ nhớ lâu dài đến người yêu nước Ngô Đ́nh Diệm.
Tài liệu này có lẽ là kỳ đài lịch sử đầu tiên cho Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm. Rồi đây khi đất nước Việt Nam thanh b́nh và
vắng bóng quân thù cộng sản, sẽ có những kỳ đài khác, những
Trường Học và Đại Lộ mang tên ông...Vĩnh Biệt Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm.
Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trang
569-571
TÀI LIỆU LỊCH SỬ:
CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM VÀ NỀN ĐỆ NHẤT VIỆT
NAM CỘNG H̉A
Aladin Nguyễn
Hồi 4 giờ 30 trưa thứ sáu, ngày 1.11.1963, nghĩa
là khoảng 3 giờ sau khi tiếng súng đảo chánh bắt đầu nổ,
Tổng Thống Diệm gọi điện thoại cho Đại Sứ Lodge và đây là
nội dung cuộc nói chuyện lần cuối cùng giữa Tổng Thống Đệ
Nhất Cộng Ḥa Việt Nam với viên Đại Sứ Mỹ.
Đại Sứ Lodge: Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ
tin tức để có thể trả lời câu hỏi của Ngài. Tôi có nghe thấy
những tiếng súng nổ, nhưng không biết rơ thực hư. Vả lại bây
giờ là 4 giờ 30 sáng tại Washington và chính quyền Mỹ có lẽ
không thể đưa ra một ư kiến về vấn đề này.
Tổng Thống Diệm: Nhưng chắc chắn Ngài cũng có
những ư niệm đại khái về vấn đề này. Dù sao, tôi cũng là một
vị Quốc Trưởng. Tôi đă cố gắng làm bổn phận trên tất cả.
Đại Sứ Lodge: Dĩ nhiên Ngài đă làm bổn phận của
Ngài. Như tôi đă nói với Ngài lần đầu tiên sáng hôm nay, tôi
khâm phục sự can đảm của Ngài và khâm phục sự đóng góp to
lớn của Ngài đối với Quê Hương của Ngài. Không ai có thể lấy
đi cái công của Ngài đối với tất cả những ǵ Ngài đă làm.
Nhưng bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn bản thân của Ngài.
Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy
ra đề nghị để cho Ngài và em Ngài b́nh yên đi ra ngoại quốc
nếu Ngài từ chức. Ngài có nghe thấy nói điều đó không?
Tổng Thống Diệm: Không (ngưng một lúc, Tổng
Thống Diệm nói tiếp) Ngài có số điện thoại của tôi.
Đại Sứ Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể làm được điều
ǵ cho sự an toàn bản thân của Ngài, th́ xin Ngài cứ gọi
tôi.
Tổng Thống Diệm: Tôi đang t́m cách lập lại trật
tự.
Về cuộc nói chuyện giữa Tổng Thống Diệm và Đại Sứ Lodge
chúng ta chỉ cần ghi nhận ba điểm sau đây:
Thứ Nhất: Cái bất lương của Đại Sứ Lodge. Ông đă
dối trá khi nói với Tổng Thống Diệm ‘’Tôi nghĩ rằng tôi
không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu
hỏi của Ngài. Tôi có nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng không rơ
thực hư’’.
Thứ Hai: Cái ngu dấu đầu hở đuôi của Nhà ngoại
giao được coi là thượng tặng của Mỹ. Thật vậy, ở câu trên,
Đại Sứ Lodge vừa nói với Tổng Thống Diệm rằng ông chỉ nghe
thấy tiếng súng nổ, mà không rơ thực hư. Th́ ngay câu dưới
ông lại nói với Tổng Thống Diệm rằng ‘’Tôi được báo cáo rằng
những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho
Ngài và em Ngài đi ra ngoại quốc nếu Ngài từ chức. ’’
Thứ Ba: Cái khí phách của Tổng Thống Diệm. Đến
phút chót và trong cơn nguy khốn, trước mặt ngoại bang, ông
vẫn giữ được thể thống của một người Lănh Đạo Quốc Gia và tư
cách của vị Tổng Thống một Quốc Gia có chủ quyền. Ông không
hạ ḿnh xuống xin ân huệ của ngoại bang. Như Tổng Thống
Marcos của Phi Luật Tân đă hạ ḿnh xuống xin ân huệ của Mỹ,
ngày 25.2.1986.
Hồi 5 giờ 30 chiều 1.11, tức khoảng một giờ sau
cuộc điện đàm giữa Tổng Thống Diệm và Đại Sứ Lodge, Trung
Tướng Dương Văn Minh gọi điện thoại cho ông Diệm và đ̣i ông
Diệm phải đầu hàng, ông Diệm từ chối không muốn nói chuyện
với Tướng Minh.
Hai giờ sau, tức là khoảng 7 giờ 30, Tướng Minh lại gọi cho
ông Diệm, ông Diệm lại từ chối không nói chuyện. Tướng Minh
rất tức giận về thái độ khinh bỉ của ông Diệm.
Khoảng 8 giờ tối, Tướng Minh ra lệnh tấn công vào Dinh Gia
Long. Người được chọn để thi hành cuộc tấn công là Đại Tá
Nguyễn Văn Thiệu, một sĩ quan Công Giáo, lúc đó đang chỉ huy
Sư Đoàn 5 Bộ Binh.
Một điều mà nhóm đảo chánh đă không ngờ đến là khoảng 8 giờ
tối hôm đó, anh em ông Diệm đă lên một chiếc xe màu đen do
ông Cao Xuân Vỹ lái, bí mật ra khỏi Dinh Gia Long và đến tạm
trú tại nhà Hoa kiều Mă Tuyên.
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2.11, Đại Tá Thiệu mở nhiều đợt tấn
công với thiết giáp và pháo vào Dinh Gia Long. Nhưng các
cuộc tấn công ấy đă bị đẩy lui. Những Quân Nhân trung thành
với ông Diệm đă chiến đấu vô cùng dũng cảm, mặc dù thua sút
về quân số, vũ khí, mặc dù không được tiếp tế và ở trong
t́nh thế tuyệt vọng. Cuối cùng, nhóm đảo chánh đă phải cầu
cứu Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ cho phi cơ phóng pháo lên bắn phá
Thành Cộng Ḥa để hỗ trợ quân đảo chánh và áp đảo tinh thần
những binh sĩ pḥng thủ Dinh Gia Long.
Hồi 5 giờ sáng ngày 2.11, binh sĩ trong Dinh Gia Long kéo cờ
trắng đầu hàng, sau khi được lệnh bằng điện thoại của ông
Diệm.
Hồi 6 giờ 45 ông Diệm lại gọi điện thoại. Người nghe điện
thoại là Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Diệm cho Tướng
Khiêm biết ông và ông Nhu hiện đang ẩn náu tại Nhà Thờ Cha
Tam, Chợ Lớn và yêu cầu đem xe đến đưa về Bộ Tổng Tham Mưu
gặp các Tướng lănh. Tướng Dương Văn Minh bèn cử Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân, Đại Tá Nguyễn Văn Quang, Đại Tá Dương Ngọc
Lắm, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa và Đại Úy Nguyễn Văn Nhung
đem xe thiết giáp đi rước những kẻ đầu hàng về Bộ Tổng Tham
Mưu. Đoàn xe rời Bộ Tổng Tham Mưu hồi 7 giờ 30. Tướng Đôn
cho sửa soạn một căn pḥng cho anh em ông Diệm và mời Bác Sĩ
Đinh Xuân Minh đến ‘’săn sóc cho Cụ’’.
Khoảng 8 giờ 30, chiếc xe thiết giáp về đỗ tại sân Tổng Tham
Mưu với hai cái xác chết trên sàn xe. Tổng Thống Diệm đă bị
bắn đàng sau ót, ông Nhu bị bắn ở lưng và bị đâm nhiều nhát
dao trên ngực. Hai tay các nạn nhân đều bị trói quặt ra đàng
sau lưng.
Cuộc đảo chánh 1963 đă kết thúc bằng cái chết của ông Diệm
và em ông.
CHÁNH NGHĨA DÂN TỘC
Người ta đă suy nghĩ và đă viết nhiều về cái
chết đó.
Có người cho là quả báo nhăn tiền, ông Diệm đă
phạm tội ác đối với quốc gia dân tộc, ông Diệm phải đền
tội. Đó là cái nh́n của những kẻ ghét ông Diệm.
Có người lại nghiêm khắc phê phán nhóm Tướng lănh đảo chánh
là mọi rợ, ông Diệm đă ra đầu hàng với sự thỏa thuận của các
Tướng lănh. Ông Diệm phải được đối xử như một kẻ đă đầu
hàng. Nếu nhóm Tướng lănh đảo chánh không coi ông Diệm là
một Tổng Thống đầu hàng, th́ ít nhất cũng nên có cái mă
thượng và phẩm cách của người quân nhân ‘’thắng trận’’ để
đối xử với một hàng binh. Cùng lắm, họ có thể đưa ông Diệm
ra trước Ṭa án để công lư tùy nghi định tội. Tại sao lại
phải giết một cách lén lút và hèn hạ như vậy? Đó là cái nh́n
của số đông, cái số đông gồm những kẻ thương mến ông Diệm,
cũng như những kẻ không thương mến nhưng không thù ghét ông
Diệm.
Nhưng, lịch sử có cái nh́n riêng của nó. Cái
chết của ông Diệm là một sự cần thiết. Nó mang ư nghĩa trọn
vẹn của một phủ định và một xác định. Nó phủ nhận và thẳng
tay xóa bỏ giá trị lịch sử và giá trị dân tộc của biến cố
1963, đồng thời xác định bản chất đích thực của biến cố ấy,
trước dân tộc và lịch sử.
Thật vậy:
Biến cố ngày 1.11.1963 đă từng được tôn vinh là
một cuộc vùng lên của nhân dân miền Nam và của cái gọi là
‘’đại bộ phận dân tộc Việt Nam’’. Vùng lên để lật đổ một bạo
quyền.
Nhân dân vùng lên, v́ anh em ông Diệm là ‘’những
kẻ đại tội làm hư uế chánh nghĩa dân tộc và làm suy nhược
sức mạnh của miền Nam’’.
Nhân dân vùng lên, v́ Ngô Đ́nh Diệm ‘’phong kiến
hơn vua, độc tài như cộng sản’’.
Nhân dân vùng lên, v́ chế độ Ngô Đ́nh Diệm là
‘’một chế độ dùng bạo lực thay chính trị, dùng khủng bố thay
v́ giáo dục’’.
Nhân dân vùng lên, v́ Ngô Đ́nh Diệm ‘’độc tài
độc tôn độc đảng’’ và v́ ‘’suốt chín năm nhà Ngô và đảng Cần
Lao ngự trị tại miền Nam, ngoại trừ một thiểu số thống trị
với tất cả đặc quyền đặc lợi, c̣n th́ nhân dân phải sống khổ
nhục sợ hăi không khác ǵ nhân dân miền Bắc đă sống dưới chế
độ Tần Thủy Hoàng của Hồ chí Minh và đảng cộng sản’’.
Nhân dân vùng lên, v́ ‘’chín năm cai trị là chín
năm bạo trị, 15 triệu đồng bào là gần 15 triệu nạn nhân,
quân đội và phong trào đấu tranh của Phật Giáo chỉ là những
lực lượng có duyên và phương tiện để thi hành bản án mà gần
15 triệu đă tuyên án từ 9 năm qua’’.
Nhân dân vùng lên, v́ bạo quyền Ngô Đ́nh Diệm
‘’đă tiến hành những chính sách tai hại không phải cho một
người mà cho cả một dân tộc’’, đă ‘’dùng bạo lực để hủy diệt
một tôn giáo chỉ biết có t́nh thương’’ và ‘’đă dùng gian trá
để đem nửa phần đất c̣n lại của dân tộc bán đứng cho cộng
sản miền Bắc’’...
Trên đây là những nét chính, tổng quát hóa tội ác của họ Ngô
và được liệt kê trong quyển Việt Nam máu lửa quê hương tôi
(trang 279, 232, 303, 305, 317, 330, 791, 793...) V́ những
tội ác ấy, nhân dân đă phải vùng lên.
Đó không phải là luận điệu của riêng ông Đỗ Mậu, mà c̣n là
luận điệu của cả cái tập đoàn đứng sau lưng ông Đỗ Mậu, cũng
là cái tập đoàn từng mệnh danh là ‘’đại bộ phận của dân
tộc’’.
Trong những tháng ngày sau đảo chánh, luận điệu trên đă trở
thành chân lư của những kẻ làm đảo chánh, cũng như của những
kẻ hoan hô đảo chánh. Các Tướng Tôn Thất Đính, Dương Văn
Minh, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, Lê Văn Kim, Mai Hữu
Xuân, Trần Văn Đôn, Đỗ Mậu v.v... đă ‘’anh dũng’’ đưa ra
những lời tuyên bố lịch sử: ‘’Quân Đội lănh sứ mạng của nhân
dân, đứng lên lật đổ Ngô Đ́nh Diệm, v́ chế độ Ngô Đ́nh Diệm
độc tài phản dân hại nước và v́ anh em họ Ngô bắt tay với Hà
Nội để dâng hiến miền Nam cho cộng sản’’.
Bản tuyên cáo chính thức của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
đọc ngày 2.11 cũng đă mở đầu bằng câu: ‘’cuộc cách mạng của
toàn dân, thành công trong vinh quang, đă chấm dứt một chế
độ độc tài, tàn bạo, bất lực... Đứng trước sự thối nát của
Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm, Quân Đội đă nhận thức sự cần
thiết phải giải thoát đồng bào để tiến tới một chế độ dân
chủ thực sự, nên Quân Đội, dưới sự lănh đạo của Hội Đồng
Quân Nhân cách mạng, đă cương quyết vùng lên... ’’
Bản tuyên cáo của chính phủ lâm thời Việt Nam Cộng Ḥa cũng
cùng một luận điệu đó. Và bản hiến ước tạm thời của chính
quyền ‘’cách mạng’’ cũng đă mở đầu bằng lời ca tụng ‘’cuộc
cách mạng chống độc tài đă hoàn toàn thành công với truyền
thống hy sinh phục vụ tổ quốc của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa
để dành lại cho dân tộc nền dân chủ tự do... ’’
Nói tóm lại, Ngô Đ́nh Diệm là một tên trọng tội, một tên đại
gian ác, một tên phản dân hại nước, một kẻ toan bán đứng
miền Nam cho cộng sản...Quyền lợi quốc gia Việt Nam và sự
sống c̣n của dân tộc Việt Nam đ̣i hỏi rằng tên đại gian ác
ấy phải bị lật đổ và đền tội trước quốc dân.
Đó là chính nghĩa được khoác lên vai biến cố ngày 1.11.1963.
Câu hỏi được đặt ra: Đă có chính nghĩa dân tộc sáng ngời như
vậy tại sao ‘’cách mạng’’ 1963 lại phải lén lút và hèn hạ
cho người ám sát ông Diệm trên chiếc xe thiết giáp Ngô Đ́nh
Diệm chuyển từ Nhà Thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu? Tại sao
không đường đường chính chính đem tên tội đồ Ngô Đ́nh Diệm
ra trước ṭa, dù là ṭa án nhân dân, để xét xử và sau khi
ṭa tuyên án, hành quyết tên tội đồ trước khi mặt trời mọc?
Tại sao lại phải hành động lén lút và đê tiện như những kẻ
đâm thuê chém mướn?
Chánh nghĩa dân tộc của cách mạng để đâu? Liêm sỉ cách mạng
để đâu? Khí phách của các Tướng lănh để đâu?
LIÊM SỈ CÁCH MẠNG
Hồi 8 giờ 30 ngày 2.11.1963 chiếc xe thiết giáp
từ Nhà Thờ cha Tam trở về đỗ tại sân Bộ Tổng Tham Mưu.
Khi nh́n thấy hai xác chết bê bết máu của anh em ông Diệm,
các Tướng đảo chánh đă hoảng hốt cực độ. Trong cơn hốt hoảng
đó, họ đă tuyên bố với báo chí rằng anh em ông Diệm đă tự
sát. Nhưng ngay sau đó, Lucien Conein nhắc cho họ biết rằng
anh em ông Diệm là người Công Giáo, v́ vậy lời giải thích
‘’anh em ông Diệm tự sát’’sẽ chẳng được ai tin và chỉ càng
gieo thêm nghi ngờ. Các Tướng lănh bèn đổi giọng và tuyên bố
với báo chí rằng ‘’đó là một cuộc tự sát v́ rủi ro’’. Luận
điệu này đă trở thành chính thức của Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng và của chính quyền cách mạng.
Hiển nhiên, các Tướng đảo chánh đă nói dối. Nhưng vấn đề đặt
ra: Tại sao họ phải nói dối? Tại sao họ cúi mặt không dám
nh́n sự thật và phải che dấu sự thật?
Tướng Dương Văn Minh là kẻ đă ra lệnh cho đàn em giết ông
Diệm để trừ hậu họa. Nhưng sau khi ông Diệm chết, Tướng
Minh không dám nh́n nhận sự thật. Tướng Minh không phải là
kẻ chiến bại, mà là kẻ chiến thắng ông Diệm, đồng thời là
Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và người hùng của cách
mạng. Tại sao Tướng Minh lại phải nói dối? Tại sao lại phải
hèn hạ?
Chưa hết, Tướng Dương Văn Minh chẳng những không dám nh́n
nhận hành động của ḿnh, mà c̣n t́m cách chối tội và đổ lỗi
cho người khác.
Trong cuốn Les Guerres du Vietnam và Our Endless Wars, Trung
Tướng Trần Văn Đôn đă viết như sau: ‘’Big Minh không bao giờ
nhận trách nhiệm về vụ cố sát anh em ông Diệm. Mỗi khi vấn
đề được nêu ra, ông ta lại t́m cách lôi kéo tôi vào. Trong
thời gian bị lưu đày tại Vọng Các, Big Minh đă thanh minh
với một Linh Mục Công Giáo rằng ông không có trách nhiệm ǵ
về vụ giết ông Diệm, Big Minh c̣n khuyên Linh Mục, nếu muốn
biết rơ câu chuyện, th́ nên đến hỏi tôi’’ (Our Endless Wars,
trang 113).
Tướng Dương Văn Minh lănh tụ cuộc vùng dậy của nhân dân Việt
Nam và của cái gọi là đại bộ phận dân tộc Việt Nam, đă phạm
hai cái hèn.
Ông Diệm đă ra đầu hàng, đă được các Tướng lănh
chấp nhận cho đầu hàng và đă được các Tướng lănh cử người
đưa xe đến chở về đại bản doanh của cuộc đảo chánh. Nhưng
Tướng Minh đă lén lút cho bộ hạ giết anh em ông Diệm trên xe
thiết giáp. Đó là cái hèn thứ nhất.
Sau khi đă cho người ám sát ông Diệm, Tướng Minh đă không
dám nh́n nhận hành động của ḿnh. Đó là cái hèn thứ hai.
Cái hèn của Tướng Minh cũng là cái hèn của nhóm Tướng lănh
ngày 1.11.1963, những kẻ không có chánh nghĩa hoặc biết rằng
ḿnh không có chánh nghĩa, hoặc nghi ngờ về chánh nghĩa của
ḿnh. Bởi v́: Nếu họ có chánh nghĩa, nếu quả thật họ đă v́
dân v́ nước tự động đứng lên để diệt trừ một đại họa cho dân
tộc, nếu quả thật họ đă sử dụng Quân Đội và cái được gọi là
‘’đại bộ phận của dân tộc’’ đă vùng lên lật đổ một bạo quyền
để cứu lấy tổ quốc Việt Nam, th́ việc giết ông Diệm phải
được coi là một hành vi chánh đáng hợp t́nh hợp lư hợp ḷng
dân và hợp lịch sử. Và những kẻ đă ra tay giết ông Diệm có
quyền tự hào về hành vi đó.
C̣n ǵ chánh đáng hơn là thay mặt nhân dân diệt trừ một tên
phản quốc và diệt trừ mọi mầm mống phản loạn sau này? Diệt
trừ bằng thủ đoạn giết lén tuy không đường đường chính chính
như diệt trừ bằng một bản án tử h́nh của ṭa án, nhưng xét
cho kỹ, cũng không có ǵ đáng hổ thẹn. Cách mạng nào mà
không đổ máu? Cách mạng nào mà không giết? Mà giết th́ đă
sao? Nhất là giết một tên ‘’đại gian ác, tội đồ của dân
tộc’’.
Thế th́ tại sao lại phải nói dối, tại sao phải chối tội và
t́m cách đổ tội cho người khác?
Câu trả lời là: Những kẻ đó không có chánh nghĩa. V́ vậy
phải hèn hạ, phải giết lén, phải nói dối, phải chối tội và
đổ tội lẫn cho nhau.
KHÍ PHÁCH TƯỚNG LĂNH
Tại sao các Tướng lănh không có được cái khí
phách tối thiểu và tinh thần liên đới trách nhiệm để tuyên
bố rằng: Ông Diệm có tội với dân tộc, cách mạng đă giết ông
để trừ hậu họa. Nếu không được cái khí phách tối thiểu đó,
th́ ít nhất cũng phải có được cái liêm sỉ tối thiểu để nói
sự thật với quốc dân rằng: Ông Diệm đă bị giết ngoài ư muốn
và ngoài dự liệu của các Tướng đảo chánh.
Tại sao lại lừa bịp quốc dân và sống sượng nói dối rằng
người chết đă tự sát? Là v́: Họ không có chánh nghĩa, không
kết hợp và hành động v́ chính nghĩa, v́ vậy đă phải nói
dối, nói quanh, chối tội và đổ lỗi lẫn cho nhau. Thật là
mỉa mai, người sống sợ người chết và kẻ thắng trận sợ kẻ bại
trận. Đúng là một lũ đầy tớ giết chủ như Trung Tướng Nguyễn
Chánh Thi đă nhận định một cách sâu sắc. Và giết chủ rồi, lũ
đầy tớ nh́n nhau lo sợ.
Vẫn chưa hết, trong cuốn Our Endless War và Les Guerres du
Vietnam, Tướng Trần Văn Đôn c̣n viết rằng: ‘’trưa mùng 2.11,
xác hai anh em ông Diệm được di chuyển về Bệnh Viện Saint
Paul. Sáng hôm sau, ông Minh và tôi đến viếng thăm Ông Bà
Trần Trung Dung tại nhà. Bà Dung là cháu ruột ông Diệm. Ông
Minh nói với Bà Dung: Chúng tôi đến đây không phải chia
buồn. Chúng tôi hy vọng Bà hiểu cho rằng cái chết của ông
Diệm và ông Nhu đă xảy ra như là một sự ngẫu nhiên đáng tiếc
lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành. Chúng tôi rất buồn,
nhưng bây giờ sự việc đă xảy ra, chúng tôi không thể làm ǵ
được nữa. Chúng tôi mong Bà thu xếp lo việc chôn cất’’ (Our
Endless War, trang 111).
Một lần nữa, Tướng Dương Văn Minh lại nói dối, lại chối tội.
Lúc này ông không c̣n là Trung Tướng Dương Văn Minh nữa, mà
là Đại Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng, Quốc Trưởng của nước Việt Nam và ‘’người hùng’’
của dân tộc. Ông không chối tội trước quốc dân, trước báo
chí, hoặc trước đám đông mà chối tội trước người cháu gái
của ông Diệm.
Tướng Minh nói rằng cái chết của anh em ông Diệm đă xảy ra
như một sự t́nh cờ ngẫu nhiên. Sự dối trá thật là trắng
trợn. Cái chết của anh em ông Diệm đă không xảy ra như một
sự t́nh cờ, mà đă xảy ra theo kế hoạch của Tướng Minh và với
mệnh lệnh của Tướng Minh.
Tướng Minh c̣n nói rằng: ‘’cái chết ấy đă xảy ra trong lúc
cuộc đảo chánh đang tiến hành’’. Tướng Minh lại nói dối. Anh
em ông Diệm đă bị giết trên chiếc xe thiết giáp do chính các
Tướng lănh đảo chánh gửi đến để đón ông về Bộ Tổng Tham Mưu.
Lúc đó, cuộc đảo chánh đă chấm dứt. Chấm dứt từ lâu. Lúc đó
các Tướng đảo chánh đă bắt đầu ăn mừng ‘’cách mạng thành
công’’ và bắt đầu chia tiền.
THẰNG HÈN VÀ THẰNG NÓI LÁO
Năm 1971 là năm bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ hai,
Đại Tướng Dương Văn Minh nạp đơn ứng cử. Vấn đề giết ông
Diệm lại được đặt ra. Một quyển sách mang tên ‘’Làm Thế Nào
Để Giết Một Tổng Thống’’ xuất hiện. Báo chí lại khơi đống
tro tàn của lịch sử và những người trong cuộc đă có dịp lên
tiếng về cái chết của ông Diệm.
Ứng cử viên Tổng Thống Dương Văn Minh, trong nhiều cuộc
phỏng vấn, tuyên bố rằng ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về
cái chết của anh em ông Diệm trong cuộc đảo chánh 1963. Ứng
cử viên Dương Văn Minh nói: ‘’Thiệu, lúc đó một Đại Tá tham
gia cuộc đảo chánh, đă không đem quân vào Dinh Tổng Thống
đúng thời điểm để ngăn chặn Ngô Đ́nh Diệm trốn thoát’’. Theo
ông Minh, nếu anh em ông Diệm bị bắt giữ ngay trong Dinh Gia
Long, họ đă không bị giết. (Tài liệu ngày 20.7.71 về Việt
Nam tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ ghi như sau: ‘’Minh said Thieu,
then a colonel who had participated in the coup, had failed
to bring his trops to the presidential palace in time to
prevent Diem trom escaping. Minh held that if Diem and his
brother had been taken into custody at the palace they would
not have been murdered’’. Ứng cử viên đương kim Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu, khi thấy Tướng Minh liên can ḿnh vào vụ
ám sát ông Diệm, đă chửi Tướng Minh là thằng hèn và thằng
nói láo.
Ông Thiệu nói: Lúc đó ông được Tướng Trần Thiện Khiêm, bây
giờ là Thủ Tướng cho biết Dương Văn Minh đă nói với ông ta
(tức Trần Thiện Khiêm) rằng: Đảo chánh phiền phức và khó
khăn quá, chi bằng áp dụng phương thức dễ nhất, là ám sát
Diệm. (tài liệu ngày 20.7. 1971 ghi như sau: Thieu called
Minh a coward and a liar when linking him to the Diem
assassination...Thieu said at the time he had been informed
by Gen. Tran Thien Khiem, now premier, that Minh had told
him the coup was so complicated and difficult that the
easiest way is to assassinate Diem).
Hồ sơ lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 20 và
21.7.1971 có ghi rơ những lời nói trên của Đại Tướng Dương
Văn Minh, kèm theo lời của đương kim Tổng Thống Việt Nam
Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu gọi cựu Quốc Trưởng Việt Nam Dương
Văn Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Cách Mạng, là ‘’thằng hèn và
thằng nói láo’’.
Tướng Nguyễn Văn Thiệu chửi Tướng Dương Văn Minh là thằng
hèn và thằng nói láo. Lời chửi sâu sắc và xác đáng này cũng
có thể dùng để nói về toàn thể Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
1963, trong đó có Tướng Thiệu, trong vụ ám sát ông Diệm và
giải thích cái chết của ông Diệm.
Quả thật ông Diệm đă được phục thù trước lịch sử. Bởi chính
cái gian dối hèn hạ của những kẻ đă lật đổ và giết ông. Kẻ
thắng trận phải run phải sợ cúi mặt trước kẻ bại trận. Và đổ
tội lẫn cho nhau, nguyền rủa lẫn nhau.
Ông Diệm đă được phục thù trước lịch sử. Chính cái gian dối
hèn hạ của những kẻ giết ông đă phơi bày thực chất của nhóm
người làm đảo chánh và phơi bày cái ư nghĩa đích thực của
biến cố 1963. Một nhóm người không có chính nghĩa. Một cuộc
tạo phản do ngoại bang chủ xướng và để phục vụ mưu đồ của
ngoại bang. Một ‘’lũ đầy tớ giết chủ’’ như lời nhận định của
Tướng Nguyễn Chánh Thi một vụ ‘’giết mướn’’ như lời phê phán
của Nhà Văn Quân Đội Nguyễn Đạt Thịnh.
BA TRIỆU ĐỒNG VIỆT NAM CỦA CIA
Như đă tŕnh bày ở Chương 6 về cuộc đảo chánh, ngày
30.10.1963 tức là hai ngày trước khi cuộc đảo chánh bùng nổ,
Đại Sứ Lodge đă gửi về Ṭa Bạch Ốc một công điện gồm 13
điểm. Điểm 11, Đại Sứ Lodge đề cập đến lời yêu cầu của các
Tướng đảo chánh muốn có một số tiền để ‘’mua chuộc phe chống
đối’’.
Theo các tài liệu c̣n lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ, th́
hôm đảo chánh Lucien Conein đă đến Bộ Tổng Tham Mưu trao một
gói bạc ba triệu đồng Việt Nam cho Tướng Trần Văn Đôn, gọi
là để ‘’mua chuộc phe chống đối nếu cần’’.
Trong quyển Việt Nam máu lửa quê hương tôi, ông Đỗ Mậu cũng
viết: ‘’Conein bèn mặc quân phục mang theo một khẩu 375
Magnum và một gói tiền độ 3 triệu đồng bạc rồi đến Bộ Tổng
Tham Mưu’’. Nhưng ông Đỗ Mậu không biết rơ mục đích và số
phận của số tiền đó. V́ vậy, ông viết tiếp: ‘’cũng cần nói
rơ rằng số tiền ba triệu đồng Việt Nam do Conein mang đến đă
không được một Tướng lănh nào hay biết trừ Tướng Đôn. Tướng
Đôn không bao giờ tŕnh bày cho Hội Đồng Tướng lănh biết có
nhận số tiền đó của Conein hay không và nếu có th́ đă sử
dụng vào việc ǵ’’ (trang 816).
Trong quyển Việt Nam nhân chứng, Tướng Đôn nh́n nhận có được
Conein trao cho số bạc ba triệu và ông đă ‘’tặng cho các
bạn’’, chứ không bỏ vào túi. Ông viết: ‘’Đúng 1 giờ 30 trưa,
ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để
liên lạc với Đại Sứ Mỹ và một bao tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị
mà không đ̣i làm biên bản nhận đầy đủ. Đến năm 1971, tôi ra
lệnh cho Thiếu Tá Đặng Văn Hoa t́m lục lại các biên nhận về
việc ghi số tiền ba triệu bạc của Conein, th́ Thiếu Tá Đặng
Văn Hoa làm tờ tŕnh và một số các biên nhận. Tôi xin đính
kèm theo đây để chứng minh. Tôi không tổ chức đảo chánh để
kiếm số bạc như vậy. V́ lúc đó mấy triệu bạc Việt Nam đối
với tôi không phải là số tiền tôi khao khát’’ (trang 211).
Viết như vậy, Tướng Đôn đă muốn thanh minh cho sự trong sạch
của ông. Nhưng ông đă làm một công việc thừa thăi. Bởi lẽ
không ai kết tội Tướng Đôn nhận tiền của Mỹ để bỏ vào túi
riêng. Người ta kết tội các Tướng đảo chánh đă làm nhơ nhuốc
cuộc đảo chánh và làm nhơ nhuốc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Người ta kết tội các Tướng lănh đă xử sự như những tay sai
của Mỹ, trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.
Chúng ta hăy đọc kỹ phiếu đệ tŕnh của Thiếu Tá Hoa, được
Tướng Đôn công bố và đính kèm trong phần phụ lục quyển Việt
Nam nhân chứng của ông, để có một ư niệm.
PHIẾU ĐỆ TR̀NH
Ngày 14 tháng 8 năm 1971
Trích yếu: Về số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn
để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1.11.1963.
Kính thưa Trung Tướng,
Số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn th́ đă được
Trung Tướng chỉ thị cấp cho những người sau đây:
Ngày 1.11.1963, Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng nhận 500.000
đồng do Đại Tá Đặng Văn Quang làm biên nhận.
Ngày 1.11.1963, Trung Tướng Tôn Thất Đính Tư Lệnh Quân Đoàn
III nhận 500.000 đồng do Đại Úy Phạm Viết Hùng nhận.
Ngày 10.11.1963, Trung Tướng Tôn Thất Đính có nhận thêm
100.000 đồng.
Ngày 4.11.1963 tặng Sư Đoàn 5 Bộ Binh 50.000 đồng do Đại Tá
Nguyễn Văn Thiệu nhận.
Ngày 5.11.1963 tặng Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Đại Tá
Lê Nguyên Khang 100.000 đồng do Đại Úy Quế nhận.
Ngày 5.11.1963 Đại Tá Trần Ngọc Huyến Thị Trưởng Đà Lạt nhận
100.000 đồng.
Ngày 9.11.1963 Thiếu Tá Phan Ḥa Hiệp Trường Thiết Giáp nhận
100.000 đồng.
Ngày 19.11.1963 Đại Úy Đào Ngọc Diệp Câu Lạc Bộ Bộ Tổng Tham
Mưu nhận 100.000 đồng.
Tổng cộng: 1.550.000 đồng
Tất cả số tiền 1.550.000 đồng trên đây đều có biên nhận
(đính kèm). Như vậy c̣n lại 1.450.000 đồng Trung Tướng cũng
tặng cho anh em nhưng không có chữ kư biên nhận. Nếu tôi nhớ
không lầm th́ trung tướng đă tặng cho các ông sau đây:
Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Lê Văn Kim, Trung
Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng
Trần Ngọc Tám, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Đỗ Cao
Trí.
Ngày 14 tháng 8 năm 1971.
Kư tên
Đọc phiếu tŕnh trên đây, người ta thấy rơ số tiền ba triệu
đă được Tướng Đôn chia ra làm hai. Một nửa ‘’tặng’’ cho các
đơn vị đảo chánh gọi là tiền ủy lạo. Một nửa ‘’tặng’’ cho
các bạn.
Trong những người nhận tiền ‘’ủy lạo’’ Tướng Trần Thiện
Khiêm, Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, nhận
500.000 đồng. Tướng Tôn Thất Đính Tư Lệnh Quân Đoàn III kiêm
Tổng Trấn Sài G̣n-Gia Định nhận 600.000 đồng. Số c̣n lại
chia cho Sư Đoàn 5, Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Trường
Thiết Giáp, Câu Lạc Bộ Bộ Tổng Tham Mưu và Đại Tá Thị Trưởng
Đà Lạt Trần Ngọc Huyến.
Trong những người được ‘’tặng’’tiền, có các Tướng Dương Văn
Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Trần Văn
Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí (riêng Tướng Dương Văn Minh
c̣n được hưởng số bạc 6 ngàn mỹ kim lấy được trong chiếc cặp
của Tổng Thống Diệm).
Nói tóm lại: Tất cả Tướng Tá có quân hoặc có công tham dự
vào cuộc đảo chánh, đều được ‘’ủy lạo’’ hoặc ‘’tặng tiền’’.
Nói các khác: Cuộc đảo chánh năm 1963 đă được ủy lạo và
tưởng thưởng (tặng) và đây là điều quan trọng: Cuộc đảo
chánh năm 1963 đă được ủy lạo và tưởng thưởng bằng tiền của
CIA do đích thân CIA đưa đến.
Vấn đề đặt ra: Các Tướng đảo chánh đă xin tiền hay chính
người Mỹ đă tự động đem đến?
Theo như công điện ngày 30.10.1963 của Đại Sứ Lodge gửi cho
Cố Vấn An Ninh Ṭa Bạch Ốc th́ các Tướng đảo chánh đă ‘’yêu
cầu’’ được có một số tiền để dùng vào việc mua chuộc phe
chống đối, nếu cần. Điểm 11 của công điện viết như sau: ‘’As
to requests from the Generals, they may well have need of
funds at the last movnent with which to buy off potential
opposition’’. Tạm hiểu như sau: Theo lời yêu cầu của các
Tướng lănh, họ có thể cần một số tiền vào phút chót để mua
chuộc (những kẻ) chống đối có thể xuất hiện. Tức là: Các
Tướng lănh đảo chánh đă xin tiền và xin tiền với danh nghĩa
để mua chuộc phe chống đối (các sĩ quan c̣n trung thành với
ông Diệm).
Theo những cuốn hồi kư của Tướng Đôn (Our Endless War, Les
Guerres du Vietnam và Việt Nam nhân chứng) th́ cuộc đảo
chánh năm 1963 là một ‘’vấn đề hoàn toàn nội bộ của Việt
Nam’’. Tướng Đôn đă vô t́nh hay hữu ư không biết đến nội
dung bức công điện của Đại Sứ Lodge về vấn đề các Tướng đảo
chánh đă xin tiền. Ông mô tả Lucien Conein như một bà phước
tự động đem tiền đến cho các Tướng sử dụng. Trong cả hai
trường hợp (các Tướng xin tiền hoặc Conein tự động đem tiền
đến), việc cung cấp số bạc ba triệu đă được chính quyền Mỹ
sắp đặt và quyết định trước. Rất có thể các Tướng đảo chánh
đă xin, cũng rất có thể các Tướng lănh đă không xin. Nhưng
trong cả hai trường hợp, họ đă ngửa tay ra nhận.
Hành động ngửa tay nhận tiền của các Tướng đảo chánh đă làm
nhơ nhuốc cuộc đảo chánh. Họ đă làm nhục chính họ, điều đó
không quan hệ. Họ đă sỉ nhục Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Phiếu đệ tŕnh phát tiền do Tướng Đôn công bố có nhiều điều
làm cho người ta phải thắc mắc.
1.- Trích yếu của phiếu tŕnh có ghi: ‘’về số bạc ba triệu
bạc của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày
cách mạng 1.11.1963’’.
Trước hết, số bạc ba triệu đồng Việt Nam đă do chính quyền
Mỹ cung cấp, chứ không phải tiền của ông Conein cho mượn.
Điều này không cần phải chứng minh, nó đă đi vào lănh vực
hiểu biết công cộng, cũng như đă được các tài liệu của Mỹ
xác nhận. Thâm tâm các Tướng Đôn. Minh, Đính, Kim, Khiêm
cũng biết điều đó. Vậy th́, tại sao trong phiếu tŕnh lại
ghi là tiền của ông Conein cho mượn? Và nếu là tiền của ông
Conein cho mượn th́ các Tướng đảo chánh đă trả lại cho ông
Conein chưa? Nếu trả rồi, chắc chắn Tướng Đôn sẽ thấy có bổn
phận phải xuất tŕnh bằng chứng, cũng như ông đă thấy có bổn
phận phải xuất tŕnh bằng chứng về sự chi tiêu số bạc.
Thứ đến, phiếu tŕnh ghi rằng số tiền ấy dùng để thù lao các
đơn vị trong ngày cách mạng 1.11.1963. Thù lao là trả công.
Tại sao lại ghi như vậy? Người ta lại nghĩ rằng Tướng Đôn đă
không đọc kỹ phiếu tŕnh, trước khi công bố.
Những chi tiết trên không nên có trong phiếu tŕnh. Dư luận
đă từng cười ra nước mắt, nay một lần nữa lại phải cười ra
nước mắt và thương hại cho cái gọi là cuộc cách mạng 1963.
2.- Phiếu tŕnh của Thiếu Tá Hoa đề ngày 14.8.1971, tức là
gần 8 năm sau cuộc đảo chánh. Trong quyển Việt Nam nhân
chứng, Tướng Đôn cũng đă viết rơ: Năm 1963, ông tặng tiền mà
không có làm biên nhận, đến năm 1971, ông mới ra lệnh cho
Thiếu Tá Hoa t́m lại các biên nhận và lập phiếu tŕnh.
Câu hỏi được đặt ra: Lư do nào đă thúc đẩy Tướng Đôn năm
1971 phải cho lập phiếu tŕnh về số bạc đă chi tiêu năm
1963?
Như chúng ta đă biết: Năm 1971 là năm bầu cử Tổng Thống
nhiệm kỳ 2. Năm đó Tướng Dương Văn Minh ra ứng cử, vấn đề
ông Diệm và cuộc đảo chánh 1963 lại được đặt ra trước công
luận và như trên đă tŕnh bày, ngày 20 và 21 tháng 7 năm đó,
hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh chửi lộn nhau về
cái chết của ông Diệm.
Năm 1971 cũng là năm bầu cử Hạ Nghị Viện khóa 2. Ngày bỏ
phiếu là 30.8.1971. Tướng Trần Văn Đôn ra tranh cử Dân Biểu
tại đơn vị Quảng Ngăi và ông đắc cử. Những sự việc nói trên
có thể trả lời cho câu hỏi: Lư do nào đă thúc đẩy Tướng Đôn
năm 1971 phải cho lập phiếu tŕnh về số bạc ba triệu đă chi
tiêu năm 1963.
Tôi muốn nói với các Tướng đảo chánh và những kẻ vẫn lớn
tiếng ca ngợi biến cố 1963 và cuộc vùng dậy của đại bộ phận
dân tộc rằng: Hăy có can đảm nh́n vào sự thật. Biến cố ngày
1.11.1963 chỉ là một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ mưu và
nhằm phục vụ quyền lợi của ngoại bang. Cuộc tạo phản ấy đă
được thi hành bởi những tay sai bản xứ. Những kẻ này đă ngửa
tay nhận tiền của ngoại bang và đảo chánh xong rồi, họ đă
chia nhau số tiền ấy, mặc dù chẳng được bao nhiêu.
Thật là nhục! Nhục cho những Tướng lănh đảo chánh. Nhục cho
cuộc đảo chánh và nhục lây cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
(Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 86-95)
TÀI LIỆU LỊCH SỬ
CUỘC ĐẢO CHÁNH ÁM SÁT TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM NĂM 63
‘’... Chế độ này c̣n nhiều khuyết điểm, cũng c̣n hơn nhiều
chế độ khác. Người ta chê là độc tài, nhưng chỉ ngại c̣n
những thứ độc tài khủng khiếp hơn... Tôi tiến th́ theo tôi,
tôi lùi th́ bắn tôi. Tôi chết th́ trả thù cho tôi’’
(Lời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm trong bài diễn văn Quốc Khánh
cuối cùng 26.10.1963. Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên,
trang 103).
Ngày 1.11.1963, một cuộc đảo chánh bằng quân sự đă bùng nổ
tại Sài G̣n. Đệ Nhất Cộng Ḥa bị lật đổ và Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm bị giết.
Nhiều người gọi biến cố này là một cuộc tạo phản và gọi các
Tướng đảo chánh là bọn phản loạn. Theo thời gian, những từ
ngữ tạo phản, phản loạn ăn sâu vào tâm tư người dân và bây
giờ đă đi vào tâm tư lịch sử.
Thật ra, cuộc đảo chánh nào mà không phải là một cuộc tạo
phản? Bởi lẽ, cuộc đảo chánh nào mà chẳng bất hợp pháp, khi
nó dùng vũ lực để xóa bỏ một chính quyền? V́ vậy, người ta
không căn cứ trên khía cạnh hợp pháp để phê phán một cuộc
đảo chánh, mà căn cứ trên một khía cạnh cao hơn, tức là khía
cạnh chánh đáng, để phê phán một cuộc đảo chánh.
Như chúng ta đă biết, chủ quyền quốc gia không phải là của
riêng một cá nhân hoặc mỗi ḍng họ, mà là của nhân dân. V́
vậy, khi người lănh đạo tỏ ra bất xứng hoặc thiếu tầm vóc,
nhân dân có quyền và có bổn phận phải thay đổi người lănh
đạo. Thay đổi bằng lá phiếu. Trong những trường hợp đặc
biệt, thay đổi bằng súng đạn, tức là đảo chánh. Đây cũng là
một h́nh thức sử dụng chủ quyền quốc gia của người dân. Lịch
sử không bao giờ tiên thiên lên án nó và nó được suy đoán là
chánh đáng, nghĩa là: ‘’hợp t́nh dân tộc và hợp hướng đi của
lịch sử’’.
Nhưng cuộc đảo chánh chỉ được coi là chánh đáng, (hợp t́nh
tự dân tộc, hợp hướng đi của lịch sử), nếu nó đă do nhân dân
trong nước chủ xướng, phát động và nhằm phục vụ quyền lợi
của quốc gia dân tộc. Trái lại, nó sẽ không được coi là
chánh đáng, nếu nó đă do ngoại bang chủ xướng, phát động và
nhằm phục vụ mưu đồ của ngoại bang. Đó chính là trường hợp
của biến cố 1963. Biến cố này đă do ngoại bang chủ xướng và
phát động. Nghiêm trọng hơn, biến cố ấy đă đem lại đổ vỡ cho
Quốc Gia miền Nam. Chúng ta sẽ không duyệt lại những ǵ đă
xảy ra sau cuộc đảo chánh 1963. Một miền Nam hỗn loạn, một
Quốc Gia mất chủ quyền, mất kỷ cương. Ba cuộc binh biến
trong thời gian hai năm, binh biến ngày 31.1.1964, binh biến
13.9.1964 và binh biến ngày 19.2.1965. Sáu chính phủ nối
tiếp nhau trong thời gian hai năm, chính phủ Nguyễn Ngọc
Thơ, chính phủ Nguyễn Khánh, chính phủ Nguyễn Xuân Oánh,
chính phủ Trần Văn Hương, chính phủ Phan Huy Quát và chính
phủ Nguyễn Cao Kỳ, những Tướng Tá bất tài và thiếu phẩm
cách, coi quốc gia như một chiến lợi phẩm. Những Nguyễn
Khánh hết cạo râu rồi cạo lông, thề thốt múa may quay cuồng,
làm nhục quốc thể. Những cuộc xuống đường bất tận, người
xuống đường, bàn thờ xuống đường. Những quân nhân nổi loạn,
Quân Đội gh́m súng trước Quân Đội. Trong cảnh hỗn mang đó,
người lính Mỹ đổ vào miền Nam càng ngày càng nhiều. Tệ đoan
xă hội, đĩ điếm, cần sa, bạch phiến, bước nhịp theo những
gót chân ngoại bang trên một mảnh đất không chủ quyền...
Chúng ta không duyệt xét lại những ǵ đă xảy ra sau cuộc đảo
chánh. Chúng ta chỉ duyệt lại những ǵ đă xảy ra trước cuộc
đảo chánh, để chứng minh một điểm sau đây, cuộc đảo chánh
ngày 1.11.1963 đă do ngoại bang chủ mưu và chủ động, các
Tướng lănh Việt Nam chỉ là những tay sai bản xứ.
LƯ CỦA KẺ MẠNH
Ông Diệm đă phạm một tội lớn đối với Mỹ, ông đă
dám xử sự như Tổng Thống một Quốc Gia có chủ quyền. Những sự
việc sau đây đă chứng minh điều đó.
Sự việc thứ nhất: Vụ Mỹ mang quân chiến đấu vào Việt Nam.
Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng, ông Diệm đă chống
lại việc Mỹ đem quân chiến đấu vào miền Nam. Sự thật không
phải vậy.
Cuối năm 1961, những thắng lợi của Hà Nội và Patthet Lào tại
Ai Lao đă làm cho t́nh h́nh Đông Nam Á trở nên khẩn trương
và trực tiếp đe dọa miền Nam. Ông Diệm rất muốn sự có mặt
của quân đội chiến đấu Mỹ tại miền Nam, đặc biệt là tại biên
giới Ai Lao và vùng phi quân sự Bến Hải. Sự có mặt ấy sẽ
mang giá trị tượng trưng nói lên quyết tâm của Mỹ trong việc
bảo vệ miền Nam như người Mỹ đă từng cam kết. Ông Diệm mong
muốn chính quyền Kennedy gửi quân chiến đấu sang miền Nam để
giúp nhân dân miền Nam chống lại hiểm họa cộng sản ngày càng
gia tăng. Nhưng ông Diệm e ngại một điều, người Mỹ có thể bỏ
rơi miền Nam bất cứ lúc nào. Ông cũng không muốn người Mỹ đổ
quân vào miền Nam như vào một miền đất bị chiếm đóng và mất
chủ quyền. Ông muốn có một sự cam kết chính thức trên giấy
tờ của người Mỹ. Ông muốn người Mỹ kư một hiệp ước pḥng thủ
song phương với Việt Nam như Mỹ đă từng kư với Đại Hàn.
Chính sự đ̣i hỏi này đă là một trong những mầm xung đột giữa
chính quyền Kennedy và chính quyền ông Diệm.
Quyển ‘’Kennedy in Vietnam’’, một trong những tài liệu được
coi là chính xác, vô tư và súc tích nhất, đă kể lại cuộc đàm
đạo giữa Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và phái đoàn Taylor của
Tổng Thống Kennedy như sau:
‘’Diệm cho phái đoàn biết rằng nhân dân Việt Nam
rất lo ngại về việc không có sự cam kết chính thức của Hoa
Kỳ đối với miền Nam. Nhân dân Việt Nam e ngại rằng Hoa Kỳ sẽ
bỏ rơi họ. Trong suốt cuộc đàm đạo, không một lần nào ông
Diệm trực tiếp yêu cầu Mỹ gửi quân chiến đấu sang Việt Nam.
Theo Tướng Taylor, ông Diệm tránh né vấn đề, cho đến khi
buổi diện kiến gần kết thúc ông ta mới đi vào vấn đề. Phái
đoàn Mỹ rời pḥng họp với cảm tưởng rằng vị Tổng Thống của
miền Nam Việt Nam muốn có một hiệp ước pḥng thủ với Hoa Kỳ
và muốn có những sửa soạn cho việc đổ quân vào miền Nam, nếu
cần’’ (Kennedy In Vietnam, William J. Rust & The Editors of
US News Books, Charles Scribners Sons, New York, trang
46-47).
Sự việc thứ hai: Vụ người Mỹ muốn xen vào nội bộ Việt Nam.
Tháng 11 năm 1961, Bộ Ngoại Giao Mỹ đánh điện mật cho Đại Sứ
Nolting biết ‘’quyết định không thỏa thuận của chính quyền
Kennedy trong việc gởi quân chiến đấu Mỹ sang Việt Nam’’.
Bức điện tín cũng cho Đại Sứ Nolting biết rằng ‘’ông Diệm
phải được thực hiện những cuộc cải tổ thật sự trên lănh vực
hành chánh, chính trị và xă hội’’ (Telegram 619, State to
Saigon, được trích dẫn trong ‘’Kennedy in Vietnam’’, trang
52-53)
Theo những tài liệu đáng tin cậy, th́ Tổng Thống Kennedy
quyết định không gửi lính chiến đấu Mỹ sang Việt Nam, v́
nhiều lư do. Nhưng lư do quan trọng nhất vẫn là, Mỹ không
muốn có một hiệp ước pḥng thủ song phương với Việt Nam,
cũng như Mỹ không muốn coi việc gởi lính chiến đấu Mỹ sang
Việt Nam như là sự thi hành một hiệp ước.
Mỹ c̣n đi xa hơn thế nữa. Chẳng những không muốn bị ràng
buộc bởi một hiệp ước song phương, Mỹ c̣n muốn xen vào nội
bộ Việt Nam, họ muốn được ‘’chia sẻ trách nhiệm với chính
quyền Việt Nam trong việc phác hoạch những quyết định liên
quan đến các lănh vực chính trị, kinh tế và quân sự, khi
t́nh h́nh an ninh đ̣i hỏi’’. Trước đó, tức là sau cuộc đảo
chánh của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi (11.11.1960), Ṭa Bạch Ốc
đă có lần đề nghị như vậy. Nhưng Đại Sứ Nolting đă chống lại
ư kiến này. Ông cho rằng: ‘’việc người Mỹ trực tiếp tham dự
vào việc phác hoạch những quyết định của miền Nam Việt Nam,
sẽ bị ông Diệm và dân chúng miền Nam coi như là một sự trao
nhượng chính quyền cho người Mỹ’’.
Tháng 11.1961, Đại Sứ Nolting được chỉ thị của Ṭa Bạch Ốc
vào gặp ông Diệm. Ông Diệm đề cập ngay đến vấn đề quân đội
chiến đấu Mỹ Đại Sứ Nolting trả lời một cách tiêu cực, rồi
đi ngay vào vấn đề ‘’chia sẻ trách nhiệm’’. Ông Diệm đă trả
lời như sau: ‘’Chắc ông Đại Sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy
đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính Quyền Việt Nam,
Việt Nam không muốn là một xứ bị bảo hộ’’. Nguyên văn:
Vietnam does not want to be a protectorate (Kennedy in Viet
Nam, trang 54).
Không đầy một tuần lễ sau cuộc gặp gỡ giữa Đại Sứ Nolting và
Tổng Thống Diệm, báo chí Sài G̣n (của chính phủ) nhất loạt
lên tiếng đả kích Mỹ đă can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Sự
việc này đào sâu thêm hố nghi ngờ giữa Hoa Kỳ và Sài G̣n.
Mặc dù vậy, chính quyền Kennedy vẫn tiếp tục ủng hộ Tổng
Thống Diệm. Ngày 27.11.1961, Tổng Thống Kennedy chỉ thị cho
Đại Sứ Nolting vào gặp Tổng Thống Diệm để giải tỏa những
hiểu lầm. Trong cuộc tiếp xúc này, ông Diệm vẫn chống đối
những đ̣i hỏi chia sẻ chủ quyền của Mỹ, nhưng đă tỏ ra cởi
mở hơn.
Tháng 12 năm đó, Mỹ gia tăng viện trợ quân sự cho Việt Nam.
Hiển nhiên, Tổng Thống Kennedy không muốn thất bại tại miền
Nam và sợ ảnh hưởng xấu, đối ngoại cũng như đối nội. Ông đă
thất bại quá nhiều rồi, vụ Vịnh Con Heo tại Cu Ba năm 1961
và vụ Ai Lao năm 1962. Nhiều người Việt kết luận rằng: Mỹ sẽ
chẳng bao giờ dám bỏ miền Nam. Có lẽ anh em ông Diệm cũng ở
trong số những người đó?
Sự việc thứ ba: Vụ Hiệp ước Genève 1962 về Ai Lao. Mùa Xuân
năm 1962, quân đội Bắc Việt và patthet lào chiếm căn cứ Nam
Tha, mở đường tiến sang những Thị Trấn giáp giới Miến Điện
và Thái Lan. T́nh h́nh Đông Dương trở nên cực kỳ khẩn
trương. Tổng Thống Kennedy đề nghị đến chuyện đem Đệ Thất
Hạm Đội vào Vịnh Thái Lan. Tháng 5 năm ấy, Ṭa Bạch Ốc chấp
thuận việc gởi một số Đơn Vị Lục Quân và Không Quân sang
Thái Lan, để dằn mặt Bắc Việt. Quyết định này đă khiến Bắc
Việt phải tạm chùn bước. Một chính phủ ba phe ra đời tại Vạn
Tượng, dưới sự lănh đạo của ông Hoàng trung lập Phouma và
Hiệp định Genève về Ai Lao được kư kết. Đây là giải pháp mà
Tổng Thống Kennedy rất tán thành và nồng nhiệt bảo trợ. Ông
nghĩ rằng Hiệp định này sẽ đem lại thế quân b́nh chính trị
tại Ai Lao, đồng thời ngăn chặn bước tiến hung hăm của cộng
sản Bắc Việt và patthet Lào tại Đông Nam Á.
Nhưng gai góc lại mọc lên. Tổng Thống Diệm phản đối và dọa
sẽ không kư vào bản hiệp định. Tổng Thống Diệm cho rằng hiệp
ước ấy trực tiếp đe dọa an ninh của miền Nam và mở đường cho
việc trung lập hóa miền Nam. Ông cho biết ông chỉ kư vào
hiệp định, nếu chính phủ liên hiệp ba phe tại Vạn Tượng cam
kết không lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội.
Đại Sứ Nolting lại phải cấp tốc vào Dinh Độc Lập, trao cho
Tổng Thống Diệm bức thư riêng của Tổng Thống Kennedy đoan
quyết rằng ‘’lănh thổ Ai Lao sẽ không được sử dụng như một
căn cứ để can thiệp bằng quân sự và khuynh đảo các nước láng
giềng’’ (Telegram 28, State to Saigon, july 9.1962, Bos 128,
Presidential Office Fies, John F. Kennedy Library, được
trích dẫn trong ‘’Kennedy In Vietnam’’, trang 76)
Sau khi nhận được bức thư đoan quyết của Tổng Thống Kennedy,
Tổng Thống Diệm mới chịu kư vào bản hiệp định, cùng với 13
quốc gia khác và kư một cách gần như miễn cưỡng.
Sự việc thứ bốn: Vụ CIA và Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ. Đầu năm
1962, Tổng Thống Kennedy chánh thức cho thành lập Nhóm Đặc
Biệt chống nổi dậy (Counter Insurgency, viết tắt C. I) đặt
dưới quyền của Đại Tướng Taylor, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên
Quân Hoa Kỳ. Nhóm Đặc Biệt có nhiệm vụ chủ đạo và tiến hành
cục chiến tranh chống nổi dậy, một h́nh thái chiến tranh
không quy ước, phối hợp tự vệ và công dân vụ, nhằm tiêu diệt
cộng sản ngay tại nông thôn và tranh thủ nhân tâm cho Chính
Quyền Quốc Gia. Trước đó, năm 1961, Cơ Quan CIA cũng đă
thành lập những Lực Lượng Tự Vệ người Thượng và trang bị
bằng súng tự động. Với sự giúp đỡ kỹ thuật và với sự huấn
luyện của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, những Lực Lượng này bành
trướng rất nhanh, khoảng tháng 3.1962, Lực Lượng đă lên tới
gần 40 ngàn người.
Dĩ nhiên, hoạt động của CIA, của nhóm CI, của Lực Lượng Đặc
Biệt Mỹ và của Lực Lượng Tự Vệ người Thượng, không được sự
tán thành của ông Diệm. Ông Diệm coi đó như một sự xâm phạm
chủ quyền Quốc Gia miền Nam. Ông và người em ông là Cố Vấn
Ngô Đ́nh Nhu đă nhiều lần lên tiếng công khai phàn nàn. Báo
chí Sài G̣n (của chính phủ) hồi đó tràn ngập những luận điệu
đả kích Mỹ xâm phạm chủ quyền Việt Nam.
Những sự việc nói trên đă khiến Tổng Thống Kennedy không hài
ḷng. Chẳng những không hài ḷng, mà c̣n bực bội. Nhưng có
những kẻ c̣n bực bội hơn Tổng Thống Kennedy. Đó là các Cố
Vấn của ông tại Ṭa Bạch Ốc.
Như chúng ta biết, John F. Kennedy là một vị Tổng Thống có
mê lực trước quần chúng, nhưng bản tính lại do dự, thiếu
cương quyết và dễ thay đổi ư kiến. Các Cố Vấn của ông tại
Ṭa Bạch Ốc đă triệt để khai thác nhược điểm này. Trong
nhiều vụ, họ đă dẫn dắt ông ta như một đứa trẻ nít. Vụ Vịnh
Con Heo năm 1961, vụ Ai Lao năm 1962 và vụ Việt Nam năm 1963
sau này là những thí dụ điển h́nh. V́ vậy, mỗi khi ông Diệm
chống lại một đề nghị hoặc một quyết định của Tổng Thống
Kennedy, người cảm thấy danh dự bị xúc phạm hơn cả, không
phải là Tổng Thống Kennedy, mà là Cố Vấn của ông. Bởi một lẽ
dễ hiểu, chính họ là những người đă soạn thảo hoặc đệ tŕnh
những quyết định đó.
Trong những Cố Vấn thân cận của Tổng Thống Kennedy có Roger
Hillsman và Averell Harriman là hung hăn nhất. Hai người này
không chấp nhận rằng Tổng Thống của một Quốc Gia nhược tiểu
đang ăn mày viện trợ của Mỹ, lại được phép xử sự như Tổng
Thống một Quốc Gia có chủ quyền.
Cái ly đă đầy nước, chỉ cần một cục đá lạnh nhỏ bé là tràn.
Cục đá lạnh đó đă được tạo ra đúng lúc. Đó là vụ Phật Giáo
1963.
Có thể nói rằng: Nếu không có những va chạm chủ quyền, nhất
là nếu ông Diệm không xử sự như Tổng Thống của một Quốc Gia
có chủ quyền, th́ cái gọi là vụ Phật Giáo 1963 đă không xảy
ra. Và nếu có xảy ra, th́ chính quyền Kennedy cũng đă không
phản ứng như đă phản ứng.
Có thể nói rằng: Nếu anh em ông Diệm bớt cố chấp, bớt chủ
quan và biết mềm dẻo một chút (một sự mềm dẻo có lợi cho đất
nước) th́ ngọn lửa tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức,
dù băo tố đến mấy, cũng không gom đủ sức ép để có thể đè sập
một chính quyền.
Người Mỹ có lư, hay ông Diệm có lư? Người Mỹ có lư khi đ̣i
đổ quân chiến đấu vào miền Nam mà không bị ràng buộc bởi một
hiệp ước pḥng thủ song phương? Hay ông Diệm có lư khi đ̣i
cho Quốc Gia Việt Nam một hiệp ước pḥng thủ song phương?
Người Mỹ có lư khi đặt Chính Quyền Việt Nam trước một sự đă
rồi, trong vụ Hiệp định Genève về Ai Lao năm 1962? Hay ông
Diệm có lư khi đ̣i phải có những bảo đảm cần thiết cho an
ninh lănh thổ miền Nam?
Người Mỹ có lư khi cho CIA và Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ thành
lập những lực lượng tự vệ riêng biệt, không được sự chấp
thuận trước của Chính Quyền Việt Nam? Hay ông Diệm có lư khi
coi đó là những hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam và
chống lại?
Chúng ta đặt câu hỏi, không phải để t́m kiếm ai là người có
lư. Chúng ta chỉ muốn chứng minh một sự kiện, trước khi vụ
Phật Giáo xảy ra, giữa Tổng Thống Mỹ và Tổng Thống Việt Nam
đă có những mối bất ḥa, từ ngữ ngoại giao gọi là ‘’những
hiểu lầm đáng tiếc’’. Các Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc đă làm cho
những mối bất ḥa đó trở thành những xung đột phải giải
quyết bằng sức mạnh. Họ đă đẩy Tổng Thống Kennedy đi tới kết
luận sau đây: Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một trở ngại cho
công cuộc pḥng thủ cái mà họ gọi là Tiền Đồn của thế giới
tự do tại Đông Nam Á.
Lư của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng, dù thắng như một kẻ vũ
phu và thắng nhất thời. Cái sai lầm của anh em ông Diệm,
nếu có chỉ là đă không nh́n thấy chân lư đó.
NHỮNG BẰNG CỚ TRÊN GIẤY TRẮNG MỰC ĐEN
Những hỗn loạn tại miền Trung sau ngày Phật Đản mùng
8.5.1963, những đ̣i hỏi của Phật Giáo, sự chậm chạp của
chính quyền trung ương trong việc giải quyết vấn đề Phật
Giáo, những vụ tuyệt thực của Tăng ni tại Sài G̣n, những vụ
biểu t́nh của sinh viên học sinh v.v...tất cả đă nhập cuộc
để kết tụ thành cục nước đá lạnh làm tràn cái ly.
Chính quyền Kennedy bắt đầu lo ngại cho sinh mệnh của tiền
đồn chống cộng miền Nam. Lúc đó, Đại Sứ Nolting đi nghỉ
phép, Sứ thần William Trueheart được lệnh Ṭa Bạch Ốc phải
buộc Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm gấp rút thỏa măn 5 đ̣i hỏi
của Phật Giáo. Ngày 4.6.1963, Trueheart gặp ông Nguyễn Đ́nh
Thuần, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống, cảnh cáo rằng: Mỹ sẽ không
thể tiếp tục ủng hộ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm nếu Chính
Quyền Ngô Đ́nh Diệm không từ bỏ những hành động ‘’đàn áp đẫm
máu’’ như ở Huế.
Ngày 7.6.1963, Hội Phụ Nữ Liên Đới của Bà Ngô Đ́nh Nhu phổ
biến một Bản Nghị Quyết tố cáo các vị lănh đạo Phật Giáo là
cộng sản. Hành động thiếu suy nghĩ này đă đổ thêm dầu vào
lửa và gây khó khăn thêm cho Tổng Thống Diệm lúc đó đang ở
một t́nh thế cực kỳ khó khăn. Ṭa Bạch Ốc bèn chỉ thị cho
Trueheart phải vào gặp ông Diệm để phản đối hành động của Bà
Nhu.
Sau cuộc gặp gỡ, Trueheart gửi phúc tŕnh đề ngày 11.6. về
Washington, với những kết luận sau đây:
Thứ nhất: Không có dấu hiệu rơ rệt là các vị
lănh đạo Phật Giáo bị ảnh hương cộng sản.
Thứ hai: Hành động của các vị lănh đạo Phật Giáo
không phải là không đáng trách, họ đă sử dụng báo chí ngoại
quốc cho cuộc đấu tranh của họ và một trong số bọn họ hy
vọng sẽ lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Thứ ba: Vẫn c̣n có cơ may rằng Chính Quyền Ngô
Đ́nh Diệm sẽ giải quyết thỏa đáng vấn đề Phật Giáo.
(Telegram 1155, Saigon to State, June 11.1963, declassified
by the Department of State, Jan 15.1982, được trích dẫn
trong Kennedy in Vietnam, trang 97)
Phúc tŕnh Trueheart vừa gởi đi, th́ cũng ngày đó, Ḥa
Thượng Thính Quảng Đức tự thiêu. Đây là một đ̣n ngàn cân
đánh vào đầu Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Báo chí Mỹ, Truyền
h́nh Mỹ, dư luận Mỹ và cuối cùng là chính quyền Mỹ nhất loạt
kết luận rằng tại miền Nam Việt Nam Phật Giáo đang bị bách
hại. Trước đó, từ ngữ ‘’kỳ thị tôn giáo’’ được sử dụng.
Nhưng sau vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức, thay
từ ngữ ‘’bách hại tôn giáo’’ hoặc ‘’đàn áp tôn giáo’’ đương
nhiên trở thành từ ngữ chính thức để nói về cuộc khủng hoảng
Phật Giáo tại Việt Nam.
Người ta thường nói tới ba mức độ hành động mà một chính
quyền hoặc một tập quyền có thể có đối với một chủng tộc,
một tập thể hoặc một tôn giáo. Ba mức độ đó là kỳ thị, đàn
áp và bách hại.
Kỳ thị (discrimination) là đối xử thiên lệch, coi bên này
hơn bên kia. Thế Kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tại Mỹ có quốc sách
kỳ thị chủng tộc giữa người da trắng và người da đen. Người
da đen bị luật pháp xếp hạng thấp hơn người da trắng, không
được đi chung toa xe lửa với người da trắng, không được học
những trường dành cho người da trắng. Tại Việt Nam, Dụ số 10
ưu đăi Công Giáo và cho Công Giáo những đặc quyền mà Phật
Giáo không được hưởng. Hiển nhiên trên phương tiện luật
pháp, Phật Giáo đă bị kỳ thị. Nhưng trên thực tế, sự kỳ thị
(nếu có) chỉ được t́m thấy trong những trường hợp cá biệt,
nó không phải là chánh sách của nhà cầm quyền
Mức độ thứ hai, sắt thép hơn, là đàn áp (repression). Tức là
kiểm soát, khống chế và ngăn chặn không cho phát triển. Tại
Mỹ trước đây, trên phương diện luật pháp và trên thực tế,
có nạn kỳ thị người da đen. Nhưng không có nạn đàn áp người
da đen. Tại Việt Nam, trên phương diện luật pháp cũng như
trên thực tế, tôn giáo không hề bị đàn áp, ngay cả trong vụ
Phật Giáo 1963.
Mức độ thứ ba, tàn bạo và dă man, là bách hại (persecution)
tức là cấm đoán, lùng bắt, bỏ tù và triệt hạ bằng bạo lực.
Ngày xưa, thực dân Pháp đă bách hại Việt Nam Quốc Dân Đảng
và các nhà cách mạng Việt Nam. Thời Việt Minh, bọn cộng sản
Hồ chí Minh đă bách hại người Quốc Gia. Trên lănh vực tôn
giáo, bạo chúa Neron của La Mă ngày xưa đă bách hại Công
Giáo. Giáo hữu bị lùng bắt, giam cầm, hành hạ, tra tấn và bị
giết một cách dă man (như bị đóng đinh trên thập tự, bị
liệng vào vạc dầu sôi, bị lùa vào đấu trường cho sư tử xé
xác v.v...). Tại Việt Nam, thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự
Đức, Đạo Gia Tô bị Vua quan bách hại. Nhà thời bị đốt phá,
Giáo hữu và Giáo sĩ bị lùng bắt, bị tra tấn và bị chém ngang
thây. Có người bị chôn sống, có người bị ném cho voi dày.
Nạn nhân không phải chỉ gồm riêng một người, mà gồm tất cả
những ‘’người theo tà đạo’’. Đây là một vết nhơ cho lịch sử
dân tộc ta. Ngay thời Việt Minh, cũng không có hiện tượng
đó. Việt Minh đàn áp tôn giáo, cộng sản đàn áp tôn giáo,
nhưng không dám ngang nhiên bách hại tôn giáo như các Vua
quan Triều Nguyễn ngày xưa đă bách hại Đạo Gia Tô.
Trở lại chánh sách của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm đối với
Phật Giáo. Trên phương diện luật pháp và đôi khi thực tế,
Phật Giáo bị kỳ thị. Nhưng Phật Giáo không bị đàn áp. Chứ
đừng nói đến bách hại.
Nhưng sau vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức, th́ sự
việc trở thành vô nghĩa và thực tế cũng trở thành vô nghĩa.
Ngọn lửa tự thiêu đă đốt giai đoạn suy tư của quần chúng và
của chính quyền Mỹ. Đang là một vụ ‘’kỳ thị tôn giáo’’, vụ
Phật Giáo đă bước nhảy vọt, trở thành một vụ bách hại tôn
giáo. Phật Giáo đă bị Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm bách hại.
Như ngày xưa Công Giáo đă bị Neron bách hại tại La Mă. Như
ngày xưa Đạo Gia Tô bị Vua quan Triều Nguyễn bách hại tại
Việt Nam. H́nh ảnh một vị Ḥa Thượng ngồi kiết già trong đám
lửa là h́nh ảnh sống động nhất trong dư luận người Mỹ và dư
luận thế giới. Một sớm một chiều, những ‘’khẩu nghiệp Phật
Giáo tại Việt Nam bị bách hại’’ đă mang ư nghĩa của một chân
lư.
Quả thật, vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức là một
thành công tuyệt vời của những nhà đạo diễn tuyệt vời...
Ngay sau vụ tự thiêu, Bộ Ngoại Giao chỉ thị cho Trueheart
đến nói cho ông Diệm biết, phải tức khắc thỏa măn những đ̣i
hỏi của Phật Giáo nếu không Hoa Kỳ sẽ phải tách rời ra khỏi
sự ‘’thiếu thiện chí’’ của Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Ngày 12.6, Trueheart vào gặp ông Diệm, chuyển lời của Bộ
Ngoại Giao Mỹ. Bốn ngày sau, một thỏa ước được kư kết giữa
chính quyền và đại diện Phật Giáo. Nhưng đă quá muộn. Cuộc
khủng hoảng đă vượt khỏi tầm tay của Chính Quyền Ngô Đ́nh
Diệm và của Phật Giáo. Nó đă có những khích thước mới. Cuộc
đấu tranh đă mang bản chất mới và mục tiêu mới. Cuộc đấu
tranh không nhằm bảo vệ đạo pháp nữa, mà nhằm thực hiện một
mưu đồ chính trị, tức là lật đổ chính quyền hợp pháp của
Quốc Gia miền Nam. Pháp nạn chỉ là cái cớ. Ngay cả ông Diệm
cũng chỉ là cái cớ.
Chúng ta hăy trở lại thời điểm 16.6.1963. Thỏa ước giữa
chính phủ và đại diện Phật Giáo chưa ráo mực, th́ cuộc đấu
tranh về pháp nạn lại bùng nổ lên dữ dội hơn. Những đoàn
người quá khích tràn xuống đường, la hét và vật lộn với nhân
viên công lực. Những truyền đơn bích chương bằng tiếng Mỹ và
tiếng Việt được tung ra khắp nơi, lên án chế độ Ngô Đ́nh
Diệm đàn áp và bách hại Phật Giáo. Một số truyền đơn kêu gọi
dân chúng đứng lên ‘’lật đổ chế độ bạo tàn’’.
Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm lúc đó lưỡng đầu thọ địch. Một mặt
phải đối phó với những nhóm đấu tranh quá khích đ̣i lật đổ
chính quyền, một mặt phải đối phó với những áp lực càng ngày
càng gia tăng của chính quyền Kennedy. Con người đứng trước
đầu gió, ḱnh diện với thực tế khắc nghiệt là ông Cố Vấn Ngô
Đ́nh Nhu. Ông Nhu lên án những hành động của nhóm đấu tranh
quá khích là bất hợp pháp, phá rối trị an và làm lợi cho
cộng sản. Ông nhất định ‘’dẹp loạn’’ và không lùi bước trước
áp lực của chính quyền Mỹ.
Bên cạnh Ông Nhu là Bà Nhu, với những tuyên bố vô trách
nhiệm kiêu căng, thách thức đổ dầu vào lửa.
Từ tháng 6 đến tháng 8.1963, t́nh h́nh ngày một căng thẳng.
Sài g̣n lên cơn sốt chính trị, Sài G̣n như một thùng thuốc
nổ chậm. Những phần tử đấu tranh, được sự đồng t́nh của báo
chí và của dư luận Mỹ, nhất là được sự đồng t́nh mặc nhiên
của chính quyền Mỹ, đă trở nên hung hăng hơn, đ̣i hỏi hơn,
quyết liệt hơn.
Ngày 20.8, chế độ thiết quân luật được ban hành, do lời đề
nghị các Tướng lănh có trách nhiệm. Ông Nhu đă nắm lấy cơ
hội để hành động. Ngay đêm đó, Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc
Biệt mở cuộc hành quân lục soát một số Chùa chiền tại Sài
G̣n, Huế, Đà Nẵng và nhiều Thị Trấn lớn.
Trước đó mấy ngày, Đại Sứ Nolting đă vào gặp ông Diệm và
được ông Diệm hứa sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo một cách
thỏa đáng. Đại Sứ Nolting đă gửi một phúc tŕnh lạc quan về
Ṭa Bạch Ốc. V́ vậy cuộc hành quân lục soát các Chùa đêm 20.
8 không khác ǵ một cái tát vào mặt Hoa Kỳ.
Câu hỏi được đặt ra: Ông Diệm có được ông Nhu tham khảo ư
kiến trước hay không? Hay ông Diệm đă bị ông Nhu đặt trước
một sự đă rồi? Trong mọi giả thuyết, ông Diệm phải chịu
trách nhiệm.
Ṭa Bạch Ốc sửng sốt và cực kỳ phẫn nộ. Dư luận thế giới
đồng loạt lên án. Các Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc, đặc biệt Roger
Hillsman và Averell Harrisman bèn triệt để khai thác vụ này
để chính thức viết nên bản án khai tử nền Đệ Nhất Cộng Ḥa.
Một đao phủ được gởi đến Sài G̣n để thi hành bản án là Henry
Cabot Lodge.
Dưới đây là những bằng cớ trên giấy trắng mực đen về việc
chính quyền Kennedy đă chủ xướng, chủ mưu, chủ động và chủ
lực trong việc khai tử Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm năm 1963.
Một hành động mà lịch sử Mỹ đă lấy làm hối tiếc và hổ thẹn
sau này, cũng đă hối tiếc và hổ thẹn trong vụ phản bội miền
Nam năm 1975.
1.- Công điện ngày 24.8.1963, Bộ Ngoại Giao Mỹ gởi Đại Sứ
Lodge.
Đại Sứ Cabot Lodge đến Sài G̣n 22.8. Hai ngày sau, ngày 24.8
ông nhận được công điện của Bộ Ngoại Giao Mỹ, với một nội
dung sau đây:
‘’Bây giờ đă rơ rệt, vụ thiết quân luật dù do
Quân Đội đề nghị hay do Ngô Đ́nh Nhu đề nghị. Ngô Đ́nh Nhu
vẫn là người đă lợi dụng nó để đánh phá chùa chiền với lực
lượng Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Lê Quang Tung hiện
trung thành với Nhu. Như vậy, Nhu đă đổ trách nhiệm lên đầu
Quân Đội, trước mặt thế giới và nhân dân Việt Nam. Hiển
nhiên Nhu đă tự điều động ḿnh lên tư thế nắm quyền chỉ huy.
Chính quyền Mỹ không làm ngơ để cho quyền bính lọt vào tay
Nhu. Diệm phải được dành cho cơ hội để loại bỏ Nhu và bè lũ
và thay vào đó những phần tử tốt nhất có thể t́m thấy, quân
sự cũng như dân sự. Nếu ông Đại Sứ cố gắng thuyết phục Diệm
mà Diệm vẫn ngoan cố, th́ lúc đó chúng ta phải đứng trước
t́nh huống là ngay cả Diệm cũng không được duy tŕ nữa. Ông
Đại Sứ và tổ hành động tại chỗ phải cấp tốc cứu xét việc t́m
người lănh đạo thay thế và soạn thảo những kế hoạch chi tiết
để thay thế Diệm, khi cần. Không cần phải nói, chắc ông Đại
Sứ sẽ tham khảo ư kiến với Đại Tướng Harkins về những biện
pháp cần thiết để bảo vệ nhân viên Mỹ trong suốt thời kỳ
khủng hoảng...Ông Đại Sứ nên hiểu rằng chúng tôi không thể
từ Washington đưa ra những chi tiết hành động, nhưng ông Đại
Sứ cũng nên hiểu rằng chúng tôi triệt để đứng sau lưng ông
Đại Sứ trong tất cả những hành động nhằm đạt tới mục tiêu
của chúng ta’’ (Telegram 243, State to Lodge, Aug 24.1963,
Box 198, National Security File, John F. Kennedy Library).
Đoạn văn trên của bức công điện có thể tóm tắt
như sau: ‘’Diệm phải loại bỏ Nhu. Nếu không chính Diệm sẽ bị
loại bỏ. Hăy cấp tốc sửa soạn kế hoạch thay thế Diệm, ông
Đại Sứ được toàn quyền hành động để đạt mục tiêu’’.
Loại bỏ ông Diệm bằng cách nào? Bức công điện viết tiếp:
‘’Ông Đại Sứ cũng có thể nói cho những Tướng lănh ‘’thích
hợp’’ biết rằng: Chúng ta sẽ trực tiếp ủng hộ họ trong thời
kỳ tạm quyền, khi bộ máy chính quyền trung ương bị ngưng. ’’
Câu này có thể viết lại một cách sống sượng như sau: ‘’Ông
Đại Sứ hăy nói cho các Tướng lănh biết: Lật đổ chính quyền
trung ương đi, Mỹ sẽ ủng hộ. ’’.
Bức công điện nói trên (mà sau này sử sách gọi
là bức công điện ngày 24.8) mang chữ kư chấp thuận
(approved) hoặc thông qua (cheared) của những người sau đây:
Roger Hillsman, Phụ Tá Bộ Ngoại Giao và W. Averell
Harriman, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách chính trị vụ,
Michael V. Forrestal, chuyên viên về Việt Nam và Đông Nam Á
tại Ṭa Bạch Ốc và George Ball, Thứ Trưởng Ngoại Giao.
Tác giả của bức công điện là Hillsman và Harriman. Hai người
này đă hành động gấp rút và trí trá, vượt mọi thủ tục thường
lệ Tổng Thống Kennedy, Tổng Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk,
Tổng Trưởng Quốc Pḥng McNamara, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên
Quân Maxwell Taylor, Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo MacCone,
tất cả đă bị qua mặt. Hôm đó những nhân viên này đang nghỉ
cuối tuần. Họ chỉ được thông báo và đọc cho nghe trong điện
thoại và trong điện thoại, mỗi vị đều được biết Tổng Thống
đă chấp thuận, hoặc cấp trên trực tiếp của họ đă chấp thuận.
Riêng Tổng Thống Kennedy th́ được phúc tŕnh rằng Ngoại
Trưởng Dean Rusk đă chấp thuận... C̣n Ngoại Trưởng Dean Rusk
đă chấp thuận và được cho biết trong điện thoại rằng Tổng
Thống Kennedy đă chấp thuận.
Công điện gửi đi lúc 9 giờ 36 phút tối 24.8. và khoảng 11
giờ tối hôm đó, Đại Tướng Taylor mới nhận được bản sao. Ông
nổi giận cho rằng ‘’nhóm chống đối ông Diệm nằm trong Bộ
Ngoại Giao đă lợi dụng lúc các viên chức cao cấp trong chính
phủ vắng mặt để đưa ra những chỉ thị mà nếu được soạn thảo
trong những trường hợp b́nh thường sẽ không bao giờ được
chấp thuận’’. (Kennedy in Vietnam, trang 116).
2.- Công điện ngày 26.8. Đại Sứ Lodge gởi Bộ Ngoại Giao.
Đại Sứ Lodge nhận được công điện nói trên của Bộ Ngoại Giao
vào sáng Chủ nhật 25.8. Ông bèn họp Tham Mưu và quyết định
đi thẳng với các Tướng lănh Việt Nam. Ông lập luận rằng: Ông
Diệm sẽ chẳng bao giờ chấp nhận những khuyến cáo của Hoa Kỳ
về việc loại bỏ ông Nhu. Nói cho ông Diệm biết lập trường
của Ṭa Bạch Ốc, sẽ không ích lợi ǵ. Chẳng những vậy, c̣n
có thể khiến cho ông Diệm đâm ra nghi ngờ các Tướng lănh.
Dưới đây là bức công điện của Đại Sứ Lodge trả lời Bộ Ngoại
Giao:
‘’Tôi tin rằng Diệm sẽ không chấp nhận những đ̣i
hỏi của chúng ta. Đồng thời, khi đưa những đ̣i hỏi ấy ra,
chúng ta sẽ cho Nhu cơ hội đề pḥng trước hoặc chận đứng
hành động của Quân Đội, đó là một cuộc mạo hiểm không nên
làm, bởi v́ hiện nay Nhu đang nắm giữ những lực lượng chiến
đấu tại Sài G̣n. V́ vậy, tôi đề nghị, chúng ta nên đi thẳng
với các Tướng lănh mà không cho Diệm biết. Tôi sẽ nói cho
các Tướng lănh biết rằng chúng ta chủ trương giữ Diệm lại,
không có Nhu. Nhưng trên thực tế, giữ Diệm hay không là tùy
ở họ. Tôi cũng sẽ yêu cầu các Tướng lănh làm những điều cần
thiết để thả các lănh tụ Phật Giáo và thi hành thỏa ước ngày
16.8. Tuy nhiên tôi không đề nghị ra tay hành động cho đến
khi chúng ta có được những kế hoạch trốn thoát và tránh né
(evasion escape) thỏa đáng. Tướng Harkins đồng ư. Ngày mai,
hồi 11 giờ sáng, tôi sẽ tŕnh ủy nhiệm thơ lên Tổng Thống
Diệm’’. (Lodge to State, quoted in telegram 6346 Forrestall
to President, Aug 25.1963. Box 198, National security files,
John F. Kennedy library).
Có ba điểm quan hệ trong bức công điện của Đại Sứ Lodge:
Thứ nhất: Không cần phải nói với Diệm loại bỏ
Nhu, mà bảo các Tướng lănh loại bỏ Nhu.
Thứ hai: Cho phép các Tướng lănh Việt Nam được
tùy ư giữ Diệm hay loại bỏ Diệm.
Thứ ba: Ṭa Đại Sứ Mỹ đă nghĩ đến việc giúp đỡ
các nhân viên Mỹ và các Tướng lănh Việt Nam trốn thoát trong
trường hợp đảo chánh thất bại.
Đại Sứ Lodge gởi công điện đi ngày 26.8. Cùng ngày đó, ông
nhận được công điện vắn tắt sau đây của Bộ Ngoại Giao:
‘’Đồng ư với sự sửa đổi đă đề nghị’’. Nguyên văn ‘’Agree to
modification proposed’’. (telegram Ball to Lodge, 26.8.63,
Box 198, National security files, John F Kennedy library,
được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 116).
Tức là Bộ Ngoại Giao Mỹ chấp thuận toàn bộ kế hoạch của Đại
Sứ Lodge đi thẳng với các Tướng lănh để giải quyết vấn đề
loại bỏ ông Nhu và có thể loại bỏ cả ông Diệm.
3.- Công điện ngày 28.8, Tổng Thống Kennedy gởi Đại Sứ
Lodge.
Sáng thứ hai, ngày 26.8, Tổng Thống Kennedy trở về Ṭa Bạch
Ốc sau cuộc nghỉ cuối tuần tại Hyannisport. Ông khám phá ra
những mờ ám chung quanh bức công điện 24.8. Tổng Trưởng Quốc
Pḥng McNamara không được tham khảo ư kiến, không được thông
báo. Giám Đốc CIA MacCone, Đại Tướng Taylor và Ngoại Trưởng
Rusk cũng không được tham khảo. Ngoại Trưởng Rusk đă đồng ư
cho gửi bức điện đi và tưởng rằng Tổng Thống Kennedy đă đồng
ư và Tổng Thống Kennedy đă đồng ư cho người gửi bức công
điện đi và tưởng rằng Ngoại Trưởng Rusk đă đồng ư.
Theo các tài liệu, th́ sau khi khám phá ra những điều khuất
tất, Tổng Thống Kennedy đă giận dữ như chưa từng thấy. Trưa
hôm đó 26.8, một cuộc tranh luận sôi nổi đă diễn ra tại Ṭa
Bạch Ốc, trước sự hiện diện của Kennedy. Phần đông những
người có mặt đều bất măn với nội dung của bức công điện và
lề lối làm việc của Hillsman và Harriman. Vấn đề được đặt ra
một cách khẩn trương: Có nên rút lại bức công điện 24.8. hay
không? Tuy đa số những người có mặt không đồng ư với nội
dung của bức công điện, nhưng không một ai tán thành việc
rút lại hoặc hủy bỏ bức công điện. V́ vậy, bức công điện vẫn
giữ nguyên hiệu lực của nó.
Chẳng những vậy, ngày 27.8, khi Tổng Thống Kennedy gặp lại
Cố Vấn trong Ṭa Bạch Ốc, Ngoại Trưởng Rusk c̣n nhấn mạnh
rằng: ‘’chúng ta phải cho viên chức chúng ta ở Sài G̣n biết
rằng chúng ta sẽ không thay đổi những chỉ thị đang có, những
chỉ thị mà họ đă căn cứ và để tiến hành nhiều công việc
rồi’’(Memorandum of Conference with the President, Aug
27.1963, John F. Kennedy library)
Một vấn đề khác, không kém khẩn trương, cũng đă được đặt ra
trong phiên họp, liệu các Tướng lănh Việt Nam sẽ thành công
hay không? Đối với Tổng Thống Kennedy, th́ đây là một vấn đề
sinh tử. Chính quyền mang tên ông đă được gắn liền với những
thất bại ê chề và rúng động dư luận trong vụ Vịnh Con Heo và
Ai Lao mới đây. Nếu cuộc đảo chánh thất bại, ông là người
phải chuốc lấy mọi tiếng xấu và khinh khi của dư luận, trong
cũng như ngoài nước.
V́ vậy, ngày 27.8, Bộ Ngoại Giao được lệnh phải
đánh điện yêu cầu Đại Sứ Lodge cho biết thêm chi tiết về âm
mưu đảo chánh và về những Tướng lănh đang âm mưu đảo chánh.
Đại Sứ Lodge bèn cấp tốc gửi công điện về Washington đoan
quyết rằng:‘’cuộc đảo chính có viễn tượng rất tốt, nếu tŕ
hoăn cơ may thành công sẽ giảm đi’’ (The Overthrow of Ngo
Dinh Diem, United States Viet Nam Relation III, trang 19).
Trong khi Bộ Ngoại Giao đánh điện hỏi Đại Sứ Lodge, th́
Tướng Taylor ở Ngũ Giác Đài cũng đánh điện cho Tướng Harkins
Tư Lệnh MAGV tại Sài G̣n để hỏi về ‘’tỷ lệ thành công’’ của
cuộc đảo chánh mà các Tướng lănh Việt Nam đang sửa soạn.
Tướng Taylor cũng cho Tướng Harkins biết rằng công điện ngày
24.8 đă không có sự tham gia ư kiến của Bộ Quốc Pḥng hoặc
Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân. Tướng Taylor c̣n nói rằng: ‘’các
viên chức chánh phủ đang suy nghĩ lại bức công điện đó’’.
(FYI State to Saigon, Telegram 3368-63, Taylor to Harkins,
Aug 28.63, Box 316, National security files, John F.
Kennedy library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam,
trang 123)
Trái với Đại Sứ Lodge, Tướng Harkins không lạc quan lắm về
khả năng của các Tướng đảo chánh. Theo ông, cán cân lực
lượng về phía những đạo quân trung thành với ông Diệm. Sau
khi nhận được điện tín của Tướng Taylor, Tướng Harkins bèn
đánh điện về Ṭa Bạch Ốc cho biết quan điểm của ông và kết
luận đại khái rằng: Ông không tin rằng Ṭa Bạch Ốc có đủ lư
do để dốc toàn lực chấp nhận một cuộc đảo chánh trong lúc
này. (The Overthrow of Ngo Dinh Diem, chươngIII, trang 19).
Hai quan điểm đối nghịch nhau của Đại Sứ Lodge và Tướng
Harkins từ Sài G̣n đánh về, đă làm cho Tổng Thống Kennedy
cực kỳ hoang mang. Ủy Ban An Ninh Quốc Gia cấp tốc nhóm họp
trưa ngày 28.8 căi nhau như một cái chợ bên Ai Cập. Theo
Arthur Schesinger trong cuốn Robert Kennedy and His Time,
th́ các nhân viên thuộc Bộ Ngoại Giao chủ trương phải tiến
tới việc lật đổ ông Diệm. Chống lại chủ trương đó, có Đại Sứ
Nolting.
Cuộc họp của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia kết thúc chiều hôm đó
28.8. Các Ủy Viên trong Ủy Ban vẫn chia rẽ và Ṭa Bạch Ốc
vẫn không có được một quyết định dứt khoát cho vấn đề. Ngay
tối hôm đó, Tổng Thống Kennedy gửi cho Đại Sứ Lodge một mật
điện trong đó Tổng Thống tái xác nhận chủ trương đảo chánh
của Ṭa Bạch Ốc, ‘’nhưng ư kiến ấy hoàn toàn tùy thuộc vào
sự nhận định tại chỗ của ông Đại Sứ, và tôi tin rằng ông Đại
Sứ sẽ không ngần ngại cho lệnh hoăn lại hoặc thay đổi kế
hoạch bất cứ lúc nào ông Đại Sứ thấy là cần’’ (Telegram 269,
Kennedy to Lodge Aug 28.1963, Box 316, National security
files, John F. Kennedy library).
Mật điện nói trên của Tổng Thống Kennedy là một sử liệu vô
cùng quư giá, chứng minh sự tham gia tích cực của chính
quyền Mỹ trong vụ lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm năm 1963.
Hơn thế nữa, nó c̣n là hành vi trực tiếp dẫn thân của nhân
vật cao cấp nhất trong hệ thống quyền lực và quyền bính Hoa
Kỳ, trong vụ lật đổ một Tổng Thống của miền Nam Việt Nam.
4.- Công điện ngày 29.8. Đại Sứ Lodge gửi Ngoại Trưởng Rusk.
Sau khi nhận được mật điện 269 của Tổng Thống Kennedy, Đại
Sứ Lodge bèn tức tốc gửi công điện cho Ngoại Trưởng Ruck,
khẳng định rằng Mỹ không thể nào tháo lui được nữa và phải
lật đổ Diệm. Dưới đây là những đoạn quan trọng của bức công
điện:
‘’Chúng ta đang ở trên một tiến tŕnh hành động
không thể tháo lui được nữa, việc lật đổ Ngô Đ́nh Diệm.
Không thể tháo lui, phần về uy tín của nước Mỹ đă công khai
gắn liền với vụ này. Sự gắn liền ấy sẽ trở nên lớn hơn khi
những sự việc đă bị tiết lộ ra ngoài. Trên một ư nghĩa căn
bản hơn, không thể tháo lui, bời v́ theo tôi, không có hy
vọng ǵ thắng được cuộc chiến tranh này với một Ngô Đ́nh
Diệm c̣n ngồi ở chính quyền. Càng không hy vọng ǵ Diệm hoặc
bất cứ người nào trong gia đ́nh Diệm có khả năng lănh đạo
đất nước và tranh thủ được sự hậu thuẫn của những thành phần
đáng kể trong dân chúng, như giới trí thức trong và ngoài
chính quyền, dân sự cũng như quân sự, chưa nói đến nhân dân
Hoa Kỳ. Trong những tháng gần đây và đặc biệt trong những
ngày gần đây anh em Diệm đă làm cho những thành phần dân
chúng nói trên chán ghét đến cực độ. V́ vậy, bản thân tôi
hoàn toàn đồng ư với sách lược mà tôi được lệnh phải thi
hành, chiếu công điện ngày Chủ Nhật vừa qua. Cơ may thành
công của cuộc đảo chánh tùy thuộc vào các Tướng lănh Việt
Nam một mức độ nào đó, nhưng cũng tùy thuộc vào chúng ta, ít
nhất cùng một mức độ đó. Chúng ta phải khởi sự làm một cố
gắng toàn diện để thúc đẩy các Tướng lănh hành động mau lẹ’’
(Telegram 375, Lodge to Stae Aug 29.1963, Box, National
security files, John F. Kennedy library)
Bức công điện của Đại Sứ Lodge có thể nói tóm tắt như sau:
Chúng ta người Mỹ, không thể lùi được nữa, phải lật đổ Ngô
Đ́nh Diệm.
Điều đáng nói là: Trong các công điện trước, Đại Sứ Lodge
chỉ nói đến việc loại bỏ ông Nhu, loại bỏ hay giữ ông Diệm
để tùy các Tướng lănh. Nhưng trong bức công điện nói trên,
Đại Sứ Lodge đă minh thị nói đến sự cần thiết phải loại bỏ
ông Diệm và gia đ́nh ông Diệm.
Đại Sứ Lodge viết tiếp: ‘’Nếu các Tướng lănh đ̣i chúng ta
phải công khai tuyên bố cắt viện trợ, chúng ta cũng sẽ chấp
nhận làm điều đó, miễn là họ hiểu rằng họ sẽ phải khởi sự
cùng một lúc với lời tuyên bố của chúng ta’’.
Một sự việc đă xảy ra, khiến Đại Sứ Lodge trở nên quyết liệt
trong bức công điện. Số là, sáng ngày 29.8, Trưởng Nhiệm CIA
và Lou Conein đă được gọi đến trụ sở MACV cho xem bức công
điện của Đại Tướng Taylor gửi cho Tướng Harkins trong đó có
câu ‘’các viên chức trong chánh phủ đang suy nghĩ lại bức
công điện ngày 24.8’’. Buổi sáng hôm đó, Conein cũng có hẹn
với Tướng Dương Văn Minh, người được coi là lănh tụ của cuộc
đảo chánh. Cuộc gặp gỡ rất là chiếu lệ, Conein đă được chỉ
thị của CIA không được hứa hẹn ǵ với Tướng Minh. Sự việc
này đă khiến Tướng Minh cực kỳ lo ngại, ông nghĩ rằng Mỹ
đang chơi tṛ phản bội đối với các Tướng đảo chánh. Tướng
Minh bèn đ̣i Mỹ phải tỏ dấu hiệu ủng hộ các Tướng lănh đảo
chánh bằng cách ngưng viện trợ cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Khi biết rơ câu chuyện của Tướng Minh, Đại Sứ Lodge nổi giận
và đ̣i Richardson, Trưởng Nhiệm CIA tại Sài G̣n cho biết lư
do. Richardson bèn trả lời rằng: Washington đang suy nghĩ
lại và có vẻ hối tiếc về công điện ngày 24.8. Khi nghe vậy,
Đại Sứ Lodge đă phải vội vàng gửi ngay công điện về Bộ Ngoại
Giao, khẳng định rằng: Mỹ không thể nào tháo lui được nữa và
phải lật đổ Ngô Đ́nh Diệm.
Chúng ta thấy, vai tṛ của Mỹ trong vụ đảo chánh
1963 đă quá rơ rệt và quá lộ liễu. Đại Sứ Lodge đă khẳng
định trong đoạn 2 của bức công điện. ‘’Cơ may thành công của
cuộc đảo chánh tùy thuộc vào các Tướng lănh một mức độ nào
đó, nhưng nó tùy thuộc vào chúng ta, ít nhất cùng một mức độ
đó’’, Đại Sứ Lodge muốn nói rằng: Nếu Mỹ không trực tiếp và
tích cực nhúng tay vào, th́ cuộc đảo chánh sẽ chẳng bao giờ
thành công.
Nhưng c̣n một sự thực khác mà Đại Sứ Lodge không nói ra, sợ
làm nản ḷng Ṭa Bạch Ốc. Sự thực đó là, nếu Mỹ không trực
tiếp và tích cực nhúng tay vào, th́ các Tướng sẽ chẳng bao
giờ dám đảo chánh ông Diệm.
Và bây giờ, chúng ta hăy suy nghĩ theo từng giai đoạn.
* Nếu Mỹ triệt để ủng hộ ông Diệm, nhưng không
chống ông Diệm, các Tướng lănh sẽ chẳng bao giờ dám đảo
chánh.
* Nếu Mỹ không triệt để ủng hộ ông Diệm, nhưng
không chống ông Diệm, các Tướng lănh cũng chẳng bao giờ dám
đảo chánh.
* Nếu Mỹ chống ông Diệm, nhưng không chống đối
công khai, các Tướng lănh cũng sẽ chẳng bao giờ dám đảo
chánh.
* Nếu Mỹ công khai chống ông Diệm, nhưng không
có CIA đến móc nối, các Tướng lănh cũng sẽ chẳng bao giờ dám
đảo chánh.
* Nếu Mỹ cho CIA đến móc nối, nhưng không có một
hành động cụ thể và công khai nào chứng tỏ Mỹ quyết tâm lật
đổ ông Diệm (như cắt viện trợ), các Tướng lănh cũng sẽ chẳng
bao giờ dám đảo chánh.
Cái nếu thứ 5 đă xảy ra. Trong suốt thời gian tháng 8. 1963,
nhất là từ ngày Đại Sứ Lodge đến, Lucien Conein để đến móc
nối khuyến khích các Tướng lănh đảo chánh nhất là hứa hẹn
rằng Mỹ sẽ triệt để ủng hộ họ trong thời gian chuyển tiếp
sau khi bộ máy chính quyền trung ương bị phá sập. Mặc dù
vậy, các Tướng lănh cũng không dám hành động. Hơn ai hết, họ
thuộc nằm ḷng bài học 1960 của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi. Họ
ư thức một cách sâu sắc rằng, nếu Mỹ không dẫn thân, nếu Mỹ
không nhập cuộc, th́ cuộc đảo chánh sẽ chẳng bao giờ thành
công. Chẳng những không thành công, mà c̣n mang họa. Họ cũng
ư thức một cách sâu sắc rằng sự nhập cuộc và dấn thân của Mỹ
phải được thể hiện bằng hành động cụ thể nhất, ngoạn mục
nhất và dễ khích động quần chúng nhất, đó là, chính quyền Mỹ
phải cắt viện trợ và tuyên bố cắt viện trợ. Chỉ trong trường
hợp đó và chỉ với điều kiện đó, họ mới dám đảo chánh.
Các Tướng lănh trong nhóm đảo chánh, Tướng Trần Văn Đôn,
Tướng Trần Thiện Khiêm, Tướng Dương Văn Minh và kể cả Tướng
Lê Văn Kim (người có ư thức chính trị nhất trong nhóm) không
phải là những con người chính trị, hoặc cách mạng. V́ vậy họ
thiếu hẳn cái khí phách và can trường của những con người
chính trị hoặc cách mạng. Họ không có tầm vóc của những
người lănh đạo. Họ được đào tạo để phục tùng và để người
khác lănh đạo. Họ cần phải được người khác lănh đạo và họ
chỉ có hiệu năng khi được người khác lănh đạo. Đó là một sự
thật đáng buồn. Sự thật ấy, Quốc Dân Việt Nam đă có dịp nh́n
thấy ra sao khi ông Diệm bị lật đổ.
5.- Công điện ngày 29.8 của Ngoại Trưởng Rusk
Công điện ngày 29.8 nói trên của Đại Sứ Lodge đă được đưa ra
mổ xẻ tại Hội Đồng An Ninh Quốc Gia nhóm họp khẩn cấp ngay
hôm đó tại Ṭa Bạch Ốc và buổi chiều ngày 29.8 Ngoại Trưởng
Rusk cấp tốc đánh điện cho Đại Sứ Lodge biết quyết định của
Hội Đồng An Ninh. Dưới đây là những điểm chính:
a.- Cho phép Tướng Harkins Tư Lệnh Quân Đội Mỹ
tại Việt Nam được gặp các Tướng đảo chánh để nói cho họ biết
Mỹ triệt để ủng hộ việc loại bỏ Ngô Đ́nh Nhu, cũng như sẽ
ủng hộ một cuộc đảo chánh có nhiều cơ may thành công, nhưng
Mỹ không dự tính việc trực tiếp dùng Quân Đội Mỹ để tiếp tay
cho nhóm đảo chánh.
b.- Cho phép Đại Sứ Lodge được quyền loan báo
việc Mỹ ngưng viện trợ cho Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm, vào
thời điểm với những điều kiện do Ṭa Đại Sứ lựa chọn.
(Cablegram from secrectary Rusk to Ambassador Lodge Aug
29.8.63, được in lại trọn vẹn dưới số 40 trong The Pentagon
Papers, trang 198-199)
Cũng ngày hôm đó (29.8), Tổng Thống Kennedy gửi một mật điện
cho Đại Sứ Lodge, xác nhận triệt để việc lật đổ Chính Quyền
Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Tổng Thống không đồng ư về điểm chính
quyền Mỹ ‘’không c̣n đường tháo lui’’. Ông bị ám ảnh sự thất
bại trong vụ Vịnh Con Heo tại Cuba năm 1961, v́ vậy ông
khuyên Đại Sứ Lodge phải cực kỳ thận trọng. Bức mật điện
viết: ‘’Kinh nghiệm cho tôi biết rằng, hành động mà thất bại
sẽ tai hại hơn là không hành động và bị coi là thiếu quả
quyết... Chúng ta hành động là để thắng. V́ vậy, thà đổi ư
(không hành động) c̣n hơn là (hành động mà) thất bại’’
(Telegram Kennedy to Lodge Aug 29.8.63, National security
files, John F. Kennedy library)
Trong hai ngày cuối cùng của tháng 8.1963, Ṭa Bạch Ốc bận
rộn như Đại bản doanh hành quân của một đoàn quân viễn
chinh. Tổng Thống Kennedy và các Cố Vấn của ông ở trong t́nh
trạng báo động. Tất cả trí năo và ư chí của Ṭa Bạch Ốc đều
hướng về một cuộc đảo chánh sẽ xảy ra bất cứ giờ phút nào
tại miền Nam Việt Nam để lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.
V́ Tổng Thống Kennedy chủ trương rằng đă ra tay hành động là
phải thắng, cho nên Quân Lực Mỹ đă được huy động để tránh
cho nước Mỹ một vụ Vịnh Con Heo thứ hai. Một Lực Lượng Đặc
Nhiệm Hải Quân gồm tàu chở trực thăng đổ bộ và khu trục hạm
được lệnh tuần tiễu ngoài khơi Việt Nam. Tại Okinawa, 2 Tiểu
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tăng cường, tổng cộng 3 ngàn
người, được đặt trong t́nh trạng báo động 24/24. Mặc dầu
vậy, Ngoại Trưởng Rusk vẫn không an tâm, ông lo sợ quân đảo
chánh có thể bị Quân Đội Chính Phủ đè bẹp và cuộc nổ súng sẽ
kéo dài trong nhiều ngày. Ông đ̣i Hillsman phải đệ tŕnh một
bản phân tách t́nh h́nh và cho biết những khả năng về phía
Mỹ để giúp nhóm đảo chánh thành công mau lẹ. Hillsman đệ
tŕnh bản phân tách, trong đó có câu: ‘’Nếu cần, chúng ta sẽ
đưa quân chiến đấu Mỹ vào Sài G̣n để giúp quân đảo chánh đạt
được chiến thắng’’ Nguyên văn: if necessary, we should bring
in US combat troops to assist the coup group to achieve
victory (Memorandum Hillsman to Rusk, Aug 30.1963, Chicago
Sun Times, June 23.1971, được trích dẫn trong Kennedy in
Vietnam, trang 126)
Về phần Đại Tướng Harkins, tuân theo chỉ thị của Tổng Thống
Kennedy, ông mời Tướng Trần Thiện Khiêm tới Bản Doanh MAGV
sáng ngày 31.8 và cho Tướng Khiêm biết: ‘’Nếu các Tướng lănh
sẵn sàng lật đổ Diệm, Hoa Kỳ sẽ ủng hộ’’. Tướng Khiêm bèn đi
gặp Tướng Dương Văn Minh, rồi chiều hôm đó trở lại báo cho
Tướng Harkins biết rằng Tướng Dương Văn Minh đă thôi không
nghĩ đến chuyện đảo chánh nữa, v́ lư do: Nhóm đảo chánh
không đủ lực lượng để đương đầu với quân chính phủ. Sự thật,
đó chỉ là một lối giải thích. Lư do sâu xa đă khiến nhóm đảo
chánh ngưng lại là, họ không tin Mỹ đă thực sự dẫn thân. Họ
chờ đợi ở Mỹ một hành động dứt khoát và cụ thể, tức là cúp
viện trợ và tuyên bố cúp viện trợ, điều mà Mỹ do dự chưa dám
làm. Cuộc đảo chánh vào cuối tháng 8 đă không xảy ra, như Mỹ
dự kiến.
6.- Lời tuyên bố của Tổng Thống Kennedy ngày 2.9.
Việc các Tướng lănh Sài G̣n ngưng lại không đảo chánh, được
Washington coi như là một thất bại của chính người Mỹ. Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia và các Cố Vấn tại Ṭa Bạch Ốc họp liên
miên để t́m biện pháp đối phó với t́nh thế mới. Vấn đề anh
em ông Diệm bỗng nhiên mang một khích thước lớn hơn, đó là
khích thước của chính nghĩa Hoa Kỳ trong vùng Đông Nam Á.
Các ông Hillsman, Harriman và Katenburg (thuộc Bộ Ngoại
Giao) vẫn chủ trương phải lật đổ ông Diệm để tăng cường hiệu
năng chiến đấu chống cộng của miền Nam, nếu không người Mỹ
sẽ phải rút khỏi miền Nam. Ngoại Trưởng Rusk không đồng ư,
ông chủ trương không rút khỏi miền Nam mà cũng không lật đổ
ông Ngô Đ́nh Diệm. Riêng Phó Tổng Thống Johnson th́ dứt
khoát. Theo ông, người Mỹ không nên lật đổ ông Diệm, v́ sau
đó sẽ không t́m được người lănh đạo có tầm vóc như ông Diệm.
Phó Tổng Thống Johnson c̣n nói: ‘’chúng ta nên chấm dứt các
vai tṛ vừa đánh trống vừa ăn cướp và trở lại nói chuyện
thẳng với Chính Quyền Sài G̣n’’. Nguyên văn: ‘’we should
stop playing cops and robbers and get back to talking
straight to Saigon Government’’ (The Pentagon Paper, p. 174)
Đang khi đó Tổng Thống Kennedy tỏ ra vô cùng bực bội.
Ngày 2.9. Tổng Thống Kennedy lên đài truyền h́nh CBS, tuyên
bố: ‘’chúng ta thấy những cuộc đàn áp Phật Giáo (tại miền
Nam Việt Nam) là những hành động cực kỳ thiếu khôn ngoan và
bây giờ chúng ta không thể làm ǵ khác hơn là khẳng định một
cách rơ rệt rằng: Chúng ta không nghĩ đó là phương thức để
chiến thắng cộng sản’’.
Kư giả Walter Conkrite hỏi: ‘’Liệu Chính Quyền
Ngô Đ́nh Diệm có c̣n th́ giờ để lấy lại sự hậu thuẫn của
quần chúng hay không ?’’ Tổng Thống Kennedy trả lời: ‘’C̣n,
nếu họ chịu thay đổi chính sách và có lẽ thay đổi cả nhân
sự’’.
Trong bối cảnh chính trị lúc đó, ai cũng hiểu rằng, khi ám
chỉ đến một sự thay đổi nhân sự trong Chính Quyền Ngô Đ́nh
Diệm, Tổng Thống Kennedy muốn nói đến việc loại bỏ Ngô Đ́nh
Nhu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử bang giao Mỹ-Việt,
một vị Tổng Thống Hoa Kỳ công khai và minh thị lên án Chính
Quyền miền Nam. Nghiêm trọng hơn, Tổng Thống Hoa Kỳ đă công
khai đứng vào hàng ngũ của nhóm đấu tranh quá khích tại Sài
G̣n đang đ̣i lật đổ chính quyền.
