(1) George
Herring, “ ‘Peoples Quite Apart’: Americans, South
Vietnamese, and the War in Vietnam,”
Diplomatic History, 14
(1990), p. 1. [“‘Hai dân tộc cách vời’: người Mỹ, người
Nam Việt Nam, và Chiến tranh Việt Nam,”
Lịch sử Ngoại giao, 14
(1990), tr.1.]
(2) Tôi ngờ rằng một
phần lư do các sử gia chưa quan tâm đến Trí Quang và phe
Phật giáo nhiều hơn là v́ bộ sưu tập [các văn thư của Bộ
Ngoại giao] Foreign
Relations of the United States (FRUS) / Quan hệ Đối
ngoại của Hoa Kỳ chỉ chứa đựng một vài cuộc đàm
thoại giữa Trí Quang và Toà Đại sứ ở Sài G̣n, trong đó
không có một bản đánh giá nào của CIA về mục tiêu và
động lực của ông. Người ta không bao giờ biết được có
bao nhiêu tư liệu hiện hữu trong các văn khố Hoa Kỳ nếu
chỉ dựa vào chút quan tâm ít ỏi dành cho Trí Quang và
phong trào Phật giáo trong bộ
FRUS.
(3) Mark Moyar,
Political Monks : The
Militant Buddhist Movement During the Vietnam War
[“ Sư chính trị : Phong trào Phật giáo Tranh đấu trong
Chiến tranh Việt Nam”],
Modern Asian Studies,
38 (2004), tr. 749–784.
(4) Moyar,
Political Monks,
tr. 756. Moyar cũng đưa ra những luận cứ này trong một
cuốn sách vừa xuất bản
Triumph Forsaken : The Vietnam War, 1954–1965 [Chiến
thắng bỏ đi: Chiến tranh Việt Nam, 1954-1965] (New
York : Cambridge University Press, 2006), tr. 216–218.
Mặc dù tôi có nhiều bất đồng với Moyar liên quan đến Trí
Quang, tất cả những nhà nghiên cứu về cuộc chiến cần
phải nghiêm túc nắm bắt công tŕnh nghiên cứu rộng răi
và việc đánh giá có tính xét lại về nhiều yếu tố của
Chiến tranh Việt Nam của ông.
(5) Marguerite Higgins
là người cổ xuư mạnh mẽ nhất luận điểm cho rằng Trí
Quang là một công cụ của Cộng sản. Xem
Our Vietnam Nightmare
[Cơn ác mộng Việt Nam
của chúng ta] (New York : Harper & Row, 1965). Xem
thêm Richard Critchfield,
The Long Crusade:
Political Subversion in the Vietnam War
[Thánh chiến Trường
kỳ: Phá hoại chính trị trong Chiến tranh Việt Nam]
(New York: Harcourt, Brace & World, 1968); và Robert
Shaplen, The Lost
Revolution [Cuộc
cách mạng thất bại] (New York: Harper & Row, 1965).
Mặc dù Moyar trích một số bằng chứng từ các sử liệu miền
Bắc về cuộc chiến, những sử liệu cho rằng cộng sản đă
xâm nhập được phong trào Phật giáo, nhưng không có dấu
hiệu ǵ để quy kết trực tiếp hoặc gián tiếp Trí Quang
làm tay sai cho Cộng sản. Những bằng chứng như thế cũng
chẳng làm cho giới chức Mỹ thời bấy giờ bị sốc, v́ họ
vốn đă nh́n nhận cộng sản mưu toan xâm nhập và tạo ảnh
hưởng lên phong trào PG. Xem Moyar,
Triumph Forsaken,
tr. 217.
(6) Bản ghi nhớ của CIA
: CIA Memorandum, “ Tri
Quang and the Buddhist Catholic Discord in South Vietnam
[Trí Quang và mối bất hoà Phật giáo - Công giáo ở Miền
Nam Việt Nam], September 19, 1964, Lyndon B. Johnson
Library (từ đây về sau viết tắt là LBJL), National
Security Files (từ đây về sau NSF), Vietnam Country
Files (từ đây về sau VNCF), box 9,vol. 18; và Saigon
Embassy to State Department [Toà ĐS Mỹ Saigon gửi Bộ
Ngoại giao], January 31, 1965, National Archives II (từ
đây về sau NA II), RG 59, Central Files, POL 13–6, box
2931.
(7) Sau khi Sài G̣n
thất thủ, số phận Trí Quang không được rơ cho lắm, nhưng
những ǵ người ta nghe biết th́ không hậu thuẫn cho luận
điểm của Moyar. Moyar cho rằng sau chiến thiến thắng của
Bắc Việt Trí Quang được cộng sản ban thưởng v́ âm mưu
lật đổ VNCH : “ Khi Cộng
sản chiếm được Miền Nam năm 1975, họ cho ông một công
việc ở Huế và ông không hề lên tiếng phản đối chế độ
mới, trong khi họ đưa đi tù những nhiều nhà sư khác,
những nhà sư có một thành tích hoạt động chính trị
”. Có nhiều vấn đề nghiêm trọng khi chấp nhận lối đánh
giá này. Một là, Moyar nói xuất xứ nguồn tin này là tờ
Washington Post, ngày
2-11-1983, nhưng trong thực tế không có bài nào liên
quan đến Trí Quang trong báo này vào ngày ấy. Rât có
thể, Moyar muốn trích dẫn một ư kiến của H. Joachim
Maitre trong bài “When
Washington Ditched Diem” xuất hiện trên
Wall Street Journal
cùng ngày. Ư kiến cho rằng Trí Quang được Cộng sản tưởng
thưởng nhờ vai tṛ của ông trong thập niên 1960 không có
sức thuyết phục cho lắm v́ chính Maitre đă viết : “
Trí Quang được bổ về làm
việc ở Sở Vệ sinh thành phố Huế ”. Một chức vụ ở sở
vệ sinh Huế chắc chắn có vẻ là một h́nh phạt hơn là một
tưởng thưởng, nhất là khi ta xét về vai tṛ rất quan
trọng mà Moyar và Maitre cho rằng Trí Quang đă đóng
trong chiến thắng của cộng sản. Như Moyar nhận xét trong
Triumph Forsaken,
sau chiến tranh chế độ Bắc Việt đă phục chức cho nhiều
cán bộ nằm vùng, nhưng chế độ không bao giờ nh́n nhận
Trí Quang là cán bộ của họ. Hầu hết tất cả tin tức khác
tường tŕnh về số phận của Trí Quang đều vẽ ra một chân
dung ảm đạm. Chẳng hạn, trong một chuyện đăng năm 1979
trên New York Times,
James Sterba tường tŕnh một trong những đệ tử của Trí
Quang kể lại rằng ông “ đă
trở thành một người tàn phế da bọc xương trong một năm
rưỡi biệt giam tại khám Chí Hoà ”. Xin đọc James
Sterba, “ Ordeal of a
Famed Buddhist in Ho Chi Minh City Related / Sự đọa
đày của một nhà sư nổi tiếng, được kể lại,”
New York Times, ngày
14-7-1979, A2. Sau cùng, Robert Topmiller, một sử gia
từng đi Việt Nam nhiều lần để phỏng vấn một số Phật tử
trong thập niên 1990, tường thuật rằng ngay cả hiện nay
Trí Quang vẫn c̣n bị quản thúc ở chùa Ấn Quang tại Thành
phố Hồ Chí Minh. Xin đọc Robert Topmiller, “Vietnamese
Buddhism in the 1990’s / Phật giáo Việt Nam trong
thập niên 1990,” Trang nhà
Quảng Đức.
Nhiều chứng liệu tương tự
đưa đến một kết luận giản dị hơn : Thích Trí Quang chắc
không phải là một cán bộ cộng sản và Hà Nội đă coi ông
như một nhân vật độc lập, một nhân vật có tiềm năng đe
doạ quyền thống trị của họ như ông từng là mối nguy cho
giới cai trị Miền Nam trong thập niên 1960.
(8) Robert Topmiller,
The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in
South Vietnam,1964–1966 [Hoa sen tự do: Phong trào
Phật giáo Hoà B́nh ở Miền Nam Việt Nam,
1964-1966](Lexington, KY: The University of Kentucky
Press, 2002,) tr. viii.