Tổng Thống Hoa Kỳ đă công khai đồng hóa nhóm quá khích ấy
với Phật Giáo và đă minh thị đồng hóa nhóm quá khích ấy với
nhân dân Việt Nam. Những sai lầm thô bạo nói trên đă hầu hết
được các tác giả sau này phê phán nghiêm khắc, coi đó như
những xuẩn động của chính quyền Kennedy.
Cùng ngày 2.9 tại Sài G̣n, tờ Times of Vietnam (của chính
phủ) kéo tít lớn tố cáo CIA âm mưu đảo chính chống lại Chính
Quyền miền Nam Việt Nam. Bang giao giữa Dinh Độc Lập và Ṭa
Bạch Ốc đă căng thẳng lại càng căng thẳng hơn. Sự kiện này
đă được nhóm đấu tranh quá khích tại Sài G̣n triệt để khai
thác. Nó cũng được nhóm chống Ngô Đ́nh Diệm trong Ṭa Bạch
Ốc triệt để khai thác.
Đang khi đó, anh em ông Diệm càng ngày càng tỏ ra quyết liệt
đối với nhóm đấu tranh quá khích, cũng như đối với những đ̣i
hỏi của Ṭa Bạch Ốc.
7.- Công điện số 478, Đại Sứ Lodge gửi Bộ Ngoại Giao
Sau những lời tuyên bố của Tổng Thống Kennedy trên đài
truyền h́nh CBS, Ṭa Bạch Ốc vẫn không t́m hướng đi rơ rệt,
nhất là không t́m được giải pháp cho vấn đề Ngô Đ́nh Diệm.
Đúng lúc đó Robert Kennedy xuất hiện.
Trong một phiên họp các Cố Vấn về chính sách đối ngoại của
Tổng Thống Kennedy tại Ṭa Bạch Ốc, Robert Kennedy nói:
‘’Nếu thấy không thể thắng được chiến tranh Việt Nam dưới
bất cứ một chính thể nào tại miền Nam, th́ bây giờ là lúc
Hoa Kỳ nên rút khỏi miền Nam. Nhưng nếu nhận định rằng chế
độ Ngô Đ́nh Diệm là một trở ngại cho cuộc chiến thắng, th́
Đại Sứ Lodge phải được trao cho toàn quyền hành động để đem
lại những thay đổi cần thiết’’.
Vấn đề cắt viện trợ lại được đặt ra, nhất là vấn đề cắt
lương của Lực Lượng Đặc Biệt do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy
và vấn đề lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm lại được đem lên
thảm xanh của Ṭa Bạch Ốc.
Robert Kennedy, thay mặt anh ruột, đề nghị Ngũ Giác Đài cho
biết ư kiến của các Cố Vấn Quân Sự tại chiến trường miền Nam
để giúp Ṭa Bạch Ốc có dữ kiện hầu t́m một giải pháp thỏa
đáng và dứt khoát cho vấn đề Việt Nam.
Đại Tướng Taylor, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, bèn cử
Trung Tướng Victor Krulag đi Việt Nam. Roger Hillsman v́ sợ
Ngũ Giác Đài không am hiểu chính trị và sẽ gây trở ngại cho
chủ trương lật đổ Ngô Đ́nh Diệm, cho nên bèn đề nghị Joseph
Mendenhall cùng đi với Tướng Krulag.
Phái đoàn ‘’đi t́m sự thật’’ đến Việt Nam ngày 7.9 và trở về
Washington ngày 9.9. Trong hai ngày, họ đă t́m thấy sự
thật!!!
Ngày 10.9, Tổng Thống Kennedy và các cố vấn họp khẩn cấp tại
Ṭa Bạch Ốc để nghe phái đoàn tường tŕnh về chuyến đi t́m
sự thật.
Theo Mendenhall (thuộc nhóm Hillsman) th́ Chính
Quyền Ngô Đ́nh Diệm đang đi đến sụp đổ toàn diện, dân chúng
sợ và ghét vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu t́nh h́nh có thể đưa đến
một cuộc chiến tranh tôn giáo, hoặc một phong trào quần
chúng rộng lớn đi theo việt cộng. Mendenhall kết luận:
‘’Nhu phải ra đi, nếu chúng ta muốn thắng cuộc chiến tranh
Việt Nam’’ (Memorandum of conference with the president,
sept 10.1963, Box 316, National security files, John F.
Kennedy library, được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam,
trang 135)
Quan điểm của Tướng Krulag th́ hoàn toàn khác. Theo Tướng
Krulag th́ cuộc chiến đấu quân sự vẫn đang tiến hành với một
nhịp độ đáng khâm phục. Cuộc khủng hoảng chính trị cũng có
ảnh hưởng đến, nhưng không bao nhiêu, việt cộng sẽ thua, nếu
Mỹ vẫn tiếp tục những chương tŕnh viện trợ về quân sự và xă
hội, không cần lư đến những thiếu xót trầm trọng của Chính
Quyền Ngô Đ́nh Diệm (Report, Visit to Vietnam, 7-8. sept
1963, Box 316, National security, John F. Kennedy library,
được trích dẫn trong Kennedy in Vietnam, trang 135)
Nghe xong phúc tŕnh đối chọi nhau của hai người cùng đi
trong phái đoàn t́m sự thật, Tổng Thống Kennedy chỉ c̣n biết
kêu trời.
Chính lúc đó Đại Sứ Lodge lại nhảy vào ṿng chiến, lần này
với sự trắng trợn và quyết liệt ít thấy nơi một nhà ngoại
giao Tây Phương. Trong một công điện đặc biệt gửi về
Washington (công điện số 478) Đại Sứ Lodge khẳng định rằng:
Chính Quyền miền Nam đă hiển nhiên tách rời ra khỏi thực tế.
Ông ví chế độ Diệm với một chiếc tàu đang ch́m dần xuống
biển. Ông chủ trương chính quyền Mỹ phải cố gắng một lần nữa
để khích lệ một cuộc đảo chánh và ông kết luận: ‘’đă đến lúc
Hoa Kỳ phải dùng mọi chế tài hữu hiệu có trong tay để lật đổ
chính quyền hiện hữu và thiết lập một chính quyền khác’’.
Nguyên văn: ‘’The time has arrived for the US to use what
effective sanctions it has to bring about the fall of the
existing government and the in installation of
another’’ (Telegram 478, Saigon to State, Box 316,
Nationalsecurity file JFK library, được trích dẫn trong
Kennedy in Vietnam, trang 138)
Trong công điện, Đại Sứ Lodge c̣n cho biết: Biện pháp chế
tài hữu hiệu nhất, sẽ là cắt viện trợ trong một số lănh vực
lựa chọn, như một tín hiệu ủng hộ cuộc đảo chánh, điều mà
các Tướng lănh Việt Nam đă từng yêu cầu cuối tháng 8 vừa
qua.
8.- Công điện ngày 17.9 Ṭa Bạch Ốc gửi Đại Sứ Lodge
Công điện số 478 của Đại Sứ Lodge được đem ra mổ xẻ trước
Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và ngày 17.9, Ṭa Bạch Ốc gửi cho
Đại Sứ Lodge một công điện tóm tắt và xác quyết lập trường
của Hội Đồng về những biện pháp đối phó với t́nh h́nh miền
Nam. Bức công điện gồm 10 điểm. Dưới đây là những điểm
chính:
a.- Ṭa Bạch Ốc chưa thấy có cơ hội tốt để lật
đổ Ngô Đ́nh Diệm lúc này (điểm 2 của công điện).
b.- Ṭa Bạch Ốc cho phép Đại Sứ Lodge được tùy nghi tŕ hoăn
những cuộc cung cấp hoặc chuyển tiền viện trợ của bất cứ một
cơ quan Mỹ nào cho Chính Quyền miền Nam, nếu Đại Sứ Lodge
nghĩ rằng những cuộc cung cấp hoặc chuyển tiền viện trợ ấy
không có lợi cho Mỹ. Ṭa Bạch Ốc cũng nhấn mạnh rằng Đại Sứ
Lodge nên sử dụng quyền này để hạn chế tất cả những h́nh
thức viện trợ cho (hoặc qua) Ngô Đ́nh Nhu hoặc những cá nhân
liên hệ với Nhu, tỷ như Lê Quang Tung (điểm 3).
c.- Ṭa Bạch Ốc chỉ thị cho Đại Sứ Lodge phải
buộc Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm phải cải thiện như, thả hết
sinh viên Phật tử, cho báo chí được tự do ngôn luận, giới
hạn mật vụ và Cảnh Sát chiến đấu vào nhiệm vụ hành quân tiểu
trừ việt cộng thay v́ đối lập, cải tổ nội các, chấp nhận tự
do bầu cử, chấp nhận phái đoàn Phật Giáo quốc tế đến điều
tra tại Việt Nam, hủy bỏ Dụ số 10 (điểm 4)
d.- Ṭa Bạch Ốc chỉ thị Đại Sứ Lodge phải làm áp
lực buộc Ngô Đ́nh Nhu ra khỏi Việt Nam (điểm 6)
e.- Ṭa Bạch Ốc khuyên Đại Sứ Lodge nên mở lại
và tiếp tục đối thoại với Tổng Thống Diệm và thâm lượm tin
tức t́nh báo (điểm 8)
f.- Ṭa Bạch Ốc khuyên chờ đợi ư kiến của Đại Sứ
Lodge đối với chương tŕnh phác họa ở trên, trước khi Ṭa
Bạch Ốc có quyết định cuối cùng.
Đây chỉ là một kế hoạch tạm thời (Telegram 63516, White
House to Lodge Sept 17. 1963, The Pentagon Papers, p. 206)
Đọc bức công điện trên, chúng ta thấy Ṭa Bạch Ốc vẫn giữ
vững chủ trương phải lật đổ ông Diệm. Nhưng v́ chưa có cơ
hội tốt để lật đổ ông Diệm, nên Ṭa Bạch Ốc phải đưa ra một
kế hoạch tạm thời để đối phó với t́nh h́nh, Ṭa Bạch Ốc ban
cho Đại Sứ Lodge toàn quyền tu chính và Ṭa Bạch Ốc sẽ chỉ
đưa ra quyết định cuối cùng, sau khi nhận được phúc đáp của
Đại Sứ Lodge.
9.- Công điện ngày 19.9, Đại Sứ Lodge gửi Tổng Thống Kennedy
Công điện nói trên của Ṭa Bạch Ốc không làm cho Đại Sứ
Lodge hài ḷng. Ông không muốn tiếp xúc với Ông Diệm. Ông
cho rằng: Đề nghị cải tổ cũng như đ̣i ông Diệm phải loại bỏ
Ngô Đ́nh Nhu là một việc làm vô ích. Trước sau, ông vẫn chủ
trương phải lật đổ ông Diệm để cải thiện miền Nam.
Ngày 19.9. Đại Sứ Lodge gửi cho Tổng Thống Kennedy một công
điện gồm 11 điểm. Dưới đây là những điểm chính:
a.- Đồng ư với Ṭa Bạch Ốc rằng hiện nay chưa có
cơ hội tốt để lật đổ Diệm, v́ vậy phải tạm thời làm bất cứ
những ǵ chúng ta có thể làm được, trong khi chờ đợi cơ hội
đó đến (điểm 1).
b.- Không kỳ vọng lắm vào những cuộc tiếp xúc
với Diệm, cũng như không kỳ vọng lắm vào những hứa hẹn cải
tổ của Diệm (điểm 2).
c.- Không nghĩ rằng việc công khai tiếp xúc với
Diệm có thể giải quyết thỏa đáng những vấn đề mà t́nh thế
đặt ra. Theo Dương Văn Minh cho biết mới đây th́ việt cộng
càng ngày càng lớn mạnh, càng được ḷng dân, những cuộc bắt
bớ vẫn tiếp tục, các nhà tù đầy ắp, thêm nhiều sinh viên đă
đi theo việt cộng, chính quyền càng ngày càng tham nhũng và
ăn cắp tiền viện trợ Mỹ (điểm 4).
d.- Đang nghiên cứu biện pháp ngăn chận viện trợ
để trừng phạt Diệm-Nhu mà không gây ra sự sụp đổ vỡ kinh tế
và trở ngại cho nỗ lực chiến đấu của Quân Đội (điểm 5).
e.- Đề nghị Ṭa Bạch Ốc cứu xét vấn đề ủng hộ
một quân đội biệt lập với Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Bức công điện viết như sau:
‘’Tôi cũng nghĩ rằng bất cứ biện pháp chế tài nào mà chúng
ta t́m được, phải được trực tiếp nối liền với một cuộc đảo
chánh có triển vọng thành công. Ngoài viễn tượng nói trên,
các biện pháp chế tài ấy sẽ không được áp dụng. Trong chiều
hướng đó, tôi nghĩ rằng chúng ta nên tiếp tục tiếp xúc với
Big Minh và thúc dục ông ta tiến tới, nếu ông ta xem ra c̣n
muốn hành động. Tôi (Cabot Lodge) đặc biệt nghĩ rằng Ṭa
Bạch Ốc nên nghiêm chỉnh cứu xét vấn đề ủng hộ một Quân Đội
Việt Nam biệt lập với chính quyền’’. Nguyên văn câu cuối
cùng:I particularly think that the idea of supporting a
Vietnamese Army independent of the government should be
energically studied. (Cablegram 544, Ambassador Lodge to
State dept. , ‘’For President only’’, sept 19.1963, The
Pentagon Papers, p. 208-209)
Chúng ta cần ghi nhận những điều sau đây, liên quan tới bức
công điện nói trên.
* Đại Sứ Lodge bác bỏ việc mở lại những cuộc
tiếp xúc với ông Diệm. Ông vẫn chủ trương phải lật đổ Ngô
Đ́nh Diệm.
* Đại Sứ Lodge dùng lời lẽ của Tướng Dương Văn
Minh để lên án Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
* Đại Sứ Lodge chủ trương phải tiếp tục tiếp xúc
với Tướng Dương Văn Minh, thúc dục Tướng Minh làm đảo chánh.
* Đại Sứ Lodge thúc dục Ṭa Bạch Ốc phải cứu xét
vấn đề ủng hộ ‘’một Quân Đội Việt Nam độc lập với chính
quyền trung ương’’. Nói cách khác, một Quân Đội Việt Nam
không chịu mệnh lệnh của vị Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Tối
Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Nói cách khác, một Quân Đội
chịu mệnh lệnh của ngoại bang và phục vụ ngoại bang trong
những mưu đồ bất chính của ngoại bang.
Tháng 10.1963, một phái đoàn gồm Tổng Trưởng Quốc Pḥng
McNamara và Đại Tướng Taylor được Tổng Thống Kennedy cử sang
Việt Nam để thẩm định t́nh thế, đồng thời ước tính triển
vọng về một cuộc đảo chánh tại miền Nam. Phái đoàn rời Sài
G̣n 2.10. Bản phúc tŕnh của họ lạc quan về t́nh h́nh quân
sự, nhưng bi quan về t́nh h́nh chính trị. Họ khuyến cáo Tổng
Thống Kennedy phải áp dụng những biện pháp chế tài về kinh
tế đối với Tổng Thống Diệm. Một trong những biện pháp đề
nghị là, ngưng viện trợ cho Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Một điểm đáng ghi nhận là, trong chuyến đi, Tướng Taylor và
Tổng Trưởng Quốc Pḥng McNamara đă đích thân đến thăm Tướng
Dương Văn Minh...
10.- Công điện ngày 5.10, Đại Sứ Lodge gửi Bộ Ngoại Giao
Ngày 2.10, khi phái đoàn Mc. Namara-Taylor rời Sài G̣n để
trở về Washington, th́ Lucien Conein được lệnh của Đại Sứ
Lodge phải mở lại những cuộc tiếp xúc với Tướng Trần Văn
Đôn. Hai người gặp nhau tại bờ biển Nha Trang. Trong cuộc
gặp gỡ, Tướng Đôn cho Conein biết, nhóm đảo chánh đă thuyết
phục được Tướng Tôn Thất Đính và Quân Đội đă sẵn sàng để lật
đổ ông Diệm. Tướng Đôn cũng yêu cầu Conein đích thân đến gặp
Tướng Minh.
Ngày 5.10, Đại Sứ Lodge gửi về Bộ Ngoại Giao một công điện
gồm 10 điểm để tường tŕnh về cuộc tiếp xúc giữa Conein và
Tướng Minh. Dưới đây là những điểm chính:
a.- Trung Tá Lucien Conein tiếp xúc với Dương
Văn Minh trong một giờ mười phút tại bản doanh của Dương Văn
Minh Đường Lê Văn Duyệt. Conein đă được phép của Ṭa Bạch Ốc
để làm việc này. Họ chỉ có hai người và nói với nhau bằng
tiếng Pháp (điểm 1).
b.- Dương Văn Minh nói với Conein rằng ông ta
cần phải biết rơ lập trường của chính quyền Mỹ đối với một
cuộc thay đổi chính quyền tại miền Nam trong một tương lai
rất gần. Dương Văn Minh cho biết, nhóm đảo chánh, ngoài ông
ta ra, gồm các Tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Trần Thiện
Khiêm (điểm 2).
c.- Dương Văn Minh cho biết ông ta không kỳ vọng
một sự giúp đỡ đặc biệt nào của Mỹ trong việc thay đổi chính
quyền, nhưng ông ta cần chính quyền Mỹ cam kết rằng sẽ không
t́m cách làm hỏng kế hoạch của ông ta (điểm 3).
d.- Dương Văn Minh phác họa ba kế hoạch để thay
đổi chính quyền.
Thứ nhất: Ám sát Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và giữ Tổng
Thống Diệm lại.
Thứ hai: Bao vây Thủ Đô Sài G̣n bằng những đơn vị khác nhau,
đặc biệt là những đơn vị đồn trú tại Bến Cát.
Thứ ba: Trực tiếp giàn quân đánh nhau với quân chính phủ.
Dương Văn Minh cho biết Nhu có thể trông cậy vào một số quân
trung thành khoảng 5. 500 binh sĩ (điểm 5).
e.- Dương Văn Minh cho biết ba người nguy hiểm
nhất miền Nam là Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Trọng
Hiếu. Conein nói: Lê Quang Tung là người đáng sợ hơn, th́
Dương Văn Minh trả lời: Khi tôi loại trừ được Nhu, Cẩn và
Hiếu rồi, th́ Tung sẽ qùy xuống trước mặt tôi (điểm 7).
f.- Dương Văn Minh nói rằng ông ta rất thắc mắc
về vai tṛ của Trần Thiện Khiêm. Trần Thiện Khiêm có thể đă
đi hàng hai trong vụ tháng 8 vừa qua. Trước đó, CIA đă đưa
cho Khiêm họa đồ căn cứ Long Thành và bản kê khai vũ khí tại
căn cứ này để Khiêm trao lại cho Dương Văn Minh. Nay Dương
Văn Minh muốn có bản sao những tài liệu đó để đối chiếu với
những tài liệu mà Khiêm đă trao cho ông ta (điểm 8).
g.- Dương Văn Minh cho biết một trong những lư
do khiến ông ta phải hành động gấp rút là, nhiều sĩ quan chỉ
huy Trung Đoàn, Tiểu Đoàn và Đại Đội cũng đang tự động đứng
ra tổ chức những cuộc đảo chánh riêng, họ có thể thất bại và
di hại đến đại cuộc (điểm 9). (Telegram 1445, Lodge to
State, oct 5.1963, The Pentagon Papers, p. 213).
Chúng ta nên ghi nhận những điểm quan trọng sau đây:
Thứ nhất: Trước khi đảo chánh, Tướng Dương Văn
Minh muốn biết rơ lập trường dứt khoát của Hoa Kỳ về việc
thay đổi Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm. Đây là một h́nh thức xin
phép, trước khi hành động. Nhóm Tướng lănh Việt Nam chỉ dám
đảo chánh, khi biết chắc Mỹ cho phép đảo chánh và bật đèn
xanh cho phép đảo chánh.
Thứ hai: CIA Mỹ đă vẽ họa đồ căn cứ Long Thành
(tức căn cứ của Lực Lượng Đặc Biệt trung thành với ông Diệm)
và lập bản kê khai vũ khí của căn cứ này trao cho nhóm Tướng
lănh đảo chánh.
Cũng ngày 5.10, Đại Sứ Lodge gởi thêm một điện văn nữa về Bộ
Ngoại Giao đề nghị cho phép Conein, trong cuộc tiếp xúc lần
tới với Tướng Dương Văn Minh, được quyền.
Thứ nhất: Hứa với Tướng Minh rằng Hoa Kỳ sẽ
không t́m cách làm hỏng cuộc đảo chánh của ông ta.
Thứ hai: Cam kết với Tướng Minh rằng Hoa Kỳ sẽ
tiếp tục viện trợ cho Việt Nam sau khi đảo chánh, miễn là
chính quyền mới hứa tranh thủ nhân tâm và chiến thắng cộng
sản (The Pentagon Papers, p. 215).
11.- Công điện ngày 5.10, Tổng Thống Kennedy gửi Đại Sứ
Lodge
Cũng ngày 5.10, Tổng Thống Kennedy gửi mật điện, ra chỉ thị
cho Đại Sứ Lodge không nên ngầm khuyến khích một cuộc đảo
chánh. Nhưng ông cũng chỉ thị cho Đại Sứ Lodge phải cấp tốc
bí mật nhận diện và tiếp xúc với những người có thể thay thế
ông Diệm. Ông căn dặn Đại Sứ Lodge phải tuyệt đối bí mật và
hành động khôn khéo, để sau này chính quyền Mỹ có thể chối
căi một cách dễ dàng là đă không nhúng tay vào vụ lật đổ Ngô
Đ́nh Diệm (Telegram 63560, White House to Lodge Aug 5. 1963,
The Pentagon Papers p. 215).
Chúng ta ngạc nhiên về thái độ khó hiểu và đầy mâu thuẫn của
Tổng Thống Kennedy. Ông chỉ thị cho Đại Sứ Lodge phải cấp
tốc bí mật nhận diện và tiếp xúc với những người có thể thay
thế ông Diệm. Sự thật, không khó hiểu. Tổng Thống Kennedy đă
gửi mật điện nói trên, trước khi nhận được công điện số 1445
ngày 5.10 của Đại Sứ Lodge cho biết Tướng Dương Văn Minh đă
sẵn sàng để lật đổ ông Diệm.
Sau khi nhận được công điện 1445 báo tin Tướng Dương Văn
Minh đă sẵn sàng để đảo chánh, Tổng Thống Kennedy gửi ngay
điện văn dưới đây cho Đại Sứ Lodge.
12.- Điện văn ngày 6.10, Tổng Thống Kennedy gửi Đại Sứ Lodge
Điện văn này có hai đoạn quan trọng:
Đoạn một có câu sau đây: ‘’Đành rằng chúng ta không muốn xúi
dục một cuộc đảo chánh, nhưng chúng ta cũng không nên để lại
cảm tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn một cuộc thay đổi chính
quyền và sẽ từ chối viện trợ kinh tế và quân sự cho chế độ
mới’’.
Đoạn hai của điện văn có đoạn sau đây: ‘’Về vấn đề đặc biệt
của Dương Văn Minh, ông Đại Sứ phải nghiêm chỉnh nghĩ đến
việc cho nhân viên (tức Conein) đến nói với Minh rằng: Trong
t́nh trạng hiểu biết hiện tại của nhân viên, nhân viên không
thể nghiêm chỉnh đệ tŕnh vấn đề lên cấp trên cứu xét. Muốn
tŕnh lên cấp trên và được cấp trên cứu xét, nhân viên cần
phải có những chi tiết chứng tỏ một cách rơ rệt rằng kế
hoạch của Minh có nhiều triển vọng thành công. Với tin tức
được cung cấp cho tới nay, nhân viên không thấy có triển
vọng đó. (Telegram 74228, White House to Lodge, Oct 6.1963,
The Pentagon Papers, p. 216)
Chúng ta nhận thấy rơ sự bất lương và đạo đức giả của những
kẻ mà Phó Tổng Thống Johnson đă gọi là ‘’vừa đánh trống vừa
ăn cướp’’. Tổng Thống Kennedy và những Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc
tưởng rằng với luận điệu ‘’không khuyến khích cuộc đảo chánh
và cũng không ngăn cản cuộc đảo chánh’’, họ có thể rửa sạch
hai bàn tay nhơ bẩn của họ trước lịch sử. Quyển ‘’Kennedy in
Vietnam’’ mỉa mai như sau: ‘’Sự phân biệt giữa khuyến khích
một cuộc đảo chánh’’ với ‘’không làm hỏng cuộc đảo chánh’’
là một lối chơi chữ lắt léo không đếm xỉa ǵ đến ảnh hưởng
của Mỹ tại miền Nam, việc Mỹ hứa ủng hộ kinh tế quân sự cho
nhóm đảo chánh sẽ có hậu quả khuyến khích các Tướng lănh làm
đảo chánh, cũng như việc Mỹ đe dọa từ chối viện trợ đă từng
có hậu quả làm nản ḷng nhiều vụ âm mưu đảo chánh trước đó’’
(Sách đă dẫn, trang 148).
William Colby, cựu Giám Đốc CIA tại Việt Nam, sau này cũng
nói: ‘’trong các công điện, người ta cứ nhắc đi nhắc lại
rằng chính các Tướng lănh Việt Nam mới là kẻ quyết định về
việc lật đổ ông Diệm, chứ không phải chúng ta. Luận điệu này
dễ nghe lắm, nhưng thật ra nó phản lại thực tế, nếu bạn nghĩ
đến cái tư thế cực kỳ quan trọng của người Mỹ tại Việt Nam’’
(Sách đă dẫn, trang 148).
Chúng ta cũng thấy rơ Tổng Thống Kennedy quyết tâm và mong
muốn lật đổ Tổng Thống Diệm. Khi được biết rơ ư định của
Tướng Dương Văn Minh muốn đảo chánh, ông vội vàng ra chỉ thị
cho Ṭa Đại Sứ phải lập tức phối kiểm xem kế hoạch đảo chánh
có nhiều triển vọng thành công hay không. Tại Sao Tổng Thống
Kennedy lại muốn biết điều đó? Câu trả lời nằm ngay trong
câu hỏi. Tổng Thống Kennedy muốn biết rơ, để c̣n bật đèn
xanh cho các Tướng lănh khởi sự.
13.- Công điện ngày 25.10, Đại Sứ Lodge gởi Bundy
Ngày 6.10, chính quyền Kennedy cắt viện trợ. Tín hiệu đă
được đưa vào băng tần và được gởi đến các Tướng lănh Việt
Nam. Sài G̣n lên cơn sốt đảo chánh. Nhóm Tướng lănh phản
loạn coi đó như là một bằng cớ cụ thể chứng minh Ṭa Bạch Ốc
đă thực sự dẫn thân và thực sự ủng hộ việc lật đổ ông Diệm.
Tin đồn sẽ có đảo chánh và cuộc đảo chánh được Mỹ ủng hộ lan
tràn trong dân chúng như khói thuốc pháo. Riêng Ṭa Đại Sứ
Mỹ tại Sài G̣n, họ dồn mọi nỗ lực để chạy đua với kim đồng
hồ trong việc tiếp súc với các Tướng lănh.
Ngày 25.10, Đại Sứ Lodge gửi công điện số 1964 cho George
Bundy, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Bức công điện gồm 8
điểm. Dưới đây là những điểm chính:
a.- Nhân viên của tôi (Lucien Conein) vẫn thi hành nghiêm
chỉnh những chỉ thị của tôi. Chính tôi đích thân chấp thuận
mọi cuộc gặp gỡ giữa Conein và Đôn (điểm 2).
b.- Đôn và các Tướng lănh của ông ta đang thực sự t́m cách
thực hiện một sự thay đổi trong chính quyền. Tôi không tin
rằng đây là một cuộc đảo chánh giả của Ngô Đ́nh Nhu.
Trong trường hợp cuộc đảo chánh thật bị thất bại, cũng như
trong trường hợp cuộc đảo chánh giả của Nhu thành công, tôi
tin rằng sự liên hệ của chúng ta cho tới ngày hôm nay qua
Lucien Conein vẫn c̣n là điều có thể dễ dàng chối căi. Cơ
Quan CIA hoàn toàn sẵn sàng để cho tôi có thể phủ nhận
Conein bất cứ lúc nào (điểm 4).
c.- Chúng ta không muốn làm hỏng một cuộc đảo chánh cũng như
chúng ta không có ngay cả tư thế để làm hỏng cuộc đảo chánh,
khi mà chúng ta không biết rơ những ǵ xảy ra (điểm 5).
d.- Chúng ta không nên làm hỏng một cuộc đảo chánh, v́ hai
lư do:
Thứ nhất: Chắc chắn chính quyền kế tiếp sẽ không vụng về và
không hành động sai lầm như chính quyền hiện hữu.
Thứ hai: Nếu chúng ta dội nước lạnh trên những cuộc âm mưu
đảo chánh, nhất là trong khi những cuộc âm mưu ấy đang ở
trong thời kỳ bắt đầu, th́ đó là một điều cực kỳ thất sách
cho chúng ta về lâu về dài. Chúng ta nên nhớ rằng đảo chánh
là phương thức độc nhất để nhân dân Việt Nam có thể thực
hiện một cuộc thay đổi chính quyền (điểm 6).
e.- Tướng Đôn cho biết sẽ không có kỳ thị tôn giáo trong
chính phủ tương lai. Ư định đó đáng khen, và tôi hoan nghên
ư của ông ta không muốn làm một thứ ‘’chư hầu’’ của Mỹ.
Tôi muốn thêm hai đ̣i hỏi.
Thứ nhất: Không nên thanh trừng toàn thể nhân viên trong
chính quyền. Những cá nhân nào đặc biệt đáng bị trách cứ có
thể bị mang ra trước pháp luật sau này để xét xử.
Thứ hai: Tôi đang nghĩ đến một chính quyền trong đó có Trí
Quang và những nhân vật tầm vóc như Trần Quốc Bửu, Chủ Tịch
Nghiệp Đoàn Lao Động (điểm7).
Đọc bức điện tín trên đây, chúng ta thấy những móng vuốt
nhọn hoắc và lông lá của Mỹ đă cắm sâu lút vào vận mệnh miền
Nam. Họ sắp đặt cuộc đảo chánh cho miền Nam và sắp đặt luôn
cả thành phần chính phủ tương lai miền Nam.
Một điều mà chúng ta không thể không nh́n thấy là sự thiếu
thành thật của Đại Sứ Lodge, nếu không nói là bất lương.
Ông vẫn lập đi lập lại rằng: Mỹ không nên làm hỏng cuộc đảo
chánh, chẳng những vậy ông c̣n khẳng định rằng Mỹ không có
ngay cả khả năng để làm điều đó. Viết như vậy, ông đă quên
bức công điện số 375 trong đó ông đ̣i Ṭa Bạch Ốc phải triệt
để ủng hộ các Tướng lănh trong việc lật đổ ông Diệm. Trong
bức công điện đó ông đă viết: ‘’cơ may thành công của cuộc
đảo chánh tùy thuộc vào các Tướng lănh Việt Nam một mức độ
nào đó, nhưng cũng tùy thuộc vào chúng ta, ít nhất cũng có
một mức độ đó’’
(Telegram 375, Lodge to Stat, Aug 29.1963).
14.- Công điện 30.10, Bundy gửi Đại Sứ Lodge
Bức công điện ngày 25.10 của Đại Sứ Lodge vẫn không trấn an
được Tổng Thống Kennedy. Thâm tâm Tổng Thống Kennedy rất
muốn lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng ông lại sợ thất
bại và bị chê cười trong âm mưu lật đổ Fidel Castro hồi
tháng 4.1961. Ông sợ mất uy tín, tin tưởng dư luận trong
nước và ngoài nước. Lần này, lật đổ Ngô Đ́nh Diệm ông chủ
trương ‘’đă ra tay là phải thắng’’. Nhưng, những tin tức của
Đại Sứ Lodge gửi về đă không đủ để cho ông tin một cách chắc
chắn rằng cuộc đảo chánh sẽ thành công. V́ vậy, ngay sau
khi nhận được công điện ngày 25.10 của Đại Sứ Lodge, George
Bundy, vị Cố Vấn được tín nhiệm nhất tại Ṭa Bạch Ốc đă được
lệnh phải cấp tốc gửi ngay tối hôm đó bức công điện số 63590
nói rơ cho Đại Sứ Lodge biết rằng Tổng Thống vẫn lo ngại
không thành công. (Telegram 63590, Bundy to Lodge, Oct
25.1963, Box 201, National security files, JFK library).
Bốn ngày sau, ngày 29.10, Đại Sứ Lodge báo cho Ṭa Bạch Ốc
biết, một cuộc đảo chánh sắp xảy ra. Ông quan niệm rằng: Hoa
Kỳ không nên cũng như không thể ngăn chặn được cuộc đảo
chánh, trừ phi đi báo cho Diệm và Nhu biết, một hành động sẽ
làm ô nhục cho Hoa Kỳ. (The Overthrow of Ngo Dinh Diem,
United States - Vietnam Relation III, pg 46).
Tổng Thống Kennedy vẫn không an tâm. Ông sợ các Tướng lănh
Việt Nam sẽ thất bại và sự thất bại ấy sẽ kéo theo tất cả uy
tín c̣n lại của ông đối với các nước trong vùng Đông Nam Á.
V́ vậy, ngày 30.10. Bundy được lệnh phải cấp tốc gửi một
công điện cho Đại Sứ Lodge để nói rơ những ưu tư của Tổng
Thống Kennedy về cuộc đảo chánh sẽ xảy ra. Bức công điện gồm
10 điểm. Dưới đây là những điểm chính:
a.- Ṭa Bạch Ốc tin rằng thái độ của chúng ta đối với nhóm
đảo chánh vẫn c̣n có hậu quả quyết định đối với họ. Ṭa Bạch
Ốc tin rằng lời nói của chúng ta đối với nhóm đảo chánh có
thể khiến họ hoăn lại cuộc đảo chánh...Cuộc sắp hàng các lực
lượng tại Sài G̣n cho thấy hai bên (quân chính phủ và quân
đảo chánh) gần như đang đồng cân đồng lạng. Như vậy, cuộc nổ
súng sẽ kéo dài và quân đảo chánh có thể sẽ bị đánh bại.
Trong cả hai trường hợp, hậu quả sẽ cực kỳ nghiêm trọng và
tai hại cho quyền lợi của nước Mỹ. V́ vậy, chúng ta phải có
được sự bảo đảm rằng tương quan lực lượng quân sự thực sự
nghiêng về phía quân đảo chánh (điểm 2)
b.- Trong trường hợp ông rời khỏi Sài G̣n một ngày nào đó
trước ngày đảo chánh, th́ trước khi đi, ông cần phải tham
khảo ư kiến đầy đủ với Tướng Harkins và Pḥng Trung Ương
T́nh Báo để có những sắp xếp rơ rệt về
* Việc điều hành những hoạt động thông thường.
* Việc tiếp xúc với nhóm đảo chánh.
* Việc phải làm khi cuộc đảo chánh khởi sự. (điểm7)
c.- Nếu cuộc đảo chánh xảy ra, vấn đề bảo vệ các kiều dân Mỹ
sẽ tức khắc được đặt ra. Ṭa Bạch Ốc có thể cho không vận
Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa tới Sài G̣n trong
24 tiếng đồng hồ. Ṭa Bạch Ốc đă ra lệnh cho CINCPAC sắp xếp
cuộc Ngô Đ́nh Diệm chuyển của Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến
bằng đường thủy đến hải phận Nam Việt Nam (điểm 8)
d.- Ṭa Bạch Ốc hiện đang cứu xét những trường hợp bất ngờ
có thể xảy ra sau khi cuộc đảo chánh bùng nổ. Yêu cầu ông
Đại Sứ cho biết ngay những khuyến cáo của ông về thái độ mà
Ṭa Bạch Ốc phải có sau khi cuộc đảo chánh khởi sự, đặc biệt
đối với những yêu cầu để hành động trong trường hợp cuộc đảo
chánh: Thành công, thất bại hoặc không ngă ngũ (điểm 9).
e.- Ṭa Bạch Ốc nhắc lại rằng nhóm đảo chánh có trách nhiệm
phải đưa bằng cớ chứng minh rằng họ thực sự có triển vọng sẽ
thành công mau lẹ. Nếu không, chúng ta sẽ phải cản ngăn họ
đừng đảo chánh, bởi lẽ, một tính toán sai lầm sẽ đưa tới hậu
quả làm tổn thương đến tư thế của nước Mỹ tại vùng Đông Nam
Á. Đây là điểm 10 và cũng là điểm chót của bức công điện.
(Telegram 79079, Bundy to Lodge, Oct 30.1963, Box 317,
National security files, John F. Kennedy library)
Chúng ta nhận thấy rơ tâm trạng của Tổng Thống Kennedy. Ông
rất muốn lật đổ ông Diệm, nhưng sợ thất bại. Ông đă ẩn náu
ḿnh trong cái tṛ chơi ngôn ngữ ‘’đừng khuyến khích cuộc
đảo chánh cũng như đừng làm hỏng cuộc đảo chánh’’ để có thể
chối tội sau này. Nhưng ông dấu đầu hở đuôi. Thật vậy, tại
điểm 10 của bức điện tín nói trên, Ṭa Bạch Ốc (tức Kennedy)
đă ra lệnh cho Đại Sứ Lodge phải ngăn chặn cuộc đảo chánh
không có triển vọng thành công. Th́ ra, chánh sách ‘’không
được ngăn chặn cuộc đảo chánh’’ mà Tổng Thống Kennedy đă đề
ra cho siêu cường Mỹ trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963,
không áp dụng cho một cuộc đảo chánh có triển vọng thành
công. Nó chỉ áp dụng cho một cuộc đảo chánh không có triển
vọng thành công. Đó là đạo đức quốc gia của nước Mỹ và đó
cũng là cái thông minh của Tổng Thống Kennedy trong vụ lật
đổ ông Diệm năm 1963.
Người xưa đă dạy: ‘’muốn nói dối, th́ phải có một trí thông
minh trên mức b́nh thường, nếu không sẽ có ngày chính ḿnh
lại chửi ḿnh’’. Phải chăng, trong vụ lật đổ ông Diệm năm
1963, Tổng Thống Kennedy của siêu cường Hoa Kỳ và các cố vấn
của ông đă không có được cái trí thông minh trên mức b́nh
thường?
15.- Công điện ngày 30.10, Đại Sứ Lodge trả lời
Ngay sau khi nhận được công điện ngày 30.10 của Cố Vấn An
Ninh Ṭa Bạch Ốc, Đại Sứ Lodge không nén được sự kinh ngạc
trước ư định của Ṭa Bạch Ốc muốn tŕ hoăn cuộc đảo chánh
của các Tướng lănh Việt Nam. Ông bèn cấp tốc gửi một công
điện gồm 13 điểm cho Bộ Ngoại Giao. Dưới đây là những điểm
chánh:
a.- Tôi không tin rằng chúng ta có đủ quyền lực để tŕ hoăn
ngăn chặn một cuộc đảo chánh... Tôi có thể nói rằng: Chúng
ta có rất ít ảnh hưởng đối với vụ này, một vụ hoàn toàn
thuộc nội bộ Việt Nam (điểm 1).
b.- Trừ phi cuộc đảo chánh thành công chớp nhoáng, tôi dự
kiến rằng khi cuộc đảo chánh bắt đầu bùng nổ, Chính Quyền
Diệm sẽ yêu cầu tôi hoặc Tướng Harkins dùng ảnh hưởng để kêu
gọi các Tướng lănh băi bỏ cuộc đảo chánh. Tôi tin rằng ảnh
hưởng của chúng tôi (tức là Đại Sứ Lodge và Tướng Harkins)
chắc chắn không lớn hơn ảnh hưởng của Tổng Thống kiêm Tổng
Tư Lệnh Tối Cao Hoa Kỳ. Nếu Tổng Thống đă không thể dùng ảnh
hưởng để băi bỏ được cuộc đảo chánh. Làm như vậy, chúng ta
sẽ chỉ gây nguy hiểm cho sinh mạng người Hoa Kỳ. Chính Quyền
Ngô Đ́nh Diệm có thể sẽ yêu cầu chúng ta gửi máy bay hoặc
trực thăng đến để di tản những nhân vật trọng yếu trong
chính quyền...Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ không để cho phi
cơ và phi công của chúng ta dấn thân vào nơi ḥn tên mũi
đạn, khi hai phe đang dàn trận chống đối nhau (điểm 10).
c.- Các Tướng lănh có thể cần một số tiền vào phút chót để
mua chuộc phe chống đối. Nếu số tiền này có thể đưa cho họ
một cách kín đáo, tôi nghĩ rằng chúng ta nên cho họ, miễn là
chúng ta xác tín rằng cuộc đảo chánh mà họ dự tính, đă được
tổ chức chu đáo và có triển vọng tốt để thành công. Nếu nhận
thấy rằng cuộc đảo chánh không phân thắng bại và cuộc nổ
súng sẽ kéo dài, chắc chắn chúng ta sẽ phải đứng ra giúp đỡ
cả hai bên giải quyết vấn đề, v́ lợi ích của cuộc chiến
tranh chống cộng tại miền Nam (điểm 11).
d.- Tôi hoàn toàn đồng ư rằng một sự tính toán sai lầm sẽ
gây ra tai hại cho tư thế của Hoa Kỳ tại vùng Đông Nam Á.
Nếu chúng ta xác tín rằng cuộc đảo chánh sẽ đi đến thất bại,
dĩ nhiên chúng ta sẽ làm tất cả những điều mà chúng ta có
thể làm được, để ngăn chặn cuộc đảo chánh. Nguyên văn câu
chót: ‘’If we are convinced that the coup is going to fail,
we would, of course do everything we could to stop it’’
(điểm 12).
e.- Tướng Harkins đă đọc công điện này và không đồng ư.
Nguyên văn: ‘’Gen Harkins has read this and does not
concur’’. Đây là điểm 13 và cũng là điểm chót. (Telegram
2063, Lodge to State, Oct 30.1963. The Pentagon Papers, pg
227-229)
Bức công điện 2063 nói trên của Đại Sứ Lodge là một kiệt tác
của sơ hở, mâu thuẫn ngu xuẩn và bất lương. Đoạn trên nói
rằng chính quyền Mỹ không đủ quyền lực để ngăn chận cuộc đảo
chánh, đoạn dưới lại nói rằng nếu thấy cuộc đảo chánh sẽ đi
đến thất bại th́ chúng ta (Hoa Kỳ) sẽ làm tất cả những điều
có thể làm được để ngăn chặn cuộc đảo chánh. Đoạn trên nói
rằng đây là hoàn toàn thuộc nội bộ Việt Nam, đoạn dưới lại
nói rằng chúng ta nên cho nhóm đảo chánh một số tiền để họ
mua chuộc phe chống đối.
Tuân Tử của nước Tàu, Talleyrand của nước Pháp và Metternich
của nước Áo, hiện đang ngủ dưới đáy mồ, nếu họ được đọc bức
công điện của Nhà ngoại giao Lodge, chắc chắn họ sẽ đội mồ
mà chỗi dậy và kêu trời cho cái chất xám của chính giới Mỹ.
Bất lương ngu xuẩn và mâu thuẫn. Có lẽ Tướng Harkins cũng
nh́n thấy cái bất lương và mâu thuẫn của Đại Sứ Lodge, v́
vậy ông đă không đồng ư và đ̣i Đại Sứ Lodge phải ghi vào
công điện rằng ông không đồng ư.
Dù sao, những sơ hở mâu thuẫn ngu xuẩn và bất lương của bức
công điện cũng giúp cho lịch sử ghi lại một sự thật ngàn
đời, cuộc đảo chánh 1963 đă do chính quyền Kennedy chủ
trương, chủ mưu, sắp xếp và thúc đẩy. Nhóm Tướng lănh Việt
Nam là những tay sai bản xứ...
16.- Công điện ngày 30.10. George Bundy gửi Đại Sứ Lodge
Bức công điện ngày 30.10 (số 2063) của Đại Sứ Lodge không
được sự chấp thuận của Tướng Harkins, Tư Lệnh MAGV tại Sài
G̣n. Ṭa Bạch Ốc đă nh́n thấy sự xích mích và bất đồng quan
điểm giữa Đại Sứ Lodge và Tướng Harkins trong vụ lật đổ ông
Diệm và Ṭa Bạch Ốc lo ngại.
Chiều 30.10 George Bundy lại cấp tốc gửi một công điện 6
điểm cho Đại Sứ Lodge. Dưới đây là những điểm chính:
a.- Ṭa Bạch Ốc không chấp nhận luận điệu của ông Đại Sứ cho
rằng ‘’chúng ta không đủ quyền lực để tŕ hoăn hoặc ngăn
chận một cuộc đảo chánh tại Việt Nam’’ như là căn bản chủ
đạo cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong công điện của
ông Đại Sứ, điểm 12, ông Đại Sứ cũng nói rằng nếu ông xác
tín rằng cuộc đảo chánh sẽ đi đến thất bại, th́ ông sẽ làm
tất cả những điều có thể làm được để ngăn chặn nó. Cũng trên
căn bản đó, Ṭa Bạch Ốc tin rằng ông Đại Sứ sẽ hành động để
thuyết phục các Tướng lănh ngưng lại hoặc hoăn lại bất cứ
một cuộc động binh nào mà ông Đại Sứ nghĩ rằng không có
triển vọng thành công (điểm 2)
b.- V́ vậy, nếu ông Đại Sứ phải kết luận rằng cuộc đảo chánh
không thực sự có triển vọng thành công, th́ ông phải cho các
Tướng lănh biết mối hoài nghi của ông. Nói làm sao để ít
nhất tŕ hoăn cuộc đảo chánh lại cho tới khi có được cơ hội
tốt hơn. Khi nói điều đó với các Tướng lănh, ông Đại Sứ nên
sử dụng sức nặng của lời khuyên nhủ tốt nhất của Hoa Kỳ
(nguyên văn: The weight of US best advice) và minh thị bác
bỏ mọi ám chỉ rằng chúng ta chống lại những nỗ lực của các
Tướng lănh v́ chúng ta ưa thích chế độ hiện tại hơn là ưa
thích họ (điểm 3).
c.- Sau đây là chỉ thị của Ṭa Bạch Ốc liên quan đến thái độ
của Hoa Kỳ trong trường hợp cuộc đảo chánh xảy ra:
* Các viên chức Hoa Kỳ sẽ không đáp ứng những lời kêu gọi
giúp đỡ của hai bên. Phi cơ Hoa Kỳ và những khả năng khác
của Hoa Kỳ sẽ không được đưa đến dấn thân vào nơi ḥn tên
mũi đạn, để ủng hộ bất cứ bên nào nếu không được phép của
Washington.
* Trong trường hợp cuộc đảo chánh bất phân thắng bại, các
viên chức Hoa Kỳ có thể tùy nghi làm những hành vi thích hợp
với nguyện vọng của cả hai bên, tỷ như Ngô Đ́nh Diệm tản các
nhân vật trọng yếu hoặc chuyển vận tin tức, và khi hành động
như vậy, các viên chức Hoa Kỳ phải cố tránh để khỏi bị hiểu
lầm là làm áp lực đối với bất cứ bên nào.
* Trong trường hợp cuộc đảo chánh lâm vào t́nh trạng sẽ thất
bại, hoặc thực sự thất bại, các viên chức Hoa Kỳ có thể tùy
nghi mở cửa nương náu cho những kẻ minh thị hoặc mặc nhiên
cần sự nương náu.
* Nhưng một khi cuộc đảo chánh đă bắt đầu, th́ v́ quyền lợi
Hoa Kỳ, cuộc đảo chánh ấy phải thành công (The Pentagon
Papers, pg 231)
Chúng ta thấy rơ: Trong công điện nói trên, Ṭa Bạch Ốc đă
minh thị bác bỏ quan điểm của Đại Sứ Lodge cho rằng Hoa Kỳ
không đủ quyền lực để ngăn chặn một cuộc đảo chánh tại Việt
Nam. Chẳng những vậy, Ṭa Bạch Ốc c̣n khẳng định rằng chính
quyền Hoa Kỳ có thừa quyền lực và có bổn phận phải ngăn chặn
cuộc đảo chánh, nếu thấy cuộc đảo chánh không có triển vọng
thành công. Ṭa Bạch Ốc minh thị nhắc lại mệnh lệnh của Tổng
Thống Kennedy: ‘’một khi cuộc đảo chánh đă bắt đầu, cuộc đảo
chánh ấy phải thành công, v́ đó là quyền lợi của Hoa Kỳ’’
Chúng ta cũng thấy rơ: Ṭa Bạch Ốc chỉ dự liệu can thiệp
trong trường hợp cuộc đảo chánh bất phân thắng bại và trường
hợp quân đảo chánh bị thất bại. Can thiệp để giúp cho các
Tướng đảo chánh có chỗ nương náu và thoát hiểm. Ṭa Bạch Ốc
ông dự liệu can thiệp trong trường hợp ông Diệm bị đánh bại.
Số phận ông Diệm không được Ṭa Bạch Ốc quan tâm đến.
Tất cả những tài liệu trên đây đă trở thành Chính Sử của Hoa
Kỳ và được lưu trữ trong ‘’Hồ Sơ An Ninh Quốc Gia’’ tại Thư
Viện John F. Kennedy. Đó là những bằng cớ trên giấy trắng
mực đen chứng minh một sự thật lịch sử. Sự thật lịch sử đó
là: Cuộc lật đổ Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm năm 1963 đă do
chính quyền Kennedy chủ trương, chủ mưu, chủ xướng, chủ
động, chủ lực, khuyến khích và thúc đẩy các Tướng lănh Việt
Nam chỉ là những tay sai bản xứ.
Lịch sử đă viết: Nhờ sự mẫn cán và thông minh của các Tướng
lănh Việt Nam, cuộc đảo chánh 1963 đă hoàn toàn thành công
mỹ măn.
Những tài liệu nói trên cũng là những bằng cớ trên giấy
trắng mực đen chứng minh sự bất lương, ngu xuẩn và luộm
thuộm của chính quyền Hoa Kỳ trong vụ lật đổ ông Diệm. Từ
Tổng Thống Kennedy đến các Cố Vấn Ṭa Bạch Ốc, đến Đại Sứ
Cabot Lodge.
Một công điện (ngày 24.8.1963) của Ṭa Bạch Ốc gửi cho vị
Đại Sứ của ḿnh tại nước ngoài, liên quan đến một vấn đề
trọng đại của quốc gia Hoa Kỳ, thế mà các viên chức cao cấp
có trách nhiệm trong chính quyền không được thông báo, tham
khảo. Chẳng những vậy, c̣n bị lừa bịp. Kể cả Tổng Thống
Kennedy cũng bị lừa bịp.
Trong các công điện của Ṭa Bạch Ốc, của chính Tổng Thống
Kennedy và của Bộ Ngoại Giao gởi đi, cũng như trong các công
điện của Đại Sứ Cabot Lodge gửi về, th́ công điện trước chửi
công điện sau, hoặc công điện sau chửi công điện trước.
Trong cùng một công điện th́ đoạn trước chửi đoạn sau, đoạn
sau chửi đoạn trước. Giáo Sư André Tunc trong quyển Les
Etats Unis, có nói đến ‘’quyền lực nắm trong tay những kẻ
thiếu lương tâm’’.
Trong vụ chính quyền Kennedy lật đổ ông Diệm, chúng ta phải
thêm hai chữ ngu xuẩn vào cuối câu và nói: ‘’quyền lực nắm
trong tay những kẻ thiếu lương tâm và ngu xuẩn’’. (Nguyễn
Văn Chức, Việt Nam Chính Sử, trang 61-85).
...Chế độ Ngô Đ́nh Diệm là một chế độ độc đoán (autoritaire)
như hầu hết các quốc gia phải đương đầu với hiểm họa cộng
sản. Điều đó không ai chỗi căi. Nên nhớ: Đài Loan đă áp dụng
chế độ thiết quân luật gần 35 năm và chỉ băi bỏ chế độ ấy
mới đây, năm 1986.
Cũng không ai chối căi rằng: Đệ Nhất Cộng Ḥa đă có những
lạm dụng lộng hành, nhớp nhúa và cả tội ác nữa.
Nhưng, những lạm dụng, lộng hành nhớp nhúa, tội ác ấy không
bắt nguồn từ những quy định hoặc thiếu sót của hiến pháp mà
bắt nguồn từ sự không tôn trọng hiến pháp và luật pháp quốc
gia bởi chính những kẻ cầm quyền.
V́ vậy, chúng ta không nên dựa vào Hiến Pháp một nước để chỉ
trích hoặc nguyền rủa một chế độ. Nhưng ông Đỗ Mậu và những
kẻ đến sau (tức là những kẻ xuyên tạc, những kẻ ‘’hiếp dâm’’
lịch sử hoặc những kẻ bôi bẩn vô căn cớ với ḷng đầy hận
thù, ác tâm, vô luân và thành kiến đối với Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm, đối với nền Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng Thống Diệm
(lời góp ư thêm của tác giả) làm việc đó và khi làm công
việc đó họ đă tỏ ra thiếu khả năng.
(Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 48-49)
MỘT TÀI LIỆU CĂN BẢN QUAN TRỌNG SOI SÁNG VỤ PHẬT GIÁO NĂM
1963
PHÚC TR̀NH CỦA PHÁI BỘ LIÊN HIỆP QUỐC ĐIỀU TRA VỀ VẤN ĐỀ VI
PHẠM NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM
TÔN THẤT THIỆN
I. Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm và ém nhẹm Phúc Tŕnh của Liên Hiệp Quốc
Frandix X. Winters: The year of the Hare
(Armerica in Vietnam, January 25,1963-February 15,1964) The
University of Georgia Press, Athens and London, 1997.
Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án Ông Diệm
Trong buổi hội kiến với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
ngày 26.8.1963
Lodge nói rằng: ‘’Theo Hiến Pháp, Quốc Hội Hoa Kỳ ‘’nắm
quyền chỉ tiêu’’ về ngoại giao... Lodge muốn ám chỉ rằng
Quốc Hội đ̣i Sài G̣n phải cải tổ nếu muốn được tiếp tục nhận
viện trợ. Thật ra th́ trong Quốc Hội Hoa Kỳ không có sự đ̣i
hỏi đó. Cho nên, Lodge phải đích thân quậy sao cho có sự đ̣i
hỏi đó. Ông ta bèn hỏi Rusk có cách nào khuấy động để Ủy Ban
Ngoại Giao của Hạ Viện đưa ra một sự đe dọa như thế không.
Bundy và Hilsman thích dùng Thượng Viện làm nơi chính để
chống ông Diệm hơn. Họ biết rằng Thượng Nghị Sĩ Frank Church
không ưa ông Diệm. Do đó họ cùng ông này thảo Quyết Nghị
tháng 9 lên án ông Diệm ‘’đối sử tàn tệ về tôn giáo’’.
(trang 62)
Anne E. Blair: Lodge in Vietnam (A Patriot
Abroad) Yale University Press, New Haven and London, 1995.
Lodge vận động để Liên Hiệp Quốc đừng bàn về vấn đề Việt
Nam.
‘’Sau cuộc đảo chánh Lodge yên lặng vận động
để Bản Phúc Tŕnh của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc đă
viếng Việt Nam vào tháng 10 và tháng 11 để điều tra về những
sự than phiền của Phật Giáo về nhân quyền bị vi phạm khỏi
được đưa ra bàn căi ở Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Viên chức Hoa
Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đă cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rằng
sự công khai hóa những điều mà Phái Bộ Liên Hiệp Quốc phát
hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ở Sài G̣n gồm
những người đă phục vụ dưới ông Diệm. Thêm nữa một cuộc bàn
căi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng
kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội cả Bắc Kinh thêm một
dịp để tố cáo chính phủ Hoa Kỳ đă dính vào cuộc đảo chính.
Lodge am hiểu sự khác biệt về ảnh hưởng của những tố cáo
trước một diễn đàn quốc tế, sẽ được báo chí quốc tế quảng
cáo rầm rộ và những bằng chứng cục bộ trong một tờ tŕnh
viết được ít người đọc. Nhân một dịp viếng Washington vào
tháng 12, ông ta đă thẳng thừng yêu cầu ông Senerat
Gunewardene, Đại Sứ Ceylon, người dẫn đầu nhóm Liên Hiệp
Quốc đă thâu thập dữ kiện về vụ Phật Giáo, đừng có đ̣i một
sự bàn căi về những ǵ ông đă phát hiện được. Gunewardene
nhận làm như Lodge yêu cầu để làm vừa ḷng một người bạn lâu
năm vào thời Lodge làm Đại Sứ đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp
Quốc. Như nhiều người khác đă có dịp giao thiệp với Lodge,
Gunewardene đă bị Lodge quyến rũ và coi ông này như là một
người bạn’’ (trang 77-78).
Blair đă ghi rằng những điều trên đây là do con gái của ông
Gunewardene tiết lộ trong một bức thư gởi cho Blair vào
tháng 11.1988 (nghĩa là 26 năm sau, vụ toa rập ém nhẹm sự
thật này mới được đưa ra ánh sáng. (xem trích dẫn Blair
trang 178)
Lodge, Hilsman, Mc George Bundy và Churck toa rập vu khống
ông Diệm
‘’Ông Lodge là người nhiều kinh nghiệm về vận
động Thượng Viện thông qua các dự luật. Do đó, ông hỏi Rush
có thể vận động Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Nghị Viện cắt đứt
viện trợ cho Chính Phủ Việt Nam không. Ông ta giải thích
rằng Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n bị bó tay, nhưng nếu vận động
Hạ Viện được như vậy th́ viện trợ sẽ tái cấp nếu ông Diệm
chịu cải tổ. Hilsman và McGeorge làm việc với Thượng Nghị Sĩ
Church, người cùng quan điểm với họ, để thảo một quyết định
thích hợp cho Thượng Viện thông qua. Trong bài diễn văn đưa
bản quyết định ra trước Thượng Viện vào tháng 9, ông Church
nhấn mạnh rằng động lực thúc đẩy ông là ‘’đối sử tàn bạo về
tôn giáo’’ (trang 55)
Nếu Bản Phúc Tŕnh của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc
không bị ém nhẹm và được đưa ra tŕnh Liên Hiệp Quốc và dư
luận quốc tế th́ rơ ràng là Quyết Nghị trên đây là một sự vu
khống trắng trợn.
Ellen J. Hammer: A Death in November (America
in Vietnam) E. P. Dutton, New York, 1987
Lodge và New York Times vu khống Chính Phủ Việt
Nam về vụ Liên Hiệp Quốc Ngày 24.10.1963, một phái bộ của
Liên Hiệp Quốc đến Sài G̣n để điều tra về vụ Phật Giáo.
Chính Phủ Việt Nam chưa có hành động ǵ cả,
nhưng Lorge báo cáo với Kennedy như sau:
‘’Những người Việt có học thức hân hoan chờ đợi Phái Bộ,
đồng thời phần đông tin rằng Chính Phủ Việt Nam sẽ không để
cho Phái Bộ được tự do hành sự’’(trang 252).
Bộ Ngoại Giao Mỹ và Báo New York Times phụ họa
Lodge:
‘’Người Mỹ lúc đầu cho rằng Bà Nhu sẽ là đại diện của Chế Độ
Sài G̣n và bà ấy sẽ dùng ngôn ngữ thóa mạ và làm cho dư
luận Hoa Kỳ chống đối mà thôi. Nhưng người Mỹ lại được nghe
bà em dâu ông Diệm nói rằng chính phủ hoan nghênh đón tiếp
một Phái Bộ Điều Tra và sẽ chấp nhận những phát hiện của nó.
Báo New York Times nói đây chỉ là một mánh khóe của Bà Nhu.
Bà dùng mánh khóe này chỉ v́ bà ấy biết rằng sự đề cử một
phái bộ điều tra như thế sẽ bị Đại Hội Liên Hiệp Quốc bác
bỏ. Đại Sứ Lodge đánh điện cho Washington nói rằng theo quan
điểm của Ṭa Đại Sứ Chính Phủ Sài G̣n ‘’sẽ chống cự kịch
liệt Quyết Nghị đề cử một đại diện hay một phái bộ Liên Hiệp
Quốc đến tận nơi để cứu xét về những vi phạm nhân quyền ở
Việt Nam ‘’ (trang 253)
Trên đây là những hành động lừa gạt dư luận và Chính Phủ Hoa
Kỳ của những cơ quan và cá nhân có sứ mạng đưa tin tức chính
xác để dân Hoa Kỳ có thể lấy những quyết định đúng và phù
hợp với quyền lợi của Quốc Gia họ. Đấy là sự hành động đưa
đến sự hy sinh của 58.000 Binh Sĩ Mỹ trong những năm tới.
Ngày 7.10. Đại Hội Liên Hiệp Quốc quyết định hoăn cuộc bàn
căi về Bản Thảo Quyết Nghị kết án Chính Phủ Việt Nam và cử
một Phái Bộ đi Việt Nam điều tra. Nghe tin này:
‘’Ở Sài G̣n Đại Sứ Lodge không hiểu tại sao Phái Đoàn Hoa Kỳ
tại Liên Hiệp Quốc lại muốn tránh một cuộc bàn căi tại Đại
Hội và một Quyết Nghị lên án Chính Phủ Diệm. Ông ta điện cho
Washington: ‘’Tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều lo ngại về khả
năng bản phúc tŕnh của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc sẽ thuận lợi
cho Chính Phủ Việt Nam’’ (trang 258)
‘’Bửu Hội (Đặc Sứ của Chính Phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc)
đă cam đoan với Ngoại Trưởng Rush là sự mời Liên Hiệp Quốc
cử một phái bộ đến Việt Nam không phải một kế tŕ hoăn và
phái bộ sẽ được tự do đi bất kỳ nơi nào ở Việt Nam và gặp
bất kỳ ai họ muốn.
Nhưng Lodge lại cho rằng phái bộ sẽ ngây thơ nếu
họ tin như vậy, theo ông ta Chính Phủ Việt Nam sẽ không khi
nào để cho họ thâu được những tin tức bất lợi cho chính phủ
đó’’.
Ông ta điện cho Kennedy rằng lănh tụ sinh viên đang bị bắt
và tất cả bằng chứng cho thấy rằng Chính Phủ Việt Nam đang
đe dọa đối phương để khép miệng những nhân chứng chống đối
và ngăn cản không cho họ đến gặp phái bộ và phái bộ sẽ được
đi một ṿng du lịch theo kiểu Cooks’’. (trang 259)
II. Phúc tŕnh của phái bộ Liên Hiệp Quốc thâu thập dữ kiện
về vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam
Tài liệu tham khảo:United Nations, General Assembly,
Eighteenth session, Agenda item 77, THE VIOLATION OF HUMAN
RIGHT IN SOUTH VIET NAM
Report of the United Nations Fact Finding Mission to South
Viet Nam
Document A/5630, 7 December 1963 (323 trang)
Hay:
Report of United Nations Fact Finding Mission to South Viet
Nam
Published by the Subcommittee to Investigate the
Administration of the Internal Security and Other Internal
Sacurity Laws of the Committee of Judiciary, United States,
U. S. Goverment Printing Office, 1964.
A. Sự h́nh thành của Phái Bộ
1. Nguồn gốc của Phái Bộ.
Ngày 4.9.1963, Đại diện của 14 Quốc Gia thành viên, thuộc
các Khối Á, Phi, Nam Mỹ, sau đó thêm Mali và Népal, yêu cầu
ghi vào chương tŕnh nghị sự của Đại Hội một mục số 77 mang
tít là ‘’Sự vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam’’.
Ngày 9.9 một văn thư được gởi cho các Quốc Gia thành viên.
Ngày 13.9. một văn kiện ghi đầy đủ chi thiết về những vi
phạm mà Chính Phủ miền Nam Việt Nam bị gán cho, được gởi cho
tất cả các Phái Đoàn ở Liên Hiệp Quốc. [Để làm sáng tỏ rằng
đây chỉ là những tội người ta gán cho Chính Phủ Việt Nam
(Liên Hiệp Quốc dùng danh từ ‘’allegations’’ để nhấn mạnh
điểm này) toàn văn bản gán tội này sẽ được chép lại dưới đây
để tiện bề so sánh với những phát hiện của Phái Bộ Liên Hiệp
Quốc cho thấy rằng những điều gán trên đây là mơ hồ, không
đúng với sự thực.].
Ngày 20.9, Đại Hội quyết định ghi mục trên đây vào chương
tŕnh nghị sự.
Ngày 7.10, Đại Hội mang mục 77 ra cứu xét. Đại diện của
Caylon, Đại Sứ Gunewardene, bạn thân của Đại Sứ Lodge, đả
kích Chính Phủ Việt Nam một cách gay gắt. Đồng thời Chủ Tịch
Đại Hội thông báo cho các Đại Diện là ông có nhận được một
bức thư của Đặc Sứ Việt Nam (Giáo Sư Bửu Hội) đề ngày
4.10.1963 nhờ ông chuyển lời của Chính Phủ Việt Nam mời
Liên Hiệp Quốc gởi một phái bộ sang Việt Nam ‘’để thấy tận
mắt những ǵ thật sự xảy ra giữa Chính Phủ và Cộng Đồng Phật
Giáo ở Việt Nam’’
Theo đề nghị của Đại Diện Costa Rica, Đại Hội nhận lời mời
của Chính Phủ Việt Nam, đ́nh việc cứu xét đề nghị lên án
Chính Phủ Việt Nam và cho phép ông Chủ Tịch cử một phái bộ
đi Việt Nam. Đề nghị này được 80 phiếu thuận, 0 phiếu chống
và 5 phiếu trắng.
Ngày 11.10 Ông Chủ Tịch Đại Hội thông báo ông đă cử một phái
bộ gồm Đại Diện của 7 Quốc Gia (Afghanistan, Brasil, Ceylon,
Costa Rica, Dahomey, Marocco, Népal) với mục đích ‘’thăm
Việt Nam Cộng Ḥa để thấy tận mắt t́nh h́nh thế nào về liên
hệ giữa Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa và Cộng Đồng Phật
Giáo’’.
Phái Bộ sẽ đến Sài G̣n ngày 24.10 và dự định rời Sài G̣n
ngày 4.11.1963. Trước khi Phái bộ lên đường, Trưởng Phái Bộ
(Đại Diện Afghanistan) ra một thông báo nhấn mạnh đây là một
‘’Phái Bộ Thâu Thập Dữ Kiện’’ (Fact Finding Mission) chớ
không phải là một ‘’Phái Bộ Điều Tra’’ (Inquiry Mission).
Đây là một điều mà Chính Phủ Việt Nam coi như căn bản, v́
Phái Bộ này do Chính Phủ Việt Nam mới, chớ không phải bị áp
đặt từ ngoài và nó không có sứ mạng phán xét, chỉ có sứ mạng
thâu thập dữ kiện mà thôi. (trang 7).
2. Đặc điểm về Phái Bộ
* Vô Tư: Trước khi lên đường, Trưởng Phái Bộ đưa
ra một tuyên bố nhấn mạnh tính cách ‘’nhất thời’’ của Phái
Bộ và quyết tâm ‘’luôn luôn vô tư’’. Lúc đến Sài G̣n, trong
một tuyên bố với báo chí, ông nhắn lại lời tuyên bố của
ông trước khi ông lên đường nói rằng Phái Bộ ‘’có ư định
điều tra tại chỗ, nghe nhân chứng và nhận kiến nghị’’. Ông
kêu gọi mọi phe tránh biểu t́nh. Ông nhấn mạnh tính cách vô
tư của Phái Bộ. Ông nói: ‘’Chúng tôi sẵn sàng ghi nhận mọi
quan điểm và quyết tâm báo cáo dự kiện’’ (trang 9)
* Tự Do Lựa Chọn Nhân Chứng: Ông Trưởng Phái Bộ cũng nhấn
mạnh rằng Phái Bộ hoàn toàn độc lập và họ hoàn toàn tự do
trong sự lựa chọn nhân chứng, không cần báo trước cho chính
quyền biết. Để chứng minh điều này, ông sẽ đưa cho Bộ Trưởng
Ngoại Giao một danh sách các nhân chứng mà họ muốn gặp.
* Tự Do Đi Lại: Trong các cuộc tiếp xúc với Lănh đạo cao cấp
Việt Nam. (Tổng Thống, Cố Vấn Chính Trị, các Bộ Trưởng liên
hệ) họ đều yêu cầu được cam đoan là họ sẽ được tự do đi lại
và để giữ tính cách độc lập, họ quyết định trả lấy chi phí
của họ.
Sau đây là bản ghi những vi phạm mà các tác giả bản dự thảo
nghị quyết ngày 13.9.1963 gán cho Chính Phủ Việt Nam tại Đại
Hội Liên Hiệp Quốc. Nó sẽ là căn bản của cuộc điều tra của
Phái Bộ Liên Hiệp Quốc. Phái Bộ sẽ căn cứ trên đó để chất
vấn các nhân chứng.
Những vi phạn gán (allegations) cho Chính Phủ Việt Nam trong
dự thảo quyết nghị của Đại Hội Liên Hiệp Quốc ngày
13.9.1963.
1. Việt Nam Cộng Ḥa đă công khai vi phạm nhân quyền khi
Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa ngăn cản không cho đa số công
dân sử dụng những quyền được ghi trong Điều 18 của Tuyên
Ngôn Nhân Quyền.
2. Ghi lại những chi thiết của Điều 18.
3. Tháng 5 năm nay, công dân Việt Nam Xứ Huế muốn thực hành
quyền được công nhận trong điều nói trên bằng cách làm những
lễ thích ứng liên quan đến ngày sinh thứ 2507 của người lập
nên tôn giáo mà hơn 70% Việt Nam đă lựa chọn. Chính Phủ Ngô
Đ́nh Diệm đă không cho họ thực hiện quyền này. Thật ra sự từ
chối này đă thực hành một cách tàn nhẫn. Chín người đă
thiệt mạng khi Quân Đội được Chính Phủ ra lệnh nổ súng vào
công dân. Tai nạn này dẫn đến sự đ̣i hỏi Chính Phủ phải giải
quyết những kêu ca và chấp nhận trách nhiệm của ḿnh về sự
chết chóc. Chính Phủ không làm điều nào cả trong hai điều
này. Do đó, có sự gia tăng đ̣i hỏi biện pháp sửa chữa. Sự
bất b́nh đối với Chính Phủ mạnh mẽ đến nỗi năm nhà Sư và một
Ni cô đă tự thiêu (một hành vi bất thường đối với những
người theo tôn giáo đó).
4. Chính Quyền đă không đáp lại kêu gọi của công dân đ̣i
công lư với đe dọa và chế diễu và tiếp theo đó, sau 12 giờ
đêm ngày 20.8, tấn công Chùa Xá Lợi, ngôi Chùa chính ở Sài
G̣n của những người theo tôn giáo của đa số. Từng bầy cảnh
sát được trang bị súng liên thanh và súng cabin xông vào
Chùa và bắt hàng trăm nhà Sư và Ni cô mang đi nhà tù sau khi
đă gây thương tích cho họ. Hành động này được lập lại khuya
hôm đó ở một số Chùa trong toàn xứ. Có ít nhất là 1000 nhà
Sư bị giam tù hiện nay. Con số bị tử thương không biết là
bao nhiêu.
5. Hàng trăm sinh viên Đại Học Sài G̣n biểu t́nh chống những
hành động độc đoán của Chính Phủ bị bắt hôm chủ nhật
25.8.1963. Chính Phủ càng ngày càng tiến về hướng dẹp bỏ các
nhân quyền căn bản như quyền hội họp, tự do ngôn luận, tự do
thông thương v.v... (trang 24)
Và dưới đây là danh sách những người nhân chứng mà Phái Bộ
thông báo cho Bộ Trưởng Ngoại Giao là họ muốn phỏng vấn.
Nh́n qua những danh sách này, ta thấy rằng đây có thể nói là
toàn bộ những cá nhân và phe phái đối lập Chính Phủ Việt
Nam, thuộc đủ mọi giới, mọi thành phần chính trị xă hội tôn
giáo...Tất nhiên, sau khi đă tự do phỏng vấn kín chừng ấy
người, Phái Đoàn không thể nói là ḿnh không biết rơ t́nh
h́nh Việt Nam nữa. Và điều này cũng là một sự phản bác những
luận điệu xuất phát từ các báo Mỹ và viên chức Hoa Kỳ nói
rằng Chính Phủ Việt Nam ngăn cản không cho Phái Bộ Liên Hiệp
Quốc tiếp xúc với người này người khác v́ muốn dấu diếm sự
thật.
Danh sách những Nhân Viên cao cấp Chính Phủ Việt Nam :
1. Tướng Trần Tử Oai
2. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
3. Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh Nhu
4. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
5. Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương
6. Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Đ́nh Thuần
7. Đại Biểu Chính Phủ Trung phần và Tư Lệnh Quân Đoàn I và
viên chức khác.
8. Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trương Công Cừu
Danh sách các chức sắc Phật Giáo và nhân chứng khác.
Thành viên Ủy Ban Liên Bộ:
1. Nguyễn Đ́nh Thuần
2. Bùi Văn Lương
Thành viên Ủy Ban Liên Phái
1. Thích Thiện Minh (Trưởng Ban)
2. Thích Tâm Châu (Ủy Viên)
3. Thích Thiện Hoa (Ủy Viên)
4. Thích Huyền Quang (Thư Kư)
5. Thích Đức Nghiệp (Phụ Tá Thư Kư)
6. Thích Mật Nguyện (Tăng Trưởng Hội Tăng
Già Trung Việt)
7. Thích Thiện Siêu (Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thừa
Thiên)
8. Ngài Đặng Văn Kat (Cát?) (Sư)
9. Thích Chi Thu (Trí Thủ ?) (Sư)
10. Thích Quảng Liên(Sư)
11. Ngài Pháp Tri
12. Thích Tâm Giao
13. Krich Tang Thay (?)
14. Ông Mai Thọ Truyền
15. Diệu Huệ (Ni Sư)
16. Diệu Không (Ni Sư)
17. Tướng Phạm Xuân Chiểu (Tham Mưu Trưởng
Quân Đội)
18. Trần Văn Đỗ (Cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao)
19. Cựu Bộ Trưởng Tư Pháp
20. Bác Sĩ Phạm Huy Quát (Cựu Bộ Trưởng Quốc
Pḥng và Quốc Gia Giáo Dục)
21. Lê Quang Luật (Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên
Truyền)
22. Nguyễn Thái (Cựu Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xă)
23. Nguyễn Văn B́nh (Tổng Giám Mục Sài G̣n)
24. Ông Trần Quốc Bửu (Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn
Lao Động)
25. Tôn Thất Nghiệp (Lănh Tụ Sinh Viên, Thư Kư
Hội Phật Giáo Sài G̣n)
26. Ông Hồ Hữu Tường (Nhà Văn và Giáo Sư)
27. Giáo Sư Nguyễn Biểu Tâm (Khoa Trưởng Y Khoa
Đại Học Sài G̣n)
28. Ông Nguyễn Xuân Chữ (Nhà Báo)
29. Cha mẹ cô gái bị chết trong dịp biểu t́nh
ngày 25.8.
30. Viên chức cao cấp của Liên Đoàn của Hội Luật
Gia Sài G̣n
31. Viên chức cao cấp của Liên Đoàn Lao Động
(nếu có)
32. Ủy Ban đề nghị thả các Nhà Sư
HUẾ
1. Thích Tịnh Khiết (Lănh đạo tối cao, Chủ Tịch
của tất cả các Hội Phật Giáo Huế)
2. Phan Binh Dinh (Lănh tụ sinh viên Phật Tử
Huế. Thư kư của Hội sinh viên Phật Tử Huế)
3. Thích Đôn Hậu (Chủ tịch Ủy Ban tổ chức Phật
Đản)
4. Linh Mục Cao Văn Luận (Viện Trưởng Công giáo
Đại học Huế)
5. Bùi Tường Huân (Khoa Trưởng Luật khoa Huế)
6. Bác Sĩ Lê Khắc Quyến.
Bản Phụ 1
1. Thích Quảng Độ
2. Các vị Sư c̣n ở trong (các trại giam?)
1. Thích Hộ Giác
2. Thích Giác Đức
3. Thích Thể Tịnh
4. Thích Thiện Thắng (?)
5. Thích Pham Quang Thanh(?)
6. Thích Liên Phu (Phú?)
7. Thích Chánh Lạc
8. Nguyễn Thị Lợi (Ni cô)
9. Diệu Cát (Ni cô)
10. Nieo mu Tinh Bich (Ni cô?)
Phụ Bản 2
1. Nguyễn Hữu Đông (Đổng?) (Đồng?)
2. Nguyêm Xuân Thiện
3. Đức Nhuận
(Tất cả 60 người, thuộc đủ mọi thành phần, xu
hướng. Những tên kèm theo dấu (?) là những tên không biết
chính xác là ǵ) (trang 271-273)
b. Các cuộc phỏng vấn nhân viên chính phủ
Tướng Trần Tử Oai
Trong một bản tuyên bố dài 12 trang 27-39. Tướng
Trần Tử Oai tŕnh bày vấn đề Phật Giáo. Theo ông, đó là một
cuộc khủng hoảng khởi phát từ vụ va chạm ở Huế về vấn đề
treo cờ. Lúc đầu nó chỉ là một cuộc va chạm riêng biệt và
không quan trọng ǵ, nhưng sau đó, ‘’do sự can thiệp của các
phần tử quá khích’’nên nó lại trở thành một phong trào lớn
đ̣i hỏi chống Chính Phủ.
Bản tuyên ngôn kết thúc như sau: ‘’Nếu ta xét kỹ dữ kiện ta
sẽ thấy rằng vụ Phật Giáo chỉ có một khía cạnh Tôn Giáo giới
hạn, và chính trị là phần chính, nhất là ở giai đoạn cuối
của nó’’. (trang 37) Ông nhấn mạnh rằng ‘’Một số cơ quan
thông tin ngoại quốc, chẳng hiểu ǵ vấn đề từ đầu, đă vô
t́nh hay cố ư đầu độc dư luận quốc tế’’ và ‘’không hề có
ngược đăi hoặc kỳ thị đối với Phật Giáo’’ (trang 38).
(Tướng Oai không nói ǵ mới lạ, những điều quan trọng ở đây
là: Đây là lần đầu mà đại diện các Quốc Gia thành viên Liên
Hiệp Quốc được nghe một Viên Chức của Chính Phủ Việt Nam
tŕnh bày tường tận vấn đề với một quan điểm hoàn toàn khác
với những quan điểm mà họ đă biết qua tường thuật bóp méo và
cục bộ của báo chí và các nguồn tin khác có ác cảm với Chính
Phủ, mà họ đă dùng làm căn bản để thảo bản vi phạm gán cho
Chính Phủ Sài G̣n được đưa ra Đại Hội Liên Hiệp Quốc ngày
13.9.1963. )
Những tuyên bố của các lănh tụ cao cấp khác của Chính Phủ
được tŕnh bày dưới đây tất nhiên cũng có tác động tương tự,
nếu không nói là quan trọng hơn nữa, đặc biệt là những tuyên
bố của Ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh Nhu và Bộ Trưởng Nội Vụ
Bùi Văn Lương.
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
Cuộc tiếp xúc với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rất
ngắn. Trong bản Phúc Tŕnh của Liên Hiệp Quốc nó chỉ chiếm
có một trang. Tổng Thống chỉ nói vắn tắt và ‘’nhắc lại lời
hứa của ông về việc sẵn sàng cung cấp cho Phái Bộ tất cả
những dễ dăi để họ làm tṛn nhiệm vụ’’ (trái với những tuyên
bố của ông Lodge nói Chính Phủ Việt Nam sẽ cản trở không cho
Phái Bộ t́m ra sự thực). Tổng Thống Diệm chỉ nói ít thôi v́
chắc ông biết là các ông Ngô Đ́nh Nhu và Bùi Văn Lương sẽ
nói nhiều và đi vào chi tiết của vấn đề.
Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu
Trái với trường hợp Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm,
cuộc tiếp xúc giữa Phái Bộ và Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu rất
dài 24 trang trong Bản Phúc Tŕnh (trang 42-56). Cùng với
những tuyên bố của Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương, những
tuyên bố của Ông Ngô Đ́nh Nhu chiếu rất nhiều ánh sáng vào
vấn đề Phật Giáo 1963. Nó tiết lộ rất nhiều chi tiết mà tới
nay ít ai biết và hiểu, v́ có những khía cạnh lịch sử và xă
hội mà họ không biết hoặc không để ư đến. Đây lại chính là
những khía cạnh mà Ông Nhu đă giải thích rất cặn kẽ cho Phái
Bộ Liên Hiệp Quốc.
Trong khung cảnh bài này không thể chép lại trọn vẹn những
tuyên bố của Ông Nhu. Chỉ có thể trích dịch một số đoạn
chứa đựng nhiều tiết lộ quan trọng nhất.
a. Một khía cạnh của vấn đề chậm tiến.
Trong nhăn quan Ông Nhu, vấn đề Phật Giáo là một
khía cạnh của vấn đề chậm phát triển của Việt Nam. Các phong
trào chính trị, xă hội và tôn giáo đă phát triển rất mạnh từ
khi nước Việt Nam độc lập. Nhưng cũng như chính phủ, các
phong trào ấy thiếu cán bộ và sự thiếu cán bộ này đă gây ra
nhiều vấn đề.
Ông nói: ‘’T́nh h́nh Phật Giáo cũng như vậy, nó đă phát
triển rất mạnh, nhưng nó không đủ cán bộ và sự kiện này là
nguyên do của một số sai lầm, một điều không thể tránh được.
Tôi nghĩ rằng ngay cả Chính Phủ cũng bị một số sai lầm...’’
(trang 42).
b. Khía cạnh sử học và xă hội học
‘’Vấn đề Phật Giáo phát khởi từ những ngày chót
của chế độ thuộc địa và ngay từ trước Thế Chiến II . Sự kiện
này không áp dụng riêng ǵ cho Phật Giáo. Các đoàn thể chính
trị và tôn giáo khác, đặc biệt là Khổng Giáo cũng như thế.
Mỗi đoàn thể đều có vấn đề riêng của ḿnh.
Thời kỳ này là thời kỳ mà tất cả các dân tộc Á
Đông đều bị yếu đi, v́ chính sách của Nhật, v́ Hitler và
Phát xít...Đồng thời có một sự phục hưng về tôn giáo...Vấn
đề của Phật Giáo ngày nay là làm sao vừa đáp ứng được những
đ̣i hỏi của cuộc tranh đấu chống cộng sản vừa đáp ứng được
những đ̣i hỏi của kỹ nghệ hóa? ... hoặc làm sao t́m ra một
thần thuyết nối liền được Tây với Đông. Phật Giáo có đủ khả
năng giải quyết nhiệm tác cấp bách và sinh tồn này không? Sự
phục hưng của Phật Giáo đă xảy ra trong bối cảnh này. Những
vấn đề này đă có từ năm 1933...
Phong trào Phật Giáo là một phong trào lành mạnh
của một tổ chức bị bóp nghẹt dưới thời thực dân và đang t́m
cách phát triển trong điều kiện thực dân bị giải thể. Nó là
một phong trào lành mạnh. Nhưng nó phát triển trong những
điều kiện không thuận lợi. Nó bị áp lực của Đông lẫn Tây.
Hai ư thức hệ này đều t́m cách lợi dụng nó’’ (trang 43)
c. Sứ mạng tôn giáo và sai lầm
‘’Trong tất cả các cuộc phục hưng đều có sự trở
ngại nguồn gốc. Nếu Phật Giáo muốn trở lại nguồn gốc, là sự
lựa chọn của vài vị Thánh hiền mà sứ mệnh là bảo chúng ta,
những người đang phải vừa lo chiến tranh vừa phải lo kỹ nghệ
hóa, rằng vật chất không phải là tất cả, của những vị Thánh
hiền nhắc nhở chúng ta, những người tay bùn chân lấm rằng có
một lư tưởng ở trong giá trị tinh thần và tu định, một
huyền lực bẻ găy dây chuyền của vật chất. Đó là sứ mạng của
Tôn Giáo. Nhưng trong bối cảnh Lịch Sử của Việt Nam, phong
trào Phật Giáo đă đi lạc con đường của nó. Nó đă đặt cho nó
những mục tiêu chính trị đến mức có tham vọng lật đổ Chính
Phủ.
Có nhiều lư do giải thích tâm trạng đă đưa các
lănh tụ Phật Giáo đến sai lầm này. Về căn bản, Phật Giáo ở
một tâm trạng lưỡng nan (nhưng chỉ ở Việt Nam). Nó không thể
giữ được tính chất Phật Giáo thuần túy nếu nó thành một lực
lượng chính trị. Đó là sự mâu thuẫn căn bản ở Việt Nam.
Những người Phật Tử đă khổ sở về những mâu thuẫn này. Họ
thấy các phong trào Tôn Giáo khác bành trướng và họ đă coi
sự kiện này như là một bằng chứng rằng có một cái ǵ đang
chèn ép họ. Các Tôn Giáo khác (Hồi Giáo và Công Giáo và Tin
Lành) có cách giải quyết các vấn đề sinh sống hàng ngày của
họ. Phật Giáo th́ không thế, nó là một Tôn Giáo chủ trương
hoàn toàn tách rời thế sự. Thấy các Tôn Giáo khác bành
trướng họ kết luận rằng: Họ đang bị đàn áp.’’ (trang 44).
d. Cộng sản, Công Giáo và Phật Giáo.
‘’Cộng sản đă tổ chức việc cải đạo từng loạt Xă
thành Công Giáo, và đă núp sau các Xă này để xâm nhập Việt
Nam. Khi các Phật Tử thấy các xă cải đạo theo Công Giáo họ
tưởng rằng đó là họ bị áp lực của Chính Phủ. Nhưng ta đọc
các tài liệu ta thấy rằng Chính Phủ cũng lo lắng về những vụ
cải đạo ào ạt này, và tuyệt đối không khuyến khích việc này
v́ chủ động việc này là cộng sản trá h́nh. Sự kiện này đă
gây nhiều tai hại vào năm 1960, lúc mà cộng sản phát động
chiến tranh phá hoại, những Làng ấy là những Làng chống
chúng tôi. Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă xung khắc với giới
Lănh đạo Công Giáo về những vụ cải tạo ào ạt này v́ các cơ
quan an ninh của chúng tôi canh chừng những xă ấy chặt chẽ
hơn các xă khác.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là các Phật Tử coi
phong trào tỵ nạn như là bằng chứng rằng Chính Phủ khuyến
khích Công Giáo nhưng không khuyến khích Phật Giáo, v́ trong
số một triệu tỵ nạn từ miền Bắc vào Nam có 700.000 Công
Giáo. Người theo Phật Giáo tin rằng đó là v́ Tổng Thống là
người theo Đạo Công Giáo. Họ không hiểu rằng đó chỉ là một
vấn đề tổ chức, v́ người Công Giáo có tổ chức tốt hơn về
việc đời, cả giáo khu có thể động viên để ra đi, trong khi
người theo Phật Giáo tản mát và không có tổ chức.’’ (trang
45)
e. Chính phủ từ chối không cho Công Giáo đặc
quyền
‘’Chính phủ áp dụng một chính sách chung cho tất
cả mọi người. Chính Phủ khuyến khích tất cả các Tín ngưỡng
để chống lại chủ nghĩa vô thần cộng sản...Sau 1955 có vấn đề
các Giáo Phái muốn thiết lập quốc gia trong Quốc Gia. Năm
1957 người Công Giáo muốn được đặc quyền: Trường học không
có sự giám sát của Chính Phủ và Cộng Đồng riêng...(họ bất
măn v́ không được chấp thuận). Nhưng họ chỉ không bỏ phiếu
cho ông Diệm (chớ không biểu t́nh ồ ạt như ngày nay)’’.
(trang 46).
f. Mỹ và âm mưu chống chính phủ
‘’Âm mưu chống Chính Phủ do Ủy Ban Liên Phái tổ
chức. Ủy Ban này chỉ đại diện cho một phần của Phật Giáo
Việt Nam. Những Phái khác không đồng ư với họ, nhưng bị
phiền toái v́ thiện cảm với họ. Cùng một Tôn Giáo, họ cảm
thấy phải liên đới với người đồng đạo. Đây là điều mà người
ngoại quốc lợi dụng. Cuộc âm mưu thành h́nh v́ có những kẻ
khích thích, đặc biệt là giới báo chí Mỹ, họ khuấy động dư
luận quốc tế chống Chính Phủ. Tất cả các tổ chức đều do Ủy
Ban Liên Phái điều khiển’’. (trang 46).
‘’Tin các ông đến có tác động khuyến khích người
ta biểu t́nh. Chính Phủ thấy trước việc này và đă bắt được
tài liệu liên quan đến chuẩn bị biểu t́nh. Các tài liệu đó
xuất phát từ những người Phật Tử quá khích, cộng sản và
ngoại nhân...T́nh h́nh thật là gay go. Sự hiện diện của các
ông là một dịp tốt để thiêu vài người nhằm gây xúc động. Đối
với Tây Phương cũng như Đông Phương vụ Phật Giáo là một cơ
hội như vàng để chia rẽ Việt Nam, một dịp duy nhất để lợi
dụng cực đoan chống Chính Phủ’’ (trang 46)
‘’Âm mưu là khiêu khích dồn Chính Phủ vào thế phải bắt càng
nhiều người càng tốt, và gây đổ máu bằng cách bắn vào cảnh
sát’’. (trang 48).
g. Tỷ lệ Phật Giáo trong Chính Phủ và Quân Đội
Ông Gunewardene: ‘’Trong Chính Phủ có bao nhiêu người theo
Phật Giáo ?’’
Ông Cố Vấn Chính Trị: ‘’Ba phần tư’’ (8/13)
Ông Gunewardene: ‘’Và bao nhiêu người trong Quân
Đội?’’
Ông Cố Vấn Chính Trị: ‘’Trong 17 ông Tướng, 14
người là theo Đạo Phật Giáo... ’’ (trang 50)
Phỏng vấn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
Cuộc tiếp xúc giữa Phái Bộ và Phó Tổng Thống
Nguyễn Ngọc Thơ tương đối ngắn 3 trang trong Phúc Tŕnh
(trang 53-56) và Phó Tổng Thống không có nói ǵ đặc biệt.
Tiếp theo phỏng vấn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, cuộc
phỏng vấn Ông Bộ Trưởng Bùi Văn Lương là một trong hai cuộc
phỏng vấn quan trọng nhất về phía Chính Phủ Việt Nam. Do đó,
dưới đây, nó được trích khá dài.
Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương
Cuộc tiếp xúc của Bộ Trưởng Bùi Văn Lương và
Phái Bộ rất dài 11 trang trong Phúc Tŕnh (trang 56-68), và
đề cập đến nhiều vấn đề. Cùng với những tuyên bố của Ông Cố
Vấn Ngô Đ́nh Nhu, những tuyên bố của Bộ Trưởng Bùi Văn Lương
cung cấp giải thích rất rơ ràng về một số vấn đề lớn về vụ
Phật Giáo được nêu ra thời đó và cả ngày nay. V́ vậy, dưới
đây sẽ trích nhiều đoạn của những tuyên bố đó để soi sáng
một số khía cạnh then chốt của vấn đề.
a. Về Dụ số 10.
Có sự trao đổi giữa ông Trưởng Phái Bộ và ông Bộ Trưởng như
sau:
Trưởng Phái Bộ: ‘’Thưa Ngài, điều thứ nhất mà Phái Bộ muốn
biết là tại sao Dụ số 10 không được tu chỉnh tuy rằng trong
8 năm qua có tuyển cử và Chính Phủ Dân Cử được thành lập, và
tại sao Chính Phủ có đa số Phật Tử trong Quốc Hội lại không
thấy cần tu chỉnh Dụ này...?
Bộ Trưởng: ‘’Về điểm thứ nhất. Năm 1954 chúng
tôi bận rộn về chiến tranh với các Giáo Phái cùng nhu cầu
định cư các người tỵ nạn. Như quư vị biết, chiến tranh chống
các Giáo Phái là cuộc chiến tranh dùng vũ khí, chống ba Giáo
Phái:B́nh Xuyên, Ḥa Hảo và Cao Đài. Năm 1956, chúng tôi có
cuộc bầu cử Quốc Hội Lâm Thời. Từ năm 1956 đến 1959, chúng
tôi hơi rănh tay và đó là lúc có thể tu chỉnh hoặc không tu
chỉnh Dụ số 10. Nhưng tôi phải nói rơ ra rằng, theo hiến
pháp, sự tu chỉnh luật pháp phải do đa số dân biểu Quốc Hội
yêu cầu. Trong Quốc Hội thứ nhất, Phật tử chiếm đa số lớn,
trong Quốc Hội được bầu năm 1959 cũng vậy. Nhưng không có
yêu cầu tu chỉnh Dụ số 10 và v́ không có yêu cầu của Quốc
Hội, nên vấn đề tu chỉnh đó không được dặt ra...’’ (trang
58)
........
Trưởng Phái Bộ: ‘’Câu hỏi của tôi là: Tại sao Chính Phủ lại
không tự ḿnh khởi động việc tu chỉnh Dụ đó ?’’.
Bộ Trưởng: ‘’Đó chính là điều mà bây giờ tôi
muốn giải thích. Trong thời gian 1956-1959, và cho đến tháng
5. 1963 trước khi xảy ra vụ Phật Giáo, Chính Phủ không hề
được Quốc Hội yêu cầu cứu xét dự thảo luật nào về Dụ số 10.
Tôi phải nói cho hết về người thứ nhất có thể tu chỉnh lật
pháp: Đó là Quốc Hội. Chúng tôi có hai Quốc Hội từ năm 1956
đến 1959 và đến khi vụ Phật Giáo xảy ra, Chính Phủ không
được yêu cầu tu chỉnh ǵ, không được yêu cầu cứu xét dự thảo
tu chỉnh Dụ 10 nào.
Người thứ hai về tu chỉnh là chính Chính Phủ. Để
quyết định có tu chỉnh hay không tu chỉnh một Dụ, có hai
điều kiện:
1/Chúng tôi phải thấy có nhu cầu như vậy.
2/Phải có yêu cầu như vậy xuất phát từ dân chúng.
Về điểm thứ nhất, cho đến khi có vụ Phật Giáo,
chúng tôi không thấy có nhu cầu tu chỉnh Dụ số 10 v́, tuy
rằng trên giấy tờ những điều kiện trong văn kiện rất gắt gao
về sự kiểm soát các Hội, Chính Phủ không hề áp dụng các điều
kiện đó.
Chúng tôi luôn luôn rất rộng răi về các vấn đề
Tôn Giáo và đặc biệt trong đối xử với Phật Giáo. Có một số
Điều khoản trong Dụ, ví dụ điều kiện buộc phải đăng kư với
Bộ Nội Vụ tên những thành viên của Chùa, Ủy Ban hay Hội Phật
Giáo, thường được bỏ qua, đặc biệt là ở các Tỉnh. Cho đến
năm 1960, trước khi tôi được cử làm Bộ Trưởng Nội Vụ, đó là
thường lệ. Sau khi tôi làm Bộ Trưởng Nội Vụ, lệ đó vấn tiếp
tục và tôi cũng không kiểm tra. Nhưng năm 1963, tôi mở hồ sơ
ra xem, th́ tôi thấy rằng, từ năm 1954 cho đến 1963, chúng
tôi không hề áp dụng Dụ số 10. Mà cũng chẳng hề khi nào có
yêu cầu, thơ tín, từ phía dân chúng đ̣i tu chỉnh Dụ số 10’’.
.......
‘’Tóm lại, tôi thấy cần tuyên bố rằng từ ngày có
thỏa hiệp ngày 16.6. với phái đoàn Phật Giáo, chúng tôi đă
đưa vấn đề ra Quốc Hội và Quốc Hội đă cử một Ủy Ban đặc biệt
để nghiên cứu phương thức tu chỉnh Dụ số 10. Trong khi đó
chúng tôi đă ngưng áp dụng Dụ số 10’’ (trang 59)
b. Vụ rắc rối ở Huế: Trước ngày 8.5.1963
Trưởng Phái Bộ: ‘’...Chúng tôi muốn Ngài cho
chúng tôi biết, càng nhiều càng tốt, về vấn đề Chính Phủ có
bằng chứng tuyệt đối về các điểm, các vụ chống đối Chính Phủ
gồm có: Xúi dục và bạo động?’’
Bộ Trưởng: ‘’...Nếu tôi nghe đúng, Ngài Trưởng Phái Bộ muốn
tôi giải thích tại sao trước ngày 6.5 không có rắc rối mang
h́nh thức của những rắc rối xảy ra sau ngày 6.5. Như Ngài
Trưởng Phái Bộ nói, ba khía cạnh liên quan mật thiết với
nhau. Cho nên tôi sẽ đề cập đến nhiều điểm.
Sau những rắc rối ở Huế, tôi t́m hiểu tại sao
lại có bạo động th́nh ĺnh như thế và tại sao lúc tôi có mặt
ở Huế ngày trước đó, tôi không có một ư nghĩ ǵ về việc này.
Tôi đă đích thân gặp tất cả các vị sư mà Phái Bộ đă phỏng
vấn hôm qua, kể cả Thích Trí Quang (hiện đang ở trong Sứ
Quán Hoa Kỳ). Tôi đă nói chuyện với họ. Tôi đă giải thích
cho họ ư nghĩa của Thông Tư về việc treo cờ và bàn luận với
họ, và họ đă xác quyết với tôi rằng những giải thích của
tôi thích đáng và họ hài ḷng và rất vừa ư, và như thế tôi
có thể yên tâm trở về Sài G̣n. Tôi rất vui vẻ và tôi trở về
Sài G̣n không hề đoán được rằng ngày sau đó sẽ xảy ra chuyện
rắc rối.
Bây giờ tôi muốn làm sáng tỏ một số vấn đề.
Thông Tư ngày 6.5 đến Huế ngày 7.5. Tôi đích thân ra đến
Huế ngày 7.5 lúc 10 giờ sáng. Nửa giờ sau tôi gặp những vị
Sư lănh đạo yêu cầu được gặp tôi để tôi giải thích cho họ
rơ nội dung và lư do tại sao có Thông Tư đó. Tôi giải thích
cho họ nghe và chỉ thị Nhân Viên Hành Chánh sở tại tạm thời
đừng thi hành Thông Tư. Lư do của chỉ thị đó là khi tôi ra
đến Huế, trên đường từ sân bay về Thị Xă, tôi thấy cờ đă
được treo như trước khi có Thông Tư và trong thời gian một
ngày không thể hạ tất cả các cờ đă được treo lên. Các vị Sư
lănh đạo rất vui ḷng. Họ nghe tôi giải thích và nói với tôi
rằng đă hoàn toàn thỏa măn những ư nguyện của họ. Không thể
thay đổi ǵ theo Thông Tư mà với tư cách Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ
tôi đă gởi đi, v́ cờ Phật Giáo và cờ Quốc Gia đă được treo
ba ngày trước đó.
Sau khi tôi về Sài G̣n, tôi nghe nói rằng ngày
8.5 có lộn xộn đổ máu ở Huế. Tôi rất ngạc nhiên và tôi lại
bay ra Huế. Tôi tự hỏi tại sao những vị Sư Trưởng đă quả
quyết với tôi rằng họ hài ḷng mà nay lại xảy ra vụ lộn xộn.
Lúc đó tôi hiểu tại sao v́ sau khi chúng tôi bắt được hai ba
người, tôi được một tờ khai của một cộng sự viên gần gũi
Thích Trí Quang, ông Đặng Ngọc Lựu. Tôi đọc tờ khai đó và
lúc đó tôi mới hiểu. (trang 61).
c. Âm mưu cộng sản từ năm 1960
Trưởng Phái Đoàn: Ông Lựu này bây giờ ở đâu?
Bộ Trưởng: Ở đây với chúng tôi. Chúng tôi đă giữ
ông ấy lại và trong lời khai, ông ấy nói rằng âm mưu (và vị
vậy danh từ ‘’âm mưu’’ mới được dùng trong tài liệu) là một
âm mưu cộng sản, đă dự tính từ năm 1960, khi đạt thỏa hiệp
về h́nh thức xáo trộn sẽ gây ra.
Tôi chỉ có thể kết luận rằng Thông Tư 6/5 chỉ
được dùng để làm lư do hữu lư để tạo ra rắc rối, v́ âm mưu
đă được quyết định ngay từ năm 1960.
d. Vụ rắc rối ngày 8. 5. ở Huế
1. Thích Trí Quang Là Người Chủ Mưu.
‘’Tôi đă điều tra ngay tại chỗ ngày tiếp theo
khi xảy ra vụ rắc rối ở Huế. Tôi đến một Thị Xă đang c̣n sôi
động, một số nhóm và cá nhân đang c̣n biểu t́nh ngoài đường
phố. Tôi lại gặp các Sư lănh đạo, đặc biệt là Thích Trí
Quang. Lúc đó, tôi chưa biết là ông ta là người cầm đầu v́
theo hệ thống cấp bậc, ông ta nằm dưới vị Ḥa Thượng mà các
ngài đă gặp ở Chùa Ấn Quang, Thích Tịnh Khiết. Lúc đó tôi
không nghi ǵ về vai tṛ thực sự của Thích Trí Quang trong
các vụ rắc rối.
Trong cuộc điều tra của tôi ngày 9.5 về vụ rắc
rối 8.5, qua những lời khai của tất cả mọi người, tôi biết
rằng chính Thích Trí Quang là người đă đổi thay tất cả các
điều khoản trong chương tŕnh Phật Đản đă được thỏa thuận
với Chính Quyền Địa Phương và ông ta đă thay đổi chương
tŕnh một cách đơn phương, không tham khảo ư kiến với Chính
Quyền Địa Phương.’’ (trang 61)
Tôi nghĩ rằng tốt hơn là nói chuyện với ông ấy
và hỏi ông ấy về đầu đuôi câu chuyện ấy ra sao? Khi tôi gặp
ông ấy, tôi trách ông. Chỉ hai ngày trước đó, tôi đă gặp
ông, tôi kính trọng ông và ông đă quả quyết với tôi rằng ông
hài ḷng về những giải thích của tôi nói với ông và về những
chỉ thị của tôi cho nhân viên Địa Phương tạm hoăn thi hành
Thông Tư ngày 6.5 của tôi, nhưng một ngày sau ông lại gây
chuyện rắc rối. Tôi muốn nói chuyện trực tiếp với ông.
Trong tư cách là Bộ Trưởng Nội Vụ, tôi không muốn thấy biểu
t́nh trên đường phố Huế, do ông xúi giục. Tưởng cũng cần nói
thêm là tôi thấy ông ấy trong đám biểu t́nh và cho triệu ông
đến văn pḥng tôi. Ở đây, tôi nói với ông ấy rằng tôi không
muốn có lộn xộn nữa. Tôi cấp cho ông một chiếc xe Jeep và
một ống loa và bảo ông đi cùng ông Tỉnh Trưởng đi ra phố
trấn tĩnh những người biểu t́nh. Ông nói là ông sẽ làm như
vậy, và ông đă làm đúng như vậy. Nhưng thực ra, đó chỉ là
một mưu kế để làm cho tôi dịu xuống. Ông xác quyết với tôi
là sẽ không có ǵ xảy ra nữa. Tôi trở lại Sài G̣n và ngay
sau đó, nhiều rắc rối khác lại bùng phát.
‘’...Trong đêm 8.5 (Lễ Phật Đản), theo một chương tŕnh thỏa
hiệp sẽ có một buổi lễ công cộng trước Chùa chính... Đêm đó
lúc 8 giờ tối theo chương tŕnh sẽ có thuyết pháp của một vị
Sư danh tiếng ở trước Chùa chính và sau đó sẽ có những cuộc
biểu t́nh nhỏ của dân chúng, nhưng vào phút chót Thích Trí
Quang dẹp bỏ cuộc thuyết pháp đă định và đặt sư đàn em của
ông ở một số nơi để nói với công chúng: ‘’Đừng ở đây, đi đến
Đài phát thanh, v́ ở đó sẽ vui hơn, dễ chịu hơn’’. Do đó mọi
người giải tán và dồn nhau về phía Đài phát thanh’’ (trang
62)
2. Thích Trí Quang Chiếm Đài Phát Thanh, Đọc Diễn Văn Chống
Chính Phủ
‘’Chọn Đài phát thanh là chọn một địa điểm tốt v́ có một cây
cầu trên Sông Hương, đó là nơi nhiều đường gặp nhau và đài
phát thanh nằm ở giữa. Đó là nơi rất thuận lợi để biểu t́nh
công cộng, nhiều đại lộ dẫn đến đài phát thanh và từ cây cầu
hàng làn sóng người có thể đổ về đó không ngớt và giải tán
họ rất khó.
Thích Trí Quang đợi cho công chúng tụ tập đông và ông ta đ̣i
Giám Đốc Đài Phát Thanh phải đổi chương tŕnh đang phát
thanh ngay lập tức. Giám Đốc nói chương tŕnh đă sắp xếp
với sự thỏa hiệp của các Sư, ông ta đă có những băng đă thâu
thanh để phát vào giờ đó với những bài hát Phật Giáo và
những mục khác đă sắp đặt và bây giờ Ngài đ̣i bỏ chương
tŕnh thu thanh rồi và thay thế nó bằng băng của ông thu hồi
sáng’’. (trang 62)
Tôi cần giải thích rằng sáng ngày 8.5 có một buổi lễ long
trọng nhưng Thích Trí Quang cũng đă thay đổi chương tŕnh đó
đi và để làm rơ sự thiếu thành thật của các lănh đạo Phật
Giáo, kể cả Thích Trí Quang, xin đưa ra thí dụ sau đây: Ông
này mời Viên Chức Chính Quyền sở tại quan trọng của Huế dự
lễ, nhưng ông ta lại cho chưng biểu ngữ mang khẩu hiệu chống
Chính Phủ và tuy rằng trong chương tŕnh không có dự định,
Thích Trí Quang giựt Micro, đọc lớn và cho ghi âm những khẩu
hiệu chống Chính Phủ kịch liệt và thu thanh vỗ tay của quần
chúng...
...
‘’Toàn bộ buổi lễ đă được thu băng và lúc 9 giờ tối Giám Đốc
Đài Phát Thanh nói rằng vào phút chót ông không thể thay đổi
chương tŕnh đă ghi băng rồi. Do đó, Thích Trí Quang kích
động Phật Tử lúc đó đă tụ hội đông đúc, la ó ồn ào và xô cửa
đài để vào’’(trang 63)
‘’Giám Đốc Đài Phát Thanh rất sợ hăi, khóa cửa pḥng lại và
điện thoại cho Tỉnh Trưởng và Viên chức Quân sự và lúc này
ông Tỉnh Trưởng mới được báo động. Ông Tỉnh Trưởng này là
một Phật Tử đi Chùa đều và là con tinh thần của Ḥa Thượng
Thích Tịnh Khiết, mà Quư Ngài đă gặp ở Chùa Ấn Quang. Ông ta
đến nơi xảy ra sự việc, thấy chuyện đang xảy ra và dùng lời
nói dịu Thích Trí Quang, nhưng ông này không nghe. Cho nên
Tỉnh Trưởng phải gọi xe thiết giáp cỡ nhỏ, không phải xe
thiết giáp thiệt, nhưng chỉ là xe half-trucks xe bọc sắt nhẹ
đến cứu nguy, v́ ông ta hy vọng rằng chỉ sự hiện diện của
các xe đó cũng đủ để thị uy quần chúng và làm cho họ đừng
đập vỡ cửa ra vào và cửa sổ của Đài Phát Thanh’’(trang 63)
‘’Sau đó, Thích Trí Quang ra lệnh cho Tỉnh Trưởng phát thanh
chương tŕnh mà chính ông ta đă thâu băng buổi sáng đó và
ông xúi một số Phật Tử đă bị khích thích nặng trèo lên hiên,
đập bể kính cửa sổ dùng lực mở cửa ra vào và vào trong Đài
để bức ông Giám Đốc phải phát thanh chương tŕnh. Lúc đó ông
Phó Tỉnh Trưởng ra lệnh cho cảnh sát phụ cảnh cáo những Phật
Tử đang đập vỡ cửa sổ, cảnh cáo họ phải tụt xuống, dời nơi
đó và phân tán. Họ được cảnh cáo nhiều lần và lúc đó phát
hai tiếng nổ. Tôi có ở đó, tôi trèo lên hiên và vào trong và
tôi thấy hai vũng máu trên hiên, hai tấm gương cửa sổ bị đập
vỡ và trần bị sập’’. (trang 63)
3. Về Những Sư Trẻ T́nh Nguyện Tự Thiêu
Trưởng Phái Bộ: ‘’... Tôi muốn hỏi Ngài... có thể cung cấp
cho chúng tôi những dữ kiện mà Ngài có về vụ tự thiêu xảy ra
trong lúc Phái Bộ ở Sài G̣n...’’ (trang 64).