(9) Chẳng hạn, không
một cuộc đàm thoại nào giữa Trí Quang và Toà Đại sứ Mỹ ở
Sài G̣n trích dẫn trong bài này xuất hiện trong sách của
Topmiller. H́nh như Topmiller đă không hề tham khảo bất
cứ tài liệu nào ở Hồ sơ Chính (Central Files) tại Văn
khố Quốc gia II (NAII), tại đây hầu hết các cuộc đàm
thoại đó được lưu giữ. Mặc dù các cuộc phỏng vấn mà
Topmiller thực hiện với giới trí thức đại học và giới
Phật tử là vô giá, nhưng rất đáng tiếc là nhiều luận
điểm quan trọng mà ông đưa ra chỉ được hỗ trợ bằng các
cuộc phỏng vấn có tính lịch sử truyền khẩu hơn là có văn
kiện hẳn hoi.
(10) Toà ĐS Mỹ Sài G̣n
gửi Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, April 6,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2925. Câu tóm tắt
đặc sắc nhất về nguyên tắc chủ đạo của Trí Quang có thể
t́m thấy trong một bài phỏng vấn ông dành cho kư giả
Robert Shaplen năm 1969. “
Đảng phái chính trị như thế không có nghĩa lư ǵ cả…Chỉ
có tôn giáo mới thật đáng kể ở Việt Nam, và Tổng thống
Nixon phải thích nghi với nhận thức này ”. Robert
Shaplen, The Road From
War [Con đường ra khỏi Chiến tranh] (New York:
Harper & Row, 1970) tr. 271.
(11) Thư của ông có thể
được t́m thấy trong hồ sơ Toà Đại sứ Mỹ Sài G̣n gửi Bộ
trưởng Ngoại giao hiện nằm tại Thư Viện John F. Kennedy
: Saigon to Secretary, September 2, 1963, John F.
Kennedy Library (từ đây về sau JFKL), National Security
File (NSF), box 199, State cables 9/1/1963–9/10/1963.
Điều đáng để ư là, Thích Trí Quang không muốn đi tị nạn
chính trị ở Ấn Độ v́ “ tính cách trung lập của nước này
”.
(12) TĐS Mỹ Sài G̣n gửi
Bộ trưởng Ngoại giao: Saigon to Secretary, November 27,
1963, LBJL, NSF, VNCF, box 1, vol. 1; và Saigon to State
Department [TĐS Mỹ Sài G̣n gửi Bộ Ngoại giao], NAII,
RG59, POL13–6, box 2931. Paul Kattenburg, Giám đốc Đoàn
Công tác Việt Nam (VWG) và là người gặp Trí Quang liền
sau cuộc đảo chánh 1963, nói rằng ông đặc biệt ngạc
nhiên khi Trí Quang nhấn mạnh Hoa Kỳ phải dùng quyền lực
của ḿnh đối với Chính phủ Miền Nam : Paul Kattenburg to
Melvin Manfull, December 31, 1963, NA II, RG 59, VWG
Subject Files, box 1, ORG 1.
(13) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao: Saigon to Secretary, November 11,
1963, JFKL, NSF, box 202, State Cables
11/6/1963–11/15/1963.
(14) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao: Saigon to Secretary, December 17,
1963, LBJL, NSF, VNCF, box 1, vol. 2.
(15) Xem George McT.
Kahin, Intervention : How America Became Involved in
Vietnam [Can thiệp: Con đường Mỹ dính líu tới Việt
Nam] (New York: Anchor Books, 1987), tr. 182–202; và
Topmiller, The Lotus Unleashed, tr. 15–16.
(16) Xem David Kaiser,
American Tragedy :
Kennedy, Johnson, and the Origins of the War
[Thảm kịch của Mỹ: Kennedy, Johnson và Nguồn gốc Chiến
tranh] (Cambridge, MA: Harvard University Press,
2000), tr. 297–298. Nhiều viên chức Hoa Kỳ liên tục yêu
cầu Khánh trưng bằng chứng về những cáo buộc mà ông dành
cho Minh, nhưng họ không bao giờ nhận được một mảy may
chứng cớ hậu thuẫn cho những cáo buộc ấy.
(17) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, January 17,
1964, LBJL, NSF, VNCF, box 1, vol. 2.
(18) Toà lănh sự Mỹ ở
Huế gửi Toà đại sứ ở Sài G̣n : Hue to Saigon, February
19, 1964, NA II, RG 59, POL VIET S, box 2924.
(19) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, April 6,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2925.
(20) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, “Recent
Buddhist Developments,” [Những diễn biến mới đây của
Phong trào Phật giáo], March 26, 1964, LBJL.