Bộ Trưởng: ‘’... Tôi có nói thẳng với các vị rằng các Cơ
Quan An Ninh của chúng tôi có tin tức đáng tin cậy 100% về
tổ chức ngầm của những người gọi là Sư trẻ nhưng thực ra họ
không phải là Sư mà chỉ là những người tự xưng là Sư. Họ
t́nh nguyện tự thiêu. Có 10 người tự nguyện tự thiêu công
khai trong thời gian Phái Bộ ở đây.
Chúng tôi liên lạc được với họ và qua hệ thống cải huấn của
chúng tôi, chúng tôi đă nói chuyện được với họ.
Chúng tôi hỏi họ: Các anh không thích sống sao? Các anh có
ǵ chống Chính Phủ? Tại sao các anh muốn tự thiêu?
Họ đă viết một bức thư trong đó họ công nhận sự sai lầm của
họ và họ tự nguyện lên Đài phát thanh để thú nhận sai lầm đó
và kêu gọi 5 người kia (Tôi xin nhắc là các vị là có 10
người tự nguyện như thế và một người đă tự nguyện tự thiêu
rồi) xin đừng có nghe tuyên truyền vô căn cứ và công nhận
sai lầm của họ.
Trong thư của họ, họ nói rằng họ bị tổ chức ngầm bao vây và
canh gác trong các Chùa và chỗ khác và có những người nói
với họ rằng trong vụ đột kích các Chùa ngày 21 tháng 8 có
nhiều Sư bị giết chết. Đó là chuyện láo khoét, nhưng v́ họ
bị nhốt trong pḥng, họ là nạn nhân của nhiều láo khoét và
tuyên truyền, nên họ có những ư nghĩ sai lầm về cách Chính
Phủ đối sử với các sư lănh đạo...Chúng tôi chưa t́m được 5
người kia, nhưng chúng tôi mong rằng lời kêu gọi đối với mấy
người bạn của họ sẽ hiệu nghiệm.’’ (trang 66)
...
Tôi sẽ cho Quư vị biết về thân thế của Thích Trí Quang.
Chúng tôi có tín hiệu rất đáng tin về ông ta. Chúng tôi sẽ
đưa ra những tín hiệu này cho Phái Bộ. Về điểm tại sao ông
ta tỵ nạn ở Sứ Quán Hoa Kỳ và ông ta vào đó được bằng cách
nào tôi sẽ trả lời cho Quư vị biết sau khi xem lại những
ghi chép về điều tra và hồ sơ của tôi để cho có thêm chi
tiết.
Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi cũng muốn biết tại sao ông ta
lại chọn Sứ Quán Hoa Kỳ?’’
Bộ Trưởng: ‘’Tôi sẽ trả lời cho Quư Vị biết về điểm này,
nhưng tôi có thể nói ngay với Quư Vị rằng, theo những tài
liệu mà chúng tôi bắt được trong các Chùa và theo những lời
tuyên bố của Thích Tâm Châu, người phụ trách về liên lạc với
báo chí ngoại quốc trong Ủy Ban Liên Phái, th́ Thích Trí
Quang thường liên lạc với người ngoại quốc để đ̣i lật đổ
Chính Phủ. Những tuyên bố của Thích Tâm Châu chứa tên những
người ngoại quốc được liên lạc. Nhưng tôi sẽ trả lời cho
Quư vị biết về điểm này. Tôi có thể đưa ra vài tên được tiết
lộ như Cummings, Bogs. Tuy nhiên, trước khi tôi cung cấp tin
liệu này, tôi phải xin phép Chính Phủ của tôi, v́ tôi không
phải là toàn thể Chính Phủ và v́ bang giao với Hoa Kỳ tôi
phải tham khảo ư kiến của các bạn đồng nghiệp của tôi... ’’
(trang67)
Phỏng Vấn Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Đ́nh Thuần
Cuộc tiếp xúc của Phái Bộ với Bộ Trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần
không có ǵ đặc biệt. Ông này nhấn mạnh rằng những ǵ ông
tŕnh bày chỉ là lập lại những ǵ mà các ông Tổng Thống, Cố
Vấn Chính Trị và Phó Tổng Thống đă nói rồi. (trang 69-75)
Viên Chức tại Huế
Tư Lệnh Quân Đoàn I & Đại Biểu Chính Phủ
a. Quân Đội Và Vấn Đề Treo Cờ
...
Ông Volio: ‘’Ngày 7.5.1963 Quân Đội đă hạ tất cả các cờ Phật
Giáo, có đúng vậy không?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Quân Đội không dính líu ǵ đến vụ
cờ’’.
Ông Amor: ‘’Vấn đề treo cờ ở Huế liên quan với Phật Giáo, có
đúng vậy không?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Có một sự hiểu lầm về yêu cầu của dân
chúng treo cờ Phật Giáo cao hơn cờ Quốc Gia. Chỉ có một số
ít Phật Tử nghĩ rằng họ tuyệt đối không được treo cờ Phật
Giáo. ’’
b. Tỷ Lệ Phật Giáo-Công Giáo
Ông Amor: ‘’Tỷ lệ Phật Giáo-Công Giáo là bao nhiêu?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi không thể cho Ngài con số chính
xác được. Đa số theo Phật Giáo. Tôi phải xem tài liệu mới
biết.’’
Ông Amor: ‘’Ông có thể cho tôi biết tỷ lệ khoảng chừng là
bao nhiêu không?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Trên nguyên tắc th́ trong nước đa số
theo đạo Khổng Giáo. Tất nhiên có người theo Phật Giáo và
Công Giáo, đặc biệt là ở Huế v́ ở đây lâu ngày trước kia có
Gia Đ́nh Vua, Quan và Công Chức. Khoảng 30% theo Đạo Phật.
C̣n lại là Công Giáo và Khổng Giáo. Bây giờ tôi có thể cho
Quư Ngài tỷ lệ Công Chức Quốc Gia trong vùng Trung Phần là
25% theo Công Giáo, 31% theo Phật Giáo và 42% theo Đạo Khổng
Giáo.
Tôi xin nói thêm vài điều. Tôi muốn nhấn mạnh rằng ở Huế và
Trung Phần tập họp được tất cả các đại diện hành chánh là
điều hiếm có. Chúng tôi đă tập họp đông đủ như hôm nay cốt
để các Ngài thấy chúng tôi khách quan và muốn cung cấp cho
các Ngài tin tức, giúp các Ngài làm được việc. Ở đây có Nhân
viên Quân sự, Tư pháp Ṭa Viện Trưởng Viện Đại Học. Tôi đă
yêu cầu hai Viên chức cao cấp nhất của mỗi Ngành đến gặp các
Ngài để cung cấp cho các Ngài tất cả chi tiết thống kê mà
các Ngài cần.
Phần khác, các Ngài có thể mời họ, hoặc bất kỳ người dân nào
ở Huế đến gặp các Ngài bất kỳ lúc nào và hỏi họ bất cứ điều
ǵ trong thời gian các Ngài ở đây. Các Ngài có cho tôi biết
hay không cho tôi biết các Ngài gặp ai, tùy ư các Ngài. Tôi
nêu ra điều này v́ t́nh h́nh ở đây đặc biệt. Huế là một Thị
Xă Phật Giáo. Quân Đội và Chính Phủ rất kính nể Phật Giáo và
chúng tôi không thể làm trọn nhiệm vụ nếu chúng tôi không
kính nể Phật Giáo. Rất cần nói rơ rằng Nhân Viên Quân Sự và
Hành Chánh đối xử với Phật Giáo thế nào.
c. Vấn Đề Thanh Tra và Bạo Loạn
Ông Volio: ‘’Theo truyền thống về các dịp lễ và theo tiền lệ
và thỏa hiệp về trước với Chính Quyền Đài phát thanh sở tại
phát thanh băng của những buổi lễ Phật Giáo, có phải vậy
không ?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Mỗi khi có lễ Tôn Giáo th́ nghi thức
buổi lễ đó được diễn lại. Đó là truyền thống. Nhưng các bản
văn phải được nhân viên duyệt xét trước để xem trong đó có
tuyên truyền chính trị chống Chính Phủ không. Họ có quyền tự
do phát thanh tất cả những ǵ họ muốn nếu chỉ nói về Tôn
giáo và tránh pha trộn chính trị vào. Đấy là truyền thống áp
dụng cho tất cả các Tôn Giáo, dù Phật hay Công Giáo’’.
(trang 78)
Ông Volio: ‘’Tối ngày 8.5 một vị Sư mang băng về lễ Phật
Giáo đến Đài phát thanh sở tại và ông Giám Đốc Đài từ chối
không phát thanh băng đó, có đúng không và tại sao?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Điều đó không đúng. Thông điệp được
thâu băng lúc buổi sáng để phát thanh vào buổi tối. Nhưng có
một điều khác là Thích Trí Quang thừa cơ hội chèn vào băng
một số đoạn chống Chính Phủ và ông Giám Đốc muốn cắt bỏ
nhiều đoạn chứa thóa mạ Chính Phủ. Họ không chịu và Phật Tử
t́m cách xông vào Đài phát thanh để phá hoại và bạo loạn xảy
ra. ’’
Ông Volio: ‘’Ông có thể cho tôi thêm chi tiết bạo loạn xảy
ra như thế nào?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Buổi tối phát thanh, Phật Tử, đệ tử
của Thích Trí Quang tập họp chung quanh đài phát thanh để
làm áp lực với ông Giám Đốc Đài buộc ông phát thanh toàn bộ
băng, kể cả những thóa mạ chống Chính Phủ. Ông Giám Đốc từ
chối, do đó xảy ra bạo loạn.’’ (trang 78)
...
Ông Volio: ‘’Hơi độc đă được sử dụng để giải tán biểu t́nh
ngày 3.6. Có đúng vậy không?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Hơi độc không hề được sử dụng để giải
tán biểu t́nh ngày 3.6 như báo chí và Phật Tử cực đoan
nói... chúng tôi đă dùng hơi làm chảy nước mắt...loại hơi
được dùng ở tất cả các nơi khác trên thế giới trong những
trường hợp tương tự’’. (trang 78)
d. Phật Giáo-Công Giáo-Khổng Giáo
Ông Gunewardene: ‘’Ông thừa nhận rằng Thị Xă Huế là một Thị
Xă Phật Giáo. Huế có phải là một Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo
ở Việt Nam không? Theo tin tức tôi thâu lượm được, chỉ có 5%
dân số Huế là Công Giáo, có phải vậy không?
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi có thể nói ngay với Ngài rằng về
phần Công Giáo, th́ họ có ghi danh cả, cho nên có bao nhiêu
người theo Công Giáo có thể biết dễ dàng. C̣n phân biệt
Khổng Giáo Và Phật Giáo là một việc khó. Khi người ta t́m
gốc Phật Giáo (nghĩa là t́m người có Pháp danh Phật Giáo và
có ghi danh tại một số Chùa) số đó không đầy 10%. Khổng Giáo
và Phật Giáo lẫn lộn nhau. Trên nguyên tắc, tất cả người
Việt Nam đều là Khổng Giáo, nhưng nay một số đi Chùa và cũng
theo Phật Giáo. Họ mời Sư về nhà họ để làm những nghi thức
Phật Giáo và có cảm t́nh với Phật Giáo tuy rằng họ không hẳn
là Phật Giáo’’.
Ông Gunewardene: ‘’Trước Phật Đản có lễ 25 năm ông Thục được
phong Giám Mục?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Phải’’
Ông Gunewardene: ‘’Cuộc lễ kéo dài bao lâu và nó chấm dứt
khi nào?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Lễ này xảy ra sau ngày 8.5, không phải
trước đó’’.
Ông Gunewardene: ‘’Nhưng vào dịp này cũng có làm lễ cách này
hay cách khác chứ?’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Ông này được phong Tổng Giám Mục lâu
năm rồi, c̣n lễ 25 năm ông được phong Giám Mục là sau ngày
Phật Đản. ’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi nhớ rằng lễ cử hành rất đơn giản,
chỉ có vài Linh Mục và vài Công Chức dự một bữa cơn trưa. ’’
Viện Trưởng Viện Đại Học: ‘’Đó là ngày 28.6.’’.
e. Chỉ Thị Chính Phủ Về Việc Treo Cờ Nhắm vào Công Giáo
Ông Gunewardene: ‘’Về vụ lễ này có Cờ Vatican treo trước
ngày Phật Đản Không?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi thấy rằng Đại Sứ không chấp nhận
lời đáp của tôi v́ ông hỏi tôi trước ngày Phật Đản Cờ
Vatican có được treo trong Thị Xă không? Cho nên tôi sẽ trở
lại lời giải đáp của tôi cho tất cả các câu hỏi của Ngài một
cách khái quát để Ngài hiểu ông Tướng muốn nói ǵ.
Tôi sẽ lập lại toàn bộ sự việc để làm sáng tỏ truyền thống
và dữ kiện về vấn đề này’’
Ông Gunewardene: ‘’Tôi chỉ hỏi Cờ của Vatican có được treo
khắp nơi ở Huế trước ngày Phật Đản không?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Tôi không có mặt ở Huế mà v́ vậy tôi
muốn tŕnh bày như sau. Trước hết, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
không phân biệt giữa cờ Phật Giáo và cờ Công Giáo, nhưng
ông lại rất khắc khe phân biệt Cờ Quốc Gia và mọi cờ khác,
để tỏ rơ ḷng yêu nước của ông. Trong những cuộc thị sát của
ông ở Thủ Đô, mỗi khi ông thấy một lá Cờ Quốc Gia bị rách và
dơ bẩn là ông khiển trách người trách nhiệm về t́nh trạng
này.’’ (trang 79)
Trước ngày Phật Đản, có một buổi lễ Công Giáo tại đó có treo
Cờ Công Giáo nhưng không có Cờ Quốc Gia. Việc này xảy ra
không phải ở Huế, mà ở một nơi khác. Tổng Thống lấy làm
giận, tuy rằng cuộc lễ này chẳng dính líu ǵ đến Quốc Gia và
cử hành trong một nhà tư. Cho nên chỉ thị của Tổng Thống
rằng Cờ Quốc Gia phải được treo cao hơn tất cả các cờ khác
là một chỉ thị nhằm vào Công Giáo.
Rủi thay, chỉ thị của Tổng Thống được ban ra ba ngày trước
ngày lễ của Phật Giáo... Trong tŕnh bày của ông Tướng, ông
nói rằng chỉ thị thi hành một cách cố t́nh hoặc vô t́nh.
Tôi nói nó được thi hành một cách cố t́nh, bởi những người
chống đối Chính Phủ và cộng sản. Nó bị cộng sản lợi dụng.
Cộng sản đă xâm nhập vào hàng ngũ Công Giáo và Phật Giáo. Họ
lợi dụng việc này. Cho nên kẻ tạo ra vụ rắc rối không phải
là Phật Giáo, mà những kẻ gọi là Phật Giáo mà thực chất là
những kẻ xâm nhập.
f. Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết và tuyên ngôn 10.5.1963.
Ông Gunewardene: ‘’Ông cho là Ḥa Thượng Thích
Tịnh Khiết là cộng sản sao?’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Không. Tôi xác quyết là
Ḥa Thượng chống phong trào này. Tôi nói cho Đại Sứ biết thế
nào. Trong pḥng này có một người Phật Giáo. Viện Trưởng
Viện Đại Học. Ông ta không tham gia phong trào. ’’
Ông Gunewardene: ‘’Ngày 10.5.1963 có một tuyên
ngôn và trong đó có tên Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết. ’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Đại Sứ có hỏi xem Ḥa
Thượng Thích Tịnh Khiết có biết đọc hay không?’’
Ông Gunewardene: ‘’Không. ’’
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’Ngài Thích Tịnh Khiết
không biết đọc (chữ Quốc Ngữ). Tôi có thể nói chắc với Ngài
rằng Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết không muốn kư giấy tờ và
ngày 1.5, lúc các Đại Biểu đến ông ta không chịu kư. ’’
Tư Lệnh Quân Đoàn I: ‘’Họ ép ông ấy kư một tài
liệu viết bằng tiếng Việt, mà ông ấy chỉ biết đọc chữ Hán,
cho nên ông không biết ông kư ǵ’’. (trang 80)
g. Thích Trí Quang cố gây bạo động
Đại Biểu Chính Phủ: ‘’...Đại Sứ hỏi về Truyền
Thống về việc phát thanh các lễ. Phải phát thanh lại các
buổi lễ là một Truyền Thống, với điều kiện là cuộc phát
thanh nói trực tiếp về buổi lễ, ngay cả các Thị Xă khác.
Thỏa hiệp là buổi phát thanh hướng trực tiếp về dân chúng để
họ có thể nghe ở trong nhà họ, chớ không phải là một dịp để
kêu gọi tụ hội trước Đài phát thanh và nghe ở đó. Vậy vụ rắc
rối là một vụ được tổ chức và ngay từ sáng hôm đó, khi toàn
bộ chương tŕnh lễ tôn giáo được thay đổi để lấy cớ đưa ra
đ̣i hỏi. Tôi có thể tŕnh với Quư Ngài nhân chứng xác nhận
điều này. Nhiều Sư chống việc này. Vậy vụ rắc rối đă được
Thích Trí Quang định trước và vấn đề phát thanh được sắp đặt
trước ngày 7 và 8 tháng 5 để gây một cuộc bạo động. V́ vậy
mà phép phát thanh bị từ chối. (trang 81)
Bộ Trưởng Ngoại Giao Trương Công Cừu
Trong cuộc tiếp xúc với Bộ Trưởng Ngoại Giao
Trương Công Cừu, ông này chú tâm đến hai điểm:
1. Ông ta nhấn mạnh đ̣i hỏi của Chính Phủ Việt Nam là Phái
Bộ phải làm thật rơ ràng Phái Bộ đến Việt Nam là do Chính
Phủ Việt Nam mời, chớ không phải do người ngoài áp đặt, nó
là một Phái Bộ Thâu Thập Dữ Kiện (Fact Finding Mission) chớ
không phải là một Phái Bộ Điều Tra (Inquiry Mission), v́
danh từ ‘’điều tra’’ này chỉ ám chỉ là Phái Bộ có quyền phán
xử Chính Phủ Việt Nam.
2. Ông nhấn mạnh Thích Trí Quang là ‘’kẻ cầm đầu thực sự của
tất cả các phong trào phiến loạn Phật Giáo’’ và ‘’sự núp ẩn
của ông này trong Sứ Quán Hoa Kỳ là một phần của chiến
thuật của các phong trào này đối lại chiến lược của Chính
Phủ nhằm tách cộng sản khỏi Ấp Chiến Lược, với mục tiêu cô
lập hóa Chính Phủ và gây hiểu lầm giữa Chính Phủ Việt Nam và
Chính Phủ Hoa Kỳ. ’’ (trang 84)
c. Các cuộc phỏng vấn nhân chứng
Từ lúc có tin một Phái Bộ được Đại Hội Liên Hiệp
Quốc thành lập để sang Việt Nam t́m hiểu (Fact Finding
Mission) về vụ Chính Phủ Việt Nam bị gán tội là hiếp đáp
Phật Giáo th́ Phái Bộ nhận được 116 Bản tường tŕnh của cá
nhân, nhóm và tổ chức tư. Trong số đó có 67 bản Phái Bộ nhận
được ở New York và 47 bản khi Phái Đoàn ở Việt Nam. Căn cứ
trên những điều tŕnh bày trong bản tường tŕnh đó Phái Bộ
lập lên một danh sách nhân chứng mà Phái Bộ yêu cầu Chính
Phủ Việt Nam cho họ được tự do phỏng vấn, đồng thời Phái Bộ
cũng căn cứ trên các bản tường tŕnh đó mà soạn ra một bản
liệt kê những điều mà Chính Phủ Việt Nam đă bị gán cho là vi
phạm. Phần khác trong thời gian ở Việt Nam, Phái Bộ đă trực
tiếp phỏng vấn 47 nhân chứng tại Khách Sạn Majestic, nơi
Phái Bộ trú ngụ, một số Chùa mà Phái Bộ lựa chọn, trong đó
các Chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Giác Lâm ở Sài G̣n, Chùa Từ Đàm ở
Huế...các nhà tù, những Trung Tâm Thanh Niên...trong đó có
Trại giam của Tổng Nha Cảnh Sát, Trung Tâm Thanh Niên Lê Văn
Duyệt...
Danh sách những người Phái Bộ muốn phỏng vấn gồm 60 nhân vật
từ đủ các giới của xă hội Việt Nam. Danh sách đó đă được
tŕnh bày ở trên.
Phần khác, Phái Bộ căn cứ trên những thơ và tài liệu nhận
được để lập hai bản ghi những tội (allegatisons) mà người ta
gán cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm. Phái Bộ cũng căn cứ trên
hai bản gán tội này để đặt câu hỏi khi phỏng vấn các nhân
chứng mà Phái Bộ tự lựa chọn, không cần có sự thỏa thuận của
Chính Phủ. Phái Bộ đă phỏng vấn các nhân chứng này một cách
hoàn toàn tự do và kín, không có sự hiện diện của đại diện
của Chính Quyền Việt Nam và trong Phúc Tŕnh của Phái Bộ
danh sách của các nhân chứng này cũng không bị tiết lộ.
Để giữ khách quan dưới đây, những điều ghi trong Phúc Tŕnh
của Phái Bộ sẽ được dịch nguyên văn, không có b́nh luận ǵ
cả. Những điều mà các nhân chứng thuộc các giới chống Chính
Phủ, hoặc các giới trung lập, trả lời các câu hỏi cặn kẽ của
Phái Bộ tự nó nói lên sự thực v́ những câu hỏi rất sâu sắc,
tường tận và gay gắt của Phái Bộ.
Bản Thứ Nhất:
Liệt kê các tội gán cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
1. Một nhà Sư ở Chùa Xá Lợi chống cự lại đă bị
ôm và ném xuống sân từ lan can cao hơn 6 thước.
2. Quân Nhân đă buộc Sư phải ra khỏi Chùa Xá Lợi
bằng hơi làm chảy nước mắt và bắn súng.
3. Những người đột kích đă mang đi trái tim của
vị tử v́ Đạo Thích Quảng Đức.
4. Quân Đội đă gây thương tích cho hàng trăm Sư
và Ni cô trước khi đưa họ vào tù ngày mà biến cố xảy ra.
5. Một số người phải đưa vào Bệnh Viện Huế v́ bị
thở hơi độc không quen.
6. Ngày 21.8. Quân Đội hủy hoại bàn ghế trong
các Chùa.
7. Sau vụ rắc rối tháng 5, ngày 3.6 các Chùa ở
Huế bị cắt nước.
8. Giám Đốc Đài Phát Thanh Huế từ chối không
phát thanh băng về lễ Phật Giáo.
9. Chính Phủ giới hạn quyền sở hữu đất đai của
Sư Phật Giáo nhưng Công Giáo th́ không bị giới hạn.
10. Chính Phủ miễn thuế khai thác rừng và đất
trồng cho người Công Giáo.
11. Chính Phủ không cung cấp phương tiện để xây
cất pḥng ốc, cửa ṭ ṿ...trong khi Công Giáo th́ lại được.
12. Chính Phủ công nhận 6 ngày lễ Công Giáo
trong khi Phật Giáo chỉ được một.
13. Có rất nhiều trường hợp nhân viên Chính Phủ
cho người phá rối các lễ Phật Giáo, ăn cắp thức ăn và đồ
cúng của Phật Giáo ở các nơi thờ Phật và làm dơ bẩn các nơi
thiêng của Phật Giáo. Các hộ Phật Giáo bắt buộc phải dời bàn
thờ Phật khỏi những chỗ chính vào những nơi kín đáo để khỏi
bị những kẻ Chính Phủ mướn phá hoại.
14. Ngày 16.9.1963, Chính Phủ áp đặt người của
ḿnh làm lănh đạo cộng đồng Phật Giáo.
15. Ông Phạm Dinh Binh, Thư kư của Hội Sinh Viên
Phật Tử Huế bị bắt và tra tấn đến mức không c̣n nhận ra ông
ấy được.
16. Ông Tôn Thất Nghiệp, Thư Kư của Hội Sinh
Viên Phật Tử Sài G̣n cũng bị bắt ngày 4 và hiện nay đang c̣n
ở tù (trang 276-277).
Bản Thứ Nh́
Kê Tội gán cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
1. Ngày Thiên Chúa Giáng Sinh, Đài phát thanh
Sài G̣n phát thanh những chương tŕnh gồm có lễ và bài hát
Công Giáo trong khi họ hoàn toàn không có ǵ hết cho cho lễ
Phật Đản.
2. Lính và sĩ quan Phật Giáo bị gởi đi những nơi
xa xôi hẻo lánh và sĩ quan nào muốn được tăng thưởng mau th́
phải cải đạo theo Công Giáo.
3. Những gia đ́nh nghèo bị thuyết phục theo Đạo
Công Giáo để được tiền, gạo hay việc làm.
4. Những Trung Tâm Dinh Điền và Khu Trù Mật gồm
toàn người Công Giáo được thành lập, Phật Tử được khuyến
khích đến ở đấy và thuyết phục theo Công Giáo. Nếu họ từ
chối th́ họ bị đe dọa nhiều cách.
5. Ấp Chiến Lược được xây dựng ở những vùng nông
thôn, những người ở nông thôn phải dỡ nhà và phá Chùa đi để
dời vào những Ấp đó. Trong Ấp chỉ được xây nhà ở riêng,
không được xây Chùa. Nếu Sư Phật Giáo từ chối không hạ Chùa
của ḿnh xuống để dời vào Ấp Chiến Lược th́ họ bị nghi là
‘’thờ ơ trong việc chống cộng’’ (trang 279)
Theo phần IV của Phúc Tŕnh, Phái Bộ đă phỏng vấn 47 nhân
chứng, nhận được 116 bản thông báo. Phần IV của Bản Phúc
Tŕnh này rất dài, nó gồm 65 Chương (trang 188-253). Nhưng
may là không cần dịch hết như vậy, v́ các thành viên của
Phái bộ hỏi đi hỏi lại một số câu hỏi và được trả lời tương
tự. Cho nên chỉ cần dịch chép những trả lời nào có tính cách
đại diện nhất. Trong những trường hợp mà những lời đáp chứa
những dữ kiện hay quan điểm chiếu sáng mới vào t́nh h́nh
Việt Nam không những về năm 1963, mà cả 28 năm qua, th́
những lời đáp đó sẽ được trích dài.
Vùng mà có nhiều kêu ca nhất:Trung Phần.
Trưởng Phái Bộ: ‘’Người ta nói rằng Chính Phủ
Việt Nam tội đă vi phạm quyền Tôn Giáo của Cộng Đồng Phật
Giáo, điều này có đúng không?’’
Nhân chứng số 1: ‘’Tất cả những điều mà người ta
nói Chính Phủ Việt Nam vi phạm về hành đạo hay về quyền của
Phật Giáo đều xuất phát từ miền Trung Việt Nam, ba bốn năm
trước ở bốn Tỉnh khác nhau. Các Tỉnh đó là Phú Yên, B́nh
Định, Quảng Nam, Quảng Ngăi. C̣n về nơi khác th́ tôi không
biết...’’ (trang 89)
Nhân chứng số 2: ‘’Không phải chỉ có vấn đề cờ
và những va chạm đổ máu tại Đài phát thanh Huế gây ra vụ nổi
loạn Phật Giáo, nguyên do có từ lâu và có rất nhiều nguyên
do. Ở Nam Phần, ở Sài G̣n hay những vùng lân cận, người ta
không biết ǵ về những đ̣i hỏi ngược đăi mà Phật Tử ở Trung
Phần phải chịu đựng. Có thể nói là có một sự đối xử tàn bạo
với Phật Giáo trong các Tỉnh Trung Phần: Phú Yên, Quảng Ngăi
và B́nh Định.’’ (trang 96)
....
Tự thiêu được tổ chức
Trưởng Phái Bộ: ‘’Ông mấy tuổi?’’
Nhân chứng số 8: ‘’19 tuổi’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Ông được thụ phong năm nào?’’
Nhân chứng: ‘’Tháng 3.1962. Tháng 7 năm nay, tôi
lên Sài G̣n và lúc đó Thích Trí Quang quyết định gởi tôi đi
Vĩnh B́nh để học thêm về giáo lư, Thị Xă Bến Tre, Chùa Long
Phước.
Tháng 5.1963, tôi được về Sài G̣n để thăm Hội.
Tôi trú tại Chùa Xá Lợi và phận sự của tôi là hầu mấy vị sư
lớn. Và chính lúc đó tôi được biết về năm điều yêu sách của
Phật Giáo.
Ngày 30 tháng 5.1963 tôi tham gia biểu t́nh
Phật Giáo ở Sài G̣n, xong tôi trở về Chùa Xá Lợi.
Đêm 20.8, tôi đến Chùa Ấn Quang và tôi bị bắt
vào lúc 1 giờ đêm. Tôi bị giữ 15 ngày ở một nơi mà tôi không
nhận được. Tôi được sư lớn ở Chùa Ấn Quang đến thăm và mấy
vị này nói chuyện với Chính Quyền. Ngày sau đó, tôi được thả
về. Cũng lúc đó, những Sư và Ni cô khác bị bắt cũng được thả
về.
Tôi trở về Ấn Quang và thấy có nhiều Sư và Ni cô
ở đó. Chính ở đó mà tôi được biết Thích Thiện Hoa và Thích
Nhật Minh, Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Ủy Ban Thống Nhất Phật
Giáo Thuần Túy. Lúc đó, hai vị Sư này ra một tuyên cáo nói
rằng tất cả các Tăng sĩ nên trở về Chùa của ḿnh v́ một Chùa
không có khả năng nuôi ăn một số đông Sư và Ni cô như thế.
V́ Chùa của tôi ở quá xa, nên tôi xin phép ở lại Sài G̣n và
tôi trú ngụ tại nhà của Ni cô Diệu Thanh. Bà này ở gần Chùa
Ấn Quang.
Trong thời gian này tôi nghe nói đến những
tàn ác của Chính Phủ đối với Phật Giáo. Ví dụ nghe nói rằng
Sư và Ni cô bị đánh đập, bị găy tay, bị nhận nước chết, bị
mổ bụng...Tôi cũng nghe nói họ bị bắt trở lại và những người
nào không bị bắt lại th́ bị ép buộc không được hành đạo của
ḿnh nữa, hay bị ép tự thiêu. Tôi rất xúc động về những tin
này.
Một hôm tôi ở Phạm Giang Gia Long một sinh viên tự xưng là
một đoàn viên của Hội sinh viên gặp tôi và rủ tôi tham gia
Phong trào Phật Giáo. Tôi nhận lời v́ tôi tin rằng đó là
phục vụ Phật Giáo. Người sinh viên đó hỏi tôi ở đâu. Tôi nói
ở nhà một Ni cô ở gần Chùa Ấn Quang.
Hai ngày sau người thanh niên đó đến t́m tôi ở địa chỉ này
và đưa cho tôi một gói trong đó có hai bộ quần áo. Người
thanh niên đó nói rằng Chính Phủ đang bắt nhiều Sư và Ni cô.
Người ấy nói nếu tôi ra đường tôi nên mặc loại quần áo này
để khỏi bị nhận ra là Phật Giáo. Người ấy cũng bảo tôi nên
đổi chỗ ở. Anh bảo tôi nên đến ở Chùa Từ Vân ở Đường Thái
Lập Thành ở Gia Định, để tôi có thể trốn Chính Quyền lúc đó
đang bắt Sư. Do đó tôi đến Chùa Từ Vân.
Ngày 22.10, người sinh viên đó lại t́m tôi và lần này anh ấy
nói rằng tên anh là Linh. Anh nói Hội Sinh Viên Phật Giáo
đă đổi danh xưng và đổi quan hệ. Anh nói tổ chức mới này làm
cho cộng sản. Ngày 23.10 tôi được chở taxi đến một Nhà
Trường (trang 115) Trường Thị Lang ở Phú Nhuận. Tôi được dẫn
đến một hồ bơi và ở đó gặp hai người. Người đầu tên là Thanh
và người thứ hai là một nhà Sư trá dạng là dân thường mang
một cái mũ ni lông. Họ nói họ rất vui gặp tôi. Họ cũng nói
rằng Phái Bộ Liên Hiệp Quốc sắp đến Việt Nam để điều tra về
bang giao giữa Chính Phủ và Cộng Đồng Phật Giáo. Họ nói với
tôi họ cần mười người t́nh nguyện và họ muốn biết tôi có
nhận làm một trong mười người đó không.
Tôi nhận v́ tôi rất xúc động về những tin tức mà tôi đă nghe
trước đó về Chính Phủ ngược đăi các Sư. Tôi nghĩ rằng số
phận tôi rốt cuộc rồi cũng sẽ như vậy. V́ vậy tôi nhận lời.
Họ nói với tôi rằng tôi sẽ chết cho chính nghĩa Phật Giáo.
Khi tôi chấp nhận họ rất vui mừng. Họ cũng nói với tôi rằng
một Sư tên là Phan Mỹ sẽ tự thiêu trước Nhà Thờ Ḍng Chúa
Cứu Thế và một người khác trước Nhà Thờ Tân Định ở Đường Hai
Bà Trưng. Họ nói tôi tự thiêu vào ngày Lễ Quốc Khánh v́ lúc
đó sẽ có đông người, kể cả đại diện của Phái Bộ Liên Hiệp
Quốc.
Tôi hỏi họ làm sao tôi vào khu đó được v́ khuôn viên làm lễ
bị ngăn chận. Họ bảo tôi đừng lo, nhóm khuyến khích tự thiêu
sẽ sắp đặt tất cả mọi việc cho tôi. Tôi hỏi sắp đặt thế nào
và họ trả lời rằng ngày 26.10 họ sẽ đưa cho tôi một bộ đồ
trắng và một áo cà sa vàng tẩm xăng. Họ sẽ cấp cho tôi một
cái ô tô dán nhăn hiệu cho phép nó vào trong khuôn viên. Khi
ô tô đến đó tôi cứ bước ra một cách tự nhiên và ô tô sẽ đi
chỗ khác. Tôi sẽ ngồi xuống, mặc áo cà sa vào, quẹt một cây
diêm và tự đốt. Trước đó họ sẽ đưa tôi vài viên thuốc để tôi
khỏi cảm thấy đau đớn. Xong, họ bảo tôi đi đi. Họ đưa cho
tôi 100 đồng để đi xe.
Ngày 24.10, người sinh viên lại đến Chùa Từ Vân đưa cho tôi
ba bức thư. Một gởi cho Tổng Thống. Thơ này đ̣i tự do Tôn
giáo, trả tự do cho các sinh viên, Sư, Ni cô bị bắt. Thư thứ
hai gởi cho Chánh Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa ở Chùa Ấn
Quang. Thơ này buộc tội Thích Thiện Hoa đă phản bội Sư, Ni
cô và Phật Tử. Thư thứ ba gởi cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc,
giải thích tại sao tôi tự vận. Những bức thư này viết sẵn
trước và họ bảo tôi kư. Tôi không do dự ǵ, tôi kư ngay.
Sáng 25.10. tôi bị cảnh sát bắt trước khi người sinh viên
đến đón tôi và đưa tôi đi chỗ khác.
Trong xe Cảnh Sát tôi thấy một người tên là Hải mà tôi biết
trước kia ở Chùa Xá Lợi. Tôi có thấy anh ta ở Đường Chi
Lăng ngày 23. Lúc đó tôi và anh ấy chào nhau và tôi nói với
anh là tôi sẽ không gặp mấy anh nữa sau ngày 26. Chỉ khi xe
đến Tổng Nha Cảnh Sát tôi mới hiểu rằng người đă báo Cảnh
Sát là ông Hải.
Ở đó, tôi bị để một ḿnh trong một căn pḥng và sau đó họ
đem tôi ra và giải thích cho tôi biết là không có vị Sư nào
bị Chính Quyền giết chết, rằng chẳng có chuyện đánh đập tàn
bạo và toàn bộ chuyện mà tôi đă nghe là chuyện láo. Tôi nói
với Cảnh Sát rằng tôi đă bị lừa và nay tôi hiểu t́nh h́nh.
Cho nên, tôi gởi một bức thư cho Tổng Thống để xin lỗi và
nói cho ông ấy biết về bức thư mà tôi đă gửi cho ông. Tôi
cũng gửi một bức thư cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc. V́ nay tôi
đă thấy rơ sự việc, nên tôi không c̣n có ư định tự vận nữa.
(trang 117).
Những chuyện tra tấn và đánh đập gán cho Chính Phủ
Ông Gunewardene: ‘’Ông bị Cảnh Sát bắt giữ khoảng một
tuần... Họ đối xử với ông thế nào? Họ có cho ông ăn uống tử
tế không?’’
Nhân Chứng số 8: ‘’Có. Họ đối xử với tôi tử tế. Họ cấp cho
tôi loại thức ăn mà tôi yêu cầu. Tôi không thích đồ mặn và
họ cấp cho tôi thức ăn không bỏ muối. ’’
...
Ông Gunewardene: ‘’Ông có bị đánh đập không?’’
Nhân Chứng: ‘’Không’’ (trang 118)
...
Ông Amor: ‘’Các ông có bị đánh đập không?’’
Một trong những nhân chứng số 11, 12, 13, 14: ‘’Không. Nhưng
về những người khác th́ tôi không biết’’. (trang 131)
...
Ông Amor: ‘’Họ có đe dọa các ông nếu các ông nói thiệt về
các kêu ca của các ông không?’’
Nhân chứng trên đây: ‘’Không’’ (trang 131)
...
Ông Volio: ‘’Ngày 20 tháng 8. Họ phá hủy bàn ghế của các ông
không?’’
Một trong những nhân chứng số 15, 16, 17: ‘’Chúng tôi bị dẫn
đi và 12 ngày sau chúng tôi về th́ thấy mọi thứ vẫn ở chỗ
cũ’’. (trang 135)
...
Trưởng Phái Bộ: ‘’Họ đối xử các ông thế nào?’’
Một trong ba nhân chứng trên đây: ‘’Chúng tôi không bị hành
hạ. Nhưng về những người khác th́ tôi không biết. ’’
Trưởng Phái Bộ, hỏi một người khác: ‘’C̣n ông th́ sao?’’
Nhân Chứng: ‘’Tôi cũng không. Họ bảo chúng tôi đi và chúng
tôi đi, chúng tôi tuân lệnh’’(trang 137).
Một số nhân chứng Phật Giáo không đỗ lỗi cho Chính Phủ
Ông Gunewardene: ‘’Năm 1957. Chính Phủ bảo Phật Giáo đừng
làm lễ Phật Đản nữa, có đúng không?Ông có nhớ không?’’
Nhân chứng số 22 hoặc 23: ‘’Không đúng. Lúc đó tự do. Chỉ
sau ngày 8.5 mới có rắc rối’’.
...
Ông Gunewardene: ‘’Người ta không nghĩ rằng các sư trẻ phải
đi lính v́ họ đă tuyên thệ không sát sinh?’’ (trang 156).
Nhân chứng số 22 hoặc 23: ‘’Khi họ được gọi đi lính, một số
đă xin miễn và một số đă được miễn. Các người khác không
được’’. (trang 156)
...
Ông Gunewardene: ‘’Nhưng đó là ép lính và tùy ở Chính Phủ?’’
(trang 156)
Nhân Chứng: ‘’Phải, một số bị ép lính, một số xin hoăn
lại’’. (trang 156)
Ông Gunewardene: ‘’Anh có chấp nhận điều này không?’’
Nhân chứng: ‘’Không, không khi nào’’ (trang 156)
Ông Koirala: ‘’V́ Phật Giáo ghê tởm bạo lực?’’
Nhân chứng: ‘’Phải, v́ chúng tôi ghê tởm sát sinh. ’’
Ông Volio: ‘’Do đâu ông tin rằng có bất b́nh đẳng?’’
Nhân chứng: ‘’Về luật pháp Gia Tô Giáo và Phật Giáo ngang
quyền nhau, nhưng trong thực tế có thể có vài bất b́nh đẳng.
Trong cương vị Tôn giáo, họ có những nguyên tắc giống nhau,
trong thực tế họ bất b́nh đẳng. ’’
Ông Volio: ‘’Đó là b́nh đẳng ǵ?’’
Nhân chứng: ‘’Trong một số việc, Phật Giáo bị kỳ thị, khi họ
xin tiền hoặc xin trợ giúp, người Công Giáo được trước. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi sắp đi viếng các nhà tù. Ông có
thể cho tôi tên một số người mà tôi nên gặp ở đó không?’’
Nhân chứng: ‘’Được, tôi sẽ cấp cho Ngài. Ngài cũng nên viếng
các Hội sinh viên và Trường Phật Giáo. ’’ (trang 156).
Phỏng Vấn Sinh Viên Bị Giam Giữ
Phái Bộ viếng Trại Thanh Niên Lê Văn Duyệt ở Sài
G̣n, nơi sinh viên bị bắt bị giam giữ. Phái Bộ phỏng vấn ông
Giám Đốc Trại cùng sinh viên bị giam giữ ở đó. Họ phỏng vấn
31 sinh viên, 20 họp thành nhóm và 11 sinh viên mỗi người
riêng, không có người chứng. Họ t́m giải đáp cho những tội
mà người ta gán cho Chính Phủ, bắt bớ bừa băi, ngược đăi,
gây thương tích v.v...Các phỏng vấn này rất dài. Ở đây,
không chép lại hết được. Chỉ những câu hỏi và lời đáp đặc
thù được chọn.
Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi có thể gặp một số sinh viên và
nói chuyện với họ được không?’’
Ông Giám Đốc: ‘’Được, đương nhiên. ’’
Phái Bộ đi đến một pḥng ngủ tập thể và nói
chuyện với một nhóm lối 20 sinh viên. Đáp lời yêu cầu của
ông Trưởng Phái Bộ. Ông Giám Đốc và tất cả các giáo viên đều
rời pḥng.
Trưởng Phái Bộ: ‘’Chúng tôi là một Phái Bộ của
Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi đă nói chuyện với ông Giám Đốc và
ông ấy đă cung cấp cho tôi một số tin tức. Bây giờ, chúng
tôi muốn hỏi mấy cậu một số câu hỏi. ’’
Ông Ignatio Pinto: ‘’Các cậu có bao nhiêu
người?’’
Sinh viên A: ‘’65, nhưng tôi không chắc. ’’
Trưởng Phái Bộ(hỏi một trong số sinh viên):
‘’Cậu bị bắt ngày nào?’’
Sinh viện B: ‘’Ngày 19.9.1963’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu bị bắt ở đâu?’’
Sinh viên B: ‘’Ở ngoài phố, trong khi tôi ra
khỏi nhà. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Tại sao cậu bị bắt?’’
Sinh viên B: ‘’Tôi chống Chính Phủ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Tại sao cậu chống Chính Phủ?’’
Sinh viên B: ‘’Tôi có mục tiêu chính trị riêng.
’’
Trưởng Phái Bộ (hỏi một sinh viên khác) : ‘’Cậu
bị bắt ngày nào?’’
Sinh viên C: ‘’Ngày 10.9.1963’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Có phải Cậu bị bắt ở Trường
không?’’
Sinh viên C: ‘’Không tại nhà tôi, lúc 1 giờ
sáng. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Tại sao Cậu bị bắt?’’
Sinh viên C: ‘’V́ tôi có mục tiêu chính trị, tôi
chống Chính Phủ. ’’
Trưởng Phái Bộ : ‘’Cậu thuộc Tôn Giáo nào?’’
Sinh viên C: ‘’Tôi theo Phật Giáo’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Những mục tiêu của Cậu có liên
quan đến Tôn Giáo của Cậu không?’’
Sinh viên C: ‘’Không liên quan ǵ cả. ’’
Trưởng Phái Bộ cho sinh viên xem một số danh sách có ba tên
sinh viên và hỏi có ai biết họ không?
...
Sau đó, Phái Bộ quyết định gặp các sinh viên
riêng từng người thay v́ chung nhóm. Phái Bộ đi qua một
pḥng khác và gặp sinh viên mỗi người riêng.
Ông Gunewardene: ‘’Cậu là người Huế?’’
Nhân chứng số 24: ‘’Không, tôi là sinh viên Sài G̣n ‘’
Ông Gunewardene: ‘’Có bao nhiêu sinh viên ở Sài G̣n bị bắt
sau các cuộc biểu t́nh?’’
Nhân chứng: ‘’Có thể là vài trăm người. Tôi không biết chắc.
Trong số đó chỉ có một số ít bị giam giữ lại. Họ là những
người cầm đầu. C̣n th́ được thả về. ’’ (trang 169)
...
Ông Gunewardene: ‘’Cậu nói cho tôi biết, là Phật Tử, Cậu có
bất măn về những ǵ?’’
Nhân chứng: ‘’Là Phật Tử, bất măn của tôi là Phật Giáo bị áp
bức. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu cho thế nào là áp bức? Sự áp bức này
thể hiện thế nào?’’
Nhân chứng: ‘’Tôi muốn nói rằng cá nhân tôi không bị ngược
đăi, nhưng khi tôi đến Chùa để cầu nguyện, tôi trà trộn với
Phật Tử và hậu quả là tôi có thể bị bắt v.v...Và lại có cuộc
rắc rối ở Huế tiếp theo sự từ chối phát thanh tuyên bố trên
đài...Sau đó Phật Giáo nổi lên chống lại quyết định đó và
Quân Đội dùng xe thiết giáp và khí giới viện cớ là cuộc xáo
trộn là do việt cộng.’’ (trang 170)
...
Ông Volio: ‘’Cậu có liên hệ ǵ về chính trị không?’’
Nhân chứng số 25: ‘’Không’’
Ông Gunewardene: ‘’Tại sao cậu bị bắt?’’
Nhân chứng: ‘’V́ họ nghi rằng sinh viên gây ra lộn xộn. Tôi
bị bắt v́ t́nh nghi. ’’
Ông Gunewardene: Cậu có bị đánh đập không?’’
Nhân chứng: ‘’Tôi không bị đánh, nhưng anh tôi bị. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu có phải là Phật Giáo không?’’
Nhân chứng số 26: ‘’Tôi là Phật Giáo. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu bị bắt khi nào?’’
Nhân chứng: ‘’Ngày 28.8. ’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu có tham gia biểu t́nh không?’’
Nhân chứng: ‘’Có’’
Trưởng Phái Bộ: ‘’Cậu có bị đánh đập không?’’
Nhân chứng: ‘’Không’’. (trang 171)
...
Trưởng Phái Bộ: ‘’Phật Giáo ở xứ này Các vị coi như thua kém
Công Giáo, Cậu có nghĩ như vậy không?’’
Nhân chứng: ‘’Về phía Chính Phủ th́ không có như vậy, nhưng
trong một vài trường hợp có sự thiên vị. ’’
Ông Costa: ‘’Ngược đăi thể hiện như thế nào?’’
Nhân Chứng: ‘’Dùng danh từ ‘’ngược đăi’’ có lẽ quá đáng, có
thể là gây phiền hà, khi họ thay đổi giờ đọc kinh, thay đổi
diện mạo các chùa. Nói rằng gây phiền hà trong việc hành đạo
có lẽ đúng. ’’
...
Ông Costa: ‘’Cậu có nghĩ rằng có sự xâm nhập của cộng sản
vào phong trào Phật Giáo không?’’
Nhân chứng: ‘’Ta có thể chia sinh viên thành hai nhóm: Một
nhóm ủng hộ mục tiêu Phật Giáo và một nhóm bị ảnh hưởng bên
ngoài, nhưng cũng chỉ một số ít thôi, tuy vậy cũng có người
lợi dụng t́nh h́nh.’’ (trang 173)
...
Trưởng Phái Bộ: ‘’Trong lúc Cậu bị bắt và sau đó, Cậu có bị
tra tấn hay đánh đập không?’’
Nhân chứng số 29: ‘’Tôi không bị đánh đập, nhưng tôi nghe
nói rằng bạn tôi bị đánh.’’ (trang 175)
...
Ông Koirala: ‘’Cậu bị bắt ngày nào và ở đâu?’’
Nhân chứng số 30: ‘’Ngày 7.10. tại nhà tôi’’
Ông Koirala: ‘’Tại sao anh bị bắt?’’
Nhân chứng: ‘’Tôi là thành viên của nhóm chống Chính Phủ.
Không phải là một tổ chức, nhưng một nhóm bàn về chính trị,
không phải chỉ Tôn Giáo. Tôi thích chính trị hơn... ’’
(trang 175)
...
Ông Amor: ‘’Cậu bị bắt ở đâu vào lúc nào?’’
Nhân chứng số 31: ‘’Tôi bị bắt tại nhà tôi, ngày 7.10’’.
Ông Amor: ‘’Cậu có bị đánh đập không?’’
Nhân chứng: ‘’Không’’(trang 179)
Ông Amor: ‘’Cậu có biết người thanh niên nào bị đánh đập tra
tấn không?’’
Nhân chứng : ‘’Tôi nghe có vài người bị đánh’’ (trang 179)
...
Ông Amor: ‘’Cậu là Phật Giáo?’’
Nhân chứng số 34: ‘’Tôi không phải là Phật Giáo mà tôi cũng
không phải là Công Giáo. Tôi không theo Tôn Giáo nào cả. ’’
Ông Correa da Corsta: ‘’V́ lư do nào Cậu bị bắt?’’
Nhân chứng: ‘’Tôi không phải cộng sản. Tôi bị rắc rối v́ tôi
có mục tiêu chính trị. ’’
...
Ông Ignacio Pinto: ‘’Cậu có bị đánh đập không?’’
Nhân chứng: ‘’Trường hợp tôi là trường hợp đặc biệt. V́
người ta biết tôi là lănh tụ một nhóm chính trị nên không
khi nào tôi bị đánh... ’’
Vấn Đề Thương Tích và Tra Tấn
Phái Bộ viếng Nhà Thương Duy Tân để t́m biết xem có nạn nhân
của bạo lực và tra tấn trầm trọng không. Họ được ông Phó
Giám Đốc Nhà Thương tiếp. Bản Phúc Tŕnh ghi như sau:
...
Ông Amor:... ‘’Chúng tôi nghe rằng trong những vụ lộn xộn về
Phật Giáo gần đây có vài tu sĩ Phật Giáo bị thương trong lúc
xảy ra lộn xộn ngay sau đó và họ đă điều trị tại Nhà Thương
của ông. Họ c̣n đây không?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Lúc này, có một người. Có một số phải đưa
vào nhà thương và chúng tôi đă cho họ về khi thấy họ đă b́nh
phục...’’
Ông Amor: ‘’Sau các cuộc biểu t́nh có bao nhiêu người?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Ngày 20.8. có 5 vị sư và 4 ni cô’’
...
Ông Amor: ‘’Có ai bị trúng đạn không?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Không’’
Ông Amor: ‘’Trong số Ni cô và Sư mà ông điều trị, có ai ở
trong t́nh trạng nguy cập không?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Người bị nặng nhất phải nằm tại bịnh viện 60
ngày và người nhẹ nhất 3 ngày. ’’
Ông Amor: ‘’Có ai bị thương v́ đạn không?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Không’’
Ông Amor: ‘’Có ai bị bỏng không?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Không’’
Ông Amor: ‘’Ông có biết họ thuộc về một Chùa hay họ ở Chùa
nào đến?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Theo Cảnh Sát th́ họ đến từ Chùa Xá
Lợi’’(trang 168)
Ông Koirala: ‘’Phần lớn vết thương nào ở phần cơ thể họ?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Ở phía chân, gót, cổ chân, bàn chân. Không
có thương tích ở phần trên cơ thể.’’
Ông Amor: ‘’Có bị thương hơi nước mắt hay hơi khác?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Không’’
Phó Giám Đốc: ‘’Quư vị hỏi tôi về thương tích của các Sư và
Ni cô. Tôi phải có bổn phận phải nói thêm rằng chúng tôi
cũng đă nhận điều trị Cảnh Sát bị thương. Lúc này chúng tôi
đang điều trị 20 người Cảnh Sát...Trong đó có một trường hợp
gẫy chân. ’’
Ông Koirala: ‘’Trong số Sư và Ni cô có ai bị gẫy chân
không?’’
Phó Giám Đốc: ‘’Không’’
Nhân Chứng Tự Nguyện và Thông Báo (commmunications)
Ngoài 35 nhân chứng kể trên đă làm chứng theo lời yêu cầu
của Phái Bộ. c̣n 11 nhân chứng nữa (số 36-47) đă đến gặp
Phái Bộ với tư cách t́nh nguyện. Những người này có thể chia
làm hai nhóm: Nhóm lập lại những tội gán cho Chính Phủ và
nhóm phủ nhận những gán tội đó. Những tuyên bố của các nhân
chứng này rất dài (53 trang, 187-240). Trong giới hạn bài
này không thể lập lại những tuyên bố của toàn thể nhân chứng
được. Nhưng may thay, việc này không cần thiết v́ những lời
tuyên bố của những người này không khác những lời tuyên bố
của 35 người trước bao nhiêu. Một điều đáng ghi ở đây là một
số nhân chứng không đồng quan điểm với những Phật Tử đă gán
cho Chính Phủ hành hạ Phật Giáo lại là Phật Tử. Ví dụ: Nhân
chứng số 36 (trang 187 và tiếp theo) hay số 38 (trang 198 và
tiếp theo).
Phần khác, Phái Bộ nhận được 116 thông báo (communications)
của cá nhân, nhóm hay tổ chức. Trong số đó, 49 thông báo
nhận được ở Việt Nam và 67 thông báo tại Trụ Sở Liên Hiệp
Quốc ở New York.
Cũng như các trường hợp nhân chứng kể trên, các Thông báo
này nói ngược nhau. Theo Phái Bộ trong số 116 Thông Báo. 54
Bản chứa ‘’ít hoặc nhiều’’ tuyên bố với nhiều chi tiết gán
hay phủ nhận rằng Chính Phủ kỳ thị hay ngược đăi Cộng Đồng
Phật Giáo ở Việt Nam.
Phái Bộ gom các Tuyên Bố trên đây thành 5 loại:
1. Những tội gán cho Chính Phủ trước ngày 8.5.1963.
2. Những tội gán cho Chính Phủ về rắc rối ngày 6-8.5.1963 ở
Huế.
3. Những tội gán cho Chính Phủ trong thời gian từ tháng 5
đến tháng 9 năm 1963.
4. Những tội gán cho Chính Phủ về những lư do ngược đăi Phật
Giáo.
5. Các Thông Báo phủ định những tuyên bố gán cho Chính Phủ
tội kỳ thị hay ngược đăi Cộng Đồng Phật Giáo.
Tưởng cũng nên ghi rơ rằng trong phần này, cũng như trong
toàn bộ Phúc Tŕnh Phái Bộ nhất quán dùng danh từ allegation
(gán cho, đổ cho) khi nói về những tuyên bố chống Chính Phủ
Ngô Đ́nh Diệm.
Phần khác Phái Bộ nói:
‘’Phái Bộ không có phương tiện và thời gian để kiểm chứng
tất cả những tội gán cho Chính Phủ trong những Thông Báo đó.
Nhưng Phái Bộ căn cứ trên nội dung của những Thông Báo đó để
lập lên danh sách những nhân chứng sẽ phỏng vấn được tường
thuật ở nơi khác trong Phúc Tŕnh này’’. Như đă thấy, Phái
Bộ được Chính Phủ Việt Nam hoàn toàn hợp tác làm dễ dăi
trong mọi việc, để cho họ hoàn toàn tự do đi lại, lựa chọn
nhân chứng và phỏng vấn trong kín đáo.
Tưởng cũng nên nói thêm rằng tuy vậy báo chí Mỹ vẫn xuyên
tạc hô lên là Chính Phủ Việt Nam cản trở công việc điều tra
của Phái Bộ, đặc biệt là ém nhẹm Thông Báo của Phái Bộ kêu
gọi nhân chứng gặp Phái Bộ hay gởi Thông Báo cho Phái Bộ,
khiến cho ông Trưởng Phái Bộ phải ra Thông Cáo ngày 26.10 để
phủ nhận những tin thất thiệt ác ư đó.
Phái Bộ cũng ghi nhận điều sau đây:
‘’Phái Bộ đă ghi tên một số sư và sinh viên mà người ta tố
rằng họ đă bị bắt giữ, bắt cóc hay bị giết. Nhưng thời gian
sau, Phái Bộ đă phỏng vấn được các vị Thích Trí Thủ, Thích
Quảng Liên, Thích Tâm Giác, Thích Thiện Minh, mà một số
Thông Báo nói là đă bị giết. Phái Bộ cũng phỏng vấn được một
số sinh viên mà vài Thông Báo đă nói mất tích.’’ (trang
248).
III Kết Luận
Bản Phúc Tŕnh làm xong và có thể phát vào ngày
7.12.1963. Nhưng, như Thượng Nghị Sĩ Dodd, nó không được
người ta biết đến cho đến khi có vài kư giả xông xáo nắm
được nó. Như đă thuật ở trên một lư do đáng kể là Đại Sứ
Lodge đă can thiệp với Đại Sứ Gunewardene, Đại Diện Ceylon,
ém nhẹm nó đi, đừng đưa nó ra bàn thảo ở Đại Hội Liên Hiệp
Quốc. Ông Gunewardene đă làm theo lời yêu cầu của Lodge và
v́ vậy măi tới năm 1988, sự ém nhẹm này mới được phanh phui
ra, nhờ Bà Anne Blair, một học giả người Úc viết về ông
Lodge. Bà Blair biết được sự ém nhẹm này là nhờ con gái của
ông Gunewardene.
Cũng dễ hiểu tại sao Lodge t́m cách ém nhẹm Bản Phúc Tŕnh
này. Lư do là Bản Phúc Tŕnh này rất đầy đủ và vô tư công bố
sự thực về vụ Phật Giáo. Nếu người ta đọc được Bản Phúc
Tŕnh này th́ có hai dữ kiện sẽ được đưa ra ánh sáng:
1. Báo chí Hoa Kỳ đă bóp méo sự thật và chính
quyền Hoa Kỳ đă bưng bít sự thật về vụ Phật Giáo.
2. Trong khi đó có một số hành động có tính cách
kỳ thị đối với Phật Giáo ở một vài nơi ở cấp Địa Phương ở
một số Tỉnh Trung Phần, đặc biệt là Quảng Nam, Quảng Ngăi,
B́nh Định, Phú Yên... ’’, tuyệt nhiên Chính Phủ Ngô Đ́nh
Diệm không hề có chính sách đàn áp và kỳ thị đối với Phật
Giáo.
Hai khía cạnh nói trên đă được nhấn mạnh bởi
Thượng Nghị Sĩ Dodd, người mà có thể nói là đă khám phá ra
Phúc Tŕnh và ông Volio Jimenez, Đại Sứ Đại Diện Costa Rica,
một trong những Thành Viên của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc Thu
Thập Dữ Kiện ở Nam Việt Nam và người đă đưa ra kiến nghị
ngày 13.9.1963 lên án Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm.
Tưởng cần nhắc lại vài tuyên bố quan trọng của hai ông trên
đây, trích trong bức thư của Thượng Nghị Sĩ Dodd gởi cho Ủy
Ban Tư Pháp của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ, mà tôi đă tŕnh bày
với các bạn trong dịp lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đ́nh Diện
năm ngoái (2000)
Thượng Nghị Sĩ Dodd nói:
‘’Tuy rằng Bản Phúc Tŕnh này chủ yếu chỉ tŕnh
bày dữ kiện (lời khai của nhân chứng và tài liệu) không đưa
ra kết luận chính thức của Ủy Ban Liên Hiệp Quốc, tôi tin
rằng bất cứ người khách quan nào có đọc nó cũng phải kết
luận rằng báo cáo về (Chính Quyền Ngô Đ́nh Diệm) khủng bố
Phật Giáo một cách quy mô, quá lắm chỉ là một sự thổi phồng
quá mức và ít nhất là tuyên truyền bẩn thỉu và gian lận. ’’
‘’Đại Sứ Volio nói với tôi rằng sau hai tuần điều tra ráo
riết tại Việt Nam, ông đi đến kết luận là những lời buộc tội
chế độ Diệm tại Liên Hiệp Quốc không có căn cứ, không chấp
nhận được, ông nghĩ rằng những bằng cớ chất đống không cho
thấy rằng có sự kỳ thị về Tôn Giáo hay xâm phạm tự do Tôn
Giáo. ’’
‘’Chúng ta đă được báo cáo rằng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă
khủng bố Tôn Giáo một cách tàn nhẫn đến nỗi những sư vô tội
đă bị dồn vào thế phải tự vận để phản đối. Nhưng nay ta thấy
sự thật không phải vậy, sự thật là không hề có khủng bố, hay
chỉ thổi phồng quá mức và cuộc khuấy động mang tính cách
chính trị. ’’
‘’Phái Đoàn không đi sâu vào động cơ chính trị
của những người dẫn đầu cuộc khuấy động của Phật Giáo. Nhưng
tôi nghĩ rằng giải đáp cho câu hỏi này đă được Thích Trí
Quang, người lănh tụ Phật Giáo số 1 đă lănh nạn trong Ṭa
Đại Sứ Mỹ, nói với Bà Marqueritte Higgins’’ (xin xem chi
thiết này ở phần phụ bản).
Và dưới đây là tuyên bố của Đại Sứ Volio Jimenez:
‘’Cảm tưởng của tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức
hay khủng bố đối với Phật Giáo trên căn bản Tôn Giáo. Những
khai báo về phương diện này thường là nghe nói, và tŕnh bày
một cách mơ hồ và tổng quát...
Mỗi khi một nhân chứng gắng t́m một bằng chứng cụ thể nào để
tŕnh Phái Bộ, rốt cuộc sự kiện chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay
cá nhân. Căn cứ trên bằng chứng Chính Quyền (Ngô Đ́nh Diệm)
không có chủ trương chính sách chống Phật Giáo v́ lư do Tôn
Giáo.’’
Ngày nay, Tại Đại Hội Liên Hiệp Quốc, với Đại Diện hơn 100
Quốc Gia từ khắp nơi trên Thế Giới, sự thật về tại sao có sự
va chạm ngày 8.5.1963 ở Huế và các vụ tự thiêu được làm sáng
tỏ và Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă được minh oan.
Tôn Thất Thiện
Tháng 11 năm 2001
PHỤ BẢN I
Phỏng Vấn Bà Marqueritte Higgins với Thích Trí Quang
Marqueritte Higgins
Our Vietnam Nightmare
Harper and Row, New York 1965, Chapter 2: ‘’Machiavelli With
Incense’’
Trong bức thư mà Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd
gởi cho Ủy Ban Tư Pháp của Thượng Nghị Sĩ, ông ta đề cập đến
cuộc phỏng vấn của Kư giả Marqueritte Higgins với Thích Trí
Quang. Cuộc phỏng vấn đó xảy ra vào giữa tháng 7.1963 tại
Chùa Xá Lợi. Nó như sau:
‘’Ở Sài G̣n khả năng khuấy động t́nh h́nh không ngớt của
Phật Giáo (và chiếm tít lớn trên các báo quốc tế) h́nh như
vô tận.
Bộ óc điều khiển tất cả là Thích Trí Quang, con
người khó hiểu mà tôi từng được nghe tên cho đến khi ông ta
triệu tôi đến gặp ông buổi tối ngày thứ ba ở Sài G̣n (giữa
tháng 7.1963). Ông gọi tôi đến Chùa Xá Lợi để đưa một thông
điệp để chuyển cho Tổng Thống Kennedy. (trang 24)
Tại Khách Sạn Caravelle người gác cửa chận tôi
lại để đưa tôi một thông điệp nói rằng tôi được người của
một phát ngôn viên của Chùa Xá Lợi triệu tôi đến Chùa ‘’để
gặp vị Sư quan trọng hơn cả’’. Thông điệp nói rơ rằng tôi
phải đến một ḿnh, không đem theo người thông dịch của tôi.
(trang 25).
Một Sư trẻ, làm thông dịch giới thiệu tôi với
Thích Trí Quang, nói rằng: ‘’Vị này là vị lănh tụ quan trọng
nhất của chúng tôi và Thích Trí Quang rất ít khi tiếp nhà
báo. Nhưng v́ bà là người Đại Diện cho Ṭa Bạch Ốc.
M. Higgins: ‘’Tôi không Đại Diện cho Ṭa Bạch Ốc. Tôi được
phép ra vào Ṭa Bạch Ốc. ’’
‘’Chính v́ thế’’, người thông dịch trẻ nói và
đắc chí lấy cái thẻ Ṭa Bạch Ốc của tôi đưa cho Thích Trí
Quang xem. Ông này gật đầu một cách từng trải.
‘’Bà được phép ra vào Ṭa Bạch Ốc’’, người trẻ
nói lại, ‘’Và v́ bà chỉ ở đây một thời gian ngắn, chúng tôi
có một thông điệp để bà mang về cho Tổng Thống Kennedy...’’
Cuộc đàm thoại (với Thích Trí Quang) là một cuộc
đàm thoại lạ thường, kéo dài hai giờ rưỡi... ’’
(Bà Higgins nhắc đến những cuộc họp báo của
Kennedy)
‘’Nhưng trong cuộc họp báo chót’’, Thích Trí
Quang nói, ‘’Tổng Thống Kennedy nói quá thuận lợi cho Tổng
Thống Diệm...Chúng tôi có lư do tin rằng Tổng Thống Kennedy
không đứng về phía chúng tôi, và chúng tôi không hiểu
được!’’
Trong khi tôi đang cố hiểu tuyên bố lạ kỳ này, Thích Trí
Quang nhẹ nhàng nói tiếp: ‘’Ngoài ra, nếu có vẻ kết hợp với
những hành động của Diệm th́ Tổng Thống Kennedy sẽ làm một
việc hết sức không khôn ngoan, chẳng hạn sẽ có nhiều vụ tự
thiêu nữa. Không phải chỉ một hay hai, mà mười, hai mươi, có
thể năm mươi vụ. Tổng Thống Kennedy nên nghĩ đến điều ấy. V́
những biến cố đó sẽ bôi đen uy tín của Tổng Thống Kennedy
cũng như của Diệm.
‘’Có phải ông đang bảo tôi chuyển những đe dọa
đó để bức ép Tổng Thống Hoa Kỳ không?’’ Tôi nói một cách hơi
nóng.
‘’Không đâu’’, Thích Trí Quang nói ‘’Tôi chỉ nói
cho bà biết những ǵ sẽ xảy ra thôi...’’ (trang 27)
Câu hỏi sau đó là tiếp tục xung khắc giữa Phật Giáo và Chính
Phủ có thể làm cho xứ sở yếu đi và tạo điều kiện cho cộng
sản chiếm quyền một cách dễ dàng không?’’
‘’Có thể nó sẽ giúp cộng sản thắng’’, Thích Trí
Quang công nhận.
‘’Nhưng’’, tôi cắt ngang, ‘’Ông có ư thức rằng
những ǵ sẽ xảy ra cho Phật Giáo nếu cộng sản chiếm quyền
không?’’
‘’Nếu cộng sản chiếm quyền’’, Thích Trí Quang
nói, ‘’đó là lỗi của Diệm, không phải lỗi chúng tôi’’. Ông
nói thêm: ‘’Phần khác, chúng ta không thể đi đến một thỏa
hiệp với miền Bắc được trước khi chúng ta loại bỏ Diệm và
Nhu. ’’ (trang 29)
Bà Higgins nhận xét: ‘’Có một cái ǵ mang tính
Machiavel ở ông Sư này, một thứ Machiavel với hương.’’
(trang 30).
PHỤ BẢN II
Đấu tranh và tự thiêu được sắp xếp trước
Xuất xứ: Phật Giáo Việt Nam (L.A.) Số 102, tháng
10 năm 1967, trang 20-30
Trong bài phỏng vấn với bà Higgins có câu:
‘’Thích Trí Quang nhẹ nhàng nói tiếp: ‘’Ngoài ra, nếu có vẻ
liên kết với Diệm th́ Tổng Thống Kennedy sẽ làm một việc
hết sức không khôn ngoan v́ chẳng hạn sẽ có nhiều vụ tự
thiêu nữa. Không phải chỉ một, hai, mà mười, hai mươi, có
thể năm mươi vụ. ’’
Ư nghĩa của lời tuyên bố trên đây được một tài liệu khác soi
sáng. Đó là một tài liệu xuất xứ từ giới Phật Giáo, tạp chí
Phật Giáo Việt Nam. Tài liệu đó nói như sau:
‘’Trong cuộc đấu tranh bảo vệ tự do Tín Ngưỡng dưới thời Ngô
Đ́nh Diệm, Bà (Sư Bà Diệu Không) tham dự từ đầu, lời kêu gọi
của Chư Tôn lănh đạo Phật Giáo Huế. Đêm ngày 15 rạng ngày
16.4, tại Chùa Từ Đàm một cuộc họp quan trọng được tổ chức
dưới sự chủ tŕ của Ḥa Thượng Giác Nhiên, với sự tham gia
của Ḥa Thượng Giác Nguyên, Thượng Tọa Mật Hiển, Thượng Tọa
Mật Nguyên, Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh và
Chư Tôn Phật Giáo Thừa Thiên. Cuộc họp đưa ra một chương
tŕnh hành động cụ thể, nêu rơ các nguyện vọng căn bản, đề
nghị các phương thức giải quyết và tiên liệu các hậu quả mà
điều khó tránh là sự hy sinh gian khổ. Chính trong buổi họp
này, Bà Diệu Không đă không ngần ngại xin Chư Tôn cho phép
ḿnh được là đệ nhất cảm tử...Trong khi bà đang nỗ lực định
tâm, bái sám...th́ giữa phiên họp của Giáo Hội, Ḥa Thượng
Thích Quảng Đức đă thỉnh cầu Chư Tôn Giáo Phẩm Lănh Đạo để
cho ‘’chúng tăng lănh trách nhiệm hy sinh bảo vệ chánh pháp
và chính Ngài sẽ đem thân làm ngọn đuốc đầu tiên...
Như vậy là những vụ va chạm (khởi đầu với vụ đài phát thanh
Huế ngày 8. 5. 1963), và các vụ tự thiêu (khởi đầu với sự
tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức ngày 11.6.1963 đă
được sắp xếp ‘’theo chương tŕnh hành động cụ thể’’ từ
trước, trong buổi họp tại Chùa Từ Đàm đêm 15.4.1963 vụ va
chạm tại Đài phát thanh Huế hơn ba tuần, và vụ tự thiêu của
Ḥa Thượng Thích Quảng Đức gần hai tháng trước khi có Thông
Tư của Chính Phủ về vụ treo cờ ngày 6.5.1963.
TÔI CẦU NGUYỆN VỚI TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
Phan Thiết
‘’Phật Giáo vô t́nh hỗ trợ cho nhóm Tướng lănh
lật đổ Tổng Thống Diệm. Và nếu đặt giả thuyết Phật Giáo đứng
riêng biệt chống Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm th́ sẽ có nhiều
giải pháp ôn ḥa thỏa thuận. Tổng Thống Diệm vẫn tồn tại,
không đến nỗi phải chết. C̣n về phía Tướng lănh, không có
Phật Giáo đánh vào quần chúng mấy chữ từ bi hỉ xả th́ chắc
ǵ dám tụ tập để tấn công Dinh Gia Long...Phật Giáo nổi dậy
chống chính phủ. Hội Đồng Tướng lănh lợi dụng Phật Giáo với
Đại Sứ Henry Cabot Lodge của người Mỹ yểm trợ, đă kết thúc
cuộc đời Tổng Thống Diệm. Tôi là người Phật Giáo dù không
thấu triệt đạo lư, nhưng thầm nghĩ rằng cái nhân quả c̣n đó.
’’
Đỗ Thọ, Nhật Kư Đỗ Thọ, trang 18, 236
***
Tôi viết những lời cầu nguyện này để tâm t́nh
với linh hồn Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Trọng kính linh hồn Tổng Thống Diệm.
Anh Đỗ Thọ đă để đời cuốn nhật kư rất có giá trị
về cuộc đời anh sống kề cận Ngài. Tôi quư trọng anh, nhưng
không đồng ư với anh về điểm này ‘’Ḷng oán hận của người
chết triền miên trên xứ sở này’’. Ư anh muốn nói đến cái
chết đau thương, tức tưởi và oan ức của Ngài khiến linh hồn
Ngài oán hận triền miên trên Quê Hương Việt Nam.
Do đức tin, tôi biết giờ này trên cơi Hằng Sống của Thiên
Chúa, linh hồn Ngài đă được sung măn hạnh phúc và vinh quang
của Chúa chiếu tỏa. Ngài đă gia nhập vào hàng ngũ các Thánh
trong Giáo Hội Khải Hoàn của nước trời, bởi v́ Ngài đă chết
như một vị tử đạo: Họ hận thù Công Giáo Việt Nam, khích động
kẻ khác, mượn tay quyền lực ma vương giết Ngài. Chúng nó
giận cá chém thớt, Ngài là nạn nhân của ḷng oán hận và kỳ
thị Thiên Chúa Giáo. Ngài đă ngă xuống như các Tiền Nhân Tử
Đạo Việt Nam chết v́ ḷng mến Chúa để làm chứng cho sự thật
và tin yêu trong sự mưu cầu hạnh phúc cho dân nước.
Ngài đă chết như một chiến sĩ ngoài mặt trận khi ném vào mặt
Henry Cobot Logde lời này: ‘’Tôi không bỏ được dân tộc tôi’’
và khi cùng đường, cái chết kề ngang tấc, vị Linh Mục Nhà
Thờ Cha Tam đề nghị lẫn tránh, Ngài khẳng khái như một chiến
sĩ can đảm từ chối ‘’Xin cảm ơn Cha tôi không có tội ǵ với
dân và Quốc Gia này, tôi thấy không có lư do ǵ phải lẩn
tránh’’.
Chết như một vị tử đạo hiên ngang tiến ra pháp trường để
minh chứng t́nh yêu Thiên Chúa và đồng loại. Chết như một
chiến sĩ dũng cảm đối diện trước quân thù mà không nao núng.
Chết như một chính nhân quân tử, không lẩn tránh để khỏi bị
ô nhục và mang tiếng hèn nhát. Cái chết đă làm vinh quang
cho Ngài trong ḷng dân tộc này. Cái chết đă tôn vinh Ngài
như đấng Thánh Tử Đạo. Chết như thế không thể có hận thù. Nó
là hạt thóc phải thối đi, phải mục rữa để trổ sinh cây lúa.
Cây lúa sẽ đâm hoa kết trái cho muôn ngàn hạt thóc khác.
Linh hồn Tổng Thống Diệm khả kính,
Kẻ viết lên những lời kia, chính là kẻ c̣n tắm
chuồng lội ao chơi té nước với bạn bè ngày Ngài về nước chấp
chánh. Cả một đời tôi chưa một lần diện kiến Ngài ngoại trừ
h́nh ảnh. Cả gia đ́nh tôi chưa hề hưởng một ơn huệ riêng dù
là nhỏ bé của Ngài và cũng không có ai gia nhập bất cứ một
đoàn thể chính trị nào suốt thời Cộng Ḥa. Chúng tôi sống
khó nghèo, cha tôi là công chức hạng B, lương tháng không đủ
chi dùng trong 30 ngày, mẹ tôi đau mắt gần mù không có tiền
chạy chữa. Nhưng mà thôi, cần ǵ những cái nhỏ mọn ấy, được
sống trong cảnh thanh b́nh và tạm no đủ của toàn dân miền
Nam trong suốt chín năm cầm quyền của Ngài tưởng đă là ơn
huệ lớn lao do khả năng và đức độ trị nước an dân của Ngài.
Đang khi đó, những kẻ hưởng đặc quyền đặc lợi, sống cạnh
‘’mặt trời’’do Ngài ban cho chúng nó, cho tập thể chúng nó.
Chúng nó lên tiếng thóa mạ Ngài, thóa mạ khối dân thầm lặng
làm phên dậu cho chế độ miền Nam chống lại cộng sản miền
Bắc: ‘’Người Công Giáo di cư, hoạt động xông xáo đặc biệt về
mặt chính trị, thứ chính trị giành giựt địa vị danh lợi.
Người Thiên Chúa Giáo Bắc Kỳ ‘’to mồm’’, cuồng tín, giáo
điều, hẹp ḥi đến độ bất nhân cho nên sau cái chết của ông
Diệm, họ vẫn không chịu công nhận tội lỗi và trách nhiệm để
trở về ḥa đồng với khối dân tộc’’. (Việt Nam máu lửa quê
hương tôi của Đỗ Mậu, trang 934).
Ngài ở trên cơi Hằng Sống Ngài có thể tha thứ được cho những
quân ăn cháo đá bát, cho những kẻ lừa thầy phản bạn, cho
những kẻ điêu ngoa nói ngược. Nhưng c̣n chúng tôi, chúng
tôi là những kẻ đang chiến đấu, chúng tôi không thể tha thứ.
Tha thứ mà không chỉ mặt chỉ tên chúng nó là tự ḥa đồng với
tội ác, bao che tội ác. Chúng tôi đ̣i hỏi lẽ phải và công lư
phải được hoàn trả nếu như công lư không thể đền bù được
những tổn thất quá to lớn họ đă gây ra cho đất nước này.
Trên cơi Hằng Sống, Ngài đă thấy rơ ḷng dạ của những kẻ
kia, thấy rơ ḷng dân mộ mến Ngài. ‘’Đến cơn cả gió mới biết
cây cứng mềm’’, dân đă đánh giá Ngài qua những lầm than và
khốn khổ họ phải chịu kể từ ngày Ngài bị thảm sát.
Chỉ bảy năm sau cái chết của Ngài, hàng chục ngàn người lũ
lượt tưởng niệm công ơn của Ngài. Nhiều nhà Sư cũng nhận ra
rằng Ngài rất có công với Đạo Phật. Chùa Phổ Quang chiều
2.11.1970 trước di ảnh của Ngài, các Thượng Tọa, Đại Đức,
Tăng Ni đă làm lễ tưởng niệm Ngài. Trong thời gian ấy, chiến
tranh càng ác liệt, tôi ghé thăm vùng biên giới Việt-Miên,
Trại di cư Tầm Long ở Tây Ninh, một bà già lam lũ quê mùa
cầm tay tôi dân dấn nước mắt mà nói: ‘’Cháu ơi! Khổ quá cháu
ơi! Bao giờ Cụ Ngô về cho việt cộng hết phá’’. Bà già tin
Ngài chưa chết và cái khổ giáng trên đầu dân v́ thiếu Ngài.
Sau khi việt cộng chiếm miền Nam, tại ngôi mộ của Ngài ở
nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, dù trước mắt cú vọ của công an,
dân chúng vẫn đến thăm Ngài, có kẻ đứng xa xa mà giở nón, có
kẻ lại gần đặt hương hoa nến sáp. Người gác nghĩa trang nhờ
Ngài mà có bổng: Chỉ mộ của Ngài để nhận tiền thưởng của
khách viếng mộ. Tưởng nhớ công đức của Ngài không phải là
Cần Lao Công Giáo, mà chính là ḷng dân. Người có công bồng
Cụ trở lại xă hội đầu tiên là anh Đỗ Thọ. Anh Thọ đă viết:
‘’Tôi nghĩ rằng mai hậu công lao của Tổng Thống Diệm to tát
được ca ngợi như Tổng Thống Lincoln của người Hoa Kỳ bị ám
sát năm 1865’’ (Đỗ Thọ, Nhật Kư Đỗ Thọ, trang 239).
Hôm nay ngày 2.11.1992, chính là ngày giỗ thứ 29 của Ngài
(2.11.2003 là thứ 40 năm giỗ của Ngài), t́nh cờ tập sách này
viết đến đây, tôi không hiểu động lực nào run rủi tôi viết
những lời này vào chính ngày giỗ của Ngài. Tôi đă khởi công
viết tập sách này vào tháng giêng năm nay (92) và định rằng
một năm phải hoàn tất, bây giờ là tháng 11, tập sách viết
đến đây. Một ngẫu nhiên khác là cách nay 30 năm, Ngài đă nói
với những kẻ theo Ngài: ‘’Tôi tiến th́ tiến theo tôi, tôi
lùi th́ bắn tôi, tôi chết th́ trả thù cho tôi’’. Ngài c̣n
nhắn gởi tên Tướng râu dê mắt lồi là trả thù cho Ngài. Trong
Trí Ngài, tôi đọc được ḷng nhân hậu th́ hiểu rằng trả thù
là nối tiếp sự nghiệp của Ngài lo cho dân ấm no và ổn định
chính trị hầu Nam Việt Nam có thể đương đầu với cộng sản
miền Bắc, tên bị thịt ấy chẳng làm nên tṛ trống ǵ. Ba mươi
năm sau, một kẻ trùng tên trùng họ với tên Tướng râu dê kia
xin làm Tiểu Bao Công trả thù cho Ngài. Trong truyện Tàu,
Ngài Bao Công làm quan án đă giải được nhiều mối oan, làm
cho những kẻ bị thác oan ngậm cười nơi chín suối và linh hồn
được siêu thoát. Hôm nay đây, bằng ng̣i bút này tôi làm sáng
cái đức của Ngài trong chân lư và lẽ phải tức là tôi đă trả
thù cho Ngài vậy. Tôi đă gần tới tuổi phế thải, tài hèn, đức
mọn, thời vận cũng chẳng cho tôi cơ hội giúp dân giúp nước,
tôi không có tham vọng ǵ dù tôi yêu thương dân tộc này như
chính Ngài đă yêu thương thuở sinh thời. Tôi đốt nén hương
ḷng cầu nguyện với Ngài rằng v́ Ngài đă yêu thương đất nước
và dân tộc Việt Nam đến hơi thở cuối cùng, đă hiến mạng sống
cho kẻ ḿnh yêu th́ trên cơi Hằng Sống Ngài càng phải yêu
dân tộc hơn, xin Ngài cầu bầu cho dân tộc này sớm được ḥa
b́nh, an lạc, đoàn kết để xây dựng lại một đất nước điêu
tàn, mưu cầu phúc lợi cho những thế hệ kế tiếp.
Ngài ơi! Tôi rùng ḿnh khi nghĩ đến tương lai của dân tộc
này, tôi chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm cho dù một mai
công sản Việt Nam sụp đổ.
Chúng ta sẽ lấy ǵ mà xây dựng đất nước khi tài nguyên thiên
thiên chẳng có là bao và chút của cải ít ỏi ấy càng ngày
càng bị tiêu ṃn đi v́ đời sống nhân dân quá thấp phải bán
‘’lúa giống’’ đi mà ăn. Đất nước này chỉ có thể nuôi sống 30
triệu người đủ để phát triển, nay đă tăng lên gần 80 triệu
người rồi và mức sinh xuất vẫn ở trên 2%. Như thế đến giữa
thế kỷ sau dân số Việt Nam sẽ là 200 triệu người. Thật là
khủng khiếp, lấy ǵ mà nuôi số người khổng lồ kia, nói chi
đến việc tích lũy vốn để đầu tư. Miệng ăn đă phá hủy tất cả
khả năng phát triển của xứ sở.
Điểm lại tài nguyên cũng rất đáng lo ngại. Về hầm mỏ và các
quặng thiên nhiên dùng cho kỹ nghệ th́ trữ lượng chẳng có là
bao và với đà khai thác này rồi sẽ hết. Dầu mỏ chưa thấy
triển vọng ǵ. Chung quy chỉ c̣n có canh nông. Những năm gần
đây, nhờ thay đổi chính sách quản lư và phương cách sản
xuất, để cho tư nhân được tự do sử dụng đất đai, nhà nước
việt cộng đă đưa ra những số liệu lạc quan, mỗi năm số ngũ
cốc thâu hoạch được ở mức từ 20-23 triệu tấn. Trong số này
phải giành ra độ 3 triệu tấn để nuôi gia súc, một triệu tấn
gạo cho xuất khẩu. Số c̣n lại quy ra lúa chia đều cho đầu
người dân, mỗi người được độ 300 kư thóc, đem xay ra gạo
được 150 kg. Mỗi người mỗi năm ăn 150 kư gạo là đói. Dân mà
tăng nữa th́ thần chết đứng lấp ló ở cửa ngơ đất nước. Người
ta cũng không thể gia tăng diện tích đất canh tác v́ đất đai
có hạn và việc phá rừng để làm ruộng rẫy cũng là cách tự sát
v́ phá hủy sinh thái của môi sinh.
Trong t́nh cảnh miếng ăn của mỗi người càng ngày càng nhỏ đi
th́ người ta sẽ giành giật nhau, đạp lên xác nhau mà sống
bất kể đạo đức, luân lư hay lương tâm. Chưa kể hậu quả của
chủ nghĩa cộng sản đă phá hủy niềm tin thiêng liêng của con
người, biến con người thành con thú. Chỗ dựa c̣n lại là đạo
giáo, nhưng nhiều kẻ bất lương đă biến đạo giáo thành món
hàng chính trị cho mộng tranh bá đồ vương ở miền Nam trong
mấy thập niên trước kia. Họ cũng gian manh và quỷ quyệt như
cộng sản th́ c̣n biết trông vào đâu để phục hồi lương tri và
lẽ phải của con người, phục hồi Đạo Việt của người Việt.
Những ǵ đang xẩy ra ở các nước vừa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản
cũng buộc chúng ta phải suy nghĩ. Ba Lan là nước Công Giáo
sau khi cộng sản đổ có hàng trăm đảng phái giành nhau chính
quyền, đất nước không thể ổn định được để đi lên phát triển.
Nước Nam Tư, dân chúng có cùng một chủng tộc nhưng họ đă
giết nhau v́ khác tín ngưỡng. Những ǵ đang xẩy ra ở
Sarajevo, Bosnia, Herzegovina, Croatia...làm cho cả thế giới
phẫn nộ.
T́nh cảnh này liệu có xẩy ra cho dân tộc Việt Nam sau khi
cộng sản sụp đổ không?
Nh́n sang láng giềng, mộng bá quyền của nước Trung quốc đang
âm thầm dọn đường bá chủ Đông Nam Á và toàn cơi Á Châu. Việt
Nam sẽ là nạn nhân trước tiên của loại đế quốc siêu đẳng
này. Thà ta chịu lép người Pháp, người Mỹ dân ta đỡ khổ và
c̣n có cơ hội vươn lên. Khả năng lấy thịt của trên một tỷ
dân cũng nghèo khó như ta, đè ta th́ ta không thể ngóc lên
nổi.
Những ai c̣n chút lương tri đều phải lo lắng khi nh́n về
tương lai của dân tộc Việt Nam. Tôi cầu nguyện với linh hồn
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, xin Ngài soi sáng cho những ai c̣n
mê muội phải nh́n vào những khó khăn thực tế và những sự
nguy hiểm đang đợi chờ dân tộc mà quên đi tham vọng mong cho
đảng ḿnh, đạo ḿnh chiếm thế thượng phong quậy nát đất nước
này một mai cộng sản việt nam không c̣n. Tất cả chỉ là ảo
vọng trước cái chết tập thể nếu những kẻ muốn làm lớn không
có thành tâm thiện chí, quên ḿnh v́ đại nghĩa t́m ra lối
thoát cho các thế hệ mai sau của đất nước này...
Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh
Đất Việt Người Việt & Đạo Việt
BỐN MƯƠI NĂM NĂM NGẬM NGÙI
Trương Phú Thứ
Bốn mươi năm trước đây, vào khoảng lúc 9 giờ
sáng ngày 2.11.1963, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă bị bọn phản
loạn thảm sát. Cái chết thảm thương của một vị Tổng Thống
đạo đức thánh thiện, hết ḷng v́ dân v́ nước đă chấn động
lương tâm nhân loại. Cái chết của một vĩ nhân đă làm sửng
sốt những người yêu chuộc tự do, công lư và ḥa b́nh thế
giới. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă oai hùng hy sinh ngay cả
chính mạng sống ḿnh v́ quyền lợi Tổ Quốc và danh dự dân
tộc. Cuộc đời của một lănh tụ ngoại hạng đă kết thúc trong
đau thương với ḷng thương tiếc vô vàn của bao nhiêu người
mến yêu và kính phục. Bài báo này đến tay độc giả th́ khắp
nơi trên thế giới tự do chỗ nào có người Việt cư trú đều có
những buổi lễ tưởng niệm vị anh hùng dân tộc một ḷng tận
tụy với dân với nước. Vẫn có những người nghĩ rằng v́ Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm là tín hữu Công Giáo nên các Nhà Thờ
Công Giáo tổ chức cầu nguyện cho linh hồn người đồng đạo. Đó
là một nhận định rất ngờ nghệch. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
cũng là một tín hữu Công Giáo nhưng có ai cho một lời nguyện
cầu hay giọt nước mắt tiếc thương. Anh linh Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă ở lại với con dân nước Việt và vượt ra ngoài
ranh giới tôn giáo và ngay cả thành lũy của chủ nghĩa. Cụ
Ưng Thị Mai, một Phật tử đă trên 80 tuổi, hiện sinh sống ở
Đam Mạch viết: ‘’tôi không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo và
tôi cũng không chịu ơn Cụ Ngô Đ́nh Diệm nhưng tôi rất thương
Cụ Diệm v́ trong những năm Cụ Diệm cầm quyền, người dân Việt
Nam an cư lạc nghiệp. Tôi có lập bàn thờ Cụ Diệm. Tuần rằm
mùng một tôi cúng Phật cũng cúng Cụ Diệm. ’’ Chị Nguyễn Thị
Ngọc Hạnh một tên tuổi rất quen thuộc với Cộng Đồng Người
Việt tỵ nạn cộng sản, hiện đang thụ án tại một nhà tù ở Tiểu
Bang Texas viết: ‘’Ngọc Hạnh ước mơ có dịp làm chứng những
điều mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho tôi. Lúc trước trang
b́a báo Văn Nghệ Tiền Phong có đăng bức h́nh trên ngôi mộ
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngọc Hạnh dựng tờ báo trên bàn làm
bàn thờ tạm trong tù để hằng đêm tôi chiêm ngưỡng cầu nguyện
đến đấng anh tài mà tôi một ḷng tôn kính mến thương. ’’
Cho đến ngày hôm nay vẫn c̣n nhiều câu hỏi đặt ra về những
giây phút cuối cùng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Tôi đă
được hầu chuyện Cụ Cao Xuân Vỹ, vị Cựu Lănh Tụ Thanh Niên
Cộng Ḥa là người duy nhất đă vào Dinh Gia Long để t́m cách
đối phó với bọn phản loạn. Tôi cũng đă nhiều lần được nói
chuyện với Cựu Đại Tá Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn Pḥng Vệ Phủ Tổng
Thống Nguyễn Hữu Duệ, người đă một ḷng trung hiếu bảo vệ
nền Cộng Ḥa đến khi có lệnh buông súng để tránh đổ máu, v́
Tổng Thống Diệm không muốn nh́n thấy cảnh anh em cùng chiến
tuyến quay súng bắn giết lẫn nhau.
Theo Cụ Cao Xuân Vỹ th́ vào buổi chiều tối ngày 1.11.1963,
lúc Pháo Binh Sư Đoàn 5 được lệnh của Nguyễn Văn Thiệu nă
đạn vào Thành Cộng Ḥa và Trụ Sở Bộ Quốc Pḥng gần sát Dinh
Gia Long th́ chính Cụ Vỹ đă đề nghị Tổng Thống Diệm dịch cư.
Cụ Vỹ nhấn mạnh dùng chữ dịch cư là đi đến một chỗ an toàn
tránh đạn đại bác và hoàn toàn không có nghĩa là chạy trốn.
Tổng Thống Diệm cương quyết không đi khỏi Dinh Gia Long.
Tổng Thống xác quyết ông được dân bầu lên vào chức vụ Lănh
Đạo Quốc Gia và Dinh Gia Long tượng trưng cho uy quyền Quốc
Gia với cương vị của một Nguyên Thủ ông có nhiệm vụ và bổn
phận phải giữ và bảo toàn uy quyền Quốc Gia trong bất cứ
hoàn cảnh nào. Cụ Vỹ không thuyết phục được Tổng Thống Diệm
nên đi ra ngoài Ṭa Đô Chánh. Trong lúc ở Ṭa Đô Chánh, Cụ
Vỹ được điện thoại của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu cho biết Tổng
Thống Diệm đă đổi ư và bằng ḷng dịch cư. Chắc chắn Tổng
Thống Diệm đă nghe lời ông Nhu giải bày hơn thiệt nên mới
chấp nhận quyết định lịch sử này. Theo Cụ Vỹ th́ ông Nhu,
một chính trị gia uyên bác, lập luận rằng ‘’tất cả những
cuộc đảo chánh sau 24 tiếng đồng hồ mà không đạt được mục
đích th́ tự nó sẽ rối loạn và thất bại. Bọn phản loạn vào
Dinh Gia Long mà không bắt được ông Tổng Thống là sẽ tự đánh
đá lẫn nhau rồi chạy trốn. ’’
Ngay sau khi được điện thoại của ông Nhu, Cụ Vỹ vội trở vào
Dinh Gia Long để sắp xếp. Tại Dinh Gia Long, Cụ Vỹ điện
thoại cho Trung Tá Phước là Phó Đô Trưởng Nội An yêu cầu
mang một cái xe vào. Chỉ độ mười phút sau, một sĩ quan mặc
thường phục lái chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng vào sân
trước Dinh Gia Long và Tổng Thống Diệm, ông Cố Vấn Nhu, Sĩ
Quan Tùy Viên Đỗ Thọ đă lên chiếc xe này đi khỏi Dinh Gia
Long.
Tôi đă đặt câu hỏi với Cụ Vỹ là tại sao lại mang một chiếc
xe loại chở hàng, mà người Tàu ở Chợ Lớn thường dùng để chở
lông vịt, chạy chậm và rất yếu để đưa đón Tổng Thống như
vậy. Cụ Vỹ nói, Trung Tá Phước nghĩ rằng chắc trong Dinh cần
một cái xe để di chuyển chứ đâu biết lấy xe để đưa Tổng
Thống đi khỏi Dinh Gia Long. Khi chiếc xe hai ngựa kiểu chở
hàng đến th́ Cụ Vỹ lại thấy thích hợp với hoàn cảnh v́ không
ai có thể tin rằng Tổng Thống ngồi trên chiếc xe tồi tàn đó.
Cụ Vỹ cũng cho biết là cùng đi với chiếc xe chở Tổng Thống
c̣n có hai xe cận vệ và một xe truyền tin.
Câu hỏi thứ hai tôi đặt ra với Cụ Cao Xuân Vỹ lư do ǵ lại
đưa Tổng Thống đến nhà Tổng Bang Trưởng Mă Tuyên? Cụ Vỹ trả
lời: Nhà ông Mă Tuyên ở trong Chợ Lớn, phố xá chằng chịt rất
khó t́m. Hơn nữa người Tàu rất kín đáo và trung tín. Khi
tiếng súng của bọn phản loạn vừa nổ t́m đâu cũng không ra
một ông Bộ Trưởng hay là một người thân cận với Tổng Thống.
Cụ Vỹ nói thêm: ‘’mấy thằng Tướng mà Ông Cụ coi như người
nhà làm phản hết rồi, các ông Bộ Trưởng trốn như chuột. Vậy
th́ c̣n tin được ai nữa.’’ Cụ Vỹ là người quyết định đưa
Tổng Thống đến nhà ông Mă Tuyên ở Chợ Lớn. Cụ Vỹ đă không đi
cùng với Tổng Thống đến nhà ông Mă Tuyên nhưng sau đó có đến
để chắc chắn mọi việc được xếp đặt như dự liệu, thấy Tổng
Thống và ông Cố Vấn Nhu b́nh thảm ngồi uống nước trà với
Tổng Bang Trưởng Mă Tuyên th́ Cụ Vỹ yên tâm trở về Ṭa Đô
Chánh.
Chuyện xảy ra sau đó th́ độc giả đều đă biết là sáng ngày
2.11.1963, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu rời nhà ông Mă
Tuyên đến Nhà Thờ Cha Tam dâng thánh lễ. Bọn phản loạn cho
xe đến ‘’đón’’ và hai vị khai sáng và lănh đạo Đệ Nhất Việt
Nam Cộng Ḥa đă bị tên Nguyễn Văn Nhung và Dương Hiếu Nghĩa
trói quặt tay ra phía sau rồi thảm sát bằng dao găm và súng
trong ḷng chiếc xe bọc sắt M-113. Nhung đă tự tử hoặc bị
thắt cổ chết khi Nguyễn Khánh chỉnh lư vào ngày 30.1.1964.
Nghĩa hiện đang sống ở vùng Tri-Cities thuộc Tiểu Bang
Washington.
Cuộc đời của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một mẫu mực của đức
tính liêm khiết, trong sạch và khó nghèo bên cạnh những khả
năng vượt bực về hành chánh, chính trị, kinh tế và quân sự.
Học giả Vương Hồng Sển trong tác phẩm Hơn Nửa Đời Hư đă diễn
tả cảnh sống khó nghèo của Tổng Thống Diệm: ‘’mặc bộ đồ
tussor may kiểu áo bốn nút cổ lỗ sĩ, đă trổ vàng v́ quá lâu
năm, cổ vai đă xùi’’. Linh Mục Đỗ Minh Tâm hiện giúp một xứ
đạo Mỹ tại Saint Paul, kể lại: ‘’lễ xong th́ Tổng Thống và
tôi ăn cơm nếp với thịt gà c̣n các Binh Sĩ ăn thịt con ḅ
thui. Tổng Thống Diệm cởi giầy ngồi trên cỏ, tôi thấy Ngài
mang một đôi vớ rách.’’
Tổng Thống đă được sự nể trọng của các lănh tụ trên thế giới
không kể lằn ranh Quốc-Cộng và ḷng kính mến thương yêu đồng
bào. Trong chuyến công du Hoa Kỳ vào năm 1958, Tổng Thống
Diệm đă được Tổng Thống Eisenhower ra tận sân bay đón tiếp.
Đây là một vinh dự rất hiếm hoi mà một vị quốc khách đến Hoa
Kỳ được trọng vọng như vậy. Khi Tổng Thống Diệm thăm Thành
Phố New York th́ dân Mỹ đứng hai bên lề đường vẫy tay chào
đón, những người đứng trên lầu cao thả bông hoa giấy ngợp cả
phố phường dưới cổng chào h́nh ṿng cung mang hàng chữ
‘’Welcome President Ngo Dinh Diem’’. Khi nghe tin Tổng Thống
Diệm bị thảm sát, trùm cộng sản Mao trạch Đông đă bày tỏ
ḷng chân thành ngưỡng mộ và thương tiếc. Đạo đức và uy thế
của Tổng Thống Diệm đă vượt qua ngay cả lằn ranh chủ nghĩa.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, người dân miền Nam đă sống trong
những điều kiện ổn định. Chính quyền đă tạo những điều kiện
thuận lợi cho người dân có cơ hội phát triển trên mọi lănh
vực, tuy nhiên cũng có những hạn chế cần thiết v́ đất nước
đang phải đối đầu với hiểm họa cộng sản. Sau ngày Tổng Thống
Diệm bị thảm sát, người dân miền Nam đă phải chịu đựng những
thống khổ của một cuộc chiến mà những người trực tiếp cầm
súng đă không được dự phần vào những định đoạt trên mạng
sống của chính họ bên cạnh những nghiệt ngă trầm luân của
những vấn đề luân lư xă hội. Bọn tay sai và cai thầu chiến
tranh đă tiến hành và nuôi dưỡng cuộc chiến đến khi quyền
lợi của chúng được thanh thỏa và cuối cùng là cả dân tộc
Việt Nam bị chủ nghĩa cộng sản dày xéo. Bọn cai thầu chiến
tranh ở Hoa Thịnh Đốn và bọn khố xanh khố đỏ tay sai ở Sài
G̣n đă không có được một tri thức cao hơn gót giầy của Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Một độc giả của Văn Nghệ Tiền Phong, bà Hoa Vũ ở Tiểu Bang
New Jersey, người đă mang chân dung Tổng Thống Diệm từ Mỹ về
tận Lái Thiêu. Bà Hoa đă đặt bức chân dung trên mộ Tổng
Thống Diệm chụp h́nh và sau đó phổ biến tới báo chí hải
ngoại. Bà Hoa đă viết thư cho Cựu Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ
‘’...em không nhớ rơ là năm nào 1960 hay 1961, lúc đó em
đang may ở tiệm Thanh Lịch gần chợ Bàn Cờ th́ chợ bị cháy
lớn. Vài hôm sau th́ Cụ có đi thăm chợ và đồng bào nạn nhân.
Cụ đi thẳng đến tiệm Thanh Lịch, lúc đó bà Phạm Bích Thuần
là chủ tiệm may quá xúc động vừa khóc vừa nói: Ḱa, Vua đến
nhà ḿnh, cô Hoa bạo dạn ra chào Vua đi. Khi Tổng Thống bước
lên thềm nhà th́ em ra đứng khoanh tay cúi đầu nói: Con kính
chào Tổng Thống. Người hỏi: Cháy nhà có sợ không? Thưa Tổng
Thống con sợ lắm ạ! Người lại hỏi: May có khá không? Em
tŕnh: ‘’Thưa Tổng Thống, khá lắm. Trong lúc đó th́ bà chủ
cứ khóc v́ quá xúc động được Vua tới thăm. Cụ nói: Ngoan hỷ.
Rồi đi ra hướng Đường Bàn Cờ. Ôi! Kể lại một chút kỷ niệm mà
ḷng em dâng lên một niềm thương nhớ Cụ vô cùng. Thời gian
ngắn sau đó em gia nhập Thanh Nữ Cộng Ḥa. Năm 1963 có cuộc
triển lăm ở Ṭa Đô Chánh, em được đứng trong Đội danh dự và
đứng hàng đầu. Khi Tổng Thống xuống xe th́ có tiếng hô: Chị
Hoa làm chuẩn. Nghiêm. Chào. Cụ tiến đến gần em và nói:
‘’Đứng nắng lắm hả? Ôi! Chao ôi! Nhớ thương vô cùng, Cụ ơi!
Phần mộ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hiện ở Lái Thiêu, bên
Quốc Lộ 5, lối đi hướng về Quận Hóa An (Quận Dĩ An cũ). Nơi
đây đă và sẽ là một địa điểm lui tới của đồng bào trong nước
và những người sống ở nước ngoài. Rải rác từ hai phía Quận
Lái Thiêu đi ra và từ hướng Quận Hóa An đi tới đă có những
nhóm người sống bằng công việc chỉ dẫn đưa đường cho khách
thập phương kính viếng mộ Ông Huynh Đệ chính là phần mộ Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu. Nhà cầm
quyền địa phương biết chuyện nhưng cũng không có hành động
hay biện pháp nào ngăn cản v́ họ thừa biết rằng những ǵ đi
ngược lại với ḷng dân sẽ tự nó gây những hậu quả không thể
nào lường trước được. Chính tôi đă nghe một cán bộ làm to có
đứa con bị bệnh ngặt nghèo. Ông cán bộ này đă bế đứa con đến
phần mộ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm để xin anh linh người đă
chết v́ dân v́ nước phù hộ.
Cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh, bút hiệu Phan Thiết viết
trong ‘’Đất Việt, Người Việt, Đạo Việt’’: Trên cơi hằng
sống, Ngài đă thấy rơ ḷng dạ của những quân ăn cháo đá
bát, bọn lừa thầy phản bạn. Ngài cũng thấy rơ ḷng dân mến
mộ Ngài, dân đă đánh giá Ngài qua những lầm than và khốn khổ
họ phải chịu kể từ ngày Ngài bị thảm sát. Và tôi xin được
viết thế: Xin Ngài phù hộ cho con dân nước Việt mà Ngài đă
một đời tận tụy yêu thương chăm sóc được thực sự sống trong
an b́nh, mọi người yêu thương giúp đỡ bao bọc lẫn nhau để
cùng nhau nối tiếp thực hiện ước nguyện của Ngài đến ngày
thành công.
BỐN MƯƠI NĂM SAU: TỈNH HAY MÊ ?
Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh
Thế giới lưỡng cực đă hết, nhưng đa cực vẫn c̣n
phát triển mạnh, nhất là đối với những siêu cường. Cũng đúng
thôi. Thời nào, hoàn cảnh nào, xă hội nào, con ngựi nào
cũng lấy thù và lợi là nhất. Nhất là cho cá nhân ḿnh, gia
đ́nh ḿnh, đạo ḿnh, đảng ḿnh, nước ḿnh...Nhưng ở mức độ
nào th́ c̣n tùy thuộc vào cái tâm, ḷng đạo đức của con
người. Nói vậy không có nghĩa người viết muốn bảo vệ lập
luận của ḿnh hay bên vực một ai trong bài viết này. Người
viết chỉ muốn nói lên cái tương đối của con người trong hoàn
cảnh, nghĩa là cùng một hành động có thể tha thứ, chấp nhận
được ở hoàn cảnh này nhưng không thể chấp nhận, tha thứ được
ở hoàn cảnh khác. Tôi nghĩ: Ngồi ở chỗ thời gian 40 năm sau
một biến cố hay giai đoạn lịch sử mà phê phán với đầu óc
hiện tại một sự việc 40 năm về trước với những hoàn cảnh
hoàn toàn khác biệt, thiết tưởng không được chỉnh cho lắm
nếu không muốn nói là thiên kiến hoặc sai lầm.
Giáo Sư Trần Ngọc Ninh trong bài viết ‘’bốn mươi năm sau’’
đă phê phán chế độ và cá nhân ông Ngô Đ́nh Diệm rất gắt gao,
nhất là đă quy kết ông Ngô Đ́nh Diệm vào việc kỳ thị và đàn
áp Phật Giáo một cách thái quá. Tôi không muốn bàn luận về
cái hay cái dở của ông Ngô Đ́nh Diệm nhưng chỉ liên đới thắc
mắc về một số điểm trong bài viết của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh
mà thôi.
Tại sao lại đem vấn đề kỳ thị, đàn áp Phật Giáo
ở miền Nam Việt Nam thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa ra chỉ
trích trong lúc này?
Trong khi cả thế giới, mọi dân tộc đang kêu gọi
quên quá khứ nh́n về tương lai để xây dựng đất nước th́ Giáo
Sư Ninh lại quay về quá khứ khơi lại chuyện xưa, một chuyện
mà hiện nay đă ngày càng sáng tỏ hơn, cả hai phía đều không
muốn nhắc lại v́ những hậu quả bi thương của nó. Việc gọi là
kỳ thị, đàn áp Phật Giáo vào năm 1963 thời Đệ Nhất Việt Nam
Cộng Ḥa có lẽ không c̣n giá trị thực của nó nữa. Dựa vào
lịch sử cùng những hiện trạng xẩy ra và các hồ sơ giải mật
về cuộc sụp đổ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa mà trước đây
người ta cho là v́ đàn áp Phật Giáo cũng không c̣n giá trị,
đứng vững nữa. Bản báo cáo điều tra của Liên Hiệp Quốc về kỳ
thị và đàn áp tôn giáo thời Ngô Đ́nh Diệm đă có lúc định
công bố nhưng thiên hạ sợ mất mặt không dám cho công bố,
nhưng sau cùng cũng được cho giải mật th́ kết quả là không
có kỳ thị và đàn áp tôn giáo. Thực vậy, bất cứ ai với hiểu
biết b́nh thường và đầu óc c̣n tỉnh táo đủ cũng phải công
nhận rằng chính phủ Kennedy Hoa Kỳ lúc bấy giờ dứt khoát
không muốn chế độ Diệm tồn tại bởi v́ ông Diệm đă không nghe
lời Mỹ, Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n phục vụ cho quyền lợi
của Hoa Kỳ như ư muốn của Hoa Kỳ. Chính Giáo Sư Ninh cũng đă
viết: ‘’Kennedy... Đă quyết định là phải truất phế họ Ngô v́
giữ lại chỉ có hại cho nước Mỹ, hại cho sự ứng cử lại chức
Tổng Thống Hoa Kỳ và hại cho đảng Dân Chủ của Kennedy...’’.