(21) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, April 25,
1964, LBJL, NSF, VNCF, box 3, vol. 7.
(22) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, May 7, 1964,
LBJL, NSF, VNCF, box 4, vol. 8. CIA cũng báo cáo rằng
những tin tức về điều gọi là liên can của Trí Quang với
trung lập và cộng sản ‘vẫn không được chứng minh”, theo
Bản ghi nhớ T́nh báo của CIA, “ Đánh giá vấn đề tôn giáo
ở Miền Nam Việt Nam ” : CIA Intelligence Memorandum, “An
Assessment of the Religious Problem in South Vietnam,”
LBJL, NSF, VNCF, box 4, vol. 9.
(23) Theo Bản ghi nhớ
của một Phiên họp : Memorandum of a Meeting, May 11,
1964, Foreign Relations of
the United States (từ đây về sau
FRUS),
1964–1968, vol. 1, tr. 305.
(24) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, May 25,
1964, LBJL, NSF, VNCF, box 5, vol. 10.
(25) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, June 1,
1964, NA II, RG 59, POL 6 VIET S, box 2929.
(26) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, June 11,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2926.
(27) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, August 10,
1964, NA II, RG 59, POL 27 VIET S, box 2945.
(28) Như trên.
(29) Bạn đọc có thể
theo dơi vụ việc Trí Quang phản đối Khánh ghi lại trong
văn thư của TĐS Mĩ Saigon gửi Bộ trưởng Ngoại giao :
Saigon to Secretary, August 23, 1964, LBJL, NSF, VNCF,
box 7, vol. 16 ; Saigon to Secretary, August 23, 1964,
LBJL, NSF, VNCF, box 7, vol. 16 ; và trong một loạt các
cuộc đàm thoại ghi lại trong văn thư Toà ĐS Mĩ Saigon
gửi Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, August
26, 1964, NA II, RG 59, POL 15 VIET S, box 2933.
(30) Hội thoại trực
tuyến với Tướng Westmoreland : Telecon with General
Westmoreland, August 25, 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7,
vol. 16.
(31) Điện văn tin t́nh
báo của CIA, “Bản phân tích về khả năng liên hệ với Cộng
sản, về cá tính và mục tiêu chính trị của Trí Quang” :
CIA Intelligence Information Cable, “An Analysis of
Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations,
Personality, and Goals,” August 28, 1964, LBJL, NSF,
VNCF, box 7, vol. 16 ; và Bản ghi nhớ của CIA, “ Trí
Quang và mối bất hoà Phật giáo - Công giáo ở Miền Nam
Việt Nam ”: CIA Memorandum, “ Tri Quang and the Buddhist
Catholic Discord in South Vietnam,” September 19, 1964,
LBJL, NSF, VNCF, box 9, vol. 18.
(32) “Bản Phân tích về
Trí Quang”: “Analysis of Tri Quang,” August 28, 1964.
Bản Phân tích ngày 19 tháng Chín không mạnh mẽ bằng bản
phân tích trước đó v́ nó chỉ lư luận rằng Trí Quang
“chắc không phải là cán bộ cộng sản”. Mặc dù ghi nhận
rằng CIA bác bỏ những đánh giá [cho rằng Trí Quang có
quan hệ cộng sản], nhưng Moyar lại viết: “Một số viên
chức cấp cao Mỹ giờ đây lại nằm trong số người cho rằng
Trí Quang là cán bộ cộng sản”. Bản báo cáo ngày 19 tháng
Chín có nói rằng một số “quan sát viên Mỹ thạo tin
nghiêng về quan điểm này”, nhưng tôi không t́m ra bất cứ
một chứng liệu nào cho biết chính xác “ai là viên chức
cấp cao” chia sẻ quan điểm này. Xem Moyar, “Political
Monks” (Những nhà sư Chính trị), tr.760.
(33) “Trí Quang và mối
bất hoà Phật giáo - Công giáo”: “Tri Quang and Buddhist
Catholic Discord,” September 19, 1964.
(34) Fredrik Logevall,
Choosing War : The Lost
Chance for Peace and the Escalation of War in Vietnam
[Chọn lấy chiến
tranh : cơ may ḥa b́nh đă mất và việc leo thang chiến
tranh tại Việt Nam] (Berkeley: University of
California Press, 1999), tr. 240.
(35) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, September 2,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2926.
(36) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, September 9,
1964, NA II, RG 59, POL 15 VIET S, box 2933.
(37) TĐS Mĩ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, September 16,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2926.
(38) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, September 9,
1964, NA II, RG 59, POL 15 VIET S, box 2933.
(39) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, September 16,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2926.
(40) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, September 28,
1964, NA II, RG 59, POL 15–7 VIET S, box 2937.
(41) Cả bài diễn văn
lẫn lá thư có thể được t́m thấy trong văn thư của TĐS Mĩ
ở Sài G̣n gửi về Bộ Ngoại giao : Saigon to State
Department, October 16, 1964, NA II, RG 59, POL VIET S,
box 2924.
(42) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, September
28, 1964, NA II, RG 59, POL 15–7 VIET S, box 2937.
(43) TĐS Mĩ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, October 23,
1964, NA II, RG 59, POL 27 VIET S, box 2948.
(44) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, November 2,
1964, NA II, RG 59, POL 15 VIET S, box 293.
(45) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, November 5,
1964, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2926.
(46) “Bản đánh giá hiện
nay về t́nh h́nh chính trị ở Miền Nam Việt Nam” của Toán
Công tác Việt Nam : “Current Estimate of Political
Situation in South Vietnam”, November 25, 1964, NA II,
RG 59, VWG Subject Files, box 5, POL 1: Vietnam/Other
Areas.
(47) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, November 2,
1964, NA II, RG 59, POL 15 VIET S, box 293.
(48) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, November 17,
1964, NA II, RG 59, POL1 US VIET S, box 2878; and Saigon
to State Department, November 27, 1964, NA II, RG 59,
POL 15 VIET S, box 2933.
(49) TĐS Mĩ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, December 1,
1964, LBJL, NSF, VNCF, box 10, vol. 23. Cách tường thuật
của Moyar trong Triumph
Forsaken [Chiến
thắng bỏ đi] hàm ư Trí Quang từ ban đầu đă ủng hộ
việc chống đối Hương, nhưng đây không phải là quan điểm
của Toà Đại sứ Mỹ ở Sài G̣n. Xem Moyar,
Triumph Forsaken,
tr.334.
(50) Bản ghi nhớ sơ
thảo cuộc đàm thoại giữa Taylor và Đại sứ Trần Thiện
Khiêm : Draft Memorandum of Conversation between Taylor
and Ambassador Khiem, December 2, 1964, NA II, RG 59,
VWG Subject Files, box 5, POL-1, Memoranda of
Conversation.
(51) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, December 16,
1964, FRUS, 1964–68, vol. 1, tr. 1000–1009.
(52) Trí Quang bày tỏ
với nhiều viên chức Hoa Ḱ rằng ông sẵn sàng vận động
chống lại Khánh nếu Hương thỏa măn những điều kiện của
phía Phật giáo. Xem văn thư của TĐS Mỹ gửi Bộ trưởng
Ngoại giao: Saigon to Secretary, December 24, 1964,
LBJL, NSF, VNCF, box 11, vol. 24.
(53) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, January 5,
1965, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2927.
(54) Điện văn tin t́nh
báo CIA : CIA Intelligence Information cable, January
10, 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 12, vol. 26.
(55) CIA, “SNIE 53–65:
Short-Term Prospects in
South Vietnam [Dự kiến ngắn hạn tại Miền Nam Việt Nam],”
February 4, 1965, Estimative Products on Vietnam
1948–1975 [Kết quả đánh giá về t́nh h́nh Việt Nam
1948-1975] (Washington, DC: GPO, 2005).
(56) Moyar,
Political Monks,
[“Sư chính trị”] tr. 773.
(57) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, January 31,
1965, NA II, RG 59, POL 13–6 VIET S, box 2931.
(58) Theo nguồn tư liệu
ở trên. Chính Trí Quang cũng nh́n nhận Việt Cộng chắc có
xâm nhập các cấp thấp của tổ chức [GHPGVNTN], nhưng ông
vạch rơ VC cũng xâm nhập mọi tổ chức khác trên khắp cả
nước. Xem TĐS Mĩ Saigon gửi Bộ Ngoại giao : Saigon to
State Department, February 4, 1965, POL 2 VIET S, box
2927.