Phải chăng Giáo Sư Ninh quan niệm miền Nam Việt Nam phải
phục vụ cho quyền lợi Hoa Kỳ, cho Tổng Thống Kennedy và đảng
Dân Chủ của ông ta nên mới đưa ra những lư lẽ lập luận như
vậy để kết án ông Ngô Đ́nh Diệm, cho rằng bị đảo chánh lật
đổ là phải. Trái lại, ông Ngô Đ́nh Diệm mạnh và cương quyết
chỉ phục vụ dân tộc và đất nước Việt Nam mà thôi, không thể
phục vụ cá nhân Kennedy hay Hoa Kỳ. Rơ ràng ai cũng thấy,
ông Diệm là người cứng đầu, thà chết chứ không chịu lụy. Do
đó, ông Diệm đă là cái gai và bất lợi cho quyền lợi của Hoa
Kỳ và chức vụ Tổng Thống của Kennedy nên Kennedy và đảng Dân
Chủ đă dùng chiêu bài tôn giáo với tất cả hệ thống báo chí,
truyền thanh truyền h́nh hầu kích động dân chúng Việt Nam và
thế giới để lật đổ ông Diệm. Vụ lựu đạn nổ ở Huế ngày Phật
Đản, theo tin giải mật là do bàn tay lông lá thừa nước đục
thả câu. Chính Quyền ông Diệm không ngu dại ǵ mà làm như
vậy. Giả sử cho là có đàn áp đi nữa th́ cũng chỉ là có tính
nhất thời và chuyện chẳng đặng đừng, nhưng so sánh với chế
độ cộng sản Việt Nam hiện nay từ 1945 và từ 1975 đến giờ đă
hơn 30 năm đất nước ḥa b́nh thống nhất rồi, thâm độc, ác
liệt và trường kỳ gấp bội, chưa từng có trong lịch sử Việt
Nam. Giáo Sư và mọi người đều thấy, từ Ḥa Thượng. Đại Đức,
Giám Mục, Linh Mục cho đến Phật Tử, tín hữu không chỉ riêng
Phật Giáo mà là tất cả mọi tôn giáo đều phải tù đày, quản
thúc, ḱm kẹp nếu không chịu nghe theo nằm trong ṿng tổ
chức kiềm tỏa của nhà nước. Tự thiêu phản đối không phải chỉ
có một như Ḥa Thượng Quảng Đức ngày xưa mà c̣n có hàng chục
người đă hy sinh cúng đường phản đối bạo quyền cộng sản đàn
áp tôn giáo, nhất là Phật Giáo. Tại sao Giáo Sư Ninh không
nói lên mà lại khơi lại chuyện cũ của miền Nam Việt Nam, một
chuyện mà có người nói v́ đảo chính lật đổ chế độ Diệm nên
cộng sản bắc việt mới xâm chiếm được miền Nam, mới có ngày
30.4.1975 để rồi toàn thể đất nước và dân tộc mới phải chịu
đau khổ ḱm kẹp ô nhục trong gọng ḱm độc tài toàn trị của
cộng sản như ngày nay, tôn giáo mới phải chịu mọi chèn ép,
kỳ thị, truy nă đau thương ê chề một cách có hệ thống như
bây giờ. Dùng Tâm và Tuệ mà Đức Phật Tổ soi sáng để khơi lại
chuyện cũ 40 năm về trước như Giáo Sư Trần Ngọc Ninh nói,
thiết nghĩ đó chẳng phải là ư của Đức Phật. Đức Phật khuyên
ta nên dùng Tâm và Tuệ để tu tĩnh thiền, hầu lắng đọng tâm
hồn mà từ bi hỉ xả...
PHÊ PHÁN THIẾU CÔNG MINH VÀ CÔNG BẰNG
Từ chỗ dùng Tâm và Tuệ một cách lệt lạc để suy
đoán sự việc, Giáo Sư Ninh đă phê phán công và tội của ông
Diệm không được công minh và công bằng th́ cũng là lẽ đương
nhiên. Giáo Sư Ninh công nhận ông Diệm về nước nhận chức Thủ
Tướng với một miền Nam do thực dân Pháp để lại nát bấy về
mọi mặt, ngân quỹ trống rỗng ‘’một mớ hỗn độn, vô luật pháp,
vô chính phủ...’’, một miền Nam Thập Nhị Xứ Quân, mỗi lănh
tụ địa phương có Quân Đội hùng cứ một nơi, không thuần phục
chính quyền trung ương. Ngay cả Quân Đội chính phủ, lúc đó
cầm đầu bởi Tướng Nguyễn Văn Hinh cũng trở mặt a ṭng với
thực dân Pháp chống lại ông Diệm, không kể những đảng viên
cán bộ cộng sản trí vận và quân sự không tập kết ra Bắc,
được gài lại trong các cơ quan, đoàn thể, đảng phái, làng
xă, quận huyện để quấy phá. Thêm vào đó hơn một triệu đồng
bào miền Bắc bỏ xóm làng vào Nam lánh nạn cộng sản cần phải
được an cư lạc nghiệp. Ông Ngô Đ́nh Diệm, một mặt đă b́nh
được miền Nam, dẹp các loạn xứ quân đem về quy tụ với chính
phủ, một mặt an dân hơn một triệu người di cư, biến miền Nam
Việt Nam thành một nước Cộng Ḥa có kỷ cương, tự do đưa tới
an b́nh phú cường gấp bội miền Bắc, ngang hàng hoặc hơn cả
những nước láng giềng trong một thời gian kỷ lục ở một hoàn
cảnh cực kỳ khó khăn. Giáo Sư Ninh đă không nh́n thấy đó là
một công khó của ông Diệm, mà c̣n gay gắt phê phán, cho là
cuộc dẹp các lực lượng vơ trang giáo phái và B́nh xuyên làm
mất cảm t́nh của dân: ‘’cuộc hành quân đánh B́nh Xuyên và
dẹp các lực lượng vũ trang của giáo phái nhất là B́nh Xuyên
v́ những lư do mà người dân không phản đối. Nhưng các mưu kế
và chiến thuật mà chính phủ dùng để đạt sự chiến thắng một
phần nào làm cho dân chúng địa phương có một tâm lư anh hùng
cá nhân, mất nhiều thiện cảm.’’ Mưu kế và chiến thuật nào,
xấu xa thế nào đă làm mất ḷng dân, Giáo Sư Ninh không nói
rơ mà lại mập mờ để chê trách. Tôi đoán, nếu sai th́ Giáo Sư
bỏ qua cho, là Giáo Sư dựa vào nguồn tin là chính phủ dụ Ba
Cụt Nguyễn Quang Vinh ra nói chuyện hoặc Ba Cụt đồng ư ra
đầu hàng rồi giữa đường chận bắt. Nhưng theo một nguồn tin
khác đáng tin cậy hơn như sau: Ba Cụt rất thông minh quỷ
quyệt, chính quyền khó mà bắt được hắn. Ba Cụt đi đâu cũng
báo cáo cho cơ quan địa phương, nhưng đến rồi đổi hướng biến
đi chỗ khác trước khi báo cho cơ quan an ninh địa phương
biết, thành thử an ninh địa phương dàn trận bắt không bao
giờ được. T́nh cờ có người lượm được một quyển sổ tay của
một tên cận vệ của Ba Cụt, trong đó có ghi tất cả đường đi
nước bước của Ba Cụt đem về tŕnh cho ông Ngô Đ́nh Nhu. Ông
Nhu chỉ đạo một toán đặc biệt theo dơi đường đi của Ba Cụt
và quả nhiên bắt được hắn. Vậy th́ đâu có ǵ để gọi là ‘’mất
thiện cảm của dân’’. Hay Giáo Sư Ninh cho rằng dẹp các lực
lượng vơ trang của các giáo phái và B́nh Xuyên nhưng ‘’không
hẳn là chiến thắng’’. Về chính trị, Giáo Sư Ninh cũng không
quên đánh ông Diệm rằng đă thành lập Đảng Cần Lao Nhân Vị
chính cương phóng tác từ tư tưởng của Triết Gia Công Giáo
Emmanuel Mounier song song với sự dựng lên một Nha Mật Vụ
Chính Trị và một Lực lượng Đặc Biệt...là một sự đứt đoạn với
truyền thống chính trị Việt Nam. Thế nào là truyền thống
chính trị Việt Nam? Phải chăng chính trị Việt Nam không cho
phép có An Ninh Nội Chính? Bất cứ một Quốc Gia nào trên thế
giới đều phải có một cơ quan an ninh để bảo vệ người dân và
đất nước. Mỹ chẳng có FBI, CIA, Anh có Scotland Yard, Pháp
có 2me Bureau, Nga có KGB hay sao? Miền Nam Việt Nam lúc bấy
giờ phải lo đối đầu với cộng sản Bắc Việt làm sao mà không
có những cơ quan đó được. Chính v́ nhờ đó mà chế độ ông Diệm
đă tạo được ḥa b́nh an vui ở nông thôn, ngăn chận được làn
sóng đỏ ở bên kia bờ Bến Hải mà Giáo Sư Ninh cũng không nhận
ra là ‘’một kỳ diệu trong lịch sử’’. Ngoài ra ông Diệm không
được lập đảng hay sao? Giáo Sư Ninh h́nh như bị ám ảnh bởi
hai chữ Công Giáo. Giáo Sư mỉa mai là Đảng Cần Lao rập khuôn
theo tư tưởng của những người Công Giáo hay sao? Hay Giáo Sư
không muốn lập đảng theo tư tưởng của người Tây phương hoặc
phải theo chế độ quân chủ th́ mới đúng truyền thống chính
trị Việt Nam? Tôi nghĩ các thầy dạy chuyên môn về Y Khoa của
Giáo Sư có lẽ tất cả đều là Công Giáo và Tây phương đấy. Vấn
đề ông Mounier là Công Giáo, Phật Giáo hay Tin Lành nó không
quan trọng. Điều quan trọng là cái thuyết lư của ông ta,
Thuyết Cần Lao Nhân Vị nó đúng sai hay dở ở chỗ nào. Thiết
nghĩ Giáo Sư nên nêu ra phê phán th́ nó hợp lư hơn. Nhưng
ông đă không làm như vậy. Thật ra tư tưởng về nhân vị của
Mounier mới là cái đinh để đối đầu với chủ nghĩa cộng sản,
một chủ thuyết coi nhân vị, nhân phẩm và tự do con người là
đồ bỏ. Chống cộng cần phải có căn bản lư thuyết, không thể
chỉ chống đối để chống đối, để rồi khi người ta hỏi lư do
tại sao th́ không biết đâu mà trả lời. Hiểu cộng sản, biết
cộng sản th́ mới mong chống cộng sản hữu hiệu. Ngày nay dân
Việt Nam, nhất là dân chúng miền Nam mới thực sự hiểu cộng
sản bằng xương bằng thịt, bằng chính cuộc sống của ḿnh,
bằng chính những kinh nghiệm cá nhân đau thương ê chề trong
cuộc sống hàng ngày và trong những trại học tập gọi là cải
tạo của cộng sản, nên những bài học quá khứ xảy ra ở miền
Nam Việt Nam thời Cộng Ḥa, đặc biệt thời gian 1963, thời
gian sau cách mạng lật đổ Ngô Đ́nh Diệm và về sau này thời
Đệ Nhị Việt Nam Cộng Ḥa cho đến ngày mất nước đă dần dần
được sáng tỏ. Người dân đă thấy rơ cộng sản Bắc Việt lợi
dụng gây xáo trộn ở miền Nam như thế nào trong kế hoạch
nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam.
Có bàn tay cộng sản Bắc Việt trong những cuộc gây xáo trộn
và bàn thờ Phật xuống đường ở miền Nam Việt Nam không? Tôi
không dám lạm bàn chi tiết nhiều về những vụ xáo trộn này,
v́ nó quá tế nhị, rất dễ bị đụng chạm. Nhưng cứ nh́n ai là
linh hồn của những cuộc đấu tranh ấy, những dân biểu nào,
nhân vật nào tích cực yểm trợ bây giờ họ ở đâu và đang làm
ǵ ở Việt Nam? Xin để độc giả tự nhận xét và xuy đoán. Tuy
nhiên có một điều thắc mắc tôi muốn Giáo Sư Trần ngọc Ninh
trả lời cho độc giả. Theo Giáo Sư th́ sau khi hai ông Diệm
và Nhu chết, kết liễu Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa th́ mùa pháp
nạn cũng chấm dứt. Kết luận này minh nhiên kết án Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm đă kỳ thị và đàn áp Phật Giáo, gây ra pháp nạn
cho Phật Giáo. Vậy th́ sau khi ông Diệm chết, thời hậu cách
mạng, lúc Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành
Pháp Trung Ương, trong đó Giáo Sư nắm chức Bộ Trưởng Bộ Giáo
Dục, dĩ nhiên là thời gian đó không có kỳ thị Phật Giáo, tại
sao vẫn xảy ra vụ Phật Giáo miền Trung và chính Tướng Kỳ đă
phải thân chinh ra dẹp. Xin hỏi Giáo Sư: Dẹp vụ Phật Giáo
miền Trung bằng vũ lực, Quân Đội như vậy có phải là đàn áp
Phật Giáo không? Có bàn tay cộng sản Bắc Việt trong những vụ
Phật Giáo biểu t́nh, bàn thờ Phật xuống đường không mà Tướng
Kỳ phải dùng Quân Đội để dẹp?
KẾT LUẬN
Công hay tội của ông Ngô Đ́nh Diệm thời Đệ Nhất
Việt Nam Cộng Ḥa ngày nay mỗi ngày một sáng tỏ. Người dân
miền Nam Việt Nam sau 40 năm chịu đựng cảnh độc tài toàn trị
của cộng sản Việt Nam, mất hết tự do, dân chủ và nhân quyền,
nhân phẩm bị chà đạp, tôn giáo bị ḱm kẹp, áp bức, kỳ thị,
giờ đây nh́n lịch sử đất nước và thế giới, nhất là Hoa Kỳ,
để tâm hồn lắng đọng lại đă tỏ ra thương mến và kính phục
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nhiều hơn là ghét bỏ.
NGHĨA BIỂN T̀NH SÔNG CỦA TÔN THẤT ĐÍNH
Nhân ngày giỗ năm thứ 37 của Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm và Bào Đệ Ngô Đ́nh Nhu, thử điểm qua cuốn tự truyện
chạy tội ‘’Nghĩa biển t́nh sông’’ của Tôn Thất Đính.
Trần Khắc Kính
CÂY MUỐN LẶNG GIÓ CHẲNG ĐỪNG
Cách nay khoảng 30 năm, tôi có đọc tập hồi kư
đăng từng kỳ trên nhật báo Công Luận, tại Sài G̣n. Ông chủ
báo (kiêm Thượng Nghị Sĩ Tôn Thất Đính) đă kể lể con cà con
kê về những ngày thơ ấu tại Thành Phố xứ hoa đào Đà Lạt,
nghịch ngợm, ưa quậy, kết bè kết đảng tập làm mă chiến sơn.
Mơ tưởng trở lùi về quá khứ lăng mạn, của cái thời c̣n trèo
me, trèo sấu, na ná như những chuyện ‘’Nhi đồng cứu vong’’
Thằng Chương, Thằng C̣m của Nhà Văn Duyên Anh, vào trước
thập niên 60 vậy. Cũng có nghe là những ngày tập tễnh mới
bước chân vào đời, ông có hành nghề Cảnh Sát Viên tại Thị Xă
Đà Lạt, trước khi đăng vào Việt Binh Đoàn, làm văn pḥng với
cấp bậc Binh Nh́. Báo của ḿnh, muốn đăng truyện ǵ mà chả
được? Mặc sức đánh bóng tô son, miễn là biết chi đẹp cho các
tay viết mướn.
Đến bây giờ lại thấy xuất hiện một cuốn hồi kư nữa, mang tên
‘’20 năm binh nghiệp’’, cũng có vẻ là kể lại, phóng đại,
phịa thêm, để nhờ ai đó viết, rồi mang in thành sách. Nếu
ông Đính không nhờ, mà đích thân viết, chắc là sẽ không có
những chi tiết sai lầm, như là ông Trị, Tư Lệnh Sư Đoàn 22,
trước năm 1961, chỉ mới là Trung Tá, không phải là Đại Tá.
Tại Sư Đoàn 23 là Đại Tá Lê Quang Trọng (không phải là Quan)
trích trang 158.
Cũng trong trang 77 có đề cập tới Đại Tá Đinh Văn Sơn, trong
năm 1957, thay ông Đính làm Tư Lệnh Sư Đoàn 2 tại Quảng
Ngăi. Trong Quân Đội, ai cũng nghe tiếng Đặng Văn Sơn, chứ
không phải là Đinh. Ông từng nổi tiếng liêm khiết, cuối năm
1960 là Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang và hiện
c̣n sống, định cư ở San José.
Các thợ viết mướn, chắc chắn là tŕnh độ hiểu biết về Lịch
Sử Quân Lực phải hạn hẹp hơn ông Đính rất nhiều, nên không
tránh khỏi những lỗi lầm ‘’tam sao thất bản’’, tỷ dụ như là
truyện ông Nguyễn Văn Sơn, Tỉnh Trưởng Quảng Nam, bị hy sinh
như dê tế thần, trong vụ án kinh tế bán gạo cho cộng sản
(trang 105). Đó là Bùi Quang Sơn (em ruột Văn Ngọc Bùi Quang
Nga), thời 1956, làm Phó Tỉnh Trưởng Quảng Ngăi, liên quan
đến vụ bán gạo ra Bắc, chứ không phải là Nguyễn Văn Sơn,
Tỉnh Trưởng Quảng Nam. Chưa hề nghe nhắc tới một Tỉnh Trưởng
Quảng Nam nào, mang tên Nguyễn Văn Sơn cả. Trước đó, trong
trang 44 ông nói là vào tháng 8.1954, ông là Phụ Tá Hải Quân
cho Vanuxem, đóng tại Mỹ Côi (Núi Gôi), điều động các GM-31,
32 trong khuôn khổ cuộc hành quân Auvergne, tại Nam Định,
Bùi Chu, Phát Diệm: Tại sao lại c̣n có cuộc hành quân thực
hiện sau khi Hiệp định Genève đă được kư kết nhỉ? V́ chiếu
theo các điều khoảng của Hiệp định này, th́ các phe lâm
chiến bắt buộc phải ngưng chiến, im tiếng súng kể từ 0 giờ
ngày 28.7.1954 rồi. Không thể kể hết những sai lầm, sơ hở,
trải dài suốt 455 trang của cuốn sách. Hơn nữa, đây không
phải là một cuộc điểm sách. Mà người viết chỉ muốn nêu ra
vài sự kiện nổi cộm (Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt đề cao quá
lố, phét lác...), v́ đă từng có dịp được mục kích, trực tiếp
tham gia, hoặc biết rơ.
ĐIỆP VIÊN HAI MANG
Gần hết thời hạn 300 ngày, chiếu theo Hiệp định
Genève 1954, các đơn vị cuối cùng của việt cộng đă lần lượt
triệt thoái khỏi bờ Nam sông Vệ, thuộc Quận Mộ Đức, Tỉnh
Quảng Ngăi, để xuống tàu Ba Lan tại Hải Cảng Quy Nhơn, tập
kết ra Bắc. Khoảng đầu hè năm Ất Mùi (1955) ngày đó tôi là
Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Quảng Ngăi có một bữa Thiếu Tá Tôn
Thất Xứng, Chỉ Huy Trưởng Tiểu Khu, chỉ thị cho tôi vào B́nh
Định, nhận lănh một nghi can tại Bản Doanh ông Đính, mang về
và sau đó có người chuyển tiếp ra ngoài Huế.
Được biết anh này là cán bộ Cao Đài ly khai, được gửi từ
trong Nam ra hoạt động tại miệt đất vừa được tiếp thu, không
ngờ bị phản phé, lộ sao đó, nên bị chặn bắt. Tôi lái xe vào
sân Vận Động Tam Quan, gặp Trung Tá Tôn Thất Đính lần đầu
tiên. Ông mặc áo sơ mi ngắn tay kaki vàng, nhưng lại kèm
theo quần saut rằn ri của Nhẩy Dù. Tôi tŕnh Sự Vụ Lệnh. Ông
ngoáy bút máy phê luôn vào mặt trái: ‘’Người mang giấy này
phải được toàn quyền tự do di chuyển qua mọi Trạm kiểm soát.
Kư tên: Trung Tá Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Quân Dân Chính Bắc
B́nh Định.
Tôi có nghe đồn là (vào thời gian này, ông ngang tàng, hắt
x́ xằng lắm, ưa dùng gậy chỉ huy đập thuộc cấp, giống như
ông Vĩnh) mang hỗn danh là Vĩnh hèo v́ thường hay dùng hèo,
để quất binh sĩ. Mỗi khi ông xuống xe, lội bộ trên các Đường
Phố Quy Nhơn, vừa được tái chiếm trong mùa Xuân Ất Mùi, là
thế nào cũng có một đoàn cận vệ đi giật lùi ngay phía trước
ông. Dăm sáu Binh Sĩ này được tuyển lựa, cao to vận chiến
phục rằn ri (áo đuôi khỉ) của lính Dù, lăm lăm tiểu liên
Thompson đă được tháo báng gỗ, mặt mày bặm trợn, sát khí
đằng đằng. Chả khác chi cảnh tướng phường chèo, như nữ
tướng Phàn Lê Huê của ông Năm Soái, thời trước Genève 1954 ở
Cái Vồn (Cần Thơ) vậy.
Trước khi tôi dẫn can phạm lên xe ra về, ông c̣n cẩn thận
dặn ḍ thêm là khi đi ngang Sa Huỳnh (nơi đặt bản doanh của
Bộ Tư Lệnh Hành Quân Giải Phóng Liên Khu 5, nằm sát ranh
giới hai Tỉnh Quảng Ngăi và B́nh Định), cần phải cảnh giác
đề pḥng, ngộ nhỡ Đại Tá Lê Văn Kim mà biết được, sẽ cho
người ra đánh tháo, cướp mất can phạm. Ngày đó ông Kim là Tư
Lệnh Hành Quân Giải Phóng Liên Khu 5 (mà Việt Minh vẫn chiếm
giữ cho tới khi có Hiệp Định Genève).
Trong trang 55, thấy có kể là vào đầu năm 1955, ông đă được
Thủ Tướng Diệm đặc cách thăng cấp Đại Tá thực thụ, để ông có
đủ tư thế chỉ huy các đơn vị Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tại
Liên Khu 5 và Đại Tá Lê Văn Kim, chỉ đặc trách về hành
chánh, chính trị mà thôi chứ không phải là Tư Lệnh Hành
Quân. Tất cả những điều trên đây hoàn toàn sai. V́ lúc tôi
gặp ông Đính vài tháng sau đó, ông vẫn c̣n đeo lon trắng
Trung Tá Thiết Giáp trên cầu vai, v́ đă từng tốt nghiệp từ
Học Viện Thiết Giáp Saumur của Pháp, đồng khóa cùng ông Lâm
Văn Phát. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời binh nghiệp, cả hai
chưa từng có dịp mang số vốn học chuyên môn ra sử dụng,
nghĩa là chưa hề chỉ huy bất cứ một Đơn vị Thiết Giáp nào
bao giờ cả. Ông Đính chỉ mới là Trung Tá, vào giữa năm 1955.
Không phải là Đại Tá. Saumur tiếng Tây c̣n có nghĩa là nước
mắm. Khắm như nước mắm, v́ dân Saumur đă tự sáng chế ra lối
chào x̣e năm đầu ngón tay như bàn tay ếch (không kẹp sát lại
theo đúng quân kỷ, quân phong), lập dị cho khác bàn dân
thiên hạ.
Cũng cho ông hay là đừng nhận vơ, nhận ẩu. V́
vào cuối năm Giáp Ngọ (1954), Tiểu Đoàn 51 chúng tôi, khi
vào tới Thị Xă Quảng Ngăi, đă được lệnh giải tán để thành
lập Trung Đoàn 31 và Tiểu Khu Quảng Ngăi. Phần đất này cũng
thuộc Liên Khu 5, nhưng vào thời gian này, chúng tôi trực
thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2, mà không bao giờ đặt dưới quyền
chỉ huy của ông cả. Cuối trang 49, ông Đính có kể là trong
bữa tŕnh diện Tướng Hinh trước khi lên đường ra Nha Trang,
đă có sự hiện diện của 2 Đại Tá Trần Văn Đôn và Trần Đ́nh
Lan. Lan Giám Đốc Pḥng 6 Bộ Tổng Tham Mưu chưa bao giờ là
Đại Tá. Chỉ là Trung Tá, rồi theo Hinh lưu vong sang bên
Tây. (Anh này là con Bác Sĩ Trần Đ́nh Quế ở Đà Lạt. Khi mang
Pháp tịch, tên được phiên âm na ná sang tiếng Tây thành
Henry Ceuille.) Nhưng chính Lan mới là cánh tay mặt của loạn
Tướng Nguyễn Văn Hinh. Lan đă sáng lập ra cái gọi là Phong
trào giải phóng miền Nam tức đảng Con Ó (bất cứ sĩ quan nào
được kết nạp vào đảng này cũng đều đeo một con ó nhỏ ở ve
áo, để dễ nhận diện lẫn nhau, là cũng thuộc thành phần tuyệt
đối trung thành với Hinh, quyết tâm chống Thủ Tướng Diệm).
Pḥng 6 Tổng Tham Mưu có 3 Sở (32, 42 và 52). Khi Lan lưu
vong th́ Trung Tá Lê Văn Lung (bà con với Tướng Lê Văn Tỵ),
Chánh Sở 32 lên thay thế. 32 là SRO (Service de
Renseignements Opérationnels), c̣n được ngụy hóa là Sở Liên
Lạc, đảm trách về T́nh Báo. Bộ phận này xài phần lớn số qũy
đen 1 triệu bạc cấp phát hàng tháng cho Pḥng 6. Phải hiểu
ngày đó một cuốc taxi chỉ có 6 đồng bạc, mới thấy số tiền
mật qũy 1 triệu bạc hàng tháng là nhiều như thế nào. Kể từ
đầu năm 1956, Pḥng 6 đổi tên là Nha Tổng Nghiên Huấn, trực
thuộc Bộ Quốc Pḥng. V́ là Ủy Viên Đặc Vụ của Quân Ủy Lê
Lợi, nên ở trên sắp xếp cho tôi về làm Phó Giám Đốc Nha Tổng
Nghiên Huấn cho Trung Tá Lung, ngay từ đầu năm 1956, do đó
mà biết rơ cội nguồn của những sự kiện trên đây. Ông Kim là
em rể ông Đôn, cũng được tiếng là rất thân cận với Hinh. V́
vậy, ông Đính muốn cho mọi người hiểu ngầm là hai ông Đôn và
Kim thuộc đảng Con Ó, nhưng ai cũng rơ chính ông Đính mới
thực là đảng Con Ó. Đúng là cảnh ‘’gái đĩ già mồm’’ Chính
ông cũng đă từng thú nhận trong trang 55 là Hinh, trước khi
bắt buộc phải rời Sài G̣n, lưu vong sang Pháp, đă cho một
tùy viên thân tín mang một phong thư tới. Ông Đính mở đọc:
‘’Đính thân! Tôi hoàn toàn tin tưởng và trông cậy ở Đính’’
Có người thạo tin cho biết là lá thư trên đây chỉ mang vỏn
vẹn vài chữ viết tay của Hinh: ‘’ Á bientôt!’’ (có thể hiểu
là: Rồi đây sẽ c̣n gặp nhau, hoặc: Ngày mai trời lại sáng.
v. v...). Thế mà bây giờ ông đă xoay ngay được 180 độ, dám
kháng chế nghi ngờ ngay cả ông Kim. Không rơ ông đă tiếp xúc
được với đại diện của ông Cậu để gia nhập Đảng Cần Lao vào
lúc nào? Nhưng chỉ ít tháng sau (vào dạo cuối năm 1955), ông
đă là đại biểu tham dự khoáng đại Hội Nghị Quân Ủy Cần Lao,
tổ chức tại Bộ Chỉ Huy Phân Khu Duyên Hải Nha Trang.
QUÂN ỦY LÊ LỢI ĐƯỢC THÀNH LẬP
Năm trước đây, trên nhật báo Người Việt số 5036
ấn hành ngày 21.9.1999 tôi có đóng góp một phần nào hiểu
biết vào cuốn sách ‘’Huyền thoại về chế độ Ngô Đ́nh Diệm’’
của tác giả Vĩnh Phúc (nhà xuất bản Văn Nghệ). Tôi có kể lại
vụ tham dự Đại Hội Quân Ủy Cần Lao, vào cuối năm 1955 tại
Nha Trang. Lúc đó, tôi là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4 Việt
Nam, kiêm Quận Trưởng Quận Tam Quan. Có một bữa đầu tháng
Chạp 1955, tôi nhận được công điện khẩn của Bộ Tư Lệnh Quân
Khu 2 yêu cầu lên đường gấp, để họp tại Nha Trang (không rơ
họp bàn vấn đề ǵ, nên không rơ phải chuẩn bị tài liệu mang
theo ra sao?) Vào tới Quy Nhơn, th́ gặp Thiếu Tá Nguyễn Ngọc
Khôi, vừa từ Huế vô, cho biết nội dung cuộc họp là Hội Nghị
Đảng Cần Lao, của Toàn Quân. Ông Khôi hướng dẫn tôi, Đại Úy
Nguyễn Hùng Khánh (một Tiểu Đoàn Trưởng khác trú quân tại
vùng ngoại ô Quy Nhơn) và Trung Úy Trịnh Tiếu (Ty An Ninh
Quân Đội Quy Nhơn), lên đường xuôi Nam, ngay trong buổi
chiều hôm đó. Tới Tuy Ḥa th́ gặp đoàn xe của Đại Tá Tôn
Thất Đính, vừa hoàn tất công cuộc tiếp thu Bắc B́nh Định và
cũng vừa được thăng cấp Đại Tá. Được biết là vài tháng sau
đó, ông Đính được cử đi du học tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu
Forth Leavenword Hoa Kỳ. Măn khóa học 8 tháng, trở về nước
chưa được bao lâu, th́ ông Đính được cử đi học khóa Tham Mưu
Hỗn Hợp trong 6 tháng nữa tại Okinawa. Hóa ra trong suốt
cuộc đời binh nghiệp của ông toàn là được ưu đăi để đi du
học không hà. Thời c̣n Tây, th́ Tactic (chiến thuật), rồi
Saumur (Thiết Giáp). Đến bây giờ, lại Chỉ Huy và Tham Mưu
Hỗn Hợp. Nhưng học đă vậy, có hành được hay không lại là
chuyện khác.
Đoàn xe di chuyển suốt đêm mới tới Nha Trang, Đến nơi, chúng
tôi được Trung Úy Trần Hữu Độ của Bộ Chỉ Huy Phân Khu Duyên
Hải hướng dẫn vào nghỉ tại một lớp học bỏ trống, cho ngủ
trên các gường gấp nhà binh. Ngày đó Trung Úy Độ và Trung Úy
Đạt rất được Trung Tá Đỗ Mậu tin cậy để giao phó cho vụ tổ
chức Đại Hội Quân Ủy này. Ngay đầu năm 1956, Trung Úy Đạt
được Châu Tĩnh sắp xếp cho phụ trách Văn Pḥng Thường Trực
của Ban 5 (tức là Thường Trực Quân Ủy), có Trụ Sở ở số 72
Đường Phạm Đăng Hưng (xưa kia là Đường Pierre trên Tân
Định). Đạt cùng gia đ́nh được phép cư trú ở ngay căn phố lầu
nói trên. Trong những ngày kế tiếp, các phái đoàn từ khắp
các Quân Khu trên toàn miền Nam lục tục kéo về. Tôi c̣n nhớ
từ Sài G̣n ra, có Bác Sĩ Bùi Kiện Tín, các Trung Tá Nguyễn
Khương, Vũ Hùng Phi, các Đại Tá Phạm Văn Sơn, Trần Cẩm. Trên
Cao Nguyên xuống có Trung Tá Hoàng Lạc, Đại Úy Dương Thái
Hồng. Phái đoàn miền Trung đông đảo nhất v́ ngoài chúng tôi
ra, c̣n có thêm Trung Tá Nguyễn Văn Chuân, các Thiếu Tá Lê
Văn Sâm, Phùng Ngọc Trưng và những Đại Úy then chốt, Nguyễn
Văn Châu (tức Châu Tĩnh), Lê Quang Tung, Ngô Văn Hùng, Phạm
Thư Đường. Cũng có thấy các Trung Úy Nguyễn Bé, Nguyễn Xuân
Vinh tham dự các phiên họp. Trung Tá Đỗ Mậu, Chỉ Huy Trưởng
Phân Khu Duyên Hải đăng cai Hội Nghị này đă cho trần thiết
bàn thờ đảng rất uy nghi. Có lư đồng, chân đèn, hương khói
nghi ngút, có chân dung Ngô lănh tụ, có Đảng kỳ, nửa xanh
nửa đỏ và ba ngôi sao đỏ trên nền xanh, có thanh gươm treo
ngang Đảng kỳ tượng trưng cho kỷ luật đảng...
Mấy bữa sau, có vụ bầu Ban Chấp Hành Quân Ủy tức là tổ chức
Đảng Cần Lao trong toàn quân, kể từ nay sẽ mang tên là Quân
Ủy Lê Lợi. Các đồng chí Minh Sơn (bí danh trong đảng của
Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm) được bầu vắng mặt là Bí Thư Quân
Ủy Lê Lợi, đồng chí Linh Giang (Tôn Thất Xứng) cũng được bầu
vắng mặt là Phó Bí Thư. Các Ủy Viên khác trong Ban Chấp Hành
(như là Thường Trực, Tổ Chức, Nghiên Cứu, Thông Tin, Huấn
Luyện, Kinh Tài, Đặc Vụ...) được Hội Nghị bầu cho các đồng
chí Duy Tiến (Nguyễn Văn Châu), Việt Tồn (Lê Quang Tung),
Trường Minh (Phạm Thư Đường), Ái Chủng (Nguyễn Khương), Ánh
Dương (Trần Cẩm)...Riêng tôi được bầu vào cương vị Ủy Viên
Đặc Vụ (bí danh Văn An). Tôi cũng c̣n nhớ các ông Đỗ Mậu lấy
bí danh trong đảng là Hoành Linh, Tôn Thất Đính là Vân Anh
v.v...
Trong ngày cuối cùng, Ông Ngô Đ́nh Nhu, Tổng Bí Thư Đảng có
tới chủ tọa, chứng kiến lễ huyết thệ (trích máu ăn thề
nguyện trung thành với đảng) của toàn Hội Nghị. Từng người
một đă lần lượt tiến tới trước bàn thờ, cầm cây kim gút
chích đầu ngón tay trỏ, nhiễu một giọt máu vào trong ly
rượu, đặt trước lư hương. Bác Sĩ Tín cầm sẵn dúm bông g̣n
tẩm cồn, để chùi cây kim cho khỏi nhiễm trùng, trước khi
trao tay, chuyển cho người kế tiếp.
ĐẠI PHỊA
Thế mà tại cuối trang 74 của cuốn hồi kư ‘’20
năm binh nghiệp’’ ông Tôn Thất Đính kể nội dung cuộc họp
trên đây khác hẳn. Nguyên văn:
‘’Tôi c̣n nhớ trước đây, trong thời gian c̣n đi
tiếp thu Liên Khu 5, Đại Tá Đỗ Mậu lúc bấy giờ là Phân Khu
Trưởng Phân Khu Duyên Hải, có tổ chức một Đại Hội Quân Cán
Chính ở Nha Trang, có ông Ngô Đ́nh Nhu từ Sài G̣n ra chủ
tọa. Đại hội này dường như của Đảng Cần Lao Nhân Vị và tôi
được mời tham dự với tư cách là Tư Lệnh cuộc hành quân.
Trong Đại hội trước khi tôi giă từ ông Ngô Đ́nh Nhu để lên
đường tiếp tục cuộc hành quân, th́ ông Nhu đă đứng dậy khen
ngợi và chúc mừng sớm hoàn thành nhiệm vụ, để thống nhất
Quốc Gia dưới một màu cờ Tự do như ư nguyện của toàn dân và
chính phủ do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo’’.
Cuộc hành quân tiếp thu mang danh hiệu là Hành Quân Giải
Phóng Liên Khu 5 do Đại Tá Lê Văn Kim làm Tư Lệnh, không
phải ông Đính làm Tư Lệnh (trên đây tôi đă từng kể là dù bản
chất thích huênh hoang nhưng vào đầu năm 1955, ông chỉ dám
xưng là Tư Lệnh Quân Dân Chính Bắc B́nh Định mà thôi). Cuộc
hành quân này chấm dứt trước ngày có cuộc Trưng cầu dân ư
truất phế Bảo Đại vào ngày 23.10.1955. Cuộc họp tại Nha
Trang là vào tháng Chạp 1955. Lúc này ông đang lo cải tổ GM
32 thành Sư Đoàn 2. Ông Mậu khi đó vừa mới được thăng cấp
Trung Tá, chưa phải là Đại Tá. Đại hội trên bao gồm những sĩ
quan, đến từ khắp các Quân Khu trong toàn quốc, không phải
là chỉ có thành phần Quân Cán Chính Nha Trang. Do đó, dựng
lên vụ ông Ngô Đ́nh Nhu đứng dậy khen ngợi và chúc mừng ông
sớm hoàn thành nhiệm vụ là đại phịa, đánh bóng tô son, đề
cao cá nhân quá lố, muốn lấy thúng úp voi, v́ cuộc hành quân
tiếp thu đă hoàn tất từ lâu, cần ǵ phải sớm hoàn thành
nhiệm vụ nào nữa? Ông đi dự Đại hội trên chỉ với cương vị là
đảng viên đại biểu thường, như vài chục đại biểu khác.
Trong Đại hội mọi người vận thường phục, không đeo lon lá ǵ
hết. Tôi c̣n nhớ như in ngày đó là ông vận bộ đồ lớn màu
beige nâu nhạt.
Mùa Đông tại Nha Trang se se lạnh, nên ai nấy đều vận áo ấm.
Cái hách dịch phường chèo cố hữu đă được ông cố t́nh bỏ quên
ngoài pḥng họp. Ông cố gắng luôn luôn cười mím chi, tở mở,
nhũn như con chi chi, v́ sự kiện ‘’Á bientôt!’’ liên quan
tới ông vẫn c̣n quá nóng bỏng, mọi người chưa thể quên ngay
được...Tuy rằng không được đề cử bầu vào Ban Chấp Hành sau
đó, nhưng ắt ông cũng đă từng trông thấy Đảng kỳ và đă được
huyết thệ. Ông cũng đă có dịp theo dơi cuộc bầu bán Ban Chấp
Hành của Quân Ủy Lê Lợi, tức Đảng Cần Lao trong Quân Đội.
Không lẽ đồng chí Vân Anh quên tất cả rồi sao? Đâu có phải
là Đại Hội Quân Cán Chính Nha Trang? Xin mách nước cho ông,
là nếu v́ trí nhớ quá kém cơi nên t́m hỏi lại các ông Nguyễn
Ngọc Khôi, Dương Thái Hồng, Trần Cẩm v.v... Họ từng tham dự
Đại Hội trên đây và vẫn c̣n sinh sống tại vùng Cali này và
chắc chắn là sẽ không hẹp ḥi ǵ mà không xác nhận lại những
điều trên đây.
Trung Úy Trần Hữu Độ, ngày đó phụ trách Quân Sự Học Đường
cho Phân Khu, tuy rằng không tham dự các phiên họp, nhưng đă
giúp Trung Tá Đỗ Mậu tích cực về tổ chức, trang hoàng, khánh
tiết, an ninh, cho Đại Hội Quân Ủy, có lẽ cũng nắm khá vững
các chi tiết trên đây. Ông có thể xin tiếp xúc khi thuận
tiện, để đối chiếu, nếu cảm thấy vẫn c̣n lú lẫn... Có những
đảng viên đại biểu đă từng phó hội, nhưng không nên hỏi, để
khỏi phí công, v́ họ cũng kém trí nhớ như ông vậy, tỷ dụ Đỗ
Mậu, Hoàng Lạc.
ĐẠI HỘI QUÂN CÁN CHÍNH NHA TRANG
Sau khi kết quả của cuộc Trưng cầu dân ư truất
phế Bảo Đại vào ngày 23.10.1955 được công bố, th́ từ khắp
mọi nơi trên toàn lănh thổ miền Nam đă dấy lên một phong
trào rầm rộ, để bày tỏ ḷng trung thành tuyệt đối với chính
quyền do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo. Ngay từ cuối Thu
năm Giáp Ngọ 1955, Trung Tá Đỗ Mậu Chỉ Huy Trưởng Phân Khu
Duyên Hải cũng đă nhạy bén, ứng xử cho thích ứng với thời
cơ. Ông đă cho tập hợp các cấp Quân Cán Chính tại địa phương
đến rạp chiếu bóng Tân Tân nằm ngay Trung Tâm Thị Xă Nha
Trang. Đây không phải là đại hội, v́ không có chương tŕnh
nghị sự, thảo luận phát biểu. Chỉ đơn thuần là một cuộc mít
tinh mà diễn giả Trung Tá Đỗ Mậu Chỉ Huy Trưởng Phân Khu sẽ
đăng đàn diễn thuyết để ca ngợi chế độ. Đề tài của cuộc nói
chuyện bữa đó là: ‘’Thân thế và sự nghiệp của Ngô Chí Sĩ’’.
Bài phát biểu rất hay và xúc tích, v́ tác giả đă khổ công
nghiên cứu, tham khảo các nguồn tư liệu, chưa kể tới các kỷ
niệm thuở thiếu thời, mối liên hệ khá mật thiết từ thời xa
xưa. Sau buổi nói chuyện, toàn bộ bài diễn văn trên đây được
cơ quan ấn loát của Ty Thông Tin Tỉnh Khánh Ḥa mang in
thành sách và phổ biến rộng răi. Đó là một tập san mỏng,
ngoài b́a có h́nh Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm vận âu phục, tay
cầm cây viết ngồi trước bàn giấy. Buổi nói chuyện trên đây
đă có sự hiện diện đông đủ của các giới chức Quân Chính cao
cấp và Thân Hào Nhân Sĩ tại địa phương. Tỉnh Trưởng Khánh
Ḥa, cùng ông Tôn Thất Đính (vừa được mang cấp bậc Đại Tá
sau khi hoàn tất cuộc hành quân tiếp thu Bắc B́nh Định) thế
nào mà chẳng có mặt. Đại Tá Đính lúc đó đang lo cải tuyển GM
32 thành Sư Đoàn 2, song song với việc chuẩn bị các thủ tục
xuất ngoại để sang Hoa Kỳ khá lâu ṭng học Trường Chỉ Huy
Tham Mưu Forth Leavenworth. Nhưng có điều quan trọng là ông
Ngô Đ́nh Nhu không chủ tọa Đại Hội Quân Cán Chính tại Nha
Trang trên đây. Ông Nhu chỉ ra Nha Trang vài tháng sau đó,
khoảng cuối năm 1955 để dự lễ huyết thệ của Quân Ủy Cần Lao
mà thôi.
Khoáng Đại Hội Nghị của Quân Ủy Lê Lợi cũng được tổ chức ở
Nha Trang, nhưng bao gồm đông đủ các Đại Biểu của tất cả các
Quân Khu, không phải là Quân Cán Chính Nha Trang.
V́ lẽ ông Nhu không có mặt trong Đại Hội Quân Cán Chính Nha
Trang, nên không thể có vụ ông Nhu đă đứng dậy khen ngợi và
chúc mừng sớm hoàn thành nhiệm vụ để thống nhất Quốc Gia,
như ông Đính đă bốc láo ở cuối trang 74. Hơn nữa, các cuộc
hành quân tiếp thu đă chấm dứt và bộ đội việt cộng đă triệt
thoái khỏi mọi phần đất của Liên Khu 5, th́ cần ǵ phải mong
sớm hay chóng hoàn thành? Cuối cùng, đừng quên rằng ông Ngô
Đ́nh Nhu là một mẫu người bản chất thâm trầm, kín đáo,
nghiêm nghị, đôi chút kiêu căng, ít điều ít lời. Không thể
có vụ ông đứng dậy khen ngợi và chúc mừng bất cứ ai, bao giờ
đâu. Cũng như trước đây tôi đă từng kể là không có vụ ông
Nhu thường vi hành về Trại Hùng Vương vào giữa năm 1963 để
Socializing (ḥa đồng, tâm sự, tán phét) với Liên Đoàn 77,
v́ số Quân Nhân này đă từng nhẩy dù xuống Hạ Lào và ra ngoài
Bắc đâu. Toàn là loại sản phẩm tưởng tượng, bố ẩu. Thông
thường, khi tự nhiên được mọi người phịa ra để đề cao, đánh
bóng tô son ḿnh, được quan trọng hóa...th́ cứ ‘’ngậm miệng
mà ăn tiền’’, im lặng để tọa hưởng kỳ thành. Nhưng người có
lương tri, thức giả th́ phải có can đảm để từ chối không
nhận vơ những vinh dự đó, v́ đó là đồ dỏm, bịa đặt, không
phải đồ thật và viết sử là phải viết thật, chứ không phải là
phịa. Giữa tháng chạp 1955, khoáng Đại Hội Nghị Quân Ủy Lê
Lợi của Đảng Cần Lao bế mạc. Tất cả các đại biểu tham dự,
khi rời Nha Trang đều được Trung Tá Đỗ Mậu kư tặng tập san:
‘’Thân thế và sự nghiệp Ngô Chí Sĩ’’ nói trên. Cuốn của tôi
có hàng chữ viết tay của ông Đỗ Mậu ngay trang đầu: ‘’Mến
tặng đồng chí Vân An. Kư tên Hoành Linh’’. Tôi vẫn lưu giữ
tập sách mỏng này trong tủ sách gia đ́nh. Sau ngày sập tiệm,
khoảng tháng 8. 1975 có đợt bài trừ Văn Hóa phẩm phản động,
đồi trụy. Gia đ́nh đă gom góp tất cả sách báo chất trong tủ
mang ra nạp, để tiêu hủy. Chỉ nghe kể lại, v́ lúc đó tôi
đang bị giam tại lầu 3 Khu AH Khám Chí Ḥa, khởi đầu cho một
con giáp cải tạo.
CẠN TÀU RÁO MÁNG
Khoảng đầu năm 1960, Văn Pḥng Ban 5 (tức là
Quân Ủy Cần Lao) có nhận được một xấp báo cáo dầy của Chính
Cục Hoàng Hoa Thám (tức là Đảng Ủy Cần Lao tại Quân Khu 4
Ban Mê Thuột) đệ tŕnh lên Tổng Bí Thư Ngô Đ́nh Nhu. Ông
Tướng Đính vừa được đề cử thay thế ông Tướng Chín, làm Tư
Lệnh Quân Khu. Vừa chân ướt chân ráo đáo nhận nhiệm sở mới,
ông đă sử dụng ngay các cơ cấu điều tra, để hoàn thành cấp
tốc một hồ sơ về các hành vi bê bối, hũ hóa của cặp vợ chồng
Tướng cũ, vừa bị hạ bệ. Theo như báo cáo đă được các cơ quan
chuyện môn thiết lập rất công phu, với đầy đủ nhân chứng,
th́ ông Chín đă sách nhiễu t́nh dục con vú em. Khi bà Chín
mới sanh hạ được chừng dăm tháng, th́ hàng đêm, con vú em
bồng đứa nhỏ, dỗ cho ngủ ở căn pḥng xép, cởi trần, chỉ vận
độc có cái quần x́ líp. Thấy ông vén mùng chui vào, đứa tớ
gái sợ hăi ngồi dậy, lùi vào góc gường thủ thế. Ông vung hai
bàn tay xuất chiêu, dương Đông kích Tây, đánh trên dẹp dưới,
cố dứt điểm mục tiêu là chộp vào ngực nó. Nó cuống cuống né
tránh co dúm tứ túc. Cuối cùng, nó t́m được giải pháp vô
cùng hữu hiệu là dùng ngay đứa bé đang bồng trên tay, làm
cái mộc để ngăn ngừa những đợt tấn công vũ băo của đối
phương.
Thành thử ông Chín toàn chụp vào người đứa con sơ sinh của
ḿnh, chứ chưa bén mảng tiếp cận xơ múi ǵ tới mục tiêu tối
hậu. Trận tấn công và tŕ hoăn chiến chấm dứt, khi đứa bé bị
chộp vào người dăm bảy phát đau quá, khóc thét lên. Ông Chín
sợ bà xă đang ngủ tại pḥng bên giật ḿnh tỉnh dậy biết
được, nên đành tiếc nuối rút lui có trật tự. C̣n bà Chín,
th́ theo báo cáo tằng tịu với anh tài xế. Nó c̣n trẻ, cao
lớn, ḿnh dây có vẻ dẻo dai (ông Tướng vốn nhỏ con). Một đôi
lần bà Chín lân la xuống khu nhà bồi, chuyện tṛ cùng gia
nhân, đầy tớ giúp việc trong tư dinh của Tư Lệnh. Có lần bà
mang theo cuốn tiểu thuyết, ngă nhớn nằm trên gường anh tài
xế đọc sách, rồi hớ hển ngủ quên ở đó luôn và cái bẫy mà bà
Tướng đă giương lên cuối cùng phải sập, con mồi đố chạy đâu
cho thoát. Lư do là tên tài xế đang ở độ tuổi cường tráng,
luôn luôn ṭ ṃ thèm khát. Nó tặc lưỡi: ‘’Mỡ đem dâng miệng
mèo’’ tội ǵ mà không hưởng? ‘’Quen hơi bén mùi làm riết’’
Thiếu cảnh giác, nên cuối cùng ông Tướng bắt được tại trận.
Ông bèn cho thiết lập một phiên ṭa quân sự mặt trận kiểu bỏ
túi, mà thành phần là các Trưởng Pḥng thân tín của Bộ Tham
Mưu của ông. Cũng có chánh thẩm, biện lư buộc tội, trạng sư
bào chữa. Cuối cùng đi tới quyết định là bắt tên tài xế nhận
tội và kư cam kết cắt đứt ngay cảnh ‘’đũa mốc chọc mâm son’’
nói trên. Nội vụ được phát giác, khi có vụ bàn giao chức vụ
Tư Lệnh. ‘’có mới nới cũ’’ những Trưởng pḥng cũ thấy cần
phải lấy điểm với ông Tân Tư Lệnh, mà cho rơi luôn ông cựu,
nên đă tường tŕnh lại mọi chi tiết của phiên ṭa kể trên
khi được hỏi đến. Trong suốt cuốn hồi kư ‘’20 năm binh
nghiệp’’, mỗi khi được đề cử vào chức vụ mới nào là y như
rằng ông Đính không ngớt chê bai, nhục mạ người cũ, toàn là
lũ bất tài vô tướng, làm hư bột hư đường, xôi hỏng bỏng
không, để đến nỗi giờ đây tới thay thế, ông phải quá ư vất
vả, hao tâm tổn trí, để sửa chữa những lỗi lầm cũ, trước khi
áp đặt những phương án kỳ diệu mới của ông. Qua mấy chục
trang (từ trang 132 ‘’Một Quân Khu không cần Bộ Tư Lệnh’’
đến trang 171 ‘’Hạ tầng cao nguyên...’’), ông đă cố ‘’vạch
lá t́m sâu, bới bèo ra bọ’’, để hạ ông Chín. Cho như thế là
chưa đủ, nên song song với những phúc tŕnh gửi theo hệ
thống chính quyền, ông c̣n cố bới móc đời tư của người cũ,
bằng những báo cáo gửi theo đường giây của đảng. Thiết tưởng
người quân tử không nên nghĩ đến việc đánh thêm kẻ đă ngă
ngựa. Nhưng không ít những kẻ thực dụng, đầu óc đầy mưu
toan, tính toán th́ lại nghĩ là phải biết tận dụng thời cơ,
nó có ngă ngựa th́ mới đánh được nó chứ. Nếu nó c̣n ngồi
trên ḿnh ngựa làm sao mà đánh được? Láng cháng, nó sẽ cho
ngựa đá vỡ mặt. Báo cáo của Chính Cục Hoàng Hoa Thám (gửi
theo đường giây đảng) trên đây, có tác dụng như một phát
súng ân huệ, đánh cho chết hẳn, v́ ông Tư Lệnh mới cố d́m
ông cũ xuống tận bùn đen, có ngóc đầu lên cũng c̣n mệt.
ABANDOM DE POSTE?
Khoảng đầu tháng 11 năm 1960, Quận Toumorong
trên Kontum bị việt cộng đánh chiếm. Lần đầu tiên trên toàn
miền Nam chúng đă bám trụ lại trong nhiều ngày. Năm trước
đây, vào dịp giáp Tết, chúng cũng đă đánh chiếm được Hậu Cứ
một Trung Đoàn của ta ở Trảng Sụp (Tây Ninh), tịch thu nhiều
vũ khí, nhưng đă rút lui ngay trong đêm. Áp lực địch ở Cao
Nguyên lúc này khá mạnh, nên các Đồn Địa Phương Quân Polei
Khok và Polei Kodin, nằm sát biên giới Việt-Lào, ngay trên
ranh giới hai Tỉnh Pleiku và Kontum, cũng đă được triệt
thoái. T́nh h́nh địch tại vùng ba biên giới trên hết sức mù
mờ, nên tôi đă lên Kontum để nghiên cứu việc thả dù vài Toán
hành quân của Liên Đội Quan Sát xuống, nhằm mục đích xác
định lại các căn cứ của địch, có lẽ vẫn c̣n tồn tại kể từ
ngày có Hiệp định Genève năm 1954 chia đôi đất nước. Sau khi
làm việc tại 2 Tỉnh Pleiku và Kontum chừng một tuần lễ, bữa
sáng 11.11.1960 tôi ra Phi Trường Catecka (thuộc Sở Trà
Thanh An), dự định đáp máy bay Air Việt Nam để trở về Sài
G̣n, th́ mới hay tin Phi Cảng Tân Sơn Nhất đóng cửa, v́ Sài
G̣n có đảo chánh quân sự. Tôi trở về Bản Doanh Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn II Quân Khu 2 nằm ngay ngoại ô phía Bắc Thị Xă
Pleiku. Thiếu Tướng Tôn Thất Đính không có mặt tại Bản
Doanh, nên tôi đă vào tiếp xúc với Đại Tá Nguyễn Hữu Có Tham
Mưu Trưởng, đề nghị xin phương tiện máy bay quân sự, để trở
về Sài G̣n. Đêm 11.11.1960, tôi nghỉ trong văn pḥng Tham
Mưu Trưởng và cùng Đại Tá Có theo dơi diễn tiến của cuộc đảo
chánh tại Thủ Đô cho măi tận khuya. Hôm sau 12, rồi bữa sau
nữa sáng 13.11 tôi mới xin được một L19, nhưng không thể về
thẳng Sài G̣n, mà phải ghé qua Nha Trang, rồi sau đó mới về
Sài G̣n bằng C-47. Trong 3 ngày 11, 12, 13 tôi bị kẹt lại
trên Pleiku, th́ ông Đính cũng bị kẹt tại Sài G̣n. Ông đi
đâu? Làm ǵ? Không một ai hay. Rất may cho ông, là trong mấy
ngày đó Phủ Tổng Thống không nghĩ tới việc chỉ thị cho Quân
Đoàn II đem quân về cứu Thủ Đô, v́ có Đại Tá Trần Thiện
Khiêm từ Quân Khu 4 kéo quân về rồi. Nếu có lệnh đó, ắt khám
phá ra vụ ông từ bỏ đơn vị không có phép trong thời chiến,
tức là Abandon de Poste, tội trạng sẽ phải xét xử bởi Ṭa Án
Binh Mặt Trận.
Đến bây giờ, đọc 3 trang 197, 198 và 199 mới thấy ông giải
thích lư do của sự vắng mặt kể trên. Ông tự đánh bóng tô
son, kể lung tung, dông dài ṿng vo Tam quốc, đưa ra những
giả tưởng và bịa đặt rẻ tiền. Người thường không hiểu ǵ về
cơ cấu tổ chức mật, th́ đọc coi như là một sản phẩn của
James Bond (ông thường hành quân trinh sát những ngày cuối
tuần tại Sài G̣n, sĩ quan cận vệ cải trang lái taxi của Sở
Đặc Nhiệm chở ông khắp Đô Thành, xe đ̣ túc trực đưa ông
Tướng về Biên Ḥa...), Quá nhiều truyện vô lư. Nêu và phân
tách thêm chỉ phí thời giờ. Chỉ xin hỏi ông một cách tóm tắt
là cái Sở Đặc Nhiệm T́nh Báo của Phủ Tổng Thống mà ông nêu
trong những trang này là cơ quan nào vậy? Ai chỉ huy? Nhiệm
Vụ? Tôi th́ cho là ông lén về Sài g̣n, bỏ đơn vị ‘’moong’’
về Thủ Đô, để du hí, để nhảy đầm, chẳng ngờ bị tổ trác gặp
ngay lúc có đảo chánh, các phi cảng đóng cửa, không có máy
bay để về ngay đơn vị.
ĐIỆP VIÊN 007 HAY JAMENS BOND?
Đầu năm 1956, Chính Cục 521 của Pḥng 6, tức là
Bộ Phận Công Tác (Action) của Quân Khu 1 do Trung Úy Huỳnh
Kim Vu Chỉ Huy. Tiền thân của bộ phận này là GCMA
(groupement des Commandos mixte aéroporté) Biệt Kích Dù Pháp
trong thời trước Genève 1954. Các nhóm này chuyên nhảy dù,
hoạt động ở hậu địch. Điển h́nh có những Toán người Dân tộc
thiểu số Thượng Du Bắc Việt của Đại Úy Lư Seo Nùng, hay nhóm
Thượng Rhé của Đại Úy Đinh Ngô, đă được Pháp huấn luyện tại
Cù Lao Lư Sơn, ngoài khơi Quảng Ngăi, rồi thả dù trở lại
xuống quê hương bản quán (Quận Sơn Hà) để hoạt động hậu
địch. Huỳnh Kim Vu ngày đó đeo huy hiệu dù Pháp to tướng
trên ngực áo. Giờ đây đọc phần cuối trang 244, thấy ông Đính
kể về nhảy dù: ‘’Thực hiện nhảy trong tất cả các điều kiện
ngày, đêm, bất ngờ, mưa gió. Các điều này tôi đă từng thực
hiện trên chiến trường Bắc Việt, nhất là nhẩy sau lưng địch
để thực hiện các công tác thám báo, rồi từ đó len lơi vào
các khu vực bị địch bao vây, thực hiện cuộc phản công hai
mặt, trong đánh ra, ngoài đánh vào như ở các vùng Thái B́nh,
Nam Định mà tôi đă từng phụ trách’’. Tôi không hề nghe bất
cứ ai nói ông Đính xưa kia thuộc GCMA. Đầu năm 1955, gặp ông
tại Tam Quan, tôi chỉ thấy ông tuy rằng rất thích mạo danh
lính Dù, cho có vẻ ngang tàng mà chỉ dám vận cái quần saut
rằn ri của Binh Chủng Dù, nhưng lại kèm theo áo sơ mi kaki
vàng. Theo tiêu chuẩn Pháp, ăn vận quần nọ áo kia, tráo trở
như vậy, bị coi là tenue panachée đấy. Nếu ông từng nhảy dù
thời Pháp rồi, nhất định ông sẽ đeo bằng dù Pháp một cách
danh chính ngôn thuận, như Huỳnh Kim Vu. Bản chất thích le
lói, mà lại áo gấm đi đêm, khước từ đeo bằng dù, th́ cũng là
điều khó hiểu. Ông bịa về vụ 8 sĩ quan Mỹ cùng ông theo học
khóa huấn luyện nhẩy dù do MACV tổ chức, trong 3 tháng, mỗi
ngày từ 4 giờ sáng đến 8 giờ sáng và chiều từ 5 giờ cho đến
tận đêm khuya. Nói như vậy đến chó cũng không nghe nổi. Tôi
phải cố gắng hết mức mới khỏi buộc miệng chửi thề. Quân Đội
Hoa Kỳ có những Trung Tâm đào tạo dù như tại Fort Benning
rất tối tân. Có đủ các loại trợ huấn cụ, quan trọng nhất là
chuồng cu (tức đài nhẩy 33 bộ). Trung Tâm Dù dưới Bà Quẹo
của ta cũng có đài 33 bộ, nhưng không có tháp cao hơn trăm
bộ, rút bốn ṿm dù lên cao rồi thả xuống. Cũng không có quạt
gió thổi tung dù, để tập thao tác: ‘’Tránh dù lôi’’. Tại
miền Nam trước đây, ngoài Trung Tâm Bà Quẹo, kể từ giữa năm
1961, c̣n có Trại Biệt Kích Thủ Đức đào tạo Dù, do CSD thiết
lập, nhưng thiếu đài 33 bộ. Không bao giờ nghe nói có một
Trung Tâm đào tạo Dù nào vào năm 1962 của MACV ở Sài G̣n
cả.
Thời gian tập ở dưới đất (entrainement au sol) thời Pháp c̣n
chiến tranh, phải đào tạo lính dù cấp tốc để bổ xung cho
chiến trường là 7 ngày. Sau này là một tháng. Phải tập nhào
lộn trước, sau, trái, phải. Tập mặc dù, ra cửa, xuống dù,
tránh dù lôi, khám dù, nhảy với đồ trang bị v.v... Tất cả
những thao tác này phải thật lúc thanh thiên bạch nhật, ban
ngày, để Moniteur (Huấn Luyện Viên) có thể trông thấy mà
hướng dẫn, sửa chữa? C̣n đêm khuya, tối như hũ nút, chả lẽ
sờ à? Thế mà ông khoe là trong suốt 3 tháng trường, tối nào
cũng tập từ 5 giờ chiều tới đêm khuya Làm tôi nghĩ nhảm hay
là các ông đi thực tập mỗi đêm ở các băi nhẩy Croix du Sud,
Arc en Ciel hay Mỹ Phụng...? Tôi cũng liên tưởng tới cảnh ồn
ào, tấp nập tại Ngă Ba Chú Ía mỗi buổi sáng, các ‘’thợ bổ’’
lê la bên những sạp quà rong, lục vấn nhau ‘’đêm qua mày
được mấy dù?’’ cũng đều được kêu là dù cả!!!Ông Tướng Quảng
Lạc có vẻ bị ám ảnh nhiều bởi những hồi ức kháng chiến của
Rémy, như là vào năm 1943 tổ chức SAS từ bên Anh đă thả điệp
viên mỗi đêm xuống đất Pháp đang bị Đức Quốc Xă chiếm đóng,
hoặc gương OSS của Patti thả dù Toán Lu Conein xuống Tân
Trào vào đầu năm 1945 để huấn luyện trung đội vơ trang tuyên
truyền đầu tiên của giải phóng quân cho Vơ nguyên Giáp. Các
Toán Lôi Vũ của chúng tôi, thời 61, 62 cũng nhảy đêm xuống
Hạ Lào. Việc chuẩn bị tổ chức hết sức rắc rối, nhiêu kê vô
cùng phức tạp, phải ở trong cuộc mới nói có sách, mắt có
chứng được. Hoạt động về đêm ở ngoài nh́n vô, thấy thật là
lăng mạn, kiểu ‘’điệp viên trong bóng tối’’ Nhưng tập luyện
ban ngày, không phải là hàng trăm đêm như ông đă bốc láo.
Ông phịa không đúng kiểu, chỉ làm tṛ cười cho thiên hạ.
Buổi thao diễn nhảy dù ngày 25. 10. 1962 mới thật là ‘’đại
phịa’’ v́ ông vỗ ngực tự khoe là nhảy điều khiển chỉ có ḿnh
ông đáp đúng trước khán đài, đạt điểm cao tối đa (?), c̣n
các sĩ quan Mỹ, nếu không bị thương th́ cũng đáp lạc băi
hết. Nhắc cho ông nhớ là năm 1962 không phải là năm 2000.
Ngày đó toàn Quân Lực ta may ra có chừng dăm Huấn Luyện Viên
là có thể nhảy dù điều khiển khá chính xác (như Vinh, Lộc,
Cư của Liên Đoàn Dù. Sướng, Kư của Liên Đoàn 77).
Dù ngày đó cũng chỉ mới có B12 là hết mức, chưa có những
loại chữ nhật và h́nh thoi dễ lái gấp bội như ngày nay. Liên
quan tới ông, tôi c̣n nhớ có đọc một bản tin ngắn trên tờ
Chiến Sĩ Cộng Ḥa vào dạo ấy, có h́nh chụp ông đang được Đại
Tướng Tỵ bắt tay, vỗ vai (chắc là sau khi gắn huy hiệu dù
cho ông). Tôi nhớ quang cảnh trống trơn, không thấy khán
đài, Paul Harkins, Lính Dù Mỹ-Việt đâu cả. Có thể là ở băi
nhảy Hóc Môn hoặc Bà Quẹo, v́ khi đó DZ Củ Chi đă mất an
ninh rồi. Cần cho ông biết thêm là đúng vào thời điểm trên,
tôi có được mời ngồi trên khán đài ngay Bến Bạch Đằng, coi
Liên Đoàn Dù nhảy biểu diễn xuống một sàn nổi ở giữa sông,
sát bến đ̣ Thủ Thiêm (bữa đó là h́nh như là ngày kỷ niệm
thành lập Liên Đoàn Dù). T́nh cờ chúng tôi được xếp ngồi
cạnh Ông Bà Đặng Cao Thăng của Hải Quân một người bạn lâu
năm. Ông Đính có thể quên những sự kiện lịch sử 4 chục năm
về trước, nhưng tôi th́ không bao giờ quên được, nhất là
liên quan tới Nhảy Dù. V́ lẽ ở bên chính quốc việc huấn
luyện quy củ hơn, nên Quân Nhân Đồng Minh đều có sẵn bằng dù
Mỹ rồi. Khi tới Việt Nam, ai cũng muốn đeo thêm bằng dù Việt
Nam. Nên họ phải nhảy thêm ít nhất là hai lần nữa với các
Đơn Vị Dù Việt Nam. Suốt năm 1963, tôi đă được mời cùng
nhảy, để rồi tự tay gắn huy hiệu Dù Việt Nam cho Đại Tá
O’Connor, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn IV, cũng như một số đông
mũ nồi xanh thuộc các Trại tại vùng châu thổ Sông Cửu Long.
Cho măi đến tận năm 1965 khi làm việc với CSD ở B́nh Định
tôi c̣n có dịp gắn huy hiệu dù Việt Nam cho một số sĩ quan
của Sư Đoàn Mănh Hổ Đại Hàn, sau khi đă cùng họ nhảy 2
sauts. Gần đây, trong năm 1995, Đại Tá Hải Quân trừ bị Úc
James Devitt có liên lạc yêu cầu tôi xác nhận lại những phần
nhảy cùng với tôi thời 65 khi ông ta c̣n là Đại Úy thuộc Lực
Lượng Đặc Biệt Úc biệt phái tới làm việc với CSD, có tờ xác
nhận này ông mới dễ dàng xin được Bộ Cựu Chiến Binh Úc trợ
cấp y khoa, săn sóc cột sống cho ḿnh suốt đời. Những thí dụ
trên đây cho thấy là các sĩ quan Mỹ không bao giờ học căn
bản nhảy dù tại Việt Nam. Lớp học nhảy dù tại MACV từ tháng
9 đến tháng 11.1962 gồm 9 khóa sinh (8 sĩ quan Mỹ và ông
Đính) là không hề có. Cũng như vụ thao diễn về nhảy dù của
Liên Quân Việt-Mỹ vào ngày 25. 10. 1962 cũng là đại phịa.
NHẬP ĐẢNG CẦN LAO
Trong hàng chục trang (kể từ trang 80 trở đi),
ông Đính kể về tiến tŕnh gia nhập Đảng Cần Lao. Ông kể là
vào một buổi chiều thứ bảy cuối năm 1957, ông đă được diện
kiến ông Ngô Đ́nh Cẩn tại căn nhà Phú Cam. Đúng một tuần
sau, Đại Úy Lê Quang Tung dẫn ông tới Trụ Sở bí mật của Đảng
Cần Lao, để dự lễ tuyên thệ gia nhập đảng. Đó là một biệt
thự nằm gần Trường Thiên Hựu (Providence) Huế. Ông tả là
trên bàn thờ có tượng Chúa Giêsu(?), Quốc Kỳ, Đảng kỳ. Sau
khi chấp nhận ba lời thề, ông trở thành đảng viên và được bổ
sung vào Quân Ủy. Một lúc sau ông Cẩn mới tới bằng xe jeep
màu trắng và chúc ông Đính đă trở thành ‘’người trong nhà’’.
Cuối năm 1956 (tức một năm trước đó). ông Lê Quang Tung đă
đeo lon Trung Tá và vào Sài G̣n thay thế Trung Tá Lê Văn
Lung làm Giám Đốc Nha Tổng Nghiên Huấn Bộ Quốc Pḥng. Trung
Tá Lung giải ngũ, v́ đáo hạn tuổi. Đầu năm 1957, Nha Tổng
Nghiên Huấn giải tán, để thành lập Sở Liên Lạc Phủ Tổng
Thống. Khoảng tháng 3. 1957, Trung Tá Tung đă đi cùng Thiếu
Tá Trần Văn Hổ sang bên Căn Cứ Saipan của CIA học Lớp Mật Vụ
đầu tiên. Vài tháng sau trở về, Trung Tá Tung luôn luôn phải
ngồi túc trực mỗi ngày cạnh máy điện thoại chờ Tổng Thống
gọi đến. Ông Tung không thể thường xuyên có mặt ở Huế và
cũng không c̣n là Đại Úy vào cuối năm 1957, như lời ông Đính
kể trên đây. Do đó những điều ông Đính kể (từ trang 80 trở
đi) không có cơ sở để mà tin cho nổi. Đồng thời lại mâu
thuẫn với những sự kiện cụ thể đă được tŕnh bày chi tiết,
nhất là c̣n khá nhiều nhân chứng, trong tiểu mục 3 (thành
lập Quân Ủy Lê Lợi) ở phần trên. Văn pḥng thường trực của
Quân Ủy, tức Ban 5 trong những năm 56-57, do Trung Tá Nguyễn
Văn Châu, Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư Bộ Quốc Pḥng làm
Trưởng Ban. Trung Úy Đạt phụ trách Văn Pḥng tại Trụ Sở số
72 Phạm Đăng Hưng, Tân Định (Sài G̣n). Kể từ năm 1958, Trụ
Sở 72 Phạm Đăng Hưng được dẹp bỏ và Ban 5 di chuyển vào làm
việc chung cùng Trụ Sở với Chính Cục Phan Tây Hồ (cơ sở đảng
tại Phân Khu Thủ Đô). Đây là một căn pḥng lớn trên lầu ṭa
nhà sát cổng sau Đường Nguyễn Du của Dinh Độc Lập. Trung Tá
Lê Quang Tung cũng thay thế Châu làm Trưởng Ban 5 và đặt
Thiếu Úy Ngạc thay Đạt làm ở văn pḥng thường trực. Tuy rằng
mang tiếng là Quân Ủy Lê Lợi, nhưng cả hai ông Bí Thư và Phó
Bí Thư (Lê Văn Nghiêm, Tôn Thất Xứng) không hề lai văng tới
Trụ Sở. Kể từ năm 1958 trở đi, điều hành mọi công việc liên
quan tới đảng trong Quân Đội là Lê Quang Tung. Tung là người
của ông Cẩn tiến cử vào phục vụ cho Tổng Thống từ cuối năm
1956. Tại Sài G̣n, Ban 5 lại trực tiếp báo cáo và nhận chỉ
thị từ ông Nhu. Tuy rằng 2 anh em ông Nhu và Cẩn đôi lúc có
những ư kiến mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng Tung với bản chất
điền đạm của một thầy tu xuất, đă cố gắng dung ḥa, chiều
chuộng được cả hai.
ĐEM TRỨNG GIAO CHO ÁC
Kể từ đầu năm 1963, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc
Biệt Việt Nam được thành lập, nhưng trực thuộc Bộ Tổng Tham
Mưu trở thành một đơn vị chính quy, ra hoạt động công khai.
Không c̣n là một cơ quan mật, trực thuộc Phủ Tổng Thống như
những năm trước nữa. Ông Đính cũng đă khôn khéo đề nghị Tổng
Thống cho ông Tung được mang cấp bậc Đại Tá. Ông lại khéo
léo, nhân có chuyện trở về Huế dẫn ông Tung đeo lon mới tới
tŕnh diện ông Cẩn. Mang ơn ông Đính, ông Tung đă để ông
Đính khống chế mọi mặt, chính quyền cũng như đảng. Kể từ
giữa năm 1961, khi thành lập Hành Quân Lôi Vũ, hàng ngàn
Quân Nhân đă được đào tạo về nhảy dù tại Trại Biệt Kích Thủ
Đức. Nhưng cuối trang 52 của cuốn Special at War tác giả
Shelby L. Stanton, Nhà xuất bản Howell Press lại có ảnh
chụp tấm bằng nhảy dù Việt Nam do Đại Tá Cao Văn Viên kư vào
đầu năm 63, cấp phát cho Col Morton, Tư Lệnh Liên Đoàn 5 mũ
nồi xanh (5th Group USSF), chắc là sau khi Colonel Morton đă
nhảy hai sauts cùng Liên Đoàn Dù Colonel Morton khi đó là Cố
Vấn (counterpart) cho Đại Tá Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc
Biệt Việt Nam. Sự kiện này tuy nhỏ, nhưng đă chứng tỏ là mũ
nồi xanh đă coi như không có ông Tung, mặc sức tự tung tự
tác. Hàng ngày Colonel Morton sử dụng trực thăng chỉ huy bay
tới khắp các Trại trên toàn miền Nam, để ban những chỉ thị
trực tiếp, mà không có sự thảo luận cùng ông Tung. Mũ nồi
xanh Mỹ lại trực tiếp trả lương cho số Dân Sự Chiến Đấu tại
các Trại ‘’Qui paie, gouverne’’ (ai chi tiền, th́ nắm quyền
chỉ huy). Hơn nữa, ai cũng rơ ông Tung chỉ là loại quan văn,
không nhảy dù, không quen bay mỗi ngày.
Ông cũng không muốn rời văn pḥng, sợ mất đi sự kiểm soát hệ
thống đảng, cái khâu cuối cùng để ông vẫn c̣n bấu víu được
với lănh đạo. Với chính sách can thiệp của Mỹ, các Trại Lực
Lượng Đặc Biệt được thành lập cấp tốc, thu hút gần hai chục
Toán Lôi Vũ (đây là lực lượng chủ công, tinh nhuệ nhất của
Sở Khai Thác Địa H́nh trước đây, v́ các Toán viên nguyên lai
là ở Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đội Quan Sát). Hầu hết số
quân nhân các cấp thuộc Sở Khái Thác Địa H́nh cũ, cũng như
số đông sĩ quan được lấy về sau này, đều được phép mang bằng
dù danh dự, v́ chưa từng nhảy dù bao giờ. Không nói ra công
khai, nhưng bọn mũ nồi xanh Mỹ bắt đầu lấn lướt phía Việt
Nam cũng là điều không thể tránh khỏi. Mang sẵn niềm tự hào:
‘’Fighting soldiers from the sky. Fearless men who jump and
die!’’ vẫn được hát vang mỗi ngày, qua hành khúc ‘’The
ballad of the Green Berets’’, mũ nồi xanh khinh thường coi
Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam là LLDB= Little Lousy Dirty Bugs
(loài chấy rận nhỏ bé bẩn thỉu). C̣n lại độc nhất 4 Đại Đội
Biệt Kích Dù, th́ nay cũng giảm khả năng tác chiến rất
nhiều, v́ đă bị pha trộn bởi số Quân Nhân của pḥng 55 trước
đây. Có Đại Đội lại do các Sĩ Quan Bộ Binh, không phải là
Nhảy Dù chỉ huy. Kể từ đầu năm 1963, các Đại Đội này không
hề nhảy dù nữa. Mặc dầu vậy, nhưng Trung Tướng Tôn Thất Đính
với tư cách là Tư Lệnh Quân Đoàn III và Tổng Trấn Đô Thành
cũng đă đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu phân tán được 4 Đại Đội
Biệt Kích Dù đi các nơi, trước khi có cuộc đảo chánh
1.11.1963. Trong ngày chính biến, Lực Lượng Đặc Biệt Việt
Nam coi như sạch bách, không c̣n một lực lượng tác chiến nào
dự trữ tại Thủ Đô.
GIEO GIÓ, GẠT BĂO
Trong trang 418, ông Đính có kể về cuộc họp báo
tại Ṭa Đô Chánh vào đầu tháng 9.1963 để giải thích lư do
Ṭa Tổng Trấn Đô Thành đă phải thực hiện vụ đánh phá các
Chùa chiền. Vụ này đă được đăng trên nhật báo tiếng Pháp
‘’Le Journal d'Extrème Orient’’. Nghe nói sau vụ này, ông
Nhu đă cằn nhằn:‘’Sao không trả lời bằng tiếng Việt, để bọn
Thông dịch viên nó dịch lại cho, lại nói tiếng Tây bồi?’’
Dám có vụ này lắm, v́ ông Đính bị bọn phóng viên Tây xoay
tơi bời, để đến nỗi Tướng Đôn phải đề nghị xin ông Nhu cho
ông Đính lên Đà Lạt nghỉ ít bữa, e rằng bị mắc bệnh thần
kinh (trích trang 424). Tôi chợt nhớ tới vụ CNN phỏng vấn
Tổng Thống Nga Putin trong tháng trước. Larry King đặt câu
hỏi bằng tiếng Anh. Người thông ngôn dịch sang tiếng Nga và
Putin trả lời ngay bằng tiếng Nga. Anh thông ngôn rất giỏi,
dịch song song trong khi Putin nói. Tôi th́ nghĩ Putin hiểu
tiếng Anh, nhưng có thể nói khó khăn, không được lưu loát.
Cho nên ông ta rất khôn khéo, để có th́ giờ nghĩ ngợi chuẩn
bị câu trả lời, trong khi người thông ngôn dịch câu hỏi.
Không ai có thể trách cứ ông Putin, khi ông không nói tiếng
Anh mà chỉ nói tiếng mẹ đẻ. Cũng như mấy anh Tây không thể
trách cứ ông Đính, nếu ông dùng tiếng Việt để trả lời cuộc
họp báo vào đầu tháng 9.1963 tại Ṭa Đô Chính Sài G̣n. Chắc
là bữa đó ông phải bù đầu nát óc để t́m Sujiet, verbe...th́
c̣n tâm trí đâu mà giải thích lưu loát những câu hỏi móc máy
của bọn phóng viên ma đầu Tây? Và đôi lúc lỡ chen tiếng Tây
bồi vào cũng là chuyện thường t́nh dễ hiểu, v́ tiếng Tây đâu
có phải là tiếng mẹ đẻ của ông?
Ngay trong tuần lễ đầu của tháng 11.1963 hai Trung Tướng
Trần Văn Đôn và Tôn Thất Đính đă ra dạo chơi Công Trường Lam
Sơn và được nhân dân (chắc là Phật Giáo Ấn Quang và Hội đồng
nhân dân cứu quốc) công kênh lên như những bậc anh hùng của
cuộc đảo chánh 1.11.1963. Nhưng hào quang vừa mới lóe sáng
đă bị dập tắt ngay, sau ba tháng phù du say men chiến thắng.
Bữa 1.2.1964, Tướng Nguyễn Khánh từ Pleiku lén về Thủ Đô
thực hiện thành công cuộc chỉnh lư và ông Đính và các Tướng
trung lập khác bị hốt trọn. Ông Đính bị đưa lên biệt giam,
kế đó là bị gạt ra khỏi Quân Đội. Trong suốt cuốn hồi kư
‘’20 năm binh nghiệp’’, ông Đính có vẻ cay cú, oán hận ông
Khánh nhiều. Sao ông không chịu khó phân tách, để thấy là
do lệnh của các thái thú Cabot Lodge hoặc Maxwell Taylor?
Cũng giống như là vào những ngày cuối tháng 10.1963, ông và
ông Đôn đă nhận lệnh của Lu Conein vậy. Sau này ông cạy cục
để được đắc cử Thượng Nghị Sĩ trong liên danh Hoa Sen. Làm
Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Pḥng Thượng Viện. Ai cũng rơ là một
khi mà bộ máy chiến tranh hoàn toàn do Hoa Kỳ lănh đạo, th́
những chức vụ trên đây có vẻ hoa lá cành, trang trí tương tự
như những chức huyện hàm, hoặc hàn lâm đăi chiếu (giải chiếu
cho Vua) của thời phong kiến vậy. Có nghe lúc này ông kiêm
Chủ Nhiệm nhật báo Công Luận, vẫn c̣n hách x́ xằng, c̣n giữ
cây gậy chỉ huy (bâton de commandement). Có bữa quá nóng
giận, mất khôn ông tưởng đâu vẫn c̣n làm Tướng nên đă dùng
gậy chỉ huy khỏ lên đầu anh Quản Lư, không ngờ bị anh ta
giằng được gậy đánh lại. (Vũ Đạo Doanh đă xác nhận lại vụ
này trong năm 1968 tại căn 00 10 Cư Xá Sĩ Quan Chí Ḥa Sài
G̣n). Cũng nghe nói là ngày di tản, khi tới Guam, lúc nào
ông cũng đóng kịch, giả vờ điên khùng ngớ ngẩn, để gợi ḷng
thương xót và luôn luôn lo sợ gặp thứ lính dữ, họ sẽ cáp
duồn, hay ít nhất cũng tẩm quất cho một trận, v́ những người
như ông mà nên nỗi này, phải nước mất nhà tan, xẩy đàn tan
nghé. Ông Nguyễn Linh Chiêu, Tùy Viên Quân Sự tại Washington
trước khi sập tiệm, có vẻ tội nghiệp bào chữa cho ông. Kể
lại là ông rất ăn năn hối hận xám hối. Từng thú nhận (khi
c̣n là Thượng Nghị Sĩ ngày sang thăm Mỹ) thật là một lỗi lầm
lớn nhất trong đời ông, khi đă trót tham dự vào vụ tạo phản
ông Diệm.
CỌP CHẾT ĐỂ DA
Tháng trước đây có nghe Tướng Mai Hữu Xuân vừa
qua đời âm thầm tại miền Đông. Ông được biết đến nhiều, khi
đă thực hiện thành công vụ thảm sát 2 anh em nhà Ngô. Hoàn
thành mỹ măn nhiệm vụ, ông trở về đứng nghiêm chào, báo cáo
cùng ông Minh Dương: ‘’Mission accomplie!’’ Đời sống của
những bậc già lăo gần đất xa trời ở miền đất tạm dung này
thật là cô đơn. Không lái được xe, cả ngày ru rú ở trong căn
chung cư mà con cháu đă mướn cho để ở. Năm th́ mười họa mới
có con cháu, người quen kẻ thuộc tới thăm viếng, chuyện
tṛ. Nghe đâu ông cựu Tướng nhà t́nh báo lỗi lạc một thời đă
chết và măi hàng tuần sau xóm giềng, thân quyến mới khám phá
ra. Tại miền Nam trước đây lúc người Pháp ra đi sau Hiệp
định Genève 54 chỉ có 4 bậc đại thụ coi như có đẳng cấp cao
nhất trong ngành An Ninh T́nh Báo là Kiểm Tra Công An
(contrôleur des Suretés). Dưới thấp nhất là inspecteur (Thẩm
Sát Viên), rồi đến rédacteur (Biên Tập Viên), kế nữa là
commissaire (Quận Trưởng), trên cùng mới là controleur. Bốn
ông này là Mai Hữu Xuân, Tôn Ngọc Chắc, Trần Bá Thành và ông
(tôi quên mất tên) làm Trưởng Ty Cảnh Sát Công An Khánh Hội
vào năm 1956. Ông Mai Hữu Xuân c̣n là Giám Đốc An Ninh Quân
Đội ngay thời 55 và đă chứng tỏ hết sức hữu hiệu trong suốt
thời kỳ B́nh Xuyên gây hấn tại Đô Thành. Ngày đó An Ninh
Quân Đội có Tiểu Đoàn 530 và Pḥng 6 có Tiểu Đoàn 431. Đây
là 2 Tiểu Đoàn hết sức đặc biệt, v́ bao gồm các tay phiêu
lưu quốc tế, những thông tín viên, mật hộ viên, băng đảng du
đăng, mă thầu dậu, anh chị đâm thuê chém mướn, dân đứng bến
v.v...Một khi mà kiểm soát được đừng để họ đi quá trớn th́
lực lượng trên đây đúng là khắc tinh của cái xă hội đen, cặn
bă (les bas fonds de la ville), mà bất cứ Đô Thị nào trên
khắp thế giới cũng có. Nhưng chủ trương này không được tán
đồng dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, đặt nặng trên căn bản đạo
đức. Hơn nữa, ông Diệm lại rất nghi ngờ những thành phần an
ninh mật vụ do Pháp đào tạo và để lại. Nên ông Xuân bị cất
chức An Ninh Quân Đội (mà không hề cho biết lư do) và điều
sang miền Đông chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu, chuyên đi
truy kích các đảng cướp bời lời, rừng xanh ăn hàng dọc theo
Quốc Lộ 13. Kế tiếp là về Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện Quang
Trung (Quán Tre) một cương vị không mấy quan trọng trong
thời chiến tranh chưa leo thang. Giấc mơ của ông Xuân là chỉ
huy ngành Mật Vụ (như nhiệm vụ của ông Tung hay là của Bác
Sĩ Tuyến sau này) bị tan thành mây khói.
Ông Mai Hữu Xuân cho là ông Diệm kỳ thị, bất công, nên nén
căm hờn suốt 7-8 năm, chờ thời cơ thuận tiện vào ngày
2.11.63 mới hạ chiêu độc thủ. Nếu động cơ dẫn đến việc tham
gia đảo chánh 1.11.1963 để giết ông Diệm của ông Mai Hữu
Xuân là có thể hiểu được, th́ sự tham dự của hai ông Tôn
Thất Đính và Đỗ Mậu hai đảng viên Cần Lao đă từng huyết thệ,
thề trung thành với đảng và Ngô lănh tụ trong Đại Hội Quân
Ủy Lê Lợi cuối năm 1955 tại Nha Trang là hết sức phi lư, vô
luân, vô đạo, phản trắc. Tháng trước có nghe tin ông Đỗ Mậu
trở về thăm viếng Việt Nam, đă ngồi trên xe lăn lên đài
truyền h́nh Hà Nội trả lời phỏng vấn để ca tụng chế độ xă
nghĩa. Cuốn sách ‘’Việt Nam máu lửa quê hương tôi’’ đă được
bày bán ở Sài G̣n ngay từ năm 1995. Không thể lấy bút mực
nào mà ghi cho hết những hành vi phản bội này. Đành phải
mượn tạm một bài thơ đă từng được báo Văn Nghệ Tiền Phong
đăng tải:
Tướng tài vơ lạy
‘’Lạy Trung Tá xin tha mạng sống’’
Trả lời đi có đúng hay không?
Hay là lời nói trôi sông.
Khẩu từ vô chứng lạy xong chối dài.
‘’Sinh vi tướng’’ tường tài vơ lạy.
Năm sáu ba vơ ấy dở ra,
Làm cho tan cửa nát nhà.
Đất bằng bỗng nổi phong ba ngất trời.
Quân cẩu tặc, mặt người dạ thú
Sách in ra ‘’mợ nó’’nhục lây
Cháu con nội ngoại một bầy.
Ngàn năm bia miệng lỗi này tại ai?
Bài thơ này do Trung Tá Phúc làm khi thấy cuốn sách ‘’Việt
Nam máu lửa quê hương tôi’’ được xuất bản. Ông cho biết định
bắn chết Đỗ Mậu khi lên tầu nhỏ. Đỗ Mậu phải quỳ xuống chấp
tay lạy ông, mới được toàn mạng. Đỗ Mậu huênh hoang tự khoe
trong cuốn sách ‘’Việt Nam máu lửa quê hương tôi’’là mạng
‘’sinh vi tướng tử vi thần’’ Kể từ ngày chính thể hợp pháp,
hợp hiến Đệ Nhất Cộng Ḥa cáo chung, không ai xa lạ ǵ với
những vụ lon cách mạng, lon lèo lon phường chèo. Ngay như
một tên lơ xe đ̣ cũng được tấn phong ngang xương là Đại Tá
Thanh Tùng, th́ có nghĩa lư ǵ cái lon tướng cách mạng? c̣n
thần, thần nào? Thần ngành nanh đỏ mỏ, hay là thần ông b́nh
vôi ở gốc cây đa trước đ́nh miếu? Tục truyền rằng những kẻ
phản trắc quá ác nhân ác đức, mà chết lại gặp giờ trùng, th́
khó có thể siêu thoát, trở thành cô hồn. Ở quê hương ta,
cúng cô hồn vào rằm tháng bảy, cúng cháo lá đa (cháo nấu đặc
đựng trong các bù đài uốn tṛn bằng lá đa xếp đầy mâm):
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh lẽo xương khô
Năo người thay buổi chiều thu
Ngàn lau nhuộm bạc, lá ngô nhuộm vàng...
Văn tế Cô hồn của Cụ Nguyễn Du
Trên đất Mỹ này cúng cô hồn lại được tổ chức vào ngày đầu
tháng 11. Không cúng bằng cháo lú mà cúng bằng kẹo bánh.
Trong ngày lễ Halloween các nhà phải chuẩn bị sẵn kẹo để
phân phát khi các cô hồn (hóa trang ma, qủy, tiên nữ, phù
thủy, thần chết) lũ lượt tới xin. Nếu không cho, chúng sẽ
lật sấp những thùng rác. Bữa sau ngày lễ Halloween là lễ cầu
hồn (Fête des Morts) vào sáng ngày 2.11. Cũng lại là ngày
giỗ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Bào Đệ Ngô Đ́nh Nhu. Cái mốc
để ghi nhớ và khó có thể quên được bàn tay vấy máu lănh tụ
của tên phản bội, phản đảng Hoành Linh.
Mùa Biển Động, Trọng Thu Canh Th́n
Trần Khắc Kính.
Incident of Buddhist flag
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals
(1)
This article dealing with a historical issue which is based
mainly on some Vietnamese books that display at least 3
perspectives compared with the common theme from at least 6
foreing books (1) The New Face of Buddha by Jerrold
Schecter, (2) Vietnam: A Political History by Joseph
Buttinger, (3) The Lost Revolution by Robert Shaplen, (4)
Vietnam: A History by Stanley Karnow, (5) The Making of a
Quagmire by David Halberstam, (6) Background to Betrayal by
Hilaire du Berrier are based on the common report of Dr.
Wuff and a German doctor saying generally that Eyewitnesses
and photographs taken by Dr. Eric Wuff and another German
doctor on the streets of Hue and in the city morgue
indicated that the people were killed by shellfire or
crushed by the threads of the armored cars.
I. The 1 st version :
There's a Vietnamese book entitled ‘’The Struggle of the
Vietnam Buddhism : from the Celebration of the Birthday of
Buddha’’ (Công cuộc tranh đấu của Phật Giáo Việt Nam : Từ
Phật Đản đến Cách Mạng) by Quốc Tuệ, published in 1964 in
Vietnam and republished in 1987 by Pagoda Khanh An (Khánh
An), 14 avenue Henri Barbusse, 92220 Bagneux, Paris,
France. In chapter I, author brings forward reasons for the
struggle, one of which is about the tyranny of Ngô Đ́nh Cẩn,
Mr Diệm's brother. One hardly agrees with some of cited
reasons and skewed viewpoints about the political situation
in South VN after 1954. For example, Mr Quoc Tue said that
after 1954, South Vietnam (Nam Việt Nam) was divided into
two regions : Nouth Vietnam (Bắc Việt Nam), under the
communist regime, South Vietnam, under the patronage of the
French. From 1955, the French withdrew from Vietnam leaving
South Vietnam in a state of total independence due to
pressure from the U. S. Moreover, he admits that Ven. Thích
Trí Quang is one of the core leaders of this struggle. As
one recognizes later, after 1963, Ven. Thích Trí Quang was
indeed an untrustworthy, opportunist and extremist monk
taking advantage of his followers for his political purpose
and political agenda (‘’Peace and Neutrality’’ which later
coincides with ‘’Concord and Reconciliation Campaign’’ of
the National Front of Liberation of South Vietnam (mặt trận
giải phóng miền nam) contemplated by the Central Vietnam
Buddhist group Ấn Quang Sect.
In chapter II, author talks about the beginning of the
‘’open oppression’’ of Mr Diệm's government and the reaction
of the Buddhists in Hue. According to him, while the
Buddhists in Hue are celebrating the Buddha's birthday and
the streets are decked with international Buddhist flags
everywhere, suddenly at 8 pm of 6.5.1963, a telegram from
the presidential office informs banning the display of the
Buddhist flag. The news causes immediate reaction from all
Buddhists in this old imperial city. On 7.5.1963, the
members of the General Association of Vietnam Buddhism (Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam) like Ven. Thích Mật Nguyên, Thích
Trí Quang, Thích Mật Hiền, Thích Thiện Siêu go to meet the
localauthority and send a message to Saigon to object the
order. At 2 pm of the same day, the authority confiscates
all the Buddhist flags. This gesture rouses indignation
which the Buddhists must bury inside for a long time and now
this is the opportunity for them to show it. It is also the
starting for the struggle to spread to Saigon and all over
the country (the truth is there are very
few struggles of this kind in the South, from Saigon to
Camau).
In the morning of 8.5.1963, Buddhists gathered at the
pagoda Dieu De (Diệu Đế) to welcome the statue of Buddha and
carry it to the pagoda of Tu Dam (Từ Đàm) where the stadium
for celebration is located. The welcoming group is stopped
in many places because some Buddhists on both sides of the
streets display the banners to express their aspirations.
This is not agreed upon by Ven. Thích Mật Hiền and Thích Trí
Quang, head and vice-head of the committee organizing the
Buddha's birthday celebration. The two monks tell the crowd
to be calm and wait for the better understanding from the
local authority and the central government. The two order
people to take away the banners. Then, the welcoming
delegation continues the trip as normal. However, these
Buddhists ignore the order and display their banners
expressing :
- Welcoming the Buddha's birthday.
- The Buddhist followers unanimously protect the just
Buddhism (chánh pháp) and sacrifice themselves if
necessary.
- The international Buddhist flag can't be brought down.
- The Buddhist followers only support the policy of equality
in religion.
- Request for equality in religion.
- It's time for us to struggle for the contention of
equality in religion. We won't refuse any sacrifice.
- Objection of the dishonest and wicked policy (phản đối
chính sách bất công gian ác).
When the crowd arrive at Từ Đàm Pagoda, Ven. Thích Đôn Hậu
goes to the stadium and requests Ven. Thích Trí Quang to
explain the reason for the celebration.
Under the presence of the local authority, Ven. Thích Trí
Quang expresses his ideas that the Buddhist aspirations are
just and constructive, they would help the government and
other religions. He promises to submit these aspirations to
the government.
Then, according to the radio station, the celebration is
recorded into tapes and will be broadcasted at 8h5 pm on the
same day. Because of this, a Buddhist crowd gather before
the station to listen to the tapes. To their surprise, they
only hear songs not related at all to the celebration. This
happens to Buddhists who stay home to wait before their
radios. They leave home and go to the station to ask what
happened. Then, the crowd of Buddhists become more abundant.
At 8h15 pm, the crowd accumulate up to around 10,000
persons. Director of the station, Ngo Ganh, is questioned.
Meanwhile, Major Đặng Sỹ brought the regular military,
Security, Police and fire fighters to encircle the crowd.
Then, Ven. Thích Trí Quang also comes and asks the reason
why the tapes are not played. Ngo Ganh says that the
authority did not permit it. Knowing that, the Buddhists
become angry and protest. The fire engines are ordered to
stop the protest. Some protesters react by throwing stones
to the fire cruise. Mr Đặng Sỹ orders fire into the crowd.
Then gun-fire starts and grenades are thrown into the crowd.
There are many Buddhists falling down and others running
away.
The clash resuts in 14 injured and 9 dead. Some youths among
the dead are rolled over by the amored cars. After the
incident, in the morning of 9.5.1963, the army are mobilized
to Huế and the streets are blocked by armored cars. But, at
9 am, Buddhists go out to streets protesting and decide to
die if necessary. The mayor of Hue asks Ven. Thích Trí
Quang to disperse the crowd. They obey Ven. Thích Trí Quang
when he says "Disperse and be ready to wait for my order to
call you back"...
The list of 8 of nine dead :
Nguyễn Thị Ngọc Lan: 12 years old, female
Huyền tôn nữ Tuyết Hoa: 12, female
Dương Văn Đạt: 13, male
Đặng Văn Công: 13, male
Nguyễn Thị Phúc: 15, female
Lê Thị Kim Anh: 17, female
Trần Thị Phước Trị : 17, female
Nguyễn Thị Yến: 20, female...
II. The 2nd version :
There must be a hidden confrontation of Buddhists in Huế
under the leadership of Ven. Thích Đôn Hậu through Ven.
Thích Trí Quang, head of the Central Vietnam Buddhist
Association (Hội Trưởng Hội Phật Giáo Trung Phần, Ấn Quang
was not born yet at the time).
They wanted to topple Ngô Đ́nh Cẩn, Mr Diệm's younger
brother, whom people often called ‘’the tyrant of the
Central Vietnam’’.
There must be việt cộng intrusion in the crowd of Buddhists
or some instigators who would like to take advantage of the
gathering. If not so, there wasn't any tragedy. This event +
resentment + skill of Ven. Thích Trí Quang made the flame
explode although the government had tried to calm it down.
At the time, the Buddhist crowd (around 10,000 persons) were
gathering at the Radio Station to listen to earlier recorded
broadcasting of the celebration of the birth of Buddha.
Some sources said that the broadcast was cancelled, then the
Buddhists asked why, but the director said that the
government ordered so (!). Another source said that Ven.
Thích Trí Quang, taking this opportunity, delivered a list
of demands recorded in a tape and told the director of the
station to broadcast it, but the latter refused. When the
matter was going on that way, a few among the crowd would
like to take this opportunity to transform this event into a
protest. Then suddenly, there were some loudspeakers in some
corners echoing with requests of the government to respect
the freedom of religion and appeals to Buddhists to be ready
in sacrificing themselves to struggle until the last drop of
blood to protect Buddhism.
The director of the Hue Radio Station, Mr Ngo Ganh, became
panicked and could not control himself. He phoned the head
of province for help and requested to have men to protect
the station. Major Đặng Sỹ, vice-head of the province in
charge of internal security concurrently head of military
quarter of Thừa Thiên, mobilized soldiers and police, amored
cars and fire-engine cruise to protect the station. However,
these men could not enter the station through 10.000 excited
people and intentionally became a force to encircle the
Buddhists.
Major Đặng Sỹ used loudspeaker to appeal the Buddhists to be
calm and he warned that soldiers had order to shoot whoever
makes riot, it might be that he just intended to maintain
order and security for the city Huế. His first goal was not
to let the crowd destroy the public property which he got
the duty to protect. He couldn't imagine that his words made
him fall into trap of instigators (not all Buddhists were
opportunists for their using religion for political
purpose). After his orders were announced, some
‘’instigators’’ with big stones already armed threw into the
force yelling to excite the rest and going forward towards
Đặng Sỹ's men. The hydrant cars used water to stop and
disperse them. Then, suddenly came the explosion. Then the
firings. Đặng Sỹ's men and also Buddhists were all in
extreme panic. People run in all directions. Weak persons
were trampeded by the stronger.
The aftermath was 9 people dead and 14 injured. The news
were broadcasted all over the world and Mr Diệm's regime was
trembled to its root. Some sources said that almost dead
victims were decapitated and possibly it was the result of
explosion which could be used by vietcong commando, CIA or
Nhu's Special Force trained by CIA. As said, none of the
victims were shot because Đặng Sỹ's did direct his gun to
the sky with some firings to discard the crowd. There was no
reason to shoot at the crowd and use armored cars to run
over, if that was the case the death toll must be very
high.
However, this death toll disappointed communists who
expected there must be at least an amount of more than
hundred dead. On the next day, Nguyễn hữu Thọ, chairman of
the national front of liberation of South Vietnam, sent a
telegram to U. N. calling for help and accused Mr Diệm's
regime to oppress Buddhism, killing Buddhists who were
against Catholics organizing ‘’Religious war’’ to get
superiority. He accused that Đặng Sỹ, a Catholic, received
directly order from Ngô Đ́nh Cẩn and Cẩn, in turn, got order
from Mr Diệm in Saigon.
All foreign reporters were excited by the incident and by
the way did not like Mr Diệm whom they accused of
dictatorship, family despotism and corruption. They competed
with each other to explore at utmost and made Mr Diệm regime
hard to explain whether or not his government really
intended to do that. If he intentionally oppressed the
Buddhists, his government did ban any gathering which could
lead to any demonstration. It's obvious that the government
did not think that this reasonable gathering could turn to a
tragedy.
3. The 3rd version :
‘’Công và Tội: Những Sự Thật Lịch Sử?’’ (Credit and Sin:
Historic Truths, 1991) by Nguyễn Tran says that the Buddhist
event happens when its author is still in Washington where
he follows the report from the American press and
televisions generally as follows:
‘’On 6/5/1963, two days before the celebration day of
Buddha's birthday, the government of Mr Ngô Đ́nh Diệm sends
a circular nationwide to ban displaying the Buddhist flag in
public. The lowering these flags makes Buddhists resented
and as a result, they go for a protest. In the night of
8.5.1963, when Buddhists show demonstration at the radio
station of Huế requesting rebroadcasting the celebration,
the authority brings armored cars and the military who throw
grenades to disperse the crowd, causing the death for 9
persons and injury for many people. ’’
Major Đặng Sỹ, vice-head of the province in charge of the
security declares that he brings in the armored cars M-113
to protect the station and never orders to throw grenades to
the crowd. The explosion causing deaths belongs to a plastic
explosive which is only used by the vietcong commando, the
South Vietnam army do not use that kind of explosive.
However, the Buddhists still maintain that the government
intentionally oppresses Buddhists, and force the government
to take responsibility, apologize and compensate for the
victims' families. Next is the self-immolation of Ven. Thích
Quảng Đức, 73 years old, who pours gasoline onto his body
and burns himself to death at an intersection of Saigon. The
picture of self-immolation makes Nguyễn Tran surprised. When
the American opinion and the world are thoroughly excited,
Mrs. Nhu (a former Buddhist) attacked the self-immolation
and called it a barbecue with foreign gasoline.
Returning to Saigon, Nguyễn Tran doesn't know more than what
has been reported by the press. The news says that Ven.
Thích Tịnh Khiết and his delegation arrive in Saigon to meet
Mr Ngô Đ́nh Diệm to request for his reviewing the royal
decree 10 stipulated by the emperor Bảo Đại under the French
colonialism. This decree classified the Buddhist
organization as an association. The delegation wants
Buddhism to enjoy the equality as Catholicism, freedom to
display the flag and a stop to arrest and terrorism of
Buddhists in order that they are free to propagate and
practice
Buddhism. It asks the government to compensate
satisfactorily for the victims' families.
After a 3 day discussion, Mr Diệm's government and the
Buddhist delegation agree on the issues as follow :
- The international Buddhist flag can be hung on the
streets, but next to the bigger national flag.
- The formation of a committee of inter-ministries and
inter-religions to investigate the incident. The goverment
will punish culprits.
- The government will subsidize for the victim's families.
- Assembly in pagodas will be possible without permission
from the authority. The government will only check generally
documents related to pagoda's activities, its schools...
- The National Assembly will study a status for
Buddhism.
Ven. Thích Tịnh Khiết sends a thanking letter to the
government and at the same time calls his monks to go back
to normal, respect the national law, obey directives of the
Buddhist General Association (Tổng Hội Phật Giáo). He also
declares the end of the struggle.
President Diệm broadcasts an appeal to the public
resquesting them to be calm and trusting his solving the
problem.
When the reconciliation is in good progress, Mrs. Nhu
objects the conciliatory approach of Mr Diệm and accuses the
monks of not real devout persons through an announcement.
According to suggestion of the Information Minister Nguyễn
Đ́nh Thuần, Mr Diệm has more than 3 times to neglect
publishing that announcement, but at last he must yield it
somehow and says that if it must be done, it would be
published in a narrow scope. However, the announcement in
English is put on ‘’the Time of Vietnam’’, ‘’Journal
d'Extreme Orient’’ and on Vietnamese newspapers with
Vietnamese version.
Then, the Buddhist delegation accuses the government of
lacking sincerity and organizes the self-immolation of Ven.
Thích Quảng Đức. Meanwhile, Mr Diệm is attending the requiem
for the pope Jean 23rd at the basilica of Saigon with his
staff, head of the National Assembly and diplomatic corps.
Informed by minister Bùi Văn Lương about the
self-immolation, Mr Diệm becomes stupefied and says, ‘’Why
did they have to do that ?’’. In that afternoon, he releases
an appeal saying ‘’When the reconcilation is in good
progress, this morning, the radicals, hiding the truth and
causing suspicion about the goodwill of the government,
strive to toxicate some people and let one person die. This
makes me suffered. ’’
In August, many self-immolations occur: Duc Phong
self-immolates on 4.8.1963, student Mai Tuyết Anh cut her
hand as a gesture of offering to Buddha at the pagoda Xá Lợi
on 12.8.1963, Diệu Nử self-immolates at Ḥn Khói, Nha Trang,
nun Tieu Diệu, 71 years old, self-immolates at the Từ Đàm
pagoda in Huế, and senior nun Diệu Không, mother of
Ambassador Bửu Hội, warns to do the same in Huế.
With too many accumulated happenings and worryings in his
mind, Nguyễn Tran doesn't know how to express his Catholic
viewpoints to support for the Buddhists. Then the police and
the Special Force attack the Xá Lợi pagoda and some other
temples in Saigon, Huế, Đà Nẵng v.v...There is the news
that 1.000 monks are arrested. The monks ask Buddhists to
protect pagodas using sticks and stones against the
attacking forces for 8 hours.
Mr Diệm convenes a meeting of ministers and announces the
curfew nationwide. The military are assigned to check
households and arrest people who disturb the national
security, ban assembly, censor the press...The offences
will be under the jurisdiction of the military court.
General Trần Văn Đôn is appointed as Commander-in-chief
replacing General Lê Văn Tỵ. General Tôn Thất Đính is in
charge of the military area of Saigon-Cho Lon.
Foreign minister Vũ Văn Mẫu shaves his head to object the
measures and then resigns, however he just got permission
to take a 5-month leave to make a pilgrimage to India.
Vietnam's ambassador in Washington, Trần Văn Chương, Mrs.
Nhu's father, having telegramed an objection message, is
discharged from the office. Mr Do Van Ly is appointed to
replace Mr Chương, but the U. S. State Department delays
his presenting credential. This action means that the State
Department opposes Mr Diệm. Mrs. Trần Văn Chương, Vietnam's
representative at U. N. resigns. However, Nguyễn Tran knows
later that Mr and Mrs. Trần Văn Chương just only support Mr
Diệm when the latter is in success, but when Mr Diệm is in
difficult time, the couple change heart. They don't only
oppose Mr Diệm, but collaborate with the U. S. officials
against Mr Diệm. Mr Chương accuses Mr Diệm of killing series
of Buddhists and spreading terror nationwide. He even comes
to Mr Lansdale's residence to tell the latter to overthrow
Mr Diệm. When Father Cao Văn Luận comes to Washington, Mr
Chương leads him to see American officials and politicians
opposing Mr Diệm.
There is the news that Mrs. Nhu tells the police and Special
Force not to arrest monks in yellow dress because they are
devout monks (chân tu). Knowing that, Ven. Thích Trí Quang
puts on that dress of a young monk (sa-di) and crawls over
the wall right behind the Xá Lợi pagoda entering the USAID
(Sở Viện Trợ Mỹ) to seek political asylum with another monk.
After arriving in Saigon and delaying the presentation of
credential. Mr Henri Cabot Lodge goes to see Ven. Thích Trí
Quang who has escaped to a nearby American office thanks to
the dress of a sa-di named Chương, takes a photo with him
and sends him to the U. S. embassy.
After series of attacks on pagodas, Ven. Thích Tịnh Khiết
and Ven. Thích Thiện Hoa appeal his monks to detach from
politics and return to their pagodas. Especially, Ven. Thích
Thiện Hoa, a Southerner, agrees attacking pagodas to arrest
monks involving in politics and calls it a ‘’necessary
measure to protect the country. ’’
Staying in a military hospital where he is detained, Ven.
Thích Tịnh Khiết sends a letter to Mr Diệm requesting him to
permit Ven. Thích Thiện Hoa and 3 other monks to negotiate
with the government to find pacific solutions. 2 days later,
the government returns all pagodas back to Ven. Thích Thiện
Hoa and releases some arrested monks.
From the beginning of 23.8.1963, General Tôn Thất Đính
orders closure of universities and schools. Two days later,
Buddhist students go to the streets for demonstration, they
are dispersed by the police and the military. In a clash, a
female student named Quách Thị Trang is struck by a bullet
and dies on Lê Thánh Tôn street, next to Bến Thành market.
After the coup d'etat 1.1.1963, her statuette is set up at
the market (the square Quách Thị Trang).
On 28.8.1963, the letter of Ven. Thích Tịnh Khiết is
announced and the curfew is dropped. Students, Buddhists are
released, most military are ordered to return to their
bases. On 10.9.1963, Ven. Thích Tịnh Khiết is released,
some days later, there is another release of 107 monks and
Buddhists in Huế.