(59) Corcoran gửi
Higgins : Corcoran to Higgins, February 18, 1965, NA II,
RG 59, POL 13–6 VIET S, box 2931.
(60) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to Department of State,
“Interview by Tri Quang in English-Language Dailies”
[Trí Quang trả lời phỏng vấn trên những nhật báo tiếng
Anh], February 3, 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 13, vol.
27. Hẳn nhiên, người đọc không thể hiểu lời phát biểu
của Trí Quang theo nghĩa đen bởi v́ đôi khi phong trào
Phật giáo cũng có xiển dương tinh thần chống Mỹ. Nội
dung mà chắc hẳn ông muốn chuyên chở là, những biểu lộ
cảm tính này chỉ có ư nghĩa chiến thuật chứ không phải
là lối diễn đạt cơ bản bày tỏ quan điểm của Phật giáo
đối với Hoa Ḱ.
(61) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, February 4,
1965, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2927.
(62) Điện văn tin t́nh
báo CIA: CIA Intelligence Cable, February 2, 1965,
Declassified Documents
Reference System, [Hệ
tham khảo các Hồ sơ Giải mật],1976070100060.
(63) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, March 4,
1965, NA II, RG 59, POL 27 VIET S, box 2953.
(64) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao: Saigon to Secretary, March 1,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 14, vol. 30.
(65) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, March 3,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 14, vol. 30.
(66) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, March 22,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 15, vol. 31.
(67) Theo tư liệu đă
dẫn ở trên. Dù ghi nhận lời kêu gọi oanh kích của Trí
Quang, nhưng Moyar lư luận trong
Political Monks (Sư
Chính trị) rằng “có bằng chứng trực tiếp nói rằng
lời cố vấn này chỉ là một công cụ nhằm duy tŕ ân huệ
của Hoa Kỳ để cho phe Phật giáo tranh đấu có thể tiếp
tục những hoạt động phá hoại của họ” (tr. 779). Đáng
tiếc là, bằng chứng trực tiếp ấy chỉ là một câu trích từ
chuyên gia chống nổi dậy người Anh Robert Thompson: “Trí
Quang nói với Tướng Taylor rằng ông ủng hộ việc dội bom
Miền Bắc, rồi sau đó ông đến thẳng với người Pháp để
phân bua rằng ông làm vậy chỉ để ru ngủ những ngờ vực
của Taylor nhằm rảnh tay đẩy mạnh chiến dịch bí mật đ̣i
hoà b́nh bằng mọi giá—hay nói đúng ra, bằng cái giá mà
cộng sản đưa ra.” Xuất xứ của lời trích dẫn này chắc
chắn là rất mù mờ; Moyar trích dẫn từ cuốn
The Long Charade (Tṛ
vờ vĩnh lâu dài) của Critchfield, nhưng nó cũng xuất
hiện trong một cuốn sách xuất bản năm 1965 của Higgins,
Our Vietnam Nightmare
(Cơn ác mộng Việt Nam của
chúng ta), tr. 285-286. Cả Higgins lẫn Critchfield
đều không cho biết Thompson đă đưa ra phát biểu này ở
đâu và vào lúc nào. Nội cái ư kiến cho rằng Trí Quang
chịu tiết lộ một quan điểm như thế tự nó là một điều
đáng nghi ngờ, nhưng ư kiến cho rằng ông chịu chọn mặt
gửi vàng mà tiết lộ quan điểm của ḿnh với “người Pháp”
là điều ít ai tin được v́ trước sau như một Trí Quang
luôn giữ lập trường cực kỳ chống Pháp. Tóm lại, không
cách chi có thể coi trích dẫn Thompson như một bằng
chứng nghiêm túc liên quan đến động lực chính trị của
Trí Quang.
(68) Bộ ngoại giao gửi
Toà Đại sứ ở Sài G̣n : State Department to Saigon, March
2, 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 14, vol. 30.
(69) Như trên.
(70) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, March 19,
1965, NA II, RG 59, POL 2 VIET S, box 2927.
(71) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao : Saigon to State Department, May 6, 1965,
LBJL, NSF, VNCF, box 17, vol. 34.
(72) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, April 7,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 16, vol. 32.
(73) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao : Saigon to Secretary, April 12,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 16, vol. 32.
(74) CIA, “T́nh h́nh
Miền Nam Việt Nam” : CIA, “The Situation in South
Vietnam,” April 7, 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 16, vol.