With the agreement of Buddhist leaders, Mr Diệm orders
Ambassador Bửu Hội to the U. N. General Assembly to present
the Vietnam case and invite a U. N delegation to Vietnam for
fact finding to see whether or not there is real oppression
of Buddhists. However, some days later, Ven. Thích Trí Quang
changes his idea and announces that the sending of U. N.
delegation to Vietnam is not necessary. This shows that Ven.
Thích Trí Quang is not an honest man to seek a peaceful
settlement with the government and jumps over the wagon as a
monk to do politics. That is exactly what he does and will
do in the days to come using slogan ‘’Buddhist oppression’’
to build up his ultimate political goal to (shake hand with
communists and share power with them. This is not known by
his followers on the streets. Ven. Thích Trí Quang is at
last a skillful instigator for self ) immolations and riots
to happen so that his objetc (government of Mr Diệm) would
be target for condemnations.
Then, what's next is another wave of students and Buddhists
going to the streets for a protest and this causes the
police to get out of their barracks once more to block
schools and arrest some students. From Saigon, the movement
spreads to Vĩnh Long (?), Biên Ḥa, Nha Trang, Đà Lạt and
Huế. The leaflets are delivered from the Xá Lợi pagoda
calling students to go to the streets for demonstration.
On 11.9.1963, after attending the Conference of
International Senators in Belgrade, Mrs. Nhu goes to U. S.
and appears on radio and television stations at at least 17
places to confirm that the government of Mr Diệm never
intends to oppress Buddhists but only to cope with radical
monks and the people who intend to topple his government.
However, she can't convince anybody just because her way of
expression does not draw sympathy from the audience.
Although she has the point to make nobody in US wants to
believe her.
Meanwhile, there is rumor that Mr Nhu takes all decisions
and wants to make an internal coup d'etat to take the power
because Mr Diệm is not firm enough with Buddhists.
Đỗ Thọ nephew of Mr Đỗ Mậu, Mr Diệm's attache, the man who
stays next to Mr Diệm until the morning of 2.11.1963 before
the latter is killed, writes in his ‘’Do Tho's diary’’ (Nhật
Kư Đỗ Thọ) that Mr Diệm is very down-hearted when the
Buddhist incident occurs. Mr Diệm, at 63, says that his
horoscope of this year is very bad and he once wanted to
resign, but he is afraid that the Vietnamese people will get
into worse situation. Mr Đỗ Thọ also says that Mr Nhu abuses
the power. Due to this rumor, Marguerite Higgins interviews
Mr Nhu who lets her know that he and his wife are hated by
somebody, rumors like that are nonsensical. He says that
each government has a Good and an Evil (ông Thiện và ông
Ác). In a progressive country like U. S., President
Eisenhower needs a man like Sherman Adams. Vietnam is a
country having too many instigations (cuộc xách động) and he
is the man to take the role of that Evil to confront these
bad situations. He says, ‘’I am cursed so that somebody else
is left alone. ’’
What happened ?
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals
(2)
In searching for evidence, Nguyễn Tran has found witnesses
or people involved who have lived there at that time in
Vietnam or abroad and gone to many libraries in U. S. to dig
out many Vietnamese or English documents or microfilms
related to the incident. He has been struck by different
assumptions and decided to display them so that one can
judge by himself.
According to Nguyễn Tran, he contacts the first witness
after the coup d'etat 1.11.1963. That is Mr. Ưng Trạo, a
retiree in Phú Cam, Huế. Ưng Trạo is known as a
straightforward and respected old man. Asked about the
Buddhist incident, he says that Mr Hoàng Hữu Khắc, Chief
Justice of the court Huế and Thừa Thiên province, has had
recourse to Mr Ưng Trạo to bring up his step child. Due to
this intimate relationship, Mr Khắc let him know that he was
appointed as secretary of the board of management of the
Society of Buddhist Study in the Central Vietnam of which
Ven. Thích Trí Quang was secretary-general or secretary.
According to Mr Khắc, he once read a letter of Ven. Thích
Trí Độ from Hanoi to Ven. Thích Trí Quang telling the latter
to organize a Buddhist movement to topple Mr Diệm's regime.
Due to this connection with Hanoi of Ven. Thích Trí Quang,
Mr Khắc has resigned from the position in the board of the
management.
Mr Trạo informed immediately this to Mr Ngô Đ́nh Cẩn who was
Trạo's godson, but Mr Cẩn did not believe this because Cẩn
and Ven. Thích Trí Quang were intimate friends.
Nguyễn Tran believes that Mr Trạo's story is true because
when searching for evidence in writing his book, he finds
Trạo's 2 children Mrs. Ngô Thế Linh in Campell and Bửu
Thiệu in Anaheim, U.S.A. Both confirm that the story is
true.
Mr Đỗ Thọ has written in his diary that after the incident
at the radio station occurred, Mr Diệm scolded Mr Cẩn's
wrongdoing, but reports from Cẩn's office and head of Thừa
Thiên province said that the incident had originated from
the monks of Từ Đàm pagoda, not from him.
According to Mr Đỗ Thọ, Cẩn told Mr Diệm that he often
visited Từ Đàm and once in a while invited these monks to
his residence to drink tea. Furthermore, Cẩn submitted
annually offerings to the pagoda Từ Hiếu where the altar of
paternal grand-grand-grandpa of Mr Diệm was located.
Mr Diệm said ‘’All religions are good. There are only bad
and good elements in every religion. We are now Catholic,
but our ancestors are Buddhist. When the monks in the
pagodas Từ Đàm, Từ Hiếu, Diệu Đế are in need, you must help
them...’’
Mr Đỗ Thọ relates that Mr Diệm never got intention to look
upon Catholicism and look down on Buddhism. This can be
proved as he made a tour of inspection in Vĩnh B́nh province
where head of the province had displayed the Catholic flags
to please him. Seeing that, Mr Diệm became frustrated and
ordered to lower them down replacing them by the national
flags. Mr Diệm only stepped out of his airplane when the
national flags were hung.
When meeting Mr Cao Xuân Vỹ who is very close to Mr Nhu,
Nguyễn Tran asks him what reaction Mr Nhu has when the
Buddhist incident occurs. According to Vỹ, Mr Nhu says,
‘’That is great crusher for the regime’’. Nguyễn Tran
continues, ‘’why let it become great problem ?’’. Mr Vy
answers me that, ‘’I am a Buddhist and has been told by Mr
Diệm to go to Huế asking senior nun Diệu Không for help, but
that is impossible due to another element.’’
What happened ?
1. According to Father Cao Văn Luận in "Bên Gịng Lịch Sử",
the Buddhist incident occurs as follows :
On 7.5.1963, Bishop Ngô Đ́nh Thục comes back from La Vang,
pilgrimage shrine marking the apperance of the Blessed
Virgin Mary. Seeing the Buddhist flags everywhere, he asks
Hồ Đắc Khương, representative of the government in the
Central Vietnam, why people don't obey the law not to
display religion or party flags outside worshipping areas or
organizations.
Hồ Đắc Khương telegraphs to Saigon to verify the validity of
the law. He is told that the royal decree 10 is still
effective. Mr Khương gives a directive to head of Thừa Thiên
province to lower Buddhist flags outside pagodas. Feeling
uneasy, Mr Nguyễn Văn Đặng, head of the province Thừa
Thiên, goes to see Mr Ngô Đ́nh Cẩn to suggest putting on
hold of the directive for now and wait until the celebration
of the Buddha's birthday to be over. Mr Cẩn agrees and
sends the message to all provinces to hold it. This matter
is over, but on 8.5.1963, the monks attack heavily the
government...Then the Buddhists rush to the radio station
forcing the director to broadcast the whole celebration's
tapes...The representative and head of the province do not
agree. While the authority findway to settle down the
matter, suddenly a grenade explodes in the crowd in
protest...
Father Cao Văn Luận suggests 3 hypotheses :
- some government officials or soldiers throw them.
- the secret police or unknown instigators are the
culprits.
- a fanatic faction in the Buddhist movement do it to push
the two (Buddhists and government) into confrontation.
Father Luận says that the 1st hypothesis is unreliable. The
other two can be looked at.
2. According to Marguerite Higgins in her "Our Vietnam
Nightmare", Foreign minister Bùi Văn Lương declares to a
U.N. delegation on 3.12.1963 that he goes to Huế on
7.5.1963, the same day whereby there is a circular that
‘’the national flag must be hung higher than the
international Buddhist flag and there was no prohibition of
hanging the Buddhist flags’’. But when he sees the Buddhist
flags already hung all over in the city, Mr Lương tells head
of Thừa Thiên to postpone the execution of the circular. He
then goes to the pagoda Từ Đàm to explain the monks about
the matter of hanging the flags. All monks, including Ven.
Thích Trí Quang, show satisfaction. But, unfortunately,
some policemen who got late the order did confiscate some
flags. Ven. Thích Trí Quang immediately grasps this
opportunity ordering some monks to inform Buddhists that the
government tells them to lower the flags...
Two things here may be questioned :
- Regulation of hanging the flag is urgent. It couldn't be
under the form of a circular;it should be a telegram. Is
there a mistake in using right words ?
- Minister Lương ordered head of Thừa Thiên province to hold
the directive. If the latter already ordered so, he had to
use all possible means to propagate the new order quickly.
Are there some saboteurs ?
According to a report from the U.N. delegation from
Marguerite Higgins' book :
At 8 pm of 8.5.1963, when the crowd come to the radio
station, Ven. Thích Trí Quang follows suit bringing with him
a tape recording his sermon attacking the government he made
in the morning and wants to be broadcasted. Then lots of
yelling happen from the crowd some of whom flush to the
corridor of the station. Panicking, director of the station
runs to inside, closes the door and phones head of the
province for help. The latter comes and tries to make a
frustrated Ven. Thích Trí Quang calm down, but it is
impossible. The head of Thừa Thiên phones Mr Đặng Sỹ,
vice-head of Thừa Thiên, to mobilize the police, military,
security and fire cruise to come to protect the station.
When Mr Đặng Sỹ arrives, there was already chaos before the
station. Buddhists block them with their motocycles and
bikes. Then, men of Ven. Thích Trí Quang throw stones into
the police and fire cruise. The latter use water to disperse
the crowd, but this only makes the crowd more aggressive.
Head of the province invites Ven. Thích Trí Quang to enter
the station for discussion, ordering the fire cruise to stop
action. At that moment, two explosions occur at the corridor
and after that come the sounds of the broken glass, the
firing and then another explosion of grenade.
Mr Đặng Sỹ reported that he hears two loud explosions when
his armored cars just come to the gate of the radio station.
Due to the darkness of the night, he can't see what happens
and thinks that vietcong are intruding the city. Due to
this, he fires 3 bullets up to the air and orders his
soldiers to use kind of ‘’concussion’’ grenades to disperse
the crowd. 15 grenades like that are shot out. The crowd
run in panic.
When the head of Thừa Thiên runs out to the corridor, he
sees many pools of blood: 7 dead and one dying kid. All
victims are lying on the corridor;their hair and flesh did
fly everywhere, one piece of flesh is stuck on a wheel of an
armored car.
Mr Lương declares, ‘’I observe the corpses and recognize
that their heads are gone, but they don't have any injury
but holes on their chests. There is no metallic pieces on
the corridor or on the courtyard. I request a doctor to make
autopsy on the victims and send the result to me’’.
That doctor is Dr. Lê Khắc Quyền, director of the Hue
hospital. His report is as follows: ‘’The death of victims
is caused by an explosion on the air. It's resulted force
of air to make the victims beheaded and injured. Kind of
explosive is unknown. ’’
Mr Lương continues: ‘’Right after 8. 5. 1963, Mr Diệm orders
an investigation for this incident. A committee of 3 is
formed. They are general Trần Văn Đôn, a military surgeon
(head of the military hospital in Saigon) and an officer
attache. After interviewing witnesses, this committee let
people know that the cause of deaths is from a plastic
explosive.
3. The book ‘’History of the Struggle of Vietnam's
Buddhism’’ (Lịch sử tranh đấu Việt Nam) by Mr Kiêm Đạt,
published by the International Buddhist Institute, 1981,
reports :
On 7.5.1963, the Huế's police force all Buddhist leaders to
inform their followers to lower Buddhists flags...In that
afternoon, the leaders in the Buddhist General Association
comprising Ven. Thích Tịnh Khiết, Ven. Thích Huyền Tôn, the
Committee of Organizing the Celebration of Buddha's Birthday
and representatives of Orthodox Buddhism (Giáo Hội Phật Giáo
Nguyên Thủy) go to the provincial Administrative Building
presenting requests one of which is justification of hanging
the Buddhist flag on the occasion of the Buddhist festival.
While the delegation is in negotiation inside, 5000
Buddhists from all over gather before the building to wait
for the explanation from the head of Thừa Thiên. The latter
declares that he is sorry because the local authority must
abide with the order from the government.
To the request of the Buddhist delegation, head of Thừa
Thiên province agrees to use cars with loudspeakers to
inform the Buddhists in Huế about the decision of the local
authority.
On 8.5.1963, after the ceremony to celebrate the Buddha's
birthday, Ven. Thích Tịnh Khiết requests Ven. Thích Trí
Quang and the Buddhist delegation to explain to the crowd
the content of the negotiation...Then, Buddhists gather
before the radio station to listen to the celebration from
tape recording. Contrary to previous announcement, the
station broadcasts different program. The crowd become angry
and pour to the station building to request for broadcasting
the morning festival. At 8 pm, there are about 10.000
Buddhists at the station. At that moment, Major Đặng Sỹ
mobilizes forces of security, soldiers with armored cars,
THE POLICE WITH CANNONS and armed to teeth with tear gas
grenades, and the military police to crush the
demonstration.
Meanwhile, Ven. Thích Trí Quang goes immediately to the
station to meet the officials, they answer that due to
technical reasons the broadcast is cancelled. Right at that
moment, the police, the security force, the fire cruise pump
water to the crowd. The latter scream asking for stopping
this, but fail.
To the request of the Buddhist delegation, head of Thừa
Thiên province agrees to use cars with loudspeakers to
inform the Buddhists in Huế about the decision of the local
authority.
On 8.5.1963, after the ceremony to celebrate the Buddha's
birthday, Ven. Thích Tịnh Khiết requests Ven. Thích Trí
Quang and the Buddhist delegation to explain to the crowd
the content of the negotiation...Then, Buddhists gather
before the radio station to listen to the celebration from
tape recording. Contrary to previous announcement, the
station broadcasts different program. The crowd become angry
and pour to the station building to request for broadcasting
the morning festival. At 8 pm, there are about 10.000
Buddhists at the station. At that moment, Major Đặng Sỹ
mobilizes forces of security, soldiers with armored cars,
THE POLICE WITH CANNONS and armed to teeth with tear gas
grenades, and the military police to crush the
demonstration.
Meanwhile, Ven. Thích Trí Quang goes immediately to the
station to meet the officials, they answer that due to
technical reasons the broadcast is cancelled. Right at that
moment, the police, the security force, the fire cruise pump
water to the crowd. The latter scream asking for stopping
this, but fail.
To the request of the Buddhist delegation, head of Thừa
Thiên province agrees to use cars with loudspeakers to
inform the Buddhists in Huế about the decision of the local
authority.
On 8.5.1963, after the ceremony to celebrate the Buddha's
birthday, Ven. Thích Tịnh Khiết requests Ven. Thích Trí
Quang and the Buddhist delegation to explain to the crowd
the content of the negotiation... Then, Buddhists gather
before the radio station to listen to the celebration from
tape recording. Contrary to previous announcement, the
station broadcasts different program. The crowd become angry
and pour to the station building to request for broadcasting
the morning festival. At 8 pm, there are about 10.000
Buddhists at the station. At that moment, Major Đặng Sỹ
mobilizes forces of security, soldiers with armored cars,
THE POLICE WITH CANNONS and armed to teeth with tear gas
grenades, and the military police to crush the
demonstration.
Meanwhile, Ven. Thích Trí Quang goes immediately to the
station to meet the officials, they answer that due to
technical reasons the broadcast is cancelled. Right at that
moment, the police, the security force, the fire cruise pump
water to the crowd. The latter scream asking for stopping
this, but fail.
In the night of 7.5.1963, 1000 Buddhists accompanying the
monks including Ven. Thích Đôn Hậu and Ven. Thích Trí Quang
go to the Administrative Building to show their standpoint.
A Buddhist named Nguyễn Hữu Khang has reported what happened
to both authors of the book that the provincial head must
agree to let Mr Tru, head of provincial Information Branch,
send 3 cars with loudspeakers informing Buddhists that the
festival on 8.5.1963 would be normal, there is no change.
In the night 8.5.1963, Buddhists go to Từ Đàm pagoda, but
they are told to go to the radio station to wait for a
carnival (xe hoa) coming from Đà Nẵng. Due to this, there
are lots of people gathering near the station. Like the
spirit of the last no-sleeping night of 7.5.1963,
requesting for the equal rights in religion, the night of
8.5.1963 implies the same spirit...
To the request for help of director of the station Ngo Ganh,
provincial head ordered Major Đặng Sỹ to mobilize the
military to protect the station. Đặng Sỹ got permission from
General Lê Văn Nghiêm to use the military force...
These forces are never ordered to oppress the people, but
use water to dissolve the excited crowd. The soldiers
holding rifles parallel to their chests to push the crowd
back so that their cars can move closer to the station. When
Đặng Sỹ's car is about 50 m from the station, there is a big
explosion and then another one. That is 10h30 pm. Afraid of
viet cong attacks, Đặng Sỹ fires bullets on the air and
orders soldiers to use "concussion grenades...
The explosive is a plastic one used often by CIA, the person
who threw it is Captain James Scott. In 1966, in a military
operation in Nam Đông, captain James Scott, advisor of the
battalion 1/3, 1st Infantry Division from 1965, revealed to
captain Bửu that he did it. According to Bửu, in 5.1963,
Scott went from Đà Nẵng to Huế on 7.5.1963. After many times
of questionings by Bửu who is cousin of Đặng Sỹ's wife's,
Scott admitted that he threw that explosive which is a
special one used by CIA. Its size is of bigger than a match
box with time detonating device.
This books says that on 7.5.1963, commander Conein who went
to Huế for inspection said to a person named Trần Khoi that
U.S. government had the feeling that the government of
Vietnam is the one of Catholics, the American public opinion
showed some discontent for Vietnam, to oppose communists,
one had to mobilize Buddhists. Hue is the kingdom of bishop
Ngô Đinh Thục. In a party at an American consulat,
vice-consul told Tran Khoi that, ‘’Buddhist force is a big
one, they would not participate in anti-communist activities
if the government do not open door for Buddhists to join in.
’’ However, as the Americans find out later it is not the
case. That is the reason for the return of Mr Henri Cabot
Lodge.
5. The fifth book entitled ‘’South Vietnam: Reesing's
Reports-a Political History, 1954-1970’’ writes :
On 5.5.1963, on the occasion of "Lễ Ngân Khánh" (the 25th
anniversary as a bishop) of Bishop Ngô Đ́nh Thục in Huế, Ngô
Đ́nh Cẩn requests Ven. Thích Tịnh Khiết to send a
congratulatory mail to bishop Thục, but Ven. Thích Tịnh
Khiết refuses to do so. On 7.5. 1963, the government orders
to ban the Buddhist flag. On 8.5.1963, that is the Buddhist
festival but the Roman Catholic flags are still on. The
radio station has order not to broadcast the tape of the
Buddhist festival. 20. 000 Buddhists including women and
kids went to the radio station for objection. Provincial
vice-head comes to disperse the crowd throwing tear gas
grenades. There are 9 dead including kids, and 20 injured.
The government says that viet cong did sabotaging, but 3
professors of the Huế university and one West German came
out as witnesses informing what they saw to the press,
western diplomatic corps, the secretary-general of U.N. ,
foreign military officials, International Buddhism and the
Vatican. The 3 are deported 3 months later. 47 professors of
the Huế university resigned on 17.8.1963 to object the
arrest of Father Cao Văn Luận who doesn't stop the
demonstration of students. ’’
Nguyễn Tran (‘’Công và Tội: Những Sự Thật Lịch Sử’’ [Credit
and Sin: Historic Truths. 1991] writes a letter to Father
Cao Văn Luận asking about these allegations, he answers:
- ‘’Lễ Ngân Khánh’’ of Bishop Ngô Đ́nh Thục was celebrated
on 29.6.1963 in Huế, not on 5.5.1963. The day of 5.5.1963
was the one Bishop Phạm Ngọc Chi took the office in Đà NẵNG
AND THERE WERE FLAGS ON THE STREETS. Then there was no such
thing like Mr Ngô Đ́nh Cẩn told Ven. Thích Tịnh Khiết to
send congratulations to Bishop Ngô Đ́nh Thục before 1 month
and 24 days.
- The 3 German professors (one is communist sympathizer)
stayed at the Huế university only for 2 years from 1959 to
1961, and has gone back to Germany. There were no professors
to be witnesses to accuse the government.
- There were no such things like 47 professors resigning on
17.8.1963. There were only some students who gathered to beg
Father Cao Văn Luận to stay and not accept the new dean Trần
Hữu Thê, but he dissuaded them to do it.
6. The 6th document is ‘’US News and World Report’’, issue
10.10.1983, entitled ‘’Untold Story of the Road to War in
Vietnam’’. It says :
On 8.5.1963, thousands of Buddhists entered the Huế city to
object the law banning the raise of Buddhist flags. That is
because the Roman Catholic flags were raised to celebrate
the consecration of the archbishop Ngô Đ́nh Thục in Huế,
older broher of Mr Diệm. When the Buddhists in protest did
not dissolve, the security force came in. There were at
least 7 dead.
Needless to say, one can conclude that this is also not
true.
7. There is another source of data for Nguyễn Tran's book
coming from a witness who is now living in Los Angeles. His
name is T. Mr T. says :
On 7.5.1963, he received an offical telegram of the
Directorate of Information to its branches in all provinces
saying generally that, As compared with the circular which
had been issued 5 or 6 months ago, the national flag must be
respected, the flag should be hung in the middle and above
all the flags of religions or organizations, ...
That is it, there is no order to ban hanging religious
flags, nor to lower the International Buddhist flags. The
director-general of the Information is the congressman,
doctor Trần Văn Thọ, this Directorate belongs to the
Presidential Office, due to this, all letters have the
header as ‘’The Office of the Presidential Office, the
Directorate of Information’’ (Văn Pḥng Tổng Thống Phủ, Tổng
Nha Thông Tin). The official telegram mentioned above is the
directive of the Directorate, but it does not mean that that
directive is worked out directly from the Presidential
Office, but from the Directorate itself.
At that time, the Information Branch in Hue belonged to the
Office-5 of the 1st Infantry Division of commander Đỗ Cao
Trí. Mr Trí brings that official telegram to lieutenant
Dương Diên Nghị, head of Office-5, who then hands it to
major Nguyễn Văn Hiếu who became brigadier-general and died
in action later). Mr Hiếu did put down:‘’Tranfer this to the
Information Branch for public announcement’’. Mr T. gives
the job to head of Technical Section. A moment later, this
head complains that some people threw stones into his car
breaking the glass. Mr T says to me that when fleeing from
Vietnam, he brought this official telegram with him but
through many times of moving, the document has been lost.
After that, Mr T. is informed that there is a policeman who
climbs onto the post before the store ‘’Tailleur Lien’’ in
the main market Đông Ba of Huế, rips the Buddhist flag,
throws it to the ground and disappears. Mr T. checks about
this with his officials who report that there was no order
to lower the flag, that is a sabotage.
Informed about the flag which has been thrown, Buddhists
rush to the Administrative Building to protest.
On the next day, 8.5.1963, it is the celebration for
Buddha's birthday. The monks from Từ Đàm pagoda give sermons
calling for a struggle to the end so that Buddhism cannot be
discriminated. They also attack the policy of family
despotism (gia đ́nh trị) of Mr Diệm's regime and accuse
Bishop Ngô Đ́nh Thục of abusing the power interfering
politics. Ven. Thích Trí Quang declares that he would go to
the radio station to have a talk. Informed by this,
Buddhists rush to the station in abundance.
Provincial head, Nguyễn Văn Đặng, went to Từ Đàm pagoda to
meet Ven. Thích Trí Quang and both went to the radio
station. When they arrive at the gate of the station, they
must use the back door because the crowd is dense. When they
enter into the station, there is an explosion...Later,
provincial head and Ven. Thích Trí Quang used the back door
to go toward the river bank and drive home and pagoda. Mr T
says that Major Đặng Sỹ just uses armored car M-113 to
protect the station when the explosion occurs.
Mr T. says that he is a Buddhist and can't lie about this.
According to Nguyễn Tran's judgement, Mr T. 's words are
most trustworthy because he is a Buddhist official present
at the scene. About other sources, there are fluctuations of
accounts and, especially informations from 2 American
documents which have untrue reporting. It means that the
Western news basing on what have been seen or reported by
others who did distort the matter and bring down Mr Diệm's
regime.
About the explosive before the station in the night of
8.5.1963, it has been looked at by Father Cao Văn Luận who
suggested according to the public opinion that it migh be
the job of CIA. Mr Cao Thế Dung did mention this in his book
about captain James Scott. This is the same news Nguyễn Tran
read in an American review in 6 or 7.1975 when he stayed in
his daughter's house in Arcadia after he had moved there.
The man who signed under that article was James Scott who
acknowledged that he threw the plastic explosive before the
radio station on 8.5.1963. Nguyễn Tran read the article
loudly for his family, but because he was in a state of
sadness after fleeing away from Vietnam and left behind his
son he had no mood for writing anything and as a result, he
did not save the article.
Writing this book Mr Nguyễn Tran has tried to track down
James Scott's article in many microfilms in U.S. libraries,
but failed. He phoned the Defense Department asking about
James Scott, they answered that there were two James Scott,
but they were discharged and had no names in pension
records: they did not know their addresses.
In summary, the official telegram about the regulation of
hanging the flag is directly from the Directorate of
Information, not from the Presidential Office. The telegram
is not for lowering the international Buddhist flag, but for
hanging the national flag in the middle and above the other
flags.
The death at the radio station in the night of 8.5.1953
can't be done by Major Đặng Sỹ or his soldiers by using
‘’concussion’’ grenades because these ones are not fatal.
The exlosive must be from James Scott or ‘’somebody else’’.
And this has been confirmed by a court session to try Mr
Đặng Sỹ later.
It's no doubt that the Buddhist incident of 1963 is just an
event set up by the opponents of Mr Diệm's regime. In other
words, using faked accusation that Mr Diệm oppressed
Buddhism is the theme or pretext for a political purpose of
religious people. Oppostion of a regime is political matter,
but some factions of Buddhist hierarchy interfered heavily
into politics, instigated more confrontation heating up
hatred instead of using Buddhism to make peace with Mr Diệm.
After Mr Diệm is killed, Buddhists continue ‘’struggle’’
with their incessant going to the streets, self-immolating
and even bringing their altars to the streets. These events
show that some Ấn Quang Sectarian monks and followers abuse
Buddhism for a political goal reconciling with communists by
cheering Ho chi Minh, but not with Mr Diệm, and the latter
has to be eliminated. Other anti-communist leaders of South
Vietnam are also objected by them when labeled as
Regime-Diệm-Without- Diệm.
Buddhism used for political purpose
According to ‘’A Death in November’’ by doctor Ellen J.
Hammer, when Ambassador Bửu Hội returned home in order to
persuade his mother, senior monk Diệu Không, not to
self-immolate, he received a letter from Ven. Thích Tịnh
Khiết and Ven. Thích Tâm Châu who have complained that
‘’Buddhism had been used for political purpose, ’’ and
events in the days before the attacks on pagodas lost
religious goals. The chaos became thoroughly political and
when the monks went beyond their limit, the government of Mr
Diệm had no choice to cope with them for self-defense.
Ambassador Bửu Hội submitted the two letters (from the two
venerables) to U.N. It may be that these monks have had no
knowledge about the letter from Ven. Thích Trí Độ sent from
Hanoi to Ven. Thích Trí Quang. Excluding subordinates of
Ven. Thích Trí Quang, it may be that a majority of monks
did not know intentions of Ven. Thích Trí Quang who has
taken advantage of them.
In ‘’Our Vietnam Nightmare’’, p. 28, Marguerite Higgins says
that Ven. Thích Trí Quang invited her to Xá Lợi pagoda. He
spoke to her publicly that, ‘’We can not negotiate with
North Vietnam until we topple Diệm-Nhu.’’
Doctor Ellen J. Hammer in ‘’A Death in November’’ wrote the
same and added that ‘’Ven. Thích Trí Quang wanted also a
neutral man sitting in Saigon" (Is it Dương Văn Minh or Vũ
Văn Mẫu ?).
Both authors wrote that ‘’Ven. Thích Trí Quang said to an
American official in Huế two days after the Buddhist
incident before the radio station of the night of 8.5.1963
that he would never stop struggle until the government
collapsed. ’’
It means that the Americans knew clearly the scheme of Ven.
Thích Trí Quang from the start, and especially Marguerite
Higgins let president Kennedy know the intention of Ven.
Thích Trí Quang after she came back from Saigon. To Kennedy,
he did not react a bit or wanted also to collaborate with
Ven. Thích Trí Quang to overthrow Mr Diệm? One clear thing
is that Kennedy was an ally of Ven. Thích Trí Quang because
he accepted Ven. Thích Trí Quang's seeking asylum at the
U.S. embassy.
In the spring of 1965, McNamara called this strategy a big
mistake of U.S. because great problems caused by Ven. Thích
Trí Quang had created more havocs for U.S. .
One of the worst scheme of Ven. Thích Trí Quang in order to
topple the government of Mr Diệm was to organize
self-immolations, tricking devout persons to destroy their
bodies; the reason is there was nothing to excite public
opinion better than the picture of a man who burns himself
like a torch: that was an atrocious and deplorable scene and
this was also the plan urging U.S. to act when seeing that
the U.S. public opinion ‘’recognized’’ that that was in no
doubt the crime committed by Mr Diệm who oppressed Buddhism
so much that it created incredible sacrifices in protest.
About Ven. Thích Trí Quang, contemplating that his Buddhist
group could not topple Mr Diệm, he had to lean on the hands
of U.S. and as Marguerite Higgins assessed: ‘’Ven. Thích
Trí Quang wanted to take the head of Mr Diệm and put it not
on a silver plate but wrapped it inside an American flag.’’
About Major Đặng Sỹ, standing before a military court in
Saigon (after the coup d'etat 1.11.1963), he declares: I
have two offences. I am a Catholic and I obey the order.
Đặng Sỹ also says that ones imprisoned him for many months
in dark cell to force him to put murder charge on Archbishop
Ngô Đ́nh Thục for his own freedom, but Đặng Sỹ refused to do
so.
It's no doubt that all came from religious discrimination,
but it's not Catholics to discriminate agaisnt Buddhists but
on the contrary, some bad elements in Ven. Thích Trí Quang's
group discriminate against Catholics. This originated from
the history whereby the royal courts opposed Catholicism and
tortured their Vietnamese Catholics for more than 300 years.
While emperor Meiji (Vua Minh Trị) of Japan opened his hands
to Westerners and led his country to a prosperous nation,
Vietnam was colonized and mixed with chaos.
Consequences caused by Ven. Thích Trí Quang were not only
related to religious discrimination, but destruction of
South Vietnam fit with the plan of Ven. Thích Trí Độ from
Hanoi.
Using the pretext that Buddhism was oppressed so that it
must stand up to struggle against oppression, but after 1963
when Buddhism was seen as upper-handed bearing no
oppression, these Buddhists (Ấn Quang Sect) still created
havocs and chaos (People's Council of Salvation: Hội Đồng
Nhân Dân Cứu Quốc in the Central Vietnam in 1964, the
Buddhist struggle in 1965, in 1966...) which paralyzed
totally the campaign against communists.
Objections by top advisors of Kennedy
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (6)
On Monday, CIA director John McCone, Defense Minister
McNamara and General Taylor objected fiercely the sent
message. Concurring with wth the military, McCone sees Mr
Diệm as best leader. General Taylor is angry at reading the
message. He says that the people opposing Diệm is grouped in
the State Department which take advantage of the absence of
important officials in the government to draft directive
which is never accepted in a common situation.
Feeling uneasy due to contradictory ideas among his
advisors, Kennedy, going around the table, asks who wants to
retract the message. Although McCone and Taylor don't agree
with the message, they don't suggest to cancel it. Taylor
says, ‘’We can't change our policy in 24 hrs, if so who can
trust us?’’. That is a strange reasoning because the message
is still top secret, then how can one be afraid that ‘’no
one will trust us anymore’’? To manage a country, if knowing
that something is wrong then one should correct it; if not,
he would commit a bigger mistake. It is known that after the
message is executed, Kennedy is so regretful because he has
created a shameful picture for U. S. and brought havoc to
an ally whom U.S. has committed to support. East and West
have that difference.
In a meeting on the next day when the difference in ideas is
still maintained, Kennedy sends a message to Cabot Lodge
asking him about the plan and leaders of the coup d'etat.
Taylor drafts a message telling Lodge that the message 243
of 24.8.1963 is studied again by the government because
there is no words from the Defense Department and and its
General Staff.
When there is another meeting taking place, officials of the
State Department comprising people against Mr Diệm suggest
going ahead with the coup d'etat. Ambassador Nolting rejects
the idea and says that doing this is breaking the promise
with Mr Diệm. He says straightforwardly that, ‘’I think some
people at the State Department feel happy to see me
go...because they are using many ropes to squeeze Mr Diệm's
throat. I feel there is a movement to topple Mr Diệm coming
from Undersecretary of State Averell Harriman, Roger Hilsman
and others of the State Department. This is against the
advice of the CIA. I want this to be recorded to the
document. ’’ After saying this, Nolting resigns.
U.S. News and World Report says the official message from
the State Department to Cabot Lodge in the Saturday
afternoon of 24.8.1963 is ‘’leaps and bounds’’ of U.S. in
interfering into the internal affair of South Vietnam
without a previously elaborate study.
Later, Cabot Lodge calls the message ‘’ill-advised,
reprehensible and insane’’. However, receiving it on
Sunday of 25.8.1953, Cabot Lodge holds immediately a meeting
of high-ranked officials for discussion and then he sends a
message to the State Department for a permission to contact
Vietnamese coup generals to let them know demands of U.S.
without informing Mr Diệm. The State Department agrees.
Next, Cabot Lodge orders CIA to contact the Vietnamese
military to ask about the plan of a coup d'etat. To
encourage Viet generals, CIA let them know that U.S. wants
to eliminate Mr Nhu and Buddhist demands must be satisfied:
if not U.S. will cut economic and military aid to South
Vietnam. U.S. will accept a new government. However, the
success or failure of the coup d'etat is responsibility of
Vietnamese generals. Conein, a CIA, contacts General Trần
Thiện Khiêm and the latter agrees on demands and promises to
answer Conein after he meets General Dương Văn Minh.
On 26.8.1963, at 11 am, Cabot Lodge presents credential to
Mr Diệm and talks about dismissal of Mr Nhu. Mr Diệm asks
him: ‘’Nhu's working for me as adviser does any matter to
you?’’. Cabot Lodge says, ‘’That is the idea of Mr
Kennedy.’’
Conein is assigned to contact General Dương Văn Minh, but
head of CIA Richardson tells Conein not to encourage Mr Minh
and just litsen to his report. Not to agree with
Richardson's restriction, Cabot Lodge not to encourage Mr
Minh and just litsen to his report. Not to agree with
Richardson's restriction, Cabot Lodge orders Conein to
receive his order from now on.
Cabot Lodge sends a telegram to Kennedy saying, ‘’We come to
a point of no return to overthrow Diệm's government.
Prestige of U.S. is put on this goal. To me, we can't win
over Diệm's government.’’ To urge Vietnamese generals to act
fast, Cabot Lodge requests for cutting economic aid if
Vietnamese generals demand it as a signal of support from
U.S. .
General Harkins doen't want the coup d'etat without effort
to demand Mr Diệm to eliminate Mr Nhu in advance. Cabot
Lodge sends a message saying that is a danger because
Vietnamese generals has been fed up much. The White House
gives Cabot Lodge to cut aid at his will but not to use it
as an ultimatum.
Guessing that a bloodpath can occur in Saigon due to strong
reaction from Mr Diệm, Kennedy orders the Navy to transfer
5,000 American citizens by a special fleet out of the sea of
South Vietnam and in Okinawa in Japan. 3,000 of marine corps
are in alert 24/24hrs.
From special documents of the White House, Doctor Ellen J.
Hammer discovers that Roger Hilsman takes preliminary steps
for possible reactions from Mr Diệm's government. If Cabot
Lodge and his officials were seen as ‘’undesirable
elements’’, U.S. would ignore them until the aftermath of
the coup d'etat. If Mr Diệm consents with Hanoi a neutrality
for South Vietnam or an accord, let a coup d'etat occur to
set up a new government. U.S. will find all ways to make the
military loyal to Mr Diệm leave him. U.S. will be ready to
stop loyal elements and let the rebellious military arrest
Mr Diệm and his family, and bring them out of Saigon. If the
resistance continues, U.S. will use ready means in South
Vietnam to help the rebellious military, if necessary U.S.
will let American soldiers help them to victory, including
to destroy the palace Gia Long. If Mr Diệm's family is still
alive, Mr Nhu will be banished, about Mr Diệm, it's up to
rebellious military.
While the State Department is taking care of how to
overthrow Mr Diệm, some Americans go to see him, especially
Mr Paul Kattenburg, head of Vietnam section at the State
Department who knew Mr Diệm before. In a moment of emotion,
Mr Diệm says: ‘’I will ready to die immediatly, if blood and
sweat spent for 9 years go way just to sacrifice for a small
group of instigation under the label Buddhism.’’ Paul
Kattenburg answers, ‘’Help us in order we can help you.’’
After that Kattenburg suggests a withdrawal of U.S. because
he sees that Mr Diệm's government has no future, no hope to
win with or without Mr Diệm. But the pressure around Kennedy
forces him to escalate, not retreat.
On 31.8.1963, Kattenburg returns to Washington to report the
U.S. government his observations that U.S. doesn't
understand tradition, culture, history, people and opponents
in South Vietnam. He repeats Cabot Lodge's warning that:
‘’If U.S. continues supporting the oppressing regime with
bayonets at every corner and negotiations with ‘’puppet’’
monks, we will be kicked out of South Vietnam in 6
months!’’. So, Kattenburg concludes: ‘’In that situation,
it's better for us to decide a withdrawal with honor. ’’
Answering Taylor's question for further explanation,
Kattenburg says: ‘’From 6 months to one year, seeing us lose
the battle, the Vietnamese will gradually lean to the other
side and as a result, we will be obliged to leave.’’ The
Secretary of State Dean Rusk says: ‘’Your words are just
predictions. We won't withdraw from Vietnam until
victory...We won't direct the coup d'etat.’’
Kennedy turns to vice-president Lyndon B. Johnson whom
Kennedy rarely asks his thinking about Vietnam. Johnson will
replace an assassinated Kennedy. He says:‘’We shouldn't hold
the role of a cop and a thief, but must negotiate with Mr
Diệm.’’
Johnson had many times to warn officials at the State
Department that they should not misuse authority in Vietnam
because the Americans as Westerners lacks experiences on the
Oriental matters and as a result, they don't know what's the
best for Vietnam. Sometimes we must act, sometimes we don't.
The war is going on: who knows whether or not a committee of
coup generals would be more successful than a clean and
deified man who overcame many impossible obstacles. Except
that we know for sure the successors of Mr Diệm would be
better than him. The wisest thing is to continue working
with the man we did know although he is complexed. Who else
has determination and iron will like him ?
While his specialists on foreign policy are working out a
workable plan, Kennedy announces foolishly on the CBS in the
night of 2. 9. 1963: ‘’I don't think that the war will be
won unless the government of South Vietnam tries to get
support from the people.’’ When journalist Walter Cronkite
asks: ‘’Does Mr Diệm got enough time to get that support?’’
Kennedy answers: ‘’I think yes if there is a change of
policy and, possibly, the personnel. Without that change,
I don't see any chance for that.’’ In other words, Kennedy
publicly demands Mr Diệm to change policy and eliminate Mr
Nhu. That declaration is too open to make Mr Diệm accept.
Losing face to the world, how can one get support from the
Vietnamese? It's the lofty policy of Kennedy who wants to
order rather than skillfuly convinces a man of fidelity like
Mr Diệm to yield.
It's Cabot Lodge to create an asphyxiating atmosphere by the
same lofty behavior and keep a distance from Mr Diệm. A
Republican colleague criticizes Cabot Lodge as follows: ‘’I
think Lodge must need at least two weeks to find out a bit
the situation before reaching any decision. But Lodge is
against Mr Diệm from the beginning when he just arrives in
Saigon. His telegrams to Washington shows denouncement.
Lodge is the important obstacle for some of us to hinder a
coup d'etat.’’ A high-ranked official at the State
Department says that before 1.11.1963, Lodge has many times
to receive order to contact tightly Mr Diệm, but Lodge
answers: ‘’My policy is not to go to Diệm, but he must come
to me.’’
Marguerite Higgins cites words from minister of Justice
Robert Kennedy that ‘’Cabot Lodge's activities in many
months before the coup d'etat is terrible.’’ However,
according to Lyndon B. Johnson, ‘’it's not Lodge's actions
to be terrible because he just carries the policy of
Washington.’’ Johnson means that the policy of Kennedy puts
much pressure on Mr Diệm, it comes to such point that ‘’a
branch must be broken’’ and the coup d'etat occurs.
U.S. News and World Report, basing on minutes of a meeting
at the White House at 10h30 of 6.9.1963, writes that Robert
Kennedy talks about punishing Mr Diệm as follows: ‘’If we
come to a conclusion that we will lose the battle to Diệm,
why don't we eradicate that painful prickle?’’
After that meeting, Kennedy sends a delegation to Vietnam
led by General Krulak of the military and Joseph A.
Mendenhall, a high-ranked official of the State Department
who once served as political advisor at the U.S. embassy in
South Vietnam. They arrive at Saigon on 8.9.1963, separate
right away at the airport and promise to see each other
again in 36 hrs.
Krulak goes to see 80 military advisors, including 150.000
U.S soldiers in Vietnam. Investigating in detail about the
ongoing war, he concludes that the South Vietnamese fight
against communists is going well. Mendenhall contacts
American officials along the Coast of Central Vietnam where
the Buddhist matter is tense. He also meets some Vietnamese
in Saigon whom he knows having knowledge and objectiveness.
He depicts that Saigon, Huế and Đà Nẵng are cities of
‘’hate... living under a regime of terror’’. He concludes
that from a hatred toward Mr Nhu, the people come to hate Mr
Diệm.
On 9.9.1963, Krulak and Mendenhall leaves Saigon to
Washington with John Mecklin, a relation official at the
U.S. embassy who was recalled for consultation. Each drafts
own report. To Mecklin, Krulak and Mendenhall don't like
each other and they just talk to each other when ‘’it can't
be avoided’’.
On the next day, at 10h30, Kennedy convenes a meeting at the
White House for the three to report their findings. Krulak
reports that the war is in good progress. It is hurt by the
political crisis, but it's okay. The war against communists
will win if the military and social aid is continued despite
great shortcoming of the regime.
Washington involvement
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (7)
Mendenhall's report is totally different. He talks about the
standstill of the civilian government and the people fearing
and hating Nhu. He predicts that there will be possibly a
religious war or the people will lean to communists...Nhu
must go if one wants to win over communists.
Due to difference between two reports, Kennedy asks: ‘’Is
that both of you come back from one country?’’. Krulak
answers: ‘’Mr Mendenhall visits cities of Vietnam. I go to
rural areas of Vietnam where the war occurs.’’
The contradiction of two reports causes a debate between two
sides, for and against Mr Diệm. Ambassador Nolting says the
government of Saigon overcomes the hatred and terror of 1961
and survives while the war against communists is in good
progress. George Bundy, It's the lofty policy of Kennedy who
wants to order rather than skillfuly convinces a man of
fidelity like Mr Diệm to yield.
It's Cabot Lodge to create an asphyxiating atmosphere by the
same lofty behavior and keep a distance from Mr Diệm. A
Republican colleague criticizes Cabot Lodge as follows: ‘’I
think Lodge must need at least two weeks to find out a bit
the situation before reaching any decision. But Lodge is
against Mr Diệm from the beginning when he just arrives in
Saigon. His telegrams to Washington shows denouncement.
Lodge is the important obstacle for some of us to hinder a
coup d'etat.’’ A high-ranked official at the State
Department says that before 1.11.1963, Lodge has many times
to receive order to contact tightly Mr Diệm, but Lodge
answers: ‘’My policy is not to go to Diệm, but he must come
to me.’’
Marguerite Higgins cites words from minister of Justice
Robert Kennedy that ‘’Cabot Lodge's activities in many
months before the coup d'etat is terrible.’’ However,
according to Lyndon B. Johnson, ‘’it's not Lodge's actions
to be terrible because he just carries the policy of
Washington.’’ Johnson means that the policy of Kennedy puts
much pressure on Mr Diệm, it comes to such point that ‘’a
branch must be broken’’ and the coup d'etat occurs.
U.S. News and World Report, basing on minutes of a meeting
at the White House at 10h30 of 6.9.1963, writes that Robert
Kennedy talks about punishing Mr Diệm as follows: ‘’If we
come to a conclusion that we will lose the battle to Diệm,
why don't we eradicate that painful prickle?’’
After that meeting, Kennedy sends a delegation to Vietnam
led by General Krulak of the military and Joseph A.
Mendenhall, a high-ranked official of the State Department
who once served as political advisor at the U.S. embassy in
South Vietnam. They arrive at Saigon on 8.9.1963, separate
right away at the airport and promise to see each other
again in 36 hrs.
Krulak goes to see 80 military advisors, including 150.000
U.S soldiers in Vietnam. Investigating in detail about the
ongoing war, he concludes that the South Vietnamese fight
against communists is going well. Mendenhall contacts
American officials along the Coast of Central Vietnam where
the Buddhist matter is tense. He also meets some Vietnamese
in Saigon whom he knows having knowledge and objectiveness.
He depicts that Saigon, Huế and Đà Nẵng are cities of
‘’hate...living under a regime of terror’’. He concludes
that from a hatred toward Mr Nhu, the people come to hate Mr
Diệm.
On 9.9.1963, Krulak and Mendenhall leaves Saigon to
Washington with John Mecklin, a relation official at the
U.S. embassy who was recalled for consultation. Each drafts
own report. To Mecklin, Krulak and Mendenhall don't like
each other and they just talk to each other when ‘’it can't
be avoided’’.
On the next day, at 10h30, Kennedy convenes a meeting at the
White House for the three to report their findings. Krulak
reports that the war is in good progress. It is hurt by the
political crisis, but it's okay. The war against communists
will win if the military and social aid is continued despite
great shortcoming of the regime.
Washington involvement
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (7)
Mendenhall's report is totally different. He talks about the
standstill of the civilian government and the people fearing
and hating Nhu. He predicts that there will be possibly a
religious war or the people will lean to communists...Nhu
must go if one wants to win over communists.
Due to difference between two reports, Kennedy asks: ‘’Is
that both of you come back from one country?’’. Krulak
answers: ‘’Mr Mendenhall visits cities of Vietnam. I go to
rural areas of Vietnam where the war occurs. ’’
The contradiction of two reports causes a debate between two
sides, for and against Mr Diệm. Ambassador Nolting says the
government of Saigon overcomes the hatred and terror of 1961
and survives while the war against communists is in good
progress. George Bundy, It's the lofty policy of Kennedy who
wants to order rather than skillfuly convinces a man of
fidelity like Mr Diệm to yield.
It's Cabot Lodge to create an asphyxiating atmosphere by the
same lofty behavior and keep a distance from Mr Diệm. A
Republican colleague criticizes Cabot Lodge as follows:‘’I
think Lodge must need at least two weeks to find out a bit
the situation before reaching any decision. But Lodge is
against Mr Diệm from the beginning when he just arrives in
Saigon. His telegrams to Washington shows denouncement.
Lodge is the important obstacle for some of us to hinder a
coup d'etat.’’ A high-ranked official at the State
Department says that before 1.11.1963, Lodge has many times
to receive order to contact tightly Mr Diệm, but Lodge
answers: ‘’My policy is not to go to Diệm, but he must come
to me.’’
Marguerite Higgins cites words from minister of Justice
Robert Kennedy that ‘’Cabot Lodge's activities in many
months before the coup d'etat is terrible.’’ However,
according to Lyndon B. Johnson, ‘’it's not Lodge's actions
to be terrible because he just carries the policy of
Washington.’’ Johnson means that the policy of Kennedy puts
much pressure on Mr Diệm, it comes to such point that ‘’a
branch must be broken’’ and the coup d'etat occurs.
U.S. News and World Report, basing on minutes of a meeting
at the White House at 10h30 of 6.9.1963, writes that Robert
Kennedy talks about punishing Mr Diệm as follows: ‘’If we
come to a conclusion that we will lose the battle to Diệm,
why don't we eradicate that painful prickle?’’
After that meeting, Kennedy sends a delegation to Vietnam
led by General Krulak of the military and Joseph A.
Mendenhall, a high-ranked official of the State Department
who once served as political advisor at the U.S. embassy in
South Vietnam. They arrive at Saigon on 8.9.1963, separate
right away at the airport and promise to see each other
again in 36 hrs.
Krulak goes to see 80 military advisors, including 150.000
U.S soldiers in Vietnam. Investigating in detail about the
ongoing war, he concludes that the South Vietnamese fight
against communists is going well. Mendenhall contacts
American officials along the Coast of Central Vietnam where
the Buddhist matter is tense. He also meets some Vietnamese
in Saigon whom he knows having knowledge and objectiveness.
He depicts that Saigon, Huế and Đà Nẵng are cities of
‘’hate... living under a regime of terror’’. He concludes
that from a hatred toward Mr Nhu, the people come to hate Mr
Diệm.
On 9.9.1963, Krulak and Mendenhall leaves Saigon to
Washington with John Mecklin, a relation official at the
U.S. embassy who was recalled for consultation. Each drafts
own report. To Mecklin, Krulak and Mendenhall don't like
each other and they just talk to each other when ‘’it can't
be avoided’’.
On the next day, at 10h30, Kennedy convenes a meeting at the
White House for the three to report their findings. Krulak
reports that the war is in good progress. It is hurt by the
political crisis, but it's okay. The war against communists
will win if the military and social aid is continued despite
great shortcoming of the regime.
Washington involvement
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (7)
Mendenhall's report is totally different. He talks about the
standstill of the civilian government and the people fearing
and hating Nhu. He predicts that there will be possibly a
religious war or the people will lean to communists...Nhu
must go if one wants to win over communists.
Due to difference between two reports, Kennedy asks: ‘’Is
that both of you come back from one country?’’. Krulak
answers: ‘’Mr Mendenhall visits cities of Vietnam. I go to
rural areas of Vietnam where the war occurs.’’
The contradiction of two reports causes a debate between two
sides, for and against Mr Diệm. Ambassador Nolting says the
government of Saigon overcomes the hatred and terror of 1961
and survives while the war against communists is in good
progress. George Bundy, Next, Trần Văn Đôn and Tôn Thất
Đính come to Gia Long Palace to present him a plan of
renovating the government and suggest a dismissal of Mr
Nhu.
On 24.10.1994, knowing that Lodge and his wife are going to
Đà Lạt for a leave, Mr Diệm lets Trương Công Cừu to tell
Lodge that they shouldn't be outside alone due to security
reason. He invites the couple to fly to Đà Lạt on Sunday so
that they can attend the inauguration ceremony at the Atomic
Center of Đà Lạt and stay there with him.
At a dinner of the Sunday evening, Mr Diệm talks about a
rumor to assassinate Lodge and says that is nonsensical
because he has the vital duty to keep Lodge safe.
Close to 1.11.1963, Kennedy complains with Robert Kennedy
that Cabot Lodge refuses to show openness to Mr Diệm.
Rebellious generals plan to kidnap Messrs. Diệm-Nhu at a
military parade on the National Day 26.10.1963, but it fails
because all guns in the area must be emptied of car tridges
during this occasion.
On the same day, through a go-between Conein, Trần Văn Đôn
meets Lodge at Tân Sơn Nhất airport. Đôn complains, ‘’The
spirit of the army declines gravely due to the Buddist
incident’’. When Lodge answers that he is willing to help,
Đôn says: ‘’Ambassador has enough means. What we need is
support of U.S. if we are successful. Don't interfere in
this because it is an internal matter of the Vietnamese !’’
On 28.10.1963, Đôn phones Conein to his office to let Conein
know about the day of the coup d'etat and informs the U.S.
4hrs before the coup. Đôn also requests Lodge not to go to
Washington on 31.10.1963 because he is afraid that Gia Long
Palace will have suspicion.
Although Lodge confirms that there would be a coup d'etat,
but Washington is still worried; they send one message to
Lodge telling him to dissuade rebellious generals except
that Lodge is sure 100% that the coup d'etat is well
accomplished. Next is the second message: ‘’We don't accept
that we have no right to postpone or dissuade the coup
d'etat. Lodge answers:‘’It's too late. The matter is in the
hands of Vietnamese generals. They don't want us to
interfere. They don't want our help even...weapons...They
want to direct it. Washington says that it wants to step
aside, then do it. ’’
Lodge's message makes William Colby, CIA head of the
Far-East Affairs, criticizes: ‘’Yes, that is a coup d'etat
by Vietnamese generals. But I think basic things are decided
in Washington because few weeks before, in a press
conference, President says that it is essential to have new
personnel in the Vietnamese government and this was related
to Messrs. Diệm-Nhu...’’
On the other hand, in a secret message sent to George Bundy,
national security advisor, Lodge confirms clearly: ‘’Saigon
CIA carry decisively all my directives. I myself check every
contact between General Đôn and Conein who executes my
orders in any case. ’’
After the coup d'etat, Lodge talks about U.S. arrangement as
follows: ‘’... It is equally the ground in which the coup
seed grew into a robust plant was prepared by us and that
the coup would not have happened as it did without our
preparation.’’
Later, when General Trần Thiện Khiêm becomes Ambassador to
U.S. , he admits that the organization of the coup d'etat is
to please the Americans, ‘’We think that President Kennedy
wants so. It's the only way to save the effort of the war
against communists. We think that U.S. cutting military aid
means telling us to do so...’’
In ‘’The Ten Thousand Day War’’ by Michael Maclear, 1981, p.
81, the Vietnamese generals effectively regarded the coup as
American-ordered, and it was staged only when the generals
knew they would inherit American aid. Mr Diệm's press
secretary, Tôn Thất Thiện, quotes one of the coup leaders,
General Kim, on his motivations: ‘’I ask him afterwards
because I considered him loyal to president Diệm. And
General Kim said ‘’The Americans told us to choose between
Mr Diệm and American Aid. We had no choice. ’’
Few days before the coup d'etat, informed by Mr Ngô Đ́nh Cẩn
who says that Mr Đỗ Mậu betrayed him. Mr Diệm tells General
Khiêm who already sided to the coup generals to arrest Mr Đỗ
Mậu, Khiêm lies Mr Diệm that he did so.
In his diary, attache Đỗ Thọ writes that knowing there is a
coup d'etat, at 1h45 pm of 1.11.1963, Thọ drives to the Gia
Long Palace. Recognizing that he is only a Buddhist among 4
attache officers and Mr Đỗ Mậu's nephew, Đỗ Thọ asks if he
is trusted he will volunteer to stay next to Mr Diệm because
another attache, captain Lê Công Hoan, is married with one
kid. Mr Diệm agrees and from then on he follows Messrs.
Diệm-Nhu who leave Gia-Long Palace to Mă Tuyên's house in
Chợ Lớn, then go to the church "Father Tam". The group
organizing the coup d'etat send some officers to ‘’receive’’
the two.
Coup d'etat
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (8)
According to Commander Nguyễn Văn Y, former director of
Police and Security, informed that there is abnormal
military mobilization he tells it to Mr Nhu, but the latter
answers, ‘’That is our plan’’.
Later, people know that Mr Nhu deploys two plans called
Bravo 1 and Bravo 2. In Bravo 1, some loyal troups will
organize a faked coup d'etat to trick rebellious generals to
appear, then Messrs. Diệm-Nhu will go to Vũng Tàu to hide
away. Knowing who are betrayers, they will come back to
re-establish order. Mr Nhu assigns General Tôn Thất Đính to
to be in charge, not knowing that Đính is also a betrayer.
When Mr Nhu phones Đính many times without an answer, he
knows that Đính has taken the other side. At that moment, it
is too late.
According to General Trần Văn Đôn, Mr Nhu appoints Đính to
execute Bravo 1 against the coup d'etat with a force of
3.000 soldiers, 40 armored cars and six special regiments
with Đính as head, Lê Quang Tung and Nguyễn Ngọc Khôi as
vice-heads. On 31.10.1963, General Đính meets Tung and Khôi
to discuss about the job.
At mid-day of 1.11.1963, Trần Thiện Khiêm invites all
high-ranked military loyal and disloyal to the General Staff
Headquarter for a lunch. When they are all at place, General
Dương Văn Minh stands up and yells: ‘’Coup d'etat’’. Next,
the military police with submachine guns enter and encircle
them.
The officers loyal to Mr Diệm's government like Air Force
Commander, Marines Commander were arrested by lower-ranked
soldiers. Colonel Hồ Tấn Quyển, Navy Commander, has been
tricked by his rebellious officers who invited him for a
meal and killed him in a rubber plantation. Colonel Lê Quang
Tung, head of the Special Force, and his younger brother,
lieutenant-colonel Khôi are forced before guns to let Mr
Diệm know that all important areas are usurped so that
Messrs. Diệm-Nhu should surrender. After that, they are led
by escorts of General Dương Văn Minh to the backyard of the
General Staff Headquarter, shot to death and buried in two
previously dug holes.
The coup instigators have two battalions of Marines with red
scarves transported by armored cars from Biên Ḥa to cease
Tân Sơn Nhất airport, Navy Headquarter and its workshop,
Defense ministry, General Office of Police and Security,
Post-office, but when coming to the Radio Station they are
stopped by strong resistance. Until 3h30, they cease the
station. The fight is fierce at the fort Thành Cộng Ḥa
where there is a group to protect the presidential palace.
General Trần Văn Đôn writes in his diary about Mr Đỗ Mậu,
the man self-claiming as decisive plotter as follows:
After I let Đỗ Mậu know the time of the operation by saying:
‘’The decisive time is coming, you must stay next to me.
Because you specialize in politics, I want you to help two
generals Lê Văn Kim and Nguyễn Văn Chiêu at the operating
office.’’ I suggest to bring Mậu to Kim's office, but Mậu
wants to use his jeep. When I arrive, Mậu is not there.
Captain S. has to force Mậu to come back when he see Mau
use the back door of the General Staff Headquarter, this
gives me some suspicion. I will talk later about this
matter. I hand Mậu to Kim and Chiêu. From then onwards, Mau
never leaves us.’’
Is that Mr Đỗ Mậu wakes up and doesn't want to participate
in the coup? Mr Đỗ Mậu never talks about this matter.
The coup generals call for Mr Diệm to surrender, but he
declines to do so. At 4 pm, Mr Nguyễn Tran hear Mr Dương
Văn Minh talk on the radio: ‘’Compa triots. Please listen to
the President's words.’’ But next is silence. After the
coup, I know that Mr Diệm goes to the corridor of the
presidential palace to announce his resignation, but Mr Nhu
stops him and says: ‘’Your doing that will kill my wife and
me.’’ Hearing that, Mr Diệm steps back to his palace.
Mr Diệm calls Mr Trần Thiện Khiem by phone, but the answer:
‘’President, it's time for the army to meet the wish of the
people.’’
Mr Diệm taxes generals with not displaying their ideas
clearly, but using violence. He invites them to the palace
to have a straight talk. Afraid of a trick, Trần Văn Đôn
backs it down.
Dương Văn Minh calls for Mr Diệm's surrender for a second
time, if Mr Diệm rejects, he will flatten the Gia Long
Palace. However, Mr Diệm hangs the phone. This makes Dương
Văn Minh shameful before other generals.
U.S. News and Reports writes that there are no generals and
officers to step forward to attack the palace, this shows
that Mr Diệm is ‘’still a man of prestige so great that no
one would like to bear a disgrace to assault directly Mr
Diệm.’’ At last, the coup generals assigned Colonel Nguyễn
Văn Thiệu, commander of the 5th Infantry, a Catholic and as
seen ‘’loyal’’ to Mr Diệm during the Buddhist crisis, as the
first man to attack Mr Diệm. They want to watch a Catholic
attack a Catholic President.
Last minutes between Mr Diệm and Cabot Lodge
On 1.11.1963, Trần Văn Đôn makes up another trick by
insisting Pacific Commander Admiral Harry D. Felt going with
Lodge to visit Mr Diệm so that Đôn can hold Mr Diệm back in
Saigon instead of going to Đà Lạt. Đôn also persuades Lodge
not to return to Washington on 31.10.1963 because he is
afraid that the Gia Long Palace will have some suspicion.
Tôn Thất Thiện, press secretary of Mr Diệm, cites that every
time Admiral Felt wants to stand up and leave, Lodge puts
many questions so that Mr Diệm must talk to him. Until 12
pm, Felt leaves, but Lodge and his assistant Flott stay with
Mr Diệm. The secret file from the White House records Mr
Diệm's words clearly that: ‘’Please tell President Kennedy
that I am a good and frank ally, that I would rather be
frank and settle questions now than talk about them later
when we lose everything. Tell President Kennedy that I take
all the suggestions very seriously and wish to carry them
out, but it is a question of timing.’’
Recognizing that is a progress, Lodge telegraphs to
Washington: ‘’If U. S. wants to resolve the matter
thoroughly, we can do it now. Please see Diệm's announcement
of releasing all Buddhists and students.’’
Two days before, 29.10.1963, Mr Diệm recalled cultural
advisor at the Vietnamese embassy in Washington Trần Văn
Đĩnh. He told Đĩnh to go back to Washington to hold a press
conference on 1.11.1963 with the announcement: In few days,
there will be an agreement between the Vietnamese government
and ambassador Cabot Lodge about a better method to suppress
the insurgency of communists. These measures will aim at
using more effectively the military and economic aid,
creating an administrative structure at the central and
provincial level. In brief, it's a change in policy and
personnel.
After the suggested press conference, Đĩnh would go to New
Delhi to meet high-ranked officials from Hanoi. Written
about this, doctor Hammer says that it may be Hanoi wants to
do trading with the South and stop intrusion because Hanoi
was caught in between in the dispute of China and USSR. It
is sure that Đĩnh wouldn't organize the press conference
because of the difference of 12-hour timing between
Washington and Saigon.
Mr Diệm's words to Lodge are very important and can change
totally the situation, including the ending of the war and
release of Buddhist demonstrators. Mr Diệm's suggestion of a
change in policy and personnel is to meet totally demands of
Kennedy and it's is an utmost yielding which is rarely seen
in a man like Mr Diệm. However, Lodge's telegram is just of
second priority not an urgent one like the time when Lodge
informs about the coup d'etat to Washington. When the words
from Mr Diệm come to Washington, the news about the coup
d'etat has been known for many hours. Kennedy and Lodge are
at fault not to stop the coup d'etat and let the political
and military situation in Vietnam decline and that has been
warned by some advisors of Kennedy.
Mr Diệm's words to Lodge is 1h30 before the coup d'etat
occurs and the plot can be stopped in time to wait for the
order from Washington because Lodge's duty is to organize
the coup d'etat when Mr Diệm doesn't accept the demands of
Washington.
According to Lodge's report to Washington, at 4h30 pm (the
coup d'etat is at 1h30 pm) of 1.11.1963, after refusing
twice to surrender, Mr Diệm phones Lodge to ask about
Washington's attitude towards the coup d'etat in response to
what he has said to Lodge. Lodge says that he hears the
gunshots, but he doesn't know what happens.
‘’You should have a general idea about my responses. I am
head of a country. I did try to do my duty and I believe in
that more than anybody else. ’’
Lodge: ‘’I am sure that President did your duty as I said
this morning. I admire your courage and what you have done
to your country. Now, I just concern about your life. I have
been told that the plotters suggest to let you and your
brother leave the country safely if you resign. Do you hear
something like that ?’’
Mr Diệm: No... Do you have my phone number ?
Lodge: If thinking what I can do for you about your safety,
phone me.
After that Lodge phones Father De Jaegher, Mr Diệm's close
friend, to have him persuaded Mr Diệm to resign but he
refuses to do so.
Lodge also phones Bishop Astar, papal nuncio of the Vatican
to have him advised Mr Diệm to take refuge in the U.S.
embassy, but there is no answer.
According to Michael Maclear in ‘’The Ten Thousand Day War:
1945-1975’’, Mr Diệm phones General Trần Văn Đôn. Đôn says:
Mr President. I am sorry for what has happened but what I
ask you now is to be wise and understand the situation and a
special plane is ready if you surrender without any
conditions to carry you and your family out of Vietnam.
Trần Văn Đôn puts many sins on Mr Diệm before the coup
d'etat to explain for his betrayal. To make the image of Mr
Diệm worse, he says that Mr Diệm lost popular support,
particularly among the peasantry which comprised 85% of the
population, and Diệm ‘’began to be oppressive in his
ambition. He would like to be King of Vietnam. He believed
too much that God had ordered him to South Vietnam with a
mystic mission’’. These words are contrary to what Dương Văn
Minh admits when Minh is exiled to Bangkok.
According to Đỗ Thọ, around mid-afternoon of 1.11.1963,
Colonel Lam Sơn brought officer cadres to protect the
Gia-Long palace. The army of the 3rd Military Corps and
Security at the camp Lê Văn Duyệt arrive and encircle the
General Staff Headquarter. They request Mr Diệm to attack
and this would make plot generals shake. But Mr Diệm backs
it down because he doesn't want a bloodbath. Đỗ Thọ also
says that Messrs. Diệm-Nhu leave the palace not ‘’by a
secret exit to escape from the palace’’ like written in many
books (including Halberstam's one), but walk to the street
Lê Thánh Tôn and use a car driven by Cao Xuân Vỹ, director
of Thanh Niên Cộng Ḥa (Republic Youth), to Mă Tuyên's
house, Mr Diệm's friend, in Chợ Lớn, the Chinese quarter;Mă
Tuyên is also a cadre of Thanh Niên Cộng Ḥa. They are well
welcomed here. Both discuss to move to the church "Father
Tam". There, they talk to Father Jean and attend the mass.
Mr Nhu wants each to go to different place. Mr Diệm will go
to the West to see General Huỳnh Văn Cao and Mr Nhu will go
to the Central Highlands to be with General Nguyễn Khánh. If
one is arrested, plotters won't dare killing him because the
other is still alive. Father Jean tells them to stay but
they think that Father Jean will be in trouble.
A Death in November
Incident of Buddhist flag (US involvement) Coup Generals (5)
Mr Diệm disagrees with Mr Nhu's suggestion by saying: you
are hated by them and they will kill you. Stay with me and I
will protect you. We have lived with each other for many
years. It's the critical time; we should not separate each
other. Then, Mr Diệm phones General Trần Thiện Khiêm to tell
him to get him home and phones all protecting force to stop
resistance. Next, he tells Đỗ Thọ to let Trần Văn Đôn know
his whereabout. However, Dương Văn Minh doesn't let Đôn and
Khiêm go to get Mr Diệm, but orders general Mai Hữu Xuân
(who still hates Mr Diệm because the latter has destroyed
B́nh Xuyên gang which Xuân had some connection, Mr Diệm did
not only remember about that connection but uses and
promotes Xuân to the rank of general), Colonel Nguyễn Văn
Quan, Colonel Dương Ngọc Lắm, lieutenant-colonel Dương Hiếu
Nghĩa and captain Nguyễn Văn Nhung to organize a convoy to
get Messrs. Diệm-Nhu.
Đỗ Thọ is regretful that he didn't tell both to leave Sài
G̣n-Chợ Lớn because he believes that Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn
and Trần Thiện Khiêm will protect the men. However, Mr Diệm
says to Đỗ Thọ that, ‘’I don't know whether or not I will
die and I don't care. Please tell Nguyễn Khánh that I love
him very much and request him to revenge for me.’’
Dương Ngọc Lắm says that when the group go to the church
"Father Tam" around 7 pm, Messrs. Diệm-Nhu were already
there. Mai Hữu Xuân approaches them and say hello (some
sources say that it's Nghĩa to do that while Xuân stands
behind), thinking that he will be sent abroad, Mr Diệm asks
Xuân to drop by the palace to get clothing. Xuân answers
that is impossible because he must bring Mr Diệm to the
General Headquarter. Mr Nhu asks: Get a President by this
car (they are brought into an armored car)? Xuân says it's
because of security. Mr Diệm steps in the armored car
without saying a word. There is only one driver in the
amored car. There are 4 cars before theirs. When the convoy
runs for a while, young officers ask to shot Mr Nhu, but
Dương Ngọc Lắm says: ‘’Nobody shots anybody, we must go to
the general headquarter.’’ The convoy stops at many places,
especially at the railway crossing on Hồng Thập Tự street.
Arriving at the General Headquarter, Dương Ngọc Lắm comes to
the armored car M-113 finding that the corpses of Messrs.
Diệm-Nhu lied on the ground: Their hands are tied to their
backs. Mr Diệm was shot from behind his head. Mr Nhu was
stabbed many times on breast, back and shot on the head.
Later, Trần Văn Đôn meets Dương Văn Minh at the corridor of
Trần Thiện Khiêm's office and asks why the two must die.
Minh answers disdainfully: ‘’Does that matter to me? They
were dead.’’ Right at that moment, Mai Hữu Xuân comes to say
to Minh that ‘’Mission Accomplie’’. Don concludes that Dương
Văn Minh ordered Mai Hữu Xuân to kill them and that's only
Minh to decide it alone.
Nguyễn Văn Quang is later promoted to the rank of general
and before his death, says to Trần Văn Đôn: ‘’Diệm-Nhu were
killed at the railway gate on Hồng Thập Tự street (Cổng xe
lửa đường Hồng Thập Tự) by two persons: Dương Hiếu Nghĩa
shot both men from the turret of the armored car M-113 with
an automatic pistol (pistolet mitrailleur). Nhung, in the
car, used pistol and bayonet to finish the task...’’
According to details Mai Hữu Xuân lets Đôn know, Dương Văn
Minh orders Xuân to welcome Messrs. Diệm-Nhu. They are in
the car with Dương Hiếu Nghĩa and Nhung. Xuân is in the car
of Quan and Lắm. The first and last civilian strongman and
his advisor die on the road to the General Headquarter.
Trần Văn Đôn says that Nguyễn Văn Nhung has been known a
cruel man and loved to kill. Ba Cụt has been beheaded by
Dương Văn Minh, but Minh still ordered to let Nhung dig his
corps and cut it into many pieces. Every time to kill
somebody, Nhung makes a mark on his pistol.
In a readjustment coup (cuộc chỉnh lư) of Nguyễn Khánh,
General Dương Văn Đức, in the night of 30.1.1964, arrests
Nhung right before Dương Văn Minh and Nguyễn Ngọc Thơ, but
Minh dares not to protect Nhung. Nhung is handed to the
paratrooper army of Nguyễn Chánh Thi, tortured to death and
declared he hangs himself.
In ‘’Government and Revolution in Vietnam’’ by Dennis J.
Ducanson, Oxford University Press, 1968, p. 340:
Death of the president-If things had not turned out quite as
General Trần Tử Oai's tape recording had been repeating over
the air the previous afternoon, Ngô Đ́nh Diệm did
nevertheless surrender by telephone to Joint General Staff
Headquarter during the morning of 2.11.1963. He and his
brother were collected by the commandant of the Civil Guard
(oaths of personal loyalty, even Cần Lao ones, were
forgotten in this moment) and he consigned them to a Captain
Nguyễn Văn Nhung with an armoured car. Later in the morning,
the Captain delivered their corpses to the Generals,
battered and shot. General Oai announced that they had
committed suicide ‘’inside the church’’, the Captain was
arrested shortly afterwards on a charge of corruption, and
soon General Oai's staff were putting it about that he too
had committed suicide, after confessing to the regicide.
In ‘’Assassin in our time’’ by Sandy Lesberg, Peebles
International, London, 1976, p. 142:
The general in charge of bringing back the prisoners rode in
one of the carriers and the prisoners in the other. A Major
who had a grudge against Nhu for having ordered the
execution of one of his close friend accompanied the
prisoners. An eyewitness report described the assassination
which the generals at first called suicide then ‘’accidental
suicide’’
Diệm and Nhu sat with hands tied behind their backs. While
Diệm remained silent, the major lunged at Nhu with his
bayonet and stabbed him 15 or 20 times. Then he took out his
revolver and shot Diệm in the back of his head, seeing Nhu's
body still twitching on the floor, the Major administered
the coup of grace by putting a bullet through Nhu's head
also.
Washington's shaking
The assassination of Messrs. Diệm-Nhu unmans strongly
American generals favoring the coup and U.S. public.
Mr Đỗ Mậu, self-claiming as main plotter, writes that he
cries when seeing them killed. General Tôn Thất Đính also
cries and punches onto his desk in frustration. Not knowing
how to explain, General Trần Tử Oai of the Information
General Office, announces: The death of Messrs. Diệm-Nhu is
an ‘’accidental suicide’’. A stupid announcement from a
general makes people laugh at an excuse for an illegal act
of coup generals.
In the morning of 2.11.1963, when Conein goes to take a
shower, he receives a phone call from Cabot Lodge that
Kennedy wants to know the whereabout of Messrs. Diệm-Nhu.
Upon arriving at the General Headquarter he sees them dead.
In Washington, the National Security Council convenes for a
discussion about the situation after knowing there was a
coup d'etat. An official telegram is delivered and put on
the table, all are silent. Reading it, Kennedy with a faded
face stands up, goes out for a while, comes back and says:
‘’Mr Diệm has fought against communists for 9 years, he
should have something in return.’’
Michael Forrestal, one of the men favoring the coup d'etat
and co-drafting the official message 243 to Cabot Lodge on
24.8.1963 requests a resignation, but Kennedy says that he
should stay.
Secretary of State Dean Rusk who has been called ‘’a man of
no image’’ due to always repeating after Kennedy sends a
message to Cabot Lodge: ‘’I want to show my adoration to
your managing the complicated event with perfection.’’
Then, another message is: ‘’Reports about the death of
Diệm-Nhu (shot with details of blood all over) on the first
pages of newspapers cause high emotion. We think that is
unexpected from the coup d'etat.’’
The truth is that it is an unavoidable consequence because
in the secret file of the White House, there is no item as
the prime condition to keep safe Messrs. Diệm-Nhu when
Kennedy directed Cabot Lodge to support coup generals.
General Maxwell Taylor who opposes the coup d'etat and
replaces Cabot Lodge says: ‘’Mr Diệm's soul haunts each one
of us who knew the coup. Due to our complicity, the
Americans must take responsibility upon the tragedy the
South Vietnamese must bear and the consequent political
chaos which is the pretext of our withdrawal, by doing our
role, we bring them into suffered situations and this stops
people to have any suggestions...’’
Forrestal, talking about Kennedy, says: ‘’The death in
Saigon makes him shocked morally and religiously, and this
undermines his belief in any suggestions related to
Vietnam.’’
Doctor Hammer criticizes touchingly: ‘’Now, a first Catholic
head of state is dead, assassinated due to the consequence
of a policy of the first Catholic American president who
permits the plan.’’ To condone Kenedy, a friend says:
‘’Anyhow, Diệm and Nhu were tyrants.’’ Kennedy answers:
‘’No, they were in difficult position. They did the best
they could for their country’’ (‘’A death in November’’, p.
301).
This is too late historical contradicting statement,
restoration of honor for Messrs. Diệm-Nhu, rejection of
propagandas related to the coup d'etat, a condemnation of
coup generals who followed the inducements of the Americans
by betraying their president and treason. Doctor Hammer
writes:‘’Kennedy's statement is an offering before the
graves of Messrs. Diệm-Nhu. ’’
Although I have opposed Messrs. Diệm-Nhu's policies in 1958,
I acknowledge that Messrs. Diệm-Nhu's statement written
down by Lodge in a message on 1.11.1963 is their effort of
perfect compromise for the sake of the self-governed
interest of Vietnam and that is praiseworthy. It is
regretful that their fate and South Vietnam to confront a
‘’colonialist and self-conceited’’ behavior of a young
Kennedy and a ‘’governor-general’’ Cabot Lodge, this causes
their death.
When seeing Trần Văn Đôn on 2.1.1963 at the U.S. embassy,
Cabot Lodge says: ‘’President Kennedy and American public
are shocked. I say to them that I can't believe there are
such deaths and are very sad’’.
Sadness and regret may disturb the mind of Lodge, Kennedy
and other responsible people, but that is unavoidable as
general Maxwell Taylor has critized them that, ‘’They
unconsciously play with fire encouraging the coup d'etat. In
the first message to Lodge on 24.8.1963, a message signaling
a coup d'etat. It's Kennedy who did verify that ‘’we must
cope with a such situation that Diệm's life is not
guaranteed. ’’
Around 10 am of 2.11.1963, Flott, assistant of Cabot Lodge,
visits me and makes excuse about his dirty suit because he
did come to the Gia Long Palace to look for Messrs. Nhu and
some documents. Flott boasts that he was the last man to
shake hand with Mr Diệm yesterday. Through an introduction
of a friend, I have came to know Flott. I did draft a letter
and a report and sent them to Kennedy dissuading him not to
set up a coup d'etat and should not send the U.S. army to
Vietnam, that is my last advice to him. Flot has come to see
me many times, but I found way to avoid seeing him because
we hadn't the same political viewpoint.
The death certificate for Mr Diệm says that he is a small
Mandarin of B́nh Thuận, and for Mr Nhu, a librarian (quản
thủ thư viện). It's ironic that Messrs. Dương Văn Minh, Trần
Văn Đôn,...have had titles promoted by not a small mandarin
in B́nh Thuận, but by a President.
On 3.11.1963, I arrive at Trần Trung Dung's house on Đoàn
Thị Điểm Street for infos. Dung confirms that Messrs, have
been killed. Dung and a priest make shrouding their corpses
according to Catholic ceremony. Their corpses are then
buried in the backyard of the General Headquarter. However,
through many coups d'etat after, Generals still feel unsafe
and rebury them at the cemetery Mạc Đĩnh Chi. I drop by to
visit them seeing that their graves have no tombstones.
Trần Trung Dung's wife is Hoàng Anh, niece of Messrs.
Diệm-Nhu. Sobing, she asks the Council of Generals to verify
that the two were killed not suicided because suicide is a
disgrace to the family. Dung laments to me: ‘’She is too
naive. ’’
As Marguerite Higgins writes, when exiled in Bangkok, Dương
Văn Minh admits to an American that he orders to kill
Messrs. Nhu because ‘’I couldn't do differently’’.
He couldn't let Mr Diệm alive because ‘’he got sympathy from
simple and rustic people in the rural areas, especially
Catholics and refugees.’’ About Mr Nhu, Minh says, ‘’Nhu was
afraid of by many people and did set up many
organizations.’’
Mr Trần Văn Hương, Prime minister from 10.1964 to 1.1965,
speaks to a British diplomat: ‘’They, Generals, decided to
kill Messrs. Diệm-Nhu because they were too afraid of them.
They knew that they had no talent (bất tài), morality (đạo
đức và luân lư), and no support from the vast majority of
the Viets. They could not stop Messrs. Diệm-Nhu taking back
the power if these men were alive. ’’
Informed that Messrs. Diệm-Nhu were assassinated, Mrs. Nhu
who is staying at the hotel Beverly Whilshire utters
efficacious words:‘’This blood will flow to Washington.’’
It's true that 20 days after the death of Messrs. Diệm-Nhu,
Kennedy is assassinated by Oswald in Dallas, Texas. Then,
Robert Kennedy, his younger brother, who once said to
Kennedy that ‘’why don't we eradicate that painful prickle
?’’ had the same fate not long after.
Mrs. Nhu and her 3 kids are transported by an American
airplane to anywhere she wants.
Rewards ?
In an official message dated 30.10.1963 of the State
Department to Cabot Lodge, George Bundy notes that coup
generals may need a hefty sum of money at the last minutes
to bribe the resistant group (Conein later says that that
money would be used for coup general to escape if the coup
failed), he also says that generals can keep that money if
the coup d'etat is well-organized and successful, the use of
money should be done secretly. This order is executed by
Lucien Conein. However, Conein does it openly by bringing
that money to the Joint General Staff Headquarter on
1.11.1963. Lucien gives 3 million dollars to Trần Văn Đôn
and Tôn Thất Đính. The sharing of money creates a bad
reputation, due to this, in 1971, General Trần Văn Đôn
orders Major ĐặngVăn Hoa to conduct a search for receipts.
Major Hoa makes a report dated 14.8.1971 with details as
follow :
- Trần Thiện Khiêm: VN $500,000
- Tôn Thất Đính: $600,000
- Lê Nguyên Khang: $100,000
- Nguyễn Văn Thiệu: $50,000
- Trần Ngọc Huyến: $100,000
- Phan Ḥa Hiệp: $100,000
- Đào Ngọc Diệp: $100,000
Total : $1,550,000
Another 1,450,000 đồng has been delivered to Dương Văn Minh,
Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Trần Ngọc Tám,
Nguyễn Khánh and Đỗ Cao Trí. Furthermore, Mr Dương Văn Minh
gets another 6,000 dollars found in a suitcase of Mr Diệm.
White House's top secret documents about news on Nhu
negotiating with Hanoi
Two persons who have taken the important roles in the coup
d'etat of 1.11.1963 are Trần Văn Đôn and Đỗ Mậu. They all
write memoirs emphasizing the reasons for their opposition
to Mr Diệm are: (1) oppression of Buddhists and (2) Mr Nhu's
secret negotiation with communists.
To the matter (1), one can know that the oppression is just
a make-up story in order to label the man Buddhists did not
like and then progress their ambition; the years to come
explained the unrest created by religious people abusing
their rights and prestige. The Buddhist ‘’incident’’ has
been blown out of proportion basing on ambiguous accusation
by Ấn Quang Buddhist sect and others. At last, the 3 forces
(this Buddhist sect, U.S. and Viet Generals who thought that
their interest and plans would be gone if U.S. cut aid)
cooperate with or just take advantage of one another to
bring down Mr Diệm. Each side has its own perfect pretexts
for a criminal act. McNamara's words about the failure
reflected this big mistake.
About (2), as one may know, Mrs. Hammer, a Ph. D. graduate
in International Relation at the university of Columbia and
author of ‘’The struggle for Indochina’’, has spent more
than 30 years following events in Vietnam, especially the
period from 1956-1966, the time span of her stay in
Vietnam.
In her book ‘’A Death in November’’, searching for secret
files of the White House under free access act, she has
found out that the news of Nhu secretly negotiating with
communists is totally false. Mrs. Hammer mentions about (1)
the memorandum of Roger Hilsman and Hilsman & George Bundy's
telegram to Cabot Lodge in order to teach Viet Generals how
to spread out rumors, (2) Through the mediums of Mieczyslaw
Maneli of Poland and Goburdhum of India the International
Commission for Supervision and Control or ICC (Ủy Ban Kiểm
Soát Đ́nh Chiến), it's Hồ chí Minh to suggest a trade with
the South so that the North can get South Vietnam's rice for
a starved North Vietnam while South Vietnam is still
independent under the presidency of Mr Diệm.
Here are details:
(1) Roger Hilsman's memorandum and Hilsman &
Bundy's message to Lodge: In his memorandum of 16.9.1963,
Roger Hilsman records that Mr Nhu's minimal goal is to
reduce abundantly the number of American advisors at
essential spots having political significance like the
Strategic Hamlets. His maximal goal is to negotiate with the
North, withdraw the Americans out of Vietnam and keep
Vietnam as separate but neutral state. Basing on these
easons and calling it an adventure, Hilsman drops the
moderate stand to convince Mr Diệm and chooses using strong
measures against Mr Diệm's regime.
According to these two goals mentioned above, the majority
of the Americans must withdraw. It's clear that Mr Nhu
doesn't want to see too many Amricans in Vietnam and keeps
South Vietnam separate and not united with communists.
However, upon contacting Ambassador Bửu Hội, Hilsman, with a
scornful behavior, detests rumors about Mr Nhu's
negotiation with communists and says that he doesn't believe
in any words of those, giving that Mr Nhu just lies and
U.S. is never threatened by that.
Cabot Lodge did meet Mr Nhu and was let known that there has
been a contact with communists with the aim at ‘’opening
arm’’ (chiêu hồi). If a treaty can't be reached, Mr Nhu will
resign. He also says that he has intention to take a rest in
Đà Lạt after lifting the martial law and when the Americans
are gone. It's also the reason that Cabot Lodge opposes
strongly Messrs. Diệm-Nhu because Lodge comes here to
organize a coup d'etat. About Hilsman & Bundy's message to
Lodge in order to teach Viet Generals how to prepare pretext
for their action, it is as follows :
‘’If the coup d'etat is successful, the sympathy and
recognition of the reason for it will be enhanced if
generals and civilians cooperate tightly with each other by
publicly developing the conclusion that Mr Nhu negotiates
with communists and betrays anti-communist ideal. This must
be emphasized to the public as soon as possible.’’
(2) Mieczyslaw Maneli and Goburdhum in the the International
Commission for Supervision and Control (ICC) :
According to Mrs. Hammer's ‘’A Death in November’’ :
- Maneli: In a reception at the Foreign Ministry, Maneli
meets Mr Nhu and the latter says to him that he wants peace
and just only peace. The ICC must play an important role in
restoring peace in Vietnam. Maneli answers that he will be
ready to receive an active and constructive role available
for the ICC to re-establish peace and reunification for
Vietnam. Nhu answers that the government of Vietnam wishes
that will be done within the spirit of Geneva Accord.
In 7. 1963, when Maneli goes to Hanoi for discussion, Hanoi
agrees North Vietnam will let Mr Diệm to be head of South
Vietnam. This contradicts with Hanoi's Stalinist behavior
and violent temper. Hồ chí Minh appeals for cease-fire and
wants the Americans not to interfere in his negotiation with
Mr Diệm (this happens at the time the Americans are planning
the coup d'etat). Maneli cites that Phạm văn Đồng asks him
how to contact Mr Nhu. With this plan, the Americans must go
so that a cease-fire can be reached, peace will be restored
and reunification will be worked out basing on basic
realities.
According to Maneli, the reason North Vietnam wants peace is
from 1954, North Vietnan was in regular droughts and crop
failures. The water level in rivers was so low that water
couldn't be bailed up to paddy fields and as a result,
seawater reached to the mainland. North Vietnam would be
starved if there was no aid of rice from the South, due to
this, North Vietnam must need rice from the Soviets and
Chinese and always thinks about how to self-defend. However,
the Soviets and Chinese were opposing each other and this
made North Vietnam bear the conflict, and at the same time
it must stand the pressure from the Chinese. Maneli lets
only the Soviets and Poles know about this, not the
Chinese.
Maneli also says that in the 7.1963 trip to Hanoi, he has
heard about a North-South contact, Cabot Lodge got the same
rumor. According to Mrs. Hammer, the negotiation is not in
detail and related to reduction of rebel and military
actvities. Late in 8.1963, communists reduce relatively
their activities.
- Goburdhum : Goburdhum says that when he goes to Hanoi he
is informed that Hanoi wants to have trade with the South,
but not in the atmosphere of war. Hồ chí Minh says: ‘’Mr
Diệm is a patriot in his way. With his independent
character, he will have some difficulty in his relation with
the Americans because U.S. wants to control all affairs. If
you see Mr Diệm, make a connection for me.’’
Goburdhum recognizes that Hồ chí Minh, as an Asian and a
citizen of a country of the Third World, sympathizes with
the Saigon regime's eagerness of trying to detach from
American screwing. Ho also praises Ngô Đ́nh Nhu to be wise
enough to get out of political frame of the past. Goburdhum
thinks that is a openness in diplomacy to help North and
South sympathize each other in restoring peace. At that
time, Vietnam can follow the way of India and other neutral
countries.
- Meanwhile, General De Gaulle talks about an invitation of
both North and South Vietnam to participate in a national
effort towards independence, peace and reunification. He
emphasizes that he doesn't want to interfere in Vietnam's
affair. French Foreign Minister Maurice Couve de Murville
explaines that declaration is for a long-term policy. De
Gaulle will cooperate if Vietam wants so. Mrs. Hammer
acknowledges that De Gaulle's words are important, pragmatic
and invaluable because Phạm văn Đồng also admits that
despite the wars with the French in the past the French-Viet
friendship is still strong due to its democratic and social
tradition.
However, that is also the time the Americans are striving
for the coup d'etat to continue the war and searching for
new men who are ‘’more docile’’. Knowing about this,
L'Alouette says that Vietnam will lose the opportunity to
get peace because Mr Diệm is the only man of determination
to keep independence and peace. Maneli telegraphs to Poland
and at the same time sends ‘’news’’ to Hanoi and the Soviet
embassy in Hanoi.
Wish of negotiation of Ho Chi Minh
5 days after De Gaulle's suggestion, on 2.9.1963, Mr Nhu
says to Maneli that he doesn't oppose a negotiation and
cooperation with the North: ‘’The Viets never forget who
they are and who foreigners are even in fierce wartime. If
we can talk face to face we can reach a sympathy...But in
the near future, I see nothing leading to a face to face
talk. However, we can wait for a clear revelation.’’
According to ‘’A death in November’’, Mr Diệm agrees to
exchange letters with the North and South Vietnam's rice to
North Vietnam's coal. Until 7.1963, Hanoi agrees to let Mr
Diệm lead South Vietnam and the South follow the Western
democracy, and Hồ chí Minh no longer asks for
reunification.
Mr Diệm answers that he doesn't expect a neutrality for
South Vietnam because that will break the tie with American
ally.
Asked about his reaction to De Gaulle's announcement, Mr Nhu
says: ‘’Who doesn't participate in this war has no right to
interfere. Our loyalty to the Americans doesn't permit us to
scrutinize their announcements. The Americans are just the
only ones on this planet who has helped South Vietnam. Due
to this, I have no comment.’’
Declarations of Messrs. Diệm-Nhu emphasize that they take
side to the Americans although they don't totally accept
American policies.
According to an Italian Ambassador, Mr Nhu lets him know
that there is a go-between to contact communists for a talk.
Communists suggest peace not because the success of the
Strategic Hamlets but Hanoi is under heavy pressure from the
Chinese, and the trade will benefit both. The North doesn't
request a neutral South Vietnam because after the war ends,
the presence of the Americans are not necessary.
French Ambassador L'Alouette tries to convince Cabot Lodge
to let Mr Diệm hold the power and says to Lodge that Phạm
văn Đồng is ready to negotiate for a trade as he has said to
Goburdhum. However, whatever he tries L'Alouette knows that
Lodge's mission is to overthrow Mr Diệm. On 10.9.1963,
L'Alouette meets Cabot Lodge about the matter, Lodge
answers:‘’U.S. decides not to withdraw and wants decisively
that Saigon must shuffle the personel and policy. We must
negotiate in a strong position. ’’
The New York Times writes that Ambassador L'Alouette tries
to rally Western diplomats to convince Lodge to reconcile
with Mr Diệm, and France will support Mr Nhu in the task to
reunite Vietnam. However, Quai d'Orsay denies the news and
says that France doesn't support anybody. After this,
L'Alouette is recalled to France and never returns. French
embassy in Vietnam has now only officials to carry on normal
business and none to be go-between in this affair.
Late in 10.1963, De Gaulle comes to Viet embassy at
Rambouillet street, informs about latest news from Saigon
and suggests help. De Gaulle wants to warn Saigon that may
be a coup d'etat. However, there is no answer from Messrs.
Diệm-Nhu.
Nobody knows whether or not Mr Nhu wants to trick the
Americans and has shown some behavior which seems to replace
Mr Diệm.
About the rumor that Mr Nhu may negotiate with communists,
Chester Cooper of CIA reports to CIA Director Mc Cone that
the validity of the rumors is below 50%. However, Cooper met
Mr Nhu for 3 hrs in 3.1963 and recognized that Mr Nhu knew
very well about communists' scheme. CIA ananlyzes that
American pressure can make Messrs. Diệm-Nhu mad. Cooper can
not predict what one of them will decide to do.
In brief, the mentioned above details shows one that the
wish of negotiation has been suggested, but that is only
struck up through the medium of Maneli and Goburdhum.
Furthermore, that suggestion is not from Mr Nhu but Phạm văn
Đồng and Hồ chí Minh who may want to get out of the pressure
and domination of the Chinese and Soviets and trade rice
with the South.
There is no matter of reunification because Hồ chí Minh
agrees to let South Vietnam to follow Western democracy and
be led by Mr Diệm. It means there is no such thing as
Messrs. Diệm-Nhu sell the South to communists as accused by
generals Trần văn Đôn and Đỗ Mậu in concordance with
directives from Hilsman & Bundy's message to Cabot Lodge.
This is also proved by Mr Diệm's words to Cabot Lodge by
having him sent to Kenndy at 12h15 of 1.1.1963 as
follows:‘’Please tell President Kennedy that I am a good and
frank ally, that I would rather be frank and settle
questions now than talk about them later when we lose
everything. Tell President Kennedy that I take all the
suggestions very seriously and wish to carry them out, but
it is a question of timing.’’
It's these last words from Mr Diệm to verify that Mr Diệm
shows his utmost compromise due to national interest to show
his allying to the Americans.
(As one see later that the play card of ‘’Buddhist
incident’’ is dropped by the Americans and media. They
never see any ‘’Buddhist struggle’’ as genuine anymore)
CHUYỆN TR̉ VỚI BÀ NGÔ Đ̀NH NHU
Trương Phú Thứ
Tôi đến thăm Bà Ngô Đ́nh Nhu vào lúc 2 giờ trưa
ngày 16.3.2002 tại Kinh Thành Paris của nước Pháp. Nắng êm
dịu vừa lên sau buổi sáng ẩm ướt của những ngày đầu Xuân và
Paris th́ lúc nào cũng chật ních những người và xe. Thành
Phố có cả một kho tàng bảo vật và huyền thoại. Ở đây người
đi bộ đầy đường với những tiệm ăn và quán cà phê nối tiếp
chạy dài cả dăy phố. Người Paris nhàn hạ và ham muốn hưởng
thụ, chậm chạp nhưng thon thẻ hơn người Seattle. Cuộc sống
thư giăn chậm chạp của những ông Tây bà Đầm là niềm ước mơ
của những người luôn phải vội vă lập cập với tốc độ từ sáng
sớm đến nửa đêm ở Cali hay Texas.
Bà Nhu ở một ḿnh trong một đơn vị gia cư của một ṭa nhà
mới xây gần Tháp Effeil. Nói là mới để phân biệt với những
chung cư san sát ở Paris đă được xây cất cả đến vài ba thế
kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư Bà Nhu ở có
những nét kiến trúc đương đại giống như một cái hộp khổng lồ
bằng kính, có lẽ đă được tạo dựng từ 30 đến 40 năm. Bà Nhu
là sở hữu chủ 2 đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của ṭa
nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất
Thủ Đô Paris, ngay giữa cái nôi của văn hóa và chính trị thế
giới. Nơi đây có một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay
mấy trăm tấc vàng. Cả vùng này hầu như là nơi cư ngụ của các
nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở
một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó
là lợi tức duy nhất của Bà, cũng tiệm tạm đủ sống và không
cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, đi về lẻ loi thầm
lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của Cộng Đồng Người
Việt Quốc Gia ở Paris là Cựu Trung Tướng Trần Văn Trung vẫn
nghĩ là Bà Nhu sống ở bên Ư.
Trên đường đến thăm Bà Nhu, tôi vẽ ra trong đầu óc qua h́nh
ảnh của những chung cư đắt tiền ở New York hay San Francisco
đă xem trên những tạp chí chuyên về địa ốc ở Mỹ và nghĩ là
nơi cư ngụ của Bà Nhu chắc phải sang trọng lắm. Những
apartment của Jacqueline Kennedy hay John Lennon ở New York
và của các tay tài phiện ở San Francisco gợi cho tôi một náo
nức mong chờ. Các Cụ ḿnh ngày xưa vẫn nói ‘’ăn cơn Tàu, ở
nhà Tây’’ th́ chắc đă có một so sánh cẩn trọng. Tôi bước đi
vội vàng với những lung linh nơi lănh địa của giới thượng
lưu. Những ḍng họ quư tộc từ bao nhiêu đời cấu trúc nên vẻ
hào nhoáng phong nhă của Kinh Thành ánh sáng và dân cư ngụ ở
chân trời góc biển nào lưu lạc tới đây cũng được nhận lănh
ấn tích của người Paris. Chiếc thang máy nhỏ hẹp vừa đủ chỗ
đứng cho một ông Mỹ quá khổ đưa tôi lên tầng 11 của ṭa nhà
cao tầng. Bà Nhu mở cửa đón khách trong chiếc áo kimono Nhật
màu xanh nước biển, khuôn mặt trang điểm kỹ lưỡng với giọng
nói đặc Huế. Bà đón tôi trong một tư thái rất chánh trị,
không vồn vă mà cũng chẳng quá lạnh nhạt. Bà Nhu vừa vào
tuổi 80 nhưng rất khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng
thẳng, đôi mắt to và sáng. Có người nói từ năm 1963 đến nay
Bà chẳng già đi chút nào. Thật ra đó chỉ là một lối nói để
diễn tả sức khỏe sung măn của một người tuy đă nhiều tuổi
đời nhưng vẫn giữ được vóc dáng linh hoạt và nét mặt không
có những nếp nhăn theo thời gian. Tuy nhiên ‘’cái già’’ cũng
vất vưởng đâu đó trên khóe mắt vành môi. Khi Bà cười th́
khuôn mặt trông rất tươi trẻ phô bày bộ răng trắng vẫn c̣n
đầy đủ trong t́nh trạng hoàn hảo.
Chỗ ở của Bà Nhu tuy không nghèo nàn, nhưng chẳng có ǵ đáng
nói, ngay cả không bằng cái apartment mà tôi thuê mướn ở
ngoại ô Thành Phố Seattle vào Mùa Đông năm 1975 khi vừa đến
Mỹ. Đơn vị gia cư của Bà Nhu rất tầm thường, giống như những
apartment rẻ tiền ở Mỹ với hai pḥng ngủ và một diện tích
nhỏ làm pḥng khách. Phía tay trái lối đi từ cửa ra vào là
nhà bếp. Trên tường pḥng khách treo vài khung h́nh lớn có
những tấm h́nh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Đức Cha Ngô Đ́nh
Thục, Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, Cô Trưởng Nữ Ngô Đ́nh Lệ Thủy
và nhiều người thân tộc đă quá văng. Khoảng trống phía tay
phải là pḥng khách có một bộ ‘’xa lông’’, bên cạnh kê bàn
ăn với 6 cái ghế. Bộ bàn ghế này và vài cái tủ nhỏ kê ngoài
pḥng khách làm bằng gỗ nụ mầu đen với những nét trạm trỗ
Việt Nam quen thuộc. Bà Nhu cho biết trước kia thân sinh là
Ông Bà Trần Văn Chương có một apartment ở Paris và những đồ
đạc này được mang từ Việt Nam qua, lâu lắm rồi. Khi hai Cụ
thân sinh bán cái apartment đi th́ cho Bà Nhu bộ bàn ăn và
hai cái tủ nhỏ này. Tôi đă đọc mấy bài báo nói về khiếu thẩm
mỹ của Bà Nhu qua việc sắp xếp và trang hoàng Dinh Độc Lập.
Giờ này được đứng ngay giữa cơ ngơi của riêng Bà mà chẳng
thấy một ‘’công tŕnh’’ nào xem cho bắt mắt, có thể v́ điều
kiện tài chánh hay thời chưng diện của Bà đă qua.
Đứng ở nhà bếp nh́n ra ngoài có cảm tưởng như Tháp Effeil
sát ngay bên cạnh khung cửa kính. Tôi tiếc thầm, phải như
pḥng khách mà được xếp đặt ở chỗ này th́ đẹp biết bao.
Ngồi đây nhâm nhi ly cà phê nh́n thiên hạ từ khắp nơi trên
thế giới đổ xô đến chân tháp chờ lên thang máy nh́n cả Kinh
Thành Paris. Ngày như đêm lúc nào cũng là hội hè đ́nh đám.
‘’Vui với cái vui của thiên hạ’’ chắc ḷng ḿnh cũng phần
nào đỡ trống trăi. Có lẽ cũng v́ vậy mà pḥng ngủ bên cạnh
nhà bếp có kê một bộ ‘’xa lông’’để bù đắp lại cho sự thiếu
sót to lớn của người thiết kế khu chung cư. Pḥng ngủ thứ
hai là chỗ làm việc của Bà Nhu với đủ loại sách báo. Cả đơn
vị gia cư của một người sống lẻ loi một ḿnh không có đến
một cái gường nhỏ. Buổi tối Bà Nhu trải một cái chăn trên
nền nhà, ở một chỗ nào đó trong ‘’căn hộ’’ nhỏ hẹp để nghỉ
qua đêm. Bà không ngủ trên gường nệm nên mặc dầu đă lớn tuổi
mà vẫn giữ được lưng thẳng và đi đứng nhanh nhẹn mạnh dạn.
Bà Nhu mời tôi ngồi trên một cái ghế ngay đầu bàn ăn cạnh
khu pḥng khách. Bà ngồi ghế đối diện, chân trái gác lên một
cái ghế thấp hơn. Bà nói kỳ này khí hậu thay đổi bất thường
nên cái chân hơi bị đau v́ vết thương ngày trước. Bà Nhu bị
gẫy chân trái trong vụ hai Phi Công Phạm Phú Quốc và Nguyễn
Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27.2.1962. Sau này Bà
đang đi bộ th́ trượt chân ngă và cũng cái chân trái này bị
gẫy lần thứ hai. Mặc dầu Bà không gặp khó khăn ǵ khi đi
đứng nhưng đôi khi cũng thấy khó chịu.
Đối với tôi đây chỉ là một cuộc thăm viếng thường t́nh giữa
người đồng hương nơi xứ lạ. Tôi không có ư định phỏng vấn Bà
Nhu và chắc chắn Bà sẽ không được tự nhiên, thoải măi khi
phải đóng khung trong những câu hỏi của một cuộc phỏng vấn.
Phần khác tôi cũng không muốn khơi lại những đau thương mà
Bà phải gánh chịu trong cơn băo táp lịch sử và bể oan cừu
cay nghiệt của cuộc đời. Tôi muốn cuộc thăm viếng không bị
g̣ bó và trói buộc vào một chủ đề đồng thời cũng không muốn
t́m ṭi những ǵ mà cá nhân tôi và rất nhiều người được nghe
đủ loại chuyện tốt xấu về Bà mà cũng biết hư thực ra sao và
từ những mù mờ đó đă có biết bao câu hỏi về một người đàn bà
một thời xe ngựa thênh thang. Tôi muốn câu chuyện được tự
nhiên và để Bà chủ động bất cứ những ǵ Bà muốn nói. Tôi có
thể dùng những tiểu xảo của kỹ thuật phỏng vấn ‘’gài’’ Bà
vào những sơ hở để thỏa măn những ǵ tôi muốn biết hoặc chỉ
nghe đồn thổi. Tôi đă không làm như vậy v́ ḷng kính trọng
đối với Bà và lương tâm ngay lành của tôi.
Tôi mở đầu câu chuyện bằng mấy lời xă giao thông thường,
kính chúc Bà luôn được mạnh khỏe an vui, Bà bắt đầu ṇi về
lai lịch nơi hiện cư ngụ. Rất nhiều người biết qua báo chí
chuyện một người Pháp giàu có biếu Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đă cho Bà Nhu để
mua một đơn vị gia cư trong ṭa nhà cao tầng này và sau đó
Bà dành dụm mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thực không phải
vậy. Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một
vị ân nhân ẩn danh. Có tiền trong tay, Bà đă nhờ một cựu Bộ
Trưởng thời Chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai
đơn vị gia cư này. Vào những năm mà người Việt vượt biển ra
đi một cách rầm rộ gần như công khai, Bà Nhu cho mấy thanh
niên mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở đơn vị gia cứ thứ hai và
không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào
cả. Một thời gian sau những thanh niên này t́m được thân
nhân hay v́ nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống mới th́
Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến
ngày nay. Vị ân nhân tặng Bà Nhu số tiền kếch sù đó là Bà
Capaci, một cư dân Thành Milan nước Ư và cũng là một trong
bảy người phụ nữ giàu nhất thế giới. Bà Nhu chưa một lần gặp
vị ân nhân này và măi đến 4 năm sau khi Bà Capaci tạ thế Bà
Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của
người đă gia ân cho ḿnh.
Trên bức tường ngăn pḥng khách và nhà bếp có treo tấm h́nh
đen trắng ngôi nhà của Ông Bà Nhu ở Đà Lạt, tôi nói cho Bà
biết chuyến đi về Việt Nam nhân dịp Tết Tân Tỵ, lần đầu tiên
sau 26 năm vội vă ra đi lánh nạn cộng sản. Tôi đă đi Đà Lạt,
ghé lại thăm ngôi nhà xưa của thời trung học, bước qua đường
đứng nh́n nhà Ông Bà Nhu một lúc lâu. Ngôi nhà của Ông Bà
Nhu hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không
thấy những đổ vỡ hoang tàn v́ thời gian hay qua những biến
động. Hiện nay Bà Nhu không ư định về thăm Việt Nam mặc dầu
Bà được nhà cầm quyền Hà Nội đánh tiếng cho biết là nếu Bà
muốn về th́ cũng chẳng có trở ngại ǵ. Những kỷ niệm về một
nơi chốn thân thương xa xưa gợi lại miền kư ức dấu ái. Bà
nói ‘’Tôi gặp Ông Cố Vấn năm 16 tuổi, đến năm 18 tuổi th́
làm đám cưới’’. Bà có vẻ buồn khi nói đến ngôi nhà ở Đà Lạt.
Một vùng trời mộng mơ với những kỷ niệm của ngày tháng êm
đềm nơi xứ xương mù vẫn c̣n vương vấn đâu đây.
Khi nói về những người con th́ Bà Nhu có vẻ bằng ḷng với
chút hănh diện. Tôi cố t́nh không hỏi han ǵ về Trưởng nữ
Ngô Đ́nh Lệ Thủy đă bị chết thảm trong một tai nạn xe cộ
trên xa lộ ṿng đai Paris. Rất có thể đây là một âm mưu quốc
tế c̣n nhiều nghi vấn chưa được sáng tỏ và tôi cũng không
muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn để rồi những gọt nước
mắt của bà mẹ lại một lần nữa ước đẫm trên khuôn mặt đă có
quá nhiều khổ đau. Ông con trai lớn Ngô Đ́nh Trác Tốt nghiệp
Kỹ Sư Canh Nông, năm nay cũng đă 55 tuổi (2003), lấy vợ
người Ư và có 4 con, ba trai một gái. Bà Nhu nói về những
đứa cháu nội, con trai của ông Trác, trong niềm vui ‘’cao
một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm’’, vợ ông Trác thuộc
gịng dơi quư tộc rất giàu có. Ông Trác rất đam mê công việc
trồng trọt chăn nuôi và đă chế tạo được nhiều dụng cụ nông
cơ thích hợp cho việc canh tác những thửa đất nhỏ.
Người con trai thứ hai là Ngô Đ́nh Quỳnh cũng đă trên 50
tuổi Tốt Nghiệp Trường E. S.E.C (Ecole Superieure de
l’Economie et du Commerce) chứ không phải Trường H.E.C
(Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí và sách
vở đă sai lầm. E.S.E.C là Trường tư đào tạo các chuyên gia
kinh tế và tài chánh cao cấp, có học tŕnh gay gắt và học
phí rất cao. Sinh viên được nhận vào Trường này phải vượt
qua những cuộc thi cử rất cam go và sau khi Tốt Nghiệp được
các Cơ Quan Kinh Tế và Tài Chánh trên toàn thế giới trọng
vọng. Khi Ngô Đ́nh Quỳnh học Trường này, Bà Nhu đă không đủ
khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền học. Hiện
ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở
Bruxelles, Thủ Đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đ́nh. Bà
Nhu cười nói ‘’Ông Quỳnh giống ông Bác’’, hàm ư sống độc
thân như Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Đang lúc tôi nói chuyện
với Bà Nhu th́ một thiếu nữ người Pháp gơ cửa bước vào với
một xấp h́nh trên tay. Cô bé 17 tuổi này vừa trở về sau
chuyến đi làm công việc thiện nguyện giúp các thanh nữ Phi
Luật Tân bị bệnh AIDS. Tất cả chi phí cho chuyến đi của cô
bé này do ông Ngô Đ́nh Quỳnh đài thọ. Cô bé có những lọn tóc
màu hạt dẻ khoe những tấm h́nh chụp chung với các nạn nhân
của căn bệnh thời đại và ước mong sẽ được trở lại Thủ Đô của
nước Phi Luật Tân để tiếp tục công việc bác ái. Bà Nhu nói
ông Quỳnh sống đạm bạc và rất tích cực trong những hoạt động
từ thiện nên ước vọng của cô bé chẳng phải là một giấc mơ.
Cô con gái út Ngô Đ́nh Lệ Quyên có bằng Tiến Sĩ Luật ở
Trường Đại Học Roma. Lệ Quyên là một Luật Sư Ngành Công Pháp
rất nổi tiếng nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở
Phân Khoa Luật của Đại Học Roma mà thôi. Lư do đơn giản là
Lệ Quyên không chịu vào Quốc Tịch Ư. Luật lệ của nước Ư lại
không cho phép những người không có Quốc Tịch được thủ đắc
hàm Giáo Sư và do vậy không được quyền giảng dạy một cách
chính thức trong học tŕnh. Lệ Quyên thường xuyên được mời
dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc
làm sửng sốt các ‘’cây đại thụ’’ của Ngành Công Pháp thế
giới. Lệ Quyên có chồng người Ư nhưng đứa con trai 7 tuổi
lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu hănh
diện nói tên cháu bé là Ngô Đ́nh Sơn, một tự hào ḍng họ hay
là sự giữ ǵn gốc rễ gia tộc.
Mỗi buổi sáng, bất kể thời tiết, Bà Nhu đều ‘’xuống đường’’
đi bộ chừng độ 10 phút đến Nhà Thờ Saint Leon dâng thánh lễ
hàng ngày. Cũng tại Ngôi Thánh Đường này, lần đầu tiên vào
tuần lễ đầu tháng 11 năm 2001, Bà Nhu tổ chức lễ tưởng niệm
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Thông thường sau thánh lễ bà ở lại
giúp dọn dẹp Nhà Thờ và xếp đặt trưng bày hoa nến. Ngày Chủ
Nhật Bà phụ trách dạy Lớp Thánh Kinh cho các trẻ nhỏ. Bà gia
nhập Đạo Công Giáo khi lập gia đ́nh nhưng lúc thiếu thời
được giáo dục trong các môi trường Công Giáo nên có thể nói
là Bà đă lớn lên và trưởng thành trong tín lư của Đạo Chúa.
Trong câu chuyện, Bà Nhu nhiều lần biểu lộ đức tin tuyệt đối
nơi sự an bài của Thiên Chúa. Bà đặt niềm cậy trông và phó
mặc tất cả mọi sự vui buồn, may rủi vào sự xếp đặt và định
đoạt của Đấng Tối Cao. Khi nghe tôi nói có thân nhân đang bị
bệnh và rất muốn trở về Mỹ sớm hơn, Bà Nhu đi vào pḥng làm
việc lấy cho tôi một tưởng ảnh Đức Mẹ Maria đúc bằng kẽm to
hơn đồng một xu Mỹ kim. Bà nói mang tượng ảnh về cho bệnh
nhân th́ Đức Mẹ sẽ cứu giúp và chữa khỏi. Tôi nghĩ là v́ có
đức tin mạnh mẽ như vậy nên Bà đă vượt qua được bao cơn sóng
gió ba đào mà sống mạnh khỏe cho đến ngày nay.
Trên đường từ Nhà Thờ về Bà Nhu cũng thỉnh thoảng ghé lại
tiệm bán hoa và cây cảnh mua vài bông hoa hay một chậu cảnh
trang hoàng trong nhà. Ít khi Bà phải nấu nướng v́ ăn rất ít
và những bà bạn người Pháp thường mang đồ ăn đến cho nên
cũng chẳng bận rộn ǵ việc bếp núc. Trước kia tôi có nghe có
người nói Bà Nhu chỉ ăn qua loa, hai ba lần một tuần. Tôi
nghĩ nếu ăn uống như vậy th́ làm sao mà...thở được. Bây giờ
tôi nghe chính Bà Nhu nói ‘’hai ngày nay tôi chưa ăn ǵ cả,
v́ tôi không ăn nên tôi không bệnh’’. Các vị Tu Sĩ Ấn Độ
Giáo rất ít khi ăn uống nhưng người nào cũng mạnh khỏe và
sống lâu trăm tuổi. Ở các nước Âu-Mỹ đa phần người ta chết
v́ ăn chứ có ai chết v́ đói.
Bà Nhu hầu như không đi sắm sửa quần áo giày dép. Mỗi năm
một người bạn người Nhật gửi qua cho vài cái áo kimono đủ
mặc trong nhà, có việc đi đâu th́ Bà mặc mấy cái quần áo cũ
cũng c̣n tạm được. Nói đến quần áo Bà có vẻ đăm chiêu ‘’ở
Sài G̣n nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ, Tổng Thống không
bằng ḷng’’ Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là ‘’kiểu áo Bà
Nhu’’ đă một thời là ‘’mốt’’ của các thiếu nữ Sài G̣n và
cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rỗi nghề.
Bà kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu
nhân các vị quốc khách mà chẳng có đến một món trang sức nên
thấy thiếu sót. Nhân có một Bà vợ của một Ông Bộ Trưởng muốn
bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (ruby), Bà Nhu có
tŕnh và xin Tổng Thống số tiền 6000 đồng bạc Việt Nam để
mua lại. Tổng Thống nghe lời giải bày cũng hợp lư nhưng yêu
cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận với đầy đủ lai
lịch của những món trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy
nhất Tổng Thống cho tiền và cũng chẳng c̣n nhớ những đồ
trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.
Trong lúc nói chuyện, thỉnh thoảng Bà Nhu cũng đề cập đến
những diễn biến chính trị, kinh tế và xă hội toàn cầu. Bà
có những phân tích, lượng giá vấn đề một cách chi tiết và
hợp lư đồng thời đưa ra những kết luận làm người nghe dễ
dàng bị thuyết phục. Điều này chứng tỏ tuy sống khép ḿnh
trong một căn pḥng nhỏ bé nhưng Bà vẫn theo dơi thời cuộc
một cách cẩn thận. Nhớ lại Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới năm
xưa, bà nắm hai tay ngước mắt nh́n lên trần nhà nói bằng
tiếng Pháp ‘’phụ nữ phải được giải phóng, phụ nữ phải được
tôn trọng’’ Giấc mơ của Bà là người phụ nữ phải có chỗ đứng
và tiếng nói trong xă hội. Ước vọng của Bà là người phụ nữ
phải có những cơ hội thuận tiện để thăng tiến trong mọi lănh
vực của đời sống. Tiếng nói của Bà rơ ràng, chắc nịch, lên
xuống với những cảm xúc làm người nghe rất dễ bị lôi cuốn
rồi nhiệt t́nh ủng hộ.
Trong cả một buổi chiều, lúc nói chuyện này và đột nhiên nói
sang chuyện khác nhưng bà không hề đả động đến nước Mỹ, mặc
dầu Bà biết tôi đến từ một Tiểu Bang ở vùng Tây-Bắc nước Mỹ.
Nhiều người nói Bà Nhu căm thù Mỹ lắm v́ những sai lầm trong
chính sách đối với Việt Nam và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng
Ḥa Việt Nam. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế
giới đă kinh ngạc nghe và nh́n Bà Nhu mạt sát nước Mỹ và
những nhà lănh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ
cách Ṭa Bạch Ốc một quăng đường. Tôi nghĩ là Bà đă không
c̣n mang những ‘’hận thù’’ đó trong tim óc nữa và thực sự
muốn quên hết để mọi chuyện nhẹ nhàng đi vào lịch sử. Bà kể
chuyện vào Mùa Xuân năm 1975, sau khi cộng sản Bắc Việt
cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Ḥa, hệ thống truyền h́nh NBC của
Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lư do Bà chấp nhận lời
yêu cầu của NBC và đ̣i 10.000 Mỹ kim thù lao cộng với hai vé
máy bay hạng nhất Paris-Washington DC. v́ lúc đó Lệ Quyên
rất nhớ và muốn đi gặp ông bà ngoại. Bà Nhu không có tiền
trang trải cho chuyến đi nhưng v́ thương con nên bằng ḷng
trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp Ông Bà
Trần Văn Chương ở Thủ Đô của nước Mỹ. Đối với một tổ hợp
truyền thông to lớn như NBC th́ những điều kiện đó thật quá
nhỏ bé và họ đă vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn. Đó là lần
duy nhất Bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất Bà tiếp xúc với
giới truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra Bà chưa
từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt Ngữ dưới bất cứ
h́nh thức nào. Trong quá khứ đă có vài tờ báo ở Đức Quốc và
California đăng tải bài ‘’phỏng vấn’’ đó đều là những ngụy
tạo mà Độc Giả rất dễ dàng nhận ra tính chất giả dối và bịa
đặt của người viết.
Bà Nhu cũng không nói ǵ vụ phản loạn 1.11.1963 và những
người được ngoại bang thuê mướn sát hại chồng Bà. Tôi có nói
xa gần đến những Quân Nhân đảo chánh để ḍ xét phản ứng của
Bà nhưng không trông chờ ở một sự tức giận thường t́nh của
một con người v́ thời gian đến gần 40 năm cũng đă là nguôi
ngoai cơn thịnh nộ. Bà có vẻ buồn, nh́n qua khung cửa sổ nói
một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Anh ‘’đó là một bọn ngu dốt’’.
Bà tỏ vẻ khinh khi và không muốn nói tới loại người mà Ông
Nguyễn Văn Ngân, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu, đă mô tả rất trung thực ‘’v́ thiếu văn hóa nên phải
vào lính để kiếm sống’’. Khi những người này vào lính chỉ
với mục đích kiếm sống th́ họ sẽ làm bất cứ chuyện ǵ để có
tiền.
Đồng hồ chỉ tám giờ rưỡi tối. Những ngọn đèn của Paris kết
nối làm thành một biển ánh sáng và Thành Phố đă bắt đầu đi
vào cuộc sống ban đêm. Hơn 6 giờ đồng hồ ngồi nói chuyện,
tôi đă uống hết hai ly nước bưởi to nhưng tuyệt nhiên không
thấy Bà Nhu uống một chút nước nào. Tôi sợ ngồi lâu quá Bà
sẽ mệt mỏi nhưng thực sự th́ chính tôi là người đă thấm mệt.
Bà Nhu không tỏ ra mệt mỏi hay có một dấu hiệu nào biểu hiệu
sự ră rời sau một buổi chiều dài chuyện tṛ. Trước khi tôi
cáo từ, Bà Nhu có nói đến cuốn sách của Bà. Theo chỗ tôi
được biết th́ cuốn sách này sẽ được phát hành cùng một lúc
tại nhiều nơi trên thế giới bằng bốn thứ ngôn ngữ: Việt Nam,
Anh, Pháp và Ư. Cũng v́ vậy mà tôi hạn chế bài viết này
trong một khích thước vừa đủ, những ǵ Độc giả muốn biết hay
những ǵ gọi là ‘’bí mật lịch sử’’ sẽ rất có thể được nói
đến hoặc phân giải trong cuốn sách mà rất nhiều người đang
chờ đợi. Tôi chợt nghĩ đến ông Tướng Nguyễn Khánh. Ông này
đi đến đâu cũng cầm cuốn vở học tṛ huênh hoang có nhật kư
của Bà Nhu trong tay. Tôi nghĩ rất có thể ông này lượm được
cuốn vở Bà Nhu ghi chép những chuyện vụn vặt của một người
nội trợ trong gia đ́nh như hôm nay đi chợ cần phải mua những
món ǵ, đến bao giờ th́ phải đóng tiền trường cho con...
Ngoài ra chẳng có ǵ đáng nói tới hay có một giá trị ǵ
cả...
Tôi bước ra chỗ thang máy để xuống Phố lang thang với người
Paris mà trong ḷng xôn xao niềm vui v́ không ngờ một ‘’bà
cụ’’ 80 tuổi đă vật vă với bao sóng gió phủ phàng của cuộc
đời mà lại c̣n có một sức khỏe thật sung măn, trí óc minh
mẫn đến như thế. Ở vào tuổi đời như vậy mà c̣n giữ được thể
chất và tinh thần trong một trạng thái gần như lư tưởng th́
thật là hiếm có. Bà Nhu đă thực sự lánh xa những tục lụy phù
phiếm của trần gian. Bà sống trong hơi thở nhịp tim của đời
sống tận hiến và phó dâng với niềm cậy trông tuyệt đối nơi
sự quan pḥng của Đấng Tạo Hóa. Tôi cầu chúc Bà luôn luôn
mạnh khỏe, an vui.
ĐÂY LÀ SỰ THẬT
Tác giả: Trương Phú Thứ
Cách đây chừng vài tháng, trang nhà Đàn ChimViệt có
bài Ba Giờ Nghe Một Nhân Chứng của tác giả Minh Vơ. Bài viết
của cụ Vơ sau đó đă được đăng tải và phổ biến trên nhiều
phương tiện truyền thông. Nhận thấy có những điểm sau đây
cần phải được làm sáng tỏ nên tôi mạo muội viết mấy hàng như
là một lá thư gửi đến tác giả Minh Vơ.
Trước hết là tôi rất cảm kích về trí nhớ tuyệt vời của cụ
Vơ. Bài báo tôi viết góp ư với cụ Tôn Thất Thiện về tác phẩm
Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê đăng trên bán nguyệt san
Văn Nghệ Tiền Phong cả hơn chục năm nay rồi mà cụ Vơ xem
chừng vẫn c̣n thích thú với lời than phiền của tôi: Mang
khối vàng ṛng (Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm) để cạnh băi c.t.
(Ṭa soạn cắt bỏ) (Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ…).
Nhiều độc giả đă rất ‘’đồng t́nh’’ với lời ta thán của tôi
đấy cụ ạ! Như vậy th́ cụ Vơ cũng có nhiều ‘’đồng chí’’ lắm.
Bởi vậy cuốn Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê đă được in lại
mấy lần và nghe đâu đă được dịch sang Anh ngữ. Cụ đă cho tôi
một cuốn với lời đề tặng rất ưu ái nhưng đến khi tôi t́m lại
để gửi cho Bà Ngô Đ́nh Nhu đọc th́ lại không thấy đâu. Chắc
là có vị khách nào đến nhà chơi đă ‘’nẫng’’ đi mà quên không
hoàn lại cho khổ chủ!
Tôi đă có dịp thăm viếng và chuyện tṛ với Bà Ngô Đ́nh Nhu
đến hơn sáu tiếng đồng hồ. Tôi đă viết một bài tường tŕnh
về cuộc thăm viếng này với nhan đề Chuyện tṛ với Bà Ngô
Đ́nh Nhu đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong. Sau đó th́ rất nhiều
tờ báo ở hải ngọai và cả ở trong nước đă in lại bài báo này.
Nhiều đài phát thanh ở hải ngoại cũng đọc đi đọc lại trong
một thời gian dài. Một vị làm báo lâu năm ở miền Nam Cali
phát biểu rằng đó là một bài báo đặc biệt làm xôn xao dư
luận nhiều nhất trong ṿng hơn ba chục năm qua. Nhân tiện
đây tôi cũng xin biểu dương nguyệt san Phụ Nữ Diễn Đàn về
lương tâm và tính cách chuyên nghiệp của ông (bà) chủ nhiệm.
Sau khi đăng tải bài báo của tôi, nguyệt san Phụ Nữ Diễn Đàn
đă liên lạc với cựu Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ lấy địa chỉ của
tôi và gửi cho tôi mấy tờ báo và một chi phiếu năm mươi Mỹ
kim. T́nh trạng tài chánh của cá nhân tôi không sống chết
với cái chi phiếu này nhưng tôi cảm phục về t́nh giao hảo
rất đáng đề cao. Trong khi đó th́ các báo khác lại không có
đến một lời thăm hỏi và một lần ngồi ở trong tiệm ăn ở miền
Nam Cali, lúc chờ đợi đồ ăn thức uống tôi thấy một tờ báo
đăng tải bài báo này và nhân lúc rảnh rỗi tôi đă dùng điện
thọai di động của người bạn hỏi ông chủ nhiệm v́ sao đăng
bài của tôi mà lại không hỏi tôi một tiếng. Tôi đă được nghe
câu trả lời của bọn đầu đường xó chợ rất côn đồ: ‘’Đ. M.
đăng cho là may rồi c̣n hỏi ǵ nữa.’’ Đầu giây bên kia là
một đứa cô hồn các đảng th́ c̣n biết nói ǵ đây.
Sau đây tôi xin đóng góp những dữ liệu cần được đề cập tới:
1- Hồi Kư của Bà Ngô Đ́nh Nhu: Rất nhiều người mong đợi cuốn
sách này. Sự thật là bà Nhu có viết một cuốn sách khá dầy.
Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ư. Một
vị Linh Mục cao tuổi người Việt ở Paris được bà Nhu nhờ dịch
sang tiếng Việt nhưng vị Linh Mục này đă qua đời khi vừa bắt
tay vào công tác dịch thuật. Do vậy đến nay bản tiếng Việt
vẫn chưa hoàn tất. Điều cần nói tới là cuốn sách mà nhiều
người đang mong đợi không phải là một cuốn hồi kư. Cả cuốn
sách không hề có một chi tiết lớn nhỏ nào về các nhân vật
cũng như diễn biến chánh trị của thời Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt
Nam. Đó là một cuốn sách đạo nói về đời sống tâm linh của
con người và sự hằng hữu của đấng Tạo Hóa. Bây giờ bà Nhu
sống như một người tu hành. Bà đi nhà thờ mỗi buổi sáng và
ngày Chúa nhật sau thánh lễ bà ở lại dậy giáo lư cho các trẻ
nhỏ. Tôi không nghĩ là bà có ư định in và phát hành cuốn
sách này v́ khi tôi muốn giới thiệu cụ Vân Tŕnh Nguyễn Văn
Lượng là cựu Dân Biểu đồng viện với bà Nhu và rất tinh thông
tiếng Pháp dịch cuốn sách này sang tiếng Việt th́ không thấy
bà Nhu trả lời hay nói tới nữa. C̣n nói rằng các con bà Nhu
sẽ phát hành cuốn sách sau khi bà tạ thế th́ lại càng không
có một lư lẽ ǵ cả. Trước hết đó là một cuốn sách chỉ nói về
đạo mà thôi nên in và phát hành lúc bà Nhu c̣n sống hay sau
khi chết không phải là một vấn đề phải cân nhắc. Sau nữa các
con bà Nhu cũng không biết và chẳng thiết tha ǵ đến công
việc này. Con trai lớn là Ngô Đ́nh Trác th́ bận bịu với gia
đ́nh và công việc trồng trọt. Con trai nhỏ là Ngô Đ́nh Quỳnh
th́ sống như một ông thầy tu khổ hạnh. Con gái út Ngô Đ́nh
Lệ Quyên cũng rất bận rộn với gia đ́nh và công việc giảng
dậy cũng như các công tác xă hội từ thiện. Tất cả đều có một
cuộc sống kín đáo như bà mẹ nên rất ít tin tức về họ được
nói đến. Một cơ sở làm đĩa nhạc đă cố gắng t́m cách tiếp xúc
với Lệ Quyên để làm một đĩa nhạc về phụ nữ Việt Nam nhưng đă
không thành công.
Tôi nghe phong phanh rằng một người nào đó huyênh hoang có
cuốn ‘’hồi kư’’ của bà Nhu trong tay và sẽ tung ra công luận
một ngày gần đây. Tôi xin quả quyết đó chỉ là một lừa bịp
trắng trợn để thủ lợi thôi chứ sự thật th́ không có ǵ cả.
Sau khi đi thăm bà Nhu về, tôi có hầu chuyện với cụ Cao Xuân
Vỹ và thưa rơ đầu đuôi câu chuyện về cuốn sách vẫn được đồn
thổi là ‘’Hồi kư Bà Nhu’’. Do vậy cụ Vơ đă thấy lư do v́ sao
cụ Cao Xuân Vỹ và cụ Tôn Thất Thiện đă ‘’coi thường’’ không
nói và không để ư ǵ đến cuốn ‘’hồi kư’’ của bà Nhu.
Nhân tiện đây tôi cũng có một phân bua để quư vị
độc giả phán xét về con người của bà Nhu. Rất nhiều người
nghe lời đồn đại và tin rằng bà Nhu rất ghét và khinh khi
ông Ngô Đ́nh Cẩn, v́ ông Cẩn quê mùa và thất học. Đó là một
đồn đại quá ác độc. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu đă
nhờ tôi t́m kiếm một bức chân dung của ông Cẩn. May mắn thay
là tôi đă liên lạc được với cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh là
người đă có chín năm làm việc cận kề với ông Cẩn và xin cho
bà Nhu một tấm h́nh chân dung ông Cẩn. Nếu bà Nhu ghét và
khinh khi ông Cẩn th́ cố công đi t́m cho được bức chân dung
ông Cẩn làm ǵ?! Mồm mép con người có thể nói ra những lời
yêu thương chân thật nhưng đến ngày hôm nay vẫn c̣n những
‘’sử gia chân chính’’ viết rằng bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ
kim, mấy cái thương xá và rạp hát ở Paris, vài cái đồn điền
ở Ba Tây. Gia tài của bà Nhu như tôi đă thấy chỉ có một cái
TV mầu 13 inches mà ở Mỹ ném ra băi rác chắc chắn không ai
nhặt. Bà Nhu giữ lễ nghĩa và coi trọng t́nh cảm gia đ́nh chứ
không phải là người bị phê phán và công kích của một vài
‘’sử gia chân chính’’ cả đời chỉ bất măn và hận thù.
2- Tuyệt phẩm chánh trị của ông Ngô Đ́nh Nhu: Đó là cuốn
CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM mà ông Nhu viết bằng tiếng Pháp và được
ông Lê Văn Đồng, một vị cựu Bộ Trưởng thời Đệ Nhất Cộng Ḥa
dịch sang tiếng Việt (?). Cách đây có đến ba chục năm, cuốn
sách này đă được in lại khoảng một trăm bản ở miền Nam Cali
nhưng đến nay kể như đă tuyệt bản. Tôi có hỏi cụ Cao Xuân Vỹ
th́ được trả lời rằng: ‘’Có một bản mà không biết chừ ở
mô’’. Tất nhiên không ai biết bản chính bằng tiếng Pháp với
chữ viết tay của ông Nhu bây giờ thất lạc nơi đâu.
Ba năm trước đây một người cư ngụ ở Seattle, tạm gọi là ông
X, c̣n may mắn có được cuốn sách này. Tôi đă mượn và nghiền
ngẫm mấy ngày đêm nên không có ǵ ngạc nhiên khi ông X coi
như cuốn sách gối đầu giường và rất trân quư. Đó là một
tuyệt phẩm chánh trị mà theo tôi th́ giá trị của cuốn sách
này đứng trên cả các danh tác chánh trị như The Prince của
Machiavel hay The New Class của Milovan Djilas, đặc biệt là
đối với người Việt Nam và hoàn cảnh của nước Việt Nam. Ông
Nhu là một học giả uyên bác và cũng là một chính trị gia
thượng thặng nên cuốn sách chứa đựng một hệ thống lập luận
và diễn giải dựa trên những diễn biến lịch sử, vị thế của
Việt Nam trên thế giới và nhất là những hoàn cảnh và điều
kiện đặc thù của Việt Nam. Trong nhiều trang giấy người đọc
có nhận xét ông Nhu c̣n là một tiên tri. Những hoạch định và
tiên liệu của ông Nhu đă thực sự xẩy ra. Điều này cũng chẳng
có ǵ ngạc nhiên v́ chỉ với một cây viết trong tay mà ông
Nhu đă hoạch định ra Ấp Chiến Lược phá tan đo àn quân cộng
sản xâm lăng từ miền Bắc và cả bọn nằm vùng tay sai ở miền
Nam. Cuốn sách này thực sự là một kim chỉ nam cho những
người c̣n muốn thấy một nước Việt Nam thống nhất độc lập và
người Việt Nam được sống trong thanh b́nh no ấm.
Ông X cho tôi coi một bản thỏa thuận của bà quả phụ Lê Văn
Đồng, mà ông Đồng là người đă dịch cuốn sách này sang tiếng
Việt với bút hiệu Tùng Phong, cho phép được hoàn toàn sử
dụng cuốn sách, nghĩa là có thể sửa chữa và sau đó phát hành
rộng răi. Tôi đọc cuốn sách mà phải ‘’đánh vần’’ từng chữ v́
cách dịch thuật rất tối nghĩa và lối hành văn nặng nề lại
quá khập khiễng làm cho người đọc thật vất vả mới hiểu được.
Ông X muốn tôi giúp một tay để phổ biến đến Cộng Đồng Người
Việt. Tôi ưng thuận ghé vai chung sức với điều kiện phải đề
tên tác giả là ông Ngô Đ́nh Nhu, người dịch Tùng Phong và
tôi là người hiệu đính v́ tôi sẽ phải gọt dũa lại từng chữ
từng câu và nhiều khi c̣n phải viết thêm những ghi chú ở
cuối trang sách. Nhiều câu quá sức tối nghĩa mà không có bản
chính bằng tiếng Pháp để đối chiếu nên tôi đă thỉnh ư cụ Cao
Xuân Vỹ xem ông Nhu hàm ư muốn nói hay diễn tả ǵ. Ông Ngô
Đ́nh Nhu viết những trang tài liệu này khi dân số Trung Cộng
chỉ có tám trăm triệu người. Ngày nay khối dân khổng lồ đó
đă lên tới một tỷ ba trăm triệu người th́ chẳng những không
chỉ Trung Cộng có những thay đổi to lớn mà cục diện thế giới
đă hoàn toàn thay đổi. Những điều kiện tôi đ̣i hỏi đều được
chấp nhận. Tôi đang viết truyện dài Đất Mới đăng nhiều kỳ
trên Văn Nghệ Tiền Phong nhưng cũng phải cáo lỗi độc giả xin
tạm ngừng trong mấy tháng để có giờ lo cho cuốn sách này.
Mọi việc diễn tiến tốt đẹp êm ả và tôi đă có thông báo trên
báo chí rằng cuốn sách sắp được đưa vào nhà in và sẽ tŕnh
làng nay mai. Nhiều người nôn nóng chờ đợi.
Một buổi sáng, ông X đến nhà tôi đ̣i lại cuốn sách và nói
rằng bà quả phụ Lê Văn Đồng ‘’ra lệnh’’ không được sửa chữa
ǵ dù một dấu phẩy và rằng đó là công tŕnh tim óc của ông
Lê Văn Đồng chứ ông Ngô Đ́nh Nhu không có dính dáng ǵ đến
cuốn sách này cả. Tôi như bị một nhát búa bổ vào đầu, choáng
váng và tức giận. Rất nhiều người như cụ Cao Xuân Vỹ, Đại Tá
Nguyễn Hữu Duệ…biết một cách chắc chắn thật rành rẽ cuốn
sách đó là do ông Nhu viết và là tài liệu học tập cho các
đảng viên Cần Lao cao cấp thời đó. Do vậy nói rằng ông Lê
Văn Đồng là người đă dịch tài liệu này từ tiếng Pháp sang
tiếng Việt thật sự là một câu hỏi to lớn. Tôi làm việc với
tinh thần tự nguyện mà nay lại gặp cảnh trớ trêu như vậy nên
đành buông xuôi. Hiện tại trong ổ cứng máy vi tính của tôi
chỉ có nửa phần đầu cuốn sách. Vậy vị độc giả nào có cuốn
CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM th́ xin vui ḷng cho tôi mượn để hoàn tất
công việc như tâm nguyện.
Kính mời quư vị đọc vài trang đầu của cuốn sách để có một
khái niệm về một tuyệt phẩm chánh trị mà rất nhiều người
hằng mong ước sẽ có dịp được đọc:
Nước Việt nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về
lănh thổ, nhỏ về kinh tế kém phát triển và nhỏ về sự đóng
góp của chúng ta vào nền văn minh của nhân loại.
Cho đến ngày hôm nay, trong suốt các giai đoạn lịch sử nhân
loại, số phận của các quốc gia nhỏ từ xưa vẫn không thay
đổi. Lúc nào các quốc gia nhỏ cũng bị chi phối bởi những
trận phong ba băo táp vô trách nhiệm do các nước lớn gây ra
và liên tục bị những cuộc ngoại xâm đe dọa.
Từ ngày lập quốc, hơn môt ngàn năm lịch sử đă chứng minh
rằng nước Việt Nam không thoát ra ngoài vận mạng thông
thường đó. Hết phải chống Bắc rồi phải chống Tây, rồi lại
phải chống Bắc. Liên tục, và lúc này hơn lúc nào hết, nạn
ngoại xâm vẫn đe doạ dân tộc Việt Nam.
Để duy tŕ ách thống trị, cường quốc xâm lăng thường áp dụng
đối với các dân tộc bị trị nhiều biện pháp khác nhau nhưng
chung quy vẫn thuộc hai loại chính:
- Ngăn ngừa không để cho các quyền lợi kinh tế vào tay người
bản xứ.
- Kềm hăm không để cho dân trí phát triển.
Các biện pháp thứ nhất nhằm mục đích tiêu diệt tất cả các
phương tiện vật chất của người bị trị.
Các biện pháp thứ hai nhằm tiêu diệt những người có khả năng
sử dụng các phương tiện vật chất trên, nghĩa là những nhà
lănh đạo xứng đáng.
Đối với các dân tộc bị trị th́ hai biện pháp trên đều có
những hậu quả vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên nếu không có
phương tiện th́ có thể t́m phương tiện nơi khác, chớ nếu
không có người lănh đạo th́ cho dù có phương tiện cũng không
sử dụng được.
V́ vậy cho nên đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa
hay đă mất th́ phương pháp hữu hiệu và điều kiện thiết yếu
nhất để chống lại ngoại xâm là đào tạo, nuôi dưỡng và phát
triển sự lănh đạo.
Trong thực tế đào tạo, nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo
có nghĩa là tạo hoàn cảnh thuận lợi để cho tinh túy của tập
thể hun đúc nên thiểu số lănh đạo xứng danh.
Thế nào là thiểu số lănh đạo xứng danh?
Thiểu số lănh đạo và sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng.
Trong toàn bộ của cộng đồng, gồm có thiểu số lănh đạo và đại
đa số chịu sự lănh đạo. Một cộng đồng lành mạnh là một tập
đoàn có sự hợp tác giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự
lănh đạo dẫn đến những phối hợp hữu hiệu trong mọi hoạt động
và công tác của cộng đồng.
Thiểu số lănh đạo xứng danh phải gồm những người có đạo đức,
nghĩa là có ‘’nhân’’ theo quan niệm cổ truyền. Những người
lănh đạo xứng danh là những người có sức khỏe sung măn, lư
trí và tinh thần trong sáng để ứng phó với mọi t́nh thế,
nghĩa là có ‘’dũng’’ và có ‘’lược’’.
Thiểu số lănh đạo xứng danh phải gồm những người thấu triệt
vấn đề cần phải giải quyết của tập thể, nghĩa là có ‘’trí’’.
Sinh hoạt của một cộng đồng cũng như đời sống của một cá
nhân có thể chia ra nhiều thời kỳ. Thời kỳ trung b́nh của
một đời sống cá nhân là mười năm, mỗi cá nhân phải đương đầu
với một số vấn đề chính và đặc biệt của thời kỳ đó. Thời kỳ
của một cộng đồng có thể kéo dài đến một, vài thế kỷ và mỗi
cộng đồng phải giải quyết những vấn đề thiết yếu của cộng
đồng.
Thiểu số lănh đạo chính danh phải thấu triệt đến chi tiết
của từng vấn đề để hướng dẫn cộng đồng trên đường tiến hóa
cho thích nghi với chẳng những với khung cảnh hiện tại mà
c̣n với đời sống lâu dài của cộng đồng.
Các đức tính ‘’nhân’’, ‘’dũng’’, ‘’lược’’ phát sinh từ một
căn bản thiên phú, nếu được hoàn cảnh bên ngoài xă hội và cố
gắng bên trong cá nhân nuôi dưỡng và rèn luyện th́ sẽ phát
triển đúng mức. Nhưng nếu không gặp được cơ hội rèn luyện và
phát triển th́ các đức tính thiên phú trên vẫn tồn tại trong
bản chất. Do đó những đức tính ‘’nhân’’, ‘’dũng’’, ‘’lược’’
là những điều kiện chủ quan. ‘’Trí’’ nghĩa là thấu triệt vấn
đề cần phải giải quyết của cộng đồng, là một điều kiện
khách quan. Bởi v́ sự thấu triệt vấn đề chỉ có thể thực hiện
bằng cách sưu tầm, khảo cứu, phân tích, lĩnh hội, quan sát
và tổng kết những dữ kiện và tài liệu bên ngoài liên quan
đến vấn đề. Không có dữ kiện và tài liệu bên ngoài th́ một
bộ óc dù thông minh xuất chúng cũng không thể nào hiểu được
vấn đề.
Các đức tính trên đều cần thiết cho một nhà lănh đạo xứng
danh. Tuy nhiên sự khiếm khuyết một trong các đức tính này
cũng sẽ mang đến những mục đích dù cho phải can qua trên con
đường xây dựng và thực hiện.
Một sự lănh đạo có đủ ‘’nhân’’, ‘’dũng’’ và ‘’lược’’ nhưng
không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng
không thể đưa con thuyền cộng đồng đến chiến thắng. Một sự
lănh đạo dù thiếu ‘’nhân’’, ‘’dũng’’ và ‘’lược’’ nhưng lại
thấu triệt vấn đề của cộng đồng vẫn có hy vọng thắng lợi, dù
rằng thắng lợi đó phải trải qua nhiều gian khổ.
Chúng ta có thể ví trường hợp thứ nhất của một người có xe
và đánh xe rất tài. Phát tốc độ, kềm cương, phóng ngựa tới,
kéo ngựa lui, quanh phải quanh trái vừa mau lẹ vừa khoan
thai không ai b́ kịp nhưng lại không biết lộ tŕnh. Như thế
dù xe có phóng nước đại vượt ngàn dặm cũng không đưa hành
khách được đến nơi phải đến v́ chính người đánh xe cũng
không biết đang ở chỗ nào và phải đi đến nơi đâu.
Trường hợp thứ hai là trường hợp của người không có xe và
cũng không biết đánh xe nhưng lại thấu triệt lộ tŕnh. Những
người đồng hành với người này có ngày rồi cũng đến được nơi
phải đến, tuy biết rằng cuộc hành tŕnh đầy gian lao và đ̣i
hỏi rất nhiều kiên nhẫn.
Suy luận như trên đây không có nghĩa là ‘’nhân’’, ‘’dũng’’
và ‘’lược’’ không thiết yếu cho sự lănh đạo nhưng phản ảnh
rằng ‘’trí’’ là sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng đóng vai
tṛ quan trọng hơn cả.
Như thế th́ chúng ta phải phân tích và làm sáng tỏ ba điểm:
1- Việt Nam là một nước nhỏ và yếu lúc nào cũng bị nạn ngoại
xâm đe doạ.
2- Trong công cuộc chống ngoại xâm th́ khí giới hữu hiệu
nhất là phát triển lănh đạo.
3- Trong công cuộc phát triển lănh đạo th́ điều kiện thiết
yếu là thiểu số lănh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải
giải quyết của cộng đồng.
Trên đây chỉ là những sự thật chứ không phải huyền thoại mà
tôi cảm thấy có trách vụ và bổn phận phải thông báo đến quư
vị độc giả. Chắc chắn sau này sẽ c̣n nhiều dịp trở lại đế
tài này với nhiều chi tiết và đề tài sôi nổi hơn.
Trương Phú Thứ
TÊN ĐƯỜNG SÀI G̉N
Nếu Quư Vị nào năm nay niên kỷ đă đặng ‘’lục thập... tầm tử
lộ’’, hoặc chí ít cũng khoảng ‘’5 bó’’ và đă từng sống ở Sài
G̣n lâu năm, chắc hẳn quư vị đă biết trước năm 1954, toàn
bộ tên của đường phố này đều mang tên các danh nhơn cũng như
các nhơn vật lịch sử của nước Pha lang sa. Điều này cũng dễ
hiểu v́ Ḥn Ngọc Viễn Đông này lúc đó là thủ phủ của xứ
thuộc địa COCHINCHINE (CÔ CHÍN người Tàu), một lănh thổ
thuộc hải ngoại của nước Pháp.
Kịp tới sau ngày 07.7.1954, (c̣n được kêu bằng NGÀY SONG
THẤT) đánh dấu ngày Ông Ngô Đ́nh Diệm nhận Chỉ Dụ của Đức
Quốc Trưởng Bảo Đại trở về Việt Nam nhận chức vụ Thủ Tướng
Chánh Phủ. Sau một thời gian ổn định t́nh h́nh nội trị, Thủ
Tướng Diệm thành lập một Ủy Ban đổi tên đường cho Đô Thành
Sài G̣n. Ủy ban này tập trung rất nhiều Nhà nghiên cứu lịch
sử, văn hóa cùng các Học Giả uyên bác, họp nhau lại để cùng
t́m cách đổi tên đường từ tên Tây ra tên Việt sao cho thật
phù hợp với tâm t́nh của người Việt ḿnh. Và chính nhờ Ủy
Ban này mà Thành Phố đă có được một diện mạo mới khiến cho
dân Sài G̣n rất đỗi tự hào về Thành Phố mà ḿnh đang sống
trong đó. Tôi nói thí tỷ như đường mang tên Boulevard de
Charner được đổi thành Đại Lộ Nguyễn Huệ, hoặc đường Avenue
Galiéni thành Đại Lộ Trần Hưng Đạo...
Trên Đại Lộ Nguyễn Huệ ở giữa lộ có những Kiosque bán bông
hay những nước giải khát chia cách có trồng bông kiểng để
phân con lộ ra làm hai phần nên người Pháp đặt là Boulevard,
trong khi đó trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo th́ không có mấy cái
bồn bông trồng kiểng ở giữa lộ như bên Nguyễn Huệ nên người
Pháp kêu bằng Avenue.
Bữa nay, xin nói về Ủy Ban này đặt tên cho mấy con đường
chung quanh khu vực Dinh Độc Lập. Đúng ra phải vẽ sơ cái họa
đồ của khu vực này đặng quư vị nào không ở Sài G̣n cũng có
thể hiểu được mấy con đường đó, nhưng rất tiếc ‘’gua’’ hổng
biết vẽ trên máy ‘’c̣m piu tơ’’ nên đành kể chuyện bằng lời
hy vọng quư vị cũng sẽ hiểu đặng cái khéo léo của Ủy Ban
này.
Dinh Độc Lập là một khu tứ giác mặt Chánh hướng về Sở Thú
(sau này đổi thành Thảo Cầm Viên) ở cuối đường Norodom. Khi
về Việt Nam, Ông Thủ Tướng Diệm làm việc và sống cùng gia
đ́nh tại Dinh này và Dinh cũng được coi như là biểu tượng
cho Ông. Ông là nhà lănh đạo độc thân và theo đạo Gia Tô.
Cho nên Ủy Ban đă đặt như sau :
- Con đường thẳng từ cổng chánh của Dinh xuống Sở Thú tên là
Norodom được đổi thành Đại Lộ THỐNG NHỨT, ngụ ư nói rằng ư
chí của tôi (Thủ Tướng Diệm) là thống nhứt đất nước.
- Đường chạy dọc theo bên cánh trái Dinh, chạy ngang trước
cửa Vườn ‘’Bồ Rô’’ (Công Viên Tao Đàn) và Trường Trung Học
Lê Quư Đôn hiện giờ, tên là Chasseloupe Laubart, dân Sài G̣n
thuở ấy kêu là đường ‘’Xách cái lu đi qua cây da’’, được đổi
thành Đường HỒNG THẬP TỰ ư nói bên tay trái của tôi là ḷng
bác ái.
- Đường chạy cặp theo cánh phải của Dinh được đặt là NGUYỄN
DU, một Đại Thi Bá của Việt Nam, ư nói tay mặt của tôi cũng
là một người yêu chuộng văn hóa Việt Nam.
- Đường chạy ngang trước mặt Dinh tên Tây là Mac Mahon (Bạc
má hồng), đổi thành Đường CÔNG LƯ, trước mặt tôi luôn luôn
là công lư.
- Và đặc sắc nhứt có lẽ là con đường nhỏ chạy ngay phía sau
Dinh, Đường HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA, phía sau lưng tôi cũng có
một người đàn bà ‘’chứ hỷ’’ ?!
Ngoài ra, ở phía trước mặt Dinh có một công viên trồng toàn
cây Sao Đen đến nay toàn bộ số cây này đă có hơn 100 tuổi và
rất đẹp, cứ vào mùa con nít đi học nghỉ hè th́ khu vực này
rộn lên tiếng ve kêu và khi hết Hè th́ những chùm bông Sao
Đen, sau một cơn gió nhẹ, rụng xuống xoay tṛn trên không
trước khi chạm đất, coi thiệt là đẹp và...nhớ ơi là nhớ!
Cặp theo hai bên hông của Công Viên, nghĩa là chạy dọc theo
hai bên của Đại Lộ Thống Nhứt, có hai con đường nhỏ. Một
chạy xéo xéo từ cửa bên phải Dinh ra tới cửa hông bên phải
của Nhà Thờ Nhà Nước (Nhà Thờ Đức Bà Vương Cung Thánh Đường
Sài G̣n) được đặt tên HÀN THUYÊN, người sáng tạo ra chữ NÔM
của dân tộc ta. Đối lại, một con đường chạy khởi đầu ở xéo
xéo cửa trái Dinh ra tới ngă ba Duy Tân, con đường này chạy
ngang qua trước cửa Bộ Ngoại Giao cũ được đặt tên ALEXANDRE
DE RHODE, người chế ra chữ Quốc ngữ mà hiện nay chúng ta
đương xài.
Tưởng cũng nên nói ra ngoài đề tài một chút là, chắc hẳn quư
vị c̣n nhớ cũng tại Công Viên này, trước cửa Bộ Ngoại Giao
có một pho tượng bằng đồng đứng trang nghiêm trên một bệ đá
hoa cương bóng ngời chớ? Thưa đó là bức tượng tạc Nhà Ngôn
Ngữ Học lừng danh chẳng riêng ǵ của Việt Nam mà c̣n của Thế
Giới nữa. Cụ biết tổng cộng 26 ngôn ngữ cả Sanh lẫn Tử ngữ.
Đó là tượng của Cụ PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KƯ. Tượng Cụ mặc áo
dài, đầu đội khăn đóng kiểu người NAM, tức là loại khăn mà ở
giữa trán có xếp h́nh chữ Nhơn. Tay mặt Cụ ôm cuốn sách. Mặt
hướng về phía bờ sông Sài G̣n. Pho tượng này là một trong
những pho tượng tuyệt mỹ của Đô Thành, ấy vậy mà...sau ngày
30.4.1975, người ta nỡ ḷng nào giựt sập xuống rồi đem quăng
bù lăn bù lóc phía sau Dinh Gia Long. Ngó thiệt là tội. Sau
này không biết là do ư kiến của ai. Có lẽ của Học Giả Nguyễn
Đ́nh Đầu chăng? Tượng của Cụ Trương được đem về cho đứng tạm
trú ở hành lang phía sau nhà của Chú Hỏa. Một lần, t́nh cờ
thả bộ theo Đường Hồ Văn Ngà (nay là Lê Thị Hồng Gấm) từ ngă
tư Phó Đức Chính hướng về Nguyễn Thái Học, tôi nh́n thấy
tượng Cụ đứng quạnh hiu trên hành lang phía sau nhà ông cự
phú người Ăng Lê gốc Tàu, đang đứng ngắm Cụ bỗng nhiên căn
nhà chỗ tôi đứng trên đường này phát ra bài ca nhè nhẹ buồn
buồn của Ông Trịnh Công Sơn: ‘’...Giọt nước mắt thương anh
trên vận nước điêu linh, giọt nước mắt không tên xin để lại
quê hương...’’. Trời ơi hai hàng nước mắt tôi tự nhiên rơi
xuống sao mà thảm sầu cho Cụ. Không hiểu người ta thù ghét
ǵ Cụ mà bắt đày đọa không cho Cụ về nhà của Cụ, nhà Cụ cũng
bề thế lắm chứ bộ! Ai có đi trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo tới
ngay ngă tư Trần B́nh Trọng nh́n thấy số nhà 520 Trần Hưng
Đạo (gần Nhà Thờ Chợ Quán) đó chính là nhà của Cụ Trương.
Cha đẻ của làng báo Việt Nam và cũng của Đông Nam Á nữa. Vậy
mà...Nhưng suy nghĩ kỹ th́ thấy Cụ Trương vẫn c̣n hên hơn
Thông Hiệp (Quách Đàm), người đă bỏ tiền ra xây cho bá tánh
ngôi chợ đẹp và lớn nhứt trong Chợ Lớn (Chợ B́nh Tây) để bà
con có chỗ mua bán. Vậy mà tượng của Ông trong chợ bị giựt
sập, đầu ĺa khỏi cổ. Đầu th́ đem quăng trong khu Nhà Thờ
Hầm trên Phú Thọ Ḥa, c̣n thân ḿnh th́ ‘’được’’ đem đi nấu
đồng bán ve chai!
Trở lại chuyện tên đường, ngoài khu vực Dinh Độc Lập, Ủy Ban
đặt tên đường c̣n áp dụng nguyên tắc đặt tên đường theo Cụm
để giúp cho người ở xa tới có thể dễ dàng t́m ra con đường
mà ḿnh muốn kiếm.
Thí dụ Cụm đường mang tên các nhà thơ, thi sĩ ở Quận Ba hoặc
Cụm đường mang tên các Nhà Cách Mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng
ở Quận Nhứt v.v...Ở Quận Ba có một loạt các tên đường như Lê
Quư Đôn, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương,
Nguyễn Thông, Lê Ngô Cát, Phạm Đ́nh Toái, Hồ Xuân Hương...
tất cả các con đường này đều nằm gần nhau hoặc giao cắt nhau
rất dễ kiếm, chỉ cần nói tên ra là có thể biết nó nằm ở khu
vực nào liền.
Ở Quận Nhứt th́ có cụm Đường Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô
Bắc, Nguyễn Khắc Nhu, Kư Con, Phó Đức Chính... cũng nằm gần
nhau như bên Quận Ba thiệt là khoa học và dễ nhớ.
Ngoài các cụm đường mang tên các Nhà thơ, thi sĩ hay các Nhà
Cách Mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, Ủy Ban có dùng các địa
danh nổi tiếng trong lịch sử chống quân Nguyên như Bạch
Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn để đặt cho các con đường
chạy dọc theo bờ sông của Đô Thành như Bến Bạch Đằng, Bến
Chương Dương (Quận Nhứt, Nh́), Bến Hàm Tử (Quận Năm), Bến
Vân Đồn (Quận Tư)...
C̣n các con đường khác, th́ Ủy Ban căn cứ vào các sự kiện có
thật liên quan tới con đường mà đặt tên tiếng Việt ḿnh cho
phù hợp. Thí dụ như Đường LÊ VĂN DUYỆT chẳng hạn. Đường này
khởi đầu từ Ngă Sáu Sài G̣n (nơi ‘’Bùng binh có đặt tượng
Phù Đổng Thiên Vương) chạy tuốt lên tới tận... Nam Vang, Thủ
Đô xứ Chùa Tháp! Ǵ mà dài dữ vậy Ông?
Dạ, tại v́ tên đường cũ của đường này là VERDUN, nó nối liền
với Quốc Lộ 1 vào thời đó ở ngă tư Bảy Hiền, mà Quốc Lộ 1
th́ chạy xuyên suốt từ Bắc vô Nam và lên tới Nam Vang.
Trên con đường này, ở phía bên số lẻ, nằm ngay góc ngă tư
Phan Đ́nh Phùng-Lê Văn Duyệt có Ṭa Đại Sứ Cao Miên tọa lạc.
Ṭa nhà này sau ngày 30.4.75 là Ủy ban nhân dân Quận 3. Và
ṭa nhà này cũng đă từng bị Sanh Viên, Học Sanh Sài G̣n nổi
giận chiếm giữ để cảnh cáo vụ Miên Lon Nol tàn sát người
Việt ḿnh hồi năm 1970. Tại sao Ủy Ban không lấy tên Ngài
(Lê Văn Duyệt) đặt cho con đường chạy ngang trước cửa Lăng
thờ Ngài bên Bà Chiểu mà lại đem đặt cho con đường nằm tuốt
bên Sài G̣n là sao? Nó có căn nguyên của nó như vầy. Đức Tả
Quân của chúng ta thời Ngài làm Tổng Trấn Gia Định Thành đă
có công lớn trong việc thần phục người ‘’Đàng Thổ’’ ở Nam Kỳ
cho nên Ủy Ban mới lấy tên Ngài thay cho tên Verdun của Tây.
Vả lại con đường này cũng chạy ngang qua một khu vực có tên
là ‘’Mả Ngụy’’ trong vụ án Lê Văn Khôi dưới trào Vua Minh
Mạng.
Cũng liên quan tới vụ người Miên, gần đó có con đường mang
tên TRƯƠNG MINH GIẢNG, đường này xuất phát từ ngă ba Trần
Quư Cáp chạy thẳng xuống tới cây cầu bắc ngang qua Kinh
Nhiêu Lộc. Bên kia cầu là Sở Rác của Đô Thành và thuộc Tỉnh
Gia Định, thời đó chỗ này c̣n hoang vắng lắm, chưa có chợ
Trương Minh Giảng, bên nay cầu phía Sài G̣n th́ mấy ‘’Anh
Bảy Chà Và’’ nuôi ḅ, dê, cừu... thả rông ăn cỏ ở hai bên
khu vực cầu. Trên con đường này, cũng bên số lẻ nằm ở góc
ngă tư Ngô Thời Nhiệm-Trương Minh Giảng là nhà của Ông Đại
Sứ Miên, c̣n ở cuối đường dưới dốc cầu th́ có một Ngôi Chùa
Miên (bên số chẵn) duy nhứt trong Đô Thành. Sở dĩ lấy tên
Trương Minh Giảng đặt cho con đường này (tên Tây là Amiyo
des Vergne) là v́ Cụ Trương Minh Giảng là Vị ‘’Toàn Quyền’’
đầu tiên của Việt Nam ḿnh bên xứ Miên và chính Cụ là người
đă đặt tên cho Thủ Đô Phnom Pênh của xứ này là NAM VANG.
Có lẽ cũng v́ chuyện đặt tên đường như vậy cho nên Thái Tử
Sihanouk trị v́ xứ Miên rất có ác cảm với Chánh phủ của Thủ
Tướng Diệm, ông này luôn t́m cách phá rối khu vực biên giới
Miên-Việt và đă có lần huênh hoang tuyên bố sẽ xua quân qua
đánh Việt Nam cho tới tận cây thốt nốt số 1!
Cây thốt nốt số 1 là cái ǵ và ở đâu mà Ông Hoàng này lớn
lối dữ vậy? Cây THỐT NỐT là biểu trưng cho Xứ Miên (Royaume
Du Cambogde, nay gọi là Kămpuchia), mà trước cổng Lăng Thờ
Đức Tả Quân Lê văn Duyệt lại có trồng một cây thốt nốt rất
đẹp, dưới đất chỉ có một gốc nhưng phía trên mặt đất th́ lại
trổ ra hai thân uốn cong cong tự nhiên, người Miên gọi cây
này là cây thốt nốt số 1. Ư của ông Hoàng muốn nói là sẽ xua
quân đánh qua tới Sài G̣n, theo kiểu Chế Bồng Nga đánh vào
Thăng Long hồi thế kỷ XIII, Chế Bồng Nga làm được c̣n ông
Hoàng này chỉ làm ‘’NỒ’’ cho đă miệng chớ nào dám như Chế
Bồng Nga của Chiêm Thành.
C̣n con đường mang tên Cụ PHAN THANH GIẢN nữa. Đường này khá
dài khởi điểm từ ngă bảy Sài G̣n, chạy một chiều ra tới ngă
ba Nguyễn Bỉnh Khiêm đụng kinh Nhiêu Lộc-Thị Nghè là hết.
Thời đó chưa có cầu Phan Thanh Giản v́ chưa làm Xa Lộ Sài
G̣n-Biên Ḥa.
Con đường này chạy ngang qua mặt trước của Đất Thánh Tây
(Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi) nơi dành riêng chôn mấy người
Pháp và người có quốc tịch Pháp sống ở Sài G̣n khi họ qua
đời. Dân Sài G̣n kêu là Đất Thánh Tây cũng là lẽ đó. Đường
này tên Tây là LEGRAND DE LALIRERAY.
Thuở nhỏ v́ nhà ở gần khu Đất Thánh này nên tôi hay chạy vô
trong đó chơi. Mả Tây trong này xây rất đẹp, có mả phía
trước gắn nguyên một con chim đại bàng giang rộng đôi cánh
thiệt bự, có mả c̣n để nguyên mấy ṿng bông cườm thiệt, tụi
trẻ chúng tôi hay ngắt mấy sợi cườm này đem về nhà xỏ xâu
đeo chơi và bị ‘’Anh Bảy Chà’’ gác gian (người gác cửa Đất
Thánh là... anh bảy Ấn Độ) rượt chạy ṿng ṿng rất vui. Một
bữa t́nh cờ đi coi mấy cái mả bỗng tôi thấy có một ngôi mả
nho nhỏ bằng đá hoa cương (đá Granite), trên mặt mả là mộ
chí có đề chữ, xin được dịch ra tiếng Quốc ngữ, như vầy:
‘’Đây là nơi an nghỉ của Legrand de Lalireray Đại Úy Thủy
Quân Lục Chiến Hoàng Gia Pháp...’’
À! RA VẬY!Con đường mang tên ông Tây thực dân này ở ngoài
kia là tại v́ có ổng nằm trong này đây !
Ngôi mả này nho nhỏ có lẽ là do hốt cốt cải táng từ đâu đó
rồi đem về chôn ở nơi đây. Mà ông này theo tôi, có lẽ là
người đă tham dự vào chuyện hạ Thành Văng Long (Vĩnh Long)
do Quan Khâm Sai Đại Thần Phan Thanh Giản trấn giữ. Quan
Khâm Sai đă từng được Vua Tự Đức tín nhiệm giao làm Trưởng
Phái Đoàn thương thuyết của Triều Đ́nh Huế qua Pháp thương
lượng chuộc lại 3 Tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Ḥa-Gia
Định-Định Tường).
V́ đă qua Pháp, Cụ đă thấy được sức mạnh của vơ khí của
người Tây dương nên Cụ truyền nộp Thành để tránh cho bá tánh
muôn dân khỏi đổ máu trước súng đạn của Tây, để rồi sau đó
Cụ dùng độc dược tuẫn tiết mà tạ lỗi với Vua và với Đất
Nước.
Và v́ lư do này mà Ủy Ban đă thay tên Legrand de
Lalireray...bằng tên Phan Thanh Giản như đă thấy.
Sau khi Cụ Phan qua đời, gia đ́nh đưa Cụ về táng tại làng
Bảo Thạnh, Huyện Ba Tri Tỉnh Định Tường (nay là Bến Tre). Mộ
Cụ rất đơn sơ nằm trên ngọn đồi cát trông ra biển. Gần đó,
cùng làng Bảo Thạnh có mộ của Cụ Vơ Trường Toản, năm 1969
tôi có đến viếng mộ hai Cụ nhưng riêng mộ Cụ Vơ Trường Toản
th́ không thấy đề tên chỉ thấy bia mộ ghi như sau: ‘’Một
người được lịch sử đánh giá là Trung Nghĩa’’. C̣n mộ Cụ Đồ
Chiểu th́ táng tại làng An Đức cùng huyện. Sau năm 1975,
người ta tôn vinh Cụ Đồ, xây lại mả của Cụ rất bề thế, mả
của Cụ Vơ Trường Toản th́ được Hôi Cựu Học Sanh Vơ Trường
Toản ở Sài G̣n phối hợp với sở văn hóa tỉnh trùng tu lại ngó
cũng đặng.
Riêng mộ Cụ Phan-Ông Nghè (Quan Tiến Sĩ) đầu tiên của Nam Kỳ
th́ vẫn đơn sơ hiu hắt, trơ trọi một ḿnh trên đối cát. Tuy
nhiên, bù lại, mộ Cụ Phan vẫn được nhơn dân bá tánh trong
vùng trọng vọng, không để cho suy sụp, hư hao theo năm
tháng. Theo thiển ư, nếu vong linh hai Cụ Đồ Chiểu và Vơ
Trường Toản có linh hiển th́ chắc hai Cụ cũng không bằng
ḷng với chuyện trùng tu mả của ḿnh bề thế hơn mả của Cụ
PHAN. Như vậy là bất kính đối với bề trên.
Cả hai Cụ đều là người. Một ‘’Giữa đường thấy chuyện bất
b́nh chẳng tha’’. (Lục Vân Tiên), một ‘’Được lịch sử đánh
giá là Trung Nghĩa’’. Do vậy, chắc là hai Cụ rất phật ư về
việc làm của nhà đương cục Tỉnh Bến Tre đă ưu ái dành cho
hai Cụ mà bỏ mặc cho bề trên của hai Cụ là Cụ PHAN.
Ngoài ra, bên cạnh Đường Phan Thanh Giản, chạy song song với
Đường Hai Bà Trưng, nằm dọc theo cánh trái của Nghĩa Trang
này c̣n có 2 con đường nhỏ mang tên hai người con của Cụ là
Quư Ông Phan Liêm và Phan Tôn. Nhị Vị này sau khi thân phụ
mất đă nổi lên chống lại người Pháp và được Ủy Ban đặt tên
nằm ngay sát bên thân phụ của ḿnh. Thiệt là đầy ư nghĩa rất
đáng khâm phục.
Thưa Quư Vị đó chỉ là một vài con đường thí dụ điển h́nh để
minh họa cho sự tài t́nh và tinh tế của Ủy Ban đặt tên đường
của Đô Thành Sài G̣n dưới thời cũ của Miền Nam.
Ngoài ra cũng c̣n phải nhắc đến một điều nho nhỏ nhưng không
kém phần quan trọng trong việc đổi tên đường của Ủy Ban. Đó
là việc ghi thêm tên con đường cũ trên bảng tên đường mới
đổi để người dân trong Thành phố khỏi bị ‘’chưng hửng, ngỡ
ngàng’’ mỗi khi đọc tên đường mới. Bộ Công Chánh thời đó bắt
buộc trên mỗi bảng tên đường mới đổi được đặt ở các góc
đường nơi nó chạy ngang qua, đều phải ghi rơ tên đường cũ
ngay phía dưới tên mới. Thí dụ Đường PHẠM NGŨ LĂO ở Quận Nh́
chạy dọc theo ga xe lửa Sài G̣n bên phía rạp hát Thành Xương
và chợ Thái B́nh th́ phía dưới tên Phạm Ngũ Lăo phải ghi
thêm hàng chữ: Ex: COLONEL GRIMAUX, hoặc như Đường CỐNG
QUỲNH gần đó th́ EX: ARRASS. v.v...
Mỗi tên đường của Đô Thành Sài G̣n không những là một công
tŕnh nghiên cứu của Ủy Ban mà c̣n mang đầy những kư ức,
những kỷ niệm của người dân nơi đó.
Những con đường của tuổi trẻ th́ có:
Con đường ṿm lá me xanh biếc mát rượi thỉnh thoảng điểm vài
tiếng hót vút cao của loài chim nhỏ dễ thương tên là vành
khuyên (dân Sài G̣n gọi là chim khoen màu xanh) mà ở cuối
đường ṿm lá me nh́n thấy thấp thoáng chiếc cổng màu trắng
của Trường Nữ Trung Học Saint Paul (Trường Nhà Trắng) trên
Đại Lộ Cường Để (đây là đoạn Đường Gia Long chạy ngang qua
trước cửa Nhà Thương Đồn Đất (Bệnh Viện GRALL) cho tới ngă
ba Cường Để). Hoặc ‘’con đường Duy Tân cây dài bóng mát, con
đường của đôi ḿnh, con đường t́nh ta đi...’’.
Hay con đường của quư vị muốn t́m hiểu lịch sử hiện đại th́
có:
Nằm ngay góc Phan Đ́nh Phùng và Lê Văn Duyệt (bên số chẵn)
đối diện với Ṭa Đại Sứ Cao Miên chỗ cây xăng, nơi Ḥa
Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chánh quyền của
Tổng Thống Diệm năm 1963.
Hoặc như trước Dinh Thủ Tướng, số 2 Đại Lộ Thống Nhứt (ngay
trước cửa Thảo Cầm Viên Sài G̣n) sanh viên, học sanh thời đó
(năm 1964) đă có một cuộc biểu t́nh chống độc tài vô tiền
khoáng hậu do Ông Nguyễn Trọng Nho lănh đạo đă làm sụp đổ
chế độ của ông Tướng râu Nguyễn Khánh.
Nhiều lắm! nhiều lắm, nói không hết trong vài trang ngắn của
diễn đàn này quư vị ơi!
Thế rồi...Tang điền biến vi thương hải, ngày định mạng 30.
4. 1975 ập tới!...
Ngày 30.4.1975 định mạng ập tới!
Quả đúng là như vậy. Người xưa nói ít có trật lắm!
Sau ngày này, tất cả mọi chuyện đều thay đổi, thay đổi đến
mức ngỡ ngàng. Đồng ư chuyện thay đổi là thường t́nh của
lịch sử nhơn loại, thế nhưng ở Việt Nam ḿnh th́ chuyện thay
đổi này kỳ quái lắm, nó làm chậm lại bước phát triển của dân
tộc so với các nước trong khu vực khoảng 20-25 năm, tức là
làm mất đi hẳn một thế hệ con người.
Sau ngày này, đáng lẽ ra các người chiến thắng phải biết
khiêm tốn một chút th́ đỡ khổ cho dân t́nh biết bao nhiêu,
ngược lại, với mặc cảm tự tôn, kiêu căng cộng với cái gọi là
‘’tŕnh độ hạn chế’’ (một cách nói để che dấu cho sự dốt
nát) họ đă tự tạo ra cho chính họ một lực cản, một chướng
ngại vật làm tŕ trệ cho sự phát triển của đất nước.
Quả thật ngày 30.4.1975 là ngày định mạng của đất nước,
những người cộng sản chiến thắng th́ gọi ngày này là bước
ngoặt của lịch sử. Nói tới lịch sử th́ trong tiến tŕnh phát
triển của lịch sử nhơn loại đă minh chứng rằng không phải
lúc nào người chiến thắng cũng có được một nền văn minh cao
hơn kẻ chiến bại. Ngược lại, chưa hẳn kẻ chiến bại lúc nào
và bao giờ cũng là một tập đoàn ngu tối hơn người chiến
thắng. Điều này đă được xác định từ Đông sang Tây của lịch
sử. Vào thế kỷ XIII bên Trung Hoa của Đông phương, triều đại
nhà NGUYÊN đă chiến thắng triều đại nhà TỐNG, thế nhưng vó
ngựa chiến chinh bách chiến từ Á qua Âu của Thành Cát Tư Hăn
chỉ chịu ngừng bước trước nước Đại Việt của chúng ta và hoàn
toàn bị khuất phục bởi nền văn minh của nhà Tống đă thiết
lập trước đó. Sau này cũng tại Trung Hoa vào thế kỷ XVII,
triều đại nhà THANH đă đè bẹp chế độ của Minh Thành Tổ Chu
Nguyên Chương, người sáng lập ra nhà MINH. Sau chiến thắng,
người Măn dù có tŕnh độ phát triển thấp hơn so với người
Hán của nhà Minh, nhưng họ cũng đă biết giữ ǵn những thành
tựu văn hóa của nhà Minh để lại. Điển h́nh là các đền đài,
lăng tẩm của nhà Minh như khu vực Tử Cấm Thành, Thiên An Môn
c̣n lưu lại nguyên vẹn cho đến ngày nay ở Thủ Đô Bắc Kinh.
Bên Tây phương th́ nền văn minh của Cổ Hy Lạp đă ảnh hưởng
không nhỏ đến sự phát triển của Đế Quốc La Mă.
C̣n ở Việt Nam sau ngày định mạng này, tất cả mọi sự đều
thay đổi. Chuyện thay đổi là tự nhiên, thường t́nh nhưng sự
thay đổi ở đây khiến cho người dân miền Nam không khỏi bỡ
ngỡ, bàng hoàng v́ tính chất lạ lùng mà từ trước tới nay
người dân miền Nam chưa bao giờ thấy. Thiệt đúng là Cách
Mạng!
Cũng v́ mặc cảm tự tôn, kiêu căng, cực đoan của người chiến
thắng mà chỉ sau 1 thập niên quản lư Thành Phố, họ đă biến
Thành Phố Sài G̣n, được ví như một cô gái trẻ xinh đẹp vào
bực nhứt của khu vực Đông Nam Á trở thành một bà già xấu xí,
lem luốc đến thảm hại. Điều này bắt nguồn từ ngày
10.10.1954 (ngày tiếp quản Thủ Đô Hà Nội) cho tới thời điểm
1989 được coi như xuất phát điểm của công việc đổi mới TiVi
ư quên! xin lỗi! Đổi mới tư duy của người chiến thắng. Sau
ngày tiếp quản Hà Nội, Người cộng sản tuyên bố chọn học
thuyết Mác -Lênin làm kim chỉ nam trong việc cai trị và điều
hành đất nước. Họ đă áp dụng một đường lối cai trị nghiệt
ngă trên toàn quốc. Đường lối này là ‘’đóng cửa rút cầu’’
với thế giới bên ngoài ngoại trừ với phe xă hội chủ nghĩa
anh em. Đường lối này nh́n chung chẳng khác với chánh sách
‘’Bế môn Tỏa Cảng’’ của Triều Đ́nh Tự Đức Nhà Nguyễn là mấy,
nếu không muốn nói là tương tự. Vậy mà họ lại lớn tiếng lên
án chánh sách này là hủ bại và phản động. Và hệ quả là: ‘’ÚI
GIỜI ƠI! QUẢ THẬT LÀ HIỆN ĐẠI !HIỆN ĐẠI!’’
Đó là lời cảm thán bàng hoàng nhưng trung thực được thốt ra
từ một người chiến thắng, ngồi ghế trước một chiếc xe Jeep
lùn (có lẽ là chiến lợi phẩm) đầu đội nón cối có gắn huy
hiệu hai hàng bông lúa bao quanh ngôi sao vàng, hông đeo
súng ngắn đựng trong bao da, phía sau xe có 3 anh bộ đội
trẻ cầm tiểu liên AK-47, tất cả đều bận quân phục màu Olive
đă bạc màu, nhoài người ra ngoài xe ngước nh́n những ngọn
đèn thủy ngân cao áp đang phả ánh sáng hồ quang soi sáng
đường phố ở khu vực ‘’bùng binh chợ Sài G̣n’’ mà tôi đă nh́n
thấy vào buổi tối hôm 02.5.1975.
Ban đêm bầu trời Sài G̣n rực sáng đến nỗi ở tuốt trên Củ Chi
hay trong rừng mật khu Hố Ḅ ǵ đó, có một anh chiến binh
việt cộng nh́n thấy đă làm thơ ca ngợi như sau:
‘’….Cái vầng sáng bồi hồi thương nhớ ấy,
Cứ đêm đêm nhắc nhở gọi ta về…’’
(Người chiến binh này là một trong những người con trai của
Ông Ca Văn Thỉnh, sau này được lấy bút danh đặt tên cho một
con đường nhỏ nằm xéo xéo trước rạp hát Long Phụng ở Quận
1).
Ban đêm Sài G̣n là như vậy c̣n ban ngày…thôi hết biết luôn!
- Phố phường, chợ búa tấp nập người mua kẻ bán nhộn nhịp,
huyên náo.
- Đường xá xe cộ lưu thông dập d́u nhưng rất trật tự.
- Người dân từ nam thanh nữ tú cho tới ông già bà cả đều ăn
mặc thanh lịch, nói năng nhă nhặn…
Đúng như lời bài ca của ông nhạc sĩ Y Vân ca ngợi: ‘’SÀI G̉N
đẹp lắm! SÀI G̉N ơi! SÀI G̉N ơi!’’
Điều này nếu đem so với Thủ Đô Hà Nội của những người chiến
thắng, được tự phong là ‘’Thủ Đô của phẩm giá con người’’
th́…chính v́ vậy mà bà văn sĩ Dương thu Hương của Hà Nội đă
phải bật khóc giữa đường phố Sài G̣n khi nh́n thấy tận mắt
Thủ Đô của Ngụy Quyền Miền Nam.
Và để làm giảm bớt sự phồn thịnh của Sài G̣n, những người
chiến thắng đă đặt cho ‘’Nàng’’ một cái tên hợm hĩnh là
‘’Thành phố phồn vinh giả tạo’’ do Mỹ-Ngụy để lại!
Ấy vậy mà chỉ 2-3 năm sau cái ngày định mạng này th́:
- Đường phố ban đêm tối tăm v́ bóng đèn đường cao áp đă đến
thời kỳ hết tuổi sử dụng nhưng không có bóng đèn mới thay
thế, và cũng chính v́ lẽ đó mà những con đường u tối này đă
trở thành khu chợ ‘’bán hoa’’ vào ban đêm.
- Hè phố dành cho người đi bộ bị cuốc lên nham nhở đặng
trồng…khoai lang!
- Sân cỏ ngày nào xanh mướt của các ngôi biệt thự ở Quận Ba,
giờ đây xuất hiện vài ba cái cḥi lợp tạm bằng mấy tấm tôn
rỉ sét để làm chuồng…nuôi heo cải thiện!
- Nhà cửa mặt tiền hai bên đường phố th́ ‘’cơi nới’’ (một
h́nh thức xây cất bất hợp pháp) vô tội vạ bất kể tới trật tự
đô thị hay vẻ mỹ quan của thành phố.
- Tệ nạn đục tường, trổ vách để được…tiến ra mặt tiền, ngơ
hầu có chỗ tranh mua tranh bán bát nháo, loạn xà ngầu…
Có lần ṭ ṃ, tôi có hỏi thăm mấy ông bà cán bộ được phân
cho ở trong mấy căn nhà đó: ‘’Tại sao lại làm chuyện kỳ cục
như vậy?’’. Th́ mấy ông bà này trả lời tỉnh ‘’gueo’’ như
sau. Nói xin lỗi bà con nghen: ‘’Bộ của ông của cha ǵ ḿnh
mà giữ ǵn cho mệt ông ơi!’’. Quả đúng là ‘’lương tâm hổng
bằng lương thực’’.
Từ đó bộ mặt của Sài G̣n trở nên nhếch nhác, tiêu điều để
đến nỗi mỗi năm cứ vào những dịp có lễ lạc lớn như lễ quốc
khánh, Tết Nguyên Đán…Chánh quyên sở tại phải xuất công nho
của thành phố ra mua sơn, vôi rồi mướn công nhơn đi sơn
phết, quét vôi mấy căn nhà mặt tiền này đặng coi cho đỡ khổ
một chút. Mấy chục năm sống trong thành phố này, tôi chưa
từng thấy có chánh quyền nào lại đi bỏ tiền của ra mua sơn,
vôi về sơn quét miễn phí cho nhà tư nhơn như chánh quyền của
mấy người chiến thắng này. Thiệt hết biết!
Phố xá, nhà cửa đă như vậy th́ tên đường cũng phải thay đổi
theo là chuyện đương nhiên. Tiền mà c̣n đổi huống chi là tên
mấy con đường. Nhằm nḥ ǵ ba cái chuyện lẻ tẻ đó. Người
chiến thắng đổi tên đường không theo một quy tắc nào hết, họ
đổi theo cảm tính cá nhơn hoặc đổi do có tác động từ một lư
do không bắt nguồn từ văn hóa mà từ…tiền bạc chẳng hạn.
V́ cảm tính duy ư chí (thuật ngữ này là của người cộng sản
đặt ra) nên họ đă khiến cho người Sài G̣n đặt ra những câu
châm biếm, chọc ghẹo về tên của 2 con Đường Đồng Khởi và Nam
kỳ Khởi Nghĩa như quư vị đă biết. Về tên của 2 con đường
này, theo thiển ư, nếu họ có suy nghĩ đừng theo cảm tính tự
tôn, tự phụ của người chiến thắng th́ nên chọn như sau:
Lấy con đường bắt đầu từ Cầu Phú Lâm, bắc ngang qua Rạch Ông
Buông, trước cửa nhà Ông dầu khuynh diệp Bác Sĩ Tín trong
Quận Sáu, chạy theo Quốc Lộ 4 (nay là Quốc Lộ 1) xuống tới
Mỹ Tho, qua Bắc Rạch Miễu về Bến Tre mà đặt cho nó cái tên
là ĐỒNG KHỞI th́ trúng ngay bóc!
Hoặc lấy con đường khởi đầu từ ngă tư Bảy Hiền chạy qua Cầu
Tham Lương thẳng tuốt tới Hóc Môn rồi đặt tên là NAM KỲ KHỞI
NGHĨA th́...tuyệt chiêu luôn, khó có ai có thể dè bĩu, châm
chọc cho đặng! Nhưng tiếc thay…!
C̣n những con đường khác trong Thành Phố như toàn bộ đường
mang tên các vị Vua Triều Nguyễn đều bị dẹp bỏ, ngoại trừ
Hàm Nghi, để thay thế bằng tên của các người chiến thắng mà
hầu như dân Sài G̣n chẳng hề biết đến họ là ai trong lịch
sử.
Thí dụ đường mang tên Tướng Đỗ Thanh Nhân của Triều Nguyễn
nằm bên Quận Tư th́ được thay bằng Đoàn Văn Bơ, đường Thoại
Ngọc Hầu (chạy ngang trước cửa dược pḥng của Đông Y Sĩ lừng
danh Thủ Tạ (Ông Tạ) được thay bằng Phạm Văn Hai, đường Phát
Diệm chạy ngang cửa Trường Tiểu Học Cầu Kho ở Quận Nh́ th́
được đổi ra Trần Đ́nh Xu. Nghĩa là lung tung, rải rác khắp
nơi. Điều này gây khó khăn không ít cho những người được
mang danh là ‘’Thổ địa của thành phố’’ mỗi khi muốn hỏi về
tên những con đường này coi nó nằm ở đâu trong Thành Phố?
Đúng lẽ ra, những con đường mang tên mấy người chiến thắng
này như tên của Quư Vị: Hai, Cội, Đừng, Cân, Sáu, Xu, Bơ,
Bánh, Đậu phải được đặt chung vào một cụm gần nhau cho dễ
kiếm mỗi khi cần.
Cảm tính là như vậy đó!
C̣n tác động của tiền bạc làm thay đổi tên đường th́ điển
h́nh như :
- Đường Hồng Thập Tự, sau ngày định mạng được đổi thành Xô
Viết Nghệ Tĩnh.
- Đường Pasteur đổi ra Nguyễn Thị Minh Khai.
Nhơn dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Viện Pasteur Sài
G̣n, Chánh phủ Pháp bèn thương lượng với nhà cầm quyền thành
phố là sẽ chi viện cho thành phố một ngân khoản viện trợ để
gọi là trùng tu lại cơ sở khoa học mang tên Nhà Bác Học lừng
danh Louis Pasteur (dân Sài G̣n ngày xưa gọi cơ sở này một
cách nôm na dễ thương là ‘’Nhà thương thuốc chó’’ v́ hễ bị
chó cắn là tới đây chích ngừa miễn phí, người gơ bài này khi
xưa cũng đă từng được chích ngừa 8 mũi thuốc ngừa bịnh chó
dại đau thấu trời đất tại nhà thương này), đổi lại, chỉ xin
phục hồi lại tên đường cũ của trước ngày định mạng 30.4.75
thôi. Và thế là bà Nguyễn Thị Minh Khai đang ‘’đè’’ ông
Pasteur từ sau ngày này, bỗng nhiên bị hất xuống cho chạy
qua xóa tên quê hương của ḿnh là Xô Viết Nghệ Tĩnh để được
ngự tại đó cho tới bây giờ.
C̣n nhiều con đường khác bị thay thế một cách ngớ ngẩn như
Đại Lộ Thống Nhứt được thay bằng đường (ĐƯỜNG chớ hổng phải
ĐẠI LỘ à nha!) 30 tháng Tư. Nghe cũng hợp lư lắm. Ấy vậy mà
sau khi ‘’anh Ba’’ Lê Duẩn qua đời, Ông 10 Cúc Nguyễn Văn
Linh bèn ‘’nâng bi’’ lấy điểm tài khôn đối ra thành đường Lê
Duẩn, thiệt là…hết chỗ nói.
Cũng nên nói thêm ở đây cho rơ là tất cả mọi con đường trong
Thành Phố này dù lớn dù lớn cỡ 80 thước bề ngang cũng ngang
bằng với con đường hẻm 5 thước bề rộng. Tất cả đều là đường
ráo trọi, không có đại lộ tiểu lộ ǵ hết. Hà Nội là Thủ Đô
của cả nước c̣n chưa có đại lộ mà Sài G̣n dám có là sao?
Muốn phạm thượng hả? Và thế là ngày nay nếu Vị nào có về Sài
G̣n thăm lại chốn cũ th́ sẽ thấy đường, đường, đường…c̣n đại
lộ th́…vô tư quên đi. Boulevard, Avenue…là của Tư Bổn, ta
khác, không được căi nghe chửa?!
Thưa Quư Vị bài viết về tên đường tới đây cũng là quá dài
rồi. Xin phép cho được ngừng ở đây, hẹn sẽ bàn tiếp về
chuyện khác cũng thú vị lắm. Nếu quư vị đọc bài này thấy
cũng đỡ đỡ th́ xin Quư Vị chớ có khen tặng ông già này đă
‘’làm tốt’’ công việc kể chuyện. Khen như vậy ‘’gua’’ giận
lắm nghen! Ngày xưa, trước ngày định mạng, người Miền Nam
không bao giờ nói làm tốt. Khen ai th́ nói: ‘’Ông (Bà) hay
Anh Chị đă hoàn thành xuất sắc công việc này, hoặc đă làm
việc thật xứng đáng để được khen thưởng….’’ Chớ không bao
giờ người ta khen là làm tốt như mấy ông cộng sản ngày nay
ưa xài. Tại sao vậy? Xin thưa rằng Làm Tốt mà nói lái lại
th́…đúng như Bùi Bảo Trúc Tiên Sanh của tuần báo Việt Tide ở
mục có h́nh con khỉ ở đầu trang mà Tiên Sanh khen là giống
với tác giả nhứt đă viết như sau:
‘’XẤU TH̀ THẬT LÀ XẤU, XEM TH̀ RẤT THÍCH XEM. NHẮC ĐẾN LÀ
THÈM, BẢO ĂN TH̀ GIẬN’’ .
Đàng này không bảo ăn mà là…táp! Hỏi không nổi khùng sao
đặng?
Kính.
Nam Vịnh lăo gia (Ông già lẩm cẩm South Bay).
HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954
Hội Nghị Genève khai mạc ngày 26.4.1954 với mục đích giải
quyết cả hai vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Tuy nhiên các
cuộc thảo luận về Triều Tiên không đạt được một kết quả nào.
Các cuộc thảo luận về Đông Dương do đó chỉ thực sự bắt đầu
ngày 8.5.1954 với sự tham dự của đại diện các nước Anh,
Pháp, Mỹ Nga, Trung Cộng, Việt Nam, Việt Minh, Cao Mên và
Lào.
Anh: Ngoại Trưởng A. Eden
Pháp: Ngoại Trưởng G. Bidault
Mỹ: Thứ Trưởng Ngoại Giao W. Bidell Smith
Nga: Ngoại Trưởng V. Molotov
Trung Cộng: Ngoại Trưởng Chu Ân Lai
Việt Nam: Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định
Việt Minh: Ngoại Trưởng Phạm Văn Đồng
Ngày 17.5 lần đầu tiên Pháp và Việt Minh họp
kín.
Ngày 19.6 P. Mandès France đắc cử Thủ Tướng
Pháp. Ông Chauvel thay thế Ngoại Trưởng Bidault.
Đầu tháng 7.1954, Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ thay
thế ông Nguyễn Quốc Định.
Hiệp Định Genève được kư kết ngày 20.7.1954 gồm
4 văn kiện:
1.- Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm 6
Chương và 47 Điều khoản.
2.- Hiệp Định đ́nh chỉ chiến sự ở Lào gồm 6
Chương và 40 Điều khoản.
3.- Hiệp Định đ́nh chỉ chiến sự ở Cao Mên gồm 5
Chương và 33 Điều khoản.
4.- Tuyên Bố Cuối Cùng của Hội Nghị gồm 13 Điểm.
Bản Tuyên Bố Cuối Cùng được xem như Tuyên Cáo
của Hội Nghị nhưng không mang chữ kư của bất cứ một Phái
Đoàn nào.
Ngoài 4 văn kiện kể trên c̣n có hai văn kiện nữa
do hai Phái Đoàn tham dự đưa ra trong Hội Nghị với mục đích
xác định lập trường riêng của ḿnh:
1.- Tuyên Ngôn của Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam.
2.- Tuyên Ngôn của Phái Đoàn Hoa Kỳ.
Cả hai Phái Đoàn của Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ
không kư vào bất cứ một văn kiện nào của Hiệp Định Genève
1954.
HIỆP ĐỊNH Đ̀NH CHỈ CHIẾN SỰ Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG I
GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI VÀ KHU PHI QUÂN SỰ
Điều 1: Một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được
quy định rơ, để lực lượng hai bên, sau khi rút lui, sẽ tập
hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy. Lực lượng Quân Đội
Nhân Dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến. Lực lượng Quân Đội
Liên Hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến.
Hai bên đồng ư có một Khu phi quân sự hai bên giới tuyến,
mỗi bên rộng nhất là 5 cây số kể từ giới tuyến trở đi. Khu
phi quân sự này dùng để làm khu đệm và để tránh những việc
xung đột có thể làm cho chiến sự trở lại.
Điều 2: Kỳ hạn cần thiết để thực hiện việc di chuyển hoàn
toàn các lực lượng của hai bên về vùng tập họp của họ ở hai
bên giới tuyến quân sự tạm thời không được quá 300 ngày, kể
từ ngày Hiệp Định này có hiệu lực.
Điều 3: Khi giới tuyến quân sự tạm thời trùng với một gịng
sông, th́ thuyền bè của dân đều có thể đi lại trên những
khúc sông nào mà mỗi bờ do mỗi bên kiểm soát. Ban liên hợp
sẽ quy định thể lệ đi lại trên những khúc sông ấy.
Các tàu buôn và các loại thuyền bè khác của dân
ở mỗi bên đều có quyền cập bến trong khu vực bên ḿnh kiểm
soát mà không bị hạn chế ǵ.
Điều 4: Giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai vùng tập họp
kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường
ven biển.
Lực lượng Liên Hiệp Pháp sẽ rút khỏi tất cả các
Hải Đảo ven bờ biển thuộc phía Bắc giới tuyến ấy. Quân Đội
Nhân Dân Việt Nam sẽ rút khỏi tất cả các Hải Đảo thuộc phía
Nam.
Điều 5: Để tránh những sự xung đột có thể gây lại chiến sự,
tất cả lực lượng, vật liệu và dụng cụ quân sự đều phải đưa
ra khỏi Khu phi quân sự trong thời gian 25 ngày kể từ ngày
Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực.
Điều 6: Bất cứ người nào hoặc quân nhân hoặc người thường
đều không được vượt qua giới tuyến quân sự tạm thời, nếu
không được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp.
Điều 7: Bất cứ người nào, hoặc quân nhân hoặc người thường
đều không được đi vào Khu phi quân sự, ngoại trừ những người
có trách nhiệm và hành chính dân sự về tổ chức cứu tế và
những người được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp.
Điều 8: Việc hành chính và tổ chức cứu tế ở trong Khu phi
quân sự tạm thời thuộc vùng của bên nào th́ do Tổng Tư Lệnh
của bên ấy phụ trách. Số người quân nhân và người thường của
mỗi bên được phép vào trong Khu phi quân sự để bảo đảm việc
hành chính và việc tổ chức cứu tế đều do Tư Lệnh của mỗi bên
ấn định, nhưng bất kỳ lúc nào cũng không được quá số người
mà Ban quân sự trung giá hay Ban Liên Hợp sẽ quy định.
Ban Liên Hợp sẽ ấn định số nhân viên Cảnh Sát
hành chính, số vơ khí của những nhân viên Cảnh Sát ấy. Không
ai được mang vơ khí nếu không được phép rơ ràng của Ban Liên
Hợp.
Điều 9: Không có một khoảng nào trong chương tŕnh này có
thể hiểu theo ư nghĩa làm mất hoàn toàn quyền tự do ra vào
hay đi lại trong Khu phi quân sự của Ban Liên Hợp, của những
Toán Liên Hợp, của Ban Quốc Tế thành lập như quy định dưới
đây, của những đội kiểm tra cùng tất cả những người khác và
vật liệu, dụng cụ đă được phép rơ ràng của Ban Liên Hợp cho
vào Khu phi quân sự. Khi cần đi lại từ một điểm này đến một
điểm kia trong Khu phi quân sự mà không có đường thủy hay
đường bộ nằm hẳn trong Khu phi quân sự, th́ được phép dùng
những con đường thủy hay đường bộ nối hai điểm ấy đi ngang
qua vùng đặt dưới quyền kiểm soát quân sự của bất cứ một bên
nào.
CHƯƠNG II
NGUYÊN TẮC VÀ CÁCH THỨC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH NÀY
Điều 10: Các Bộ Tư Lệnh Quân Đội đôi bên, một
bên là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, một bên là
Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp ở Đông Dương sẽ ra lệnh hoàn toàn
đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam cho tất cả lực lượng vơ trang
đặt dưới quyền của họ, kể cả các đơn vị và nhân viên Hải,
Lục, Không Quân và bảo đảm sự thực hiện đ́nh chỉ chiến sự
đó.
Điều 11: Theo nguyên tắc ngừng bắn đồng thời khắp toàn cơi
Đông Dương, sự đ́nh chỉ chiến sự phải đồng thời trên toàn
cơi Việt Nam, tại tất cả các chiến trường và cho tất cả lực
lượng của hai bên.
Tính theo thời gian thực sự cần thiết để chuyển
lệnh ngưng bắn tới những cấp thấp nhất của lực lượng chiến
đấu đôi bên, hai bên đồng ư sẽ thực hiện ngừng bắn hoàn toàn
và đồng thời theo từng khoảng lănh thổ, trong những điều
kiện sau đây:
Ở Bắc Bộ Việt Nam, đúng 8 giờ địa phương ngày
27.7.1954.
Ở Trung Bộ Việt Nam, đúng 8 giờ địa phương ngày
1.8.1954.
Ở Nam Bộ Việt Nam, đúng 8 giờ địa phương ngày
11.8.1954.
Giờ địa phương nói trong điều này là giờ kinh
tuyến Bắc Kinh.
Kể từ khi thực hiện ngưng bắn thực sự ở Bắc Bộ
Việt Nam, mỗi bên cam đoan không mở những cuộc tấn công lớn
trên toàn cơi chiến trường Đông Dương, không huy động lực
lượng Không Quân ở các căn cứ miền Bắc Bộ Việt Nam ra ngoài
địa hạt Bắc Bộ Việt Nam. Hai bên cam đoan gửi cho nhau để
biết những kế hoạch chuyển quân của ḿnh từ vùng tập hợp
khác trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày Hiệp Định này bắt đầu
có hiệu lực.
Điều 12: Tất cả những hành động và vận chuyển trong việc
đ́nh chỉ chiến sự và việc thực hiện cách tập hợp phải tiến
hành trong trật tự và an toàn.
a.- Trong thời gian một số ngày sau khi thực
hiện ngưng bắn thực sự cho Ban quân sự trung giá định, mỗi
bên có trách nhiệm cất dọn và làm mất hiệu lực những địa lôi
và thủy lôi (kể cả ở sông và ở biển), những cạm bẫy, những
chất nổ và tất cả những chất nguy hiểm khác mà bên ấy đă đặt
trước. Trong trường hợp không kịp cất dọn và làm mất hiệu
lực các loại nói trên, th́ phải đặt những dấu hiệu rơ rệt.
Tất cả những nơi phá hoại, những nơi địa lôi,
những lưới dây thép gai và những vật chướng ngại khác cho sự
đi lại tự do của nhân viên Ban Liên Hợp và của các Toán Liên
Hợp mà người ta t́m ra sau khi bộ đội đă rút đi, th́ Tư Lệnh
các lực lượng của hai bên phải báo cho Ban Liên Hợp biết.
b.- Trong thời kỳ kể từ khi ngừng bắn cho đến
khi tập hợp xong quân đội ở hai bên giới tuyến:
1.- Ở những khu định giao cho bộ đội của một bên
tạm đóng th́ bộ đội của bên kia tạm rút ra ngoài những khu
đó.
2.- Trong khi lực lượng của một bên rút theo một
đường giao thông (đường đất, đường xe lửa, đường sông hay
đường biển) đi ngang qua địa hạt của bên kia (xem Điều 24)
th́ lực lượng của bên kia phải tạm thời lui xa hai bên đường
giao thông mỗi bên 3 cây số, nhưng tránh làm trở ngại cho sự
đi lại của thường dân.
Điều 13: Trong thời kỳ kể từ ngày ngừng bắn đến khi chuyển
quân xong từ vùng này sang vùng kia, các phi cơ thường và
phi cơ vận tải quân sự phải bay theo những hành lang nhất
định nối liền các khi đóng quân tạm thời của Quân Đội Liên
Hiệp Pháp ở phía Bắc giới tuyến với biên giới Lào và vùng
tập hợp dành cho Quân Đội Liên Hiệp Pháp.
Những hành lang trên không, bề rộng của các hành
lang ấy, hành tŕnh an toàn mà các phi cơ quân sự một động
cơ phải theo trong việc vận chuyển về phía Nam và những thể
thức t́m kiếm và cứu nạn những phi cơ bị nạn sẽ do Ban quân
sự trung giá ấn định tại chỗ.
Điều 14: Những biện pháp chính trị và hành chính trong hai
vùng tập hợp, ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời:
a.- Trong khi đợi Tổng tuyển cử để thực hiên
thống nhất nước Việt Nam, bên nào có quân đội của ḿnh tập
hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp Định này th́ bên ấy sẽ
phụ trách quản trị hành chính ở vùng ấy.
b.- Một địa hạt thuộc quyền của bên này sắp
chuyển giao cho bên kia theo kế hoạch tập hợp th́ vẫn do bên
này tiếp tục quản trị cho đến ngày tất cả bộ đội của ḿnh đă
rời khỏi địa hạt có thể giao cho bên kia chịu trách nhiệm
quản trị.
Phải thi hành những biện pháp để tránh sự gián
đoạn trong vấn đề chuyển giao trách nhiệm này. Để đạt được
mục đích ấy, bên rút đi phải kịp thời báo trước cho bên kia
để bên kia có những sự sắp xếp cần thiết, nhất là cử những
Nhân viên hành chính và Cảnh Sát đến để chuẩn bị tiếp nhận
trách nhiệm về hành chính. Thời hạn báo trước sẽ do Ban quân
sự trung giá ấn định. Sự chuyển giao ấy sẽ tiến hành lần
lượt theo từng khoảng đất đai.
Sự chuyển giao về hành chính Hà Nội và Hải Pḥng
cho nhà đương cục của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa phải
hoàn toàn thi hành xong trong những thời hạn đă ấn định ở
Điều khoản thứ 15 về việc chuyển quân.
c.- Mỗi bên cam kết không dùng cách trả thù hay
phân biệt đối xử nào đối với những cá nhân hoặc tổ chức, v́
lư do của họ trong lúc chiến tranh và cam kết bảo đảm những
quyền tự do dân chủ của họ.
d.- Trong thời gian kể từ khi Hiệp Định này bắt
đầu có hiệu lực đến ngày hoàn thành việc chuyển quân, nếu có
những thường dân ở một khu thuộc quyền kiểm soát của bên này
mà muốn sang ở vùng bên kia, th́ nhà chức trách của khu trên
phải cho phép và giúp đỡ sự di chuyển ấy.
Điều 15: Việc tách rời bộ đội chiến đấu, việc rút quân, việc
chuyển quân và vật liệu, dụng cụ quân sự, phải tiến hành
theo các nguyên tắc sau đây:
a.- Việc rút quân và chuyển quân, vật liệu và
dụng cụ quân sự của hai bên phải làm xong trong thời hạn 300
ngày như ấn định ở Điều khoản thứ 2 của Hiệp Định này.
b.- Những cuộc rút quân tuần tự phải tiến hành
trong mỗi địa hạt, theo từng khu vực, từng phần khu vực,
hoặc từng Tỉnh.
Những cuộc chuyển quân từ vùng tập hợp này sang
vùng tập hợp khác sẽ tiến hành liên tiếp từng đợt hàng tháng
và tính theo tỷ lệ số quân phải chuyển.
c.- Hai bên sẽ bảo đảm sự thực hiện việc rút và
chuyển tất cả các lực lượng theo đúng mục đích nói trong
Hiệp Định, không dung thứ một hành vi đối địch nào, không
c̣n làm bất cứ việc ǵ có thể trở ngại cho việc rút quân và
chuyển quân của nhau. Hai bên phải giúp đỡ lẫn nhau trong
phạm vi có thể được.
d.- Hai bên không dung thứ bất cứ hành động nào
hủy hoại hoặc phá hoại tài sản công cộng và xâm phạm đến
sinh mạng và tài sản của thường dân. Hai bên cũng không dung
thứ bất cứ sự can thiệp nào vào nội chính địa phương.
e.- Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế theo dơi việc
thi hành những biện pháp bảo đảm an toàn của bộ đội trong
khi rút và trong khi chuyển.
f.- Ban quân sự trung giá và sau này Ban Liên
Hợp sẽ cùng nhau ấn định những thể thức cụ thể và việc tách
rời bộ đội chiến đấu, việc rút quân và chuyển quân, căn cứ
trên các nguyên tắc đă kể trên và trong khuôn khổ sau đây:
1.- Việc tách rời bộ đội chiến đấu, bao gồm sự
tụ họp tại chỗ các lực lượng vũ trang bất cứ thuộc loại nào,
sự vận chuyển tới những khu đóng quân tạm thời của một bên
và sự tạm rút của quân đội bên kia, phải làm xong trong một
thời hạn không được quá 15 ngày sau khi thực hiện ngưng bắn.
Đường vạch những khu đóng quân tạm thời được ấn
định trong phụ bản.
Để tránh mọi việc xung đột không bộ đội nào được
đóng dưới 1. 500 thước cách giới hạn của những khu đóng quân
tạm thời.
Trong thời kỳ kể từ ngày Hiệp Định bắt đầu có
hiệu lực, đến ngày chuyển quân xong, tất cả những đảo gần
bờ biển ở phía Tây con đường định sau đây, đều thuộc khu chu
vi Hải Pḥng:
Kinh tuyến của mỏm phía Nam cù lao Kê Bào.
Bờ biển phía Bắc của đảo Rousse (không kể ḥn
đảo ấy) kéo dài tới kinh tuyến Cẩm Phả Mỏ.
Kinh tuyến Cẩm Phả Mỏ.
2.- Những cuộc rút quân và chuyển quân sẽ tiến
hành theo thứ tự và những thời gian (kể từ Hiệp Định này bắt
đầu có hiệu lực) định sau đây:
Quân Đội Liên Hiệp Pháp:
Chu vi Hà Nội 80 ngày.
Chu vi Hải Dương 100 ngày.
Chu vi Hải Pḥng 300 ngày.
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam:
Khu Hàm Tân-Xuyên Mộc 80 ngày.
Đợt thứ nhất của khu tạm đóng quân ở Trung Bộ
Việt Nam 80 ngày.
Khu Đồng Tháp Mười 100 ngày.
Đợt thứ hai của khu tạm đóng quân ở Trung Bộ
Việt Nam 100 ngày.
Khu mũi Cà Mau 200 ngày.
Đợt chót của khu tạm đóng quân ở Trung Bộ Việt
Nam 300 ngày.
CHƯƠNG III
CẤM ĐEM THÊM QUÂN ĐỘI NHÂN VIÊN QUÂN SỰ VŨ KHÍ ĐẠN DƯỢC MỚI
Căn Cứ Quân Sự.
Điều 16: Kể từ khi Hiệp Định này bắt đầu có hiệu
lực, cấm không được tăng thêm vào nước Việt Nam mọi bộ đội
và nhân viên quân sự.
Tuy nhiên sẽ cho phép việc thay thế những đơn
vị, nhân viên, sẽ cho phép những quân nhân riêng lẻ đến Việt
Nam làm một công việc nhất thời, những nhân viên riêng lẻ
trở lại Việt Nam sau một thời hạn nghỉ phép ngắn hay một
công vụ nhất thời ở ngoài nước Việt Nam. Sự cho phép ấy phải
theo điều kiện sau đây:
a.- Sự thay thế đơn vị (định nghĩa ở đoạn (c)
của Điều này) và nhân viên không được phép thi hành đối với
quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng ở phía Bắc giới tuyến quân
sự tạm thời định ở Điều 1 trong thời kỳ rút quân nói ở Điều
2 của Hiệp Định này.
Tuy nhiên đối với những quân nhân riêng lẻ mới
đến hoặc trở lại vùng phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời,
v́ một công vụ nhất thời hoặc sau một thời hạn nghỉ phép
ngắn hay có công vụ nhất thời ở ngoài Việt Nam, th́ không
được phép vào mỗi tháng không quá 50 người, kể cả nhân viên
sĩ quan.
b.- Danh từ ‘’thay thế’’ có nghĩa là thay những
đơn vị hoặc nhân viên bằng những đơn vị ngang cấp hoặc nhân
viên đến Việt Nam để làm nhiệm vụ hải ngoại thuộc phiên
ḿnh.
c.- Những đơn vị thay thế không bao giờ được lớn
hơn một đơn vị tương đương với Tiểu Đoàn.
d.- Sự thay thế phải là một người thay một
người. Nhưng số người được đưa vào Việt Nam để thay thế
trong một khoảng thời gian ba tháng không được quá 15.500
người thuộc ngành quân sự.
e.- Những đơn vị (định nghĩa ở đoạn (c) của Điều
này) và nhân viên thay thế cùng những quân nhân riêng lẻ nói
trong điều này chỉ có thể vào và ra nước Việt Nam theo những
cửa khẩu kể ở Điều 20 sau này.
f.- Mỗi bên phải báo trước, ít nhất là hai ngày
cho Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế, tất cả những việc vận
chuyển có thể đến vận chuyển những đơn vị nhân viên và quân
nhân riêng lẻ đến Việt Nam hoặc từ Việt Nam đi phải được báo
cáo hàng ngày cho Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế biết.
Mỗi một bản báo cáo trước hoặc báo cáo kể trên
đây phải nói rơ địa điểm và ngày tháng đi đến và số người đi
hoặc đến.
g. - Ban Quốc Tế dùng những Đội Kiểm Tra để giám
sát và kiểm tra ở những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau đây, sự
thay thế các đơn vị và nhân viên, sự đi hoặc đến của những
quân nhân riêng lẻ được phép ra vào nói trên đây.
Điều 17:
a.- Kể từ khi Hiệp Định bắt đầu có hiệu lực, cấm
tăng viện vào nước Việt Nam mọi thứ vũ khí, đạn dược và
những dụng cụ chiến tranh khác, ví dụ phi cơ chiến đấu, đơn
vị thủy quân, khẩu đại bác, khí cụ và súng ống phản động
lực, khí cụ thiết giáp.
b.- Tuy nhiên các dụng cụ chiến tranh, vũ khí và
đạn dược bị phá hủy, hư hỏng, ṃn hoặc hết sau khi đ́nh chỉ
chiến sự có thể được thay thế một đổi một, cùng một loại và
với đặc điểm tương tự.
Đối với những đơn vị của Quân Đội Liên Hiệp Pháp
đóng ở phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời định ở Điều 1,
trong thời hạn rút quân đă định ở Điều 2 của Hiệp Định này,
th́ không được phép thay thế dụng cụ chiến tranh, vũ khí và
đạn dược.
Các đơn vị Hải Quân có thể thực hiện việc vận
chuyển giữa các vùng tập hợp.
c.- Những dụng cụ chiến tranh, những vũ khí và
đạn dược để thay thế nói ở đoạn (b) Điều này có thể đưa vào
Việt Nam qua những cửa khẩu kể ở Điều 20 sau đây. Những dụng
cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược cần được thay thế chỉ có
thể đưa ra ngoài nước Việt Nam qua những cửa khẩu kể ở Điều
20 sau đây.
d.- Ngoài sự thay thế trong phạm vi ở Đoạn (b)
Điều này cấm không được đưa vào những dụng cụ chiến tranh,
vũ khí và đạn dược đủ loại, dưới h́nh thức từng bộ phận rời
rạc, để sau đó ráp lại.
e.- Mỗi bên phải báo trước ít nhất hai ngày cho
Ban Liên Hợp, Ban Quốc Tế tất cả những vận chuyển ra, vào
của các dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược thuộc các
loại.
Để chứng minh những yêu cầu đưa vào Việt Nam
những vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh khác (định
nghĩa trong đoạn (a) của Điều này) để dùng vào việc thay
thế, cần phải tŕnh Ban Liên Hợp và Ban Quốc Tế một bản báo
cáo, mỗi lần có vận chuyển vào. Bản báo cáo ấy nói rơ việc
sử dụng các dụng cụ thay thế như thế nào.
f.- Ban Quốc Tế dùng những Đội Kiểm Tra để giám
sát và kiểm tra sự thay thế đă cho phép trong những điều
kiện nói trong Điều khoản này tại những cửa khẩu kể ở Điều
20 sau đây.
Điều 18: Kể từ ngày Hiệp Định này có bắt đầu có hiệu lực,
cấm không được thành lập, trong toàn cơi Việt Nam, những căn
cứ quân sự mới.
Điều 19: Kể từ ngày Hiệp Định này có bắt đầu có
hiệu lực, cấm không được lập một căn cứ quân sự ngoại quốc
nào trong vùng tập hợp của đôi bên. Hai bên cam đoan rằng
vùng thuộc về họ không gia nhập một liên minh quân sự nào và
không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một
chính sách xâm lược.
Điều 20: Những người thay thế và dụng cụ thay thế phải đi
qua những cửa khẩu ra vào Việt Nam quy định như sau đây:
Vùng phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời, Lào
Cai, Lạng Sơn, Tiên Yên, Hải Pḥng, Vịnh, Đồng Hới, Mường
Sen.
Vùng phía Nam giới tuyến quân sự tạm thời:
Tourane, Quy Nhơn, Nha Trang, Ba Ng̣i, cửa Ô Cấp, Tân Châu.
CHƯƠNG IV
TÙ BINH VÀ THƯỜNG DÂN BỊ GIAM GIỮ
Điều 21: Việc tha và cho hồi hương những tù binh
và những thường dân đang bị mỗi bên trong hai bên giam giữ
sẽ được tiến hành theo những điều kiện sau đây, kể từ khi
Hiệp Định này bắt đầu có hiệu lực.
a.- Tất cả tù binh và thường dân bị giam giữ,
quốc tịch Việt Nam, Pháp hoặc quốc tịch khác, bị bắt giữ từ
đầu chiến tranh ở Việt Nam, trong những cuộc hành quân hoặc
trong tất cả những trường hợp chiến tranh khác, ở trên toàn
cơi Việt Nam sẽ được tha trong một thời gian là 30 ngày, kể
từ ngày thực hiện ngưng bắn thực sự trên mỗi chiến trường.
b.- Danh từ ‘’thường dân bị giam giữ’’ có nghĩa
là tất cả những người đă tham gia bất cứ dưới h́nh thức nào
vào cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị giữa đôi bên và v́
thế mà bị bên này hay bên kia bắt và giam giữ trong khi
chiến tranh.
c.- Cách tha sẽ tiến hành như sau: Mỗi bên trao
trả cho nhà chức trách có thẩm quyền của bên kia toàn thể tù
binh và thường dân bị giam giữ. Nhà chức trách bên nhận sẽ
giúp đỡ họ bằng mọi cách có thể được để họ về sinh quán, nơi
cư trú thường xuyên hoặc về vùng họ lựa chọn.
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN LINH TINH
Điều 22: Tư Lệnh hai bên chú trọng trừng phạt
thích đáng những người thuộc quyền ḿnh mà làm trái bất kỳ
một điều khoản nào của Hiệp Định này.
Điều 23: Trong trường hợp biết rơ nơi chôn cất và có mồ mả
rơ ràng. Bộ Tư Lệnh mỗi bên sẽ cho phép nhân viên trông coi
việc chôn cất của bên kia được vào trong vùng thuộc lănh thổ
Việt Nam đặt dưới quyền của ḿnh, trong một thời hạn nhất
định, sau khi Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự bắt đầu có hiệu
lực để lấy thi hài của những quân nhân chết của bên kia, kể
cả những tù binh chết. Ban Liên Hợp sẽ ấn định phương thức
thi hành việc này và thời hạn cần phải làm xong, các Bộ Tư
Lệnh mỗi bên sẽ cho nhau biết tất cả những tài liệu, tin tức
mà họ có về mồ mả của quân nhân của hai bên.
Điều 24: Hiệp Định này áp dụng cho tất cả những lực lượng vũ
trang của đôi bên. Lực lượng mỗi bên vũ trang của mỗi bên sẽ
phải tôn trọng khu phi quân sự và lănh thổ đặt dưới quyền
kiểm soát quân sự của bên kia và sẽ không có hành động hoặc
hoạt động ǵ chống bên kia, hoặc một hoạt động phong tỏa bất
cứ bằng cách nào ở Việt Nam.
Danh từ ‘’lănh thổ’’ nói đây bao gồm cả hải phận
và không phận.
Điều 25: Trong khi thi hành nhiệm vụ định trong Hiệp Định
này, Ban Liên Hợp và Toán Liên Hợp, Ban Quốc Tế cần phải
được sự bảo vệ giúp đỡ cộng tác của các Tư Lệnh lực lượng
hai bên.
Điều 26: Các phí tổn cần thiết cho Ban Liên Hợp và các Toán
Liên Hợp, Ban Quốc Tế và những Đội Kiểm Tra của Ban Quốc Tế
sẽ do đôi bên chia đều nhau mà chịu.
Điều 27: Những người kư Hiệp Định này và những người kế tiếp
nhiệm vụ của họ sẽ có nhiệm vụ bảo đảm sự tôn trọng việc
thực hiện các điều khoản của Hiệp Định này. Các Tư Lệnh hai
bên, trong quyền hạn của ḿnh sẽ thi hành mọi biện pháp và
mọi điều khoản cần thiết để tất cả những phần tử và nhân
viên quân sự dưới quyền họ, tôn trọng hoàn toàn những điều
khoản của Hiệp Định này.
Những thể thức thi hành Hiệp Định này, mỗi bên
khi cần thiết sẽ do Tư Lệnh đôi bên nghiên cứu và nếu cần,
do Ban Liên Hợp định rơ thêm.
CHƯƠNG VI
BAN LIÊN HỢP VÀ BAN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Điều 28: Trách nhiệm thực hiện Hiệp Định Đ́nh
Chỉ Chiến Sự là thuộc về hai bên.
Điều 29: Việc giám sát và kiểm soát sự thực hiện ấy do một
Ban Quốc Tế bảo đảm.
Điều 30: Để làm dễ dàng cho việc thực hiện các Điều khoản
cần đến sự hoạt động phối hợp của hai bên, trong những điều
kiện quy định dưới đây, sẽ thành lập một Ban Liên Hợp ở Việt
Nam.
Điều 31: Ban Liên Hợp gồm một số đại biểu bằng nhau của Bộ
Tư Lệnh hai bên.
Điều 32: Các Trưởng Đoàn Đại Biểu trong Ban Liên Hợp là cấp
Tướng.
Ban Liên Hợp thành lập những Nhóm Liên Hợp, số lượng
bao nhiêu do hai bên thỏa thuận quy định. Các Nhóm Liên Hợp
gồm một số sĩ quan bằng nhau của hai bên. Hai bên sẽ căn cứ
vào nhiệm vụ của Ban Liên Hợp mà quy định nơi đóng của các
nhóm ấy trên giới tuyến giữa các vùng tập hợp.
Điều 33: Ban Liên Hợp bảo đản sự thực hiện những điều khoản
sau đây của Hiệp Định:
a.- Ngừng bắn đồng thời và toàn diện ở Việt Nam,
cho tất cả các lực lượng vũ trang chính quy và không chính
quy của hai bên.
b.- Sự tập hợp vũ trang của hai bên.
c.- Sự tôn trọng giới tuyến giữa các vùng tập
hợp và khu phi quân sự.
Ban Liên Hợp giúp hai bên theo phạm vi thẩm
quyền của ḿnh trong việc thực hiện các điều khoản kể trên,
bảo đảm việc liên lạc giữa hai bên để khởi thảo và thi hành
những kế hoạch áp dụng các Điều khoản ấy, cố gắng giải quyết
các mâu thuẫn có thể nảy ra giữa hai bên trong khi thực hiện
các Điều khoản ấy.