32.
(75) Bản ghi nhớ gửi
Giám đốc T́nh báo Trung ương : Memorandum for Director
of Central Intelligence, “CIA Proposals for Limited
Covert Civilian Political Action in Vietnam,” [Đề xuất
hoạt động dân sự vụ bí mật và có giới hạn ở Việt Nam],
March 31, 1965, LBJL, McCone’s 12 Points, box 194.
(76) Thư Trí Quang gửi
Lodge : Tri Quang to Lodge, May 13, 1965, LBJL, NSF,
VNCF, box 17, vol. 34.
(77) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, May 6, 1965,
LBJL, NSF, VN CF, box 17, vol. 34.
(78) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, July 21,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 20, vol. 37.
(79) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ Ngoại giao: Saigon to State Department, July 10,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 20, vol. 37.
(80) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao: Saigon to Secretary, June 12,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 18, vol. 35.
(81) TĐS Mỹ Saigon gửi
Bộ trưởng Ngoại giao: Saigon to Secretary, June 22,
1965, LBJL, NSF, VNCF, box 19, vol. 36.
(82) Moyar,
Triumph Forsaken, tr. 218.
(83) Carver gửi
McNaughton : Carver to McNaughton, “Consequences of a
Buddhist Political Victory in South Vietnam,” [Những hệ
quả do một thắng lợi chính trị của phe Phật giáo ở Miền
Nam] VN LBJL, NSF, VNCF, box 63, 1 EE (4) Post-Tet
Political Activity [Sinh hoạt chính trị sau Tết Mậu Thân].
(84) Bản ghi nhớ của
Lodge : Memorandum by Lodge, “Recommendations Regarding
Vietnam,” [Những đề xuất liên quan Việt Nam] March 8,
1965, FRUS, 1964–1968,
vol. 2, pp. 415–420.
(85) Lodge, Điện tín
hàng tuần : Lodge Weekly Telegram, March 23, 1966,
FRUS, 1964–1968, vol.
4, pp. 225–229.
(86) Maxwell Taylor,
“Comments on the Present Situation in South Vietnam,” [B́nh
luận về t́nh h́nh hiện nay tại Miền Nam Việt Nam] April
8, 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 29, vol. 50.
(87) Lodge gửi Bộ
trưởng Ngoại giao : Lodge to Secretary, April 8, 1965,
LBJL, NSF, VNCF, box 29, vol. 50.
(88) Rusk gửi Lodge:
Rusk to Lodge, April 6, 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 46,
NODIS, vol. 3.
(89) Bản ghi nhớ của
Komer gửi Bill Moyers : Komer Memorandum to Bill Moyers,
June 3, 1966, LBJL, Files of Robert Komer, box 4,
Moyer/Christian Folder. Như Komer đă nhận xét một cách
tiếc rẻ, Sulzberger chắc đă tiếp thu những quan điểm này
từ [Đại sứ] Lodge và Phó Đại sứ William Porter.
(90) Komer gửi Bill
Moyers : Komer to Bill Moyers, June 2, 1966, LBJL, Files
of Robert Komer, box 3, White House Chronological Folder
March–December 1966. Phần nhấn mạnh là của nguyên bản.
(91) Hughes gửi Rusk :
Hughes to Rusk, March 19, 1966, “GVN Crisis Hardening
But Compromise Seems Possible,” [Cuộc khủng hoảng CPVNCH
ngày càng gay gắt nhưng có vẻ có khả năng đi tới tương
nhượng] FRUS,
1964–1968, vol. 4, pp. 292–293.
(92) Carver, “Những hệ
quả do một chiến thắng chính trị của Phật giáo ở Miền
Nam Việt Nam” và Bản ghi nhớ t́nh báo của CIA, “Thích
Trí Quang và những mục tiêu chính trị của Phật giáo tại
Miền Nam Việt Nam”, LBJL, NSF, VNCF, box 30, vol. 51.
Trích dẫn lấy từ tài liệu thứ hai. Carver không được ghi
là tác giả tài liệu này, nhưng rơ ràng là ông ta đă đóng
góp những ư chính.
(93) Lodge gửi William
Bundy : Lodge to William Bundy, July 26, 1966, LBJL,
NSF, VNCF, box 34, vol. 56.
(94) Moyar,
Political Monks, [Sư
chính trị], tr. 784.