Điều 34: Nay thành lập một Ban Quốc Tế phụ trách giám sát và
kiểm soát sự áp dụng các Điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ
Chiến Sự ở Việt Nam. Ban ấy bao gồm một số Đại Biểu bằng
nhau của các nước sau đây: Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nă Đại. Ban ấy
do Đại Biểu Ấn Độ làm Chủ Tịch.
Điều 35: Ban Quốc Tế đặt những Đội Kiểm Tra cố định và lưu
động gồm một số sĩ quan bằng nhau do mỗi nước trong các nước
trên đây đề cử ra.
Những Đội cố định đóng tại các điểm sau đây:
Vùng phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời: Lào Cai,
Lạng Sơn, Tiên Yên, Hải Pḥng, Vinh, Đồng Hới, Mường Sen.
Vùng phía Nam giới tuyến quân sự tạm thời: Tourane,
Quy Nhơn, Nha Trang, Ba Ng̣i, Sài G̣n, Cửa Ô Cấp, Tân Châu.
Sau này, những điểm đóng đô có thể thay đổi theo sự yêu cầu
của Ban Liên Hợp hoặc của một trong hai bên, hoặc của chính
Ban Quốc Tế do sự thỏa thuận giữa Ban Quốc Tế và Bộ Tư Lệnh
của bên hữu quan.
Khu hoạt động của các Đội Lưu Động là những nơi gần
các biên giới thủy, bộ của Việt Nam, đường giới tuyến các
vùng tập hợp và khu phi quân sự, trong phạm vi đó, các Đội
Lưu Động có quyền đi lại và được các nhà chức trách hành
chính và quân sự địa phương dành cho mọi sự dễ dàng mà họ
cần đến để làm tṛn nhiệm vụ (cung cấp nhân viên tài liệu
cần thiết cho việc kiểm soát, triệu tập những người làm
chứng cần thiết cho các cuộc điều tra, bảo vệ an toàn và sự
tự do đi lại của các Đội Kiểm Tra v. v... ) Các Đội Lưu Động
dùng những phương tiện vận chuyển, quan sát và thông tin tối
tân mà họ cần đến.
Ngoài những khu hoạt động quy định ở trên, các Đội Lưu Động
có thể với sự đồng ư của Bộ Tư Lệnh bên hữu quan, đi lại ở
những nơi khác, trong phạm vi nhiệm vụ mà Hiệp Định này giao
cho họ.
Điều 36: Ban Quốc Tế phụ trách giám sát việc hai bên thi
hành những Điều khoản của Hiệp Định. Nhằm mục đích đó, Ban
Quốc Tế làm những nhiệm vụ kiểm soát, quan sát, kiểm tra và
điều tra có liên quan đến việc thi hành những điều khoản của
Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự và nhất là phải:
a.- Kiểm soát những việc đi lại của các lực
lượng vũ trang của hai bên, tiến hành trong phạm vi kế hoạch
tập hợp.
b.- Giám sát giới tuyến vùng tập hợp và vùng phi
quân sự.
c.- Kiểm soát những việc thả tù binh và thường
dân bị giam giữ.
d.- Giám sát tại các cửa biển và sân bay cũng
như trên các biên giới của Việt Nam, việc thi hành những
điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự quy định đưa vào
trong nước các lực lượng vũ trang, nhân viên quân sự và mọi
thứ vũ khí, đạn dược và vật dụng chiến tranh.
Điều 37: Ban Quốc Tế hoặc tự ư của ḿnh, hoặc theo yêu cầu
của Ban Liên Hợp hay của một trong hai bên, sẽ dùng những
Đội Kiểm Tra nói trên, tiến hành trong thời gian ngắn nhất
những cuộc điều tra cần thiết trên văn bản và tại chỗ.
Điều 38: Các Đội Kiểm Tra sẽ chuyển lên Ban Quốc Tế những
kết quả về cuộc kiểm soát, điều tra và quan sát của ḿnh,
ngoài ra, các Đội ấy làm những bản báo cáo đặc biệt mà Đội
tự do nhận thấy cần thiết hoặc do Ban yêu cầu. Trường hợp có
sự bất đồng ư kiến trong các Đội, kết luận của mỗi một thành
viên sẽ đưa lên Ban.
Điều 39: Nếu một Đội Kiểm Tra không giải quyết được một việc
hoặc nhận thấy có sự vi phạm hay nguy cơ có một sự vi phạm
nghiêm trọng đe dọa, th́ sẽ báo cáo với Ban Quốc Tế, Ban
Quốc Tế nghiên cứu báo cáo và kết luận của các Đội Kiểm Tra
và báo cho các bên đương sự biết những biện pháp cần thi
hành để giải quyết việc đó hay để chấm dứt sự vi phạm hay
tiêu trừ nguy cơ vi phạm.
Điều 40: Khi Ban Liên Hợp không đi đến thỏa thuận trong việc
giải thích một điều khoản hay việc nhận định một sự việc th́
sẽ báo cáo cho Ban Quốc Tế biết sự bất đồng đó. Những kiến
nghị của Ban Quốc Tế sẽ chuyển thẳng cho hai bên đương sự và
thông tri cho Ban Liên Hợp.
Điều 41: Những kiến nghị của Ban Quốc Tế thông qua theo đa
số, trừ đối với những Điều khoản ở Điều 42. Trường hợp số
phiếu hai bên ngang nhau, th́ phiếu của Chủ Tịch là quyết
định.
Ban Quốc Tế có thể đặt ra những kiến nghị sửa
chữa và bổ sung các Điều khoản của Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến
Sự ở Việt Nam nhằm bảo đảm việc thi hành có hiệu quả hơn
Hiệp Định nói trên. Những kiến nghị đó phải được toàn thể
đồng thanh biểu quyết.
Điều 42: Khi có những vấn đề có quan hệ đến những sự vi phạm
hay nhưng nguy cơ vi phạm có thể làm cho chiến sự xảy ra như
sau:
a.- Lực lượng vũ trang của một bên không chịu
thi hành những cuộc vận chuyển đă định trong kế hoạch tập
hợp.
b.- Lực lượng vũ trang của một bên xâm phạm vào
vùng tập hợp vào hải phận hay không phận của bên kia th́
những kiến nghị của Ban Quốc Tế phải được toàn thể đồng
thanh biểu quyết.
Điều 43: Nếu một bên không chịu chấp hành kiến nghị của Ban
Quốc Tế, th́ các bên hữu quan hoặc tự Ban đó báo cáo cho các
nước dự Hội Nghị Genève.
Nếu Ban Quốc Tế không đi tới một kết luận đồng
thanh trong những trường hợp nói trong Điều 42, th́ Ban đó
sẽ đệ tŕnh cho các nước Hội Nghị một báo cáo của đa số và
một hay nhiều báo cáo của thiểu số.
Ban Quốc Tế báo cáo cho các nước dự Hội Nghị
biết mọi việc trở ngại cho hoạt động của ḿnh.
Điều 44: Ban Quốc Tế sẽ được thành lập ngay khi
ngưng bắn ở Đông Dương để có thể làm tṛn những nhiệm vụ nói
trong Điều 36.
Điều 45: Ban Quốc Tế Giám Sát và Kiểm Soát ở Việt Nam hợp
tác chặt chẽ với Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát ở Miên và
Lào.
Một cơ quan gồm một số đại biểu bằng nhau của tất cả các
nước có chân trong Ban Quốc Tế sẽ đặt ra để phối hợp hoạt
động của 3 Ban mỗi khi cần thiết trong việc thực hiện những
Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự ở Miên, Lào và Việt Nam.
Điều 46: Căn cứ vào t́nh h́nh phát triển ở Cao Mên ở Lào và
ở Việt Nam. Ban Quốc Tế có thể, với sự thỏa thuận của cơ
quan phối hợp, đề ra những kiến nghị về việc giảm bớt dần
những hoạt động của ḿnh. Những kiến nghị ấy phải được đồng
thanh biểu quyết.
Điều 47: Tất cả những Điều khoản của Hiệp Định này, trừ Đoạn
2 của Điều 11, sẽ bắt đầu có hiệu lực từ 24 giờ ngày
24.7.1954 (giờ Genève).
Làm tại Genève ngày 20.7.1954, lúc 24 giờ bằng tiếng Pháp và
tiếng Việt Nam, cả hai bản đều có giá trị như nhau.
Thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Tạ Quang Bửu
Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.
Thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương
Henri DelTeil
Thiếu Tướng
BÀI HỌC TỪ MỘT SỰ TUẪN TIẾT
LÂM LỄ TRINH
LTS: Dưới đây là bài phát biểu được ghi âm của Luật Sư Lâm
Lễ Trinh, nguyên Bộ Trưởng Nội Vụ và Đại Sứ tại Trung Đông
thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa, hiện là Chủ Bút Tạp chí
Anh-Pháp Human Rights/Droits de L’Homme trong buổi dự tiệc
tổ chức ngày 2. 11. 2001 tại Nhà Hàng Seafood World,
Westminster, Little Saigon, California, để kỷ niệm 100 năm
của Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm (1901-2001).
***
Suốt 38 năm nay, mỗi khi ngày 1. 11 trở lại,
h́nh ảnh tuẫn tiết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vẫn khơi dậy
trong tâm thức quần chúng những âm vang chua xót nhưng đồng
thời, cũng nhắc nhở những kinh nghiệm bổ ích cho cuộc đấu
tranh tương lai.
Chiều nay, chúng ta những người dân Việt lưu lạc ở hải
ngoại, cùng ngồi với nhau để tưởng niệm Vị Nguyên Thủ đă
khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Chúng ta sẽ không phí thời
giờ để tố giác, một cách tiêu cực, những sai lầm của Hoa Kỳ,
hành vi bội phản của các người đội lốt quốc gia và sự phá
hoại của cộng sản. Thật vậy, cho đến giờ phút này, vô số văn
khố giải mật của chính quyền Mỹ, công tŕnh nghiên cứu của
các thức giả, những lời thú nhận của một số nhân chứng liên
hệ và đặc biệt, t́nh trạng khánh tận của xă hội chủ nghĩa đă
và đang làm chuyện đó trước công luận quốc tế.
Lịch sử cận đại Việt Nam sẽ măi ghi lại một điều sáng tỏ.
Quyết định của Tổng Thống Diệm tiếp xúc vào giờ chót với
quân đảo chính chứng minh ông muốn t́m một giải pháp dân tộc
ôn ḥa. Sự hy sinh dũng cảm của Tổng Thống Diệm và bào đệ
Ngô Đ́nh Nhu đă tránh cho miền Nam Việt Nam cảnh nồi da xáo
thịt giữa người quốc gia và bảo toàn tiềm năng kháng cộng
trong giai đoạn cực kỳ nguy kịch. Sự hy sinh ấy c̣n là một
lời kêu gọi thống thiết gởi đến cho cấp chỉ huy Quân Đội
đừng vong bổn, vọng ngoại và chễnh măng trong cuộc chống
cộng cứu nước. Tiếc thay, lời kêu này không được lắng nghe.
Nhóm tạo phản bị ngoại bang mua chuộc. Với một giá rẻ mạt
(42 ngàn đô, theo lời thú nhận trong hồi kư của Tướng Trần
Văn Đôn, một trong những người chủ mưu đảo chánh) họ đă giết
lănh tụ và bán đứng tự do của ba chục triệu đồng bào miền
Nam. Họ đă giúp Hoa Kỳ thay toàn diện một thế cờ với 42 ngàn
đô.
Trong những giờ phút cuối cùng cuộc đời, Tổng Thống Diệm
hoàn toàn cô đơn, Đồng Minh bội bạc, dân tộc hiểu lầm, người
thân trở mặt và kẻ thù cộng sản reo mừng. Cầu nguyện lần
chót sáng ngày 1.11.1963 tại Thánh Đường Huyện Sĩ của Cha
Tam Chợ Lớn, với ông Nhu quỳ bên cạnh nhưng không chắc đồng
một tâm tư. Tổng Thống Diệm hẳn vô cùng xót xa cho đất nước.
Rồi là một tâm trạng chán chường ngút trời, lẻ loi vô tận.
Nỗi cô đơn ray rứt của một Chiến Sĩ cùng đường. Của một dân
tộc bị chèn ép. Loại cô đơn từng được Nhà Đại Văn Hào
Gabriel Garcia Marquez diễn tả sâu sắc trong tuyệt phẩm
‘’One Hundred Years Of Solitude’’ (Một Trăm Năm Tịch Liêu).
Hồ sơ giải mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ghi lại
như sau nội dung điện đàm lần chót giữa Tổng Thống Diệm và
Cabot Lodge:
Diệm: Vài đơn vị đă nổi loạn và tôi muốn biết
thái độ của chính phủ Mỹ.
Lodge: Tôi không có đủ tin tức để trả lời cho
Ngài. Tôi có nghe tiếng súng nổ nhưng không biết rơ tất cả
các sự kiện. Bây giờ là 4. 30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và
chính phủ Hoa Kỳ không có quan điểm ǵ.
Diệm: Tôi đă cố gắng làm bổn phận của tôi.
Lodge: Như tôi đă thưa với Ngài sáng nay, tôi
khâm phục can đảm của Ngài và những đóng góp to lớn của Ngài
cho quư quốc. Nếu tôi có thể làm ǵ được cho sự an toàn của
bản thân Ngài, xin kêu tôi.
Tổng Thống Diệm liền gát điện thoại. Ông giữ vững khí phách
đến cùng. Dù có những sơ hở khó thể tránh trong lúc cầm
quyền (lịch sử về sau sẽ phân tích công và tội) ông quyết
không làm nhục Quốc Thể, J. F. Kennedy lẫn Hồ chí Minh không
dám coi thường. Trước sau như một, Tổng Thống Diệm không
nhân nhượng không đầu hàng. Làm sao có thể ngẩn đầu cao nếu
đi bằng đầu gối?
Di nghiệp chính trị của Tổng Thống Diệm lưu cho hậu thế là
một thông điệp nóng cháy. Triệt để bảo vệ chủ quyền và thể
thống Quốc Gia trong mọi hoàn cảnh. Ngay từ đầu cuộc chiến,
Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa quan niệm khác nhau về mối liên
hệ Đồng Minh giữa hai nước. Từ đó sinh ra những bất đồng dẫn
đến bất ḥa và kết thúc bằng sự bức tử của miền Nam. Đúng
vậy, quyền lợi của Mỹ và Việt Nam chênh lệch. Chính Phủ Sài
G̣n chống Bắc Việt để bảo toàn dân chủ và độc lập, trong khi
Hoa Kỳ dùng Việt Nam Cộng Ḥa như con cờ thí trong kế hoạch
quân b́nh thế lực tại Á Châu, chống Bắc Kinh bành trướng và
gây chia rẽ giữa Nga-Tàu.
Quốc Hội Mỹ không bao giờ công khai tuyên chiến công khai
với Hà Nội, tránh né bảo đảm an ninh của Việt Nam Cộng Ḥa
bằng một hiệp ước như tại Nam Hàn, không cho Quân Đội miền
Nam vượt vỹ tuyến 17, khóa tay Hành Pháp bằng đạo luật War
Power Act và cuối cùng, không bận tâm thông qua theo thủ tục
Hiến Định hiệp ước đ́nh chiến Paris.
Sau tháng 11.1963, Mỹ đă dành hết trách nhiệm điều khiển
cuộc chiến để dễ bề thao túng. Tùy theo nhu cầu chính sách,
Hoa Thịnh Đốn đă ngạo mạn Mỹ hóa, sau đó Việt Nam hóa chiến
tranh để rồi, năm 1973 hối hả rút khỏi vũng lầy Việt Nam,
một terra incognita, xa lạ với Mỹ về tâm lư và tập quán.
Đại cường Hoa Kỳ thiếu kiên nhẫn, đánh không muốn thắng,
không thông hiểu chiến tranh nhân dân, đoán sai quyết tâm
của cộng sản và bỏ rơi chính phủ miền Nam.
Âm mưu giết hại Tổng Thống Diệm là một vết nhơ, một ‘’mối ám
ảnh đeo đuổi dai dẳng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà
lănh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam.
’’ (Anne Blair trong tác phẩm Lodge in Vietnam, nhà xuất bản
Yale University Press, New Haven, 1995, trang 190).
Tại Hoa Kỳ, có một câu thông dụng ‘’Dead men tell no tales’’
(Người quá cố không kể chuyện hoang đường). Cái chết của
Tổng Thống Diệm, tự nó đă lớn tiếng tố cáo, mang nặng ư
nghĩa và dạy nhiều bài học. Về bạn và thù. Về nhân t́nh thế
thái. Về điểm và diện trong chiến lược trường kỳ và bao
nhiêu chuyện khác. Ít nữa có hai bài học không thể quên:
-Trước hết, một Quốc Gia không có thân hữu, chỉ
có quyền lợi. Không có xứ nào liều chết bảo vệ quyền sống
c̣n của một nước khác. Không thể ủy quyền yêu nước cho ngoại
bang. Các đại cường dùng chiêu bài dân chủ, tự do và nhân
quyền để mặc cả và gây áp lực. Không tự lực tranh thủ kiểm
tra, quả cảm và có kế hoạch th́ không hưởng được dân chủ và
nhân quyền thật sự.
- Bài học thứ hai là bất luận sự liên minh nào
với một thế lực bên ngoài, dù mạnh ra sao, rồi cũng sẽ đưa
đất nước vào ngơ cụt, nếu không có nhân dân hậu thuẫn. Cái
thế dân tộc vô địch và vô song. Không tin tưởng, không tạo
ra và tận dụng ‘’thế dân tộc’’ th́ thất bại đương nhiên.
Thất bại thê thảm. Chủ thuyết chế độ quyền lực... tất cả đều
là phù du, rốt cuộc sự tan biến với thời gian. Hư danh mọi
việc chỉ là hư danh. Chỉ có dân tộc mới trường tồn và vĩnh
cửu. Dân tộc bất diệt.
Cộng sản đă thiết lập ở Việt Nam một chế độ quản chế hành
chính, khủng bố điển h́nh. Khủng bố tôn giáo, khủng bố sắc
tộc thiểu số, khủng bố đối lập và khủng bố quần chúng. Xă
Hội Chủ Nghĩa, trên đà mạt vận, trước sau ǵ cũng chấm dứt.
Vấn đề cốt yếu không phải là chừng nào cộng sản ra đi mà là
chúng ta đă và đang làm ǵ để xúc tiến việc ấy và đặc biệt,
để thay thế họ? Thay thế cách nào? Bằng một thể chế khá hơn,
sạch sẽ hơn hay không? Chính sự chia rẽ và thiếu quyết tâm
của cánh quốc gia giúp cho cộng sản tồn tại.
Để kết luận, thay v́ lạc quan tếu hay bi quan thái quá,
thiển nghĩ chúng ta nên b́nh tĩnh, khách quan nhận thức các
biến chuyển trọng đại trong nước và bên ngoài, để hành động
thích ứng.
Thế giới hiện đang lâm vào một sự khủng hoảng vô tiền khoáng
hậu. Hoa Kỳ đang trực diện một thách thức mới, hiểm độc hơn
chiến tranh Việt Nam, v́ không có trận địa rơ ràng, kẻ thù
vô danh nhưng hiện diện khắp nơi.
Căn nguyên của mọi vấn đề là siêu cường Hoa Kỳ quá mạnh nên
coi thường Đồng Minh, hành động đơn phương tạo khoảng cách
nghèo giàu quá sâu và gây bất măn trong khối Quốc Gia nhược
tiểu.
Thánh chiến có thể bùng nổ, gây điêu linh cho địa cầu. Với
tinh thần quyết tử, vũ khí thô sơ và chiến lược du kích tinh
vi, dùng ‘’gậy ông đập lưng ông’’ (c̣n được mệnh danh chiến
lược boomerang), khối Hồi Giáo cuồng tín đe dọa người Mỹ
ngay trên đất Mỹ. Vũ lực suông không đem lại ḥa b́nh. Không
thể dùng búa tạ để đập ruồi muỗi. Mỹ cần tái xét toàn bộ,
trong đường hướng thực tế và từ tốn, chính sách đối ngoại,
quân sự và viện trợ. Mỹ cần chứng minh với thế giới quốc gia
này là một quốc gia biết thương xót, a compassionnate
country như Tổng Thống Bush đă hứa khi ra ứng cử. Nếp sống
quần chúng không bao giờ trở lại như trước. Hoa Kỳ thức tỉnh
sẽ hồi sinh.
Cuộc chiến hiện nay được các chiến thuật gia mệnh danh
‘’assymetric war’’ (cuộc chiến không đối xứng) vào dễ ra
khó, như một mê hồn trận...Lần đầu tiên, một siêu cường dồn
hết sức mạnh để tiêu diệt một cá nhân, Bin Laden, vô quốc
tịch và hệ thống khủng bố của y, thay v́ chống lại một nước.
Bằng mọi giá, thế giới tự do phải thắng. Để cứu nền văn minh
nhân loại và lư tưởng dân chủ. Không có sự chọn lựa nào
khác. Tổng Thống George W. Bush nói chí lư ‘’tự do và sợ hăi
đang tử chiến. Thượng Đế không trung lập giữa hai bên’’.
Cơn lốc hoàn cầu sẽ cuốn hút nước Việt Nam hậu tiến để lập
một thế quân b́nh mới. Cuộc diện Việt Nam, bởi vậy có cơ
thay đổi. Sớm hơn chúng ta dự đoán.
Cầu xin hồn thiêng các Tiền Nhân và Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm trợ
lực cho các Lực Lượng Quốc Gia khai thác vận hội mới để giật
sập xă hội chủ nghĩa. Lần này, không thể và không có quyền
thất bại. V́ nếu thất bại th́ đó sẽ là sự thất bại chung của
đất nước Việt Nam, của tất cả chúng ta là người dân Việt,
bất luận thuộc phía nào.
Xin cám ơn sự chú ư của Quư Vị.
Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ ông Ngô Đ́nh Diệm?
Phan Đức Minh
Vài lời với tác giả. Chúng tôi là những kẻ hậu sinh, không
biết nhiều về Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng sách báo đă
cho chúng tôi biết có nhiều ‘’tồi tệ’’ trong vụ giết chết vị
Tổng Thống Đệ Nhứt Cộng Ḥa Việt Nam. Nhân kỷ niệm ngày Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm bị đám Tướng lănh chó má bất trung và
bọn nịnh thần bất hiếu giết chết, chúng tôi xin phép tác giả
Phan Đức Minh đăng tải bài nầy.
1. Đi vào con đường đảo chánh : Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n, Ông
Nolting, hết phương gỡ rối. Báo cáo được tới tấp gửi về Hoa
Thịnh Đốn, và Bộ Ngoại Giao Mỹ tới tấp phúc tŕnh t́nh h́nh
nguy ngập tại Sài G̣n với yêu cầu phải thay thế ngay Ông
Diệm bằng một người khác. Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy,
vốn không thích thú lắm với chính sách can thiệp sâu đậm của
Mỹ vào cái ‘’Vũng lầy Việt Nam’’ ngay từ khi vào Ṭa Bạch
Ốc, để phải đối đầu trực tiếp với Liên Sô và Trung Cộng,
đành phải chọn Ông Henry Cabot Lodge thuộc Đảng cộng Ḥa,
một tay cáo già chính trị, từng nhiều phen giải quyết gọn lẹ
những vấn đề của Mỹ tại nhiều quốc gia trên thế giới, sang
Sài G̣n thay thế Ông Nolting trong việc gỡ rối t́nh h́nh.
Khi cần thay thế một chính quyền tại quốc gia nào đi ngược
lại quyền lợi của Mỹ là Cabot Lodge làm xong ngay. Thực tâm
Ông Kennedy là muốn Cabot Lodge sang Sài G̣n giàn xếp sao
cho ổn thỏa, có lợi cho đường lối, chính sách và quyền lợi
của Mỹ tại đây, nhưng Cabot Lodge th́ ngay từ lúc nhận lệnh
để lên phi cơ sang Sài G̣n, là đă tính ngay chuyện loại Ông
Diệm ra khỏi chính quyền, thay thế bằng một người hay một
nhóm nhân vật lănh đạo mới, biết vâng phục đường lối của Mỹ
trong lúc này (bị bọn tài phiệt thao túng theo đường hướng
buôn bán chiến tranh, đổ quân tác chiến của Mỹ vào chiến
trường Việt Nam). Khi Cabot Lodge nhận nhiệm vụ bước lên phi
cơ sang Sài G̣n th́ giới truyền thông của Mỹ đă nói chắc như
đinh đóng cột là ‘’In Washington, the Kennedy administration
begins seriously speculating on a coup against Diem’’, nghĩa
là nói thẳng ra rằng Cabot Lodge sang Sài G̣n với sứ mạng
lật đổ Tổng Thống Diệm. Cabot Lodge biết rơ rằng thuyết phục
một số Tướng Lănh có quyền, có quân trong tay, đứng ra làm
cuộc đảo chánh chẳng mấy khó khăn v́ chuyên viên đảo chánh
này đă có sẵn trong tay những ‘’Bảo bối quan trọng, thiết
yếu nhất’’ Chỉ việc đem ra sử dụng mà thôi. Đó là:
A. Trong t́nh trạng rối loạn trước mắt, Cabot Lodge đánh
trúng tim những ‘’Người hùng Quân Đội’’ là phải ra tay gấp
để cứu dân, cứu nước. Tướng Lănh không thể ngồi yên để trông
thấy nhà tan, nước mất…
B. Các Tướng Lănh, những người anh hùng của đất nước, phải
nắm lấy chính quyền. Chỉ có các Tướng Lănh mới đủ khả năng
và uy thế để lănh đạo đất nước này đi đến chiến thắng, vinh
quang, tự do, hạnh phúc vv…
C. Cabot Lodge lại c̣n có một thứ vũ khí vô cùng mạnh mẽ,
được liệt vào hàng ‘’Siêu hỏa lực-Superfirepower’’, c̣n hơn
cả bom A, bom H, hơn cả phi đạn tầm xa, tầm cụt, đánh đâu
thắng đó. Đấy là ‘’vũ khí Đô La’’. Dùng hàng triệu đô la
(giá trị năm 1963) để lôi kéo 1 Tướng Lănh có quyền lực, có
quân trong tay vào hàng ngũ đảo chánh trong t́nh thế Sài G̣n
sôi sục đấu tranh như thế thiết tưởng chẳng phải chuyện khó
khăn đối với Cabot Lodge, chuyên viên nhà nghề trong những
áp-phe đảo chánh.
Tướng nào c̣n do dự, lưng chừng, không quyết tâm đảo chánh
th́ ‘’Bộ chỉ huy đảo chánh’’ phải thuyết phục, hù dọa và…chi
tiền. Tiền đă có người lo rồi. Sĩ Quan cao cấp nào tỏ ra
ương ngạnh, trung thành tuyệt đối với Ông Diệm th́ bắt buộc
phải dùng biện pháp mạnh cuối cùng là ‘’xóa sổ luôn’’. Mục
này dễ thôi! Chỉ cần triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại Bộ
Tổng Tham Mưu với sự có mặt bắt buộc của các Tướng Lănh, các
Tư Lệnh Quân Đoàn, Sư Đoàn, các Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng,
các cơ quan trọng yếu của Quân Đội. Ai không quyết tâm, dứt
khoát lật đổ Ông Diệm, hay bỏ ra ngoài pḥng họp để phản đối
th́ lực lượng an ninh (đă chọn lựa kỹ càng) phải khóa cổ,
đem đi bắn hạ ngay tức khắc khi kẻ đó vừa bước chân ra khỏi
cửa pḥng họp, bất kể kẻ đó là ai. Đại Tá Lê Quang Tung, Tư
Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, người quân nhân thật sự anh hùng,
với tinh thần ‘’Uy vũ bất năng khuất’’ là một trường hợp
điển h́nh. Ông đă bị bắt đem đi bắn gục ngay khi ra khỏi cửa
pḥng họp v́ Ông không chấp nhận cúi đầu khuất phục trước áp
lực của đám người bội phản, bị xúi giục bởi đồng Đô La của
ngoại qưốc.
* Ngày 4.7.1963: Tướng Trần Văn Đôn, người đang giữ chức vụ
chỉ huy cao nhất trong Quân Đội, thông báo cho Lucien
Conein, nhân vật cao cấp của cơ quan T́nh Báo Trung Ương Mỹ
(CIA: Central Intelligence Agency) tại Sài G̣n biết là một
vài Tướng Lănh của Quân Đội Việt Nam…đă ô kê theo kế hoạch
và đang ráo riết chuẩn bị cuộc đảo chánh lật đổ Ông Diệm.
* Ngày 20.8.1963 : Tổng Thống Diệm chấp nhận đề nghị của
Tướng Trần Văn Đôn (xưa nay được Ông Diệm tin cậy v́ là một
trong số những Tướng Lănh được coi là có thực tài, xứng đáng
với cấp chức được giao phó) ‘’ban hành Lệnh Thiết Quân
Luật-Declaring Martial Law) để giữ vững t́nh h́nh và đối phó
hiệu quả với cuộc chiến tranh phá hoại của cộng sản trên mọi
lănh vực và trong t́nh thế hiện tại. Mục đích thực sự của số
Tướng Lănh cầm đầu âm mưu đảo chánh là dựa vào t́nh trạng
thiết quân luật để xiết chặt an ninh, bố trí Quân Đội cần
thiết cho cuộc đảo chánh.
Tổng Thống Diệm th́ lại nghĩ khác. Ông Diệm nhận thấy t́nh
h́nh đă đến lúc cần phải tập trung và bố trí lực lượng Quân
Đội để cho bào đệ của Ông, Ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đ́nh
Nhu. Người được dư luận đánh giá là viên cố vấn an ninh,
chính trị có mưu lược, khôn ngoan, ra tay dập tắt dứt khoát
cuộc âm mưu lật đổ chính quyền. Mang đầy tính chất phức tạp.
- Có khá đông dân chúng bị lôi cuốn vào cuộc đấu tranh một
cách nghiêm trọng thật sự.
- Mang mầu sắc Chiến tranh tôn giáo.
- Được một phần Quân Đội chính phủ ủng hộ.
- Được người bạn Đồng Minh khổng lồ, hậu thuẫn cho ḿnh xưa
nay, nay xoay chiều, khuynh đảo chính ḿnh để thay thế bằng
một lá bài khác.
- Đươc cộng sản quốc nội cũng như quốc tế chú tâm khai thác
triệt để hầu làm tan ră một chính quyền chống cộng quyết
liệt, và chống cộng có đường lối, sách lược mang lại hiệu
quả rơ ràng.
* Ngày 21.8.1963: T́nh trạng càng trở nên phức tạp, nguy
hiểm, khi quân đội trung thành với chính phủ, đồng loạt mở
cuộc tấn công vào các Chùa chiền tại Sài G̣n, Huế và vài
thành phố lớn khác, nhằm truy lùng, bắt bớ các nhân vật
chính trị đối lập, tu sĩ, tăng ni, sinh viên, bị coi là
những thành phần cốt cán của lực lượng đấu tranh chống chính
phủ.
* Ngày 22.8.1963: Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu, Giáo Sư Thạc Sĩ
Luật Khoa (Professeur Agrégé, Ở Pháp và ngành này, xếp hạng
trên Tiến Sĩ ), một phật tử, từ chức và cạo đầu (như các
tăng ni) để phản đối sự đàn áp của chính phủ. Đại Sứ Hoa Kỳ,
Henry Cabot Lodge, báo cáo về Hoa Thịnh Đốn: Ông Ngô Đ́nh
Nhu là nguời chủ động trong công cuộc đàn áp triệt để này và
xác nhận: Các Tướng Lănh chính thức yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ
tích cực cho cuộc đảo chánh đang được xúc tiến tổ chức.
* Ngày 24.8.1963: Hoa Thịnh Đốn ra lệnh cho Cabot Lodge,
liên lạc với Tổng Thống Diệm và yêu cầu Tổng Thống loại bỏ
ngay Ông Nhu ra khỏi bộ máy chính quyền Sài G̣n. Nếu không
th́ chính Tổng Thống Diệm cũng là người phải ra đi.
* Ngày 26.8.1963: Đại Sứ Mỹ, Cabot Lodge trực tiếp gặp Tổng
Thống Diệm để bàn về việc loại bỏ Ông Nhu và thay đổi chính
sách. Tổng Thống Diệm nghiêm khắc, nh́n thẳng vào mặt Cabot
Lodge, và nói Ông dứt khoát không loại bỏ Ông Nhu và không
bàn chuyện thay đổi chính sách với Cabot Lodge. Cabot Lodge
sau đó, thúc bách chính quyền Kennedy (cho đến lúc này vẫn
c̣n chưa mạnh mẽ, thống nhất ư chí trong việc ủng hộ các
Tướng Lănh để lật đổ ngay ông Diệm-Lodge presses the Kennedy
administration, still badly divided over the issue of
encouraging a coup, to support the dissident Generals…).
Giám Đốc cơ quan CIA của Mỹ tại Sài G̣n, John Richardson,
đồng quan điểm với Cabot Lodge, và tường tŕnh lên Tổng
Thống Kennedy là t́nh h́nh không c̣n cách nào cứu văn được
nữa, chỉ c̣n cách loại bỏ Tổng Thống Diệm và Ông Nhu mà
thôi.
* Ngày 31.8.1963: Tại Hội Nghị An Ninh Quốc Gia, Paul
Kattenburg, vừa từ Sài G̣n trở về, khuyến cáo chính phủ Hoa
Kỳ nên nhân lúc này, t́m cách rút chân ra khỏi ‘’Vũng lầy
Việt Nam’’ một cách danh dự. Ngoại Trưởng Dean Rusk phản đối
và xác định là Hoa Kỳ sẽ ở lại Việt Nam cho tới khi chiến
thắng. Bộ Trưởng Quốc Pḥng McNamara khẳng định rằng Hoa Kỳ
đang đi tới chiến thắng và phải chiến thắng. Thế mà 2 chục
năm sau, McNamara lại viết sách, viết Hồi Kư nhận tội, hối
lỗi về sự tham chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam là một sự sai
lầm to lớn. Ông McNamara này lại c̣n sang tận Hà Nội gặp cựu
Tướng cộng sản Vơ nguyên Giáp để thú nhận tội lỗi đàng
hoàng. Ông McNamara gián tiếp nói lên rằng: Cả nước Mỹ, từ
lớn đến nhỏ, tất cả đều bị…mát dây điện, lẩm cẩm như Ông
McNamara hết trơn. Chỉ có một ḿnh Ông Bill Clinton là khôn
ngoan, sáng suốt để chơi màn ‘’trốn quân dịch, đóng vai
Draft Dodger’’, để sau này c̣n sống mà làm Tổng Thống kiêm
Tổng Tư Lệnh Hải Lục Không Quân của Siêu Cường Quốc Hoa Kỳ.
Điều này chứng tỏ trong chính phủ Hoa Kỳ lúc đó không có sự
thống nhất trong đường lối chiến tranh tại Việt Nam. Việc
này làm cho chính Tổng Thống Kennedy cũng không dứt khoát
trong vấn đề: Ra đi hay ở lại trong ván bài Việt Nam. Mà nếu
ở lại th́ ai là người có khả năng thay thế Ông Diệm để làm
cho chính sách chống cộng ở đây tốt đẹp hơn. Trong cuộc họp
Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson
đề nghị: Bằng mọi cách, phải đẩy mạnh (leo thang, đổ quân
tác chiến vào Việt Nam) cuộc chiến đang thuận lợi. Cuối
cùng, Tổng Thống Kennedy phải lớn tiếng: Vậy th́ ở Sài G̣n,
liệu có thứ chính phủ nào khác có thể chống cộng sản thành
công được không? Ông Kennedy lâm cảnh tiến thoái lưỡng nan
(being in a dilemma ) ở lại Việt Nam th́ càng lún sau vào
vũng lầy, phải đối đầu trực tiếp với Mạc-Tư-Khoa và Bắc
Kinh, rất nguy hiểm. Không ở lại th́ chẳng lẽ thả nổi cái
‘’Chính sách ngăn chặn cộng sản-Containment Policy against
Communism’’ của Hoa Kỳ tại Á Châu th́ cái khối dân chúng
khổng lồ tại lục địa này sẽ đi tới đâu? Giao hết cho cộng
sản hay sao? Vả lại, từ lúc Ông Diệm nắm chính quyền cho đến
lúc trước khi xẩy ra t́nh trạng hỗn loạn này, hai Ông Diệm
và Nhu đă tạo được những thành công rất quan trọng về các
phương diện: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xă hội,
kỷ cương, trật tự, làm cho chính giới Hoa Kỳ tin tưởng rằng
Hoa Kỳ cần phải trấn giữ cái ‘’Tiền đồn chống Cộng’’ này. Bỏ
đi sẽ vô cùng nguy hiểm. Ở ba cái xứ lạc hậu, chậm tiến
thuộc các lục địa Á Phi ( Backward, underdeveloped Asian and
African countries), mà lại đang có chiến tranh chống bọn
cộng sản ma quái, xảo quyệt th́ các Ông Diệm và Nhu quả là
những khuôn mặt lănh tụ rất cần thiết, kiếm cho ra người khá
hơn không phải dễ dàng.
Trưởng phái đoàn Ba-Lan (cộng sản) trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm
Soát Đ́nh Chiến (International Commission for Supervision
and Control of the Cease-fire), Mieczyslaw Maneli, t́m gặp
Ông Ngô Đ́nh Nhu để bàn định kế hoạch ‘’Thống nhất và trung
lập hóa Việt Nam. Unification and Neutralization of Vietnam
‘’hầu loại bỏ Hoa Kỳ ra khỏi vùng lănh thổ này, dựa theo kế
hoạch của Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle (Pháp c̣n cay cú
với Mỹ lắm, Mỹ không chịu yểm trợ bằng không quân nên Pháp
đă phải ra đi sau cuộc thất trận ở Điện Biên Phủ, để cho Mỹ
nhẩy vào thay thế). Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n, Roger
Lalouette, thúc giục Maneli (Ba Lan) liên lạc ngay với Hà
Nội để giàn xếp, thực hiện kế hoạch của Tổng Thống Pháp. C̣n
phía Ông Diệm và Ông Nhu th́ chỉ là lối thoát cuối cùng để
khỏi bị lật đổ với nhiều kết quả tệ hại, nguy hiểm trong
cuộc đảo chánh do phía Hoa Kỳ đang đạo diễn. Thủ Tướng cộng
sản Hà Nội, Phạm văn Đồng, đón nhận nồng nhiệt kế hoạch của
Pháp và Ba-Lan. Maneli trở lại Sài G̣n, gặp Ông Nhu và cho
Ông Nhu biết rằng chính quyền Hà Nội sẵn sàng hợp tác với
hai Ông Diệm và Nhu để 2 ông thoát khỏi 1 âm mưu thâm độc,
đồng thời t́m ra một giải pháp hợp lư, hợp t́nh cho vấn đề
chấm dứt t́nh trạng chiến tranh Việt Nam…
Giám Đốc cơ quan CIA của Mỹ bắt được tin này, liền thúc giục
Ngoại Trưởng Mỹ, Dean Rusk: Hoa Kỳ phải ra tay trước bằng
cách yểm trợ tích cực cho các Tướng Lănh thực hiện ngay cuộc
đảo chánh, và đề nghị tức khắc tấn công Bắc Việt nếu Hà Nội
xía vô vụ này… (…advises Rusk that the Generals be
encouraged to move promtly with their coup, and suggests
attacking North Vietnam if Hanoi interferes…).
* Ngày 5.10.1963: Cabot Lodge phúc tŕnh với Tổng Thống
Kennedy là Tướng Dương Văn Minh được đề cử vào vai tṛ Thủ
Lănh cầm đầu cuộc đảo chánh. Tướng Minh đă gặp Conein (CIA),
yêu cầu phía Hoa Kỳ đảm bảo chắc chắn là: Kể từ lúc này trở
đi Hoa Kỳ không nên làm ngăn trở cuộc đảo chánh bằng bất cứ
h́nh thức nào v́ t́nh thế đă đi vào cái thế không thể lùi
được nữa, đă quay lưng ra biển mất rồi (lộn xộn là chết hết
v́ Tướng Minh rất nghi ngờ sự quyết tâm của 2 Tướng Tôn Thất
Đính và Nguyễn Khánh, 2 Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn (Army Corps
Commanders) có quân trong tay và không nhiệt thành với cuộc
đảo chánh này. Tổng Thống Kennedy chấp nhận yêu cầu này và
khuyến cáo Cabot Lodge và CIA nên để cho các Tướng Lănh tùy
theo t́nh h́nh mà quyết định hành động, cốt sao đạt được mục
tiêu của Hoa Kỳ là chống cộng sản hữu hiệu để ngăn chặn sự
bành trướng của cộng sản tại khu vực Á Châu.
* Ngày 22. 10. 1963: Tướng Mỹ Harkins gặp Tướng Trần Văn
Đôn trong buổi tiếp tân tại Ṭa Đại Sứ Anh ở Sài G̣n. Tướng
Harkins nói với Tướng Đôn là Ông ta có nghe biết về cuộc
chuẩn bị đảo chánh, và cho rằng đó là 1 điều sai lầm…(he
knows of the coup and considers it a mistake…). Tướng Đôn
hoảng hồn nên vội gặp ngay Conein của CIA và cho biết cuộc
đảo chánh dự trù phải cho cho nổ ra vào ngày 26.10.1963,
nhân lúc huy động quân lực cho ngày Lễ Quốc Khánh hàng năm
kẻo không Tướng Harkins nói theo kiểu đó th́…chết hết! Tướng
Đôn cũng run lắm chớ! Lỡ Sư Phụ lông lá chơi ngón ‘’phản
thùng’’ th́ chết cả lũ! Mà nó hay chơi ngón này lắm. Conein
bèn trấn an cho Tướng Đôn bớt ngán ‘’Ồ! Cái Ông Tướng
Harkins, ông ấy nói theo ư nghĩ cá nhân của Ông ấy. Ăn nhằm
chi? Ḿnh cứ…Go ahead! ‘’Tướng Mỹ 4 sao Maxwell Taylor, Chủ
Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ (U.S. Chief of Joint
Staff) đă từng tâm t́nh với Tướng Harkins cũng như với Tổng
Thống Kennedy là đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm th́ rồi
hậu quả sẽ phiền toái lắm, nếu không nói là nát bấy
(Completely crushed), chúng ta hết c̣n khả năng chống cộng
sản tại mảnh đất này nữa. Cộng sản Hà Nội lợi dụng t́nh h́nh
rối loạn ở Sài G̣n cũng như nhiều thành phố khác, tung quân
đánh phá hệ thống Ấp Chiến Lược (System of Strategic
Hamlets) do Ông Nhu chỉ đạo tổ chức các làng chiến đấu để
chống lại và tiêu diệt các cơ sở chiến đấu hạ tầng (Basic
fighting organizations) của cộng sản ngay tại nông thôn v́
Ông Diệm và Ông Nhu biết rằng bên nào kiểm soát và nắm vững
được nông thôn với 80% dân số th́ bên đó sẽ thắng trong cuộc
chiến tranh này. Các năm về trước, cộng sản đă từng bỏ hết
các thành phố, nhưng nắm vững được nông thôn cho nên cuối
cùng nguời Pháp đành chịu thua, mặc dầu quân đội Pháp ngay
từ lúc ban đầu, luôn luôn làm chủ t́nh h́nh trên các chiến
trường với những phương tiện chiến tranh hùng hậu tưởng
chừng như chỉ tối đa là 3 năm sẽ hoàn toàn tiêu diệt hết khả
năng chống cự của cộng sản để đạt chiến thắng. Điều này cũng
giống y chang như ư nghĩ của Ông McNamara và nhiều Tướng
Lănh Mỹ khác khi ào ạt đổ quân tác chiến của Mỹ vào Việt
Nam, trong đó có cả Tướng 4 sao Westmoreland, một thời từng
là Tổng Chỉ Huy Quân Đội Mỹ tại Việt Nam hơn 10 năm sau vẫn
cứ tưởng như vậy. Những nhân vật này chưa bao giờ hiểu được
‘’Sức mạnh của thế chiến tranh nhân dân-Power of People’s
War Strategy’’ mà Karl Marx và Lenin, Sư Tổ và Sư Phụ của Hồ
chí Minh, đă dậy cho người cộng sản biết một bí quyết ‘’Làm
thế nào để dùng sức yếu, nhưng tinh thần mạnh và quyết thắng
của ḿnh để đánh bại một kẻ thù có sức mạnh, nhưng thiếu một
tinh thần quyết thắng dẻo dai và bền bỉ’’. Phải nói thật ra
rằng: Quân nổi dậy hay kháng chiến quân ở Iraq cũng đang áp
dụng bài học giá trị quư báu này cho nên mới đương đầu nổi
với Hoa Kỳ và Đồng Minh suốt mấy năm trời trong thế bất phân
thắng bại, nhưng cuối cùng th́ Siêu Cường Quốc sẽ phải ra
đi...Trong khi cộng sản tưởng rằng rối loạn ở Thủ Đô và các
thành phố th́ Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà sẽ chán nản, không
c̣n tinh thần nào mà chiến đấu nữa, lại càng làm cho Tổng
Thống Kennedy đâm ra phân vân, nghĩ ngợi là lật đổ Tổng
Thống Diệm th́ rồi t́nh h́nh Nam Việt Nam, cái ‘’Tiền đồn
chống cộng ở Á Châu’’ rồi sẽ ra làm sao đây? Chẳng lẽ bỗng
dưng giao hết cho cộng sản! Lại thêm Tướng Maxwell Taylor,
Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân, qua thông tin từ Tướng
Harkins ở Sài G̣n, đă tỏ ra ủng hộ đường lối, chính sách của
Tổng Thống Diệm. Theo 2 Tướng Taylor và Harkins th́ lật đổ
Tổng Thống Diệm, loại bỏ Ông Nhu th́ kể như dọn đường, mời
cộng sản vào chiếm luôn Miền Nam. Đầu óc Tổng Thống Kennedy
thật là chao đảo, lộn xộn về vụ này. Cuối cùng, Tổng Thống
Kennedy cấp tốc gửi điện văn cho Cabot Lodge, ra lệnh liên
lạc ngay với các Tướng đảo chánh yêu cầu ‘’Hăy khoan thực
hiện cuộc đảo chánh!’’ Cabot Lodge và một số nhân vật cao
cấp của Bộ Ngoại Giao Mỹ, có liên hệ, ảnh hưởng với giới
‘’tài phiệt và phe phái Diều hâu’’ chủ trương leo thang
chiến tranh, đổ quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam, đă nhiều lần
qua mặt, che mắt Ông Kennedy, lần này lại thêm lần nữa d́m
chết bức điện văn hoăn đảo chánh của Ông Kennedy, coi
như…không nhận được. Ông Kennedy vốn thông minh cho nên đă
nhận biết ra điều này cho nên Ông đă từng ra lệnh và nhắc
nhở Bộ Ngoại Giao Mỹ, các nhân vật cao cấp của Mỹ tại Sài
G̣n, kể luôn cả Cabot Lodge là ‘’Phải phúc tŕnh ngay cho
Tổng Thống biết mọi biến chuyển quan trọng tại Việt Nam
thuộc phạm vi trách nhiệm của ḿnh, và mọi quyết định quan
trọng đối với t́nh h́nh tại đây đều phải có ư kiến trước của
Tổng Thống’’. Lệnh của Tổng Thống là như vậy nhưng các nhân
vật cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao, Cabot Lodge và cấp lănh đạo
CIA ở Sài G̣n có thi hành đúng đắn hay không lại là chuyện
khác. V́ t́nh trạng trên cho nên mặc dầu Cabot Lodge nhận
được điện văn khẩn (Urgent Message) của Tổng Thống Kennedy
yêu cầu liên lạc với các Tướng Lănh Sài G̣n khoan hăy khởi
sự cuộc đảo chánh, nhưng Cabot Lodge chẳng bao giờ thông
báo, yêu cầu các Tướng Lănh thi hành lệnh đó. Cuối cùng (có
lẽ v́ đau đầu và mệt mỏi về chuyện này quá), Tổng Thống
Kennedy đành phó mặc cho con cáo già, chuyên viên đảo chánh,
Cabot Lodge, muốn làm chi th́ làm (…President Kennedy cables
Lodge urgently to ask the Generals to postpone the coup, but
Lodge never delivers the message. In the end, Kennedy leaves
the final judgement of the matter to Lodge…).
Thế là, mặc dầu Tổng Thống Kennedy ra lệnh hoăn kế hoạch đảo
chánh lại, nhưng cuộc đảo chánh vẫn xẩy ra vào ngày 1 tháng
11 năm 1963 khi quân đảo chánh bao vây Dinh Tổng Thống tại
Sài G̣n, tức là Dinh Gia Long v́ lúc này Dinh Độc Lập đang
sửa chữa…
* Chúng tôi sẽ cố gắng viết nốt về một vấn đề thật quan
trọng, mà cho tới lúc này nhiều người vẫn c̣n đặt ra câu hỏi
‘’Ai là người đă ra lệnh giết Ông Ngô Đ́nh Diệm, Tổng Thống
đầu tiên của nền Cộng Ḥa Việt Nam, ngưới đă chết một cách
thảm khốc chỉ v́:
* Không chấp nhận cho Mỹ đưa quân tác chiến vào Việt Nam, và
nắm quyền lănh đạo cuộc chiến đấu chống cộng sản tại đây,
đẩy chính nghĩa của cuộc chiến (Just cause of the war) vào
tay cộng sản. Mà chính nghĩa của cuộc chiến là yếu tố quan
trọng nhất quyết định sự thắng bại trong lâu dài hay ngắn
hạn: Lịch Sử đă chứng minh diều đó ở nhiều nơi trên thế giới,
chẳng hạn: Trung Quốc-Việt Nam, Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam, và
lúc này th́ đang diễn ra giữa Hoa Kỳ và Iraq v.v...
* Bị bạn Đồng Minh phản bội.
* Bị một phần dân chúng hiểu lầm v́ âm mưu thâm độc của thù
trong và giặc ngoài. Bị đám tay chân, bộ hạ, ham tiền bạc,
quyền hành, hạ độc thủ v́ đám người này đă bị sức mạnh Đô La
của ngoại nhân khuất phục.
Chỉ có 1 điều duy nhất an ủi được linh hồn Ông Diệm ở thế
giới bên kia là: Càng ngày càng có nhiều người Việt Nam (không
những ở Miền Nam mà ngay cả ở Miền Bắc), cũng như có nhiều
người Mỹ hiểu được sự thật về con người, ḷng yêu thương đất
nước và dân tộc Việt Nam của Ông.
San Diego, California
Phan Đức Minh
Trí và Dũng nơi con người Ngô Đ́nh Diệm.
........Người đă nằm xuống, nhưng ḷng thương tiếc, cảm phục
Người mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những
kẻ đă trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát
Người đă chối leo lẽo. Họ đă có mặc cảm tội lỗi giết thầy
phản bạn, măi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và
ngoài nước nguyền rủa. Họ đă không có Trí nên thua mưu cộng
sản và bị ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ
không có Dũng nên tham sinh úy tử, nhục nhă đầu hàng cộng
sản hoặc lanh chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và
đồng ngũ. Hôm nay chúng ta tưởng niệm một vị lănh tụ ái
quốc, một đấng quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho
chúng ta bày tỏ ḷng thương xót quê hương yêu dấu đă phải
mất chủ quyền từ năm 1963 đến năm 1975, và đă phải lọt vào
ṿng kiềm tỏa của cộng sản từ năm 1975 cho đến nay.
Cách đây hai năm, cũng trong một buổi lễ tưởng niệm như hôm
nay, tôi đă có hân hạnh tŕnh bày về Thái Độ Kẻ Cả của Cố
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Hôm nay tôi xin mạn phép đề cập
đến cái Trí và cái Dũng nơi con người đă một thời lănh đạo
Việt Nam, đưa một nước vừa mới thoát khỏi ách nô lệ, lạc hậu
về kinh tế, hỗn loạn về chính trị, lên địa vị một quốc gia
độc lập thật sự, có kỷ cương về mọi mặt, đứng vào hàng đầu ở
Đông Nam Á
Vậy Trí là ǵ? Và Dũng là ǵ?
Trí là óc thông minh, sự sáng suất để trong mọi hoàn cảnh
lượng định được t́nh h́nh, phân định được hư thực, xác
quyết được phải trái, cân nhắc được lợi hại để sau đó quyết
định đường hướng phải đi, giải pháp phải theo, kế hoạch phải
dùng đặng hóa giải mọi khó khăn ngơ hầu giải quyết toàn bộ
vấn đề. Tài đi theo Trí. Cần phải phân biệt Trí với những
tiểu xảo chính trị để lừa dối dư luận và tự đề cao uy tín,
những thủ đoạn gian hùng để làm hại kẻ khác đặng phục vụ
quyền lợi riêng tư của bản thân hoặc của bè phái.
Dũng là ḷng can đảm, sự quyết chí. Người có Dũng không e
ngại khó khăn, không nao núng trước các mối đe dọa, không
lùi bước trước các sự hiểm nguy có thể đưa đến mạng vong.
Dũng giúp ta đi đúng đường hướng, thi hành được kế hoạch, áp
dụng được giải pháp mà Trí đă vạch ra ngơ hầu đạt dược kết
quả mong muốn. Dũng đi với Lược. Dũng không có nghĩa là liều
lĩnh mà là sự can trường có suy tính. Kẻ liều lĩnh hành động
mù quáng, có ít cơ hội thành công v́ chỉ trông cậy vào may
rủi. Lănh đạo quốc gia mà thiếu Trí và Dũng th́ chỉ làm hại
quốc gia, vùi chôn quốc thể mà thôi. Trí và Dũng là hai đức
tính bổ túc cho nhau, được thấy nơi bất cứ một lănh tụ chân
chính nào. Và Cố Tổng Thống Ngô D́nh Diệm đă có đầy đủ Trí
và Dũng. Nhiễu sự kiện và biến cố trong đời Người đă chứng
minh điều đó.
Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một chính khách có Trí v́
Người:
- Đă thấy rơ ḷng ngoan cố của thực dân Pháp nên đă treo ấn
từ quan năm 1933 sau bốn tháng cầm đầu nội các đầu tiên của
Bảo Đại.
- Đă thấy rơ dă tâm của người Nhật nên đă không đứng ra
thành lập nội các năm 1945 theo lời triệu thỉnh của Bảo
Đại.
- Đă thấy rơ thâm ư của Hồ chí Minh nên đă chối từ lời mời
hợp tác với Việt Minh năm 1946 (l).
Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một kẻ sĩ có Trí v́ Người:
- Đă lượng định đúng thời cơ để ra tham chính vào năm 1954
dù t́nh h́nh lúc bấy giờ không chút sáng sủa, nhân tâm rất
đỗi xao xuyến.
- Đă trưng cầu dân ư để truất phế Bảo Đại v́ vị vua này dưới
sự chi phối của chính quyền thực dân Pháp là một trở ngại
lớn lao cho việc dựng lại đất nước và canh tân xứ sở.
- Đă cương quyết không cho Hoa Kỳ đưa quân vào tham chiến
tại Việt Nam v́ sự hiện diện của quân đội ngoại quốc sẽ làm
tiêu tan chính nghĩa của Việt Nam Cộng Ḥa ở quốc nội cũng
như ở hải ngoại. Và những ǵ đă xảy ra cho Miền Nam sau khi
Người nằm xuống đă hùng hồn nói lên sự sáng suất của Người.
Trí của Người ta đă thấy. Vậy c̣n Dũng th́ ở đâu?
Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một lănh tụ có Dũng
khi Người:
- Nói thẳng với Hồ chí Minh những cảm nghĩ của ḿnh về chính
sách chuyên chế của cộng sản và hành động đẫm máu của cán bộ
cộng sản. (2)
- Khi Người chấp nhận dấn thân năm 1954 trong lúc Hội nghị
Genève đang thảo luận việc chia đôi đất nước.
- Khi Người đương đầu với cuộc nổi loạn vơ trang của các
Tướng tá làm tay sai cho thực dân Pháp, của đảng cướp B́nh
Xuyên và của các lănh tụ đầy tham vọng cá nhân trong các
giáo phái.
Chúng ta phải đi ngược ḍng lịch sử, sống lại cái cảnh dầu
sôi lửa bỏng của những ngày tháng trên mới ư thức được một
cách đứng đắn cái Dũng nơi Ngô Chí Sĩ.
Năm 1946, Ngô Chí Sĩ diện kiến họ Hồ tại Bắc Bộ Phủ là lúc
Người đang ở trong ṿng sinh sát của họ Hồ. Hồ chí Minh đă
không dám ám hại Người mặc dầu ông ta rất bực ḿnh về những
lời lẽ bộc trực của Người.
Năm 1954, để vớt vát quyền lợi, thực dân Pháp đă âm mưu với
cộng sản chia đôi lănh thổ tại vị tuyến 17, ngang sông Bến
Hải. Một triệu người đă ồ ạt di cư vào Nam tị nạn cộng sản
cần được định cư gấp rút mặc dầu cộng sản vẫn tiếp tục khủng
bố tại những vùng mà trước kia chúng chiếm đóng.
Năm 1955, bọn Tướng tá bồi Tây đă vu khống, mạ lị Người ngày
đêm trên Đài Pháp Á. Đảng cướp B́nh Xuyên th́ hùng cứ vùng
Chợ Lớn, công khai hiếp dân đoạt của, khai thác cờ bạc, đi
điếm, ma túy...xem thường luật pháp quốc gia. Một số lănh tụ
các giáo phái, v́ quyền lợi riêng tư của ḿnh chứ không phải
v́ quyền lợi của đất nước, cũng nổi loạn tại miền Tây và
miền Đông với sự tiếp tay của thực dân Pháp. Trong lúc đó
th́ Cơ Quan An Ninh, Việt Binh Đoàn, tuy thuộc quyền của Thủ
Tướng, vẫn c̣n được điều khiển bởi tay chân của thực dân
Pháp, quân đội viễn chinh Pháp vẫn c̣n chiếm đóng lănh thổ,
và người Pháp vẫn ngoan cố kéo dài việc điều đ́nh trao trả
chủ quyền.
Để đối phó với t́nh trạng hỗn mang trong buồi giao thời, Chí
Sĩ Ngô Đ́nh Diệm đă thiếu hẳn cả phương tiện lẫn cán bộ,
quân lực và nhất là quyền bính, v́ Quốc Trưởng Bảo Đại bị
thực dân Pháp khống chế đă không tận t́nh hỗ trợ Người dù đă
nài nỉ Người ra chấp chánh. Mặc dù t́nh thế thật bi đát và
như vô vọng, Người vẫn vững tâm tiến bước và đă thành công
đưa quốc gia qua cơn sóng gió.
Người đă có Trí và Dũng nên trong mọi biến cố Người đă tỏ ra
rất b́nh tĩnh.
- Trong vụ mưu sát ở Ban Mê Thuột ngày 22.2.1957 do cộng sản
chủ mưu, Người đă thản nhiên tiếp tục khai mạc hội chợ. Trên
mặt Người không thoáng một chút hoảng hết (3).
- Trong chính biến tháng 11 năm 1963, Người cùng bào đệ Ngô
Đ́nh Nhu quyết định ở lại, không xuất ngoại lưu vong theo
lời gợi ư của v́ Đại Sứ bất lương Henry Cabot Lodge.
- Đêm cuối cùng của Người tại tư thất ông Mă Tuyên, Người đă
có phong thái trầm lặng của một đấng quân tử, khiến cho Mă
tiên-sinh mến phục Người măi măi dù cho sau này tiên-sinh đă
phải tan gia bại sản và lâm vào ṿng lao lư chỉ v́ đă để cho
Người tá túc.
- Buổi sáng cuối cùng tại Nhà Thờ Cha Tam, Người đă suy tư
và cầu nguyện rất lâu và sau đó lạnh lùng chờ đợi quân phản
loạn đến bắt Người.
Trong lịch sử Dông Tây cận đại, nói đến các lănh tụ quốc gia
có Trí và Dũng, chúng ta có thể kể cố Thủ Tướng Churchill
của Anh Quốc, Cố Tổng Thống de Gaulle của Pháp Quốc, Cố
Tổng Thống Sadat của Ai-Cập, Cố Tổng Thống Phác Chánh Hy của
Đại Hàn, và Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm của Việt Nam. Có thể
c̣n nhiều vị khác nữa cũng có Trí và Dũng, nhưng chưa có cơ
hội để làm sáng tỏ cái Trí và Dũng của ḿnh.
Churchill và De Gaulle đă qua đời v́ trọng tuổi. Ngô Đ́nh
Diệm, Phác Chánh Hy và Sadat đă bị thảm sát. Riêng Cố Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm, được cái vinh dự Vị Quốc Vong Thân.
Người đă nằm xuống, nhưng ḷng thương tiếc, cảm phục Người
mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những kẻ đă
trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát Người đă
chối leo lẽo. Họ đă có mặc cảm tội lỗi giết thầy phản bạn,
măi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và ngoài nước
nguyền rủa. Họ đă không có Trí nên thua mưu cộng sản và bị
ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ không có Dũng
nên tham sinh úy tử, nhục nhă đầu hàng cộng sản hoặc lanh
chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và đồng ngũ. Hôm
nay chúng ta tưởng niệm một vị lănh tụ ái quốc, một đấng
quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho chúng ta bày tỏ
ḷng thương xót quê hương yêu dấu đă phải mất chủ quyền từ
năm 1963 đến năm 1975, và đă phải lọt vào ṿng kiềm tỏa của
cộng sản từ năm 1 975 cho đến nay.
Tuy nhiên trong cái rủi ro lớn lao ấy, chúng ta hăy t́m một
cái may nhỏ nhoi để tự an ủi. Phải chăng Thượng Đế đă dành
cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm một cái chết đau thương để cho
đồng bào ở quốc nội càng thương tiếc con người ái quốc chân
chính và càng tin tưởng ở chế độ quốc gia do Người chủ
trương đù hiện nay phải chịu sự thống trị hà khắc của việt
cộng, để cho chúng ta ở hải ngoại, mặc dù đang sống tạm gửi,
c̣n hănh diện với ngoại nhân là chúng ta đă có một lănh tụ
quốc gia chân chính có thừa Trí và Dũng
Tài liệu tham khảo:
* Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm (Xuân Thu).
* Những Bí ân Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt- Nam, Quyển
I/Lữ Giang.
* (1) Các Tướng Tầu chỉ huy quân đội chiếm đóng là Lư Hán và
Tiêu Văn đă nhận nhiều quà biếu bằng vàng khối của Việt Minh
(vàng do dân chúng đóng góp trong '’’tuần lễ vàng’’) nên đă
khuyến giục các lănh tụ các đảng phái quốc gia (Việt Quốc,
Việt Cách v.v...) như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn
Tường Tam v.v...tham gia Chính phủ Liên hiệp Quốc-Cộng,
khiến sau này họ phải ân hận v́ bị Việt Minh lợi dụng và
xuưt vong mạng. Nhà cách mạng lăo thành Huỳnh Thúc Kháng,
cũng chỉ v́ nhiệt t́nh với quốc gia dân tộc nên đă nhận lời
mời của Hồ chí Minh tham gia chính quyền để rồi phải mang
tiếng làm b́nh phong cho Việt Minh đàn áp và sát hại Việt
Quốc trong vụ án ngụy tạo ‘’Ôn Như Hầu’’, và cuối cùng âm
thầm qua đời trong uất hận tại Nghĩa Hành, Quảng Ngăi. (Xin
xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển
I/Lữ Giang, từ trang 332-337. )
* (2) Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt
Nam, Quyển I/Lữ Giang, từ trang 368-376.
* (3) Khánh thành long trọng Hội Chợ Ban Mê Thuột. 8 giờ.30
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tới, gần đến khán đài, bị một thanh
niên bắn bằng tiểu liên Mas. 49 dấu dưới áo blouson. Nhưng
đạn lại trúng Bộ Trưởng Cải Cách Điền Địa Đỗ Văn Công, ông
Công bị thương nặng ở tay và ngực. Người bắn bị bắt ngay. Lễ
khánh thành tiếp tục theo chương tŕnh. Thanh niên bị bắt là
Hà minh Chí, tức Phạm ngọc Phú, đă từng làm việc ở Ty Thông
Tin Tây Ninh. (Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm/trang 212)
NguyễnVăn Lượng
Nhân và Nghĩa nơi Cố Tổng Thống NGÔ Đ̀NH DIỆM
...Bác Sĩ Tuyến: ‘’Thưa Cụ, có ông Nguyễn Xuân Tiếu bị công
an bắt giữ.
Ông Tổng Thống: Ông Nguyễn Xuân Tiếu tôi biết, hắn làm sao
mà bị bắt hè.
Đương sự t́m lời nói khéo: Ông cụ ấy có tật hay uống rượn.
Uống rượn vào rồi th́ cũng nói lăng xăng chống đối. Con thấy
cũng không có ǵ nguy hiểm
Ông Tổng Thống vui vẻ gật đầu: Biểu Nguyễn Văn Là nó thả ông
ta ngay. Biểu Tổng Thống chỉ thị.
Ông Tổng Thống trầm ngâm: Năm 45, tôi bị Việt Minh nó bất
giam ở Thái Nguyên, Nguyễn Xuân Tiếu đối với tôi tốt lắm.
Hắn tiếp tế đồ ăn cho tôi hàng ngày, tiếp tế cả thuốc lá.
Sau hắn c̣n đưa cả tiền cho tôi để có chút ít về Hà Nội rồi
vào Nam.
Ông Tổng Thống không quên nhắc nhở đương sự: Khi nào gặp hắn
bảo hắn lúc nào rảnh rỗi vào đây chơi.
Nhờ có Cụ Nguyễn Xuân Tiếu nên nhân chứng xin cả ông Nguyễn
Văn Lực được trả tự do. Nhưng hơn 20 ngày sau khi con trai
ông Lực là phi công Nguyễn Văn Cử cùng phi công Phạm Phú
Quốc oanh tạc Dinh Độc Lập.
Ngoài Trí và Dũng, cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là con người
có Nhân, có Nghĩa.
Thế nào là Nghĩa?
Nghĩa là việc theo đường lối phải, việc nên làm. Người có
nghĩa có lối xử sự phải đường, có tính t́nh hào hiệp. Người
có nghĩa thường là người biết ơn và luôn luôn t́m cách đền
đáp cái ơn đă nhận được dù lớn dù nhỏ. Đối với Cố Tổng Thống
Ngô đ́nh Diệm th́ ‘’Nghĩa vi bản mạt’’ (Nghĩa là gốc ngọn)
có nghĩa là lấy Nghĩa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động của
con người. Tôi xin mượn lời của hai ông Cao Thế Dung và
Lương Khải Minh trong tác phẩm ‘’Làm thế nào để giết một
Tổng Thống’’ để nói lên cái Nghĩa nơi con người Ngô Đ́nh
Diệm:
‘’Anh chàng Nậy trước kia kéo xe cho ông Huyện Diệm khi c̣n
trọng nhậm ở Huyện Hải Lăng, Quang Trị. Lên làm Thủ Tướng,
ông đánh điện cho cho Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đẳng chỉ thị
phải t́m Nậy và đưa vào Sài G̣n. Nậy vào Sài G̣n và được
tuyển dụng vào Dinh Độc Lập làm nghề thợ mộc để có lương nhà
nước dù lúc đầu Nậy không biết ǵ về nghề mộc. Rồi từ viên
Thừa Phái Hải Lăng, đến viên đội Khố Xanh ở B́nh Định hay
Chánh Tổng ở Ḥa Đa...tức là những thuộc viên cũ, ông Tổng
Thống đều gọi vào Dinh cho tiền làm vốn liếng (năm ngàn là
tối đa) rồi cho một việc làm trong Dinh. Có một viên đội Khố
Xanh trước gác ở Dinh Quan Tuần Phan Thiết rồi lại ra B́nh
Định. Sau này nhờ Tây lên được hàng Úy, kịp đến khi ông Diệm
về nước rồi t́nh cờ gặp ông được ông lưu ư nâng đỡ mà leo
lên măi đến hàng ‘’Tá cao cấp’’, sau này đă góp công không
nhỏ trong việc ‘’Làm thế nào để giết một Tổng Thống’’.
‘’Một thí dụ khác về cái Nghĩa của ông, vào tháng 1 năm 1962
trước vụ ném bom Dinh Độc Lập vào khoảng một tháng, Bác Sĩ
Tuyến có một người quen bị Công An bắt giam. Người quen ấy
là ông Nguyễn Văn Lực, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân
Đảng...Bác Sĩ Tuyến không thể đơn phương can thiệp cho
Nguyễn Văn Lực được trả tự do. Song lại có Cụ Nguyễn Xuân
Tiếu, lănh tụ Đại Việt cũng bị Công An bắt giam. Bác Sĩ
Tuyến định tâm t́m cách Tết nhất để nói trực tiếp với Tổng
Thống v́ biết rằng Cụ Nguyễn Xuân Tiếu trong quá khứ có rất
nhiều liên hệ với Tổng Thống Diệm. Một hôm vào pḥng Tổng
Thống để tŕnh công việc, ông Diệm hỏi: T́nh h́nh đảng phái
dạo này ra sao?
Đương sự đáp: Cũng không có ǵ cả, b́nh thường. Thưa Cụ, th́
mấy ông đảng phái nhàn rỗi không có việc làm th́ cũng họp
hành, tuyên bố lăng nhăng thế thôi.
Ông Tổng Thống ờ ờ, hút thuốc, tỏ ư khoan khoái. Đương sự
tấn công t́nh cảm ngay:
- Thưa Cụ, có ông Nguyễn Xuân Tiếu bị Công An bắt giữ.
- Ông Tổng Thống: Ông Nguyễn Xuân Tiếu tôi biết, hắn làm sao
mà bị bắt hè
- Đương sự t́m lời nói khéo: Ông cụ ấy có tật hay uống rượn.
Uống rượn vào rồi th́ cũng nói lăng xăng chống đối. Con thấy
cũng không có ǵ nguy hiểm.
Ông Tổng Thống vui vẻ gật đầu: Biểu Nguyễn Văn Là nó thả ông
ta ngay. Biểu Tổng Thống chỉ thị.
Ông Tổng Thống trầm ngâm: Năm 45, tôi bị Việt Minh nó bất
giam ở Thái Nguyên, Nguyễn Xuân Tiếu đối với tôi tốt lắm.
Hắn tiếp tế đồ ăn cho tôi hàng ngày, tiếp tế cả thuốc lá.
Sau hắn c̣n đưa cả tiền cho tôi để có chút ít về Hà Nội rồi
vào Nam.
Ông Tổng Thống không quên nhắc nhở đương sự: Khi nào gặp hắn
bảo hắn lúc nào rảnh rỗi vào đây chơi.
Nhờ có Cụ Nguyễn Xuân Tiếu nên nhân chứng xin cả ông Nguyễn
Văn Lực được trả tự do. Nhưng hơn 20 ngày sau khi con trai
ông Lực là phi công Nguyễn Văn Cử cùng phi công
Phạm Phú Quốc oanh tạc Dinh Độc Lập, ông Lực nhanh chân trốn
thoát.
Cái Nghĩa nơi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lại được thấy rơ qua
những nghĩa cử của Người đối với những nhân vật đă cộng tác
với Người lúc đương thời hoặc đối với những nhân vật tên
tuổi mà Người quí trọng tuy không đồng quan điểm với họ.
Nghe tin Thiếu Tướng Tŕnh Minh Thế bị tử thương tại cầu Tân
Thuận (2) trong khi đang hành quân dẹp loạn B́nh Xuyên, Thủ
Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă vô cùng xúc động. Nhà Văn Nhị Lang đă
kể lại như sau:
‘’Tờ mờ sáng hôm sau (4.5.1955), Thủ Tướng Diệm, Cố vấn Nhu,
cùng toàn bộ Nội Các và Bộ Tham Mưu (do Tướng Lê Văn Tỵ
hướng dẫn), đều tề tựu đông đủ trên căn gác nhỏ ở Đường
Trương Minh Giảng (...) ông (Thủ Tướng Diệm) đầm đ́a nước
mắt, cúi xuống ôm gh́ lấy thi hài Tướng Thế, rồi hôn ngay
trên mặt người chết. Tiếp đó, ông ngất xỉu luôn. Mọi người
hết hoảng, vội vàng t́m cách cứu chữa, măi một lát sau ông
mới tỉnh, và rồi lại khóc (...) Ngày mồng 6 tháng 5 được ấn
định là ngày cử hành tang lễ cho cố Trung Tướng Tŕnh Minh
Thế. Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đích
thân đọc điếu văn trước linh cữu bấy giờ đă được chuyển ra
Công Trường Ṭa Đô Chính. Tiếng nức nở của Thủ Tướng Diệm
lại vang lên trong máy vi âm. Sau đó, quan tài được đặt trên
một chiếc xe thiết giáp phủ Quốc Kỳ, na khỏi Sài G̣n, tiến
theo con đường lên Tây Ninh. Thủ Tướng Diệm tiễn theo linh
cữu tới gần chợ Sài G̣n mới quay trở lại. (3)
Khi biến cố Phật Giáo bùng nổ th́ Đại Tướng Tỵ lâm trọng
bệnh. Hai ông Cao Thế Dung và Lương Khải Minh đă ghi lại
cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Tổng Thống Diệm và Đại Tướng Tỵ
như sau: Khi tiễn chân Đại Tướng Tỵ, Tổng Thống Diệm đă tặng
cho ông một chuỗi hạt và nói: ‘’Đại-tướng nhớ cầu nguyện cho
tôi...Tôi xin ơn Trên phù hộ cho Đại Tướng’’ (...)
Tổng Thống Diệm đỡ vai Tướng Tỵ và cùng đi theo ông xuống
đến tận thềm Dinh Gia Long. Cánh cửa xe đóng lại, Tướng Tỵ
cúi đầu chào, ông Tổng Thống vẫy tay với một vẻ ngậm ngùi
(...)
Tại Mỹ, khi nghe tin Tổng Thống Diệm bị thảm sát, Đại Tướng
bàng hoàng rồi ôm mặt khóc. Sau này khi hồi hương, mỗi lần
nghe ai nhắc đến Tổng Thống Diệm th́ Đại Tướng Tỵ lại than
thở: Hồi ông Cụ tiễn chân tôi qua Mỹ, ông Cụ tưởng qua
chết...Ai dè ông Cụ lại chết trước qua (4).
Tổng Thống rất có cảm t́nh với gia đ́nh Nguyễn Tường. Vào
dạo năm 1959, khi Bác Sĩ Tuyến nhắc đến Hoàng Đạo, th́ Người
hỏi thăm: ‘’Bây giờ vợ con ông ấy sống thế nào?’’
Được Bác Sĩ Tuyến cho hay là bà Hoàng Đạo mở cửa hàng bán
chả cá th́ Người dặn: ‘’Anh xem bà ta có túng thiếu th́ t́m
cách giúp đỡ, khi nào có dịp cho tôi có lời hỏi thăm’’.
Rồi Người không tiếc lời ca ngợi: ‘’Nguyễn Tường Long khá
lắm. Ông ta đối với tôi tốt lắm. ‘’Trong các chính khách tại
miền Nam th́ Nhất Linh Nguyễn Trường Tam được Tổng Thống
Diệm trọng hơn cả. Được tin Nhất Linh tự vận bằng độc dược
ngày 7.7.1963, Tổng Thống Diệm cũng sửng sốt và xúc động
mạnh như tin Ḥa Thượng Quảng Đức tự thiêu:
- Việc có ǵ đâu mà phải làm như vậy...ra Ṭa th́ rồi cũng
tha bổng ông ấy.
Tổng Thống trở nên trầm ngâm, lầm ĺ cả ngày, bẳn gắt và hút
thuốc lá liên miên. (5)
Chữ Nghĩa nơi cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nó sâu nặng như
thế đó. Và chữ Nhân nơi Người cũng bao la không kém. Nhân là
ḷng thương người, thương vật, một tánh tốt đối với người
với vật. Người có ḷng nhân là người hiếu sinh mà không hiếu
sát, ân ban mà không ác báo. Trong chín năm cầm quyền Tổng
Thống Diệm chưa hề ra lệnh hành quyết một tội phạm nào cả.
Ngay năm 1954, khi Người mới về nước chấp chánh th́ đảng Đại
Việt Hà Thúc Kư đă kéo quân ra Ba Ḷng lập chiến khu, rồi
năm 1955 Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Nam Ngăi cũng kéo quân
ra bưng lập chiến khu. Họ chống đối v́ miếng đỉnh chung chứ
không v́ quyền lợi đất nước, v́ không có được những ghế họ
mong muốn trong chính phủ của ông Diệm (6). Thế nhưng không
một ai trong hai cuộc nổi loạn ấy bị giết cả (7). Nếu Đại
Việt hay Quốc Dân Đảng mà cầm quyền th́ chắc đă có kẻ vong
mạng v́ chính họ đă giết ngay cả những đảng viên của họ chỉ
v́ đi sai đường lối của đảng, thay v́ khai trừ (8). Tên cán
bộ cộng sản nằm vùng được cộng sản Bắc Việt chỉ thị ám sát
Người tại Hội chợ kinh tế Ban-Mê-thuột ngày 22.2.1957 bị bắt
sau khi bắn hụt Người nhiều phát đạn tiểu liên. Ai cũng
tưởng tên cán bộ ấy sẽ bị tra tấn dă man rồi bị thủ tiêu âm
thầm. Thế nhưng sau chính biến tháng 11.1.1963 tên cán bộ ấy
vẫn sống phây phây và tỏ ra rất cảm phục cung cách chính
quyền đối xử với y khi ở trong tù và nhất là tỏ ḷng ngưỡng
mộ Tổng Thống Diệm v́ đức nhân từ bác ái của Người (9).
Khi cuộc binh biến ngày 11.11.1960 thất bại, một số các kẻ
chủ trương như các sĩ quan Vương Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi
dùng phi cơ trốn thoát qua Nam Vang, như Luật Sư Hoàng Cơ
Thụy th́ được CIA đưa ra khỏi Sài G̣n và miền Nam trong một
túi đựng thư lớn chở trên phi cơ của Tùy Viên Không Quân Mỹ
(9), c̣n một số đồng lơa th́ được tha về nhân ngày Tết
Nguyên Đán Tân Sửu 15.2.1961 như Nguyễn Lưu Viên, Phạm Văn
Huyến, Tạ Chương Phùng v.v... hoặc bị truy tố và câu lưu cho
đến ngày 1.11.1963 như Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ
Hồng Khanh v.v... (10)
Chẳng có can phạm nào bị bắt trong cuộc binh biến ấy mà bị
hành quyết cả. Ngang đây cũng xin nhấc lại là sau này Hoàng
Cơ Thụy, Phan Quang Đán cũng như 18 vị trong nhóm Caravelle
(Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Trần Văn Hương... ), khi ra
lănh đạo quốc gia hay tham gia chính quyền, đă để cho bọn
tướng tá, tay sai của Hoa Kỳ hay nội tuyến của cộng sản,
thao túng đến nỗi nước mất nhà tan một cách nhục nhă.
Ngay cả Phạm Phú Quốc, người đă oanh tạc Dinh Độc Lập ngày
27.2.1962, bị bắn hạ và bị bắt, cũng c̣n sống để trở về với
gia đ́nh sau ngày 1.11.1963. Sau đấy ông trở lại Không Quân
và bị bắn hạ trong một phi vụ ở Bắc Việt, không biết c̣n
sống hay đă chết rồi. C̣n trường hợp Tướng Ba Cụt tức Lê
Quang Vinh bị hành quyết th́ sao? Tướng Ba Cụt bị Ṭa Đại
H́nh vần Thơ tuyên án tử h́nh và bị hành quyết ngày
13.7.1956.
Thật ra Ba Cụt thuộc hạng người sớm hàng tối đánh và đă có
nhiều ân oán giang hồ với hai ông Nguyên Ngọc Thơ và Dương
Văn Minh. Trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, hai ông Thơ và
Minh đă lừa và bắt sống được Ba Cụt và sau đó đă có ảnh
hưởng nhiều đến việc chính phủ bác đơn xin ân xá của tứ tội.
Sau đây là lời của Nhị Lang, một chiến hữu của Tướng Ba Cụt
khi cỡn ở chiến khu Núi Bà:
‘’Đứng trên lập trường quốc gia mà xét, Tướng Vinh là một
trong những cột trụ Miền Nam giữ vững thành tŕ chống cộng.
Tiếc rằng đời ông đă chấm dứt bằng một cái chết đau thương
năm 1956. Kẻ chủ mưu không ai khác hơn là Nguyễn Ngọc Thơ,
người quê quán Miền Tây, nhưng lại mắc phải mối thù bất cộng
đái thiên của Phật Giáo Ḥa Hảo, sau khi sắp đặt bắt cóc
Tướng Lê Quang Vinh để xử tội. Nguyễn Ngọc Thơ đứng trên thế
chính quyền đă làm một việc mù quáng. Cá nhân Cố Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm, theo tôi biết, không hề có ư định sát hại
Tướng Lê Quang Vinh, mà chỉ muốn thương lượng đón ông Vinh
về với ḿnh, như Tŕnh Minh Thế vậy, để tăng cường hàng ngũ
quốc gia chống cộng. Nhưng Nguyễn Ngọc Thơ v́ muốn lập công
nên tự ư tổ chức bắt Vinh. Sau khi bắt được rồi, lỡ nằm trên
cái thế cưỡi đầu voi dữ, nên gây áp lực và đặt lời đèm pha
với chính phủ Diệm để Vinh bị chém đầu một cách đan đớn?’’
(12).
Sử Gia Cao Thế Dung cũng đă viết trong ‘’Việt Nam 30 Năm Máu
Lửa’’: ‘’Đấy là chủ trương của Nguyễn Ngọc Thơ và Dương Văn
Minh, hai người vốn không ưa Ba Cụt và Ḥa Hảo...’’ Trong
tác phẩm ‘’Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh
Diệm’’, ông Vinh Phúc cũng ghi lại những dư luận đương thời
về vai tṛ chủ yếu của hai ông Thơ và Minh trong vụ án Ba
Cụt (13).
Cũng v́ không coi thường mạng sống của binh sĩ, cũng v́ sợ
cảnh nồi da xáo thịt mà cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă không
cho phép Thiếu Tá Duệ đem quân lên Bộ Tổng Tham Mưu bất các
Tướng phản loạn nên mới hư đại sự. Sau đây là tài liệu minh
chứng: ‘’Cho đến lúc bấy giờ thành Cộng Ḥa đă ăn hàng trăm
trái 105 ly. Bộ Chỉ huy Liên Đoàn Pḥng Vệ không thể nào
liên lạc với bộ Tổng Tham Mưu. Thượng Sĩ Nguyễn thuật lại:
Ông Đuệ phải gọi qua pḥng Quân Cảnh Bộ Tổng Tham Mưu, nhờ
liên lạc v́ ông có người bạn thân ở pḥng này nên mới nắm
được đầu giây lên lạc.
Thiếu Tá Duệ hỏi qua t́nh h́nh trên đó ra sao. Phía đầu giây
trả lời rơ rệt: ‘’Không thấy có ǵ quan trọng cả. Các ông
Tướng đang họp. Hiện giờ Bộ Tổng Tham Mưu không có Lực Lượng
nào khác hơn mấy chú tân binh ớ Trung Tâm Huấn Luyện Quang
Trung’’.
Thượng Sĩ Nguyên báo cáo lại và đề nghị: ‘’Làm tới đi Thiếu
Tá. Hốt về đây cho xong chuyện’’
Các Sĩ Quan Tham Mưu bàn định: ‘’Nếu được lệnh th́ chỉ cần
một Chi Đội Thiết Giáp, một Đại Đội ta sẽ tiên dọc theo
Đường Công Lư. Thủ th́ nguy, công mà thành’’. Ông Duệ gật
đầu cho là phải. Ông gọi lên Dinh Gia Long xin lệnh Tổng
Thống. Phía đầu giây bên kia Đại Úy Tùy Viên Lê Công Hoàn
đáp: ‘’Cụ không trả lời. Cụ ra lệnh chỉ được phép nổ súng
khi nào bị tấn công. Cụ cấm không được gây đổ máu’’.
Ông Duệ và một số Sĩ Quan Tham Mưu đành lắc dàu thở dài, ông
lại tiếp tục cuộc điện đàm: ‘’Toa thưa lại với Cụ cứ cho
phép tụi moa đem lực lượng lên đó hốt cho hết, như thế là
xong’’. Bên kia đầu giây Đại Úy Hoàn trả lời: ‘’Cụ nhất định
không chịu’’. Thượng Sĩ Nguyễn lắc đầu quay sang bảo ông
Duệ: ‘’Thiếu Tá thử nói lại lên nữa xem sao...Thiếu Tá nói
với Đại Úy Hoàn tŕnh bày rơ và Cụ là bọn ḿnh chỉ xin lên
Bộ Tổng Tham Mưu mời các Tướng lănh về Dinh họp mà thôi’’.
Lúc ấy vào quăng 5 giờ’’. (14)
Thế rồi những ǵ phải xảy ra đă xảy ra sau đó như lịch sử
Cận đại đă ghi chép. Cái ḷng nhân bao la luôn luôn phù hợp
với một nhà chân tu nhưng có khi lại không thích hợp cho một
chính khách, nhất là khi vị ấy lănh đạo quốc gia trong thời
thế nhiễu nhương.
Bị ràng buộc bởi đức Bác ái của Thiên Chúa Giáo và quan niệm
Chính nhân Quân tử của nền văn hóa Á Đông, Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă chết theo cái Nhân cái Nghĩa của ḿnh. Tuy
nhiên Người đă lưu danh thiên cổ với T́nh Người Sâu, Nghĩa
Nước Nặng.
Tài liệu tham khảo:
* (l) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/Cao Thế Dung &
Lương Khải Minh/ trang 76, 77, 78.
* (2) Pḥng nh́ quân đội Pháp, điều khiển bởi Đại Úy Savani,
một sĩ quan Pháp rành tiếng Việt và có vợ Việt, đă thuê một
người ám hại Tướng Thế để trả thù vụ Tướng Pháp Chan Son bị
ông Thế cho cảm tử quân nổ lưu đạn giết năm 1951. Ông
Savani, sau lên Đại Tá, đă thừa nhận việc này trước khi qua
đời, theo sách Soldats Perdus et Fous de Dieu Indochine
1945-1955 của Jean Lartegu, trang 244, 245.
* (3) Phong trào kháng chiến Tŕnh Minh Thế/Nhị Lang/trang
320, 321.
* (4) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/trang 101, 102.
* (5) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/trang 464
* (6) Tháng 6 năm 1954, khi hội nghị Genève đang khai diễn,
ông (Bùi Diễm) đại diện Bác Sĩ Phan Huy Quát liên lạc với
Cựu Hoàng Bảo Đại để xin cho Bác Sĩ Quát làm Thủ Tướng thay
thế Hoàng Thân Bửu Lộc. Nhưng Bảo Đại đă chọn Ngô Đ́nh Diệm.
Không thối chí, ông Diễm lại vận động với ông Diệm để Bác Sĩ
Quát có một ghế Bộ trưởng (Bộ Quốc Pḥng), cũng không xong.
Có lẽ v́ ông Diệm không muốn dùng những chánh khách đă bị
đốt cháy trong giải pháp Bảo Đại từ 1948 đến 1954 (...)
Tuy nhiên rồi cũng có một lần ông được toại nguyện. Đầu năm
1965 Tướng Khánh đă mời Bác Sĩ Quát làm Thủ Tướng và Bác Sĩ
Quát ‘’năn nỉ măi’’ ông Diễm mới nhận ghế Bộ Trưởng Phủ Thủ
Tướng (...)
Ba tháng sau ông Quát, mặc dầu có Quân Sư Diễm trợ lực,
không giải quyết nổi cuộc khủng khoảng nội các do nguyên
nhân chia rẽ Bắc Nam, đă anh dũng rút lui ngày 11 tháng 6
năm 1965, chấm dứt giấc mơ ‘’dân sự-dân chủ’’ của chính
khách Bùi Diễm. (Ngô Đ́nh Diệm, Lời khen tiếng chê Minh
Vơ/trang 21, 22, 23).
Tưởng cũng nên nhắc lại đây là Bộ Trưởng Quốc Pḥng trong
chính phủ đầu tiên của ông Ngô D́nh Diệm là ông Lê Ngọc Chấn
thuộc đảng Đại Việt.
* (7) Ông Nguyễn Ngọc Huy, một lănh tụ Đại Việt chống chính
quyền Diệm, đă sống lưu vong tại Pháp từ 1956-1963, đă nói:
‘’Tôi không đồng ư cách hành động của ông Nhu. Nhưng tôi
công nhận ông Nhu là một người khá, ông không bao giờ giết
hại những người có lập trường chống cộng, có tư cách...dù họ
đă âm mưu dùng vơ lực để lật đổ chính quyền Diệm. Khi ở Pháp
về vào năm 1963, tôi đă gặp được đầy đủ các đồng chí của Đại
Việt như anh Hà Thúc Kư, anh Đoàn Thái dù họ đă bị Nhu giam
giữ lâu năm’’. (Biến cố chính trị Việt Nam hiện đại/Phạm văn
Lưu trang 327).
* (8) Trong tác phẩm ‘’Về những kỷ niệm quê hương’’, Nhà Văn
Nguyễn Thạch Kiên đă viết: ‘’Tôi đến thăm ông. Trong khi hàn
huyên nhắc nhở đến học giả Nhượng Tống, thốt nhiên ông
Nghiêm Xuân Thiện bảo tôi: ‘’Ở Anh Quốc, được tin ông Nhượng
Tống bị ám sát chết, tôi biết ngay chính Chấn Quang Minh ra
lệnh! ‘’Xin đọc các trang 104, 105 trong tác phẩm nói trên.
* (9) Xem cước chú nơi bài ‘’Trí và Dũng nơi Cố Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm’’.
* (10) WILLIAM J. Rust, Kennedy in Vietnam, Charles
Scribner's Sons, New York, trang 10.
* (11) Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm/trang 290,
* (12) Phong trào kháng chiến Tŕnh Minh Thế/Nhị Lang/trang
179, 180, 181.
Trong tác phẩm ‘’Việt Nam où est la vérité?’’ ông Trương
Vĩnh Lễ cho hay là Ba Cụt đă không xin ân xá (il avait
rejeté le recours en grâce/trang 36).
* (13) Xem ‘’Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh
Diệm’’/Vĩnh Phúc/ từ trang 192 đến 202.
* (14) Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống/trang 580.
NguyễnVăn Lượng
(TiếngThị Phi)
TƯỞNG NIỆM
Kỷ niệm ngày 1 tháng 11, ngày đau thương của dân tộc Việt
Nam và nền Đệ Nhất Cộng Ḥa.
Kính dâng Anh Linh cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm)
Mỗi chữ xin là một nén hương
Dâng niềm tôn kính, xót xa thương
Anh hùng chẳng bởi do thời thế
Hào kiệt đâu cần phải bá vương
V́ bọn tiểu nhân gây tạo phản
Nên người quân tử gặp tai ương
Nếu không, tổ quốc và dân tộc
Đă với năm châu rạng phú cường
TIẾC THƯƠNG
Nhân ngày giỗ của Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Vị Tổng
Thống khả kính đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Ḥa
Một ánh sao băng, tắt giữa trời
Giang sơn từ đấy tối thêm thôi!
Thương người nghĩa khí tàn cơn mộng
Tiếc bậc tài hoa úa mảnh đời !
Khinh bọn túi cơm, loài rắn rết
Giận phường giá áo, lũ đười ươi
Nếu không phản phúc, không tham vọng
Đất nước giờ đây hẳn kịp người !
Ngô Minh Hằng
NỀN ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A SỤP ĐỔ:
MIỀN NAM TỰ DO SỤP ĐỔ
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
http://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_NenDeNhatCongHoaSupDo_MienNamTuDoSupDo.htm
‘’Tứ Bất Tử’’ là lời của cổ nhân đă dạy, từ thuở xa
xưa, tất cả nhân loại ở trên mặt địa cầu này ai cũng đều đă
biết: Con người sinh ra rồi ai cũng phải chết, mỗi cái chết
đều khác nhau. Nhưng, cổ nhân đă khẳng định có bốn cái chết
để rồi vẫn sống măi măi với thời gian, đó là ‘’Tứ Bất Tử’’,
và trong bốn cái chết ấy gồm những bậc có công nghiệp như
sau:
1.- Có sự nghiệp lớn.
2.- Có đạo đức lớn.
3.- Có công ơn lớn ở người đời.
4.- Có văn chương truyền được lâu dài.
Vậy, hôm nay, nhân dịp tưởng niệm lần thứ 46, kể từ ngày
01.11.1963, ngày vị anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam:
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đă Vị Quốc Vong Thân cùng với nhị
vị bào đệ là Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ông Cố Vấn Ngô Đ́nh
Cẩn. Và cứ như theo lời của cổ nhân đă dạy, th́ chỉ cần một
chữ ‘’Có’’ th́ đă trở thành Bất Tử rồi. Nhưng Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm th́ đă chiếm được đến ba chữ ‘’có’’. Bởi, tất cả
các vị anh hùng ở trên thế giới này, họ thường chỉ được từ
một đến hai chữ có. Nhưng riêng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm th́
theo tôi, chỉ trừ chữ có thứ bốn là ‘’Có văn chương truyền
được lâu dài’’ th́ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chưa có tác phẩm
văn chương nào để lại cho hậu thế, nhưng Người đă chiếm đến
ba chữ ‘’Có’’ trong ‘’Tứ Bất Tử’’:
1.- Sự nghiệp lớn: Đó là sự nghiệp đă khai sinh ra Thể Chế
Cộng Ḥa, tức đă khai sinh ra Nước Việt Nam Cộng Ḥa, đồng
thời đă xây dựng được một Miền Nam Tự Do và phồn thịnh, mà
không phải do được các cường quốc viện trợ tiền rừng bạc
biển.
2.- Có đạo đức lớn: Người đă nêu cao đạo đức về nhiều phương
diện đối với người dân. Cả cuộc đời Người không màng đến cao
lương mỹ vị, không chăn ấm nệm êm, Người đă quên ḿnh để chỉ
ưu tư cho Tổ Quốc và Dân Tộc.
Vậy chúng ta hăy nghe những lời của Thiếu Tá, sau là Đại Tá
Nguyễn Duệ, tác giả cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngày 1.11.1963, Ông là Tham Mưu
Phó, Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng Vệ Tổng Thống Phủ, đă đề nghị
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho sử dụng Thiết Giáp và Bộ Binh
đánh thẳng vào Bộ Tham Mưu, sào huyệt của phe ‘’cách mạng’’,
bắt sống toán đảo chính. Tổng Thống nghe nhưng không có ư
kiến ǵ. Khi được tin Đính đă thực sự theo phe đảo chính,
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm than với Đại Úy Bằng, Sĩ Q uan Cận
Vệ, là ‘’Cháy nhà mới ra mặt chuột’’. Và ‘’Khi lục soát tử
thi, người ta t́m thấy trong tử thi của Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm nửa bao thuốc lá Bastos xanh và một chuỗi Tràng
Hạt!!!’’
‘’Lúc gần sáng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đă ra lệnh buông
súng, v́ không muốn binh sĩ đổ máu v́ Ông, tôi thấy ră rời,
thất vọng. Nhưng vẫn c̣n chút hy vọng mong manh, là Ông sẽ
được đối xử tử tế bởi các Tướng lănh làm đảo chính, v́ hầu
hết những người này đều do Ông gắn sao cho họ. Chẳng bao
lâu, được tin Ông chết. Nghĩ mà thương cho Ông, v́ sợ anh em
v́ bảo vệ cho Ông mà đổ máu, sợ anh em giao tranh với nhau
mất tiềm lực chống cộng, mà Ông bị làm nhục, phải chết trong
tay những kẻ vũ phu, trong một xe thiết giáp’’.
Trên đây, là những ḍng của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ đă viết
trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm, nơi trang số 169, th́ chắc hẳn mọi người đều đă
thấy được: Cho đến giờ phút cuối của cuộc đời, giữa lúc
Tử-Sinh, mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vẫn không muốn có một
người chiến sĩ nào phải đổ máu để bảo vệ cho ḿnh. Ôi! một
tấm ḷng cao cả: Ngất ngưỡng như ngọn Hy Mă Lạp Sơn, và mênh
mông như Ngũ Đại Dương góp lại.
Tôi cũng xin nói thêm là tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm mà tôi đă đưa lên trên của bài viết này là tấm h́nh của
b́a cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm, của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, theo Đại Tá, th́ Ông viết
cuốn sách này, mục đích là để tặng cho những người c̣n giữ
được ḷng trung thành với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, chứ
không có mục đích thương mại. Trước đây, lúc Ông c̣n khỏe
Ông vẫn thường xuyên viết trên Văn Nghệ Tiền Phong, Ông đă
kư tên: Nhật Lệ Nguyễn Hữu Duệ. Và Ông đă từ Hoa Kỳ gửi sang
Pháp Quốc, với những ḍng chữ mà chính tay Ông đă viết tặng
tôi vào ngày 24.11.2003. Phía sau b́a sách, Ông có chú thích
tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là của Bác Sĩ Giáp
Phúc Đạt cho Ông được sử dụng. Hôm nay, tôi đưa tấm h́nh của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lên trên bài viết này cũng cùng như
ư Nguyện của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ và của Bác Sĩ Giáp Phúc
Đạt, nghĩa là để cho các vị: Những người c̣n giữ được nguyên
vẹn một tấm ḷng trung nghĩa với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm,
để các vị được thấy lại h́nh ảnh của Vị Anh Hùng của Dân Tộc.
Vậy, tôi rất mong quư vị trên các diễn đàn chớ lấy tấm h́nh
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, cho những mục đích khác. Đặc
biệt, đối với những kẻ đă từng hạ bút viết những lời lẽ xúc
phạm đến thanh danh của Tổng Thống, th́ tuyệt đối không được
lấy tấm h́nh của Tổng Thống, bởi những bàn tay đó, đă vô
cùng bẩn thỉu khi dám viết lên những lời lẽ xuyên tạc, đầy
ác ư, để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, và cả ḍng họ Ngô
Đ́nh.
Và
bây giờ tôi phải trở lại với chữ ‘’Có’’ thứ 3 của ‘’Tứ Bất
Tử’’:
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă có công ơn lớn với tất cả mọi
người dân miền Nam: Kể từ sau ngày 20.7.1954: Đó là: Công
Cuộc Xây Dựng Tự Do-Thanh B́nh-Phồn Thịnh Tại Miền Nam.
Chúng ta là những người dân của miền Nam, có lẽ nào lại quên
rằng: Vào những năm từ 1954, đến đầu thập niên 1960. Dưới
ánh sáng mới của Chính Thể Cộng Ḥa. Dưới sự lănh đạo của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Là những người Việt Nam đă từng
sống vào thời kỳ ấy. Tất cả đều đă thấy được một Miền Nam
Thanh B́nh-Tự Do-No Ấm thực sự.
Ngày ấy, nếu những ai đă từng sống với những cảnh đêm về,
dưới ánh trăng lành, trên khắp nẻo đường quê, bên những lũy
tre làng rộn ră những bước chân của lớp người trai trẻ, với
h́nh ảnh hiền ḥa, chân phác. Họ đă đến với nhau trong những
lần sinh hoạt của thanh niên, cùng nhau ḥa lời ca với tiếng
đàn Mandoline, với những bài hát ca ngợi quê hương dưới cảnh
thanh b́nh. Bởi vậy, tôi vẫn nhớ dù không đầy đủ những bài
ca, có bài tôi chỉ c̣n nhớ một đôi câu, hoặc một vài điệp
khúc như sau:
‘’Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mau no lành. Có tiếng hát êm
đềm trong suốt đêm thanh. Quê hương anh lúa ngập khắp bờ
ruộng xanh. Lúa về báo nhiều tin lành, từ khắp đồng quê cùng
kinh thành…
Đây phương Nam, đây t́nh Cần Thơ êm đềm. Có lúa tốt quanh
vùng nuôi sức dân thêm. Quê hương em bóng dừa ấp ủ dịu êm.
Những chiều trăng rọi bên thềm, vọng tiếng khoan ḥ về êm
đềm…
Ai vô Nam, ngơ ngẩn v́ muôn câu ḥ. Những tiếng đó khơi ḷng
vui sống ấm no. Trăng phương Nam sáng tỏa khắp bờ Cửu Long.
Nước chảy con thuyền xuôi gịng, vọng tiếng khoan ḥ làm ấm
ḷng…’’.
Trên đây là những lời quê mà tôi muốn ghi lại, để các vị cao
niên đă từng sống, từng chứng kiến những cảnh thanh b́nh nơi
cố lư, của một thời đă mất, và sẽ không bao giờ c̣n t́m gặp
lại, dù chỉ một lần nào nữa.!!!
Và đó, là ‘’Có công ơn lớn ở người đời’’, bởi Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm, Người đă tận hiến cả cuộc đời từ thuở c̣n trai
trẻ, cho đến giờ phút cuối cùng đă Vị Quốc Vong Thân.
Nhưng rồi những cảnh thanh b́nh ấy, đă bị bức tử khi cái gọi
là ‘’Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’’ ra đời. Mà ác hại thay,
những người công khai lănh đạo cái mặt trận này lại là những
‘’trí thức’’ đă được ăn cơm Quốc Gia nhưng lại thờ ma cộng
sản, và những ‘’nhà tu hành’’ của Phật Giáo Ấn Quang. Những
‘’nhà sư’’ đó sau ngày 30.4.1975, họ là ‘’Ḥa Thượng-
Thượng Tọa’’ đă được cộng sản Hà Nội trao gắn đầy những tấm
huân chương, huy chương, là những bằng chứng về những hành
vi và cũng là tội ác đă từng làm giặc, mà sư săi Ấn Quang
không có cách nào chạy chối cho được.
Chính những kẻ ‘’tu hành’’ bất nhân, thất đức như Thích Đôn
Hậu-Thích Trí Quang- Thích Đức Nhuận-Thích Huyền Quang-Thích
Quảng Độ v.v…và những tên đâm thuê, giết mướn như: Dương Văn
Minh-Nguyễn Khánh-Trần Thiện Khiêm-Đỗ Mậu-Nguyễn Chánh Thi
Trần Văn Đôn-Dương Hiếu Nghĩa v.v…chúng đă nhúng tay vào máu
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Chính những kẻ này, đă làm cho
Miền Nam Tự Do phải sụp đổ, khiến cho hàng triệu
Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Ḥa phải chịu cảnh đọa đày
trong các ‘’Trại tù cải tạo’’, với những cực h́nh dă man,
tàn bạo nhất, có người đă chết ở bên bờ kẽm gai oan nghiệt
của nhà tù. Và đă không biết bao nhiêu người đă chết nơi
rừng thiêng, nước độc ở các ‘’vùng kinh tế mới’’, và đau
thương nhất là những em bé gái đă chết dưới những bàn tay
của những tên hải tặc, đă làm mồi cho cá, cho thú rừng, hay
đă vùi thây trên ngàn dưới biển trên đường chạy trốn ngục tù
cộng sản?!!!
Ngoài những thảm cảnh đó. Chính những kẻ này đă đẩy lớp trẻ
vào bước đường cùng, thương luân, bại lư!!!
Riêng Đỗ Mậu, vốn là một tên gian manh, phản phúc, nên chẳng
những đă nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mà
sau đó, hắn c̣n bắt giam rất nhiều vị, chỉ v́ không ủng hộ
đảo chính, trong đó có Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ. Song cũng chưa
thỏa măn, mà cho đến măi sau này, khi đă chạy sang nước Mỹ,
Đỗ Mậu cũng đă gian manh khi đă vẽ vời ra những câu chuyện
láo khoét, rồi hắn đă nhờ đến mấy tên tay sai của việt cộng,
đă viết cho hắn cái cuốn: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi mà
nội dung, th́ ngoài những lời kể của hắn, lại được mấy tên
lưu manh này dàn dựng thêm vô số những chuyện trên trời,
dưới đất, mục đích để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và cả
ḍng họ Ngô Đ́nh, và tên khố xanh Đỗ Mậu, hắn cũng đă về
Việt Nam để công khai tái bản cuốn ‘’Việt Nam Máu Lửa Quê
Hương Tôi’’ và hắn đă chết sau những tháng ngày ngồi trên
chiếc xe lăn tại ‘’quê hương’’ của hắn. Nhưng có một điều là
bọn này không biết rằng: Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ
Nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, một tờ báo sống
thọ nhất, kể từ lúc mới ra đời từ năm 1956, ông đă t́m hiểu,
và đă biết được những tên đă núp ở phía trong cái quần của
tên lính khố xanh Đỗ Mậu, để hoàn thành cái cuốn sách rác
rưởi đó. Do đó, mà ông Nguyễn Thanh Hoàng đă cho mấy tên này
ra ŕa khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong.
Song nói đến Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mà không nói đến Ông
Ngô Đ́nh Luyện là một điều vô cùng thiếu sót, bởi ông Ngô
Đ́nh Luyện cũng là một người đă hết ḷng phụng sự cho Quốc
Gia và Dân Tộc. Song cả một đời của ông Ngô Đ́nh Luyện cũng
không hề được hưởng sự giàu sang phú quư, như những lời của
những kẻ bất lương xuyên tạc. Vậy, một lần nữa, tôi xin
trích một đoạn ngắn những lời kể của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ
trong thời gian gặp gỡ ông Ngô Đ́nh Luyện tại Mỹ như sau:
‘’Trên máy bay, khi từ toilets ra, dây lưng bị đứt, khiến
quần ông muốn tụt ra, v́ ông mặc đồ cũ từ ngày xưa, nay ông
ốm hơn nhiều. Tôi phải tháo dây lưng của tôi cho ông dùng.
Tôi cảm thấy thương ông, v́ ông nói rằng cả chục năm nay,
ông chưa mua quần áo mới và thay dây lưng.
Ông nắm tay tôi và chảy nước mắt, làm tôi cảm động.
Khi về Pháp, ông viết cho tôi một lá thư khá dài để cám ơn,
nhắc lại cái dây lưng, và nói sẽ giữ suốt đời để làm kỷ
niệm’’.
Ôi! Suốt cả cuộc đời của các Huynh-Đệ của Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă sống trong thanh khiết, chỉ biết đặt Tổ Quốc và
Dân Tộc lên trên hết.
C̣n ǵ đáng kính phục, đáng thương hơn, đau ḷng hơn, khi
một vị Tổng Thống sau khi bị bọn đâm thuê, chém mướn giết
chết, khi lục lọi cả tử thi của Người mà chỉ t́m được vỏn
vẹn chỉ nữa gói thuốc Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt c̣n
vương đọng những giọt máu thiêng của vị Anh Hùng của Dân
Tộc: Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm!!!
Ôi! Không có một ngôn từ nào của nhân loại để có thể diễn
đạt cho vừa những trang sử đầy đau thương và đẫm máu
này???!!!
Riêng tôi, khi viết lên những ḍng này, tôi đă phải bao lần
bị đứt quăng, v́ không cầm được nước mắt, và mỗi lần như
thế, những ḍng nước mắt của tôi đă rơi xuống trên chiếc bàn
phím này. Đây không phải là lần đầu tiên, mà mỗi lần nh́n
tấm h́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là nước mắt của tôi
lại cứ ứa ra, những giọt nước mắt của một con dân Việt đă
khóc cho Người, khóc cho một Nước Việt Nam Cộng Ḥa đă
bị sụp đổ, song không phải sụp đổ vào ngày 30.4.1975, mà nó
thực sự bắt đầu sụp đổ vào ngày 1.11.1963. Nhưng có
một điều mà trước đây, ít ai nghĩ đến, là ngày đó Tổng Tổng
Ngô Đ́nh Diệm đă bị giết chết. Nhưng, Vị Tổng Thống đă Hồi
Sinh ngay sau đó, và đă trở thành Bậc Anh Hùng Bất Tử.
Nhân-Quả
Viết đến đây, tôi muốn nói đến những kẻ đă từng tham dự vào
vũng máu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng nhị vị bào đệ.
Những kẻ đó, có người đă chết. Nhưng trước khi chết, họ đă
sống trong những tháng ngày đau khổ từ thân xác đến tinh
thần, bởi bị chính lương tâm của họ kết tội. Có kẻ hàng ngày
đau đớn ngồi trên chiếc xe lăn. Cũng có người đă bị chính vợ
và con của họ đày đọa. Có kẻ trước khi chết đă bị chính con
trai ruột của ḿnh đă đuổi ra khỏi nhà giữa đêm đông giá
buốt của Trời Âu. Và đó, là cái ‘’Quả’’ mà họ đă phải gặt từ
cái ‘’Nhân’’ mà họ đă từng gieo trước đó. Riêng những kẻ đă
từng núp trong cái khố xanh của Đỗ Mậu hiện vẫn c̣n sống,
nhưng tôi tin rồi sẽ có một ngày chúng cũng sẽ ngồi trên
chiếc xe lăn trước khi gục chết như tên Đỗ Mậu.
Ngoài ra, một số tên vẫn c̣n sống trong những thứ hư danh,
những kẻ đó, có lẽ nào trong suốt bao nhiêu năm qua, mà
không một lần nữa đêm tỉnh giấc, v́ h́nh ảnh của Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm, cùng nhị vị bào đệ là ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu
và ông Ngô Đ́nh Cẩn, với thân xác nhuộm đầy máu. Hoặc h́nh
ảnh của một vị Tổng Thống với ánh mắt nhân từ, đă từng thân
ái cài lên ngực áo của họ những chiếc lon từ cấp Úy, Tá,
Tướng, để từ đó họ bước lên đài danh vọng. Và để rồi sau đó,
họ đă lấy oán trả ân, bằng dă tâm thua cả loài lang sói.
Chúng đă giết chết chính người đă thi ân cho chúng, chúng đă
mất cả lương tri, thua cả một con chó, v́ loài chó dù cho có
đói đến đâu, nó cũng đành chịu chết, chứ chúng không bao giờ
ăn thịt của đồng loại (chó). Chúng cũng không bao giờ cắn
chủ, kể cả người đă cho nó ăn, dù chỉ một lần.
Đến đây, tôi muốn nói tới Tướng Nguyễn Khánh. Bởi ông ta
cũng là một kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất lương, Nguyễn Khánh
đă vô cùng tàn ác, khi xuống tay giết chết một người vô tội
là ông Ngô Đ́nh Cẩn là bào đệ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Nên biết, những người dân chân thực tại miền Trung, họ đều
biết về ông Ngô Đ́nh Cẩn là một người Đại Hiếu-Tận Trung và
Nhân Từ, không như những kẻ đâm thuê, giết mướn với ḷng dạ
bạc ác, bất nhân đă cố t́nh tuyên truyền, xuyên tạc với
những chuyện động Trời như: ‘’Ông Cẩn giết các nhà sư rồi
chôn dưới gốc cây cam, mỗi gốc cây cam trong vườn của ông
Cẩn là một xác nhà sư’’. Và cũng nên biết, trước khi ông
Ngô Đ́nh Cẩn bị xử bắn, th́ một ‘’Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia
Đ́nh Nhà Ngô’’ đă được thành lập, và ủy ban này đă đến tận
nơi, đă đào tận gốc rễ của từng gốc cây cam. Lúc ấy, mọi
chuyện đều đă sáng tỏ, là không hề có một xác người hay vật
ǵ dưới những gốc cây cam.
Sau đó, mặc dù ‘’Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đ́nh Nhà Ngô’’
đă lập biên bản với nhiều chữ kư của các vị trong ‘’Ủy Ban’’
này, và đem tŕnh lên các cơ quan hữu trách. Nhưng Tướng
Nguyễn Khánh đă không thèm ngó tới, không cần đến sự thật,
mà đă cương quyết phải giết chết ông Ngô Đ́nh Cẩn cho bằng
được. Nguyễn Khánh thật vô cùng tàn ác, khi xuống tay để
giết chết ông Ngô Đ́nh Cẩn trong lúc ông đang bệnh nặng, nằm
liệt giường tại khám Chí Ḥa, v́ thương Mẹ già, v́ đau xót
về cái chết thảm của nhị vị bào huynh. Nguyễn Khánh nên nhớ,
khi ông ta giết ông Ngô Đ́nh Cẩn, là ông đă giết cùng lúc
thêm hai mạng người nữa, v́ ngay sau đó, Cụ Bà Thân Mẫu của
ba vị đă v́ quá đau đớn, nên cũng đă chết theo ba người con.
Ôi! ai đă từng ‘’Tre già khóc măng’’ th́ mới thấu được nổi
đau đớn của Mẫu Thân của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm!!!
Và cũng trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, ông đă viết
về ông Ngô Đ́nh Cẩn nơi trang số 118-119, như sau:
‘’Ông Khánh lănh đạo Quốc Gia, mà hành động như một thằng
hề, trái hẳn với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ông Khánh rất sợ
báo chí, sinh viên, nhất là các Thượng Tọa, như sợ cha đẻ
vậy. Tôi bất b́nh nhất là ngày ông ‘’chỉnh lư’’ ông chê
‘’ông Minh đă giết anh em ông Diệm một cách dă man’’ rồi ông
kể lể làm như thương và phục Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lắm,
để lấy ḷng anh em chế độ cũ. Nhưng khi ra Huế gặp Thượng
Tọa Trí Quang là sợ ngay, là kư giấy hành quyết ông Cẩn là
người độc nhất c̣n ở Việt Nam. Vả lại ông Cẩn đang bệnh tật
nặng ở khám Chí Ḥa, và chả có tội ǵ rơ ràng để bị xử bắn.
Sau này anh Tuyên là em của Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, là
cháu của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kể với tôi rằng: Ông Khánh
cho người liên lạc với gia đ́nh đ̣i một số tiền để giữ mạng
sống cho ông Cẩn, số tiền là tám mươi triệu. Nếu đủ sức th́
cả ḍng họ sẽ đóng góp để lo, nhưng nhiều quá th́ chạy đâu
ra. Anh Tuyên hiện đang ở Hoa Kỳ. tôi thấy ‘’gian hùng như
Tào Tháo’’ mà mọi người vẫn gán cho ông là quá đúng’’.
Thực ra, ngoài chuyện Nguyễn Khánh đă đ̣i tiền chuộc mạng,
ông Ngô Đ́nh Cẩn cũng đă chết v́ đặt ḷng tin vào những tên
Thầy Chùa của Phật Giáo Ấn Quang như: Thích Trí Quang-Thích
Đôn Hậu v.v…Nên biết, vào thời đó, ông Ngô Đ́nh Cẩn đă nuôi
các sư săi Ấn Quang trong nhiều chùa tại miền Trung, đặc
biệt là các Chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, Từ Hiếu v.v…tại Huế,
chính ông Ngô Đ́nh Cẩn đă từng lo hết sức chu đáo cho mấy
Chùa này từ gạo, tương v.v…và cung cấp cả tiền bạc, phương
tiện di chuyển, Ông đă xem Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu
là thượng khách. Nhưng rồi ông Ngô Đ́nh Cẩn đă chết về tay
của chính Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu. Và Tướng Khánh
đă giết ông Ngô Đ́nh Cẩn, c̣n v́ lời giao ước với Thích Trí
Quang và Thích Đôn Hậu.
Nhưng Nguyễn Khánh c̣n một hành vi tàn ác nữa, là đă xử bắn
ông Phan Quang Đông, là người chịu trách nhiệm lo cho những
vị mà do ông Ngô Đ́nh Nhu và Ông Ngô Đ́nh Cẩn đă đưa họ trở
về miền Bắc ngay khi họ vừa vào Nam, hoặc sau đó. Nên nhớ,
khi giết chết ông Phan Quang Đông là Nguyễn Khánh đă chặt
tay, chặt chân, cắt đứt con đường về của các chiến sĩ đă
được đưa ra miền Bắc để sống trong ḷng địch. Và bởi không
có đường về, nên họ đă phải tự t́m cách để sống c̣n trong
mỏi ṃn chờ đợi, cho đến ngày 30.4.1975, th́ họ đă hoàn toàn
tuyệt vọng. V́ thế, nên có người đă phải chết trong uất hận
khôn nguôi!!!
Song rồi cuối cùng Nguyễn Khánh cũng đă biết, đă thấy rơ là
Phật Giáo Ấn Quang không bao giờ giữ lời giao ước với bất cứ
một ai, kể cả tôn giáo, đảng phái hay người của một cường
quốc.
Bởi, Ấn Quang chỉ lợi dụng tất cả những ‘’chính khách’’ hoặc
cá nhân cũng như đoàn thể, kể cả ngoại nhân. Đồng thời cũng
lợi dụng ḷng yêu nước của người dân Việt, để tóm thâu ‘’Sơn
Hà Xă Tắc’’ vào trong ḷng bàn tay độc nhất, và chỉ riêng là
của Ấn Quang mà thôi.
Với cuồng vọng ấy, Ấn Quang đă, đang và sẽ không từ bất cứ
một thủ đoạn nào, kể cả giết hại người thân yêu, cốt nhục.
V́ Phật Giáo Ấn Quang đă học tập, đă thấm nhuần và đă quyết
tâm lấy ‘’Cứu cánh để biện minh cho phương tiện’’.
Nhưng, như lời Đức Phật đă dạy về luật ‘’Nhân-Quả’’. V́ thế,
tất cả những kẻ đă gieo những ‘’Nhân’’ nào, th́ tất nhiên
phải có một ngày sẽ phải gặt lấy cái kết ‘’Quả’’ ấy.
Riêng về việc ‘’Vinh Danh’’, Tổ chức Lễ giỗ, tạc tượng, lập
đền thờ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, th́ bất cứ ai muốn núp
dưới ánh hào quang của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, th́ muốn
nói, muốn viết và muốn làm ǵ cũng được, v́ chẳng có ai cấm.
Nhưng, tất cả phải nên nhớ cho rằng: Những lời nói, những
bài viết mà những kẻ đó đă viết ra bằng giấy trắng mực đen,
tất cả vẫn c̣n lưu giữ trên sách, báo, trên mạng lưới toàn
cầu, chúng sẽ không bao giờ bôi xóa cho hết được. Đừng có mơ
rằng sẽ lừa bịp được thiên hạ.
Và nhân đây, tôi muốn nói với những kẻ ấy rằng: Tại sao ông
Ngô Đ́nh Quỳnh, thứ nam của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, năm nay
đă gần sáu mươi tuổi, mà vẫn sống độc thân, không lấy vợ,
ông có học vị Tiến Sĩ Kinh Tế, đang làm đại diện cho nhiều
công ty của nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, ông không không
thiếu tiền bạc, song ông không bỏ tiền ra để xây mộ cho Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ông Ngô
Đ́nh Cẩn, mà tất cả tiền lương của ông, ông chỉ dành chút
đỉnh để sống, c̣n tất cả Ông đă đem dâng hiến cho các cơ sở
từ thiện???
Nên biết, ba ngôi mộ của ba vị tại Lái Thiêu, Việt Nam, chỉ
khắc mỗi ngôi mộ với chữ ‘’Huynh’’ và ‘’Đệ’’, là không phải
do các con, các cháu của ba vị, hay của các vị trong ḍng họ
Ngô Đ́nh đă bỏ công, bỏ của ra để xây ba ngôi mộ đó.
Ôi! ba ngôi mộ không khắc ghi tên tuổi, chỉ vỏn vẹn có chữ
‘’Huynh’’ và ‘’Đệ’’, song hiện nay, tại Việt Nam, cứ mỗi
ngày sự linh thiêng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm càng vang
vọng, và mỗi ngày càng tăng thêm con số của những người dân
từ khắp nơi đă đổ về Lái Thiêu, để t́m đến ba ngôi mộ, để
cầu xin những điều mà chính con người và khoa học không thể
làm nổi, nhưng chỉ cần đến thắp một nén hương cắm lên ba
ngôi mộ, với những lời cầu xin chân thành, th́ Anh Hồn của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm sẽ cho họ được toại nguyện.
Mọi người cũng cần phải biết rằng: Việc tạc tượng hay lập
đền thờ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không phải là chuyện
của một tổ chức hay của một nhóm người. Mà việc đó phải do
một chính phủ, một chính phủ phải do mọi người dân bầu ra,
rồi chính phủ ấy bắt buộc phải trả lại công đạo cho Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng nhị vị Bào đệ là ông Cố Vấn Ngô
Đ́nh Nhu và Ông Ngô Đ́nh Cẩn, và sẽ được quyết định bởi Quốc
Hội của một Thể Chế.
Và sau khi đă được sự đồng thuận, Quốc Hội sẽ công bố một
định luật, th́ ngay trên đất nước Việt Nam sẽ có những Đại
Lộ Ngô Đ́nh Diệm, Đại Lộ Ngô Đ́nh Nhu, Đại lộ Ngô Đ́nh Cẩn,
đồng thời sẽ có những Đền Thờ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng
nhị vị Bào đệ, và một trang sử mới cũng sẽ được khắc ghi
thêm tên tuổi của ba vị anh hùng đă cương quyết để bảo vệ
Tổng Thống, mà chính bọn Hội Đồng Gian Nhân Phản Loạn đă
biết chắc chắn, là phải bước qua xác chết của cả ba người
th́ mới giết được vị Tổng Thống. Chính v́ thế, mà bọn chúng
đă giết cả ba vị, đó là: Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Lê
Quang Tung cùng người em ruột là Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Và
rồi những Bảo Tàng Thư và những con đường sẽ được mang tên
của nhiều vị Anh Hùng của Dân Tộc đă Vị Quốc Vong Thân.
Những kẻ bán buôn chính trị hăy nhớ cho thật kỹ những điều
đó.
Tạm thay lời kết:
Như Nhân loại đă từng chứng kiến, kể từ thời Sáng Thế, từ
Đông sang Tây. Lịch sử đă chứng minh, hễ cái ǵ nó đă trở
thành chân lư, th́ con người có dùng mọi thủ đoạn gian manh
đến đâu, cũng không bao giờ thay đổi chân lư đó cho được.
Bởi vậy, mà cho dù bao nhiêu năm qua, đă có rất nhiều kẻ
manh tâm đă từng dùng những ngụy bút, ngụy sách, ngụy báo,
để cố t́nh bịa đặt, xuyên tạc, để bôi nhọ, mục đích là để hạ
thấp uy danh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, để mong làm tróc
thủy phần nào của một tấm gương, nhưng dù cho đến ngày tận
thế, th́ bọn chúng cũng đừng ḥng được toại ư, v́ tấm gương
ấy quá toàn bích.
Chính v́ thế, mà tôi đoan chắc rằng: Không phải riêng đối
với những tên gian manh kia, mà cả trên quả địa cầu này,
cũng không một ai có thể làm nổi chuyện đó, bởi lịch sử vốn
công bằng, bởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm Người đă có Công
Nghiệp Vĩ Đại là đă khai sinh ra nước Việt Nam Cộng Ḥa. Đă
một thời xây dựng được một Miền Nam Tự Do Thanh B́nh thực
sự. Và với Tài-Đức, Liêm-Khiết, Nhân-Từ: Người đă tận hiến
cả đời ḿnh cho Quốc Gia và Dân Tộc, với chân lư đó, th́:
Đời Đời h́nh ảnh của Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm: Bậc Anh Hùng đă
Vị quốc Vong Thân vấn măi măi uy-nghi, ngời sáng và Bất-Tử
trong tâm trí của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân
chính.
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.
NGÔ Đ̀NH NHU (1910-1963)
MỘT NHÀ CHIẾN LƯỢC CÓ TẦM CỠ
Tác giả: Ḥa Giang Đỗ Hữu Nghiêm
Sinh viên Ngô Đ́nh Nhu làm tiểu luận kết thúc khóa học với
nhan đề là: ‘’Les Moeurs Et Les Coutumes Des Annamites Du
Tonkin Au Xviie Siècle (2). (Phong Tục Tập Quán Của Người An
Nam ở Bắc Kỳ vào thế kỷ XVII).
Trong danh sách các thí sinh tốt nghiệp năm 1938, sinh viên
Nhu được xếp cuối cùng ba trong số mười ba sinh viên tŕnh
luận văn tốt nghiệp, nhưng không theo thứ tự ABC(3).
CHÂN DUNG ÔNG NGÔ Đ̀NH NHU
I. Thân Thế Ngô Đ́nh Nhu
Thời Thơ Ấu Và Thanh Niên, 1910-1955
Ông Ngô Đ́nh Nhu (1910- 1963), sinh ngày 3 tháng 10 năm 1910
(có tài liệu ghi 1911 ở Huế) tại Làng Đại Phong, Huyện Lệ
Thủy Tỉnh Quảng Binh, lúc nhỏ đi tu tại Tiểu Chủng viện An
Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị được một thời gian th́ hồi tục.
Khác với nhiều người trong gia đ́nh theo ngành học có xu
hướng cựu học, cậu Nhu cùng với cậu Luyện, được gia đ́nh cho
đi du học Pháp theo Tây học khoảng đầu thập niên 1930.
Trong những năm 1935-1938, các thanh niên sinh viên Trần Văn
Chương, Trần Đức Thảo, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường
đang theo học bên Trường Luật và Văn Khoa tại Viện Đại Học
Sorbonne, Paris, th́ sinh viên Ngô Đ́nh Nhu theo học Trường
Quốc Gia Cổ Điến Học (Ecole Nationale des Chartes) (1)
Điều kiện nhập học là ứng sinh phải có Văn Bằng Tú Tài Toàn
Phần theo chương tŕnh Pháp. Mỗi khóa học kéo dài trong 4
năm, khi đó thường chỉ nhận 20 tuyển sinh. Trong các sinh
viên Việt Nam, chỉ một ḿnh cậu Ngô Đ́nh Nhu trúng tuyển.
Sau Nhu, có sinh viên Nguyễn Thiệu Lâu, nhưng Lâu chỉ học
được một năm, th́ phải bỏ dở v́ lư do sức khỏe tâm lư. Anh
Ngô Đ́nh Nhu có trí khôn thông minh sắc bén và thâm trầm, ít
nói và thường ch́m đắm trong suy tư, có xu hướng tích cực
tham gia đời sống trí thức xă hội.
Sinh viên Ngô Đ́nh Nhu làm tiểu luận kết thúc khóa học với
nhan đề là: ‘’Les Moeurs Et Les Coutumes Des Annamites Du
Tonkin Au Xviie Siècle (2). (Phong Tục Tập Quán Của Người An
Nam ở Bắc Kỳ vào thế kỷ XVII)
Trong danh sách các thí sinh tốt nghiệp năm 1938, sinh viên
Nhu được xếp cuối cùng ba trong số mười ba sinh viên tŕnh
luận văn tốt nghiệp, nhưng không theo thứ tự ABC(3).
Nhưng trong một bài viết của Nguyễn Lư Tưởng không biết dựa
vào nguồn tư liệu nào, tác giả đă ghi Ngô Đ́nh Nhu làm đề
tài có tên khác(4)
Anh Nhu tốt nghiệp Khoa Cổ Điển Học năm 1938 [có học giả ghi
là những năm 1930]. Văn bằng tốt nghiệp này tương đương Văn
Bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp.
Lập Gia Đ́nh Với Cô Trần Lệ Xuân
1. Tân khoa Ngô Đ́nh Nhu về nước được bổ trước hết làm Quản
Thủ Văn khố Ṭa Khâm Sứ Huế (1943) sau ra Hà Nội làm việc
tại Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ và Tổng Văn Khố Quốc
Gia (1945, thời Thủ Tướng Trần Trọng Kim), tức Giám Đốc Quản
Thủ Thư Viện Trung Ương Đông Dương tại Hà Nội. Vào thời gian
ấy, anh thanh niên Ngô Đ́nh Nhu năng tham gia tích cực những
lớp huấn luyện Thanh Niên Công Giáo về xă hội. Đúng như hồi
ức hiếm có của một chứng nhân tuổi nhỏ khi đó ở Hà Nội:
‘’…Nhớ lại, khi ấy, tôi c̣n rất trẻ. Tôi đă đôi lần theo
anh cả tôi ‘’đi học’’ một người là ông Ngô Đ́nh Nhu. Không
biết bằng cách nào, do ai nói mà tôi vẫn nhớ đinh ninh đó là
những lớp học về xă hội. Sau này, đọc sách vở th́ tôi hiểu
đó là những khóa huấn luyện cho thanh niên hồi đó.
Đầu óc làm chính trị, nh́n xa nên nhóm ông Nhu đă mở ra các
lớp huấn luyện này để chuẩn bị khi thời cơ đến. Thành phần
những người theo học, căn cứ vào anh cả tôi th́ họ phải có
tŕnh độ tương đương tú tài hoặc hơn thế nữa. Chắc phần lớn
là người theo đạo Thiên Chúa Giáo. Các buổi học đều diễn ra
vào buổi chiều thứ năm, tại 40 Phố Nhà Chung Hà Nội.
Tại sao tôi lại nhớ là chiều Thứ Năm? Bởi v́ tôi theo học
tại Trường Ḍng Chúa Cứu Thế nên ngày Thứ Năm là ngày
‘’sortie’’, chúng tôi được nghỉ đi chơi hoặc về thăm gia
đ́nh. Tôi về thăm chỗ anh tôi nên bắt buộc phải đi theo anh
tôi ‘’theo học’’ lớp Xă hội. Có lẽ, tôi là học viên trẻ tuổi
nhất ngồi hàng ghế cuối. Pḥng học chỉ có một cửa lớn ra vào
nên mọi người phải đi qua cửa này để vào pḥng học.
Trong những dịp này, tôi được nh́n thấy ông Ngô Đ́nh Nhu.
Dưới mắt một đứa bé con th́ anh tôi là người tài giỏi hơn
người…’’
‘’…Vậy mà ông này, cái ông dáng người cao gầy, da nám xám,
mái tóc rậm đen lại c̣n là thầy dạy anh tôi. Ông phải giỏi
biết chừng nào. Nh́n ông mà trong ḷng chỉ biết nể phục.
Ông Nhu luôn luôn mặc loại áo bốn túi bỏ ra ngoài. Áo bốn
túi mầu nâu hồng nhạt. Ăn mặc khá dản dị. Cười nhếch mép và
nhẹ nhàng khi đi qua những người đứng trước cửa. Ít nói và
điềm đạm.
Mặc dù chỉ là kư ức của một đứa trẻ con, tôi nghĩ rằng nay
nhắc lại có thể giúp thêm sử liệu về những hoạt động của ông
Nhu khi c̣n ở Hà Nội. Việc ông lấy bà Nhu cũng đă gây một dư
luận khá ồn ào lúc bấy giờ ở Hà Nội. V́ một lẽ dản dị là cả
hai ông bà đều thuộc những gia đ́nh danh gia vọng tộc’’ (5)
2. Sau biến cố chính trị tháng 8.1945, Ngô Đ́nh Nhu tiếp tục
làm ở Văn Khố theo bổ nhiệm của Bộ Trưởng Vơ nguyên Giáp
(6). E. Miller có nói ‘’dường như’’ Ngô Đ́nh Nhu vẫn giữ
công việc của ḿnh tại Thư Viện Quốc Gia trong suốt quăng
thời gian Hà Nội nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh theo
các điều hiểu biết của tác giả bài viết ‘’Lịch sử đầy đủ về
gia đ́nh Cụ Ngô Đ́nh Diệm’’, trong báo Sài G̣n Mới, ngày 23
tháng 6 năm 1954. Nhưng với các chứng liệu người viết đă thu
thập, th́ việc ông Nhu ở lại Hà Nội làm việc sau biến cố Mùa
Thu 1945 là chắc chắn. Điều này chứng tỏ tinh thần ái quốc
và dân tộc tích cực của Ngô Đ́nh Nhu rất cao trong luồng
diễn biến chung các sự kiện lịch sử của cả nước lúc đó (7)
Sau hai thanh niên sinh viên Nhu và Lâu, th́ măi đến năm
1966, mới có một nữ sinh viên Việt Nam tốt nghiệp khoa này
là cô Đặng Phương Nghi (8). Cô Nghi sau về nước làm Giám Đốc
Thư Viện Trung Ương Việt Nam Cộng Ḥa I ở Sài G̣n.
Chính thời gian học ở Paris, Pháp, hai gia đ́nh và hai thanh
niên Ngô Đ́nh Nhu và Trần Văn Chương đă có cơ hội quen biết
nhau.
Khi làm Quản Thủ Thư Viện Trung Ương tại Hà Nội, Ngô Đ́nh
Nhu hơn cô nữ sinh Trần Lệ Xuân 15 tuổi. Năm 1943, Xuân đậu
Tú Tài I Pháp, dự định thi xong Tú Tài 2 sẽ học ngành Luật
theo gương cha. Nhưng do mối quan hệ từ lâu giữa hai gia
đ́nh Trần-Ngô, nên hai danh tộc sớm chuẩn bị gả con cho nhau
và ưng thuận trở thành Thông Gia
3. Từ lúc c̣n ở trung học, một người tên là Hoàng Việt có
một thời được giới thiệu làm gia sư, phụ giáo cho Trần Lệ
Xuân khi cô mới được 17 tuổi, để học ăn học nói xơi tiếng
Việt và cách cư xử khi ra trường đời theo thói quen của
nhiều danh gia vọng tộc quyền quư thời đó. Sự chênh lệch về
tuổi tác ngay lúc đó ở Hà Nội giữa hai người gây nhiều dư
luận xôn xao, nhất là sau chính biến 1.11.1963, trong tương
lai.
Để có thể tiến hành việc hôn nhân, theo tinh thần Công Giáo,
cô Trần Lệ Xuân ưng thuận từ bỏ Phật Giáo, chấp nhận đức tin
mới, tự nguyện xin gia nhập Công Giáo và chịu phép Thánh Tẩy
theo nghi thức Công Giáo ở Nhà Thờ Lớn Hà Nội, do chính Giám
Mục Ngô Đ́nh Thục chủ lễ với nhiều quan chức đạo đời tham
dự. Khi đó là năm 1943.
Chỉ khoảng gần nửa tháng sau là cô Xuân rửa tội, hai họ
Ngô-Trần tổ chức ngay Hôn Lễ. Thánh Lễ Hôn Phối được tổ chức
trọng thể tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội vẫn do Giám Mục Ngô Đ́nh
Thục làm chủ tế, có Giám Mục F. Chaize Thịnh, quản nhiệm Địa
Phận Hà Nội, cùng tham dự, với đông đảo Linh Mục, nam nữ Tu
sĩ và giáo dân Pháp, Nam và nhiều quí khách, thân hữu ngoài
đời thường của hai họ Ngô, Trần (9).
Về phía họ nhà gái, nhiều thân chủ sang trọng của gia đ́nh
Luật Sư Trần Văn Chương, có nhiều nhân vật quốc tế trong
giới ngoại kiều như Pháp, Nhật, Hoa, các quan lại Nam
triều. Đám cưới diễn ra trong khi người Nhật vẫn c̣n đang
chiếm đóng Đông Dương, đang tranh chấp gay go với phe đồng
minh, tuy thế thắng đang nghiêng dần ngày càng rơ rệt về
phía Mỹ ở chiến trường Á Đông Thái B́nh Dương.
Chiến trường Việt Nam đang chịu nhiều áp lực của Quân Đội
Đồng Minh, mà chủ yếu là những cuộc không tạc chiến lược của
Quân Đội Hoa Kỳ trên khăp các vùng có quân Nhật chiếm đóng.
Dù t́nh h́nh căng thẳng như thế, vẫn có đến mấy chục xe hơi
của quư khách và thân nhân tham dự đậu dài bên đường
Gambetta Hà Nội, nơi cư ngụ của gia đ́nh họ Trần cùng với
văn pḥng làm việc của Luật Sư Trần Văn Chương.
Đến tham dự thánh lễ hôn phối, người ta thấy cô dâu Trần Lệ
Xuân đẹp đẽ, duyên dáng, e ấp trong bộ đồ cưới trắng toát,
có dát kim tuyến óng ánh vương giả, theo sau có hai cháu bé
tay nâng đuôi áo cưới, tay cầm cành thiên tuế. Sau Thánh lễ
hôn phối theo nghi thức Công Giáo, cô dâu vào bên trong nhà
mặc áo, thay bộ quốc phục quần trắng áo dài gấm đỏ tha
thướt, thêu vàng, đầu đội khăn màu thiên thanh, quấn nhiễu
vàng gần giống lễ phục vương giả của Bà Nam Phương trong
ngày lễ thành hôn với Vua Bảo Đại. Pháo hồng tươi nổ ḍn dă
kéo dài khét lẹt trước dăy phố có ṭa biệt thự của gia đ́nh
Luật Sư Trần Văn Chương. Xác pháo bây giờ trải đầy xác pháo
hồng trên đường, ngập đến hết bàn chân của nhiều khách bộ
hành đi qua lại trên mặt phố.
Đám rước dâu bên nhà trai đi đón dâu với tốp hai trẻ, tốp
thứ nhất cầm hai đèn lồng đi trước, theo sau là tốp hai trẻ
khác cầm hai nhành thiên tuế, nối tiếp với một đám tùy tùng
đông đảo các trẻ em ôm hai con ngỗng trắng, câu án có bốn
lọng đỏ, cau lồng, rượu ché, heo đóng cũi, ḅ đeo bông…kiểu
truyền thống vọng tộc đất Thần Kinh xứ Huế. Cô dâu được rước
về quê nhà họ Ngô ở Phú Cam, Huế theo lễ nghi trang trọng.
Dấn Thân Vào Hoạt Động Xă Hội, Chính Trị
Đôi trai tài gái sắc thành hôn chỉ được khoảng hai năm sau,
th́ hàng loạt chính biến tháng 8 và 9 năm 1945 lần lượt diễn
ra trên cả nước từ Bắc Trung Nam. Kỷ niệm đau ḷng đối với
những người kháng chiến quốc gia khi ấy là lực lượng Việt
Minh đă lợi dụng t́nh thế truy lùng và sát hại rất nhiều
nhân vật và cơ sở của các đảng viên và chính đảng không có
xu hướng cộng sản, dường như muốn giành lấy hết công lao và
vinh dự của một ḿnh phong trào Việt Minh lănh đạo kháng
chiến giành độc lập cho dân tộc.
V́ thế, lúc đó khi được tin người anh là ông Ngô Đ́nh Diệm
bị Việt Minh bắt giữ, Ngô Đ́nh Nhu đang làm việc tại Thư
Viện Đông Dương, và đang tham gia vào kế hoạch cải tổ cho
nền giáo dục toàn quốc. Theo một nguồn tin có chứng liệu
(11), ông Nhu là 1 trong 14 thành viên trong Ban Cải Cách
Giáo Dục, phụ trách Chương Tŕnh Trung Học, do Bộ Trưởng
Giáo Dục Hoàng Xuân Hăn lănh đạo. Nhà sử học cần mẫn của Mỹ
đă nghiên cứu tỉ mỉ vào những hoạt động của Ngô Đ́nh Nhu có
nhận xét ông này có cá tính riêng biệt. (12) Nhưng chắc các
biến cố, có thể nguy hiểm cho bản thân và gia đ́nh, cùng mưu
tính hoạt động chính trị ái quốc không theo kiểu cộng sản,
đă khiến ông phải vội bỏ nhiệm sở, t́m đường chạy vào tá túc
ở Thanh Hóa, Phát Diệm, c̣n Bà Trần Lệ Xuân một ḿnh vội t́m
đường chạy thoát về Phú Cam. Có lẽ sau ngày 19.12.1946, ngày
toàn quốc kháng chiến chống Pháp do phong trào Việt Minh
phát động, th́ Ông Nhu mới chạy vào khu Tư ở vùng Thanh
Nghệ, có lần thám sát vùng biên giới Lào Việt ở khu vực đó.
Cuộc đời và sinh hoạt của gia đ́nh Ngô tộc không tách rời
với bối cảnh liên hệ chung của những thành phần khác (13).
Ông Nhu cùng với nhóm an hem đồng chí hướng âm thầm nhưng
tích cực chuẩn bị cho kế hoạch lên nắm quyền của ông Ngô
Đ́nh Diệm.
Biến Cố Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Huân và Phạm Quỳnh
(28.8.1945)
Trong lúc biến cố diễn ra, sau khi Nhật đầu hàng, Việt Minh
cướp chính quyền ở Hà Nội, có lẽ ông Ngô Đ́nh Khôi khuyên
vua Bảo Đại đừng trao chính quyền cho Việt Minh do Hồ Chí
Minh lănh đạo. Ông đă tương kế tựu kế sử dụng người Nhật một
cách khôn khéo cầm cự với phong trào Việt Minh... Có thể v́
lư do đó, ngày 28.08.1945, ông Ngô Đ́nh Khôi (14)
(1891?-1945) bị Việt Minh dẫn đi và thủ tiêu cùng với con
trai ông là Ngô Đ́nh Huân và Phạm Quỳnh (Thượng Thư Bộ Lại,
thời Bảo Đại).
Giới chức cộng sản Việt Nam sau khi cưỡng chiếm cả nước mới
tiết lộ và nh́n nhận sự thật phũ phàng này. Việc bắt giết đó
nhằm mục đích trả thù cá nhân dưới mỹ từ đẹp đẽ nhưng sắt
máu ‘’đấu tranh giai cấp’’, kiểu ‘’đấu tố địa chủ cường
hào’’. Cách hành động này không xét xử và tuyên án công
khai, được nhập khẩu và chỉ đạo từ Trung Quốc cộng sản diễn
ra trên khắp phần đất do cộng sản Việt Nam kiểm soát, nhất
là trong những năm 1950-1955.
Ông Ngô Đ́nh Khôi (1895 ?-1945):
Tốt nghiệp Trường Quốc Tử Giám ở Huế, năm 1910, bắt đầu làm
việc ở Bộ Binh dưới quyền Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài và cưới
cô Nguyễn Thị Giang, con gái Ông Nguyễn Hữu Bài làm vợ. Dần
dần Ông lên đến Tổng Đốc Nam-Ngăi (1930) rồi Tổng Kinh Lược
các Tỉnh miền Nam Trung Kỳ (1933). Năm 1943 ông hoạt động
công khai, ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để lúc đó đang tá túc ở
Nhật, nên ông phải từ bỏ các nhiệm vụ ở Nam triều do người
Pháp kiểm soát.
Ông Ngô Đ́nh Khôi cai quản trên đất Quảng Nam và ông Ngô
Đ́nh Huân làm Thanh Tra Lao Động. Tài liệu cộng sản sau này
có nói Ngô Đ́nh Huân làm Hiến Binh (?) cho quân đội Nhật với
dụng ư lên án cha con ông làm tay sai cho Nhật, nhưng thực
ra việc làm của họ đều gây khó khăn nhất định cho các hoạt
động khuấy đảo tàn bạo của cộng sản Việt Nam trên đất Quảng
Nam.
Hai cha con đều bị tay chân Việt Minh ở địa phương sát hại
ban đêm tại Hát Phú, cách Huế 20 cây số. Ngày 28 Tết năm
1958, gia đ́nh họ Ngô mới t́m thấy hài cốt cha con cùng chôn
một hố chôn chung với Thượng Thư Phạm Quỳnh. Tử thi của cả
ba người đều được thân nhân nhận diện và cải táng. Sau đó di
cốt của hai cha con ông Khôi được chôn lại trong nghĩa trang
gia đ́nh tại Phú Cam, Huế.
Nhóm Hoạt Động Xă Hội Cần Lao
1. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào cuối năm
1946, th́ người ta mới phát hiện ông Ngô Đ́nh Nhu thoát khỏi
Hà Nội. Trước khi đến Thanh Hóa, Ngô Đ́nh Nhu cùng với Hoàng
Bá Vinh và một số thân hữu ṇng cốt về Phát Diệm lập khu an
toàn. Chính thời gian này ông Nhu manh nha thành lập cùng
với nhiều người đồng chí hướng, tổ chức Liên Đoàn Kháng
Chiến Cần Lao Việt Nam.
Khi Việt Minh bị quân Việt-Pháp đánh bật khỏi Hà Nội, th́
ông Nhu trở lại Hà Nội, với một Linh Mục mà tài liệu cộng
sản Việt Nam gọi tên là Trọng, đem theo một cán bộ quốc gia
có bản lĩnh, nói là ở Điền Hộ, từ Hà Trung mới ra. Nhân vật
này, người nhỏ bé, xuất thân từ Chủng Viện Thanh Hóa, tính
t́nh thông minh điềm đạm. Theo Lương Khải Minh ghi lại, đó
là một thanh niên tự xưng là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, sau này
cầm đầu Ngành T́nh Báo một thời trong chế độ Ngô Đ́nh Diệm
(15).
Chính tại Thanh Hóa Phát Diệm, ông Nhu cùng một số nhân sĩ
trí thức đă chuẩn bị cơ cấu ban đầu nhân sự và tổ chức,
thành lập Đảng Cần Lao sau này làm ṇng cốt cho tổ chức
chính trị của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa từ 1954-1963. Nhưng
đồng chí ṇng cốt đầu tiên là: Luật Sư Lê Quang Luật, Hoàng
Bá Vinh, Trần Kim Tuyến, Đái Đức Tuấn, tức Mai Nguyệt,
Tchya, với tên gọi ban đầu là Nhóm Xă Hội Công Giáo
(1946-1954) là nhóm cột trụ sau này của Đảng Cần Lao Nhân
Vị.
Về tới Hà Nội, ông Nhu mới hay biết vợ ông vẫn sống b́nh an
và c̣n ở Huế. Nhưng sau đó ông lại được tin vợ ông đă về Đà
Lạt (16) với gia đ́nh người chị là Lệ Chi (1947-1951). Dần
dần ông Nhu bắt lại liên lạc với Giám Mục Ngô Đ́nh Thục ở
Vĩnh Long, và ông Ngô Đ́nh Luyện ở Sài G̣n. Sau chính biến
Tháng Tám 1945, ông Ngô Đ́nh Diệm bị cộng sản bắt giữ (như
đă nói trên), rồi giải giam tại Việt Bắc, nhưng với sự can
thiệp của Giám Mục Lê Hữu Từ, cùng v́ nhiều áp lực từ t́nh
h́nh chính trị phức tạp trong nước và quốc tế, Hồ chí Minh
phải trả tự do cho Ngô Đ́nh Diệm đầu năm 1946, như một chiến
lược tương kế tựu kế, thu phục nhân tâm nhân sĩ và quan lại
của cựu trào.
2. Ở Hà Nội, theo một số tài liệu, ông Ngô Đ́nh Diệm tá túc
tại Ḍng Chúa Cứu Thế ở khu Tu Viện Nhà Thờ Nam Đồng ở Thái
Hà Ấp.
Chính từ đây ông Ngô Đ́nh Diệm dần dần mở rộng liên lạc lại
được với các nơi. Thời kỳ này ông Ngô Đ́nh Diệm đă tiếp xúc
với Linh Mục Nguyễn Văn Thính. Từ Nhà Thờ Nam Đồng, mấy cán
bộ thân tín, như Nguyễn Văn Châu (sau này làm Đại Tá, Giám
Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư, Bộ Quốc Pḥng, Việt Nam Cộng
Ḥa), Đỗ Mậu (sau này làm Đại Tá An Ninh Quân Đội) sang Phúc
Xá liên lạc với Linh Mục Bằng. Khi Linh Mục Bằng bị bắt
giết, ông Ngô Đ́nh Diệm vào Sài G̣n tá túc tại nhà ông Ngô
Đ́nh Luyện (ở số 2, Đường Armand Rousseau (tức số 8 Đường
Nguyễn Văn Tráng sau này). Nơi này về sau chính là cơ sở
Trường Y Khoa thuộc Viện Đại Học Minh Đức
Khi nghe tin vợ đang ở Đà Lạt, ông Nhu liền t́m lên theo.
Trong cảnh nhiễu nhương bấp bênh, cặp vợ chồng trẻ sống chật
vật nhưng can đảm và hết t́nh trong cảnh thắt lưng buộc bụng
thiếu thốn đạm bạc. Bà Nhu lo cho chồng từng bao thuốc lá
Bastos Xanh, mà ông say mê và suốt ngày chỉ vùi đầu miệt mài
với sách vở. Có lúc bà phải đích thân ra chợ mua từng bó rau
lạng thịt về chung nhau ăn từng bữa. Có khi bà phải đem bán
cả ṿng xuyến vàng đeo cổ kỷ niệm ngày cưới đế có tiền sinh
sống qua ngày. Ông Nhu can trường chịu dựng với bộ quần áo
sơmi cụt tay và chiêc quần gabardine. Cảnh sống khem khổ ấy
chứng tỏ hai ông bà luôn luôn đằm thắm nhẫn nại trong tính
nghĩa vợ chồng, dù trong những phút khó khăn. Nhưng lư tưởng
xây dựng một xă hội Việt Nam nhân bản không rời xa những câu
chuyện bàn bạc của ông thật say sưa và nhiều mưu lược với
bạn bè. Có lúc dường như đam mê chính trị và lư tưởng xă hội
lấn át cả những t́nh cảm và bổn phận gia đ́nh. Đúng là tác
phong quên ḿnh của một người có dầu óc chiến lược và tầm
nh́n xa trông rộng. Từ khi lựa chọn sinh viên của École des
Chartes, cậu Nhu đă bộc lộ một trí thông minh sắc sảo, một
con người có óc tổ chức khiến nhiều người phát ghen, nhưng
lại nể phục!
Sau khi ông Ngô Đ́nh Diệm qua Mỹ (1950), ông Ngô Đ́nh Nhu về
Sài G̣n liên lạc với các tôn giáo, đảng phái, xuất bản
Nguyệt San Xă Hội, phổ biến tư tưởng chính trị của ông.
Tháng 09.1953, ông tham gia Phong Trào Đại Đoàn Kết và Ḥa
B́nh với tư cách đại diện Công Giáo. Phong Trào này họp tại
Sài G̣n ngày 6.09.1953 qui tụ các đại biểu Công Giáo, Cao
Đài, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên, Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng
và một số nhân sĩ, trí thức Trung, Nam, Bắc...tất cả 65 đại
biểu. (17)
Năm 1954, trước t́nh h́nh nghiêm trọng có thể xoay chuyển số
phận đất nước, sau khi căn cứ Điện Biên Phủ của Pháp bị thất
thủ (07.05.1954), Quốc Trưởng Bảo Đại đă cử Ông Ngô Đ́nh
Diệm làm Thủ Tướng (toàn quyền): Ngày 07.07.1954, Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm tŕnh diện Tân Chính Phủ tại Sài G̣n, Ông Ngô
Đ́nh Nhu làm Cố Vấn Chính Trị cho Ông Diệm, một chức vụ mà
không bao giờ được bổ nhiệm chính thức đến khi ông bị sát
hại ở độ tuổi đang sung sức, ít ra về nhận thức và kinh
nghiệm chính trị.
Ông Nhu là một lư thuyết gia cừ khôi xây dựng chủ nghĩa Nhân
Vị và là một nhà chiến lược chính trị sâu sắc đến độ đam mê.
Như một cặp bài trùng, đă hết sức giúp ông Diệm ổn định t́nh
h́nh, đối phó với các tổ chức chính trị đối lập tại miền
Nam, có cả hoạt động bí mật của cộng sản ở miền Nam trong
lúc các sinh hoạt của cộng sản Việt Nam đều công khai ở miền
Bắc...
Ông thành lập đảng chính trị Cần Lao, dựa vào một chủ thuyết
về cơ bản do ông khởi xướng là Học Thuyết Cần Lao-Nhân Vị để
hỗ trợ chính quyền của người anh ông. Một phần nào vận dụng
viện trợ của người Mỹ, đảng Cần Lao phát triển lên nhanh
chóng, thâm nhập vào hàng ngũ quân đội, công chức, trí thức
và cả giới kinh doanh và trở thành chính đảng lớn nhất thời
bấy giờ. Đồng thời, ông cũng cho thành lập tổ chức ‘’Thanh
Niên Cộng Ḥa’’ nhằm qui tụ và huấn luyện theo mô h́nh chặt
chẽ và hoạt động tích cực, có hiệu quả do ông làm Tổng Thủ
Lănh. Một tổ chức khác cũng được thành lập với mục đích như
trên, dành cho giới nữ lấy tên là ‘’Phụ Nữ Liên Đới’’ do vợ
ông, Bà Trần Lệ Xuân, làm Tổng Thủ Lănh. Hai tổ chức này là
hai cánh tay nối dài của Đảng Cần Lao Nhân Vị, kiểu như các
đoàn thể trong tổ chức Mặt trận tổ quốc của cộng sản, nhưng
theo mục đích khác biệt nếu không phải là đối lập. Sau khi
chế độ suy tàn biết bao xích bác, lời khen tiếng chê đủ điều
được dịp nói đến bà, từ phía những người cộng sản cùng phên
dậu của họ và nhiều cá nhân và đảng phái quốc gia không có
thiện cảm hay không đồng ư với cá nhân bà và gia đ́nh họ Ngô
Đ́nh.
Trên danh nghĩa là một Cố Vấn chính trị, nhưng hầu như nhiều
nhà chiến lược và nhiều tài liệu đều ghi nhận, ngoài ông Ngô
Đ́nh Diệm, ông Nhu mới là kiến trúc sư xây dựng rường cột
của chế độ. Ông hoạch định tư tưởng và xây dựng các cấu trúc
từ thượng tầng ở trung ương đến hạ tầng ở địa phương, nông
sơn thôn của chế độ. Ông Nhu là người khởi xướng chính yếu
mọi chủ trương chính sách của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Ông cũng
cho lập và trực tiếp điều phối nhiều Cơ Quan T́nh Báo và Mật
Vụ ( có tới 13 cơ quan) với những quyền lực to lớn như có
thể bắt giam người không cần xét xử trước.
Trong cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963 do phe Quân Nhân chủ
động ông Nhu đă bị thảm sát cùng một lần với Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm vào ngày 02.11.1963 theo lệnh của Mỹ.
Một H́nh Ảnh Về Cuộc Đời Của Hai Anh Em Diệm Nhu
Thay cho lời kết luận, người viết chỉ ghi lại một lời chứng
của một Quân Y Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa có ư nghĩa ‘’novissima
verba’’ đối với người đă chết và những thương tiếc bản thân
chế độ, đất nước mà hai ông hết ḷng phục vụ, v́ lợi ích của
cộng đồng dân tộc và nhân dân cho đến chết:
Phục Vụ Đất Nước Đến Chết
‘’...tôi (tức ông Đôn) quả quyết rằng: ‘’Không có lời phát
biểu công khai nào của Tướng Tá lúc đó đ̣i phải xử tử hai
ông Diệm và Nhu...’’ người ta không khỏi ph́ cười và chê là
lư luận quá ngây thơ (không ‘’công khai’’ tức là phải hiểu
‘’bí mật’’ chăng?)
Để làm sáng tỏ vấn đề hơn, về điểm này, Linh Mục Cao Văn
Luận đă viết như sau: ‘’Khi xác chết anh em ông Diệm được
đưa vào nhà thương Saint-Paul th́ giây trói quật cánh khuỷu
hai người vẫn c̣n nguyên.
Trên ngực ông Nhu có nhiều vết thương do dao đâm vào và một
vết đạn súng lục trên đầu. Trên thân thể ông Diệm chỉ có một
vết thương ở đầu’’.
Một người lính Thiết Giáp kể rằng ông Nhung (Thiếu Tá) (lúc
đang nói ở đây ông Nhung chưa được thăng Thiếu Tá-lời ghi
chú thêm của người viết) vốn có một người bà con theo đảng
Đại Việt bị bắt và xử tử hay thủ tiêu trong thời kỳ cực
thịnh của chế độ họ Ngô, đă căi vả mắng chửi ông Nhu.
Ông Nhu nh́n ông Nhung cách lạnh lùng, khinh bỉ, và nói vài
tiếng tỏ vẻ khinh miệt.
Ông Nhung đă giật súng có gắn lưỡi lê của một người lính
Thiết Giáp đâm ông Nhu nhiều lát sau lưng, rồi ông Nhu ngă
gục, nhưng vẫn chưa chết ngay, th́ ông Nhung bắn một phát
đạn súng lục vào đầu. Các cuộc khám nghiệm sau đó, và các
phóng ảnh cho thấy ông Nhu bị nhiều vết thương do vật bén
nhọn đâm từ lưng chổ ra bụng, và một vết đạn ở đầu.
Sau khi ông Nhu bị đâm nhiều lát, ông Nhung đă bắn một phát
súng lục vào đầu ông Diệm, và phát đạn này kết liễu cuộc đời
ông Diệm ngay lập tức (những tấm h́nh này, trong cuộc họp
báo ngày 5.11.63 tại Bộ Tổng Tham Mưu, Đỗ Mậu đă trưng ra
như một bằng chứng cụ thể xác nhận anh em Cố Tổng Thống Diệm
đă chết thật, v́ lúc đó c̣n rất nhiều người hoài nghi hai
ông chưa chết. (lời ghi chú thêm của người viết (Phụng
Hồng)).
Một người khác kể thêm rằng, khi bắt được hai anh em ông
Diệm trói quật cánh khuỷu, dẫn từ Nhà Thờ ra xe thiết giáp,
Tướng Mai Hữu Xuân đă đánh điện về các Tướng lănh tại Bộ
Tổng Tham Mưu chỉ huy cuộc đảo chánh xin chỉ thị, sau một
lúc bàn căi, các Tướng lănh đă bỏ phiếu với đa số quyết định
phải thủ tiêu ông Diệm gấp, v́ lo sợ nếu để ông Diệm sống
sót, th́ một số đơn vị Quân Đội có thể ủng hộ ông chống lại
phe đảo chánh’’ (7)
Trích dẫn đoạn trên của Cha Luận (cũng là một nhân chứng!),
tôi (người viết Phụng Hồng) muốn nhấn mạnh thêm một lần nữa
rằng vụ mưu sát hai anh em Cố Tổng Thống Diệm là một dự mưu
đă được tính toán trước bởi một số Tướng lănh phản bội toa
rập với đề nghị của ngoại bang (v́ nếu không thỏa măn yêu
cầu của họ th́ họ không ủng hộ cuộc đảo chánh th́ sức mấy mà
thành công!).
Tiếc thay, ông Đôn đă cố t́nh miêu tả một cách hời hợt, như
ngầm đổ lỗi cho Đại Úy Nhung, sĩ quan cận vệ tay chân của
ông Minh, tự ư giết (trang 238), và ḿnh không có trách
nhiệm ǵ. Tuy nhiên, ta vẫn thấy ở một trang khác, tác giả
đă để lộ ư định cho rằng giết Tổng Thống Diệm là đúng
(trang 250). Chính trong cuốn ‘’Our Endless War’’ (8), ông
Đôn đă viết chương ‘’Diem Must Go’’ và đă biện minh cho việc
giết Tổng Thống Diệm là hợp lư. Đọc đến đây, người ta băn
khoăn tự hỏi nếu ông Đôn chối bỏ hành động cố sát Tổng Thống
Diệm th́ tại sao lại ngụy biện vậy? Thật là mâu thuẫn không
thể hiểu được! Đó là một sai lầm lớn’’. (18)
Nếu Hai Ông Không Bị Sát Hại, Số Phận Đất Nước Có Thể Chuyển
Biến Tích Cực Khác
Muốn mượn lời người khác, người viết dẫn chứng tác giả Phụng
Hồng làm rơ thêm luồng tư tưởng này như sau:
‘’…tôi (người viết Phụng Hồng) muốn mời bạn đọc t́m hiểu
thêm một ư kiến khách quan của một người ngoại cuộc, ông Von
Wenland, Đại Sứ Cộng Ḥa Liên Bang Đức tại Việt Nam. Ông này
đă tâm t́nh với Cha Luận rất lâu sau ngày đảo chánh. Cha
Luận đă viết:
‘’Trước hết tôi đến gặp Đại Sứ Đức là ông Von Wenland. Ông
này phàn nàn về cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Tuy nhiên
ông biết ông Diệm và chế độ của ông không tránh khỏi một vài
tiếng khiếm khuyết nhưng không ai có thể phủ nhận những
thiện chí của ông Diệm đối với Quốc Gia’’.
Cái chết của ông Diệm làm cho tương lai Việt Nam trở nên đen
tối hơn. Tôi c̣n nhớ một đoạn trong câu chuyện của ông Đại
Sứ Đức:
Tôi không theo tôn giáo nào cả, nhưng tôi tin rằng giờ đây
linh hồn ông Diệm sẽ phảng phất nơi đây và sẽ gieo nhiều tai
họa cho xứ sở ḿnh.
Mặt ông đượm buồn, và giọng ông hết sức chua chát. Ông cho
biết ông đă đệ đơn từ chức và sẽ rời Việt Nam trong ít lâu.
(9)
Và sự thật cũng đă chứng minh một ách hùng hồn như chúng ta
đă từng là Nhân Chứng từ 1975 đến nay. Vậy ta có thể kết
luận một cách đau ḷng rằng ‘’Cuộc Đảo Chánh 1.11.63 đă làm
cho Việt Nam mất vào tay giặc cộng sản Bắc Việt’’
Bạn có đồng ư với tôi [Phụng Hồng] không? Nếu bạn không đồng
ư, xin mời bạn hăy đọc tiếp đoạn này:
‘’...Cái chết của ông Diệm và ông Nhu đă làm cho một số
người Mỹ xúc động và quay trở lại có cảm t́nh với ông Diệm
hơn trước. Bộ mặt của những người thay thế ông Diệm cũng dần
dần hiện rơ và người Mỹ thấy bộ mặt đó chẳng đẹp đẽ ǵ
hơn’’.
Những người Mỹ trong đó có cựu Đại Sứ Nolting, Tướng
Harkins, ông Richardson, Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo Mỹ
(CIA) tại Việt Nam lên tiếng cảnh cáo rằng cuộc cách mạng
1.11 chẳng những sẽ không cải thiện được t́nh h́nh quân sự
và chính trị tại Việt Nam như nhiều người Mỹ mong cầu, mà
trái lại sẽ làm cho t́nh h́nh chung tồi tệ hơn. Những hỗn
loạn chính trị đă bắt đầu diễn ra và về mặt quân sự, Quân
Đội Việt Nam măi lo canh gác Sài G̣n và các đô thị lớn để đề
pḥng phe ông Diệm đă gần như bỏ trống các vùng nông thôn
cho việt cộng’’. (10) (sự băi bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược mà
việt cộng từng ghê sợ nhất, là một thí dụ điển h́nh-lời ghi
chú thêm của người viết [Phụng Hồng]).
Đây là một bằng chứng hùng hồn nhất, một bài học lịch sử đau
đớn nhất cho những ai từng tự vỗ ngực huênh hoang cho ḿnh
là ‘’người hùng cách mạng’’, và tự đeo lon to nhất để suy
gẫm lấy. Và tôi [Phụng Hồng] cũng muốn những người đă ‘’bái
lạy tướng to lon’’ để mưu đồ đảo chánh, phản bội chủ ḿnh
hăy tự kiểm điểm lại hành động ḿnh mà ăn năn hối lỗi.
Nhưng chậm quá rồi! Lịch sử và những vượt biên trên biển cả,
những hồn thiêng trong Tết Mậu Thân, trong ‘’ḷ luộc người
cải tạo’’ chắc chắn không bao giờ tha thứ bọn người này! Đó
là một sự thật cay đắng mà ai nấy đều đă thấm thía khi phải
‘’tha phương cầu thực’’.
Và sau cùng, tôi [Phụng Hồng] muốn nhân dịp này nhắc lại câu
nói để đời của William Colby, cựu Giám Đốc Trung Ương T́nh
Báo đă từng hoạt động nhiều năm tại Việt Nam, và là người am
hiểu t́nh h́nh chính trị Sài G̣n hơn ai hết, khi hối tiếc về
cái chết của Tổng Thống Diệm trong cuốn sách mới nhất của
ông (11): ‘’Nếu ông Diệm c̣n, chưa chắc miền Nam mất’’. (19)
Những Dư Luận Thóa Mạ Chống Đối
Sau khi chế độ sụp đổ th́ không biết bao nhiêu lời thóa mạ
được nói đến gia đ́nh họ Ngô, nhưng mấy người được tiếp xúc
và có nhận xét nghiêm chỉnh quân b́nh về những con người đó.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lục đă tổng hợp đứng đắn những
diều được nhiều người phát biểu:
Nhiều đàm tiếu diễn ra sau 1963, về gia đ́nh ông Nhu, những
người như Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Đắc Xuân…Chỉ nhắc lại một
lần cuối.
Trong bài kư: ‘’Theo Đoàn Sinh viên Huế, tham quan con đường
‘gặt băo’ của anh em Ngô Đ́nh Diệm ở Sài G̣n tháng 11.63’’,
ông Xuân đă viết với lối viết quen thuộc, ỡm ờ nửa hư, nửa
thực như sau:
‘’Suốt tuần qua báo chí Sài G̣n đăng nhiều phóng sự điều tra
về những bí mật trong Dinh Gia Long, đặc biệt là những h́nh
ảnh sex mà họ gán cho là của bà Trần Thị Lệ Xuân (vợ cố vấn
Ngô Đ́nh Nhu) người tự mệnh danh là đệ nhất phu nhân Việt
Nam Cộng Ḥa. Do đó khi được vào tham quan, chúng tôi đến
ngay pḥng ngủ của bà Lệ Xuân phía gần đường Pasteur. Cái
pḥng này bị dân chúng phá tanh banh. Các sĩ quan chỉ cho
chúng tôi hệ thống kính soi được lắp kính bốn mặt tường và
họ giải thích rằng bà Lệ Xuân lắp hệ thống kính như thế để
mọi hoạt động thân thể riêng tư của bà trong pḥng nầy bà có
thể ngắm được từ nhiều phía. Và người ta cũng hướng dẫn cho
chúng tôi rằng pḥng riêng của Tổng Thống Diệm gần pḥng
riêng của cô em dâu. Ông Ngô Đ́nh Nhu muốn vào pḥng riêng
của của vợ phải đi qua pḥng của anh trai ông. Không rơ thực
hư như thế nào, cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu có đúng
như thế không và tại sao như vậy’’
Về nhóm sinh viên nằm vùng tranh đấu, Nguyễn Đắc Xuân viết
tiếp:
‘’Những thành viên trong đoàn sinh viên Huế đi tham quan
ngày ấy, hiện nay vẫn c̣n ở Huế khá đông như nhà văn Hoàng
Phủ Ngọc Tường, bác sĩ Phạm Thị Xuân Quế, anh Lư Văn Nghiên,
ở Đà nẵng có bác sĩ Lê Quang Tái, ở TP Hồ chí Minh có Tiến
sĩ Thái Thị Ngọc Dư, nhà giáo Nguyễn Đ́nh Hiển, ở Đức có
Tiến sĩ Thái Thị Kim Lan, ở Pháp có Lê Thị Thảo, ở Mỹ có
Nguyễn Thị Kim Tri, ở Úc có Nguyễn Thị Kim Xuyến v.v...
Ba thành viên chủ chốt trong đoàn nay không c̣n nữa là Nhà
thơ Trần Quang Long (ra trường năm 1965), tham gia kháng
chiến và hy sinh ở chiến trường Tây Ninh năm 1968, Nguyễn
Thiết đang học năm thứ ba th́ thoát ly, phụ trách Thanh niên
Thành ủy Huế, hy sinh năm 1968, Vĩnh Kha, về sau làm Chủ
tịch Tổng hội Sinh viên Huế, lănh đạo sinh viên phát động
các cuộc đấu tranh chống các chính quyền Diệm mà không có
Diệm. Kha mất v́ bệnh gan vào giữa những năm Tám mươi’’.
Một Số Nhân Chứng Trực Tiếp
Dù có những dư luận kiểu đó, ông Ngô Bảo (nhà thầu tốt
nghiệp Trường Mỹ Thuật bên Pháp) có trách nhiệm trang trí tư
dinh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho ông Nguyễn Văn Lục
hay:
‘’Pḥng ăn Dinh Gia Long được trang trí với tranh sơn mài
Thành Lễ. Riêng pḥng bà Nhu chỉ treo độc nhất một bức anh
vẽ bán thân bà Nhu, do Họa Sĩ Nguyễn Khoa Toàn vẽ. Bức tranh
vẽ bà Nhu mặc áo cánh lụa, có hơi rơ nét nổi lên phần ngực
phía trong làn áo. Chỉ có vậy. Người viết hỏi thêm, có thấy
các bức tường chung quanh pḥng bà Nhu đều có gương phản
chiếu không? Ông Ngô Bảo cho biết: Làm ǵ có chuyện đó.
Tường thường như mọi bức tường nhà khác’’.
Chi tiết được ông Ngô Bảo, nay đă 78 tuổi, cho biết chứng tỏ
chắc chắn rằng Nguyễn Đắc Xuân đă bịa đặt, và đám nam nữ
sinh viên cùng tham dự buổi tham quan Dinh Gia Long đă im
lặng đồng lơa.
Dù chỉ nh́n thoáng qua, ấn tượng về ông c̣n được ghi nhớ măi
trong tôi. Nhiều ấn tượng c̣n được ghi khắc trong số học tṛ
của ông Nhu có Linh Mục Phước. Linh Mục Phước kể lại cho
Nguyễn Văn Lục hay biết:
‘’Là có dịp đi Đà lạt sau này, có đến thăm thày cũ. Ông đă
hết lời nói về gia đ́nh thày của ḿnh. Ông Nhu th́ học cao,
hiểu rộng, tài trí hơn người. Ai ai cũng phải nh́n nhận như
vậy.
C̣n Cụ Đoàn Thêm có những nhận xét:
‘’Về phương diện trí thức, tŕnh độ của ông Nhu rất cao. Học
vấn cổ điển và nhân bản của ông rộng và vững. Qua lời nói ề
à, kẻ chú ư có thể bắt gặp những nhận xét sâu sắc về người
và việc, một sự khó thấy ở ông Diệm, và ít thấy ở người
chung quanh’’.
Bà th́ vừa xinh, vừa trẻ đẹp, giữ ǵn gia phong nề nếp. Thêm
một lần nữa, tôi có một ấn tượng rất tốt đẹp về bà Nhu. Theo
Cha Phước khi đến thăm ông Nhu cùng với vài người khác ngồi
ở pḥng khách. Chủ khách đàm đạo trong khi bà Nhu không dám
ngồi mà chỉ đứng chắp tay vào nhau để trước bụng’’.
Đấy là cử chỉ của những gia đ́nh có lễ giáo nghiêm ngặt. Ông
Nguyễn Văn Lục nghe biết câu chuyện này, khi c̣n ở ngoài Bắc
trước khi có cuộc di cư. Nói xấu một người th́ dễ hơn là
kính trọng người ta, v́ người ta thường thấy cái tiêu cực
trong người khác hơn là thấy nết xấu ở nơi ḿnh. ‘’Chân ḿnh
th́ lấm mê mê. Lại cầm bó đuốc mà rê chân người’’, đấy là
cái thói ở đời bên Đông cũng như bên Tây.
Sau gần 10 năm, tác giả Nguyễn Văn Lục lại có dịp khác ‘’gặp
lại’’ ông Nhu trong một khung cảnh khác. Hồi ấy, anh c̣n là
sinh viên Đại Học Đà Lạt nên thường tham dự những buổi lễ do
nhà trường tổ chức. Ông Lục nhớ lại:
‘’Đôi lần lại có dịp được thấy ông Nhu. Ông không mặc áo bốn
túi nữa, mà áo veste. Gương mặt có phần trĩu nặng ưu tư.
Mặc dầu là Cố Vấn Tổng Thống, ông xuất hiện hết sức low
profile. Ngồi một góc. Im lặng. Ai khen th́ khen. Ai vỗ tay
th́ vỗ. Ông vỗ nhẹ tay lấy lệ, c̣n vẫn ngồi bất động như thể
đang nghĩ về một vấn đề ǵ khác. Gần như ông không chú ư đến
ai cả. Có cảm tưởng như ông bắt buộc phải ngồi đó. Có thể
ông ghét những thói bề ngoài ŕnh rang với đôi chút tâng
bốc, xu phụng. Cả buổi lễ, ông chỉ ngồi chống tay trên thành
ghế. Không nhúc nhích, không nói nửa lời’’.
Cụ Đoàn Thêm nói tiếp về con người ông Nhu ‘’cử chỉ lạnh
lùng bắt người ta nhớ đến câu của Racine gán cho Néron: ‘Ami
ou ennemi, il suffit qu’on me craigne’ (Bạn hay thù, miễn
là họ biết sợ ḿnh là đủ)’’.
Phần tôi, có lẽ chẳng có lệ thuộc ǵ với ông, tôi nh́n chăm
chăm vào ông. Kính phục th́ có, sợ th́ không.
Tôi dành cả buổi lễ quan sát ông không sót một cử chỉ nào.
Ông khác hẳn các viên chức như các ông Trương Vĩnh Lễ,
Trương Công Cừu. Cụ Lễ th́ khúm núm ra mặt. Các ông lần lượt
lên rước lễ mà chắc hẳn ông Nhu không hề chú ư đến những cử
chỉ, thái độ của mấy ông này.
Ông không phải là loại người của đám đông.
Cứ nghĩ lại coi, trong 9 năm cầm quyền. Có bao giờ thấy ông
Nhu xuất hiện công khai, đăng đàn diễn thuyết (chỉ trong
trường hợp thuyết tŕnh học tập như ở Suối Lồ Ồ) đao to búa
lớn, hay h́nh ảnh đăng dài dài trên báo hà rần, cờ xí, duyệt
binh, gắn lon gắn chậu, tiền bạc xa hoa, xe cộ tiền hô hậu
ủng.
Không. Ông Nhu ít xuất hiện, ít phô trương. Ngược lại kín
đáo, nấp sau bóng dáng Tổng Thống.
Căn cứ vào các số báo Lập Trường, Hành Tŕnh, Đất nước và
Tŕnh bày sau 1963. Ông Lục không hề nghe thấy một lời phê
phán về cá nhân ông Ngô Đ́nh Nhu. Tiền bạc không, nhà cửa
dinh thự không. Mấy ai đă làm được như vậy?
Cụ Đoàn Thêm viết về ông Nhu đă sống như thế nào:
‘’Tôi c̣n ghi nhận những ống quần nhầu không ủi, chiếc sơ mi
hở cổ cộc tay và hơi cũ, đôi dép da quai sờn. Y phục sức
quá sơ sài của em một Thủ Tướng khiến tôi phát ngượng, lúng
túng trong bộ đồ lớn của tôi. Tôi càng thấy khó hiểu, khi
mục kích ông co ro cùng vợ con trong một căn pḥng nhỏ hẹp
trên lầu Dinh Độc Lập, tuy c̣n những pḥng rộng rộng lớn và
đẹp hơn. Theo một người thân cận, th́ ông không muốn ở trong
Dinh, chỉ chờ dịp dọn đi, nhưng Ông Diệm không nghe, quyết
giữ ông lại để c̣n luôn luôn hỏi việc. Căn cứ vào những lời
ông nói và nếp sống bề ngoài của ông, tôi đă kết luận rằng
ông tránh tiếng lợi dụng quyền lực và địa vị của ông
anh...Ngay cả hai chữ Cố Vấn cũng chỉ là nhận bất đắc dĩ’’.
Vẫn theo lời kể của Cụ Đoàn Thêm:
‘’Đến khi cần cử ông qua Pháp thương thuyết với Thủ Tướng
Edgar Faure, một số người trong chánh phủ thấy ông phải đi
với một danh nghĩa chính thức hơn là với tư cách bào đệ ông
Diệm. Nên hai chữ Cố Vấn đă được đem dùng để đồng thời thừa
nhận một sự vẫn được coi là hiển nhiên. Ông cũng biết là
không tránh được chức vị…Ông Nhu không thoát khỏi lệ thường,
nên chỉ tới đầu 1956 là ông hết phản đối (Không chịu người
ta gọi là ông Cố Vấn)’’.
Ai đă từng đọc Cụ Đoàn Thêm th́ đều hiểu rằng, Cụ viết cẩn
trọng, tương đối khách quan, khen có mà chê cũng có. Như thế
những nhận xét của Cụ nên coi là khuôn thước, tránh được cái
tệ nạn xuyên tạc hay xưng tụng quá đáng.
Ông Cố Vấn sống thanh đạm và đơn giản như thế, th́ chắc
người phụ nữ nào làm vợ ông cũng phải là người biết ‘’liệu
cơm gắp mắm’’
Tư cách trí thứcbiết điều là ở chỗ ấy. Người ta nh́n lại,
những người thay thế ông sau này. Một khi có quyền bính
trong tay, họ đă hành xử thế nào? Như ông Đỗ Mậu làm Phó Thủ
Tướng Văn Hóa, dù chỉ trong một thời gian ngắn, ông xuất
hiện nhiều lần hơn gấp bội ông Ngô Đ́nh Nhu trong 9 năm làm
Cố Vấn?
Có một vị nào sau này lên cầm quyền có một phong cách trí
thức như một Ngô Đ́nh Nhu và tư cách một kẻ sĩ như một Ngô
Đ́nh Diệm?
Người ta chỉ muốn nói về CON NGƯỜI mà không đề cập đến chính
trị. Hay nói như Cụ Đoàn Thêm, chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa là
nhân trị hơn pháp trị. Nhưng nếu làm người mà không xứng
đáng th́ nói chi đến thứ khác? (20).
Vận Động Chính Trị ở Hải Ngoại: Ông Ngô Đ́nh Diệm
Trở lại cuộc vận động hải ngoại cho ông Ngô Đ́nh Diệm, th́
thực ra, theo Giáo Sư Tôn Thất Thiện, cuối năm 1949, Cụ Diệm
khước từ lời của Cựu Hoàng Bảo Đại mời ông làm Thủ Tướng v́
cho rằng Hiệp Định Cựu Hoàng vừa kư với Pháp (Hiệp Định
Elysées) không mang lại độc lập thực sự cho Việt Nam, nhất
là về ngoại giao. Sau đó, ông nhận lời cùng với Giám Mục
Thục đi một ṿng thế giới nhân dịp Giám Mục Thục đi tham dự
một hội nghị các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo ở La Mă.
Hai ông đi Nhật Bản, rồi từ đó sang Hoa Kỳ. Sau mấy tuần ở
Hoa Kỳ, hai ông sang La Mă. Mỗi người sinh hoạt theo kế
hoạch riêng biệt. Sau khi tham dự Hội Nghị Giám Mục tại
Rôma, Đức Cha Thục đi hành hương ở Tây Ban Nha, rồi về Việt
Nam, c̣n ông Diệm th́ đi Thụy Sỹ và Pháp.
Trong thời gian ở Paris ông Diệm gặp lại người em Ngô Đ́nh
Luyện và gia đ́nh ông này. Ông gặp lại Vơ Văn Hải, một người
hăng say sát cánh bên ông trong những năm 1945-1949. Ngoài
ra, ông có sở thích đi bộ quan sát Paris, và viếng các nhà
thờ lớn. Ông đi bộ nhiều đến nỗi viên mật thám có nhiệm vụ
trông coi ông phải than trời ‘’ông này điên rồi! ông muốn
thăm hết Paris, mà toàn đi bộ!’’. Tất nhiên cũng có nhiều
người t́m gặp ông. V́ vậy mà nhà chức trách Pháp muốn ông ra
khỏi đất Pháp.
Đúng lúc đó có tin Tu Viện Maryknoll ở New York mời ông sang
với tư cách làm nhân viên giảng dạy đặc biệt, nên ông Diệm
đi lại Hoa Kỳ. Giữa năm 1953, ông lại đi Âu Châu, trú tại
Tu Viện Biển Đức Thánh Anrê (Couvent Bénédictine de Saint
André) ở Bruges, Bỉ (Belgique). Thường những quyết định lớn
về Việt Nam diễn ra ở Paris, nhưng lại hay gây ồn ào, và bị
mật thám Pháp ŕnh ṃ, nên ông chọn qua Bỉ gần Paris, mà
tránh được cả hai thứ phiền phức trên.
Mùa Thu năm 1953 t́nh h́nh Việt Nam sôi động, ảnh hưởng đến
t́nh h́nh chính trị Pháp với viễn ảnh điều đ́nh lập lại ḥa
h́nh ở Đông Dương. Đặc biệt trong trường hợp ấy, có tiếng
đồn Ông Ngô Đ́nh Diệm sẽ là Thủ Tướng Việt Nam. Thật ra, đây
chính là thời gian Cựu Hoàng Bảo Đại bắt đầu t́m liên lạc
với Ông Ngô Đ́nh Luyện để ‘’nối lại t́nh xưa’’, v́ hồi nhỏ,
trước Thế Chiến II, hai ông là bạn chơi với nhau ở Paris.
Nhưng Ông Luyện thừa hiểu người Cựu Hoàng muốn móc nối không
phải là ông mà là ông Diệm.
Để nắm t́nh h́nh rơ hơn, ông Diệm sang Paris, nơi có nhiều
chính khách Việt Nam, và quyết định về Việt Nam vẫn đang bị
Pháp chi phối. Muốn kín đáo hơn, ông không ở với Ông Luyện,
trong vùng Choisy, ngoại ô Paris, mà ở với ông Tôn Thất Cẩn,
trong vùng Gentilly, ngay sau khu Học Xá Đại Học Paris. Ông
Cẩn là con của Quận Vương Tôn Thất Hân, từng làm Phụ Chính,
kết thân với bản thân ông Ngô Đ́nh Khả. Ông Hân đă lén giúp
ông Ngô Đ́nh Khả trong thời gian ông này khốn đốn v́ bị tước
hết chức vụ, mất hết bổng lộc, v́ không chịu kư kiến nghị
truất phế Vua Thành Thái. Chính ở đây mà ông Tôn Thất Thiện,
em ruột ông Cẩn, hội kiến ông Diệm lần đầu qua trung gian
ông Thuyên, người phụ giáo cho gia đ́nh ông Hân.
Ông Diệm tiếp ông Thiện khoảng một giờ. Ông tŕnh bày t́nh
h́nh quốc tế, và nói: Ḿnh may mắn hơn Tàu, v́ người Trung
Hoa ở Đài Loan không có hy vọng lấy lại được Lục Địa, c̣n
Việt Nam có nhiều may mắn hơn. Ông cũng kể về những năm phải
nghỉ việc, dành th́ giờ nghiên cứu thuyết cộng sản, đọc
sách, trồng hoa, nhất là Hoa Hồng. Ông muốn một thể chế tối
thiểu ngang với ‘’Dominion’’ như các Dominion Anh.
‘’Dominion’’ là danh từ chính ông dùng. Ông không nói ǵ về
thể chế Việt Nam tương lai, nhưng căn cứ trên lư lịch và nếp
sống gia đ́nh, và cách ông cư xử với Cựu Hoàng Bảo Đại, có
thể chế độ ông thích là quân chủ lập hiến.
Lúc ông được bổ nhiệm làm Thủ Tướng, rất ít người hiểu rơ về
ông. Tôn Thất Thiện nhờ các chi tiết ông cung cấp để viết
bài gởi về Việt Nam qua đại diện Việt Tấn Xă ở Paris, với
tựa đề: ‘’Ông Ngô Đ́nh Diệm là ai?’’. Đó là tài liệu trung
thực đầu tiên nói về ông mà báo chí phổ biến rộng răi. Tôn
Thất Thiện hỏi Ông khuyên những người trẻ phải làm ǵ. Ông
nói: ‘’Các anh nên vô làm việc trong các cơ quan đi, để lấy
kinh nghiệm sau ni mà làm việc’’. Tuy thấy đây là một lời
khuyên hơi lạ, v́ thanh niên lúc đó có xu hướng ‘’chờ thời’’
giữa hai bên là làm việc với một Chính phủ th́ Chính phủ Bảo
Đại (mang tiếng ‘’theo Pháp’’) hay Chính phủ Hồ chí Minh
(đang ở trong rừng, nhưng cộng sản).
Thực sự suy nghĩ cho cùng, th́ muốn làm được việc, phải có
kinh nghiệm về hành chánh quản lư công việc, tổ chức guồng
máy và nhân sự cùng vận động quần chúng, mà muốn có kinh
nghiệm đó, th́ con đường tốt nhất là phải làm việc trong các
cơ quan chánh phủ. Trả lời phỏng vấn, lúc đó một chính khách
cộng sản Pháp nói: ‘’Nên tham gia chính phủ, v́ ở trong
chính phủ mới được đọc được hồ sơ và hiểu rơ t́nh h́nh’’.
Chính ông ta biết như vậy nhờ tham gia Chính phủ Liên hịệp
của De Gaulle lúc De Gaulle cầm quyền sau Thế Chiến II. Điều
này giải thích tại sao ông Diệm lại tin dùng những người như
ông Nguyễn Ngọc Thơ và công chức cao cấp các thời trước, kể
cả thời Pháp. Những ư nghĩ và kiến thức cùng kinh nghiệm làm
việc đă chinh phục thiện cảm và tin tưởng hơn vào ông Diệm
trong giới thanh niên.
Tài liệu cộng sản và một số thành phần không ưa ông Diệm, đă
ghi lại một số t́nh tiết với thâm ư làm sai lạc sự thật là
gán ghép Mỹ và Công Giáo chủ mưu đưa Ông Ngô Đ́nh Diệm và
phe cánh của ông lên nắm quyền. Tài liệu tiêu biểu mới đây
là một điều sai sự thực, trong lúc chính quyền cộng sản bề
ngoài nói là muốn xóa bỏ quá khứ để xây dựng đoàn kết dân
tộc. Tài liệu ‘’Trần Lệ Xuân: Giấc Mộng Chính Trường’’ và
nhiều tài liệu khác xuất bản vào giai đoạn này do Nhà xuất
bản công an nhân dân có ư nghĩa ǵ, khi chủ t́nh nói sai sự
thật và chỉ theo quan điểm cộng sản.
Thực ra, năm 1950 ở Roma có hội nghị các Giám Mục trên thế
giới, Giám Mục Ngô Đ́nh Thục được mời tham dự. Nhân dịp này
ông Diệm xin đi theo. Trên đường đi, hai người ghé lại Nhật
Bản xin gặp một số chính khách Nhật và Việt xem họ có giúp
được ǵ không. Sau đó tại Rôma, ông Diệm được Giám Mục Thục
giới thiệu với Hồng Y Giáo Chủ Spellman là giáo chủ của Mỹ
để xin giúp đỡ cho Diệm. Spellman đồng ư.
Năm 1951, Diệm bay sang Mỹ và được Hồng Y Spellman đỡ đầu
cho vào ở trong Tu Viện Maryknoll tại Lakewool thuộc Bang
New Jersey, Diệm ở đây hai năm. Thời gian này ở Đông Dương,
Pháp đang bị Việt Minh đánh tơi tả. Pháp cầu cứu Mỹ giúp khí
giới, nhưng Mỹ lừng khừng v́ thâm ư của Mỹ là muốn cho Pháp
bại trận, để sau đó nhảy vào giành phần.
Ông Diệm rời Mỹ vào tháng 3.1953, ở Paris ít lâu rồi sang Bỉ
lưu trú tại Tu Viện Bénédictine. Một năm sau, ông Diệm lại
trở về Paris để nghe ngóng t́nh h́nh Đông Dương.
Các con bài của Nguyễn Văn Tâm rồi Hoàng Thân Bửu Lộc do Bảo
Đại chỉ định làm Thủ Tướng theo chỉ thị 24 của Pháp không
tạo được hậu quả nào, trong khi đó Pháp thất bại ở Điện Biên
Phủ chỉ c̣n là vấn đề thời gian. Đến lúc này Mỹ thực sự nhảy
vào cuộc, đề nghị Pháp dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Bảo
Đại không chấp thuận ông Diệm thay ông Bửu Lộc v́ Bảo Đại
vẫn c̣n căm hận ông Diệm đă bỏ Bảo Đại để rút lui về vườn.
Thêm một lư do nữa v́ lúc ấy Bảo Đại đang chịu sự chi phối
của B́nh Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu về vấn đề tài chính.
Một mặt Mỹ ép Pháp thay đổi chính phủ tại Việt Nam bằng cách
dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm do Mỹ đưa ra, mặt khác Ngô Đ́nh
Thục tích cực vận động giới Công Giáo La Mă, Pháp và nhất là
Mỹ phải đưa Ngô Đ́nh Diệm ra gấp th́ mới hy vọng cứu Việt
Nam khỏi bị Việt Minh thống trị! Đồng thời Ngô Đ́nh Luyện
cũng gặp Bảo đại để dàn xếp cho Diệm về nước lập chính phủ
v́ từ lâu Luyện rất thân với gia đ́nh Bảo Đại…’’ (trang
23, sách đă dẫn)
Thời gian 1953-1954, Pháp bị tấn công mạnh ở Việt Nam, khi
có thêm hậu thuẫn từ Trung Quốc cộng sản, sau khi toàn thể
lănh thổ bị cộng sản Trung Hoa chiếm quyền thống trị.
Tóm Thuật Hoạt Động Thực Tế Phức Tạp Khi Nắm Chính Quyền
Khi lên nắm chính quyền, chế độ mới do hai ông Diệm-Nhu
hoạch định thực hiện phải đối phó với nhiều vấn đề nhiêu
khê, có thể làm nguy ngập đến thể thống đất nước. Một cách
tổng lược, người ta có thể đưa ra một h́nh ảnh vắn tắt như
sau
Những Việc Cụ Thể Chế Độ Việt Nam Cộng Ḥa I Đă Thực Hiện:
1. Tổ chức việc tiếp chuyển, định cư di dân từ miền Bắc vào
miền Nam và bố trí trại định cư theo địa điểm chiến lược,
h́nh thành cấu trúc ban đầu cho một mạng lưới Ấp Chiến Lược,
giải quyết vấn đề dân sinh và an dân chống lại họat động của
cộng sản từ miền Bắc xâm nhập miền Nam qua đường rừng núi
chủ yếu bên Lào và đường thủy (sông rạch và biển cả)
2. Đoàn kết các đảng phái chính trị, lực lượng quân sự, chủ
yếu dựa trên tôn giáo hay địa phương: Các tổ chức B́nh
Xuyên, Cao Đài, Ḥa Hảo, Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, các
lực lượng chính đảng khác như Đại Việt, phe Bảo Hoàng, lực
lượng ủng hộ quyền lợi thực dân Pháp, trong một mặt trận
thống nhất dựa trên một ư thức hệ và hoạt động Chủ Nghĩa
Nhân Vị, đối lập với ư thức hệ và hoạt động chủ nghĩa cộng
sản.
3. Tổ Chức Quân Đội Quốc Gia Độc Lập từ cơ sở những lực
lượng trong quân đội Pháp: Địa Phương Quân, Bảo Chính Đoàn,
thành một lực lược chính quy, hiện đại có kỷ luật, có tổ
chức, có huấn luyện, đủ khả năng pḥng vệ và tác chiến hữu
hiệu với doanh trại, quân trang, quân dụng, vũ khí, từ cá
nhân binh sĩ ở các cấp Tiểu Đội, Trung Đội, Đại Đội, Tiểu
Đoàn, Trung Đoàn, Sư Đoàn, các lực lượng lên đến Quân Đoàn
Vùng Chiến Thuật I, II, III, IV với yểm trợ cần thiết ban
đầu của nhiều nước, nhất là Mỹ.
4. Xây dựng Lực Lượng Cảnh Sát Công An từ các bộ phận c̣n
manh mún phục vụ cục bộ của nhiều nhóm, nhất là của B́nh
Xuyên, thành một Đơn Vị Cảnh Sát Công An Quốc Gia Độc Lập
thống nhất. H́nh thành mạng lưới an ninh duy tŕ cảnh vệ trậ
tự các cơ sở hành chính quan yếu của quốc gia.
5. Tổ chức chính trị ṇng cốt là thành lập chính đảng Cần
Lao Nhân Vi tôn trọng nhân vị và yêu mến cần lao để kiến
thiết bản thân và đất nước, chống lại chủ nghĩa và hoạt động
phá hoại của cộng sản. Ngoại vi của lực lượng Cần Lao Nhân
Vị là qui tụ động viên thành phần chủ yếu là thanh niên vào
hai tổ chức chính: Thanh Niên Cộng Ḥa và Phụ Nữ Liên Đới.
Từ chính đảng ṇng cốt này có thể vận động thanh niên nam nữ
và nhiều thành phần nhân dân vào công cuộc xây dựng, phát
triển đất nước chống lại hoạt động theo xu hướng của chủ
nghĩa cộng sản. Tạo thành một phong trào Cách Mạng Quốc Gia,
xây dựng đất nước, nhất tâm đối phó với cộng sản
6. Tổ Chức hệ thống chính trị dân chủ với ba lănh vực Hành
Pháp (Tổng Thống), Lập Pháp (Quốc Hội) Tư Pháp (Hệ Thống Ṭa
Án), với bầu cử dân chủ chọn người làm việc từ trong các
thành phần giáo phái chính đảng quốc gia trong t́nh trạng
đối phó với hoạt động xâm nhập, phá hoại dưới nhiều h́nh
thức của cộng sản, cụ thể là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
Miền Nam Việt Nam.
7. Một Giải pháp chính trị chiến lược thực tế đa hiệu, chống
lại cộng sản là chính sách Ấp Chiến Lược. Ư nghĩa chính thức
của tổ chức này là kêu gọi tổ chức nhân dân tập trung vào
các Ấp Chiến Lược, nhất là tại những vùng dễ xâm nhập hoạt
động của cộng sản, nhưng có lợi điểm cư trú và hoạt động
kinh tế nông nghiệp, kỹ nghệ, lâm ngư nghiệp, giáo dục của
nhân dân.
Khi dân chúng tự nguyện tự giác vào sinh cư tập trung gọn
gàng và kỷ luật trong các ấp này, th́ tất cả những thành
phần c̣n lại bên ngoài các ấp (khu trù Mật và Dinh Điền) là
cộng sản hay hoạt động đi theo ủng hộ cộng sản. Du kích cộng
sản sẽ lần lượt bị ngăn chặn, tiêu diệt v́ không c̣n chỗ
dung thân và sinh sống. Tổ chức này hữu hiệu làm nguy ngập
cho tổ chức hoạt động của cộng sản, nên cộng sản Việt Nam
mới phản tuyên truyền, xuyên tạc là bắt gom dân vào Ấn Chiến
Lược, và thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam
Nhưng Kế Hoạch Do Chế Độ Xây Dựng Có Những Khuyết Điểm Sau:
1. Quyền lợi, nhận thức cá nhân và đoàn thể khác nhau về tôn
giáo và chính trị xă hội muốn xây dựng dân chủ tự do vội vă
đốt giai đoạn, đă cản trợ hoạt động phát triển dân chủ thống
nhất của nhà nước, trong t́nh thế phải đối phó với các h́nh
thức xân nhập và hoạt động của cộng sản.
2. Hoạt động tuyên truyền, đồng khởi, phá hoại của cộng sản
đánh phá nhiều mắt xích trong hệ thống hành chính địa phương
và trong hệ thống Ấp Chiến Lược ở các vùng sâu vùng xa, và
các điạ điểm chiến lược, khi tổ chức chiêu hồi và ấp chiến
lược tỏ ra nhiều thiệt hại bất lợi cho cộng sản.
3. Hệ thống quản lư đất nước bị lạm dụng, nên có xu hướng
thiên về gia đ́nh trị, công giáo trị gây hoài nghi cho nhiều
thành phần nhất là Phật Giáo, trong việc kết nạp vào Đảng
Cần Lao Nhân Vị và nhiều hoạt động khác như tổ chức An Ninh
(mật vụ, t́nh báo, cảnh sát, thanh niên, quân đội).
4. Sự can thiệp xen lấn lộ liễu mạnh bạo của Mỹ từ yểm trợ
nhẹ nhà đến hoạt động hành quân của cả một lực lượng lớn
trên lănh thổ một đất nước độc lập có chủ quyền với nhiều
phương tiện doanh trại, tổ chức nhân vật lực phức tạp.
Điều này tạo cơ hội cho tuyên truyền cộng sản về nhiều mặt.
Khi các cảnh chiến tranh tàn bạo được chiếu trực tiếp trên
truyền h́nh các gia đ́nh Mỹ hằng ngày đêm đă dần dần tạo nên
phong trào phản chiến, đ̣i chính quyền Mỹ phải rút về mau
lẹ, tạo một khoảng trống cho Quân Đội c̣n ḍn mỏng của Việt
Nam Cộng Ḥa, chưa kịp tổ chức xây dựng, bổ sung về quân số
và huấn luyện và thiếu vũ khí tối tân, so với lực lượng vơ
khí và mưu lược dối trá của cộng sản.
5. Phong trào Đồng khởi từ Bến Tre và Biến Cố Tổng Công
Kích Tết Mậu Thân trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa II là một
hoạt động liều lĩnh của cộng sản khi hệ thống Ấp Chiến Lược
đă chứng tỏ có hiệu quả đă đẩy cộng sản Việt Nam đến chỗ
phải hành động để sống c̣n. Sự tàn bạo và dối trá của cộng
sản trước Việt Nam toa rập với ư chí chủ bại và phản bội của
Mỹ đă đưa đến thằng lợi trước mắt của cộng sản Việt Nam ngày
30.4.1975. Việc hủy bỏ hệ thống Ấp Chiến Lược sau khi lật đổ
chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I là một hành động phá hoại chiến
lược, chuẩn bị xa nhưng mau hơn cho sự chiến bại của miền
Nam
Gia Đ́nh Bên Ông Ngô Đ́nh Nhu
Gia đ́nh họ Ngô Đ́nh (21), nguyên quán ở đất Quảng B́nh, ông
Cố tổ là dân bần hàn sống nghề chài lưới. Khi đạo Công Giáo
truyền đến vùng này từ Thế Kỷ 17, th́ tổ tiên của ḍng họ
Ngô Đ́nh đă tin đạo. Đời ông Ngô Đ́nh Khả đức tin đó vẫn
được củng cố và phát triển. Là một thanh niên chăm chỉ đạo
dức mà lại thông minh, cậu được theo học cả chữ Hán lẫn chữ
Pháp. Cậu được gửi du học ở Trường Chủng Viện Thánh Giuse ở
Penang (Mă Lai), cùng với Nguyễn Hữu Bài, với ư định được
huấn luyện để trở thành Linh Mục. Nhưng v́ không được ơn gọi
làm Linh Mục, cả hai cậu Khả và Bài đều trở về Việt Nam và
sau này trở thành thông gia, v́ có một quá tŕnh dài học tập
và hiểu biết lẫn nhau.
Về nước, v́ giỏi về ngoại ngữ, ông Khả và ông Bài đều được
tuyển làm Thông dịch viên. Làm việc xuất sắc có nhiều kết
quả, Khả được trọng dụng và thăng chức rất nhanh. Khi Vua
Thành Thái mất chức, th́ Khả cũng mất chức Phụ Đạo Nam
Triều. Gia đ́nh Ngô Đ́nh Khả cư ngụ tại Phú Cam, nơi có một
xứ đạo kiên trung của đất Huế.
Ông Ngô Đ́nh Khả có tất cả:
Con cả là Ngô Đ́nh Khôi (1885?-1945) lập gia đ́nh với người
con gái của Nguyễn Hữu Bài.
Con thứ hai là Ngô Đ́nh Thục (1897-1985) từng du học tại
Rôma năm. Từ 1919-1927 du học Roma: Tiến Sĩ Triết Học
(1922), Tiến Sĩ Thần Học (1926), Tiến Sĩ Giáo Luật (1927).
Qua Pháp học Đại Học Công Giáo Paris: Cử Nhân Triết Học
(1929). Khi về nước giữ nhiều chức vụ trước khi làm Giám Mục
Vĩnh Long, rồi Tổng Giám Mục Huế.
Con thứ ba là Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963), từng làm Tuần Vũ
B́nh Thuận, rồi Thượng Thư Bộ Lại triều Bảo Đại (1932).
Năm 1918 thi vào Trường Hậu Bổ, sau 03 năm tốt nghiệp, lần
lượt giữ các chức vụ từ Tri Huyện Hương Thủy (1922), Tri
Huyện Quảng Điền (1923), Tri Phủ Hải Lăng (1925), Quản Đạo
Ninh Thuận (1927), Tuần Vũ B́nh Thuận (1930), Thượng Thư Bộ
Lại (1933) được hơn 02 tháng th́ từ chức...Năm 1945 bị Việt
Minh bắt sau nhờ Đức Giám Mục Lê Hữu Từ can thiệp, được trả
tự do. Năm 1950 qua Roma rồi qua Hoa Kỳ. Ngày 07.07.1954 về
nước chấp chánh giữ chức Thủ Tướng toàn quyền do Quốc Trưởng
Bảo Đại chỉ định.
Sau cuộc ‘’trưng cầu dân ư’’ tháng 10.1955, được dân bầu lên
làm Quốc Trưởng rồi Tổng Thống tại Miền Nam Việt Nam đối lập
với chế độ cộng sản tại Hà Nội do Hồ chí Minh lănh đạo. Ông
có công ổn định t́nh h́nh, thống nhất Quân Đội, phát triển
kinh tế, mở mang giáo dục, xây dựng dân chủ, v. v... Rất
tiếc, ngày 01 tháng 11 năm 1963 ông bị phe quân nhân (theo
lệnh Mỹ) làm đảo chính lật đổ và bị thảm sát ngày 02 tháng
11 năm 1963. Biến cố 01. 11. 1963 đă dẫn đến sự sụp đổ của
Việt Nam Cộng Ḥa ngày 30. 04. 1975, đưa đất nước vào tay
cộng sản độc tài!
Con trai thứ tư là Ngô Đ́nh Nhu (1910-1963).
Con trai thứ năm là Ngô Đ́nh Cẩn (1912-1964)
Con trai út là Ngô Đ́nh Luyện (1914-1990), tốt nghiệp Kỹ Sư
Công Chánh ở Pháp và Anh. Nhiều nhà nghiên cứu lầm lẫn Ngô
Đ́nh Cẩn là con trai út
Ông Bà Ngô Đ́nh Khả c̣n có ba con gái là:
Ngô Thị Giáo, chết sớm năm 1944,
Ngô Thị Hoàng, thường gọi là bà Cả Lễ, v́ lập gia đ́nh với
ông Nguyễn Văn Lễ,
Ngô Thị Hiệp, lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Ấm, thân phụ
của Hồng Y Tổng Giám Mục FX Nguyễn Văn Thuận. Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận làm Bộ Trưởng Bộ Công Lư và Ḥa B́nh tại
Ṭa Thánh Vatican trước khi tạ thế ngày 16.9.2002, tại Rôma.
Hai gia đ́nh Trần-Ngô cũng là thông gia môn đăng hộ đối theo
Nho giáo cổ truyền.
Gia Đ́nh họ Trần bên Bà Ngô Đ́nh Nhu (Trần Lệ Xuân)
1. Bà Ngô Đ́nh Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, sinh tại Hà Nội
này 24. 8. 1924, con gái thứ hai của Ông Trần Văn Chương
(Luật Sư) và Bà Thân Thị Nam Trân. Ông Bà Trần Văn Chương có
ba người con. Con đầu là Trần Thị Lệ Chi. Con thứ ba là Trần
Văn Khiêm.
Lệ Chi lập gia đ́nh với ông Nguyễn Hữu Châu (Luật Sư, Tiến
Sĩ Luật ở Pháp). Ông này gốc người G̣ Công có họ hàng với
ông Nguyễn Hữu Hào, thân sinh ra bà Nguyễn Hữu Thị Lan, tức
Hoàng Hậu Nam Phương, kết duyên với Vua Bảo Đại. Khi Thủ
Tướng Ngô Đ́nh Diệm trở thành Tổng Thống năm 1956, th́ Ông
Nguyễn Hữu Châu được bổ nhiệm Bộ Trưởng tại Phủ Tổng Thống.
Chỉ mấy tháng sau, chính ông Châu xin từ nhiệm.
Gia đ́nh ông Trần Văn Chương vốn theo Đạo Phật, nhưng từ nhỏ
Cô Trần Lệ Xuân đă được gửi học nội trú ở Trường Ḍng Nữ
Thánh Âu Cơ Tinh, quen gọi là Couvent des Oiseaux. Một thời
gian cô nữ sinh Trần Lệ Xuân có theo học Trường Albert
Sarraut ở Hà Nội trong thời gian ông Trần Văn Chương hành
nghề Luật Sư ở Hà Nội. Chính mấy năm cuối cùng ở trường này,
Trần Lệ Xuân đă phát triển các quan hệ thân t́nh cụ thể hơn
với Ông Ngô Đ́nh Nhu. Sau chính biến 1.11.1963, vô số lời
đàm tiếu đổ dồn vào Bà Ngô Đ́nh Nhu.
2. Sau này, tại California, Ông Nguyễn Văn Lục lại nghe từ
những người trước nay từng có cơ hội gần gũi ông bà Nhu, ông
Diệm, ông Cẩn, ông Thục.
Tác giả đă nói chuyện với Sĩ Quan Tùy Viên Lê Châu Lộc, sau
này là Nghị Sĩ Lê Châu Lộc. Ông Lộc với bản chất trung thực
cho biết, ông biết ǵ nói nấy, có nói có, không nói không.
Ông cho biết 6 năm làm Sĩ Quan Tùy Viên cho ‘’Ông Cụ’’, kề
cận Ông Cụ ngày đêm. Trong 6 năm đó chỉ gặp Bà Nhu trên
dưới 10 lần, v́ hai ông bà ở khu bên kia Dinh Tổng Thống, ít
có tiếp xúc qua lại. Ông không mấy thích Bà Nhu v́ giọng nói
của Bà Nhu lai Bắc, lai Trung và tính nết tỏ ra cao ngạo.
Nhưng đối với Tổng Thống Diệm th́ bà sợ và cử chỉ e dè,
khép nép. Không có cái cảnh muốn ra vào văn pḥng ông Diệm
lúc nào th́ vào. Bà là người có phong cách, lịch sự và đàng
hoàng.
Ông Lê Châu Lộc đưa ra hai giai thoại liên quan đến Bà Nhu.
Một lần xe của Bà Nhu vào Dinh trong khi sắp có xe của một
vị Tướng Mỹ sắp đến. Ông Lộc đă yêu cầu xe của Bà Nhu
nhường lối. Bà Nhu vui vẻ nhận lời trong khi người tài xế
của bà tỏ vẻ khó chịu. Sau đó bà đă vui vẻ chào.
Một lần nữa, ông Lộc vội vă không kịp chào Bà Nhu. Vậy mà
việc cũng đến tai ‘’Ông Cụ’’. ‘’Ông Cụ’’ cho biết: Lộc nó là
Sĩ Quan, th́ chỉ chào Sĩ Quan có cấp cao hơn, hà cớ ǵ lại
phải chào Bà Nhu.
Những chi tiết nhỏ đó cũng cho thấy có nhiều điều xàm tấu,
bôi bẩn mà công việc của chúng ta là cần ‘’làm vệ sinh’’ tẩy
rửa những dư luận xấu xa đó.
Chứng nhân thứ hai là Nhiếp Ảnh Gia Trần Cao Lĩnh.
Nhiếp Ảnh Gia Trần Cao Lĩnh là người được chọn chính thức
chụp ảnh cho gia đ́nh Ông Ngô Đ́nh Diệm trong các buổi lễ
chính thức. V́ thế, ông đă nhiều lần ra Huế để chụp ảnh cho
gia đ́nh Ông Diệm.
Ông đă kể lại một cách sinh động duyên dáng về những nhân
vật thời Đệ Nhất Cộng Ḥa. Nhiều nhà văn, nhà báo đă tham dự
và được nghe ông kể về những điều này tại Ṭa soạn báo Nhân
Chứng, khoảng năm 1980. Đó là Mai Thảo, Phạm Đ́nh Chương, Du
Tử Lê, Vũ Văn Hà, Thụy Châu v.v…
Theo lời kể của Trần Cao Lĩnh, ông đă hết lời đối với gia
đ́nh Ông Diệm và đặc biệt là đối với Bà Nhu. Bà Nhu là loại
người phụ nữ chẳng những có ăn học, có giáo dục. Cử chỉ
phong cách quư phái, chừng mực lễ độ trong cư xử. Bà không
phải loại người bờm xơm, chớt nhă, dâm đăng, mất nết như
những lời bịa đặt của dư luận ác ư.
Tại Huế, chỉ các đàn ông như các Ông Diệm, Ông Nhu, Giám Mục
Thục mới được phép ở nhà trên dùng cơm. Bà Nhu chẳng những
sợ và khép nép với ông Diệm mà c̣n cả với Giám Mục Ngô Đ́nh
Thục. Theo Nhiếp Ảnh Gia Trần Cao Lĩnh, Bà Nhu không dám tự
tiện vào pḥng Ông Diệm.
Ông Nguyễn Văn Lục muốn viết về vợ chồng Ông Nhu, v́ ông bà
là bị nhiều người hiểu lầm và bực ghét, nhất là Bà Ngô Đ́nh
Nhu. Nhiều người không ưa bà, khinh ghét bà nữa. Nhiều
người bênh Ông Diệm, thương mến ông, nhưng vẫn dè dặt khi
nói về Ông Nhu, Bà Nhu. Nhiều người biết rơ và khó quên câu
nói phạm thượng và xấc xược của bà khi Ḥa Thượng Quảng Đức
tự thiêu.
Theo ông, khi người ta đă trót quư mến ai rồi, th́ khó mà
nghĩ khác được. Trước đây, có người đă trót quư mến và kính
trọng Nam Phương Hoàng Hậu và nay th́ đến lượt Ông Bà Nhu
cũng vậy thôi…
Khoảng cách tuổi khá lớn giữa hai ông bà cũng là nguyên nhân
gây nên những lời đồn thổi sau này kể từ sau 1963.
Thực ra ít người có cơ hội tiếp xúc với Bà Nhu, hiểu biết và
kính trọng nhân cách Bà Nhu như Ông Trần Cao Lĩnh.
Những người ngưỡng mộ và quư mến bà chẳng bao nhiêu. Sau khi
nghe ông Trần Cao Lĩnh kể về bà, có người đề nghị ông nên
viết lại về Bà Nhu. V́ không ai có đủ tư cách hơn ông để
viết. Nhưng rồi ông cũng đă không làm cho đến khi ông ĺa
đời. Cũng hiểu được, bênh vực một người ‘’mất nết’’ như Bà
Nhu nó khó lắm.
Không mấy ai biết bà, nhưng ghét bà, khinh miệt bà th́ quá
nhiều. Đàn ông ghét đă đành, đàn bà cũng ghét theo. Đến nỗi
người ta cố moi ra sự việc từ những năm 1955 khi chưa có
Quốc Hội, chưa có Hội Phụ Nữ Liên Đới hay Phụ Nữ Bán Quân
Sự. V́ thế dưới mắt của quần chúng nói chung, th́ Bà Nhu là
một người phụ nữ ‘’mất nết’’, ăn mặc hở hang, lố lăng với
chiếc áo dài kiểu mới. Phụ nữ chê bai tư cách của bà trong
chiếc áo dài kiểu mới, nhưng hầu như giới nữ sinh hay các
mệnh phụ phu nhân đều ăn mặc theo kiểu áo dài đó.
Đến độ vào năm 1955, ông Diệm chép miệng than thở: Tội
nghiệp, Bà Nhu có làm ǵ đâu? Dù sau cũng chết, chỉ v́ bà là
một người đàn bà. Bà lại nay nói quá mạnh, cứng rắn trong
quan điểm, lập trường, không nhường nhịn ai, lại có vè
‘’đành hanh’’ khiến giới mày râu không chịu được.
Có lẽ người ta phải cầu cứu đến những lời bàn của Cụ Đoàn
Thêm khi nhận xét về Bà Nhu.
Cụ Đoàn Thêm cho rằng, dù không làm hay chưa làm việc ǵ có
hại, người đàn bà không thể thừa thế nhà chồng mà xen vào
việc chính quyền. Việc bà tham gia vào chính trường, dưới
mắt số đông, trái ngược hẳn với h́nh ảnh cố hữu của phụ nữ Á
Đông khiêm nhượng, ư nhị, hiền hậu, của người mẹ và người vợ
Việt Nam.
Vẫn theo Cụ Đoàn Thêm, nguyên do sâu xa nhất và đích thật
nhất, gây thêm nhiều ác cảm với bà là do bà đă xinh đẹp, mà
lại muốn tỏ ra cứng cỏi và đánh hanh nữa th́ quá lắm, không
chịu nổi. Người ta có thể nhẫn nhịn chờ đợi Ông Nhu, nhưng
đối với bà, bà chỉ xuất đầu lộ diện, th́ cũng không được tán
thành hay dung thứ.
Nên dù trái hay phải, người đàn bà Việt Nam muốn vội sống
theo gương người đàn bà tiền phong (avantgarde) Âu Mỹ, kiểu
chủ nghĩa nữ quyền, là chưa thể yên thân trên một đất nước
mà nhiều người c̣n ghê sợ những người phụ nữ nhu Vơ Hậu hay
Từ Hy.
Tâm lư quần chúng như vậy nên nhiều con mắt dễ chú ư đến
những sơ hở và lỗi lầm để buộc lỗi gay go. Mỗi lời nói và
việc làm của bà đều có nguy cơ trở thành những cơ hội cho dư
luận chỉ trích nghiêm ngặt.
Bi kịch của chế độ khởi đầu từ đó. Người ghét cứ ghét, mỗi
ngày mỗi đông thêm, như đ̣n hội chợ do thể chế tam đầu, lại
có thêm một người phụ nữ là Bà Ngô Đ́nh Nhu.
Khu biệt thự Trần Lệ Xuân (2 Yết Kiêu, Đà Lạt) lộng lẫy rộng
trên 13 ngàn mét vuông vừa được nâng cấp trở thành Trung Tâm
Lưu Trữ Quốc Gia IV. Nơi lưu giữ hơn 30 ngàn mộc bản triều
Nguyễn. (Nguồn: Kho tàng mộc bản trong biệt thự Trần Lệ
Xuân/my. opera. com)
Ngay như hơn hai chục nam nữ sinh viên đă tham dự trong phái
đoàn Huế đi tham quan Dinh Gia Long sau khi hai ông Diệm Nhu
bị thảm sát. Họ im lặng đồng lơa với Nguyễn Đắc Xuân. Họ
chấp nhận gián tiếp những ǵ Nguyễn Đắc Xuân dựng lên bôi
nhọ Bà Nhu. Chỉ yêu cầu một cô nữ sinh viên trong số họ cho
biết những điều Nguyễn Đắc Xuân viết là đúng hay sai. Dĩ
nhiên là không dám nói sai, mà nói đúng th́ đồng lơa bôi
nhọ. Thực ra họ không biết để ma nhớ, mà nói đúng hay sai.
Người ta phải nghĩ thế nào về những sinh viên đă im lặng,
không dám lên tiếng về những lời vu cáo của Nguyễn Đắc Xuân?
Người ta có thể tạm quên đi những điều thị phi, những lời
khen chê, những lời bôi nhọ dơ bẩn về bà ấy để chỉ nh́n lại
kể từ tháng 11. 1963 đến nay Bà Nhu đă làm ǵ, nói ǵ, viết
ǵ, thanh minh cho việc ḿnh làm và đă sống như thế nào?
Kể từ sau tháng 11.1963, bà rút lui vào bóng tối. Không nói,
không thanh minh, cắt đứt mọi giao tiếp với mọi người trước
nay từng là những người cộng tác với hai ông Diệm và Nhu.
Một vài người đă có dịp gặp bà như các ông Cao Xuân Vỹ, Lê
Châu Lộc, Trương Phú Thứ đều nhận thấy bà sống ẩn dật, im
lặng với quá khứ, lo việc từ thiện. Chắc là tâm trạng và
nỗi niềm của bà gần 50 năm này đă diễn ra thật phức tạp, đa
đoan, nhưng chỉ tập trung vào gia đ́nh và niềm tin phú thác?
Và trong thời gian đó, bà đă sống đúng nhân cách một người
phụ nữ? Những năm tháng ấy đă tẩy rửa những điều hàm oan về
tiền bạc, con người của bà?
Thực ra bà đă chết cùng với hai anh ông Diệm Nhu, chôn vùi
quá khứ, cuộc sống đă sang một trang mới: Im lặng. Điều ấy
mang nhiều ư nghĩa: Vừa cay đằng, tủi hận vừa sám hối trong
tâm t́nh của một tín đồ.
Những ai từng kết án bà, th́ khó thấy bà là loại người tham
tiền cố vị, vô tư cách hay thậm chí trăng hoa, mất nết…Người
ta phải thấy một Bà Nhu sống buông thả, quen biết lung tung,
tai tiếng đủ loại sau 01.11.1963.
Nhưng những kẻ thù oán, chuyên đặt điều nói xấu bà cũng
không có được chứng cớ nhỏ nhoi nào, bôi nhọ bà.
Bà sống ẩn dật một thời ở Ư rồi sang Pháp, mua hai căn hộ
nhỏ, một để ở và một để cho thuê lấy tiền tiêu xài, ngày
ngày đi lễ nhà thờ, chuyên chú làm việc từ thiện, lấy kinh
nguyện làm lẽ sống.
Một con người như thế, chịu đựng biết bao điều sỉ nhục, tệ
bạc, phản trắc, hờn ghét của thế thái nhân t́nh, khi không
c̣n thời để lợi dụng.
Không phải là dễ mà ai cũng bộ lộ nhân cách ấy, chọn lựa lối
sống ấy. Mấy ai đă làm được như bà trong những tháng ngày
sau 1963, nếu bắt buộc phải sống như vậy?
Người ta nghĩ bà đang viết nhật kư, nhưng có lẽ chỉ là những
tâm sự về đạo nghĩa Những điều Trương Phú Thứ đă viết thật
là hiếm hoi và phản ảnh cuộc đời im lặng hơn là bận rộn
chuyện phù hoa thế sự. Theo ông Lê Châu Lộc bà viết nhiều
lắm, nhưng không ai biết ǵ.
|